Nhớ thầy Tôn Thất Trình

NHỚ THẦY TÔN THẤT TRÌNH
Học trò Nông Lâm nhớ Thầy

Kính tiễn Thầy đi xa
Thăm thẳm trời li biệt
Những người Việt ở FAO (1)
Thầy rạng ngời phẩm tiết
Chuyện thầy Tôn Thất Trình (2)
Nông Lâm đời ghi nhớ
Lời Thầy dặn Thung dung (3)
Gốc Tùng dưới đáy khe

Quà Tặng (4) Thầy gửi lại
Nguyễn Phước đức lâu bền (5)


*
Trần Đình Lý cùng với Vien Ngoc Nam46 người khác.ngày 12 7 2021  kính viếng Giáo sư Tôn Thất Trình, Cựu Giáo sư của Khoa Nông học, Giám đốc Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn (tiền thân Trường Đại học Nông Lâm TPHCM ngày nay) vừa từ trần tại Hoa Kỳ, ngày 11 tháng 7 năm 2021, nhằm ngày 2 tháng 6 năm Tân Sửu, hưởng thọ 90 tuổi. Lễ Thăm viếng và Hoài niệm 9:00-12:00 ngày 25 tháng 7 năm 2021.Trường Đại học Nông Lâm TPHCM Thành kính chia buồn với gia đình Thầy, Hoài niệm Thầy.

Giáo sư Tôn Thất Trình:-Tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông Học Nhiệt Đới Nogent-sur Marne – Paris (1955).-1963: Giảng dạy nông học tại trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc – Sài Gòn.-1964: Giám đốc trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn.-1967:Tổng Trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa chính quyền miền Nam Việt Nam.

Trong thời gian làm việc tại trường Cao đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn, GS lập ra các ban như Ban Kinh tế Nông nghiệp, Ban Ngư Nghiệp nay là Trường Ngư Nghiệp Nông Lâm Thủ Đức, ban Công Thôn, và làm giáo sư thỉnh giảng cho trường đại học nông nghiệp viện đại học Cần Thơ về các môn cây công nghệ như cao su, dừa, bông vải, mía làm đường.

Tháng 10 năm 1975, FAO tuyển dụng làm chuyên viên nông nghiệp tại Kaedi,Mauritania. Nhờ làm lúa gạo thành công ở Kaedi (năng xuất 3 vụ 23- 30 tấn / năm), FAO năm 1977 đề bạt lên giữ chức Giám đốc dự án OMVS phát triển nông nghiệp vùng sông Senegal cho 3 quốc gia là Sénégal, Mauritanie và Mali. Trong thời gian ởOMVS, FAO cũng phái đi công cán làm các dự án lúa gạo cho Guinée Bissau, Sierra Leone và Liberia, Phi Châu.

Năm 1980, được FAO tuyển chọn làm chuyên viên lúa gạo chánh cho FAO trung ương tại Rome, Ý, kiêm chức vụ thư ký kỹ thuật, sau này đổi thành tổng thư ký Ủy ban Lúa Gạo Quốc tế, lúc đó gồm 115 quốc gia có trồng hay thí nghiệm lúa gạo trên thế giới. Trong thời gian ở Roma. được phái đi thường xuyên nghiên cứu, lập dự án nông nghiệp v.v. tại Côte d’Ivoire, Burkina Faso, Niger, Tanzania, Ai Cập, Kenya, Madagascar, Comores… ở châu Phi, Brasil ở châu Mỹ, Thái Lan, Philippines, Ấn Độ, Hà Lan, Bỉ, Serbia, Albania, Bulgaria

Tốt nghiệp Tú Tài phần hai, thì được học bổng ” Bảo Đại ” (Pháp cấp cho mọi người Việt Nam đỗ tú tài hai), sang Pháp tháng 8 năm 1950. Sửa soạn thi vào các trường Cao đẳng Pháp ở lycée Louis – LeGrand và năm 1952 đỗ thi tuyển vào Viện Quốc gia Nông học – Institut National Agronomique – Paris, khi đó còn nằm ở khu phố Quartier Latin gần vườn Lục Xâm Bảo (Jardin du Luxembourg). Viện Nông Học này trước đó, có hai người Việt Nam tốt nghiệp nổi danh là Thượng nghị sĩ Nam Kỳ Bùi Quang Chiêu người Việt đầu tiên tốt nghiệp cuối thế kỷ thứ 19 và bà quận công (Duchesse D’ Annam), công chúa Như Mai con gái vua Hàm Nghi, đỗ đầu vào Viện, tên khắc bảng vàng ở cổng vào Viện.Nguồn:

Nguồn: KỶ YẾU 65 NĂM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH link tại https://kyyeunonglam.blogspot.com/2020/11/ky-yeu-65-nam-truong-ai-hoc-nong-lam.html
https://vi.m.wikipedia.org/wiki;

1) Những người Việt ở FAO https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nhung-nguoi-viet-o-fao/; 2) Chuyện thầy Tôn Thất Trình https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-thay-ton-that-trinh/ ; 3) Lời Thầy dặn thung dung https://hoangkimlong.wordpress.com/category/loi-thay-dan-thung-dung/; 4) Quà Tặng The Gift http://tonthat-tonnu.blogspot.com/p/ve-blog-gift.html; Nguyễn Phước đức lâu bền http://tonthat-tonnu.blogspot.com/p/ve-gs-ton-that-trinh.html và Nhớ thầy Tôn Thất Trình https://hoangkimvn.wordpress.com/2021/07/12/nho-thay-ton-that-trinh/

Liên lạc với gia đình thầy Tôn Thất Trình: Mọi ý kiến, bài vở xin liên lạc với gia đình qua điện thư: tonnubn@gmail.com Trân trọng. http://tonthat-tonnu.blogspot.com/p/lien-lac.html

ĐIẾU VĂN TIỄN GIÁO SƯ TÔN THẤT TRÌNH
Giáo sư Thái Công Tụng


Trước linh sàng giáo sư Tôn Thất Trình, xin thay mặt các bằng hữu xa gần từ các cơ sở giáo dục Đại học Nông nghiệp Sài Gòn, v.v, tôi thành kính chia buồn với gia đình về sự ra đi vĩnh viễn của giáo sư Tôn Thất Trình.

Thầy Tôn Thất Trình trong nhiều năm là Giám Đốc Trung tâm Giáo dục Nông nghiệp Sài Gòn và đã đào tạo rất nhiều sinh viên . Với cương vị Giám Đốc của Trường, giáo sư Trình đã một lòng đem khoa học về với ruộng đồng Việt Nam, gửi cán bộ giảng dạy đi tiếp tục đào tạo ở Mỹ, tạo nên một cơ sở vững chắc cho Viện những năm sau này.

Hôm nay, giáo sư Tôn Thất Trình đã đi thật xa, lìa bỏ các đồng môn, đồng nghiệp, môn sinh, đưa thầy vào giấc ngủ miên viễn, sang nước Nhược, non Bồng. Cát bụi, hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi, thầy Trình đã lìa bỏ thế giới ta bà này sang thế giới tịnh độ bên kia để hưởng an bình. Ta là cát ta sẽ về với bụi Trả trần gian những cay ðắng muộn phiền Hồn ta sẽ về nơi cao xanh ấy Không còn buồn lo lắng chốn trần ai!

Quả thật, thầy Tôn Thất Trình đã xuôi tay nhắm mắt. Tuổi dương gian gần 90 năm, dài mà ngắn, dài vì cuộc đời trôi nổi, vận nước điêu linh, qua nơi định cư đất Cali ngày nay. Chỉ một bước ngắn, chúng ta chuyển từ cõi này qua cõi khác. Ai cũng ngại ngần trước nhịp bước vô định này. Cái bước dùng dằng từ một chỗ đứng cân bằng trên mặt đất sang chỗ chênh vênh mây trời là cái bước mỗi con người phải trải qua. Cái điều chắc chắn sẽ xảy ra này, chúng ta không muốn nghĩ tới. Càng thêm tuổi, chúng ta càng làm lơ không muốn nghĩ tới. Kẻ đi trước, người sau rồi sẽ gặp…

Hình tướng vốn theo lẽ vô thường: nay còn, mai mất, theo luật của Tạo hóa, tấm thân tứ đại của anh Tôn Thất Trình sẽ trở về với cát bụi, nhưng trong tâm tưởng của bạn bè xa gần, không thể nhạt nhòa những hình ảnh của thầy Trình. Con người phát sinh từ hư vô như một ánh sao sa trong trời vắng, tự tạo lấy phẩm giá cho mình rồi lại trở về với hư vô nhưng sẽ hân hoan mãn nguyện vì đã gieo một vệt sáng cho đời, dù chỉ là một vệt sáng cô đơn trong trường dạ tối tăm của trời đất: Giáo sư đã để lại cho hậu thế nhiều sách về Nông học và Hoa Màu, Cây ăn trái v.v…

Xin Đức Phật từ bi đưa linh hồn Thầy Trình về Cõi Phật: Nam Mô Quan Thế Âm Bồ tát; Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát; Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ tát

Nguồn: Thầy Thái Công Tụng mail cho anh Trần Văn Hảo, chủ bút trang Cựu SV Nông Nghiệp (Đại Gia Đình NÔNG LÂM MỤC SÚC), đăng ngày 17 tháng 7 lúc 09:49 

*

Nhớ kỷ niệm về Thầy

NHỚ VỀ THẦY TÔN THẤT TRÌNH
Trần Trung Chính


Tuy danh tự Thầy và Giáo Sư không khác nhau mấy về ngữ nghĩa, nhưng tôi thích dùng danh tự Thầy trong bài viết này vì danh tự Thầy nghiêng về chức năng dạy học trò, trong khi danh tự Giáo Sư nghiêng về nghiệp vụ và ngạch trật hành chánh, thí dụ người ta phân biệt “giáo sư trung học” và “giáo sư đại học”.

Tôi theo học năm thứ nhất Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn vào niên khóa 1968- 1969. Các môn học của năm thứ nhất là các môn khoa học căn bản như Động Vật Học, Thực Vật Học, Vật Lý, Hóa Học, Giải Tích và Đại Số, Kinh Tế Đại Cương…Thầy Tôn Thất Trình dạy môn Nông Học Đại Cương cho năm thứ hai và dạy môn Kỹ Thuật Trồng Lúa cho năm thứ ba.

Niên khóa 1969- 1970, danh xưng Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc biến mất, danh xưng mới là Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp với 3 Trường Cao Đẳng Thủy Lâm, Trường Cao Đẳng Canh Nông, Trường Cao Đẳng Thú Y và Chăn Nuôi.

Từ 1959 đến năm 1969, tuy mang danh xưng Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc nhưng 3 Ban Lâm, Ban Nông và Ban Súc Khoa vẫn học riêng và thi riêng. Khi bầu bán Ban Đại Diện Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc vẫn chỉ có 01 phiếu. Sau khi trở thành Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp với 3 Trường Cao Đẳng thì Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp có được 3 phiếu bầu cho tổ chức Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn..

Tôi còn nhớ vào năm 1969, có 17 phiếu bầu của các Ban Đại Diện các phân khoa và các Trường Cao Đẳng tại Sài Gòn được phân bổ như sau: Viện Đại Học Sài Gòn có 8 phiếu bầu của 8 phân khoa Y, Nha, Dược, Kiến Trúc, Khoa Học, Sư Phạm, Văn Khoa và Luật Khoa, Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ có 4 phiếu của 4 Trường Cao Đẳng Điện Học, Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Cao Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng Hóa Học; Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp có 3 phiếu của 3 Trường Cao Đẳng Thủy Lâm, Canh Nông và Thú Y- Chăn Nuôi; Học Viện Quốc Gia Hành Chánh có 01 phiếu và phiếu thứ 17 thuộc về Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật (Ghi chú : những trường Cao Đẳng hệ 2 năm không có quyền đi bầu trong tổ chức Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, thí dụ như Trường Cao Đẳng Thương Mại, Trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật hay Trường Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc…)

Môn Nông Học Đại Cương và môn Kỹ Thuật Trồng Lúa rất quan trọng vì chiếm hệ số 5 cho nên tôi đặc biệt “luyện thi ráo riết”. Tôi lấy những “đề thi” của thầy Tôn Thất Trình từ khóa 7 (qua anh Lý Tửng), của khóa 8 (từ anh Nguyễn Văn Đô), từ khóa 9 qua 2 anh bạn Nguyễn Văn Thu và Nguyễn Đức Chí. So sánh và đối chiếu, tôi nhận ra có khoảng 10 câu, năm nào thầy Tôn Thất Trình cũng ra đề thi; đó là những câu hỏi thuộc về phần căn bản thiết yếu của bộ môn. Tôi soạn sẵn phần trả lời và chỉ tốn thì giờ để học “tủ” 10 câu hỏi này thôi.

Thời sinh viên năm thứ hai và năm thứ ba, tôi không có đi dạy ở trường tư, nhưng có tham gia vào nhóm quay roneo cho các sinh viên trường Luật và trường Y khoa, cho nên cũng thường hay vắng mặt. Trước ngày thi khoảng một tháng, tôi mượn cours ghi chép của 3 cô bạn đồng lớp là Ngô Cẩm Tú, Chung Thị Kim Liên và Ngô Bạch Yến (3 sinh viên này lúc nào cũng hiện diện, không có chuyện coupe cours đi xem cinema như tôi). Riêng cours ghi tay của Ngô Bạch Yến thì ưu việt hơn cả vì nếu đang giảng bài mà thầy Tôn Thất Trình bị ho thì Ngô Bạch Yến (có lẽ) ghi vào “thầy ho”). Cả 3 nếu ghi chép có nhấn mạnh giống nhau thì chắc chắn là thầy Tôn Thất Trình sẽ cho ra thi những chủ điểm mà thầy đã nhấn mạnh khi giảng dạy trên giảng đường.Chị Trần Kiều Nga đi du học New Zealand theo chương trình Colombo (chương trình giúp đỡ sinh viên các nước kém phát triển do Khối Thịnh Vượng Chung của Liên Hiệp Anh tài trợ); chồng chị Nga là anh Toại (cũng là du học sinh chương trình Colombo) tốt nghiệp Kỹ Sư Điện về nước thì chị cũng về theo, nên Ban Giám Đốc TTQGNN Sài Gòn xếp chị vào học năm thứ hai của khóa 10. Chị rất siêng năng và học giỏi nên đứng hạng nhất trong năm thứ nhì và năm thứ ba. Nhưng chị hết sức ngạc nhiên vì điểm thi của tôi của môn Nông Học Đại Cương và Kỹ Thuật Trồng Lúa thua chị không tới 01 điểm, điển hình là Kỹ Thuật Trồng Lúa chị được 18 điểm ½ và tôi được 17 điểm 3/4.

Tất cả mọi người đều biết là cách ra đề thi của thầy Tôn Thất Trình thì không có chuyện quay film hay copy ai được. Chị Nga nói với tôi là chị học quyển Kỹ Thuật Trồng Lúa 57 lần, nhưng tôi không nói cho chị biết cách học của tôi. Và chủ ý của tôi là chỉ cần đạt điểm lớn vào 2 môn có hệ số lớn, chứ còn những môn khác chỉ đạt trên mức tối thiếu một chút thôi. Do vậy, điểm trung bình toàn niên tôi thua chị Trần Kiều Nga xa (thực ra tôi chỉ cần đủ điểm để lên lớp để được hoãn dịch thôi)

Các chính trị gia và các nhà báo thường hay đặt vấn đề là tại sao VNCH là một quốc gia nông nghiệp mà luôn luôn phải nhập cảng phân bón urea chứ không lập nhà máy chế tạo phân bón urea ???. Thầy Tôn Thất Trình cả cười cho sinh viên chúng tôi hay rằng nhà máy chế tạo phân bón urea cũng là nhà máy chế ra chất Nitrogen (tức là có thể chuyển qua chế tạo chất TNT của thuốc nổ) cho nên không một nhà đầu tư nào dại dột bỏ ra cả trăm triệu dollars để lập ra một nhà máy như vậy vào một xứ xảy ra chiến tranh triền miên và đầy rẫy những khủng bố phá hoại của VC như xứ VNCH của chúng ta !!!Ghi chú của người viết : vào năm 1993, khi Mc Veight cho nổ hàng trăm kilogram bom tự chế từ urea đã phá sập federal building tại Oklahoma City tôi mới sực nhớ lời của thầy Tôn Thất Trình, Và FBI cũng chỉ cho phép điều này xảy ra chỉ có 01 lần duy nhất mà thôi : những lần sau, ai đó download cách chế tạo TNT bằng phân bón urea trên internet thì FBI sẽ theo dõi, sau đó nếu lại đi mua urea hàng trăm kilogram (mà lại không có làm chủ nông trại) thì sẽ bị cảnh sát tóm cổ ngay bãi đậu xe của Home Depot chớ cảnh sát không đợi hung thủ chở urea về tới nhà của y !!

Trong quyển sách Kỹ Thuật Trồng Lúa, thầy Tôn Thất Trình chỉ giảng phớt qua có 2 lần, đó là nếu nhiệt độ khí quyển thấp hơn 18 độ C thì hạt giống lúa ngưng tăng trưởng. Thầy Trình nói thêm là lãnh thổ VNCH từ Đà Nẵng vào Nam ít khi nào dưới 18 độ C nên ít ai chú ý điểm này. Tôi bị giam tại Trại Cải Tạo Bình Điền –Huế từ 1978 đến 1984 về tội vượt biên, Thượng Úy Nguyễn Văn Nghị (phụ trách kế hoạch sản xuất nông nghiệp của Trại) nhờ tôi cho ý kiến về việc gieo trồng lúa theo chỉ thị của Đảng Ủy Tỉnh Thừa Thiên. Lúc đó nhiệt độ chỉ có 12 độ C nên tôi nói tuyệt đối không gieo trồng gì hết cho đến khi nào nhiệt độ tăng quá 18 độ C. Sợ bị khiển trách vì bất tuân thượng lệnh, Thượng Úy Nghị hỏi tôi làm cách nào né tránh, tôi nói khi về họp tại Huế, ai ra lệnh gieo trồng thì phải ký vào văn bản ông mới tuân lệnh vì trời lạnh mà gieo lúa giống thì khi lúa giống bị chết thì căn cứ vào văn bản kẻ đó phải bồi thường thiệt hại. Kết quả: cấp trên của Thượng Úy Nghị không ai dám ký lệnh.

Trong quyển Nông Học Đại Cương, thầy Trình cũng viết về các phân bón hóa học cung cấp Nitrogen cho cây cỏ, đó là urea với hàm lượng 60% nitrogen và Nitrate Sulfure với hàm lượng chỉ có 24% chất nitrogen. Nitrate Sulfure dùng cho việc trồng rau hoa vì sulfure làm tăng phẩm chất của rau hoa, cho nên ở chợ Cầu Muối các rau trái từ Dalat chở về Sài Gòn bị hư thối, đống rác rau hoa có mùi hôi do acid sulfhydric (không phải acid sulfuric). Nitrate Sulfure cũng cần cho thuốc lá vì phân bón nitrogen cần cho các loại cây ăn lá, nhưng thuốc lá mà không có sulfure thì hút không cháy.

Thầy Tôn Thất Trình đùa là nếu cây thuốc lá chỉ bón urea không thôi thì thuốc lá đó sẽ trở thành “thuốc ngon không nói”. Thầy giải thích luôn là hút thuốc này phải hút liên tục, ngưng hút để nói chuyện, điếu thuốc sẽ bị tắt. Thượng Úy Nghị đưa văn bản hỏi tôi là về Huế đi nhận lãnh phân đạm nhưng họ nói là lãnh urea và phân muối diêm ông không biết là phải đi nhận lãnh loại nào (vì một số lớn dân chúng cũng gọi phân urea là phân muối diêm). Nhớ bài học của thầy Trình, tôi nói Thượng Úy Nghị đi lãnh urea cho việc trồng lúa, còn phân muối diêm để trồng thuốc lá cho 5 phân trại (mỗi phân trại phải trồng 01 hectare cây thuốc lá).

Sau khi hoàn tất năm thứ ba, tất cả các sinh viên phải chọn Ban, đó là Ban Nông Học, Ban Thủy Nông và Nông Cơ, Ban Ngư Nghiệp, Ban Kỹ Nghệ Biến Chế Nông Sản và Ban Kinh Tế. Khóa 10 của chúng tôi có 8 nữ sinh viên thì 6 cô chọn Ban Nông Học của Thầy Tôn Thất Trình, 01 cô chọn Ban Ngư Nghiệp và 01 cô chọn Ban Biến Chế Nông Sản. Những khóa 1, khóa 2, khoá 3, khoá 4, khóa 5 không có những ban chuyên môn như tôi vừa nêu. Khi Thầy Tôn Thất Trình làm Giám Đốc Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc vào khoảng năm 1965, chính Thầy mới đề xướng ra 5 ban chuyên môn như tôi vừa nêu.

Riêng 2 ban Nông Học và Ban Biến Chế Nông Sản vào năm thứ tư lại có nhiều môn học chung như là Kỹ Thuật Trồng Mía, Kỹ Thuật Trồng Bông Vải, Kỹ Thuật Trồng Thuốc Lá, Kỹ Thuật Trồng Dừa, Kỹ Thuật Trồng Đậu Phọng…Ban Kỹ Nghệ Biến Chế Nông Sản thì phải học những môn như Kỹ Thuật Nấu Đường, Kỹ Thuật Ép Hạt Bông Vải (dầu của hạt Bông Vải để chế ra bơ thực vật và margarine), Kỹ Thuật Ép Dầu Đậu Nành Và Ép Dầu Đậu Phọng, riêng dầu dừa thì để cung ứng cho kỹ nghệ làm xà bông. Thầy Tôn Thất Trình làm Tổng Trưởng trong chính phủ của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, sau khi thôi không làm Tổng Trưởng, thầy về làm Tổng Giám Đốc Nhà Máy Đường Quảng Ngãi. Và thầy định nghĩa thế nào là Sucrerie và Raffinerie như sau :

1/ Sucrerie là loại nhà máy ép cây mía, lóng lọc, chưng cất rồi ly tâm và kết tinh thành hạt (crystalisation và granulation). Thầy nhấn mạnh có khoảng hơn 150 loại đường nhưng chỉ có duy nhất Saccharose mới kết tinh thành hạt được mà thôi. Saccharose cũng chỉ có trong 2 loại cây, đó là mía và củ cải đường. Nhà máy Sucrerie (Tiếng Việt dịch là nhà máy đường) đạt tối đa 96% đường tinh chất, lọai đường do nhà máy Sucrerie sản xuất được bán để dân chúng dùng trực tiếp hay dùng trong kỹ nghệ làm bánh kẹo. Nhưng kỹ nghệ dược phẩm, kỹ nghệ sữa và kỹ nghệ thức uống không chấp nhận loại đường do nhà máy Sucrerie sản xuất, vì vậy đường từ nhà máy Sucrerie lại phải đưa qua nhà máy Raffinerie tinh lọc lại

2/ Raffinerie (tiếng Việt dịch là nhà máy lọc đường), Công Ty Đường Việt Nam có nhà máy Raffinerie ở Khánh Hội, chỗ đó sau này quá nhỏ hẹp nên sau này chỉ dùng làm văn phòng, còn Raffinerie xây dựng hoàn toàn mới trong Khu Kỹ Nghệ Biên Hòa, do hãng thầu Sumimoto của Nhật thực hiện, trị giá khoảng 150 triệu dollars thời 1971) Mùa hè đỏ lửa bắt đầu từ tháng 3 năm 1972 với các trận đánh lớn tại Quảng Trị, An Lộc, Kontum,chính phủ VNCH buộc phải ban hành Luật Tổng Động Viên để có nhân lực cung ứng cho các chiến trường. Tất cả nam sinh viên của khóa 10 sinh năm 1948 đều phải nhập ngũ vào tháng 5/1972 dù một số lớn chưa trình Luận Trình (Memoire) Trung Tâm QGNN yêu cầu quý vị giáo sư cho sinh viên thi cuối khóa để các trường Cao Đẳng có thế cấp Chứng Chỉ Tạm cho tất cả các sinh đã hoàn tất học trình.

Tôi gặp thầy Tôn Thất Trình ở hành lang trước văn phòng Trường Cao Đẳng Canh Nông vào tháng 7 /1972, thầy hỏi thăm về các nam sinh viên khóa 10, tôi nói các bạn từ 1948 về trước thì đã nhập ngũ rồi, đa số đang thụ huấn tại các quân trường Đồng Đế – Nha Trang, còn các sinh viên sinh năm 1949 và 1950 sẽ nhập ngũ vào đầu tháng 9/1972 dưới dạng sinh viên tốt nghiệp. Một số ít các bạn khác xin ghi danh ban Cao Học bên Đại Học Khoa Học (cô Mai Trần Ngọc Tiếng bảo trợ) để được tiếp tục hoãn dịch, một số khác đóng tiền để ghi danh tại Ban Cao Học Chính Trị Kinh Doanh trên lầu Thương Xá Tax cũng để được tiếp tục hoãn dịch. Thầy Tôn Thất Trình cho tôi hay thầy sinh năm 1929 nên thoát khỏi lứa tuổi mà Luật Tổng Động Viên quy định. Tôi cũng báo tin mừng cho thầy hay là Bác Sĩ Nguyễn Thành Hải – Giám Đốc Trung Tâm QGNN đồng ý cho các Giám Đốc các Trường Cao Đẳng cấp giấy Chứng Chỉ Tạm cho tất cả các sinh viên đã hoàn tất học trình và Bác Sĩ Trần Quang Minh đương kim Tổng Giám Đốc Tổng Nha Nông Nghiệp đã thu dụng cấp tốc để có thẻ công vụ trước ngày nhập ngũ hầu sau này xin được biệt phái (Sau này Bác Sĩ Trần Quang Minh còn đi xa hơn chuyện chúng tôi mong đợi, thay vì học xong khóa sĩ quan rồi mới xin biệt phái, Bộ Canh Nông đã can thiệp với Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm cho chúng tôi xuất ngũ về Bộ Canh Nông làm việc vì được hoãn dịch vì lý do công vụ)

Trong buổi nói chuyện đặc biệt này, tôi được thầy Tôn Thất Trình dạy về phương cách xử thế khi đi làm công chức. Xin ghi lại những điểm chính yếu như sau:

1/ Thầy nói tiếng Pháp politesse có xuất xứ từ động từ polir, có nghĩa là mài gọt dũa. Con người mới ra đời giống như viên đá còn nhiều góc cạnh, được lăn lộn, được mài dũa nhiều thì sẽ bớt được góc cạnh bén nhọn. Con người có politesse thì rất có ích cho việc giao tế để làm việc cùng nhau.

2/ Đại danh từ xưng hô lịch sự nhất là Tôi, không nên xưng Em, xưng Con, xưng Cháu nơi công đường, công sở. Ngôi vị thầy – trò, con –cháu…vẫn còn nhưng chỉ giới hạn trong phòng khách gia đình mà thôi. Gọi nhau bằng chức vụ là vì chúng ta là đại diện cho chính quyền, chúng ta là những viên chức hành chánh của chính phủ, dân chúng nhìn vào chúng ta dưới nhãn quan đó.

3/Ai là người dơ tay ra trước? Dù các anh nhỏ tuổi hơn, cấp bậc và chức vụ nhỏ hơn nhưng ở địa vị Chủ các anh phải dơ tay ra trước, thí dụ ông Thanh Tra đến Ty Sở của anh, dù nhiệm vụ đi thế nào đi nữa, anh vẫn ở vai Chủ và người kia vẫn chỉ ở vai Khách.

4/ Không được bắt tay bằng 2 tay, thông tục của người La Mã, bắt tay là có nghĩa là trong tay không có vũ khí và bình đẳng, do đó khi bắt tay thì mắt nhìn mắt, đứng thẳng, vai ngang vai. Nếu ta có kính trọng đối tượng kia thì sau cái bắt tay, gật đầu chào là đủ.

Thầy Tôn Thất Trình nói nhà trường và các vị giáo sư đã giảng dạy các sinh viên phương pháp làm việc (=hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hành động nào đó), nhưng khi ra làm việc các kỹ sư phải biết vận dụng trí óc rồi tìm được phương cách áp dụng ( =cách để giải quyết một khó khăn nào đó trong đời sống). Thầy Tôn Thất Trình đưa ra thí dụ năm 1967 – 1968, khi thầy đang làm Tổng Trưởng Bộ Canh Nông tuy thành công trong việc quảng bá Lúa Thần Nông 8 nhưng chưa đạt chỉ tiêu trồng lúa Thần Nông như Thầy mong muốn thì biến cố Tết Mậu Thân xảy ra. Trung Tướng Nguyễn Đức Thắng – nguyên Tổng Trưởng Bộ Xây Dựng Nông Thôn được bổ nhiệm về làm Tư Lệnh Quân Khu 4 và Quân Đoàn 4 thay thế Trung Tướng Nguyễn Văn Mạnh (về Bộ Tổng Tham Mưu giữ chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân). Trung Tướng Nguyễn Đức Thắng có thói quen dùng xe Jeep đi từ Cần Thơ xuống tận Cà Mau để thanh tra tình trạng an ninh của quốc lộ 4. Thỉnh thoảng vài tên du kích bắn sẻ vào đoàn xe nhà binh, nên ông ra lệnh cho các tiểu khu Phong Dinh, Ba Xuyên, Bạc Liêu, An Xuyên không cho nông dân trồng lúa 2 bên quốc lộ 4 (khoảng cách là 400 thước cho mỗi bên lề quốc lộ 4)

Lúc đó, kỹ sư Nguyễn Hoàng Long (Súc Khoa) làm Trưởng Ty Nông Nghiệp Ba Xuyên trình với Trung Tướng Nguyễn Đức Thắng là Bộ Canh Nông có Lúa Thần Nông 8 chỉ cao có 90 cm là thu hoạch trong 4 tháng, vì thấp như vậy nên du kích VC không thể có chỗ núp để bắn sẻ được. Trung Tướng Nguyễn Đức Thắng ký văn bản dọc theo quốc lộ 4 chỉ được phép trồng lúa Thần Nông 8 mà thôi (vì lý do an ninh). Sau đợt thu hoạch đầu tiên, nông dân thấy có lợi nên không những dọc theo quốc lộ 4 mà các vùng sâu và xa quốc lộ cũng xin lúa giống của Ty Nông Nghiệp về trồng. Bộ Canh Nông đã ban thưởng Chương Mỹ Bội Tinh hạng nhì cho Kỹ Sư Nguyễn Hoàng Long về thành tích nói trên.

Thầy Tôn Thất Trình đi du học Pháp về nước khoảng 1954 cùng thời với Hiệp Định Geneve 1954. Khi Thủ Tướng Ngộ Đình Diệm thành lập 2 Tổng Ủy Di Cư và Tổng Ủy Dinh Điền, thì tôi đã biết ông đảm nhậm chức vụ lớn trong Nội Các. Tôi không còn nhớ tên của vị Tổng Ủy Trưởng Dinh Điền, nhưng tôi biết chắc chắn vị 2 Phó Tổng Ủy Trưởng Dinh Điền là Kỹ Sư Nông Cơ Nguyễn Gia Hiến (phụ trách khai khẩn đất đai thành lập dinh điền) và vị Phó Tổng Ủy Dinh Điền thứ hai là Kỹ Sư Nông Học Tôn Thất Trình (phụ trách trồng trọt, canh tác và chăn nuôi cho các khu dinh điền).

Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã dành một kế hoạch để chiêu dụ nhân tài về nước, cho nên những vị như Kỹ Sư Trần Lê Quang, Kỹ Sư Trần An Nhàn, Kỹ Sư Tôn Thất Trình, Kỹ Sư Thái Công Tụng, Kỹ Sư Nguyễn Gia Hiến, bác sĩ Thú Y Vũ Ngọc Tân, bác sĩ Trần Đình Đệ, bác sĩ Trần Quang Đệ, Kiến Trúc Sư Ngô Viết Thụ, giáo sư Nguyễn Quang Trình, Tiến sĩ Dược Khoa Trần Ngọc Tiếng, Bác sĩ Y khoa Trần Ngọc Ninh, bác sĩ Y khoa Trần Vỹ…đều được chính phủ Ngô Đình Diệm xếp vào bậc lương Tham Vụ và đảm nhận những chức vụ quan trọng trong guồng máy chính quyền trung ương. Có lẽ nhờ được tiếp xúc với những môi trường có tầm vóc quốc tế nên thầy Tôn Thất Trình đã có những “viễn kiến“ rất đáng được kính nể (những vị khoa bảng về nước sau thầy Tôn Thất Trình 10 năm dù có kèn cựa và ghen tỵ với thầy Tôn Thất Trình nhưng không được ai mời ra làm Tổng, Bộ Trưởng hết cả). Đây cũng là nhận xét của Chánh Án Nguyễn Hữu Hùng- nguyên Tổng Trưởng Bộ Lao Động của chính phủ Nguyễn Cao Kỳ, và cũng là nhận xét của Luật Sư Nguyễn Hữu Hiệu nguyên là Chủ Tịch Ủy Ban Tư Pháp Định Chế của Hạ Nghị Viện nhiệm kỳ 1971-1975 (Luật Sư Nguyễn Hữu Hiệu làm Cố Vấn Pháp Luật của Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam của ông Trần Quốc Bửu từ năm 1960).

Năm 1970, thầy Tôn Thất Trình được bầu vào làm Giáo Sư trong Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục do Phó Tổng Thống Trần Văn Hương làm Chủ Tịch. Trong giờ ra chơi, thầy nói chuyện ngoài lề với một số sinh viên Khóa 10 về ý nghĩa của nhóm từ “Đại Học Khai Phóng” và ‘Khoa Học Ứng Dụng” (tới 50 năm sau -2020, tôi hỏi lại một số bạn của tôi thì không một ai nhớ một chút gì về buổi nói chuyện ngoài lề đó cả). Đây là ý kiến của thầy Tôn Thất Trình chứ không phải ý kiến của tôi vì thời điểm 1970 đang học năm thứ hai thì cá nhân người viết bài này không thể nào có nhận thức cao siêu như vậy:

*Đại Học Khai Phóng= là đại học tìm tòi và nghiên cứu những đường hướng mới, những quan niệm mới, những ý niệm mới. Vì bản chất của nhóm từ khai phóng nên các mục tiêu có thể đúng có thể sai và nếu có tìm được những cái mới thì không ai đặt vấn đề giá phí. *Đại Học Ứng Dụng : sau khi thử nghiệm và loại bỏ những cái sai, Đại Học Ứng Dụng phải dựa vào 3 tiêu điểm chính yếu : a) sản xuất nhanh nhất, b) sản xuất nhiều nhất, c) giá phí rẻ nhất.

Thế hệ của thầy Tôn Thất Trình từ ngoại quốc về nước phục vụ lúc mới 25 tuổi đời, đã cùng nhau xây dựng và đào luyện nhân tài hữu dụng cho đất nước, nhưng tôi chưa thấy ai vỗ ngực xưng tên tự phong là đỉnh cao trí tuệ, nhưng ước mơ của cựu Thủ Tướng Lý Quang Diệu mong rằng Singapore sẽ được ngang bằng với Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông đã là một phần thưởng quý giá mà các thành phần trí thức của VNCH rất đáng hãnh diện.

Tôi sang Hoa Kỳ năm 1989 và không có cơ hội để tiếp xúc với thầy Tôn Thất Trình, nhưng tôi biết thầy Tôn Thất Trình là con người phi chính trị, không đảng phái. Do đó, nếu gặp được thầy, tôi sẽ nói với thầy rằng 20 năm xây dựng VNCH (1955-1975) đã vượt xa VNDCCH. Còn nếu tính từ 1975 đến nay 2021 là 46 năm, miền Nam bị kiềm hãm bị ngăn chận, bị thuộc địa hóa mà vẫn lặng lẽ tiến bộ, miền Bắc dù có được đảng CS hỗ trợ một cách ưu ái vẫn không vượt qua nổi. Ngụy biện cho tình trạng sung túc của VNCH, bọn VC thường rêu rao là “phồn vinh giả tạo”, nhưng tôi phản bác lại rằng “miền Bắc đói nghèo thật sự “.

Xin mượn 2 câu thơ của Bác Sĩ Phạm Biểu Tâm để tiễn đưa thầy Tôn Thất Trình :Một trăm năm trước thì ta chưa có Một trăm năm sau thì có cũng như Không.Trân trọng kính chào

Nguồn: San José ngày 15 tháng 7 năm 2021; Trần Trung Chính đăng trên trang của anh Trần Văn Hảo, chủ bút trang Cựu SV Nông Nghiệp (Đại Gia Đình NÔNG LÂM MỤC SÚC), ngày đăng 22 tháng 7 lúc 09:34 

FAO headquarters in Rome

NHỮNG NGƯỜI VIỆT Ở FAO
Hoàng Kim

Tổ chức Lương Thực Nông nghiệp Quốc tế (FAO)  thật hoành tráng ! Bạn chỉ cần dạo qua một vòng trang viết này của FAO trên Face Book là đủ ngưỡng mộ. Đó là điểm kết nối tới website  http://www.fao.org nguồn thông tin chuyên ngành nông nghiệp chọn lọc hàng đầu của thế giới, kho tri thức mênh mông như biển cả cho bất cứ ai quan tâm đến nông dân, nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu, thầy giáo, khuyến nông viên, sinh viên và nhà nông. Thành tựu nông nghiệp Việt Nam trong thông tin toàn cầu nổi bật hơn hết là sản xuất và xuất khẩu lúa gạo. Câu chuyện “hột lúa và con cá”  là câu chuyện dài nhưng FAO không chỉ tôn vinh gạo Việt trong an ninh lương thực toàn cầu mà còn thể hiện ở sự tín nhiệm của FAO với chuyên gia cao cấp Việt Nam.

Giáo sư Tôn Thất Trình, tiến sĩ Trần Văn Đạt, tiến sĩ Nguyễn Văn Ngưu, phó giáo sư tiến sĩ Bùi Bá Bổng là những chuyên gia cao cấp tại FAO về sản xuất lúa gạo, là các diện mạo lớn của Việt Nam ở vị trí Chánh chuyên gia Tổng Thư ký của Ủy ban Lúa Gạo Quốc tế. Họ liên tục kế tiếp nhau giữ trọng trách chăm lo cho cây lúa hột gạo và chén cơm ngon của người dân. Từ câu chuyện “Giao ban cây lúa ở Viện Lúa” qua bốn đời Viện trưởng Luật Bổng Bửu Bảnh đến câu chuyện “Giao ban cây lúa ở FAO” của bốn đời Chánh chuyên gia Tổng Thư ký Ủy ban Lúa Gạo Quốc tế “Trình, Đạt Ngưu Bổng” là câu chuyện thú vị chuyển từ tầm nhìn cây lúa Việt Nam đến tầm nhìn cây lúa toàn cầu.

Cách mạng sắn Việt Nam đã được giới thiệu ở FAO năm 2000, FAO năm 2013 đã tôn vinh sắn là cây trồng tiềm năng ở thế kỷ 21, Việt Nam là điểm sáng đã đưa năng suất sắn lên bốn trăm phần trăm tại tỉnh Tây Ninh, và đúc kết bài học bảo tồn phát triển sắn. Báo cáo Cách mạng sắn tại Việt Nam tại Hội thảo sắn toàn cầu năm 2016 đã được công đồng Quốc tế đánh giá cao.

CHUYỆN THẦY TÔN THẤT TRÌNH
Hoàng Kim

Tôi noi theo dấu chân những thầy tôn kính Lương Định Của, Mai Văn Quyền, Tôn Thất Trình, Norman Borlaug để làm nhà khoa học xanh Cây Lương thực.

Thật may mắn cho tôi trong hơn mười năm cuối, tôi được về lại Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh dạy học môn Cây Lương thực, trọn con đường thầy nghề nông chiến sĩ. “Bao năm Trường Viện là nhà. Lúa ngô khoai sắn đều là thịt xương. Một đời người một rừng cây. Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng”. Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, Trường Đại học Nông Lâm Huế, Trường TH PT Lương Thế Vinh (Trường THPT số 1 Quảng Trạch) là nôi trưởng thành của tôi từ khi là sinh viên nông học, ra đi khoác áo lính cho sự thống nhất toàn vẹn Tổ Quốc, sau về làm nhà nghiên cứu nông học gần ba mươi năm và cuối cùng trở thành người thầy nghề nông. Thật hết sức thân thương khi mỗi ngày, tôi được gần gũi chiếc bàn kỷ vật thầy Tôn Thất Trình và gian phòng làm việc của Thầy với môn học Cây Lương thực. Di sản thầm lặng này đã giúp tôi cơ hội cao quý kể lại chuyện cổ tích người lớn, thầy Tôn Thất Trình, Hiệu trưởng 1964-1967, một thuyền trưởng Trường tôi. của một thời kỳ. Bài viết Chuyện thầy Tôn Thất Trình liên kết bàii “Thầy bạn là lộc xuân“. Tôi chưa được học thầy Trình nhưng cuộc đời, việc làm, trang sách và chiếc bàn kỷ vật của thầy mà tôi tiếp xúc hàng ngày ám ảnh tôi đến lạ. Thầy Tôn Thất Trình trong mắt tôi là người “sống nhân cách, dạy từ xa và chăm viết sách”. Trong bài “Thầy bạn là lộc xuân“ tôi đã giới thiệu đôi nét về thầy Tôn Thất Trình, nay xin được tích hợp về đây để bạn đọc khỏi mất công lục lại

THẦY TÔN THẤT TRÌNH DI SẢN

Giáo sư Tôn Thất Trình sinh ngày 27 tháng 9 năm 1931 ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (Huế), thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn Phước, hiện hưu trí tại Irvine, California, Hoa Kỳ Thầy đã có nhiều đóng góp thiết thưc, hiệu quả cho nông nghiệp, giáo dục, kinh tế Việt Nam.

Thầy Tôn Thất Trình làm giám đốc Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn giai đoạn 1964- 1967 (là tiền thân Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). theo bổ nhiệm của GS. Phạm Hoàng Hộ, tổng trưởng giáo dục đương thời, chỉ sau bác sỹ Đặng Quan Điện vài tháng (1).. Giáo sư Tôn Thất Trình đã hai lần làm Tổng Trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa năm 1967 và 1973, nguyên chánh chuyên viên,  tổng thư ký Ủy Ban Lúa Gạo Quốc Tế của FAO (Rome).

Thành tựu nổi bật của giáo sư trên lĩnh vực nông nghiệp bao gồm việc chỉ đạo phát triển đại trà năm 1967-1973 lúa Thần Nông (IR8…) nguồn gốc IRRI mang lại chuyển biến mới cho nghề lúa Việt Nam; Giáo sư trong những năm làm việc ở FAO đã giúp đỡ Bộ Nông nghiệp Việt Nam phát triển các giống lúa thuần thấp cây, ngắn ngày nguồn gốc IRRI cho các tỉnh phìa Bắc; giúp phát triển  lúa lai, đẩy mạnh các chưong trình cao su tiểu điền, mía, bông vải, đay, đậu phộng , dừa, chuối, nuôi cá bè ở Châu Đốc An Giang, nuôi tôm ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, nuôi cá măng ở Bình Định, nuôi tôm càng xanh ở ruộng nước ngọt, trồng phi lao chống cát bay, trồng bạch đàn xen cây họ đậu phủ xanh đất trống đồi trọc, trồng lại thông hai lá, ba lá ở Huế và ở Đà Lạt,  nuôi heo lai ba dòng nhiều nạc,  nuôi dê sữa , bò sữa, trồng rau, hoa, cây cảnh. Trong lĩnh vực giáo dục, giáo sư đã trực tiếp giảng dạy, đào tạo nhiều khóa học viên cao đẳng, đại học, biên soạn nhiều sách.  Giáo sư có nhiều kinh nghiệm và  đóng góp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và quan hệ quốc tế với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Pháp…

Tôi học gián tiếp Thầy qua sách báo và internet. Giáo trình nông học sau ngày Việt Nam thống nhất thật thiếu thốn. Những sách Sinh lý Thực vật, Nông học Đại cương, Di truyền học, Khoa học Bệnh cây , Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam … do tập thể hoặc chuyên gia đầu ngành phía Bắc biên soạn thời đó hiếm và quý như vàng. Cái khó khác cho thầy trò chúng tôi là thiếu kinh nghiệm thực tiễn của đồng ruộng phương Nam. Những bộ sách của thầy Trình như Cải Thiện Trồng Lúa 1965-66 (hai lần tái bản), Nông Học Đại Cương 1967 (ba lần tái bản), Mía Đường 1972 (hai lần tái bản), Cây Ăn Trái Có Triển Vọng 1995 (ba lần tái bản), Cây Ăn Trái Cho Vùng Cao 2004, … cùng với sách của các thầy Nguyễn Hiến Lê, Trần Văn Giàu, Phạm Hoàng Hộ, Lương Định Của, Lê Văn Căn, Vũ Công Hậu, Vũ Tuyên Hoàng, Đường Hồng Dật, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Mai Văn Quyền, Thái Công Tụng, Chu Phạm Ngọc Sơn, Phạm Thành Hổ … đã bổ khuyết rất nhiều cho sự học hỏi và thực tế đồng ruộng của chúng tôi. Sau này khi đã ra nước ngoài, thầy Trình cũng viết rất nhiều những bài báo khoa học kỹ thuật, khuyến học trên các báo nước ngoài, báo Việt Nam và blog The Gift.

Điều tôi thầm phục Thầy là nhân cách kẻ sĩ vượt lên cái khó của hoàn cảnh để phụng sự đất nước. Lúa Thần Nông áp dụng ở miền Nam sớm hơn miền Bắc gần một thập kỷ. Sự giúp đỡ liên tục và hiệu quả của FAO sau ngày Việt Nam thống nhất có công lớn của thầy Trình và anh Nguyễn Văn Đạt làm chánh chuyên gia của FAO. Blog The Gift là nơi lưu trữ những “tâm tình” của gíáo sư dành cho Việt Nam, đăng các bài chọn lọc của Thầy từ năm 2005 sau khi về hưu. Đa số các bài viết trên blog của giáo sư về Phát triển Nông nghiệp, Kinh Tế Việt Nam, Khoa học và Đời sống  trong chiều hướng khuyến khích sự hiếu học của lớp trẻ. Nhân cách và tầm nhìn của Thầy đối với tương lai và vận mệnh của đất nước đã đưa đến những đóng góp hiệu quả của Thầy kết nối quá khứ và hiện tại, tạo niềm tin tương lai, hòa giải và hòa hợp dân tộc”.

‘Thầy Trình di sản lắng đọng’, ‘Chiếc bàn của thầy Trình’, ‘FAO Trình Đạt Ngưu Bổng’, ‘Thầy Trình với lúa cá’, ‘Thầy Trình với The Gift’ là những mẫu chuyện chiêm nghiệm mà tôi thích trích dẫn và kể tại Các lớp học trên đồng .

THẦY TRÌNH VÀ THẦY CỦA

Chuyện này gợi cho tôi nhiều suy tư: Thầy Trình quý trọng thầy Của và thầy Của tìm đến ngay thầy Trình sau ngày Việt Nam thống nhất. Thầy Trình ra đi vì không thể ở lại nhưng sự ứng xử của thầy sau ngày ra đi là một bài học lớn. Thầy Của mất thật sớm, ngay cuối năm 1975, lúc Thầy mới 55 tuổi, còn rất nhiều khả năng cống hiến và chưa được hưởng không khí hoà bình bao lâu. Cuộc đời, số phận, nhân cách và cống hiến của hai người Thầy nghề nông vượt lên khen chê và lắng đọng một di sản.

Sóc Trăng Lương Định Của tôi đã có 9 bài viết (Notes) gồm: Lương Định Của con đường lúa gạo,  Lương Định Của cuộc đời và sự nghiệp; Lương Định Của quê hương và dòng họ;  Lương Định Của những năm tháng tuổi trẻ; Lương Định Của luồng gió từ Hà Nội; Lương Định Của nhà bác học nông dân;  Lương Định Của chính khách giữa lòng dân; Thầy bạn và học trò Lương Định Của;  Ông bà Của cổ tích giũa đời thường. Trong số này thì Lương Định Của luồng gió từ Hà Nội; liên quan thật nhiều chuyện thầy Trình và thầy Của, mà nay tôi muốn trích dẫn đôi điều về tình bạn tuyệt vời ấy.

Chuyện kể rằng năm 1952, giáo sư Lương Định Của lúc ấy đã đạt được học vị bác sĩ ở Nhật Bản. Đó là một danh vị thực chất cao quý thời đó mà sau này ông kiên quyết từ chối mọi danh xưng tiến sĩ mà người đời khoác cho.  Thầy Lương Định Của đạt được học vị cao, có công ăn việc làm,  vẫn nghĩ tới việc về nước phục vụ, kịp trước khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi hoàn toàn. Luồng gió từ Hà Nội đã thôi thúc ông hướng về Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đang tạo lập. Ông từ chối các cơ hội đi Mỹ, IRRI để tìm cách về nước tham gia kháng chiến nhưng “Đường về Việt Bắc xa xôi lắm!”. Sau nhiều nỗ lực móc nối, chờ đợi, xoay đường này cách khác, Ông đã đưa cả gia đình về Sài Gòn, làm việc một thời gian ngắn ở Viện Khảo cứu Nông nghiệp Sài Gòn, Bộ Canh Nông (nay là Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam), sau đó quá cảnh bưng biền và đầu năm 1954 cả nhà cùng lên một chuyến tàu tập kết ra Bắc

Nhà báo Phan Quang kể câu chuyện Kỷ niệm đời thường về nhà khoa học Lương Định Của đã cho hay: “Hồi còn là sinh viên, ông đã cùng nhiều lưu học sinh Nhật và nước ngoài trong đó có Đặng Văn Ngữ, tham gia các cuộc biểu tình tuần hành phản đối thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Theo như ông còn nhớ, ít nhất có bốn cuộc lớn, ba lần ở Tokyo, và một lần ở Kyoto. Hoạt động chống chiến tranh Việt Nam có thuận lợi là Đảng Cộng sản Nhật Bản hết lòng ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân ta. Nhiều Việt kiều ở Nhật nhờ thông qua Đảng Cộng sản Nhật Bản hoặc các tổ chức nhân dân do Đảng lãnh đạo mà giữ được mối liên hệ liên tục với phong trào kháng chiến trong nước.

Qua sự giới thiệu của một người bạn, một mặt Lương Định Của tiếp xúc với các nghị sĩ tiến bộ trong Quốc hội Nhật, nhờ giúp đỡ tạo điều kiện cho ông sớm được trở về vùng tự do nước Việt Nam. Thượng Nghị sĩ Kazami được các bạn Nhật cử đứng ra lo liệu việc này. Mặt khác, Lương viết thư gửi Đại sứ quán ta ở Bắc Kinh bày tỏ mong muốn của mình, và chẳng bao lâu sau nhận được thư Đại sứ trả lời đã chuyển nguyện vọng của ông về nhà. Theo sự hướng dẫn của ông Kazami, mùa hè 1952 Lương Định Của xin thôi việc ở Kyoto, lên thủ đô Tokyo chờ ngày về nước.

Ông xin việc làm ở Sở Nghiên cứu Khoa học Nông nghiệp Trung ương của Nhật Bản để có thể thu nhập trong thời gian chờ đợi. Đầu những năm 50, sau chiến thắng biên giới, tình hình nước ta rất sôi động. Đảng Lao động Việt Nam đảm nhiệm công khai sứ mệnh lịch sử lãnh đạo toàn dân kháng chiến. Mặt trận Liên Việt thành lập, giương cao ngọn cờ đại đoàn kết. Các vùng tự do được giữ vững. Chiến tranh nhân dân phát triển mạnh ở vùng sau lưng địch.

Thực dân Pháp ý thức rõ, tiến hành phá hoại kinh tế, gây nạn đói kém, cắt nguồn hậu cần của Quân đội Nhân dân Việt Nam là một mặt trận có ý nghĩa chiến lược đối với thành bại của chúng trong chiến tranh.Thông tri của tướng De Linarès, tư lệnh chiến trường Bắc Bộ gửi các cấp dưới đề ngày 14-3-1951 hướng dẫn cụ thể như sau:

“… Về phá hoại, có hai cách thực tế có thể áp dụng: a) làm ướt thóc hoặc bắt dân phải để thóc lúa ngoài trời trong mùa mưa ẩm. Tuy nhiên, để chắc chắn hạt gạo sẽ thối hẳn, phải dấp nước cho ướt thóc trong thời gian bốn mươi tám giờ. Ngoài ra, để cho sự phá hoại bảo đảm hiệu quả chắc chắn của nó, trong thời gian ấy, phải canh giữ không để cho dân chúng đến lọc lấy phần thóc còn tốt mang đi cất giấu; b) những kho thóc quan trọng nào phát hiện được, cho tưới xăng hoặc dầu nặng vào…” .

Tháng Chín năm 1952, ông Kazami báo cho Lương Định Của biết, có một tàu buôn Nhật Bản sắp sang Hồng Công rồi từ đó đến thành phố Thiên Tân của Trung Quốc. Ông đề nghị Lương đáp chuyến tàu ấy. Vào được Trung Quốc rồi thì rất dễ dàng về Việt Bắc vì biên giới Việt Trung đã thông, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã kiến lập quan hệ ngoại giao; giữa hai nước có tình hữu nghị sâu sắc. Ông nói đã nhờ Hội Hoa kiều tại Nhật Bản làm các thủ tục cần thiết cho gia đình Lương nhập cảnh Trung Quốc, ông cũng đã có liên hệ để thông báo với Chính phủ Việt Nam về chuyện này.

Lương Định Của vào Hồng Công, đến biên giới Cửu Long trình giấy giới thiệu của Hội Hoa kiều tại Nhật Bản. Biên phòng Trung Quốc cho biết chưa nhận được chỉ thị. Các bạn khuyên Lương nên trở lại Hồng Công lấy visa nhập cảnh. Hành lý có thể cho chuyển trước sang biên giới, đưa về thành phố Quảng Châu. Vài hôm nữa gia đình Lương đến thì có thể vào Trung Quốc, đến thẳng Quảng Châu luôn.

Trở lại khách sạn, Lương tìm cách liên hệ với Đại sứ quán ta ở Bắc Kinh, vừa gọi điện thoại vừa gửi thư song chờ mãi không thấy hồi âm. Tiền túi cạn dần: phòng trọ khách sạn rất đắt. Hàng ngày bà Của xuống phố mua bánh mì cho cả nhà ăn. Lúc này mới thấy hết bản lĩnh của người phụ nữ ấy. Ông lo cuống lên, bà chỉ cười: “Không sao, để tính xem”. Về đến Việt Nam ông thú thật với bạn bè, nếu không có bà thì với hai đứa con nhỏ, ông chẳng biết đường nào xoay xở trong những ngày quá cảnh Hồng Công. Thái độ bình tĩnh và đầy thông cảm của bà có tác dụng trấn an ông.

Sau một tuần chờ đợi trong lo âu, xuất hiện một người lạ mặt ăn mặc sang trọng. Ông nói: nếu Lương có giấy giới thiệu của Ngân hàng Trung Hoa thì ông có thể giúp cho qua biên giới. Lương Định Của chẳng có giấy tờ gì khác ngoài thư giới thiệu của Hội Hoa kiều tại Nhật Bản. Người lạ mặt khuyên, nếu vậy thì nên theo ông về Macao, ở nhờ nhà con trai ông một thời gian, chờ xin phép nhập cảnh.

Hồng Công là điểm quá cảnh, khách không được phép ở lại lâu. Lương Định Của hết sức phân vân. Người này ông chưa từng quen biết. Trong túi ông lại không có tiền, trừ gói hạt giống dưa. Đến áo quần thay hằng ngày cũng không có đủ vì các valy đã gửi hết vào Trung Quốc rồi.

Ông quyết định hẵng trở về Sài Gòn, rồi tìm cách ra vùng tự do sau. Ông đánh điện cho một người bạn ở Sài Gòn, báo tin mình đang trên đường về nước, đến Hồng Công thì mất hết đồ đạc, nhờ bạn đặt mua vé máy bay cho hai người lớn hai trẻ con, và cho vay tạm hai nghìn USD.

Ngay chiều hôm ấy, nhận được ngân khoản người bạn gửi đến thông qua một ngân hàng lớn. Có tiền, có vé trong tay, ông còn nấn ná lại thành phố này ba tuần nữa, hy vọng có tin tức Đại sứ quán ta tại Bắc Kinh. Cuối cùng hết hạn quá cảnh mới đáp máy bay về Sài Gòn.

Chính quyền Sài Gòn nồng nhiệt đón bác sĩ nông học Lương Định Của du học từ Nhật Bản về. Bộ trưởng Nông Lâm mời ông đến cơ quan, mở rượu whisky chúc mừng, và ngỏ ý mời ông làm thứ trưởng. Lương tìm cách thoái thác khéo. Ông khiêm tốn nói mình xa đất nước đã lâu, xin cho làm việc hợp đồng một thời gian để quen thêm thung thổ và bạn bè, rồi mới dám chính thức nhận nhiệm vụ.”

“Gia đình ông sống cùng gia đình người em trong ngôi nhà ở Đa Cao. Em gái ông có chồng đi kháng chiến, thỉnh thoảng lại kiếm cớ vắng nhà. Ông biết chị ra bưng thăm chồng. Một hôm, vào ngày chủ nhật, ông đang ngồi chơi trước cửa thì thấy một người ăn vận có vẻ như vừa từ nông thôn ra, đi thẳng vào nhà sau nói chuyện với cô em gái. Khách về, Lương hỏi ai vậy, cô em trả lời: “Người ta muốn mời anh ra vùng kháng chiến đấy”. – Vậy em trả lời họ thế nào? Cô em cười: “Em nói, anh vợ con tùm lum thế kia thì làm sao đi kháng chiến được”. Lương Định Của lặng im, vì dự định từ Nhật Bản về thẳng miền Bắc không thành, ông không hề hé răng cho ai biết.

Hiệp định Genève về Đông Dương (1954) được ký kết. Trong giới trí thức Sài Gòn lại một lần nữa xôn xao – tuy thầm lặng – về việc ra đi hay ở lại. Nơi cơ quan Lương làm việc có một chị tên là B., em gái một bác sĩ nha khoa vốn là bạn của ông sau này cũng tập kết ra Bắc và cùng gặp lại nhau tại Hà Nội, có lần hỏi giọng nửa đùa nửa thật: “Nè, Chính phủ Việt Minh kêu gọi trí thức ra Bắc đấy, anh có đi không?”.

Lương nghiêm trang trả lời ông muốn đi. Chị B. bắt liên lạc, bố trí kế hoạch cho ông rời Sài Gòn. Chờ đợi một thời gian khá lâu mới có hồi âm. Lương Định Của nói với các em, ông muốn cho gia đình đi nghỉ mát ở Ô Cấp (Cap Saint Jacques – Vũng Tàu ngày nay) mấy hôm. Nửa đường, theo mật hiệu “cứ theo người có chửa mà đi”, ông đổi xe, đổi hướng, theo người phụ nữ ấy về thành phố Mỹ Tho. Từ đấy lại đổi xe khác, có người khác đón ra bưng biền.

Lương Định Của được nhà lãnh đạo Phạm Hùng tiếp ngay khi vừa đến cứ. Anh Bảy trò chuyện thân tình, và cho ông một bộ quần áo bà ba. Năm 1954, qua liên lạc biệt động, gia đình giáo sư gửi thư xin phép đi tập kết. Anh Hồng Việt kể lại: “Từ Sài Gòn, theo biệt động đưa về Cần Thơ, xuống căn cứ Cà Mau và đi tàu Ba Lan ra Sầm Sơn, Thanh Hoá. Ấn tượng đầu tiên là hưởng luôn một trận gió mùa đông bắc. Nhưng ngày hôm sau là 1.1.1955, gia đình được chứng kiến ngày lễ tưng bừng”.

Luồng gió từ Hà Nội là bước ngoặt của nhà nông học Lương Định Của.

Theo hồi ức của thầy Phan Gia Tân, giảng viên Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, thì sau ngày Việt Nam thống nhất 30.4.1975, giáo sư Lương Định Của đã đi tìm Giáo sư Tôn Thất Trình ở Trường Đại học Nông nghiệp Sài Gòn (nay là Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh). Thầy Của tiếc không gặp được thầy Trình vì thầy đã ra đi trước đó.

Tấm lòng tri ngộ của họ là dấu ấn “biết mình, biết người” của hai trí thức lớn…

CHIẾC BÀN KỶ VẬT THẦY TRÌNH

Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh có di sản biểu tượng là tòa nhà chữ U (nay gọi là tòa nhà Phượng Vĩ) do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế. Trong tòa nhà chữ U này có chiếc bàn của thầy Tôn Thất Trình ở lầu 1 tại Phòng Cây Lương thực Rau Hoa Quả thuộc Khoa Nông học. Đây cũng là phòng cuối nối liền gần gũi nhất với khu Thư Viện (cũ). Tầng dưới của Thư Viện là Hội Trường Lớn. Góc phải đầu nhà chữ U nay còn bảng đồng lưu danh Kiến Trúc Sư Ngô Viết Thu là Khôi Nguyên La Mã.

Viện Khảo cứu Nông Lâm Đông Dương được thành lập ngày 2 tháng 4 năm 1925 tại Sài Gòn là Viện nghiên cứu khoa học nông lâm nghiệp đầu tiên và duy nhất tại Đông Dương, nay là Viện Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam là nơi thầy Tôn Thất Trình có nhiều năm làm việc ở đấy. Thầy Trình đã tham gia dự án thực hiện hợp tác nghiên cứu lúa với Đài Loan giai đoạn 1950-1957, gồm các ông Trương Văn Hiếu, Phạm Huy Lân, Tôn Thất Trình, Trần Thiện Tín, Trần Bình Cư, Đoàn Kim Quan. Hai tác giả Bùi Minh Lương, Tôn Thất Trình, Tổng Nha Canh Nông đã biên soạn sách “Đất Nông nghiệp Việt Nam” – Bắc Kontum (1959) rất công phu.

Thầy Tôn Thất Trình làm Hiệu Trưởng Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn từ năm 1964 đến năm 1968. Trước thầy Trình là thầy Đặng Quan Điện (1962-1964). Tiền thân Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn là Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao Bảo Lộc (1955-1962), Hiệu trưởng đầu tiên là thầy Vũ Ngọc Tân (1955-1958),và thầy Phan Lương Báu (1958-1962). Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn sau này được thay thế bằng Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp Sài Gòn (1968-1972), Học Viện Quốc Gia Nông nghiệp Sài Gòn (1972-1974) và  trở thành Trường Đại học Nông nghiệp trực thuộc Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (1974 -1975)  do thầy Lê Văn Ký làm Hiệu trưởng (1974-1975).

Giáo sư Tôn Thất Trình vẫn trực tiếp giảng dạy môn cây lương thực cho dù hai lần Thầy làm Tổng Trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa năm 1967 và 1973, tên Trường thay đổi nhiều lần và xã hội quá nhiều biến động. Chiếc bàn to quá khổ (dài 1,8m rộng 1,2m, gỗ tốt, chắc, nặng, nằm ở phòng cuối góc bên phải của khối nhà. Cái bàn này có lẽ vì quá to và nặng, không dễ mang ra khỏi cửa, phòng lại là góc khuất làm việc dạy học của người thầy “full professer” (giáo sư) Hiệu trưởng đầu tiên, mà phòng không phải ở tâm điểm chính diện phong thủy, nên nơi này và chiếc bàn này 40 năm qua có lẽ vì vậy mà rất ít thay đổi chỉ mấy lần tách nhập Bộ môn.

Chuyện tôi được may mắn về phòng này và được nghe kể lại là một câu chuyện dài …

THẦY TRÌNH NGÀY RA ĐI

Khi thời cơ lịch sử thống nhất Việt Nam xuất hiện, ngày 7 tháng 4 năm 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ Tổng Hành Dinh Hà Nội đã phát đi mệnh lệnh tác chiến nổi tiếng đến toàn mặt trận “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!”. Năm cánh quân lớn của lực lượng giải phóng đã nhanh chóng áp sát gần thành phố. Ngày 29 tháng 4 năm 1975 Chiến dịch Gió lốc (Cuộc hành quân Frequent Wind) Những người Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam. Cũng ngày này, Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh chiếm đảo Trường Sa từ Quân lực Việt Nam Cộng hòa, hoàn thành tiếp quản các đảo thuộc quần đảo Trường Sa do Việt Nam Cộng hòa chiếm giữ. Sài Gòn trước ngày thất thủ hoảng loạn cực độ.  Trừ một số quan chức và tướng lĩnh cao cấp có điều kiện và thế lực đã kiếm cớ rời đi trước đó. Số còn lại hoang mang tính toán. Nhiều người bỏ nhiệm sở lánh lo việc riêng. Thầy Tôn Thất Trình làm gì trong ngày này? Theo lời kể của thầy Phan Gia Tân thì giáo sư Tôn Thất Trình vẫn đến trường trước ngày Sài Gòn sụp đổ.

Chặng đường lịch sử 90 năm (1925 – 2015) của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (Bùi Chí Bửu, Đào Huy Đức, Trần Thị Kim Nương và cộng tác viên 2015) và Kỷ yếu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh 60 năm (1955- 2015) xây dựng và phát triển (Dương Duy Đồng, Bùi Xuân Nhã, Nguyễn Phú Hòa, Bùi Văn Miên và cộng tác viên)  ghi nhận rằng: Trường Cao Đằng Nông Lâm Súc Sài Gòn (1962-1968) thầy Tôn Thất Trình đã làm Hiệu trưởng năm 1964-1967 sau bác sĩ thú y Đặng Quan Điện (1962- 1964). Thầy Tôn Thất Trình làm Tổng trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa lần thứ nhất năm 1967. Thầy cũng kiêm nhiệm Giám đốc Nha Khảo cứu và Sưu tầm Nông Lâm Súc (thông tin đang kiểm chứng) và thầy làm Tổng Ủy Trưởng Kế Hoạch cuối năm 1968 đến cuối năm 1969 thì giải nhiệm. Thầy Trình được Hội Đồng Giảng Huấn Cao Đẳng Nông Lâm Súc bầu làm giáo sư hạng nhất và được Bộ Giáo Dục Quốc Gia nền đệ nhị Cộng hòa bổ nhiệm giáo sư chính thức. Năm 1973 thầy nhận chức Tổng trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa lần thứ hai nhưng Thầy Trình vẫn làm  giáo sư ở Trường Đại Học Nông nghiệp thuộc Viện Đại Học Thủ Đức (1974-1975) Thầy dạy Cây Lương thực, Nông học Đại cương, Mía Đường và Cây ăn trái. Trường Đại Học Nông nghiệp lúc đó do thầy Lê Văn Ký (1974-1975) làm Hiệu trưởng.

Anh Vo Hoang Nguyen có trao đổi rằng Giảng đường 45 Cường Để đẹp và vui hơn. Trong khi anh Nguyễn Huệ Chí Thái thì đánh giá việc hình thành Viện Đại Học, Làng Đại Học và di chuyển Trường từ 45 Cường Để lên Thủ Đức là thể hiện tầm nhìn của các Hiệu trưởng thưở ấy. Tôi đồng tình với nhận định của anh Nguyễn Huệ Chí Thái và trở lại hồi ức Thầy Tôn Thất Trình ngày ra đi

Thầy Phan Gia Tân kể: “Thầy Tôn Thất Trình gọi tôi lên. Thầy rất thương tôi. Thầy hỏi: Cậu tính sao? (đi hay ở?). Thầy Tân xin ý kiến thầy Trình. Thầy nói: Gia cảnh và năng lực cậu vậy. Cậu ráng ở lại làm thầy là được. Thầy thì chắc không ở lại nổi vì đến hai lần làm Tổng trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa (Thời nay, có nghĩa là hai lần làm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT – Hoàng Kim chú giải), lại là dòng họ Nguyễn Phúc (Hoàng tộc) rồi lại làm Hiệu trưởng của Trường này với hàm Giáo sư gốc.  Sự dính líu với chế độ cũ sâu thế, làm sao yên mà dùng. Hãy coi gương cách mạng Nga xử sạch nhà và thân tín  Nga hoàng Nikolai II  còn có sót ai đâu?”. Thầy trầm tư lâu, thật lâu. Tôi cứ ngồi yên vậy không dám hỏi. Thốt nhiên, thầy vỗ bàn và tôi nghe một câu nói buồn thẳm: Chúng nó chạy hết rồi! Sau đó, thầy Trình đứng dậy, lầm lũi về. Ít hôm sau ngày Việt Nam thống nhất 30.4.1975, giáo sư Lương Định Của đã đi tìm Giáo sư Tôn Thất Trình ở Trường Đại học Nông nghiệp Sài Gòn (nay là Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh), có gặp tôi (thầy Phan Gia Tân). Thầy Của tiếc không gặp được thầy Trình vì thầy đã ra đi trước đó”.

Thầy Trình đi đâu? Trong cơn lốc của các sự biến thầy Trình không đi Pháp, không đi Mỹ, cũng chẳng sang Đài Loan Trung Hoa Dân Quốc, cũng không đi Nhật  là những nơi thầy có nhiều mối quan hệ từ trước mà đi sang FAO (Roma). Giáo sư Tôn Thất Trình đã làm Tổng Thư ký Chương trình lúa gạo toàn cầu và bằng uy tín chuyên môn của mình trong những năm làm việc ở FAO đã giúp đỡ Bộ Nông nghiệp Việt Nam phát triển các giống lúa thuần thấp cây, ngắn ngày nguồn gốc IRRI cho các tỉnh phìa Bắc; giúp phát triển  lúa lai, đẩy mạnh các chưong trình cao su tiểu điền, mía, bông vải, đay, đậu phộng , dừa, chuối, nuôi cá bè ở Châu Đốc An Giang, nuôi tôm ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, nuôi cá măng ở Bình Định, nuôi tôm càng xanh ở ruộng nước ngọt, trồng phi lao chống cát bay, trồng bạch đàn xen cây họ đậu phủ xanh đất trống đồi trọc, trồng lại thông hai lá, ba lá ở Huế và ở Đà Lạt,  nuôi heo lai ba dòng nhiều nạc,  nuôi dê sữa , bò sữa, trồng rau, hoa, cây cảnh.

FAO TRÌNH ĐẠT NGƯU BỔNG

Giáo sư Tôn Thất Trình, tiến sĩ Trần Văn Đạt, tiến sĩ Nguyễn Văn Ngưu, phó giáo sư tiến sĩ Bùi Bá Bổng là những người Việt ở FAO (Tổ chức Lương Thực Nông nghiệp Quốc tế. FAO Bốn người Việt ở FAO đều nguồn gốc từ Khoa Nông Học Trường Đại Học Nông Lâm Hồ Chí Minh ngày nay. FAO quá danh tiếng gắn với tên bốn người thầy thành một chùm tên năm chữ mà các thầy bạn nước ngoài hay gọi làm tăng thêm sự thân thiết quý trọng chứ không làm giảm sự tôn kính. Tôi đã đến FAO Rome năm 2000 trong hội thảo của FAO về tầm nhìn toàn cầu cây sắn. Tôi nhớ mãi sự thân tình của tiến sĩ Trần Văn Đạt đối với tôi những ngày tại đó. Thầy Tôn Thất Trình, tiến sĩ Trần Văn Đạt và tiến sĩ Nguyễn Văn Ngưu nay đều đã nghỉ hưu. PGS. TS. Bùi Bá Bổng hoàn thành nhiệm vụ Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt Nam (2001-2013) từ ngày 3 tháng 11 năm 2013 sau đó làm chuyên gia cao cấp về sản xuất lúa gạo tại FAO- RAP trước khi nghỉ hưu. Anh Bùi Bá Bổng học khóa 13 cùng tuổi với anh Bùi Chí Bửu, Diệp Kỉnh Tần, Đào Tấn Lộc, Dương Văn Chín … và chúng tôi tương đương tuổi tác cũng như lớp học với các anh Trần Văn Minh, Vũ Mạnh Hải, Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Hữu Bình, Lê Xuân Đính, Đỗ Khắc Thịnh , Phạm Sĩ Tân, Nguyễn An Tiêm ở lớp chúng tôi Trồng trọt 4 (Khoa Nông Học) Trường Đại Học Nông nghiệp 2 Hà Bắc, tiền thân của Đại học Nông Lâm Huế sau này. (Tôi HK dường như là bạn chung khóa với các anh chị khóa 13-15 ở Trường mình, vì có thời gian 1971-1976 ở quân đội, từng học năm lớp TT4, TT10, Trường Đại Học Nông nghiệp 2 Hà Bắc và TT2A, TT2B, TT2C của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh)

Viện Lúa Việt Nam có câu chuyện thú vị Giao ban cây lúa của bốn đời Viện Trưởng gồm GS. Nguyễn Văn Luật, PGS. Bùi Bá Bổng, GS. Bùi Chí Bửu và TS. Lê Văn Bảnh thì ở FAO Rome cũng có sự Giao ban cây lúa của bốn đời Chánh chuyên gia, Thư ký Điều hành, Thư ký Kỹ thuật của Ủy ban Lúa Gạo Quốc tế, đó là GS. Tôn Thất Trình, TS. Trần Văn Đạt, TS. Nguyễn Văn Ngưu và PGS. TS. Bùi Bá Bổng. Một sự so sánh thật thú vị chuyển tầm nhìn từ tầm nền nông nghiệp quốc gia đến nền nông nghiệp toàn cầu.

Chúng ta tự hào về những người Việt lỗi lạc ở FAO,  những diện mạo lớn của con người Việt Nam hội nhập và đóng góp tài năng, nhân cách vào vị trí chăm lo hột gạo, chén cơm ngon cho người dân không chỉ ở Việt Nam mà cho Tổ chức Lương Nông Quốc tế. Đó là người Việt, hạt gạo Việt và con đường lúa gạo Việt Nam vươn ra thế giới.

Tôi đã kể câu chuyện Việt Nam con đường xanh, Trường tôi nôi yêu thương, Về Trường để nhớ thương; Một niềm tin thắp lửa, Sóc Trăng Lương Định Của , Thầy bạn là lộc xuân, Thầy bạn trong đời tôi, Những người Việt lỗi lạc ở FAO . Nay viết Chuyện thầy Tôn Thất Trình để kính tặng quý thầy cô giáo, các bạn sinh viên Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, gia đình Nông nghiệp và những người quan tâm.

Chuyện Thầy Tôn Thất Trình lắng đọng tâm huyết.

Trường tôi thấm sâu bài học lịch sử.

Ghi chú: Thầy Tôn Thất Trình trong Kỷ yếu NLU 65 năm (1) , 55 năm (2) và Khoa Nông học (3)

(1) KỶ YẾU 65 NĂM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH link tại https://kyyeunonglam.blogspot.com/2020/11/ky-yeu-65-nam-truong-ai-hoc-nong-lam.html Ban biên tập Kỷ yếu gồm: Ban chỉ đạo PGS TS Huỳnh Thanh Hùng Phó Hiệu trưởng phụ trách, Trưởng ban; PGS TS Nguyễn Tất Toàn Phó Hiệu trưởng Phó ban PGSTS Nguyễn Phú Hòa Trưởng phòng Quản lý NCKH Thành viên; Ban biên tập PGS TS Nguyễn Tất Toàn, Phó Hiệu trưởng, Trưởng ban; PGS.TS Nguyễn Phú Hòa, phòng Quản lý NCKH, Phó ban; PGS TS Nguyễn Trí Quang Hưng, phòng Quản lý NCKH, thành viên; PGS TS Phan Tại Huân, khoa Công nghệ Thực phẩm, thành viên; TS Nguyễn Thị Mai, khoa Khoa học, thành viên; TS Trần Văn Thịnh, khoa Nông học, thành viên; TS Nguyễn Ngọc Thùy, phòng Hợp tác Quốc tế, thành viên; ThS Võ Ngàn Thơ, phòng Quản lý chất lượng, thành viên, Lê Văn Sony Đoàn Thanh niên, thành viên ; Đinh thị Mỹ Loan, phòng Quản lý NCKH, thành viên; Tô Tấn Long, phòng Quản lý NCKH, thành viên.

PGS TS Huỳnh Thanh Hùng đã trang trọng viết LỜI GIỚI THIỆU

Năm 2020 là mốc thời gian quan trọng, đánh dấu chặng đường 65 năm xây dựng và phát triển của Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (1955-2020). Trong suốt hành trình đó, dù trải qua biết bao thay đổi, Nhà trường vẫn giữ vững vị thế và sứ mệnh của mình, từ một chiếc nôi nông nghiệp đã và đang phấn đấu trở thành một trường đại học nghiên cứu, đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực với chất lượng cao, có vị thế trong nước và quốc tế. Vị thế đó thể hiện bằng những kết quả xuất sắc về đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật nông lâm ngư nghiệp, chuyển giao công nghệ và hợp tác quốc tế.

Sứ mệnh lớn lao ấy đã được Thầy và Trò bao thế hệ của Nhà trường tiếp nối, nuôi dưỡng, giữ gìn, gầy dựng và vun đắp. Từ những mầm tri thức đầu tiên của các bậc tiền nhân gieo xuống, những thế hệ nối tiếp của Nhà trường đã và đang tiếp tục gìn giữ, bảo tồn và phát huy những thành quả đạt được. Nhờ đó, màu xanh Nông Lâm ngày càng vươn tỏa mạnh mẽ đi khắp mọi miền Tổ quốc, căng đầy sức sống, tỏa bóng mát cho thế hệ tương lai. Nó thể hiện bằng những đổi thay tích cực từ chất đến lượng, từ cơ sở vật chất, cảnh quan đến nguồn nhân lực ngày càng lớn mạnh, chất lượng đào tạo ngày càng nâng cao. Đó cũng là thành quả, là niềm tự hào, là tình thân, là sự kết nối của các thế hệ một lòng vì ngôi nhà chung mang tên Nông Lâm.

Trong bối cảnh mới, đứng trước những thách thức mới, trước yêu cầu đổi mới không ngừng, hội nhập quốc tế sâu rộng, trước sự cạnh tranh mạnh mẽ trong giáo dục, cán bộ, giảng viên, viên chức Nhà trường nhiều thế hệ vẫn luôn vững tin vào sứ mệnh ấy, vẫn không ngừng phấn đấu, nỗ lực vượt qua khó khăn, đóng góp cho sự phát triển chung của Nhà trường. Minh chứng sống động cho thành quả đó là sự khang trang hơn về cơ sở hạ tầng, sự hài hòa của kiến trúc cảnh quan, sự đồng lòng, quyết tâm và lớn mạnh của tập thể. Có thể nói, Nông Lâm ngày hôm nay đã khoác lên mình một diện mạo mới đẹp đẽ, văn minh và xứng tầm hơn. Diện mạo ấy thấm đẫm mồ hôi, ghi dấu công sức của một tập thể năng động, đoàn kết, nghĩa tình, là sự tiếp nối nền tảng vững chãi của thế hệ trước, sự đóng góp, hỗ trợ, đồng hành tích cực của bao thế hệ học viên, sinh viên, các cơ quan, đơn vị trong và ngoài nước cũng như sự quan tâm của lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, và cơ quan ban ngành các cấp.

Trân trọng những thành quả đã đạt được của các thế hệ cha anh đi trước, hướng đến những mục tiêu, nhiệm vụ cấp bách trong tương lai, những cơ hội đổi mới, sáng tạo trong bối cảnh tự chủ đại học và hội nhập quốc tế mạnh mẽ, Đảng ủy, Hội đồng Trường, Ban Giám hiệu cùng toàn thể cán bộ viên chức Nhà trường quyết tâm đoàn kết, đồng lòng giữ gìn truyền thống tốp đẹp, tiếp tục nỗ lực xây dựng Nhà trường trở thành trường đại học nghiên cứu, là nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu xã hội và hội nhập quốc tế, là địa điểm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nổi bật, coi đó vừa là cơ hội vừa là thách thức để tập thể lãnh đạo Nhà trường cải tổ toàn diện các mặt, nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh nhằm mang đến môi trường sáng tạo và tiệm cận quốc tế trong công tác giảng dạy, học tập, đào tạo và nghiên cứu khoa học

Nhân kỷ niệm 65 năm thành lập, Nhà trường xuất bản Kỷ yếu “65 NĂM KẾT NỐI VÀ PHÁT TRIỂN” để nhắc về truyền thống đáng tự hào, lưu giữ những kỷ niệm đẹp, trải lòng bao cung bậc cảm xúc và cũng để giới thiệu, tri ân những thành quả đã đạt được của thế hệ đi trước, ghi nhận những đóng góp, nỗ lực của thế hệ hôm nay trong tiến trình xây dựng và phát triển Nhà trường.

Thay mặt Đảng ủy và Ban Giám hiệu, tôi xin ghi nhận và trân trọng cảm ơn những đóng góp của các thế hệ viên chức, giảng viên, học viên, sinh viên cũng như sự giúp đỡ, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đối với Nhà trường trong suốt thời gian qua.

Tôi xin được bày tỏ niềm tin với truyền thống tốt đẹp, với nền tảng vững chắc của 65 năm qua, sự nghiệp giáo dục, đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ của Nhà trường sẽ không ngừng gặt hái những thành tựu mới, xứng đáng với niềm tin của xã hội và đất nước đã trao cho.

Cuối cùng, tôi xin kính gửi đến toàn thể Quý vị lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt. Rất mong và hân hạnh tiếp tục đón nhận sự hỗ trợ, đồng hành, hợp tác nhiều hơn nữa của tất cả Quý vị trong thời gian tới.

Trân trọng cảm ơn!


PGS.TS. Huỳnh Thanh Hùng
Phó Hiệu trưởng phụ trách
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
:

HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH QUA CÁC THỜI KỲ , bài viết của TS. Trần Đình Lý Phó Hiệu trưởng , trong tập Kỷ yếu này, tại mục nhân vật và sự kiện (từ trang 95 đến trang 134); đã viết: .

“Trong một trường đại học, Hiệu trưởng được ví như “thuyền trưởng” của một con thuyền. Mỗi một chính sách, chiến lược của Hiệu trưởng đưa ra mang tính quyết định đến sự tồn vong, hưng thịnh của Nhà trường. Trường đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh trải qua 65 năm hình thành và phát triển, với gần 20 thế hệ Hiệu trưởng ghi dấu thành quả sự phát triển của Nhà trường trong từng giai đoạn – luôn tự hào vì sự lớn mạnh của mình, ngày càng khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong nước và quốc tế”..

(2) Chuyện thầy Tôn Thất Trình là ghi chép nhỏ của Hoàng Kim về thầy Tôn Thất Trình, chuyện chi tiết rõ thêm ngoài kỷ yếu. Đây là những ghi chép cá nhân, chỉ có ít trích đoạn đã lưu tại kỷ yếu 65 năm và 55 năm khoa Nông học Tôi (HK) cảm phục, tâm đắc về nhân cách, trí tuệ, sự dạy và học của Thầy nên lưu lại Việc chép lại những ghi chú nhỏ (Notes) không nỡ quên này là noi theo sự học Lê Quý Đôn tinh hoa . .

The Gift Về GS Tôn Thất Trình, đã viết, Báo Chí và Tác phẩm: “Trước khi về hưu trí ở Irvine , Ca Li, Hoa Kỳ, đã bắt đầu cộng tác với tuần báo khoa học kỹ thuật Sài Gòn. Sau đó tuy chưa bao giờ trở về lại Việt Nam, tiếp tục cộng tác thêm với nguyệt san Hoa Lan Cây Cảnh Sài Gòn, viết bài cho các tạp chí Dòng Việt, Tiếng Sông Hưong, Đi Tới, Vietnamologica, Định Hướng, Nam Kỳ lục tỉnh Online, và đăc biệt là tạp chí Nông Nghiêp Hải Ngoại – Ca Li. Tuy rằng với các tuần san khoa hoc kỹ thuật, nhưng viết đủ thể loại về Khoa Học – Kỹ Thuật – Kinh tế – Phát Triển – Địa Danh… và dĩ nhiên đề tài Nông Nghiệp. Điều đáng lưu ý là trong khi viết hay tổng kết các bài từ báo chí ngoại quốc, GS Trình luôn luôn giữ tinh thần khách quan của một nhà khoa học kỹ thuật, có tính cách thông tin trung thực nhắm vào giới trẻ Việt Nam, không nghiêng bất cứ về một Tôn giáo, Chính trị, Chủ Nghĩa, Đảng Phái hay Thiên Kiến nào cả. Trong số sách đã xuất bản, đa số là Nông Nghiệp, các sách được chiếu cố nhiều nhất là: Nông Học Đại Cương 1967 (ba lần tái bản); Mía Đường 1972 (hai làn tái bản); Cải Thiện Trồng Lúa 1965-66 (hai lần tái bản) Cây Ăn Trái Có Triển Vọng 1995 (ba lần tái bản); Cây Ăn Trái Cho Vùng Cao 2004. (Theo tài liệu của GS Tôn Thất Trình)

(3) Thầy Tôn Thất Trình là Giáo sư thực thụ đầu tiên của Khoa Nông học.Trường NLU


KỶ YẾU KHOA NÔNG HỌC 65 năm thành lập Khoa mời vào đường link để xem chi tiết https://kyyeunonghoc.blogspot.com/2020/11/ky-yeu-ky-niem-65-nam-thanh-lap-khoa.html

(4) Cựu sinh viên Khóa 15 (1973) THAM DỰ KỶ NIỆM 65 NĂM KHOA NÔNG HỌC
https://www.facebook.com/chau.doannhat/posts/3550807504980087

(5)Thầy bạn là lộc xuân (Những bài viết có thông tin liên quan)

THẦY BẠN LÀ LỘC XUÂN
Hoàng Kim

Tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn thầy bạn dưới mái trường Nông Lâm thân thương và làm món quà nhỏ thân tặng cho các em sinh viên nghèo hiếu học nhân ngày Nhà giáo Việt Nam. Thầy, bạn là lộc xuân của đời tôi mà nếu thiếu sự động viên, giúp đỡ này thì tôi không thể có được hôm nay:“Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí.Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin” (1).

Về lại mái trường ta đã lớn khôn
Ai cũng có ước nguyện về trường. Tôi thấu hiểu vì sao thầy Đặng Quan Điện người Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn (tiền thân của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay) năm trước đã đề nghị cho Thầy được ghé thăm Trường trước khi Thầy đi vào chốn vĩnh hằng. Thầy Tôn Thất Trình, người hiệu trưởng thứ hai của Trường nay 80 tuổi đã viết blog The Gift (2) như một quà tặng trao lại cho lớp trẻ và viết hai  bài hột lúa (3), con cá (4) cho ngày Nhà giáo Việt Nam.  Thầy Lưu Trọng Hiếu với tình yêu thương gửi lại (5) đã hiến tặng toàn bộ tiền phúng viếng của Thầy cùng với số tiền gia đình góp thêm để làm quỷ học bổng cho Trường tặng những em sinh viên nghèo hiếu học. Ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng tặng học bổng cho sinh viên Đại học Nông Lâm gặp khó khăn học giỏi (6) vì tuổi thơ của anh nhọc nhằn không có cơ hội đến trường, khi thành đạt anh muốn chia sẻ để chắp cánh cho những ước mơ.

Tôi cũng là người học trò nghèo năm xưa với ba lần ra vào trường đại học, cựu sinh viên của năm lớp, nay tỏ lòng biết ơn bằng cách trở lại Trường góp chút công sức đào tạo và vinh danh những người Thầy người Bạn đã cống hiến không mệt mỏi, thầm lặng và yêu thương góp công cho sự nghiệp trồng người. Chừng nào mỗi chúng ta chưa thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa đủ mang lại niềm vui cho bữa ăn người nghèo thì chừng đó chúng ta vẫn còn phải dạy và học. Cái gốc của sự học là học làm người. Bài học quý về tình thầy bạn mong rằng sẽ có ích cho các em sinh viên đang nổ lực khởi nghiệp.

Quê tôi ở miền Trung nghèo khó “Nhà mình gần ngã ba sông/ Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình,/ Linh Giang (7) sông núi hữu tình / Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con/ Chèo thuyền cho khuất bến Son/ Để con khỏi chộ (thấy) nước non thêm buồn/ Câu thơ quặn thắt đời con/ Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ ”. Mẹ tôi mất sớm, cha bị bom Mỹ giết hại, tôi và chị gái đã được anh Hoàng Ngọc Dộ nuôi dạy cơm ngày một bữa suốt năm năm trời. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng (8) vận động thầy cô, bạn hữu chia sớt khoai sắn giúp đỡ. Tôi cũng dạy năm lớp vở lòng, ba lớp bổ túc văn hóa để vượt khó vươn lên. Thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết những lời xúc động trong trường ca tình thầy trò: “Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng” (9)  Những gương mặt thầy bạn đã trở thành máu thịt trong đời tôi.


Thi đậu vào Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc năm 1970, tôi học Trồng trọt 4 cùng khóa với các bạn Trần Văn Minh, Đỗ Thị Minh Huệ, Phan Thanh Kiếm, Đỗ Khắc Thịnh, Vũ Mạnh Hải, Phạm Sĩ Tân, Phạm Huy Trung, Lê Xuân Đính, Nguyễn Hữu Bình, Lê Huy Bá … cho đến ngày 02 tháng 9 năm 1971 thì tôi gia nhập quân đội cùng lứa với Nguyễn Văn Thạc. Đợt tuyển quân sinh viên trong ngày độc lập đã nói lên sự quyết liệt sinh tử và ý nghĩa thiêng liêng của ngày cầm súng. Chiến trường đánh lớn. Đơn vị chúng tôi chỉ huấn luyện rất ngắn rồi vào trận ngay với 81 đại đội vượt sông Thạch Hãn. Chiến dịch Quảng Trị năm 1972 sau này đã đi vào huyền thoại: “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm” (10) Tổ chúng tôi bốn người thì Xuân và Chương hi sinh, chỉ Trung và tôi trở về trường sau ngày đất nước thống nhất.  Những vần thơ viết dưới đây là xúc động sâu xa của tôi khi nghĩ về bạn học đồng đội đã khuất: “Trận chiến hôm qua bạn góp máu hồng. Lớp học hôm nay bạn không trở lại. Trách nhiệm trong mình nhân lên gấp bội. Đồng chí ơi, tôi học cả phần anh” (11)

Tôi về học tiếp năm thứ hai tại Trồng trọt 10 của Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc đến cuối năm 1977 thì chuyển trường vào Đại học Nông nghiệp 4, tiền thân Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Trồng trọt 2 thuở đó là một lớp chung mãi cuối khóa mới tách ra 2A,2B, 2C. Tôi làm Chủ tịch Hội Sinh viên thay cho anh Nguyễn Anh Tuấn khoa thủy sản ra trường về dạy Đại học Cần Thơ. Trồng trọt khóa hai chúng tôi thuở đó được học với các thầy cô: Nguyễn Đăng Long, Tô Phúc Tường, Nguyễn Tâm Đài, Trịnh Xuân Vũ, Lê Văn Thượng, Ngô Kế Sương, Trần Thạnh, Lê Minh Triết, Phạm Kiến Nghiệp, Nguyễn Bá Khương, Nguyễn Tâm Thu, Nguyễn Bích Liễu, Trần Như Nguyện, Trần Nữ Thanh, Vũ Mỹ Liên, Từ Bích Thủy, Huỳnh Thị Lệ Nguyên, Trần Thị Kiếm, Vũ Thị Chỉnh, Ngô Thị Sáu, Huỳnh Trung Phu, Phan Gia Tân, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Kế, … Ngoài ra còn có nhiều thầy cô hướng dẫn thực hành, thực tập, kỹ thuật phòng thí nghiệm, chủ nhiệm lớp như Bùi Cách Tuyến, Nguyễn Văn Kịp, Lê Quang Hưng, Trương Đình Khôi, Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Gia Quốc, Nguyễn Văn Biền, Lê Huy Bá, Hoàng Quý Châu, Phạm Lệ Hòa, Đinh Ngọc Loan, Chung Anh Tú và cô Thảo làm thư ký văn phòng Khoa. Bác Năm Quỳnh là Bí thư Đảng ủy đầu tiên của Trường sau đó là thầy Kiên và cô Bạch Trà. Thầy Nguyễn Phan là Hiệu trưởng kiêm Trưởng Trại Thực nghiệm. Thầy Dương Thanh Liêm, Nguyễn Ngọc Tuân, Võ Thị Tuyết, Ngô Văn Mận, Bùi Xuân An … ở khoa Chăn nuôi Thú y, thầy Nguyển Yên Khâu, Nguyễn Quang Lộc … ở khoa Cơ khí, cô Nguyễn Thị Sâm ở Phòng Tổ chức, cô Văn Thị Bạch Mai dạy tiếng Anh, thầy Đặng, thầy Tuyển, thầy Châu ở Kinh tế -Mác Lê …Thầy Trần Thạnh, anh Quang, anh Đính, anh Đống ở trại Trường là những người đã gần gũi và giúp đỡ nhiều các lớp nông học.

Thuở đó đời sống thầy cô và sinh viên thật thiếu thốn. Các lớp Trồng trọt khóa 1, khóa 2, khóa 3 chúng tôi thường hoạt động chung như: thực hành sản xuất ở trại lúa Cát Lái, giúp dân phòng trừ rầy nâu, điều tra nông nghiệp, trồng cây dầu che mát sân trường, rèn nghề ở trại thực nghiệm, huấn luyện quốc phòng toàn dân, tập thể dục sáng, hội diễn văn nghệ, thi đấu bóng chuyền, bóng đá tạo nên sự thân tình gắn bó. Những sinh viên các khóa đầu tiên được đào tạo ở Khoa Nông học sau ngày Việt Nam thống nhất hiện đang công tác tại trường có các thầy cô như  Từ Thị Mỹ Thuận, Lê Văn Dũ, Huỳnh Hồng, Cao Xuân Tài, Phan Văn Tự, …

Tháng 5 năm 1981, nhóm sinh viên của khoa Nông học đã bảo vệ thành công đề tài thu thập và tuyển chọn giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt được Bộ Nông nghiệp công nhận giống ở Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Toàn Quốc Lần thứ Nhất tổ chức tại Thành phố Hố Chí Minh. Đây là một trong những kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đầu tiên của Trường giới thiệu cho sản xuất. Thầy Cô Khoa Nông học và hai lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 cũng đã làm họ trai họ gái tác thành đám cưới cho vợ chồng tôi. Sau này, chúng tôi lấy tên khoai Hoàng Long để đặt cho con và thầm hứa việc tiếp nối sự nghiệp nghiên cứu khoa học và giảng dạy, một nghề nghiệp cao quý và lương thiện. “Biết ơn thầy cô giáo dịu hiền. Bằng khích lệ động viên lòng vượt khó. Trăm gian nan buổi ban đầu bở ngỡ. Có bạn thầy càng bền chí vươn lên. Trước mỗi khó khăn tập thể luôn bên. Chia ngọt xẻ bùi động viên tiếp sức. Thân thiết yêu thương như là ruột thịt. Ta tự nhủ lòng cần cố gắng hơn (11).

Bạn học chúng tôi vẫn thỉnh thoảng họp mặt, có Danh sách các lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 số điện thoại và địa chỉ liên lạc. Một số hình ảnh của các lớp ngày ấy và bây giờ.

Những bài học quý từ những người Thầy
Nhiều Thầy Bạn đã hun đúc nên nhân cách, niềm tin, nghị lực và trang bị kiến thức vào đời cho tôi, xin ghi lại một số người Thầy ảnh hưởng lớn đối với tôi và những bài học:

Thầy Mai Văn Quyền sống phúc hậu, tận tâm sát thực tiễn và hướng dẫn khoa học. Công việc làm người hướng dẫn khoa học trong điều kiện Việt Nam phải dành nhiều thời gian, chu đáo và nhiệt tình. Thầy Quyền là chuyên gia về kỹ thuật thâm canh lúa và hệ thống canh tác đã hướng nghiệp vào đời cho tôi. Những dòng thơ tôi viết trên trang cảm ơn của luận án tiến sĩ đã nói lên tình cảm của tôi đối với thầy cô: “Ơn Thầy (12). Cha ngày xưa nuôi con đi học. Một nắng hai sương trên những luống cày. Trán tư lự, cha thường suy nghĩ. Phải dạy con mình như thế nào đây? Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất. Cái chết giằng cha ra khỏi tay con. Mắt cha lắng bao niềm ao ước. Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng. Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy. Tương lai con đi, sự nghiệp con làm. Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ. Cha ngã xuống rồi trao lại tay con. Trên luống cày này, đường cày con vững. Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa. Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ. Thôi thúc tim con học tập phút giờ …”. Thầy Quyền hiện đã 76 tuổi, đang đào tạo trên đại học cho Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và nhiều Viện Trường khác. Tấm gương phúc hậu và tận tụy của Thầy luôn nhắc nhở tôi.

Thầy Norman Borlaug sống nhân đạo, làm nhà khoa học xanh và nêu gương tốt. Thầy là nhà nhân đạo, nhà nông học Mỹ cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và Tổng thống Mỹ trao tặng huân chương cao quý nhất của nước Mỹ, thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói. Thầy đã suốt đời nghiên cứu giảng dạy về chọn tạo và phát triển cây lương thực, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho hàng trăm triệu nông dân nghèo ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Thầy là người sáng lập Giải thưởng Lương thực Thế giới và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực thắp sáng niềm tin yêu cuộc sống. Tôi được Thầy ghé thăm gần trọn buổi chiều tại phòng riêng ở CIMMYT, Mexico ngày 29.8.1988. Thầy đã một mình ghé thăm người trò nhỏ duy nhất của châu Á trong lớp học “Quản lý Trung tâm/ Trạm trại Nông nghiệp”. Khi Thầy đến, tôi đang thắp nến trên giá sách trong phòng đề tưởng nhớ ngày cha mất. Biết cha tôi bị bom Mỹ giết hại tại làng nhỏ ở Quảng Bình của buổi chiều này hai mươi năm trước (1968) lúc tôi còn là học sinh trung học của Trường cấp Ba Bắc Quảng Trạch, Thầy bối rối xin lỗi và thật bất ngờ tôi đã có được một buổi chiều vô giá riêng tư bên Thầy. Lời Thầy dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao (13). Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm tiếng để đời”.  (14)

Thầy Tôn Thất Trình sống nhân cách, dạy từ xa và chăm viết sách. Giáo sư Tôn Thất Trình sinh ngày 27 tháng 9 năm 1931 ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (Huế), thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn Phước, hiện hưu trí tại Irvine, California, Hoa Kỳ đã có nhiều đóng góp thiết thưc, hiệu quả cho nông nghiệp, giáo dục, kinh tế Việt Nam. Thầy làm giám đốc Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn theo bổ nhiệm của GS. Phạm Hoàng Hộ, tổng trưởng giáo dục đương thời chỉ sau bác sỹ Đặng Quan Điện vài tháng. Giáo sư Tôn Thất Trình đã hai lần làm Tổng Trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa năm 1967 và 1973, nguyên chánh chuyên viên,  tổng thư ký Ủy Ban Lúa Gạo Quốc Tế của FAO (Rome). Thành tựu nổi bật của giáo sư trên lĩnh vực nông nghiệp bao gồm việc chỉ đạo phát triển đại trà năm 1967-1973 lúa Thần Nông (IR8…) nguồn gốc IRRI mang lại chuyển biến mới cho nghề lúa Việt Nam; Giáo sư trong những năm làm việc ở FAO đã giúp đỡ Bộ Nông nghiệp Việt Nam phát triển các giống lúa thuần thấp cây, ngắn ngày nguồn gốc IRRI cho các tỉnh phìa Bắc; giúp phát triển  lúa lai, đẩy mạnh các chưong trình cao su tiểu điền, mía, bông vải, đay, đậu phộng , dừa, chuối, nuôi cá bè ở Châu Đốc An Giang, nuôi tôm ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, nuôi cá măng ở Bình Định, nuôi tôm càng xanh ở ruộng nước ngọt, trồng phi lao chống cát bay, trồng bạch đàn xen cây họ đậu phủ xanh đất trống đồi trọc, trồng lại thông hai lá, ba lá ở Huế và ở Đà Lạt,  nuôi heo lai ba dòng nhiều nạc,  nuôi dê sữa , bò sữa, trồng rau, hoa, cây cảnh. Trong lĩnh vực giáo dục, giáo sư đã trực tiếp giảng dạy, đào tạo nhiều khóa học viên cao đẳng, đại học, biên soạn nhiều sách.  Giáo sư có nhiều kinh nghiệm và  đóng góp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và quan hệ quốc tế với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Pháp…

Tôi học gián tiếp Thầy qua sách báo và internet. Giáo trình nông học sau ngàyViệt Nam thống nhất thật thiếu thốn. Những sách Sinh lý Thực vật, Nông học Đại cương, Di truyền học, Khoa học Bệnh cây , Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam … do tập thể hoặc chuyên gia đầu ngành phía Bắc biên soạn thời đó hiếm và quý như vàng. Cái khó khác cho thầy trò chúng tôi là thiếu kinh nghiệm thực tiễn của đồng ruộng phương Nam. Những bộ sách của thầy Trình như Cải Thiện Trồng Lúa 1965-66 (hai lần tái bản), Nông Học Đại Cương 1967 (ba lần tái bản), Mía Đường 1972 (hai lần tái bản), Cây Ăn Trái Có Triển Vọng 1995 (ba lần tái bản), Cây Ăn Trái Cho Vùng Cao 2004, … cùng với sách của các thầy Nguyễn Hiến Lê, Trần Văn Giàu, Phạm Hoàng Hộ, Lương Định Của, Lê Văn Căn, Vũ Công Hậu, Vũ Tuyên Hoàng, Đường Hồng Dật, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Mai Văn Quyền, Thái Công Tụng, Chu Phạm Ngọc Sơn, Phạm Thành Hổ … đã bổ khuyết rất nhiều cho sự học hỏi và thực tế đồng ruộng của chúng tôi. Sau này khi đã ra nước ngoài, thầy Trình cũng viết rất nhiều những bài báo khoa học kỹ thuật, khuyến học trên các báo nước ngoài, báoViệt Nam và blog The Gift.

Điều tôi thầm phục Thầy là nhân cách kẻ sĩ vượt lên cái khó của hoàn cảnh để phụng sự đất nước. Lúa Thần Nông áp dụng ở miền Nam sớm hơn miền Bắc gần một thập kỷ. Sự giúp đỡ liên tục và hiệu quả của FAO sau ngày Việt Nam thống nhất có công lớn của thầy Trình và anh Nguyễn Văn Đạt làm chánh chuyên gia của FAO. Blog The Gift là nơi lưu trữ những “tâm tình” của gíáo sư dành cho Việt Nam, đăng các bài chọn lọc của Thầy từ năm 2005 sau khi về hưu. Đa số các bài viết trên blog của giáo sư về Phát triển Nông nghiệp, Kinh Tế Việt Nam, Khoa học và Đời sống  trong chiều hướng khuyến khích sự hiếu học của lớp trẻ. Nhân cách và tầm nhìn của Thầy đối với tương lai và vận mệnh của đất nước  đã đưa đến những đóng góp hiệu quả của Thầy kết nối giữa quá khứ và hiện tại, tạo niềm tin tương lai, hòa giải và hòa hợp dân tộc.

Thầy, Bạn  là lộc xuân của cuộc đời
Bill Clinton trong tác phẩm ‘Đời tôi’ (15) đã xác định năm việc chính quan trọng nhất của đời mình là muốn làm người tốt, có gia đình êm ấm, có bạn tốt, thành đạt trong cuộc sống và viết được một cuốn sách để đời. Ông đã giữ trên 30 năm cuốn sách mỏng “Làm thế nào để kiểm soát thời gian và cuộc sống của bạn” và nhớ rõ năm việc chính mà ông ước mơ từ lúc còn trẻ. Thầy quý bạn hiền là lộc xuân của cuộc đời. Tôi biết ơn mái trường thân yêu mà từ đó tôi đã vào đời để có được những cơ hội học và làm những điều hay lẽ phải.

Anh Bùi Chí Bửu tâm sự với tôi: Anh Bổng (Bùi Bá Bổng) và mình đều rất thích bài thơ này của Sơn Nam :
Trong khói sóng mênh mông
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Tay ôm đàn độc huyền
Điệu thơ Lục Vân Tiên
Với câu chữ
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả
Từ Cà Mau Rạch Giá
Dựng chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mờ như sương
Thân chưa là lính thú
Sao không về cố hương  ?

Anh Mai Thành Phụng vừa lo xong diễn đàn khuyến nông Sản xuất lúa theo GAP (17) tại Tiền Giang lại lặn lội đi Sóc Trăng ngay để kịp Hội thi và trình diễn máy thu hoạch lúa. Anh Lê Hùng Lân trăn trở cho giống lúa mới Nàng Hoa 9 và thương hiệu gạo Việt xuất khẩu. Anh Trần Văn Đạt  vừa giúp ý kiến “Xây dựng thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam” lại hổ trợ ngay bài viết mới (18).

Trường Đại Học Nông Lâm Thủ Đức đã trãi qua trên Nửa Thế kỷ Xây dựng và Phát triển kể từ ngày thành lập. Dưới mái trường thân yêu này, có biết bao nhà khoa học xanh, nhà giáo nghề nông vô danh đã thầm lặng gắn bó đời mình với nhà nông, sinh viên, ruộng đồng, giảng đường và phòng thí nghiệm. Thật xúc động và tự hào được góp phần giới thiệu một góc nhìn về sự dấn thân và kinh nghiệm của họ..

Hoàng Kim, GVC CÂY Lương thực 
Khoa Nông học, cựu sinh viên TT2-NLU

(bên chiếc bàn kỷ vật của thầy Tôn Thất Trình)

Bài đã đăng trong Kỹ yếu Khoa Nông học Kỹ niệm 55 năm ngày thành lập Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh trang 97-105.

thayoi

LỜI THẦY DẶN THUNG DUNG
Hoàng Kim


Mục đích sau cùng của DẠY VÀ HỌC là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và LÀM được việc. Lời Thầy dặn thung dung.

Việc chính đời người chỉ ít thôi.
Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi.
Phúc hậu suốt đời làm việc thiện.
Di sản muôn năm mãi sáng ngời

Biết đủ thời nhàn sống thảnh thơi
Con, em và cháu vững tay rồi
Đời sống an nhiên lòng thanh thản
Minh triết mỗi ngày dạy học vui.

Thung dung đời thoải mái
ban mai của riêng mình
giọt thời gian điểm ngọc
thanh nhàn khát khao xanh.

Học không bao giờ muộn

NGÀY NHỚ TRONG TIM TÔI

Mỗi gia đình đều có những ngày riêng để ghi nhớ. Ngày nhớ trong tim tôi là ngày mất của cha tôi 29 tháng 8 âm lịch.Với gia đình chúng tôi ngày này là một kỹ niệm không bao giờ quên. Lịch Vạn Niên ngày dương lịch có thể đổi thay nhưng ý nghĩa của sự kiện vẫn vậy. Ngày này cha tôi mất năm 1968 và thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết Bài ca Trường Quảng Trạch với những câu thơ đẫm nước mắt “Thương em cảnh gieo neo mẹ mất, lại cha già giặc giết hôm qua”. Hai mươi năm sau, ngày này năm 1988, tại phòng riêng của tôi ở CIMMYT Mexico, tôi bất ngờ được thầy Norman Borlaug, người đoạt giải Nobel hòa bình, cha đẻ cách mạng xanh, nhà bác học hàng đầu của nông nghiệp hiện đại tới thăm. Thầy đã dành trọn buổi chiều để trò chuyện và khai mở tâm thức cho tôi Ngày 29 tháng 8 âm lịch năm 2016 trùng ngày 29 tháng 9 kỷ niệm 50 năm thành lập CIMMYT tôi nhớ đến cha tôi, nhớ đến anh hai tôi Hoàng Ngọc Dộ đã tần tảo thay cha mẹ nuôi em năm năm ngày một bữa, anh cũng là người thầy đầu đời của tôi. Tôi nhớ đến thầy Nguyễn Khoa Tịnh khóc trên bục giảng cùng thầy bạn nhường cơm xẻ áo cho tôi. Tôi nhớ thầy Mai Văn Quyền mà tôi viết trên trang cảm ơn của luận án tiến sĩ để nói lên tình cảm của tôi đối với thầy cô: “Ơn Thầy. Cha ngày xưa nuôi con đi học. Một nắng hai sương trên những luống cày. Trán tư lự, cha thường suy nghĩ. Phải dạy con mình như thế nào đây? Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất. Cái chết giằng cha ra khỏi tay con. Mắt cha lắng bao niềm ao ước. Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng. Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy. Tương lai con đi, sự nghiệp con làm. Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ. Cha ngã xuống rồi trao lại tay con. Trên luống cày này, đường cày con vững. Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa. Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ. Thôi thúc tim con học tập phút giờ”.

Loi Thay dan
Norman Borlaug nha khoa hoc xanh 2

Tôi nhớ Thầy Norman Borlaug trong biết bao câu chuyện đời thường. Lời Thầy dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”. Trích “Thầy bạn là lộc xuân”

Một ngày không thể quên khác là ngày Lương thực Thế giới (World Food Day) và FAO những ký ức không quên. Những thầy bạn lỗi lạc, kỳ lạ, đầy kính trọng và ngưỡng mộ ở đấy. Những cuộc đời và nhân cách đã ảnh hưởng cách sống, tầm nhìn, làm đời an vui hơn chí thiện hơn.
Tôi chép lặp lại câu chuyện dưới đây trong sự đọc lại và suy ngẫm thật tôn trọng.

FAO TRÌNH NGƯU ĐẠT BỔNG

FAO và Việt Nam có mối liên hệ mật thiết. Thành tựu nông nghiệp Việt Nam trong thông tin toàn cầu nổi bật hơn hết ở FAO là sản xuất và xuất khẩu lúa gạo. Câu chuyện “hột lúa và con cá”  là câu chuyện dài nhưng FAO không chỉ tôn vinh gạo Việt trong an ninh lương thực toàn cầu mà còn thể hiện ở sự tín nhiệm của FAO với chuyên gia cao cấp Giáo sư Tôn Thất Trình, tiến sĩ Trần Văn Đạt, tiến sĩ Nguyễn Văn Ngưu, phó giáo sư tiến sĩ Bùi Bá Bổng là những chuyên gia cao cấp tại FAO về sản xuất lúa gạo, là các diện mạo lớn của Việt Nam ở vị trí Chánh chuyên gia Tổng Thư ký của Ủy ban Lúa Gạo Quốc tế. Họ liên tục kế tiếp nhau giữ trọng trách chăm lo cho cây lúa hột gạo và chén cơm ngon của người dân. Từ câu chuyện “Giao ban cây lúa ở Viện Lúa” qua bốn đời Viện trưởng Luật Bổng Bửu Bảnh đến câu chuyện “Giao ban cây lúa ở FAO” của bốn đời Chánh chuyên gia Tổng Thư ký Ủy ban Lúa Gạo Quốc tế “Trình, Đạt Ngưu Bổng” là câu chuyện thú vị chuyển từ tầm nhìn cây lúa Việt Nam đến tầm nhìn cây lúa toàn cầu. Cách mạng sắn Việt Nam đã được giới thiệu ở FAO năm 2000, FAO năm 2013 đã tôn vinh sắn là cây trồng tiềm năng ở thế kỷ 21, Việt Nam là điểm sáng đã đưa năng suất sắn lên bốn trăm phần trăm tại tỉnh Tây Ninh, và đúc kết bài học bảo tồn phát triển sắn. Báo cáo Cách mạng sắn Việt Nam tại Hội thảo sắn toàn cầu năm 2016 được thầy bạn Quốc tế đánh giá cao.

Biết ơn Thầy nâng bước những ước mơ, khuye61nkhi1ch lưu lại sử ký của dân tộc

GIẤC MƠ THIÊNG CÙNG GOETHE
Hoàng Kim

Hiểu tình yêu cuộc sống
Hiền tài dày sử thi
Mọi lý thuyết đều là màu xám,
chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi
Goethe trao tặng cho tôi
Ngọc minh triết của Người.

Tôi giấc mơ gặp Goethe
Kalovi Vary, Czechoslovakia
trong rừng thiêng cổ tích.
Người kể chuyện sử thi

Tiệp Khắc kỷ niệm một thời
Praha Goethe và lâu đài cổ
Những khát khao của Faust,
Nỗi đau của chàng Werther

Người nhắc tôi đừng quên
kể chuyện sử thi dân mình
Cho dù học gì làm gì
Cũng đừng quên chuyện đó !

Người hỏi tôi trong mơ
Con có dám học Faust?
Chọn minh triết làm Thầy
Suốt đời theo Trí Tuệ ?

Tôi trả lời.trong mơ
Có con xin theo Người !
Con xin theo học Goethe
Người kể chuyện sử thi

Ta bàng hoàng gặp Goethe
Trên cầu đi bộ Charles
Trong 30 tượng thánh trầm tư
Tôi ngắm hình tượng Faust

Quảng trường Old Town Square
Đế Quốc La Mã Thần Thánh
Goethe lắng đọng tại Praha
Trong huyền thoại muôn đời

Tôi nhớ Người ở Frankfurt,
Di sản Người Leipzig, Strasbourg
Ông già hiền triết châu Âu
Tại bao nhiêu điểm đến …

Tôi học Goethe qua thơ Xuân Diệu
Mọi lý thuyết đều là màu xám,
chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi
Thơ Người đi cùng tôi bao tháng năm.

Tôi gặp Goethe ở châu Âu
Trong hình bóng người hiền
Cũng gặp Người tại Oregon
Nơi Miền Tây Nước Mỹ.

Tôi gặp Goethe ở châu Mỹ
Tại Ciudad Obregon
Hồ lớn ba tỷ khối nước
Cây xanh đất nước giao hòa

Tôi đã gặp Người ở CIMMYT Mexico
Bóng hạc chốn xa xôi cuối trời Tây
GoetheNorman Borlaug
Dạy tôi minh triết an nhiên
Đi để hiểu quê hương

Người hóa thân
trong thanh thản
bóng cây xanh
Người đàm đạo
với Norman Borlaug
và cậu học trò nghèo
Về ý tưởng xanh
Con đường xanh
Hành trình xanh
Sự nghiệp xanh
Nhà khoa học xanh
giấc mơ hạnh phúc

Goethe là vòm cây xanh
Goethe cũng là lão nông
ngồi cùng chúng ta
chuyện trò
trên cánh đồng xanh
hạnh phúc.

Goethe Norman Borlaug
là những trí tuệ bậc Thầy.
Họ không màng hư vình
mà hướng tới đỉnh cao hòa bình
sự an lành tiến bộ.

Anh và em cùng Goethe
Ở FAO, Rome, Italy
Người hóa thân
thành nữ thần Tình Yêu (*)

Trời xanh tuyệt vời !
Trời nhân loại mênh mông !

(*) Hình ảnh Hoàng Kim ở Roma, Italia.
Giấc mơ về điểm hẹn

Video yêu thích
The FAO Strategic Objectives

Bài viết mới trên DẠY VÀ HỌC
https://hoangkimvn.wordpress.com bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau Music
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter