Chỉ tình yêu ở lại

Conduongdaukho

CHỈ TÌNH YÊU Ở LẠI

Hoàng Kim

“Năm tháng đi qua,

những cuộc chiến tranh đã thôi tàn phá,
những cuộc cách mạng đã thôi gào thét,
chỉ đọng lại không phôi pha,
tấm lòng em
nhân hậu dịu dàng
và tràn đầy yêu thương…”

Ba lần ngập trong nước trong,
Ba lần tắm trong máu đỏ,
Ba lần nấu trong nước giặt,
Ta trong sạch hơn những người trong sạch nhất !

Con đường đau khổ” tác phẩm văn học nổi tiếng của nhà văn Aleksey Nikolayevich Tolstoy, đã được chuyển thể thành nhiều phim,  là câu chuyện số phận của người trí thức Liên Xô trong bối cảnh sụp đổ của Đế quốc NgaNội chiến khốc liệt xảy ra.

Con đường đau khổ là đỉnh cao chói lọi của tài năng Alexei Tolstoi, là cuốn tiểu thuyết của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. A.Tolstoi đã viết bộ ba tiểu thuyết này trong hơn 20 năm (1919-1941) và quá trình viết cuốn tiểu thuyết cũng là quá trình lớn lên trong tầm nhận thức của nhà văn đối với cách mạng.

Tập đầu của bộ tiểu thuyết, cuốn Hai chị em viết khi A.Tolstoi còn ở nước ngoài và chưa đi theo cách mạng, có thể xem là một thiên tự sự về vận mệnh cá nhân của các nhân vật trí thức đang đi tìm đường giữa những biến động dữ dội của cuộc sống. Mở đầu A.Tolstoi đưa ta vào không khí của kinh thành Peterburg năm 1914, những ngày trước chiến tranh. Peterburg và cả nước Nga đang sống trong những ngày tháng hấp hối của xã hội tư sản, những ngày tháng chán chường, phờ phạc, sặc nồng mùi vốtka và ái ân không tình yêu. Xã hội tư sản đang sống những ngày tàn của nó và những người trí thức tiểu tư sản, như những con bướm, không dính dáng gì đến khía cạnh nào của nước Nga cả, đang khắc khoải, hoảng hốt đi tìm “con đường thứ ba” làm giải pháp phá vỡ bế tắc của cuộc sống.

Sống trong không khí xã hội ấy, các nhân vật của A.Tolstoi do bản chất của mình, cũng đã dấn mình vào những cuộc tình phù du, những cuộc “dạ đàm” triết học và nghệ thuật, vào những suy tư dằn vặt vô vọng và đau đớn để tìm cách thoát ra khỏi xã hội và thoát ra khỏi chính mình. Katia, Dasa, Rotsin… kẻ ít người nhiều, đều đã sống như những “thân phận cô đơn”, những kẻ bị “lưu đày” trong xã hội ấy. Cuối cùng, họ sẽ đi tới đâu với những ưu tư ấy? Như tác giả sau này cho thấy, con đường của họ sẽ là con đường lạc lối, nếu không có một giải pháp thực sự cách mạng.

Mặc dù trong tập đầu, A.Tolstoi không có ý định mô tả quá trình lịch sử và có ý định viết một tiểu thuyết sử thi về nội chiến và cách mạng, Hai chị em vẫn không phải là tiểu thuyết thuộc loại sinh hoạt gia đình tầm thường. “Đó là hình ảnh thời đại qua những ấn tượng riêng tư” (A.Tolstoi). A.Tolstoi đã chú ý xác định mối quan hệ giữa trí thức và cách mạng hơn là mô tả những biến cố đang diễn ra trên dòng lịch sử. Các nhân vật của Hai chị em thấy cách mạng, chiến tranh, lịch sử như là một cái gì trớ trêu, thù địch, thay đổi bất thường và họ cố đem đối lập tính chất bấp bênh của lịch sử với sự vững vàng của hạnh phúc cá nhân. Âm điệu của tiểu thuyết là âm điệu của triết lý xã hội đi đôi với trữ tình cá nhân và điều đó được thể hiện ngay từ những trang đầu của tiểu thuyết. Sức hấp dẫn của tác phẩm trước hết là ở chỗ vận mệnh cá nhân các nhân vật đã được A.Tolstoi thể hiện trong sự tha thiết đối với vận mệnh của nước Nga, trong nhiệt hứng cải biến cách mạng, mặc dù chính tác giả đã không hiểu rõ thực chất của cách mạng. Nghệ thuật của tác giả trong việc tạo ra những bức tranh giàu màu sắc, trong việc sử dụng ngôn từ và chất thơ trữ tình, đằm thắm, sự “miêu tả lý thú và tinh tế tâm lý của một người con gái Nga đến tuổi yêu đương” như lời nhận xét của Gorki… Tất cả đã góp phần tạo nên hứng thú đặc biệt của cuốn sách.

Viết cuốn Năm 1918, A.Tolstoi đã chuyển hẳn cách nhìn và cách miêu tả đời sống nhân vật. Quá khứ đang còn nóng bỏng được tái hiện và tác phẩm bản lề này chuyển hẳn tác phẩm ba tập thành tác phẩm sử thi, anh hùng ca. A.Tolstoi đã thể nghiệm lại cuộc sống của đất nước Xô Viết trong một giai đoạn đột biến, ông phải suy nghĩ lại, cảm xúc lại tất cả dưới một cái nhìn mới và bản thân tầm rộng lớn của cuộc sống chiến đấu định tái hiện vào tác phẩm đã đòi hỏi một dung lượng tiểu thuyết rộng lớn, buộc phải chuyển sang sử dụng thể loại anh hùng ca. Trong Năm 1918, những sự kiện lịch sử dường như đối lập với số phận cá nhân các nhân vật. Trong tác phẩm, các nhân vật của A.Tolstoi đã đi vào cuộc sống và sự tiếp xúc với nhân dân đã dần dần thủ tiêu những mâu thuẫn cá nhân và xã hội, cuối cùng hòa hợp lại trong tình yêu đối với Tổ quốc và nhân dân.

Cùng với việc miêu tả chính quá trình lịch sử của đất nước Nga, trong Năm 1918, và sau đó trong Buổi sáng ảm đạm đã xuất hiện hàng loạt những nhân vật cộng sản đầy sức sống và có ý nghĩa lớn lao. Những con người này, những người đã cứu đất nước và nhân dân ra khỏi bàn tay của bọn phản động và bọn can thiệp nước ngoài, đã là “tinh hoa, lực lượng và tương lai của đất nước” (Lênin). Đấy là những người yêu nước chân chính, chiến đấu kiên định, những người thông minh mà giản dị, đôn hậu, được tôi luyện vững vàng trong chính cuộc chiến đấu sinh tử với kẻ thù.

Ivan Gora, người công nhân cộng sản có ý thức, người chính ủy đã giương cao ngọn cờ đỏ trong trận ác liệt trên bờ sông Manyts và khi hy sinh rồi, anh vẫn còn “dang rộng hai tay ra như muốn ôm lấy đất, chết rồi mà vẫn không chịu để cho quân thù chiếm mảnh đất này”. Tsugai, người cán bộ tổ chức quần chúng thông minh, giàu kinh nghiệm đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Số phận của Anyxya tượng trưng khát vọng vươn tới cái đẹp và chứng tỏ cách mạng đã mở rộng, thức tỉnh những khát vọng chưa từng có đối với văn học của nhân dân lao động. Cô thanh niên cộng sản Maruxya được miêu tả chỉ trong vài trang, nhưng hình bóng của cô thấm nhuần chất thơ của sự trong trắng và niềm tin ở lý tưởng… Qua tất cả những nhân vật này, cũng như qua việc thể hiện một cách chân xác hình tượng đám đông thủy thủ, hình tượng của những người lao động, A.Tolstoi muốn vạch rõ ảnh hưởng và tác động của họ đối với những người trí thức, vạch rõ sự xuất hiện con người mới.

Năm 1939, A.Tolstoi viết cuốn Buổi sáng ảm đạm, tập cuối của bộ ba Con đường đau khổ và đã đặt dấu chấm hết vào đúng ngày nổ ra chiến tranh vệ quốc vĩ đại – ngày 22.6.1941. Nối tiếp nhiệm vụ mô tả những biến cố lịch sử của Năm 1918, trong phần cuối này của bộ tiểu thuyết, A.Tolstoi đã sáng tạo một cách thể hiện độc đáo. Trong khi thu hẹp nhiệm vụ mô tả các sự kiện lịch sử vào vùng Ukrain và vùng xung quanh Saritxun, A.Tolstoi đi vào chiều sâu nội tâm của nhân vật, chiều sâu do cuộc cách mạng và nội chiến, do cuộc sống tác động vào ý thức và tâm lý của hàng triệu người…

Buổi sáng ảm đạm trong năm 1918, A.Tolstoi đã sử dụng rộng rãi những tài liệu lưu trữ lịch sử. Và do đó có thể gọi Buổi sáng ảm đạm và Năm 1918 là biên niên sử của cuộc nội chiến.

A.Tolstoi  bằng tất cả sự thâm thúy của một nghệ sỹ lớn, đã nói lên qua tác phẩm của mình như một lời tâm sự: Cuộc sống không có con đường thứ ba, chỉ có hai con đường đi với nhân dân hoặc chống lại nhân dân. Chỉ có đi với nhân dân, cùng với cách mạng, người trí thức mới tìm được vị trí của mình trong cuộc sống chung và mới có được hạnh phúc chân chính.

Tư tường chính của tác phẩm, cũng là thông điệp của cuộc sống, qua lời nhân vật Rotsin: “Năm tháng đi qua, những cuộc chiến tranh đã thôi tàn phá, những cuộc cách mạng đã thôi gào thét, chỉ đọng lại không phôi pha tấm lòng em nhẫn nại dịu dàng và chan chứa tình yêu thương…

“Con đường đau khổ” là một trong Một trăm kiệt tác của nhân loại.

Ngày tôi viết bài này là ngày sinh của A. Tolstoy, người đã viết nên những trang sách “Con đường đau khổ” ám ảnh nhiều thế hệ bạn đọc của người dân Nga cũng như toàn thế giới, cũng là ngày sinh của danh tướng Lê Trọng Tấn, một trong những vị tướng đánh trận giỏi nhất trong chiến tranh Việt Nam là ngày phát  hành Lẽ Thông Thường, một cuốn sách mỏng của Thomas Paine nhưng đã truyền cảm hứng cho mười ba thuộc địa ở châu Mỹ vùng lên đấu tranh giành độc lập làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của Đế quốc Anh. Lẽ Thông Thường là tác phẩm ngắn “phổ biến nhất và mạnh mẽ nhất trong suốt thời kỳ cách mạng Mỹ” theo đánh giá của nhà sử học Gordon S. Wood.[5]   cũng là ngày hội sách làng Minh Lệ, một mô hình mới về việc sinh hoạt văn hóa làng xã ở xã Quảng Minh, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. Lịch sử làng Minh Lệ đã có hơn 600 năm. Truyền thống cha ông đánh giặc giữ nước, bảo vệ quê hương, tình làng nghĩa xóm, đã ăn sâu trong máu thịt của mỗi người. Nơi đây có những người con trung hiếu tỏa đi muôn phương nhưng luôn nhớ về quê cha đất tổ. Những bài học lịch sử, giá trị nhân văn, truyền thống quê hương, được chung tay tìm tòi, bảo tồn và phát triển.

Tôi  tìm thấy sự liên hệ và thức tỉnh của lớp người trong thời đại mình. Đó là một thế hệ cầm súng, trãi qua nội chiến chống ngoại xâm, diệt giặc đói, lại dấn thân vào việc diệt giặc dốt, nâng cao dân trí, bị vây giữa các xu hướng thực dụng bon chen, cố giàu bằng mọi giá, đua đòi, tham nhũng, để giữ được dòng chính minh triết, phúc hậu, yêu thương và phát triển.

 

Ở đâu một trời thương nhớ

Hoàng Kim

Ở đâu bàng hoàng Phố Thị
Ngẫn ngơ suốt cả buổi chiều
Đêm nhảy xe đò về ruộng
Mưa dầm bóng Mẹ liêu xiêu.

Con lên giảng đường học chữ
Lời nào Thầy dạy đầu tiên
Biết ơn nhọc nhằn Cha Mẹ
Lấm lem con chữ ưu phiền

Phố Thị ngày càng đông đúc
Đồng Xuân xa lại càng thưa
Vui với việc hiền ở phố
Bâng khuâng thương nhớ chiêm mùa…

Nhớ ai vừng đông vừa rạng
Ước dòng tin nhắn đầu tiên
Hương đất thơm mùa ruộng cấy
Phương xa vời vợi bạn hiền.

Ở đâu lung linh Kiếp Bạc
Sao Khuê mờ tỏ Côn Sơn
Ở đâu một trời thương nhớ
Cho ta khoảng lặng tâm hồn.

Hoàng Kim

(*) Cảm động trước bốn bài viết hay, nối vần của bạn để có thơ này.
Xin cảm ơn PCT, PĐT, TMT, QT

Ở ĐÂU?

Phan Chí Thắng

Ở đâu có một ngôi nhà bé
Cửa sổ đèn khuya bóng em ngồi
Giai điệu dân ca ngân nhè nhẹ
Tự tình dạ khúc gửi xa xôi

Ở đâu có một khuôn vườn lặng
Em nở dùm tôi những nụ hồng
Chim hót chào reo bình minh nắng
Sương mòn xao xuyến như mắt mong

Ở đâu có một trời thương nhớ
Em thấu dùm tôi nỗi cháy lòng

Ở đâu có một con thuyền nhỏ
Chở những vần thơ tôi sang sông
Phan Chí Thắng
trích dẫn trong tập
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

PHỐ THỊ

Phan Đào Toàn

Phố thị người xe mắc cửi
Vỉa hè sóng sánh bia hơi
Chân trần miên man diệu vợi
Chói đèn cao áp – Trăng ơi…

Biết không mãi nhờ được bạn
Toàn dân buôn mận bán mơ
Hết đời trả chưa xong nợ
Nắng mưa gội trắng chiêm mùa…

Thương con chiều ra Phố thị
Đáy bồ, mầm chữ lơ thơ
Đem tuổi xanh ra tỉ thí
Vốn khởi đầu là: Ước mơ…

 

VỀ LÀNG

Trần Mạnh Tuân

Về làng gặp trước con đê,
Quán nghèo gốc gạo sáo về ríu ran.
Cổng đình… đá vẫn thi gan.
Gạch xưa ai lát đường làng rước dâu.

Bờ tre giếng đất còn đâu,
Đêm trăng sóng sánh gánh câu hẹn hò.
Nón nghiêng che dáng trời cho,
Đường thơm rơm rạ, sân kho thóc vàng.

Bữa cơm trưa… mớ tép rang,
Bát riêu cua gạch nổi vàng… vị quê.
Mát lòng nước vối trưa hè,
Võng đưa kẽo kẹt, tiếng ve ong trời.

Vườn quê xanh tiếng chim rơi,
Cho ta tìm lại khoảng đời bình yên.
Tháng năm bươn chải trăm miền,
Về quê… tìm lại chút thiên đường. LÀNG!


MỘT BẾN BỜ TÌNH QUÊ THƯƠNG MẾN

Quỳnh Trâm

(Đọc “Về làng” – Trần Mạnh Tuân)

Một cảm giác thật bình yên khi đọc “Về làng” của tác giả Trần Mạnh Tuân.

Giống như một đoạn phim quay chậm, những câu thơ lục bát mang âm hưởng ca dao đã gợi ra bước chân bồi hồi của người con đi xa đang trở về quê hương… Lần lượt, từng cảnh vật hiện ra trước mắt, đẹp như một bức tranh cổ xưa:

Về làng gặp trước con đê,
Quán nghèo gốc gạo sáo về ríu ran.
Cổng đình… đá vẫn thi gan.
Gạch xưa ai lát đường làng rước dâu.

Câu thơ mở đầu bình dị như một lời nói thường ngày của người nhà nông, nó mang tính tự sự hơn là chất thơ: “Về làng gặp trước con đê”, nghĩa là về đến làng, hình ảnh hiện ra đầu tiên là con đê lượn vòng quen thuộc. Nhưng chính trong cách nói bình dị mộc mạc này, ta chợt nhận ra một niềm vui khôn tả trong lòng người xa xứ khi về làng mình, bởi cái chữ “gặp” đã khiến ta hiểu rằng con đê ấy không chỉ là một vật chắn sóng mùa lũ cho xóm làng, mà nó chính là người bạn rất thân thiết thuở thiếu thời của nhà thơ. “Gặp” ở đây là gặp lại bạn thân sau bao tháng ngày xa cách. Câu thơ hồ hởi, yêu thương, gợi bao kỉ niệm ngọt bùi…

Nhẹ bước trên đê, nhìn ra kia là quán tranh nghèo nép mình bên gốc gạo. Bỗng nhớ đến câu thơ của nữ sĩ Anh Thơ trong “Chiều xuân” (Thơ mới 1930-1945) :

“Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời”

Cũng là quán tranh nghèo, nhưng trong “Chiều xuân”, nó mang vẻ cô liêu, hoang vắng, u buồn. Còn ở đây, cả một không gian bỗng lao xao bởi tiếng sáo chuyện trò ríu rít: “Quán nghèo gốc gạo sáo về ríu ran”. Từ láy “ríu ran” đã làm cho câu thơ bừng lên thứ âm thanh vui tươi, ngây thơ, trong trẻo, và cái quán tranh xơ xác bỗng trở nên thật ấm áp, thân tình!

Từ quán nghèo gốc gạo, bước chân hồi hương đến trước cổng đình, và con đường làng thân thuộc đã hiện ra thênh thang trước mắt:

Cổng đình… đá vẫn thi gan.
Gạch xưa ai lát đường làng rước dâu.

Cùng với cây đa, bến nước, sân đình, thì cổng làng, cổng đình là biểu tượng của rất nhiều làng quê đồng bằng Bắc Bộ. Ở đây, cổng đình được tác giả phác họa qua chi tiết “đá vẫn thi gan”, để cho ta biết về nét kiến trúc cơ bản của chiếc cổng đã được xây dựng bằng đá ong từ rất lâu, bao thế hệ đã gắn bó với chiếc cổng này. Vẻ đẹp cổ kính của cổng đình, cổng làng gắn với nền văn minh lúa nước, gợi nên những ước vọng của cộng đồng từ đời này qua đời khác, đồng thời cũng thể hiện bản lĩnh tâm hồn Việt, thách thức thời gian. Cánh cổng ấy đã mở ra bao điều tốt đẹp trong sinh hoạt văn hóa làng quê. Ở đây, một nét đẹp của phong tục Việt Nam xưa cũng được gợi nhắc đến thật khéo léo: “Gạch xưa ai lát đường làng rước dâu”. Câu thơ nói về một thủ tục cưới xin ngày xưa: Khi trai gái kết hôn, nhà trai phải nộp một khoản tiền cho làng xã bên nhà gái, gọi là “tiền cheo”. Khoản tiền cheo này được dùng vào việc công ích như lát gạch đường làng, xây cổng làng… Ngày nay lệ này đã không còn, nhưng những con đường lát gạch năm xưa thì vẫn còn đó, như một chứng nhân về duyên thắm vợ chồng. Cô dâu chú rể năm nào giờ đây ai còn ai mất, nhưng cái không khí thiêng liêng và rộn ràng của những buổi rước dâu ngày ấy sẽ còn mãi mãi trong tâm tưởng con người…

Theo bước chân “về làng” cùng tác giả, ta sẽ thấy một khung trời kỉ niệm xao xuyến đến vô cùng:

Bờ tre giếng đất còn đâu,
Đêm trăng sóng sánh gánh câu hẹn hò.
Nón nghiêng che dáng trời cho,
Đường thơm rơm rạ, sân kho thóc vàng.

Đó là hồi ức về quá khứ một đi không trở lại khi nhận ra “bờ tre giếng đất” của ngày xưa giờ đây không thấy đâu nữa. Điều gì, sự vật nào đã thế vào vị trí ấy? Không biết, tác giả không nói tới! Hiện tại đã mờ đi, nhòa đi, để kí ức lung linh hiện về. Đó là một “Đêm trăng sóng sánh gánh câu hẹn hò”. Chao ôi cái câu thơ đơn sơ thế mà lại tạc được dáng hình ai thon thả đang gánh nước đêm trăng! Từ láy “sóng sánh” làm chênh chao cả lòng người. Điều thú vị là cách kết hợp từ “sóng sánh gánh” với cách điệp vần của từ “sánh – gánh”, cùng các thanh điệu bổng trầm (B – B – T – T – T – B – T – B ) như gợi ra cái nhún nhảy nhịp nhàng theo chân bước với gánh nước trĩu nặng trên vai. Trong đêm trăng ngọt ngào ấy, ai hẹn hò với ai, để cho ai suốt đời khắc trong tim nét duyên thầm ai đó với chiếc nón che nghiêng “Nón nghiêng che dáng trời cho”. Nét đẹp thôn nữ càng dịu dàng đằm thắm giữa một không gian ngát hương lúa chín ngày mùa: “Đường thơm rơm rạ, sân kho thóc vàng”. Ấm áp, thân thương quá đỗi trong cái sắc vàng của thóc sáng bừng cả sân kho, trong mỗi chặng đường được rơm rạ nâng đỡ cho ấm mềm chân bước. Và sau đó, những hương vị quê nhà thân thuộc đã tỏa lan một dư vị đậm đà:

Bữa cơm trưa… mớ tép rang,
Bát riêu cua gạch nổi vàng… vị quê.
Mát lòng nước vối trưa hè,
Võng đưa kẽo kẹt, tiếng ve ong trời.

Toàn là những món ăn đồng quê bình dị, nghe đã thấy muốn được thưởng thức ngay rồi! Mớ tép rang, canh riêu cua đồng váng gạch, bát nước vối mát lòng… đã tạo thành “vị quê” không thể nào trộn lẫn, không thể nào quên. Và bức tranh quê còn có một thứ âm thanh rất đặc trưng của những trưa hè nơi thôn xóm, đó là tiếng võng đưa kẽo cà kẽo kẹt trong tiếng ve râm ran “ong trời”. Miêu tả âm thanh, mà ta lại thấy được sự yên tĩnh của không gian. Đâu đây như có làn gió mát từ bàn tay của mẹ đang quạt ru con ngủ trên chiếc võng đưa… Ngoài kia, vườn cây xanh sum suê hoa trái đang tỏa bóng mát cho những chú ve dạo khúc nhạc hè… Tất cả hương đồng gió nội và thanh âm quê nhà ấy đã thấm thía trong ta sự lắng sâu về tình yêu xứ sở…

Khổ thơ kết bài là những suy tư chiêm nghiệm về quê hương và cuộc đời:

Vườn quê xanh tiếng chim rơi,
Cho ta tìm lại khoảng đời bình yên.
Tháng năm bươn chải trăm miền,
Về quê… tìm lại chút thiên đường. LÀNG!

Tiếng chim thánh thót giữa vườn quê được hình tượng hóa thành những giọt âm thanh hữu hình đang rơi xuống vườn xanh, rơi xuống cuộc đời, nhẹ êm, trong mát. Từ hình ảnh “Vườn quê xanh tiếng chim rơi” đầy sắc màu và âm thanh, tác giả đã nói tới một điều thật giản dị: Quê hương chính là “khoảng đời bình yên” của con người. Vì sao? Vì nơi đó, không có sự bon chen danh lợi phù hoa, không có bụi bặm phố phường làm ta ngạt thở. Nơi đó chỉ có sự chân thật, giản dị, ấm tình, giống như nhà thơ Chử Thu Hằng đã viết trong “Về quê”: “Về quê tìm cánh diều xưa- Cho lòng vợi bớt nắng mưa, dãi dầu”. Sau bao năm tháng bươn chải với đời, đi khắp mọi miền gần xa, mới thấy thiên đường đời ta chính là “Làng”. Câu thơ cuối sử dụng dấu chấm câu gần cuối dòng thơ để tạo nên một hiệu ứng bất ngờ: “Về quê… tìm lại chút thiên đường. Làng!”. Chữ LÀNG được viết hoa, trong một câu đặc biệt, kết hợp với dấu chấm than, như một tiếng reo vui, một sự thức nhận đầy xúc động. Vâng, Làng là thiên đường ngay giữa cõi trần ai này, cần gì phải đi tìm nơi đâu xa xôi nữa! Đó là nơi ta sinh ra, trưởng thành, cũng chính là nơi chở che bao bọc, nơi thanh lọc tâm hồn ta, cho ta sự bình yên thanh thản. Cái nôi sinh dưỡng đầy bao dung ấy sẽ mãi là điểm tựa tâm hồn cho ta đứng vững trước phong ba cuộc đời.

Thời gian sẽ trôi đi, chưa biết trong tương lai sẽ có những gì còn – mất, nhưng chắc chắn một điều, tình yêu làng xóm quê hương, nơi chôn rau cắt rốn sẽ không thể nào thay đổi. Và như thế, “Về làng” đã neo đậu mãi trong ta một bến bờ tình quê đầy thương mến…

Video yêu thích
Suối Mường Hum còn chảy mãi

Suoi Muong Hum con chay mai

SUỐI MƯỜNG HUM CÒN CHẢY MÃI

Nguyễn Tài Tuệ

Bản Mường Hum non ngàn núi cao
Mây trắng bay lên bản với hoa
Nghe rì rào mùa xuân về theo suối lắng trôi
Mùa xuân về vui theo suối a..à.. ơi
A ơi dô..à ới dô
Nhịp nhàng thoi đưa hòa với tiếng suối reo
Trập trùng sườn đồi với nương ngàn lúa xanh tươi
Khắp bản sướng vui vang mùa xuân tiếng ca …a..á .à…
Gửi ngàn lời ca về khắp nơi
Lời ca, lời ca ngợi Đảng ta còn vang mãi
Ai dô… ai dô… ai dô ..
Mùa Xuân nay với thông reo bên ngàn.

Rộn ràng vui cánh dù phía xa
Phơi phới bay theo tà áo hoa
Vang lưng đèo khèn ai về theo nuống, nuống ơi
Khèn ai về vui theo nuống a ơi
A ai dô, ơi dô chàng trai bên khuông về theo nuống nuống ơi
Kìa nuồng ngập ngừng với bên dòng suối đêm vui
Sáng ngời thắm tươi môi cười như  cánh hoa đào
Gửi ngàn lời ca về khắp nơi, nuồng ơi
Lời ca về miền xuôi về theo suối…ớ..ơi
Ai dô …à ai dô.. ai dô
Mùa Xuân nay với thông reo bên ngàn.

A ơi dô

Nghe tiếp:
Suoi Muong Hum
Ảnh: Suối Mường Hum ở huyện Bát Xát, Lào Cai

Trình bày bởi
NSƯT Bích Vượng  Bài ca đi cùng năm tháng

Ban Muong Hum

SUỐI MƯỜNG HUM CÒN CHẢY MÃI

Nhạc và lời  Nguyễn Tài Tuệ, ca sĩ Anh Thơ trình bày, post bài Nguyễn Phan Giang, hoangkimvietnamZing.Me

SuoiMuongHumcocchaymai

cropped-linhgiang.jpg

“Hãy học thái độ của nước mà đi như dòng sông!”

“Trong lòng ta có một dòng sông quê hương thao thiết chảy.”
Hoàng Kim
http://khatkhaoxanh.wordpress.com/
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính

Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, Kim on Twitter, Kim on Facebook, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn

Trở về trang chính
DẠY VÀ HỌC