Làng Minh Lệ quê tôi

LÀNG MINH LỆ QUÊ TÔI
Hoàng Kim

Làng Minh Lệ quê tôi là liên khúc năm bài thơ Hoàng Kim gồm 1) Làng Minh Lệ quê tôi; 2) Lời thề trên sông Hóa; 3) Linh Giang và Đá Đứng; 4) Ta về với Linh Giang; 5) Linh Giang dòng sông quê hương. Kính tặng quê hương Quảng Bình đất và người , tấm lòng yêu thương của những người con xa xứ hai miền Nam Bắc nhớ về cội nguồn

Đất nặng ân tình đất nhớ thương
Ta làm hoa đất của quê hương
Để mai mưa nắng con đi học
Lưu dấu chân trần với nước non.

LỜI THỀ TRÊN SÔNG HÓA
Hoàng Kim

Sông Hóa ơi hời, ơi Linh Giang
Quê hương liền dải tụ trời Nam
Minh Lệ, Hưng Long hai bầu sữa
Hoàng Gia trung chính một con đường.

Sông Hóa ơi hời, Bạch Đằng Giang
Ta đến nơi đây chẳng một lần
Lời thề sông núi trời đất hiểu
Lời dặn lại của Đức Thánh Trần

Rào Nan Đá Dựng chốn sông thiêng
Nguồn Son Chợ Mới đẹp ân tình
Minh Lệ đình xưa thương làng cũ
Nguyện làm hoa đất của quê hương.

LINH GIANG VÀ ĐÁ ĐỨNG
Hoàng Kim

Con về Đá Đứng Rào Nan
Cồn Dưa Minh Lệ của làng quê hương
Linh Giang chảy giữa vô thường
Đôi bờ thăm thẳm nối đường tử sinh.

Bên này Bốn Miếu tinh anh
Bờ kia Đá Đứng kết thành Bắc Nam
Rào Nan, Chợ Mới, Nguồn Son
Làng xưa khoai lúa vẫn thơm láng giềng

Làng Minh Lệ quê tôi

TA VỀ VỚI LINH GIANG
Hoàng Kim


Ta về với Linh Giang
Làng Minh Lệ quê tôi
Về ký ức không quên
Ngã ba sông đời nghẹn chảy

Minh Lệ nước mắt quê hương
Rào Nan, Chợ Mới, Nguồn Son
Sông chảy giữa lòng người
Nước mắt chảy vào trong
Thăm thẳm một quê hương
Dòng sông đời thao thiết chảy…

Ta về với Linh Giang
Nhớ quay quắt người thân
Linh Giang ơi Linh Giang
Lời thề trên sông Hóa
Ta khóc lúc ra đi
Và khóc lúc trở về …

Ta về với Linh Giang

Cầu này nơi phà Gianh năm xưa
Nối con đường Bắc Nam sinh tử
Hoành Sơn, Linh Giang, Lũy Thầy
Tuyến công thủ ba tầng hiểm trở

Cuối một dòng sông là cửa biển
Thanh Khê nối đôi bờ hội tụ
Rào Nậy, Rào Nan, Nguồn Son
Bài ca Trường Quảng Trạch, Ba Đồn.
Linh Giang dòng sông quê hương

 linh-giang-dong-song-que-huong

LINH GIANG DÒNG SÔNG QUÊ HƯƠNG
Hoàng Kim
Hãy học thái độ của nước mà đi như dòng sông

Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con

“Chèo thuyền cho khuất bến Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn “

Câu ru quặn thắt đời con
Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ

Ra đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam.

Hoàng Kim
Nguồn: Làng Minh Lệ quê tôi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/lang-minh-le-que-toi/ Thông tin gốc bảo tồn tại http://fa.hcmuaf,edu.vn/hoangkimlong và:  https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-14-thang-11/;

(*) Ghi chú bài viết liên quan:

Hoàng Kim lưu Bài viết liên quan tại đây bài thơ Nhớ Cậu của Hoàng Kim và bài thơ Làng quê của nhà thơ Hoàng Gia Cương với lời bình thơ Làng quê của thầy giáo nhà văn Hoàng Minh Đức. Đây là ghi chú quan trọng để hiểu những sự thật lịch sử một thời

NHỚ CẬU
Chúc mừng Cậu cùng đại gia đình vui khỏe hạnh phúc


Mai trắng tóc người cũng trắng trong
Đường trần lên thấu đỉnh cao phong
Hoàng chi Mạc tộc ngời tâm đức
Phố nối đường cong chẳng thẹn lòng

Hoàng Kim


https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-cau/ — cùng với Cương Hoàng Gia, Hoang Thuc TanHoàng Quý Thân.

LÀNG XƯA
Hoàng Gia Cương

Chỉ là mái rạ mái tranh
Chỉ là khóm chuối, khóm chanh, chỉ là…
Sắn khoai vui với dưa cà
Cao sang bánh đúc, bánh đa, bánh dầy!

Một thời sáo vút, diều bay
Một thời đánh đáo, đánh quay, một thời…
Phi trâu lên tận đỉnh đồi
Chọc ong vò vẽ, hát cười nghêu ngao!

Bờ tre, bụi duối, cầu ao
Nơi đâu chó cắn, chỗ nào gai đâm?
Trước xa, nay lại hoá gần
Cành cây thấp xuống, mảnh sân hẹp vào!

Đường về như thể chiêm bao
Nơi đâu yểng hót, chào mào chuyền cây?
Ngập ngừng tay nắm bàn tay
Tìm trong đôi mắt tháng ngày trẻ trung!

Sạm màu nắng bão mưa giông
Mái đình cong, mái chùa cong, mái đền…
Mảng tường lở lói vênh xiên
Cành đa gãy phủ một miền hoang vu! …

Người về tìm lại dấu xưa
Làng như cây lúa qua mùa hạn khô
Đạn bom cày xéo nát nhừ
Biết bao giờ
Đến bao giờ…
Làng xưa!

Thăm làng sao cứ ngẩn ngơ
Một con sáo sậu bất ngờ vụt bay!

Quảng Bình 7/1975
HGC

Lời bình bài “LÀNG XƯA”
của HOÀNG MINH ĐỨC

Thật vui mừng trong câu lạc bộ thơ văn Quảng Minh – một câu lạc bộ làng có tới hai nhà thơ xa quê (một nam một nữ) đã neo lại trong lòng người đọc những tình cảm thân thương và trân trọng. Hai anh chị đã có những bài thơ để đời, găm vào lòng người dân Minh Lệ quê tôi những câu thơ đầy cảm xúc buồn vui, nhung nhớ – đó là Trần Thị Thu Huề và Hoàng Gia Cương. Hai nhà thơ chưa phải là những tên tuổi lớn trong làng thơ Việt Nam nhưng họ là niềm tự hào của những người yêu thơ làng Minh Lệ.

Hoàng Gia Cương nổi tiếng với bài thơ “Em có về Hà Nội” được nhạc sỹ Thuận Yến phổ nhạc thành ca khúc “Giữa chiều thu Hà Nội”, hay bài “Rùa ơi” được bình trong chương trình thơ của Đài tiếng nói Việt Nam. Nhưng tôi thích nhất vẫn là bài “Làng xưa” của anh. Ai xa quê hương mà chẳng thương chẳng nhớ. Đó là lẽ thường tình. Đối với nhà thơ Hoàng Gia Cương, anh đã xa quê trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Ai có biết được hoàn cảnh đặc biệt ấy mới quý cái tình người, tình đất, tình yêu quê hương vô bờ bến trong con người và trong thơ của anh.

“Làng xưa” là một bài thơ lục bát rất hay, đến nỗi đọc xong ta cảm thấy xốn xang, ta như cảm nhận được dư vị ngọt ngào xen lẫn nỗi buồn man mác của một người con xa xứ sau bốn chục năm về lại:
Chỉ là mái rạ mái tranh
Chỉ là khóm chuối, khóm chanh, chỉ là…

Với điệp ngữ chỉ là được nhắc lại cuối câu đã đưa người đọc về với quá khứ kham khổ, nghèo đói và bình dị. Chỉ là “sắn khoai vui với dưa cà” , cao sang lắm mới có bánh đúc bánh đa thế mà nhà thơ vẫn nhớ da diết, nhớ đau đáu cái làng quê nghèo khổ ấy suốt cả cuộc đời.
Hay:
Một thời sáo vút, diều bay
Một thời đánh đáo, đánh quay, một thời…

Điệp ngữ một thời được lặp đi lặp lại cái hồn nhiên thơ ngây của thời thơ ấu. Vô tư lắm, trong sáng lắm. Không hề để ý đến biến đổi cuộc xoay vần của thế sự, cậu học trò nghèo đã “Phi trâu lên tận đỉnh đồi/ Chọc ong vò vẽ hát cười nghêu ngao”.

Bằng các câu hỏi tu từ, đâu rồi những: “Bờ tre, bụi duối, cầu ao/ Nơi đâu chó cắn, chỗ nào gai đâm?”. Hay “Nơi đâu yểng hót, chào mào chuyền cây?” ta thấy tâm trạng xao xuyến bâng khuâng đến nao lòng của nhà thơ khi trở về làng cũ – những câu thơ xao động lòng người.

Khi đã trở thành một chiến sỹ không quân, làm một kỹ sư vô tuyến điện, làm một nhà thơ nghĩa là đã trở thành một người lớn, sống giữa lòng thủ đô Hà Nội thì cảnh cũ, người xưa gần gũi, thân thương biết nhường nào. Nhà thơ đã đi tìm lại tuổi thơ của mình bằng những câu thơ gợi cảnh gợi tình. Cảnh vật ngày nay hình như cũng bé lại, gần hơn: “Trước xa nay lại hoá gần/ Cành cây thấp xuống mảnh sân hẹp vào!”. Trên đường về làng những kỉ niệm thân thương được tái hiện qua cái bắt tay bở ngỡ để rồi nhận lại những người xưa. Nhà thơ gặp ai cũng thấy như lạ, như quen. Họ đã tìm lại nhau qua ánh mắt ngập ngừng để nhớ lại một thời tuổi trẻ: “Đường về như thể chiêm bao/ Nơi đâu yểng hót, chào mào chuyền cây?/ Ngập ngừng tay nắm bàn tay/ Tìm trong đôi mắt tháng ngày trẻ trung”. Đọc đến đây tôi liên tưởng đến những câu thơ “Người nhà quê” của Trần Thị Thu Huề: “Lại về với cỏ ven đê/ Cảm phiền con sóng rủ rê bãi bờ/ Gặp người toóc rã rơm khô/ Cầm tay cầm phải câu thơ của mình”. Hai tâm hồn đồng cảm của hai người con xa xứ cùng nhịp, cùng phách, cùng tiết tấu trong bản giao hưởng của những “Người nhà quê” về thăm lại “Làng xưa”.

Ở hai khổ thơ cuối những hình ảnh thực tại dồn dập mà nhà thơ được chứng kiến trên đường về làng:
Sạm màu nắng bão mưa dông
Mái đình cong, mái chùa cong, mái đền
Mảnh tường lở lói vênh xiên
Cành đa gãy phủ một miền hoang vu! …

Những cảm thức dồn nén làm cả không gian như đặc quánh lại. Đến đây thì thể thơ lục bát đã được biến thể, nhịp thơ gấp gáp, khắc khoải, cồn cào. “Biết bao giờ/ Đến bao giờ…/Làng xưa!”. Nhà thơ hoài niệm tiếc nuối những nét văn hoá làng quê bị đạn bom, thiên nhiên dập vùi, tàn phá. Bằng lối so sánh liên tưởng hình ảnh con sáo sậu ở hai câu thơ cuối bở ngỡ, ngơ ngác như gặp lại cố nhân rồi bay vụt. Phải chăng con sáo sậu thuở xưa đã từng đậu trên lưng con trâu xưa của nhà thơ hoài cổ Hoàng Gia Cương.

Một nhà nghiên cứu nước ngoài đã từng viết “Thơ vừa là nhạc, là hoạ, là tạc tượng”. Với thi pháp truyền thống, ngôn ngữ chắt lọc màu sắc sinh động, bài thơ như một khúc dân ca mang âm hưởng những bài hát ru làng Minh Lệ. Người và cảnh trong “Làng xưa” của Hoàng Gia Cương hiện lên như thực, như mơ cứ ám ảnh, bâng khuâng, day dứt mãi trong tôi.

HMĐ

Nguồn trích dẫn ghi chú quan trọng này: Cương Hoàng Gia cùng với Loc Cao kèm lời tiểu dẫn: “Năm 2013 nhà văn Hoàng Minh Đức, hội viên Hội Văn nghệ Quảng Bình đã bình một bài thơ HGC viết về quê hương từ mùa hè 1975, khi lần đầu tiên đưa bà xã về thăm quê, ngay sau ngày nước nhà thống nhất”: Bình luận văn nghệ với Hoàng Kim Hoàng Hữu Đức Hoàng Minh Việt Loc Cao Nicolas Hoàng Sơn Hoàng Hoàng Minh Giang Trần Thị Hoàng Liên Quý Thân Hoàng Hoang Dinh Long Yenlinh Hoang Hoang Lan Huong Mai Hoang oàng Hữu Hiền

Video yêu thích
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam


Làng Minh Lệ quê tôi

HOA ĐẤT
Hoàng Kim

Đất nặng ân tình đất nhớ thương
Ta làm hoa đất của quê hương
Để mai mưa nắng con đi học
Lưu dấu chân trần với nước non.

QUÊ HƯƠNG
Hoàng Kim


Cồn Dưa bốn miếu đất quê hương
Chợ Mới Nguồn Son nhớ lạ thường
Bến Lội Rào Nan Ga Minh Lệ
Đường trần thăm thẳm một niềm thương

Anh chị họ hàng xưa cùng học
Nay mừng vui khỏe sống xa quê
Lá vằng bánh đúc khoai thơm thảo
Tảo mộ người thân ước hẹn về

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/lang-minh-le-que-toi/

CHUYỆN MỘT GIA ĐÌNH TIẾN SĨ
Hoàng Minh Đức
Báo Quảng Bình điện tử Thứ Hai, 20/11/2017, 10:03 [GMT+7]


Đó là gia đình ông Trần Chất ở làng Minh Lệ (Quảng Minh, thị xã Ba Đồn). Ông Chất có hai người con trai theo con đường khoa học: Giáo sư, tiến sĩ Trần Nghi và Phó giáo sư, tiến sĩ Trần Hữu Bình. Hai vợ chồng phó giáo sư, tiến sĩ Trần Hữu Bình về thăm khu bảo tồn di tích bốn miếu thờ “Tứ đức thần tổ”làng Minh Lệ (ảnh Hoàng Minh Đức)

Năm 1969, đi sơ tán (K8) ngoài Thanh Hóa về, tôi thường theo lũ bạn đi tát cá, nhủi dam, nhủi rạm, hay cất te bắt tép về ăn. Tôi hay cất te nơi mấy cái hố bom dọc đường từ xóm Nam ra.

Ngày nào tôi cũng thấy một thanh niên đi ra xóm Bắc vừa đi vừa đọc sách. Hỏi mấy đứa bạn thì được bảo rằng, đó là anh Trần Hữu Bình, con ông Cửu Ngật ở xóm Nam. Anh học lớp 10 Trường cấp 3 Nam Quảng Trạch ngoài làng Cao Cựu Biên (nay là xã Quảng Hòa, thị xã Ba Đồn). Mấy hôm sau, tôi thấy anh Bình ngồi ăn cơm ở nhà chị Ngật, cạnh nhà tôi. Anh gọi mẹ tôi là cô. Chị Ngật với mẹ tôi là hai người họ Trần xóm Nam ra làm dâu xóm Bắc.

Cha tôi nói, dòng dõi ông Trần Chất (người ta thường gọi theo tên con đầu là ông Ngật) học giỏi, thông minh nổi tiếng trong làng. Sáu đời nhà ông đều làm nghề dạy học và thầy lang. Trong kháng chiến chống Pháp, ông Trần Hữu Phất, em trai ông Chất, là trinh sát tình báo tiểu đoàn 274 (Quảng Bình).

Năm 1949, ông cùng nhà văn Văn Linh (tác giả cuốn tiểu thuyết “Mùa hoa dẻ”) thuộc Ban trinh sát tình báo Tiểu đoàn 273 (Hà Tĩnh) về trinh sát đồn Minh Lệ. Ông ghé thăm nhà thì bị bọn địch phục kích vây bắt. Ông lao ra giữa dòng sông Nan bơi sang bờ nam để vào rừng thì bị bọn chúng bắn trúng, hy sinh.

Con cái ông Chất ai cũng tham gia đánh Mỹ, có hai người con bị thương ở chiến trường. Anh Bình học hết lớp 10 là nhập ngũ, trong binh chủng đặc công. Anh tâm sự, đi bộ đội là để trả thù cho người em gái út của anh bị giặc Mỹ giết hại. Năm 1971, anh tham gia chiến dịch Đường 9 – Nam Lào và bị thương hạng 2/4.

Năm 1972, anh xuất ngũ về địa phương, thi đậu vào Trường đại học Y Hà Nội với số điểm rất cao. Năm 1978, tốt nghiệp bác sĩ Nội – Nhi vào loại xuất sắc, anh được nhà trường giữ lại làm cán bộ giảng dạy bộ môn Tâm thần và làm việc tại Bệnh viện Bạch Mai. Sáu năm sau (1984), anh lại tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa cấp I chuyên ngành Tâm thần tại Trường đại học Y Hà Nội và được chọn đi thực tập sinh tại Viện hàn lâm Y học Matxcơva (Liên Xô cũ).

Năm 1994, anh tốt nghiệp xuất sắc bác sĩ chuyên khoa cấp II chuyên ngành Tâm thần rồi tiếp đến bảo vệ thành công luận án tiến sĩ năm 2004. Năm 2007, anh đã được công nhận hàm phó giáo sư chuyên ngành Tâm thần. Anh giữ chức Viện trưởng Viện sức khoẻ Tâm thần Việt Nam cho đến lúc nghỉ hưu.

Trong những năm giảng dạy, phó giáo sư, tiến sĩ Trần Hữu Bình đã tham gia chủ biên và đồng chủ biên 16 giáo trình, sách chuyên khảo chuyên ngành tâm thần học và y học nói chung. Với căn bệnh thế kỷ, anh đã viết cuốn “Nhiễm HIV/AIDS, y học cơ sở, lâm sàng và phòng chống”.

Về hưu, anh vẫn tiếp tục tham gia công tác khám bệnh tại phòng khám Giáo sư Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Anh tham gia đào tạo sau đại học, làm Chủ tịch Hội đồng chấm luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa II. Anh chủ trì những cuộc hội chẩn chuyên ngành, liên ngành về tâm thần. Đến nay, anh đã chủ trì nghiên cứu 9 đề tài từ cấp cơ sở đến đề tài cấp Nhà nước. Cả cuộc đời anh có hơn 50 công trình nghiên cứu khoa học được đăng tải trên các tạp chí có uy tín trong và ngoài nước.

Cả nhà anh Bình có 6 người, vợ chồng, con cái dâu rể ai cũng là giảng viên đại học. Người bạn đời của anh là chị Nguyễn Thị Bích Hường, một tiến sĩ kinh tế học. Con trai theo nghề Y của cha nay là bác sĩ chuyên khoa cấp I, tiến sĩ y khoa, đang dạy tại Trường đại học y Hà Nội. Con gái anh theo nghiệp mẹ nay là tiến sĩ kinh tế kế toán kiểm toán đang dạy Trường đại học Thương mại, Hà Nội.

Ông Chất có hai con trai theo con đường khoa học. Giáo sư, tiến sĩ Trần Nghi sinh năm 1947 (hơn Trần Hữu Bình 3 tuổi). Giặc Mỹ ném bom na pan đốt cả xóm Nam cháy trụi, ông Chất phải sang phát rẫy ở bên rú Cây Cừa để nuôi các con ăn học.

Mặc dù phải ăn khoai, sắn trừ bữa, học nơi sơ tán trong rừng, năm 1966, anh Trần Nghi vẫn là học sinh duy nhất của Trường cấp 3 Quảng Trạch có tất cả 10 môn, 100% số môn học, đều tổng kết điểm 5 (điểm tuyệt đối theo thang điểm Liên Xô), giải nhất môn văn của tỉnh Quảng Bình, được nhận phần thưởng của Bác Hồ.

Anh được nhận vào Trường đại học Tổng hợp Hà Nội), khoa Địa lí – Địa chất. Học xong anh được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy phụ trách môn Trầm tích học. Sau 4 năm nghiên cứu sinh tại Rumani, năm 1982, Trần Nghi đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Trường đại học Tổng hợp Bucarét. Về nước anh làm chủ nhiệm khoa và Phó hiệu trưởng Trường đại học Khoa học tự nhiên, Đại học quốc gia Hà Nội.

Sau ba mươi năm gắn bó với ngành địa chất và Đại học quốc gia Hà Nội, năm 1996, anh được nhận học hàm giáo sư. Trên con đường nghiên cứu khoa học, anh đã viết 16 đầu sách, trong đó có cuốn “Trái đất và kho báu của nhân loại”. Anh nghiên cứu những công viên đá vôi Đồng Văn, di sản thiên nhiên thế giới Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.

Anh coi nó như một thông điệp gửi tới các bạn trẻ những tư duy mới, những quan niệm mới về địa chất. Anh đã làm chủ nhiệm 22 đề tài cấp Nhà nước và cấp bộ. Đặc biệt anh là người chủ trì hồ sơ “Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng” của Quảng Bình. Con gái anh là phó giáo sư, tiến sĩ kinh tế nay đang công tác ở Anh quốc.

Ngày tảo mộ làng đón Tết Đinh Dậu vừa rồi, anh Trần Nghi dắt tay một người cháu vừa mới được phong phó giáo sư, anh Trần Hữu Bình dắt tay một người cháu mới được phong tiến sĩ vào đình làng vinh quy bái tổ. Người dân làng Minh Lệ quê tôi rất tự hào gọi gia đình ông Trần Chất là “Gia đình tiến sĩ”.

Hoàng Minh Đức

Video yêu thích
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Làng Minh Lệ quê tôi

Que toi Hoang Gia Cuong

QUÊ TÔI
Hoàng Gia Cương

Tặng Minh Lệ một thời xa

Quê tôi nắng đỏ gió Lào
Bữa cơm hiếm gặp
Cháo rau là thường
Mẹ cha đau đáu tình thương
Một đời chắt bóp cố nhường phần con.

Lọt lòng đã biết đạn bom
Đã quen tiếng súng
Đã luôn ngủ hầm
Trơ gan đá sỏi chân trần
Áo loang miếng vá, manh quần nát bươm!

Nhọc nhằn trai gái lớn khôn
Chân – thành trụ chống
Tay – đòn gánh khiêng
Ở đâu bi lụy ưu phiền
Ở đây yêu, ghét, chung, riêng rạch ròi.

Quê tôi, tôi hiểu quê tôi
Mặn mòi vị muối
Thơm bùi vị khoai
Tiếng nghe trọ trẹ mà vui
Đói cơm rách áo nhưng lời thẳng ngay.

Trải bao đông tháng hạ ngày
Đổi thay thời thế chẳng thay đổi tình
Đậm đà bát nước chè xanh
Râm ran lối xóm ấm manh chiếu làng.

Chẳng nề “hèn” chẳng nề “sang”
Quê tôi như thể … một trang giấy bồi!

8/2014

*Giấy bồi là giấy được bồi bằng nhiều
lớp giấy mỏng, dùng để làm bìa, đóng hộp

(Ảnh 1: cầu Minh Lệ, HGC chụp
ảnh 2: sông Rào Nan, ảnh mượn từ FB Hoàng Kim)

LỜI CẢM NHẬN
Hoàng Kim
“Quê tôi” thơ Hoàng Gia Cương
Đặc trưng người Làng Minh Lệ
“Tìm hiểu con người Xứ Quảng”
Nguyên Ngọc đúc kết tuyệt vời.

* “Quê tôi” thơ Hoàng Gia Cương (FB HGC)
** Nguyên Ngọc (chủ biên) Tìm hiểu con người Xứ Quảng , Nhà Xuất bản Đà Nẵng 2005, 674 trang.

Làng Minh Lệ quê tôi

LÀNG MINH LỆ QUÊ TÔI
Hoàng Kim

Linh Giang dòng sông quê hương. Nhà mình  gần ngã ba sông. Rào Nan Chợ Mới Nguồn Son Quảng Bình. Quê tôi sông núi hữu tình. Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con. Tôi nợ quê hương mình những ký ức về Làng Minh Lệ quê tôi, nợ những người thân và bạn hữu quê hương bao chuyện tuổi thơ và cuộc đời nhưng thỉnh thoảng mới gặp. Hôm nay tôi ghé chào cụ Nguyễn Ngọc Hạp một bô lão của làng Minh Lệ nay ở Hà Nội và lắng nghe cụ trò chuyện.

Chúc mừng cụ Ngọc Hạp Nguyễn vui khỏe hạnh phúc, cụ đã lưu lại ký ức thời gian không thể quên. Cụ nay trên 82 xuân, có trí nhớ tốt, quan tâm vận nước, nói và viết chính trực. Cụ lưu lại những điều không nỡ quên “Làng Minh Lệ trong chiến tranh thế giới lần thứ 2” “Khí thế Làng Minh Lệ sau ngày Độc Lập” “Người liệt sĩ làng Minh Lệ đầu tiên thời chống Pháp” Đó là “Ký ức thời gian”. Tôi xin được chép các bài này vào chuyên mục “Làng Minh Lệ quê tôi” https://hoangkimlong.wordpress.com/ca…/lang-minh-le-que-toi/

LÀNG MINH LỆ TRONG CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI

Cụ Nguyễn Ngọc Hạp kể: “Cầu Minh Lệ và ga tàu hỏa gần nhau nằm trên tuyến đường giao thông huyết mạch Bắc Nam. Năm 1945, Nhật chiếm Đông Dương, cầu và ga làng tôi trở thành chiến địa Nhật và phe Đồng Minh.

Tôi nhớ một buổi chiều sau cơn mưa tạnh. Một chiếc máy bay cánh bằng bay đến ga rồi có tiếng nổ, khói đen bốc lên, máy bay vòng lại có tiếng súng liên thanh nổ. Dân trong xóm nhốn nháo chạy đi xem Ông binh Suông đi lính bên Tây về quát lớn: ‘Nó thả bom bắn đạn đum đum đó, đến là chết’, mọi người mới không đi. Từ đó bắt đầu cuộc chiến. Hàng ngày từng tốp máy bay ba hoăc năm, có khi bảy chiếc đến đánh phá dữ dội, dưới đất trận đìa cao xạ Nhật bắn lên .Cầu sập mà máy bay chẳng rơi chiếc nào.

Nhât đến đóng làng tôi chủ yếu phục vụ giao thông vận tải. Chúng đóng ở xóm Bắc xóm Nam. Một tốp đóng ớ trường làng trước cửa nhà tôi. Ban đầu thì mọi người đều sợ, nhưng họ không bắt bớ đánh đập ai, nên mọi người vẫn đi lại làm ăn bình thường.Tôi rủ thằng Cát, con ông binh Suông, đi xem Nhật. Nó nói bọ hắn nhủ ả Huể đàn bà con gái không được đi ngang qua đó.

Cầu sập, tàu đến ga phải “tăng bo”. Nhật thường bắt phu các làng lân cận tập trung ở sân trường điểm danh rồi dẫn đi làm việc. Lũ con nít chúng tôi đến coi không thấy chúng đánh đập ai, xóm tôi cũng không thấy Nhật bắt đi làm phu và cả làng không bị bắt trồng đay như ngoài Bắc.

Nhật sửa xong cầu, máy bay Đồng Minh lại bắn phá. Những quả bom tạ rơi xuống sông, cá chết nổi đầy, dân ven sông được dịp đua nhau xuống sông vớt, các anh lớn đi tìm nhặt về những băng ca tút đạn vàng chóe.

Thế rồi bổng nhiên lính Nhật treo cờ trắng, vẻ mặt buồn rầu. Các anh lớn nói với nhau nước Nhật bị Mỹ ném bom nguyên tử phải đầu hàng phe Đồng Minh có nước Nga ờ cùng phe mình mạnh lắm đã đánh phát xít Đức hàng.

Nhật đập súng vất xuống sông rút đi, toán ở trong xóm chú Dộ tôi gần đình làng Minh Lệ (*), viên sĩ quan tự sát, lính cắt thủ cấp bỏ lên khay trùm khăn đỏ làm lễ truy điệu. Tôi theo các anh lớn đến xem và họ rút sau cùng qua đò Phú Trịch

Nhật đi rồi, tàu hỏa lại đổ xuống các toán lính Tàu và lừa ngựa. Các anh lớn nói là quân Tàu ô đến tước vũ khí Nhật. Họ gầy ốm, ăn ở, phóng uế bẩn thỉu khắp làng, lừa ngựa đế sổng phá hoại hoa màu trong làng, dân bức xúc nhưng đành chiu.

Cũng may, họ ờ không lâu rồi đi nhưng nạn đói năm 45 ở nước ta rất khủng khiếp. Làng tôi không đến nỗi gì nhưng ảnh hưởng thật ghê sợ.Tàu hỏa đổ xuống ga Minh Lệ hàng ngày đem xuống làng những tốp người đói khát ốm đau đi ăn xin, đa phần là người già, đàn bà và trẻ con, ngày nào cũng có người ăn xin chết ngoài đường, làng tôi phải chôn cất, nghe người lớn nói đa phần là người Thái Bình, Nam Định, có cả Thanh Hóa.

Vậy đó, chiến tranh và hậu quả phát xít đã xẩy ra ở làng quê Minh Lệ trước ngày cách mạng. Tôi kể lại cho thế hệ trẻ ngày nay biết .Mong các bạn trẻ hãy kể truyền miệng cho con cháu nghe, bởi tuổi già và năng lực không cho phép tôi viết lại thành sách”

KHÍ THẾ LÀNG MINH LỆ SAU NGÀY ĐỘC LẬP

Cụ Nguyễn Ngọc Hạp nhân năm 2018 ,kỷ niệm 73 năm Lễ Quốc Khánh ngày 2 tháng 9 năm 1945, cụ vào tuổi 81. Nhớ lại hồi ức tuổi thơ khi còn là đứa trẻ con 8 tuổi ở trong đội nhi đồng do các anh lớn phụ trách. Cự Hạp kể tiếp:

“Tôi không thể nào quên ngày toàn thể làng tôi sôi động trong khí thế cách mạng,mọi người chăm chỉ tăng gia sản xuất chống giặc đói, đêm đêm già trẻ cầm đèn dầu đi học chống giặc dốt. Dân quân tập luyện quân sự, đào giao thông hào, lập làng chiến đấu.

Lớp thanh niên trai tráng đầu tiên xung phong nhập ngũ, trong số đó có anh Hoàng Ngọc Tợ, anh Trặng, anh Doành đã tham gia mặt trận chốt giữ đường 9 Khe Sanh, Ban Na Phầu chiến đấu trở về kể chuyện cả làng đều biết. Anh Tợ bị địch bắn trúng vào đầu, đội mũ sắt làm móp mũ, mọi người đến xem bàn tán mừng cho anh. Người chú trong họ tôi là Nguyễn Hữu Nghính kể lại rằng: anh Trặng giữ súng máy đại liên khẩu “chiêu hòa” nặng lắm vừa truy kích vừa bắn không cần giá súng.Bọn trẻ chúng tôi chuyền tại nhau thích thú, có đứa bắt chước lúc đánh trận giả làm vui. Lớp lính cũ thời Pháp cũng tình nguyện vào Vệ Quốc Đoàn là ông binh Khạm, binh Nghìa. Ông cai Huỳnh dẫn trung đội hành quân qua làng đóng ở trường tiểu học đem súng mút cờ tông ra bắn thử, đạn tịt vài ba phát mới nổ được một phát, cả xóm đến xem hãnh diện lắm

Khí thế rộn ràng chuẩn bị đi vào cuộc kháng chiến toàn dân giữ vững độc lập rất cao

Đội văn nghệ do anh Hoàng Hũu Sam phụ trách tổ chức diễn kịch ở sân trường vở nhạc kịch “Hội nghị Diên Hồng” hay lắm.. Anh Sam mặc áo dán giấy, giả áo cẩm bào đóng vua, những anh khác đeo râu giả cong lưng chống gậy đóng cụ già. Vua hát:

Kế giữ nước nên hòa hay nên chiến?
Các cụ đồng thanh: Quyết chiến”

Thế nước yểu lấy gì lo chíến chinh?
Các bô lão đồng thanh “Hy sinh”

Khán giả ngồi xem đồng thanh hướng ứng hát theo khí thế đầy hăng hái. Tuy tôi là trẻ con nhưng bố tôi thời ấy là Chủ tịch (*), nhiều người thường lui tới bàn việc, tôi nghe lóm cũng nhớ được nhiều chuyện và nay nhớ lại thời điểm xuất phát lập nên những chiến tích xã Quảng Minh anh hùng (là làng Minh Lệ xưa) từ sự nhen nhúm ngọn lửa đầu tiên ngày đó.

Nhà tôi cạnh đường quan người Pháp làm từ phủ Quảng Trạch (Ba Đồn) lên ga Minh Lệ,trước mặt nhà là trường học, gần nhà mệ Dùm, có từ lớp đồng ấu, lớp năm đến lớp tư (xem hình 2). Học hết lớp thì lên trường Ecole de Thọ Linh có từ lớp ba đến lớp nhất.

Không biết trường làng tôi có từ lúc nào, nhưng to lắm 5 gian mái lợp tranh, chân cột kê tảng đá xanh vuông 0.8m, nền đắp cao, sân rộng, thanh thiếu niên cả làng tụ tập đá bóng ở đó.

Buổi tối các anh lớn như Bích, Quế, Gián. Tân, Sinh, Tôn, Soảnh, Đạnh, Chuồi, Ban, Chấp, Tửng …. hay tù tập đàm luận. Chung tôi như thằng Thiệt, Thạnh. Cát …đến hóng chuyện, nghe lỏm các anh nói. Nước ta có ông Nguyễn Ái Quốc cầm đầu Việt Minh sắp nổi dậy cướp chính quyền, làng mình có ông cửu Ngô, chú Sính, ông bộ Em (ông Quê) ông Miều v.v…theo Việt Minh. Hồi ấy Nhật đã rút đi, ông tri phủ cũng không thấy dẫn lính đi tuần về làng qua cửa nhà tôi nửa.

Một hôm ở sân trường có người đặt bàn ra giữa sân, nhiều người tụ tập, tôi ra xem. Bỗng một tiếng súng nổ, một người dáng cao, mặt rổ hoa, tay cầm súng lục, nhảy lên bàn diễn thuyết. Người làng nói đó là anh Minh người làng Hòa Ninh ở trong đội võ trang tuyên truyền (về sau năm 47 nghe nói anh có kiếm Nhật ở trong đội diệt ác trừ gian, chém nhiều người lắm, đêm nào thanh kiếm rung là sáng ra có người bi chém, ghê lắm)

Một sáng mùa thu mát mẻ, tiếng trống vang lên thúc dục dân tụ tập lại. Lũ trẻ chúng tôi đi xem nhiệt tình lắm (không nhớ ngày nào). Tôi thấy đủ mặt có các ông mà các anh lớn nói, ông cửu Ngô là người đứng đầu, có mặt cả làng, tôi thấy chú kiểm Túy, chú Hài, anh Soắc, anh Bửu ,và nhiều anh lớn mà tôi đã kể. Lá cờ đỏ sao vàng kéo lên cột cờ của trường, mọi người nắm tay giơ lên mang tai chào (chưa có quốc ca). Sau đó, ông cửu Ngô nói vài câu rồi hô vang:

Đả đảo thực dân Pháp
Đả đảo Bảo Đại
Ủng hộ Việt Mịnh
Việt Nam độc lập muôn năm !

Một không khí hăm hở, đoàn người cầm gậy cầm gươm kéo lên xóm tây nhà lý Xâng, ông ta nằm trên võng ru con vội vã đi lấy sổ sách và triện giao nộp tử tế. Đoàn người lại kéo về sân trường. Nhà tôi cũng bị khám xét vì cha tôi là quan lảnh binh thời Pháp đang ở Đà Nẵng, trong tốp người có chú Sính, ông Miều, ông Quê. Mẹ tôi đi chợ Côi vắng, chúng tôi về mách, mẹ tôi đến mắng người Việt Minh là bà con. Họ cười xòa thân thiện.

Đoàn người phân công một toán xuống Ba Đồn cùng với các xã khác cướp chính quyền ở phủ, huyện. Khi vế anh Soánh kể bắt được tri phủ Đặng Hữu An, ông ta sợ lắm.

Tối đó tại sân trường tụ tập thành lập các đoàn thể cứu quốc.Từ đó trụ sở xã làm viêc ở gần ga tai xưởng ép dầu lạc do ông Hoàng Hữu Ngô làm Chủ tich xã lâm thời, tên xã là Hạ Văn, sau này là Minh Trạch, bao gồm: Minh Lệ, Thọ Linh, Hòa Ninh, La Hà. Tên xã Hạ Văn nghe cũng lạ, nhưng trong huân chương bố tôi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi rõ như vậy. Vì sau đó, bố tôi (là ông Nguyễn Ngọc Xừ do HK ghi chú) rời quân ngũ trở về được bầu làm Chủ tịch xã thay cho ông Ngô.

Trường làng cũ tiếc rằng hiện nay không còn nữa, nơi di tích lịch sử của làng đã quên. Nay tôi nhớ tiếc cái nôi đã bắt đầu cho sự nghiêp của các lớp người tiền bối cách mạng. Họ là những kỷ sư, tiến sĩ, những sĩ quan quân đội trong kháng chiến chống Pháp chống Mỹ.

NGƯỜI LIỆT SĨ LÀNG MINH LỆ ĐẦU TIÊN THỜI CHỐNG PHÁP

Ông là Hoàng Văn Dạo một nông dân ở xóm Nam, thời Pháp thuộc bị bắt đi lính sang tận An giê ri, trở về làng ông ngang tàng lắm, lũ chức sắc cường hào ông chẳng coi ra gì, nhà ở gần chợ Mới nên bọn buôn trâu bò lợi dụng ông khi tranh chấp mua bán.

Sau ngày cách mạng, bố tôi ở Đà Nẵng trở về được bầu làm Chủ tịch xã Minh Trạch, ông Dạo là em rể được giao lập trung đội dân quân xóm Nam

Ông nhận lời hăng hái lắm. Đêm nào cũng hướng dẩn tập luyện, dùng gậy thay súng và mọi người tự tạo lấy vũ khí sát thương. Riêng ông có quả lựu đạn thời lính Tây đem về lấy ra đeo oai lắm.

Năm 1947, Pháp đóng đồn cảng sông Gianh (Thanh Khê) có một trận càn chia ra nhiều mũi đánh lên, hợp điểm là làng Minh Lệ

Một mũi đổ bộ bằng ca nô lên chợ Mới như dự đoán. Xã đã bố trí xóm Nam đào giao thông hào lập trận địa phục kích ở bến chợ. Hôm đó khi báo động cho dân làng chạy hết, bộ phận còn lại trung đôi dân quân ra trận đầu phục kích ở bến chợ. Ông Dạo đeo gươm chỉ huy ném lựu đạn rồi hô xung phong xông ra chém.

Ca nô cặp bờ, lính Pháp súng máy lăm lăm yểm trợ lính đổ bộ lên bờ. Ông Dạo ném lựu đạn hô xung phong. Quả lựu đạn mù nên không sát thương. Tràng súng máy địch xả đạn trúng ông gục xuống. Dân quân trận đầu mất chỉ huy rút chạy. Có lẽ ông bị thương nặng cố bò vào khoảng kín chiến hào rau bí phủ lấp và hy sinh tại đó.

Ủy Ban xã trong đó có bố tôi và anh Phông thư ký, anh Đạnh liên lạc, ba người chạy trốn ở Bàu Vịt xóm Tây bị lộ, do tiếng trẻ con khóc. Một toán lính Pháp đuổi theo bắn vào bụi. Anh Đạnh bị thương ở bàn chân. Bố tôi cũng có súng lục (lấy khi làm lính cho Pháp) ông cầm sẵn trong tay, nhưng che bởi cành lá, thủ thế nếu cần kíp. Anh Phông nghĩ đã bị lộ nên đứng dậy bị giặc bắt. Bố tôi nghe được tiếng Pháp, chúng hỏi anh có ai nữa không?. .Anh trả lời không, đánh lạc hướng, bảo vệ mọi người. Giăc bắt anh đi và anh mất tích từ đó. (Có lẽ anh Phông là liệt sĩ thứ hai sau ông Dạo của Làng Minh Lệ thời chống Pháp).

Trận càn đầu tiên kết thúc. Giặc rút . Ủy Ban trở lại làm việc tìm kiếm ông Dao, nhưng không thấy. Moi người lại đồn đại là ông Dạo theo Pháp. Bổ tôi lo lắm vì tiếng xấu của làng. Môt tuần sau, có người đi hái rau bí phát hiện thi thể ông Dạo đã phân hủy Ủy Ban đã lo chôn cất, sau này Làng Minh Lệ đã đưa vào Nghĩa trang Liệt sĩ . Ông Hoàng Văn Dạo là người liệt sĩ làng Minh lệ đầu tiên hy sinh với khí phách dũng cám, tiêu biểu anh hùng cho làng ta như vây đó

Sau này cũng có người viết lại nhưng chi tiêt còn thiếu sót, kế cả lịch sử mà tướng Đồng Sỉ Nguyên ghi lại củng vậy chưa đủ. Buổi quân hồi vô lệnh, sự chỉ huy hạn chế mọi mặt, sự tự phát đánh trả địch của làng tôi, trong đó cuộc chiến đấu dân quân xóm Nam ông Dạo là người chỉ huy thât can đảm, xứng đáng khí phách oanh liệt bậc tiền bối cách mạng.

Cụ Nguyễn Ngọc Hạp kể chuyện thứ ba trên đây là theo lời kể của Cụ Nguyễn Ngọc Xừ là Chủ tịch xã Minh Trạch thời ấy, (Cụ Xừ là bố của cụ Hạp). Cụ Hạp nói: Lớp người đi trước đã không còn nữa, tôi mạn phép từ lứa tuổi của tôi trở về trước kể lại để thế hệ trẻ ngày nay con cháu được nghe. Tôi cam kết với dân làng là tôi chưa kể hết chứ không thêm không bớt để giữ nguyên giá trị lịch sử của làng Minh Lệ quê tôi, để đừng ai lợi dụng lắp ráp lịch sử khoe khoang dòng họ. Phạm vi bài viết trên FB tôi cố gắng tường trình sự kiện lịch sử cách mạng Làng Minh Lệ phần nào giúp độc giả thế hệ trẻ biết và cũng xin lỗi các cụ lứa tuổi tôi trở về trước, ai nhớ kế bổ sung cho con cháu nghe ./.

Hà Nội, 21-24 /9/2018. Cụ Nguyễn Ngọc Hạp kể, Hoàng Kim ghi lại và chú thích

CHÚ THÍCH CỦA HOÀNG KIM

(*) Đình Minh Lệ (ảnh nhìn từ ruộng lúa trước cửa nhà ông Dộ): Đình Minh Lệ được xây dựng năm 1464 dưới triều vua Lê Thánh Tông, hoàng đế thứ 5 của nhà Lê sơ, là nơi thờ tự bốn vị Đức Thần Tổ Trương Hoàng Trần Nguyễn. Thuở sơ khai, đình Minh Lệ là ngôi đình chung của cả năm thôn “Nhất xã ngũ thôn”: Minh Lệ (Quảng Minh), thôn Đoài (Diên Trường – Quảng Sơn), Vĩnh Ninh (Hoà Ninh – Quảng Hoà), Vĩnh Phước, Vĩnh Lộc (Quảng Lộc).

Đình Minh Lệ, ảnh Hoàng Minh Đức

(**) Chủ tịch liên xã thuở đó là cụ Nguyễn Ngọc Xừ, ““Hồn chính khí bốc lên ánh sáng/ Sáng choang ngọc đá giữa hoang tàn’./Tâm nhân văn lắng đọng tinh hoa/Hoa Đất Hoa Người trong cõi Bụt.” Hai câu thơ đầu là thơ của Cụ Hoàng Bá Chuân em ruột của bà ngoại tôi đọc lời điếu khi cải táng cụ Nguyễn Ngọc Xừ, bị chết oan Hai câu thơ sau là thơ của Hoàng Kim. LÀNG MINH LỆ QUÊ TÔI là một câu chuyện dài về quê hương đất và người, nếp nhà và nét đẹp văn hóa, hướng thiện và chính trung

(***) CNM365 Chào ngày mới 21 tháng 9. Giống khoai lang ở Việt Nam; Khoai lang Nhật đỏ HL518 Việt Nhật Khoai Việt từ giống tốt đến thương hiệu Quản lý bền vững sắn châu Á; Làng Minh Lệ quê tôi Ngày 21 tháng 9 Ngày Quốc tế Hòa bình (International Day of Peace) (trước đây là ngày khai mạc Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc). Ngày 21 tháng 9 năm 1820 , Đế quốc Maratha là cựu Đế quốc và vương quốc tại Ấn Độ bị diệt vong sau khi chiến bại trước Anh Quốc, Công ty Đông Ấn Anh tiếp tục củng cố địa vị tại Ấn Độ. Ngày 21 tháng 9 năm 1832 là ngày mất của Sir Walter Scott, nhà văn và nhà thơ lãng mạn nổi tiếng người Scotland (sinh năm 1771) với nhiều tác phẩm được coi là đại diện cho nền văn học cổ điển Anh, như Ivanhoe (Ai-van-hô), Rob Roy, Waverley, Trái tim của Midlothian (The Heart of Midlothian). Bài chọn lọc ngày 21 tháng 9 Giống khoai lang ở Việt Nam; Khoai lang Nhật đỏ HL518 Việt Nhật Khoai Việt từ giống tốt đến thương hiệu Quản lý bền vững sắn châu Á; Làng Minh Lệ quê tôi . Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-21-thang-9/

Làng Minh Lệ quê tôi

LÀNG MINH LỆ QUÊ TÔI
Hoàng Kim

Linh Giang dòng sông quê hương. Nhà mình  gần ngã ba sông. Rào Nan Chợ Mới Nguồn Son Quảng Bình. Quê tôi sông núi hữu tình. Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con. Tôi nợ quê hương mình những ký ức về Làng Minh Lệ quê tôi, nợ những người thân và bạn hữu quê hương bao chuyện tuổi thơ và cuộc đời nhưng thỉnh thoảng mới gặp. Tôi biết ơn tác phẩm “Thời lửa đạn” lưu dấu câu chuyện quê hương.

“Thời lửa đạn” là tập hồi ký của nhà giáo Hoàng Hữu Thanh, bí danh Nam Sơn sinh ngày 18 tháng 9 năm 1929 tại làng Minh Lệ, xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, trú quán số nhà 12, đường Đặng Dung, tiểu khu 10, phường Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Cụ vừa mất năm 2018. Cụ Hoàng Hữu Thanh nguyên là đại đội trưởng đội thiếu niên du kích Minh Lệ huyền thoại, người trinh sát gan dạ, người chỉ huy tài năng năm xưa của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cụ cũng là  thầy giáo ưu tú của  Trường Sư phạm 10+3 Quảng Bình thời lửa đạn chống Pháp  và chống Mỹ. Cụ đã được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Ba;  Huân chương chống Mĩ cứu nước hạng Nhất; Hai huân chương chiến công hạng Ba; Huy chương vì sự nghiệp giáo dục Việt Nam. Tác phẩm “Thời lửa đạn” là tự truyện đầy ắp thông tin chân thực và sống động về  làng Minh Lệ trong khoảng  từ năm 1940 đến năm 1975. Đây cũng là những phác thảo rất quý về gia phả, dòng họ, địa chí, văn hóa và  quê hương đất và người.

Thầy giáo già Hoàng Hữu Thanh, vị trưởng bối đáng kính làng Minh Lệ đã làm được nghĩa cử to lớn vinh danh quê hương nghèo khó, ân tình, anh hùng, địa linh nhân kiệt và vinh danh những thế hệ cầm súng bảo vệ xóm làng. Ông đã kịp lưu lại một mảnh ký ức lớn, rất quý, truyền thần về làng Minh Lệ đất và người. Trang văn của thầy Hoàng Hữu Thanh chắc chắn sẽ có nhiều người và nhiều thế hệ đọc lại. Nhà thơ nhà báo Phan Văn Khuyến nhận xét:” Nhờ năng khiếu bẩm sinh và được học tập, rèn luyện trong ngành sư phạm nhiều năm nên lời văn của thầy Hoàng Hữu Thanh thật trong sáng, giản dị, diễn đạt chính xác các sự kiện cần nói, bố cục súc tích gọn gàng. Tuy là ghi chép theo lối hồi kí nhưng nhờ thực tế nên trong tập hồi kí này có nhiều trang viết rất hay, …”

Tôi (Hoàng Kim) đã đọc đi đọc lại nhiều lần “Thời lửa đạn” do có cha mẹ và gia đình mình hiển hiện chân thực trong đó. Tôi đã rất xúc động … vì nhớ lại tuổi thơ gian khó của người học trò nghèo cha mẹ mất sớm năm xưa trong Bài ca Trường Quảng Trạch “Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng”.

Làng Minh Lệ quê tôi “Thời lửa đạn” thân thiết trong lòng tôi. Nguyễn Khải trong “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại” đã nói: “Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn”. Tại tự truyện “Thượng đế thì cười” , Nguyễn Khải cũng đã trích dẫn “Con người suy nghĩ còn Thượng đế thì cười” (Ngạn ngữ Do Thái, theo lời dẫn của Milan Kundera trong Diễn văn Zérusalem – Nguyên Ngọc dịch)

Tôi lưu ảnh ‘ Linh Giang dòng sông quê hương ‘ để nhớ về Làng Minh Lệ quê tôi và lưu giữ trang viết “Thời lửa đạn” như một địa chỉ xanh Quê Hương. Trang viết này khởi đầu năm 2013 đến năm 2018 mới bổ sung thêm ít ảnh và năm 2019 FB nhắc lại để viết tiếp. Cám ơn Trương Minh Dục, Hoàng Minh Đức,… với những người thân và bạn hữu. Món nợ lớn nhất đời người là tình cảm. Chúng ta ai cũng nợ ân tình Quê hương.

Tôi lưu lại một ít hình ảnh …
Hoàng Kim

Bài viết cùng chủ đề
Làng Minh Lệ quê tôi
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Thầy bạn trong đời tôi
Linh Giang dòng sông quê hương
Thơ cho con

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
ngày mới nhất bấm vào đây  cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Làng Minh Lệ quê tôi

LÀNG MINH LỆ QUÊ TÔI
Hoàng Kim

Linh Giang dòng sông quê hương. Nhà mình  gần ngã ba sông. Rào Nan Chợ Mới Nguồn Son Quảng Bình. Quê tôi sông núi hữu tình. Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con. Tôi nợ quê hương mình những ký ức về Làng Minh Lệ quê tôi, nợ những người thân và bạn hữu quê hương bao chuyện tuổi thơ và cuộc đời nhưng thỉnh thoảng mới gặp. Tôi biết ơn tác phẩm “Thời lửa đạn” lưu dấu câu chuyện quê hương.

“Thời lửa đạn” là tập hồi ký của nhà giáo Hoàng Hữu Thanh, bí danh Nam Sơn sinh ngày 18 tháng 9 năm 1929 tại làng Minh Lệ, xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, trú quán số nhà 12, đường Đặng Dung, tiểu khu 10, phường Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Cụ vừa mất năm 2018. Cụ Hoàng Hữu Thanh nguyên là đại đội trưởng đội thiếu niên du kích Minh Lệ huyền thoại, người trinh sát gan dạ, người chỉ huy tài năng năm xưa của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cụ cũng là  thầy giáo ưu tú của  Trường Sư phạm 10+3 Quảng Bình thời lửa đạn chống Pháp  và chống Mỹ. Cụ đã được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Ba;  Huân chương chống Mĩ cứu nước hạng Nhất; Hai huân chương chiến công hạng Ba; Huy chương vì sự nghiệp giáo dục Việt Nam. Tác phẩm “Thời lửa đạn” là tự truyện đầy ắp thông tin chân thực và sống động về  làng Minh Lệ trong khoảng  từ năm 1940 đến năm 1975. Đây cũng là những phác thảo rất quý về gia phả, dòng họ, địa chí, văn hóa và  quê hương đất và người.

Thầy giáo già Hoàng Hữu Thanh, vị trưởng bối đáng kính làng Minh Lệ đã làm được nghĩa cử to lớn vinh danh quê hương nghèo khó, ân tình, anh hùng, địa linh nhân kiệt và vinh danh những thế hệ cầm súng bảo vệ xóm làng. Ông đã kịp lưu lại một mảnh ký ức lớn, rất quý, truyền thần về làng Minh Lệ đất và người. Trang văn của thầy Hoàng Hữu Thanh chắc chắn sẽ có nhiều người và nhiều thế hệ đọc lại. Nhà thơ nhà báo Phan Văn Khuyến nhận xét:” Nhờ năng khiếu bẩm sinh và được học tập, rèn luyện trong ngành sư phạm nhiều năm nên lời văn của thầy Hoàng Hữu Thanh thật trong sáng, giản dị, diễn đạt chính xác các sự kiện cần nói, bố cục súc tích gọn gàng. Tuy là ghi chép theo lối hồi kí nhưng nhờ thực tế nên trong tập hồi kí này có nhiều trang viết rất hay, …”

Tôi (Hoàng Kim) đã đọc đi đọc lại nhiều lần “Thời lửa đạn” do có cha mẹ và gia đình mình hiển hiện chân thực trong đó. Tôi đã rất xúc động … vì nhớ lại tuổi thơ gian khó của người học trò nghèo cha mẹ mất sớm năm xưa trong Bài ca Trường Quảng Trạch “Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng”.

Làng Minh Lệ quê tôi “Thời lửa đạn” thân thiết trong lòng tôi. Nguyễn Khải trong “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại” đã nói: “Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn”. Tại tự truyện “Thượng đế thì cười” , Nguyễn Khải cũng đã trích dẫn “Con người suy nghĩ còn Thượng đế thì cười” (Ngạn ngữ Do Thái, theo lời dẫn của Milan Kundera trong Diễn văn Zérusalem – Nguyên Ngọc dịch)

Tôi lưu ảnh ‘ inh Giang dòng sông quê hương ‘ để nhớ về Làng Minh Lệ quê tô và lưu giữ trang viết “Thời lửa đạn” như một địa chỉ xanh Quê Hương.

Bài viết cùng chủ đề
Làng Minh Lệ quê tôi
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Thầy bạn trong đời tôi
Linh Giang dòng sông quê hương
Thơ cho con

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
ngày mới nhất bấm vào đây  cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter