Chỉ tình yêu ở lại

Ở đâu một trời thương nhớ

Hoàng Kim Ở đâu lung linh Kiếp Bạc Sao Khuê mờ tỏ Côn Sơn Ở đâu một trời thương nhớ Cho ta khoảng lặng tâm hồn. Nhớ ai vừng đông vừa rạng Ước dòng tin nhắn đầu tiên Hương đất thơm mùa ruộng cấy Phương xa vời vợi bạn hiền. Ở đâu bàng hoàng Phố chợ Tháng năm ngơ ngẫn sớm chiều Con nhảy xe đò về ruộng Mưa dầm bóng Mẹ liêu xiêu. Tìm tới Phố đông để sống Lời nào em học đầu tiên? Biết ơn nhọc nhằn Cha Mẹ Lấm lem con chữ ưu phiền. Phố chợ người càng đông đúc Đồng Xuân xa lại càng thưa Vui với việc hiền ở phố Bâng khuâng thương nhớ chiêm mùa… Tình yêu thì không có tuổi Yêu thương đầy đặn tháng năm Nhớ mãi ‘Nụ cười sơn cước’ Thương hoài tình thấm trang văn. Tôi  tìm thấy sự liên hệ và thức tỉnh của lớp người trong thời đại mình. Đó là một thế hệ cầm súng trãi qua nội chiến chống ngoại xâm, lại dấn thân vào việc diệt giặc đói, diệt giặc dốt nâng cao dân trí. Họ sống minh triết, phúc hậu, yêu thương, an nhiên và phát triển, dù bị vây bủa giữa các xu hướng thực dụng, bon chen, các thói ích kỷ tham nhũng, cố làm giàu bằng mọi giá. ‘Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ca khúc NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC của nhạc sỹ tài năng Tô Hải vẫn làm ta xao xuyến bồi hồi, ca khúc không già theo năm tháng vì nó là tình yêu, mà tình yêu thì không có tuổi’. Cám ơn anh Bu Lu Khin về bài viết ” VÀ TRONG LÒNG MƯA HƠN Ở NGOÀI TRỜI”thật chân thành xúc động tưởng nhớ nhạc sĩ Tô Hải, Em Hoàng Kim xin chép bài viết của anh về chung trang thơ văn ‘Chỉ tình yêu ở lại’ VÀ TRONG LÒNG MƯA HƠN Ở NGOÀI TRỜI Bu Lu Khin  (13.9.2018) Nhạc sĩ Tô Hải đã qua đời ngày 11.8.2018 tại quận Phú Nhuận Thành phố Hồ Chí Minh. Bạn bè, thân hữu tiễn đưa nhạc sĩ theo nghi lễ công giáo tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp thuộc dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn. Để tưởng nhớ nhạc sĩ tài hoa, bu tui đăng lại bài “Và trong lòng mưa hơn ở ngoài trời” thay một nén nhang thương tiếc một tài năng âm nhạc nước nhà… Tựa đề là một câu trong ca khúc NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC của nhạc sĩ Tô Hải sáng tác khi ông mới 20 tuổi (1947).  Chàng trai Tô Hải vào Vệ Quốc Đoàn trong những ngày đầu cách mạng tháng 8 năm 1945, đã từng qua hai trường huấn luyện quân chính có văn bằng hẳn hoi nhưng ông không thành tá tướng như các bạn mà trở thành…nhạc sỹ!. Năm 1947 Tô Hải được điều về bộ tư lệnh mới thành lập làm thư ký riêng cho một nhân vật mà theo ông “Thật hấp dẫn và “quái dị” có tên là Thế Hùng, biệt hiệu Hùng hét”. Ông Hùng đã từng tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố (Tàu) với Hoàng Văn Thái và Hoàng Minh Thảo, nhưng do tiền sử phục vụ trong quân đội Pháp nên không được vào đảng, chỉ giữ chức trưởng Ban Quản trị Liên khu bộ. Ông Hùng bất mãn với vai trò này, giận cá chém thớt, hét hò quát tháo đám dưới quyền, trừ anh lính biết làm nhạc Tô Hải. Ông tạo điều kiện cho Tô Hải sáng tác vì bản thân ông cũng có máu văn nghệ, bài hát Tây bài hát Tàu, cải lương, vọng cổ, ông làm được tuốt. Hùng hét và Tô Hải cùng ở nhà bọ Phến vùng Thung Gio, một địa phương miền núi Hòa Bình. Bọ Phến có cô con gái cực xinh tên là Phẩm kém Tô Hải vài tuổi. Tiếng đàn tiếng hát của anh lính Tô Hải làm xao xuyến người đẹp miền sơn cước, và làn da khóe mắt cô Phẩm như làm anh lính đẹp trai, lắm chữ, đàn hay hơn hát hay hơn. Là người từng trải yêu đương, ông Hùng thấy giữa cặp trai tài gái sắc này đã lập lòe ngọn lửa tình có cơ bùng cháy. Một hôm ông nói với Tô Hải “Mày chớ dại mà hứa hẹn gì! Không được đâu! Đã hứa mà không giữ lời với họ là có khi tiêu đời đấy con ạ”. Đột nhiên có lệnh điều động trung đội phó Tô Đình Hải đi học trường võ bị Trần Quốc Tuấn. Tô Hải nhớ lại: “Những ngày tôi chuẩn bị lên đường Phẩm không đi làm nương. Nàng cứ loanh quanh bên tôi như chờ tôi nói một lời hứa hẹn, một lời tỏ tình gì đó. Nghe lời ông Hùng tôi miễn cưỡng im lặng về mối tình mà tôi ấp ủ bấy lâu với Phẩm, người con gái có đôi mắt mà đến khi từ giả cuộc đời có lẽ vẫn in hằn trong tâm khảm. Nó sáng, nó đen, nó long lanh, nó nói hơn cả những điều cần phải nói bằng lời. Lúc chào mọi người lên đường, tôi cố tìm đôi mắt ấy lần cuối nhưng không thấy. Cô vô tình đến thế sao? Hay cô đang nằm khóc vùi trên nhà sàn? Tôi bận rộn tìm lại đôi mắt huyền của Phẩm đến mức chẳng còn nghe thấy lời chúc mừng của anh em cơ quan và đồng bào trong bản. ..Lòng buồn nặng trĩu vì cuộc chia tay không hoàn chỉnh, tôi bước đi về hướng Chồng Mâm, Chợ Giời”… Sắp xắn quần để chuẩn bị lội qua con suối đầu tiên của chín con suối độc thì nghe tiếng gọi anh Hải. Thì ra Phẩm đón đường tôi ở chân dốc này. Cô nói “Bọ Hùng bảo em ra đón anh ở đây”. Cuộc gặp gỡ có sắp xếp này té ra chính là sáng kiến của ông Hùng hét! Hai đứa gặp nhau cứ như đã thổ lộ tình yêu, đã hẹn hò thề ước gì rồi. Phẩm trao cho tôi một gói xôi gạo cẩm, một chiếc vòng bạc, và nói trong tiếng nức nở “Anh Hải đi học thành tài, đánh Tây xong, nhớ về Thung Gio…lâu mấy em cũng đợi!”. Trời Hòa Bình hôm ấy quá mù ra mưa, chàng trai Tô Hải quay lưng giả từ người yêu về trường võ bị. Chân bước ra đi mà trái tim ở lại, anh hát thầm cho chính mình nghe: “Tôi nhớ mãi một chiều xuân chia phôi, mây mờ buông xuống núi đồi, và trong lòng mưa hơn ở ngoài trời”. Trong người lính 20 tuổi Tô Hải, hai bên đường anh đi, sau cả dãy núi Kim Bôi kia nữa là hình ảnh: “Một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trắng, một chiếc vòng sáng lóng lánh, với nụ cười nàng quá xinh”. Ca khúc NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC theo bước chân người lính – nhạc sỹ Tô Hải – hình thành và hoàn thiện ngay trên đường đi. Đêm liên hoan đầu tiên của tiểu đoàn chiêu sinh “ Tôi đã thả hồn trong tiếng đàn và hát lên sự thật của trái tim mình cho anh em khóa sinh nghe. Họ im lặng đến kỳ lạ rồi xuýt xoa khi nghe tôi buông xuống câu “Đời đời không tàn với khúc nhạc lòng tôi”, họ vỗ tay kéo dài và hét lên bis! bis…” Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ca khúc NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC của nhạc sỹ tài năng Tô Hải vẫn làm ta xao xuyến bồi hồi, ca khúc không già theo năm tháng vì nó là tình yêu, mà tình yêu thì không có tuổi. NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC Sáng tác: NHẠC SĨ TÔ HẢI Tôi nhớ mãi một chiều xuân.. chia phôi, mây mờ buông xuống núi đồi và trong lòng mưa hơn cả ngoài trời. Cỏ cây hoa lá, thương nhớ mãi người đi và dâng sầu lên mi mắt người về. Thơ thẩn đàn chim ngừng tiếng hót, và mưa Xuân đang tưới luống u sầu, buồn cho dòng nước mờ xóa bóng chim uyên và gió chiều còn khóc thương mãi mối tình còn vấn vương. Ai về sau dãy núi Kim – Bôi, nhắn giùm tim tôi chưa phai mờ, hình dung một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trăng, một chiếc vòng sáng lóng lánh, với nụ cười nàng quá xinh. Nàng ơi, tôi đã rút tơ lòng, dệt mấy cung yêu thương gởi lòng trong trắng, của mấy bông hoa rừng đời đời không tàn với khúc nhạc lòng tôi. Nụ cười sơn cước cũng như Thơ tình cuối mùa thuThuyền và Biển, Những tình khúc vượt thời gian, … biết bao dãy núi cao vọi và lấp lánh kia như những vì sao trên bầu trời. Chỉ tình yêu ở lại    

https://hoangkimlong.wordpress.com


HoangKim999
HÃY HƯỚNG VỀ MẶT TRỜI Hoàng Kim. Lên đường đi em Ban mai vừa rạng Hãy hướng về mặt trời ! Ta hãy chăm như con ong làm mật Cuộc đời này đầy hương hoa Ngày mới thung dung vẫy gọi Mật cho đời, vui khỏe cho ta! (xem tiếp) Video yêu thích Hãy đi về phía mặt trờiKimYouTube Trở về trang chính Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook; Kim on Twitter

👋

Chỉ tình yêu ở lại

Conduongdaukho

CHỈ TÌNH YÊU Ở LẠI

Hoàng Kim

“Năm tháng đi qua,

những cuộc chiến tranh đã thôi tàn phá,
những cuộc cách mạng đã thôi gào thét,
chỉ đọng lại không phôi pha,
tấm lòng em
nhân hậu dịu dàng
và tràn đầy yêu thương…”

Ba lần ngập trong nước trong,
Ba lần tắm trong máu đỏ,
Ba lần nấu trong nước giặt,
Ta trong sạch hơn những người trong sạch nhất !

Con đường đau khổ” tác phẩm văn học nổi tiếng của nhà văn Aleksey Nikolayevich Tolstoy, đã được chuyển thể thành nhiều phim,  là câu chuyện số phận của người trí thức Liên Xô trong bối cảnh sụp đổ của Đế quốc NgaNội chiến khốc liệt xảy ra.

Con đường đau khổ là đỉnh cao chói lọi của tài năng Alexei Tolstoi, là cuốn tiểu thuyết của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. A.Tolstoi đã viết bộ ba tiểu thuyết này trong hơn 20 năm (1919-1941) và quá trình viết cuốn tiểu thuyết cũng là quá trình lớn lên trong tầm nhận thức của nhà văn đối với cách mạng.

Tập đầu của bộ tiểu thuyết, cuốn Hai chị em viết khi A.Tolstoi còn ở nước ngoài và chưa đi theo cách mạng, có thể xem là một thiên tự sự về vận mệnh cá nhân của các nhân vật trí thức đang đi tìm đường giữa những biến động dữ dội của cuộc sống. Mở đầu A.Tolstoi đưa ta vào không khí của kinh thành Peterburg năm 1914, những ngày trước chiến tranh. Peterburg và cả nước Nga đang sống trong những ngày tháng hấp hối của xã hội tư sản, những ngày tháng chán chường, phờ phạc, sặc nồng mùi vốtka và ái ân không tình yêu. Xã hội tư sản đang sống những ngày tàn của nó và những người trí thức tiểu tư sản, như những con bướm, không dính dáng gì đến khía cạnh nào của nước Nga cả, đang khắc khoải, hoảng hốt đi tìm “con đường thứ ba” làm giải pháp phá vỡ bế tắc của cuộc sống.

Sống trong không khí xã hội ấy, các nhân vật của A.Tolstoi do bản chất của mình, cũng đã dấn mình vào những cuộc tình phù du, những cuộc “dạ đàm” triết học và nghệ thuật, vào những suy tư dằn vặt vô vọng và đau đớn để tìm cách thoát ra khỏi xã hội và thoát ra khỏi chính mình. Katia, Dasa, Rotsin… kẻ ít người nhiều, đều đã sống như những “thân phận cô đơn”, những kẻ bị “lưu đày” trong xã hội ấy. Cuối cùng, họ sẽ đi tới đâu với những ưu tư ấy? Như tác giả sau này cho thấy, con đường của họ sẽ là con đường lạc lối, nếu không có một giải pháp thực sự cách mạng.

Mặc dù trong tập đầu, A.Tolstoi không có ý định mô tả quá trình lịch sử và có ý định viết một tiểu thuyết sử thi về nội chiến và cách mạng, Hai chị em vẫn không phải là tiểu thuyết thuộc loại sinh hoạt gia đình tầm thường. “Đó là hình ảnh thời đại qua những ấn tượng riêng tư” (A.Tolstoi). A.Tolstoi đã chú ý xác định mối quan hệ giữa trí thức và cách mạng hơn là mô tả những biến cố đang diễn ra trên dòng lịch sử. Các nhân vật của Hai chị em thấy cách mạng, chiến tranh, lịch sử như là một cái gì trớ trêu, thù địch, thay đổi bất thường và họ cố đem đối lập tính chất bấp bênh của lịch sử với sự vững vàng của hạnh phúc cá nhân. Âm điệu của tiểu thuyết là âm điệu của triết lý xã hội đi đôi với trữ tình cá nhân và điều đó được thể hiện ngay từ những trang đầu của tiểu thuyết. Sức hấp dẫn của tác phẩm trước hết là ở chỗ vận mệnh cá nhân các nhân vật đã được A.Tolstoi thể hiện trong sự tha thiết đối với vận mệnh của nước Nga, trong nhiệt hứng cải biến cách mạng, mặc dù chính tác giả đã không hiểu rõ thực chất của cách mạng. Nghệ thuật của tác giả trong việc tạo ra những bức tranh giàu màu sắc, trong việc sử dụng ngôn từ và chất thơ trữ tình, đằm thắm, sự “miêu tả lý thú và tinh tế tâm lý của một người con gái Nga đến tuổi yêu đương” như lời nhận xét của Gorki… Tất cả đã góp phần tạo nên hứng thú đặc biệt của cuốn sách.

Viết cuốn Năm 1918, A.Tolstoi đã chuyển hẳn cách nhìn và cách miêu tả đời sống nhân vật. Quá khứ đang còn nóng bỏng được tái hiện và tác phẩm bản lề này chuyển hẳn tác phẩm ba tập thành tác phẩm sử thi, anh hùng ca. A.Tolstoi đã thể nghiệm lại cuộc sống của đất nước Xô Viết trong một giai đoạn đột biến, ông phải suy nghĩ lại, cảm xúc lại tất cả dưới một cái nhìn mới và bản thân tầm rộng lớn của cuộc sống chiến đấu định tái hiện vào tác phẩm đã đòi hỏi một dung lượng tiểu thuyết rộng lớn, buộc phải chuyển sang sử dụng thể loại anh hùng ca. Trong Năm 1918, những sự kiện lịch sử dường như đối lập với số phận cá nhân các nhân vật. Trong tác phẩm, các nhân vật của A.Tolstoi đã đi vào cuộc sống và sự tiếp xúc với nhân dân đã dần dần thủ tiêu những mâu thuẫn cá nhân và xã hội, cuối cùng hòa hợp lại trong tình yêu đối với Tổ quốc và nhân dân.

Cùng với việc miêu tả chính quá trình lịch sử của đất nước Nga, trong Năm 1918, và sau đó trong Buổi sáng ảm đạm đã xuất hiện hàng loạt những nhân vật cộng sản đầy sức sống và có ý nghĩa lớn lao. Những con người này, những người đã cứu đất nước và nhân dân ra khỏi bàn tay của bọn phản động và bọn can thiệp nước ngoài, đã là “tinh hoa, lực lượng và tương lai của đất nước” (Lênin). Đấy là những người yêu nước chân chính, chiến đấu kiên định, những người thông minh mà giản dị, đôn hậu, được tôi luyện vững vàng trong chính cuộc chiến đấu sinh tử với kẻ thù.

Ivan Gora, người công nhân cộng sản có ý thức, người chính ủy đã giương cao ngọn cờ đỏ trong trận ác liệt trên bờ sông Manyts và khi hy sinh rồi, anh vẫn còn “dang rộng hai tay ra như muốn ôm lấy đất, chết rồi mà vẫn không chịu để cho quân thù chiếm mảnh đất này”. Tsugai, người cán bộ tổ chức quần chúng thông minh, giàu kinh nghiệm đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Số phận của Anyxya tượng trưng khát vọng vươn tới cái đẹp và chứng tỏ cách mạng đã mở rộng, thức tỉnh những khát vọng chưa từng có đối với văn học của nhân dân lao động. Cô thanh niên cộng sản Maruxya được miêu tả chỉ trong vài trang, nhưng hình bóng của cô thấm nhuần chất thơ của sự trong trắng và niềm tin ở lý tưởng… Qua tất cả những nhân vật này, cũng như qua việc thể hiện một cách chân xác hình tượng đám đông thủy thủ, hình tượng của những người lao động, A.Tolstoi muốn vạch rõ ảnh hưởng và tác động của họ đối với những người trí thức, vạch rõ sự xuất hiện con người mới.

Năm 1939, A.Tolstoi viết cuốn Buổi sáng ảm đạm, tập cuối của bộ ba Con đường đau khổ và đã đặt dấu chấm hết vào đúng ngày nổ ra chiến tranh vệ quốc vĩ đại – ngày 22.6.1941. Nối tiếp nhiệm vụ mô tả những biến cố lịch sử của Năm 1918, trong phần cuối này của bộ tiểu thuyết, A.Tolstoi đã sáng tạo một cách thể hiện độc đáo. Trong khi thu hẹp nhiệm vụ mô tả các sự kiện lịch sử vào vùng Ukrain và vùng xung quanh Saritxun, A.Tolstoi đi vào chiều sâu nội tâm của nhân vật, chiều sâu do cuộc cách mạng và nội chiến, do cuộc sống tác động vào ý thức và tâm lý của hàng triệu người…

Buổi sáng ảm đạm trong năm 1918, A.Tolstoi đã sử dụng rộng rãi những tài liệu lưu trữ lịch sử. Và do đó có thể gọi Buổi sáng ảm đạm và Năm 1918 là biên niên sử của cuộc nội chiến.

A.Tolstoi  bằng tất cả sự thâm thúy của một nghệ sỹ lớn, đã nói lên qua tác phẩm của mình như một lời tâm sự: Cuộc sống không có con đường thứ ba, chỉ có hai con đường đi với nhân dân hoặc chống lại nhân dân. Chỉ có đi với nhân dân, cùng với cách mạng, người trí thức mới tìm được vị trí của mình trong cuộc sống chung và mới có được hạnh phúc chân chính.

Tư tường chính của tác phẩm, cũng là thông điệp của cuộc sống, qua lời nhân vật Rotsin: “Năm tháng đi qua, những cuộc chiến tranh đã thôi tàn phá, những cuộc cách mạng đã thôi gào thét, chỉ đọng lại không phôi pha tấm lòng em nhẫn nại dịu dàng và chan chứa tình yêu thương…

“Con đường đau khổ” là một trong Một trăm kiệt tác của nhân loại.

Ngày tôi viết bài này là ngày sinh của A. Tolstoy, người đã viết nên những trang sách “Con đường đau khổ” ám ảnh nhiều thế hệ bạn đọc của người dân Nga cũng như toàn thế giới, cũng là ngày sinh của danh tướng Lê Trọng Tấn, một trong những vị tướng đánh trận giỏi nhất trong chiến tranh Việt Nam là ngày phát  hành Lẽ Thông Thường, một cuốn sách mỏng của Thomas Paine nhưng đã truyền cảm hứng cho mười ba thuộc địa ở châu Mỹ vùng lên đấu tranh giành độc lập làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của Đế quốc Anh. Lẽ Thông Thường là tác phẩm ngắn “phổ biến nhất và mạnh mẽ nhất trong suốt thời kỳ cách mạng Mỹ” theo đánh giá của nhà sử học Gordon S. Wood.[5]   cũng là ngày hội sách làng Minh Lệ, một mô hình mới về việc sinh hoạt văn hóa làng xã ở xã Quảng Minh, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. Lịch sử làng Minh Lệ đã có hơn 600 năm. Truyền thống cha ông đánh giặc giữ nước, bảo vệ quê hương, tình làng nghĩa xóm, đã ăn sâu trong máu thịt của mỗi người. Nơi đây có những người con trung hiếu tỏa đi muôn phương nhưng luôn nhớ về quê cha đất tổ. Những bài học lịch sử, giá trị nhân văn, truyền thống quê hương, được chung tay tìm tòi, bảo tồn và phát triển.

Tôi  tìm thấy sự liên hệ và thức tỉnh của lớp người trong thời đại mình. Đó là một thế hệ cầm súng, trãi qua nội chiến chống ngoại xâm, diệt giặc đói, lại dấn thân vào việc diệt giặc dốt, nâng cao dân trí, bị vây giữa các xu hướng thực dụng bon chen, cố giàu bằng mọi giá, đua đòi, tham nhũng, để giữ được dòng chính minh triết, phúc hậu, yêu thương và phát triển.