Thầy văn Hồ Ngọc Diệp

THẦY VĂN HỒ NGỌC DIỆP
Hoàng Kim


Vượt tuổi tám mươi Thầy vẫn khỏe
Văn chương lắng đọng Ngọc cho đời
Quê hương trầm tích bao truyện quý
Lời Thầy căn dặn nhớ không quên

Biển nhớ nơi nao Người lắng* sóng
Bờ thương chốn cũ Bác trông thuyền
Bảo như trường kiếm xô sông dạt
Ninh Hải Thung Nham níu núi thiền
.” **

** Núi Thần Đinh Quảng Bình: nhớ biển bờ Bảo Ninh lên Long Đại núi Thần Đinh thăm đỉnh thiền, Hoàng Kim may gặp truyện kể của Thầy.Hồ Ngọc Diệp, xin lưu lại điều tâm đắc.

Thầy văn Hồ Ngọc Diệp gửi cho Hoàng Kim bài thơ TẶNG BÁO QUỐC GIA của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1946: “Tết này mới thật tết dân ta / Mấy chữ chào mừng báo quốc gia /Độc lập đầy vơi ba cốc rượu / Tự do vàng đỏ một rừng hoa / Muôn nhà đón tiếp xuân dân chủ /Cả nước hoan nghênh phúc cộng hòa / Ta chúc nhau rồi,ta nhớ chúc /Những người chiến sĩ ở phương xa”. Thầy Diệp kể: “Bác Hồ chúc xuân trên báo Tết đã có nhiều người viết lắm. Nhưng tôi thấy chưa có ai viết về bài thơ chúc Tết của Bác Hồ viết sau Tết năm Độc Lập của dân tộc (1946). Bác đã viết bài thơ chúc Tết năm đó theo đơn đặt hàng trân trọng và khẩn thiết cho một tờ báo tư nhân ở Hà Nội, đó là báo ” QUỐC GIA” do bà Ngô Thị Thoa, sau đó là ông Nguyễn Xuân Thiều làm chủ bút. Bản thảo được một vệ sĩ của Bác mang tận nơi trao cho tổng biên tập. Phong bì là môt tờ giấy đã viết một mặt, còn mặt kia bỏ trống, người ta gọi là giấy loại. Còn bài thơ thì được viết mặt sau của một tờ lịch đã bóc bởi đã sang ngày. Bài thơ như trên đây. Báo Quốc Gia Tết đó “cháy tiệm” vì báo in mấy lần đều không đủ bán cho khách hàng.Chủ tiệm báo còn chua dưới bài là tác giả đã gửi đến tòa soạn bài viết trên mặt sau một tờ lịch ngày đã qua và phong bì đóng bằng một tơ giấy đã viết hết một mặt và đã bỏ đi. Đồng bào đọc bài thơ chúc Tết đầy tính cách mạng của Bác Hồ và thấm thía đức tính giản dị và tiết kiệm của Người.“. Thầy văn Hồ Ngọc Diệp viết tiếp: “Tôi đã gửi bài viết này cho báo văn nghệ Tuyên Quang và báo tết Qúy Mão Tuyên Quang đã đăng in bài viết của tôi. Hôm nay tôi mới nhận được báo biếu và một triệu nhuận bút mà tòa báo gửi về. Kính cảm ơn tòa báo

Tôi lặng người xúc động, và gửi cho Thầy tấm ảnh và bài thơ họa vần cùng sáu đường links cảm nhận và xin phép Thầy chép lại bài viết .

NGÀY MỚI BÌNH MINH AN
Hoàng Kim


“Xuân mới nhìn lên Việt Nam ta / Hiền tài nguyên khí của quốc gia /Độc lập tự do và hạnh phúc/ Dân giàu nước mạnh vững tinh hoa/ Bảo tồn trí huệ xuân dân chủ/ Phát triển an sinh phước cộng hòa/ Đồng tâm cố gắng bền công đức/ Lòng thành, chí thiện tỏa hương xa” Chợt gặp mai đầu suối; Đường xuân theo chân Bác; Trăng rằm đêm Trung ThuMinh triết Hồ Chí Minh; Về Việt Bắc nhớ Người; Yên Lãng Hồ Chí Minh

Học văn để làm gì? Để giữ ngọc di sản. Quảng Bình đất và người thẳm thẳm nhớ trong tôi với nhiều chuyện quý.

Thuở nhỏ học văn, tôi ấn tượng nhất là tích cổ cha mẹ kể về Lục Vân Tiên tại Nguồn Son nối Phong Nha (1) và Cao Biền trong sử Việt (2). Cha mẹ tôi mất sớm, những thầy văn đầu đời của tôi là Hoàng Ngọc Dộ khát vọng (3), “Hoàng Trung Trực đời lính” (4), thầy Nguyễn Khoa Tịnh “Em ơi can đảm lên” (5), thầy Trần Đình Côn Bài ca Trường Quảng Trạch (6), thầy Phạm Ngọc Căng (7) người Thanh Hóa, phó Hiệu trưởng đầu tiên của Trường cấp ba bắc Quảng Trạch và thầy Hồ Ngọc Diệp người Đồng Hới dạy văn (8). Tôi cũng may mắn được học văn với ông tôi Minh Sơn Hoàng Bá Chuân (9) là em ruột bà ngoại tôi khi thăm ông ra ở với cậu tại 64 Hàng Bạc Hà Nội. Ông đã bày cho tôi cách làm thơ Đường. .

Hoàng Kim nay chép lại sáu câu chuyện lắng đọng Thơ văn thầy Hồ Ngọc Diệp biết đủ luôn an vui : 1) “Tìm mộ em ở Trường Sơn” 2) “Người thầy chiến sĩ” 3) “Bác Hồ với ngày thương binh liệt sĩ 27/7”; 4) “Chuyện về nữ anh hùng bên dòng sông Lũy” 5) “Nhà văn Hoàng Bình Trọng với nghiệp đời gập ghềnh”; 6) “Nhạc sĩ Trần Hoàn viết cho sự giã biệt”, lưu lại một tích truyện về người thầy dạy văn của mình. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tho-van-thay-ho-ngoc-diep/

BIẾT ĐỦ LUÔN AN VUI
Bạch Ngọc Hoàng Kim

Biết đủ thời nhàn thảnh thơi vui
#Thungdung #vietnamhoc mỗi ngày
Trí sáng tâm lành lời ấm áp
Yêu thương tận tụy phước thanh minh.

Kim Hoàng Tuyệt vời đu đủ ngon (Hình) ! Thầy Văn Hồ Ngọc Diệp kính Thầy vui khỏe ngày mới https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-van-ho-ngoc-diep/ thông tin tích hợp tại https://khatkhaoxanh.wordpress.com/category/biet-du-luon-an-vui

QUẢNG BÌNH ĐẤT VÀ NGƯỜI
Hoàng Kim

kính tặng thầy Hồ Ngọc Diệp

Đọc trang văn hóa Bạc Liêu
Thơ thầy giáo cũ thương yêu gọi về
Thầy ơi nắng sớm mưa che
Lời thương thầm lắng mải mê kiếm tìm.

Nhớ thầy đáy biển tìm kim
Chim sa núi Bắc thầy tìm non Nam
Tìm Người ở giữa Trường Sơn
Dáng ai bóng núi xanh hơn sắc rừng

Tháng năm lắng đọng yêu thương

xem tiếp Ngày mới lời yêu thương; Quảng Bình đất và người https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tho-van-thay-ho-ngoc-diep/

TÌM MỘ EM Ở TRƯỜNG SƠN
Hồ Ngọc Diệp


Vươt đèo, leo dốc,phạt gai
Qua bao con suối,miệt mài tìm em
Mộ em núi đã giăng lèn
Ba bề là đá,bốn bên là rừng

Nghe con mang,tác ngập ngừng
Suối xa như đã lạnh dừng tiếng reo
Ngặt thưa bìm bịp kêu chiều
Giữa hoang sơ,lòng những phiêu diêu buồn

Ngàn lau trắng thác mây tuôn
Bước chân hoang hoải bồn chồn ngẩn ngơ
Em đi từ bấy đến giờ
Thương con,lòng mẹ thẫn thờ đợi con

Xa quê từ buổi trăng tròn
.Ấp e chưa đón nụ hôn người tình
Em ngã xuống,sắc nguyên trinh
Vì dân,vì nước quên mình tuổi xanh

Mau về với mẹ cùng anh
Ở đâu? chiều đã phủ nhanh rừng già

NGƯỜI THẦY CHIẾN SĨ
Hồ Ngọc Diệp


Từ mái trường, tình nguyện xung phong
Khoác AK, thầy lên đường ra trận
Người thì gầy, bộ Tô Châu thì rộng
Nào hề chi, có thép ở bên trong

Đường hành quân qua bao núi, bao sông
Bỗng gặp học sinh, cùng chiến hào đánh Mỹ
Đêm Trường Sơn, thầy và trò tri kỷ
Chuyện trường xưa, nỗi nhớ cháy đêm tàn….

Đơn vị thầy lại cấp tập hướng Nam
Nã đạn pháo gầm ran đầu lũ giặc
Dáng hiên ngang như thiên thần lẫm liệt
Giữa trận tiền khi bom giặc phản công

Góp máu mình cho độc lập non sông
Thêm kiêu hãnh những bài ca sư phạm
Gieo lòng người đâu chỉ là lời giảng
Mà cả bằng: đức nguyện tiến công

Những đạo hàm, ta lét, parabol
Những tan, cos, góc bù, góc nhọn
Rồi cuộc đời và những lời thầy giảng
Thành vinh quang những chân lý của đời

Chúng tôi nhắc thầy trong kí ức bồi hồi
Để nhớ mãi ngôi trường phố cũ
Hình ảnh thầy, người thầy – Chiến sĩ
Gieo lòng người rực rỡ những cành xuân.

(*) Thầy Hồ Ngọc Diệp ngày 14 10 2021 viết Cảm ơn văn nghệ Bạc Liêu đã đăng bài thơ “Tìm mộ em ở Trương Sơn” số tháng 7/202l

BÁC HỒ VỚI NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ 27/7
trích: Bác Hồ với Quảng Bình,
Hồ Ngọc Diệp 2021 (*)
Nhà Xuất bản Thuận Hóa, trang 150


Bác Hồ bùi ngùi không cầm được nước mắt, đọc bài từ như sau: Hỡi các liệt sĩ ! trong lúc cả nước vui mừng thì mọi người đều thương tiếc các liệt sĩ đã hi sinh vì Tổ Quốc, vì dân tộc. Máu nóng của các liệt sĩ đã nhuốm lá quốc kỳ. Tiếng thơm của các liệt sĩ sẽ muôn đời truyền với sử xanh:

Một nén hương thanh
Vài lời an ủi
Anh linh của các liệt sĩ bất diệt
Tổ quốc Việt Nam vĩ đại muôn năm!


(*) Hồ Ngọc Diệp địa chỉ liên lạc: Hồ Ngọc Diệp Hội văn học Nghệ thuật Quảng Bình, đường Đoàn Thị Điểm, phường Đồng Hải, TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Số điện thoại: 0968 237 320 Tài khoản: Hồ Ngọc Diệp 040027737627 Ngân hàng Sacombank Đồng Hới, Quảng Bình

CHUYỆN VỀ NỮ ANH HÙNG BÊN DÒNG SÔNG LUỸ
Hồ Ngọc Diệp

Chị Trần Thị Lý sinh ra trong một gia đình nghèo bên dòng sông Lũy, một nhánh của con sông Nhật Lệ, phía Nam Cầu Dài, đó là làng Phú Thượng, Phú Hải, Đồng Hới, Quảng Bình. Là một người lanh lợi, hoạt bát, có ý thức tập thể cao nên chị được giao nhiệm vụ làm liên lạc cho Đảng ủy, Xã đội. Năm 1964, chị được kết nạp Đảng, lúc đó chị tròn 19 tuổi. Tháng 2 năm 1965, Mỹ mở rộng chiến tranh leo thang ra miền Bắc đã chọn thị xã Đồng Hới làm điểm đánh mở đầu. Phú Hải là một trong những điểm nóng chiến sự. Lúc này, chị Trần Thị Lý được sung vào lực lượng dân quân, làm chiến sĩ phòng không nam Cầu Dài thị xã Đồng Hới.

Chị Trần Thị Lý trong những cuộc chiến đấu đánh trả máy bay thù đã tỏ rõ bản lĩnh chiến đấu xuất sắc. Chị đã chạy từ trận địa phòng không này sang trận địa phòng không khác để truyền mệnh lệnh chiến đấu của cấp trên chuyển về, đồng thời dùng súng trường K44 bắn trả máy bay Mỹ rất kiên cường. Chị đã đào hầm sập, cứu đồng đội, đồng bào bị bom Mỹ vùi lấp. Đặc biệt trong ngày 4/4/1965, đế quốc Mỹ đã huy động hàng trăm lượt máy bay đến ném bom Cầu Dài, triệt hạ thị xã Đồng Hới, chị Trần Thị Lý đã dũng cảm mưu trí chèo đò chở Bí thư Đảng ủy xã Lê Viết Thuật vượt sông để chỉ đạo dân quân, nhân dân chiến đấu, rồi trở lại trận địa an toàn. Trong một lần bị bom vùi, chị đã kịp thời bình tĩnh cởi áo ngoài khoác lên đầu súng để đất đá khỏi vào làm chẹt nòng. Sau đó, chị đã bươn mình ra, tiếp tục nổ súng bắn vào kẻ thù.

Với những thành tích xuất sắc đó, chị đã được Quốc hội tuyên dương anh hùng vào ngày 01/01/1967. Cũng trong năm đó chị được chuyển sang quân đội, làm chính trị viên phó Thị đội Đồng Hới. Từ năm 1967 , chị được cử đi học trường văn hóa quân khu, sau đó được cử đi học tiếp tại Học viện chính trị quân sự của Bộ quốc phòng. Năm 1978, chị đảm nhiệm chức Phó đội trưởng đội công tác thuộc đoàn 871, Tổng cục chính trị. Từ 1985 chị được điều về giữ chức Phó rồi Giám đốc, Phó Bí thư chi bộ khách sạn Bạch Đằng của Quân khu 5 ở Đà Nẵng. Chị là Đại biểu Quốc hội khóa IV, V và VI. Chị từng là ủy viên Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Chị đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba và nhiều Huân, Huy chương cao quý khác.

Anh hùng Trần Thị Lý là người giàu tình cảm với mảnh đất minh sinh ra và lớn lên. Sau này, khi làm Giám đốc khách sạn Bạch Đằng, hễ có các con cháu quê hương Phú Hải vào học hay công tác tại Đà Nẵng, nếu gặp khó khăn, chị đã tìm cách giúp đỡ, động viên để các cháu an tâm học tập và công tác. Nhiều lần về thăm quê chị đều đến thăm và tặng quà cho Đảng ủy, UBND và các đoàn thể trong phường. Chị đã giúp Hội Người cao tuổi địa phương sắm một cỗ xe tang, đóng góp cho quỹ xây dựng nhà văn hóa, trạm y tế phường và giúp đỡ những hộ nghèo hoặc gặp khó khăn. Đến phút lâm chung chị còn hỏi người nhà: “Xã mình đã được phong anh hùng chưa?” (thực ra, phường Phú Hải được phong anh hùng trước đó mà chị chưa có được thông tin).

Có nhiều chuyện kể lý thú, dí dỏm về anh hùng Trần Thị Lý thời thanh xuân.

Tháng 7 năm 1967, anh hùng Trần Thị Lý được mời dự Đại hội liên hoan thanh niên sinh viên Hoà bình thế giới tại nước XHCN Cu Ba.Sau báo cáo của chị, trong giờ giải lao, hàng trăm nhà báo vây quanh chị để quay phim, chụp ảnh và phỏng vấn. Có một nhà báo Phương Tây hỏi chị:- Chị là một anh hùng của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Vậy, ai là người chị sẽ chọn xây dựng gia đình? Không phải suy nghĩ lâu, chị Trần Thị Lý vui vẻ trả lời: – Đó sẽ là người đàn ông thương yêu tôi nhất! Trong quãng ngày công tác, chị đã được vinh dự 3 lần gặp Bác Hồ và được Bác trực tiếp chỉ giáo. Lần thứ nhất là lần cùng đoàn Quảng Bình được ưu tiên gặp Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau ngày Đại hội liên hoan chiến sĩ anh hùng thi đua toàn quốc (1/1/1967). Gần cuối buổi, Bác Hồ bảo chị Lý hát bài “Quảng Bình quê ta ơi” của nhạc sĩ Hoàng Vân cho Bác nghe. Quá cảm động và lúng túng nên chưa thực hiện được ngay thì Thủ tướng Phạm Văn Đồng “cứu nguy” cho chị và bảo: “Cháu Lý hãy “cầm càng” cho tất cả đoàn cùng hát”. Thế là anh hùng Trần Thị Lý đã đứng dậy và bắt nhịp cho toàn đoàn Quảng Bình hát vang bài hát mà Bác và Thủ tướng yêu thích. Lần thứ hai, chị gặp và được Bác Hồ chỉ giáo là ngày trước lúc lên đường sang Cu Ba tham dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới. Khi Bác hỏi: “Cháu đã chuẩn bị những gì sang thăm và tham quan ở Cu Ba?” chị Lý đã thuật lại chuyện các chú lãnh đạo cho may áo dài, sắm dày cao gót nhưng sử dụng còn lúng túng lắm. Bác liền bảo: “Cháu sang Cu Ba lần này để báo cáo thành tích kinh nghiệm chiến đấu của mình và học tập kinh nghiệm của nhiều người khác chứ đâu có phải đi du lịch mà sắm các thứ ấy. Để Bác nói chú Song Hào chuẩn bị bộ đồ bộ đội và dép cao su cho cháu”. Và chị Trần Thị Lý đã mặc trang phục như thế trong suốt thời kỳ ở Cu Ba.

Người ta còn kể cho nhau nghe câu chuyện tình yêu của chị với Đại tá anh hùng Nguyễn Chơn. Lần đó, Đại tá anh hùng Nguyễn Chơn (sau này là Thượng tướng, Thứ trương Bộ Quốc phòng) về Hà Nội tham dự Đại hội liên hoan anh hùng LLVTND của quân đội. Người anh hùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng đó vì xông pha lăn lộn nơi trận mạc, hết Nam lại Bắc, hết Bắc lại Nam nên sắp đã bén tuổi tứ tuần mà vẫn chưa có một bóng hồng nằm lại trong tim mình. Thấy Nguyễn Chơn về dự Đại hội lần này có làm thân với nữ anh hùng Trần Thị Lý (nhân một lần xem phim ngồi cạnh nhau), anh em, đồng chí bèn “Ra tay” để giúp Nguyễn Chơn rút ngắn khoảng cách. Vào một tối thứ bảy nọ, họ rủ nhau (không quên kéo Trần Thị Lý cùng đi) đến phòng nghỉ của anh hùng Nguyễn Chơn uống nước, chuyện trò. Rồi như là đã bàn trước, họ bấm tay nhau, lần lượt rút lui. Đến người cuối cùng ra khỏi phòng, họ không quên khoá trái cửa lại, cốt là để tạo cơ hội cho hai người tự nhiên tâm sự với nhau.

Hơn 1 giờ đồng hồ, Đại tá anh hùng Nguyễn Chơn hút hết không biết bao nhiêu là thuốc lá, mặt đỏ gay, không biết nói một câu gì cả. Nữ anh hùng Trần Thị Lý ngồi yên như vậy, cũng không giám nhìn Nguyễn Chơn, tay bứt xé không biết mấy lá hoa trong lọ giữa bàn. “Thôi phải mở đường thoát cho hai người”. Nghĩ vậy, chị liền lên tiếng trước:- Cớ làm răng mà anh em họ nhốt mình trong phòng rứa, Thủ trưởng? Anh hùng Nguyễn Chơn lúc bấy giờ mới ngẩng lên, ấp úng:- Là vì…vì…họ nói, …họ nói…- Họ nói mần răng, thưa Thủ trưởng? – Trần Thị Lý khơi gợi. Anh hùng Nguyễn Chơn dũng cảm, táo bạo như cố vượt qua một trọng điểm: – Họ nói là tui ưng o! Anh hùng Trần Thị Lý mặt đỏ lên, mãi một hồi rất lâu nữa mới cất tiếng: – Họ nói như rứa thì ý Thủ trưởng mần răng? Nguyễn Chơn lúng túng như một học trò có lỗi:- Thì … thì…tui cũng ưng o như họ nói thật! Chỉ đợi được như thế. Tuy nhiên mãi một lúc sau, Trần Thị Lý mới bộc bạch được ý nghĩ của mình: – Ý Thủ trưởng răng thì em cũng rứa! Và thế là, anh em đồng chí “nghe trộm” ngoài cửa, mở cửa chạy vào. Một người vui tính hét vang:- Xong rồi! xong rồi! Trận đánh kết thúc hoàn toàn thắng lợi! Trai anh hùng, gái thuyền quyên! Chúc mừng anh chị đã phá được hàng rào, xung kích tiến lên chiếm lĩnh trận địa của tình yêu ! Không lâu sau, Nguyễn Chơn ở tuổi 48, Trần Thị Lý ở tuổi 34 thành vợ, thành chồng. Tình yêu của hai anh hùng LLVT ấy có được do sự chân thật của hai người, song cũng nhờ công rất lớn của bạn bè, đồng chí. Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cha nuôi tinh thần của Trần Thị Lý bận việc không đến dự lễ cưới được đã gửi tặng đôi tân hôn 1 chai rượu ngoại, 2 cây bút máy. Chai rượu mang ý nghĩa mừng cuộc vui. Cặp bút máy mang ý nghĩa khuyên vợ chồng nên chỉ sinh 2 con. Quả vậy, vợ chồng Nguyễn Chơn và Trần Thị Lý sinh được 2 cô gái lanh lợi giỏi giang. Bây giờ 2 cô gái đã có gia đình và làm việc ở 2 cơ quan nhà nước.

Anh hùng Trần Thị Lý lần đó ra Hà Nội họp, được Bác Hồ mời vào thăm, ăn cơm cùng Bác với hai nữ anh hùng khác.Mâm cơm dọn ra, có thịt gà, canh bí đao, rau muống luộc, 1 bát cà pháo muối chua và bát nước chấm. Gắp nhiều thịt gà bỏ vào bát các nữ anh hùng, Bác nói: – Ở chiến trường, các cháu ăn uống kham khổ, công việc thì vất vả, nay phải ăn nhiều thịt gà vào cho khỏe, mai mốt trở lại chiến trường, có thêm sức mà chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ của mình. Còn Bác, Bác chỉ thích ăn rau muống luộc chấm tương và cà muối xứ Nghệ thôi. Ba nữ anh hùng được ngồi ăn cơm với Bác, sung sướng quá, cảm động quá, trước sự săn sóc của Bác nên không ai và nổi cơm. Thấy thế, bác giục: – Nhanh lên, đẩy mạnh tốc độ, thao tác linh hoạt, lanh lợi như đang vào trận, hỡi các nữ anh hùng!Được ngồi cạnh Bác, nữ anh hùng Trần Thị Lý chăm chú đợi Bác ăn xong bát thứ nhất, đặt bát đũa mình xuống, đưa hai tay đón bát của Bác để đơm thêm cơm. Có lẽ, vì quá sung sướng, vì được lần đầu tiên làm công việc này nên nữ anh hùng đất Đồng Hới Quảng Bình đâm ra lóng ngóng. Bởi vậy, không may một thìa cơm bị lọt xuống mâm. Sợ Trần Thị Lý hót bỏ sang bát trống đựng thức ăn thải loại, Bác liền dùng thìa và đũa hớt phần trên của phần cơm bị rơi ra mâm đó bỏ vào bát của mình và nói: – Được ngồi cạnh, rồi được đơm cơm cho Bác, sung sướng quá nên lóng ngóng, làm rơi cơm ra ngoài chứ gì? Không sao! Hạt cơm là hạt ngọc của trời, không nên bỏ phí. Thái độ chân thành và xử lý hợp thời của Bác khiến Trần Thị Lý vô cùng cảm động. Và câu nói của Bác biểu lộ tính kiệm cần của một người nông dân, gắn bó với sản phẩm của mình làm ra. Đối với anh hùng Trần Thị Lý, và thảy mọi người là một lời dạy sắt son luôn mang tính thời sự về ý thức tiết kiệm và sự tránh lãng phí mọi phương diện của cuộc sống.

Thiếu tá Trần Thanh Hương (em ruột anh hùng Trần Thị Lý đang nghỉ hưu ở khu dân cư số 8, phường Đồng Sơn, Tp. Đồng Hới) đã cho tôi biết một chi tiết vô cùng cảm động. Chị Trần Thị Lý bị đau đường ruột, điều trị khắp các bệnh viện trong nước không đỡ nên đã sang Trung Quốc điều trị. Nhưng bệnh tình vẫn ít thuyên giảm. Sau đó đơn vị đã đưa chị về điều trị tại bệnh viện Quân y 17 quân khu 5. Biết mình sẽ không qua nổi, chị xin bệnh viện về nhà nghỉ một đêm. Đêm đó chị dặn dò chồng, con, em và các cháu nhiều điều và ngủ một đêm rất ngon lành trong ngôi nhà ấm cúng của mình trước khi sáng mai phải trở lại bệnh viện. Ít hôm sau chị đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 7/5/2000.

Anh hùng Trần Thị Lý là một trong 3 khuôn mặt nữ anh hùng bên sông Nhật Lệ trong những ngày đánh Mỹ. Đó là những người đã góp phần làm sáng danh lịch sử quê hương Đồng Hới anh hùng.

Nhà văn Hoàng Bình Trọng với nghiệp đời gập ghềnh
NGẬM NGÙI VỚI NGHIỆP VĂN CHƯƠNG
Hồ Ngọc Diệp, ngày 26 tháng 3 năm 2022

Ông đã ” Tự trào”

“Tớ không có chí làm vua
Nên trời bắt tớ cày bừa ruộng văn
Thôi thì tám đóm tám khoanh
Chăm gieo chuyện ngắn gặt nhanh chuyện vừa
Lại còn tiểu thuyết còn thơ
Lại còn dịch diệt ăng ô Tây Tàu”

Nhà văn Hoàng Bình Trọng, nguyên là kỉ sư ngành trắc đạt bản đồ mỏ địa chất. Do đi nhiều và và lòng ham chuộng văn học,ông có mấy bài báo viết cho các báo hiện hành những năm 1969 – 1970. Thấy năng lực đầy triển vọng, Nhà Xuất Bản Kim Đồng thời kì đó đặt hàng cho ông viết tiểu thuyết cho thiếu nhi,.sau gần ba tháng vừa giảng dạy tại trường trung cấp mỏ địa chất ở Vỉnh Phú, vừa viết sách, cuốn chuyện “Bí mật một khu rừng”, dày hơn 300 trang ra đời. Cuốn truyện thu hút bạn đọc thiếu nhi và cả người lớn đến nỗi, sau “Dế mèn phiêu lưu kí” của Tô Hoài, “Bí mật một khu rừng”, được tái bản 10 lần,mỗi lần 3 vạn cuốn. Sách còn được dich sang tiếng Nga và Đài Tiếng Nói Việt Nam đã 3 lần phát ở chương trình “Đoc chuyện đêm khuya” ,mỗi kì phát ngót nghét một tháng trời. sau tác phẩm nổi tiếng đầu tay đó Hoàng Bình Trọng được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam Cho đến cuối đời, ông đã viết 38 tác phẩm, trong đó 13 tiểu thuyết, 3 trường ca v.v…. Năm 1971,Hoàng Bình Trọng có gia nhập vào quân đội và có 5 năm chiến đấu ở chiến trường B. Hết chiến tranh,ông ra quân và Hội văn học Vĩnh Phú nhận ông về biên tập cho tạp chi “Đất Tổ”. Mấy năm sau, chia tỉnh, ông lênh đênh tìm bến đỗ . Nạn tiếm quyền buổi giao thời này khiến ông không đến được nơi ông cần đến. Nơi cũ thì đã cắt giấy tờ, nơi đến thì không nhận vì đã có ngươi choán chỗ. Ba tháng trời không lương, lại hết tỉnh Vĩnh Phúc đến Phú Thọ, mệt mỏi, bất lực,ông đành về 176. Về với vơ ở Quảng Hòa Quảng Trạch ông đi làm thuê, thậm chí lên rừng hái củi về bán nuôi vợ và con trai. Ông Nguyễn Văn Lợi tổng biên tập tạp chí Văn Nghệ Quảng Bình (sau này là tạp chí Nhật Lệ) đã đón ông vào làm biên tập viên. 14 năm trời làm việc ở đây, không bia rượu, thuốc lá,chỉ mấy cái song tự nấu ăn hàng ngày, ông vừa làm việc vừa sáng tác. Ở Quảng Bình, chưa ai có nhiều giải thưởng văn học danh giá như ông, từ địa phương đến trung ương. Khi Nhật Lệ đủ biên chế rồi, ông phải về quê sống với ngòi bút của mình

Và ông cười khẩy

“Một giọt rơi,
Một quảng đời tàn lụi
Tiếc làm chi cái kiếp phù sinh
Chỉ cần biết bao giờ nến tắt
Ấy là khi đã cháy hết mình”.

Về quê cũ, bệnh viêm phổi mãn tính hoành hành. Đã nghèo nhưng phải nằm viện liên miên. Hết Cu Ba đến Huế, Hết Quảng Trạch lại Hà Nội, cuối cùng Hoàng Bình Trọng đã rời cõi tạm đầu năm 2021. Báo Văn Nghệ đã chia sẻ nhà văn Hoàng Bình Trọng qua bài viết nhỏ của tôi. Cảm ơn quý báo.

Nhạc sĩ Trần Hoàn
VIẾT CHO SỰ GIÃ BIỆT
Hồ Ngọc Diệp, 20 tháng 1 năm 2022 ·

Nhạc sĩ Trần Hoàn có nhiều duyên nợ với Quảng Bình . Nhưng nhiều người chưa được biết ông có một ca khúc viết về một cô gái mà chỉ ông biết tại Quảng Bình, viết cho một cuộc giã từ đi xa mãi mãi, trên đất Quảng Bình. Tôi đã được báo Văn Nghệ Công An giới thiệu bài viết về sự kiện này với bạn đọc gần xa. Một phần thưởng lớn lao đầy ý nghĩa đã đến với tôi,đó là bà Thúy Hồng, vợ của Nguyễn Tăng Hích( tên thật của nhạc sĩ Trần Hoàn) điện về tổng biên tâp báo Văn Nghệ Công An xin số điện thoại của tôi. Sau đó bà đã điện vào cảm ơn tôi đã có một bài viết hay và những điều bà chưa được biết hết về người chồng thân yêu của mình. Với tôi, đó là phần thưởng vô giá.

Bài ca trường Quảng Trạch https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bai-ca-truong-quang-trach/ \

CHUYỆN VỀ NGUYÊN MẪU TRONG HAI BÀI THƠ TÌNH

ĐÍCH THỰC CỦA NHÀ THƠ XUÂN DIỆU

Tác giả: Hồ Ngọc Diệp

Tháng 5/1967, Khoa văn Trường Đại học Sư phạm Vinh chúng tôi (lúc đó trường mang tên “Trường Văn hóa 12/9”) sơ tán tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa mời nhà thơ Xuân Diệu đến nói chuyện. Những cuộc nói chuyện thơ tại các khóa trong khoa chúng tôi, nhà thơ Xuân Diệu thể hiện không những mình là nhà thơ tài ba mà còn là một nhà văn hóa lớn. Giọng nói của ông sang sảng và phong thái rất hùng biện. Chúng tôi nhận thấy quá bổ ích trong những lần nghe ông nói chuyện thơ, nhất là thơ về tình yêu đôi lứa bởi đã uống ở ông những dòng sữa ngọt của tâm hồn để trí tuệ văn chương trong mình ngày một lớn khôn…

Có một điều mà sau này, tôi mới hiểu ra, là tại sao trong giờ nghỉ giải lao trong những lần nói chuyện ấy, thường thì những nhà lãng mạn hay gần gũi, thân mật trò chuyện với phái đẹp, nhưng nhà thơ Xuân Diệu lại xuống ngồi với bọn nam sinh viên chúng tôi. Ông bắt tay nhiều người. Có người được ông choàng vai, rồi ghì vào lòng. Dĩ nhiên, đó là những cử chỉ rất đáng hân hạnh, nếu ai được ông ân cần như thế.

          Sau này, được tỏ tường, tôi cũng như bao nhiều người cảm thấy xót xa, thương tiếc một nhà thơ viết về tình yêu nổi tiếng của Việt Nam, lại khiếm khuyết một phần cơ thể đàn ông để tạo nên cái tình yêu đích thực, tròn trặn của con người. Có lẽ sự khiếm khuyết đó mà thơ tình yêu của Xuân Diệu càng nồng nàn, bay bổng, nhất là đối với vợ và “người yêu” của ông.

          * Yêu thương vợ tha thiết

          Ai cũng biết, nhà báo, nhà đạo diễn điện ảnh Bạch Diệp đã từng có 4 năm làm phu nhân của nhà thơ Xuân Diệu. Tình cảm – tình dục là hai mặt của một phạm trù tình yêu. Nếu khiếm khuyết một trong hai thì tình yêu sẽ gặp bão táp…

          Và bão táp đó đã đến với Xuân Diệu và Bạch Diệp. Xuân Diệu đã yêu đắm đuối Bạch Diệp. Bà Bạch Diệp đã sống hết mình khi làm vợ nhà thơ Xuân Diệu. Nhưng, cả hai đành phải chia tay, vì ông Xuân Diệu bị…khiếm khuyết. Chia tay mối tình ấy, Xuân Diệu đã giàn giụa nước mắt, nấc lên trong từng chữ khi viết bài thơ chia tay “Đời anh em đã đi qua” của mình: “Đời anh em đã đi qua/Sáng thơm như một bông hoa giữa đời/Nói làm sao hết em ơi/Bốn năm kỳ diệu đất trời nhớ em/Ngôi nhà, cánh cổng, trái tim/Khóm cây, con mắt ngày đêm đón mừng/Anh đi, em hỏi thăm chừng/Anh về, miệng đã gọi mừng: anh ơi/Bữa ăn thành một hội vui/Có em, gắp với rau thôi cũng tình/Cảnh thường cũng hóa ra xinh/Có em, anh hết nghĩ mình bơ vơ/Bốn năm đầm ấm say sưa/Tình yêu biết có hạn bờ nào đâu/Bốn năm nhưng cũng qua mau/Cõi trần ai đã ở lâu thiên đường/Giã từ, từ biệt đôi phương/Đôi nơi, đôi ngả, đôi đường khổ anh/Bốn năm khép lại trời xanh/Nhớ em như một mộng lành mà thôi/Từ nay anh lại trong đời/Bữa ăn ngồi với một đôi đũa cầm/Giường kia một bóng anh nằm/Phòng văn một sách đăm đăm sớm chiều/Muôn vàn cảm tạ em yêu/Chắc cho anh biết bao nhiêu ân tình/Ai hay em đã để dành/Áng hương một thuở thơm thanh suốt đời/Sống bằng nhớ lại nguồn vui/Nhớ khi ôm cả đất trời cùng em”

          Bài thơ là tất cả nỗi niềm của nhà thơ trong cuộc đoạn tuyệt bất khả kháng với người vợ thân yêu của mình. Nó xứng đáng là một bài thơ tuyệt hay về một cuộc ly hôn tự nguyện đầm đìa nước mắt.

          * Tình cảm với một “người yêu”

          Trong di cảo thơ của mình, nhà thơ Xuân Diệu còn có một số bài thơ viết cho một người em, một “người yêu” đồng tính, nhà thơ Hoàng Cát. Đồng tính yêu nhau, chuyện ấy bây giờ nghe không lạ tai, nhưng mấy chục năm trước, nó là chuyện “húy”, chuyện “cấm”. Nhất là những người có cương vị trong xã hội. Xuân Diệu “yêu” Hoàng Cát, điều bí mật đó mãi hơn chục năm sau người ta mới được biết.

          Những ai khi đọc “Cát bụi chân ai”, hồi ký của nhà văn Tô Hoài, đoạn nói về những ngày làm việc trong cơ quan văn hóa kháng chiến thời chống Pháp đều “sửng sốt” trước một chi tiết mà tác giả đã kể lại. Chuyện rằng, tại đây, nhiều đồng chí nam (ngay cả Tô Hoài) cũng bị Xuân Diệu “quấy nhiễu”. Tối tối, Xuân Diệu đến lân la, sờ sẫm và xin được ngủ chung! Vì thế Xuân Diệu bị mọi người lảng tránh và sau đó bị tập thể kiểm điểm, quy kết, cho đó là “tư tưởng tư sản” (!?). Một chi tiết lý thú khác là ở hai tập “Thơ Thơ” và “Gửi hương cho gió” của Xuân Diệu, trong 100 bài thơ, có cả thảy 21 bài được ghi “gửi tặng”. Nhưng, các đối tác được tặng đều là …đàn ông cả!

          Hoàng Cát nhận làm “em” Xuân Diệu lúc nào không rõ. Nhà thơ Đặng Vương Hưng (hiện đang công tác ở NXB Công an nhân dân) có kể lại: trong một lần đến thăm nhà thơ thương binh Hoàng Cát (2003), anh đến bàng hoàng khi chủ nhân đưa ra một cuốn sổ tay đã ố vàng mà anh đã cất giữ bấy lâu, trong đó có bài thơ “Biển” chép tay và dòng chữ đề tặng rành rọt của nhà thơ Xuân Diệu “Tặng em Hoàng Cát của anh”. “Biển” là bài thơ tình nối tiếng một thời của Xuân Diệu, của thơ hiện đại Việt Nam. Nó đã từng một thời đi vào trang sách học trò. Nó đã theo ba lô của bao người lính ra trận. Nó đã làm nồng nàn những cây bút lý luận, bình thơ về tình yêu. Và, có ai ngờ, nguyên mẫu nhân vật trong bài thơ đó đích thực là hai người đàn ông, một Hoàng Cát và một Xuân Diệu đã được ẩn dụ hóa. Chuyện này duy nhất chỉ có ở Việt Nam. Xin chép ra đây nguyên văn bài thơ “Biển” mà chính tác giả là một trong những người biên tập đã đưa vào tuyển tập “Thơ Việt Nam” (1945-1975) do NXB Tác phẩm mới – Hà Nội ấn hành năm 1976 để mọi người một lần nữa hiểu thấu “đoạn trường” bài thơ và nỗi niềm của Xuân Diệu: “Anh không xứng là biển xanh/Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng/Bờ cát dài phẳng lặng/Soi ánh nắng pha lê/Bờ đẹp đẽ cát vàng/Thoai thoải hàng thông đứng/Nhưng lặng lẽ mơ màng/Suốt ngàn năm bên sóng…/Anh xin làm sóng biếc/Hôn mãi cát vàng em/Hôn thật khẽ, thật êm/Hôn êm đềm mãi mãi/Đã hôn rồi, hôn lại/Cho đến mãi muôn đời/Đến tan cả đất trời/Anh mới thôi dào dạt…/Cũng có khi ào ạt/Như nghiền nát bờ em/Là lúc triều yêu mến/ Ngập bến của ngày đêm/Anh không xứng biển xanh/Nhưng xin làm bể biếc/Để hát mãi bên gành/Một tình chung không hết/Để những khi bọt tung trắng xóa/Và gió về bay tỏa nơi nơi/ Như hôn mãi ngàn năm không thở/Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi. /(4/4/1962)

          Đất nước có chiến tranh, Hoàng Cát và bao thanh niên, sinh viên viên tình nguyện ra trận. Tình cảm nén chặt bấy lâu, khiến Xuân Diệu viết bài “Em đi” (chua dưới bài: Viết xong lúc 23h30 ngày 11/7/1965), “Em” ở đây không phải là một người đàn bà, mà là anh Hoàng Cát, sau này là nhà thơ. Trước ngày Hoàng Cát lên đường nhập ngũ (12/7/1965), Xuân Diệu đã viết bài thơ trong đêm 11/7/1965 để sáng sơm đến đưa tận tay chàng tân binh Hoàng Cát. Bút tích bài thơ ấy Hoàng Cát đã cất giữ suốt quãng ngày làm lính và anh đã chép lại gửi đăng báo Nhân dân số trước Tết Kỷ Tỵ (1989). Bài thơ gồm 6 khổ, 24 câu, trong đó có những câu và đoạn: Nụ cười em nở, tay em vẫy/ Ôi mặt em thương như đóa hoa/…Em hẹn sau đây sẽ trở về/ Sống cùng anh lại những say mê…/Áo chăn em gửi cho anh giữ/ Xin giữ cùng em cả lời thề/ Một tấm lòng em sâu biết bao/ Để anh thương mãi, biết làm sao/ Em đi xa cách, em ơi Cát/ Em chớ buồn, nghe/ Anh nhớ yêu.

          Không có một “tình yêu” thì nhà thơ Xuân Diệu không thể viết được như thế!

          Năm 1985, nhà thơ Xuân Diệu đã xa trần thế, về sống trong cõi hư vô. Dẫu vậy, ông vua thơ tình yêu của Việt Nam ấy vẫn còn ấm áp mãi trong lòng bao công chúng. Và, những bài thơ về tình yêu đích thực trong cuộc đời của ông vẫn long lanh, thơm ngát, chấp chới giữa trời sao thơ của riêng ông, và cũng của mọi người.

          Riêng Hoàng Cát, những ngày làm lính Trường Sơn, một thời sống trên vùng đất lửa Quảng Bình đã sáng tác nhiều thơ và cả viết ký. Một số bài thơ và bài ký của Hoàng Cát đã được in trên tạp chí Văn Nghệ Quảng Bình. Chúng tôi đã được đọc những sáng tác văn chương của người lính, sau này là thương binh Hoàng Cát với tấm lòng ngưỡng mộ, mến yêu.

          Sau ngày xuất ngũ, nhà thơ Hoàng Cát đã lấy vợ. Con gái rượu của anh nay là một biên tập viên giỏi tay nghề của đài Truyền hình Việt Nam. Nhớ đến người anh Xuân Diệu, nhà thơ Hoàng Cát thường nói với mọi người: “Đó là một nhà thơ tài năng và là người anh đáng yêu, đáng thương của tôi”.                                                                                            

Địa chỉ liên lạc: Hồ Ngọc Diệp – Hội Văn học nghệ thuật Quảng Bình Điện thoại: 0968.237.320

Thầy Văn Hồ Ngọc Diệp, lưu bút của Thầy là hạnh phúc https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-van-ho-ngoc-diep

Câu chuyện ảnh tháng Mười

Vào Tràng An Bái Đính

Nha Trang

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là NLU.jpg
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Mênh mang một khúc sông Hồng
Huyền Thoại Hồ Núi Cốc
Một thoáng Tây Hồ
Trên đỉnh Phù Vân
Chảy đi sông ơi …

Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

Advertisement