Việt Nam con đường xanh

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là thich-nghi-de-ton-tai.jpg

VIỆT NAM CON ĐƯỜNG XANH (10)
Hoàng Kim

Bảo tồn và phát triển bền vững, thích nghi để tồn tại là câu chuyện lớn của nhân loại và lời nhắc của quá khứ cho nhân loại và cho cộng đồng người dân Việt Nam để không bao giờ được phép quên lãng. Cân bằng hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, tiến bộ và công bằng an sinh xã hội, giữ vững độc lập thống nhất chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là những vấn đề trọng yếu trong chính sách kinh tế. Charles Darwin (1809- 1882) cha đẻ của thuyết tiến hóa nổi tiếng đã viết: “Kẻ sống sót không phải là kẻ mạnh nhất, mà là kẻ thích nghi tốt nhất”. Ông trùm da đỏ Seattle (1854) trong bài diễn văn trước thống đốc Isaac Stevens, đã chỉ ra năm sự thật và bài học lich sử của nước Mỹ và châu Mỹ để thức tỉnh con người 1) Làm sao các người có thể mua bán khung trời và hơi ấm của đất ? 2) Không có nơi nào an bình trong các tỉnh của người da trắng (sự thật sau này là sự hòa huyết đa sắc tộc để bảo tồn và phát triển). 3) Tôi là người man rợ, tôi không biết cách sống khác ! 4) Cái gì đến với đất sẽ đến với con cái của đất. 5) Ngày tận cùng của sự sống, ngày bắt đầu của sự sống còn. Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương; Việt Nam con đường xanh góp phần thức tỉnh con người.

Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Nam là câu chuyện về ý tưởng và cách làm Việt Nam. Con người tìm đường sống theo bản năng và bị chi phối bởi số phận lịch sử. Thế giới được viết lại sau năm 1492 khi Tân Thế Giới được khám phá. Sự di cư của người da trắng châu Âu cùng với sự xuất khẩu lao động nô lệ của người châu Phi sang vùng đất hứa đã đồng hóa người da đỏ. Ngoài những điều tốt đẹp có sự cưỡng chiếm và cướp đất đat, tước đoạt và mua tài nguyên, giảm tộc người bản xứ, hòa huyệt trộ lẫn tái phân phối châu Mỹ, xây dựng nên chủ nghĩa thực dân cũ và mới, tạo nên Đông Tây hai nẻo đường nhân loại. Châu Phi hôm nay vốn đã chi phối mạnh mẽ của hợp tác Bắc Nam từ nhiều thập kỷ trước, nay đang tìm đường hợp tác Nam Nam phối hợp với hợp tác Bắc Nam. Châu Phi không nghèo, chỉ nghèo quản lý, cần tìm kiếm phương thức bảo tồn phát triển bền vững. Định hướng quan trọng hơn tốc độ. Tương lai của châu Phi nằm trong nông nghiệp. Tại diễn đàn kinh tế thế giới ở châu Phi tổ chức tại Kigali 11-13 tháng 5 năm 2016 các nhà lãnh đạo châu Phi nhấn mạnh.

Bạn Quốc tế đến tìm kiếm cơ hội hợp tác tại Việt Nam đã hỏi
: “Chúng tôi sử dụng sản phẩm A để làm nguyên liệu thô. Tuy nhiên, nguồn cung thị trường đang biến động bởi nhiều yếu tố khác nhau. Vì vậy, chúng tôi đã bắt tay vào tự cung cấp nguyên liệu bằng việc tự trồng nguyên liệu bằng cách thuê đất của một nước có tiềm năng và hiệu quả cao trồng cây đó. Chúng tôi đã được giao đất từ Chính phủ và bắt đầu canh tác(ghi chú: nước đó không phải là Việt Nam, HK). Tuy nhiên, thật không may, khi chúng tôi mở rộng canh tác, những người dân gần đó liên tục xin tiền và đe dọa nhân viên của chúng tôi bằng súng nếu chúng tôi không cho họ tiền. Vì vậy, chúng tôi không có lựa chọn nào khác ngoài việc từ bỏ dự án. Kể từ đó, chúng tôi chỉ tập trung vào mua bán nguyên liệu chứ không trồng trọt. Tuy nhiên, dịch bệnh gần đây đã tấn công thị trường và giá cả vượt quá giới hạn chi phí sản xuất của công ty. Vì vậy, liệu có giải pháp nào cho việc thành lập nông trại trực tiếp tại Việt Nam?

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là viet-nam-con-duong-xanh-11.jpg

TS Hoàng Kim trả lời: CÓ. Việt Nam có cách phát triển nông nghiệp đã được thể hiện tại các bài viết The cassava revolution in Vietnam; Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Nam ; Lúa Sắn Việt Nam đến châu Phi; Lúa sắn Cămpuchia và lúa sắn Lào; … để bạn tham khảo. Nguyên tắc hợp tác là hai bên cùng có lợi về tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, tiến bộ và công bằng an sinh xã hội, cam kết đảm bảo tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Địa điểm hợp tác cụ thể được lưa chọn tại nơi có điều kiện tốt cho người dân, cơ sở hạ tầng, đồng ruộng và điều kiện sinh hoạt để tiếp nhận chuyên gia, giống mới, cơ giới hóa và ứng dụng kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao; đào tạo nguồn nhân lực, tăng giá trị sau thu hoạch của ngành hàng và tạo thuận lợi cho thương mại. Thủ tướng Việt Nam khẳng định tầm nhìn, cơ chế, chính sách mới nhằm khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn tại Nghị định 57/2018 / ND-CP. Theo đó, trục sản phẩm chính nhắm đến các sản phẩm chính quốc gia. Chuỗi giá trị sản phẩm chính ở cấp tỉnh cần đủ lớn, liên kết các khu vực nguyên liệu thô với các thương hiệu, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao và đào tạo nguồn nhân lực.

Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Nam cách hợp tác nông nghiệp trọng điểm là “gạo sắn điều rau xanh hoa quả châu Phi, chuyên môn Việt Nam” đã lan tỏa Con đường lúa gạo Việt Nam.vươn ra làm bạn thân thiện ân tình với thế giới Kinh nghiệm này của Việt Nam chúng tôi đã giới thiệu với các bạn Châu Phi được đồng tình và ủng hộ. Có nhiều đoàn du lịch sinh thái đến học tập trao đổi, cùng làm việc tại Việt Nam và Châu Phi, Các bạn dành một chút tiền đến với chúng tôi cùng hổ trợ và tham gia trong chuỗi sản phẩm ấy, xác định vướng mắc chính của sản xuất, lựa chọn giải pháp giống tốt, kỹ thuật thâm canh, chế biến sau thu hoạch, thị trường, đào tạo nguồn lực, Học bởi làm (Learning by Doing), không đợi giàu mới làm việc thiện , không chờ giàu mới giúp người nghèo mà cùng nhau làm việc, chia sẻ kết quả, hợp tác thân thiên vì chất lượng cuộc sống của người dân lao động quanh mình. Đó là Việt Nam con đường xanh

Các nước Tây Phi và Việt Nam có điều kiện sinh thái cùng trên một nền khí hậu nhiệt đới là hoàn toàn tương tự nhau dễ dàng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật cây trồng và thâm canh phù hợp.  Lúa gạo là một trong ba cây lương thực quan trọng nhất trên thế giới, sản lượng đứng sau ngô và trước lúa mì. Gạo là lương thực ổn định thân thiết và không thể thay thế ở châu Phi, đặc biệt là ở Tây Phi, nơi mà những năm gần đây mức tiêu thụ gạo trong gia đình người dân vùng Tây Phi đang tăng lên đáng kể do thu nhập đời sống, gia tăng dân số và quá trình đô thị hóa. Lúa Sắn ở nhiều nước châu Phi là cây lương thực chính. Bài học lúa sắn và chén cơm thường ngày của người dân là ấn tượng sâu sắc trong lòng mỗi người khách đến thăm châu Phi. GMX Consulting đang mở rộng tư vấn từ Lúa, Sắn đến Cá, Rau xanh.  Đó thực sự là một câu chuyện dài. Tôi tạm đưa lên một ít hình về câu chuyện “Cassava in Ghana: Save and Grow” có nhiều thông tin liên quan về lúa và Dr. Rice Võ Tòng Xuân. Vùng Tây Phi là một khu vực nhập khẩu gạo lớn nhất toàn cầu trong khi Việt Nam là một trong những nhà xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Tây Phi mỗi năm đang chi 3 tỷ đô la Mỹ cho sự nhập khẩu gạo. Châu Phi là vùng tiềm năng cho sự tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ gạo lớn hơn, như Nigeria và Ghana vẫn đang trong khoảng 30- 40kg so với hơn 100kg ở các nước như Sierra Leone, Guinea and Liberia. Chuyên môn lúa Việt Nam là đáng tin cậy  Tốc độ tăng năng suất lúa gạo Việt Nam (1975-2014) vượt 1,73 lần so với tốc độ tăng năng suất lúa gạo bình quân chung của toàn thế giới. Năm 2015, diện tích đất trồng lúa ở Việt Nam là 7,83 triệu ha, tổng sản lượng lúa đạt 45,22 triệu tấn, năng suất bình quân đạt 57,7 tạ/ha, đã xuất khẩu 6,7 triệu tấn,  tăng 5,8% so với năm 2014. Việt Nam đã được một trong 3 nhà xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới trong 25 năm qua. Quá trình chuyển đổi của Việt Nam đến một nước xuất khẩu gạo hàng đầu của những năm gần đây đã sản sinh ra nhiều chuyên gia lúa gạo, hạt giống phù hợp, thủy lợi và phát triển các kỹ thuật  mà có thể được triển khai tới châu Phi. Trong chuỗi giá trị hàng hóa từ cây lúa đến hạt gạo đến chén cơm ngon có biết bao những vấn đề bức xúc , niềm vui, nổi buồn và những vấn nạn.

Việt Nam con đường xanh, xem tiếp tại https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim
.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là chau-my-chuyen-khong-quen.jpg

CHÂU MỸ CHUYỆN KHÔNG QUÊN

“Vị thần Mặt trời bị lãng quên của người Inca“ tại Machu Picchu lưu dấu tại Châu Mỹ chuyện không quên Lời cảnh báo của ông trùm người da đỏ Seattle (1854) Làm sao các người có thể mua bán khung trời và hơi ấm của đất ? với câu chuyện huyền thoại “O Alquimista” của Paulo Coelho tựa đề tiếng Anh là “The Alchemist” do Alan R. Clarke chuyển ngữ, đã nổi tiếng và bán chạy khắp thế giới, đến mức độ 65 triệu bản được in chỉ xếp sau Kinh Thánh . Di sản vật thể và phi vật thể nổi bật liên quan đến câu chuyện trên của bài dịch anh Nguyễn Vạn An là Machu Picchu một di sản thế giới UNESCO ở Peru, nơi được Tổ chức New7Wonders chọn là một trong 7 kỳ quan thế giới mới. Đó là di sản nền văn minh Inca, người da đỏ Inca  và thần Mặt trời, thực sự là một kho báu vĩ đại tâm linh khoa học kỳ bí chưa thể giải thích được đầy đủ. Đền thờ thần Mặt trời tựa lưng vào cột chống trời  “Cổ Sơn”, theo tiếng quechua của người Inca; thỉnh thoảng được gọi là “Thành phố đã mất của người Inca” là một khu tàn tích Inca thời tiền Columbo trong tình trạng bảo tồn tốt ở độ cao 2.430 m trên một quả núi có chóp nhọn tại thung lũng Urubamba ở Peru, khoảng 70 km phía tây bắc Cusco. Tất cả các chuyến đi tới Machu Picchu đều xuất phát từ Cusco. Tại thủ đô Lima có một đường bay nội địa dẫn tới Cusco.

*

Cám ơn anh Nguyễn Vạn An đã chia sẻ để tôi nối dài bài viết này.

Vạn An lời yêu thương..

Hoàng Kim


Tài liệu dẫn:

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là chau-my-chuyen-khong-quen1.jpg

CHÂU MỸ CHUYỆN KHÔNG QUÊN
Hoàng Kim

Peaingpen, Sheela, Alfredo, Yona, Kim enjoy fufu. Chúng tôi đã ăn tối thật ngon tại nhà Martin Fregene ở CIAT. Chiều nay, trong đền thờ “Vị thần Mặt trời bị lãng quên của người Inca“, gia đình sắn chúng tôi đã cam kết cùng nhau làm “những người bạn của nông dân trồng sắn châu Á , châu Phi và châu Mỹ”. Hoàng Kim bế con của Martin và giao hẹn: Nhờ trời, bác sẽ trở lại châu Phi”. Tôi vừa đọc sách “O Alquimista” của Paulo Coelho tựa đề tiếng Anh là “The Alchemist” do Alan R. Clarke chuyển ngữ và thích thú hứa với cháu bé. Hóa ra, ‘Nhớ châu Phi’ và “Vị thần Mặt trời bị lãng quên của người Inca“ là có thật ! Chào ngày mới 26 tháng 7 https://cnm365.wordpress.com/…/…/chao-ngay-moi-26-thang-7-2/

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là peru-machu-picchu-sunrise.jpg

Vị thần mặt trời Inca bị quên lãng

CIMMYT, CIAT, CIP là những ấn tượng sâu sắc, đậm nét trong lòng tôi. Châu Mỹ là nôi ngô sắn khoai của Trái Đất. Ngô tại CIMMYT ở Mexico. Khoai lang, khoai tây tại CIP ở Peru. Sắn tại CIAT ở Colombia. Tôi may mắn được trãi nghiệm qua những nơi này và lưu lại Châu Mỹ chuyện không quên. Tôi đùa với các bạn là “Hoàng Kim có nhiều bạn ở nơi đó”. “Châu Mỹ có vị thần Mặt trời Inca bị quên lãng”. Phổ hệ chọn giống sắn ở Việt Nam có quan hệ nhiều trong chuyện này.. Ngày nay giống sắn Việt Nam trồng nhiều nhất là KM419 chiếm 42% và  KM94 chiếm 38% tổng diện tích trồng sắn của Việt Nam. Chuyện lai tạo giống sắn bây giờ mới kể.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là chau-my-chuyen-khong-quen-111.jpg
Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là chareinsak-rojanaridpiched-and-hoang-kim-1.jpg

Hoàng Kim và Chareinsak Rojanaridpiched

Chareinsak Rojanaridpiched là giáo sư tại  Kasetsart University (Bangkhen, Băng Cốc, Thái Lan). Ông nguyên là Hiệu trưởng Trường Đại học Kasetsart. Ông và nhóm đồng nghiệp sắn Thái Lan đã chọn tạo ra ” Kasetsart 50: giống sắn quan trọng nhất trên thế giới”. KU 50 với hơn 20 năm kinh nghiệm ở Thái Lan và Việt Nam, tăng từ 60 đến 75 phần trăm của tất cả nông dân trồng sắn, trên tổng số diện tích khoảng 1,0 – 1,5 triệu ha mỗi năm, là một cây trồng an ninh lương thực quan trọng và nguồn thu nhập cho nông dân nghèo ở Đông Nam Á. Chareinsak Rojanaridpiched  từng học ở Cornell University,  một trường đại học nổi tiếng nhất của nước Mỹ nơi mà  Ezra Cornell, người sáng lập trường năm1865 từng nói: “Tôi sẽ thành lập một trường mà bất cứ người nào cũng có thể tìm thấy hướng dẫn về bất cứ ngành nào”.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là chau-my-chuyen-khong-quen-12-chon-giong-san-vietnam.jpg

Kim nói với Chareinsak: “Chúng tôi biết ơn các bạn CIAT Thai Lan. Sắn Việt Nam học để làm (Learning by Doing) theo lý thuyết và thực hành của Sắn CIAT sắn Thái Lan và cố gắng vươn lên theo cách riêng, điều kiện riêng của mình. Phổ hệ các giống sắn phổ biến tại Việt Nam đã nói lên điều đó. “Châu Mỹ chuyện không quên” là sự ghi lại của tôi về những ngày cùng học tập và làm việc ở CIAT, CIMMYT, CIP  và các nước châu Mỹ.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là chau-my-chuyen-khong-quen-15.jpg
Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là chau-phi-chuyen-khong-quen-142.jpg
Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là chau-my-chuyen-khong-quen-151.jpg
Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là peru-machu-picchu.jpg

Bạn hỏi tôi: Bạn ấn tượng nhất điều gì ở Nam Mỹ?. Tôi đến nay ấn tượng nhất vẫn là Machu Picchu, di sản thế giới UNESCO ở Peru, nơi được Tổ chức New7Wonders chọn là một trong 7 kỳ quan thế giới mới. Đó là di sản nền văn minh Inca, người da đỏ Inca  và thần Mặt trời, thực sự là một kho báu vĩ đại tâm linh khoa học kỳ bí chưa thể giải thích được đầy đủ. Đền thờ thần Mặt trời tựa lưng vào cột chống trời  “Cổ Sơn”, theo tiếng quechua của người Inca; thỉnh thoảng được gọi là “Thành phố đã mất của người Inca” [1] là một khu tàn tích Inca thời tiền Columbo trong tình trạng bảo tồn tốt ở độ cao 2.430 m [2] trên một quả núi có chóp nhọn tại thung lũng Urubamba ở Peru, khoảng 70 km phía tây bắc Cusco. Tất cả các chuyến đi tới Machu Picchu đều xuất phát từ Cusco. Tại thủ đô Lima có một đường bay nội địa dẫn tới Cusco. CIP gần trung tâm Lima và sân bay nên rỗi hai ngày là có thể đi thăm được. Ở Colombia, tôi ấn tượng nhất ba nơi: Đó là 1) CIAT tại Cali, 2) sông Magdalena và đền thần Mặt trời, với dãy núi Andes và nhiều đồn điền cà phê; 3) thủ đô Bogota tại Zona Rosa nổi tiếng với các nhà hàng và cửa hiệu, có Cartagena một khu phố cổ trên bờ biển Caribê gợi nhớ biển Nha Trang của Việt Nam.

“CHÂU MỸ CHUYỆN KHÔNG QUÊN” lắng đọng trong tôi nhiều ký ức sâu sắc về  đất nước, con người, bạn hữu, nền văn hóa. Tác phẩm bao gồm những bài: Lời Thầy dặn; Con đường di sản Lewis và Clark500 năm nông nghiệp BrazilĐối thoại giữa các nền văn hóaCIMMYT tươi rói một kỷ niệmHoa xương rồng; Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng GoetheMark Twain là Lincoln văn học Mỹ; Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng; Rio thành phố giữa núi và biển; Borlaug và HemingwayBill Gates học để làm Truyện George Washington; Minh triết Thomas Jefferson; Kiệt tác của tâm hồn; Ngọc lục bảo Paulo Coelho; Mark Zuckerberg thật tuyệt vời; Mark Zuckerberg và Facebook; Mark Zuckerberg bài học cuộc sốngSóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng . Biên khảo này có mục đích nhằm cung cấp thông tin,  bài học kinh nghiệm tình yêu cuộc sống cho bạn đọc, đặc biệt là các bạn trẻ nghèo hiếu học có thể chọn được một số tri thức bổ ích và bài học quý cho riêng mình.

xem tiếp: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chau-my-chuyen-khong-quen/

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là hernan-ceballos.jpg

Hernán Ceballos, chuyên gia chọn giống sắn CIAT, đã nhận được giải thưởng sắn vàng tại cuộc họp liên minh đối tác sắn toàn cầu GCP21 được tổ chúc tại Berin từ 11 đến 15 tháng 6 năm 2018: http://ow.ly/QKPL30jI9Bd

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là ciat-vietnam-hop-luc-phong-tru-benh-kham-la-virus-san.jpg

CIAT VIETNAM hợp lực phòng trừ bệnh khảm virus sắn CMD

Tổng giám đốc CIAT Ruben Echeverria và Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Trần Kim Long, tại lễ ký kết một thỏa thuận hợp tác mở rộng tại Hà Nội ngày 13 tháng 7 năm 2018, Bài và ảnh  của Madelline Romero / CIAT xem tiếp tại https://blog.ciat.cgiar.org/threat-of-cassava-mosaic-disease-strengthening-resilience-to-climate-disasters-dominate-conversations-between-ciat-and-vietnam-agricultural-institutions/

Video yêu thích

Cassava in Ghana: Save and Grow

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng KimNgọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Advertisements

Việt Nam con đường xanh

VIỆT NAM CON ĐƯỜNG XANH
Hoàng Kim
Bác Hồ có ham muốn tột bậc được nói thật giản dị: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành“. Sức mạnh Việt cốt lõi là an dân với năm yếu tố: An sinh xã hội; An tâm; An lạc; An toàn; An ninh. Việt Nam con đường xanh muốn có được lòng tin của dân phải là con đường sạch. ‘BOT cán bộ’ là vấn nạn của quốc gia. Định hướng chiến lược quốc gia cần chuyển đổi mạnh đúng hướng và diệt trừ tham nhũng thì Việt Nam mới phát triển được.

Giáo sư Anh hùng Lao động Nguyễn Văn Luật (Luat Nguyen) cựu Viện Trưởng Viện Lúa ĐBSCL tác giả cụm công trình lúa gạo Việt giải thưởng Hồ Chí Minh đã phản biện khuyến khích bài viết.”Hoan nghênh Việt Nam con đường xanh!”. Biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp ở ĐBSCL càng cho thấy ý nghĩa của lời khuyến “Thứ nhất canh trì; Thứ nhì canh viên; Thứ ba canh điền.” (thứ nhất nuôi cá; thứ nhì nghề vườn; thứ ba làm ruộng)..Cơ cấu nông nghiệp ở ĐBSCL cũng đang diễn biến theo chiều hướng tích cực này. Còn câu: “Thứ nhất thả cá;  Thứ nhì gá bạc ” thì chỉ nên phát triển theo ý đầu; còn ý gá bạc thì Tổng thống Mỹ Trump chê xổ số ở Việt Nam vì “Nhà cái” là Nhà Nước!

Hoàng Kim cho rằng Tổng thống Mỹ Trump có thể nói việc “gá bạc” theo ngầm ý sâu sắc hơn. Trung Mỹ cuộc đối đầu lịch sử, Trung Nga ‘vành đai và con đường’; Nga Mỹ bàn cờ thế sự; là một thế lớn nhiều ẩn số. Tổng thống Mỹ Trum chưa bao giờ và chưa khi nào coi thường đối thủ Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Ông luôn dành thái độ tôn trọng “kỳ phùng địch thủ” đối với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Nga Putin, ngay cả những khi gay cấn nhất.

Về ba trụ cột cốt lõi của một quốc gia là cân đối hài hòa: tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.theo kết luận của Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về Phát triển bền vững tại Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002.

Việt Nam con đường xanh là phù hợp với tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Định hướng và tầm nhìn  nhấn mạnh 1) Phải phát triển hài hòa ba trụ cột “Không đánh đổi môi trường với tăng trưởng kinh tế”; “Không thể vì nghèo mà hy sinh môi trường và sức khỏe người dân” 2) Vai trò kiến tạo của Nhà nước là quyết định; 3) Vai trò của người dân lao động và cộng đồng xã hội là không thể thiếu.

Việt Nam và Trung Quốc hiện tại đều nhấn mạnh vai trò kiến tạo của Nhà nước là quyết định, đồng hành với diệt trừ tham nhũng và phục hồi. Việt Nam đã có truyền thống ‘bầu ơi thương lấy bí cùng” và kinh nghiệm làm chủ tập thể, cũng đã vận dụng thành công “chính sách cộng sản thời chiến” biết thắt lưng buộc bụng để đầu tư cho những trong điểm. Đây là điểm khác Việt Nam và Mỹ về cấu trúc văn hóa, kinh tế .   
(còn nữa…)

VIỆT NAM CON ĐƯỜNG XANH mời đọc toàn văn bài viết cập nhật tại đây https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/

Tài liệu dẫn:

‘BOT CÁN BỘ” LÀ VẤN NẠN QUỐC GIA
Báo VNExpress, tác giả TS. Nguyễn Thị Hường, ngày 10 tháng 7 năm 2019  (*)
Những người chạy chức, chạy quyền sau khi được bổ nhiệm phải tham nhũng để “thu hồi vốn”. Khi cán bộ ‘ngồi nhầm chỗ’
(*) Tiến sĩ Nguyễn Thị Hường, Phó trưởng Khoa Quản lý nhà nước về Xã hội – Học viện Hành chính Quốc Gia, chia sẻ với độc giả VnExpress bài viết về vấn nạn chạy chức, chạy quyền:

Lâu nay cụm từ BOT (viết tắt từ Build-Operate-Transfer, tức là: Xây dựng – Kinh doanh, khai thác – Chuyển giao) thường dùng trong lĩnh vực xây dựng công trình kết cấu hạ tầng đang được dùng theo nghĩa chuyển. Trên nhiều tờ báo đăng tải một số ý kiến: có hay không hiện tượng “BOT chùa” (Mặc dù cách ví von này có vẻ hơi nặng nề). Vậy liệu những vấn nạn “chạy bằng được và chạy lấy được” để làm cán bộ như trên đã nêu, liệu có thể coi là một hình thức “BOT cán bộ” được không…?

Đối với bất cứ cơ quan hay tổ chức nào, cán bộ lãnh đạo, quản lý luôn giữ vai trò nòng cốt trong quá trình phát triển. Ở một số trường hợp, cán bộ là linh hồn của tổ chức và tác động sâu sắc đến tổ chức. Cán bộ mạnh, tổ chức mạnh, cán bộ yếu, tổ chức sẽ bị chậm hoặc không phát triển. Tầm ảnh hưởng và sự quyết định, chi phối tổ chức của người cán bộ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý là không thể phủ nhận. Chính vì vai trò của người cán bộ, nhất là cán bộ cốt cán quan trọng như vậy, nên việc cất nhắc, bổ nhiệm, thăng chức phải hết sức thận trọng, cân nhắc kỹ càng.

Tuy nhiên, trong thực tế “Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội”. Bên cạnh đó là nạn ” chạy chức chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội” đang diễn ra nhức nhối, gây bức xúc trong công luận. Vậy tại sao vẫn “chậm được ngăn chặn, đẩy lùi” tình trạng này” (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khoá XII).

Trở lại chuyện BOT, hợp đồng BOT được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư. Theo đó, nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư vì mục đích sinh lợi, do vậy, họ sẽ phải tính toán các yếu tố có liên quan nhằm đạt được lợi nhuận tối ưu nhất. Sau khi hoàn thành việc xây dựng, nhà đầu tư được quyền khai thác để thu hồi vốn và có được lợi ích về mặt kinh tế hoặc lợi ích tương đương. Hết thời hạn được quyền khai thác, nhà đầu tư sẽ bàn giao lại cho nhà nước.

Hiểu một cách bản chất, đây là bài toán đôi bên cùng có lợi, và người được thụ hưởng nhiều nhất là người dân. Trong việc bổ nhiệm cán bộ thì sao. Những người “chạy quy hoạch, chạy chức, chạy quyền” cũng phải bỏ một khoản kinh phí nhất định để đầu tư. Chẳng thế mà dư luận có nhiều đồn đoán “ghế này, vi trí kia bao nhiêu tiền?”… Sau khi đạt được kết quả là một vị trí như mong đợi, họ sẽ tiến hành “thu hồi vốn” và kiếm lời. Thật khó nói rằng người ta chạy chức là để được cống hiến(!). Họ sẽ trả lại chức (chuyển giao) khi tìm kiếm được cơ hội đầu tư cho một “dự án chức vụ” lớn hơn, hoặc về hưu. Nếu bản thân người có mưu cầu chức vụ không đủ tiềm lực để đầu tư, sẽ diễn ra tình trạng “gọi vốn”. Nghĩa là các doanh nghiệp sẽ sẵn sàng bỏ vốn để đưa nhân sự của mình ngồi vào cái ghế đã định. Khi mọi chuyện đã “đâu vào đó’, sẽ là quy trình thu hồi vốn và kiếm lợi nhuận.

Sự xuất hiện những “sân sau ” của nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý cũng bắt đầu từ đây. Cái khác giữa BOT thông thường và “BOT cán bộ” có lẽ là ở hiệu ứng và ngoại ứng của nó. Nếu như BOT thông thường, nhà nước và nhà đầu tư thực hiện các dự án là để phục vụ cho lợi ích cộng đồng, thì “BOT cán bộ” chỉ thuần tuý là lợi ích của người ra quyết định bổ nhiệm và người được bổ nhiệm. Các dự án xây dựng dựa trên khung pháp lý, nếu trong sạch, sẽ tạo hiệu ứng tốt đối với cộng đồng ở mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội… Và những ngoại ứng nếu có cũng đa số là ngoại ứng tích cực. Tuy nhiên trong “BOT cán bộ” thì ngược lại. Bởi lẽ việc đầu tư chức vụ là lĩnh vực không thể tường minh, do đó rất khó giám sát. Mặt khác, hành vi “chạy chức, chạy quyền” tạo hiệu ứng xấu, bị phản đối mạnh mẽ vì bản thân nó khong được coi là trong sạch. Nhiều ngoại ứng tiêu cực diễn ra trong diện rộng và tác động lâu dài, hệ luỵ khó lường trước.

>> Bài viết cùng tác giả:  >> ‘Người Việt bán cái mình có, không bán cái khách hàng cần’ >> ‘Con khỉ thứ 100’ và sự xuống cấp của văn hoá >>Quan chức và trí tuệ cảm xúc >> Giới hạn trách nhiệm của quan chức

Hiện BOT ở nước ta chỉ diễn ra trong một số lĩnh vực như: giao thông, xây dựng, đào tạo. Những “BOT cán bộ” thì diễn ra hầu như trong tất cả mọi lĩnh vực, mọi cấp bậc. Khi nhà nước ký với nhà đầu tư, nhà nước vẫn là chủ sở hữu của các dự án với quyền lực và quyền lợi tập thể. Nhưng ở “BOT cán bộ”, cá nhân quyết định, và dĩ nhiên, quyền lực và quyền lợi thuộc về cá nhân.

Xuất hiện càng nhiều “BOT cán bộ” là nguy cơ, là vấn nạn quốc gia, vì để khai thác nhằm thu hồi vốn và kiếm lợi nhuận, những “nhà đầu tư vào dự án BOT cán bộ ” sẽ buộc phải tham nhũng và nhận hối lộ. Do đó, khó hý vọng về một tương lai  phát triển, nhất là phát triển ổn định và bền vững khi vẫn có khá nhiều người ngồi ở những vị trí quan trọng song lại thiếu năng lực, thiếu phẩm chất, lấy quan hệ, tiền bạc thay thế thực lực. 

Chúng ta đang mạnh dạn làm rõ và minh bạch hoá các dự án BOT xây dựng. Hy vọng cũng sẽ quyết liệt lôi ra ánh sáng và chặn đứng các dự án “BOT cán bộ ” để lấy lại niềm tin của người dân, tạo động lực cho những người có tài, có tâm, có tầm, có nhiệt huyết cống hiến cho dân, vì nước.

TS Nguyễn Thị Hường
Nguồn: Báo VNExpress, tác giả TS. Nguyễn Thị Hường, ngày 10 tháng 7 năm 2019 

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đâycập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

Vietnamese Dan Bau Music
Vietnamese food paradiseKimYouTube

Trở về trang chính

Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thực Dạy và HọcTình yêu cuộc sống Kim on LinkedIn Kim on FacebookKimTwitter  hoangkim vietnam

Việt Nam con đường xanh

VIỆT NAM CON ĐƯỜNG XANH
Hoàng Kim

Định hướng quan trọng hơn tốc độ. Tương lai Việt Nam nằm trong nông nghiệp. Câu hỏi của Thủ tướng: Chúng ta đứng top 15 nước về nông nghiệp được không? “Thành tích thì chúng ta hoan nghênh, nhưng lạc hậu, chậm hơn nông nghiệp một số nước trong khu vực, nhất là so sánh với Thái Lan thì phải suy nghĩ rất nhiều. Campuchia xây dựng thương hiệu còn tốt hơn chúng ta”. Nghịch lý: Top đầu thế giới nhưng được hưởng phần ít nhất. (Báo VietNamNet điện tử, ảnh và trich dẫn kèm theo). Hội nghị trực tuyến toàn quốc và triển lãm Việt Nam Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã định hướng chiến lược chuyển đổi: “Nền nông nghiệp Việt Nam cần chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa cạnh tranh quốc tế”. Thủ tướng Việt Nam khẳng định tầm nhìn, cơ chế, chính sách mới nhằm khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn tại Nghị định 57/2018 / ND-CP. Theo đó, trục sản phẩm chính nhắm đến các sản phẩm chính quốc gia. Chuỗi giá trị sản phẩm chính ở cấp tỉnh cần đủ lớn, liên kết các vùng nguyên liệu thô với thương hiệu, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao và đào tạo nguồn lực. Những tài liệu phân tích, xác định thành tựu tồn tại nguyên nhân và giải pháp của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD) và Bài học từ Nhật Bản bán quả xoài 850.000 đồng/quả là rất đáng suy ngẫm. Việt Nam nông nghiệp ngày nay hội nhập sâu rộng trong khi thế giới đang biến đổi, bức tranh tối sáng đan xen, nhiều thời cơ nhưng cũng nhiều lo âu hơn. An dân, an sinh xã hội là cốt lõi tầm nhìn và chính sách kinh tế. Châu Phi đang chuyển mạnh theo hướng đó. Diễn đàn kinh tế thế giới ở châu Phi tổ chức tại Kigali 11-13 tháng 5 năm 2016 khẳng định “Tương lai của châu Phi nằm trong nông nghiệp” (Source: Africa’s future lies in agriculture – African leaders insist).
Việt Nam con đường xanh, xem tiếp tại https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim

Tài liệu dẫn

Câu hỏi của Thủ tướng: Chúng ta đứng top 15 nước về nông nghiệp được không?
Nguồn: Báo Viet Nam Net by Bảo Phương Thu Trà
“Thành tích thì chúng ta hoan nghênh, nhưng lạc hậu, chậm hơn nông nghiệp một số nước trong khu vực, nhất là so sánh với Thái Lan thì phải suy nghĩ rất nhiều. Campuchia xây dựng thương hiệu còn tốt hơn chúng ta”. Đó là chia sẻ của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc và triển lãm quốc gia Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn vào sáng 27/11.

Campuchia xây dựng thương hiệu tốt hơn Việt Nam

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về “tam nông”, nền nông nghiệp đã chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa cạnh tranh quốc tế. Cơ cấu sản xuất từng ngành được điều chỉnh, chuyển đổi theo hướng phát huy lợi thế của mỗi địa phương và cả nước gắn với nhu cầu thị trường. Giá trị sản xuất trên 1 đơn vị diện tích tăng lên, năm 2017 đạt 90,1 triệu đồng/ha đất trồng trọt.

Một số loại nông sản khẳng định được vị thế và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2017 đạt 36,5 tỷ USD, tăng 2,2 lần so với năm 2008. GDP ngành nông nghiệp năm 2017 đạt 2,66%, quy mô GDP của ngành tăng gấp 1,25 lần so với năm 2008; công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn phát triển nhanh; 7,2 triệu lao động ở nông thôn được đào tạo nghề; tính đến tháng 6-2018 có 3.346 xã đạt chuẩn nông thôn mới,… Thu nhập bình quân đầu người/năm ở nông thôn đã tăng 3,49 lần, từ 9,15 triệu đồng năm 2008 lên 32 triệu đồng năm 2017.

Phát hiểu tại Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhận định, thời gian qua Việt Nam đã đạt những thành tựu lớn trong nông nghiệp. Từ nước nhập nông sản đến nay nông sản Việt Nam có mặt trên 180 quốc gia, vùng lãnh thổ, đứng thứ 2 ở Đông Nam Á, đứng thứ 15 trên thế giới. Song, ở hội nghị này Thủ tướng sẽ nói nhiều hơn về những mặt còn hạn chế để chúng ta biết và khắc phục trong thời gian tới.

Thủ tướng Chính phủ chỉ ra rằng, đầu tư cho nông nghiệp còn khá thấp, số doanh nghiệp trực tiếp đầu tư sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 1% tổng số doanh nghiệp, trong đó nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ.

Huy động vốn, tiếp cận vốn các dịch vụ tín dụng ở ngân hàng còn nhiều hạn chế, chi phí vốn còn cao, còn 1/2 số hộ gia đình nông thôn không thể tiếp cận được dịch vụ ngân hàng chính thức, đây là nguyên nhân tình trạng tín dụng đen xuất hiện nhiều ở các làng quê Việt Nam. Thủ tướng đề nghị các ngân hàng phải xuống tận nông thôn để cho người dân vay vốn, hỗ trợ sản xuất dịch vụ ở nông thôn.

Thủ tướng cũng nhận định việc áp dụng việc áp dụng tiến bộ khoa học trong nông nghiệp còn yếu, giá thành sản phẩm cao, tỷ lệ chế biến nông sản còn khiêm tốn nên nông sản nước ta chủ yếu xuất khẩu dưới dạng thô, dẫn tới giá trị gia tăng thấp, chưa hiệu quả. Trong khi đó, cơ cấu sản xuất còn manh mún, quy mô chưa lớn. Việt Nam đang có quy mô trang trại nhỏ trên thế giới. Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn còn chậm. Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn nhiều, “chưa hiểu thị trường trước khi gieo hạt xuống đất”.

Xây dựng thương hiệu nông sản mới bước đầu được chú trọng với khoảng 15% sản phẩm có thương hiệu. Một số thương hiệu nông sản nổi tiếng của nước ta còn bị mất, ví như thương hiệu nước mắm Phú Quốc đã thuộc về nước ngoài.“Thành tích thì chúng ta hoan nghênh, nhưng lạc hậu, chậm hơn nông nghiệp một số nước trong khu vực, nhất là so sánh với Thái Lan thì phải suy nghĩ rất nhiều. Campuchia xây dựng thương hiệu còn tốt hơn chúng ta”, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói.

Trong thập kỷ tới… Việt Nam đứng ở đâu?

Từ những phân tích trên, Thủ tướng nhấn mạnh, việc giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trước hết phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực, tự cường vươn lên của nông dân. “Chúng ta đang nói tập trung làm nông nghiệp, nông thôn mà nông dân chúng ta có tinh thần ỷ lại thì không bao giờ thành công”, Thủ tướng nói. 

Cần khắc phục tinh thần tự ti, ỷ lại, chờ đợi của một bộ phận nông dân. Vì vậy, thời gian tới, Đảng, Nhà nước ta phải cùng với nông dân, sống trong lòng nông dân để làm cuộc cách mạng mới trong nông nghiệp và nông thôn. Cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước. Kinh nghiệm rút ra là, theo Thủ tướng, ở đâu cấp ủy, người đứng đầu quan tâm sâu sắc, chỉ đạo quyết liệt thì ở đó, nông nghiệp, nông thôn sẽ phát triển mạnh mẽ, diện mạo nông thôn mới khởi sắc. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao.

“Trong thập kỷ tới hay một vài thập kỷ ngắn tới đây, Việt Nam đứng ở đâu? Chúng ta đứng trong top 15 nước về nông nghiệp được không?”, người đứng đầu Chỉnh phủ đặt câu hỏi.

Theo Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, phải chuyển từ tư duy nông nghiệp đơn thuần sang kinh tế nông nghiệp và hội nhập sâu rộng. Đồng thời, việc nhận diện thật rõ cơ hội và thách thức trong bối cảnh và tình hình mới để đề xuất định hướng chiến lược rất quan trọng.

“Thế giới đang chuyển mình, châu Á đang cạnh tranh từ bán buôn đến bán lẻ, chúng ta phải đặt ra lợi thế so sánh để có thể thành công”. Thủ tướng yêu cầu, phải sớm khắc phục tồn tại, yếu kém trong phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay. Thành tựu của cách mạng 4.0 phải áp dụng mạnh mẽ vào nông nghiệp như thanh toán điện tử qua điện thoại thông minh, khi mà gần 70% số dân dùng điện thoại thông minh.

Cần khắc phục cho được sản xuất nhỏ lẻ, mạnh mún. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật để tháo gỡ cho nhà đầu tư, doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX), hộ nông dân khi đầu tư làm ăn trong nông nghiệp. Trong đó, cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư kinh doanh mạnh mẽ hơn nữa. 

Thủ tướng cũng yêu cầu phải đặt vấn đề thị trường trước khi sản xuất để hạn chế tối đa tình trạng được mùa mất giá. Thay đổi tư duy, cách làm; sản xuất nông nghiệp phải xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất, gắn chặt với yêu cầu thị trường, đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất được nguồn gốc.

Thủ tướng đề nghị Ban Kinh tế Trung ương, Bộ NN-PTNT chủ trì nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến tại Hội nghị để cùng Ban Chỉ đạo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 26 hoàn thiện báo cáo tổng kết, đồng thời chủ động xây dựng dự thảo Nghị quyết về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chủ trương, giải pháp về phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân đến năm 2020, giai đoạn tới năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trình Bộ Chính trị xem xét trong tháng 12/2018.

Nghịch lý: Top đầu thế giới nhưng được hưởng phần ít nhất
Nguồn: Báo Viet Nam Net by Bảo Phương Thu Trà
Nông dân Nhật Bản bán một quả xoài được 4.000 Yên (khoảng 850.000 đồng), người nông dân được hưởng lợi lớn nhất. Trong khi ở Việt Nam nhiều loại nông sản xuất khẩu đứng top 1 thế giới nhưng giá trị đem lại rất thấp và nông dân luôn là người được hưởng lợi ít nhất. Lá thư cảnh báo của Đại sứ quán Nhật gửi lãnh đạo TP.Hồ Chí Minh

Xuất khẩu nhiều nhưng giá trị thấp

Tại hội nghị trực tuyến toàn quốc và triển lãm quốc gia Tổng kết 10 năm thực hiện nghị quyết Trung ương 7 khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn diễn ra chiềuy 26/11, đại diện Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD) cho biết, xuất khẩu nông sản của Việt Nam đã tăng trưởng mạnh trong vòng 10 năm qua. Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tăng từ 16,484 tỷ USD năm 2009 lên mức 36,37 tỷ năm 2017.

Đáng chú ý, trong gia đoạn từ 2008-2017, Việt Nam luôn là nước xuất siêu nông sản với mức xuất siêu bình quân 8 tỷ USD/năm. Song, theo IPSARD, mặc dù xuất khẩu có sự tăng trưởng mạnh, nhưng nông lâm thuỷ sản xuất khẩu chủ yếu dưới dạng thô, tươi hoặc qua sơ chế, xuất khẩu chế biến sâu chiếm tỷ lệ rất thấp. Theo đó, một số mặt hàng nông lâm thuỷ sản của Việt Nam xuất khẩu đứng top đầu thế giới, song giá trị thấp.

Cụ thể, hạt tiêu Việt xuất khẩu xếp thứ hạng số 1 thế giới nhưng giá trị xuất khẩu chỉ đứng thứ 8; hạt điều cũng đứng thứ nhất thế giới, giá trị đứng thứ 6; gạo, cà phê đứng trong nhóm thứ 2 nhưng giá trị xuất khẩu chỉ đứng thứ 10.

Đại diện IPSARD nhận định, là một trong những nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu nông sản, tuy nhiên có đến hơn 80% lượng nông sản của Việt Nam chưa xây được xây dựng thương hiệu, chưa có logo, nhãn mác,… Điều này là bất lợi lớn, làm giảm sức cạnh tranh của các loại nông sản trên thị trường, gây thiệt hại lớn cho ngành nông nghiệp.

IPSARD dẫn số liệu thống kê của Cục Sở hữu công nghiệp (Bộ KH&CN), trong hơn 90.000 thương hiệu hàng hoá được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam, mới có khoảng 15% là của các doanh nghiệp trong nước và có đến 80% hàng nông sản của nước ta được bán ra thị trường thế giới thông qua các thương hiệu nước ngoài.

Điểm yếu nữa là nông sản Việt đã tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu nhưng mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp đầu vào dưới dạng nông sản thô, trong khi giá trị gia tăng đối với hàng nông sản lại chủ yếu do khâu chế biến, bao gói và hoạt động thương mại. Nguyên nhân của tình trạng này là công nghệ trước và sau thu hoạch còn lạc hậu, việc tham gia chuỗi từ khâu sản xuất, chế biến đến marketing, phân phối và tiêu thụ còn hạn chế…

“Vấn đề là nông sản Việt chưa có một đơn vị cá nhân hay cơ quan chủ quản nào đứng ra để có thể xây dựng thương hiệu dưới 1 cái tên riêng nào đó của Việt Nam. Ngoại trừ ngành lúa gạo, năm 2018, Bộ NN-PTNT đang chủ trì xây dựng thương hiệu gạo quốc gia”, vị này cho hay.

Thực tế, năm 2017, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường cũng từng thừa nhận 10 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam hiện nay mới chỉ là xuất khẩu dưới dạng thô hoặc sơ chế đơn giản. Nguyên nhân lớn nhất chính là khâu chế biến, thương mại, tổ chức sản xuất và xây dựng thương hiệu yếu.

Ví như, tại Hưng Yên và Bắc Giang có hai loại quả chủ lực là nhãn và vải thiều. Hai loại quả này có giá trị xuất khẩu mõi năm khoảng 2.000-5.000 tỷ đồng. Song, do tính mùa vụ, chỉ chín trong vòng một tháng nên nhiều lúc vào chính vụ xảy ra tình trạng phải bán tống bán tháo. Trong khi đó, nếu chế biến sau thu hoạch thì có thể để được cả năm, Bộ trưởng dẫn chứng.

Trong khi đó, các chuyên gia trong ngành nhận định, vì yếu kém trong khâu chế biến sau thu hoạch nên dù xuất khẩu đứng top đầu thế giới nhưng giá trị đem lại thấp và người nông dân được hưởng lợn rất ít nếu không muốn nói đến là vẫn còn nghèo.

Bài học từ Nhật Bản bán quả xoài 850.000 đồng/quả

Trái ngược với cảnh bán tống bán tháo hay được mùa thì mất của của nông sản Việt, chia sẻ tại hội nghị trực tuyến – chuyên đề “Thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn”, ông Hiroshi Matsuura – Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, cho rằng cần tạo ra giá trị gia tăng cho nông sản, nâng cao lợi nhuận cho người nông dân.

Ông dẫn chứng, ở Nhật Bản, nông dân bán một quả xoài với giá 4.000 Yên (khoảng 850.000 đồng). Thế nhưng, để có được mức giá thành cao như vậy, xoài ở Nhật được trồng theo một tiêu chuẩn khắt khe, trái trên cây rất to và chỉ thu hoạch sau khi quả đã chín ở trên cây, tuyệt đối không thu hoạch lúc xanh non. Sau thu hoạch, trái xoài được bọc trong lớp lưới xốp, đóng trong hộp để đảm bảo trong quá trình vận chuyển đến nơi tiêu thụ không bị thối hỏng.

“Tại Việt Nam ai sẽ mua xoài giá cao? Là những người có tiền ở thành phố. Vậy làm sao vận chuyển đến tay người tiêu dùng”, vị đại sứ Nhật đặt câu hỏi và cho biết, cần đầu tư về hạ thầng vận chuyển, đảm bảo nơi bán hàng, bởi điều này sẽ quyết định đến chất lượng hàng hoá. Song, theo ông vấn đề quan trọng hơn để nông dân có được lợi nhuận lớn thì nông dân phải hoàn thiện cơ sở vật chất cho việc trữ hàng.

Ông cho hay, ở Nhật Bản táo chỉ có theo mùa, nhưng sau khi thu hoạch nông dân cho táo vào bảo quản trong kho trữ lạnh của mình theo công nghệ CA (phương pháp giúp hạn chế hô hấp khiến trái cây tươi lâu), từ đó đưa ra thị trường một lượng vừa phải, giữ được giá sản phẩm và người Nhật cũng được ăn táo quanh năm.

Ở Việt Nam có quả vải rất ngon, nhưng chỉ bán tươi lúc vào vụ nên giá trị chưa cao, lúc hết mùa muốn được ăn vải tươi cũng không thể. Nếu có thể áp dụng cách làm như nông dân Nhật với quả vải hay những loại quả khác thì sẽ tạo ra lợi nhuận cao cho nông dân vì họ điều tiết được giá cả thị trường.

Nhưng theo ông, người nông dân chỉ được hưởng lợi lớn nếu họ có cơ sở trữ lạnh vì từ sản xuất sẽ qua khâu trữ lạnh và đến thị trường, tức sẽ bớt được khâu trung gian. Còn nếu cơ sở trữ lạnh do bên thua mua nắm giữ thì lợi nhuận cao nhất sẽ thuộc về bên thua mua chứ không phải người nông dân. Khi ấy, nông dân sẽ khó cải thiện được cuộc sống của mình.

Việt Nam con đường xanh, Hoàng Kim bài viết đầy đủ và tài liệu dẫn, xem tiếp tại https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau Music
Vietnamese food paradiseKimYouTube

Trở về trang chính

Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thựcDạy và HọcTình yêu cuộc sốngKim on LinkedInKim on FacebookKimTwitter  hoangkim vietnam 

Việt Nam con đường xanh

VIỆT NAM CON ĐƯỜNG XANH
Hoàng Kim

Định hướng quan trọng hơn tốc độ. Báo Việt Nam Net hôm nay đưa lên diễn đàn kinh doanh đầu tư một câu hỏi nhức nhối thao thức lương tâm xã hội: “8,6 triệu hộ nông dân Việt lạc lối trên thị trường tỷ dân“. KHÔNG! Chúng ta không thể lạc lối trong chính nhà mình, trên quê hương đất nước mình.

Việt Nam con đường xanh tầm nhìn, định hướng đầu tư sản xuất kinh doanh cần sâu rộng tổ chức lại theo chuỗi sản phẩm, đáp ứng thích hợp hiệu quả nhất theo lợi thế so sánh của Việt Nam, thích hợp hiệu quả nhất tại từng vùng, từng địa phương. Hộ nông dân “sĩ, nông, công, thương, binh” ngôi sao vàng lấp lánh trên cờ Tổ Quốc phải thực sự gắn kết đích thực lấy LÒNG DÂN NIỀM TIN SỨC DÂN làm trung tâm thành sức mạnh Việt. Thế mạnh của Người Việt, Đất Việt, Hồn Việt cần được chắt chiu từng đồng, kế hoạch chu toàn cho sự vươn lên của niềm tin và sức mạnh Việt. “Việc nhân nghĩa cốt ở an dân” (Nguyễn Trãi). Ai sinh xã hội, an tâm, an cư lạc nghiệp, an toàn, an ninh là mấu chốt của an dân. Cơm ăn, áo mặc, học hành, chất lượng cuộc sống, chăm sóc sức khỏe là mấu chốt của an sinh xã hội. VIỆT NAM CON ĐƯỜNG XANH mời đọc toàn văn bài viết ở đây https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/

Tài liệu dẫn

8,6 triệu hộ nông dân Việt lạc lối trên thị trường tỷ dân

Viet Nam Net. 08/07/2019 09:50:02 (GMT +7) CPTPP. và EVFTA chiếm 35% giao dịch thương mại toàn cầu, thị trường rộng lớn gần 1 tỷ người. Theo đó, 8,6 triệu hộ nông dân Việt sản xuất manh mún sẽ phải cạnh tranh với các cường quốc có đất đai rộng mênh mông, trình độ canh tác cao. (ảnh VNN: Các chuyên gia cho rằng sản xuất nông nghiệp của Việt Nam còn manh mún nhỏ lẻ)

Câu hỏi của Thủ tướng: Chúng ta đứng top 15 nước về nông nghiệp được không? Nông nghiệp thăng tiến, nông dân vẫn lắc lư dễ ngã Đưa nông nghiệp sản xuất theo hướng công nghiệp

Nông dân Việt đấu với nông dân các cường quốc

Tại Hội nghị Cơ hội và thách thức đối với nông nghiệp Việt Nam khi tham gia các hiệp định thương mại tự do vừa diễn ra cuối tháng 6, các chuyên gia trong ngành nhận định, tham gia Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) sẽ là cơ hội để mở rộng thị trường cho nông sản Việt, song cũng có nhiều thách thức và rủi ro.

Chia sẻ về vấn đề trên, đại diện tỉnh Đồng Tháp thừa nhận xu thế hội nhập thế giới “sâu và rộng” đang mở ra cơ hội rất lớn cho các nước đang phát triển như Việt Nam. Qua đó, có thể tận dụng tối đa nguồn lực đầu tư nước ngoài, tiếp thu các nền tảng khoa học – công nghệ, quy trình sản xuất tiên tiến, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.

Các chuyên gia cho rằng sản xuất nông nghiệp của Việt Nam còn manh mún nhỏ lẻ (ảnh trích dẫn dầu trang)

Các hiệp định thương mại tự do song phương lẫn đa phương được ký kết thời gian qua là tiền đề quan trọng, giúp sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp vươn ra biển lớn, cạnh tranh cùng các nước nếu tận dụng tốt cơ hội này.

Song, vị lãnh đạo này cũng thừa nhận, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại tỉnh Đồng Tháp còn hạn chế. Trong khi đó, việc liên kết sản xuất và tiêu thụ được quan tâm nhưng tính chặt chẽ chưa cao. Đặc biệt, sản xuất của nông dân còn mang tính tự phát, chất lượng sản phẩm hạn chế so với nhu cầu của thị trường. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng logistics còn kém, cơ sở hạ tầng giao thông chưa theo kịp sự phát triển của nền kinh tế nên việc huy động vốn đầu tư, nhất là khu vực FDI còn nhiều khó khăn.

Đồng quan điểm, lãnh đạo Sở NN-PTNT tỉnh Cần Thơ cũng lo ngại, thách thức lớn nhất khi tham gia các hiệp định thương mại là nền nông nghiệp ở nước ta còn dựa trên nông hộ là chủ yếu, với quy mô sản xuất nhỏ, manh mún và phân tán, năng lực sản xuất còn hạn chế, sức cạnh tranh thấp, không đảm bảo nguồn cung với số lượng lớn.

Bên cạnh đó, chúng ta còn phải chịu áp lực cạnh tranh từ hàng hoá nhập khẩu tại thị trường nội địa, từ các hàng rào phi thuê quan của các nước nhập khẩu…

Đề cập tới vấn đề này, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường cho rằng chúng ta phải nhận diện rõ đâu là cơ hội.

Ông cho biết, tổng GDP của 2 thị trường CPTPP và EVFTA chiếm hơn 30% GDP toàn cầu, tổng giao dịch thương mại khoảng 35% thương mại toàn cầu, thị trường có dân số tới gần 1 tỷ người. Đây là cơ hội nhưng ngược lại cũng rất nhiều thách thức và rủi ro mà không nỗ lực thì chúng ta sẽ đánh mất cơ hội và mất ngay thị trường sân nhà Việt Nam.

“Khi mở cửa, chúng ta phải chấp nhận cuộc chơi kể cả có những điều kiện mà chưa bằng các nước bạn”. Bộ trưởng dẫn chứng, ở những quốc gia như Canada, Úc, New Zealand,… có tiềm năng phát triển nông nghiệp hàng hóa rất tốt. Chúng ta phải chấp nhận sự cạnh tranh bình đẳng”.

Bộ trưởng Cường cũng thừa nhân, khi tham gia các hiệp định, ngành nông nghiệp có rất nhiều vấn đề đáng lo lắng. Chẳng hạn, sản xuất manh mún nhỏ lẻ, có tới 8,6 triệu hộ, 10 triệu ha đất canh tác mà phải đi cạnh tranh với những cường quốc có tài nguyên đất rộng mênh mông, sản xuất nông sản hàng hoá theo quy mô trang trại lớn, trình độ canh tác ở mức cao, chất lượng sản phẩm đồng đều ở mức cao và đặc biệt có khả năng cung cấp nguồn hàng lớn.

Bộ trưởng Cường cho rằng vận động nông dân tham gia HTX, liên kết với doanh
nghiệp sẽ nâng cao được tính cạnh tranh (ảnh sơ chế, đóng gói vải thiều trước khi
xuất khẩu tại HTX Sản xuất nông sản và thương mại Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, Bắc Giang)

Thêm vào đó, vấn đề biến đổi khí hậu, thời gian hội nhập ngắn, phải cạnh tranh với những nước có bề dày kinh tế cũng là một trở ngại lớn mà nông nghiệp Việt Nam phải đối diện trong thời gian tới.

Vận động nông dân vào hợp tác xã, bắt tay doanh nghiệp

Để khắc phục được những điểm yếu trên, giúp nông sản Việt Nam cạnh tranh được với nông sản của các nước lớn, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng, giải pháp duy nhất buộc phải làm là vận động nông dân tham gia vào các hợp tác xã kiểu mới hay bắt tay liên kết cùng với các doanh nghiệp trong ngành làm hàng hoá ở quy mô lớn, theo chuỗi.

Thực tế hiện nay, có nhiều mô hình hợp tác xã đem lại thành công, nông dân tăng thu nhập khi liên kết với doanh nghiệp trong sản xuất và bao tiêu sản phẩm. Nhờ đó, sản phẩm của họ đã xuất khẩu được sang những thị trường khó tính nhất thế giới.

Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam Nguyễn Xuân Định cũng nhìn nhận, để người nông dân chủ động thích ứng với những thời cơ cũng như thách thức mà các hiệp định thương mại tự do mang lại, các ngành chức năng cần tăng cường thông tin cho các doanh nghiệp và nông dân. Nâng cao trình độ, kỹ năng sản xuất, tuân thủ các quy định về thực hành sản xuất nông nghiệp trong sử dụng đầu vào, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Bên cạnh đó, tập trung vào những nông dân có năng lực, có nguyện vọng gắn bó lâu dài với nông nghiệp để hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp. Tạo cơ chế hình thành và phát triển các hợp tác xã kiểu mới, huy động sự tham gia của hộ sản xuất và nông dân, tạo cơ chế đất đai, nâng cao năng lực lập kế hoạch sản xuất và quản trị của lãnh đạo hợp tác xã, ông chia sẻ.

Theo đại diện Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương), nền nông nghiệp nước ta chủ yếu sản xuất manh mún, nhỏ lẻ. Những mối liên kết còn lỏng lẻo, đặc biệt là mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân để tạo ra các chuỗi giá trị nông sản hàng hóa lớn còn hạn chế. Chính các yếu tố này đã làm cho nền nông nghiệp Việt Nam rất dễ bị tổn thương và kém sức cạnh tranh.

Trong bối cảnh đó, chuỗi giá trị (doanh nghiệp – hợp tác xã – hộ nông dân) có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và nếu chúng ta không xây dựng thành công chuỗi giá trị sẽ khó cạnh tranh, đủ năng lực đưa các sản phẩm trong nước ra thị trường quốc tế.

Tâm An

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Vietnamese Dan Bau MusicVietnam traditional music

Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Việt Nam con đường xanh

VIỆT NAM CON ĐƯỜNG XANH
Hoàng Kim trả lời anh Nam Sinh Đoàn

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/

Anh Nam Sinh Đoàn mời anh cà phê sáng. Chúng ta cùng nhớ Mẹ. Việt Nam con đường xanh “Nông sản Việt Nam” và “Nông thôn ngày nay” đang chuyển biến. Hoàng Kim đọc lại những câu trích dẫn của anh Nam Sinh Đoàn nay hằn sâu vào CNM365. Nông nghiệp nông dân nông thôn chưa đầu tư xứng tầm trong hơn 40 năm qua. ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu. Hột lúa và con cá miếng ăn hàng ngày của người dân còn vất vả lắm nhưng nhất định phải chuyển dịch tầm nhìn và đầu tư đúng hướng để sức dân đồng lòng cho nước Việt vươn tới.. DẠY VÀ HỌC không chỉ trao truyền tri thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn trao truyền ngọn lửa. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

“Sự vinh quang của người có học là được bà con bóc lột. Nếu không, thì học thức sẽ vô bổ, chẳng cần tích lũy kiến thức hay đào sâu suy nghĩ để tiêu hóa chúng làm gì. Tiếp theo là tìm mọi phương cách để đưa cái học đến được với thực tế cuộc sống” . “Sự hủy hoại nông thôn bắt đầu như thế, từ chuyển dịch sức lao động. Tiếc thay, chẳng một chút vốn công nghệ nào được người Việt làm chủ. Điều ấy, cho thấy Bộ Công Thương chỉ có khả năng “săp xếp bộ máy” cho con ta thăng quan, con sếp tiến chức, chứ không thể sản xuất nổi con vít. Toàn thể “công nhân” chỉ bán sức lao động rẻ và bị ức hiếp, bóc lột vô chừng dưới tay chủ nước ngoài. Hy sinh nghề nông rồi đất nước được gì hơn ? Gần đây, một Gíao sư Nhật được mời tư vấn, đã tỏ bày đề nghị cho kế hoạch kinh tế đến năm 2035 của Việt Nam, cũng chỉ là phát triển nông nghiệp hiện đại. Một nền nông nghiệp sinh thái, bảo vệ được môi sinh là không xa lạ với nhà nông chúng ta, nhưng để làm được việc dễ nhất – thực phẩm ngon lành, giá cả phải chăng – thì cũng phải dọn dẹp đi trong bộ máy này, đất nước này những thứ rác bẩn đã kể trước”.“Phụng sự xã hội” là bài viết của anh Đoàn Nam Sinh quá đắng và thật khác so với ý của Phó Thủ tướng: Thu nhập bình quân hộ nông dân đã đạt 97 triệu đồng đăng trên báo Dân Trí ngày 25/8/2016 và gợi lại ý kiến của ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng: Hiện là lúc kinh tế Việt Nam đang cho thấy có những chuyển dịch các nguồn lực “Không qua 2 vấn đề khó khăn, Việt Nam sẽ thành nền kinh tế thất bại“. Trang VietNamNet ngày 29/8/2016 với tiêu đề Tầm nhìn quá xa, mục tiêu quá nhiều: Việt Nam thua cả châu Phi

Việt Nam để trở thành nước công nghiệp vào 2020 hầu hết các mục tiêu được thừa nhận rất khó đạt được. Chính sách phát triển công nghiệp của Việt Nam được xem là quá nhiều ưu tiên không có trọng điểm. Ông Dương Đình Giám, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Viên trưởng Viện chính sách công nghiệp, Bộ Công thương đề xuất Việt Nam nên trở thành nước cung cấp các sản phẩm nông sản và nông sản chế biến chất lượng cao với một số thương hiệu mạnh tầm khu vực và thế giới. Đồng thời, phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan tới nông nghiệp với ưu tiên cơ khí nông nghiệp, cơ khí hóa chất, cơ khí vận tải… Ông Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright lưu ý nên tham vấn khu vực tư nhân vì doanh nghiệp nhà nước hiện chỉ đóng góp 30% vào GDP.

Nông sản Việt Nam và các sản phẩm chế biến nông sản chất lượng cao có thương hiệu mạnh tầm khu vực và thế giới làm gì, ở đâu và khi nào để nông dân thực sự được hưởng lợi đổi đời? Tôi nói với anh Đoàn Nam Sinh: “Tui Hoàng Kim (đại học Nông Lâm) đang lắng nghe anh, nhưng thưa anh Đoàn Nam Sinh, thuốc anh đắng quá !”.

Đầu tư của nước ta đối với lĩnh vực nông nghiệp nông dân nông thôn chưa xứng tầm nên khoảng cách chênh lệch đời sống thành thị và nông thôn quá lớn. Tôi có một giấc mơ Hoa Lúa Hoa Đất. Công việc này trao lại cho em ! Thực tiễn là thước đo chân lý. Giá trị cuộc sống CHÍ THIỆN. Mục đích sau cùng của DẠY và HỌC là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và LÀM được việc. Hãy là chính mình !

VIỆT NAM CON ĐƯỜNG XANH mời đọc toàn văn bài viết ở đây
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/
Hoàng Kim

“Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẽo thơm một hột đắng cay muôn phần”

(Ca dao Việt)

LuaSieuXanhVietNam1

HOA LÚA BÙN HỘT LÚA HẠT GẠO

Hoàng Kim
tản văn và ảnh.

Tôi mắc nợ ý tưởng “Nấu cơm” của một người bạn nên hôm nay tạm đưa lên một hình để trả lời cho một mục trong chùm bài viết “Con đường lúa gạo Việt Nam”.

Anh Nam Sinh Đoàn viết như vầy: “Ngoài đồng giống lúa không thuần, nhà nông lười khử giống bị lẫn, giống dại. Cộng với nhà lái mua vào để lẫn, hoặc cố tình pha lẫn lấy lời. Ai đời trộn lẫn hột dài với hột hơi tròn, gạo dẽo với gạo cứng cơm, gạo cũ với gạo mới,…Chính vì vậy mà nồi cơm nào cũng chỗ nhão chỗ khô, hạt mềm nhẽo cạnh hạt còn tim bột.(Chưa kể phun thêm hương liệu, chất chống mốc mọt,…thay đổi cả đặc tính hạt gạo khi đun nấu). Nhiều năm làm lúa với anh Hồ Quang Cua, mới có dịp học hỏi về việc làm giống, giữ đặc trạng của từng giống, cách thức trồng trọt- thu hoạch- tồn trữ- xay xát- lựa lọc- bao bì,…cả chục việc đòi hỏi phải chắc tay. Thế mà khi thí nghiệm trên bàn của nhóm chuyên gia còn lòi ra bao thứ khác: thời gian ngâm, tỉ lệ nước, thời gian đun và cách đun nấu,… Ví dụ, với cùng một thứ gạo, nhưng có dòng nở ít, thì chỉ 70-71% nước. Loại nào nở cơm thì ngâm trước 15 phút, loại nở búp chỉ cần mươi phút là được. Lại còn tùy loại gạo, để ăn xào với rau, gia vị cho có màu mùi như kiểu châu Âu thì nấu bằng nồi hơi như nồi hong. Để còn làm cơm xào, cơm chiên thì chớ ngâm nhiệt, tức là ngâm gạo, đun nước vừa nóng chừng 50 độ hãy cho gạo vào theo đúng tỉ lệ, mới đạt yêu cầu. Câu nói: Cơm lành canh ngọt tưởng dễ mà khó thay“.

Tôi (Hoàng Kim) trả lời: Thưa anh, xin hãy nhìn tấm ảnh, từ hạt gạo đến bát cơm chỉ là một phần ngắn trong chuỗi “hoa lúa, bùn, hột lúa, cây lúa, hạt gạo, bát cơm”. Hai khâu khó nhất và nhọc nhằn nhất là hoa lúa và bùn.

Mời trao đổi trên Face Book tại ĐÂY và đọc bài tiếp nối Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh https://hoangkimlong.wordpress.com/2016/08/19/tu-san-viet-nam-den-lua-sieu-xanh/

— with Manh Tran Van, Khacthinh Do, Phuoc Nguyen Thanh, Chí Hiếu, Pham Sy Tan, Nam Sinh Đoàn, Phan Chi and Hoang Long at Sân Phượng Vỹ- Đh Nông Lâm Tphcm.

Chien luoc chon tao lua sieu xanh Vietnam

“Nấu cơm” của anh Nam Sinh Đoàn viết rất ngắn nhưng góc nhìn sâu sắc. Chúng ta rất cần thấu hiểu vòng tròn nhân quả: ‘hột lúa – cây lúa – hạt gạo- bát cơm’, nắm vững hai khâu then chốt ‘hoa lúa – bùn ngấu’ của chuỗi thức ăn quan trọng nhất đời người, học và hành kỹ từng khâu và khâu nào cũng phải chắc tay. Đường sống là con đường xanh hòa bình, con đường văn minh nhân loại. Việt Nam đưa công nghệ văn minh lúa nước vào môi trường xanh hòa bình góp sức cùng tri tuệ nhân loại lan tỏa con đường lúa gạo Việt Nam (lúa và cây trồng vật nuôi, công nghệ lúa cá thực phẩm khác đi theo cây lúa), khơi dậy sức dân, động lực cách mạng đông đảo của người dân nông thôn. Chừng nào người dân nông thôn chưa thay đổi được số phận của mình thì chừng đó bài toán kinh tế chưa khai mở được tiềm lực nông nghiêp nông dân nông thôn.

LuaSieuXanhVietNam3
LuaSieuXanh VietNam4

Bài và ảnh: Hoàng Long, Hoàng Kim

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Vietnamese Dan Bau MusicVietnam traditional music

Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Việt Nam con đường xanh

VIỆT NAM CON ĐƯỜNG XANH
Hoàng Kim

Bạn hỏi: “Thầy có lời khuyên gì cho thế hệ trẻ nông nghiêp, cả về tài và đức, để đóng góp được gì đó cho quê hương không Thầy? Tôi trả lời: Mời bạn “Đọc Những người lính sinh viên của Lê Anh Quốc“, bài thơ tuyệt hay và lời bình thơ thật thấm thía của anh Phan Chí Thắng đã thay lời muốn nói. Cám ơn anh Lê Anh Quốc và anh Phan Chí Thắng. xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/

Chúng tôi thuộc thế hệ ‘Những người lính sinh viên’ trở về nông nghiệp Người thầy khoa học xanh chiến sĩTrận chiến hôm qua bạn góp máu hồng. Lớp học hôm nay bạn không trở lại. Trách nhiệm trong mình nhân lên gấp bội. Đồng đội ơi tôi học cả phần anh“. Tôi viết cho anh Trần Mạnh Báo mà cũng chính là lời khuyên cho chính bản thân mình : “Bao nhiêu bạn cũ đã đi rồi Nhớ để mà thương cố gắng thôi Nhà khoa học xanh gương trung hiếu Người thầy chiến sĩ đức hi sinh Dưới đáy đại dương là ngọc quý Trên đồng chữ nghĩa ấy tinh anh Doanh nghiệp Thái Bình chăm việc thiện Giống tốt bội thu vẹn nghĩa tình“.

Nhà khoa học xanh Norman Borlaug là nhà nhân đạo, nhà nông học Mỹ, cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và Tổng thống Mỹ trao tặng huân chương cao quý nhất của nước Mỹ, thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong cuộc chiến chống nghèo đói. Thầy suốt đời nghiên cứu giảng dạy về chọn tạo và phát triển cây lương thực, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho hàng trăm triệu nông dân nghèo ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Thầy là người sáng lập Giải thưởng Lương thực Thế giới và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực thắp sáng niềm tin yêu cuộc sống.

Lời Thầy dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao . Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

Đọc NHỮNG NGƯỜI LÍNH SINH VIÊN của Lê Anh Quốc
Phan Chí Thắng

Tôi hoàn toàn không quen biết người lính Lê Anh Quốc, càng không biết có nhà thơ tên là Lê Anh Quốc. Vô tình đọc được thơ anh trên Facebook, tôi không thể làm được việc gì khác ngoài việc viết cảm nhận về trường ca hơn 500 câu “Những người lính sinh viên” của anh.

Tôi rất ít khi bình thơ, phải xúc động lắm mới viết.

Được biết anh nhập ngũ năm 1971, khi đang là sinh viên.
Một người lính sinh viên, một nhà thơ lính. Một người trong số hơn 10.000 sinh viên các trường đại học của Hà Nội lên đường vào Nam chiến đấu từ năm 1970 đến năm 1972. Hơn một nửa đã hy sinh tại các mặt trận, nhưng nhiều hơn cả là hy sinh tại chiến dịch bảo vệ Thành cổ Quảng Trị những tháng ngày đỏ lửa.

Tôi gõ tên anh cùng tên bài trường ca của anh trong Google. Không thấy.

Nghĩa là anh không nổi tiếng, thơ anh thuộc loại “chưa được xếp hạng” theo cách xếp hạng của giới tự phong cho mình là chuyên nghiệp.

Thơ về chiến tranh có hai giai đoạn. Giai đoạn trong chiến tranh và giai đoạn sau chiến tranh.

Thơ chiến tranh trong chiến tranh mang tính động viên ca ngợi với âm hưởng chủ đạo là cảm hứng sử thi. Phạm Tiến Duật: “Đường ra trận mùa này đẹp lắm!” hay Nam Hà “Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi!”.

Thời kì hậu chiến, khi đã có độ lùi của thời gian, bối cảnh xã hội và tâm thế sáng tạo cho phép người viết được tái hiện chiến tranh thiên về chất trữ tình triết lí, chiêm nghiệm. Cốt truyện không còn là điều quan trọng như trong trường ca truyền thống mà mang yếu tố tự sự nhiều hơn.

Trường ca Những người lính sinh viên nằm trong số đó.

Tác giả không nhận mình là thi sĩ chuyên nghiệp:

“Chúng tôi đi đánh giặc những tháng năm dài
Phút khuây khỏa
Làm thơ trên báng súng.
Đời chẳng tĩnh
Nên câu thơ quá động.
Lục bát trèo
Lên võng
Đung đưa…”

Lục bát trèo lên võng đung đưa là thơ nó tự trèo lên người lính. Câu thơ thật hay, chuyên nghiệp chắc gì nghĩ ra.

Thơ anh tự sự nhưng không phải tự sự của “tôi” mà là của “chúng tôi”, những người người lính có học mà anh gọi là lính sinh viên, từ ruột gan người lính. Những vần thơ mộc mạc, tự nhiên như chính đời lính gian khổ, đói rét, hy sinh, ngời sáng tình đồng đội thiêng liêng cao thượng.

Nói về thế hệ mình, anh tự hào:

“Thế hệ chúng tôi !
Ai cũng dễ thương,
Thơm thảo như hoa,
Ngọt ngào như trái.
Tình đồng đội lòng không cỏ dại,
Nghĩa đồng bào – Bầu, Bí thương nhau.”

Anh nói về sự hy sinh của các chị các em các mẹ mà anh cho là cao cả hơn sự hy sinh của người đàn ông:

“Thế hệ chúng tôi phụ nữ muộn chồng
Nhiều đứa quá thì nên cầm lòng vậy
Đời con gái chín dần trong cây gậy
Rụng xuống đường lọc cọc tiếng đơn côi.”

Chỉ người đàn ông đích thực mới nhìn thấy cái mất mát đáng sợ do chiến tranh mang lại cho người đàn bà:

“Con dâu nằm chung với mẹ chồng,
Tay bó gối phòng lúc mình mê ngủ.
Hai cái thiếu chẳng làm nên cái đủ.
Dưới mái nghèo năm tháng vắng đàn ông.”

Hình ảnh chiếc võng được lính liên tưởng như vầng trăng khuyết, như con thuyền chở lòng căm thù giặc, như cánh cung mà mỗi người lính là một mũi tên.

Người lính còn biết mơ mộng một ngày đỗ đạt vinh quy bái tổ ngồi trên võng. Thương quá những chàng sinh viên gác bút nghiên đi đánh giặc!

Nói về sự lạc quan của người lính, khó ai có thể nói hay hơn:

“Chúng tôi cười
Cười chật đất
Cười chật sông
Cười chật suối…”

Về cái đói của lính, anh cũng có cách nói rất độc đáo đồng thời lại rất thật:

“Không sợ giặc, không sợ đạn bom rơi,
Cái sợ nhất lúc này là đói.
Đói vàng mắt,
Đói long đầu gối,
Đói phạc phờ,
Đói thừa cả chân tay…!
Mà lạ chưa?
Vào chính lúc này,
Chúng tôi lại đánh lui quân giặc.”

Kết thúc chiến tranh, anh không quá say sưa chiến thắng mà nói về làng quê, về đời sống của người dân và đương nhiên là nói về mẹ:

“Bây giờ mắt mẹ đã mờ,
Nhìn tôi bằng “ngón tay rờ” run run”

Câu thơ tuyệt hay. Cần gì phải nói bao năm chờ đợi mẹ khóc đến mù hai mắt, chỉ cần hình ảnh nhìn bằng tay là đủ lay động lòng người.

Anh có một “nỗi buồn chiến tranh” giống mọi người:

“Bao cô gái
Bao chàng trai
Lứa tuổi đôi mươi
Đã nằm xuống dưới bạt ngàn nấm mộ
Những cái tên…
ngày nào xanh nhãn vở
Giờ xếp hàng
Đỏ rực nghĩa trang.”

Không phải rất nhiều nấm mộ mà là chỉ một nấm mộ thôi nhưng bạt ngàn. Thơ đấy chứ đâu, nghệ thuật đấy chứ đâu nữa!

Và một nỗi buồn rất khác. Các anh trở về với luống cày cây lúa. Thời trai trẻ đã qua đi, không được học hành như mơ ước. Trong thời đại công nghệ, tiến bộ khoa học kỹ thuật, các anh bị lạc hậu:

“Không thể đem việc đổi xạ – bóp cò,
Làm công nghiệp trong thời mở cửa.
Ta sẽ chẳng vượt qua đói khổ,
Nếu chân mình còn nặng đế cao su!”

Đau hơn cả là cái tương lai tươi sáng mà vì nó các anh đã chiến đấu hy sinh vẫn còn xa chưa đến:

“Ta đã qua dài rộng rừng sâu,
Chân đã thuộc những nẻo đường ngang dọc,
Mà bây giờ trước đồng, trước ruộng
Sao ta đi, đi mãi… chẳng đến bờ?

Vẫn chỉ là muôn thuở: Đói hay No?
Mà lăn lóc cả đời với đất
Từ mặt trận,
mang Cái còn – Cái mất
Trở về làng đánh đổi Cái có – Cái không…”

*****

Tôi bỏ cả ăn sáng, viết cho xong bài này.

Hãy cho tôi một lần được làm người bình thơ, hãy cho tôi thắp nén tâm nhang cho anh, người lính thơ, nhà thơ lính.

Có thể anh không có danh xưng nhà thơ (tôi không rõ lắm) nhưng anh là nhà thơ trang trọng trong tôi, trong những người bình thường và những người yêu thơ.

Chúng ta căm ghét chiến tranh, chúng ta mong con cháu mình không bao giờ phải cầm súng, không muốn rồi sẽ có những người lính sinh viên như anh. Nhưng để mong muốn đó thành hiện thực, chúng ta phải trân quý những người như anh – người lính vô danh, nhà thơ thầm lặng!

Bài thơ rất dài nhưng tôi khuyên bạn nên đọc

KHOẢNG TRỜI NGƯỜI LÍNH

Chương 1 : KHÚC DẠO ĐẦU

Thế hệ chúng tôi!
Chưa kịp lớn lên,
Bom đạn Mỹ xé rách trời, nát đất.
Vừa buông nách đứa em bé nhất,
Trên đầu mình,
Già dặn khoảng trời xanh.

Thế hệ chúng tôi- Thế hệ chiến tranh.
Hoa lau trắng những ngày tiễn biệt
Người lên đường – Đất Nước là Tiền tuyến
Người ở nhà – Tổ quốc hóa Hậu phương

Thế hệ chúng tôi !
Ai cũng dễ thương,
Thơm thảo như hoa,
Ngọt ngào như trái.
Tình đồng đội lòng không cỏ dại,
Nghĩa đồng bào – Bầu, Bí thương nhau.

Thế hệ chúng tôi con gái cũng “mày râu”
Chẻ lạt lợp nhà, đốn cây, bổ củi
Đêm trăng lên nhoi nhói câu thầm hỏi:
– Mình đàn bà sao bóng tựa đàn ông?

Thế hệ chúng tôi phụ nữ muộn chồng
Nhiều đứa quá thì nên cầm lòng vậy
Đời con gái chín dần trong cây gậy
Rụng xuống đường lọc cọc tiếng đơn côi.

Thế hệ chúng tôi…
Meo mốc bình vôi,
Mùa cau lại vàng,
Mùa trầu lại đỏ,
Mẹ cần chổi gom những mùa lá đổ,
Đợi con về …
Run rẩy quét thời gian.

Ngôn ngữ Tình Yêu
thời của chúng tôi:
Một đôi chim bay trên áo gối,
Một bông hồng thả hương bối rối,
Một khoảng tròn quanh những chiếc khung thêu.

Thế là thương
Là nhớ
Là yêu
Là gánh vác việc nhà người ra trận.
Dẫu không hóa làm thân Núi Vọng,
Cũng một đời chín đợi, mười trông.

Đêm.
Con dâu nằm chung với mẹ chồng,
Tay bó gối phòng lúc mình mê ngủ.
Hai cái thiếu chẳng làm nên cái đủ.
Dưới mái nghèo năm tháng vắng đàn ông.

Thệ chúng tôi,
Ra ngõ gặp Anh hùng.
Đâu cũng thấy hy sinh cho Tổ quốc.
Người trước ngã,
Người sau không bỏ cuộc.
Trận đánh này,
Phải TOÀN THẮNG ngày mai …

Ngày mai
Ngày mai
Ngày mai…
Có thể là gần
Có thể xa vời vợi…
Sẽ chẳng tới nếu ta ngồi chờ đợi.
Chỉ con đường duy nhất phải vượt lên !
Dù ngày mai sẽ chẳng vẹn nguyên,
Những cô gái, chàng trai tuổi xuân hơ hớ.
Dù ngày mai sẽ bạt ngàn nấm mộ.
Những con người của thế hệ chúng tôi.

Mặc gian nan!
Mặc đạn bom rơi!
Đích phải đến là TỰ DO – ĐỘC LẬP.
Là Đất Nước sạch bóng quân xâm lược.
Là Bắc – Nam sum họp một nhà.

Mẹ sẽ vui
Ngày mai .
Khải hoàn ca !
Chúng con hát dọc đường về thăm mẹ.
Ta tưng bừng,
Ta thương người lặng lẽ.
Bởi
Mất – Còn,
Cũng đến một ngày mai…

Chương hai: KHOẢNG TRỜI NGƯỜI LÍNH

1- ĐƯỜNG VÀO

Đêm đầu tiên,
Ngủ giữa rừng cây
Chúng tôi níu rừng vào hai đầu cánh võng.
Chống chếnh thế,
Những ngôi nhà của Lính,
Gió hướng nào thổi đến cũng thông thênh.
Khoảng trời vuông trên mỗi “mái tăng”
Không che được hạt mưa xiên xối xả.
Đêm đầu tiên nên ai cũng lạ,
Giấc ngủ chập chờn như lá rừng rơi …

Anh lính gác hết đứng lại ngồi,
Nghe tí tách mưa rơi trên áo bạt;
Cách dăm nhà có ai khe khẽ hát.
Đêm bỗng òa…
Một thoáng nhớ xôn xao …
Lại đằng kia có tiếng rít thuốc lào,
Đêm vo lại,
đỏ lừ mắt điếu.
Ước gì có chiếc Hồ lô Kì diệu,
Hút Đêm vào cho Lính khỏi chờ lâu…

Đêm không ngủ.
Là đêm rất sâu,
Lính hóm hỉnh nghĩ ra đủ chuyện.
Đứa thì bảo,
Võng như hình trăng khuyết
Treo giữa rừng và thức với ngàn cây.
Đứa thì bảo,
Võng như con thuyền đầy,
Chở hờn căm trên dòng sông cạn.
Dòng sông ấy là Đường ra Mặt trận.
Bao Con Thuyền mải miết vượt bằng chân…
Đứa lại nói
Võng như cánh cung.
Đêm để ngửa,
bình minh lên sẽ “úp”
Còn Người Lính
là mũi tên vun vút,
Phút bình minh
là lao thẳng ngực thù!
Có đứa láu lỉnh đến lạ chưa?
Bảo,
Mái Tăng giống như chiếc lọng,
Lính xếp bằng ngồi trên cánh võng,
Chẳng khác gì Quan Trạng ngày xưa.
Thì, bây giờ nào có kém chi
Khoa Đánh giặc,
đậu nhiều Dũng sĩ.
Ngày bái tổ,
Ngày Ta thắng Mỹ,
Dũng sĩ về còn hơn Trạng vinh qui…

Đêm va vào xoong chảo đằng kia
Vỡ từng tiếng.
Lanh canh trên bếp lửa…
Chúng tôi hiểu,
Bình Minh về gọi cửa,
Chỉ tích tắc thôi,
Nhà Lính dỡ xong rồi.

Chúng tôi lại đi…
Náo nức những dòng người.
Bình tông nước nối hai đầu Binh trạm.
Nắm cơm vắt tòng teng trên lưng bạn,
Biết độ đường còn mấy “đoạn dao quăng”.

Gửi Đại Ngàn,
những đêm phía sau.
Phía Nỗi nhớ cứ dài vào vô tận.
Bao gương mặt cỏ cây chưa kịp nhận.
Đã vội ào đi trước lúc trời hừng.
Để lại những địa danh
– Khắc lên cây rừng.
Những dấu thời gian còn tươi roi rói.
Hàng Lốc lịch treo trên lưng chừng núi.
Dọc đường vào
Năm tháng cũng vào theo !
—–

2. TÂN BINH

Thắc thỏm quá.
Trận đánh đầu tiên.
Những tân binh chưa thạo bắn.
Giặc tràn lên
sọc sằn như đàn rắn.
Chúng tôi rợn người!
Nhắm mắt!
Ngồi im…!

Bên chiến hào, người Lính Cựu thản nhiên.
Anh thủ thỉ,
” Lần đầu, ai chả thế!”
Nói cho biết,
” Tớ chẳng bằng Cánh Trẻ.
Còn tệ hơn. Tè cả ra quần!…”
Tôi thoáng nhìn, những cựu quân nhân.
Gương mặt các anh như tạc bằng đá núi.
Nét phong trần, làn da xẫm lại.
Trước chúng tôi. Các anh hóa thiên thần!
Bọn giặc ào lên!
Mỗi lúc một gần.
Lệnh phát hỏa!
Chúng tôi ào ào bắn!
Những viên đạn xả nòng không cần ngắm …
Phía bên nào cũng có tiếng rên la …

Nghe gằn đầy âm thanh AK
Mà trận đánh tưởng chừng còn rất dữ …
Mãi sau này chúng tôi mới rõ,
Cánh tân binh,
đã bắn phứa lên trời.
Rồi trận đánh nào cũng kết thúc thôi.
Chỉ huy bảo:
“ Chúng ta đã thắng…”
Bãi chiến trường ngổn ngang xác giặc.
Ta cũng nhiều chiến sĩ hy sinh

Chúng tôi đi tìm Đồng đội của mình.
Lóng ngóng quá,
Những vòng tay ôm bạn.
Người Lính Cựu đã dạn dày bom đạn,
Bế đứa này…
Rồi bồng đứa kia …

Chàng lính ví mình như Quan Trạng xưa,
Một trận thôi đã thành liệt sĩ.
Ngày trở về,
Ngày Ta thắng Mỹ
Anh chẳng thể làm “Trạng vinh qui”
Trước mộ các anh,
chúng tôi lặng đi.
Nhớ chuyện hôm xưa làm ai cũng khóc…

Hoàng hôn xuống.
Đỏ mọng từng con mắt.
Đêm nặng đè lên mỗi “cánh cung” …
—–

3. TIẾNG CƯỜI CỦA LÍNH

Cuộc đời lính.
Đạn trước mặt.
Bom trên đầu.
Mìn vùi dưới đất …
Sống và chết đo bằng gang tấc.
Thắng và thua đọ ở sức người.

Có phải thế?
Chúng tôi cười
Cười chật đất
Cười chật sông
Cười chật suối…
Đường ra trận nào ai tính tuổi ?
Nên tiếng cười cứ lẫn cả vào nhau …

Nếu gom được
– Xin giữ cho mai sau.
Phòng có giặc hãy phát làm vũ khí,
Nếu còn sống nhớ mang về quê tớ,
Những trận cười rừng rực sức trai …

Những nụ cười
hình hoa mơ, hoa mai
Rụng trăng gốc
vẫn khát ngày xây quả
Những nụ cười thấm cả vào máu đổ
Chôn dưới mồ
vẫn cứ vút bay lên!

Những nụ cười mang hình mũi tên
Làm thế trận bủa vây quân giặc
Những nụ cười nối phương Nam – Phương Bắc
Cứ trùng trùng …
Theo bước những đoàn quân
Những nụ cười nuôi từ Lòng Dân
Thành sức mạnh
Kẻ thù nào thắng được?
Những nụ cười của Bốn ngàn năm Dựng nước.
Hóa thành đồng
Muôn thuở
Việt Nam ơi!

Những nụ cười làm khô giọt lệ rơi.
Ngày TOÀN THẮNG nếu con không về nữa
Mẹ lắng nghe trong từng làn gió
Có tiếng cười của đứa con yêu …

4. THI SĨ

Chúng tôi đi đánh giặc những tháng năm dài
Phút khuây khỏa
Làm thơ trên báng súng.
Đời chẳng tĩnh
Nên câu thơ quá động.
Lục bát trèo
Lên võng
Đung đưa…

Có phải vì quen với nắng mưa
Nên câu thơ biết xòe ô cho bạn?
Có phải quanh mình ùng oàng bom đạn,
Nên trong thơ
khao khát một nụ hồng!

Có phải vì thương,
vì nhớ cháy lòng
Nên lửa cứ bập bùng nơi ta viết?
Có phải vì anh yêu da diết
Nên bài nào cũng nói về em?

Chẳng tài đâu!
Làm mãi rồi quen
Như đánh giặc lâu ngày thành lính cựu.
Trước cuộc sống
Bao cái Hùng tề tựu
Dẫu chẳng là Thi Sĩ …
Cũng Thơ!

Ẫy là nói những đứa ngu ngơ
Chứ thế hệ thì thiếu gì đứa giỏi.
Đánh giặc cừ
Làm thơ cũng sõi,
Dũng Sĩ và Thi Sĩ rất xứng danh.

Đêm bồi hồi bên cánh rừng xanh
Náo nức quá!
Nghe Chương trình văn nghệ
“ Thơ Chiến sĩ ”?
Sao nhạc buồn đến thế?
Lính nhớ nhà…
càng nhớ nhà hơn!

Ơi!
Tiếng đàn bầu
Nỉ non
Nỉ non…
Đem thân phận thả vào đêm chiến trận
Này Cung Nhớ!
Này Cung Thương!
Này Cung Hờn!
Này Cung Hận!
Hỏi cung nào Người Lính chẳng từng qua ???
——

5. ĐÓI

Trận đánh này.
Chúng tôi giữ điểm cao,
Quần cả tháng,
lương ăn không còn nữa!
Giặc vây chốt đông như đàn kiến lửa
Phía chúng tôi …
Còn lại mấy đứa thôi.

Không sợ giặc, không sợ đạn bom rơi,
Cái sợ nhất lúc này là đói.
Đói vàng mắt,
Đói long đầu gối,
Đói phạc phờ,
Đói thừa cả chân tay…!
Mà lạ chưa?
Vào chính lúc này,
Chúng tôi lại đánh lui quân giặc.
Có lẽ vì chẳng cách nào khác được!
Có lẽ vì… Còn – Mất đó thôi…
Phía chân đồi, giặc đã rút rồi.
Cái Đói lại xông lên ngợp chốt.
Không thể bắn,
Và cũng không thể giết
Muốn cầm hòa…
Cái Đói
Chẳng buông tha !

Đồng đội tôi gục xuống giữa chiều tà…
Gạo vừa tới, cơm còn đang nấu dở
Boong canh rừng lục bục sôi trên lửa
Bạn đi rồi…
Chẳng kip bữa cơm no !
Ôm xác bạn chúng tôi khóc hu hu!
Người đói chết trên tay người đói lả
Chôn bạn xong… Đói tràn lên cỏ
Tôi cầm cành cây,
đói lả trước mồ …

Chúng tôi thường cúng bạn cả nồi to
Cơm đấy, canh đấy…
Bạn ăn đi khỏi đói !

Sống giữ chốt
Chết thành ma đói
Đêm đứt rời …
Bởi những cơn đau….

6. TIẾN VỀ THÀNH PHỐ

Từng trận đánh,
cứ nối tiếp nhau
Như mùa lũ ngập dần đôi bờ đất
Từng chiến dịch mở bung mặt trận
Như gió ngàn ồ ạt thổi võng thung.

Mùa mưa đi qua.
Khô khát những cánh rừng.
Cây trút lá bên đường tơi tả.
Đất như choàng tấm chăn màu đỏ.
Những nấm mồ đồng đội rực lên!

Tiến về Sài gòn
Từ khắp nẻo Trường Sơn.
Đại bác
Xe tăng
Chuyển rung thành phố
Rầm rập những Binh đoàn
Ào ào thác đổ
Cả nước dồn về
Trùng điệp quân đi.

Các hướng tấn công
Thần tốc – diệu kỳ
Ngày mai hiện dần
Bằng xương
Bằng máu
Ngày mai sẽ về
Gang tấc nữa thôi!

Gang tấc nữa thôi!
Cờ giải phóng tung bay dinh Độc Lập
Tổ quốc tưng bừng niềm vui thống nhất
Chúng con sẽ về
Bên mẹ
Mẹ hiền ơi!

Gang tấc nữa thôi!
Ác liệt lại ngàn lần ác liệt
Sào huyệt cuối cùng
Sào huyệt lửa bung ra.
Máu Người Lính đã thấm rừng già,
Nay lại đổ dọc đường vào Thành Phố !
Người lính cựu,
Mang nửa đời chữ thọ,
Có ai ngờ!
Ngã xuống,
Trước ngày mai.

Chúng tôi nghiêm trang
Đứng trước thi hài
Người Đồng đội,
Người Anh,
Người Thầy trong trận mạc.
Giữa Sài Gòn – 30 THÁNG TƯ.

Chương ba: SAU CHIẾN TRANH

1. LÀNG XƯA

Giặc tan rồi
Chúng tôi trở về quê
Bồi hồi quá!
Những bàn chân lính
Chiếc ba lô trên lưng nhẹ tếch
Chỉ nặng nhiều là mấy búp bê.

Khao khát gì mà bồng bế thế kia?
Hay ở rừng lâu ngày không bóng trẻ?
Ngoài mặt trận nào ai thành bố – mẹ
Tìm đâu ra tiếng bé khóc chào đời.

Hay tuổi xuân ta
trầm bổng cuối trời?
Như hạt mưa sa xuống vườn đồng đội
Hay vì thương cây
tháng năm ngóng đợi?
Mùa hoa về
cho tươi lại cành xanh.

Thôi!
Gác lại một thời chiến tranh,
Ào về nơi chôn nhau, cắt rốn.
Để ngắm Mẹ
Cho hả hê nỗi nhớ.
Để nhìn Cha
Cho đã buổi thương Người.

Để được gặp,
Nàng mặc áo nâu tươi
Khoe với Em rằng: chỉ thêu vẫn thắm,
Rằng: hai đứa chẳng còn xa ngàn dặm,
Rằng: hôm nay thuyền đã cập bến rồi.

Đây mái nhà tuổi thơ của tôi.
Đây bậu cửa chắn ngang thời lẫm chẫm.
Đây hình vẽ ngu ngơ thời chấy rận,
Màu than đen còn nhánh đến bây giờ.

Đây hàng cau cha trồng từ ngày xưa.
Rụng đỏ đất…
Những mùa đành để lỡ.
Đây vườn trầu mẹ ươm hồi ta nhỏ,
Rơi vàng trời
như thể khát tìm cau.

Đây con đường nối sang nhà nhau.
Bên ấy, bên này
đi về một ngõ.
Đêm.
Họp Đoàn cùng chung đuốc tỏ,
Ta soi cho Em về tới sân nhà.

Đây xóm làng lam lũ của ta.
Những bữa cơm còn đầy mâm rau má.
Người ra trận vẫn mang manh áo vá.
Trẻ tới trường,
quyển sách đọc thay nhau.

Mùa đông về chăn chưa đủ ấm đâu,
Mùa hạ đến chẳng đủ màn ngăn muỗi.
Ta gặp ai cũng già trước tuổi.
Biết: Hy sinh đâu chỉ ở chiến trường!

Ơi! Xóm làng mà ta gọi Quê hương,
Người ra trận đông hơn người ở lại,
Đã kín vách BẢNG VÀNG DANH DỰ,
Giờ lại nhiều BẰNG TỔ QUỐC GHI CÔNG.

Bao hố bom chằng chịt trên đồng,
Nghe lành lạnh tiếng cá cờ búng nước.
Hiểu hạt gạo nuôi quân ngày chiến cuộc,
Đã chan hòa,
Máu với Mồ hôi.

2. MẸ

Con về với Mẹ hôm nay
Thật đây! Sao Mẹ tưởng ngày…mình mơ.
Bây giờ mắt mẹ đã mờ,
Nhìn tôi bằng “ngón tay rờ” run run.

Như là để thật tôi hơn
Mẹ rờ vết sẹo vai con ngày nào.
Nhận ra, mắt Mẹ lệ trào
Rưng rưng…
vào khoảng khát khao con về.
Và tôi cứ thế lặng đi
Trước pho Tượng Phật từ bi giữa nhà.

Mấy năm đánh giặc đường xa
Chẳng ngờ đâu
Mẹ tôi già thế kia?
Hàm răng đen nhánh ngày xưa
Đi đâu vội,
để nắng mưa cối trầu?
Hạt sương kéo sợi trên đầu
Bảo tôi:
Đời Mẹ dãi dầu đấy thôi.
Mắt huyền xưa buộc Cha tôi
Bây giờ,
Mẹ buộc lá rơi ngoài thềm.
Mỏng manh chiếc áo vải mềm,
Tuổi thơ tôi để trong nền yếm nâu.
Yếm Người nào có rộng đâu.
Mà sao như thửa đất giàu mênh mông…
Ở đây cũng thể Thành đồng
Ở đây nuôi những Anh hùng nước non.
Yếm vuông cho giọt sữa tròn
Đọng trong mỗi dấu chân con tháng ngày.

Con về với Mẹ hôm nay
Thật đây!
Sao Mẹ tưởng ngày mình mơ!
Mẹ tôi giờ, mắt đã lòa
Nhìn tôi bằng ngón tay già…
rưng rưng…

3. MẶT TRẬN KHÔNG TIẾNG SÚNG

Chúng tôi về với việc nhà nông,
Đông hơn cả,
Vì đồng rộng lắm
Những người lính một thời chiến trận
Giờ lại về cuốc bẫm cày sâu.

Ruộng có bờ,
Việc chẳng có bờ đâu
Buổi lật cỏ đã lo ngày bắc mạ.
Gieo trên đất những mầm vui hối hả,
Những lo toan, thắc thỏm, trông chờ.
Tưởng đã quen rồi, sao vẫn gặp bất ngờ?
Bất ngờ hạn – mặt đồng khô như ngói.
Bất ngờ úng – lúa chìm trong tê tái.
Bất ngờ sâu – đau thắt ruột người trồng.

Cấy cây lúa
Là cấy phận nhà nông.
Xòe bàn tay tính từng ngày, từng tháng.
Mặt trời lên
đến thâu đêm
lại sáng.
Bóng người còng,
mơ…
lúa tròn bông.

Hạt gạo dẻo thơm?
nào dễ hiểu đồng,
Khi chưa có một lần với lúa.
Khi cuộc đời lượt là trong nhung lụa,
Đã chắc gì hiểu nổi bát cơm bưng ?
Đã chắc gì biết cái rét cuối đông?
Chân mẹ nẻ ngậm bùn rét giá.
Đã chắc gì biết những chiều nắng hạ?
Áo cha dầy thêm mỗi bận mồ hôi.

Về với đồng mới hiểu hết đồng ơi!
Bát cơm chan mồ hôi – nước mắt
Lại có chuyện… những người khuất tất
Lại bão giông… rình rập trên đầu…

Ta đã qua dài rộng rừng sâu,
Chân đã thuộc những nẻo đường ngang dọc,
Mà bây giờ trước đồng, trước ruộng
Sao ta đi, đi mãi… chẳng đến bờ?

Vẫn chỉ là muôn thuở: Đói hay No?
Mà lăn lóc cả đời với đất
Từ mặt trận,
mang Cái còn – Cái mất
Trở về làng đánh đổi Cái có – Cái không…

Phải vượt lên thôi!
Mình tự cứu mình.
Than phận làm gì cho thêm yếu lính?
Đất Nước chiến tranh ra đi đánh giặc.
Đất Nước hòa bình, tất cả dựng xây.
Nào tập đi!
Cho thẳng những đường cày
Cho con trâu khỏi nhắc người: vắt – diệt
Cho vụ mùa gối tiếp nhau mải miết
Cho đồng làng bông lúa gọi : đời no!

Nào học đi!
Ta mới chỉ i tờ.
Nghề nhà nông còn bao điều mới lạ,
Muốn xênh xang từ cọng rơm, gốc rạ.
Phải hiểu đồng,
như hiểu chiến trường xưa.

Ta đã nghe !
Nhiều đồng đội gần, xa
Bát ăn đủ rồi, giờ thêm bát để.
Đã rộng cửa nhà,
Đã yên dâu – rể,
Đã ông – bà…
còn rất lính mà Em!

Ta lại nghe.
Từ phía mặt trời lên
Tiếng tần tảo gõ vang đường xuống chợ
Những mảnh vườn cho mùa chín đỏ
Thơm chật gùi…Đồng đội địu trên lưng.

Và đằng kia,
trên khắp nẻo núi rừng,
Bao trang trại mở đường vào giàu có.
Nhiều người lính đã thành ông chủ.
Cũng đình huỳnh xe máy hon đa.

Vườn-Ao-Chuồng xây cất Vi la,
Ai bảo lính không biết làm kinh tế?
Bao doanh nghiệp tư nhân
Bao nhiêu nhà tỷ phú
Cũng đều từ những Cựu Chiến binh.

Ta dõi theo vóc dáng những công trình.
Bao người lính trở về xây thủy điện
Đời lại thắp những NGỌN ĐÈN trước biển
Sóng gầm gào…
Đèn vẫn sáng lung linh.

Ấy là khi
Ta tự biết vượt mình
Trước cuộc sống
Có bao điều Cầu ước.
Nếu được ước
Xin ước cho tất cả
Đừng hóa mình xa lạ với Nhân Dân.

Chương 4: HỒI TƯỞNG

Thế hệ chúng tôi, Đi qua Chiến Tranh.
Đời mỗi đứa là một thời để nhớ
Về đồng đội,
Về những ngày khói lửa
Về những hy sinh,
… không nói hết bằng lời.

Bao cô gái
Bao chàng trai
Lứa tuổi đôi mươi
Đã nằm xuống dưới bạt ngàn nấm mộ
Những cái tên…
ngày nào xanh nhãn vở
Giờ xếp hàng
Đỏ rực nghĩa trang.

Có những hy sinh
Âm ỉ với thời gian
Người trở về trên mình đầy thương tích
Chiếc nạng gỗ gõ dọc chiều cơn lốc
Hiểu con đường đang chín giọt mồ hôi.

Có đứa về lành lặn hẳn hoi
Nào ai hay?
Chất độc vùi trong bạn
Lúc làm cha mới biết mình trúng đạn
Vết thương
– Là con anh.

“Vì Nhân Dân quên mình! Vì Nhân Dân hy sinh!”
Bài hát gọi ta về quân ngũ.
Cuộc sống Lính có khi nào đầy đủ?
Thiếu thốn nhiều nên cũng phải quen đi!

Cũng phải quen.
Như thể chẳng thiếu gì
Vì khi ấy chiến trường cần phải thế!
Ngày trở về Ta không còn trai trẻ.
Giữa đời thường cái thiếu lại thiếu thêm.

Những hy sinh không thể bắc lên cân.
Càng không thể quy thành tem phiếu.
Những người lính có bao giờ định liệu
Cái giá mình trước Tổ Quốc, Nhân Dân!

“Vì Nhân Dân quên mình!
Vì Nhân Dân hy sinh!”
Lẽ sống ấy làm nên Nhân cách Lính.
Ngay cả khi mình không mang quân phục,
Nhưng Lính thì chẳng lẫn với ai đâu?

Không biết người ta sống mai sau,
Có đời hơn thời chúng tôi đang sống?
Rồi đến lúc phải quên đi tiếng súng,
Ta vẫn tin!
Đồng đội chẳng quên nhau!

Nhân Dân mình sống có trước có sau.
Cứ nhìn những Nghĩa trang, những Tượng đài thì biết.
Và cả những Tượng đài thơm hương tha thiết,
Cho người sống,
Cho người còn
mà chết tuổi thanh xuân.

Nếu Cuộc đời biết vì Nhân Dân
Thì Nhân Dân cũng vì ta năm tháng.
Như mặt trời cho cỏ cây nguồn sáng,
Cỏ cây nào chẳng cho đất những mùa hoa?

Bom đạn tạnh đi rồi
Chiến tranh đã lùi xa!
Cuộc sống mới bảo chúng tôi đổi mới!
Không thể đem những ngày lửa khói
Giữa thị trường đánh đổi lấy ấm no!

Không thể đem việc đổi xạ – bóp cò,
Làm công nghiệp trong thời mở cửa.
Ta sẽ chẳng vượt qua đói khổ,
Nếu chân mình còn nặng đế cao su!

“Vì Nhân Dân quên mình! Vì Nhân Dân hy sinh!”
Bài ca ấy đã trở thành lẽ sống!
Chúng tôi hát từ buổi tò te lính.
Đến bây giờ vẫn hát
– Những Cựu binh.

Lê Anh Quốc
Thị xã Yên Bái – Tháng 1-2000

459 Quyen Ngo, Ngoke Suong và 457 người khác54 bình luận 348 lượt chia sẻ



xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
Tuyển Tập Hòa Tấu Saxophone Trữ Tình Hay Nhất
The Best of Classical Music – Mozart, Beethoven, Bach, Chopin…
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook Kim on Twitter

Việt Nam con đường xanh

VIỆT NAM CON ĐƯỜNG XANH
Hoàng Kim

Bạn Alon Tran hỏi: Thầy có lời khuyên gì cho thế hệ trẻ nông nghiêp, cả về tài và đức, để đóng góp được gì đó cho quê hương không Thầy? Tôi trả lời: Tôi thích triết lý giáo dục “Việt Nam con đường xanh” là xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc, an sinh xã hội, cân bằng hài hòa, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, nâng cao sinh kế, thu nhập, chất lượng cuộc sống cho người dân lao động, đặc biệt là nông dân.

“Nông sản Việt Nam” và  “Nông thôn ngày nay” là hai chủ đề nóng mà anh Nam Sinh Đoàn xới lên gần đây cùng với câu chuyện “Con đường lúa gạo Việt Nam” có rất nhiều gương sáng đời thường ám ảnh như Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi; Chuyện đời giáo sư Lê Văn Tố, Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng, Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên, Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh;  Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai Tôi .lắng đọng nhiều điều nhưng chưa kịp sắp xếp lại.

Việt Nam con đường xanh là lắng nghe cuộc sống, góp nhặt cát đá; bảo tồn và phát triển một triết lý Việt Nam vươn ra làm bạn hội nhập thế giới bảo tồn và phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc

LỜI YÊU THƯƠNG MINH TRIẾT

Giáo sư Norman Borlaug có lời dặn thật thấm thía trích trong Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm tiếng để đời”

Tiến sĩ  Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh,  Phó Viện Trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long nói tại Lớp học trên đồng những lời sâu sắc: “Hãy cúi xuống học trên đồng, cúi xuống học trong phòng thí nghiệm, cúi xuống học thầy, học bạn và lắng nghe tiếng nói người dân”. Chúng ta hãy cùng tiếp bước trên Con đường lúa gạo Việt Nam  theo những tấm gương sáng  Lương Định Của, Tôn Thất Trình, Bùi Huy Đáp, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Vũ Tuyên Hoàng, Mai Văn Quyền, Trần Văn Đạt, Bùi Bá Bổng, Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Trâm, Lê Văn Bảnh, Trần Thị Cúc Hòa, Nguyễn Thị Lang,  … để tạo chọn được những giống lúa gạo, cây lương thực ngon hơn, tốt hơn cho người dân; nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp, các giải pháp khoa học công nghệ để người dân lao động bớt nhọc nhằn hơn, giảm rũi ro và tổn thất sau thu hoạch.

Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta còn DẠY VÀ HỌC. Gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

conduongluagaovietnam

CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM

Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa. Giáo sư tiến sỹ anh hùng lao động Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long,  tác giả chính của cụm công trình ‘Nghiên cứu và phát triển lúa gạo’ đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh, đã có hai bài viết quan trọng giới thiệu về “Lịch sử cây lúa Việt Nam” và “Cải tiến giống lúa cho sản xuất lúa gạo tại Việt Nam”. Giáo sư đã đưa ra các bằng chứng và dẫn liệu ‘Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa’ và ‘các tiến bộ của giống lúa Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21’. Hai bộ sách: Nguyễn Văn Luật (chủ biên), xuất bản lần đầu năm 2001, 2002, 2003 Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20, ba tập Nhà Xuất Bản Nông nghiệp, Hà Nội, 1.347 trang, và Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu 2011. Khoa học về cây lúa, di truyền và chọn giống. Nhà Xuất bản Nông Nghiệp, 623 trang đã đúc kết về những tiến bộ này.

Con đường lúa gạo Việt Nam” là chùm bài lược thuật về các dâng hiến lặng lẽ của một số nhà nông học,  nhà giáo và nông dân giỏi nghề nông. Họ gắn bó cuộc đời với nông dân, nông nghiệp, nông thôn, và những sinh viên, học viên nghề nông để làm ra những hạt gạo ngon hơn, tốt hơn cho bát cơm của người dân. Tập tài liệu nhỏ này mục đích nhằm kể lại những mẫu chuyện đời thường nghề nông cho các em sinh viên đọc thêm ngoài giờ học chính.

Thầy Norman Borlaug nhà khoa học xanh, cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói, đã có dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

Dạy học không chỉ trao truyền tri thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn trao truyền ngọn lửa. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Nam Bộ Việt Nam, quê hương của nhà bác học nông dân Lương Định Của, là nơi con đường lúa gạo Việt Nam khởi phát và tỏa rộng, là nơi mở đầu cho chùm bài viết này. Về miền TâySao anh chưa về lại miền Tây. Nơi một góc đời anh ở đó. Cần Thơ Sóc Trăng sông Tiền Sông Hậu. Tên đất tên người chín nhớ mười thương. Anh có về Bảy Núi Cửu Long. Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ. Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ. Anh có về nơi ấy với em không?” (thơ Hoàng Kim).

Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng‘ thao thức một giấc mơ Gạo Việt.

Minhtrietsongthungdungphuchau4

GIẤC MƠ CON ĐƯỜNG XANH
Làm gì để nâng cao chất lượng cuộc sống, sinh kế và thu nhập cho nông dân Việt Nam? Việt Nam con đường xanh là  xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc, an sinh xã hội, cân bằng hài hòa, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, nâng cao sinh kế, thu nhập, chất lượng cuộc sống cho người dân lao động, đặc biệt là nông dân.

Đường sống” kiệt tác của Lev Tonstoi là một cẩm nang văn hóa giáo dục nên đọc lại và suy ngẫm thật thấm thía . Nó là rất cần cho ai muốn hiểu sâu hơn về lý tưởng trau dồi đức tài phụng sự xã hội.

Đường sống” là tác phẩm văn thư nghị luận chọn lọc của Lev Tolstoi do Nhà xuất bản Tri Thức ấn hành năm 2010.  Nhà văn Nguyên Ngọc nói về Tolstoi và tác phẩm Đường sống: “Đây là  cuốn sách khổng lồ  theo nhiều nghĩa, dày đến 1.180 trang, là một cuốn sách mà ai cũng nên đọc và trí thức bắt buộc phải đọc”. “Càng đọc càng thấy ông quá lớn so với những gì ta đã biết”. Ông nói: “Chúng ta ai cũng biết đến và khâm phục Lev Tolstoi với tư cách một văn hào vĩ đại, nhưng ít ai biết ông còn là một nhà tư tưởng vĩ đại không kém, thậm chí hơn thế. Không chỉ ở Việt Nam, trên thế giới mà ngay ở Nga, đã một thời gian dài người ta cố tình đề cao hết mức nhà văn Tolstoi để hạ thấp hoặc chính xác là lờ đi một Tolstoi, nhà tư tưởng” (tôi HK gạch dưới).

Những dấu ấn tư tưởng nổi bật nhất của Tolstoi trong những tiểu luận và thư từ này là sự gắn kết những tinh hoa của trí thức Nga với những tinh túy của nhân dân lao động Nga – nhất là nông dân. Tolstoi yêu người nông dân Nga và nhận rõ những giá trị của họ, nhưng không thần thánh hóa nông dân, coi đó là những giá trị tuyệt đối và phủ nhận trí thức – thành phần xuất thân của chính mình – như các nhà cách mạng dân túy cùng thời và sau này.” Nhà văn Nguyên Ngọc viết tiếp.

“Yêu lao động, hay là thắng lợi của nhà nông” (trang 319- 331, kiệt tác Đường sống của Lev Tonstoi). Hãy đổ mồ hôi trán để có được miếng ăn, cho đến khi ngươi trở về với đất, bởi từ đất ngươi đã được lấy ra. Sáng thế III, 19. …”Nếu nó vẫn cứ dùng đến mưu mẹo và bạo lực , thì bởi vì nó yêu thích mưu mẹo và bạo lực , chứ không phải vì chúng cần thiết như hiện nay.  Đối với những kẻ yếu sức, những người vì lý do nào đó  không thể làm ra được cái ăn cho mình, hoặc vì lí do nào đó miếng ăn đã mất đi , thì sẽ không còn cần thiết bán mình , bán lao động và nhiều khi bán cả linh hồn của mình để có được cái ăn.

Sẽ không còn cái ước nguyện của mọi người, như hiện giờ, bằng mọi cách giải phóng mình khỏi lao động cơm áo và trút nó sang những người khác đè chết những kẻ yếu bằng lao động và giải phóng những kẻ mạnh khỏi mọi lao động. Sẽ không còn định hướng của tư duy con người như hiện nay, khi mà mọi nổ lực trí tuệ của con người đều được hướng vào không phải việc làm dễ lao động của những người lao động , mà làm dễ và tô điểm cho sự vô công rồi nghề của những kẻ vô công rồi nghề .

Việc mọi người đều tham gia lao động cơm áo và thừa nhận nó là đi đầu trong mọi công việc của loài người sẽ làm được điều giống như một người sẽ làm với cái xe kéo bị lật ngược bị một lũ ngốc hùng hục kéo đẩy, khi anh ta sẽ lật cỗ xe lại và đặt nó lên trên bánh của nó vừa không làm hỏng cỗ xe, vừa làm cho nó đi nhẹ nhàng.” …(trích) “Bạn hãy hạ mình xuống tận hạ tầng (rời khỏi chỗ bạn tưởng là hạ tầng, nhưng đó lại là thượng tầng) hãy đứng bên cạnh những người cho những người đói ăn, cho những người rét mặc; đừng sơ một cái gì: sẽ không có cái gì xấu hơn đâu, mà sẽ chỉ tốt hơn về mọi phương diện.

Hãy đứng vào hàng , bằng hai bàn tay yếu ớt của mình hãy bắt đầu cái công việc đầu tiên là mang lại cơm ăn áo mặc cho những người đói rét- hãy thực hành trực tiếp cái lao động cơm áo , thực hành trực tiếp đấu tranh với thiên nhiên, và lần đầu tiên bạn sẽ thấy đất vững chắc dưới chân mình, cảm thấy ở nhà mình, cảm thấy được tự do, bảo đảm, không cần đi đâu hết, và bạn sẽ được trãi nghiệm những niềm vui thuần khiết, không bị đầu độc, mà bạn sẽ không tìm được ở nơi nào khác, không sau cánh của nào, không sau tấm rèm nào” … (Lev Tonstoi).

Hạnh phúc được sống Chương XXXI (trích trong Đường sống). “Chúng ta hay coi thường hạnh phúc của cuộc sống này, tưởng là ở nơi nào đó, vào lúc nào đó sẽ có được một hạnh phúc lớn hơn. Nhưng cái hạnh phúc lớn hơn như thế không thể có ở đâu và lúc nào, bởi lẽ chúng ta trong cõi người của ta đã được ban tặng một hạnh phúc vĩ đại đến thế – sự sống, mà không có và không thể có cái gì cao hơn nó“. (Lev Tonstoi). Con người bất hạnh bởi vì nó không biết là nó hạnh phúc (Dostoievsky). Nếu thiên đường không ở trong ngươi thì ngươi không bao giờ vào được thiên đường (Angelus Silesius).

Người hiền tìm kiếm tất cả trong mình, kẻ ngu tìm kiếm tất cả ở người khác (Khổng Tử). Làm điều thiện đó là một việc duy nhất mà có thể nói rằng nó chắc chắn có lợi cho ta (Lev Tonstoi). Con người cầu mong những người khác hoặc Thượng Đế cứu giúp nó; nhưng không ai có thể cứu giúp nó, ngoài chính nó, bởi vì chỉ có cuộc sống thiện lương của nó mới có thể cứu giúp nó. Mà cái đó thì chỉ nó mới làm được. (Lev Tonstoi)

Minh triết Hồ Chí Minh là trau dồi đức tài để đóng góp được gì đó cho quê hương.  Nhớ Đào Duy Từ xưa mang tâm nguyện và chí hướng lớn lao như vua Trần Thái Tông (1218-1277), vị vua sáng khởi nghiệp nhà Trần “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Đào Duy Từ di sản để lại không chỉ là trước tác mà là triều đại. Ông là nhà thực tiễn sáng suốt có tầm nhìn sâu rộng lạ thường, rất chú trọng gắn thực tiễn với lý luận. Đào Duy Từ chỉ trong 9 năm ngắn ngủi (1625-1634) đã kịp làm nên kỳ tích phi thường: Giữ vững cơ nghiệp của chúa Nguyễn ở Đàng Trong chống cự thành công với họ Trịnh ở phía Bắc; Mở đất phương Nam làm cho Nam Việt thời ấy trở nên phồn thịnh. Đặt nền móng vững chắc cho triều Nguyễn, sửa sang chính trị, quan chế, thi cử, võ bị, thuế khóa, nội trị, ngoại giao. Sau khi ông mất (1634) triều Nguyễn còn truyền được 8 đời (131 năm), cho đến năm 1735.

ĐBSCL là vựa lúa cả nước. Năm 2014, sản lượng lúa ĐBSCL vượt ngưỡng 25 triệu tấn, tăng gần 3,5 triệu tấn so với năm 2010. Thế nhưng đầu ra nông sản rất bấp bênh; sản xuất manh mún, hạt gạo vẫn chưa có thương hiệu… Nhiều vấn đề cấp bách đang đặt ra Đầu tư lĩnh vực nông nghiệp – nông thôn vẫn chưa xứng tầm nên khoảng cách chênh lệch đời sống thành thị và nông thôn quá lớn. Đó là điểm yếu đầu tư cơ sở hạ tầng, nhân lực, dân trí. Đời sống nông dân càng khó khăn do đất trồng lúa ngày càng manh mún! TS Lê Văn Bảnh, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, trong bài “Gấp rút xóa bỏ tình trạng sản xuất manh mún, lạc hậu” đã đánh giá vậy và tôi thật đồng tình . Điều này liên quan rất nhiều đến tầm nhìn, định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng ngành hàng lúa gạo. Vì sao giáo sư Viên Long Bình và các đồng sự chuyên gia chọn tạo phát triển giống lúa gạo Trung Quốc lại có thể làm được việc đột phá lừng lẫy trong nghề lúa thời gian qua?  Vì đó chính là vấn đề an sinh xã hội và an ninh lương thực ám ảnh chiến lược kinh tế Trung Quốc. Thế nhưng, tầm nhìn về nâng cao chất lượng cuộc sống, sinh kế và thu nhập của đông đảo người dân, nâng cao chất lượng môi trường sống, kiến tạo đường sống hòa bình cho nhân loại và tổ quốc mình lại đòi hỏi một minh triết.

“Sự vinh quang của người có học là được bà con bóc lột. Nếu không, thì học thức sẽ vô bổ, chẳng cần tích lũy kiến thức hay đào sâu suy nghĩ để tiêu hóa chúng làm gì. Tiếp theo là tìm mọi phương cách để đưa cái học đến được với thực tế cuộc sống” . “Sự hủy hoại nông thôn bắt đầu như thế, từ chuyển dịch sức lao động. Tiếc thay, chẳng một chút vốn công nghệ nào được người Việt làm chủ. Điều ấy, cho thấy Bộ Công Thương chỉ có khả năng “săp xếp bộ máy” cho con ta thăng quan, con sếp tiến chức, chứ không thể sản xuất nổi con vít. Toàn thể “công nhân” chỉ bán sức lao động rẻ và bị ức hiếp, bóc lột vô chừng dưới tay chủ nước ngoài. Hy sinh nghề nông rồi đất nước được gì hơn ? Gần đây, một Gíao sư Nhật được mời tư vấn, đã tỏ bày đề nghị cho kế hoạch kinh tế đến năm 2035 của Việt Nam, cũng chỉ là phát triển nông nghiệp hiện đại. Một nền nông nghiệp sinh thái, bảo vệ được môi sinh là không xa lạ với nhà nông chúng ta, nhưng để làm được việc dễ nhất – thực phẩm ngon lành, giá cả phải chăng – thì cũng phải dọn dẹp đi trong bộ máy này, đất nước này những thứ rác bẩn đã kể trước”.“Phụng sự xã hội” là bài viết của anh Đoàn Nam Sinh quá đắng và thật khác so với ý của Phó Thủ tướng: Thu nhập bình quân hộ nông dân đã đạt 97 triệu đồng đăng trên báo Dân Trí ngày 25/8/2016 và gợi lại ý kiến của ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng: Hiện là lúc kinh tế Việt Nam đang cho thấy có những chuyển dịch các nguồn lực “Không qua 2 vấn đề khó khăn, Việt Nam sẽ thành nền kinh tế thất bại“. Trang VietNamNet ngày 29/8/2016 với tiêu đề Tầm nhìn quá xa, mục tiêu quá nhiều: Việt Nam thua cả châu Phi

Việt Nam để trở thành nước công nghiệp vào 2020 hầu hết các mục tiêu được thừa nhận rất khó đạt được. Chính sách phát triển công nghiệp của Việt Nam được xem là quá nhiều ưu tiên không có trọng điểm. Ông Dương Đình Giám, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Viên trưởng Viện chính sách công nghiệp, Bộ Công thương đề xuất Việt Nam nên trở thành nước cung cấp các sản phẩm nông sản và nông sản chế biến chất lượng cao với một số thương hiệu mạnh tầm khu vực và thế giới. Đồng thời, phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan tới nông nghiệp với ưu tiên cơ khí nông nghiệp, cơ khí hóa chất, cơ khí vận tải… Ông Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright lưu ý nên tham vấn khu vực tư nhân vì doanh nghiệp nhà nước hiện chỉ đóng góp 30% vào GDP.

Nông sản Việt Nam và các sản phẩm chế biến nông sản chất lượng cao có thương hiệu mạnh tầm khu vực và thế giới làm gì, ở đâu và khi nào để nông dân thực sự được hưởng lợi đổi đời? Tôi nói với anh Đoàn Nam Sinh: “Tui Hoàng Kim (đại học Nông Lâm) đang lắng nghe anh, nhưng thưa anh Đoàn Nam Sinh, thuốc anh đắng quá !”.

Đầu tư của nước ta đối với lĩnh vực nông nghiệp nông dân nông thôn chưa xứng tầm nên khoảng cách chênh lệch đời sống thành thị và nông thôn quá lớn. Tôi có một giấc mơ Hoa Lúa Hoa Đất. Công việc này trao lại cho em ! Thực tiễn là thước đo chân lý. Giá trị cuộc sống CHÍ THIỆN. Mục đích sau cùng của DẠY và HỌC là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và LÀM được việc. Hãy là chính mình !

CON ĐƯỜNG XANH YÊU THƯƠNG
Chúc mừng Hoang Long Nguyễn Văn Phu đang tham gia tình nguyện hè ở Lào giảng dạy chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sắn lúa khoa học cây trồng. Chúc mừng Trúc Mai đề tài sắn Phú Yên tiếp tục dấn thân cho sự chọn tạo và phát triển giống tốt năng suất tinh bột cao tích hợp kháng sâu bệnh. Chúc mừng BM Nguyễn dự hội thảo sắn châu Á. Đường sống Việt Nam con đường xanh.

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/

xem thêm
Tình nguyện hè tại Lào

NHẬT KÝ 30/6/2019: CỘT CHỈ CỔ TAY CHÚC CHIẾN SĨ MAY MẮN

Trước khi về nhà bà con huyện Soukhouma, tỉnh Champasak để cùng sống và sinh hoạt trong vài ngày, các chiến sĩ đã được làm lễ cột chỉ cổ tay trang trọng. Đây là một truyền thống trong văn hoá Lào nhằm thể hiện sự yêu thương và cầu chúc người nhận chỉ luôn bình an, may mắn.

Trong buổi sáng, các hoạt động khám – phát thuốc miễn phí cho bà con, tập huấn nông nghiệp và tặng chế phẩm sinh học, tặng nhu yếu phẩm cho các hộ khó khăn, tổ chức sân chơi, tặng quà cho thiếu nhi địa phương đã diễn ra tại 02 huyện Soukhouma, huyện Champasak (tỉnh Champasak) và huyện Sanamxay (tỉnh Attapeu).

Tại Attapeu, đoàn cũng đã trao một “Nhà Đoàn kết Việt – Lào” cho hộ gia đình khó khăn. Mời bạn cùng xem nhật ký hoạt động ngày 30/6!

——————

Mời bạn nhấn like và share Fanpage, bài viết, hình ảnh để đón xem đầy đủ cũng như chia sẻ nhiều thông tin về các hoạt động tình nguyện hè của đoàn viên, thanh niên TP.HCM tại nước CHDCND Lào.

ĐỘI TRUYỀN THÔNG TÌNH NGUYỆN HÈ TẠI LÀO 2019
#TinhnguyenheLao2019 #NhatkyTinhnguyenhe2019
#Champasak #Attapeu #Laos

Cảm nhận Hoàng Kim: Chúc mừng Tình nguyện hè tại Lào. Việt Nam con đường xanh. Chúc mừng các bạn trẻ tiếp bước cha anh làm người lính tình nguyện dâng hiến trí tuệ công sức cho người dân và sự hợp tác thân thiện tỏa sáng đất nước và con người Việt Nam. Chúc mừng Hoang Long , Nguyễn Văn Phu được tự hào đồng hành trong đội ngũ ấy. https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=454067431993333&id=%20261455464587865