Sông Mekong tin nổi bật

SÔNG MEKONG TIN NỔI BẬT
Hoàng Kim


Sông Mekong là một trong những con sông lớn nhất trên thế giới, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra Biển Đông Việt Nam. Sông Mekong dài 4.400 km tính theo độ dài đứng thứ 12 nhưng tính theo lưu lượng nước thì đứng thứ 10 trên thế giới với lưu lượng hàng năm đạt khoảng 475 tỉ m³. Lưu vực sông Mekong rộng khoảng 795.000 km², với lưu lượng dòng chảy trung bình 15.000 m³/s đứng thứ 8 trên thế giới. Sông Mekong là điểm nhấn địa chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội rất quan trọng của châu Á. Đó là nguồn sống, nguồn tài nguyên và nôi văn hoá, văn minh phương Đông của nhiều cộng đồng dân tộc.

Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu (BĐKH) đang ập tới vùng ĐBSCL nhanh hơn nhiều so với các dự báo trước đây, gây ra những hiện tượng bất thuận cho đời sống kinh tế, xã hội toàn vùng như sụt lún, xâm nhập mặn, xói lở. Thích ứng biến đổi khí hậu: ĐBSCL cần thêm sức người, sức của; Chính phủ ghi nhận nỗ lực các các cấp, ngành…; Xoay trục chiến lược nông nghiệp ĐBSCL; Đề xuất thành lập Ủy ban điều phối vùng ĐBSCL; ĐBSCL thay đổi toàn diện sau 2 năm ‘thuận theo tự nhiện”; Thủ tướng chủ trì “diễn đàn” về ĐBSCL: Không để ‘nước chảy lá môn”; Clip: Quyết tâm hành động để ĐBSCL cất cánh

Thông tin của Lê Thanh Tùng mới đây ” Khái quát về xâm nhập mặn, hạn mùa khô 2019-2020 vùng ĐBSCL” là một cảnh báo rất quan trọng.

Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn và Ủy ban Nhân dân tỉnh Long An ngày 20 tháng 6 năm 2020 đã tổ chức Hội nghị “Tổng kết công tác phòng chống hạn hán thiếu nước xâm nhập mặn mùa khô 2019-2020 và định hướng phát triển nông nghiệp bền vững vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long” .nhìn lại những được và chưa được trong mùa hạn mặn 2019-2020., có một sự liên hệ rất mật thiết về Sông Mêkong tin nổi bật và giải pháp ứng phó hiệu quả.

Biến đổi khí hậu liên quan chặt chẽ tới yếu tố kép đó là sự quản lý nước sông Mekong, sự phục hồi rừng và giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu toàn diện, tích cực, chủ động, phù hợp, hiệu quả. “Đập trên sông Mekong ” là yếu tố chính có ý nghĩa điều tiết lớn .

Đặc điểm thủy năng nổi bật của Sông Mekong là vai trò điều lượng dòng nước bởi hồ Tonlé Sap, người Việt thường gọi là “Biển Hồ” là hồ thiên nhiên lớn nhất Đông Nam Á, Phần thượng nguồn sông Mekong người Trung Quốc hiện đã hoàn thành xây dựng một loạt các đập trên sông tại Mạn Loan, Đại Triều Sơn, Cảnh Hồng, và đang xây đập Tiểu Loan với hơn một chục đập thủy điện điều lượng nước gây nhiều tranh cãi cho an sinh vì thay đổi trữ lượng nước, gia tăng mức độ xói mòn cũng như gây thiệt hại cho nông nghiệp và nguồn cá. Trung Quốc dùng khoa học công nghệ và kinh tế để chế ngự điều tiết lượng nước đầu nguồn và chi phối lượng nước hạ lưu sông Mekong đó là một chiến lược kinh tế chính trị sâu sắc mà gần đây nhiều tài liệu quan tâm tới điều này.

Những tài liệu đáng chú ý về sông Mekong gần đây gồm bài: Thế khó của Việt Nam trước các đập thủy điện trên sông Mê Kông của Lào, Làm thay đổi cả hành tinh trong thời gian ngắn, đại dịch COVID-19 tạo tiền đề cho trật tự thế giới mới? Sông Mekong trong cuộc chiến tài nguyên nước; Từ Trường Giang Tam Hiệp đến Mekong, Mực nước sông Mekong xuống thấp nhất trong 30 năm; Sông Mekong và Biển Đông hai cái gai trong quan hệ Việt Trung; Dòng sông Mekong bị bức tử nguy cơ cận kề. Lưu vực sông Mekong địa bàn thách đố của Hoa Kỳ; Hiệp đinh Mekong 1995 đang tan vỡ, Thích ứng với biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long sẽ thất bại vì đập thủy điện.

Sông Mekong bị giảm mực nước do sự điều tiết nước hệ thống đập thủy điện thượng nguồn tại Trung Quốc, kết hợp với biến đổi khí hậu và sự mất rừng đang gây nên áp lực kép của sự xâm nhập mặn và hạn cục bộ diện rộng tại nhiều tỉnh Việt Nam. Tiếp theo bài Vựa lúa Nam Bộ bị ngập mặn và thay đổi tư duy  thì những thông tin mới về các đập sắp xây dựng ở Lào và Campuchia; cùng với bài viết Hồi sinh sông Danube – bài học lịch sử cho dòng Mekong là cảnh báo cần đọc lại và suy ngẫm .

Thế khó của Việt Nam trước các đập thủy điện trên sông Mê Kông của Lào” tiến sĩ Lê Hồng Hiệp Nghiên cứu Quan hệ Quốc tế ngày 7 tháng 1 năm 2020 nhận định: “Về lâu dài, Việt Nam cần tự giải quyết các vấn đề của mình để đảm bảo một nguồn cung điện bền vững, giá cả phải chăng và thân thiện hơn với môi trường để phục vụ sự phát triển của đất nước. Ngay cả khi Việt Nam tham gia vào một số dự án xây dựng đập thủy điện ở Lào, chúng ta vẫn cần tiếp tục phản đối việc xây dựng các con đập mới trên sông Mê Kông. Trong trường hợp Lào quyết định tiến hành xây dựng các đập mới, chúng ta cần phải yêu cầu Lào lựa chọn các thiết kế đập và công nghệ thủy điện phù hợp để giảm thiểu tác động môi trường. Xét cho cùng, đồng bằng sông Cửu Long rất quan trọng đối với an ninh lương thực của không chỉ Việt Nam mà còn của cả khu vực. Một phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được đăng trên ISEAS Commentary” . Thông tin này được tiếp nối bởi bài viết Làm thay đổi cả hành tinh trong thời gian ngắn, đại dịch COVID-19 tạo tiền đề cho trật tự thế giới mới? góc nhìn của đại sứ Nguyễn Quang Khai tại http://www.soha.vn ngày 5 tháng 4 năm 2020 và thông tin trước đây Sông Mekong trong cuộc chiến tài nguyên nước của Lê Viết Thọ BBC News Tiếng Việt 24 tháng 10 2019. Ý kiến nói rằng, tương lai ảm đạm của Mekong vì các dự án thủy điện thượng nguồn, trong khi cơ chế tham vấn quốc tế không còn hiệu quả.

Tôi muốn trao đổi thêm đôi điều xung quan vấn đề Vựa lúa Nam Bộ bị ngập mặn và thay đổi tư duy Cố giáo sư viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng cách đây nhiều năm đã cảnh báo rằng: Việc chọn tạo nguồn lương thực thực phẩm thích ứng với điều kiện khô hạn và xâm nhập mặn là cấp thiết vì trái đất nóng lên, nạn mất rừng và các dòng sông lớn của Việt Nam có nước đầu nguồn từ Trung Quốc có thể bị điều tiết lưu lượng nước bởi việc làm thủy điện, sẽ gây khô hạn hoặc ngập úng diện rộng khi chặn dòng hoặc xả lũ. Việc chọn tạo giống cây trồng chịu hạn mặn thích ứng với biến đổi khí hậu và thích hợp vùng khó khăn đã được lưu ý từ lâu rồi, nên giáo sư Võ Tòng Xuân mới tự tin nói vậy. Nhìn xa hơn một chút vào lịch sử cho thấy nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn nằm trong tổng thể của tầm nhìn quốc gia. Việt Nam soi vào Trung Quốc và Brazil của quá khứ và hiện tại, qua 500 năm nông nghiệp BrazilTrận Vũ Hán bài học lịch sử,sẽ ngộ được nhiều bài học lớn cho nông nghiệp. Brazil hiện nay vì sao bảo tồn và phát triển nông nghiệp được, bởi họ có bài học lịch sử đắt giá của bảo tồn phát triển nông nghiệp và các ngành hàng buôn bán thương mại Việt Nam khắc phục khô hạn và ngập úng hiện nay cần giải pháp tổng thể và chuỗi lịch sử mà không thể chỉ nhìn giải pháp tình thế và phân khúc. Trận Vũ Hán bài học lịch sử năm 1938 lụt Hoàng Hà do chủ động phá đê để gây lầy lội chặn chiến dịch thần tốc của quân Nhật trong chiến tranh Trung Nhật (làm chết hơn 50 vạn dân thường), sau này đã được chủ tịch Mao Trạch Đông nghiên cứu vận dụng trong đại kế chiến lược Tam Tuyến, xây đập Tam Hiệp trên sông Trường Giang, xây nhiều đập thủy điện trên sông Mekong, hình thành khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (xem Quảng Tây nay và xưa), Đó là mưu lược liên hoàn đã có tính toán từ trước. Tình hình hiện nay, khối ASEAN đang lớn mạnh, Mỹ đang xoay trục về châu Á, BRIC (Brazil, Rusian, India, China) đang trỗi dậy, Biển Đông, Mekong, đang làm thay đổi chiều hướng chính trị kinh tế khu vực. Việt Nam và các nước cuối lưu vực sông Mekong yêu cầu mở dự trữ nước đầu nguồn, điều tiết lưu lượng nước để chống hạn và xâm nhập mặn. Các điểm nóng đang dần lộ diện nhiều vấn đề quan hệ quốc tế nhạy cảm và phức tạp về kinh tế chính trị khu vực. Sự biến đổi khí hậu, khô cạn hoặc ngập úng tại lưu vực những dòng sông lớn do điều tiết nước, diện tích đất rừng bị thu hẹp đang gây hiệu ứng kép lên nhiều vùng rộng lớn Việt Nam. Chọn tạo giống cây trồng chịu hạn mặn và giải pháp kỹ thuật canh tác thích ứng biến đổi khí hậu là cấp thiết và hiện đã có một số kết quả gợi những góc nhìn tham chiếu về bảo tồn và phát triển nông nghiệp bền vững.

Nguồn: Sông Mekong tin nổi bật https://hoangkimlong.wordpress.com/category/song-mekong-tin-noi-bat/ bảo tồn và phát triển cập nhật; thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong htps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-11-thang-4/

xem thêm
Trung Quốc tuyên bố xả nước đập thủy điện cứu sông Mekong
Tuội Trẻ Online 20/02/2020 22:40 GMT+7
TTO – Trung Quốc ngày 20-2 tuyên bố sẽ xả nước các đập thủy điện của mình trên sông Mekong để giúp đỡ các quốc gia láng giềng đối phó với khô hạn.

Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị (ảnh REUTERS, nguồn TTO)

Phát biểu tại một cuộc họp trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao Mekong – Lan Thương lần thứ 5, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị cho biết mưa ít là lý do chính gây khô hạn và Trung Quốc cũng đang chịu thiệt hại từ điều này.

“Trung Quốc đã vượt qua khó khăn của mình và tăng dòng chảy của sông Lan Thương (đoạn sông Mekong tại Trung Quốc) để giúp các nước thuộc lưu vực sông Mekong đối phó với khô hạn.

Chúng tôi cũng đồng ý nâng cao hợp tác trong khuôn khổ LMC nhằm đảm bảo việc sử dụng nguồn nước hợp lý và bền vững”, ông Vương nói.

Theo Reuters, Trung Quốc cũng cho biết sẽ cân nhắc việc chia sẻ thông tin thủy văn để hỗ trợ thêm trong tương lai.

Trước đó cùng ngày, một báo cáo mới do Fitch Solutions Macro Research thực hiện đã dự đoán việc xây đập thủy điện trên sông Mekong sẽ làm thay đổi các hoạt động kinh tế của 5 quốc gia thuộc lưu vực sông.

Báo cáo này dẫn nguồn từ nhiều bài nghiên cứu của Ủy ban sông Mekong (MRC) cho rằng việc xây đập sẽ gây thiệt hại nặng nề cho hoạt động khai thác thủy sản và trồng trọt, buộc các quốc gia phải nhập khẩu lương thực.

Từ đó, các chuyên gia lo lắng tình trạng lạm phát kéo dài sẽ xảy ra và các quốc gia chịu thiệt hại sẽ trở nên phụ thuộc vào Trung Quốc.

Theo Retuers, tình hình khô hạn trong nhiều năm trở lại đây đang tàn phá ngành nông nghiệp của Lào, Thái Lan, Campuchia, Myanmar và Việt Nam.

Giới quan sát cho rằng 11 con đập của Trung Quốc tại thượng nguồn sông Mekong cũng như biến đổi khí hậu là nguyên nhân chính.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là NLU.jpg

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đâycập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

Lời hẹn tình quê

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam 

Sông Mekong tin nổi bật

SÔNG MEKONG TIN NỔI BẬT
Hoàng Kim


Thế khó của Việt Nam trước các đập thủy điện trên sông Mê Kông của Lào” tiến sĩ Lê Hồng Hiệp Nghiên cứu Quan hệ Quốc tế ngày 7 tháng 1 năm 2020 nhận định: “Về lâu dài, Việt Nam cần tự giải quyết các vấn đề của mình để đảm bảo một nguồn cung điện bền vững, giá cả phải chăng và thân thiện hơn với môi trường để phục vụ sự phát triển của đất nước. Ngay cả khi Việt Nam tham gia vào một số dự án xây dựng đập thủy điện ở Lào, chúng  ta vẫn cần tiếp tục phản đối việc xây dựng các con đập mới trên sông Mê Kông. Trong trường hợp Lào quyết định tiến hành xây dựng các đập mới, chúng ta cần phải yêu cầu Lào lựa chọn các thiết kế đập và công nghệ thủy điện phù hợp để giảm thiểu tác động môi trường. Xét cho cùng, đồng bằng sông Cửu Long rất quan trọng đối với an ninh lương thực của không chỉ Việt Nam mà còn của cả khu vực. Một phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được đăng trên ISEAS Commentary” . Thông tin này được tiếp nối bởi bài viết Làm thay đổi cả hành tinh trong thời gian ngắn, đại dịch COVID-19 tạo tiền đề cho trật tự thế giới mới? góc nhìn của đại sứ Nguyễn Quang Khai tại http://www.soha.vn ngày 5 tháng 4 năm 2020 và thông tin trước đây Sông Mekong trong cuộc chiến tài nguyên nước của Lê Viết Thọ BBC News Tiếng Việt 24 tháng 10 2019. Ý kiến nói rằng, tương lai ảm đạm của Mekong vì các dự án thủy điện thượng nguồn, trong khi cơ chế tham vấn quốc tế không còn hiệu quả. Hôm 8/10/2019, Liên minh Cứu sông Mekong kêu gọi hủy bỏ đập Luang Prabang và các đập dòng chính được lên kế hoạch khác.

Thông tin đầy đủ:

Thế khó của Việt Nam trước các đập thủy điện trên sông Mê Kông của Lào
Lê Hồng Hiệp

Vào ngày 4 tháng 1 năm 2020, trong kỳ họp lần thứ 42 của Ủy ban Liên Chính phủ Việt – Lào, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN) đã ký năm hợp đồng mua từ tập đoàn Phongsubthavy và tập đoàn Chealun Sekong của Lào 1,5 tỷ kWh điện mỗi năm trong hai năm, bắt đầu từ năm 2021. Thỏa thuận này, trong khi minh họa cho tầm nhìn của chính phủ Lào về việc biến đất nước này thành “bình ắc quy của Đông Nam Á”, cũng đồng thời cho thấy những thách thức về an ninh năng lượng cũng như thế lưỡng nan của Việt Nam trong việc đối phó với kế hoạch xây dựng hàng loạt các đập thủy điện trên sông Mê Kông của Lào.

Việt Nam sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu điện ngày càng nghiêm trọng trong những năm tới, ước tính sẽ lên mức 3,7 tỷ kWh vào năm 2021 và gần 10 tỷ kWh vào năm 2022. Ngoài nguyên nhân nhu cầu tăng do tăng trưởng kinh tế, một số yếu tố khác cũng đã góp phần dẫn tới sự thiếu hụt này.

Thứ nhất, trong số 60 nhà máy điện lớn đang được xây dựng, 35 dự án với tổng công suất 39.000 MW đang phải đối mặt với tình trạng chậm tiến độ từ một đến năm năm. Việc Quốc hội Việt Nam hồi năm 2016 thông qua việc dừng kế hoạch xây dựng các nhà máy điện hạt nhân cũng dẫn đến những thay đổi bất ngờ trong quy hoạch phát triển nguồn điện của cả nước.

Thứ hai, các dự án mới đang gặp khó khăn vì chính phủ không còn cấp bảo lãnh tín dụng cho các nhà máy điện. Do đó, các nhà phát triển điện lớn của Việt Nam như EVN, PetroVietnam và Vinacomin hiện phải dựa vào các khoản vay thương mại tốn kém hơn để tài trợ cho các dự án của mình. Do đó, thu xếp tài chính cho các dự án mới mất nhiều thời gian hơn để hoàn thành.

Thứ ba, do chất lượng không khí suy giảm ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cũng như việc chính phủ nhấn mạnh hơn vào năng lượng tái tạo đã khiến Việt Nam tìm cách giảm phụ thuộc vào các nhà máy nhiệt điện than tuy rẻ nhưng gây ô nhiễm, hiện chiếm khoảng 41% tổng sản lượng điện của Việt Nam. Các nguồn năng lượng sạch hơn, như các nhà máy điện khí hay các trang trại điện mặt trời và điện gió, hiện được ưu tiên trở thành các nguồn điện thay thế.

Tuy nhiên, các nhà máy điện khí rất tốn kém và Việt Nam chưa có các kho khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) để phục vụ cho các nhà máy như vậy. Trong khi đó, mặc dù các trang trại điện gió và điện mặt trời xây dựng nhanh hơn nhưng công suất của chúng khá hạn chế. Dù Việt Nam hiện là nước đi đầu về năng lượng tái tạo ở Đông Nam Á, tổng công suất của 82 trang trại điện mặt trời đang hoạt động tới cuối tháng 6 năm 2019 chỉ là 4.464MW, chiếm 8,28% tổng sản lượng điện của cả nước. Việc phát triển các dự án năng lượng tái tạo mới trong tương lai sẽ phải đối mặt với thách thức do mức giá mua điện mà chính phủ phê duyệt thấp hơn cũng như việc Việt Nam chậm nâng cấp hệ thống truyền tải điện nhằm hấp thụ lượng điện bổ sung từ các dự án này.

Để giải quyết tình trạng thiếu điện trong ngắn hạn và trung hạn, Việt Nam sẽ phải tăng nhập khẩu điện từ các nước láng giềng, đặc biệt là Lào. Tuy nhiên, lựa chọn này đặt ra cho Việt Nam một vấn đề nan giải trong cách đối phó với các kế hoạch của Lào nhằm xây dựng thêm các đập thủy điện trên sông Mê Kông và các phụ lưu. Do lo ngại về tác động môi trường đối với đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam từ lâu đã phản đối kế hoạch của Lào nhằm xây dựng ít nhất 9 đập thủy điện lớn dọc theo con sông này. Mặc dù hai nước có mối quan hệ thân thiết, cho đến nay Việt Nam vẫn không thể thuyết phục được Lào xem xét lại kế hoạch của mình.

Sự kiên định của Lào, nay cộng với tình trạng thiếu điện ngày càng tăng của Việt Nam, dường như đã khiến Hà Nội dần cân nhắc một cách tiếp cận mới. Ví dụ, vào tháng 6 năm 2019, PV Power, một công ty con của PetroVietnam, đã tổ chức một cuộc hội thảo để thảo luận việc tham gia vào dự án đập thủy điện Luang Prabang trên sông Mê Kông. PV Power được cho là đang nắm giữ 38% cổ phần của dự án. Một số chuyên gia cho rằng do Việt Nam không thể ngăn cản Lào xây dựng các con đập, sẽ là một điều khôn ngoan nếu Việt Nam tham gia vào các dự án này để kiểm soát việc thiết kế và vận hành các con đập nhằm giảm thiểu tác động môi trường lên đồng bằng sông Cửu Long. Cách tiếp cận này mang tính thực dụng và có lẽ là giải pháp tốt nhất đối với Việt Nam vào lúc này, nhưng nó cũng không hoàn hảo. Việt Nam không thể tham gia vào tất cả các dự án và việc tham gia vào bất kỳ dự án nào trong số đó cũng sẽ làm suy yếu lập luận của Việt Nam khi phản đối các dự án tương tự ở Lào và các nước khác.

Về lâu dài, Việt Nam cần tự giải quyết các vấn đề của mình để đảm bảo một nguồn cung điện bền vững, giá cả phải chăng và thân thiện hơn với môi trường để phục vụ sự phát triển của đất nước. Ngay cả khi Việt Nam tham gia vào một số dự án xây dựng đập thủy điện ở Lào, chúng  ta vẫn cần tiếp tục phản đối việc xây dựng các con đập mới trên sông Mê Kông. Trong trường hợp Lào quyết định tiến hành xây dựng các đập mới, chúng ta cần phải yêu cầu Lào lựa chọn các thiết kế đập và công nghệ thủy điện phù hợp để giảm thiểu tác động môi trường. Xét cho cùng, đồng bằng sông Cửu Long rất quan trọng đối với an ninh lương thực của không chỉ Việt Nam mà còn của cả khu vực.

Sông Mekong trong cuộc chiến tài nguyên nước
Lê Viết Thọ BBC News Tiếng Việt
24 tháng 10 2019

Ý kiến nói rằng, tương lai ảm đạm của Mekong vì các dự án thủy điện thượng nguồn, trong khi cơ chế tham vấn quốc tế không còn hiệu quả.

Hôm 8/10, Liên minh Cứu sông Mekong kêu gọi hủy bỏ đập Luang Prabang và các đập dòng chính được lên kế hoạch khác.

Thông cáo được liên minh này đưa ra khi bắt đầu quá trình tham vấn với dự án đập Luang Prabang.

Nhưng không phải đến lúc này, số phận dòng sông này mới được quan tâm, mà tác động của các dự án đập thượng nguồn lâu nay đã được nhiều chuyên gia cảnh báo.

Đặc biệt, những ngày gần đây, báo chí quốc tế liên tục đề cập đến tác động của các dự án đập trên thượng nguồn sông Mekong đến vùng hạ lưu, cũng như vấn đề chính trị nguồn nước trong mối quan hệ giữa các quốc gia nằm ven dòng sông này.

Sông Mekong, sự trường tồn dân tộc và ICC

Thêm đập thủy điện, thêm mối lo cho sông Mekong và VN

Trong những quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng bởi các dự án xây dựng đập trên sông Mekong, Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.

Mối nguy hại từ thủy điện thượng nguồn

Trao đổi về những tác động cụ thể của các dự án thủy điện Trung Quốc và Lào trên sông Lan Thương ở thượng nguồn Mekong đến vùng hạ lưu, Kỹ sư Phạm Phan Long, Chủ tịch Quỹ Sinh thái Việt Nam (Viet Ecology Foundation), một tổ chức phi chính phủ (NGO) tại Hoa Kỳ, nêu lên vài dẫn chứng cụ thể.

Theo đó, trước khi hoạt động, ngay từ đầu các đập hiện hữu Trung Quốc cần 42 tỉ m3 và Lào 33 tỉ m3 nước phải tích lũy cho các hồ chứa. Lượng này đã chiếm tới 55% và 20% lượng nước hàng năm của lưu vực của hai nước này. Kế đến, khi vận hành các hồ thủy điện này, chúng đã làm biến đổi quy trình tự nhiên của dòng chảy.

Kỹ sư Long dẫn số liệu của Tiến sĩ Timo A. Rasanen và các cộng sự phân tích từ dữ liệu hàng chục năm từ các trạm quan trắc, và xác định rằng, chế độ thủy văn của lưu vực thực sự đã bị biến đổi chính là vì những dự án từ thượng nguồn Trung Quốc. Bản quyền hình ảnh Tom Fawthrop Image caption Các đập thủy điện thượng nguồn đang ảnh hưởng đến cuộc sống người dân hạ nguồn.

Bên cạnh đó, cũng theo Kỹ sư Long, nghiên cứu hình ảnh cụ thể từ vệ tinh nhiều năm của NASA, Giáo sư Yadu Pokhrel nhận định rằng, các đập thượng lưu đã biến đổi nhịp đập và diện tích mặt hồ Tonle Sap.

Nếu tiếp tục xây các công trình thủy điện, sông Tonle Sap sẽ không còn chảy ngược về Biển Hồ nữa và viễn ảnh ‘trái tim thoi thóp’ Tonle Sap có ngày phải ngừng đập sẽ không còn xa.

Khi chế độ thủy văn Mekong bị đảo lộn như thế thì môi sinh lưu vực rơi vào khủng hoảng khiến an ninh lương thực và sinh kế nông ngư dân bị chao đảo. Viện Di sản của Hoa Kỳ đã tường trình rằng, dự án Sambor sẽ gây thiệt hại ngư sản Campuchia 479 triệu USD/năm và thiệt hại về nông sản Việt Nam là 74 triệu USD/năm.

Từ năm 2011, 263 tổ chức NGO đã ký thỉnh nguyện thư yêu cầu chính phủ các nước vùng sông Mekong hủy bỏ dự án Xayaburi, nhưng không được hồi đáp.

Năm 2015, Mạng lưới cộng đồng Mekong (United Mekong Communities Network) với 15 đại diện các tổ chức xã hội dân sự ba nước hạ lưu Việt Nam, Campuchia và Thái Lan cùng 10 tổ chức NGO đã viết thêm khuyến cáo lần nữa cho các chính phủ Mekong.

Trong khi các chính phủ Mekong vẫn không hủy bỏ một dự án thủy điện nào, thì Liên minh Cứu sông Mekong (Save the Mekong Coalition) vừa công bố lời kêu gọi Lào hủy dự án Luang Prabang.

Tổ chức Sông ngòi Quốc tế, OXFAM, Quỹ quốc tế Bảo vệ thiên nhiên và các viện nghiên cứu phát triển ở Úc, Mỹ đều có khuyến cáo tương tự. Bản quyền hình ảnh Pham Phan Long Image caption Vị trí các dự án thủy điện ở Đông Nam Á. Phạm Phan Long soạn ra từ OpenDevelopmentMekong

Hồi tháng Bảy, Ủy hội sông Mekong quốc tế xác nhận mực nước đầu mùa lũ tháng 6, tháng 7 năm nay trên dòng Mekong đang ở mức thấp nhất trong lịch sử.

Nhưng liệu điều đó có phải do sự tồn tại của các đập thủy điện thượng nguồn như những gì Ủy hội này đưa ra hay chỉ do tác động của biến đổi khí hậu?

Bàn luận chuyện này, Kỹ sư Long cho rằng, mưa ít dần trên lưu vực do biến đổi khí hậu là có thật trên cả địa cầu, nhưng hạn hán đến sớm hơn và khắc nghiệt hơn vào những khi khí hậu thiếu mưa là do việc vận hành các hồ chứa thủy điện. Bởi các hồ này có thể giữ nước, gây nhân tai cho vùng hạ du ngay cả khi có mưa cũng là mối lo ngại an ninh không thể loại trừ nhất là khi có tranh chấp.

Bên cạnh đó, ông Long nhận định thêm: “Một nguy hại rất khó nhận ra là Trung Quốc và cả Lào nữa, hàng năm đã cùng sớm cắt giữ nước sông Mekong vào mùa mưa, không chờ mùa khô, khiến mực nước Biển Hồ Tonle Sap không còn dâng cao theo nhịp lũ có trước. Hệ quả là Tonle Sap mất dần mùa nước nổi. Sang đến mùa khô, Biển Hồ không có số nước thặng dư hàng chục triệu m3 để chảy về giúp cho đồng bằng sông Cửu Long chống mặn.

“Nếu chỉ nhìn mực nước sông Mekong vào mùa khô không thấy suy giảm, người ta sẽ biện hộ tránh trách nhiệm cho Trung Quốc và Lào, trong khi họ đã âm thầm chiếm đoạt nước từ trước rồi.

“Trung Quốc và cả Lào, trên thực tế, đã không hề bù đắp tăng lưu lượng nước cho Campuchia và Việt Nam vào mùa khô, dù lý thuyết và tuyên truyền, họ vẫn nguỵ biện cho thủy điện là phải xả nước để chạy tua-bin, điều mà người dân hạ lưu không thể tin, vì họ không hề thấy,” ông Long nói. Bản quyền hình ảnh Ly Ke Hien Image caption Mekong không chỉ là nguồn nước mà còn gắn với cuộc sống của cư dân ven bờ.

Trung Quốc tăng khả năng khống chế khu vực

Ba thách thức lớn cho Việt Nam về sông Mekong

Mekong, dòng sông của 60 triệu người

Miền Tây: Người dân mất nhà vì biến đổi khí hậu

Ông Brian Eyler, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á, Trung tâm nghiên cứu Stimson, Mỹ, trong một hội thảo mới đây tại Việt Nam có nói rằng, Trung Quốc trữ nước cho tương lai bằng các đập thủy điện.

Nhưng phải chăng việc Trung Quốc xây các đập thượng nguồn, bên cạnh mục tiêu kinh tế, còn nhằm biến các quốc gia hạ nguồn thành ‘con tin’ cho mục tiêu chính trị? Bản quyền hình ảnh NVCC

Trên thực tế, 65 triệu dân cư Mekong đã trở thành nạn nhân của ‘cơn say’ điên thủy điện và chiến tranh không tiếng súng do Trung Quốc khởi xướngKS. Phạm Phan Long, Chủ tịch Quỹ Sinh thái Việt Nam tại Hoa Kỳ

Trả lời câu hỏi này của BBC News Tiếng Việt, Kỹ sư Long nói rằng, trên thực tế, 65 triệu dân cư Mekong đã trở thành nạn nhân của ‘cơn say’ điên thủy điện và chiến tranh không tiếng súng do Trung Quốc khởi xướng và chỉ đạo. Một nửa số dự án trên Mekong là do Trung Quốc tài trợ tham gia và thực hiện.

Ông Long nói: “Là quốc gia láng giềng với 6,5 triệu dân, Lào không thể ngang nhiên bất chấp sinh kế 16 triệu dân Campuchia và 95 triệu dân Việt Nam, nếu không có Trung Quốc che chắn cho họ. Trung Quốc đầu tư vào cơ sở hạ tầng ở Lào, Campuchia và cả Việt Nam dễ dãi, không quan tâm đến các tác động xã hội môi sinh, nhân quyền hay dân quyền lao động.

“Tôi đã từng phân tích trên Viet Ecology từ năm 2016 và nay có thể nói rằng, Trung Quốc đã thành công toàn diện trong chiến lược phát triển quyền lực mềm với tổ chức Hợp tác Lan Thương-Mekong, Ngân hàng đầu tư hạ tầng châu Á và chiến lược ‘Nhất đái nhất lộ’ đối với các quốc gia Mekong.

Nắm trong tay thủy điện, an ninh nước, an ninh lương thực và cả an ninh năng lương của khu vưc, Trung Quốc đã củng cố quyền lực mềm và tăng cường khả năng khống chế khu vực của họ,” Kỹ sư Long phân tích.

Trong một thông cáo báo chí phát đi đầu tháng 10, Tổ chức Mạng lưới sông ngòi Việt Nam từng cho rằng, việc phát triển thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông đe dọa nghiêm trọng đến môi trường và sinh kế của hàng triệu người dân đang sống dựa vào con sông này. Bản quyền hình ảnh JONATHAN ERNST/Getty Images Image caption Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo tại Hội nghị Bộ trưởng Sáng kiến Hạ nguồn Mekong từng cho rằng, sông Mekong hiện đang ở mực nước thấp nhất trong vòng một thập kỷ có liên quan đến quyết định chặn nước ở thượng nguồn của Trung Quốc.

David Hutt trong một bài báo trên Asiatimes cho biết là, Trung Quốc đã xây 11 đập và đang lên kế hoạch xây thêm 8 đập khác trên thượng nguồn.

Tại quốc gia láng giềng với Việt Nam là Lào, trên dòng chính sông Kekong, hiện đã có 2 đập thủy điện đã và đang xây dựng là Xayaburi và Don Sahong. Cuối tháng Bảy, Chính phủ Lào đã đệ trình bản mô tả chi tiết về dự án đập thủy điện Luang Prabang để chuẩn bị tham vấn.

Thủy điện Luang Prabang có công suất 1.410 MW nằm cách thị trấn Luang Prabang của Lào 30 km.

Thủy điện này sẽ làm trầm trọng hơn những tác động môi trường mà đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt.

Nhưng điều đáng ngạc nhiên là các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam cũng tham gia các dự án xây dựng các đập trên sông Mekong.

Bác sĩ Ngô Thế Vinh, tác giả cuốn “Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng” từng nhận định, “Hà Nội cho phép công ty quốc doanh PetroVietnam Power Corporation ký bản Biên bản Ghi nhớ MOU với chính phủ Lào đầu tư xây con đập Luang Prabang, con đập dòng chính lớn nhất của Lào, cũng có nghĩa là Việt Nam đã gửi đi một tín hiệu “bật đèn xanh” cho toàn 9 dự án đập dòng chính của Lào.”

Kỹ sư Phạm Phan Long cũng chung nhận định khi cho rằng, “chính phủ Việt Nam đã quy hàng chiến lược thủy điện Lào từ năm 2007, đúng như những gì bác sĩ Ngô Thế Vinh nhận định. Lúc đó, Việt Nam phải có nhượng bộ chiến lược, chấp nhận hy sinh đồng bằng sông Cửu Long đổi lấy Luang Prabang và cho phép công ty Petro Vietnam Power đầu tư vào.”

Kỳ 2: Giải pháp cho cuộc chiến tài nguyên nước xuyên biên giới?

Làm thay đổi cả hành tinh trong thời gian ngắn, đại dịch COVID-19 tạo tiền đề cho trật tự thế giới mới?

Covid-19 cho thấy trật tự thế giới như hiện nay có nhiều khiếm khuyết, nhưng điều đó không có nghĩa là xóa bỏ nó hoàn toàn để xây dựng một trật tự mới.

01. Thay đổi thế giới

Đại dịch Covid-19 đang làm thay đổi thế giới. Không thể nói rằng, sau khi bệnh dịch kết thúc mọi thứ sẽ trở lại như cũ. Trong lịch sử, ngoài thiệt hại to lớn về nhân mạng, các hậu quả về sinh học, môi trường, các đại dịch lớn mà nhân loại đã trải qua còn để lại những hậu quả vô cùng to lớn về kinh tế, chính trị và xã hội.

Đại dịch hạch đầu tiên hay còn gọi là “Bệnh dịch Justian” xảy ra vào cuối thế kỷ thứ V đầu thế kỷ thứ VI giết chết khoảng 50 triệu người ở Trung Á, Trung Đông và Bắc Phi, chiếm một nửa dân số thế giới lúc bấy giờ đã dẫn đến sự sụp đổ của đế chế Byzantine và xuất hiện một nền văn minh mới – Hồi giáo.

Đại dịch “Cái chết đen” còn được gọi là “Great Plague” xảy ra vào giữa thế kỷ XIV đã giết chết hơn 60% dân số châu Âu, nhưng những người sống sót được tự do hơn, nghi ngờ vào sức mạnh của nhà thờ, sau đó dẫn đến một cuộc cải cách, đưa ra một mô hình kinh tế, xã hội mới – Chủ nghĩa tư bản.

Trong thế kỷ XX, nhiều sự kiện đã làm thay đổi thế giới như chiến tranh thế giới Thứ nhất và Thứ hai, kết thúc chiến tranh lạnh, bức tường Berlin sụp đổ, sự kiện 11/9 đầu thế kỷ XXI và cuộc khủng hoảng Covid-19 kéo dài 4 tháng nay cũng rất có thể sẽ dẫn đến nhiều thay đổi, định hình lại trật tự thế giới.

Đại dịch Covid-19 cho thấy trật tự thế giới được hình thành sau chiến tranh lạnh đã bộc lộ nhiều yếu kém và cần thiết xem xét lại để thiết lập một trật tự thế giới mới có thể đáp ứng được những thách thức ngày càng tăng đang đe dọa loài người.

02. Những hậu quả nghiêm trọng

Có thể nói cuộc khủng hoảng Covid-19 là thách thức lớn nhất đối với thế giới kể từ Thế chiến thứ hai, và nghiêm trọng hơn rất nhiều so với cuộc khủng hoảng dịch bệnh SARS và cúm lợn gần đây.

Ngoài số người chết hàng ngày tăng lên một cách khủng khiếp, ngoài những tác động kinh tế to lớn của nó, thế giới đang rơi vào tình trạng tê liệt do sản xuất bị đình trệ, lưu lượng thương mại giảm, ngừng việc đi lại và hoạt động hàng không giữa các quốc gia, sự sụp đổ của ngành du lịch và giá dầu lao dốc xuống mức kỷ lục.

Đại dịch Covid-19 đang cảnh báo những hiểm họa kinh tế hết sức to lớn. Đó là hàng chục triệu người sẽ mất việc làm, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao và có khả năng sẽ xảy ra khủng hoảng lương thực, thực phẩm trên phạm vi toàn cầu. Mặc dù Hội nghị thượng đỉnh bất thường nhóm G-20 họp ngày 26/3 vừa qua đã cam kết dành 5 nghìn tỷ USD để khắc phục hậu quả đại dịch cho nền kinh tế thế giới, nhưng không dễ gì thực hiện.

Trật tự thế giới hiện nay đã phơi bày một thực tế rằng, các tổ chức kinh tế quốc tế lớn như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO),… đã không giải quyết được hậu quả kinh tế của đại dịch Covid-19.

Chính sách tự do và toàn cầu hóa đang làm tăng thêm khoảng cách giữa các quốc gia, đặc biệt là giữa các nước giàu và nghèo. Do đó, trật tự thế giới mới hậu Covid-19 sẽ mang nhiều đặc điểm khác trước.

Nhiều khả năng sẽ quay lại xu hướng tập trung kinh tế vào tay nhà nước sau thất bại của chính sách toàn cầu hoá. Các công ty đa quốc gia trong hệ thống kinh tế hiện nay và Liên minh châu Âu (EU) đã không phối hợp giúp đỡ các nước thành viên bị ảnh hưởng nhất như Italia và Tây Ban Nha. Các nước này đã phải nhờ đến sự giúp đỡ của Nga, Trung Quốc, Israel và thậm chí cả Cuba.

Về chính trị, các cường quốc như Mỹ và các nước phát triển khác như Anh, Pháp, Đức, Italia. Tây Ban Nha, v.v., với các hệ thống y tế hiện đại của mình cũng đã không ngăn chặn được sự lây lan của dịch bệnh. Một trật tự thế giới mới sẽ nổi lên vai trò của Trung Quốc, Nga và các nền kinh tế mới nổi khác. Mỹ sẽ mất dần độc quyền lãnh đạo thế giới.

03.Trật tự thế giới mới

Chắc chắn sẽ có sự thay đổi trên bản đồ chính trị thế giới, nhưng hãy còn quá sớm để đưa ra được nhận định chính xác về hình hài của một trật tự thế giới hậu Covid-19.

Nhiều nhà nghiên cứu chiến lược nhất trí cho rằng, cán cân quyền lực toàn cầu sẽ thay đổi căn bản, Mỹ sẽ không còn là siêu cường duy nhất do phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức mới cả trong và ngoài nước. Vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ với tư cách là một nước có nền kinh tế và sức mạnh quân sự lớn nhất đang trên đường suy giảm, đồng USD ngày càng suy yếu.

Stephen Walt, giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học Harvard cho rằng, đại dịch Covid-19 sẽ đẩy nhanh quá trình chuyển đổi quyền lực và ảnh hưởng từ phương Tây sang phương Đông. Ông nói, cơ sở để đưa ra nhận định này là các nước phương Đông đã phản ứng nhanh chóng và có các biện pháp ngăn chặn dịch bệnh này hữu hiệu hơn nhiều so với châu Âu và Mỹ.

Kết quả các cuộc thăm dò ý kiến ​​do tạp chí Chính sách đối ngoại (Foreign Policy) của Mỹ chuyên về các vấn đề quốc tế cũng cho thấy quan điểm tương tự.

Điều này thể hiện rõ, mặc dù có tiềm lực lớn về tài chính, những tiến bộ về khoa học và công nghệ trong lĩnh vực y tế, nhưng Mỹ và châu Âu đã phản ứng và hành động hết sức chậm chạp trong việc đối phó với cuộc khủng hoảng, dẫn đến sự lây lan dịch bệnh trên diện rộng, tử vong hàng loạt ở Mỹ và châu Âu.

Trong khi đó Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Singapore, Việt Nam và nhiều nước khác với nguồn lực hạn chế hơn đã xử lý cuộc khủng hoảng tốt hơn rất nhiều. Trung Quốc là nguồn gốc của đại dịch, đến nay về cơ bản đã ngăn chặn được sự lây lan của bệnh dịch và số người tử vong thấp hơn nhiều so với các nước châu Âu và Mỹ.

Mặc dù còn nhiều bất đồng với Trung Quốc và Nga, ông D. Trump đã phải liên hệ gấp với Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng thống V. Putin đề nghị hai nước này giúp Mỹ trong cuộc chiến chống dịch Covid-19. Italia và Tây Ban Nha cũng đề nghị Nga và Trung Quốc giúp đỡ chống lại đại dịch này. Điều này thể hiện rằng, dù mạnh đến đâu Mỹ và châu Âu vẫn cần sự hợp tác với các nước mới giải quyết được những vấn đề mang tính chất toàn cầu.

04. Cán cân Mỹ – Trung

Theo Kishore Mahbubani, nhà nghiên cứu tại Viện nghiên cứu châu Á thuộc Đại học Quốc gia Singapore và là tác giả của cuốn “Trung Quốc đã thắng” (Has China won?), đại dịch sẽ không ảnh hưởng nhiều đến xu hướng kinh tế toàn cầu, nhưng nó sẽ mở đầu cho một sự thay đổi. Đó là sự chuyển đổi từ toàn cầu hóa do Mỹ là trung tâm sang toàn cầu hóa xoay quanh trục Trung Quốc.

Bruno Guigue, một cựu quan chức cao cấp người Pháp, chuyên gia về các vấn đề chính trị mới đây cho ra mắt cuốn sách “The Fall of the Eagle is Near” (Con đại bàng sắp ngã gục), thu hút sự quan tâm lớn của dư luận.

Tác giả viết, Mỹ đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Quốc năm 1979. Kể từ đó đến nay, ngoài cuộc chiến chống Việt Nam, Trung Quốc đã không tiến hành bất cứ cuộc chiến tranh nào. Trong khi đó, Mỹ vẫn thường xuyên ở trong tình trạng chiến tranh.

Có thể nói, Mỹ là quốc gia có chiến tranh nhiều nhất trong lịch sử thế giới, vì họ muốn áp đặt các giá trị Mỹ lên các dân tộc khác. Ngược lại, Trung Quốc đã tập trung mọi nguồn lực vào xây dựng và phát triển kinh tế.

Mỹ đã bị suy yếu rất nhiều sau khi ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam. Theo các con số thống kê của Mỹ, chi phí quân sự của Mỹ trong 50 năm qua lên tới trên 3 nghìn tỷ USD, chưa kể 5 đến 7 nghìn tỷ USD chi phí cho các cuộc chiến tranh gần đây tại Iraq và Afghanistan. Chi phí quân sự của Mỹ bằng 45% chi phí quân sự toàn cầu với 725 căn cứ quân sự ở nước ngoài, chưa kể đầu tư vào nghiên cứu, chế tạo các loại vũ khí mới.

Donald Trump giành thắng lợi trong cuộc bầu cử năm 2016, trở thành ông chủ Nhà Trắng đã hứa “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”. Không ai phủ nhận một số kết quả tích cực, nhưng tất cả những gì làm được trong nhiệm kỳ của ông đã không làm thay đổi bộ mặt nước Mỹ được bao nhiêu.

Năm 2018, thâm hụt thương mại của Mỹ với phần còn lại của thế giới tăng lên tới 891 tỷ USD, phá mức kỷ lục 795 tỷ USD năm 2017. Hai năm đầu tiên trong nhiệm kỳ của Tổng thống D. Trump được coi là tồi tệ nhất trong lịch sử thương mại Mỹ.

Sự mất cân bằng trong cán cân thương mại với Trung Quốc đóng vai trò lớn nhất trong sự thâm hụt chung này. Donald Trump muốn sử dụng vũ khí thuế quan trong cuộc chiến thương mại để tái cân bằng cán cân thương mại của Mỹ, nhưng đã không đem lại kết quả mong muốn trong bối cảnh toàn cầu hoá, không thể áp đặt và can thiệp vào công việc của các công ty đa quốc gia.

Năm 2018, thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc lên tới 419 tỷ USD so với 375 tỷ USD năm 2017. Cuộc chiến thương mại mà D. Trump khởi xướng không những đã không cải thiện được tình hình mà còn làm trầm trọng thêm thâm hụt thương mại của Mỹ. Xuất khẩu các sản phẩm của Trung Quốc sang Mỹ tiếp tục tăng (hơn 7%) và nhập khẩu từ Mỹ vẫn tiếp tục giảm.

Thâm hụt thương mại của Mỹ với Châu Âu, Mexico, Canada và Nga cũng trở nên trầm trọng. Ngoài thâm hụt thương mại, thiếu hụt ngân sách liên bang cũng tăng mạnh (779 tỷ USD năm 2018 so với 666 tỷ USD năm 2017).

Chi phí quân sự tăng vọt. Ngân sách quốc phòng năm 2019 lên tới 686 tỷ USD, mức kỷ lục trong lịch sử nước Mỹ. Trong khi ngân sách quân sự của Trung Quốc cùng năm chỉ ở mức 175 tỷ USD, mặc dù dân số của họ gấp bốn lần của Mỹ.

Nợ liên bang cũng đạt mức kỷ lục 22.175 tỷ USD, lớn hơn tổng thu nhập quốc nội GDP của Mỹ. Các khoản nợ của các công ty và cá nhân tăng chóng mặt, lên tới 73.000 tỷ USD.

Tất nhiên, Mỹ đang được hưởng lợi do đồng USD vẫn là đồng tiền chính trong các giao dịch quốc tế và trong dự trữ của ngân hàng các nước. Tuy nhiên, đặc quyền này cũng đang dần dần mất đi.

Trung Quốc, Nga và nhiều nước khác, thậm chí liên minh châu Âu đang giảm bớt dự trữ của họ bằng đồng USD và chuyển sang dự trữ bằng vàng miếng và sử dụng đồng nội tệ trong việc thanh toán các hợp đồng thương mại.

Làm thay đổi cả hành tinh trong thời gian ngắn, đại dịch COVID-19 tạo tiền đề cho trật tự thế giới mới? - Ảnh 8.

Tài liệu nghiên cứu mới đây “Thế giới năm 2050: Nền kinh tế thế giới sẽ thay đổi như thế nào trong ba mươi năm tới” của PwC (PricewaterhouseCoopers), một trong bốn công ty kiểm toán hàng đầu thế giới hiện nay, nhận định các nước mới nổi gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Indonesia, Mexico, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ có thể chiếm tới 50% GDP toàn cầu vào năm 2050, trong khi tỷ lệ của bảy nền kinh tế lớn nhất là Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Đức, Ý và Nhật Bản có thể sẽ giảm xuống còn 20%.

Đại dịch Covid-19 chắc chắn sẽ làm thay đổi thế giới và tư duy chính trị của nhiều nước.

Các nước đang phải xem xét lại chính sách của mình để rút ra được những đánh giá về toàn cầu hoá. Covid-19 cho thấy trật tự thế giới như hiện nay có nhiều khiếm khuyết, nhưng điều đó không có nghĩa là xóa bỏ nó hoàn toàn để xây dựng một trật tự mới.

Trung Quốc có thể sẽ là nước đầu tiên ra khỏi cuộc khủng hoảng này và tiếp tục vươn lên mạnh mẽ, nhưng không thể bỏ qua được vai trò của Mỹ, Nga và các nước khác.

Các đại dịch và các cuộc chiến tranh lớn trước đây đều đã không chấm dứt được sự cạnh tranh quyền lực giữa các nước lớn, thì ngày nay cũng vậy. Ngay trong khi đại dịch Covid-19 còn chưa chấm dứt, các nước này vẫn đang tìm cách khẳng định vị trí của mình trên bàn cờ chính trị thế giới.

*Tiêu đề bài viết do tòa soạn đặt lại

Xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/song-mekong-tin-noi-bat

Video nhạc tuyển
Bài ca thời gian

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Sông Mekong tin nổi bật

SÔNG MEKONG TIN NỔI BẬT
Hoàng Kim

Sông Mekong là một trong những con sông lớn nhất trên thế giới, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra Biển Đông Việt Nam. Sông Mekong dài 4.400 km tính theo độ dài đứng thứ 12 nhưng tính theo lưu lượng nước thì đứng thứ 10 trên thế giới với lưu lượng hàng năm đạt khoảng 475 tỉ m³. Lưu vực sông Mekong rộng khoảng 795.000 km², với lưu lượng dòng chảy trung bình 15.000 m³/s đứng thứ 8 trên thế giới. Sông Mekong là điểm nhấn địa chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội rất quan trọng của châu Á. Đó là nguồn sống, nguồn tài nguyên và nôi văn hoá, văn minh phương Đông của nhiều cộng đồng dân tộc.

Đặc điểm thủy năng nổi bật của Sông Mekong là vai trò điều lượng dòng nước bởi hồ Tonlé Sap, người Việt thường gọi là “Biển Hồ” là hồ thiên nhiên lớn nhất Đông Nam Á, Phần thượng nguồn sông Mekong người Trung Quốc hiện đã hoàn thành xây dựng một loạt các đập trên sông tại Mạn Loan, Đại Triều Sơn, Cảnh Hồng, và đang xây đập Tiểu Loan với  hơn một chục đập thủy điện điều lượng nước gây nhiều tranh cãi cho an sinh vì thay đổi trữ lượng nước, gia tăng mức độ xói mòn cũng như gây thiệt hại cho nông nghiệp và nguồn cá. Trung Quốc dùng khoa học công nghệ và kinh tế để chế ngự điều tiết lượng nước đầu nguồn và chi phối lượng nước hạ lưu sông Mekong đó là một chiến lược kinh tế chính trị sâu sắc mà gần đây nhiều tài liệu quan tâm tới điều này.

Sông Mekong những tài liệu đáng chú ý gần đây gồm bài: Từ Trường Giang Tam Hiệp đến Mekong, Mực nước sông Mekong xuống thấp nhất trong 30 năm; Sông Mekong và Biển Đông hai cái gai trong quan hệ Việt Trung; Dòng sông Mekong bị bức tử nguy cơ cận kề. Lưu vực sông Mekong địa bàn thách đố của Hoa Kỳ; Hiệp đinh Mekong 1995 đang tan vỡ, Thích ứng với biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long sẽ thất bại vì đập thủy điện; Trung Quốc và ‘vũ khí nước’.

Sông Mekong bị giảm mực nước do sự điều tiết nước hệ thống đập thủy điện thượng nguồn tại Trung Quốc, kết hợp với biến đổi khí hậu và sự mất rừng đang gây nên áp lực kép của sự xâm nhập mặn và hạn cục bộ diện rộng tại nhiều tỉnh Việt Nam. Tiếp theo bài Vựa lúa Nam Bộ bị ngập mặn và thay đổi tư duy  thì những thông tin mới về các đập sắp xây dựng ở Lào và Campuchia; bài viết Hồi sinh sông Danube – bài học lịch sử cho dòng Mekong cùng với bài viết Trung Quốc và ‘vũ khí nước’ là những cảnh báo sâu sắc cần đọc lại và suy ngẫm .

Vựa lúa Nam Bộ bị ngập mặn và thay đổi tư duy Cố giáo sư viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng cách đây nhiều năm đã cảnh báo rằng: Việc chọn tạo nguồn lương thực thực phẩm thích ứng với điều kiện khô hạn và xâm nhập mặn là cấp thiết vì trái đất nóng lên, nạn mất rừng và các dòng sông lớn của Việt Nam có nước đầu nguồn từ Trung Quốc có thể bị điều tiết lưu lượng nước bởi việc làm thủy điện, sẽ gây ra khô hạn, măn xâm nhập sâu hoặc ngập úng diện rộng khi các sông lớn Việt Nam bị chặn dòng hoặc xả lũ. Giáo sư Võ Tòng Xuân cũng khẳng định việc chọn giống cây trồng chống chịu điều kiện khó khăn và thích ứng biến đổi khí hậu đã sớm được nghiên cứu , Qua 500 năm nông nghiệp Brazil và Trận Vũ Hán bài học lịch sử, Việt Nam soi vào Brazil và Trung Quốc của quá khứ và hiện tại,sẽ ngộ được nhiều bài học lớn cho nông nghiệp. Brazil hiện nay vì sao bảo tồn và phát triển nông nghiệp được, bởi thấm hiểu bài học đắt giá của lịch sử bảo tồn và phát triển nông nghiệp với các ngành hàng buôn bán thương mại. Trận Vũ Hán bài học lịch sử năm 1938 lụt Hoàng Hà do chủ động phá đê để gây lầy lội chặn chiến dịch thần tốc của quân Nhật trong chiến tranh Trung Nhật (làm chết hơn 50 vạn dân thường), sau này đã được chủ tịch Mao Trạch Đông nghiên cứu vận dụng trong đại kế chiến lược Tam Tuyến, xây đập Tam Hiệp trên sông Trường Giang, xây nhiều đập thủy điện trên sông Mekong, hình thành khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (xem Quảng Tây nay và xưa), Đó là mưu lược liên hoàn đã có tính toán từ trước. Tình hình hiện nay, khối ASEAN đang lớn mạnh, Mỹ đang xoay trục về châu Á,  BRIC  (Brazil, Rusian, India, China) đang trỗi dậy, Biển Đông, Mekong, đang làm thay đổi chiều hướng chính trị kinh tế khu vực. Việt Nam và các nước cuối lưu vực sông Mekong yêu cầu mở dự trữ nước đầu nguồn, điều tiết lưu lượng nước để chống hạn và xâm nhập mặn. Các điểm nóng đang dần lộ diện nhiều vấn đề quan hệ quốc tế nhạy cảm và phức tạp về kinh tế chính trị khu vực. Sự biến đổi khí hậu, khô cạn hoặc ngập úng tại lưu vực những dòng sông lớn do điều tiết nước, diện tích đất rừng bị thu hẹp đang gây hiệu ứng kép lên nhiều vùng rộng lớn Việt Nam. Hiện nay Việt Nam cần giải pháp tổng thể và chuỗi lịch sử để khắc phục khô hạn và ngập úng chứ không thể chỉ nhìn giải pháp tình thế và phân khúc.Chọn tạo giống cây trồng chịu hạn mặn và giải pháp kỹ thuật canh tác thích ứng biến đổi khí hậu là cấp thiết và hiện đã có một số kết quả gợi những góc nhìn tham chiếu về bảo tồn và phát triển nông nghiệp bền vững.

Bài viết Trung Quốc và ‘vũ khí nước’ đã khái quát thông tin của tờ Nikkei Asian Review Nhật Bản “Trung Quốc biến nguồn nước thành vũ khí, gây thêm hạn hán ở châu Á” của giáo sư Ấn Độ Brahma Chellaney, tố cáo Trung Quốc lợi dụng vị trí đầu nguồn các con sông chảy qua các nước khác, ồ ạt xây đập để biến nguồn nước thành công cụ gây sức ép, với hệ quả là làm cho nạn hạn hán ở châu Á thêm nghiêm trọng. Theo chuyên gia Chellaney, Trung Quốc nằm ở trung tâm bản đồ về nguồn nước của châu Á. Nhờ có được vùng cao nguyên Tây Tạng giàu nguồn nước và vùng Tân Cương rộng lớn, Trung Quốc trở thành thượng nguồn các con sông chảy xuống 18 quốc gia vùng hạ lưu. Trung Quốc đã thiết lập những cấu trúc lớn ở thượng nguồn, sử dụng nước như vũ khí. Trung Quốc đã cho xây một loạt 11 đập vùng thượng nguồn dòng sông Mekong. Mùa hè vừa qua, mực nước của dòng sông Mekong dài 4.880km, có giá trị sống còn cho vùng Đông Nam Á này đã xuống mức thấp nhất từ hơn 100 năm qua, cho dù mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng cuối tháng 9. Trung Quốc đã hoàn tất đập Tam Hiệp lớn nhất thế giới, công trình được cho là có kiến trúc vĩ đại nhất trong lịch sử, sau Vạn Lý Trường Thành. Trung Quốc cũng xây đập trên những con sông xuyên quốc gia khác, Bắc Kinh đã .lập kế hoạch xây dựng đập Brahmaputra trên con sông cao nhất thế giới nằm gần biên giới tranh chấp với Ấn Độ có công suất điện sản xuất gần gấp đôi của đập Tam Hiệp, với hồ chứa dài hơn hồ Great Lakes lớn nhất của Bắc Mỹ. Một số quốc gia Đông Nam Á cũng có đề án xây đập do công ty Trung Quốc tài trợ và xây dựng, để xuất khẩu điện sang Trung Quốc. Châu Á hiện là trung tâm xây đập của thế giới, tập hợp hơn một nửa trong tổng số 50.000 đập lớn của hành tinh. Hạn hán nghiêm trọng đã xảy ra ở nhiều vùng rộng lớn, từ Australia cho đến bán đảo Ấn Độ. Tình trạng này đã phơi bày các rủi ro trong việc tập trung vào giải pháp đập, làm tăng thêm nguy cơ thiếu hụt nước sử dụng. Trung Quốc đang tìm cách thiết lập một trật tự mới dựa trên quy tắc “Trung Quốc đóng vai trò “cứu tinh” của châu Á. Các nước hạ nguồn bị phụ thuộc sâu sắc vào thiện chí của Trung Quốc khi các con đập khổng lồ trên sông Mekong đã hoàn thiện và sự hổ trợ xây dựng hồ chứa nước và phân luồng nguồn nước ở vùngcác nước hạ nguồn dẫn đến sự suy thoái môi trường nhiều hơn và nhanh hơn , thậm chí là gây ra chiến tranh nước, làm thay đổi cơ bản sinh kế, sinh tồn và đời sống dân sinh ở của hàng triệu người ở vùng hạ nguồn dòng sông Mekong. Tai họa nước đang ngày càng tồi tệ trên khắp vùng Đông Nam Á, lục địa này phải đối mặt với sự lựa chọn rõ ràng hoặc thay đổi cơ bản hợp tác dựa trên quy tắc. Con đường thứ hai không chỉ đòi hỏi sự chia sẻ nước và lưu lượng dữ liệu thủy văn miễn phí mà còn đòi hỏi quản lý hiệu quả hơn việc tiêu thụ nước, tăng sử dụng nước tái chế và khử muối, các nỗ lực bảo tồn và thích ứng. Không thể làm được điều này nếu không có sự hợp tác của Trung Quốc, Do đó, việc kéo được Trung Quốc vào cuộc, theo ông Chellaney, là thiết yếu trong việc quản lý nguồn nước vì hòa bình ở châu Á.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau MusicVietnam traditional music
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam 


Sông Mekong tin nổi bật

BBC 29 4 2016

SÔNG MEKONG TIN NỔI BẬT
Hoàng Kim

Tin nổi bật về quản lý tài nguyên nước sông Mekong. Hạn hán Mekong và “cuộc chiến nước”, Lan Phương BBC tiếng Việt 29 tháng 4 năm 2016,  đưa tin Thái Lan đang sắp xây một số cửa chắn nước từ  sông Mekong và xây hồ chứa nước dự trữ phục vụ nông nghiệp cho nước này. Việc mở sông đảo dòng và “cuộc chiến nước” chắc chắn sẽ làm gay gắt thêm nhiều thiệt hại nặng nề tại Đồng bằng sông Cửu Long vì xâm nhập mặn và hạn. Sông Mekong vùng hạ lưu môi trường sinh thái bị bức tử trong nguy cơ cận kề.

Angkor nụ cười suy ngẫm là bài học lịch sử cảnh báo sự suy thoái kinh tế môi trường do nguy cơ chiến tranh kinh tế, chiến tranh nguồn nước gây bất ổn, động loạn, xung đột lớn tại khu vực và cả thế giới đang đến rất gần. Kinh nghiệm  Hồi sinh sông Danube – bài học lịch sử cho dòng Mekong thúc đẩy việc quản lý, điều phối nguồn nước hợp lý, bảo tồn, cải thiện môi trường nước theo khuyến cáo của Ủy Hội Sông Mekong / MRC nguy cơ không được tôn trọng sẽ là hiểm họa khó lường. Bài học lịch sử từ 600 năm trước của nền văn minh  Angkor bị lụi tàn, hủy diệt do hiệu ứng kép của sự biến đổi khí hậu và sự sụp đổ không thể cứu vãn nổi hệ thống hồ chứa thủy lợi nên dân chúng và kinh thành buộc phải chuyển về Phnôm Pênh nơi hợp lưu của sông Mekong và sông Tonlé Sap có biển Hồ. Angkor Wat, Angkor Thom di sản văn hóa thế giới bị bức tử và lụi tàn.

Trận Vũ Hán bài học lịch sử là bài học cảnh báo sự  bất chấp mạng sống con người và an sinh xã hội giành thắng lợi bằng mọi giá, dám và chủ động dụng kế “tự mở khẩu đê sông Hoàng Hà” gây nên Lụt Hoàng Hà 1938 cướp đi sinh mạng của trên 50 vạn thường dân Trung Quốc nhằm cản bước tiến quân Nhật. Đó là lời cảnh báo lịch sử cho hiểm họa mới của “chiến tranh kinh tế, chiến tranh nước”, đang bùng phát dữ dội tại vùng hạ lưu sông Mekong. Thế giới ngày nay đang trãi qua những toan tính, tranh chấp của những triết lý, giấc mơ lãnh đạo thế giới, bất chấp tội ác và trừng phạt, bất chấp sự cảnh báo trên 500 năm trước của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Muốn bình sao chẳng lấy nhân/ muốn an sao lại bắt dân ghê mình ?”.

Thiên tai và nhân họa, thủy hỏa đạo tặc đang cướp đi bát cơm của người dân, hột lúa và con cá của người dân. Việt Nam thiệt hại 287 triệu đô la trong 4 tháng vì hạn hán và ngập mặn, VOA tiếng Việt 30 tháng 4 năm 2016 đưa tin.

Sông Mekong tài liệu tổng hợp. Đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn

HẠN HÁN MEKONG VÀ CUỘC CHIẾN NƯỚC

Lan Phương, BBC tiếng Việt
Tường thuật từ Loei, Thái Lan
29 tháng 4 năm 2016

Ban (làng) Klang nằm kín đáo trên một địa thế hiểm trở giữa các ngọn đồi ở tỉnh Loei, Thái Lan. Dân làng chậm rãi ra về sau một ngày làm việc nóng bức trên những đỉnh đồi xanh mướt cao su và khoai mì.

Mở sông, đảo dòng

Trái với cảnh bình yên đó, người khách lạ ghé thăm có thể ngạc nhiên trước những tấm băng-rôn căng rộng giữa cổng làng: “Chúng tôi không muốn cửa nước”, “Chúng tôi cần sông Loei”, “Không được nhấn chìm làng”. Thật vậy, Ban Klang không thể ngờ đến một lúc, họ đã trở thành tâm điểm của một cuộc tranh chấp nguồn nước, thậm chí tiềm ẩn trở thành “điểm nóng” của những mùa hạn hán tương lai trên dòng sông Mekong.

BBC 29 4 2016

Buổi sáng tôi đến, Ban Klang họp để nói về những đường hầm dẫn nước tương lai có thể được xây trên sông Loei và một cửa nước tên Si Song Rak. Mô hình của cửa nước Si Song Rak để điều khiển nước từ sông Mekong vào nếu Thái Lan quyết định lấy nước (ảnh).

Bà Prawin, 52 tuổi, nói: “Tôi sinh ra ở làng này. Năm nay hạn hán, nhưng về mùa hạn, chúng tôi không trồng gì nhiều, mà chỉ xuống sông Loei bắt cá, bắt ốc. Mỗi ngày cũng kiếm được 300-400 baht. Nếu người ta đào sông Loei lên để xây đường hầm, chúng tôi sẽ không còn cá để bắt. Vậy phải sống ra sao vào mùa nắng?”

Làng Klang của bà nằm cạnh sông Loei. Con sông chỉ là một đoạn nước mỏng manh, hẹp và trong veo, uốn khúc đi qua làng. Nhưng con sông có thể sẽ không còn là nó nữa nếu dự án đầy tham vọng Kong –Loei – Chi – Mun được thành hình, nhằm giữ nước lại cho Thái Lan trong những mùa khô hạn.

Dự án Kong – Loei – Chi – Mun được mô tả sẽ nạo vét đáy sông Loei sâu thêm 5m. Theo dự án này, cửa sông Loei, quãng đổ từ dòng chính sông Mekong vào, sẽ được cơi nới rộng thêm 250m, để nước từ sông Mekong đổ vào.

Theo dự án, con sông nông và hẹp này sẽ được nạo vét sâu thêm 5m để làm hầm dẫn nước
Sau đó, chính phủ Thái Lan dự định xây dựng 24 đường hầm ở đáy sông Loei, để nước theo “trọng lực” chảy vào Loei, dẫn tới các sông Chi, sông Mun, trữ ở đấy, đề phòng cho những mùa hạn hán nghiêm trọng sau này có thể xảy ra ở nhiều tỉnh miền Đông Bắc Thái Lan như năm nay.

Bà Sorarat Kaewsa – trưởng làng Ban Khang – nói: “Làng chúng tôi chưa bao giờ thiếu nước. Chúng tôi trồng cao su, khoai mì, nhiều gia đình đều có đào hồ chứa nước. Làng không dùng nước từ sông Loei. Mùa hè, dân làng đánh bắt cá tôm từ sông Loei, nếu họ đào dòng sông lên, sẽ không còn tôm cá, mùa hè người làng không thể kiếm sống nữa.”

Trên tấm bản đồ vẽ tay theo kiểu nông dân, bà Sorarat và dân làng Ban Khang nói về những lo sợ của họ: cửa nước Si Song Rak và những đường ngầm được đào sâu xuống sông Loei, để đưa nước từ dòng chính sông Mekong vào.

Con sông của ngôi làng hơn 400 tuổi sắp chịu một cơn “đại phẫu” trong cơn khát tàn bạo của cả khu vực.

‘Cuộc chiến của nước’?

Trong một cuộc gặp với báo giới tại Chiang Khan, khi bị chất vấn về tính khả thi của dự án, bà Chawee Wongprasittiporn – Giám đốc dự án của Cục Thuỷ lợi Hoàng gia Thái Lan – nói: “Không phải 24 đường hầm sẽ được xây ngay lập tức, chúng tôi vẫn còn mâu thuẫn với dân làng cần phải thảo luận. Chúng tôi sẽ có thể xây trước 1 -2 đường hầm, sau đó dẫn nước và theo dõi. Nếu có sự cố gì, chúng tôi sẽ điều chỉnh dự án để phù hợp hơn.”

Trả lời BBC Tiếng Việt về lượng nước mà Thái Lan sẽ lấy từ dòng chính sông Mekong vào trong giai đoạn đầu của dự án, bà Chawee nói “có thể khoảng 2.036 triệu m3 nước/năm”.
“Chúng tôi sẽ cố gắng không lấy nước từ sông Mekong vào tháng Ba, tháng Tư, những thời điểm mùa khô nhất của sông Mekong để không ảnh hưởng nhiều đến hạ nguồn.” – Bà Chawee nói.

Buổi chiều cùng ngày, ông Chanarong Wongla – đại diện cộng đồng ngư dân tại Chiang Khan, chở tôi đi thuyền đến miệng sông Loei hướng vào dòng Mekong.

Đến một quãng sông hẹp với cây cối và phù sa màu mỡ, ông Chanarong chỉ dẫn: “Đây chính là miệng sông Loei, nơi chính phủ dự định sẽ nạo vét và mở rộng miệng sông. Động vật thuỷ sinh, bùn trong sông Loei chính là nơi giúp cá ghé vào đẻ trứng. Hãy tưởng tượng nếu nó bị nạo vét và mở rộng, dòng nước chảy mạnh, sẽ không còn nơi cho cá trú ẩn nữa.”

Ông Chanarong cũng là người có kinh nghiệm hướng dẫn ngư dân cùng với các nhà khoa học làm khảo sát về nguồn cá, nguồn nước tại tỉnh Loei.

Ông nói với BBC Tiếng Việt: “Nếu dự án xảy ra, vấn đề là nó sẽ lấy nước từ dòng chính sông Mekong. Những nhà khoa học làm việc với chúng tôi nói với các nước hạ nguồn như Campuchia và Việt Nam, họ lo ngại sẽ xảy ra một thứ gần như cuộc chiến giành nước, bởi vì Thái Lan sẽ lấy một lượng nước khỏi dòng sông.”

“Tôi không rõ nếu Thái Lan lấy nước, liệu có còn đủ nước cho các nước hạ nguồn hay không, liệu có còn đủ nước để tránh bị xâm nhập mặn ở đồng bằng ở Việt Nam hay không. Có thể dự án này sẽ ảnh hưởng đến đất ở đồng bằng sông Cửu Long tại Việt Nam.”

Số phận hạ nguồn?

Trước câu hỏi, liệu Thái Lan có nghĩ đến Campuchia hay Việt Nam trong dự án lấy nước này không, bà Chawee Wongprasittiporn nói: “Về nghiên cứu về việc lấy nước từ sông Mekong từ thượng nguồn. Chúng tôi cố gắng lấy thông tin từ MRC, cố gắng xem tác động từ sông Loei, xem tác động giữa phần Lào và Thái Lan.”

“Chúng tôi sẽ cố gắng mô phỏng xem dòng chảy thay đổi ra sao khi đến Campuchia và Việt Nam, so sánh những thay đổi ở phía Campuchia và Việt Nam trước khi chúng tôi dẫn nước và sau khi dẫn nước, sau đó sẽ gửi cho MRC để ra quyết định.”

“Nhưng cho tới giờ, chúng tôi chưa có thông tin từ phía Lào nên chưa thể mô phỏng tác động xuống Campuchia và Việt Nam được.” – Bà Chawee nói.

“Chúng tôi cố gắng xem xét, càng nhiều càng tốt, trong khả năng của mình”. Theo trình bày của Cục Thủy lợi Hoàng gia Thái Lan, dự án này sẽ lấy khoảng 4 tỷ m3 nước/năm từ dòng Mekong.

Lấy nước có ảnh hưởng tới Đồng bằng Sông Cửu Long?

BBC 29 4 2016 (2)

Tại Việt Nam, nhiều tháng qua, Đồng bằng sông Cửu Long đã chịu rất nhiều thiệt hại vì xâm nhập mặn và hạn hán

Ông Kỷ Quang Vinh, Chánh văn phòng công tác biến đổi khí hậu Thành phố Cần Thơ nói: “Lượng nước lấy như thế vào mùa mưa thì có thể chấp nhận được. Nhưng vào mùa khô, đặc biệt như mùa khô năm 2010 thì lại chiếm khoảng 10% lưu lượng bình quân ngày tại Tân Châu trong tháng 5/2010, thì là một lượng nước rất lớn gây nguy cơ xâm nhập mặn tại Đồng bằng Sông Cửu Long các tháng mùa khô.”

Trung Quốc và Lào làm thủy điện, Thái Lan lấy nước, số phận những cư dân cuối nguồn như Việt Nam sẽ ra sao?

Trong bài kỳ tiếp, tác giả sẽ viết về cái chết từ từ của Đồng bằng Sông Cửu Long

TuongdaBonmatNucuoiBian

ANGKOR NỤ CƯỜI SUY NGẪM

Hoàng Kim

Tượng đá bốn mặt, nụ cười bí ẩn (ảnh). Quần thể kiến trúc Angkor và điệu múa Khmer là hai di sản thế giới vô giá, là Kim Tự Tháp của thiền định, pho sử thi vĩ đại. Tượng đá bốn mặt, Kinh thành bốn mặt, Con sông bốn mặt là sự hợp lưu và chuyển pháp của Đức Vua, Mẫu Hậu, Đức Phật, Thần Sáng Tạo. Nụ cười bí ẩn trông như vui, như lạc quan, như yêu đời, như nghiêm nghị, ngắm cũng như buồn, như hồi hộp, như lo âu, như thoáng cười. Các khuôn mặt tượng đá đều toát lên sự tĩnh lặng, bình tâm và an nhiên. Ở đó có thung dung chuyển pháp.

Trò chuyện với thiên nhiên và cổ vật, bạn sẽ thấy nhiều điều đáng suy ngẫm. Ví như  một chủ thuyết, một tôn giáo, bao giờ cũng muốn được sự tin tưởng, noi theo độc tôn, mà không bao giờ chấp nhận sự nửa vời, đa nguyên, nhưng hãy nhìn tượng đá bốn mặt, kinh thành bốn mặt, con sông bốn mặt, … để thấu hiểu hợp lưu và chuyển pháp.

ANGKOR DI SẢN THẾ GIỚI

Bạn nếu chỉ có một thời gian ngắn để du lịch Campuchia  hãy nên dành thời gian thăm quần thể kiến trúc Angkor, bơi thuyền trên Biển Hồ  và đi dạo ban mai ở thủ đô Phnôm Pênh nơi hợp lưu của sông Mekong và sông Tonlé Sap. Đó là ba điểm chính để du lịch.

Quần thể kiến trúc Angkor có diện tích 3000 km² là thành phố thời kỳ tiền công nghiệp lớn nhất thế giới. Ở trong quần thể Angkor có khoảng trên 1000 công trình (Một số học giả cho rằng con số đó có thể hơn, vì dưới thời vua Jayavarman VIII, 1243-1295, ông đã trở về Ấn Độ giáo và cho phá hủy trên 10.000 tượng Phật cũng như cho chuyển các chùa Phật thành đền thờ Ấn Độ giáo). Đến nay có khoảng 72 đền thờ chính và công trình xây dựng khác đang được bảo tồn và khai thác du lịch trên khu vực này.. Angkor Wat, Angkor Thom, đền Bayonđền Banteay Srei là những điểm tham quan kỳ thú nhất.

Bạn hãy dành thời gian thăm thú kỳ quan Angkor di sản thế giới vào ban ngày, còn buổi tối thì Thưởng thức”Nụ cười của Angkor”  tuyệt phẩm điệu múa Khmer, cũng là di sản thế giới, do đoàn Ca Múa Nhạc Hoàng Gia biểu diễn, với sự giúp đỡ, cố vấn công phu của Trương Nghệ Mưu tổng đạo diễn và đích thân Norodom Sihanouk, cựu Quốc vương, Thái thượng vương của Vương quốc Campuchia thẩm duyệt. Tượng thần bốn mặt, nụ cười suy ngẫm chắc chắn sẽ theo bạn.

Hẵn nhiên bạn sẽ thấy có một số điều cần nhận thức lại hoặc suy ngẫm, ví như một tôn giáo, một chủ thuyết bao giờ cũng muốn được tin tưởng, noi theo độc tôn, mà không bao giờ chấp nhận sự nửa vời, đa nguyên, nhưng đến đây có một cách giải thích của “thần đá bốn mặt” “kinh thành bốn mặt”, và “con sông bốn mặt” đó là hợp lưu của Đức Vua/ Đức Phật/Mẫu Hậu/Thần Sáng Tạo. Ở đó có sự chuyển pháp. “Nụ cười bí ẩn” Nhìn khuôn mặt thoạt nhìn thấy vui, lạc quan và yêu đời. Nhưng khi nhìn kỹ lại thấy nghiêm nghị, có một thoáng hồi hộp, lo âu trong nụ cười. Các khuôn mặt đều toát lên sự tĩnh lặng, bình tâm và an nhiên.

Trong Danh sách di sản thế giới tại châu Á và châu Đại Dương, Vương quốc Campuchia có ba di sản thế giới là: Quần thể kiến trúc Angkor nổi bật nhất là Đền Angkor Wat (1992), Điệu múa hoàng gia (2003) và Đền Prasat Preah Vihear (2008). Việt Nam có tám di sản thế giới là: Quần thể di tích Cố đô Huế (1993), Vịnh Hạ Long(1994), Phố cổ Hội An (1999), Khu thánh địa Mỹ Sơn (1999), Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng (2003), Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long (2010), Thành nhà Hồ (2011) và Quần thể danh thắng Tràng An (2014).

Angkor là kinh đô của Đế quốc Khmer đã phát triển rực rỡ tại vùng Đông Nam Á từ năm 802, dưới triều đại của vua Hindu Jayavarman IIngười Khmer, sau đó nối tiếp cho đến năm 1431 thị lụi tàn khi người Thái chiếm được kinh đô của Khmer khiến cho dân cư ở đây di cư về phía nam đến khu vực Phnom Penh.

Quần thể kiến trúc Angkor nằm giữa rừng già và vùng đất canh tác nông nghiệp ở phía nam của đồi Kulen, gần thành phố Xiêm Riệp ngày nay (13°24’N, 103°51’E) và phía bắc của sông Tonle Sap (nơi có Biển Hồ vùng điều tiết bốn hợp lưu của sông Mê Kôngtại Phnom Penh) . Angkor được UNESCO công nhận là di sản thể giới do phong cáchkiến trúc Khmer đặc sắc, cảnh quan kỳ thú và quy mô diện tích 3000 km² (1150 dặm vuông) là thành phố lớn nhất thế giới của thời kỳ tiền công nghiệp..

Đế quốc Khmer (802 - 1431) và Di sản Thế giới Angkor

Đế quốc Angkor là một triều đại huy hoàng trong lịch sử Campuchia. Đây là  cựu đế quốc rộng lớn nhất Đông Nam Á  thời đó, với diện tích lên đến 1 triệu km² (gấp 3 lầnViệt Nam hiện nay) đóng trên phần lãnh thổ hiện nay thuộc Campuchia. Đế quốc Khmer, tách ra từ Vương quốc Chân Lạp, đã từng cai trị và có phần đất phiên thuộc mà ngày nay thuộc lãnh thổ của các nước Thái Lan, Lào và miền nam Việt Nam.

Thời kỳ khởi đầu của Đế quốc Khmer là thời nhà Đường (618-907), Việt Nam lúc đó tên nước là An Nam  thuộc nhà Đường. Người nước Nam nhiều lần nổi lên đánh phá nổi bật có Mai Hắc Đế (năm 722) , Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (năm 791). Các nước khác xâm lấn, tranh chấp với người An Nam có nước Hoàn Vương (Lâm Ấp, Chiêm Thành sau này) và Nam Chiếu (người Thái ở Vân Nam, xưng quốc hiệu là Đại Mông, Đại Lễ), sau này khi Cao Biền sang làm Tiết độ sứ thì mới dẹp yên.

Jayavarman II là một hoàng tử của triều đại Sailendra. Ông đến Java để làm con tin hoàng gia của vương quốc chư hầu hay đến học tập đến nay vẫn chưa được khẳng định. Ông nhờ thời gian ở Java nên đã học được nghệ thuật và văn hóa triều đình Sailendran của Java về cho triều đình Khmer. Sau khi trở lại vương quốc  Chân Lạp, ông đã nhanh chóng xây dựng thế lực cho mình và đánh bại nhiều vị vua khác. Ông trở thành hoàng đế của vương quốc Khmer năm 790. Những năm tiếp theo, ông đã mở rộng lãnh thổ của mình và cuối cùng đã thành lập kinh đô mới Hariharalaya gần thị xã Roluos của Campuchia ngày nay. Ông đã đặt nền móng cho kinh đô Angkor trải dài đến 15 km về phía tây bắc. Năm 802, ông tự xưng  là Chakravartin (vua thiên hạ) bằng một lễ đăng quang theo phong cách Ấn Độ giáo. Bởi thế, ông không những trở thành một vị vua được thành thánh sắc phong và vô địch mà còn đồng thời tuyên bố sự độc lập của vương quốc mình tách khỏi vương quốc Java. Vua Jayavarman II mất năm 834.

Đền Preah Vihear di sản thế giới của Campuchia ở tỉnh Preah Vihear trên đỉnh núi Dângrêk gần biên giới Thái Lan. Đền được xây dựng bắt đầu vào đầu thế kỷ 9 dưới thời vua Suryavarman ISuryavarman II và được tiếp nối trong những thế kỷ tiếp theo để thờ thần Shiva. Các di vật thấy ở kiến trúc đền Preah Vihear được coi là những di vật thuộc thời kỳ đầu của Đế quốc Angkor.

Thời kỳ cường thịnh của Đế quốc Khmer tương ứng với thời kỳ suy vong của triều Đường đời Ngũ Đại Thập Quốc (907-979), kéo dài cho đến triều Tống (960-1279) thống nhất Trung Quốc bản thổ. Hoa lục chiến tranh liên miên chẳng còn điều kiện và cơ hội để dòm ngó đất phương Nam. Trong tình thế đó, Đế quốc Khmer phát triển ổn định. Nước Đại Việt cũng nhân tình thế đó mà cởi ách Bắc thuộc hơn một nghìn năm, khởi đầu là họ Khúc dấy nghiệp kế đến là Ngô Quyền phá quân Nam Hán, dựng nền độc lập, mở đường cho nhà Đinh (968-980), nhà tiền Lê (980-1009), nhà Lý 1009 -1225), nhà Trần (1226 – 1400).

Trung Quốc bản thổ khái lược từ cuối Ngũ Đại Thập Quốc (907-959) đời Tống (960-1279) Nguyên (1271-1368) Minh (1368-1644)
Trung Quốc bản thổ khái lược từ cuối Ngũ Đại Thập Quốc (907-959) đến đời Tống (960-1279) nhà Nguyên (1271-1368) và đến nhà Minh (1368-1644) (Wikipedia)

Indravarman I, vị vua thứ tư của Đế quốc Khmer, đã củng cố vững chắc đất nước mình với những chương trình xây dựng lớn, bao gồm hệ thống thủy lợi và các đền đài, nhờ vào của cải giành được thông qua mậu dịch và nông nghiệp. Công trình đầu tiên là đềnPreah Ko và các công trình thủy lợi.

Yasovarman I (trị vì từ 889 – 915), là con Indravarman I, nối nghiệp và phát triển công nghiệp của cha. Ông đã thiết lập kinh đô mới Yasodharapura, thành phố đầu tiên củaAngkor. Ngôi đền trung tâm của thành phố được xây ở Phnom Bakheng, một ngọn đồi cao 60 m giữa đồng bằng trong khu vực Angkor. Dưới triều Yasovarman I đại công trình thủy lợi  Đông Baray được tạo dựng, đây là hồ chứa nước có kích thước 7,5 x 1,8 km.

Sau khi Yasovarman I qua đời vào đầu thế kỷ 10, đế quốc Khmer lập tức bị chia rẽ. VuaHarshavarman IIshanavarman II (em của Harshavarman I) phải vất vả giữ ngôi báu trước sự tranh giành của người chú – Jayavarman IV. Người chú bị đánh lui khỏi Angkor và đã thiết lập một kinh đô mới ở Koh Ker, cách Angkor khoảng 100 km. Sau khi Ishanavarman II qua đời, Jayavarman IV lên làm vua.

Con của Jayavarman IV là Harshavarman II nối ngôi cha được 3 năm thì bị em họ làRajendravarman II cướp ngôi.

Rajendravarman II dời đô trở về Yasodharapura. Ông xây dựng một chế độ chính trị trung ương tập quyền, tăng cường sự quản lý trực tiếp đối với các thủ lĩnh địa phương. Sau khi đất nước ổn định, ông bắt đầu thực hiện các dự án lớn tiếp nối công việc mà các vị vua đầu tiên đã dự tính. Ông đã cho thiết lập một loạt các đền ở khu vực Angkor; trong đó có Đông Mebon, trên một cù lao của Đông Baray, với nhiều đền thờ Phật và chùa.

Năm 950, chiến tranh lần đầu nổ ra giữa đế quốc Khmer và Vương quốc Chămpa ở phía đông (ngày nay là miền Trung Việt Nam).

Jayavarman V, con trai Rajendravarman II đăng quang sau khi vượt qua các hoàng thân khác tiếp nối sự trị vì từ năm 968 đến 1001. Đây là thời kỳ thanh bình, đánh dấu bởi sự phát triển thịnh vượng và rực rỡ của nền văn hóa Angkor. Dưới triều vua Jayavarman V có nhiều nhà triết học, học giả, nghệ sỹ tài năng. Ông thiết lập kinh đô mới và xây các ngôi ngôi đền mới, quan trọng nhất là Banteay Srei, được xem như công trình có tính nghệ thuật và thẩm mỹ bậc nhất của Angkor và Ta Keo là ngôi đền đầu tiên của Angkor xây hoàn toàn bằng sa thạch.

Đền Banteay Srei (đền của phụ nữ)  được thánh hóa ngày 21 tháng 4 năm 967, đây là đền thờ thần Shiva tại Angkor Thom trong quần thể kiến trúc Angkor di sản thế giới. Ngôi đền có vị trí tại tọa độ 13,59 độ vĩ bắc, 103,96667 độ kinh đông, nằm gần đồi Phnom Dei, được xây chủ yếu bằng đá sa thạch đỏ. Đền Banteay Srei được gọi là “viên ngọc quý”, “điêu khắc tuyệt vời của nghệ thuật Khmer”.

Sau cái chết của Jayavarman V là vài năm xung đột. Vua Udayadityavarman I vừa lên ngôi đã bị Jayavirahvarman lật đổ. Rồi đến lượt Jayavirahvarman bị Suryavarman I (trị vì 1010 – 1050) giành mất ngôi báu. Suốt thời kỳ trị vì của mình, Suryavarman I phải chiến đấu trấn áp các đối thủ mưu toan lật đổ mình bằng bạo lực. Ông là vị vua Khmer đầu tiên sống phải xây thành để bảo vệ mình và hoàng cung. Ông đã mở rộng vương quốc của mình đến tỉnh Lopburi của Thái Lan ngày nay, về phía nam đến eo đất Kra. Tại Angkor, việc xây dựng Tây Baray bắt đầu dưới triều Suryavarman I, một hồ chứa nước thứ 2 và rộng hơn hồ Đông Baray với kích thước 8 x 2,2 km.

Nửa cuối thế kỷ 11 và đầu thế kỷ 12 trong lịch sử Campuchia là thời kỳ của các cuộc tranh giành quyền lực tàn bạo. Sau đó đến thời kỳ huy hoàng dưới sự cai trị củaSuryavarman II. Ông đã xâm chiếm vương quốc Haripunjaya của dân tộc Môn đến phía tây (ngày nay là miền Trung Thái Lan) và một khu vực xa hơn về phía tây vương quốc Pagan (Myanma ngày nay), phía nam lấn về khu vực bán đảo Malay đến vương quốc Grahi (nay là tỉnh Nakhon Si Thammarat của Thái Lan), về phía đông lấy nhiều tỉnh của Champa, về phía bắc đến biên giới phía bắc của Lào ngày nay.

Dưới sự cai trị của ông, ngôi đền lớn nhất của Angkor được xây dựng trong khoảng thời gian 37 năm: Angkor Wat, là nơi thờ thần Vishnu.

Angkor Thom

Angkor Wat di sản thế giới (tên Việt cổ là đền Đế Thiên), thuộc huyện Angkor Thomtỉnh Siem Reap, (Angkor Wat và thành phố cổ Angkor Thom đều thuộc huyện này),cách thủ đô Phnôm Pênh 320 km về hướng Bắc được coi là di tích quan trọng bậc nhất quần thể kiến trúc Angkor tại Campuchia, tuyệt đỉnh của nghệ thuậtkiến trúc Khmer.

AngkorWat, ảnh Blon 2006
  AngkorWat năm 2006 , ảnh Blon Wikipedia

Angkor Wat  được xây dựng dưới thời vua Suriya-warman II (11131150) mới đầu để thờ thần Viśnu của Ấn Độ giáo. Về sau, khi vương triều Khmer theo Phật giáo, Angkor Wat trở thành linh đền thờ Phật. Sau khi kinh đô của đế quốc Khmer bị người Xiêm phá hủy và các nhà vua Khmer bỏ về Phnom Penh trong thế kỉ 15, là lụi tàn trong thế kỷ 16 và thế kỷ 17,  Angkor Wat rơi vào quên lãng, bị rừng già vây phủ và được khám phá lại vào năm 1860 bởi Herri Mouhot.

Sự kết thúc của hoàng đế Suryavarman II không được rõ ràng lắm. Văn bia cuối cùng ghi nhận tên ông có liên quan đến cuộc xâm lược Đại Việt là từ năm 1145. Có lẽ ông qua đời trong một cuộc hành quân trong khoảng thời gian từ năm 1145 đến 1150.

Thời kỳ tiếp theo các vua trị vì trong thời gian ngắn và bị vị vua sau lật đổ bằng vũ lực. Cuối cùng, năm 1177, Khmer đã bị quân Chămpa đánh bại trong một trận thủy chiến trên hồ Tonlé Sap và bị chiếm đóng trong một thời gian ngắn.

Đế quốc Khmer cuối thế kỷ 12

Jayavarman VII (trị vì từ 1181-1219) đã tập hợp một đội quân, đánh đuổi quân Chăm Pa và giành lại kinh đô Yasodharapura. Năm 1181, ông lên ngôi và tiếp tục chiến tranh với Chăm Pa trong suốt 22 năm cho đến khi đánh bại nước này vào năm 1203 và xâm chiếm phần lớn lãnh thổ của Chăm Pa.

Một bức phù điêu thế kỷ 12 hoặc 13 tại đền Bayon tại Angkor Thom miêu tả chiến tranh giữa Khmer và Chămpa.

Jayavarman VII được coi là vị hoàng đế vĩ đại cuối cùng của Angkor không chỉ vì những chiến công của ông chống lại quân Chăm Pa mà còn là một người cai trị không phải là bạo chúa như cách các hoàng đế trước đó đã cai trị vì ông là người thống nhất đế quốc này và trên cả là do các công trình xây dựng được tiến hành dưới thời kỳ cai trị của ông.

Angkor Thom là thành phố thủ đô cuối cùng và lâu dài nhất của Đế quốc Khmer. Thành rộng 9 km², bên trong có nhiều đền thờ từ các thời trước và các đền mới được vua Jayavarman VII xây dựng vào cuối thế kỷ XII và những người nối nghiệp ông tiếp tục.

Đền Bayon (thần Sáng tạo, thần bốn mặt, thần có nụ cười bí ẩn) nằm tại trung tâm thành phố cổ Angkor Thom cùng các di tích khác quần tụ quanh khu quảng trường Chiến thắng nằm ở phía Bắc đền.

Vua Jayavarman VII cũng cho xây dựng hồ chứa nước lớn Srah Srang, các đền chùa Ta Prohm, Banteay Kdei, Neak Pean và hệ thống đường giao thông kết nối các trấn của đế quốc, xây dựng 102 bệnh xá và 121 nhà nghỉ  cho các nhà buôn, quan chức và lữ khách.

Thời kỳ suy vong của Đế quốc Khmer (1220- 1431) tương ứng với đời loạn lạc của Trung Quốc liên tục từ cuối triều Tống cho đến nhà Nguyên (1271-1368) rồi đến nhà Minh (1368-1644), tương ứng với Đại Việt thời nhà Trần (1225-1400), Nhà Hồ (1400-1407), nhà Hậu Trần (1407-1413), thuộc nhà Minh (1414-1427) Mười năm Lê Lợi, Nguyễn Trãi đánh quân Minh (1418-1427) và thời kỳ đầu nhà Lê (1428-1788). Đế quốc Khmer suy vong khi người Cham Pa giành lại được độc lập, đặc biệt là sự trỗi dậy củaVương quốc Sukhothai và khi  người Thái chiếm được kinh đô của Khmer khiến cho dân cư ở đây di cư về phía nam đến khu vực Phnom Penh.

Indravarman II (1218-1243) kế vị và tiếp tục hoàn thành các công trình xây dựng của cha. Ông đã cho xây xong một loạt chùa chiền được khởi công từ thời cha mình. Dưới sự trị vì của Indravarman II, Campuchia có sự ổn định chính trị trong nước. Tuy nhiên, sức chi phối của Đế quốc Khmer đối với các vùng đất xa bắt đầu giảm đi. Kết quả, năm 1220, người Khmer rút khỏi nhiều tỉnh mà trước đó đã chiếm được của Chăm-pa và nước này đã giành lại độc lập. Vương quốc Sukhothai đã thành lập nên vương quốc Xiêm đầu tiên ở phía Tây và trong 200 năm tiếp theo, người Thái đã trở thành đối thủ chính của Đế quốc Khmer.

Jayavarman VIII (trị vì 1243-1295) kế nhiệm Indravarman II. Trái với các vua trước đó, Jayavarman VIII theo Ấn Độ giáo và là người chống Phật giáo quyết liệt. Ông đã cho phá hủy phần lớn tượng Phật và chuyển các chùa Phật thành đền thờ Ấn Độ giáo. Bên ngoài, ông ta đã tránh đụng độ với quân Nguyên Mông (khi đó đã chiếm hết Trung Hoa) bằng cách cống nạp hàng năm cho nhà Nguyên.

Triều đại của Jayavarman VIII kết thúc năm 1295 khi ông bị con rể là Srindravarman (trị vì 1295-1309) lật đổ. Vua mới là người theo Phật giáo Thượng tọa bộ (Theravada), một trường phái của Phật giáo du nhập vào Đông Nam Á từ Sri Lanka và sau đó lan ra khắp khu vực. Tư liệu lịch sử về thời kỳ sau triều vua Srindravarman có rất ít . Văn bản cuối cùng người ta biết được là một bia khắc từ năm 1327. Không có ngôi đền lớn nào được xây thêm.  Hệ thống thủy lợi cũng bị thoái hóa dẫn đến mùa màng thất bát do lũ lụthạn hán. Trong khi trước đó mỗi năm có 3 vụ lúa – điều này đã góp phần cốt yếu cho sự thịnh vượng và quyền lực của đế quốc Khmer – sự giảm sút mùa màng đã làm cho đế quốc này suy yếu thêm. Quốc gia lân bang phía tây của đế quốc này là Vương quốc Xiêm đầu tiên – Vương quốc Sukhothai, bị một vương quốc khác của người Thái (vương quốc Ayutthaya) đánh bại vào năm 1350. Sau năm 1352, người Thái đã mở nhiều cuộc tiến công vào đế quốc Khmer. Đến năm 1431, vương quốc Ayutthaya đã chiếm được Angkor.

THƯỞNG THỨC “NỤ CƯỜI ANGKOR”

“Thầy cũng nên dành thì giờ mà coi “Nụ cười Angkor”, điệu múa Khmer hoàng gia là di sản văn hóa thế giới đấy”,”một đế quốc Khmer bị biến mất một cách bí ẩn, kết thúc là nụ cười Angkor” ông Lý nói.

Tôi sang Campuchia nhiều lần. Lần nào ở Phnông Pênh, tôi cũng đều đi xem điệu múa Khmer hoàng gia “Nụ cười Angkor” và mỗi lần lại thấy hay thêm một mức, khám phá thêm một điều mới. Lần xem năm ngoái, tôi có chụp ảnh với diễn viên thủ vai chính vị vua đất nước Angkor vĩ đại nhất.

HK chụp ảnh lưu niệm với diễn viên đội múa Hoàng Gia

Vua Jayavarman VII (trị vì từ 1181-1219). Ông đã tập hợp một đội quân, đánh đuổi quân Chăm Pa và giành lại kinh đô. Năm 1181, ông lên ngôi và tiếp tục chiến tranh với Chăm Pa trong suốt 22 năm cho đến khi đánh bại nước này vào năm 1203 và xâm chiếm phần lớn lãnh thổ của Chăm Pa. Ông cho xây dựng hồ chứa nước lớn Srah Srang, các đền chùa Ta Prohm, Banteay Kdei, Neak Pean và hệ thống đường giao thông kết nối các trấn của đế quốc, xây dựng 102 bệnh xá và 121 nhà nghỉ cho các nhà buôn, quan chức và lữ khách. Ông tu Phật. Ông đã tập hợp các nghệ nhân, hiền triết, sử gia, học giả, nhà văn, nhà nông, nhà buôn … tài giỏi của thời ông để thực hiện bảo tồn và sáng tạo những giá trị di sản cao quý về kiến trúc, lịch sử, văn hóa, nông nghiệp, thương mại của đế quốc Angkor.

Điệu múa Hoàng Gia, di sản thế giới (2003), ảnh HK

 Điệu múa Khmer di sản thế giới thật sâu sắc, tài hoa, duyên dáng và sống động trong câu chuyện sử thi hàng mấy trăm năm được kể lại. Bạn hãy bấm vào Thưởng thức “Nụ cười Angkor để xem một vài hình ảnh mà tôi vội lưu lại với máy ảnh du lịch xoàng, chất lượng không thật tốt. Thưởng thức Nụ cười Angkor là một niềm vui lớn!

Nguyên nhân sự biến mất của đế quốc Khmer là một bí ẩn lớn của lịch sử. Nhiều ý kiến cho rằng: đó là do sự xung đột với các quốc gia khác đã làm Đế quốc Khmer bị thu hẹp tầm kiểm soát; Phnôm Pênh trở thành trung tâm chính trị, thương mại của vương quốc Khmer bên sông Mê Kông làm chuyển trọng tâm phát triển; Angkor bị ngưng trệ vì xây dựng quá tốn kém và sự xung đột quyền lực trong nội bộ hoàng gia đẩy nhanh sự lụi tàn của đế quốc; sự thoái hóa của đất đai làm người dân dồn về nơi điều kiện sống tốt hơn. Thực ra, có một vị vua của đế quốc Angkor đó là vua Barom Reachea I (trị vì 1566 – 1576), sau khi đẩy lùi quân Thái, ông cũng đã quay lại đóng đô ở Angkor trong một thời gian ngắn nhưng ông cũng không thể cưỡng lại được sự suy vong này.

Báo vnexpess trong bài “Đế quốc Khmer bị diệt vong như thế nào?” đã nêu lên một giả thuyết khác. Nguyên nhân chính sự lụi tàn của đế quốc Khmer là do biến đổi khí hậu ngoài những nguyên nhân vừa kể trên. “Theo Livescience, Brendan Buckley – một chuyên gia về khí hậu của Đại học Columbia, Mỹ thì: Biến đổi khí hậu có thể là nguyên nhân gián tiếp dẫn tới sự sụp đổ của vương quốc Khmer tại Campuchia cách đây gần 600 năm. Ông đã tìm ra bằng chứng đáng tin cậy về việc đế quốc Khmer suy vong do thiếu nguồn nước dành cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt. Tình trạng đó khiến hệ thống thủy lợi quy mô lớn của Angkor – kinh đô của đế chế – tê liệt, trong khi hệ thống này rất quan trọng với nền kinh tế nông nghiệp. Thủ phạm gây nên tình trạng khan hiếm nước là hai đợt hạn hán nghiêm trọng do biến đổi khí hậu gây nên.

Buckley và các đồng nghiệp đã dựng lại bức tranh khí hậu trong khu vực xung quanh kinh đô Angkor của đế chế Khmer cổ bằng cách nghiên cứu những vòng tròn bên trong thân các cây bách tại một vườn quốc gia gần đó. Những vòng tròn cho thấy vương quốc này từng trải qua một đợt siêu hạn hán kéo dài tới ba thập kỷ – từ khoảng năm 1330 tới năm 1360. Sau đó đó vương quốc còn hứng chịu một đợt hán hán khắc nghiệt hơn nhưng ngắn hơn trong khoảng thời gian từ năm 1400 tới năm 1420. Buckley cho rằng hai đợt siêu hạn hán có thể khiến mùa màng thất bát và bệnh truyền nhiễm lan rộng – hai thảm họa đối với một đất nước có mật độ dân số lớn. Thế rồi tới năm 1431, vương quốc sụp đổ sau một cuộc tấn công của nước Xiêm (Thái Lan ngày nay).

“Vào thời đó kinh đô Angkor đối mặt với hàng loạt vấn đề xã hội, chính trị và văn hóa. Sự thay đổi lớn của môi trường đã đẩy người dân Khmer tới giới hạn cuối cùng trong khả năng chịu đựng và họ không thể thích nghi được với thay đổi ấy. Tôi không nói biến đổi khí hậu là nguyên nhân trực tiếp khiến nền văn minh Khmer cổ sụp đổ, nhưng chắc chắn một đợt hạn hán kéo dài tới 30 năm phải gây nên một tác động nào đó”, Buckley phát biểu.”

Quần thể kiến trúc Angkor thật vĩ đại! Angkor Wat, Angkor Thom, đền Bayon và đền Banteay Srei là những điểm tham quan du lịch tuyệt vời. Tượng thần bốn mặt, nụ cười bí ẩn thật đáng suy ngẫm.

Báo vnexpess trong bài “Đế quốc Khmer bị diệt vong như thế nào? đã nêu lên những giả thuyết  về sự lụi tàn của đế quốc Khmer. Nhiều ý kiến cho rằng: sự xung đột với các quốc gia khác đã làm Đế quốc Khmer bị thu hẹp tầm kiểm soát; Phnôm Pênh trở thành trung tâm chính trị, thương mại của vương quốc Khmer bên sông Mê Kông là chuyển trọng tâm phát triển; Angkor bị ngưng trệ vì xây dựng quá tốn kém và sự xung đột quyền lực trong nội bộ hoàng gia đẩy nhanh sự lụi tàn của đế quốc; sự thoái hóa của đất đai làm người dân dồn về nơi điều kiện sống tốt hơn.

Vua Barom Reachea I (trị vì 1566 – 1576), sau khi đẩy lùi quân Thái đã quay lại đóng đô ở Angkor trong thời gian ngắn nhưng ông cũng không thể cưỡng lại được sự suy vong này .

Theo Livescience, Brendan Buckley – một chuyên gia về khí hậu của Đại học Columbia, Mỹ thì: Biến đổi khí hậu có thể là nguyên nhân gián tiếp dẫn tới sự sụp đổ của vương quốc Khmer tại Campuchia cách đây gần 600 năm. Ông đã tìm ra bằng chứng đáng tin cậy về việc đế quốc Khmer suy vong do thiếu nguồn nước dành cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt. Tình trạng đó khiến hệ thống thủy lợi quy mô lớn của Angkor – kinh đô của đế chế – tê liệt, trong khi hệ thống này rất quan trọng với nền kinh tế nông nghiệp. Thủ phạm gây nên tình trạng khan hiếm nước là hai đợt hạn hán nghiêm trọng do biến đổi khí hậu gây nên.

Buckley và các đồng nghiệp đã dựng lại bức tranh khí hậu trong khu vực xung quanh kinh đô Angkor của đế chế Khmer cổ bằng cách nghiên cứu những vòng tròn bên trong thân các cây bách tại một vườn quốc gia gần đó. Những vòng tròn cho thấy vương quốc này từng trải qua một đợt siêu hạn hán kéo dài tới ba thập kỷ – từ khoảng năm 1330 tới năm 1360. Sau đó đó vương quốc còn hứng chịu một đợt hán hán khắc nghiệt hơn nhưng ngắn hơn trong khoảng thời gian từ năm 1400 tới năm 1420. Buckley cho rằng hai đợt siêu hạn hán có thể khiến mùa màng thất bát và bệnh truyền nhiễm lan rộng – hai thảm họa đối với một đất nước có mật độ dân số lớn. Thế rồi tới năm 1431, vương quốc sụp đổ sau một cuộc tấn công của nước Xiêm (Thái Lan ngày nay).

“Vào thời đó kinh đô Angkor đối mặt với hàng loạt vấn đề xã hội, chính trị và văn hóa. Sự thay đổi lớn của môi trường đã đẩy người dân Khmer tới giới hạn cuối cùng trong khả năng chịu đựng và họ không thể thích nghi được với thay đổi ấy. Tôi không nói biến đổi khí hậu là nguyên nhân trực tiếp khiến nền văn minh Khmer cổ sụp đổ, nhưng chắc chắn một đợt hạn hán kéo dài tới 30 năm phải gây nên một tác động nào đó”, Buckley phát biểu.

Quần thể kiến trúc Angkor, với quy mô diện tích 3000 km² là thành phố thuộc thời kỳ tiền công nghiệp lớn nhất thế giới nay có khoảng 72 đền thờ chính và công trình khác đang được bảo tồn và khai thác du lịch trên khu vực này quả là vĩ đại .Angkor Wat,Angkor Thom, đền Bayonđền Banteay Srei là những điểm tham quan du lịch tuyệt vời. Tượng thần bốn mặt, nụ cười bí ẩn thật đáng suy ngẫm.

Angkor hiện đã có quá nhiều sách viết, phần lớn là sách tiếng Anh. Ông Lý và một số sinh viên Campuchia học đại học và tiến sĩ ở Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh biết “thầy Hoàng Kim rất ham nghiên cứu lịch sử văn hóa” nên mua tặng tôi nhiều sách tiếng Anh du lịch Angkor. Tôi thích nhất là cuốn “Ancient Angkor” của Michael Freeman và Claude Jacques (đó cũng là tư liệu chính của bài viết này). Ông Lý mua tặng tôi thêm cuốn sách “The Art of War” Sun Tzu (Binh pháp Tôn tử) để “Thầy về Việt Nam, chịu khó đoc song ngữ Anh Việt đối chiếu” “nghiên cứu khoa học, kinh doanh và làm chính trị đều rất nên học sách này”.

Một đế quốc Khmer bị biến mất một cách bí ẩn. Một triều đại vươn tới cực thịnh sau đó bị suy tàn và hồi sinh. Một di sản thế giới bị khỏa lấp bởi lớp lớp bụi thời gian, nay được hé lộ với “nụ cười Angkor”. Một vị vua giỏi thuật đế vương, nghệ thuật giữ thăng bằng chính trị “đi trên dây” và sâu sắc về văn hóa, đó chính là Quốc vương Norodom Sihanouk. Ông là người có công lớn trong việc bảo tồn và tái hiện di sản đặc sắc này.

Di sản Angkor và nhân vật lịch sử Norodom Sihanouk, là báu vật xứng đáng cho ta tìm tòi và cảm nhận.

(còn nữa …)

WuHan1

TRẬN VŨ HÁN BÀI HỌC LỊCH SỬ

Hoàng Kim

Trận Vũ Hán Chiến tranh Trung-Nhật là một trong những trận đánh lớn nhất, lâu nhất và dữ dội nhất, bắt đầu vào ngày 11 tháng 6 năm 1938 và kết thúc vào 4 tháng sau. Lực lượng tham chiến là 1,1 triệu quân Quân đội Cách mạng Dân quốc của Trung Hoa Dân quốc dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch với sự hổ trợ của Không quân Liên Xô, đối trận là 35 vạn quân Lục quân Đế quốc Nhật Bản dưới sự chỉ huy của Đại tướng Hata Shunroku.  Chiến thắng thuộc về phía lục quân đế quốc Nhật Bản nhưng nỗ lực của quân Nhật đánh đòn kết liễu quân Trung Quốc đã không thành công. Quân Nhật sau trận này chỉ còn đủ sức đánh  lớn Chiến dịch Ichi-Go (hay trận Đại Lục liên thông kết nối tuyến hậu cần chiến lược Bắc Kinh –  Hà Nam– Vũ HánHồ Nam – Quảng Tây nối Đông Dương) và chịu thất bại chung cuộc của phe Trụctheo chủ nghĩa phát xít  trước lực lượng Đồng Minh  trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
TranVuHan1

Tóm tắt diễn biến Trận Vũ Hán.

Đến đầu năm 1938, Đế quốc Nhật Bản đã mở rộng vùng lãnh thổ rộng lớn toàn vùng Đông Nam Á và châu Đại Dương (hình) . Nhật quyết định đánh trận Vũ Hán để kết thúc trận chiến Trung Nhật. Trận Vũ Hán là đòn quyết định.
TranVuHan2

Vũ Hán là thủ phủ của tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, nằm ở ngã ba sông Dương Tử(Trường Giang)  và sông Hán (Hán Thủy), nơi địa danh lịch sử với trận Xích Bích năm  208 thời Tam Quốc danh chấn Hoa Hạ. Vũ Hán là thành phố cổ kính và hiện đại, Vũ Hán là trung tâm nghệ thuật và học thuật với Hoàng Hạc lâu  xây dựng từ năm 223 được nhà thơ nổi tiếng Thôi Hiệu đời Đường  đề thơ.  Hán Khẩu của Vũ Hán thời nhà Nguyên  là một trong 4 thương cảng sầm uất nhất Trung Hoa. Vũ Hán trong thập niên 1920, là thủ đô của chính phủ cực tả do Uông Tinh Vệ lãnh đạo ,  thời Chiến tranh Trung-Nhật từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1938 Vũ Hán là thủ đô kháng chiến củaTưởng Giới Thạch. Ngày nay Vũ Hán xếp thứ 3 ở Trung Quốc về sức mạnh khoa học và công nghệ, là thành phố đông dân nhất ở miền Trung Trung Quốc, với dân số năm 2007 là  9,7 người, cao hơn một ít so dân số thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 gần 8,6 triệu người.
WuHan2
Từ điển Bách khoa Mở Wikipedia tiếng Việt đúc kết sử liệu đến tháng 6 năm 2015 Trận Vũ Hán:

Đầu tháng 7 năm 1937, Lục quân Nhật Bản xuất phát từ phía Bắc Trung Quốc bắt đầu tiến công quy mô lớn. Chưa đầy một tháng sau, họ chiếm được Bắc Kinh và Thiên Tân. Tháng 8, quân Nhật chiếm được Sa Cáp Nhĩ và Tuy Viễn. Sau đó, họ đánh dọc theo tuyến đường sắt Bắc Bình-Hán Khẩu và Thiên Tân-Phổ Khẩu xuống vùng bình nguyên Hoa Bắc (khu vực sông Hoàng Hà). Đầu tháng 9, quân Nhật chiếm được Thái Nguyênvà khai thác các mỏ than ở đây để cung cấp nhiên liệu cho mình. Từ Thái Nguyên, quân Nhật đánh sang Hân Khẩu, đánh bại cả liên quân Dân quốc, Cộng sản và quân phiệt địa phương Sơn Tây của Trung Quốc. Giữa tháng 12, quân Nhật chiếm được Thượng Hải. Từ Thượng Hải, quân Nhật dễ dàng chiếm được thủ đô Nam Kinh và gây ra một cuộc thảm sát tàn bạo ở đây. Tháng 5 năm 1938, quân Nhật chiếm được Từ ChâuGiang Tô.

Trước sự tiến công nhanh và mạnh của quân Nhật, Tưởng Giới Thạch quyết định rút lui về phía Tây Nam và tạm rời thủ đô kháng chiến về Vũ Hán. Vũ Hán là thành phố lớn thứ hai ở châu thổ sông Dương Tử xét về dân số và về kinh tế. Quân Nhật cho rằng chiếm được Vũ Hán và bắt bộ tư lệnh quân đội Trung Quốc ở đây sẽ là đòn quyết định để kết thúc chiến tranh. Phía Trung Quốc thì quyết tâm bảo vệ Vũ Hán, cầm chân đối phương ở đây để đánh bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Nhật và có thời gian cho trung ương di chuyển về Trùng Khánh.

Để chống lại quân Nhật tấn công Vũ Hán, Tưởng Giới Thạch bố trí tới 120 sư đoàn tinh nhuệ nhất của mình ở lại Vũ Hán cùng các chỉ huy ưu tú nhất của Quân đội Cách mạng Dân quốc như Trần Thành, Tiết Nhạc, Ngô Kỳ Vỹ, Trương Phát Khuê, Vương Kính Cửu,Âu Chấn, Lý Tông Nhân, Tôn Liên Trọng. Đặc biệt, lần này phía Trung Quốc nhận được sự chi viện của Liên Xô bao gồm cả một phi đội máy bay chiến đấu.

Phía quân Nhật là Phương diện quân Trung Chi Na do đại tướng Hata Shunroku chỉ huy. Phương diện quân này có 2 quân đoàn. Quân đoàn số 11 do trung tướng Okamura Yasuji chỉ huy gồm 6 sư đoàn. Quân đoàn số 2 do hoàng thân, trung tướng Higashikuni Naruhiko chỉ huy gồm 4 sư đoàn.

Ngày 28 tháng 2 năm 1938, không quân Nhật Bản đã đến ném bom xuống Vũ Hán. Tuy nhiên, quân Trung Quốc đã đẩy lui được.[3][4] Ngày 29 tháng 4, máy bay Nhật lại đến ném bom Vũ Hán để kỷ niệm ngày sinh của Thiên hoàng Chiêu Hòa.[5] Quân Trung Quốc đã dự đoán được điều này và chuẩn bị kỹ lực lượng để giáng trả. Một trong những cuộc không chiến dữ dội nhất trong chiến tranh Trung-Nhật đã diễn ra. Không quân Trung Quốc đã bắn hạ 21 máy bay của quân Nhật và bản thân mất 12 máy bay.[6]

Cố gắng để có thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc giao tranh ở Vũ Hán, quân Trung Quốc đã mở khẩu đê sông Hoàng Hà chỗ chảy qua Hoa Viên Khẩu gây ngập lụt trên diện rộng buộc quân Nhật phải hoãn tấn công. Trận lụt này được gọi là Lụt Hoàng Hà 1938. Tuy nhiên, nó đã cướp đi 50 vạn sinh mạng thường dân Trung Quốc.[7]

Ở phía Nam sông Dương Tử, ngày 13 tháng 6, quân đoàn 11 của Nhật đổ bộ và chiếm được An Khánh, mở màn trận Vũ Hán. Quân Nhật tiến dọc theo bờ Nam sông Dương Tử đánh nhanh từ Đông sang Tây rồi quay lại về phía Đông. Lần lượt các thị trấn An Khánh, Cửu Giang, Thụy Xương, Nhược Hy, Tân Đàm Phố, Mã Đương, Phú Kim Sơn, Dương Tân, Đạt Chi, Kỳ Tha Thành bị quân Nhật chiếm. Ngày 1 tháng 10, sư đoàn số 106 quân đoàn 11 của quân Nhật do thiếu tướng Matsuura Junrokuro chỉ huy được lệnh đi vòng sau lưng quân Trung Quốc ở Nam Tầm tới vùng Vạn Gia Lĩnh để chia cắt quân Trung Quốc ở Nam Tấm với lực lượng phía sau. Tuy nhiên, ý đồ này bị quân Trung Quốc phát hiện. Khoảng 10 vạn quân Trung Quốc thuộc biên chế của 3 quân đoàn tăng cường thêm 8 sư đoàn và 1 trung đoàn nữa đã bao vây sư đoàn số 106 của quân Nhật. Tướng Nhật Okamura điều sư đoàn 27 đến giải vây cho sư đoàn 106 nhưng không thành công. Phần lớn sư đoàn 106 của Nhật, khoảng 10.000 người, đã bị tiêu diệt, chỉ có khoảng 1.700 người thoát được. Đây là lần đầu tiên trong chiến tranh Trung-Nhật, 1 sư đoàn của Nhật bị tiêu diệt. Tuy nhiên, phía quân Trung Quốc cũng bị thương vong tới 40.000 người.[8][9]

Đến ngày 29 tháng 10 (tức là sau 3 tháng rưỡi), quân Nhật đến được Vũ Xương sát thành phố Vũ Hán.

Ở phía Bắc sông Dương Tử, ngày 24 tháng 7, sư đoàn 6 quân đoàn 11 của Nhật từ An Huy đánh sang Thái Hồ. Quân Nhật đã chọc thủng phòng tuyến của quân Trung Quốc và đến ngày 3 tháng 8 đã chiếm được các huyện Thái Hồ, Túc TùngHoàng Mai (Hồ Bắc). Tuy nhiên, đến cuối tháng 8, quân Trung Quốc giành lại được Thái Hồ và Túc Tùng. Quân Trung Quốc nhân đà đó tiến hành phản công, song thất bại và phải rút vềQuảng Tế để củng cố lực lượng. Sau đó, họ cố gắng đánh vào sườn quân Nhật ở Hoàng Mai để kìm bước tiến của địch, song không thành công. Quảng Tế và Vũ Khuyếtrơi vào tay quân Nhật. Các nỗ lực chặn địch của quân Trung Quốc đều thất bại vì quân Nhật có ưu thế hỏa lực và kinh nghiệm tác chiến vượt trội. Quân Nhật chiếm đượcThiên Gia trấn vào ngày 29 tháng 9, Hoàng Pha vào ngày 24 tháng 10, áp sát Hán Khẩu.

Đại Biệt Sơn là một dãy núi lớn giữa 2 tỉnh Hồ Bắc và An Huy, chạy dài theo hướng Tây Bắc-Đông Nam từ sông Hoài tới sông Dương Tử. Vùng này thuộc phạm vi của quân khu 5 của Trung Hoa Dân quốc. Quân đoàn 2 của Nhật bắt đầu tiến công vào Đại Biệt Sơn từ cuối tháng 8 theo 2 hướng. Sư đoàn 13 tấn công ở phía Nam. Sư đoàn 10 và sư đoàn 3 tấn công ở phía Bắc.

Ngày 12 tháng 10, cánh quân phía Bắc của quân đoàn 2 Nhật đánh đến Tín Dương và di chuyển về hướng Nam hỗ trợ cánh quân phía Nam. Ngày 24 tháng 10, quân đoàn 2 đánh đến Ma Thành, sau đó tiếp tục di chuyển xuống phía Nam cùng quân đoàn 11 hợp vây thành phố Vũ Hán. Quân Trung Quốc rút lui khỏi thành phố Vũ Hán để bảo toàn lực lượng. Ngày 26 tháng 10, Vũ Xương và Hán Khẩu thất thủ. Ngày 27, Hán Dương thất thủ.

Theo Yoshiaki Yoshimi và Seiya Matsuno, Thiên hoàng Chiêu Hòa đã cho phép quân Nhật sử dụng vũ khí hóa học để đánh quân Trung Quốc.[10] Trong tận Vũ Hán, Hoàng thân Kan’in đã truyền lệnh của Thiên hoàng dùng hơi độc 375 lần, từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1938,[11] bắt chấp Điều 23 của Công ước Hague (1899 và 1907), Điều 171 của Hòa ước Versailles, Điều V của Hiệp ước hữu quan về sử dụng tàu ngầm và hơi độc trong chiến tranh[1] và một giải pháp đã được Hội Quốc Liên thông qua ngày 14 tháng 5 ngăn chặn Lục quân Đế quốc Nhật Bản sử dụng hơi độc.[12]

Sau 4 tháng kịch chiến, về cơ bản Hải quân và Không quân Trung Quốc đã bị Quân đội Nhật quét sạch. Vũ Hán rơi vào tay Quân đội Nhật Bản. Tuy nhiên, trận thắng tại Vũ Hán là một chiến thắng kiểu Pyrros của Quân đội Nhật Bản:[13] trong khi Quân đội Nhật yếu đi vì thương vong, thì lực lượng Quân đội Trung Quốc sống sót vẫn còn khá đông. Nỗ lực của quân Nhật đánh đòn kết liễu quân Trung Quốc đã không thành công.[13] Sau trận này, quân Nhật không còn sức đánh trận lớn nào nữa cho đến tận Chiến dịch Ichi-Go

Trận Vũ Hán bài học lịch sử

Chiến tranh Trung Nhật cận hiện đại, trận Vũ Hán được nhiều chiến lược gia và sử gia nghiên cứu. Lục quân Đế quốc Nhật Bản làm chủ thế trận với ưu thế hỏa lực và kinh nghiệm tác chiến vượt trội đã chiếm được Vũ Hán, về cơ bản đã đánh thắng 120 sư đoàn thuộc loại thiện chiến nhất, quét sạch Hải quân và Không quân Quân đội Cách mạng Dân quốc của Trung Hoa Dân quốc do đích thân tổng thống, tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch là tướng lĩnh lão luyện, mưu lược chỉ huy, có sự hổ trợ của Không quân Liên Xô.

Nhật chịu thất bại chung cuộc tại Trung Quốc do “chiến lược bảo tồn sinh lực đánh lâu dài chịu mất đất đai” “chiến thuật biển người” sẵn sàng đánh đổi “thí quân” với tỷ lệ áp đảo chịu mất mát cao hơn thiệt hai nhiều hơn, “sách lược vũ trang dân chúng kháng Nhật” chịu sự thảm sát Thượng Hải, “tự mở khẩu đê sông Hoàng Hà” gây Lụt Hoàng Hà 1938 cướp đi 50 vạn sinh mạng thường dân Trung Quốc nhằm cản bước tiến quân Nhật; với nhiều bài học khác…

Trận Vũ Hán đã được chiến lược gia Mao Trạch Đông đúc kết bài học lịch sử trong đại kế TRUNG NAM HẢI. Mao Trạch Đông từ tổng kết kinh nghiệm của trận Vũ Hán và các trận đánh lớn trong lịch sử, từ giả thuyết chiến lược Chiến tranh thế giới thứ ba có thể xẩy ra với các hướng tấn công từ phía Bắc, phía Nam, phía Đông và phía Tây. Mao Trạch Đông đưa ra phương lược “tam tuyến” hướng xử lý khi có chiến tranh lớn, tại Hội nghị Trung Ương từ ngày 18 tháng 9 đến ngày 12 tháng 10 năm 1965. Ông nói:

Trung Quốc không sợ bom nguyên tử vì bất kỳ một ngọn núi nào cũng có thể ngăn chặn bức xạ hạt nhân. Dụ địch vào sâu nội địa tới bờ bắc Hoàng Hà và bờ nam Trường Giang, dùng kế “đóng cửa đánh chó” lấy chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích,vận động chiến, đánh lâu dài níu chân địch, tận dụng thiên thời địa lợi nhân hòa, thời tiết mưa gió lầy lội, phá tan kế hoạch tốc chiến tốc thắng của địch. Bắc Kinh, Trùng Khánh, Thượng Hải, Thiên Tân là bốn thành phố trực thuộc Trung Ương, chuyển hóa công năng để phát huy hiệu lực bảo tồn và phát triển. Trùng Khánh là thủ đô kháng chiến lúc đất nước Trung Hoa động loạn”…

Trận Vũ Hán bài học lịch sử, đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim

Video nhạc tuyển
Mưa Xuân 
Lãng du trong văn hoá Việt Nam
Việt Nam quê hương tôi
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam Phúc Hậu Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực Dạy và Học Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Sông Mekong tin nổi bật

Srepok

SÔNG MEKONG TIN NỔI BẬT
Hoàng Kim

Sông Mekong và Biển Đông là hai điểm tin luôn nổi bật của Việt Nam. Sông Srepok tại ngã ba Đông Dương là điểm hợp lưu quan trọng nhất của sông Mekong, trong khi Phnôm Pênh lại chính là điểm phân lưu quan trọng nhất của con sông này. Sông Mekong  với Việt Nam có giá trị địa vật lý tương tự như sông Neva đối với nước Nga. Đến với Tây Nguyên mới, tôi tìm về thăm sông Srepok. Đây là chiến trường cũ của chúng tôi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước để đạt được thống nhất Việt Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.  Tại Tây Nguyên, đơn vị tôi chốt ở bên dòng sông Srepok là hợp lưu quan trọng nhất của sông Mekong, phạm vi hoạt động tới vùng ngã ba biên giới Việt – Lào- Cămpuchia,  

Sông Srepok (hay Sêrêpôk, Srêpôk, mà tiếng Campuchia gọi là Tongle Xrepok) tại vùng ngã ba Đông Dương . Sông Srepok phần Việt Nam là phụ lưu đặc biệt quan trọng của sông Mekong. Đây là ngã ba Đông Dương, hợp lưu lớn nhất của sông Mekong. Sông Srepok với các dòng sông ngắn dốc hung dữ hoang sơ chảy ngược về Mekong mà không phải chảy xuôi về Biển Đông như các sông Việt khác. “Ai nắm được nóc nhà Tây Nguyên và chế ngự được vùng hợp lưu này là quản lý được Đông Dương”. Những chuyên gia quân sự và sử học đã từng nhận định vậy, Tính từ chỗ hợp lưu của sông Krông Ana (sông Mẹ) và sông Krông Nô (sông Bố) tới cửa sông Srepok dài 406 km, trong đó đoạn chảy qua Campuchia dài khoảng 281 km, đoạn chảy trong lãnh thổ Việt Nam dài khoảng 126 km. Năm trước, tôi về thăm lại Srepok, điểm hợp lưu quan trọng nhất của sông Mekong ở ngã ba Đông Dương, trong lần chuyển giao tiến bộ kỹ thuật canh tác sắn Tây Nguyên. Từ sông Mekong nhớ sông Neva, tôi liên tưởng và suy ngẫm về các dòng sông đất nước.

Mekong

Srepok hợp lưu của sông Mekong

Tôi đã trãi qua kinh nghiệm chiến tranh và hòa bình tại Srepok và liên tưởng so sánh sông Mekong, sông Hồng với sông Neva, sông Volga, những dòng sông Nga huyền thoại. Biển Đông sông Mekong nay đang trong vùng xoáy sôi động và dữ dội nhất thế giới cũng như biển Bantic và sông Neva trước đây đã từng là và nay tiếp tục là điểm nóng, vùng đất địa chính trị – lịch sử tàn khốc và dữ dội nhất thế giới. Đó là nơi cuốn hút hàng chục, hàng trăm triệu người vào những trận đánh đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại. Nơi mà giá trị của con người được đặt lên bàn cân sinh tử với sự lựa chọn tình yêu tổ quốc.

Tôi đã từng đứng bên bờ sông sinh tử này, đã từng  câu cá tại dòng sông Srepok, thuở mà sông chưa làm đập thủy điện. Nay tôi về lặng ngắm dòng sông xưa với thao thiết một dòng sông chảy mãi…

SongSrepok

Câu cá bên dòng Srepok
Hoàng Kim

Bạn chèo thuyền trên sông Neva
Có biết nơi này mình câu cá?
Srepok giữa mùa mưa lũ
Sốt rừng, muỗi vắt, đói cơm.

Suốt dọc đường hành quân
Máy bay,
pháo bầy,
thám báo,
mưa bom.
Chốt binh trạm giữa rừng
Người bạn thân
Lả người
Vì cơn rét đậm.
Thèm một chút cá tươi,
Mình câu cá
Cho bữa cơm người thân
mà nước mắt
đời người
rơi, rơi…
mặn đắng.

Bạn ơi
Con cá nhỏ trên dòng Srepok
Đã theo dòng thác cuốn đi rồi.
Đất nước nghìn năm
Trọn lời thề
Sống chết thủy chung
với dân tộc mình
Muôn suối nhỏ
Đều đi về biển lớn.

Bài thơ Câu cá bên dòng Srepok là cảm tác của tôi năm 1972 tại Tây Nguyên, trong buổi chiều câu cá bên dòng Srepok gần Buôn Đôn. Buổi câu cho bữa cơm người bạn sốt rừng ốm nặng thèm ăn cá. Nơi tôi câu cá là binh trạm nằm ở khoảng giữa Đăk Tô- Tân Cảnh và Buôn Đôn, rất gần điểm ảnh dòng sông Srepok của Đỗ Tuấn Hưng.

Lúc câu cá, tôi nghĩ nhiều về bức tranh sơn dầu nổi tiếng “Những người kéo thuyền trên sông Volga” của Repin và bài thơ Chèo thuyền trên sông Neva của Hoàng Bình. Tôi cảm nhận thật rõ ràng những suy tư của người lính chiến trước dòng sông Neva, Volga Mekong và sông Hồng huyền thoại. Mekong sông Hồng là sông Việt mến yêu của Tổ Quốc tôi, còn Neva, Volga là những dòng sông Nga mãi sau này tôi mới tới.

SongNeva

Sông Neva và sông Volga huyền thoại

Neva là dòng sông mẹ thứ hai của nước Nga nơi có thành phố Sankt Peterburg lịch sử, niềm tự hào thiêng liêng của tổ quốc Nga. Nơi đây là điểm giao tranh quyết liệt nhất của những đánh đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại. Ngày 27 tháng 1 năm 1944  là ngày kỷ niệm thành phố Sankt Peterburg bên dòng Neva được giải phóng sau 872 ngày đêm vây hãm của phát xít Đức làm chết gần một triệu người Nga trong thành phố vì bom đạn, đói khát và bệnh tật.

BamenuocNga1
Từ Mekong nhớ Neva. Hoàng Kim ngắm bức tượng Mẹ của nước Nga lồng lộng trên nền trời tại đỉnh đồi gần sông Neva và gần trung tâm thành phố Sankt Peterburg. Tôi nhớ về nước Nga biểu tượng sâu sắc lắng đọng nhất trong lòng là sông Neva và sông Volga, đặc biệt là khúc sông chảy qua thủ đô phương Bắc Sankt Peterburg nơi có biểu tượng này của sức mạnh Nga. Nhiều bạn bè tôi thích Trường Đại học Quốc gia Moskva (MGU) nơi được Nữ hoàng Elizaveta Đế quốc Nga ra sắc lệnh thành lập ngày 25 tháng 1 năm 1755, nay là trường đại học lớn nhất và lâu đời nhất ở Nga. Nơi đó thời Stalin đã ra lệnh xây dựng tại nền cũ MGU tòa chính trường MGU mang tên Lomonosov với bảy tòa nhà chọc trời đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo Moskva. Ngày nay, đó là một bộ phận không thể thiếu của kiến trúc thủ đô, là tấm danh thiếp Moskva và một phần lịch sử của nó. Thế nhưng khi bình tâm nhìn lại sức mạnh Nga ở khoa học kỹ thuật công nghệ hay đất nước và con người thì có vẻ như Neva và Volga trong bản tính Nga là kỳ vĩ hơn.

Sông Neva và sông Volga là những sông mẹ của nước Nga vĩ đại dường như rất giống sông Mekong và sông Hồng của Việt Nam. Đó là mạch sống và nôi sức mạnh tiềm tàng đất nước.

Neva là dòng sông mẹ thứ hai của nước Nga ví như sông Mekong là dòng sông mẹ thứ hai của người Việt, dòng sông mở rộng hi vọng và tương lai của dân tộc Việt. Neva có thành phố Sankt Peterburg lịch sử, niềm tự hào thiêng liêng của tổ quốc Nga. Nơi đây là cửa ngõ hải quân Nga vươn ra các đại dương và thế giới .

Volga là dòng sông Nữ hoàng, dòng sông Mẹ, dòng sông Chủ gia đình, dòng sông Người cần mẫn, dòng sông Huyết mạch của Tổ quốc Nga. Sông Volga là đường giao thông chính xuyên châu Âu nơi có trên 150.000 con suối và sông nhỏ nước Nga hòa dòng nước của mình vào đó, nơi có khoảng 40% dân số Cộng hòa Liên Bang Nga sinh sống trong lưu vực của dòng sông vĩ đại này. Sông Volga ví như sông Hồng của Việt Nam là dòng sông mẹ vĩ đại, nôi của người Việt cổ, nền văn minh sông Hồng, chốn tổ của nghề lúa.

KeothuyentrensongVonga

Những người kéo thuyền trên sông Volga”, kiệt tác hội họa của Rapin với bài thơ Chèo thuyền trên sông Neva của tiến sĩ sử học Hoàng Bình giúp chúng ta liên tưởng về sông sông Volga và sông Neva trong sự so sánh với sông Hồng và sông Mekong. Chèo thuyền trên sông Neva là chèo thuyền trên dòng sông huyền thoại. Volga và Neva là hai điểm tựa lịch sử của nước Nga mênh mông. Hoàng Bình là nhà sử học và nhiều năm du học Nga nên có sự nhìn nhận sâu sắc và cất lên tứ thơ. Tôi mong muốn tìm lại bản gốc bài thơ Chèo thuyền trên sông Neva và bổ sung hoàn thiện bài viết này.

Nói chuyện sông Neva và sông Volga của nước Nga, tôi xin nói một chút về gia đình  và dòng họ. Họ bên mẹ tôi có nhiều người học và làm việc ở Nga. Sống lâu và hiểu về Nga và châu Âu nhất có lẽ là cậu Huỳnh Thúc Tấn, cậu Huỳnh Thúc Cẩn và Hoàng Bình. Cậu Huỳnh Thúc Tấn nguyên Phó chủ nhiệm văn phòng Chính phủ (Thứ trưởng) và từng là Trưởng đại diện thường trực Việt Nam tại Hội đồng tương trợ kinh tế (SEP). Cậu Huỳnh Thúc Cẩn là đại tá nhà văn, người tham gia đào tạo sĩ quan kĩ thuật quân sự cho Bộ Quốc phòng Cộng hòa dân chủ Đức, từng tham gia hội thảo về đường lối chiến tranh nhân dân cùng chuyên gia quân sự ba nước Cộng hòa dân chủ Đức, Bun ga ri và Tiệp khắc. Hoàng Bình là tiến sĩ sử học Nga, tác giả bài thơ Chèo thuyền trên sông Neva,  là con trai thứ hai của cậu Trình tôi. Cậu Trình là con cả của gia đình bảy anh em trai huyền thoại “Trình, Cảnh, Tuệ, Cẩn, Tấn, Thân, Cương” được tóm tắt một chút dưới đây

Cụ Hoàng Bá Chuân, nhà nho, ở số nhà 64 Hàng Bạc, Hà Nội, là ông nội Hoàng Bình. Ông là cậu ruột của mẹ tôi và rất thương chúng tôi là những đứa cháu sớm mồ côi cha mẹ và ông bà ngoại. Tôi rất thương kính ông như là ông ngoại ruột vì ông rất hiền và thương cháu. Cuộc đoàn tụ của 5 anh em ngày Giải phóng Thủ đô là câu chuyện kỳ lạ có thật ở làng Minh Lệ, xã Quảng Minh, thị xã Ba Đồn (trước là huyện Quảng Trạch), tỉnh Quảng Bình. Cụ Hoàng Bá Chuân viết: Nhà tôi sinh được bảy người con/ Quyết chí chung tình với nước non/ Kháng chiến năm con đi khắp nước/ Lớn lên trai bé sẽ xung phong… Cậu Trình, bố của Hoàng Bình mất sớm.  Hoàng Bình trong gia đình đặc biệt như vậy nên thời đó được miễn nghĩa vụ quân sự và đi học Nga. Gia đình tôi thì bố tôi trước cũng đi bộ đội Vệ quốc đoàn và trong năm anh em tôi với ba trai và hai gái thì anh trai tôi là Hoàng Trung Trực nhập ngũ năm 1963, tôi cũng gia nhập quân đội năm 1971. Tôi đã từng kể chuyện này tại Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời.

Hôm tôi đến thăm ông, trước lúc cắt quản hậu phương để vào Nam, tôi  đã tình cờ đọc được bài thơ Chèo thuyền trên sông Neva của Hoàng Bình và rất thích. Tôi chép bài thơ này vào sổ tay và mang vào chiến trường. Bài thơ nói về con sông Neva nơi Pie Đại đế lập nên thành phố Sankt-Peterburg cố đô Đế quốc Nga và là thành phố lớn thứ hai ở Nga ngày nay. Sankt-Peterburg nằm trên một loạt đảo nhỏ trong châu thổ sông Neva; con sông này thông với Vịnh Phần Lan, tạo vị thế hải cảng cho Sankt-Peterburg mở cửa nhìn ra biển lớn. Đó cũng là nơi danh tướng Aleksandr Nevsky anh hùng dân tộc của nước Nga, đứng đầu trong số 12 danh nhân vĩ đại nhất của nước này đánh bại quân Thụy Điển trên sông Neva.  Thành phố Sankt-Peterburg và dòng sông Neva sau này cũng là nơi chứng kiến những trận đánh đẫm máu và oanh liệt nhất của nước Nga trong cuộc đọ sức với nước Pháp thời Napoleon cũng như sau này là trận vây hãm kéo dài 872 ngày của phát xít Đức đối với Sankt Peterburg, lúc đó gọi là Petrograd và sau khi Lê Nin mất được gọi là Leningrad, gần đây đã trở lại tên gọi  Sankt – Peterburg. Gần một triệu người Nga trong thành phố đã bị chết vì bom đạn, đói khát và bệnh tật trong cuộc vây hãm.

Sau này, tôi may mắn được vài lần đến thăm Neva và Volga những dòng sông huyền thoại của nước Nga mến yêu trong hành trình nhìn ra thế giới. Tôi thật sự xúc động khi liên tưởng những nét tương đồng trong số phận của hai dân tộc và những người lính. Người Việt và người Nga đều không hiếu chiến. Số phận dân tộc buộc họ lựa chọn sinh tử giữa tổ quốc niềm tự hào dân tộc với quyền con người và lý tưởng tự do. Đó là sự sâu thẳm Chiến tranh và hòa bình của L. Tonstoi, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Cự ngao đới sơn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Con đường đau khổ của A. Tonstoi, Nguyễn Du và Truyện Kiều , Solokhop và Sông Đông êm đềm,   cùng biết bao những kiệt tác văn chương Nga Việt khác.

Dai Hoc Quoc Gia Nga (MGU)
Ngày 25 tháng 1 năm 1755, Trường Đại học Quốc gia Moskva được Nữ hoàng Elizaveta Đế quốc Nga ra sắc lệnh thành lập, nay là trường đại học lớn nhất và lâu đời nhất ở Nga. Nhà chọc trời Moskva: Tòa chính trường MGU mang tên Lomonosov với bảy tòa nhà chọc trời thời Stalin ra lệnh xây dựng trên nền cũ MGU đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo Moskva. Ngày nay, đó là một bộ phận không thể thiếu của kiến trúc thủ đô, là tấm danh thiếp Moskva và một phần lịch sử của nó, thế nhưng có vẻ như Neva và Volga kỳ vĩ hơn.

NuhoangNga Elizaveta

Nữ hoàng Nga Elizaveta Petrovna là người được nhân dân Nga và Tổng thống Putin rất mực ngưỡng mộ. Nữ hoàng Elizaveta Petrovna sinh ngày 29 tháng 12 năm 1709 mất ngày 5 tháng 1 năm 1762, đăng quang năm 1741 và qua đời năm 1762. Trong 20 năm bà cầm quyền lãnh thổ Nga rộng 16 triệu kilômét vuông. Bà là vị Nữ hoàng trí tuệ phi thường đã khuyến khích nhà khoa học M. V. Lomonosov thiết lập Trường Đại học Moskva và ra sắc lệnh thành lập Trường Đại học Quốc gia Moskva vào ngày 25 tháng 1 năm 1755, nay là trường đại học lớn nhất và lâu đời nhất ở Nga. Bà cũng là người có tầm nhìn và tài năng sử dụng hiền tài kiệt xuất trọng dụng I. I. Shuvalov sáng lập Viện Hàn lâm Mỹ thuật của Đế quốc Nga ở kinh đô Sankt-Peterburg, trọng dụng kiến trúc sư lỗi lạc Bartolomeo Rastrelli xây dựng những công trình kiến trúc di sản thế giới như Cung điện Mùa Đông và Đại giáo đường Smolny tại Sankt-Peterburg.

Nhân dân Nga có cuộc thăm dò ý kiến “Tên của nước Nga – Sự lựa chọn lịch sử năm 2008″ do kênh truyền hình Rossia cùng với Viện Lịch sử Nga thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga và Quỹ ý kiến xã hội tổ chức. Pie đại đế là nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga đã được bình chọn, kế đến là Stalin, Le Nin và Nga hoàng Nikolai II với Nữ hoàng Nga Elizaveta Petrovna là người được là những nhà lãnh đạo kiệt xuất nhất lịch sử nước Nga. Điều đó đã chứng tỏ những đánh giá của nhân dân Nga xuyên suốt một quá trình trải nghiệm lịch sử lâu dài.

Sông Neva và sông Volga thao thiết chảy gợi cho chúng ta một tầm nhìn tham chiếu.

Tam-tien-o-Chu-Jang-Sin
Từ Mekong nhớ Neva

Tôi may mắn được tắm tiên ở Chư Jang Sin trong mạch nước thiêng ban mai đầu nguồn của một sông lớn và vùng núi hùng vĩ Tây Nguyên, trước đó đã qua trãi nghiệm gian khổ của cuộc chiến tranh thống nhất đất nước, sau này lại được làm nhà nông học đi nhiều nơi ở Tây Nguyên từ núi Ngọc Linh hùng vĩ và sông mẹ SeSan của Bắc Tây Nguyên đến núi Chư Jang Sin cao vọi và sông mẹ Đồng Nai của Nam Tây Nguyên, được nhiều lần sang Căm pu chia, Lào dọc sông Mekong, giúp bạn canh tác sắn lúa. Tôi càng trãi nghiệm và liên tưởng thấm thía sâu sắc về những dòng sông.

Nhớ Neva, nhớ những năm tháng ở Tiệp, Nga, Bỉ, Ý, Anh , Pháp … tôi càng nhận thức sâu sắc thêm “đêm trắng và bình minh“: Đi đâu cũng không bằng Tổ quốc mình. Nói gì, làm gì cũng không bằng dạy, học và làm cho đồng bào đất nước mình. Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương. Mục đích sau cùng của dạy và học là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và làm được việc. Dạy và học thực tiễn trên chính Tổ quốc mình. Việt Nam quê hương tôi! Đó là đất nước của biết bao nhiêu thế hệ xả thân vì nước để quyết giành cho được độc lập, thống nhất, tự do và toàn vẹn lãnh thổ. “Nếu chỉ để lại lời nói suông cho đời sau sao bằng đem thân đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Làm nhà khoa học xanh hướng đến bát cơm ngon của người dân nghèo, đó là điều tôi tâm đắc nhất !

Sông Srepok phần Việt Nam đoạn chảy trên địa phận Đăk Lăk còn được gọi là sông Đăk Krông là dòng sông lớn nhất trong hệ thống sông ngòi ở Đắk Lắk. Sông Srepok được hợp thành từ hai dòng sông Krông Ana và Krông Nô có nhiều thác ghềnh hùng vĩ như thác Trinh Nữ, thác Đray Sáp, thác Đray Nu, thác Đray H’linh, thác Gia Long, thác Bảy Nhánh. Hiện tại dọc theo dòng sông này đã có rất nhiều các công trình thủy điện mọc lên như thủy điện Krông Bông, Krông Ana, Đray H’linh 1, Đray H’linh 2 (Cư Jút), Buôn Tou Srah (Lăk), Srepôk 3 (Buôn Đôn)…

Sông Srepok chảy sang Campuchia được bổ sung thêm nguồn chảy dồi dào từ dòng sông Ea H’leo, sông Sesan và sông Sekong. Hai sông này cũng có nguồn trên lãnh thổ Việt Nam. Sông Srepok nhập vào sông Mekong sát Stung Treng, tỉnh Stung Treng, Campuchia. Nơi đây, những năm gần đây vừa phát hiện được phần mộ của Trung tướng Nguyễn Bình, tại xã Srê-pốc, huyện Xê-san.  Sông Srepok hợp lưu quan trọng nhất của con sông Mekong tại ngã ba Đông Dương và phân lưu quan trọng nhất của sông Mekong tại Phnôm Pênh.

Dòng sông Sê San ơi! là tản văn nổi tiếng của tì kheo Thích Giác Tâm, vị sư trụ trì ở chùa Bửu Minh tại Biển Hồ, mắt ngọc Pleiku, tỉnh Gia Lai ” Đó là tiếng kêu thảng thốt của con người khi đứng trên bờ của dòng sông. Sông đã không sống đời của sông nữa, mà sông đã sống theo cách mà con người muốn nó sống. Ngày xưa sông vô tư, hồn nhiên sống, khi lên ghềnh, khi xuống thác, khi buông thư chầm chậm nhởn nhơ như người vô sự ngắm mây bay, xem hoa nở, lắng nghe tiếng chim hót. Nhưng rồi con người đã can thiệp vào, bắt sông phục vụ con người, mà nhu cầu của con người ở trong cõi người ta này thì vô hạn, vô chừng, không biết bao nhiêu là đủ. Thủy hỏa tương khắc, nhưng với trí tuệ con người biến nước thành hỏa, thành điện năng. Biến bao nhiêu cũng không đủ cung cấp, bởi con người không khác gì con khỉ Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký. Đào tiên quý là vậy mà hái trong thoáng chốc đã sạch vườn đào của Tây Vương Mẫu, mỗi trái chỉ cắn một miếng rồi quẳng đi, vứt bỏ. Quẳng đi không hề nuối tiếc, mà đào tiên mấy ngàn năm mới ra trái một lần (điện rất quý có khác gì trái đào tiên đâu!).

Vị thiền sư trên mắt ngọc cao nguyên viết tiếp: “Đầu năm đứng trên dòng sông Sê San, tôi đã ngắm nhìn sông và tôi đã thấy như thế. Rừng đại ngàn đã ngã gục xuống, dòng sông mênh mang đẹp như một dải lụa trắng của các đại sư Tây Tạng, Ấn Độ quấn choàng cổ, bắt nguồn từ các đỉnh núi cao của núi rừng Ngọc Linh tỉnh Kon Tum băng qua đồi núi chập chùng của hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai để rồi chảy qua biên giới Campuchia. Ngăn chặn dòng chảy, nhiều nhà máy thủy điện đã mọc lên, mọc lên để cung cấp năng lượng điện cho con người. Bên này nhà máy thủy điện nước mênh mang, bến bờ rộng thoáng vì nước tích tụ, đổ dồn nước về ba cái cống chạy tua bin phát điện. Bên kia nhà máy giòng sông khô cạn lởm chởm vô số đá, như những bãi đá ở bãi biển Quy Nhơn gần ngôi mộ Hàn Mặc Tử, so sánh cho dễ hình dung vậy thôi. Bãi đá ở biển Quy Nhơn, là đá sống, bởi có con người lân mẫn chăm sóc, cùng vui chơi ca hát quây phim chụp hình. Còn bãi đá ở dòng sông Sê San là bãi đá chết, đá chết bởi vì sông đã chết. Trong kinh Phật thường dùng từ: “Bên này bờ, bên kia bờ” . Bờ bên này là bờ sinh tử, vô minh, khổ đau. Bờ bên kia là giải thoát, an lạc, Niết Bàn. Đứng bên bờ sông Sê San tôi đã ngộ ra không có bờ bên này thì cũng không có bờ bên kia. Để tạo ra năng lượng điện con người phải trả giá cho cái được và cái mất. Được cho nhu cầu tiêu thụ của con người và mất cho môi trường sinh thái không còn cân đối, đảo lộn.

Sông Srepok ở Đăk Lăk có tên gọi địa phương là sông Đăk Krông được nhắc đến trong bài hát nổi tiếng “Sông Đăk Krông mùa xuân về” của Tố Hải: “Đăk Krông ơi, Tây Nguyên ơi! / Cái suối đổ về sông, cái sông ra biển lớn./ Ta nối tấm lòng dân bằng tình yêu cách mạng, đi suốt Trường Sơn xanh, nghe dòng sông chảy mãi./ Đăk Krông ơi, dòng sông xanh thắm…”

Đến Srepok, tôi đã may mắn được gặp nhiều già làng người dân tộc bản địa và người Kinh, được sống và làm việc với Một thế hệ Tây Nguyên mới, gồm nhiều bạn bè, người dân của các vùng miền Việt Nam về Tây Nguyên lập nghiệp. Họ cùng chung lưng đấu cật với dân bản địa hình thành nên một Tây Nguyên mới. Một số già làng bản địa mà tôi từng biết như anh hùng Đinh Núp người dân tộc Ba Na làng Stơr, xã Tơ Tung, huyện KBang, tỉnh Gia Lai, là nhân vật chính, nguyên mẫu trong bộ tiểu thuyết Đất nước đứng lên của nhà văn Nguyên Ngọc. Nhà giáo nhân dân, bác sĩ Y Ngông Niê Kdăm, Hiệu trưởng trường  Đại học Tây Nguyên nhiệm kỳ 1987 -1993 người dân tộc Ê Đê, sinh tại buôn Ea Sup, xã Kma Rang Prong, nay thuộc thị trấn Ea Pôk, huyện Cư M’gar, tại Đắk Lắk. Các già làng người Kinh như PGS. TS. Phan Quốc Sủng- Nhà khoa học chiến thắng bệnh tật, Hiệu trưởng Trường  Đại học Tây Nguyên (1993-1997), nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu cà phê Eakmat (nay là Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên) trong nhiều năm. Cụ Đỗ Hữu Bá (bí danh Đỗ Văn Trị) Tỉnh ủy viên Đắk Lắk, Trưởng ban Dân tộc và Định canh Định cư tỉnh, đảng viên huy hiệu 60 năm tuổi đảng, là người Phú Yên, nay ở thành phố Buôn Ma Thuột, cụ đã từng ở Nga và là một pho địa lý, lịch sử về Tây Nguyên …

Thuyền độc mộc, ngọc phương Nam” là bài thơ về hợp lưu Srepok huyền thoại này.

NGỌC PHƯƠNG NAM

‘Quên tên cây
làm thuyền
Tận cùng nỗi cô đơn
– độc mộc!

Khoét hết ruột
Chỉ để một lần ngược thác
bất chấp đời
lênh đênh…” (1)

Hứng mật đời
thành thơ
Việc nghìn năm hữu lý
– Trạng Trình

Đến Trúc Lâm
Đạt năm việc lớn hoàng thành
Đất trời xanh
Yên Tử …

Hoàng Kim họa đối
 (1)  Thuyền độc mộc, thơ Trịnh Tuyên

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG



TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Ban Mai
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook  Kim on Twitter