Nếp nhà đẹp văn hóa

NẾP NHÀ ĐẸP VĂN HÓA
Hoàng Kim

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nói về phép xử thế của bậc hiền minh thuở thời thế nhiễu loạn, vàng lầm trong cát: ”Đạo trời đất là Trung Tân, vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê. Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện.Trung Tân quán bi ký, 1543). Đạo ở mình ta lấy đạo trung/ Chớ cho đục, chớ cho trong (Thơ chữ Nôm, Bài số 104) Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn, người đến chốn lao xao (Thơ chữ Nôm, Bài số 79). Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. (Diên Thọ kiều bi ký, 1568) An nhàn, vô sự là tiên (Sấm ký)”. Người đời sau luận chuyện Lão Tử ‘dạy’ Khổng Tử: “Ngươi cứ nhìn vào trời đất mà hiểu Đạo của ta. Kìa, có trời thì có đất, có núi thì có sông, có cao thì có thấp, có dài thì có ngắn, có cương thì có nhu, có rỗng thì có đặc, có sáng thì có tối, có thẳng thì có cong… Mọi thứ đang dịch chuyển trong sự biến hóa vô cùng. Tự nhiên tự do nhưng có trật tự và cái lí của nó. Cao thì xa, thấp thì gần, dài thì yếu, ngắn thì mạnh, cương thì gãy, nhu thì dẻo, rỗng thì âm to, đặc thì câm. Mọi thứ trong trời đất gắn kết được nhờ khác biệt, không có chuyện giống nhau mà hợp lại được với nhau“.

Hoàng Kim đúc kết tóm tắt về nếp nhà đẹp văn hóa xây dựng gia đình hạnh phúc, cần có phúc ấm gia đình với trí tuệ phúc hậu, minh triết, tận tâm, làm việc tự ý cẩn thận, im lặng là trí tuệ, lời nói là năng lực. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm. Nếp nhà là thói quen của gia đình. Nguyễn Trãi có câu “Nên thợ, nên thầy nhờ có học/ No ăn, no mặc bởi hay làm”. Làm và Học là hoạt động sống cơ bản của con người để đáp ứng nhu cầu tối thiểu ăn mặc, yêu đương, nhà ở, đi lại và chăm sóc sức khỏe. Chất lượng cuộc sống xét cho cùng là sự phát triển tự do của mỗi người. Cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm (trong sách Hoàng Niêm đất Hương Sơn, Nhà Xuất bản Thuận Hoá, năm 2007) là cha ruột của những người con danh tiếng GS Nguyễn Khắc Dương, GS Nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện, GS Nguyễn Khắc Phi, Nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà giáo Nguyễn Thị Dư Khánh, qua bài viết “Cụ Hoàng Giáp dạy con” của Vu Gia đã chúng ta thấy nét đẹp văn hóa của một gia đình hạnh phúc. GS. Hoàng Ngọc Hiến có bài bình giảng rất hay về nếp nhà Nên thợ, nên thầy” “No ăn, no mặc”. Ông Lê Quang Nhung ở Bến Tre có bài “Giữ lại nếp nhà” đã trao đổi thật thấm thía “Nếp nhà là cái ở sâu trong trái tim ta, là gốc rễ của con người nhưng do mải mê với cuộc sống, nhiều khi ta quên mất. Rất đồng tình với ai đó: Xã hội là nơi cho cá nhân phát triển, còn gia đình là nơi cá nhân hình thành tính cách, tâm hồn, tư duy, tài năng, đạo đức của con người. Vì vậy, xây dựng môi trường văn hóa từ gia đình phải là một mắc xích quan trọng trong quá trình giáo dục tính cách, tình cảm, tâm hồn, đạo đức, đặc biệt là cho giới trẻ. Tu được thân mới “tề gia”, rồi đến “trị quốc”, sau cùng là “bình thiên hạ”. Sắp xếp theo trình tự như vậy cũng có cái lý của người xưa.” Nhà văn Nguyễn Khải có bài viết “Nếp nhà” nói rõ quan niệm gia đình hạnh phúc qua lời kể của một bà cụ phúc hậu “Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người, phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin”.

Bài này là suy nghiệm của tôi về nếp nhà đẹp văn hóa

MỪNG CẬU TRÒN TRĂM TUỔI

“Nhân hậu thói nhà in một nếp
Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu”

Kính Cậu Hoàng Thúc Cảnh
Trăng rằm đêm Trung Thu
Nếp nhà đẹp văn hóa
Hoa Đất thương lời hiền

Mạc triều trong sử Việt
Trăng rằm vui chơi giăng
Nhớ Ông Bà Cậu Mợ
Hoàng Gia Cương thơ hiền

cháu Hoàng Kim kính chúc thọ Cậu Hoàng Thúc Cảnh 100 tuổi Trung Thu 2020 (*)

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là hoangthuccanh-29-6-1987.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là hoang-thuccanh-2.jpg

‘Mừng Cậu tròn trăm tuổi’ là thơ Hoàng Kim kính đại thọ Cậu Hoàng Thúc Cảnh. Một câu chuyện ân tình của Cậu nhân việc mừng thọ Cậu một trăm tuổi tôi lần đầu xin kể lại: Năm 1977, Cậu Hoàng Thúc Cảnh đã lặn lội đường xa lên gặp thầy Hoàng Sỹ Oánh là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đại học Nông nghiệp II Hà Bắc ở Đồn Lương, Việt Yên, Hà Bắc và nói: Xin quý Thầy cho cháu Kim được chuyển trường vào Đại học Nông nghiệp 4 ở thành phố Hồ Chí Minh của nước mình vừa thống nhất. Kim mồ côi cha mẹ từ nhỏ, cha bị bom Mỹ giết hại. Anh Trực trận mạc từ rất sớm. Kim đã học trường thầy và đã xung phong nhập ngũ năm 1971. Cháu học giỏi lại trưởng thành dày dạn trong chiến đấu, nay về trường lại được quý thầy quy hoạch đào tạo là thật mừng. Nhưng mong quý Thầy chiếu cố hoàn cảnh cháu thật thương tâm, trước cơm ngày một bữa suốt năm năm, nay cả nhà vẫn lưu tán một người một nơi. Gia đình ao ước lớn nhất là tụ họp sau chiến tranh. Anh biết rõ tánh tôi ở gần gủi Bác và cụ Đồng, trọng tánh của các cụ mà chưa hề phiền lụy ai, nhưng riêng việc này nhờ anh chiếu cố. Thầy Đỗ Ánh là Hiệu trưởng kế tiếp của Trường, và thầy Võ Hùng đều cảm động. Đức nhân hậu, lòng yêu thương và tầm nhìn sáng suốt, thật biết ơn cậu, một lời gia đình đoàn tụ. MỪNG CẬU TRÒN TRĂM TUỔI“Nhân hậu thói nhà in một nếp /Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu” Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/…/chao-ngay-moi-1-thang-10/

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là 2017-10-12_nepnhavanetdepvanhoa3.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là hoanggia-va-bac-giap.jpg

TỰ VỊNH VƯỢT BÁT TUẦN
Minh Sơn Hoàng Bá Chuân


Bát tuần đã trãi việc đời nhiều
Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu
Nhân hậu thói nhà in một nếp
Trung kiên việc nước đủ trăm chiều
Lòng son phơi phới vầng trăng dọi
Tóc bạc phơ phơ ngọn gió phiêu
Hôm sớm sân Lai (*) thêm sắc mới
Sum vầy con cháu tiếng vui reo !

NHỚ ÔNG BÀ CẬU MỢ
Chúc mừng Cậu Mợ cùng đại gia đình vui khỏe hạnh phúc


Mai trắng tóc người cũng trắng trong
Đường trần lên thấu đỉnh cao phong
Hoàng gia Mạc tộc ngời tâm đức
Lối hẹp đường cong chẳng thẹn lòng

Hoàng Kim
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-ong-bà-cau-mo/ — cùng với Hoang Thuc Tan, Hoàng Quý Thân và.Cương Hoàng Gia

Hoàng Thúc Tấn viết: Cậu xem bài viết về Cao Biền của cháu thật sự là điều mới lạ đối với cậu. Nếu thực sự Cao Biền như cháu đã khảo cứu thì lịch sử nước ta hoàn toàn khác. Có đoạn nói mộ Cao Biền ở Tuy Hoà thì thời nhà Đường nước ta mới chỉ vẻn vẹn một phần của Bắc bộ. Cậu xem một số bài khảo cứu của cháu qua Faebook và rất vui và lý thú khi đọc. Cậu Tấn”

Kim Hoàng trả lời: cháu nhớ cậu cùng các cậu mợ kính yêu và người thân của các cháu. Cháu thật xúc động khi hình dung người cậu trên 85 tuổi đã viết cho cháu những lời chân tình này. Cháu về quê thắp hương cho người thân ‘Hoàng gia Mạc tộc’ và thấu hiểu sâu sắc ‘Cao cát Mạc sơn’ nhưng cháu chưa thể viết rõ hơn. Cháu xin lưu tại đây đường dẫn bài ‘Cao Biền trong sử Việt” https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cao-bien-trong-su-viet/

1, Cháu trích chép kính cậu một ghi chú trong bài trên (5) Vạn Kiếp tông bí truyền thư (萬劫宗秘傳書) của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương, tác phẩm này còn gọi là Vạn Kiếp binh thư đã thất truyền. Bài tựa của Trần Khánh Dư trong cuốn sách này giải thích bí truyền đại sư là người thế nào:

“Phàm người khéo cầm quân thì không cần bày trận, khéo bày trận thì không cần giao chiến, khéo giao chiến thì không thể thất bại, khéo thất bại thì không thương vong. Xưa kia, Cao Dao làm chức sĩ sư mà mọi người không dám trái mệnh, Văn Vương và Vũ Vương nhà Chu là bậc thầy về văn và về võ, ngấm ngầm sửa đức để khuynh loát quyền bính của nhà Thương mà lấy nghiệp vương. Đó đều có thể gọi là những người giỏi cầm quân, không cần bày trận vậy. Vua Thuấn múa lá mộc và lông trĩ mà họ Hữu Miêu tự mình tìm đến, Tôn Vũ nước Ngô đem mỹ nhân trong cung thử tập trận mà phía tây phá nước Sở hùng cường, phía Bắc ra uy với nước Tần nước Tấn, nổi tiếng khắp chư hầu. Đó đều có thể gọi là những người giỏi bày trận, không cần giao chiến vậy. Cho đến Mã Ngập nước Tấn dựa vào bát trận đồ chuyển đánh nghìn dặm, phá được Thụ Cơ Năng mà lấy lại Lương Châu. Thế gọi là người giỏi giao chiến không bao giờ thất bại vậy.Cho nên, trận nghĩa là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, vua Hiên Viên lập ra phép “tỉnh điền” để đặt binh chế, Gia Cát Lượng xếp đá bên sông để làm bát trận, Vệ công sửa lại làm trận Lục Hoa, Hoàn Ôn định ra trận Xà Thế, trước sau đều có trận đồ nổi tiếng, trình bày tuần tự, thành phép tắc rõ ràng. Nhưng người đương thời ít ai thông hiểu, muôn vàn đầu mối nhìn vào dường như rối loạn, chưa từng nắm được lẽ biến dịch bên trong. Ví như những phép tắc và suy luận của Lý Thuyên, người sau không ai hiểu nghĩa là gì. Vì thế, Quốc công ta bèn so sánh, kê cứu trận đồ và binh pháp của các nhà, tổng hợp lại thành một bộ sách. Tuy chép cả những điều chi tiết, nhưng người sử dụng thì nên bỏ bớt những chỗ rườm, tóm lấy thực chất. Rồi lấy năm hành ứng với nhau, chín cung câu với nhau, phối hợp cương và nhu, xoay vần chẵn và lẽ, không làm hỗn loạn âm dương và thần sát, phương lợi và sao tốt, hung thần và ác tướng, ba cát và năm hung, việc nào việc ấy thực phân minh rõ rệt. Quốc công lại còn thêm bớt với chiến thuật của thời Tam đại, nhờ đó trăm trận trăm thắng. Cho nên đương thời phía bắc làm cho Hung Nô phải sợ, phía tây làm cho Lâm Ấp phải kinh. Rồi ông đem sách này dạy bảo con em làm gia truyền, không tiết lộ cho người ngoài biết. Lại có lời dặn rằng: “Sau này con cháu và bề tôi phò tá của ta có học được bí thuật này thì nên lấy đầu óc sáng suốt, linh hoạt mà thực hành và sắp đặt nó, chứ không nên lấy đầu óc cứng nhắc, tối tăm mà cất giữ và lưu truyền. Nếu trái điều đó thì sẽ mang vạ vào thân, lại hại lây đến cả con cháu. Đó gọi là tiết lậu cơ trời vậy.”
Bài tựa của Trần Khánh Dư cho Vạn Kiếp tông bí truyền thư, còn như sách Binh thư yếu lược mà người đời ngờ rằng bản thật đã bị cướp và thất lạc. đời sau chỉ có chân truyền lời này.

2. Mạc triều trong sử Việt. Hoàng chi Mạc tộc và Cao Bằng . Tỉnh Cao Bằng có làng Đà Quận ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, từ thời Mạc đến nay hàng năm đều có Lễ hội chùa Đà Quận từ ngày 9 âm lịch đến rằm Nguyên tiêu tháng Giêng hàng năm để tảo mộ tổ tiên và dâng hương tưởng nhớ. Cao Bằng là đất sau cùng của nhà Mạc tiếp tục tồn tại hơn 100 năm sau khi nhà Mạc không còn triển vọng phục quốc mới nhập vào đất nhà Hậu Lê. Làng Đà Quận là làng dân Mạc theo hương linh Đà Quận Công Mạc Ngọc Liễn. Nhà Mạc tuân theo di nguyện của Mạc Ngọc Liễn danh tướng thái phó vua Mạc là không bao giờ vì dòng họ mình mà nồi da xáo thịt đưa ngoại viện vào giày xéo non sông. Mạc tộc lúc kế cùng lực kiệt đã đổi họ Mạc thành họ khác và lưu tán khắp mọi nơi trong cả nước, trong đó có Hoàng chi Mạc tộc Làng Minh Lệ và cho đến nay có Hoàng chi Mạc tộc đất phương Nam cũng là những người con xa xứ. Những ngày đầu xuân nay (2020) sau 428 năm (tính từ năm 1592 Cao Bằng thất thủ vì sự công phá của nhà Lê Trịnh), Việt sử ghi nhớ di nguyện tổ tiên, ‘Lời dặn sau cùng của Mạc Ngọc Liễn’ tại quốc sử Việt đối chiếu qua các thời viết về Mạc triều trong sử Việt: “Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Dân ta là người vô tội mà khiến để phải mắc nạn binh đao, ai nỡ lòng nào! Chúng ta nên lánh ra ở nước khác, nuôi dưỡng uy lực, chịu khuất đợi thời, chờ khi nào mệnh trời trở lại mới làm được, chứ không thể lấy lực chọi với lực. Khi hai con hổ tranh nhau, tất phải có một con bị thương, không có ích gì cho công việc. Nếu thấy quân họ đến đây thì chúng ta nên tránh đi, chớ có đánh nhau với họ, cốt phòng thủ cẩn thận là chính; lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”. Tác giả Trần Gia Phụng trong bài viết: “Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử” có đoạn bình luận về lời trăng trối của ông: “Đây không phải lời nói suông trong cảnh trà dư tửu hậu, nhưng đây là tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn cùng cực vì mất nước. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, hào hùng như vó ngựa tổ tiên, nhưng ít khi được đọc những dặn dò như Mạc Ngọc Liễn – nhân bản, đầy tình tự dân tộc không khác gì lời ru êm ái trong những câu ca dao mộc mạc”.

3. Chuyện cổ tích người lớn “Người trồng cây hạnh người chơi, Ta trồng cây đức để đời về sau” Trong 8 đời chúa Nguyễn, không thấy ông nào làm điều gì thất đức. Ông nào cũng lo làm cho dân giàu nước mạnh. Lịch sử cuộc nam tiến đi từ Phú Yên đến Cà Mau-Châu Đốc chứng minh điều đó. Hậu thế đã được thừa hưởng biết bao phúc lợi từ sự nghiệp nam tiến đó! Có 3 ông chúa mang danh hiệu khác người: Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Ngãi. Nghe nôm na và thân tình biết mấy. Nếu cai trị mà không được dân thương mến và biết ơn  thì làm chi có những cách gọi kém vương giả nhưng giàu tình cảm như thế? Có đến 4 ông chúa, ngoài tên và vương hiệu, lại tự xưng là đạo nhân, như Thiên Túng đạo nhân (chúa Minh Nguyễn Phúc Chu), Vân Tuyền đạo nhân (chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ) hay Từ Tế đạo nhân (Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), Khánh Phủ đạo nhân (Định Vương Nguyễn Phúc Thuần). Đó cũng là một nét đặc biệt. Nhiều ông chúa xây chùa (chúa Tiên lập chùa Thiên Mụ, Long Hưng, Bảo Châu, Kính Thiên; chúa Hiền lập chùa Túy Vân) hay  trùng tu chùa, đúc chuông, thỉnh sư giảng Pháp (chúa Minh).  Có lẽ nhờ biết tu nhân tích đức mà Đức năng thắng số, Số bất cập đức nên  tai qua nạn khỏi, như câu tục ngữ mà ông bà xưa thường nói để dạy khôn cho con cháu: Trời hại mới lo, người hại như phấn nhồi. Đó là nói nôm na, cho có vẻ chính xác và minh triết hơn thì đấy chính là nhân quả nghiệp báo”. Điều lạ lùng hơn cả trong Nam tiến của người Việt là liên minh Nguyễn Hoàng Mạc Cảnh Huống, Nguyễn Phúc Nguyên Mạc Thị là những uẩn khúc lịch sử chưa thể viết rõ.

xem tiếp Nhớ Ông Bà Cậu Mợ; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-3-thang-10/

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là giadinhdilien.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là 1b-cac-cau-cua-bakim.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là 1-vieng-mo-chame-co-caumothan-truchuyenkim.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là mung-em-lam-nguoi-thay-nhc3a2n-van.jpg

HOÀNG CHI MẠC TỘC LÀNG MINH LỆ

Chúng tôi tự hào về dòng họ Hoàng chi Mạc tộc làng Minh Lệ có nhiều người con trung hiếu với đất nước, quê hương và gia đình. Cụ Hoàng Bá Chuân, bố của bảy người con trai ở câu chuyện “Cuộc đoàn tụ bất ngờ của 5 anh em ngày giải phóng thủ đô“ là em ruột của bà ngoại tôi.Ông tôi thường dạy con cháu về nếp nhà phúc hậu văn hóa. Ông bà cậu ruột mẹ tôi đã trao lại di thư: “Nhà tôi sinh được bảy người con/ Quyết chí chung tình với nước non/ Kháng chiến năm con đi khắp nước/ Lớn lên trai bé sẽ xung phong…” Cậu Cương ngọc trai bé của ông tôi, sau này cũng vào bộ đội Trung đoàn Thủ Đô (E102) Sư đoàn Quân Tiên phong (F308). Cậu Cương dần dà theo trọn đời nghề làm kỹ thuật vô tuyến điện nhưng cái nghiệp lắng đọng lại là thơ, theo dòng thời gian thao thức một tầm nhìn nhân văn sâu sắc, tài hoa, với một gia đình hạnh phúc, nếp nhà phúc hậu và văn chương đích thực. Hoàng chi Mạc tộc Làng Minh Lệ có một thuở đã lạc vào tai ách “Phố cụt”. Thật may mắn trước “Phố cụt” đã có “Phố khuya” để kịp bình tâm suy ngẫm, và sau “Phố cụt” “cùng tắc biến” là “Phố nối” hóa giải “Phố cụt”, tiếp “Phố cong Tam Đảo” và xuống đến đời thường “Đi trên phố nhỏ” bình yên của một vòng tròn nhân quả. Tôi đã tâm đắc để viết nên bài thơ “Thời gian lắng đọng người hiền.” trong buổi sáng cuối thu cà phê sáng với CNM365

Đi tìm lịch sử bị quên lãng tôi nhớ đến Vua Hàm Nghi và ông Nguyễn Thạc và nhớ đến Bà Đen Bài ca thời gian. Câu chuyên hậu duệ của Hoàng chi Mạc tộc làng Minh Lệ có sự gần gũi câu chuyện hậu duệ nhà Nguyễn. Cựu hoàng Nguyễn Phúc Vĩnh San Duy Tân được Tướng De Gaulle (sau này là Tổng thống Pháp) đồng ý cho trở lại Việt Nam trên cương vị Hoàng đế; nhưng sau khi hoàng đế Duy Tân thẳng thừng đưa ra đề xuất đòi hỏi sự thống nhất của ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ) thì ông đã bị tử nạn ngay tại Trung Phi và tất cả những người đi trên máy bay đều thiệt mạng. Lịch sử Việt do sự chi phối của những yếu tố tất nhiên và ngẫu nhiên mà tạo nên bước ngoặt quyết định, đó âu là duyên nghiệp số phận của dân tộc liên quan cá nhân. Vua Hàm Nghi  tên thật là  Nguyễn Phúc Ưng Lịch hay là Nguyễn Phúc Minh, sinh ngày  3 tháng 8 năm 1871 mất ngày  4 tháng 1 năm 1943, niên hiêu là Hàm Nghi từ khi làm vua  ngày  2 tháng 8 năm 1884 cho đến khi bị đày sang xứ Algérie ở Bắc Phi  ngày 25 tháng 11 năm 1888. Vua là vị Hoàng đế thứ 8 của nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Ngày nay, Việt Nam xem ba vị vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân là các vua yêu nước chống Pháp  trong thời kỳ Pháp thuộc. Do những uẩn khúc lịch sử, ông Trương Thạc là người Việt Nam duy nhất cuối cùng bên linh cữu vua Hàm Nghi. Chúng tôi gọi ông Trương Thạc chồng mệ Phong họ Trần, chị gái đầu của bà ngoại tôi là ông cậu thất Khiếng hay ông cậu thất Phong (gọi theo tên con là cậu Phong của chúng tôi). Hoàng chi Mạc tộc làng Minh Lệ có quan hệ đến Võ Nguyên Giáp ẩn số Chính Trung và những câu chuyện dài trong nếp nhà và nét đẹp văn hóa mà tôi kể kỹ hơn ở phần ba.Thời gian lắng đọng người hiền.

Thời gian lắng đọng người hiền
Hoàng Kim

Bình minh Yên Tử  đầu tiên
Ánh Trăng khuya rọi khắp miền thế gian
Hoàng Gia thi tứ nồng nàn
Tình yêu cuộc sống muôn vàn yêu thương.

Câu thơ lắng đọng đời thường,
Mạ ơi xúc động lời thương dặn dò,
Cha tôi là một nhà Nho,
Tìm về nguồn cội, Chớm thu … tuyệt vời !

Cội nguồn Lũng Động, Cổ Trai,
Khí thiêng cõi Bắc nhớ nơi sinh thành,
Vua Thái tổ Mạc Đăng Dung,
Hoàng chi dòng đích lưu cùng nước non.

Phố Cụt, Phố nối, Phố cong,
Đi trong phố nhỏ một vòng nhân gian
Rùa ơi tôn bậc trí nhân
Để nền Văn hiến ngàn năm không nhòa.

Sáu mươi năm Mạ đi xa,
Mạ ơi tiếng vọng không là niềm riêng.

Thời gian lắng đọng người hiền.
Đông tàn xuân tới, bình minh rạng ngời.

Hoàng Gia Cương thơ hiền

Hoàng Gia Cương là tác giả của chùm thơ (chữ tin đậm mà Hoàng Kim trích dẫn trên đây). Cụ có các tác phẩm chính: Thơ 1) Lặng lẽ thời gian, Nxb Thanh Niên 1997, 2) Lắng đọng Nxb Hội nhà văn, 2001, 3) Trong cõi vô biên Nxb Hội nhà văn 2005, 4) Trãi nghiệm với thời gian Nxb Hội nhà văn 2010, 5) Theo dòng thời gian Nxb Văn Học 2013; Truyện ký 6) Cổ tích cho mai sau Nxb QĐND 2006. Tác phẩm thơ văn của Hoàng Gia Cương có mặt trên 30 tuyển tập, tập thơ văn in chung. Anh Bu Lu Khin Nguyễn Quốc Toàn viết: “Trong số thơ của Hoàng Gia Cương bu tui thích nhất bài “Phố Cụt”. Cái cụt của con đường là biểu trưng cho cái bê tắc, cái cụt lủn của khát vọng của con người. Người ta bám vào ba cái phao cứu sinh là Phật, Chúa, và Tư bản luận của Mác nhưng tất cả cũng chỉ là cơn gió bay qua “Gió nồm rồi gió heo may. Lạc vào phố cụt Bụi bay mù trời!”. Gia đình Hoàng gia Mạc tộc “thập tam thế hậu” nhờ phúc ấm tổ tông và nếp nhà nét đẹp văn hóa mà có được sự hanh thông hạnh phúc tiếp nối.

Năm nay, qua tuổi 80 Cụ viết bài thơ ‘GÌA”, lắng đọng lời kết:

Lửa bớt cháy trong lòng
Đá dường như thêm cứng
Trời dường như bớt nắng
Đời lại là SẮC – KHÔNG !

*
LẮNG ĐỌNG lưu lời hay
THEO DÒNG THỞI GIAN chảy
TRÃI NGHIỆM VỚI THỜI GIAN
CỔ TÍCH CHO MAI SAU.

TRONG CÕI VÔ BIÊN ấy
LẶNG LẼ THỜI GIAN trôi
TRUYỆN KÝ là mạch sống
Hoàng Gia Cương thơ hiền (*).

(*) Hoàng Gia Cương thơ hiền, đối họa này đã được trích dẫn trong bài Nếp nhà đẹp văn hóa. Những chữ in đậm là tên các tập thơ Cậu Hoàng Gia Cương do Hoàng Kim giới thiệu.

Hoàng Gia Cương theo dòng thời gian

Thông tin tại https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoang-gia-cuong-tho-hien/https://cnm365.wordpress.com/categorychao-ngay-moi-5-thang-10 ; và https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-4-thang-10)http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong

HỌ TRẦN MẸ VÀ DÌ

Dòng họ Hoàng và dòng họ Trần làng Minh Lệ chúng tôi có người ông ngoại sinh được ba người con. Mẹ là gái đầu đi ở cho nhà địa chủ từ nhỏ. Cậu ‘qua’ mất sớm. Dì là gái út thoát li làm cách mạng từ rất sớm. Mẹ sinh ba trai, hai gái. Dì sinh bốn trai. Mẹ tôi mất sớm đúng ngày Tết Nguyên Đán mồng Ba năm 1964. Cha nói trong nước mắt: ‘Các con gọi chồng dì bằng cậu, bởi hiếm có ai chăm sóc chị dâu tận tụy như dượng của các con’. Cha bị bom Mỹ giết hại ngày 29 tháng 8 âm lịch năm 1968. Chúng con lớn lên dưới lồng cánh cưu mang của Dì Cậu và đại gia đình Trần Hoàng Nguyễn..Trong vận mệnh của Tổ Quốc và Gia Đình, cha và cậu đã từng cầm súng, bảy con trai của mẹ và dì có năm đứa đã từng cầm súng

HOÀNG GIA NGỌC PHƯƠNG NAM

Gia đình tôi Hoàng gia phương Nam có bốn tộc Hoàng, Trần, Lê, Nguyễn. Bố tôi với bác tôi và người em gái bố đều rất nghèo. Bác tôi là thầy đồ nho dạy học chữ Tàu thuở tiếng Tây lên ngôi nên nhà sa sút. Cô tôi đi ở và lấy chồng Phong Nha Kẻ Bàng. Bố tôi lấy mẹ tôi cũng là người đi ở cho địa chủ và nghề của bố là chuyên chèo đò khuya chợ Mới chợ Troóc từ ngã ba nguồn Son tới Phong Nha và kịp về làm nông để nhận công điểm hợp tác xã. Bố chết bom năm 1968. Trần là họ mẹ, gốc gác họ Trần có từ thời vua Trần Dụ Tông chết trận khi đánh Chiêm Thành thì vợ vua không về Bắc nữa mà ở lại thành tộc Trần. Năm gia tộc ở Làng Minh Lệ là Trần, Hoàng, Trương, Nguyễn và Hoàng chi Mạc tộc. Cũng có thêm chi tiết của Mạc Cảnh Huống và Mạc Thị Gái nhưng sự kiểm chứng nguồn gốc Trần, Hoàng còn cần thêm thời gian. Lê là họ chị dâu cả của gia đình tôi là dân xứ biển ngoại hải Quảng Thuận gần Ba Đồn. Nguyễn là họ vợ tôi và họ của chồng chị gái Hoàng Thị Huyền. “Chúng tôi sinh thành ở Quảng Bình… Nhà mình ở ngã ba sông. Rào Nan chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình. Nay thì đoàn tụ đất phương Nam. Gia đình chúng tôi đi như một dòng sông, gìn giữ nếp nhà chân chính nhân hậu

hoangtranlenguyendatphuongnam

Hoàng Ngọc Dộ khát vọng

Hoàng Ngọc Dộ (1937-1994) là nhà giáo quê ở xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch (nay là thị xã Ba Đồn), tỉnh Quảng Bình. Mẹ mất sớm. Nhà nghèo. Cha bị bom Mỹ giết hại. Thầy đã nổ lực nuôi dạy các em vượt qua gian khổ, nghèo đói và chiến tranh để vươn lên trở thành những gia đình thành đạt và hạnh phúc. Gương nghị lực vượt khó hiếm thấy, ăn ngày một bữa suốt năm năm, nuôi hai em vào đại học với sự cưu mang của thầy bạn và xã hội đã một thời lay động sâu xa tình cảm thầy trò Trường Cấp Ba Bắc Quảng Trạch (Quảng Bình). Thầy mất sớm, hiện còn lưu lại gần 100 bài thơ. Lời thơ trong sáng, xúc động, ám ảnh, có giá trị khích lệ những em học sinh nhà nghèo, hiếu học. Một số bài tiêu biểu có trên Thi Viện trang thơ Hoàng Ngọc Dộ “Khát vọng”

Cuốc đất đêm

Mười lăm trăng qủa thật tròn
Anh hùng thời vận hãy còn gian nan
Đêm trăng nhát cuốc xới vàng
Trăng dòm, ta hẹn, trăng càng dòm thêm
Đất vàng, vàng ánh trăng đêm
Đêm khuya, ta với nàng quên nhọc nhằn.

Ánh sao

Bóng đêm trùm kín cả không trung
Lấp lánh phương Đông sáng một vừng
Mây bủa, mây giăng còn chẳng ngại
Hướng nhìn trần thế bạn văn chương.

Lời nguyền

Không vì danh lợi đua chen
Thù nhà, nợ nước, quyết rèn bản thân!

Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên.

Mạ ơi

Đã chẵn tháng rồi, ôi Mạ ôi!
Tuần trăng tròn khuyết đã hết rồi
Mà con không thấy đâu bóng Mạ
Thấy trăng vắng Mạ dạ bùi ngùi.

Năm mươi ngày chẵn thấm thoắt trôi
Mạ về cỏi hạc để con côi
Vầng trăng tròn trặn vừa hai lượt
Vắng Mạ, lòng con luống ngậm ngùi.

Con đọc sách khuya không nghe tiếng Mạ
Nỗi tâm tư con nghĩ miên man
Lúc Mạ còn, con bận việc riêng con
Không đọc được để Mạ nghe cho thỏa dạ.

Nay con đọc, vắng nghe tiếng Mạ
Nỗi bùi ngùi lòng dạ con đau
Sách mua về đọc Mạ chẵng nghe đâu
Xót ruôt trẻ lòng sầu như cắt.
Mạ ơi Mạ, xin Mạ hãy nghe lời con đọc.

Buồn khi rão bước đồng quê
Buồn khi chợp mắt Mạ về đâu đâu
Buồn khi vắng Mạ dạ sầu
Buồn khi mưa nắng giải dầu thân Cha
Buồn khi sớm tối vào ra
Ngó không thấy Mạ, xót xa lòng buồn.

Chia tay bạn quý

Đêm ngày chẳng quản đói no
Thức khuya dậy sớm lo cho hai người
Chăm lo văn sách dùi mài
Thông kim bác cổ, giúp đời cứu dân

Ngày đêm chẵng quản nhọc nhằn
Tối khuyên, khuya dục, dạy răn hai người
Mặc ai quyền quý đua bơi
Nghèo hèn vẫn giữ trọn đời thủy chung

Vận nghèo giúp kẻ anh hùng
Vận cùng giúp kẻ lạnh lùng vô danh
Mặc ai biết đến ta đành
Dăm câu ca ngợi tạc thành lời thơ

Hôm nay xa vắng đồng hồ
Bởi chưng hết gạo, tớ cho thay mày
Mày tuy gặp chủ tốt thay
Nhớ chăng hôm sớm có người tri ân.

Thức em dậy

Đã bốn giờ sáng
Ta phải dậy rồi
Sao Mai chơi vơi
Khoe hào quang sáng

Ta kêu Kim dậy
Nó đã cựa mình
Vớ vẫn van xin
Cho thêm chút nữa.

Thức, lôi, kéo, đỡ
Nó vẫn nằm ỳ
Giấc ngủ say lỳ
Biết đâu trời đất

Tiếc giấc ngủ mật
Chẳng chịu học hành
Tuổi trẻ không chăm
Làm sao nên được

Đêm ni, đêm trước
Biết bao là đêm
Lấy hết chăn mền
Nó say sưa ngủ

Ta không nhắc nhủ
Nó ra sao đây
Khuyên em đã dày
Nó nghe chẳng lọt

Giờ đây ta quyết
Thực hiện nếp này
Kêu phải dậy ngay
Lay phải trở dậy

Quyết tâm ta phải
Cố gắng dạy răn
Để nó cố chăm
Ngày đêm đèn sách

Ta không chê trách
Vì nó tuổi thơ
Ta không giận ngờ
Vì nó tham ngủ

Quyết tâm nhắc nhủ
Nhắc nhủ, nhắc nhủ …

Nấu ăn

Ngày một bữa đỏ lửa
Ngày một bữa luốc lem
Ngày một bữa thổi nhen
Ngày một bữa lường gạo
Ngày một bữa tần tảo
Ngày một bữa nấu ăn.

(*) 5 năm cơm ngày một bữa

Nỗi lòng

Nhá củ lòng anh nhớ các em
Đang cơn lửa tắt khó thắp đèn
Cảnh cũ chưa lìa đeo cảnh mới
Vơi ăn, vơi ngủ, với vơi tiền

Cảnh mãi đeo người được đâu em
Hết khổ, hết cay, hết vận hèn
Nghiệp sáng đèn giời đang chỉ rõ
Rồi đây cay đắng chẳng buồn chen.

Dự liên hoan

Hôm nay anh được chén cơm ngon
Cửa miệng anh ăn, nuốt chả trơn
Bởi lẽ ngày dài em lam lũ
Mà sao chỉ có bữa cơm tròn.

Nhớ người xưa

Ông Trình, ông Trãi, ông Du ơi
Chí cả ngày xưa Cụ trả rồi
Có biết giờ đây ai khắc khoải
Năm canh nguyệt giãi gợi lòng tôi

Bó gối mười năm ở nội thành
Thầy xưa đã rạng tiết thanh danh
Tớ nay vương nợ mười năm lẽ
Sự nghiệp Thầy ơi rạng sử xanh.

Em ốm

Bồn chồn khi được tin nhà
Rằng người xương thịt nay đà bị đau
Nghĩ mình là kẻ đỡ đầu
Mà sao phải chịu lao đao chốn này.

Đêm rét thương em

Đêm này trời rét, rét ghê
Ta thương chiến sĩ dầm dề gió sương
Thương em lặn lội chiến trường
Chăn không, áo mỏng, gió sương dạn dày.

Em về

Em về anh biết nấu chi
Ba lần khoai sắn, kể chi cá gà
Thương em lặn lội đường xa
Về nhà khoai sắn, dưa cà cùng anh

Bao giờ giặc Mỹ sạch sanh
Em về anh thết cơm canh cá gà
Mùng vui kể chuyện nước nhà
Gia đình đoàn tụ thật là đượm vui.

Làm đồng

Làm đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót, say sưa với đồng
Chung tay liềm hái cuốc chòng
Ngày nay nhỏ giọt, mai lòng sướng vui.

Làm đồng nắng sém, da hui
Ai ơi xin chớ tham hời của dân
Khổ cay nắng sém da hồng
Xuân xanh già dặn với đồng, ai ơi!

Ngắm trăng

Nằm ngữa trong nhà ngắm Hằng Nga
Hợp cảnh, hợp tình, Hằng ngắm lại
Hợp nhà, hợp cửa, ả rọi hoa
Từng đám vòng tròn nằm giữa chiếu
Chiếu thế mà ra lại chiếu hoa
Hậu Nghệ thuở xưa sao chị ghét
Ngày nay mới biết ả yêu ta.

Nhà dột

Lã chã đêm đông giọt mưa phùn
Lách qua tranh rạ nhỏ lung tung
Chiếu giường ướt đẫm, thân đâu thoát
Nghĩ cảnh nhà hoa thật não nùng.

Qua đèo Ngang

Qua đèo Ngang, qua đèo Ngang
Rừng thẳm Hoành Sơn giống bức màn
Tường thành hai dãy nhiều lũy nhỏ
Gió chiều lướt thổi nhẹ hơi hương
Cổng dinh phân định đà hai tỉnh
Cheo leo tầng đá, giá hơi sương
Người qua kẻ lại đều tức cảnh
Ta ngẫm thơ hay của Xuân Hương (1)

(1) Thơ Xuân Hương:
“Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo …”

Hoàng Trung Trực dấu chân người lính

Anh Hoàng Trung Trực đã viết bài thơ “Viếng mộ cha mẹ” thật xúc động

Dưới lớp đất này là mẹ là cha
Là khởi phát đời con từ bé bỏng
Là lời mẹ ru dịu dàng cánh võng
Là gươm đao cha một thuở đau đời.

Hành trang cho con đi bốn phương trời
Là nghĩa khí của cha, là nhân từ của mẹ
Vẫn bầu sữa tinh thần không ngừng không nghỉ
Để hành trang cho con đi tiếp cuộc đời

Cuộc đời con bươn chãi bốn phương trời
Nay về lại nơi cội nguồn sinh trưởng
Dâng nén hương mà lòng hồi tưởng
Thuở thiếu thời dưới lồng cánh mẹ cha.

“Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên”.

Anh Hoàng Trung Trực đã tóm tắt hoàn cảnh gia đình tôi qua thơ “Dấu chân người lính”(*) Đó là thời kỳ chiến tranh khốc liệt nhất trong lịch sử Việt Nam, so sánh với sự ác liệt của chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, mà trên một mức độ nào đó thì sự tàn phá hủy diệt còn khốc liệt hơn. Ernest Hemingway (1899-1961), tác giả của kiệt tác Ông già và biển cả, Giã từ vũ khí, là một cựu quân nhân, sống trãi gần trọn đời trong chiến tranh và nghèo đói của chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai. Ông đã mô tả lớp người như ông là thế hệ cầm súng, không hề được tận hưởng chất lượng cuộc sống, là “Thế hệ bỏ đi” (Lost Generation) của cộng đồng người Paris xa xứ; xem Borlaug và Hemingway. Anh em tôi cũng thật thấm thía điều đó. Thế nhưng, cũng như bao nhiêu thanh niên của thế hệ Việt Nam Hồ Chí Minh , chúng tôi nhận thức sâu sắc rằng: Nhà nghèo sinh con hiếu / Nước loạn có tôi trung. Chúng tôi thề ra đi giữ trọn vẹn độc lập thống nhất non sông, làm tròn nghĩa vụ người con trung hiếu để về dâng hương.

DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH
Hoàng Trung Trực

Dấu chân người lính
Hoàng Trung Trực
    
Cuộc đời và thời thế

Năm Thân con khóc chào đời
Sức sống sữa Mẹ suốt đời tình thương
Nước nhà gặp cảnh tai ương
Việt Nam là bãi chiến trường giao tranh
 Pháp Nhật Tàu tới hoành  hành
Chạy giặc Cha Mẹ phải đành lánh thân
Người dân khổ cực muôn phần
Nước nhà chiến sự, nghèo bần Mẹ Cha
Trường Sơn rừng núi là nhà
Rừng thiêng nước độc, ta ra chẳng thời *
                               
Tuổi thơ trong nghèo đói

Ai quyền sống được làm người
Mà dân mất nước gặp thời chua cay?
Đời Cha sự nghiệp đổi thay
Lính Tây ngày trước, thời này đánh Tây

Ru ta lời Mẹ đêm ngày
Vọng theo hồn Nước tháng ngày bên Cha
Cha thì chiến đấu đường xa
Mẹ con chạy giặc, cửa nhà thì không
Nỗi niềm cuộc sống đau lòng
Bão mưa tàn phá, gió lồng không ngơi.

Gia đình nhiều nguy nan

Mẹ ta dãi nắng dầm mưa
Lo cho con có cháo dưa học hành
Giữa rừng số phận mong manh
Mẹ phải chịu bệnh hoành hành héo hon
Đời Mẹ chung thủy sắt son
Đời Cha lính chiến tuổi xuân đọa đày
Lời thề nguyên bản xưa nay
Đã là người lính không lay lòng vàng
Bệnh về chẳng chút thở than
Bao nhiêu mầm bệnh Cha mang theo về

Mẹ Cha bao gian khổ

Bệnh sốt rét thật là ghê
Gan lách phù thủng trăm bề hại Cha
Chiến tranh tan cửa nát nhà
Mình Cha xoay xở thật là gian nan
Phận con rau cháo cơ hàn
Tuổi thơ năm tháng bần hàn Mẹ Cha
Tháng ngày khoai muối dưa cà
Đời còn Cha Mẹ đậm đà tình thương
Tình Cha Mẹ, nghĩa Nước Non
Tháng ngày chăm chút vuông tròn hiếu trung.

Tuổi xuân vui lên đường

Lên đường theo lệnh tòng quân

Xa nhà nỗi nhớ bội phần từ đây
Mẹ khóc nước mắt tuôn đầy
Lo con gian khổ cuộc đời chiến binh
Cha không khóc chỉ làm thinh
Tiễn con tựa cửa lặng nhìn theo con

Vần xoay sự nghiệp vuông tròn
Dấu chân Cha trước, nay con theo Người
Gẫm suy mới rõ thế thời
Hoàng Trung Trực đã thành người chiến binh.

Giải phóng nước bạn Lào
(10/1963- 5/1965)

Đất Hương Khê , núi Quảng Bình
Vượt Trường Sơn vắt sức mình kiệt hao
Núi Phú Riềng, đất Lạc Xao
Nơi này ghi dấu chiến hào binh ta
Đời nhọc nhằn, thân xót xa

Trĩu vai súng đạn, gạo là quanh lưng        
Vượt bao đèo dốc  hành quân
Liên hồi tác chiến, máu dầm mồ hôi
Lại thêm sốt rét từng hồi
Thuốc men chẳng có, tháng trời toàn măng
Chia nhau chén cháo cứu thân
Trên bom, dưới đạn, ngủ hầm, tình thâm.

Nhớ người thân đã khuất

Đêm trường thân lại xông pha
Theo chân thủ trưởng vào ra trận thù
Đạn giặc đan chéo như mưa
Đôi chân thủ trưởng đạn cưa mất rối
Trong ta tỉnh thức tình người
Cõng ngay thủ trưởng xuôi đồi chạy lui
Đêm rừng trời lại tối thui
Lạc mất phương hướng tới lui tìm đường
Quay đầu hỏi ý tình thương
Mới hay thủ trưởng tìm đường đi xa


Không hơi thở một xác ma
Làm ta thực sự xót xa một mình

Người thấm mệt, phút tử sinh
Giữa rừng im ắng lặng thinh không người 
Chỉ nghe tiếng thú quanh đồi

Làm cho ớn lạnh khắp người của ta
Song vì cái đói không tha
Cho nên khiếp sợ theo đà mất tiêu
Trãi qua những phút hiểm nghèo
Vác xác thủ trưởng cố leo tìm đường.

Giữa rừng núi, không người thương
Còn đâu phương hướng, tai ương không người
Một tâm hồn một cuộc đời
Không gạo không lửa, giữa trời rừng xanh
Một mình tính mạng mong manh
Tình thương người lính giúp anh chí bền
Năm ngày thủ trưởng vẫn nguyên
Tìm ra đơn vị bình yên lòng mình.

Tin Mẹ mất giữa chiến trường

(xem tiếp chuỗi chiến dịch và sự kiện chính …)
Rút trong tập thơ
Hoàng Trung Trực ‘dấu chân người lính’

Vieng mo Cha Me

ƠN NGƯỜI

Ân quốc ân gia ân phụ mẫu
Tạ thiên tạ địa tạ tiền nhân.
Tổ tiên công đức muôn đời thịnh
Con cháu thảo hiền vạn kiếp vinh.
Minh Lệ Hưng Long hai bầu sữa
Hoàng Gia đức độ một con đường.
Hồn chính khí bốc lên ánh sáng
Sáng choang ngọc đá giữa hoang tàn
Tâm nhân văn lắng đọng tinh hoa
Hoa Đất Hoa Người trong cõi Bụt.

caumothanthamhoanggia
hoangkimhonoi
nguyenchienthangvoicanha
nguyenhuuminh1

HÀ NỘI SEN TÂY HỒ

Bảy con trai và hai con gái của Mẹ và Dì đều tạc cùng một khuôn mặt, đặc biệt là bảy anh em trai. Tôi viết bài thơ mừng em làm người Thầy nhân văn. Sâu sắc và tâm đắc hơn hết là nếp nhà, sự thương yêu nhau rất mực với nghị lực vượt khó, là phước đức niềm tự hào của gia đình.

Mừng em làm người Thầy nhân văn
Hoàng Kim

Mừng em làm người Thầy nhân văn
Ngắm ảnh đại gia đình mà thương trào nước mắt.
Nguyễn Du 250 năm nhìn lại.
Bài học sâu xa dạy và học làm người.

Nhớ Mẹ và Dì xưa nhà nghèo đi ở và thoát li.
Mẹ mang khoai cho ông Hòa khi ông gặp nạn.
Cha và cậu bán sạch gia tài khi mẹ ốm
Tối lửa tắt đèn nhà tang tóc đói cơm.
Mồng 3 Tết đông đặc người làng đến tiễn mẹ đi
Suốt năm năm cơm ngày một bữa rồi Cha mất vì bom.
Nhà dì bé tí một gian đầy ắp cháu con về ở
Một dòng họ nghèo nhưng vang xa tiếng thơm nhân ái.
Một nếp nhà thư hương gia đình văn hóa.
Thắm thiết yêu thương giấy rách giữ lấy lề …

*
Mừng em làm Giáo sư nhân văn
Bồi đắp người hiền cho dân tộc Việt.
Lớp lớp người thân trước em, cùng em, nối theo em
Làm người minh triết,
Phúc hậu yêu thương
Dạy và Học  làm Người.

Tôi thấm thía tâm đắc với bà cụ minh triết phúc hậu trong “Nếp nhà’  Nguyễn Khải.Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người, phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin”.

Sự thật là “Nhân hậu thói nhà in một nếp Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu” Nhân cách người hiền đưa đến kết cục tốt. Luật nhân quả, tính cách, vận mệnh, nếp nhà, khoa nhân tướng học ẩn giấu nhiều điều quan hệ sâu xa đến gia đình hạnh phúc và sự may mắn. Nếp nhà đẹp văn hóa.

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn

NẾP NHÀ

Nguyễn Khải

“Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người, phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin”.
1
Mỗi lần ra Hà Nội việc đầu tiên là tôi phải tới thăm bà cô tôi. Chẳng có quà cáp gì cả, đến tay không, nhưng vẫn cứ phải đến. Vì bà là cái túi khôn của tôi mà. Năm nay các con bà sẽ làm lễ mừng thọ mẹ tám mươi tuổi. Các cụ nói: Năm mươi tuổi hiểu được mệnh trời. Người tám mươi tuổi lại vẫn minh mẫn, khôn ngoan, không chừng hiểu được cả then máy của Tạo hóa. Nói chuyện với bà tôi vẫn chờn chợn như ngày nào được hầu chuyện cụ Nguyễn. Nghĩa là vẫn phải uốn lưỡi trước khi hỏi, trước khi trả lời. Một ngôi nhà đẹp, một cửa hàng tuyệt vời ngay giữa một đại lộ trung tâm trông thẳng ra hồ Hoàn Kiếm mà chỉ bày bán lèo tèo mấy mặt hàng sơn mài, tượng gỗ thì uổng quá, coi khinh thiên hạ quá. Bà cụ cười: “Anh đã bắt đầu có con mắt thương mại rồi đấy nhỉ?” Con mắt thương mại thì chả dám nhưng với con mắt của người bây giờ thì ngôi nhà, nói cho chính xác hơn là miếng đất, của bà cô tôi cũng phải đáng giá một triệu…, tất nhiên là triệu đô. Cũng chả phải do mình đặt giá mà là đại diện các công ty nước ngoài tới trả giá. Ngày nào cũng có vài nhóm người tới hỏi nhưng bà cụ chỉ nhã nhặn trả lời: “Tôi không có ý định bán hoặc cho thuê cái nhà này.” Cho thuê cũng nhiều tiền lắm. Đã có người hỏi thuê chỉ mấy chục mét vuông của gian ngoài thôi, mỗi tháng trả năm ngàn đô, trên mười cây vàng. Vẫn là không, không bán mà cũng không cho thuê. Tại sao cụ lại gàn thế? Vì các em anh không muốn thế, cho đến hôm nay chúng nó vẫn đi làm cho nhà nước, không buôn bán gì cả, không mánh mung gì cả. Lương tiêu không đủ thì tôi bù. Bán các mặt hàng vớ vẩn như anh nói nhưng mỗi tháng cũng kiếm được khoảng trên dưới dăm triệu. Này, dăm triệu không phải là ít đâu anh nhá! Theo tôi được biết, từ trẻ đến già cô tôi sống theo một số nguyên tắc, thời thế có thể thay đổi nhưng cách sống của bà dứt khoát không thay đổi. Đó là: sống thẳng thắn, sống lương thiện và sống theo pháp luật hiện hành. Những năm Pháp tạm chiếm Hà Nội, chú tôi vẫn mở trường dạy học tư như thời trước, còn cô tôi ấn hành sách giáo khoa cấp tiểu học do chú tôi soạn. Có một tác giả đưa tập thơ “Đồi thông hai mộ” bán cho bà. In tập thơ đó chắc chắn sẽ thu lãi nhiều, bà biết thế nhưng vẫn từ chối. Vì Nhà xuất bản Nguyễn Du do bà chủ trương chỉ in có sách giáo khoa, đúng như trong giấy phép. Năm 56, cán bộ thuế tới kiểm tra kho giấy của bà để đánh thuế tồn kho, khoảng hai chục triệu. Chú tôi tính vốn nhát, vui vẻ bằng lòng ngay. Cho đỡ phiền. Nhưng bà vợ không chịu vì giấy in sách giáo khoa xưa nay không phải đóng thuế. Đã được miễn thuế thì làm gì có thuế tồn kho. Bà bướng bỉnh đến nguy hiểm, ai cũng sợ nhưng bà vẫn thản nhiên: “Lý của mình đúng, việc gì phải sợ”. Quả nhiên bà đúng thật. Bà luôn luôn đúng vì bà rất tỉnh táo trong mọi mối quan hệ, chỉ nhận những gì đáng có, có quyền được có, tuyệt đối không để bị dụ hoặc về tiền bạc cũng như về tình cảm. Một cái đầu hơi lạnh, lắm lúc tôi đã nghĩ về bà như thế. Nói cho ngay, nếu không có cái đầu lạnh làm sao bà giữ nổi một ngôi nhà quá ngon lành, quá quyến rũ trong bấy nhiêu năm, không gặp một chuyện rắc rối nào. Cho đến bây giờ đã sang tuổi tám mươi bà vẫn biết từ chối những đồng tiền rất hợp pháp ắt hẳn phải có một tính toán khôn ngoan nào đó. Cái khôn ngoan cao siêu chứ không phải là khôn vặt.
2
Mùa xuân ở Hà Nội bao giờ cũng đẹp. Với tôi đã nhiều năm không được sống ở Hà Nội vào mùa xuân lại càng thấy đẹp. Một chút lạnh trong hơi gió tạt qua mặt. Một chút mưa bụi bay lây rây như có như không. Trời hơi tối, mặt đường hơi sẫm nhưng mặt người và quần áo rét họ mặc cứ sáng bừng lên những mầu sắc tươi tắn. Đã có mùi son phấn và nước hoa bất chợt thoảng qua ở một góc phố, trong một đám đông. Nói nhỏ đi, cười nhỏ hơn, ít nghe những câu chửi tục, những tiếng đệm tục. Giàu hơn trước nhiều, sang hơn trước nhiều, cứ cho là bề ngoài thì cũng vẫn rất đáng mừng. Chỉ có nhà bà cô tôi là ít thay đổi, hầu như không thay đổi. Vẫn mấy chiếc xe máy đã cũ, và vẫn còn nhiều xe đạp, loại xe đạp cà tàng từ những năm nào. Trời nắng các em đi xe máy, trời mưa đi xe đạp, đỡ phải rửa xe. Ăn mặc của bà cụ, của các em cũng chả có gì sang hơn, như trước đây, ngày trước với Hà Nội đã là sang, bây giờ là quá thường. Bây giờ con gái Hà Nội mặc quần chẽn đen, gót xẻ, có dải buộc dưới bàn chân, mặc măng tô lửng, hoặc đi bít tất đen dài, quần cộc, áo vét trùm qua mông. Đàn ông cũng diện lắm, áo vét tông các kiểu, thắt cà vạt đủ mầu, giầy đen, cứ như họ từ các đại sảnh bước ra. Không phải đâu, chỉ là quần áo thường ngày thôi, cũng giống như trước kia họ mặc áo bông xanh, quần ka ki vàng và đi dép nhựa. Chưa bao giờ tôi thấy người Hà Nội ăn mặc sang trọng như bây giờ. Chưa bao giờ tôi thấy phố xá chói lòa những tủ kính, những bảng hiệu và ánh sáng như bây giờ. Vậy mà một nhà giàu của Hà Nội có dư điều kiện để thay đổi lại không chịu thay đổi. Một đại gia đình gồm hai con trai, hai con dâu, một gái, một rể và những đứa con của họ vẫn sống chung dưới một mái nhà, ăn chung một bếp ăn. Thiên hạ thì chia ra, bà cụ lại gom vào. Vẫn rất êm thấm mới lạ chứ. Nếp nhà đã thắng được tự do của cá nhân sao? Phải nói thêm, cái nếp nhà này cũng ít ai theo kịp. Người con dâu cả vốn là con gái Hàng Bồ, đỗ đại học, là một cô gái kiêu hãnh, tự tin, không dễ nhân nhượng. Ai cũng nghĩ hai người đàn bà, một già một trẻ, cùng sắc sảo sẽ rất khó chấp nhận nhau. Vậy mà họ ăn ở với nhau đã mười lăm năm chả có điều tiếng gì. Người chị của cô con dâu đến nói với bà cô tôi: “Bác chịu được tính nó thì con cũng phục thật đấy”. Bà cải chính: “Đúng là tôi có phần phải chịu nó nhưng nó cũng có phần phải chịu tôi, mỗi bên chịu một nửa”. Bà bảo, con dâu là vàng trời cho, mình không có công đẻ ra nó, cũng không nuôi nó ăn học ngày nào, bỗng dưng nó về nhận mình là mẹ, sinh con đẻ cái cho dòng họ, cáng đáng mọi việc từ trẻ đến già, không lễ sống nó thì thôi còn hoạnh họe nỗi gì. Bà chiều quý, và tôn trọng các con dâu thật lòng nên cả hai nàng dâu đều tâm sự với mẹ chồng: “Con ở với mẹ còn thoải mái hơn ở nhà với mẹ con”. Con rể và con gái được nhận nhà ở một khu tập thể, nhà chật, lại xa, con còn nhỏ. Nhưng anh con rể không muốn nhờ vả mẹ vợ, tự mình cũng thấy không tiện mà người ngoài nhìn vào càng không tiện. Bà biết thế nên bảo con rể: “Trong cái nhà của tôi có một phòng dành cho vợ anh. Của vợ anh tức là của anh. Cũng như mọi thứ của anh tức là của vợ anh. Chẳng lẽ anh bảo không phải”. Năm ngoái khu phố có yêu cầu bà cụ báo cáo về nếp sống gia đình cho hàng phố học tập. Bà từ chối, khi tôi lại thăm, bà nói riêng: “Cái chuyện ấy ai cũng biết cả, chỉ khó học thôi”. Tôi cười: “Lại khó đến thế sao?” Bà cụ nói: “Trong nhà này, ba đời nay, không một ai biết tới câu mày, câu tao. Anh có học được không?” À, thế thì khó thật. Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người, phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin. Nó là cách sống, một quan niệm sống, là nếp nhà, ở trong tay mình, nhưng nhận được ra nó, có ý thức vun trồng nó, lại hoàn toàn không dễ.
3
Trở lại câu chuyện cũ, tại sao bà cụ không chịu bán nhà, chia tiền cho các con để họ lập cơ nghiệp riêng? Lớn rồi thì phải ở riêng, nó thuận lợi với sự phát triển. Con cái đã trưởng thành, vẫn bắt ở chung, ăn chung như trại lính, đâu có phải chuyện tính toán khôn ngoan. Bà cụ nghe tôi nói cười tít cả mắt, ra cái vẻ mọi sự bà đã tính cả rồi, đâu có đợi một thằng nhà văn ngây ngô mách nước. Bà nói, hiện nay các con bà vẫn thích đi làm cho nhà nước bằng cái nghề chuyên môn đã được đào tạo của mình. Ngoài giờ đi làm thì bọn nó đọc sách, dạy con học, bù khú với bạn bè. Họ thích sống như thế và có điều kiện để sống nhàn nhã như thế. Họ không có óc kinh doanh, không có nhu cầu phải kinh doanh. Không cần đến tiền thì không nên một lúc cầm quá nhiều tiền. Đồng tiền do may mắn mà có, do thời thế đổi thay mà có rất dễ là mầm mống của nhiều tai họa. Vì người có tiền chưa kịp học cách tôn trọng đồng tiền, sai khiến đồng tiền. Ở cái nhà này, theo tôi biết, chưa bao giờ họ mua vé số. Cũng không thờ cúng ông thần bà thánh nào, ngoại trừ ngày giỗ để anh em con cháu có dịp gặp gỡ nhau. Họ không cầu gặp may mắn, không săn đón may mắn. Họ chỉ nhận những cái đáng nhận. Bà cụ vẫn đi lễ các chùa miếu đền phủ với bạn bè nhưng bà không khấn. Bà cũng chưa từng xem tướng, xem bói, xin xăm. Ngày chú tôi mất mọi việc hậu sự chỉ một mình cô tôi lo liệu, không hỏi han bất cứ ai, không xem giờ xem ngày gì cả. Việc cưới xin của các con cũng thế. Đưa con gái đi, đón con dâu về tuyệt đối không có xem tháng xem ngày. Trong một lần trò chuyện, bà hỏi tôi: “Anh có phân biệt được người giàu lương thiện và kẻ giàu bất lương không?” “Trong bao lâu?” “Trong một lần tiếp xúc” “Thế thì khó!” Bà bảo, bà vẫn phân biệt được. Những đứa giàu lên do cướp đoạt, lừa đảo nói chuyện một lúc là biết. Bọn họ khinh người rẻ của lắm. Họ không tin một ai cả, càng không tin còn có lòng tốt ở đời. Họ chỉ tin có tiền. Tiền là quân của họ. Một đội quân giặc cướp, sẵn sàng tàn phá tất cả, tiêu diệt tất cả để đạt được những cái đích phù phiếm của chủ nó. Bà nói, bà là người biết quý trọng đồng tiền từ trẻ tới già, nhưng mấy năm gần đây bà lại sợ tiền. Nghe chuyện của thiên hạ mà sợ. Càng ít sờ mó tới tiền càng tốt. Nó có độc đấy! Bàn tay thương vợ, bàn tay yêu con, bàn tay nắm bàn tay của bạn bè đếm mãi tiền nhiễm độc lúc nào không hay, sẽ không còn là bàn tay của người nữa. Vì lẽ đó mà bà chưa muốn bán nhà. Các con bà cũng không ỷ eo, nài ép bà phải bán nhà. Thế là may. Nhưng cái may này còn kéo dài được bao lâu? Bà vốn không tin vào sự may rủi. Bà chỉ tin vào sự chuẩn bị của mình, chuẩn bị trong cái khả năng có thể, chứ liệu hết thế nào được những việc của chục năm sau.
4
Bữa tôi sắp trở vào thành phố Hồ Chí Minh, tôi có lại chào bà. Cũng như mọi lần tôi nói nửa vui nửa buồn: “Mong cô khỏe mạnh mãi để mỗi lần ra, cô cháu mình có dịp bàn chuyện thế sự, văn chương”. Bà cụ cười rất hồn nhiên! “Nếu được sống thêm mươi năm nữa thì vui lắm đấy. Nhưng mà khó”. Vì biết là khó nên ngay từ năm ngoái bà đã làm chúc thư, phòng khi đột nhiên phải ra đi thì các con đã có cẩm nang hành động. Làm chúc thư là khó lắm, sống làm sao chia của làm vậy. Chia khéo thì trai gái dâu rể mãi mãi là con của mình, mãi mãi là anh em ruột thịt của nhau. Chia vụng thì xẻ đàn tan nghé ngay tức khắc, càng đông con cháu càng lắm mối họa. Trước hết bà gặp riêng năm người con của mình vào một buổi, con dâu con rể không được tham dự. Nguyên tắc làm chúc thư của bà là công khai và công bằng, không phân biệt trai gái, trưởng thứ. Tài sản chia làm sáu phần bằng nhau, năm con năm phần, mẹ một phần. Phần của mẹ hoặc gửi ngân hàng, hoặc đem kinh doanh, tùy, số lãi hàng năm lại chia làm sáu. Con trai đầu phải giữ việc hương khói được nhận hai phần. Bốn phần còn lại sẽ bỏ vào một quỹ riêng để chi các việc: Tu bổ nhà thờ, sửa sang phần mộ, góp giỗ tết với các chi khác và cấp đỡ cho bà con nghèo của hai họ nội ngoại. Đồ gỗ và đồ sứ trong nhà thì cho hai con trai. Đồ trang sức của mẹ thì cho ba con gái. Sau buổi họp bà cụ phân công cho con gái lớn viết lại chúc thư làm sáu bản, viết tay không đánh máy, cả sáu người đều ký, mỗi người giữ một bản, có giá trị trước pháp luật. Từ nay bán nhà hay cho thuê nhà bà cụ coi như không biết, đám thừa kế cứ theo nguyên tắc chia sáu mà xử sự. Bà cụ nói xong, nhìn tôi một lúc lâu rồi bà cười rất ý nhị:- Con người ta ai ai cũng có phần thiện phần ác. Muốn dưỡng thiện diệt ác thì trong nhà phải có gia pháp, ngoài xã hội phải có luật pháp. Trong gia pháp có phần truyền thống và danh dự của dòng họ, có phần đạo đức của người trên và nghĩa vụ của kẻ dưới. Gia pháp cũng phải theo thời mà điều chỉnh, quá ngược với thời thế thì con cháu khó theo, quá xu mị thời thế thì bỏ mất gốc rễ. Theo chỗ tôi biết gia pháp của nhiều danh gia vọng tộc ở Hà Nội đang gặp hồi khủng hoảng. Suốt mấy chục năm anh dạy các con anh khinh miệt đồng tiền, lên án tư hữu và những người giàu có đều là phần tử bất hảo. Bây giờ anh tính sao? Bây giờ các con anh đều lao vào kiếm tiền, đều nuôi mộng làm triệu phú tỷ phú trong chớp mắt. Khốn một nỗi chúng lại chưa từng được ai dạy bảo cái cách ăn ở với đồng tiền. Đồng tiền vừa là đày tớ vừa là ông chủ, vừa là bạn đường vừa là giặc cướp, các con anh biết chọn cách nào? Chúng chỉ biết lựa chọn theo trực giác, theo kinh nghiệm tức thì, theo lợi ích trước mắt. Anh nghĩ xem, đã đến thế thì con người và nền văn minh của con người đã bị chúng gạt khỏi mọi sự tính toán rồi.
5
Mấy hôm trước trời ấm nhưng hơi nồm, chỗ nào cũng lép nhép nhầy nhụa đến khó chịu. Đêm như có mưa, hơi nặng hạt thì phải, hạt mưa gõ trên mái ngói nghe rất rõ. Sáng ra tất cả đã ráo khô, mảnh sân trắng toát, hè nhà trắng toát, trời khô và lạnh. Cái lạnh của mùa xuân thật dịu dàng, thở rất dễ, người rất nhẹ, mặc một cái áo len mỏng, khoác thêm một cái áo ngoài, đạp xe ra đường nhìn vào cái gì cũng đẹp. Huống hồ bây giờ Hà Nội lại đang đẹp, mỗi ngày một đẹp ra, trẻ ra. Lắm lúc nghĩ cũng tiếc đã trót đưa vợ con vào sống trong Sài Gòn. Tiếc thì tiếc chứ không thể làm lại được. Một chân đã thõng vào cõi hư vô rồi thì không nên bắt đầu bất cứ việc gì nữa. Không còn cả thì giờ để ganh ghét, để hờn giận. Chỉ còn đủ thời gian để làm lành, có thua thiệt vẫn cứ nên làm lành. Văn chương làm lành cố nhiên là không hay rồi, thôi kệ, vì cũng chả còn hơi sức đâu gây sự, dầu chỉ là gây sự vặt. Tôi đạp xe thong thả dọc đường Phan Đình Phùng bất chợt gặp một ông già khoảng tuổi tôi chạy bộ buổi sáng từ đường Cổ Ngư về. Ông chạy bên kia đường, tôi đạp xe bên này đường, lại có một thằng cha cưỡi xe Dream chạy chậm cùng chiều với tôi. Bỗng thấy hắn hét lên: “Chạy lộn đường rồi! Văn Điển đi lối kia cụ ơi!” Ông già đứng sững lại, thằng cha vừa hét quay mặt lại nhìn tôi nhăn răng cười. Chớ có ngạc nhiên! Rác của Hà Nội đấy! Hàng hóa nhiều tất nhiên rác rưởi phải nhiều chứ nghèo quá, đói quá lấy đâu ra rác.

CỤ HOÀNG GIÁP DẠY CON
Vu Gia

Từ những lời dạy sâu sắc, chân tình và gần gũi của cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm mà đời con, đời cháu của cụ có nhiều người thành đạt, giúp ích cho đời

Biết tôi viết thư pháp chữ Hán không đến nỗi nào, chị Nguyễn Thị Dư Khánh (nguyên cán bộ giảng dạy Trường Cao đẳng Sư phạm TPHCM) nhờ tôi viết mấy chữ: Tôn tộc đại quy / Tôn lộc đại nguy / Tôn tài đại thịnh / Tôn nịnh đại suy. Rất có ý tứ, rất tâm huyết mà không kém phần hào sảng, tôi cho rằng trong gia đình thì chẳng nên treo mấy chữ này vì không phù hợp.

Chị cho hay trong cuộc gặp gỡ các tiến sĩ tân khoa, khi vua Thành Thái đề nghị mỗi người hãy góp kế sách giúp nước thì bố chị cô đúc mấy câu ấy. Thì ra, chị là con gái cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889 – 1954).

Anh ruột của chị là nhà văn hoá – bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, GS Nguyễn Khắc Dương (nguyên Khoa trưởng Văn khoa Đại học Đà Lạt trước 30-4-1975), GS Nguyễn Khắc Phi (nguyên Tổng Biên tập Nhà xuất bản Giáo dục), kỹ sư – nhà văn Nguyễn Khắc Phê…

Một cách dạy con

Cụ Nguyễn Khắc Niêm lúc 17 tuổi đã đỗ cử nhân, 18 tuổi đỗ đầu khoa thi Hội (Thành Thái thứ 19, năm 1907), sắc ban “Đệ nhị giáp tiến sĩ” nên gọi là Hoàng Giáp.

Cụ từng giữ chức Tư nghiệp Trường Quốc Tử Giám (Huế), Đốc học Nghệ An, Phủ Doãn Thừa Thiên, Tổng đốc Thanh Hoá, đến tháng 2-1942 thì xin về hưu trước tuổi.

Vì vậy, tôi đề nghị chị Dư Khánh cho bản chữ Hán tôi mới dám viết chứ chữ nghĩa cụ Hoàng Giáp mà viết sai thì thật là thất lễ. Mấy ngày sau, chị mang tặng tôi cuốn Cụ Hoàng Niêm đất Hương Sơn (Nhà Xuất bản Thuận Hoá, năm 2007).

Mấy chữ này được Trần Đại Vinh dịch: Tôn trọng nòi giống, ắt đại hoà hợp / Tôn trọng bổng lộc, ắt đại nguy nan / Tôn trọng tài năng, ắt đại phồn thịnh / Tôn trọng siểm nịnh, ắt đại suy vong. Dù kế sách được cụ ứng khẩu nhưng đó là tâm huyết của một đời và triều đại nào cũng cần thế cả.

Bốn người con cụ Hoàng Giáp (từ phải qua): GS Nguyễn Khắc Dương, GS-Nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện, GS Nguyễn Khắc Phi, Nhà văn Nguyễn Khắc Phê.
Ảnh: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH

Lớp con cháu cụ hiện nay ai cũng thành đạt, được nhiều người kính trọng. Có phải nhờ nếp nhà? Tôi không muốn hỏi con cháu vì có ai không muốn nói tốt về ông cha mình.

Để hiểu nếp nhà này, tôi lần tìm từ tư liệu của cụ được in trong cuốn Cụ Hoàng Niêm đất Hương Sơn. Có lá thư cụ Hoàng Giáp gửi cho con trai (Nguyễn Khắc Viện) đang du học ở Pháp:

“Cher Viện,

Những cái thư con viết kỳ tháng 5-48, tháng 6-49, và cái thư con viết cho em Phương Thảo kỳ tháng 9-49, thầy đều tiếp được cả, biết rằng con ở bên ấy nay đã lành mạnh và có học hỏi thêm được nhiều, thầy và tất cả bà con lấy làm mừng lắm (…). Con cứ chăm bề bảo dưỡng sức khoẻ, không nên làm việc quá chừng, để cho được thiệt lành mạnh, nay mai về nước, đưa một ít tài học giúp vào công cuộc kiến thiết nước nhà, cho thoả lòng trông đợi của thầy, của bà con và của bạn bè, như lời con đã hứa trong thư trước, ấy là một điều nguyện vọng duy nhất của thầy trong lúc già cả này”.

Qua trích dẫn trên, thấy rằng cách cụ dạy con khá hay, đặt lên vai con tình cảm gia đình, bà con, bạn bè, đất nước, buộc con phải hiểu.

Trọng sự học

Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm có bài thơ Khuyến học, không chỉ nhắc nhở con cháu mà còn nhắc nhở mọi người. Với cụ, “Học biết năm ba chữ cũng là hay / Cho đến như nghề thụ súc việc cấy cày / Có cách thức mới có ngày tiến bộ / Như buôn bán tính hàng ghi sổ / Như thợ thuyền trù thước vẽ đồ / Biết bao nhiêu người trú tính mơ hồ / Chịu thua thiệt chỉ do vì tội dốt / Xin đừng kể gia kế giàu nghèo, thiên tư tốt xấu / Học cho sáng mắt bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu / Về sau lợi ích còn nhiều”.

Điều cụ Hoàng Giáp dạy bây giờ thấy rõ nhất. Cùng một mảnh đất như nhau nhưng nếu ai có trình độ hiểu biết hơn thì có thu hoạch tốt hơn và có thể làm giàu trên mảnh ruộng của mình.

Bài thơ Tôn tộc đại quy… (thư pháp của Vu Gia)

Cùng một nghề như nhau song nếu ai chịu khó học hỏi hơn, có hiểu biết hơn thì có thu nhập tốt hơn, có thể làm giàu bằng cái nghề mà mình đã chọn. Tuy nhiên, “lương nhà lính, tính nhà quan” cũng hỏng, bởi theo cụ “Của đâu cho kẻ nhác mần siêng ăn”.

Cụ dặn con cháu: “Chớ nên tập thói xa hoang / Rượu bạc nha phiến tìm đường tránh xa / Chè xanh cho đến thuốc trà / Cũng đừng mang nghiện rồi mà luỵ thân / Chỉ hai chữ kiệm chữ cần / Con em ta phải tập dần cho quen / Rồi ra trăm sự đều nên”.

Từ những lời dạy ấy mà đời con của cụ khá thành đạt, giúp ích cho đời; các cháu (nội, ngoại) của cụ cũng không hề thua kém.

Khi đất nước đổi mới, lớp cháu của cụ có người bước vào thương trường và gặt hái được những thành công, điển hình như người cháu nội của cụ – con trai GS Nguyễn Khắc Phi là Nguyễn Chí Linh, Giám đốc Công ty TNHH Nhật Linh, sản xuất ổn áp LiOa nổi tiếng.

Theo nld.com.vn


“ NÊN THỢ NÊN THẦY” “NO ĂN NO MẶC”
Hoàng Ngọc Hiến

Ngày nay có những quan điểm  kinh tế, chinh trị của  Mác đã trở nên lỗi thời, nhưng trong nguồn minh triết của tư tưởng của Mác có những viên ngọc quý càng ngày càng sáng giá.  Tư tưởng quan trong nhất  của minh triết  Mác được  trình bày minh xác  trong câu văn nổi tiếng : “…sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người” (câu kết thúc chương 2 bản “Tuyên ngôn cộng sản”). Chủ bút  báo “Kỷ nguyên mới”, một tuần báo xã hội chủ nghĩa Ý có nhờ Engels chọn trong toàn bộ trước tác cuả Mác một câu làm đề từ cho tờ báo, một câu “diễn đạt”được tư tưởng của chủ nghĩa xã hội tương xứng với câu nói của Dante được viết để định nghĩa “Kỷ nguyên cũ”: “ Một số người trị vì còn những người khác thì đau khổ”. Engels đã chọn câu nói trên để diễn đạt tư tưởng của “Kỷ nguyên mới”[i] Trong câu này được nhấn mạnh quyền tự do cao nhất của con người là tự do phát triển, những quyền tự do chinh trị (đi lai, ngôn luận, tin ngưỡng, hội họp…) tạo điều kiện cho sự tự do phát triển, chúng là những phương tiện, “tự do phát triển” mới là cứu cánh. “Tự do phát triển”, vậy thì phát triển cái gì? Đó là sự phát triên những “năng lực nhân tính” (Mác), còn gọi là những “năng lực bản chất của loài người” được chứa đựng ở con ngưới (cần hiểu năng lực nhân tính theo nghĩa rộng: biết nói, biết đi cũng là năng lực nhân tính, biết “nuôi con” ,biết “nựng”, biết âu yếm con – không phải người mẹ nào cũng làm được – là một năng lực nhân tinh cao quý không kém gì giỏi toán, giỏi ngoại ngữ, có tài năng nghệ thuật, có tài quản lý, lãnh đạo …; biết chơi, biết yêu là những năng lực nhân tính vĩ đại của con người, người chỉ biét làm không biết chơi là một ngươi bất hạnh, “không biết yêu” là một trong những nỗi bất hạnh lớn nhất đời người…).Trong câu của Mác được trích dẫn, từ-chìa khóa là “tự do phát triển”. Trong câu của Dante “Kỷ nguyên cũ” được định nghĩa bằng “sự trị vì” của một số  người và “ sự đau khổ” của những người khác. Để định nghĩa “Kỷ nguyên mới” Mác đưa ra một thước đo hoàn toàn khác: “sự phát triển tự do “ của “mỗi người” và  của “mọi người” Mác đã lấy thước đo này để phân loại những kiếp người, những sô phận con người: “ Một thiểu số được độc quyền phát triển,còn đa số những kẻ khác- do thường xuyên phải vật lộn để thỏa mãn những nhu cầu bức thiết – …thì bị tước đoạt bất kỳ khả năng phát triển nào”[ii] Số kiếp của toàn bộ một giai cấp có khi cũng được Mác xác định bằng thước đo này: sự phát triển được thực hiện ở một số ít cá nhân, trong khi đó “ đa số cá nhân và có những giai cấp toàn bộ bị hy sinh”[iii].Sự phát triển tự do những năng lực nhân tính ở “mỗi người” cũng như ở “mọi người”, đây là thước đo cơ bản của sự phát triẻn , học thuyết phát triển của chúng ta cần đặc biệt quan tâm.

Coi trọng sự phát triển tự do của “mỗi người” là coi trọng cá nhân. Và xem “sự phát triển tự do của mỗi người” là “diều kiện” cho “sự phát triển tự do của mọi người”, phải chăng là có sự ưu tiên dành cho sự phát triển của cá nhân ? Dù thế nào đi nữa thì sự phát triển tự do của “mỗi người” bao giờ cũng  “ liên đới một cách  tất yếu với sự phát triển tự do của mọi người”[iv] Tính “liên đới” ở đây là tinh thần trách nhiệm, là lòng kính trọng phải có của cá nhân đối với những cá nhân khác và đối với cộng đồng.

Sự phát triển những năng lực nhân tính  đòi hỏi những điều kiện tối thiểu. Mác đã nêu lên những điều kiện này trong một câu đã được trích dẫn ở trên: “…đa số những kẻ khác – do thường xuyên phải vật lộn để thỏa mãn những nhu cầu bức thiết – …thì bị tước đoạt bất kỳ khả năng phát triển nào”.Nói một cách nôm na, suốt ngày, quanh năm, …suốt đời phải vật lộn kiếm “miếng cơm, manh áo” thì làm sao mà phát triển được! “Những tư tưởng lớn gặp nhau.”. Cũng như Mác, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh, Nam Cao… đều đặt sự phát triển những năng lưc nhân tính như là mục tiêu cao nhất, mục tiêu tối hậu của sự làm người nhưng không bao giờ quên chuyện “ cơm áo

Nguyễn Trãi:

Nên thợ nên thầy vì có học
No ăn no mặc bởi hay làm

(bài thơ số 173 trong tập “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi)

Vẻn vẹn trong hai câu thơ được đặt ra những vấn đề và  những yêu cầu cơ bản nhất của cuộc sống làm người : “làm”và “học”, “no ăn no mặc”,“nên thợ nên thầy”.  “No ăn no mặc” là điều kiện tối thiểu để phát triển, “nên thợ nên thầy” là sự đòi hỏi phát triển những năng lực nhân tính. Trong quan niệm truyền thống, “học” được gắn với những yêu cầu “thông kinh thuộc sử”, “khoa danh hoạn lộ”. Ở đây, “học” được gắn với “nên thợ nên thầy”, không có sự phân biệt năng lực“làm thợ”, năng lực “làm thầy”, đó là một tư tưởng giáo dục học vĩ đại của Nguyễn Trãi

Hồ Chí Minh:
Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Trong cấu trúc lý tưởng nhân văn này của Hồ Chí Minh, sự phát triển những năng lực của con người thông qua “học hành” là mục tiêu cuối cùng. Nhưng muốn thực hiện mục tiêu này thì phải có “độc lập ,tự do”,có “cơm ăn, áo mặc”. Có một sự tương đồng khá rõ giữa lý tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi và lý tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh.Cả hai vĩ nhân này đều là sự hiện thân của tinh thần đấu tranh cho “độc lập, tự do”,đều đặt lên hàng đầu nhu cầu “cơm ăn, áo mặc” – điều kiện tối thiểu  cho sự phát triển và sự “học hành” – hoạt động cơ bản  phát triển những năng lực nhân tính của con người.

Nam Cao là tác gia hiện đại có những cảm hứng nhân văn gần gũi hơn cả với minh triết chủ nghĩa Mác.Cảm hứng này được bộc lộ  trong những suy nghĩ day dứt  của Thứ về cách sống và lẽ sống làm người: “Thứ – tác giả viết – không thể nào chịu được rằng sống chỉ là làm thế nào cho mình, vợ con mình có cơm ăn áo mặc thôi. Sống là để làm cái gì đẹp hơn nhiều, cao quí hơn nhiều.Mỗi người sống phải làm thế nào cho phát triển đến tận độ những khả năng của loài người chứa đựng trong mình”[v]… (H.N.H. tô chữ đậm). Sau đây là mấy câu đối thoại giữa Thứ và Sang, một trong những đoạn đối thoại hay nhất trong truyện Sống mòn :

Y mỉm cười chua chát hỏi San:Nếu gia đình anh có cách sinh nhai chắc chắn rồi, anh chỉ nghĩ đến anh thôi, thì anh sẽ làm gì?Tôi học vẽ, tôi thích vẽ ngay từ hồi mười ba, mười bốn tuổi.Ông giáo nào cũng phải để ý đến cái khiéu vẽ của tôi và bắt tôi vẽ những bức tranh trong lớp. Giá tôi được học, chắc chắn tôi có thể thành họa sĩ”[vi]

Hóa ra ở một con người tầm thường và phàm tục như  San, nhà văn Nam Cao không nỡ tước bỏ khát vọng nhân văn phát triển những mầm mống tài năng, một sự phát triển vô tư, không vụ lợi, hoàn toàn theo sở thích, sở trường riêng của mình.Trong cuộc sống của San, dạy học chỉ là hoạt động sinh nhai vì “miếng cơm manh áo” cho “mình và vợ con mình”, đó là hoạt động trong “vương quốc của sự tất yếu” (Marx), “chưa thoát khỏi xiềng xích của cái đói và cái rét” (Nam Cao); “vẽ”, đó là sự phát triển tự do của San, là hoạt động trong “vương quốc của tự do”.Ở trên có dẫn ý kiến của Marx về  bi kịch của đa số người lao động trong xã hội cũ: chừng nào con người còn phải vật lộn để thỏa mãn những nhu cầu bức thiết nhất thì chưa thể nói đến sự phát triển.Nam Cao đã đề cập đến vấn đề này qua những suy nghĩ hằn học của nhân vật Thứ về kiếp sống của y “khao khát muốn lên cao nhưng lại bị áo cơm ghì sát đất”: “…Sao mà cái đói nó tù túng, nó chật hẹp, nó bần tiện thế! Không bao giờ dám nhìn cao một tí. Chỉ những lo ăn ,lo mặc. Hình như tất cả nguyện vọng, tất cả mong ước, tất cả mục đích của đời chúng mình chỉ là mỗi ngày hai bữa. Bao nhiêu tài trí,sức lực,lo tính đều dùng vào việc ấy…Lúc nào cũng lo chết đói, lúc nào cũng la  làm thế nào cho không chết đói…”[vii]

[i] Xem K.Marx và F.Engels. Tác phẩm (bản tiếng Nga)t.29,tr.28
[ii] Như trên,t.3,tr.4
[iii] Như trên,t.26,phần II, tr.123
[iv] Như trên, tập 3,tr.441
[v] Nam Cao.Sống mòn .1963.tr.202
[vi] Như trên , tr.202
[vii] Như trên, tr. 113

CHA TÔI HỌA THƠ HỒ CHỦ TỊCH
Lời nhà thơ Hoàng Gia Cương

Năm 1951, sau chiến thắng vang dội trong các chiến dịch Thu đông, chiến dịch Hà Nam Ninh, chiến dịch Hòa Bình …, cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống bọn xâm lược đã bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ tổng phản công. Khẩu hiệu “Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến” đã trở thành một làn sóng dâng trào khắp cả nước. Giới phụ lão cả nước cùng hưởng ứng phong trào này. Tại Việt Bắc, hội Phụ lão cứu quốc đã tổ chức một lớp huấn luyện và Hồ Chủ tịch đã gửi thư động viên các cụ. Bức thư của Bác là một bài thơ viết trên mạch vận “Tam thiên tự” mà hồi đó có rất nhiều các cụ am hiểu Hán tự nên rất tâm đắc. Bài thơ như một lời biểu dương, một lời động viên và một lời hiệu triệu. Là một lãnh tụ, Bác còn là một bậc túc nho.
Cha tôi là Minh Sơn Hoàng Bác Chuân (1892-1974), kém Bác 2 tuổi, lúc ấy là chủ tịch Mặt trận Liên Việt kiêm hội trưởng Hội Phụ lão địa phương (huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình), đã rất phấn khởi khi nhận được bài thơ này. Vốn là hậu duệ của Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi và Hoàng đế Mạc Đăng Dung, là một nhà Nho nên sau khi nhận được bức thư của Bác cha tôi đã nhanh chóng họa lại và thông qua anh trai tôi là Hoàng Thúc Cảnh (tức Lê Phong) khi ấy đang công tác tại Ủy ban Kiểm tra 12 (tức mật danh của Văn phòng Chính phủ) trực tiếp dâng lên Bác.

Tôi xin trân trọng giới thiệu bức thư của Bác và bài họa của cha tôi.

THƠ HỒ CHỦ TỊCH
Gửi Lớp Huấn luyện
Phụ lão Toàn quốc -1951

Theo bản chép tay của
Cụ Minh Sơn – Hoàng Bá Chuân

Phụ lão ta chín mươi lăm phần trăm thống nhất
Đoàn kết lại như “thiên trời địa đất”
Đồng nhất tâm “cử cất tồn còn”
Ông cha ta gây dựng nước non
Để truyền lại “tử con tôn cháu” !
Phụ lão ta đủ tinh thần chiến đấu
Không phân bì “lục sáu tam ba”
Quyết xây nền Dân chủ Cộng hoà
Để tự trị “gia nhà quốc nước’ !
Chính phủ ta ra tài thao lược
Gọi nhân dân “tiền trước hậu sau”
Quyết đứng lên ngang với hoàn cầu
Thoát khỏi ách “ngưu trâu mã ngựa” .
Cuộc đời lão căm thù địch chứa
Há kể gì “cự cựa nha răng” ?
Dù gặp khi bom đạn xe tăng
Lão coi rẽ như “vô chăng hữu có’ !
Lão thử nghĩ việc đời không khó
Sợ chi phường “khuyển chó dương dê”?
Kháng chiến ta đầy đủ mọi bề
Đánh cho chúng “quy về tẩu chạy”!
Lão đã hô đồng bào đứng dậy
Đánh thực dân “bái lạy quỵ quỳ”
Còn những nơi chúng lập hội tề
Chớ cho chúng “khứ đi lai lại”!
Người cách mạng phải kiên tâm nhẫn nại
Không phân bì “nữ gái nam trai”
Giữ cần kiệm liêm chính không nài
Đừng tưởng tượng “đái đai quan mũ” !
Khuyên con cháu bài trừ tục hủ
Phải tăng gia “túc đủ đa nhiều”
Chăm học hành cho đủ mọi điều
Tránh những sự “ái yêu tăng ghét” !
Sự ủng hộ Lão thành nhiệt liệt
Ủng hộ cho “thức biết năng hay” .
Huấn luyện về nghiên cứu hàng ngày
Giải thích rõ “mộc cây căn rễ” !
Cuộc huấn luyện sau khi mạc bế
Mong Lão thành đoàn thể biết cho .
Việt nam độc lập tự do !

MINH SƠN – HOÀNG BÁ CHUÂN
Hoạ : Thơ Hồ Chủ Tịch
gửi lớp Huấn luyện Phụ lão (1951)

Việt nam độc lập tự do …
Hoan nghênh Chủ Tịch gửi cho Lão thành !
Sơn thanh thanh, thuỷ thanh thanh
Nguyền thề một tấm hoạ thành bức thơ …
Công đức Cụ như “thiên trời địa đất”
Chúng ta nên “cử cất tồn còn”
Bắt tay nhau giữ lấy nước non
Cho hưng vượng “tử con tôn cháu” .
Trải kinh nghiệm ấy là phụ lão
Phải tập rèn “lục sáu tam ba”
Đoàn kết cho trên thuận dưới hoà
Để tề trị “gia nhà quốc nước” .
Phụ lão ta ra tay mực thước
Thúc giục khắp “tiền trước hậu sau”
Hỡi toàn dân đứng dậy mau mau
Để cỡi ách “ngưu trâu mã ngựa” !
Máu sùng sục căm hờn đã chứa
Diệt sài lang hết “cự cựa nha răng” .
Chớ cho phường xâm chiếm dùng dằng
Tẩy sạch hết “vô chăng hữu có” !
Chúng ta phải chịu đường cực khổ
Cũng vì phường “khuyển chó dương dê”
Nên chúng ta giữ trọn lời thề
Quyết đánh chúng “quy về tẩu chạy” !
Cho chúng biết lẽ đời phải trái
Sẽ đến ngày “bái lạy quỵ quỳ” .
Vì non sông ta nhớ ta ghi
Chớ cho chúng ‘khứ đi lai lại” .
Lòng nhiệt huyết khắp các đoàn các giới
Khí quật cường đều “nữ gái nam trai”
Tấm vàng son đã thắm không phai
Thôi bỏ quách “đái đai quan mũ” .
Tổng phản công như diều gặp gió
Phải nhân tài “túc đủ đa nhiều”
Giải thích cho nhuần thấm mọi điều
Chớ thiên vị “ái yêu tăng ghét” !
Đã tai mắt phải suy phải xét
Hỡi anh tài “thức biết năng hay”
Góp tâm can chước vạch mưu bày
Trừ giặc hết “mộc cây căn rễ” .
Chớ thắc mắc mưa Âu gió Mỹ
Mà ngại ngùng “dị dễ nan khôn”
Giang sơn còn ta mãi mãi còn
Cùng chung hưởng “chỉ ngon cam ngọt” .
Trai Nam quốc oai hùng khí cốt
Tiếng vang lừng “trụ cột lương rường”
Đây là người tế thế kinh bang
Đem dân tới “sàng giường tịch chiếu” !
Tôi đâu dám xưng rằng đại biểu
Góp đôi lời thiển thiểu dâng lên …
Chúc Hồ Chủ Tịch vạn niên !

*Đã in trên báo Văn nghệ, tạp chí “Xưa & nay”
Nguồn Hoàng Gia Cương https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1272947586210997&set=a.199088900263543&type=3&theater

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau Music
Vietnam traditional music
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter