Tướng Giáp đọc lại và suy ngẫm

TuongGiapansoChinhTrungTướng Giáp là ẩn số Chính Trung. Cách mạng là sửa lại cho đúng để hợp thời thế. Chí Thiện là Chính Trung dĩ bất biến ứng vạn biến. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491– 1585) trong Trung Tân quán bi ký, viết năm 1543 có nói: Vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê… Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện (xem thêm: Ngày xuân đọc Trạng Trình). Tướng Giáp biết nhiều, tâm đắc với “dĩ công vi thượng”. Tướng Giáp hiểu rõ Chính Trung là Chí Thiện của Hồ Chí Minh.

Tướng Giáp ba lần kiến nghị không nên khai thác bauxite Tây Nguyên. Thư thứ nhất kính gửi đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/1/2009; Thư thứ hai là điện thư gửi Hội thảo bauxite Tây Nguyên. Bức điện thư này được Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đọc tại hội thảo ngày 9/4/2009; Thư thứ ba kính gửi Ban chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, đồng kính gửi Quốc hội và Chính phủ ngày 20/5/2009. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết thư gửi đúng nơi, đúng lúc, viết đúng chính kiến và lương tâm của mình, với văn phong chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc.Tư liệu này hiện đã thuộc về sự thật lịch sử, lưu để đọc lại và suy ngẫm.

Tướng Giáp hồng phúc dân tộc Việt.

Hoàng Kim

(*) chùm ảnh tư liệu về đại tướng Võ Nguyên Giáp.

VoNguyenGiapthu1bauxiteTayNguyen

“Hà Nội ngày 5 tháng 1 năm 2009

Kính gửi: Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ

Thời gian vừa qua báo chí đăng nhiều bài và ý kiến của các nhà khoa học và hoạt động xã hội cảnh báo nguy cơ nghiêm trọng đối với môi trường tự nhiên và xã hội của các dự án khai thác bô-xít trên Tây Nguyên.

Đầu tháng 11-2008 một số nhà khoa học và quản lý có tên tuổi đã gửi kiến nghị đến lãnh đạo Đảng và Nhà nước đề nghị cho dừng các dự án này để nghiên cứu, xem xét lại, cân nhắc lợi hại một cách toàn diện.

Tuy nhiên, các dự án này vẫn đang được triển khai, trong tháng 12-2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường (dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài nghìn tại một dự án).

Cần nhắc lại rằng, đầu những năm 1980 Chính phủ đã đưa chương trình khảo sát khai thác bô-xít trên Tây Nguyên vào chương trình hợp tác đa biên với khối COMECON. Tôi được phân công trực tiếp theo dõi chỉ đạo chương trình này. Sau khảo sát đánh giá hiệu quả tổng hợp của các chuyên gia Liên Xô, khối COMECON đã khuyến nghị Chính phủ ta không nên khai thác bô-xít trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư chẳng những tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bô-xít mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè…) trên Tây Nguyên.

Ý kiến phản biện của các nhà khoa học nước ta vừa qua phân tích trên nhiều phương diện, trong các điều kiện kinh tế kỹ thuật hiện nay cũng đi tới kết luận như các nhà khoa học Liên Xô cách đây 20 năm. Với những cảnh báo nghiêm trọng như vậy, chúng ta cần xem xét các dự án này một cách khách quan – cần đánh giá lại quy hoạch khai thác bô-xít trên Tây Nguyên đến 2025.

Về quy mô, quy hoạch khai thác bô-xít Tây Nguyên từ nay đến 2025 là một kế hoạch lớn, giá trị ước tới gần 20 tỷ đô-la Mỹ, sẽ tác động sâu sắc nhiều mặt còn hơn cả các công trình kinh tế lớn đã có ở nước ta.

Vì vậy nên mời thêm các tư vấn chuyên ngành quốc tế có nhiều kinh nghiệm phối hợp với các nhà khoa học và nhà quản lý của nước ta cùng thẩm định cho khách quan, sau đó báo cáo Bộ Chính trị và Quốc hội xem xét, cân nhắc kỹ càng, không thể chỉ đưa vào đề xuất của các Bộ hay tập đoàn kinh tế.

Vừa qua đồng chí Thủ tướng đã quyết định bác dự án nhà máy thép lớn của Hàn Quốc tại vịnh Vân Phong, khẳng định quyết tâm của Chính phủ phát triển kinh tế bền vững, được đông đảo nhân dân và các nhà khoa học đồng tình, ủng hộ.

Việc xác định một chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng. Tôi đề nghị Thủ tướng cho dừng triển khai các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên và báo cáo Bộ chính trị chỉ đạo tiến hành các nghiên cứu vĩ mô cần thiết làm căn cứ cho mọi quyết định.

Chúc đồng chí mạnh khỏe,

Võ Nguyên Giáp

VoNguyenGiapthu2bauxiteTayNguyen

“Tôi được biết, hôm nay có cuộc Hội thảo về vấn đề bô-xít ở Tây Nguyên do đồng chí Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì.

Tôi cho đây là một vấn đề cực kỳ hệ trọng. Vấn đề này trước đây tôi đã từng nghiên cứu, tôi đã có thư gửi đồng chí Thủ tướng nhưng chưa được trả lời.

Tại cuộc Hội thảo quan trọng này, tôi mong các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà hoạt động xã hội hãy nêu cao trách nhiệm trước dân tộc thảo luận một cách khoa học, nghiêm túc, thẳng thắn để kiến nghị với Đảng và Nhà nước một chủ trương đúng đắn về vấn đề bô-xít Tây Nguyên mà tôi cho là không nên khai thác.

Vì đứng về lợi ích toàn cục và sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước, khai thác sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội, về an ninh quốc phòng.

Xin chúc các đồng chí mạnh khoẻ.

Hà Nội, ngày 09 tháng 4 năm 2009

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

 

VoNguyenGiapthu3abauxiteTayNguyen

VoNguyenGiapthu3bbauxiteTayNguyen

Kính gửi : Ban chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị,

Đồng kính gửi : Quốc hội và Chính phủ

Thời gian qua, tôi đã có thư gửi đồng chí Thủ tướng và điện gửi cuộc Hội thảo khoa học về vấn đề khai thác bô xít ở Tây Nguyên. Vừa rồi, Văn phòng Trung ương theo chỉ đạo của đồng chí Thường trực Ban bí thư đã gửi cho tôi thông báo kết luận của Bộ Chính trị. Tôi đã đọc kỹ bản kết luận, xin có kiến nghị tiếp với Bộ Chính trị và lần này kiến nghị đến Ban Chấp hành Trung ương, đến Quốc hội và Chính phủ :

1. Tôi hoan nghênh Bộ Chính trị đã lắng nghe ý kiến của các đồng chí nguyên lãnh đạo cấp cao của Đảng và các nhà khoa học, đã chủ trương rà soát, điều chỉnh quy hoạch, nêu lên một số yêu cầu quan trọng như : Bảo đảm hiệu quả kinh tế, xã hội, sử dụng thiết bị và công nghệ hiện đại của thế giới, giải quyết nguồn điện, nguồn nước ; đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh quốc phòng cả trước mắt và lâu dài, đến môi trường sinh thái, môi trường văn hoá, chưa chủ trương bán cổ phần cho tập thể và cá nhân người nước ngoài v.v… Và Bộ Chính trị đã thấy tầm quan trọng của chủ trương khai thác bô xít ở Tây Nguyên nên quyết định báo cáo Trung ương và Quốc hội.

2. Tuy nhiên kết luận của Bộ Chính trị nói chung là vẫn tiếp tục tiến hành khai thác bô xít ở Tây Nguyên. Trước mắt làm thí điểm ở Tân Rai – Lâm Đồng, xem xét đánh giá lại Dự án Nhân Cơ Đắc Nông, rồi từng bước triển khai theo quy hoạch.

Vì vậy, tôi xin kiến nghị cụ thể như sau :

Chủ trương khai thác chế biến bô xít ở Tây Nguyên là một vấn đề hết sức hệ trọng sẽ có tác động lớn đến môi trường sinh thái, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đến phát triển ổn định, bền vững của đất nước. Nhiều vấn đề mà Bộ Chính trị nêu lên cho đến nay chưa được nghiên cứu phân tích đánh giá toàn diện đầy đủ và chưa có phương án giải quyết rõ ràng, còn nhiều vấn đề bất cập. Do đó, tôi đề nghị dừng các dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên, kể cả khai thác thí điểm. Nên giao cho Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tập hợp những cán bộ khoa học có liên quan tiến hành một chương trình khoa học nghiên cứu phát triển tổng thể kinh tế – xã hội ở Tây Nguyên, có tính đến quan hệ với vùng Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, trong đó tập trung nghiên cứu vấn đề bô xít Tây Nguyên một cách đầy đủ, toàn diện những vấn đề mà Bộ Chính trị đã nêu lên. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu ấy, Trung ương, Quốc hội mới cân nhắc có nên khai thác hay không nên khai thác. Tôi thiên về chủ trương hiện nay không nên khai thác, chờ khi khoa học phát triển, có công nghệ mới hiện đại hơn sẽ tiết kiệm tài nguyên, hiệu quả cao hơn, an toàn hơn. Hiện nay chưa khai thác bô xít ở Tây Nguyên, dành tài nguyên đó cho thế hệ mai sau và không khai thác bô xít thì chúng ta vẫn tiến hành được công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Tôi đề nghị Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội hãy nêu cao trách nhiệm to lớn của toàn Đảng, toàn dân thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo một cách dân chủ, khoa học. Chỉ quyết định khi đã biết được kết quả nghiên cứu phân tích đầy đủ, toàn diện các vấn đề đặt ra, lắng nghe ý kiến rộng rãi của đông đảo các nhà khoa học, của cán bộ và nhân dân hơn nữa. Làm như vậy là để tránh được quyết định sai lầm, gây nên tai hoạ lớn cho đất nước.

Mong Trung ương và Quốc hội phát huy dân chủ, bàn bạc kỹ lưỡng, có quyết định đúng đắn.

Xin chúc các đồng chí mạnh khoẻ.

Chào thân ái,

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2009

Võ Nguyên Giáp

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Tây Nguyên: Đọc lại và suy ngẫm

19VQGChuJangSin

TÂY NGUYÊN ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. “Hồn Tổ quốc ngự giữa rừng sâu thẳm. Rừng điêu tàn là Tổ Quốc suy vong !” thầy Lê Văn Ký dạy Nông Lâm của chúng tôi viết như vậy. Tây Nguyên trước đây là mênh mông rừng. Tây Nguyên hôm nay đã biết bao thay đổi, giữa nuôi rừng và ăn rừng, giữa bảo tồn và phát triển. Vườn Quốc gia ở Việt Nam tại vùng Tây Nguyên hiện có Chư Yang Sin, Bidoup Núi Bà, Chư Mom RayKon Ka Kinh, Yok Đôn, ngoài vườn quốc gia, rừng đặc dụng, là “Một thế hệ Tây Nguyên mới“.

Toàn bộ đất và rừng ở Tây Nguyên được quốc hữu hoá, được lấy giao cho các binh đoàn làm kinh tế, các Liên hiệp Xí nghiệp Nông Lâm Công Nghiệp, các nông trường, lâm trường, và giao cho dân di cư từ đồng bằng lên. Người bản địa chỉ còn phần đất thổ cư và một ít đất làm rẫy.  Nhiều năm đã trôi qua kể từ khi tiếng kêu khắc khoải, thảng thốt của già làng Nguyên Ngọc “Phát triển bền vững ở Tây Nguyên”, “Nước mội rừng xanh và sự sống “, nay là loạt bài tiếp nối của Văn Công HùngTây Nguyên của tôi“, “Làng rừng Tây Nguyên và nước“, …


CHÍNH ỦY NGUYÊN NGỌC VỀ LÀNG. Ông Nguyên Ngọc về làng – Không gặp anh hùng Núp – Chỉ gặp bạn làng Văn – Nồi lẩu sôi sùng sục -Có chuối chát khế chua – Lá rau vườn chấm ruốc – Mong bác sức dẻo dai – Cùng thăng trầm đất nước “. “Thầy về thăm Tây Nguyên. Bạn bè tôi ở đó. Tản mạn nhớ và quên. Rừng Xà Nu, Đất Quảng. Chí bền chân không mỏi. Đường chúng ta đi hoài. Lắng nghe cuộc sống gọi. Thầy là NGỌC CHO ĐỜI.

(*) Trong NGỌC CHO ĐỜI, Nguyên Ngọc đậy nắp quan tài định luận Nguyễn Khải: “Cách đây mấy tháng, lục lại một số tài liệu cũ, tôi tình cờ tìm thấy cái thiếp mời đám cưới của anh Khải và chị Bắc, một cái thiếp thời ấy in mực tím trên một mẩu giấy nhỏ bằng hai ngón tay. Tôi đã định mang tặng lại anh chị, vậy mà không kịp nữa rồi! Khải ơi, còn biết bao nhiêu kỷ niệm giữa chúng ta, cả yêu thương và giận hờn nhau nữa có lúc, đều quí vô cùng, vô cùng. Khải ra đi, hôm nay tôi chỉ viết được có mấy dòng này. Rồi thế nào tôi cũng còn phải viết về nhau nữa, bạn ạ. Mỗi chúng ta chỉ nhỏ nhoi thôi trong lịch sử rộng lớn. Nhưng, tôi tin vậy, những người sống trung thực, bao giờ cũng là một phần dù nhỏ nhưng không thể thiếu trong bức tranh toàn cảnh của cả một thời. Mà sự nghiệp sáng tác, cũng là tư tưởng của Khải, thì không nhỏ chút nào.“

Tôi lưu lại những bài văn không nỡ quên. Tây Nguyên đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim

21VQGYokDon

NƯỚC MỘI, RỪNG XANH VÀ SỰ SỐNG

Nguyên Ngọc
Nguồn: bài đăng trên BXVN  9.2.2010, TBKTSG 18.2.2010, HOCMOINGAY 20.2.2010

HOCMOINGAY. “Hóa ra có một “bí mật” to lớn: ngọn nguồn của nước mội tuyệt diệu tưới tắm cả vùng cát dằng dặc ven biển miền Trung chính là nơi đó, Tây Nguyên, rừng đại ngàn, rừng nguyên sinh, rừng nhiệt đới Tây Nguyên. Chính rừng Tây Nguyên, từ trên Trường Sơn rất xa xôi kia, đêm ngày, hàng triệu triệu năm nay, như một người mẹ vĩ đại, bao dung và tần tảo, hứng lấy tất cả các nguồn nước của đất trời, cất lấy, “để dành”, tằn tiện, tuyệt đối không phí mất một giọt nào, để từng ngày từng ngày chắt chiu mà bất tận cung cấp cho đứa con đồng bằng của mình, cho sự sống có thể sinh sôi, nảy nở, trường tồn trên dải đất cát trông chừng rất khắc nghiệt kia. Cho các vương quốc, các triều đại, các nhà nước, các chế độ ra đời, phát triển, nối tiếp. Và sống còn… Nước mội chính là những dòng nước nhỏ, liên tục, không bao giờ dứt, đi âm thầm và vô hình trong lòng đất, từ những đỉnh Trường Sơn xa xôi kia, đến tận những cồn cát tưởng chẳng thể có chút sự sống này. Vậy đó, Tây Nguyên, ý nghĩa của Tây Nguyên và rừng Tây Nguyên, dù chỉ mới là qua một khía cạnh rất nhỏ của nó, nước. (Nguyên Ngọc,  Kinh tế Sài Gòn Online)

Câu chuyện này nói vào đầu xuân có thể hơi buồn, nhưng nghĩ kỹ lại có lẽ cũng có chỗ thích hợp, bởi vì đây là câu chuyện về màu xanh, màu của mùa xuân xanh. Của sự sống.

Quê tôi ở vùng Nam Trung bộ, đúng cái đoạn mà một nhà thơ từng thống thiết gọi là “dằng dặc khúc ruột miền Trung”. Ở đấy, miên man mấy trăm cây số ven biển là những cồn cát lớn, nơi trắng phau một màu trắng tinh khiết đến khó tin, nơi vàng rộm ngon lành trong nắng cháy. Làng cũng là làng trên cát; con người sống trên cát, tử sinh cùng với cát.

Tôi có đọc một ít lịch sử và tôi biết, lạ vậy, toàn cát vậy, nhưng đấy vốn không phải là một vùng đất nghèo. Từng có cả một vương quốc thịnh vượng trên dải đất này. Một vương quốc nông nghiệp và hải dương. Có lẽ một trong những bí quyết thịnh vượng của vương quốc ấy là nước, mà thiên nhiên đã rất thông minh giữ và dành cho dải đất thoạt nhìn thật khô cằn này, và con người thì cũng thật thông minh hiểu được món quà quý của đất trời, biết tận dụng lấy cho mình.

Cho đến chỉ cách đây đâu khoảng chưa đến nửa thế kỷ, ở quê tôi vẫn còn một kỹ thuật nông nghiệp rất đặc biệt, tinh tế và thú vị, gọi là kỹ thuật “tưới nước mội”, người Việt học được của người Chăm khi đi vào Nam.

Nước mội là nước rỉ ra từ các chân đồi cát, trong veo, mát lạnh, tinh sạch đến mức có thể bụm vào lòng bàn tay, ngửa cổ uống ngay ngon lành. Ở đây người ta vỡ ruộng ngay trên cát, các đám ruộng được gọi là “thổ”, những đám thổ trồng đủ các loại hoa màu. Ở góc thổ bao giờ cũng có một chiếc ao nhỏ, cạn thôi, nhưng quanh năm lúc nào cũng đầy ắp nước, tát đi lại đầy ngay, cả trong những mùa nắng hạn gay gắt nhất.

Nước mội từ trong lòng cát rỉ ra, nhẹ nhàng, chậm chạp, từ tốn, mà bất tận. Những chiếc ao nước mội, những con mắt ngọc xanh rờn, mát rượi của đất đai, làng mạc, đồng ruộng quê tôi. Nhỏ nhoi và thầm lặng, chính chúng nuôi sống nền nông nghiệp từng trù phú của vương quốc xưa, và của cả cha ông chúng tôi nữa khi họ đi về Nam…

Champa cũng là một vương quốc biển, từng dong thuyền đến những đại dương xa, và từng có những cảng quốc tế rộn rịp trên suốt dọc bờ biển của mình. Những người có đôi chút kiến thức về giao thương biển đều biết rằng một trong những điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất của một cảng biển quốc tế là nước ngọt, phải rất dồi dào nước ngọt. Những con tàu lang thang nhiều tháng trời trên các đại dương mặn chát, lắm khi chẳng vì mua bán gì cả, vẫn phải ghé lại các cảng ven bờ để “ăn” nước ngọt.

Và trên dải cồn cát miên man của mình, người Chăm là những người thiện nghệ nhất thế gian về nghề tìm mạch nước, đào và thiết kế giếng nước ngọt. Họ như có con mắt thần, có thể nhìn thấy đường đi của nước ngọt âm thầm trong lòng đất, những dòng nước mội. Chính hệ thống giếng nước ngọt thánh thiện và tuyệt vời – từ nước mội bất tận rỉ ra mà có – đã tạo nên vương quốc đại dương Champa, tôi nghĩ nói thế cũng chẳng hề quá đáng đâu…

Từ nhỏ, là dân vùng cát cháy miền Trung, tôi đã có hạnh phúc được biết nước mội, nếm nước mội, ăn nước mội, sống và lớn lên bằng cây cỏ được nuôi bằng nguồn nước mội ân huệ bất tận.

Của trời.

Rồi về sau, cuộc đời lại đã cho tôi một may mắn khác: tôi hiểu hóa ra “trời” không phải là một đấng trừu tượng thần bí nào, mà là một thực thể sống động, khổng lồ, cường tráng, hùng vĩ…, mà lạ thay, cũng lại rất mong manh, hết sức mong manh, ngày càng đang trở nên cực kỳ mong manh!

Trường Sơn. Tây Nguyên.

Tôi đã được đi đến nơi đó và gắn bó hơn nửa cuộc đời của mình ở đó.

Hóa ra có một “bí mật” to lớn: ngọn nguồn của nước mội tuyệt diệu tưới tắm cả vùng cát dằng dặc ven biển miền Trung chính là nơi đó, Tây Nguyên, rừng đại ngàn, rừng nguyên sinh, rừng nhiệt đới Tây Nguyên.

Chính rừng Tây Nguyên, từ trên Trường Sơn rất xa xôi kia, đêm ngày, hàng triệu triệu năm nay, như một người mẹ vĩ đại, bao dung và tần tảo, hứng lấy tất cả các nguồn nước của đất trời, cất lấy, “để dành”, tằn tiện, tuyệt đối không phí mất một giọt nào, để từng ngày từng ngày chắt chiu mà bất tận cung cấp cho đứa con đồng bằng của mình, cho sự sống có thể sinh sôi, nảy nở, trường tồn trên dải đất cát trông chừng rất khắc nghiệt kia. Cho các vương quốc, các triều đại, các nhà nước, các chế độ ra đời, phát triển, nối tiếp. Và sống còn…

Nước mội chính là những dòng nước nhỏ, liên tục, không bao giờ dứt, đi âm thầm và vô hình trong lòng đất, từ những đỉnh Trường Sơn xa xôi kia, đến tận những cồn cát tưởng chẳng thể có chút sự sống này.

Vậy đó, Tây Nguyên, ý nghĩa của Tây Nguyên và rừng Tây Nguyên, dù chỉ mới là qua một khía cạnh rất nhỏ của nó, nước.

Có lẽ cũng cần nói thêm một chút nữa về điều này: không chỉ cho dải đất cát cháy miền Trung đâu. Trường Sơn có một đặc điểm quan trọng về địa hình: đường phân thủy ở đây không chạy đúng giữa mà sát ngay về phía Đông của rặng núi dằng dặc này, nghĩa là sườn phía Tây của Trường Sơn rộng hơn sườn phía Đông rất nhiều, có thể đến bốn năm lần. Tức nước từ Tây Nguyên đổ về phía Tây cũng nhiều hơn về phía Đông có thể đến bốn hay năm lần. Mà đổ về phía Tây tức là về Mêkông, về Nam bộ. Về toàn miền Nam.

Trong một chừng mực nào đó, Tây Nguyên, rừng Tây Nguyên có ý nghĩa quyết định đối với toàn miền Nam về tất cả các mặt. Nếu chỉ nói một mặt nước thôi, thì có lẽ cũng nên nhớ: nước ở miền Tây Nam bộ, ở Cà Mau kia, cũng có thể là nước mội từ Mẹ Rừng Tây Nguyên chắt chiu đưa về đấy, cho mênh mang vùng đất lúa của cả nước ấy không bị nhiễm mặn…

Hàng ngàn đời nay có những con người đã sống ở đây, gắn bó ruột thịt với rừng và đã tạo nên cả một nền văn hóa đầy minh triết bắt nguồn chính từ sự gắn bó ấy. Để bày tỏ đôi lời thật giản lược về nền văn hóa ấy và những con người ấy, chắc có thể nói vắn tắt như thế này: người Tây Nguyên không bao giờ coi rừng là tài nguyên. Không bao giờ có khái niệm khai phá, chinh phục, chiếm lĩnh tự nhiên, rừng. Đơn giản, rừng đối với họ là tất cả, là mẹ, là cội nguồn của sự sống. Mà họ kính trọng và tôn thờ.

Chúng ta, những người tự coi là rất văn minh, rất khoa học, chúng ta biết nước là nguồn gốc của sự sống, nhưng chúng ta không biết, biết bằng hành vi cụ thể chứ không phải bằng lý lẽ to tát, rằng không có rừng thì cũng chẳng có, chẳng còn nước, nghĩa là cũng chẳng còn có sự sống, chúng ta không biết cái chân lý sơ đẳng và đơn giản ấy. Nhìn thấy rừng là con mắt ta hau háu nhìn thấy gỗ, gỗ, gỗ… Và hết gỗ rồi, bây giờ, thấy tài nguyên khác… Hau háu, hung hăng, hỗn hào chặt phá, và hết chặt phá, chẳng còn gì để chặt phá nữa thì đào bới…

Ở quê tôi, nay đã kiệt nước mội rồi. Chi tiết rất nhỏ ấy thôi, vậy đó, lại đang là tai họa tày trời!

Chắc chưa ai quên vụ lũ kinh hoàng ở Phú Yên vừa rồi. Cả thành phố Tuy Hòa, thị xã Sông Cầu chìm trong nước sâu. Gần trăm người chết. Ruộng đồng tan hoang… Một vị có trách nhiệm rất cao giải thích: Ấy là vì biến đổi khí hậu toàn cầu, và lại nữa, vì nhân dân mất cảnh giác. Tại trời và tại dân, trời thì ngày càng tai ác, còn dân thì mãi ngu dốt! Có một chi tiết hẳn ở cương vị của ông ấy, ông ấy ắt phải biết nhưng lại không thấy ông nói: năm 2009, ở Phú Yên áp thấp nhiệt đới gây mưa 330 mi li mét; năm 1991, cũng tại chính Phú Yên này, mưa 1.300 mi li mét, gấp hơn ba lần. Năm 1991 không có gì đáng kể, năm 2009 lại là tai họa khủng khiếp, vì sao?

Ở miền Trung – mà ở cả nước đều vậy – ngày xưa chỉ có lụt và lụt là mùa rất vui, thậm chí thân thiết, mỗi năm lại trở lại một lần, người ta chờ nước lụt, nước lên từ tốn, ruộng đồng được tưới tắm phù sa, cũng là lúc làm ăn rộn rã, có lẽ cũng tương tự như mùa nước nổi ở Nam bộ thuở nào.

Ngày nay không còn lụt, chỉ có lũ. Lũ rất khác lụt, lũ là nước đột ngột đổ ập xuống, như thác, hung bạo, nhanh và dữ cho đến nỗi, như vừa rồi, có người đã leo lên trần nhà rồi còn chết ngạt trong ấy vì không kịp dỡ mái để leo lên nữa! Lũ không mang phù sa đến, lũ quét sạch tất cả những gì nó gặp trên đường đi, và kéo đất đá từ trên rừng xuống lấp hết ruộng đồng.

Tất nhiên ngày xưa cũng có lũ, nhưng chỉ trong những năm mưa đặc biệt lớn, cả đời một con người chỉ chứng kiến vài lần. Ngày nay hễ đài vừa báo áp thấp nhiệt đới, thậm chí chỉ áp thấp, là cả nước đã rùng rùng lo chống lũ, sập núi, trôi rừng…

Con số 1.300 li năm 1991 và 330 li năm 2009 là con số hùng hồn, nó nói rằng vụ Phú Yên vừa rồi không phải chủ yếu do biến đổi khí hậu toàn cầu, không phải do trời, như lời giải thích uyên bác của vị quan chức nọ.

Do người. Do cơ chế nước mội tinh tế, tinh vi, thông minh, nhân hậu tuyệt vời của thiên nhiên đã không còn, đã bị phá vỡ, đã bị con người triệt diệt bằng cách triệt diệt rừng. Rừng Tây Nguyên. Trong một cuộc trao đổi ở Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Trung ương vừa rồi, nhiều chuyên gia đã cảnh báo: không chỉ có nguy cơ lũ quét đâu, sau lũ quét sẽ tiếp đến nguy cơ hạn hán sẽ còn khốc liệt, tai hại hơn. Bởi vì nước mội và lụt hàng năm hiền lành là cùng một cơ chế, cùng một tác giả: Rừng. Rừng Tây Nguyên.

Trong hơn 30 năm qua, chúng ta đã làm xong một công việc to lớn: cơ bản phá hết, cạo sạch đến tận cùng rừng tự nhiên trên cái mái nhà sinh tử của toàn Đông Dương này. Đã quét sạch xong hết trên mặt đất, bây giờ đang bắt đầu moi sạch nốt dưới lòng đất. Cao su tuyệt đối không phải là rừng, không sinh ra cơ chế nước mội. Các khu công nghiệp của công nghiệp hóa và hiện đại hóa càng tuyệt đối không phải là rừng. Một quy luật vận hành ổn định, điều hòa, thông minh của tự nhiên đã bị triệt diệt, nhanh và cơ bản hơn tất cả mọi giai đoạn từng có trong lịch sử. Một quy luật khác đã được thiết lập, quy luật của hỗn loạn.

Hãy nhìn lên cái mái nhà chung kia mà bao nhiêu thế hệ nhiều ngàn năm qua đã giao lại cho chúng ta, trên ấy đã mất hết màu xanh của sự sống.

Có còn cứu được không?

Còn, với một điều kiện: biết giật mình, dừng lại, bắt đầu lại.

Cũng cần nói: hầu hết các nước mà ngày nay ta gọi là những nước phát triển đều đã đi qua “con đường đau khổ”, cũng từng tàn phá hết rừng trên mặt đất và đào bới tàn bạo lòng đất, ở nước họ, rồi ở các nước khác. Chỉ có điều, gần một thế kỷ trước họ đã giật mình dừng lại, và từ đó bắt đầu làm lại, khôi phục lại màu xanh cho đất đai, núi non của họ.

Đi sau, chúng ta có thể khôn ngoan hơn như lẽ ra phải thế. Sự vội vã, kiêu căng, và lòng tham không đáy, đã che mắt chúng ta. Đang còn tiếp tục che mắt chúng ta. Chúng ta vẫn còn hăng lắm trong việc chặt phá nốt đôi chút còn lại và đang bắt đầu một công cuộc đào bới hung dữ.

Cần ngay bây giờ chấm dứt mọi khai phá ở Tây Nguyên. Cần nghĩ đến một con đường sống khác, một kiểu sống khác, một kiểu phát triển khác. Trên cả nước. Trước hết trên mái nhà sinh tử Tây Nguyên. Bắt đầu lại một công cuộc cứu lấy Tây Nguyên. Bắt đầu một sự nghiệp to lớn trồng lại rừng Tây Nguyên, trong một trăm năm, quyết liệt, kiên định, thông minh, với những kế hoạch cụ thể, cho 50 năm, 20 năm, 10 năm, 5 năm, toàn Tây Nguyên, từng tỉnh, từng huyện, từng xã, từng làng.

Khôi phục lại màu xanh cho Tây Nguyên.

Bắt đầu ngay từ hôm nay, mùa xuân, mùa của màu xanh, của sự tỉnh táo, khôn ngoan.

Cho đến một ngày, có thể một trăm năm nữa, con cháu chúng ta sẽ có thể bụm vào lòng bàn tay một ngụm nước mội trong veo mát lạnh rỉ ra từ đất cát và ngửa cổ uống ngon lành. Và biết rằng cha ông chúng từng rất dại dột, nhưng rồi cũng đã từng biết khôn ngoan, để cho sự sống từng sắp bị triệt diệt, lại được cứu, lại sinh sôi, phát triển, trường tồn.

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở TÂY NGUYÊN

Nguyên Ngọc
Nguồn HỌC MỖI NGÀY đăng ngày 1 tháng 9 năm 2008

(HOCMOINGAY) …Tác phẩm “Phát triển bền vững ở Tây Nguyên” là bản tổng kết quan trọng, cô đọng và tâm huyết của nhà văn Nguyên Ngọc về tính nghiêm trọng của các vấn đề Tây Nguyên. Làm gì để giải quyết?

1. MỘT SỐ NÉT TỔNG QUAN

1.1 Khái niệm Tây Nguyên

Theo địa lý hành chính hiện nay, Tây Nguyên gồm có năm tỉnh, kể từ bắc vào nam: Kontum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng. Tuy nhiên cần chú ý các tỉnh ven biển miền Trung và một số tỉnh miền Đông Nam Bộ đều có một vùng rừng núi khá rộng, cũng là nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số. Chẳng hạn tỉnh Quảng Nam, là tỉnh duyên hải, lại có đến 56 % diện tích là vùng núi và vùng dân tộc, tại đấy có dân tộc Cơ-tu là một dân tộc quan trọng ở khu vực nam Trường Sơn. Miền tây tỉnh Quảng Ngãi cũng có vùng núi và là vùng dân tộc tương tự, thì có dân tộc Hre cũng là một dân tộc quan trọng. Dân tộc Rakglei thì sống chủ yếu ở miền tây các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận. Một số tỉnh miền Đông Nam Bộ cũng có vùng núi và là vùng dân tộc khá rộng. Vùng Cát Tiên, nơi có di tích nổi tiếng của dân tộc Mạ, nằm phần lớn trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Sóc Bombo mà chúng ta đều biết qua bài hát quen thuộc cũng thuộc Bình Phước… Như vậy khái niệm Tây Nguyên xét về các về mặt dân tộc, văn hoá, xã hội, có thể cả lịch sử và địa lý, thật ra rộng hơn vùng được quy định theo địa lý hành chính. Có người đã dùng khái niệm Nam Trường Sơn để chỉ vùng này, có thể đúng hơn.

1.2 Đặc điểm địa lý

Trong tác phẩm Rú Mọi (Les jungles Mois – NXB Tri Thức dịch với tên là Rừng người Thượng), cho đến nay vẫn được coi là công trình khảo sát cơ bản nhất về Tây Nguyên, tác giả Henri Maitre cho rằng Tây Nguyên không phải là một dãy núi – như vẫn được gọi trước nay (Trường Sơn, Chaîne annamitique) – mà là một bình nguyên nằm trên cao. Trong một kỷ địa chất xa xôi nào đó, vùng đất này do chấn động của vỏ trái đất đã được nâng cao lên đột ngột so với chung quanh, tạo thành một cao nguyên lớn.

Về địa hình, Tây Nguyên có hai đặc điểm đáng chú ý:

PhattrienbenvungoTayNguyen

Cao vút ở hai đầu, cực bắc là cụm núi Atouat, với đỉnh Ngok Linh 2598 mét, cao nhất toàn Tây Nguyên và toàn miền Nam ; cực nam là dãy Chư Yang Sin, 2402 mét (là đỉnh cao nguyên Lang Biang). Giữa hai cụm núi ấy là một bình nguyên mênh mông, bằng phẳng, chỉ có những nếp lượn sóng liên tục. Đứng tại thành phố Buôn Ma Thuột chẳng hạn nhìn quanh, thấy cụm núi quan trọng nhất của tỉnh Đắc Lắc là núi Đ’leya, cũng xa tương tự như từ Hà Nội nhìn lên Ba Vì hay Tam Đảo…

Đặc điểm địa hình thứ hai rất quan trọng của Tây Nguyên là dốc đứng trên sườn phía đông, đổ xuống các tỉnh duyên hải nam Trung Bộ, tạo thành một bức trường thành sừng sững. Chính điều này khiến người Việt ở các tỉnh ven biển nam Trung Bộ nhìn ngược lên hướng tây đã nhầm Tây Nguyên là một dãy núi dài. Từ đồng bằng duyên hải nam Trung Bộ đi lên Tây Nguyên chỉ có một số đường độc đạo, ngày trước là các đường 19 từ Quy Nhơn, qua đèo An Khê và đèo Mang Giang lên Pleiku, rồi có thể đi tiếp qua Stung Treng của Cămpuchia; đường 26, từ Nha Trang – Ninh Hòa qua đèo Phượng Hoàng lên Buôn Ma Thuột; đường 28 từ Phan Rang qua đèo Ngoạn Mục lên Đà Lạt. Gần đây đã sửa chữa, nâng cấp và mở thêm một số đường khác, như các đường 14 từ Đà Nẵng và Quảng Nam lên Kontum, đường 24 từ Quảng Ngãi lên Kontum, đường 25 từ Tuy Hòa, Phú Yên lên Pleiku, v.v… Đáng chú ý, chẳng hạn nếu theo đường 19 Quy Nhơn – Pleiku thì sau khi lên khỏi đèo An Khê rất cao, ta lại tiếp tục đi bằng chứ không hề xuống dốc, sau đó cách khoảng vài chục km sẽ gặp đèo Mang Giang cũng rất cao và hiểm trở, vượt qua rồi lại tiếp tục đi bằng, đến Pleiku, sau đó sẽ xuôi dần thoai thoải về hướng tây đến bờ sông Mékông. Tức trong khi sườn phía đông dốc đứng, thì sườn phía tây của Tây Nguyên khá bằng phẳng, thoải thoải đổ về Mékông. Đặc điểm địa hình này sẽ rất quan trọng trong quan hệ của Tây Nguyên với các “lân bang” trong lịch sử lâu dài: quan hệ về phía tây, với Cămpuchia và với Lào, thuận tiện hơn là với Champa (và sau đó với Đại Việt) ở phía đông. Các bộ lạc ở Tây Nguyên quan hệ với “lân bang” trên vùng duyên hải phía đông chủ yếu do nhu cầu tìm muối mà Tây Nguyên hoàn toàn không có. Ở Tây Nguyên có hai địa danh đáng chú ý: Trong tiếng Ê Đê, buôn có nghĩa là làng (Buôn Hồ, Buôn Sam, Buôn Ma Thuột…), nhưng lại có Bản Đôn ở Đắc Lắc, phía tây Buôn Ma Thuột, sâu về phía nam Tây Nguyên, gần biên giới Cămphuchia. Bản là tiếng Lào, có nghĩa là làng. Bản Đôn chính là một trạm buôn của người Lào cắm sâu vào đây từ rất xưa, đến nay kiến trúc nhà cửa trong làng vẫn còn nhiều dấu vết Lào, người dân vẫn hiểu thông thạo tiếng Lào. Đây cũng chính là vùng dân tộc Mơ Nông, rất giỏi nghề săn bắt và thuần dưỡng voi. Rất có thể chính người Lào đã truyền nghề này cho người Mơ Nông… Trong cụm núi Ngok Linh lại làng Mường Hon. Mường chắc chắn là tiếng Lào, cũng có nghĩa là làng. Đây có thể là một làng người Lào vào định cư đã lâu đời trong cụm núi lớn này, cũng có thể là vết tích của những người Lào chạy dạt vào đây do hệ quả của các cuộc chiến tranh bộ lạc ngày xưa… Rõ ràng quan hệ của người Lào với các dân tộc Tây Nguyên từ xa xưa đã khá sâu.

Tây Nguyên vốn là một vùng đất núi lửa, hiện nay còn rất nhiều dấu vết núi lửa. Biển Hồ khá rộng ở phía bắc thị xã Pleiku chính là một miệng núi lửa cổ. Núi Hàm Rồng ở nam thị xã Pleiku còn rất rõ dấu vết miệng núi lửa. Ở Đắc Lắc có huyện Chư Mơgar, có nghĩa là “Núi Ngược”, vì miệng núi lửa cổ lõm xuống trên đỉnh khiến ngọn núi này trông như có đỉnh lộn ngược… Chính nham thạch núi lửa đã khiến Tây Nguyên trở thành một vùng đất bazan lớn nhất nước, chiếm đến 60% kho đất bazan của cả nước. Đất bazan đặc biệt thích hợp với một số cây công nghiệp như cà phê, cao su…

Tây Nguyên cũng là vùng có hệ động vật và thực vật phong phú nhất nước.

Về khí hậu, Tây Nguyên có hai mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 11 đến giữa tháng 5, và mùa mưa từ cuối tháng 5 đến tháng 10. Đất bazan là loại đất không giữ nước, nước mưa trượt đi trên bề mặt, về mùa khô Tây Nguyên gần như hoàn toàn không có nước.

1.3 Sơ lược lịch sử

1.3.1 Tiền sử

Năm 1948, nhà dân tộc học người Pháp Goerges Condominas tìm được bộ đàn đá tiền sử ở làng Nđut Liêng Krak thuộc huyện Krông Nô tỉnh Đắc Lắc. Đây là bộ đàn đá đầu tiên tìm được trên thế giới. Về sau nhiều bộ đàn đá khác còn được tìm thấy ở nhiều nơi thuộc Tây Nguyên và ven Tây Nguyên. Đáng chú ý hệ thang âm của các đàn đá này trùng hợp với thang âm các bộ chiêng của các dân tộc Tây Nguyên hiện nay (thang ngũ âm, nhưng khác với thang ngũ âm Trung Hoa, mà lại gần thang âm tìm thấy ở một số nhạc cụ trên các đảo nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương). Tức có thể có một mối quan hệ nào đó còn chưa giải thích được giữa chủ nhân các bộ đàn đá tiền sử ấy (được xác định niên đại là cách đây 3000 năm) với các dân tộc đang sinh sống ở Tây Nguyên hiện nay, và cũng có thể có một dòng chảy của con người từ những vùng xa xôi từ phía nam đến Tây Nguyên trong những thời kỳ rất xa xưa.

Cách đây vài chục năm, trong khi chuẩn bị làm Thủy điện Ya Ly (trên vùng giáp giới hai tỉnh Kontum và Gia Lai), đã tiến hành khai quật di chỉ Lung Leng, nơi sẽ là lòng hồ. Đã phát hiện được tại đây dấu vết hết sức quan trọng của một nền văn hoá cổ, từ thời Đồ đá cũ, Đồ đá mới sang đến Đồ đồng… Từ sau đó, công tác khảo cổ ở Tây Nguyên được chú ý hơn, đã liên tục phát hiện nhiều khu di tích quan trọng khác, ở hầu khắp Tây Nguyên. Đã tìm được cả trống đồng ở nhiều nơi. Công tác khảo cổ ở Tây Nguyên nói chung chỉ mới bắt đầu, chưa đủ cơ sở cho những kết luận thật đáng tin cậy. Song bước đầu đã có thể thấy một số điểm đáng chú ý: các di vật đồ đá và đồ đồng tìm thấy ở Tây Nguyên rất gần với Đông Sơn, trong khi đồ gốm lại gần với văn hoá Sa Huỳnh. Như vậy ít ra có thể thấy nền văn hoá tiền sử ở Tây Nguyên từng có giao lưu rộng rãi với cả hai nền văn hoá lớn này ở phía bắc và phía nam…

Công cuộc khảo cổ ở Tây Nguyên chắc chắn còn hứa hẹn nhiều khám phá mới quan trọng.

1.3.2 Tây Nguyên trước thời Nam tiến của người Việt. Quan hệ của các dân tộc Tây Nguyên với Cămpuchia, Lào, Champa (và sau đó với Đại Việt).

Trước khi có cuộc Nam tiến của người Việt, vương quốc Champa xem Tây Nguyên nửa như một nước chư hầu nửa như vùng đất phía tây của mình. Trong thực tế triều đình Champa không hề kiểm soát được Tây Nguyên. Suốt một thời kỳ lịch sử rất lâu dài, Tây Nguyên là vùng sinh sống của các bộ lạc độc lập và tự trị. Trong đó đông nhất, mạnh nhất, chặt chẽ nhất là người Gia Rai, sống ở vùng trung Tây Nguyên. Trong người Gia Rai có các nhân vật rất đặc biệt gọi là P’tao Pui, P’tao Ia và P’tao Nhinh, mà người Việt dịch là “Vua Lửa”, “Vua Nước”, “Vua Gió”, người Pháp cũng dịch là “Roi du Feu”, “Roi de l’Eau”, “Roi du Vent”. Cách dịch “Vua”, “Roi” là không chính xác. Thật ra đây là một kiểu thủ lĩnh tinh thần và tâm linh rất độc đáo trong xã hội Gia Rai, một kiểu “thầy cúng” có uy tín lớn, đóng vai trò là người giữ mối quan hệ giữa Thần linh và con người, giữa thế giới “bên trên” và xã hội trần thế, không có bất cứ quyền hành thế tục và quyền lợi ưu tiên nào, nhưng lại là một thứ trung tâm cố kết và “điều hành” toàn bộ xã hội này một cách hết sức chặt chẽ và hiệu lực, kể cả trong quan hệ đối ngoại với các “lân bang”. Trong tác phẩm nghiên cứu rất công phu và đặc sắc “P’tao, một lý thuyết về quyền lực ở người Gia Rai Đông Dương” (P’tao, une théorie du pouvoir chez les indochinois Jarai), nhà Tây Nguyên học hàng đầu Jacques Dournes đã có sự phân tích và giải thích rất sâu sắc về các nhân vật này và một kiểu quyền lực cũng hết sức độc đáo ở xã hội Gia Rai nói riêng và xã hội Tây Nguyên nói chung, còn tồn tại cho đến rất gần đây, thậm chí còn ảnh hưởng tiềm tàng đến tận ngày nay.

Các P’tao là người Gia Rai, sống ở vùng Gia Rai, nhưng tầm ảnh hưởng lan rất rộng, sâu trên nhiều vùng dân tộc khác, thậm chí sang cả Cămpuchia. Trong nhiều thời kỳ, triều đình Cămpuchia từng coi các P’tao ở Tây Nguyên như một kiểu “vua thần”, định kỳ có dâng cống vật. Người Cămpuchia gọi các P’tao là Sadet (gần với từ Samdeth). Về sau, các “Vua Nước” và “Vua Gió” giảm dần ảnh hưởng rồi mất hẳn, chỉ còn “Vua Lửa”… Chúng tôi nghĩ việc nghiên cứu hình thái tổ chức xã hội với các P’tao của người Gia Rai có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm hiểu sâu sắc Tây Nguyên, con người, văn hoá, tổ chức xã hội cổ truyền… ở vùng đất đặc biệt này. Thậm chí cũng còn có thể cho phép chúng ta hình dung chừng nào về các xã hội cổ từng tồn tại trên vùng đất nay là bán đảo Đông Dương.

Tây Nguyên quan hệ với các “lân bang” chính là qua các P’tao. Quan hệ nhiều nhất là với Cămpuchia. Trong nhiều thời kỳ dài đã thường xuyên có các đoàn “sứ giả” đi lại hằng năm giữa các P’tao và triều đình Cămpuchia, trao đổi cống vật giữa hai bên. Trong quan hệ này đáng chú ý là về phía Cămpuchia đối với các P’tao Tây Nguyên là có tính chất “dâng lên”, còn từ phía các P’tao với các vua Cămpuchia là “ban xuống”. Do địa hình và cả chủng tộc, người Lào đã có quan hệ lâu đời và sâu với các dân tộc ở Tây Nguyên. Quan hệ của Tây Nguyên với Champa lại có những nét riêng khác: Trong thực tế, triều đình Champa đối xử với Tây Nguyên như với một “lân bang” phía tây của mình, cũng có quan hệ trao đổi cống vật định kỳ (với các P’tao) nhưng không chặt chẽ bằng phía Cămpuchia. Mặt khác, người Gia Rai, dân tộc lớn nhất và quan trọng nhất ở Tây Nguyên với người Chàm đều cùng thuộc một ngữ hệ Malayo-Polynésien nên rất gần gũi nhau, thậm chí có tác giả còn cho rằng người Gia Rai chính là người Chàm dạt lên Tây Nguyên trong những điều kiện và những thời gian lịch sử nào đó. Hiện còn có một số dấu vết các tháp Chàm ở vùng Gia Rai…

Trong quá trình Nam tiến, người Việt đã mất trên ba trăm năm mới giải quyết xong vùng đồng bằng ven biển Champa, sau đó đi tiếp về nam, đứng chân được trên vùng đất Thủy Chân Lạp vừa xong thì cũng là lúc người Pháp tràn vào. Do vậy triều đình Việt chưa có thời gian quan tâm nhiều đến vùng đất cao phía tây và các bộ lạc sống trên đó. Triều đình Huế cũng có phái một số quan chức lên tìm hiểu và bắt quan hệ với các bộ lạc Tây Nguyên, tất nhiên với ý đồ chinh phục. Tuy nhiên công cuộc này cũng còn rất sơ sài, các phái viên triều đình có gặp Vua Nước, Vua Lửa, mà họ gọi là Thủy Xá, Hỏa Xá, đặt quan hệ “triều cống” định kỳ của các vị này với triều đình và “ban tước” của triều đình cho các vị này, và vì hiểu rằng đây quả thực là các “Vua” nên họ yên trí như vậy là đã nắm được toàn bộ Tây Nguyên. Có hiện tượng đáng chú ý: triều Nguyễn đã từng thiết lập một hệ thống “đồn sơn phòng” suốt dọc các tỉnh trung Trung bộ trên ranh giới giữa vùng người Việt và vùng sinh sống của các dân tộc thiểu số ở phía tây, riêng ở Quảng Ngãi còn lập cả một bờ lũy dài hơn trăm km ngăn cách giữa hai vùng, chứng tỏ triều đình coi phía bên kia là một “nước” khác, có thể là một thứ “man” chư hầu…

1.3.3 Người Pháp với Tây Nguyên

Quá trình xâm nhập của người Pháp vào Tây Nguyên khá lâu dài và sâu. Đầu tiên là các nhà truyền giáo. Do chính sách “sát tả”, bài trừ Cơ đốc giáo của các vua đầu triều Nguyễn, các nhà truyền giáo Cơ đốc đã tìm đường lánh lên vùng rừng núi Tây Nguyên có thể an toàn hơn. Họ đã đi bằng nhiều đường khác nhau, sau nhiều lần thất bại cuối cùng đã lên được đến vùng người Ba Na ở Kontum và thiết lập được xứ đạo đầu tiên trên cao nguyên tại đây. Tại Đại chủng viện ở thị xã Komtum hiện nay có một bảo tàng (được gọi là “Phòng truyền thống”) minh họa khá sinh động và chính xác con đường truyền đạo Cơ-đốc lên Tây Nguyên. Nhiều nhà truyền giáo cũng là những nhà dân tộc học tận tụy và uyên bác. Chính họ đã để lại những công trình nghiên cứu đa dạng và sâu sắc về Tây Nguyên.

Đồng thời và tiếp sau các nhà truyền giáo là các “phái bộ” (mission) khảo sát, vừa là những người tiên phong đi chuẩn bị và dọn đường cho việc chinh phục, đồng thời cũng là những nhà khoa học được đào tạo rất cơ bản, ít nhất ở hai trường Dân tộc học và Trường Pháp quốc hải ngoại (École française d’Outre-mer), một số người là sĩ quan quân đội. Nhiều phái bộ như vậy đã đi hầu khắp Tây Nguyên, không bỏ sót một vùng nào, nghiên cứu hoặc một cách tổng thể về vùng đất và người này, hoặc về từng phương diện, từng tộc người, từng vùng riêng biệt. Một trong những phái bộ đó, do Henri Maitre dẫn đầu, đã để lại một tác phẩm đồ sộ đến nay vẫn là công trình khảo sát cơ bản, toàn diện và tỉ mỉ nhất về Tây Nguyên, chưa ai vượt qua được. Công trình này có tên là Les jungles Mois (Rú Mọi), gồm hai phần, phần đầu là Nhật ký hành trình của phái bộ xuyên suốt Tây Nguyên, phần hai trên cơ sở tổng kết toàn bộ các khảo sát, dựng nên bức tranh toàn diện về Tây Nguyên. Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội đã tổ chức dịch phần hai công trình này, dưới cái tên Rừng người Thượng, đang được in ở nhà xuất bản Tri Thức.

Tiếp sau các phái bộ khảo sát là các nhà cai trị, cũng được đào tạo rất cơ bản về nhân chủng học, dân tộc học trước khi sang Việt Nam. Rất nhiều người trong số này, như Sabatier, công sứ Pháp đầu tiên ở Đắc Lắc, là nhà khoa học uyên bác. Ông là người đầu tiên sưu tầm và dịch ra tiếng Pháp trường ca Đam San, cũng đã sưu tầm và hệ thống hoá toàn bộ luật tục Ê Đê. Ông từng cai trị tỉnh Đắc Lắc bằng một kiểu “Tòa án Luật tục”, kết hợp khôn khéo luật tục của người Ê Đê với luật chung cho toàn Đông Dương. Bên cạnh những viên quan cai trị này, còn có những nhà chuyên môn giỏi và tâm huyết trong nhiều lĩnh vực, như Antomarchi, một nhà ngôn ngữ học lão luyện, người đã đặt ra vần chữ cái La tinh đầu tiên cho tiếng Ê Đê. Thậm chí còn có những bác sĩ như Jouin, vừa là một thầy thuốc nổi tiếng, vừa là một nhà dân tộc học sâu sắc…

Sau cùng đến lượt các nhà khoa học chuyên nghiệp, như G. Condominas, A. de Hautecloque-Howe, Boulbet, Maurice…, thường đi sâu và ở lại lâu dài trong các vùng thực địa, để lại những công trình quan trọng hoặc về từng dân tộc hoặc về từng vấn đề dân tộc học lớn ở Tây Nguyên. Có người như Jacques Dournes, là một linh mục đến Tây Nguyên, ở lại suốt hai mươi lăm năm, cuối cùng bỏ đạo, sống theo phong tục Tây Nguyên, là một nhà Tây Nguyên học lớn…

Công cuộc chinh phục Tây Nguyên của người Pháp diễn ra song song với cuộc xâm chiếm Việt Nam và toàn Đông Dương. Ở Tây Nguyên họ cũng gặp phải sự kháng cự của các bộ lạc bản địa. Trước đây, giữa các bộ lạc ở đây vẫn thường diễn ra chiến tranh, chủ yếu để cướp tù binh bán sang các nước chung quanh làm nô lệ. Vốn là những dân tộc quen sống tự do, phóng khoáng, có ý thức tự trọng và tinh thần thượng võ cao, không chịu bất cứ sự áp bức, áp đặt nào, họ đã đứng lên chống lại những người mới đến mang tới một ách thống trị xa lạ. Tuy nhiên những cuộc kháng cự thường rời rạc, một vài phong trào liên kết được một số vùng tương đối rộng không tồn tại được lâu. Song cũng có những vùng cuộc đấu tranh diễn ra khá dai dẳng, thậm chí có nơi suốt gần trăm năm đô hộ người Pháp vẫn không hoàn toàn thiết lập được bộ máy cai trị.

Khi đã chiếm được toàn bộ Đông Dương, người Pháp đã chia bán đảo này ra thành năm xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao miên. Vậy nên phân Tây Nguyên về đâu? Họ có cái mà Jacques Dournes, trong tác phẩm P’tao… của ông, gọi là “logique du découpage” (lô gích của sự phân cắt), tất nhiên là lô gích phân cắt sao cho thuận tiện hơn cả đối với sự cai trị của chính quyền thực dân. Thấy trong các “lân bang” trước nay, người Lào đã xâm nhập vào Tây Nguyên sâu hơn cả, về mặt chủng tộc cũng tương đối gần gũi, nên họ cắt Tây Nguyên về Lào. Một thời gian sau, nhận thấy thủ đô Lào đặt ở Viêng Chăn quá xa, khó với tới Tây Nguyên, đến năm 1904 Toàn quyền Đông Dương đã ký nghị định giao Tây Nguyên về cho triều đình Huế. Như vậy về mặt pháp lý (của chính quyền thực dân), từ năm 1904 Tây Nguyên mới chính thức thuộc về Trung Kỳ, và từ đó thuộc về Việt Nam.

Chủ trương của người Pháp đối với Tây Nguyên trước sau không hoàn toàn thống nhất. Viên công sứ Pháp đầu tiên cai trị Tây Nguyên là Sabatier (lúc bấy giờ toàn bộ Tây Nguyên được coi là một tỉnh gọi là tỉnh Kontum, thủ phủ đặt ở Buôn Ma Thuột) chủ trương “bảo tồn” nguyên vẹn Tây Nguyên, ngăn không cho người Việt, người Hoa, và cả người Pháp lên sinh sống và khai thác Tây Nguyên. Ông muốn giữ không chỉ đất đai, mà cả con người, văn hoá, xã hội Tây Nguyên mà ông khá am hiểu trong trạng thái đúng như khi nó được “tìm thấy”, không để cho vùng đất, người, văn hoá và xã hội cổ truyền tốt đẹp này bị tổn thương vì sự xâm nhập của các thế lực ngoại lai. Ông kiên trì thu phục được các tù trưởng bản địa (Ama Thuột chính là một tù trưởng có ảnh hưởng lớn trong vùng Ê Đê, đã quy thuận, hợp tác với Sabatier, và làng của ông, Buôn Ma Thuột [có thể dịch sát nghĩa: Làng của Cha thằng Thuột], trở thành thủ phủ của toàn vùng. Sabatier tự biến mình thành một tù trưởng đứng đầu toàn xứ, tổ chức nhiều cuộc ăn thề kết nghĩa trung thành với các tù trưởng lớn trong vùng, thiết lập một bộ máy và một phương thức cai trị dựa trên luật tục của các dân tộc bản địa…

Chính sách “đóng cửa Tây Nguyên” của Sabatier vấp phải sự chống đối của các thế lực thực dân muốn đổ xô vào khai thác vùng đất màu mở này. Cuối cùng, do áp lực gay gắt của họ, Sabatier bị lật đổ, ông đã thất bại trong ý đồ có thể tốt đẹp nhưng ảo tưởng của ông… Từ đó các nhà thực dân Pháp mới bắt đầu khai thác Tây Nguyên, chủ yếu là lập các đồn điền cà phê, cao su, chè do người Pháp làm chủ, sử dụng một số công nhân người Việt được đưa lên đây, và dần dần có thêm ít nhiều công nhân người Tây Nguyên…

Chính trong thời gian cai trị của người Pháp, đã đào tạo được một số trí thức trong các dân tộc bản địa Tây Nguyên, chủ yếu trong hai ngành y tế và giáo dục. Hầu như tất cả các trí thức này về sau đều trở thành cán bộ nòng cốt của cách mạng ở Tây Nguyên…

Chỉ hơn một tháng sau Cách mạng Tháng Tám, quân Pháp đã trở lại đánh chiếm Nam Bộ, tiếp liền sau đó là Tây Nguyên. Đáng chú ý là suốt 9 năm chiến tranh Pháp không chiếm được vùng duyên hải Nam Trung Bộ từ nửa tỉnh Quảng Nam vào đến Phú Yên, nhưng họ lại tập trung sức quyết chiếm Tây Nguyên. Ấy là vì vị trí chiến lược hết sức quan trọng của Tây Nguyên, về mặt quân sự “ai làm chủ được Tây Nguyên thì sẽ làm chủ cả miền nam Đông Dương”. Cuộc kháng chiến 9 năm ở vùng Nam Trung Bộ (lúc bấy giờ gọi là Liên khu 5) chính là cuộc giành giật quyết liệt giữa ta và địch vùng cao nguyên chiến lược này. Chính qua cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung này mà các dân tộc Tây Nguyên đã trở nên gần gũi và gắn bó ngày càng sâu sắc với cách mạng, với cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trở thành một bộ phận khắng khít không thể tách rời của cộng đồng rộng lớn đó. Từ những cơ sở chính trị đầu tiên được kiên trì xây dựng, tiến lên thành những cơ sở du kích vũ trang, các làng chiến đấu kiên cường, đến cuối những năm kháng chiến chống Pháp Tây Nguyên đã có thể trở thành địa bàn thuận lợi cho các đơn vị chủ lực mở những chiến dịch ngày càng lớn, cho đến chiến dịch Đông- Xuân 1953-54, phối hợp với Điện Biên Phủ, giải phóng hoàn toàn tỉnh Kontum và toàn bộ vùng Bắc Tây Nguyên…

Từ sau năm 1954 đến năm 1959-60, Tây Nguyên đã trải qua một giai đoạn rất đặc biệt. Đây là thời kỳ phong trào cách mạng ở miền Nam bị đánh phá hết sức ác liệt, tổn thất nặng nề trong các chiến dịch “chống cọng, tố cọng” của chính quyền Sài Gòn. Những cán bộ cọng sản không còn trụ lại được ở đồng bằng phải lánh lên miền núi để bảo tồn lực lượng. Họ phải lặn mình trong đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, dựa vào dân, được dân bảo vệ, nuôi dưỡng mà tồn tại. Chính trong hoàn cảnh này công tác vận động quần chúng đã được thực hiện tốt hơn cả. Để tồn tại, và là tồn tại để rồi sẽ đến lúc bùng dậy giành lại thế tấn công, những người cọng sản không chỉ dựa vào dân để được che chở mà còn phải ra sức gây dựng và phát triển tốt nhất, sâu nhất mọi mặt đời sống xã hội ở vùng dân tộc, và để làm được điều đó lại phải hiểu biết sâu sắc hơn bao giờ hết những đặc điểm quan trọng nhất của xã hội này, tôn trọng và vận dụng những đặc điểm đó trong công tác vận động quần chúng. Kết quả là trong khi phong trào cách mạng ở đồng bằng phải trải qua một giai đoạn thoái trào nghiêm trọng, thì ở miền núi và vùng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên ngược lại không hề có thoái trào, mà là phát triển mạnh mẽ và sâu sắc. Thậm chí ở một số vùng đã thực hiện được những điều kỳ lạ: như ở vùng người Cơ Tu và người Cà Dong thuộc miền núi Quảng Nam, một số cán bộ trụ bám ở lại tại đây đã tự mình mày mò sáng tạo ra chữ viết cho hai dân tộc này và từ năm 1954 đến năm 1959 đã thanh toán xong nạn mù chữ trong đồng bào dân tộc ở đây… Chính trên cơ sở đó mà khi bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ Tây Nguyên đã đạt đến một thời kỳ có thể gọi là cao trào, sự đóng góp của Tây Nguyên vào công cuộc chống Mỹ cứu nước là vô cùng to lớn. Không thể hình dung cuộc chiến đấu vĩ đại này và chiến công giải phóng Sài Gòn nếu không có Tây Nguyên…

Tóm lại, do những điều kiện lịch sử đặc trưng, các dân tộc Tây Nguyên đến với cộng đồng các dân tộc Việt Nam khá muộn, nhưng quá trình gia nhập và gắn bó với cộng đồng này lại rất nhanh và sâu sắc. Cho đến năm 1975, tình hình Tây Nguyên là rất tốt về mọi mặt.

1.3.4 Về các dân tộc Tây Nguyên.

Tây Nguyên có khoảng 20 dân tộc khác nhau. Nói là “khoảng” vì có dân tộc theo bảng phân định dân tộc chính thức của nhà nước hiện nay được coi là một nhánh của một dân tộc chung lớn hơn, nhưng cho đến nay lại không chịu chấp nhận cách phân loại đó mà tự coi mình là một dân tộc riêng. Như người Cà Dong ở miền núi tây Quảng Nam, theo bảng phân loại dân tộc học của nhà nước là một nhánh của dân tộc Xơ Đăng, nhưng hầu hết người Cà Dong nhất định tự coi mình là một dân tộc riêng với tất cả các đặc điểm riêng của một dân tộc độc lập…

Các dân tộc ở Tây Nguyên thuộc hai ngữ hệ khác nhau: Môn-Khơme (hay Nam Á) và Malayo-Polynésien (hay Nam Đảo). Quan sát sự phân bố các dân tộc ở Tây Nguyên theo ngữ hệ có thể thấy một điều đáng chú ý: thuộc ngữ hệ Môn-Khơme có các dân tộc ở Bắc Tây Nguyên từ khoảng giữa tỉnh Gia Lai hiện nay trở ra, như các dân tộc Xơ Đăng, Cơ Tu, Dẻ Triêng, Rơ Mâm, Ba Na, Brâu…, và các dân tộc ở miền Nam Tây Nguyên từ nửa tỉnh Đắc Lắc trở vào như các dân tộc Mơ Nông, Kơ Ho, Mạ, Sre, Stiêng… Chen vào giữa, trên vùng đất từ giữa tỉnh Gia Lai hiện nay cho đến nửa tỉnh Đắc Lắc, là các dân tộc thuộc ngữ hệ Malayo-Polynésien gồm người Gia Rai, người Ê Đê, người Chu Rú, người Rakglei. Người Chàm sống ở vùng duyên hải nam Trung Bộ cũng thuộc ngữ hệ này. Có tác giả đã giải thích hiện tượng này như sau: Từ xa xưa Tây Nguyên vốn là vùng đất của các dân tộc Môn-Khơme. Các dân tộc Malayo-Polynésien đã từ các đảo phía nam đến, trước tiên đổ vào dải đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ hiện nay. Các dân tộc này đã chịu ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ, trong số đó riêng người Chàm đã phát triển thành một vương quốc hùng mạnh, và ép các dân tộc ở cạnh mình ra, buộc họ phải tìm cách tràn lên vùng đất cao phía tây. Do địa hình dốc đứng trên sườn phía đông của cao nguyên này, họ chỉ có thể tràn lên theo một số đường độc đạo nhất định: người Gia Rai đã lên theo đường đèo An Khê (tức đường 19 hiện nay) và đường Bà Lá, Cà Lúi, lên Cheo Reo, Ayun Par (tức đường số 25), chiếm cao nguyên Gia Lai; Người Ê Đê lên theo đường đèo Phượng Hoàng (tức đường 26 hiện nay) chiếm cao nguyên Đắc Lắc; Người Rakglei thì tạt lên mạn tây Khánh Hòa, Bình Thuận, Ninh Thuận, ở đây địa hình dốc đứng cản trở họ có thể lên xa hơn. Như vậy các dân tộc Malayo-Polynésien đã từ đồng bằng nam Trung Bộ tiến về phía tây, chen vào giữa như một chiếc nêm, ép các dân tộc Môn-Khơme ra hai đầu. Đương nhiên điều này diễn ra trong những thời kỳ lịch sử rất xa xưa, có thể khi Biển Đông còn cạn, miền nam bán đảo Đông Dương có thể còn gắn liền với các đảo Nam Á.

Đông, mạnh nhất ở Tây Nguyên là dân tộc Gia Rai, rồi đến người Ê Đê, người Ba Na, người Xơ Đăng… Cũng có những dân tộc rất nhỏ như người Châu ở trong thung lũng Mường Hon của núi Ngok Linh, chỉ có khoảng 80 người…

2. HAI VẤN ĐỀ LỚN TRONG XÃ HỘI TÂY NGUYÊN CỔ TRUYỀN

2.1 Làng

Trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền, vẫn còn rất đậm nét cho đến tận ngày nay, làng là đơn vị xã hội cơ bản và duy nhất. Không có đơn vị xã hội cao hơn làng. Trong nhiều ngôn ngữ các dân tộc Tây Nguyên không có từ để chỉ đơn vị cao hơn làng. Boon trong tiếng Mơ Nông, Buôn trong tiếng Ê Đê, Plei trong tiếng Gia Rai, Ba Na, Veil trong tiếng Cơ Tu… đều có nghĩa là làng. Ngày trước trong một số dân tộc có từ T’ring dùng để chỉ liên minh giữa một số làng, nhưng đấy chỉ là những liên minh tạm thời để cùng nhau đối phó với một số trở lực nào đó, khi trở lực ấy đã được giải quyết thì những liên minh đó cũng tan rã, không hề có lãnh thổ và tổ chức hành chính tương đương.

Trong xã hội cổ truyền Tây Nguyên cũng không có đơn vị nhỏ hơn làng. Ở đây ý thức về cá nhân chưa phát triển, không có cá nhân độc lập đối với làng. Khi gặp một người Tây Nguyên, hỏi anh ta tên gì, thì phản xạ tự nhiên đầu tiên của anh ta là trả lời: Tôi là người của làng X hay Y nào đấy. Gạn hỏi kỹ hơn nữa : Nhưng anh tên là gì ?, lúc đó anh ta mới trả lời rõ hơn : Tôi là A hay B ở làng X hay Y. Vẫn không thể quên làng. Con người là một bộ phận nhỏ chìm trong cộng đồng làng, hoaf tan trong làng, không thể tách rời khỏi làng. Ở Tây Nguyên, hình phạt nặng nề nhất, nổi đau đớn lớn nhất, điều nhục nhã nhất đối với một người là bị đuổi khỏi làng. Thậm chí trong trường hợp đó con người mất luôn cả tính người, không làng nào khác chấp nhận anh ta nữa, anh ta sẽ trở thành như một con thú, lang thang và chết vùi trong rừng. Nếu ta thường nói người Tây Nguyên có tính cộng đồng rất cao, thì tính cộng đồng đó là tính cộng đồng làng, thậm chí còn sâu đậm và cụ thể hơn cả ý thức về tộc người. Một người Ba Na biết mình là người Ba Na, nhưng ý thức về tộc người Ba Na không sâu đậm bằng ý thức về làng của mình. Ngày trước, trong chiến tranh bộ lạc, không phải chẳng hạn mấy làng Ba Na này liên minh lại đi đánh nhau với mấy làng Gia Rai kia, mà là hai ba làng Ba Na này liên minh với vài ba làng Gia Rai kia đi đánh hai ba làng Gia Rai khác liên minh với vài ba làng Ba Na khác.

Làng được điều hành bằng một tổ chức đặc biệt là Hội đồng già làng, gồm đại diện của các hộ trong làng. Đứng đầu Hội đồng già làng là chủ làng. Già làng là những người hiền minh nhất của làng, những người am hiểu rừng núi, đất đai, phong tục tập quán, giàu kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm sống, giỏi giang trong đối ngoại, và là người có đức độ cao, được dân làng bầu lên, có thể bị truất phế khi có những vi phạm đối với các quy định truyền thống của làng… Những người như vậy thường là những người đã cao tuổi, nhưng cũng có những người còn khá trẻ vẫn được bầu làm già làng nếu được sự tin cậy và kính trọng của toàn làng.

Hội đồng già làng quản lý làng theo một hệ thống luật pháp đặc biệt: luật tục (droit coutumier) của làng, tức những điều được cả cộng đồng công nhận và tuân theo như là luật, song lại tồn tại dưới hình thức là những phong tục. Cũng có người dịch là tập quán pháp, tức những tập quán được cả cộng đồng tuân thủ như luật. Già làng chính là những người am hiểu tường tận luật tục. Trong Hội đồng già làng thường có một người có chức năng phân xử mọi bất đồng hay vi phạm bằng hình thức tòa án luật tục của làng.

Sức sống bền vững của làng ở Tây Nguyên quả thật rất kỳ lạ, trải qua tất cả các biến động của lịch sử. Trong các cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ vừa qua, nhiều lúc làng bị đánh dữ dội, bị xé nát, bị di chuyển đi xa, nhưng rồi cộng đồng làng lại được khôi phục, hồi sinh. Cho đến nay, mặc dầu bị xáo trộn rất dữ trong những chuyển động xã hội suốt mấy mươi năm qua, về cơ bản cộng đồng làng vẫn còn. Một bằng chứng đáng chú ý là trong mấy cuộc bạo động vừa rồi ở Tây Nguyên, làng nào đã đi biểu tình thì bao giờ cũng đi nguyên cả một làng, không bao giờ có hiện tượng đi lẻ tẻ, và đã đi cả làng thì bao giờ cũng là do già làng dẫn đầu.

Trong công tác vận động quần chúng ở Tây Nguyên thời chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, kinh nghiệm thành công quan trọng nhất là phải hiểu biết sâu xa và dựa chắc vào đặc điểm xã hội này, phát huy được vai trò của làng, của già làng trong mọi việc, ở mọi tình huống. Không hiểu và nắm được làng và già làng, thì sẽ không hiểu và nắm được gì cả ở Tây Nguyên, mọi công việc ắt thất bại. Và nếu làng ở đây tan rã thì nguy cơ rối loạn xã hội sẽ rất lớn.

2.2 Sở hữu Đất và Rừng

Ở Tây Nguyên, rừng núi mênh mông vậy nhưng đều có chủ rành mạch, cụ thể. Không có đất và rừng vô chủ. Người chủ của đất và rừng chính là các làng, từng làng. Rừng núi, tất cả đã được “chia” cho từng làng từ xa xưa, “đã là như vậy từ tổ tiên muôn đời truyền lại”, đã được “Yang (tức Thần linh) giao cho từng làng”, có ranh giới rất rõ rệt. Đất, rừng của làng là thiêng liêng, không ai được xâm phạm, không ai được làm ô uế. Người ta gọi đó là Quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng.

Sở hữu rừng của một làng gồm có những loại rừng sau đây:
– Rừng đã biến thành đất thổ cư;
– Rừng sản xuất, tức khu rừng dân làng khai thác để làm rẫy;
– Rừng sinh hoạt, là nơi dân làng tìm lấy những thứ cần thiết cho mọi sinh hoạt của mình : con ong, cái mật, dây mây, rau ăn, con thú để săn bẫy, gỗ để làm nhà…;
– Rừng thiêng (hay rừng ma) là nơi trú ngụ của các Yang (Thần linh), không ai được động đến, thường là rừng đầu nguồn. Đây thực chất là kinh nghiệm giữ rừng đầu nguồn được tích lũy lâu đời của người dân, bọc bên ngoài là một lớp vỏ tín ngưỡng.

Tất cả các loại rừng đó hợp thành không gian sinh tồn (espace vital), hay cũng có người như Condominas gọi là không gian xã hội (espace social) của làng. Một làng cần có đủ các loại rừng kể trên để có thể sinh tồn như một không gian xã hội, làm nên tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên.

Hội đồng già làng quản lý sở hữu tập thể này của cộng đồng làng bằng một hệ thống luật tục chặt chẽ và sinh động. Chính Hội đồng già làng chia khu rừng sản xuất cho các hộ trong làng để làm rẫy theo đúng những quy định trong luật tục, cũng theo đúng những quy định đó khai thác khu rừng sinh hoạt cho các nhu cầu hằng ngày của mình, giữ gìn khu rừng thiêng, và tôn trọng đúng các tập quán trong làng, tức trong khu rừng đã biến thành đất thổ cư, thành làng. Hằng năm, đất rừng làm rẫy có thể được điều chỉnh lại giữa các hộ nếu có người đông lên hay giảm đi. Về nguyên tắc, các hộ trong làng có thể chuyển đổi đất rừng canh tác cho nhau, nhưng tuyệt đối không được chuyển nhượng ra khỏi làng.

Như vậy, hai đặc điểm quan trọng của xã hội cổ truyền Tây Nguyên, Làng và Sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng gắn chặt với nhau. Chúng ta thấy rõ làng Tây Nguyên là “làng rừng” và là:
– một cộng đồng cư trú;
– một cộng đồng sở hữu và lợi ích;
– một cộng đồng tâm linh;
– một cộng đồng văn hoá.

Quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng chính là nền tảng kinh tế, vật chất của thực thể cộng đồng làng. Toàn bộ đời sống vật chất, kinh tế, văn hoá, tinh thần, tâm linh, đạo đức của làng, của con người Tây Nguyên tồn tại trên nền tảng này. Sẽ rối loạn, đổ vỡ tất cả khi nền tảng này bị tổn thương và mất đi.

3. TÂY NGUYÊN TỪ SAU NĂM 1975

3.1 Những chủ trương lớn đối với Tây Nguyên từ sau năm 1975

Từ sau năm 1975, đối với Tây Nguyên chúng ta có hai chủ trương chiến lược:
* Xây dựng Tây Nguyên thành một địa bàn vững chắc về an ninh và quốc phòng, tương xứng với vị trí chiến lược của vùng cao nguyên quan trọng này.
* Xây dựng Tây Nguyên thành một vùng trọng điểm kinh tế của cả nước.

Để thực hiện chủ trương chiến lược đó, đã:
– Tăng cường lực lượng lao động lớn cho Tây Nguyên bằng cách tiến hành một cuộc đại di dân chưa từng có, chủ yếu từ đồng bằng châu thổ sông Hồng và vùng duyên hải Nam Trung Bộ lên Tây Nguyên. Theo kế hoạch ban đầu, dự kiến sẽ đưa lên Tây Nguyên 5 triệu dân. Kế hoạch này cũng đồng thời nhằm giải toả áp lực dân số cho hai vùng đồng bằng nói trên.
– Tổ chức toàn bộ Tây Nguyên thành các đơn vị kinh tế lớn: trong 10 năm đầu là các Binh đoàn làm kinh tế, gồm 3 binh đoàn 331, 332, 333 bao trùm gần toàn bộ Tây Nguyên. Mười năm sau, quân đội giao lại cho dân sự, các binh đoàn làm kinh tế chuyển thành các Liên Hiệp Xí nghiệp Nông, Lâm, Công nghiệp (LHXNNLCN), cũng bao trùm gần hết Tây Nguyên. Sau 10 năm nữa, nhận thấy mô hình quản lý này không hiệu quả, đã giải tán các LHXNNLCN, tổ chức lại thành các nông trường, lâm trường thuộc tỉnh hoặc thuộc trung ương.

Toàn bộ đất và rừng ở Tây Nguyên được quốc hữu hoá, được lấy giao cho các binh đoàn làm kinh tế, các LHXNNLCN, các nông trường, lâm trường, và giao cho dân di cư từ đồng bằng lên. Người bản địa chỉ còn phần đất thổ cư và một ít đất làm rẫy.

3.2 Một số ngộ nhận hoặc hời hợt trong chủ trương, chính sách đối với Tây Nguyên

* Về quyền sở hữu đất và rừng.
Ngộ nhận lớn nhất, tai hại nhất khi lập chủ trương, chính sách đối với Tây Nguyên là ta hầu như hoàn toàn không biết, không hề quan tâm đến quyền sở hữu truyền thống ở Tây Nguyên đối với đất và rừng. Ta đã ngộ nhận đất, rừng Tây Nguyên là vô chủ, là đất giữa trời, chẳng của ai hết. Ta đã hành động ở Tây Nguyên như trên một vùng đất không có người, lấy đất và rừng từ ngàn đời nay đã “được Yang giao cho làng”, từng làng, đem giao cho các đơn vị làm kinh tế mới được lập lên và cho hàng triệu người nơi khác được đưa đến, một cách hết sức “vô tư”. Đây là điều chưa từng diễn ra trong suốt lịch sử lâu dài ở Tây Nguyên từ xưa đến nay.

* Về phương thức canh tác ở Tây Nguyên : người Tây Nguyên có du canh, du cư?
Để làm mọi việc ở Tây Nguyên, cũng như ở nhiều vùng miền núi khác, ta đã chủ trương trước hết phải định canh, định cư. Công tác định canh, định cư được coi là biện pháp hàng đầu, quan trọng, quyết định nhất, trước khi tiến hành mọi việc khác. Chủ trương đó dựa trên nhận định người Tây Nguyên vốn du canh, du cư, và du canh, du cư, làm rẫy thì phá rừng… Vậy người Tây Nguyên có du canh, du cư, phá rừng?

Hãy thử nhìn vào kiến trúc ở Tây Nguyên. Một số dân tộc thuộc ngữ hệ Môn-Khơ Me ở phía Bắc Tây Nguyên có kiến trúc nhà rông rất đặc sắc. Nhà rông làng Kông Rơ Bàng của người Ba Na ở Kontum, được dựng lại đúng y nguyên mẫu, đúng nguyên kích thước tại Bảo tàng Dân tộc học Hà Nội, cao đến vài chục mét, bằng một tòa nhà 5 tầng, cột nhà rông to hai người ôm, mái cao vút sừng sững. Những dân tộc thuộc ngữ hệ Malayo-Polynésien không có nhà rông thì lại có kiến trúc nhà dài đặc sắc không kém. Nhà dài của ông Ama Thuột (tại thành phố Buôn Ma Thuột hiện nay) ngày trước dài đến gần 200 mét, đến nổi khi người chủ nhà muốn tập họp con cháu trong nhà thì phải thổi tù và. Các làng Ê Đê hiện nay vẫn còn những nhà dài đến vài ba chục mét, cây đòn dông trên mái nhà là một cây gỗ nguyên khối, không thể tìm thấy chỗ nối… Những dân tộc có kiến trúc vững chãi, đồ sộ như vậy chắc chắn không thể là những dân tộc sống tạm bợ, lang thang nay đây mai đó. Họ không hề du cư. Người Tây Nguyên chỉ dời làng trong mấy trường hợp : khi có dịch bệnh, chết nhiều người, “đất làng độc, có ma” ; hoặc khi mất nguồn nước uống bao giờ cũng được dẫn từ trên đỉnh núi cao xuống, bảo đảm trong sạch ; và trong trường hợp chiến tranh bộ lạc ngày trước… Còn thì làng là làng định cư ở một vị trí thuận lợi cho phương thức canh tác cũng không hề du canh. Người Tây Nguyên làm rẫy bằng cách đốt một khoảnh rừng và tỉa lúa xuống đấy. Chất mùn do lá rụng lâu năm và chất tro đốt có tác dụng phân bón. Một khoảnh đất canh tác như vậy trong hai hay ba năm thì bạc màu, người ta để hưu canh (ở Tây Nguyên gọi là “rẫy dế”), chuyển sang đốt một khoảnh rừng khác. Kỹ thuật chặt và đốt rừng làm rẫy được quy định rất chặt chẽ trong luật tục, không hề lãng phí và không bao giờ để xảy ra cháy rừng… Mỗi hộ trong làng thường có từ 10 đến 20 rẫy. Khi đã khai thác đến rẫy thứ 10 hay thứ 20, quay lại rẫy đầu tiên thì đã là 40 đến 60 năm, đủ thời gian cho rừng tái sinh. Đấy là phương thức tìm lấy thức ăn từ rừng và nuôi rừng khôn ngoan đã được tích luỹ và thử thách hàng nghìn đời. Cuốn sách nổi tiếng Chúng tôi ăn rừng… của nhà dân tộc học George Condominas chính là nói về cách sinh sống này của người Mơ Nông Gar ở nam Đắc Lắc. Đây là phương thức canh tác “luân khoảnh” – cách gọi đúng hơn “luân canh”, luân canh có thể được hiểu là năm nay trồng loại cây này sang năm chuyển sang trồng loại cây khác. Kinh nghiệm được tổng kết ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy nếu mật độ dân số không quá 10 người / km² thì làm rẫy không hề phá rừng. Làng Tây Nguyên định cư ở tâm điểm của vòng luân khoảnh ấy. Trong thực tế những thời gian cần phải làm việc nhiều ở rẫy những người lao động chính thường sống ở chòi rẫy, trong làng chỉ còn người già và trẻ em. Hết mùa rẫy làng lại đông vui, đây cũng là mùa “Ninh Nông” (mùa không làm rẫy), mùa lễ hội tưng bừng của Tây Nguyên.

Không hiểu đúng phương thức sinh sống và canh tác truyền thống của người Tây Nguyên, nhận định một cách cảm tính rằng người Tây Nguyên du canh, du cư, làm rẫy phá rừng… thì tất yếu không thể hiểu làng, cơ cấu, nền tảng vật chất, không gian sinh tồn, vai trò, vị trí của làng, tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên. Tức cũng không thể hiểu đúng xã hội này, lại vào lúc chúng ta đang muốn tạo ra những thay đổi to lớn nhất xưa nay chưa từng có trên vùng đất và người ở đây. Cuộc vận động định canh định cư, thực chất mang nhiều tính chất ép buộc, cũng đã góp phần phá vỡ các làng Tây Nguyên cổ truyền, làm xáo trộn xã hội.

* Hiểu rừng, cội nguồn của văn hoá và đời sống tâm linh ở Tây Nguyên
Đối với người Tây Nguyên, rừng không chỉ là tài nguyên, thậm chí cũng không chỉ là “môi trường”, “sinh thái” như cách hiểu thông thường của chúng ta về môi trường, sinh thái. Người Tây Nguyên có phong tục “bỏ mả”. Khi một người chết, người ta chôn trong một ngôi mộ tạm, con người ấy còn được coi như chưa đi hẳn khỏi thế giới này. Hàng ngày, người ta vẫn mang cơm nước và các vật dụng ra mộ để “nuôi” như nuôi một người còn sống. Trong thời gian đó, lâu ngắn tuỳ theo điều kiện của từng gia đình, người ta chuẩn bị một ngôi nhà mồ thật đẹp (trên chính ngôi mộ tạm), khi mọi việc đã xong thì làm lễ bỏ mả, một trong những lễ hội lớn và quan trọng nhất ở Tây Nguyên, diễn ra trong mùa Ninh Nông. Cả làng đều tham gia, nhiều làng lân cận cũng kéo đến, người ta làm lễ tiễn đưa người chết mãi mãi đi khỏi thế gian này. Sau lễ lớn đó, ngôi mộ sẽ bị bỏ hẳn, không ai chăm sóc, viếng thăm gì nữa. Con người ấy, theo quan niệm của người Tây Nguyên, vốn là một mẩu nhỏ của rừng vô tận và trường cữu, từ trong thăm thẳm không cùng của rừng mà đi ra, nay lại mãi mãi trở về với cội nguồn của mình là rừng, được trả về cho cội nguồn đó. Con người là một bộ phận nhỏ, và cũng có thể nói là tạm thời của thực thể to lớn và vĩnh cữu là rừng. Rừng mới là tất cả, là trường tồn, con người và cuộc sống trần thế của con người chỉ là một phần rất nhỏ, thoáng qua của thực thể bao trùm kia.

Người Tây Nguyên, tự trong sâu thẳm của họ, có một tình cảm thân thiết ruột thịt và một lòng kính trọng thiêng liêng đối với rừng, họ coi từng cây rừng đúng như một sinh vật sống chẳng hề thua kém con người, cũng có linh hồn ngang bằng con người, cũng đầy cảm xúc, vui mừng, hạnh phúc, đau đớn hệt con người. Khi buộc phải chặt hạ một cây gỗ cho nhu cầu thiết yếu của mình, bao giờ người Tây Nguyên cũng ân cần làm lễ xin lỗi cây, tạ ơn rừng. Người Tây Nguyên sống “theo đạo đức của rừng”, quan niệm con người cần phải hiền minh như rừng.

Như vậy ở Tây Nguyên, rừng là cội nguồn của đời sống tâm linh, tức phần sâu xa nhất trong con người và cộng đồng người, mất rừng thì con người và cộng đồng người mất đi cái nền rộng lớn, bền chặt, sâu thẳm nhất của mình, trở nên bơ vơ, “tha hoá”, mất gốc, mất cội nguồn.

Rừng cũng là cội nguồn của văn hoá, văn hoá Tây Nguyên là văn hoá rừng, toàn bộ đời sống văn hoá ở đây đều là biểu hiện mối quan hệ khắng khít, máu thịt của con người, cộng đồng người với rừng. Khi không còn rừng thì tất yếu văn hoá sẽ chết. Còn lại chỉ là những cái xác của văn hoá, văn hoá dỏm, giả…

Hiểu rừng một cách hời hợt, coi chỉ là tài nguyên, thậm chí là môi trường, sinh thái, tất không thể hiểu đúng nền tảng sâu xa, cơ bản nhất của xã hội này, và mọi việc làm của chúng ta ở đây chắc chắn không thể thành công, chỉ trợt đi trên bề mặt của thực tế, không ăn được vào đời sống.

* Sức chịu đựng cây công nghiệp của Tây Nguyên
Tây Nguyên là vùng đất bazan lớn nhất nước và đất bazan đặc biệt thích hợp với một số cây công nghiệp như cà phê, cao su… tạo ra sản phẩm có giá trị xuất khẩu đáng kể. Chủ trương biến Tây Nguyên thành một vùng trọng điểm kinh tế trong cả nước chính là dựa phần lớn vào ưu thế này. Tuy nhiên sức chịu đựng cây công ngiệp của Tây Nguyên dẫu lớn nhưng cũng có hạn, phát triển quá một mức nào đó thì sẽ phá rừng. Hạn mức đó đối với cà phê là 500.000 hecta, hiện nay đã bị vượt quá. Rừng Tây Nguyên là rừng nhiệt đới, nhiều tầng, thảm thực vật rất dày. Các nhà khoa học cho biết lá cây rừng nhiệt đới có tác dụng hấp thu năng lượng mặt trời gấp 30 lần rừng trồng. Cây cà phê, cả cây cao su, và đến cả rừng trồng đều không thể thay thế rừng nhiệt đới nguyên sinh.

Ở Tây Nguyên còn có vấn đề nước. Đất bazan không giữ nước. Đến mùa khô Tây Nguyên hầu như hoàn toàn không có nước. Những người trồng cà phê phải khoan sâu đến hàng trăm mét lấy nước ngầm tưới cà phê. Nguồn nước ngầm bị khai thác quá mức. Đến năm 1997, tầng nước ngầm ở Tây Nguyên đã tụt xuống 20 mét. Nếu tiếp tục tình trạng này, sẽ dẫn đến hiện tượng latérite hoá, tức đá ong hoá. Chúng ta sẽ để lại cho con cháu một cao nguyên đá ong !

3.3 Hệ quả

Những việc làm của chúng ta ở Tây Nguyên từ sau 1975 như đã trình bày trên đã đưa đến những hệ quả:

1- Dân số Tây Nguyên tăng nhanh, đột ngột, với cường độ lớn. Năm 1975, dân số Tây Nguyên khoảng dưới 1 triệu người, đến nay đã lên 5 triệu người, tăng gấp 5 lần, là vùng tăng dân số nhiều và nhanh nhất nước. Và ở đây là tăng cơ học, tức do đưa người nơi khác đến, chứ không phải tăng tự nhiên. Tăng tự nhiên với tỷ lệ sinh đẻ quá cao cũng gây ra nhiều khó khăn, như các dịch vụ xã hội thiết yếu (giáo dục, y tế, an sinh xã hội…) không theo kịp. Nhưng tăng cơ học thì đưa đến một tình hình nghiêm trọng hơn nhiều: nó làm đảo lộn cơ cấu dân cư, và từ đó tất yếu gây ra những đảo lộn về mọi mặt. Ngay từ sau năm 1975, đã có những cảnh báo của một số nhà khoa học và nhà văn hoá, cho rằng chủ trương đưa dân lên Tây Nguyên với tốc độ và cường độ quá cao là nguy hiểm, có thể là sai lầm chiến lược, nhưng lời cảnh báo đã không được nghe. Theo kinh nghiệm của thế giới, tăng dân số cơ học đến 3% / năm là mức báo động. Trong thực tế, suốt hơn 30 năm qua dân số Tây Nguyên đã tăng cơ học từ 7 đến 10% / năm.

Xét cơ cấu dân cư Tây Nguyên trong một thế kỷ qua, có thể thấy :
Đầu thế kỷ XX, các dân tộc bản địa chiếm 95% dân số.
Đến năm 1975, tỷ lệ này là 50%.
Hiện nay người bản địa chỉ còn 15-20% trên toàn địa bàn (Ở tỉnh Dắc Lắc, người bản địa còn 15%, tỉnh Đắc Nông còn 10%, tỉnh Kontum còn khoảng 50-55%… Người Tày ở Đắc Lắc đã đông hơn người Ê Đê bản địa). Người bản địa đã trở thành thiểu số, không phải trong cộng đồng Việt Nam nói chung, mà là thiểu số với tỷ lệ rất nhỏ, ngày càng nhỏ ngay chính trên quê hương ngàn đời của mình. Có thể nói, chính ở Tây Nguyên trong hơn 30 năm qua đã diễn ra những biến động xã hội lớn và sâu sắc nhất so với cả nước, nhưng những biến động đó lại rất âm thầm, hầu như không ai biết (cho đến ngày tình hình đột ngột mất ổn định).

2 – Sự tan vỡ của làng Tây Nguyên

Từ sau năm 1975, quyền sở hữu tập thể truyền thống của cộng đồng làng đối với đất và rừng nghiểm nhiên bị xoá bỏ, tất cả đất và rừng đều bị quốc hữu hoá. Như đã thấy ở trên, quyền sở hữu này chính là nền tảng vật chất, kinh tế của làng ; bị bứng mất đi nền tảng này, làng, tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên, tất yếu tan vỡ. Đây là sự đổ vỡ chưa từng có ở Tây Nguyên từ xưa đến nay, tác động đến tận gốc rễ của xã hội này. Càng đáng chú ý là làng, pháo đài bền vững của sức đề kháng xã hội ở Tây Nguyên trong suốt lịch sử lâu dài, nay lại bị phá vỡ đúng vào lúc Tây Nguyên, cũng như bất cứ vùng nào khác trong cả nước, đang phải đối mặt với những thách thức lớn của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, của hội nhập, ở Tây Nguyên đương nhiên càng nặng nề, khó khăn hơn bất cứ nơi nào khác. Chúng ta đã vô tình triệt tiêu mất sức đề kháng cơ bản của Tây Nguyên bằng cách phá vỡ các “chốt” đề kháng vốn bất khả chiến thắng của nó đúng vào lúc nó phải đương đầu với biến động lớn nhất. Theo một cách nào đó có thể nói trạng thái xã hội ở Tây Nguyên vừa qua và hiện nay là trạng thái của một cơ thể bị tước mất sức đề kháng sâu tận trong từng tế bào, hết sức dễ bị tổn thương.
Tình hình đó tất yếu dẫn đến những hệ quả tiếp theo không thể tránh:

3 – Môi trường bị tàn phá nghiêm trọng

Như đã nói ở trên, sau năm 1975, đất rừng ở Tây Nguyên được lấy giao cho các binh đoàn quân đội làm kinh tế, sau đó cho các LHXNNLCN, rồi đến các nông trường, lâm trường. Cho đến năm 1997, 90% đất rừng Tây Nguyên nằm trong tay các tổ chức quốc doanh. Thực tế hơn 30 năm qua đã chứng minh tất cả các chủ sơ hữu đó đều không giữ được rừng, trái lại là tác nhân phá rừng dữ dội nhất. Mỗi loại chủ sở hữu đó có cách phá rừng khác nhau, và đều nghiêm trọng như nhau.

Một phần lớn diện tích rừng còn lại được lấy giao cho dân di cư từ đồng bằng lên, lúc đầu là di cư theo kế hoạch của nhà nước, từ năm 1979 trở đi là dân di cư tự do, gồm cả đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía bắc (kể từ sau chiến tranh biên giới năm 1979). Những người mới đến lập tức cần có ngay lương thực để sinh sống, họ liền phá rừng để làm lương thực; sau đó lại tiếp tục phá để khai thác gỗ đem bán. Những người này cũng có tập quán canh tác hoàn toàn khác người Tây Nguyên. Người Việt vốn rất sợ rừng (“rừng thiêng nước độc”, “ăn của rừng rưng rưng nước mắt”…). Khác với người Tây Nguyên vốn sống chìm trong rừng, tự hoà tan mình trong rừng, coi rừng thân thiết như mẹ, người Việt đến đâu thì liền thấy có nhu cầu phá rộng ra cho trống chung quanh. Người Việt không có văn hoá rừng, bao giờ cũng thấy chật chội, rất sợ chìm đắm trong rừng. Ngay những người thuộc các dân tộc thiểu số phía bắc đến cũng có tập quán canh tác khác hẳn. Người Hmông chẳng hạn (là một dân tộc đổ lên Tây Nguyên rất mạnh, rất quyết liệt) đúng là một dân tộc du cư du canh, đến đâu là họ cạo trọc ngay toàn bộ rừng nơi họ đổ ập vào, không gì ngăn cản được. Hết khu rừng này, họ tiến sang khu rừng khác, triệt phá sạch đến cùng. Cũng cần phân biệt “rẫy” với “nương”, làm rẫy và làm nương là hai phương thức canh tác hoàn toàn khác nhau. Làm rẫy, như đã nói, là cách quảng canh luân khoảnh trong điều kiên mật độ dân số không cao. Còn nương là rẫy đã được chuyển sang canh tác cố định và chăm sóc như vườn. Trên rẫy bao giờ người ta cũng giữ lại một số cây hay gốc cây lớn để chống xói mòn, còn trên nương thì phải dọn sạch, san phẳng hoàn toàn, làm cho đất tơi ra (do đó rất dễ bị xói mòn). Làm nương cũng là cạo sạch rừng, từ nay ở đấy tuyệt đối không còn có rừng nữa, rừng đã vĩnh viễn trở thành đất canh tác, chẳng khác gì ruộng. Trái lại bản chất của làm rẫy là giữ rừng, mượn tạm rừng của Mẹ Tự nhiên để xin lấy cái ăn, rồi trân trọng trả lại cho Tự nhiên. Jacques Dournes đã gọi làm rẫy là lối canh tác “sang trọng” (de luxe) trong điều kiện mật độ dân số không cao. Cũng có thể gọi là lối canh tác nhân ái, thân thiện.

Các dân tộc bản địa Tây Nguyên, với mật độ dân số trong vùng tăng lên quá cao như hiện nay, cũng không còn có thể làm rẫy luân khoảnh, vừa tìm lấy cái ăn từ rừng vừa nuôi rừng như xưa. Họ lại bị những người nơi khác đến, năng nổ và khôn ngoan hơn, chiếm lấy những vùng đất thuận lợi nhất, màu mỡ, bằng phẳng, gần sông, gần đường…, phải lùi vào rừng ngày càng sâu, và không còn đủ đất để luân khoảnh được nữa, bây giờ họ thật sự biến thành những người du canh du cư và phá rừng !…

Cho đến nay, trừ một vài vùng nhỏ như một ít khu vực quanh núi Ngok Linh, vùng Komplong…, có thể nói về cơ bản rừng Tây Nguyên đã bị phá sạch, hậu quả về nhiều mặt không thể lường.

4 -Người bản địa bị mất đất.

Tình hình trên tất yếu đưa đến việc người bản địa bị mất đất. Rất đáng chú ý là việc mất đất này diễn ra chính là sau khi thực hiện việc giao đất giao rừng, cấp sổ đỏ cho người dân. Lúc bấy giờ, một số cơ quan chức năng như Viện Dân tộc học và một số nhà khoa học đã có kiến nghị : ở Tây Nguyên không nên giao đất cho hộ như ở đồng bằng mà là giao cho làng, để làng quản lý theo kinh nghiệm truyền thống, và cấm không được chuyển nhượng đất cho “người khác tộc” (cũng tức là không được chuyển nhượng ra khỏi làng), nhưng kiến nghị này không hề được chú ý. Đất vẫn được giao cho các hộ với đầy đủ 5 quyền. Kết quả :

Vì người bản địa nay đã trở thành thiểu số với tỷ lệ rất thấp, nên trong thực tế đất đã được giao rất nhiều cho người nơi khác đến;

Người Tây Nguyên, như đã nói, chưa phát triển ý thức về cá nhân, về sở hữu cá thể, nên cũng không có ý thức khư khư giữ đất cho cá nhân, cho hộ. Đất lại được giao hệt như ở vùng Kinh, chỉ gồm phần đất thổ cư, một ít đất làm rẫy, người bây giờ lại đã quá đông, không còn đất để thực hiện luân khoảnh, nên chỉ sau vài ba mùa, rẫy bạc màu, người ta rất dễ dàng đem bán với giá rất rẻ, thậm chí có thể đem cho không chỉ sau một bữa rượu ! Nhân cơ hội này, một số cán bộ đã dùng quyền lực chiếm rất nhiều đất.

Cuối cùng, đất từ tay người dân tộc bản địa chuyển dần hết sang tay người nơi khác đến. Người bản địa mất đất, chỉ còn hai con đường : lùi vào núi sâu, ngày càng khốn đốn, hoặc ở lại tại chỗ và đi làm thuê cho người nơi khác đến, chủ yếu là người Kinh, ngay trên mảnh đất truyền lại từ tổ tiên của mình. Chẳng khác tình cảnh làm cu li thời sau Sabatier. Điều nghịch lý của Tây Nguyên là các chỉ số phát triển ở đây đều khá cao so với nhiều vùng khác nhưng người bản địa, chủ nhân lâu đời của vùng đất này, lại bị bần cùng hoá, bị đẩy vào thế cùng. Tức phát triển lãnh thổ nhưng không phát triển được chủ thể trên lãnh thổ ấy.

Việc mất đất, không phải trong một xã hội bình thường mà là từ tay người dân tộc bản địa sang tay người nơi khác đến là người Việt, đã khiến vấn đề đất đai trở thành vấn đề dân tộc. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp của sự mất ổn định nghiêm trọng đã và đang diễn ra ở Tây Nguyên.

(Kinh nghiệm lịch sử: Luật Hồng Đức thời Lê Thánh Tông, khôn ngoan hơn chúng ta, đã biết chú ý và có những quy định riêng sáng suốt cho vùng dân tộc thiểu số khác với những quy định chung cho cả nước. Chẳng hạn có điều luật cấm không được cho vay mượn giữa người Kinh và người Man Liêu (tức các dân tộc thiểu số), vì hiểu rằng quan niệm về giá trị, về quyền sở hữu giữa hai bên khác nhau, sự vay mượn giữa hai bên tất dễ sinh những bất đồng, lừa đảo, lạm dụng…)

5 -Văn hoá Tây Nguyên bị mai một.

Việc mất rừng, tan vỡ của làng, cơ cấu dân cư bị đảo lộn lớn và đột ngột, người bản địa bị mất đất và mất gốc rễ trở thành lang thang trên chính quê hương ngàn đời của mình… tất yếu đưa đến đổ vỡ về văn hoá. Khi nói đến văn hoá Tây Nguyên, người ta thường nói đến nhà rông, nhà dài, cồng chiêng, các loại nhạc cụ độc đáo, các lễ hội…, không sai, nhưng đó là những biểu hiển ra bên ngoài, trên bề mặt của văn hoá, nếu tách những cái đó ra khỏi làng và rừng, mất rừng và mất làng, thì tất cả chỉ còn là những cái xác của văn hoá, những cái xác không có hồn. Mà ai cũng biết, văn hoá là hồn chứ không phải xác. Nên chú ý khi công nhận di sản văn hoá thế giới ở Tây Nguyên, UNESCO đã rất tinh, không phải công nhận cồng chiêng, cũng không phải âm nhạc cồng chiêng, mà là “không gian văn hoá cồng chiêng”, không gian ấy tức là rừng và làng.

Hiện nay trong lĩnh vực văn hoá ở Tây Nguyên, có hai điều đáng lo:

Hầu như không còn văn hoá thật của Tây Nguyên, chỉ có văn hoá giả Tây Nguyên, khai thác chất lạ (exotique) của Tây Nguyên, tạo nên một thứ văn hoá diễn, thu hút khách du lịch hám lạ, trong khi đời sống văn hoá thật của con người Tây Nguyên thì nghèo nàn, cằn cỗi. Đi dọc Tây Nguyên bây giờ chỉ còn thấy các kiến trúc của người Việt cố pha chút “độc đáo” nào đó, như làm mái cao vút lên, nhô nhọn ra… để giả chất Tây Nguyên. Nhà rông thì do nhà nước xây cho các làng, mà nhà rông là thứ “không thể đem cho”. Ở Tây Nguyên, khi lập một làng mới, việc quan trọng và thiêng liêng nhất là già làng chọn địa điểm và điều khiển việc cất nhà rông. Nhà rông là trái tim, là linh hồn của làng, chưa có nhà rông thì một làng chưa thực sự thành làng, và nhà rông bao giờ cũng phải do dân làng tự tay mình làm nên. Một nhà rông của nhà nước đem cho thì dù đẹp đến mấy cũng không thể trở thành nhà rông của làng, dân làng sẽ không bao giờ sử dụng, không thèm bước chân vào, sẽ để mốc meo, tàn tạ. Thật ra điều này cũng chẳng có gì lạ, đối với người Việt cũng hoàn toàn đúng như thế. Một cái miếu ở làng quê chẳng hạn bao giờ cũng được lập nên bắt đầu từ một sự tích nào đấy, một người có công với làng với nước, nay chết đi, nhân dân nhớ ơn mà lập miếu thờ. Hoặc thậm chí một cô gái thất tình, chết oan uổng trong một hoàn cảnh éo le nào đấy, bỗng trở nên linh thiêng, người ta cất miếu thờ. Một cái miếu do nhà nước tự dưng cất lên giữa đồng, một cái miếu “quốc doanh” thì chắc chắn chẳng ai đến hương khói làm gì!..

Ở Tây Nguyên hiện nay chúng ta đang “chơi” những cái xác văn hoá như vậy !
Mặt khác, hiện đại hoá, toàn cầu hoá và hội nhập cũng tất yếu đưa những luồng văn hoá lạ xâm nhập vào Tây Nguyên. Một sự xâm nhập như vậy là tự nhiên, không thể tránh. Điều đáng nói là nó diễn ra đúng vào lúc nền tảng và tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên, do những sai lầm của chúng ta nhiều năm qua, bị phá vỡ, khiến sức đề kháng và khả năng thích nghi của nó bị triệt tiêu. Văn hoá bản địa bị lai căng. Quan sát lớp người trẻ trong các dân tộc bản địa, có thể thấy có hiện tượng “đứt gãy” về văn hoá rất đáng lo ngại. Những thanh niên người dân tộc khi đã bị hư hỏng thì lại hư hỏng nặng hơn, tha hoá, lưu manh hoá dữ hơn cả những người cùng lứa tuổi ở vùng Kinh. Họ bị đổ vỡ vì mất nền. Chính điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự ổn định xã hội. Đi vào các làng Tây Nguyên hiện nay, rất đau lòng thấy thanh niên hầu như không còn uống rượu cần làm bằng ngũ cốc lên men được chiết từ các loại lá, vỏ, rể cây trong rừng, đậm đà, mà say tuý luý rượu đế, thậm chí khi không đủ tiền mua rượu đế thì pha cả cồn ra để uống. Thanh niên Tây Nguyên, vốn có cơ thể cường tráng và tuyệt đẹp, nay đang bị suy thoái cả về thể chất, sự suy thoái nòi giống sẽ không còn xa.

6 – Cảnh báo sớm của một nhóm nghiên cứu về tình hình Tây Nguyên.

Năm 1997, một nhóm nghiên cứu thuộc Viện Dân tộc học Việt Nam gồm các tác giả Vũ Đình Lợi (nay đã mất), Bùi Minh Đạo và Vũ Thị Hồng đã hoàn thành một công trình có tên là Sở hữu và sử dụng đất đai ở Tây Nguyên, được giáo sư Đặng Nghiêm Vạn viết lời giới thiệu vào năm 1999, và ấn hành tại nhà xuất bản Khoa học Xã hội vào năm 2000. Sau khi đã trình bày các dữ liệu, phân tích toàn diện và tỉ mỉ tình hình đất và rừng ở Tây Nguyên từ sau năm 1975, các tác giả đã đưa ra lời cảnh báo mạnh mẽ như sau :

“Sẽ là không quá sớm khi đưa ra lời cảnh báo rằng nếu không kịp thời có giải pháp khắc phục những khiếm khuyết của quá trình khai thác và sử dụng đất đai thì “vấn đề dân tộc” sẽ rất có thể phát sinh trong thực tế nay mai ở Tây Nguyên, chí ít là mất ổn định, nghiêm trọng là máu lại đổ, với sự can thiệp vừa kín đáo, vừa trắng trợn của kẻ thù dưới chiêu bài bảo vệ người dân tộc, bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Một khi vấn đề dân tộc và tôn giáo quyện vào nhau thì nguy cơ tới thật khó lường”.

Đây thật sự là một lời cảnh báo đầy trách nhiệm, trung thực, dũng cảm và đã được chứng tỏ là hoàn toàn chính xác. Rất tiếc là nó đã hoàn toàn bị bỏ ngoài tai, thậm chí cả sau khi những điều cảnh báo đã thành hiện thực!

Như vậy, sau hơn 30 năm triển khai, hai mục tiêu chiến lược được đề ra từ đầu đối với Tây Nguyên đã không thực hiện được. Tây Nguyên đã trở thành một vùng mất ổn định nhất trong cả nước ; và việc xây dựng một vùng trọng điểm phát triển kinh tế trên một cơ sở mất ổn định như vậy chắc chắn không thể bền vững. Lãnh thổ tuy có được phát triển – cũng là một cách méo mó – nhưng chủ nhân của lãnh thổ thì bị bần cùng hoá và bế tắc. Tìm một con đường khắc phục những thực trạng đó hiện nay ở Tây Nguyên đã trở nên rất khó khăn.

4. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở TÂY NGUYÊN

4.1 Phát triển bền vững là yêu cầu sống còn đối với Tây Nguyên.

* Hơn ở bất cứ nơi nào khác, phát triển bền vững là yêu cầu sống còn đối với Tây Nguyên.

Không thể nhìn và xử trí đối với Tây Nguyên tách rời với tất cả các vùng xung quanh và với cả nước. Tây Nguyên là mái nhà của toàn bộ nam Đông Dương, chi phối có tính quyết định về nhiều mặt đối với toàn bộ khu vực rộng lớn này, ảnh hưởng nặng nề và sâu sắc đến sự an toàn về khí hậu, môi trường, sinh thái… cho đến ổn định xã hội ở toàn vùng này.

Xây dựng Tây Nguyên thành một trong những vùng trọng điểm kinh tế là đúng, nhưng không thể phát triển kinh tế ở Tây Nguyên với bất cứ giá nào. Tây Nguyên có nhiều tiềm năng về cây công nghiệp, đặc biệt là cây cao su và cà phê, nhưng tiềm năng đó không phải là vô tận. Cho đến nay, Tây Nguyên đã bị khai thác quá mức. Ngay bây giờ, tác hại của việc mất gần hết rừng Tây Nguyên đã khá rõ rệt. Chắc chắn trong những thiên tai lũ lụt ngày càng lớn, càng dữ, càng dày ở vùng Nam Trung Bộ, Đông và Tây Nam Bộ có phần nguyên nhân quan trọng từ rừng Tây Nguyên bị tàn phá đến kinh hoàng. Một số dự án lớn đang tiếp tục đe dọa nghiêm trọng Tây Nguyên, như dự án khai thác bauxit ở các tỉnh Đắc Nông, Lâm Đồng, Kontum từ nay đến năm 2025, chắc chắn sẽ vĩnh viễn bóc sạch và san phẳng rừng ở nhiều vùng rộng lớn thuộc các tỉnh này; chúng ta sẽ chỉ còn một vùng đất nham nhở và khô cằn ngay trên đầu nguồn nhiều con sông quan trọng của Nam Trung Bộ và Nam Bộ, kể cả sông Sài Gòn. Về lâu dài, nguy cơ Tây Nguyên bị đá ong hoá, sa mạc hoá là viễn cảnh thực tế, hầu như không thể tránh nếu cứ tiếp tục đà này, và sẽ là tai họa khó lường cho cả vùng nam Đông Dương rộng lớn.

Thật sự có một câu hỏi lớn cần trả lời: ở Tây Nguyên giữa phát triển và bảo tồn, bên nào nên trọng bên nào nên khinh? Nếu phát triển ở Tây Nguyên mà không coi trọng bảo tồn, thậm chí lấy bảo tồn làm chính, thì sẽ không xa lắm khi đến một lúc không còn gì để phát triển nữa. Tiềm năng về nhiều mặt của Tây Nguyên là lớn, nhưng tiềm năng ấy không vô tận. Lại cũng không thể tính toán các kế họach phát triển ở Tây Nguyên tách rời các mối quan hệ hữu cơ có tính quyết định của Tây Nguyên đối với các vùng chung quanh. Một ví dụ rất cụ thể : cách đây 30 năm trong chương trình hợp tác với khối SEV, đã có kế hoạch khai thác quặng bauxit có trữ lượng khá lớn và chế biến nhôm ở Tây Nguyên, nhưng sau một thời gian khảo sát chính các chuyên gia Liên Xô, Hungari, Ba Lan… đã khuyên cáo không nên làm nữa, vì sẽ gây tàn phá lớn đối với môi trường ở Tây Nguyên và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường ở Nam Trung Bộ. Đến nay dự án khai thác bauxit mấy chục năm trước lại đang được vực dậy. Với kế hoạch to lớn này, chắc chắn chúng ta sẽ hoàn thành việc phá tan môi trường Tây Nguyên và hủy hoại cả môi trường không chỉ Nam Trung Bộ mà cả một khu vực không nhỏ ở Nam Bộ. Kế hoạch gọi là hoàn thổ, trồng lại rừng trên vùng rừng đã bị phá sạch và bóc lên để khai thác quặng bauxit… của các nhà đầu tư chỉ là một thứ lý thuyết suông, nói cho qua chuyện, cho được việc, nhắm mắt lại mà làm, hết sức vô trách nhiệm, và chắc chắn sẽ để lại hậu quả đến mức thảm họa cho tận mai sau.

Giữ gìn môi trường Tây Nguyên là vì chính lợi ích của phát triển không chỉ của Tây Nguyên hôm nay, và mai sau.

* Tây Nguyên là vùng đặc biệt nhạy cảm về mặt dân tộc. Như đã thấy ở trên, những điều kiện đặc thù của Tây Nguyên về địa lý, lịch sử đã khiến Tây Nguyên có nhiều điểm khác với các vùng dân tộc khác trong cả nước. Những nghiên cứu về các đặc điểm này cho đến nay không ít, nhưng quả thật đã không hề được quan tâm trong khi hoạch định các chủ trương, chính sách từ lớn đến nhỏ đối với Tây Nguyên. Chúng ta thật sự đã hành động ở Tây Nguyên giống hệt như ở bất cứ vùng nào khác trong cả nước, chẳng hề khác chút nào với ở các vùng người Việt, và điều đó đã để lại những hậu quả nặng nề. Đến nay cách hành xử này cũng chưa có thay đổi gì đáng kể. Trong nhiều dự án lớn đang và dự tính triển khai ở Tây Nguyên, như dự án gọi là “Thiên đường cà phê”, dự án khai thác bauxit…, rất đáng kinh ngạc là hầu như không hề thấy tính đến mặt xã hội, không hề chú ý đến việc Tây Nguyên là một vùng dân tộc rất đặc thù, đặc biệt không hề quan tâm đến những chủ nhân lâu đời là các dân tộc bản địa Tây Nguyên, truyền thống lịch sử và văn hoá của họ, lợi ích của họ, việc họ chấp nhận các dự án đó như thế nào, chúng sẽ ảnh hưởng tích cực, tiêu cực đến họ ra sao. Không hề thấy có dự án nào đưa người dân tộc bản địa tham gia như một chủ thể quan trọng của dự án. Họ hầu như hoàn toàn bị gạt ra ngoài, may lắm cũng chỉ có thể trở thành những người làm thuê khốn khổ cho những chủ nhân mới. Chắc chắn những dự án như vậy khó lòng thành công, nếu không nói rất có thể đến một lúc nào đó chúng sẽ bị chính những chủ nhân lâu đời của vùng đất này phản ứng, chống lại và huỷ hoại.

Như vậy không chỉ môi trường tự nhiên mà cả môi trường xã hội, cụ thể là vấn đề dân tộc, là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với sự phát triển bền vững ở Tây Nguyên.
* Về lâu dài hơn, cũng không thể không tính đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu đến nay không còn là dự báo mà đã là một thực tế, với mực nước biển dâng cao và Việt Nam sẽ là một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nhất, sẽ mất nhiều vùng đồng bằng quan trọng. Trong điều kiện đó, Tây Nguyên sẽ là vùng đất dự trữ cho cả nước. Đây cũng là một tham số quan trọng trong các bài toán lớn nhỏ về Tây Nguyên hiện nay và sắp đến.

4.2 Đất, Rừng và vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên.

Như đã thấy, vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên liên quan chặt chẽ với vấn đề đất đai (ở đây tức là rừng), và làng, quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng. Làng bị vỡ do mất đi nền tảng là quyền sở hữu ấy, tất xã hội sẽ rối loạn. Vấn đề đất và rừng, và trên nền tảng đó sự tan rã của làng, đã trở thành vấn đề dân tộc, và trên một vùng đất có nhiều đặc trưng về nhiều mặt như thế này, nếu vấn đề dân tộc không yên thì không thể có ổn định xã hội. Mầm mống mất ổn định nhất định sẽ âm ỉ lâu dài, và có thể bùng nổ bất cứ lúc nào. Vì vậy, muốn khôi phục ổn định ở đây, nhất thiết phải tìm mọi cách trả lại đất và rừng cho làng, khôi phục lại làng. Xã hội chỉ có thể ổn định khi tế bào cơ bản của nó là làng ổn định. Tình hình hiện nay đã trở nên hết sức phức tạp do sự xáo trộn tự chúng ta gây ra suốt hơn 30 năm qua.

Có một hiện tượng có thể rất đáng chú ý, nhưng lại không được các cơ quan làm chính sách, kể cả Ban Chỉ đạo Tây Nguyên hiện nay quan tâm : Kontum hiện là tỉnh có tỷ lệ phát triển đạo Tin lành vào loại cao nhất trên Tây Nguyên, nhưng lại là tỉnh có tình hình xã hội tương đối ổn định, trong mấy cuộc bạo loạn vừa qua không có vấn đề gì lớn. Vì sao ? Rất có thể chính vì ở Kontum người dân tộc bản địa còn đến trên 50 % trong dân số, việc người dân tộc bản địa mất đất vào tay người nơi khác đến không nghiêm trọng bằng các nơi khác, mâu thuẫn dân tộc chưa quá nặng nề. Rừng ở đây cũng vào loại còn khá nhất, một số khu rừng nguyên sinh rộng lớn còn được giữ khá tốt. Làng chưa bị tan rã hoàn toàn. Phải chăng đây là một bài học thực tế rất đáng để suy nghĩ.

Vậy nên bằng mọi cách trả lại rừng cho làng, để khôi phục lại làng, trước mắt và lâu dài, là con đường duy nhất để dần đi đến ổn định tình hình và phát triển ở đây. Có thể có những câu hỏi:

Làng có còn để được trả lại đất và rừng không? Lấy đất, rừng ở đâu để trả lại cho làng? Và bằng cách nào ? Tây Nguyên đương nhiên cũng không thể đứng ngoài sự phát triển chung trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá của cả nước, vậy trong quá trình đó làng sẽ biến đổi như thế nào, xã hội này sẽ biến đổi như thế nào?

Quả thực đây là những câu hỏi rất khó, vừa do những sai lầm kéo dài của chúng ta, vừa do sự thúc đẩy của phát triển tất yếu ngày nay. Giải quyết tình hình Tây Nguyên hiện nay, theo chúng tôi, cần một sự nghiên cứu vừa cơ bản vừa cấp bách, một quyết tâm và tận tuỵ rất lớn, thậm chí còn khó hơn cả những thời kỳ khó khăn, ác liệt nhất trong chiến tranh trước đây. Không thể có một giải pháp chung, đơn giản, tức thì. Tuy nhiên có thể có một số điểm chung và cơ bản cần khẳng định :

Một là, bất chấp tất cả, làng vẫn còn, thực thể làng vẫn còn. Ở những vùng như miền núi các tỉnh Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ, hoặc một số vùng ở Kontum, do địa hình tương đối hiểm trở, người Kinh đổ lên trong những năm qua không quá nhiều, làng của người dân tộc bản địa còn khá nguyên vẹn. Ở những vùng khác, dầu cơ cấu của làng đã trở nên phức tạp hơn nhiều, trộn lẫn người nhiều dân tộc khác nhau trong một làng, nhưng thực thể làng bản địa tuy âm thầm mà vẫn còn, bằng chứng chính là dấu hiệu bộc lộ trong một số cuộc biểu tình vừa qua: người ta đi biểu tình từng làng (người bản địa) chứ không bao giờ đi xé lẻ. Tức thực thể cộng đồng làng vẫn sống một cách thật mạnh mẽ, tuy buộc phải âm thầm. Vậy vẫn còn làng để cho chúng ta trả lại đất và rừng, khôi phục lại tế bào cơ bản này của xã hội.

Ở Tây Nguyên hiện nay đất đai đã vào tay người Kinh rất nhiều, không thể động đến phần đất này, sẽ có thể gây ra rối loạn khác. Tuy nhiên đến nay vẫn còn 40% đất và rừng trong tay các nông trường, lâm trường quốc doanh, những nông, lâm trường này phần lớn làm ăn không hiệu quả, liên tục thua lỗ, cũng không giữ được rừng. Vậy tức là còn đất và rừng có thể lấy lại để trả cho các làng.

Trả cụ thể như thế nào, đương nhiên không thể có một cách thức chung, phải dựa vào dân trong từng trường hợp cụ thể mà giải quyết. Kinh nghiệm ở miền núi Quảng Nam cho thấy khi người dân đã biết và tin ở chủ trương trả lại đất và rừng cho làng thì họ sẽ chủ động nghĩ ra và bày cho ta giải pháp thích hợp nhất trong từng trường hợp cụ thể, kể cả cách thức quản lý rừng và làng sau khi rừng được trả. Vấn đề cốt yếu ở đây là thật sự trao lại quyền tự chủ cho người bản địa, không ai có thể hiểu tình hình cụ thể và biết cách gỡ rối cụ thể hơn họ.

Về việc trả rừng cho làng có hai điều cần chú ý:

Lâu nay vẫn có việc gọi là “giao rừng cho dân”, dân được giao giữ rừng, 1 hecta rừng mỗi năm trước đây được trả 50.000 đồng, nay là 100.000 đồng, nhưng đấy là nhà nước thuê dân giữ rừng cho nhà nước, chứ không thật sự là trả quyền làm chủ rừng cho dân, chính do đó mà rừng vẫn mất. Người ta chỉ giữ đến cùng cái gì thật sự là của người ta. Trả rừng phải là trả quyền sở hữu thật sự và toàn vẹn của tập thể cộng cồng làng đối với đất và rừng.

Thứ hai: không gian sinh tồn của làng ở Tây Nguyên, như đã nói, gồm ít nhất cả bốn loại rừng : rừng đã biến thành đất thổ cư, rừng làm rẫy, rừng sinh hoạt và rừng thiêng, không có đủ bốn loại rừng ấy thì làng không thể tồn tại như một đơn vị xã hội hoàn chỉnh. Giao cho làng Tây Nguyên chỉ một miếng đất để ở và một khoảnh đất để làm một cái rẫy thì chẳng nghĩa lý gì cả, làng sẽ cằn cỗi và chết.

Ở Quảng Nam trong một số năm qua đã thí điểm trả rừng cho làng. Rừng được trả triệt để, gồm đủ các loại rừng theo truyền thống, và trở thành tài sản thực sự của làng : kiểm lâm chỉ quản lý rừng về mặt sinh thái, quyết định cây nào đến đúng tuổi nào mới được chặt, nhưng chặt hay không, chặt cây nào là quyền của làng. Nhà nước muốn lấy một cây trong rừng thì phải hỏi mua của làng và được làng đồng ý, thuận mua vừa bán. Làng được quản lý theo một hương ước được thoả thuận giữa chính quyền, tổ chức Đảng và Hội đồng Già làng. Kết quả đầu tiên sau hai năm thí điểm : làng đã giữ được rừng nguyên vẹn, tuyệt đối không mất một cây gỗ nào, điều tất cả các chủ sở hữu trước đây (quân đội, nông trường, lâm trường, kiểm lâm…) đều bất lực. Vấn đề tiếp theo hiện nay là phải xác định được quy chế hưởng lợi của người dân làng đối với rừng đã được giao trả ; và dân làng sẽ làm ăn khá giả lên như thế nào trên tài sản rừng nay đã thuộc về mình. Xa hơn nữa là vấn đề Tây Nguyên, cơ cấu xã hội của nó, làng Tây Nguyên, đất và rừng Tây Nguyên, con người Tây Nguyên… sẽ chuyển động như thế nào trong chuyển động chung của cả nước trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay ? Tất nhiên đấy còn là những bài toán rất khó, song có một nguyên tắc : chính chủ thể con người Tây Nguyên sẽ tự mình tìm ra lời giải cho những bài toán ấy trong thực tế, chứ không phải những tổ chức áp đặt từ bên ngoài vào có thể “sáng suốt” nghĩ thay, làm thay.

Vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên, cũng như ở nhiều dân tộc khác trong cả nước trước nay, theo một cách nào đó chính là vấn đề thực sự tôn trọng các dân tộc bản địa, chống lại tư tưởng dân tộc lớn dưới mọi hình thức từ thô lỗ đến tinh vi, thực sự tin và kiên quyết trao quyền tự chủ cho người bản địa, trao quyền làm chủ, tôn trọng và tin tưởng ở sức sống và sức tự chủ, sức tự phát triển của xã hội và con người ở đây. Được trả lại quyền tự chủ thật sự – cụ thể là quyền sở hữu đất đai theo truyền thống – xã hội Tây Nguyên sẽ tự minh tìm được con đường, dẫu còn rất khó nhọc, cùng cả nước đi lên trong công cuộc phát triển chung. Mọi toan tính kiểu khác đều tất yếu thất bại, như thực tế mấy chục năm qua đã chứng minh.

4.3 Một tầng lớp trí thức mới cho Tây Nguyên

Như đã thấy ở trên, trong suốt lịch sử lâu dài, xã hội Tây Nguyên đã được quản lý, điều hành hiệu quả, tồn tại và phát triển bền vững trải qua bao nhiêu thách thức lớn nhỏ bằng một cơ chế truyền thống độc đáo, xem ra là “thông minh” nhất trong điều kiện đặc trưng về nhiều mặt của vùng đất và người này. Trong cơ chế quản lý và điều hành đó nổi bật lên vai trò của già làng. Một trong những sai lầm quan trọng và tai hại nhất của ta trong thời gian qua là chúng ta đã không nghiên cứu, thấu hiểu, tôn trọng, tận dụng, đề cao lực lượng có ý nghĩa quyết định này, thậm chí còn muốn xoá bỏ, không công nhận, hạn chế uy tín và vai trò của họ… Gần đây, sau một số biến động, giật mình nhìn lại, mới có một số hoạt động nhằm tỏ ra tôn trọng, đề cao các già làng : mời ra trung ương gặp các vị lãnh đạo này nọ v.v… Những việc ấy cũng là cần, và cũng có tác dụng nhất định. Nhưng có chỗ cần suy nghĩ : những già làng này hiện nay còn thật sự có vai trò, vị trí dẫn dắt cộng đồng như trước đây không ? Nhất là trong tình hình hiện nay và trong phát triển tất yếu của Tây Nguyên sắp tới ? Vậy nên cần nghiên cứu kỹ già làng ở Tây Nguyên thực chất là ai ? Vì sao họ có thể có vai trò lớn như đã thấy?

Như đã nói ở phần trên, già làng chính là những người có tri thức toàn diện nhất, uyên bác nhất, tích tụ được nhiều kinh nghiệm nhất trong đời sống giữa một thiên nhiên vừa bao dung vừa khắc nghiệt, giữa một xã hội vừa hài hòa vừa gay gắt là xã hội Tây Nguyên trải qua các chuyển biến lịch sử, lại là những người có đức độ cao, là những bậc hiền triết của làng. Người Pháp dịch “Hội đồng già làng” là “Conseil des sages”, Hội đồng của các bậc hiền nhân. Cũng cần chú ý, gọi là già làng nhưng già làng không nhất thiết là người cao tuổi nhất trong làng. Ông Núp ở làng S’tơr, ông Mết ở làng Xóp Dùi, rất nổi tiếng, nhưng khi làm già làng cũng chỉ khoảng 30 tuổi. Tuổi tác không phải là tiêu chuẩn chính. Theo ngôn ngữ ngày nay, có thể gọi đó là những bậc trí thức của làng. Xã hội Tây Nguyên trong suốt lịch sử lâu dài đã được quản lý, điều hành hết sức hiệu quả bởi một tầng lớp trí thức độc đáo như vậy. Lớp “trí thức” đó, trong biến chuyển và đi tới của xã hội Tây Nguyên hôm nay vẫn còn có uy tín và sức tập họp nhất định, nhưng không còn đủ sức ứng phó với những thách thức mới. Vậy phải chăng có vấn đề : cần thiết đào tạo một tầng lớp trí thức mới để dắt dẫn xã hội này trong công cuộc phát triển mới hiện nay và tương lai?

Có thể đào tạo được một tầng lớp trí thức bản địa như thế không ? Có hiện tượng nhiều nhà giáo ở Tây Nguyên, qua kinh nghiệm thực tế của họ, cho rằng học sinh người dân tộc bản địa chỉ có thể học khá đến khoảng cấp 2, lên đến cấp 3 thì đuối. Có đúng thế không ? Chúng tôi không cho là như vậy, vấn đề có thể là ở sự cứng nhắc, giáo điều trong chương trình và cách dạy của chúng ta, không khai thác và phát huy đúng cách những thế mạnh của học sinh dân tộc bản địa. Vừa qua có một ví dụ cụ thể rất sinh động và thuyết phục : Cách đây vài năm, Viện Văn hoá Dân gian (nay là Viện Văn hoá) thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã mở một lớp thạc sĩ về văn hoá và dân tộc học cho 12 sinh viên cao học toàn người dân tộc bản địa Tây Nguyên, Ba Na, Ê Đê, Xơ Đăng, Mơ Nông, Hơ Re, Kơ Ho, Mạ v.v. Kết quả thật tuyệt: cả 12 người đều đạt xuất sắc, có người như chị Phạm Thị Trung, người Xteng, một nhánh nhỏ của dân tộc Xơ Đăng đã trình một luận văn tuyệt vời thậm chí rất hiếm được thấy ở một sinh viên cao học người Kinh. Trong quá trình học và làm luận văn, các sinh viên này đã phải tiếp xúc với các tác phẩm kinh điển của các nhà nhân học, dân tộc học hàng đầu thế giới, những C. Lévy-Strauss, E. Durkheim, A. van Ghenep, R. Tylor. G. Condominas, J. Dournes…, qua bản dịch và qua cả nguyên bản, họ đã tỏ rõ khả năng nắm vững các trí thức bác học cao nhất từng có, lại liên hệ vận dụng rất nhuần nhuyễn và sáng tạo vào thực tiễn xã hội của dân tộc mình, cả trong quá khứ và trong thách thức hiện tại, mà chắc chắn không ai hiểu sâu sắc được bằng họ… Rõ ràng có thể đào tạo một tầng lớp trí thức mới như vậy cho Tây Nguyên, nếu chúng ta có nhận thức đúng, có sự tận tụy, quyết tâm và kiên trì. Vai trò của cán bộ người Kinh, ở bất cứ cấp nào tại Tây Nguyên hiện nay không phải là làm thay, cũng không phải “cầm tay chỉ việc” như thường được nghe nói, mà là giúp tổ chức công việc đào tạo đó, cấp bách trước mắt, và lâu dài, một công việc có tính cách cơ bản và chiến lược. Phải tạo ra cho được một tầng lớp “già làng” kiểu mới của Tây Nguyên, và không cách nào khác, thực sự trao quyền giải đáp những bài toán lớn nhỏ của sự phát triển Tây Nguyên hiện nay vào tay họ. Đó là con đường duy nhất.

4.4 Tổ chức nghiên cứu Tây Nguyên.

Tất cả tình hình vừa qua chứng tỏ một vùng dân tộc đặc biệt như Tây Nguyên đòi hỏi một sự nghiên cứu có tính khoa học rất nghiêm túc, chặt chẽ, lâu dài, vừa cơ bản vừa cập nhật, để làm cơ sở cho mọi chủ trương, chính sách và việc làm lớn nhỏ của chúng ta ở đây. Quả thật chúng ta chưa triển khai được một công tác nghiên cứu như vậy, và một số công trình nghiên cứu của một số nhóm hoặc cá nhân các nhà nghiên cứu đã có, với những cố gắng đáng trân trọng, thì lại bị bỏ qua, hầu như hoàn toàn không được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và có trách trách nhiệm quan tâm, vận dụng. Có thể nói một cách không quá đáng, suốt hơn 30 năm qua – cũng chính là thời gian chúng ta triển khai những chủ trương chiến lược lớn trên vùng đất này – mọi việc làm của chúng ta đều khá tuỳ tiện, vội vã, dựa trên những cảm nhận bên ngoài hời hợt, chủ quan, kể cả khi tình hình đã trở nên rất bất ổn thì những ứng phó cũng là chắp vá, áp đặt, không thật sự tính đến những hệ quả lâu dài, không chịu quay lại tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa, không thèm nghe ý kiến tâm huyết của các chuyên gia. Những ứng phó như vậy có khi còn làm cho tình hình dẫu có thể tạm ổn trước mắt, trên bề mặt, nhưng về lâu dài, trong chiều sâu, lại càng xấu hơn, nặng nề, nguy hiểm hơn. Một số chủ trương mới rất lớn (chẳng hạn việc tận khai bauxit ở Đắc Nông và nhiều vùng khác tại Tây Nguyên) có thể mang tính chất phiêu lưu lớn, hậu quả về nhiều mặt thật khó lường…

Công tác tổ chức nghiên cứu cơ bản về Tây Nguyên do vậy là cấp bách.

Hiện nay và về lâu dài cần:

Thứ nhất: Tập họp các nghiên cứu của các nhà khoa học, các tổ chức trong nước đã có từ trước đến nay, trong đó rất cần chú ý đến một số nghiên cứu có giá trị và khá nghiêm túc của các tác giả miền Nam trong các thời kỳ (như các nghiên cứu của Toan Ánh, Nghiêm Thẫm…).

Thứ hai: Tổ chức dịch các công trình nghiên cứu của người Pháp về Tây Nguyên. Cho đến nay, những nghiên cứu tốt nhất, cơ bản, tương đối toàn diện, đồng thời chuyên biệt, chi tiết, sâu sắc nhất về Tây Nguyên là của các tác giả Pháp, bao gồm từ các nhà thám hiểm đầu tiên, đến các nhà truyền giáo, các nhà cai trị và các nhà khoa học. Các công trình này hoặc đã được in thành sách, hoặc còn nằm rải rác trong các tạp chí khoa học (như tạp chí BEFEO của Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp – đã được đưa lên mạng, tạp chí BAVH của Tổ chức Những người bạn của cố đô Huế…). Cần có một tổ chức chuyên tập họp và chăm lo việc biên dịch thành một tủ sách chuyên đề về Tây Nguyên, có thể đặt chẳng hạn tại một Trung tâm nghiên cứu ở một trường Đại học thuộc khu vực Miền Trung hay Tây Nguyên (có thể nên là ở Miền Trung vì nghiên cứu Tây Nguyên không thể tách khỏi nghiên cứu liên quan đến vùng duyên hải). Người Mỹ chưa triển khai nghiên cứu được bao nhiêu về Tây Nguyên, ngoài vài tác phẩm của Hickey, chủ yếu tập họp, cô động các công trình đã có của Pháp, có bổ sung thêm một số dữ liệu mới thời chiến tranh sau này. Cũng nên tổ chức dịch để tham khảo.

Thứ ba: Cần có một tổ chức nghiên cứu toàn diện và cơ bản song song với nghiên cứu những vấn đề cụ thể, cấp thời về Tây Nguyên, có thể thành một Viện Nghiên cứu Tây Nguyên thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Viện này sẽ là trung tâm nối liền các tổ chức nghiên cứu đã nói ở điều thứ nhất và thứ hai.

Thứ tư: Cần có ngay một bộ phận tư vấn khoa học bên cạnh Ban Chỉ đạo Tây Nguyên hiện nay, gồm các chuyên gia về Tây Nguyên, đặc biệt các chuyên gia là người dân tộc bản địa, không phải là không có và lâu nay chưa hề được dùng.

***

Vấn đề Tây Nguyên về nhiều phương diện là một vấn đề lớn lại có những đặc trưng riêng trong sự phát triển chung của cả nước. Vấn đề này vốn đã không hề đơn giản, nay đã càng trở nên hết sức phức tạp, khó khăn, có thể còn khó khăn lâu dài, với những diễn biến cũng có thể còn chưa lường được hết và còn bất ngờ. Song vấn đề cũng có thể trở nên đơn giản hơn, vẫn có thể có lối ra, nếu ta dám thật sự nhìn lại tình hình một cách khách quan, nhận ra sai lầm lớn lẽ ra hoàn toàn có thể không mắc phải nếu biết tôn trọng thực tế và biết lắng nghe, từ đó nghiêm túc xác định lại quan điểm đúng, để có cách nhìn và cách hành xử thích hợp, đặc biệt biết thật sự tôn trọng các dân tộc bản địa Tây Nguyên, một bộ phận tuy có đến chậm hơn nhưng từng gắn bó rất sâu sắc, có đóng góp hết sức to lớn trong tiến trình lịch sử gian nan mấy thế kỷ qua của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Ở Tây Nguyên nếu không thật sự đặt quyền lợi của các dân tộc bản địa lên trên hết, là mục tiêu hàng đầu của mọi kế hoạch phát triển, thì chắc chắn không việc gị có thể thành công, sẽ thất bại tất yếu, thậm chí có thể đi đến thảm họa.

Nhà Tây Nguyên học xuất sắc Jacques Dournes có một câu bất hủ khi nói về Tây Nguyên, ông viết : “Nếu phải hiểu để mà có thể yêu, thì lại phải yêu để mà có thể hiểu”. Đối với Tây Nguyên, cần một sự hiểu biết và một tình yêu đầy sự tôn trọng thật sự, một sự tôn kính chân thành và đấy ưu tư đối với một vùng đất và một vùng văn hoá vào loại độc đáo nhất còn lại trên đất nước ta và trên thế giới ngày nay.

Cần có một tình yêu đầy tôn trọng như vậy, để ra sức tìm hiểu sâu sắc vùng đất và người hết sức quan trọng và vô cùng đặc sắc này, từ đó mà có chủ trương và hành động đúng, mới mong có thể thoát ra khỏi bế tắc hiện tại, đưa Tây Nguyên vững chắc vào tiến trình phát triển chung của đất nước, vì Tây Nguyên, và vì cả nước.

Nguyên Ngọc
Nguồn: Diễn đàn Forum (http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/phat-trien-ben-vung-o-tay-nguyen)

CƠ CẤU CÂY TRỒNG Ở TÂY NGUYÊN

Nguyễn Văn Mễ

Cơ cấu cây trồng ở các tỉnh vùng Tây Nguyên với quan điểm phát triển bền vững .

DẠY VÀ HỌC. Đất rừng Tây Nguyên đang chuyển đổi nhanh chóng thành đất trồng cà phê, cao su và sắn. Vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên hiện đã thành vùng cao su, cà phê chủ yếu trong tổng diện tích cao su của cả nước năm 2010 là 740.000 ha và diện tích cà phê hơn 550.000 ha. Sản lượng sắn Tây Nguyên tăng đột biến gấp sáu lần trong vòng 10 năm từ 351.500 tấn năm 2000 lên 2.179.500 tấn năm 2010 do năng suất sắn tăng gấp đôi và diện tích sắn mở rộng từ 38000 ha năm 2000 lên 133.200 ha năm 2010. Sự cấp thiết phải soát xét, điều chỉnh, tổ chức, quản lý, quy hoạch phát triển trang trại hợp lý; xác định hệ thống cây trồng vật nuôi và quy trình kỹ thuật thâm canh thích hợp, bền vững cho mỗi cây trồng, vật nuôi tại từng tiểu vùng cụ thể. Hoàn thiện giải pháp tổng thể với quan điểm phát triển Tây Nguyên bền vững hài hòa lợi ích kinh tế, xã hội , văn hóa, môi trường. Trang DẠY VÀ HỌC xin giới thiệu bài Cơ cấu cây trồng ở các tỉnh vùng Tây Nguyên với quan điểm phát triển bền vững của ông Nguyễn Văn Mễ là Đại biểu Quốc hội khoá 11, nguyên Chủ tịch UBND, HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế. Bài này trong cụm bài Đối thoại chiến lược nông nghiệp mới  trên trang CÂY LƯƠNG THỰC để rộng đường dư luận. Mỗi bài trích dẫn đều thể hiện quan điểm riêng của tác giả và mong được đóng góp ý kiến.(sắn Eakar ĐăkLak ảnh Hoàng Kim ngày 2.6.2012).

Tất cả chúng ta đều nhận thức rõ vị trí Tây Nguyên trong chiến lược quốc phòng – an ninh của đất nước. Tuy vậy, Tây Nguyên còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế- xã hội của cả nước nói chung; của vùng duyên hải Trung Bộ, Đông Nam Bộ và của chính vùng Tây Nguyên nói riêng. Bài viết này không đề cập đến mọi khía cạnh của quan điểm phát triển bền vững mà chỉ xới ra một số vấn đề về bố trí cơ cấu cây trồng có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến yêu cầu bảo vệ rừng và nguồn nước, những yếu tố có tính sống còn đối với vùng cây công nghiệp và cây lương thực lớn nhất Việt Nam ; đồng thời là khu vực có nhu cầu ngày càng cao về nước cho sinh hoạt dân cư và sản xuất công nghiệp

Trước hết, Tây Nguyên là nơi xuất phát của nhiều con sông lớn đổ về đồng bằng sông Cửu Long như sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và tất cả các con sông vùng duyên hải từ Đà nẵng vào cực nam Trung Bộ. Nguồn nước cung cấp cho các con sông này đều gắn liền với ” kho nước ” Tây Nguyên,nơi có diên tích rừng tự nhiên chiếm gần 1/3 diện tích cả nước ( 2.846.500 ha/ 9529.400 ha ) ( 1 ). Nếu tính cả diện tích rừng tự nhiên của các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ và vùng Đông Nam bộ thì diện tích rừng có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước của 19 tỉnh , thành phố chiếm gần 50%. Diện tích rừng đang bị gặm nhắm với tốc độ ngày càng nhanh cả từ phía đồng bằng lên cũng như từ phía Tây Nguyên xuống; chưa kể sự phá hoại rừng theo kiểu da báo trong từng địa phương để đáp ứng yêu cầu của dân cư tại chỗ, của đông đảo người nhập cư và của cả những người có vốn đầu tư từ các đô thị nhắm tới vùng này như một ” thánh địa ” để kiếm cơ hội làm giàu từ các trang trại trồng cà phê, cao su và một số cây trồng có độ che phủ kém khác.

Trong cơ cấu cây trồng ở các tỉnh Tây Nguyên, diện tích trồng sắn chiếm một tỉ trọng lớn, chỉ sau cây lúa và tăng với tốc độ chóng mặt. Chỉ tính riêng các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đak Lak, Đak Nông; Lâm Đồng đã tăng từ 38000 ha ( năm 2000 ) lên 88.300 ha ( năm 2005 ) và 133.200 ha ( năm 2010), chiếm hơn 1/4 diện tích cả nước ( 133.200 ha/ 496.200 ha ) ( 2 ). Điều đáng lưu ý là diện tích dành cho việc trồng sắn trong thực tế lớn hơn con số này nhiều vì chỉ sau tối đa ba năm, khi năng suất giảm mạnh , người trồng sắn phải mở ra vùng đất mới để có thể duy trì qui mô sản xuất và đảm bảo thu nhập. Diện tích mở ra thường là những vùng rừng tự nhiên cận kề nương rẫy trồng sắn cũ và việc lấn dần theo kiểu ” tằm ăn dâu ” này đã làm mất đi hàng ngàn hecta rừng và phải nhiều năm sau số liệu rừng bị mất mới được phản ảnh trong thống kê của chính quyền các cấp. Trong số diện tích rừng bị lấn chiếm, có không ít vùng có độ dốc trên 30%, hoàn toàn không phù hợp với việc trồng sắn, vì phần đất màu mỡ sẽ nhanh chóng bị rửa trôi dẫn đến nguy cơ bị sạt lở đất , uy hiếp đến tính mạng, tài sản của đồng bào phần lớn cư trú ở vùng đất thấp hơn, ở các triền núi giáp thung lũng.

Nguyên nhân vì sao có sự phát triển mang tính đột biến của cây sắn? Có phải việc phát triển trồng sắn ở Tây Nguyên đã và đang có một tỉ lệ không nhỏ mang tính tự phát? Vì sao trong lúc nhiều quốc gia có sản lượng sắn lớn đã chủ động thu hẹp vùng sản xuất để chuyển sang nhập khẩu nguyên liệu sắn sơ chế, thì ở nước ta việc chuyển dịch cây trồng đang đi theo hướng ngược lại? Rõ ràng, chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp cả trước mắt và lâu dài đều đòi hỏi có sự xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng. Bên cạnh những mặt tốt về xây dựng mô hình sản xuất tập trung, chuyên canh để vươn lên trở thành nhà xuất khẩu cà phê, cao su hàng đầu thế giới thì công tác qui hoạch và quản lý qui hoạch về cây trồng ở các tỉnh Tây Nguyên đã bộc lộ sự bất cập. Mối quan hệ giữa các tỉnh Tây Nguyên với vùng duyên hải, vùng Đông Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh về qui hoạch vùng sản xuất và phân bổ các cơ sở chế biến không được điều tiết ở tầm vĩ mô, nên vùng Tây Nguyên bị tác động mạnh mẽ của ngoại lực để trở thành nơi cung cấp nguyên liệu cho hàng loạt nhà máy chế biến tinh bột mọc lên một cách ồ ạt ở các địa bàn lân cận. Chu kỳ canh tác ngắn; mức đầu tư thấp, lợi nhuận không cao nhưng có thể nhận được trong năm …là những tác nhân kích thích phong trào trồng sắn trong vùng đồng bào các dân tộc, vốn có truyền thống trồng và sử dụng lương thực từ sắn, chuyển từ giai đoạn tự cấp tự túc sang giai đoạn sản xuất” hàng hoá “.

Cũng trong chưa đầy 10 năm, diện tích trồng cao su ở 5 tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh Đông Nam Bộ cũng không ngừng mở rộng và trở thành vùng chuyên canh chủ yếu trong tổng diện tích hơn 740.000 ha của cả nước. Diện tích cà phê ở hai vùng này cũng chiếm phần lớn của tổng diện tích hơn 550.000 ha ( 3 ) . Không ít diện tích cao su, cà phê trồng mới cũng từ đất rừng chuyển đổi. Cơ cấu cây trồng ở vùng Tây Nguyên đã và đang có sự thay đổi mạnh mẽ, trong đó diện tích rừng , đặc biệt là rừng tự nhiên đang ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất lượng; thay vào đó là sự tăng trưởng không được kiểm soát tốt đối với diện tích trồng cây công nghiệp và các loại cây lương thực thực phẩm ngắn ngày khác, trong đó có cây sắn.

Sự giảm sút diện tích rừng gây ra hậu quả tức thì là sự suy giảm nguồn nước dự trữ và đáp ứng nhu cầu tại chỗ cũng như nguồn cung cấp cho sản xuất và đời sống dân cư ở vùng hạ lưu khu vực duyên hải Trung Bộ và Đông Nam Bộ, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh và vùng động lực phía Nam. Bài toán cân đối nguồn nước của toàn vùng chưa tìm được lời giải tối ưu vì có quá nhiều ẩn số, đòi hỏi phải lượng hoá sự sụt giảm do mất rừng và tính toán những tác động xảy ra do chế độ vận hành tài nguyên nước của hàng chục nhà máy thuỷ điện lớn, nhỏ.. đã làm cho lưu lượng nước chảy qua hệ thống sông ngòi trong khu vực sụt giảm nghiêm trọng. Tình trạng nước mặn xâm nhập sâu qua các cửa sông Thu Bồn, Vu Gia ở Quảng Nam và Đà Nẵng; sự thiếu hụt nước sinh hoạt đã xuất hiện ở Thành phố Buôn Mê Thuột và một số địa phương của hai tỉnh Gia Lai, Kon Tum là những chỉ báo không thể xem thường.

Đã đến lúc cần làm rõ quy hoạch, kế hoạch bố trí cơ cấu cây trồng và các cơ sở chế biến nguyên liệu trong từng địa phương gắn với toàn vùng Tây Nguyên; với các địa bàn lân cận cũng như với cả nước theo hướng ưu tiên bảo vệ rừng và giải quyết hài hoà, hợp lý mối quan hệ giữa các loại cây trồng dài ngày- trung bình và ngắn ngày; trong đó, cần xác định rõ phạm vi, giới hạn về mặt diện tích có thể chấp nhận được của cây cao su, cà phê và cây sắn . Quy hoạch đó phải được chi tiết hoá đến từng vùng, thậm chí đến từng thửa đât, kèm theo những qui định về áp dụng chế độ thâm canh, luân canh; chống xói mòn , bảo vệ đất. Mặt khác, cần có những giải pháp về tuyên truyền, giáo dục ; về các chế tài hành chính và luật pháp..được áp dụng một cách mạnh mẽ, đồng bộ trong công tác quản lý quy hoạch bố trí cơ cấu cây trồng nói chung và quản lý, bảo vệ rừng nói riêng. Đồng thời cũng cần làm rõ phạm vi quản lý, trách nhiệm của bộ máy nhà nước, của người sử dụng đất, của các chủ rừng; trong đó có trách nhiệm, quyền hạn của các cấp chính quyền địa phương; giám đốc các nông lâm trường; hợp tác xã..Kiên quyết không để tiếp tục xảy ra tình trạng ” lâm tặc ” và những người dân vì lợi ích ngắn ngày, đã và đang vô tình hay cố ý huỷ hoại diện tích rừng tự nhiên ít ỏi còn lại và gây ra sự giảm sút ” kho nước ” có liên quan đến sự phát triển bền vững sản xuất và đời sống của hàng chục triệu người vùng Tây Nguyên, duyên hải Trung Bộ, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ. Trước mắt, cần tập trung giải quyết những yếu kém, bất cập của việc phát triển khá nhanh nhưng thiếu tính vững chắc của vùng sắn nguyên liệu ở các tỉnh Tây Nguyên; từng bước sắp xếp lại các nhà máy chế biến tinh bột trong khu vực; cân nhắc kỹ chủ trương xây dựng các nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học từ sắn vì việc này làm tăng nguy cơ giảm sút diện tích rừng, vốn là giải pháp tối ưu để giải quyết khí thải độc hại./.

( 1 ), ( 2 ), ( 3 ) : Các số liệu dẫn chứng lấy từ Niên giám thống kê do Tổng cụ Thống kê phát hành năm 2005 và 2010.

(4) Những trang Hoàng Kim đăng bài này:
Tin Nông nghiệp Việt Nam
Dạy vả học Đại học Nông Lâm HCM
Dạy và học trên BlogtiengViet
(Bài đăng theo đúng bản email do tác giả gửi)

(5) Đôi nét về tác giả:
Nguyễn Văn Mễ tóm tắt tiểu sử đại biểu quốc hội
Dư địa chí Thừa Thiên Huế: Lãnh đạo UBND tỉnh các thời kỳ

(6) Bài liên quan
Đối thoại chiến lược nông nghiệp mới
CÂY LƯƠNG THỰC.  Nông nghiệp Việt Nam tuy đã có những bước tiến quan trọng nhưng nông thôn, nông dân vẫn là đối tượng khó khăn nhất, thiệt thòi nhất trong xã hội. Trọng nông (dĩ nông vi bản) lấy nghề nông làm gốc, phát triển bền vững kinh tế thị trường trên nền tảng lợi thế so sánh của nông nghiệp Việt Nam chứ không chạy theo sự phát triển nóng công nghiệp lắp ráp hoặc đầu tư tràn lan. Đó là điểm căn bản của tư duy chiến lược nông nghiệp mớiTiến sĩ Đặng Kim Sơn, Viện trưởng, Viện Chính sách Phát triển Nông nghiệp Nông thôn – cơ quan tham mưu chính cho Chính phủ trong việc hoạch định chiến lược nông nghiệp mới – nhấn mạnh: “Việt Nam có lợi thế so sánh về nông nghiệp, thì đây không chỉ là cơ hội mà là lối đi duy nhất để bước vào hàng ngũ một nước công nghiệp mới. Bây giờ chúng ta không thể nào nói về một ngành công nghiệp ô tô như Nhật Bản, hay một ngành công nghiệp điện tử như Hàn Quốc, hoặc thậm chí một công xưởng của thế giới như Trung Quốc. Bởi chúng ta làm gì cũng ở mức lắp ráp, và còn lắp ráp ở mức thấp nhất nữa. Trong khi đó, làm nông sản thì khác hẳn. Chúng ta có nguồn nguyên liệu, lại sát những thị trường lớn như Ấn Độ và Trung Quốc. Ngoài nông sản, hàng loạt các ngành công nghiệp đi cùng có thể phát triển. Đó là chưa nói tới chuyện Việt Nam cũng là thị trường lớn với gần 100 triệu dân, và chỉ riêng việc cung ứng đủ thị trường nội địa đã là một miếng bánh lớn với giá trị gia tăng rất cao.” (Hoàng Kim, dạy học CLT)

MottheheTayNguyenmoianhVCH

Một thế hệ Tây Nguyên mới (ảnh trong bài ‘Tây Nguyên của tôi‘ của Văn Công Hùng)
mời đọc bài viết trên trang chính của tác giả tại http://www.vanconghung.com/2014/01/tay-nguyen-cua-toi.html

NguyenNgocVanCongHung

Làng Rừng Tây Nguyên và Nước (Nguyên Ngọc, Văn Công Hùng: nhân chứng một thời)
Tây Nguyên đọc lại và suy ngẫm (*) Trong NGỌC CHO ĐỜI, Nguyên Ngọc đậy nắp quan tài định luận Nguyễn Khải: “Cách đây mấy tháng, lục lại một số tài liệu cũ, tôi tình cờ tìm thấy cái thiếp mời đám cưới của anh Khải và chị Bắc, một cái thiếp thời ấy in mực tím trên một mẩu giấy nhỏ bằng hai ngón tay. Tôi đã định mang tặng lại anh chị, vậy mà không kịp nữa rồi! Khải ơi, còn biết bao nhiêu kỷ niệm giữa chúng ta, cả yêu thương và giận hờn nhau nữa có lúc, đều quí vô cùng, vô cùng. Khải ra đi, hôm nay tôi chỉ viết được có mấy dòng này. Rồi thế nào tôi cũng còn phải viết về nhau nữa, bạn ạ. Mỗi chúng ta chỉ nhỏ nhoi thôi trong lịch sử rộng lớn. Nhưng, tôi tin vậy, những người sống trung thực, bao giờ cũng là một phần dù nhỏ nhưng không thể thiếu trong bức tranh toàn cảnh của cả một thời. Mà sự nghiệp sáng tác, cũng là tư tưởng của Khải, thì không nhỏ chút nào.”

Tôi lưu lại những bài văn không nỡ quên.

Hoàng Kim

 

Chaongaymoi

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Cá chết: Đọc lại và suy ngẫm

PGSTS NguyenHuuDungtraloiDanTri
PGS. TS Nguyễn Hữu Dũng (ảnh: LĐ) trả lời phỏng vấn báo Dân Trí vụ cá chết

ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM.

Hoàng Kim,
lắng nghe những tiếng nói phản biện và thơ cảm khái.

Báo Dân Trí : Vụ Formosa “Chưa đánh giá hết thiệt hại, bồi thường bao nhiêu mới thỏa đáng?” PGS. TS Nguyễn Hữu Dũng, nguyên Phó Chủ tịch Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP). Hiện ông đang là Phó trưởng ban thường trực của Ban vận động thành lập Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam (Vietnam Sea Farming Association), dự kiến sẽ thành lập trong một vài tháng tới. TS. Nguyễn Hữu Dũng kiến nghị “phải thẳng tay loại bỏ các dự án đầu tư nếu không đáp ứng được tiêu chí bảo vệ môi trường”.

Huỳnh Quốc Huy FB blog, Thấy gì qua cuộc họp báo nguyên nhân cá chết & lời xin lỗi bồi thường 500 triệu USD của Formosa ??? !!! một sự việc tương tự của Formosa trước đây đã xảy ra ở Cămpuchia, dân Campuchia không nhận sự bồi thường mà ” Formosa vĩnh viễn rút khỏi Cambodia.Vùng biển CHẾT ngày nào của họ, bây giờ chính là Khu du lịch biển đảo “5 sao” – Sihanukville – nơi mà hàng triệu du khách đến thăm thú và vui sướng “móc hầu bao” cho các dịch vụ, lên đến hàng trăm triệu USD mỗi năm…”

MatCaHongVungAng

MẮT CÁ HỒNG VŨNG ÁNG

Ảnh Thuận Nghĩa
Thơ Hoàng Kim

Tượng cá này bia miệng mãi khắc ghi
Kẻ thủ ác phải cúi đầu trước cá.
Tần Cối kia quỳ dưới mộ Nhạc Phi.
Formosa đã cúi đầu nhận tội.

Một đất nước trần mình ra bám biển.
Quê hương ơi xin hãy lắng nghe lời.
Biển cá chết và ngàn đời bia miệng
Mắt cá này khắc lại cháu con soi.

Lũ gian manh buông dao xin phục thiện.
Bọn quan tham bị nguyền rủa muôn đời.
Chén cơm máu chặn dân con đường sống.
Tham giàu nhanh, quả báo, có mà không?!

TanCoitruocmoNhacPhi
Keaccuidaunhantoi

Về sám hối đi ! Nơi này làm việc khác.
Giữ niềm tin, trời biển sạch, dân an
Bình minh đến rạng hồng trên bến mới
Khép chuyện buồn để lịch sử sang trang.

Bài cùng chủ đê
Đọc lại và suy ngẫm
https://hoangkimlong.wordpress.com/2016/07/01/doc-lai-va-suy-ngam-6/

TƯỢNG ĐÀI NÀY LỊCH SỬ MÃI KHẮC GHI

Hoàng Kim

“Formosa đã cúi đầu nhận tội.
Quê hương ơi xin hãy lắng nghe lời.
Một đất nước trần mình ra bám biển.
Mộ cá này khắc lại cháu con soi.

Biển cá chết và chuyện đời bia miệng.
Tần Cối kia quỳ dưới mộ Nhạc Phi.
Kẻ thủ ác phải cúi đầu trước cá.
Tượng đài này lịch sử mãi khắc ghi.

Lũ gian manh buông dao xin phục thiện.
Bọn quan tham bị nguyền rủa muôn đời.
Chén cơm máu chặn dân con đường sống.
Tham giàu nhanh, quả báo, có mà không?!

Về sám hối đi ! Nơi này làm việc khác.
Giữ niềm tin, trời biển sạch, dân an
Bình minh đến rạng hồng trên bến mới
Khép chuyện buồn để lịch sử sang trang.”

TanCoi

Tin nóng liên quan:

Formosa1
Formosa2

Đã xác định thủ phạm gây ra độc hại môi trường biển và tác nhân làm cá chết tại các tỉnh miền Trung
Thông cáo báo chí về nguyên nhân hải sản chết bất thường 4 tỉnh miền Trung (quochoi.org)
Bộ trưởng Trần Hồng Hà: Tôi vừa trãi qua 84 ngày căng thẳng nặng trĩu (VnExpress.net)

Vụ Formosa “Chưa đánh giá hết thiệt hại, bồi thường bao nhiêu mới thỏa đáng?”

Báo Dân trí 30.6.2016

Nói về việc Formosa sẽ chi 500 triệu USD để bồi thường thảm họa cá chết hàng loạt, TS Nguyễn Hữu Dũng cho rằng, do chưa có đánh giá nào về thiệt hại nên không thể kết luận về con số bồi thường. Ông Dũng cũng kiến nghị phải thẳng tay loại bỏ tất cả các dự án đầu tư nếu không đáp ứng được tiêu chí bảo vệ môi trường.

Như cam kết trước đó của Chính phủ, sau 85 ngày chờ đợi, chiều nay (30/6/2016), Văn phòng Chính phủ cùng với các bộ ngành cũng đã công bố rõ nguyên nhân gây ra hiện tượng cá chết và thủ phạm không ngoài dự đoán là Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa (Hà Tĩnh).

Phóng viên Dân Trí đã có cuộc trao đổi với PGS. TS Nguyễn Hữu Dũng, nguyên Phó Chủ tịch Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep). Hiện ông đang là Phó trưởng ban thường trực của Ban vận động thành lập Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam (Vietnam Sea Farming Association), dự kiến sẽ thành lập trong một vài tháng tới.

Thưa ông, với việc Chính phủ công bố nguyên nhân cá chết vào chiều nay, ông có đánh giá như thế nào?

Thời gian vừa qua, vấn đề này khiến không chỉ tôi mà người dân đều rất bức xúc. Bức xúc là vì không hiểu nguyên nhân cá chết hàng loạt xuất phát từ đâu. Tuy nhiên, bây giờ Chính phủ đã công bố nguyên nhân, công khai, minh bạch cả thủ phạm gây ra sự cố này, tôi cho đây là điều đáng hoan nghênh.

Formosa cam kết sẽ đền bù 500 triệu USD và cam kết khắc phục hậu quả. Mức đền bù này theo ông liệu rằng có xứng đáng? Và hậu quả đối với môi trường liệu có khắc phục được?

Cái mà tôi quan tâm trước hết ở đây không phải là chuyện đền bù. Cái mà tôi quan tâm là trong tương lai những sự việc như thế này có xảy ra nữa hay không và cơ chế nào để đảm bảo không còn tái diễn sự cố tương tự như vừa qua? Đấy là mới là điều cơ bản.

Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam đang được vận động để thành lập đại diện cho tiếng nói của các thành viên hiệp hội là các doanh nghiệp (DN) trong chuỗi nuôi biển và các chuyên gia, nhà khoa học cùng các tổ chức, cá nhân khác. Trong chuỗi nuôi biển, chẳng hạn chuỗi nuôi cá biển gồm doanh nghiệp sản xuất giống cá biển, DN sản xuất thức ăn cho nuôi cá biển, DN làm lồng bè nuôi cá biển, DN đóng tàu dịch vụ cho nuôi cá biển, DN tiến hành nuôi biển, DN thu gom, DN chế biến, DN thương mại và xuất khẩu. Đối tượng nuôi ngoài cá biển còn có rong biển, nhuyễn thể biển (nghêu, sò, ốc, hến…), giáp xác biển (các loại tôm cua), đặc sản biển (trai ngọc, cá cảnh, hải sâm, cầu gai…). Có đền nửa tỷ USD, nhưng nay mai nếu lại tái phạm, rồi lại phải mất tới 6 tháng, 1 năm mới tìm ra nguyên nhân thì sự đền bù đó cũng vô nghĩa, không giải quyết được gì. Cho nên, cái mà người dân quan tâm là sự bền vững của môi trường, sự đảm bảo của doanh nghiệp đối với môi trường biển.

Chúng tôi đang nỗ lực để thành lập Hiệp hội Nuôi biển, nhưng nếu môi trường biển không được ổn định, không được bảo vệ thì làm sao nuôi được!

Ở đây không phải chỉ có câu chuyện cá chết mà là hệ sinh thái dưới đáy biển của 3 tỉnh miền Trung từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên – Huế. Chưa cơ quan, tổ chức nào đánh giá được hết mức độ thiệt hại của hệ sinh thái biển ở những địa phương này.

Phải đánh giá được thiệt hại, từ đó mới ước tính được mức đền bù, mới biết bao nhiêu tiền thì có thể coi là thích hợp. Cá chết chỉ là bề nổi của tảng băng mà thôi. Thiệt hại của hệ sinh thái biển, đặc biệt là các hệ san hô, hệ rong biển, các hệ sinh vật biển… lâu hồi phục hơn rất nhiều so với chuyện cá chết.

Khi chưa đánh giá được hết thì chưa có cơ sở để kết luận Formosa phải đền bù bao nhiêu thì thỏa đáng.

Vậy để có được sự công bằng thì cần làm gì thưa ông?

Công bố nguyên nhân cá chết là một chuyện. Bây giờ sau khi đã công bố thì phải có được kết quả đánh giá một cách khoa học về mức độ thiệt hại đối với hệ sinh thái và tài nguyên sinh vật biển ở 3 tỉnh đó (chưa cần đến những nơi khác), rồi mới nói đến chuyện đền bù.


Siêu dự án 10 tỉ USD Formosa chưa vận hành chính thức nhưng đã gây ra sự cố môi trường mang tính thảm họa tại ven biển một số tỉnh miền Trung

Formosa – siêu dự án này được coi là động lực phát triển của một tỉnh nghèo là Hà Tĩnh, nhưng hậu quả môi trường lại quá nặng nề. Nên chăng đã đến lúc chúng ta phải nghiêm túc nhìn nhận lại, phải thay đổi không chỉ là thái độ mà còn phải là sự kiên quyết trên thực tiễn trong vấn đề thu hút đầu tư FDI?

Trước hết phải nhận thức rằng, hoạt động kinh tế và đầu tư là việc ngắn hạn hơn rất nhiều so với bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường là công việc dài hạn, cho nên nếu chỉ chú ý đến khía cạnh kinh tế, trong đó có thu hút đầu tư thì sẽ phải gánh hậu quả môi trường rất kinh khủng.

Cho nên cần phải có chính sách về bảo vệ môi trường trước khi có đầu tư. Chính quyền nên đặt việc bảo vệ môi trường lên trên hết chứ không phải vì thu hút vốn nước ngoài vào mà châm chước đi câu chuyện môi trường. Chúng ta không nên đánh đổi môi trường để lấy đầu tư và tăng trưởng trong ngắn hạn.

Tôi chưa muốn nói về thời gian thuê đất rồi vấn đề tuân thủ nghĩa vụ nộp thuế… nhưng trước hết, doanh nghiệp đã đầu tư vào thì không được ảnh hưởng đến môi trường.

Câu chuyện ở đây không chỉ dừng ở vấn đề con cá chết mà là môi trường biển, là hàng triệu con người sống ven biển, sống nhờ vào biển, trong đó bao gồm cả hạt muối bé xíu mà chúng ta ăn.

Quan niệm của tôi đó là, tiêu chí bảo vệ môi trường phải là điều kiện tiên quyết cho mọi khoản đầu tư, kể cả của nước ngoài lẫn của Việt Nam. Có nghĩa là, điều kiện trước tiên để chấp nhận một dự án đầu tư là phải đảm bảo yếu tố môi trường, chứ không phải là sự lựa chọn “hoặc là cá, hoặc là thép”. Phải có cơ chế và tiêu chí cụ thể để loại bỏ thẳng thừng những dự án đầu tư gây hại đến môi trường, tránh cho tương lai phải đối mặt thêm với những “Formosa” khác.

Ghi nhận với phóng viên Dân Trí, ông Nghiêm Xuân Đa, Tổng giám đốc Tổng công ty Thép Việt Nam (VNSteel) cho rằng, dù thời gian công bố kết quả nguyên nhân cá chết bị kéo dài song trong công tác tìm kiếm nguyên nhân, Chính phủ đã tiến hành khẩn trương và quyết liệt.

Sự kiện này, theo ông Đa, là “hồi chuông cảnh tỉnh” với tất cả các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, đặc biệt là những doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp hoạt động trong những ngành nghề nhạy cảm với môi trường phải có ý thức hơn trong công tác bảo vệ môi trường. Đồng thời, cũng đặt ra yêu cầu với cơ quan quản lý, chính quyền địa phương siết chặt hơn nữa công tác giám sát môi trường, tạo niềm tin cho người dân.

Việc xử lý hậu quả với sự cố này là vô cùng cấp thiết, nhưng bởi “sự đã rồi” nên chỉ có thể khắc phục được phần nào mà thôi. Hậu quả rất nhiều và còn rất dai dẳng trong tương lai, không thể ngày một ngày hai có thể giải quyết được.

Chính vì vậy, theo ông Đa, rút kinh nghiệm “xương máu” từ thảm họa môi trường này, trong công tác thu hút dự án đầu tư FDI, cần tăng cường hơn nữa khâu thẩm định. Khi thẩm định những dự án lớn, liên ngành, liên vùng thì cần phải do trung ương thực hiện, từ đó xem xét, phê duyệt chứ không nên giao cho các địa phương. Phân cấp tuy có lợi nhưng các dự án lớn thì không nên trao toàn quyền định đoạt cho phía địa phương.

Bích Diệp (thực hiện)

NghecaHaTinh

Thấy gì qua cuộc họp báo nguyên nhân cá chết & lời xin lỗi bồi thường 500 triệu USD của Formosa ??? !!!
Huỳnh Quốc Huy FB blog (bài và ảnh)

Thấy Đảng và Chính phủ đã quá “tài ba”, sau gần 03 tháng mới đưa ra được nguyên nhân thảm họa môi trường khủng khiếp nhất trong cả lịch sử dân tộc; ảnh hưởng đến hàng chục triệu dân lành. Mà, cách đảng và chính phủ đưa ra nguyên nhân và hướng xử lý.. cũng rất là HAY HO: Mở họp báo chúng với THỦ PHẠM & để cho thủ phạm “diễn” một cách đầy xúc động, chân thành, đẹp đẽ, sáng ngời… sau khi hứa hẹn bồi thường thiệt hại 500 triệu USD sau khi đã GIẾT BIỂN – GIẾT CÁ – GIẾT LẦN GIẾT MÒN DÂN TỘC VIỆT !

CÓ MÙI TANH TƯỞI !!!

Buổi họp báo vừa rồi rất “fishy” (nghĩa là: có mùi, tanh tưởi… Từ tiếng Anh này tự nhiên thật hợp!)

Nó giống như một sân khấu của Formosa, mà dù Formosa là thủ phạm bị “kết án”, đã được ưu ái dành rất nhiều “đất diễn” của mình. Nội cái video xin lỗi, được edit kỹ càng, chạy dub, chạy sub song ngữ chỉ vài tiếng đồng hồ trước, và trang trọng chiếu lên màn hình, nói cho toàn thể nhân dân Việt Nam nghe, nó làm mình có cảm giác Chính phủ đã làm việc cùng Formosa rất chặt chẽ để tổ chức buổi họp báo này. Không biết có ai cùng cảm giác không?

500 triệu đô, là mức phạt mà cơ quan nhà nước đưa ra, HAY là mức mà Formosa đã đề nghị và được chấp thuận? Bằng cách nào và ai đã tính toán được thiệt hại này? Tìm ra nguyên nhân thì quá lâu, trong khi tính toán thiệt hại (vốn cực kỳ phức tạp) thì lại quá vội vàng? Lộ trình như thế nào, 500 triệu đô trong 70 năm hay sao?

Một cái khó hiểu nữa là tại sao Chính phủ lại dùng quá nhiều từ “đấu tranh” khi nói về quá trình xác định, điều tra nguyên nhân cá chết? Đấu tranh là từ để nói về sự đối đầu của hai bên. Mình không hiểu, “đấu tranh” cái gì, với ai?

Một phần số tiền là để “hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp”, xin hỏi, ngư dân nhà ngay đó, giờ không đánh cá thì làm gì, HAY LÀ sang làm công nhân cho Formosa? 500 triệu đô, không hề là một con số thuyết phục.

Khúc ruột miền Trung, biển Việt Nam, mơ hồ được cầm cái bánh vẽ chẳng biết khi nào được ăn, ăn để làm gì và nuốt có trôi không? Nhiều câu hỏi quá.

AI THÔNG MINH HƠN HỌC SINH LỚP 5? 

Cùng TUI mần vài bài toán tiểu học nghen:

Formosa sẽ bỏ ra số tiền 500 triệu Đô la để “khắc phục hậu quả” thảm họa môi trường, đang ảnh hưởng đến sinh kế và sinh mạng của khoảng 10 triệu dân. Quá trình này dự kiến có thể kéo dài ngắn nhất là trong 10 năm (ở Nhật Bản, thảm họa tương tự của họ phải khắc phục suốt 50 năm).

Như vậy:
1. Với 500 triệu Đô-la chia cho 10 năm => Mỗi năm Formosa chỉ chi ra 50 triệu Đô-la; mỗi tháng chỉ hơn 4 triệu Đô-la; mỗi tuần chỉ tốn hơn 1 triệu Đô-la (Tức hơn 20 tỷ VND)… 

So với đầu tư xây dựng (gàn 1 tỷ USD) & chi phí vận hành (hàng trăm triệu USD mỗi năm) để có một Hệ thống xử lý chất thải độc hại chết người đúng tiêu chuẩn AN TOÀN – cho một dự án Tỷ Đô… chi phí ấy là quá RẺ – quá HỜI.
Sau 10 năm; dĩ nhiên là có thể họ chẳng cần phải chi đồng nào nữa rồi vì biển chết – dân chêt – dân tỵ nạn môi trường hết rồi… Còn lại 60 năm GIẤY PHÉP ĐẦU TƯ… tha hồ mà VƠ VÉT.

QUÁ SƯỚNG…!!!

2. Với 50 triệu Đô-la chia tiếp cho 10 triệu người dân => Mỗi người sẽ nhận được 5 Đô-la mỗi năm. 
Tức nếu Formosa đưa thẳng TIỀN MẶT cho dân, mỗi người dân vùng này nhận được số tiền “bồi thường” khoảng 120.000 VND/ năm.
Số tiền này “bồi thường” này tương đương khoảng:
– 100gram cá Ngừ;

  • 6kg cá bạc má;
  • 4kg mực…
    … mà bà con bắt được hàng ngày, trước khi bị Formosa đầu độc – giết biển – giết dân.
    Sau khi “nhận” con số bồi thường đến… 05USD/ năm, dĩ nhiên là bà con Ngư dân Miền Trung đều phải tỵ nạn hết; hoặc ở lại thì từ từ CHẾT HẾT. Thế là… cả môt vùng biển trời và đất đai Miền Trung
    rộng lớn ngay “yết hầu” Tổ quốc – sẽ “sạch bóng quân thù”… Ủa lộn, sạch bóng dân lành – chỉ toàn “dân nước LẠ”. Chả phải là… khỏi cần lập vùng Tự trị và đất ấy – rừng ấy – biển trời ấy… đã vào tay họ luôn trong 70 năm hay sao?

QUÁ SƯỚNG…!!!

3. Bài toán – câu hỏi này, lớp 1 là làm được rồi:
Với 500 triệu USD, thoải mái đầu độc giết hết Miền Trung – đuổi hoặc giết lần mòn hết hàng chục triệu Dân trót lọt được… thì liệu với cùng “kịch bản ĐẸP” ấy, tiếp theo họ có thể dùng ở TÂY NGUYÊN hay ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG hay không?

TRÔNG NGƯỜI MÀ NGẪM ĐẾN TA…

Những năm 1990s, khi bị đầu độc biển, chết 02 mạng người… Dân biển Cambodia đã biểu tình, vây kín trụ sở Formosa ở Cambodia…

Một số người bị Chính phủ bắt. Một số bị Chính phủ đánh đập, tra tấn. Báo đài Cambodia cũng đưa tin cuộc họp báo giữa Chính phủ và Formosa, công bố nguyên nhân Biển chết – Cá chết – Dân chết… là do dịch bệnh & “biến đổi khí hậu”.

Dân Cam tiếp tục biểu tình, và các cuôc độ với Cảnh sát dẫn đến chết thêm 02 người nữa. Chính phủ & Formosa buộc phải dừng dự á, tổ chức họp báo, xin lỗi và đưa ra con số bồi thường (tui nhớ mại mại là 30 triệu USD).

Nhưng, dân Cambodia không cần tiền bồi thường. Họ cần BIỂN SẠCH – cần sự SỐNG & con cháu họ không bị QUÁI THAI DỊ TẬT.

Họ không dừng lại, không ngoan ngoãn nghe & tin theo đảng – chính phủ – lãnh tụ “của dân – do dân – vì dân” ..bla..bla… Họ cùng nhau ùn ùn kéo đến Trụ sở của Formosa ở Thủ đô, vây kín, cô lập, và rồi đập phá các công trình phụ; đốt lửa xung quanh trụ sở; chặn hết các lối đi bên ngoài…

KẾT QUẢ

Formosa phải thu hồi hết các bao chất thải độc hại (đến nay chẳng biết đó là chất gì, vì Chính phủ họ cũng như ta, vẫn DẤU KÍN)… mà họ đã cho đổ ra bờ biển; đồng thời Formosa vĩnh viễn rút khỏi Cambodia. Vùng biển CHẾT ngày nào của họ, bây giờ chính là Khu du lịch biển đảo “5 sao” – Sihanukville – nơi mà hàng triệu du khách đến thăm thú và vui sướng “móc hầu bao” cho các dịch vụ, lên đến hàng trăm triệu USD mỗi năm…

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Đường sống: Đọc lại và suy ngẫm

Tuongnho
NHỮNG ĐIỀU KHÓ LƠ ĐÃNG.

Hoàng Kim

Chuyện đời phức tạp, người không khỏe và ghét chuyện bao đồng nên nhiều khi tôi cũng muốn lơ đãng nhưng thật khó cầm lòng  trước bao nhiêu mạng sống con người để không nhìn, không nghe, không thấy và …im lặng. Đọc “ Sân bay Tân Sơn Nhất: Mất sóng không lưu 18 phút” trên Tuổi trẻ Online, “Thử phân tích của nguyên nhân máy bay SU 30MK2 rơi !”  trên facebook Nguyễn Tiến Thành. “Áp chế điện tử và áp chế điện tử đối với máy bay“, Tổ Quốc trên facebook Phan Chí Thắng  “Chiến tranh tận thế NATO- Nga, hãy thức tỉnh” của Richard Sakwa đăng trên ĐKN, Minh Đạo biên dịch từ The Conversation, chúng ta rùng mình nhìn thấy vòng xoáy của các hiểm họa chiến tranh thông tin, chiến tranh điện tử, chiến tranh kinh tế, chiến tranh môi trường đang từng ngày từng giờ đe dọa đến cuộc sống bình yên của biết bao dân lành. Những điều thật khó lơ đãng !

“Không phải khó mà không được lơ đãng !”, anh Bu Lu Khin trao đổi. Tôi đã nói buồn với anh: “Anh Bu Lu Khin ơi, vậy thì làm sao biết đủ và buông, xả được ? Cụ già trên 80 tuổi không thèm vào Facebook, không ưa nghe thời sự, đó không phải là lơ đãng mà là vì đối với người luống tuổi, biết thanh thản thì tốt hơn. Một người đau nặng thì cần bớt dấn thân, lao lực lao tâm, đó không phải là lơ đãng mà bởi vì đối diện với sinh tử thì sức khỏe trí tuệ là trên hết, duy nhất và trước hết; Một người có công việc thường xuyên và hiếm thời gian thư nhàn thì chọn việc chính ưu tiên là minh triết hàng đầu; mặt khác có nhiều điều cần thời gian lắng nghe cuộc sống sáng rõ hơn mà chưa cần nói khi mình chưa thấu hiểu bản chất sự vật để có lời giải đúng, hoặc việc chưa có giải pháp, chưa đúng người nghe, chưa đúng nơi đúng lúc.”

Gần đây “Thư của Thủy” có điều lạ chỉ ghi lại chưa có lời giải đáp thỏa đáng: “Tháng 6.2016, hai máy bay quân sự VN bay ra biển liên tiếp bị rớt. Nhiều câu hỏi được đặt ra: Ai đã điều máy bay quân sự ra biển trong lúc TQ đang tập trận trên biển Đông? Máy bay chiến đấu luôn xuất phát từng phi đội từ hai chiếc để bảo vệ lẫn nhau, tại sao SU30 phải bay một mình ra biển? Tại sao anh phi công Cường lại thấy hai tầu chiến Trung Quốc trong hải phận VN khi nhảy dù khỏi máy bay? Tại sao sau khi nói ra điều này, anh Cường đang khỏe mạnh phải vào bệnh viện và không được đi dự đám tang anh Khải? Cái gì gây ra vết thương lớn ở đốt sống cổ anh Khải trước khi anh rơi xuống biển? Máy bay SU30 phát tín hiệu gặp nạn ở bờ biển Nghệ An, ai đã phát lệnh cho máy bay CASA C-212 ra Hạ Long để tìm và rơi ở đấy? Cả hai máy bay rơi xuống nước đều bị xé tan từng mảnh nhưng chỉ đưa tin máy bay gặp tai nạn, sao không nghĩ rằng máy bay bị bắn hạ? …Thiếu tướng anh hùng quân đội Lê Mã Lương nói “..chúng ta đã mất quyền bay trên Biển Đông…”; Thiếu tướng nguyên phó tư lệnh Quân khu 5 Trần Minh Hùng nói: “Toàn bộ tuyến đường Trường Sa, Hoàng Sa và Võ Nguyên Giáp (từ chân núi Sơn Trà đến phường Điện Nam, xã Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) là tuyệt mật, bất khả xâm phạm, nhưng đã nằm trong tay người Trung Quốc…” Hai vị trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh tố giác 10 tỉnh phía Bắc cho TQ thuê 305.535 ha rừng đầu nguồn là “hiểm họa cực lớn đối với an ninh nhiều mặt của quốc gia…”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng 165 nhà khoa học hàng đầu của Việt Nam đã ký giấy phản đối việc cho Trung Quốc khai thác bauxite Tây nguyên là một “nguy cơ cực kỳ lớn đối với an ninh quốc phòng”. Tất cả đều chỉ là những tiếng kêu vô vọng, không ai có đủ quyền hạn để ngăn chặn những hiểm họa đe dọa sự sống còn của đất nước ! ĐƯỜNG SỐNG của dân tộc Việt Nam đang bị đe dọa !

Có những người như thế ! “Dẫu khó nhưng không được lơ đãng !” biết vui, biết lo những điều đáng vui và đáng lo nhất ở đời, biết tha thiết lắng nghe cuộc sống để thực sự quan tâm và thấu hiểu con người. Như vậy mới thực sự hiểu đúng văn hóa trong nghĩa rộng và sâu nhất của nó.

____

Tài liệu dẫn

SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT MẤT SÓNG KHÔNG LƯU 18 PHÚT

Tuấn Phùng, TTO 16. 6.2016

TTO – Sự cố xảy ra sáng 16-6 đã đã khiến đài kiểm soát không lưu không thể liên lạc với các máy bay đang nằm trong vùng kiểm soát, nhiều máy bay không thể cất cánh, hạ cánh.

Một nguồn tin của Tuổi Trẻ cho biết sáng 16-6, hệ thống liên lạc không lưu tại sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạm thời gián đoạn một thời gian.

Các hãng hàng không cho biết trong sáng nay nhiều chuyến bay không thể cất cánh, cũng như hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất trong nhiều phút.

Những máy bay đang chuẩn bị hạ cánh buộc phải bay vòng trên không hoặc hạ cánh xuống sân bay dự bị. Tổng giám đốc một hãng hàng không xác nhận với Tuổi Trẻ hãng của ông đã có một số chuyến bay không thể cất cánh cũng như hạ cánh trong khoảng thời gian sau 8g sáng.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, Cục trưởng cục hàng không VN Lại Xuân Thanh xác nhận đã có sự cố này và đang tìm hiểu nguyên nhân.

Ông Thanh cho biết lúc 7g47 phút đã xảy ra hiện tượng can nhiễu trên tần số điều hành bay tại khu vực sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất.

Đến 8g05 cơ sở điều hành bay đã thực hiện phương án dự phòng, sử dụng các tần số dự bị theo đúng quy trình, bảo đảm điều hành bay an toàn tuyệt đối. Sau 18 phút đã thiết lập trở lại điều hành bay thông thường trên tần số chính.

Trong khoảng thời gian nêu trên, có 06 chuyến bay chờ và 01 chuyến chuyển hướng tới sân bay dự bị.

Hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacific (JP) cho biết một chuyến bay của hãng từ Đà Nẵng đến TP.HCM mang số hiệu BL 591 đã phải chuyển hướng hạ cánh xuống sân bay Buôn Mê Thuột lúc 8g20 phút sáng nay.

Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty quản lý bay Đinh Việt Thắng cho biết sẽ có thông báo về nhiễu sóng điều hành bay sáng nay. Tổng công ty quản lý bay cũng đang phối hợp với Cục Quản lý tần số để xác định nguồn nhiễu để xử lý dứt điểm.

Ông Đinh Việt Thắng cũng cho biết thêm, thời gian đài kiểm soát không lưu Tân Sơn Nhất bị nhiễu sóng điều hành tất cả các kênh trên là do bị một nguồn sóng lạ tương đối mạnh đè lên, phủ sóng trên các tần số điều hành các đài kiểm soát.

Sự cố này đã khiến việc điều hành bay của đài kiểm soát không lưu bị gián đoạn. Trong thời gian bị nhiễu sóng, trên vùng bay Tây Sơn Nhất có 6 máy bay đường dài đang đến và 3 chuyến chuẩn bị hạ cánh.

Đài kiểm soát không lưu đã  yêu cầu các máy bay này tiến hành bay chờ, trong đó có một chuyến bay phải chuyển hướng hạ cánh.

Phối hợp Cục tần số vô tuyến điện tìm nguyên nhân

Cục Hàng không cho biết như trên trong thông cáo phát đi chiều nay (16-6) về việc nhiễu tần số điều hành bay tại khu vực sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất.

Theo Cục Hàng không, từ 7g47 đến 08g05 phút sáng 16-6 đã xảy ra hiện tượng can nhiễu trên tần số điều hành bay tại khu vực sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất.

Khi xảy ra hiện tượng can nhiễu trên tần số điều hành bay, ngay lập tức cơ sở điều hành bay đã thực hiện phương án dự phòng (cụ thể là sử dụng các tần số dự bị theo đúng quy trình), bảo đảm điều hành bay an toàn tuyệt đối.

Từ thời điểm 08g05 phút, cơ sở điều hành bay đã điều hành bình thường trên tần số chính tại khu vực sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất.

Hiện nay, các cơ quan chức năng của ngành Hàng không đang phối hợp với Cục Tần số vô tuyến điện (Bộ Thông tin truyền thông) để tìm hiểu nguyên nhân sự việc.

Tinnoibat1861016

THỬ PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN MÁY BAY SU 30MK2 RƠI !

Nguyễn Tấn Thành blog

A/ Nhóm dữ liệu SU 30:
– A1: Đây là máy bay hiện đại nhất của Việt, mới mua năm 2015.
– A2: Máy bay này cuả trung đoàn không quân 927 đóng quân ở sân bay Thọ Xuân.
– A3: Tầm tác chiến của máy bay này là 3000km, đóng quân ở Thọ Xương có vĩ độ ngang với Hải Nam trung đoàn này không có chức năng tham chiến Hoàng Trường Sa mà nhằm tấn công phủ đầu các căn cứ Trung+ ở Hải Nam.
– A4: Phi công máy bay là chuyên nghiệp, có nhiều giờ bay và là lực lượng tinh nhuệ của Việt.
– A5: Máy bay bị mất liên lạc tại đảo Hòn mắt, nơi cách bờ biển chỉ 20km. Cách sân bay Thọ Xuân 100km về phía Nam.
– A6: Máy bay mất liên lạc bất ngờ không thông báo kịp tình hình về đài chỉ huy, độ cao máy bay khi xảy ra sự cố thấp nên dầu hai phi công kinh nghiệm nhưng không bung dù được.

B/ Nhóm dữ liệu máy bay VN168 ngày 7/6 hạ cánh khẩn cấp ở Lào
– B1: Cất cánh từ Đà Nẳng bay tới Hà Nội.
– B2: Hạ cánh khẩn cấp tại Viêng Chăn Lào.
– B3: Để khách vẫn ở trên máy bay xác định là sẽ nhanh bay lại.
– B4: Thông báo xử lý kỹ thuật và cho khách xuống máy bay.
– B5: Sau 2h đồng hồ xử lý xong, mời khách lên bay về.
– B6: Một nữa khách không về, sáng hôm sau máy bay khác đón.

C/ Nhóm dữ liệu liên quan Trung+.
– C1: Trung+ có 100 chiếc SU 30 các loại.
– C2: Từ năm 2006 Nga đã liên kết với Trung+ để phát triển Rada cho dòng SU30 này, có tên mã là Zhuk-MSF
– C3: Từ 2006 trở đi Trung+ chỉ mua máy bay Nga nhưng bỏ lại các thết bị điện tử lại mà dùng của họ.
– C4: Ngày 19/3 tàu chiến của Indo bắt một tàu cá Trung+, sau đó một tàu Hải cảnh Trung+ lao vào giành tàu cá. Khi một tàu chiến Trung+ tới thì chiến hạm của Indo mất liên lạc với chỉ huy trên bờ. Sau một hồi giằng co mà không liên lạc được với chỉ huy, tàu Indo chỉ bắt 8 ngư dân và thả tàu cá lại cho Trung+

D Tổng hợp dữ liệu:
– D1: Từ A5: cho thấy các tướng lãnh Việt đã xác định tránh chạm trán với Trung+ nên lập đường bay tập luyện hướng về phía Nam và chỉ ven bờ. Kết hợp thêm A6 cho tấy khả năng máy bay bị Trung+ bắn hạ là rất thấp.
– D2: từ A1, A4, A6; cho thấy máy bay rất khó bị trục trặc kỹ thuật hay là lỗi người phi công.
– D3: từ B2 cho thấy khi máy bay VN168 phát hiện bị sự cố nó nằm trong vòng tròn màu nâu có tâm là sân bay Viêng Chăn. Nguyên tắc vị trí đó phải gần Viêng Chăn hơn sân bay Vinh, Đồng Hới.
– D4: Từ B1, B2 và C3 cho thấy thay vì đường bay màu đỏ, VN168 bay theo đường màu xanh.
– D5: Từ C4 và B3 cho thấy phần cong của đường xanh là giai đoạn VN168 mất liên lạc đài chỉ huy và hệ thống GPS của máy bay bị nhận tín hiệu GPS giả, đánh lừa thay vì bay về Hà Nội thì hướng qua Lào. Khi liên lạc được thì nó đã gần Viêng Chăn hơn Vinh, Đồng Hới. Nên phải hạ cánh ở Lào và họ hy vọng lỗi đã qua chỉ hạ xuống kiểm tra lại sơ nên không cho khách xuống.
– D6: Từ B5 cho thấy việc sửa chữa mất 2 tiếng tại sân Lào nơi không có kỹ thuật chuyên môn mà chỉ từ phi hành đoàn. Thì đây không phải là sự cố Cơ Điện, mà chỉ là chuyện phần mềm, và công việc sửa chữa chỉ là Reset hay Khôi phục cài đặt gốc.
– D7: Từ B6 cho thấy, cò một số hành khách nhận được điện thoại từ người nhà biết chuyện chưa tìm được nguyên nhân nên họ không chịu bay về, dẫn tới 102 người ở lại.
– D8: Từ C1, C2, C3, C4 cho thấy Trung+ đạt những thành tựu rốt lớn về điện tử và họ rất rành phần điện tử của SU30
– D9: Từ D5 đường cong màu xanh và A5 vị trí Hòn Mắt, cho thấy vị trí của hai chiếc bị sự cố và nạn là ở ven Biển Hà Tỉnh, nơi có Formosa.
– D10: Từ A6 và D2 cho thấy khả năng Su 30 bị tác động điện tử làm mất khả năng định vị và mất lái nên đâm xuống biển bất ngờ.

E Từ đó tạm kết luận:
– E1: Từ D1, D2 và D10 cho thấy khả năng SU 30 bị bắn, bị sự cố kỹ thuật, bị lỗi người lái là rất thấp.
– E2: Từ D3 tới D9 cho thấy khả năng SU 30 bị Trung+ áp chế điện tử nên mất lái và cao độ thấp quá nên phi công không trở tay kịp.

Việc áp chế điện tử này không thể từ chiến hạm Trung+ vì không thể vào sát bờ biển Việt như thế được, tàu cá thì rất nhỏ quá để chứa thiết bị này, mà chỉ có thể từ Formosa hay từ các tàu vận tải trá hình trong cảng đó.

Cám ơn bạn Nguyễn Việt Dũng đã hỏi tôi sự liên hệ hai vụ máy bay để tôi mới có hướng phân tích này !


ÁP CHẾ ĐIỆN TỦ VÀ ÁP CHẾ ĐIỆN TỦ ĐỐI VỚI MÁY BAY

Phan Chí Thắng

Hai máy bay quân sự của ta vừa rơi. Có hai nhóm nguyên nhân: khách quan và chủ quan. Khách quan là do thời tiết xấu, bị phá hoại (đặt bom), bị bắn rơi hoặc bị áp chế mà rơi. Chủ quan là sai hỏng thiết bị kỹ thuật, lỗi người lái.

Hiện chưa công bố nguyên nhân. Không ai có thể loại trừ, hay ngược lại, khẳng định nguyên nhân nào cả.

Nhưng có một số người lại khẳng định nguyên nhân máy bay rơi như là đúng rồi, từ đó có những bình luận thiếu căn cứ.

Một trong những khẳng định đó là rơi do bị áp chế điện tử.

Vậy áp chế điện tử trên không là gì?Tuy là người được đào tạo chính quy ngành điện tử nhưng không phải chuyên gia ngành hẹp này, tôi đã phải giành thời gian tìm và nghiên cứu tài liệu.

Xin trình bày ngắn gọn và bằng ngôn ngữ dễ hiểu nhất.

Trong quân sự có áp chế cứng và áp chế mềm. Áp chế cứng là dùng nhân lực, máy móc, trang thiết bị, vũ khí… để vô hiệu hoá đối phương. Một ví dụ cụ thể là dùng máy bay mạnh hơn, đông hơn ép máy bay đối phương chuyển hướng bay, hạ cánh hoặc đơn giản là bắn nó rơi.

Trong áp chế mềm có áp chế điện tử. Ở trên không chỉ có thể là bằng cách phát sóng điện từ để làm nhiễu loạn, vô hiệu hoá hoạt động của những máy móc, khí cụ, thiết bị điện tử của máy bay đối phương.

1. Các thiết bị điện tử phục vụ vận hành máy bay.

Các thiết bị đo lường, phân tích, điều khiển, hỗ trợ lái hoặc lái tự động là các thiết bị điện tử kết hợp với các hệ thống khí thuỷ lực, động cơ điều khiển một chiều v.v. Chúng được liên kết bởi hệ thống dây dẫn có bọc kim chống can nhiễu và có nhiều phương pháp (cứng và cả mềm) đảm bảo an toàn và bảo mật được áp dụng.

Có thể khẳng định là áp chế điện tử của đối phương không thể tác động tới các loại thiết bị hướng nội này.

2. Các thiết bị định vị, thông tin liên lạc.

Thông thường máy bay có một số kênh (tần số) dùng để liên lạc với đồng đội (nếu bay theo tốp), liên lạc với các sở chỉ huy mặt đất và với bên Hàng không Dân dụng, thậm chí với máy bay “lạ”.

Vì lý do nào đó mà mất liên lạc ở kênh này thì có thể chuyển (tay hoặc tự động) sang tần số khác.

Để phá sóng nhiều kênh đồng thời, đối phương phải có một hoặc một số thiết bị phát sóng công suất rất lớn, phổ rộng.

Nếu đã phát sóng công suất cực lớn, phổ rộng thì sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ các chuyến bay quân sự cũng như thương mại trong vùng phủ sóng bán kính hàng trăm kilomet của bên áp chế điện tử. Điều này rất lộ liễu, Quốc tế biết ngay.

Giả sử kẻ thù có thể phá được sóng liên lạc đi nữa, phi công kinh nghiệm vẫn hoàn toàn có thể tìm đường về căn cứ dựa vào bản đồ bay và một số tiêu trên mặt đất.

Cho đến nay, mới chỉ có máy bay không người lái loại điều khiển từ xa là có thể áp chế điện tử làm rơi vì có thể tác động vào quá trình điều khiển nó.

Máy bay không người lái loại lập trình thì vẫn chưa áp chế điện tử được.

TỔ QUỐC

Phan Chí Thắng

Tổ Quốc là ngọn núi, con sông, góc phố, cánh đồng
cây đa đầu làng, cung ruộng bậc thang, bập bùng ngọn lửa
mái đình cong cong, tấm bia rùa nâng con chữ
tiếng chuông chùa loang gợn sóng khúc sông quanh

Tổ Quốc là khúc hát mười thương
câu vọng cổ người yêu nhau khắc khoải
lời mẹ ru con, đắng cay câu Kiều, người ơi xin người ở lại
Thương nhau chín bỏ làm mười

Tổ Quốc là tiếng trẻ thơ đang ríu rít cười
người mẹ giấu nỗi thương con dưới những nếp nhăn nát mặt
người vợ đón chồng từ chuyến bay đêm trong quan tài đóng chặt
những chàng trai mãi mãi không về

Tổ Quốc là lời thề
Thà chết cho trường tồn Tổ Quốc
Lý Thường Kiệt vung gươm vẽ rõ ràng đất nước
của người Nam người Nam ở, người Nam yêu nhau
con cá, ngọn hành, cành tre, hạt lúa, gốc sắn, trái bầu…

Trong Tổ Quốc có con hôm nay buồn khóc
Muốn tóc bạc thêm cho sóng biển Đông bớt bạc
Lưng còng hơn để hình hài của nước
Đỡ cong cong cong gầy guộc, Việt Nam ơi!

 

9 THÀNH VIÊN PHI HÀNH ĐOÀN CASA-212 ĐÃ HI SINH 

TTO – 24/06/2016 18:41 GMT+7 – Thượng tướng Võ Văn Tuấn, phó tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã khẳng định như thế trong buổi gặp mặt báo chí được tổ chức tại Bộ Quốc phòng chiều 24-6.

Hiện nay, chúng ta đã vớt được nhiều thi thể của phi hành đoàn CASA-212 cùng các vật thể liên quan đến CASA-212 và Su30-MK2. Việc tiếp theo chúng ta phải làm là công tác chính sách với các đồng chí đã hi sinh và thân nhân gia đình.

Chúng ta tiếp tục tìm kiếm những vật thể liên quan đến 2 máy bay này, trong đó có vật rất quan trọng là hộp đen để kết hợp cùng với các yếu tố khách quan khác để phân tích nguyên nhân, phòng ngừa các tai nạn hàng không trong tương lai” – thượng tướng Võ Văn Tuấn nói.

Cũng trong cuộc gặp mặt, thượng tướng Võ Văn Tuấn đã tiết lộ nguyên nhân ban đầu về 2 vụ tai nạn máy bay.

Thượng tướng Võ Văn Tuấn nói: “Với máy bay Su30-MK2, theo thông tin do phi công Cường cung cấp thì có sự cố trong buồng lái nên phi công phải nhảy dù thoát hiểm. Chúng ta còn phải đánh giá tiếp qua những yếu tố khách quan khác.

Còn với máy bay CASA-212 thì chúng ta biết là máy bay này làm nhiệm vụ tìm kiếm cứu hộ cứu nạn máy bay Su30-MK2 gặp nạn. Khi tìm kiếm, thời tiết lúc đó biến động bất thường. Thêm nữa, khi máy bay bay tìm kiếm thường bay thấp. Đây có thể là những yếu tố gây ra tai nạn này”.

Thượng tướng Võ Văn Tuấn cũng cho biết việc xác định được vị trí CASA-212 kịp thời là do có thông báo rất nhanh chóng của một tàu New Zealand. Khi phát hiện một vật thể, tàu này đã dừng lại thông báo rồi chờ phía Việt Nam ra trục vớt.

Theo Cục Tuyên huấn (thuộc Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng), đến nay các lực lượng cứu nạn đã thu được các mảnh vỡ của phần mũi máy bay Su30-MK2 và hiện đang tiếp tục tìm kiếm, trục vớt hộp đen và các bộ phận còn lại của máy bay.

Đối với máy bay CASA-212, đã trục vớt được các bộ phận chủ yếu của máy bay gồm thân, đuôi, cánh quạt, động cơ, các chi tiết kỹ thuật, khí tài, vật dụng cá nhân của các thành viên tổ bay.

Qua giám định của cơ quan pháp y Quân đội, những thi thể vớt được tại vị trí gặp nạn chính là những thi thể của thành viên tổ bay. Hiện cơ quan chức năng đang xác minh danh tính.

Bộ Tổng Tham mưu tiếp tục chỉ đạo các lực lượng tổ chức, tìm kiếm thi thể phi hành đoàn, trục vớt các bộ phận còn lại của máy bay Su30-MK2 và máy bay CASA-212; đảm bảo an toàn tuyệt đối cho lực lượng trục vớt, cứu hộ, nhất là trong điều kiện thời tiết tiếp tục diễn biến xấu.

Sau khi hoàn thành việc trục vớt những bộ phận còn lại của 2 máy bay gặp nạn, các cơ quan chuyên môn kỹ thuật sẽ xác định nguyên nhân gây tai nạn, tổ chức rút kinh nghiệm, báo cáo Bộ Quốc phòng.

Tổng cục Chính trị được giao nhiệm vụ chủ trì chỉ đạo làm tốt công tác chính sách, hậu phương gia đình đối với các quân nhân hy sinh.

Diễn biến hai máy bay gặp nạn

– Sáng 14-6, máy bay tiêm kích Su-30MK2 số hiệu 8585 gặp nạn khi thiếu tá Nguyễn Hữu Cường và thượng tá Trần Quang Khải làm nhiệm vụ huấn luyện trên biển. Vị trí gặp nạn thuộc vùng biển phía đông Nghệ An, gần đảo Hòn Mắt. Một ngày sau, thiếu tá Cường được tàu của ngư dân cứu sống.

– Ngày 16-6, máy bay CASA 212 số hiệu 8983 mất liên lạc trên vùng biển Bạch Long Vỹ khi làm nhiệm vụ tìm kiếm phi công trên chuyến bay Su-30MK2. Trên máy bay có 9 quân nhân.

– Ngày 17-6, thi thể phi công Trần Quang Khải được tìm thấy.

– Trong hai ngày 16 và 17-6: 42 tàu của các lực lượng Việt Nam và hàng trăm tàu cá của ngư dân tham gia tìm kiếm máy bay CASA. Bộ Quốc phòng huy động trang thiết bị hiện đại nhất tham gia tìm kiếm.

– Ngày 20-6: Phát hiện vật thể có kích thước 13×4 m trong vùng tìm kiếm máy bay CASA, độ sâu 60m.

– Ngày 21-6: Tập đoàn Airbus, Tây Ban Nha đề nghị phối hợp, giúp đỡ giải mã hộp đen máy bay CASA, tìm nguyên nhân tai nạn.

– Ngày 22-6: 15 tàu Trung Quốc tham gia phối hợp tìm kiếm cùng Việt Nam ở phía Đông đường phân định Vịnh Bắc Bộ.

– Ngày 23-6: Tìm thấy mảnh vỡ máy bay Su 30MK2 và động máy bay CASA số hiệu 8983 cùng một số thi thể thành viên phi hành đoàn.

– Ngày 24-6, các lực lượng tìm kiếm, cứu nạn trên tàu HQ-926 đã tiến hành trục vớt được động cơ, cánh quạt, đuôi và một phần thân máy bay CASA-212. Đồng thời, vớt được thêm một số thi thể thành viên Phi hành đoàn máy bay CaSa-212.

MY LĂNG

http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20160624/9-thanh-vien-phi-hanh-doan-casa212-da-hi-sinh/1124257.html

 

CHIẾN TRANH TẬN THẾ NATO-NGA , HÃY THỨC TỈNH

Richard Sakwa

Minh Đạo biên dịch từ The Conversation

Kể từ khi cuộc khủng hoảng Ukraine bùng nổ thành xung đột dân sự và nội chiến vào năm 2013, chúng ta biết rằng mình đang sống trong một thời nhiễu nhương. Trật tự hòa bình ở châu Âu vốn đã được thiết lập vào cuối thời Chiến tranh lạnh năm 1989 đã trở nên bất ổn, điều đó ngày càng trở nên rõ ràng. Những thoả thuận vào thời gian đó dường như tạo ra nhiều xung đột, nhiều hơn khả năng giải quyết của con người.

Tuy có những thời điểm Liên minh châu Âu từng tuyên bố họ là một dự án hòa bình, và trong nội bộ họ đã có nhiều thành quả về phương diện này. Nhưng như chủ tịch Ủy ban Châu Âu Romano Prodi lúc đó đề cập vào năm 2002, xung quanh biên giới của những nước coi nhau là “vòng tròn bạn bè”, thì thực chất lại là một “vòng cung lửa”.

Tại Bắc Phi, các quốc gia đã sụp đổ và toàn bộ khu vực này lại bị thử thách một lần nữa để tìm sự cân bằng hợp lý giữa vấn đề an ninh và dân chủ. Trung Đông hiện là tiêu điểm của các cuộc chiến tranh ủy nhiệm chồng chất lên nhau thành nhiều lớp.

Kể từ khi Nga can thiệp quân sự vào Syria vào cuối tháng 9/2015, một trong những mâu thuẫn nổi bật nhất có lẽ là cuộc đấu tranh giữa Nga và Mỹ để giành quyền ưu tiên quyết định số phận của Syria. Đây chỉ là một trong những vấn đề có thể châm ngòi một cuộc đối đầu vũ trang. Trên thực tế, khó có thể dự báo chính xác ngòi nổ tiềm tàng có thể khởi nguồn một chuỗi sự kiện leo thang thành đối đầu quân sự thực sự.

Leo thang và quân sự hóa

Một mặt, NATO do Mỹ chỉ huy xây dựng lực lượng trên đất liền, trong vùng biển và trên vùng trời xung quanh biên giới của Nga, đi kèm với việc khởi động lắp đặt hệ thống phòng thủ tên lửa ở khu vực này vào tháng 5/2016, được Nga coi là mối đe dọa thực sự tới chủ quyền lãnh thổ của họ.

Moscow coi hệ thống phòng thủ tên lửa Aegis Ashore của Hoa Kỳ ở Romania là mối đe dọa tiềm tàng nhắm vào khả năng phòng thủ hạt nhân của mình. Tên lửa hành trình tầm trung đã bị cấm bởi Hiệp ước Vũ khí Hạt nhân tầm trung (INF) vào năm 1987, nhưng dường như những vũ khí này đang đi lách qua cửa sau. Hiện tại, những tàu chiến tiên tiến của Mỹ đang diễn tập quân sự cách căn cứ quân sự của Nga ở vùng biển Baltic và biển Đen chỉ vài chục cây số.

Nga xem hầu hết những hành động này như một mối đe dọa trực tiếp tới an ninh của mình và đe dọa sẽ triển khai tên lửa hạt nhân đến Kaliningrad và thậm chí có thể cả Crimea. Quân đội Nga vừa chuẩn bị thử nghiệm hệ thống phòng không và chống tên lửa S-500 Prometei (còn được gọi là 55R6M Triumfator M), có khả năng phá hủy ICBM (tên lửa đạn đạo liên lục địa), chống tên lửa hành trình siêu thanh và bắn hạ máy bay vượt tốc độ Mach 5. Sự yếu thế hay thậm chí việc phá bỏ hiệp ước INF và START có thể khiến hàng chục năm đàm phán kiểm soát vũ khí tan thành mây khói.

Mặt khác, một số nhà phân tích quốc phòng cho rằng hiệp ước hậu Chiến tranh lạnh thực tế là đã bị hủy bỏ, trên hết là đều do hành động của Nga ở Ukraine. Cựu phó tư lệnh của NATO, viên tướng người Anh ông Alexander Richard Shirref, trong cuốn sách của mình mang tên “2017: Chiến tranh với Nga” miêu tả rõ ràng về nguy cơ hiển hiện của chiến tranh.

Xem thêm: Liệu NATO chiến tranh với Nga và sẽ ra sao nếu có thế chiến thứ 3?

Ông dự đoán rằng để thoát khỏi những gì mà Nga tin là vòng vây của NATO, Nga sẽ cố chiếm đánh lãnh thổ phía Đông Ukraine để mở ra một dải đất nối tới Crimea nhằm xâm lược các nước Baltic. Những hình ảnh viễn tưởng về chiến tranh hạt nhân với Nga đã nằm trong tâm trí của NATO từ lâu. Khi tình hình tại Ukraine bắt đầu vượt ra ngoài tầm kiểm soát trong đầu năm 2014, người đứng đầu lực lượng NATO tại châu Âu, tướng Philip Breedlove, đã trở thành một chuyên gia có tiếng về về dự đoán các cuộc xâm lược khác của Nga, khiến nó trở thành mối quan tâm đặc biệt ở Đức.

Cộng đồng an ninh khu vực Đại Tây Dương đang có nguy cơ tiến vào chiến tranh trong trạng thái vô thức. Chính việc thảo luận về một cuộc chiến như vậy sẽ khiến nó dễ có khả năng xảy ra. Một bộ phim của kênh BBC2 phát sóng vào tháng 2/2016 đã chiếu cảnh cuộc tấn công của Nga vào Latvia leo thang thành một cuộc trả đũa hạt nhân. Hiện chính quyền Obama đang gây sức ép với Đức để triển khai một đội quân Đức nhằm củng cố sự hiện diện của NATO ở biên giới của Nga. Đa số người Nga vẫn nhớ những hậu quả tàn phá của lần chiến tranh gần đây nhất diễn ra vào năm 1941.

Trở về từ vực thẳm

Tuy các nhà bình luận quốc phòng khu vực Đại Tây Dương nói về “hành vi ngày càng hung hăng” của ông Putin và dùng cụm từ “Nga hung hăng” như một phần của ngôn ngữ quy chuẩn, nhưng ít ai trong họ thử suy ngẫm về việc nguyên nhân gì đã tạo nên tình trạng nguy hiểm này.

Như Trung Quốc đã nhiều lần nhấn mạnh, cuộc khủng hoảng Ukraine đều có nguyên nhân của nó. Khẩu hiệu của cuộc họp các bộ trưởng quốc phòng NATO ở Brussels vào giữa tháng 5 là “ngăn chặn và đối thoại”, nhưng trong sự kiện này họ tập trung nhiều hơn vào “ngăn chặn” hơn là “đối thoại”. Hội nghị thượng đỉnh NATO sắp diễn ra tại Warsaw vào tháng 7/2016 dường như đã xác nhận những nội dung như “Nga hung hăng”, vấn đề Iran, bồi đắp đảo ở Biển Đông của Trung Quốc và bất ổn ở Trung Đông đang tạo ra mối đe dọa cho Mỹ và các đồng minh.

Thay vì đổ thêm dầu vào lửa khiến tình hình dần nằm ngoài tầm kiểm soát, sẽ khôn ngoan hơn nếu chọn giải pháp ngoại giao. NATO khẳng định rằng không thể nào có việc “bình thường hóa quan hệ” cho đến khi thoả thuận Minsk được thực hiện đầy đủ, nhưng một số điều khoản quan trọng nhất lại phụ thuộc vào Ukraine. Vì vậy, Nga và hòa bình ở châu Âu đang bị khống chế bởi một số Đảng viên Đảng Cấp tiến Ukraine, họ đã chặn mọi động thái hướng tới bầu cử ở Donbass và việc cải tổ Hiến pháp theo hướng giảm quyền lực chính quyền trung ương.

Trong sách, Shirreff thừa nhận rằng Nga đang ngày càng lo ngại về sự lan rộng của các căn cứ NATO quanh biên giới của họ, nhưng Nga cũng lại cổ súy cho những việc làm tương tự của chính mình. Nga là cường quốc rộng lớn bằng cả một lục địa với kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới. Tham vọng chiếm ưu thế về quân sự của phương Tây [trước Nga] đơn giản là không thể đạt được.

Trong bài phát biểu trước Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc vào ngày 28/9/2015, ông Putin yêu cầu phương Tây cần xem lại việc nhiều năm can thiệp quân sự thất bại đã tàn phá nhiều nước và gây mất ổn định toàn bộ khu vực: “Các ông có nhận thấy những gì mình đã gây ra không?” Nga chắc chắn là một đối tác khó tính, nhưng đối với một số vấn đề toàn cầu cấp bách nhất của thời đại của chúng ta, bao gồm cả vấn đề về Syria, thì sự phân tích của Nga đã đúng.

Theo thỏa thuận đề xuất năm 2012, theo đó Tổng thống Syria Bashar al-Assad sẽ ra đi nhưng chế độ Damascus vẫn tại vị khiến phương Tây kiên quyết không đồng ý. Họ cho rằng Assad sẽ sớm ngã ngựa và những người theo trường phái ôn hòa sẽ chiến thắng. Kết quả là nội chiến kéo dài đã biến thành khủng hoảng người tị nạn vốn đang đe dọa toàn bộ châu Âu.

Thảm họa

Thật vô nghĩa để suy đoán một cuộc chiến tranh giữa Nga và NATO sẽ như thế nào hay thậm chí nó sẽ bắt đầu ra sao. Đây thực sự sẽ là một cuộc chiến tranh “cuối cùng của cuối cùng” vì sẽ chẳng còn một ai sống sót để tiến hành một cuộc chiến tranh khác nữa. Hiện nay cần nhấn mạnh việc phải ngăn chặn một kịch bản ngày tận thế như vậy xảy ra, và các bên phải nhận lỗi trước đây của mình và bắt đầu một quá trình tương tác thực chất hơn.

Việc kéo dài vô tận các biện pháp trừng phạt và ngôn từ bạo lực hay đổ lỗi chỉ tạo ra một bầu không khí mà một sự cố nhỏ có thể dễ dàng dẫn sự việc vượt tầm kiểm soát. Đây là trách nhiệm của thế hệ chúng ta để đảm bảo rằng chiến tranh sẽ không bao giờ xảy ra.

 

Video yêu thích
Nghìn lẻ một đêm

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

 

Bob Kerrey: Đọc lại và suy ngẫm

NguyenNgoc

NGUYÊN NGỌC NÓI VỀ BOB KERREY

Nguyên Ngọc là nhà văn chiến sĩ luôn ở tuyến đầu của người lính, văn hóa, giáo dục. và văn Việt. Ông là đỉnh Ngọc Linh và Chư Yang Sin hùng vĩ của núi rừng Tây Nguyên , đất Quảng người Quảng và văn chương Việt. Đọc bài viết ngắn “Về trường hợp Bob Kerrey”, tôi lại nôn nao muốn đọc lại và suy ngẫm chùm bài viết “Lắng nghe cuộc sống” của ông.

Bob Kerrey là đại úy, chỉ huy một trung đội biệt kích loại tinh nhuệ nhất hải quân Mỹ tập kích vào ấpThạnh Phong ở tỉnh Bến Tre. Ông không tự tay giết người nhưng là người chịu trách nhiệm chính của vụ thảm sát 24 người, trong đó có 14 phụ nữ và trẻ em cùng một ông già. Ông là thủ phạm tội ác cũng là nạn nhân chiến tranh của chiến thuật “tát nước bắt cá” “tách cá khỏi nước” của Mỹ cùng với các nước đồng minh trong chiến tranh Việt Nam chống lại ‘chiến tranh nhân dân” “toàn dân, toàn diện, trường kỳ” của Việt Cộng. Bob Kerrey nay vừa được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Tín thác của trường Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) và sự tranh cải đến nay vẫn chưa xong. Ông chấp nhận đối diện với sự thật và quyết không tự bào chữa cho mình, với câu nói “Tội lỗi đối với tôi là cảm giác đầy hủy diệt…”. Suốt 32 năm nay. Suốt đời…”

Con người đó trong đôi mắt Nguyên Ngọc được đánh giá như thế nào ?

Mời bạn đọc bài Nguyên Ngọc dưới đây và tự tôi cũng còn một câu hỏi…
Xin lắng nghe bạn trao đổi.

Hoàng Kim

Về trường hợp Bob Kerrey

Nguyên Ngọc (văn Việt)

Những ngày qua, trên các báo và các trang mạng, nhiều người đã lên tiếng tranh cãi về việc cựu chiến binh Mỹ Bob Kerrey được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Tín thác của trường Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) mà chúng ta đều mong đợi với rất nhiều hy vọng, mới được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tranh cãi đến nay chưa xong.

Quả thật Bob Kerrey là một nhân vật không hề đơn giản. Và cũng có thể, trong một chừng mực nhất định, trường hợp của ông là rất tiêu biểu cho việc, dù muốn hay không, thì ta vẫn còn phải nghĩ rất nhiều và cố mà thấu hiểu hơn nữa về cuộc chiến tranh đã qua. Về những con người, từng con người, đã đi qua cái lò lửa địa ngục ấy, bị nó đốt cháy và trui rèn. Số phận của họ, nỗi đau và trằn trọc không dễ nguôi của họ. Nhất là những người còn sống sót và đang đối mặt với cuộc sống hôm nay. Tôi, tôi cũng từng đi qua đó, và nay còn sống sót. Nên tôi cũng muốn hiểu. Tôi quan tâm đến Bob Kerrey, trường hợp kinh hoàng của ông ngày ấy, và cuộc đối mặt của ông hôm nay với thách thức ông đang đảm nhận. Và cũng muốn tự nghĩ cả về chính mình.

Nhiều người đã nói các chi tiết rồi, tôi chỉ xin nhắc lại vắn tắt: Đầu năm 1969, Bob Kerrey là đại úy, chỉ huy một trung đội SEALs, kiểu đơn vị biệt kích tinh nhuệ nhất hải quân Mỹ. Phân đội của ông được báo có lãnh đạo cao cấp của Việt cộng sẽ họp cùng bí thư chi bộ địa phương ở Thạnh Phong, một ấp nhỏ ven biển thuộc tỉnh Bến Tre. Ông cho đơn vị của mình tập kích vào Thạnh Phong. Ông nói rằng ông không tự tay giết người, điều ấy có thể tin, một người chỉ huy không nhất thiết phải tự mình bắn. Nhưng ông thừa nhận ông chịu trách nhiệm toàn bộ: họ đã giết chết 24 người, trong đó có 14 phụ nữ và trẻ em cùng một ông già. Bob nói: “Cuối cùng vẫn là những người phụ nữ đã chết, những đứa trẻ đã chết… vẫn là cái chết.” Và là tội ác. “Tội lỗi đối với tôi là cảm giác đầy hủy diệt…”. Suốt 32 năm nay. Suốt đời…

Sau chiến tranh, Bob Kerrey từng là thượng nghị sĩ, là thống đốc bang, là ứng viên tổng thống Hoa Kỳ, và trên tất cả các cương vị đó, ông đã có đóng góp quan trọng và lâu dài cho quan hệ Việt – Mỹ và trao đổi giáo dục giữa hai nước, ông cũng là một trong những nhân vật hàng đầu thiết kế chương trình kiên trì suốt nhiều năm cho sự ra đời của FUV hôm nay. Có thể nói không quá, ông đã làm tất cả cho Việt Nam, cho giáo dục Việt Nam… Nhưng chưa bao giờ ông coi là có thể bù đắp tội lỗi đã gây ra.

Tôi chưa từng gặp Bob Kerrey, nhưng tôi may mắn có một người bạn thân, Thomas Vallely, Giám đốc Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard, Chủ tịch Quỹ Sáng kiến Đại học Việt Nam (the Trust for University Innovation in Vietnam – TUIV), đơn vị chịu trách nhiệm huy động vốn để đầu tư cho FUV, cũng là người đã trực tiếp chọn Bob Kerry cho vị trí Chủ tịch Hội đồng Tín thác FUV. Thomas Vallely kể với tôi rằng, khi những người bạn cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam của Bob Kerrey là thượng nghị sĩ McCain và ngoại trưởng John Kerry đến gặp Bob để giúp ông trước nỗi ám ánh tội lỗi đeo đẳng, thì Bob đưa ra cho các bạn một yêu cầu buộc họ phải cam đoan: tuyệt đối không được bào chữa cho ông! Tôi nói với Thomas Vallely: “Vậy thì ông đã chọn rất đúng người lãnh đạo FUV!”.

Tôi cũng nói với Vallely rằng, nhưng phần tôi, là một người cũng từng có mặt trong suốt cuộc chiến tranh ấy, tôi thấy tôi cũng có bổn phận nói điều này khi tôi đọc được câu Bob Kerrey trả lời phóng viên Vietnamnet. Ông nói: “Hành động của tôi ở Việt Nam là kinh khủng và tôi tin đã được điều tra kĩ càng. Đó không phải là Mỹ Lai. Tuy nhiên, như bộ phim tài liệu sẽ sớm được phát của Ken Burns cho thấy: Chiến thuật của chúng tôi đã khiến ít nhất một triệu người vô tội thiệt mạng.” Bob Kerrey không để cho ai bào chữa cũng quyết không tự bào chữa cho mình, ông biết ông là một tội phạm không cầu mong được tha thứ, nhưng đồng thời bằng trải nghiệm đau đớn nhất của mình, ông cũng chỉ ra mâu thuẫn chết người trong cái mà ông gọi là “chiến thuật của chúng tôi”, tức của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam: để tiêu diệt Việt Cộng phải đánh bật họ ra khỏi dân thường, ra khỏi “phụ nữ và trẻ con” (còn được gọi là chiến thuật “tát nước để bắt cá”). Mà điều ấy là vô phương, bởi vì, đặc biệt ở nông thôn, thời ấy, hai thực thể đó về căn bản là một. Không thể đánh trúng cái này mà không đánh trúng cái kia! Không thể diệt Việt Cộng mà không giết dân, đàn bà và trẻ con! Cho nên, cho phép tôi nói điều này: Bob Kerrey là tội phạm, điều ấy ông đã đau đớn nhận, nhưng ông cũng là nạn nhân. Nạn nhân bi thảm của cái “chiến thuật” nghe rất hay ho kia. Bob Kerrey nhận ra mâu thuẫn chết người ở chiến thuật ấy, nhưng không dùng nó để bào chữa cho mình. Điều đó là vĩ đại. FUV có được một người đứng đầu như vậy là tuyệt đẹp. Và tôi cho lựa chọn của FUV là thật nhân văn.

Còn riêng đối với chúng tôi thì sao, chúng tôi, những người từng là lính Việt Cộng thời thảm khốc ấy, khi chúng tôi vẫn từng “nấp” trong nhân dân vô tội, để họ có thể cùng chết với chúng tôi? Kể cả, ngày ấy, như chính tôi từng được trải nghiệm, có bao bà mẹ, và cả các em bé nữa, sẵn sàng chết để che cho chúng tôi?

Hóa ra tự chúng tôi cũng còn một câu hỏi…

Blog Kim Dung

 

Truong Huy San

6 hours ago

Những người lính “đánh Mỹ” thật sự như Tướng Trà, như Nguyên Ngọc, Bảo Ninh, Nguyễn Thanh Bình… lại có cái nhìn thoáng hơn những người trẻ tuổi (kể cả những người đã từng học Mỹ). Đúng như nhà văn Bảo Ninh nói: “Thú vị ở chỗ, hầu hết những người phản đối lại là những người chưa từng cầm súng, chưa từng đào công sự, họ chưa từng trải nghiệm ‘nỗi buồn chiến tranh’… Lên mạng thì thấy, toàn những người đánh trận bằng mồm, đào công sự trên giấy rất hung hăng“.

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Học sử: Đọc lại và suy ngẫm

LichSu
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Học sử bắt buộc hay tự chọn?  80,04 % học sinh được hỏi phản đối Lịch sử là môn tự chọn. Hồng Lam, Giáo Dục Việt Nam, 3.11.2015. Bài viết được nhiều người quan tâm.

80,04% HỌC SINH ĐƯỢC HỎI PHẢN ĐỐI LỊCH SỬ LÀ MÔN TỰ CHỌN

Giáo Dục Việt Nam, 3.11.2015

Hồng Lam

Trong số 1.167 ở cả 3 khối học sinh được điều tra và trả lời ở Trường THPT Tứ Kỳ, có 939 em không đồng ý việc môn Sử là “môn tự chọn”, chiếm tỉ lệ 80,4%!

Vì sao các nền giáo dục phát triển coi trọng môn Lịch sử?
Bộ Giáo dục vẫn quyết Lịch sử là môn tự chọn
Bốn lý do cốt yếu để Lịch sử phải là môn bắt buộc
Sử không còn…Tổ quốc có còn không?

LTS: Môn Lịch sử đang được các nhà giáo, các chuyên gia giáo dục phản biện mạnh mẽ khi chứng kiến môn học quan trọng này được Bộ GD&ĐT tích hợp trong môn Công dân với Tổ quốc ở Chương trình phổ thông mới. Điều đó đánh mất vị thế môn học quan trọng và càng khiến học sinh xa dần với môn học. Vừa qua, một giáo viên mạnh dạn mở cuộc thăm dò ý kiến học sinh tại trường THPT Tứ Kỳ, Hải Dương về lựa chọn môn học này là môn bắt buộc hay tự chọn. Kết quả thật bất ngờ… Bài viết dưới đây của một nhà giáo nặng lòng về môn Lịch sử sẽ chờ Bộ GD& ĐT trả lời. Tòa soạn GDVN trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Ngày 16/10/2015, Bộ GD&ĐT công bố bản tổng hợp các ý kiến góp ý sau 2 tháng Bộ GD&ĐT công khai bản Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Trước đó, dư luận xã hội đã có nhiều phản ứng được đăng tải trên rất nhiều phương tiện thông tin đại chúng từ báo in, báo điện tử đến báo nói, báo hình.

Các giáo sư Sử học, các chuyên gia đầu ngành, các giáo viên Sử phổ thông tâm huyết nhất đến những người “ngoại đạo” như Luật sư, Cựu chiến binh…cũng đã lên tiếng đầy thẳng thắn và trách nhiệm.

Để có một cái nhìn khách quan và đa diện, trong mấy ngày qua, các đồng nghiệp môn Sử chúng tôi cũng đã tìm hiểu về thái độ và sự cảm nhận của học sinh của một số trường THPT như thế nào khi trong bản Dự thảo đó xem Sử là môn học tự chọn và nó không còn là một môn học độc lập.

Cách thức chúng tôi tiến hành là đến trực tiếp từng lớp học của cả 3 khối 10, 11 và 12, làm theo kiểu điều tra xã hội học bằng việc soạn sẵn một mẫu với tên gọi “Phiếu điều tra thông tin” yêu cầu học sinh ghi rõ họ và tên, lớp, trường với hai yêu cầu: đồng ý hay không đồng ý việc môn Sử là “môn tự chọn” và nếu lý do của sự lựa chọn đó, từ đó các em có thể nêu lên những đề xuất ý kiến cá nhân về những giải pháp để khắc phục tình trạng đó.

Những ý kiến phản đối của học sinh về môn Lịch sử được đưa vào tích hợp.

Khi chúng tôi về tìm hiểu học sinh Trường THPT Tứ Kỳ – Hải Dương, chúng tôi đã ghi nhận những kết quả thật bất ngờ. Trong số 1.167 ở cả 3 khối học sinh được điều tra và trả lời, có 939 em không đồng ý việc môn Sử là “môn tự chọn”, chiếm tỉ lệ 80,4%!

Rất nhiều em không những đã nêu những lý do vì sao các em lại không đồng ý với Dự thảo đó, không tán thành việc “dạy học tích hợp” và Sử là 1 phân môn trong môn học “Công dân với Tổ quốc” mà còn đưa ra nhiều giải pháp để khắc phục tình trạng đó.

Chúng tôi thiết nghĩ, nếu (chỉ là giả thiết) báo chí hoặc Bộ GD&ĐT chịu khó làm công việc mất nhiều thời gian, công sức điều tra xã hội học như thế ở nhiều trường THPT trên cả nước, tôi tin rằng chúng ta sẽ đón nhận một kết quả bất ngờ.

Lâu nay, chúng ta thường đổ lỗi cho học trò chán Sử hay dốt Sử là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tồi tệ của dạy học lịch sử, nhưng tôi cho rằng lỗi đó chính là ở người lớn, là trách nhiệm của ngành giáo dục và lỗi của 1 hệ thống.

Trong nhiều năm qua, Bộ GD&ĐT đã có cách nhìn nhận không công bằng, đánh giá không đúng vai trò và vị trí của môn Lịch Sử trong các môn học phổ thông.

Và khi môn Sử chưa có cơ hội “phục hưng” thì những người soạn thảo ra cái gọi là Dự thảo Chương trình giáo dục trung học phổ thông tổng thể của Bộ GD&ĐT đã và đang từng bước “khai tử” môn Sử , tại sao vậy?

Cơ sở nào mà Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển khi trả lời trong bản Báo cáo tổng hợp và tiếp thu các ý kiến của tổ chức, cá nhân về Dự thảo đó lại kết luận: “Các ý kiến đều cơ bản nhất trí với nội dung Dự thảo chương trình tổng thể…”?

Mới chỉ là một bản “Dự thảo”, cơ sở nào lại dám khẳng định như “đinh đóng cột” rằng “Chương trình giáo dục phổ thông mới đáp ứng yêu cầu của giai đoạn giáo dục cơ bản…”?

Đó có phải là bản chất “cầm đèn chạy trước ô tô” hay là thói quen làm việc quan liêu, vô trách nhiệm của những người có trách nhiệm?

Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển và các cộng sự, tham mưu của ông sẽ nghĩ sao khi mới chỉ là một Dự thảo mà đã vấp lại sự quá nhiều ý kiến góp ý, phản biện? Phải chăng, những lời tổng hợp các ý kiến của Ban soạn thảo Dự thảo mà Thứ trưởng đã công nhận, ký và cung cấp cho báo chí là thiếu trung thực, hay đó chỉ là sự né tránh và bao biện?

Các chuyên gia Sử học đầu ngành đã lên tiếng, các giáo viên Sử phổ thông đã lên tiếng, những người không phải trong ngành nhưng luôn quan tâm và nặng lòng với Sử cũng đã lên tiếng và học sinh phổ thông cũng đã thể hiện quan điểm, chính kiến của mình về Dự thảo này! Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển – người thay mặt lãnh đạo Bộ GD&ĐT phụ trách vấn đề này nghĩ sao?

Hồng Lam

Viết sách: Đọc lại và suy ngẫm

Bình minh Đại Lãnh
“Nỗi niềm tác phẩm đỉnh cao”
là tham luận của nhà văn Trần Quốc Hải tại Đại hội 7 Hội Nhà văn Việt Nam năm 2005, in trong sách KẺ SĨ TRƯỚC THỜI CUỘC xuất bản năm 2014, được nhà văn Ngô Minh giới thiệu trên “Quà tặng xứ mưa“. (Bình minh ngày mới, ảnh Hoàng Kim).

Nhà văn Trần Quốc Hải là tác giả của hai bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ Tám triều vua Lý và “Bão táp triều Trần nổi tiếng với 6.442 trang sách, viết về nhà Lý từ khi khởi nghiệp đến khi kết thúc (1009–1225) trải dài 216 năm, và nhà Trần từ khi ra đời cho đến khi kết thúc sứ mệnh lịch sử (1226-1400) trải dài 175 năm tồn tại trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Tại sao văn học Việt Nam hiện nay không có tác phẩm đỉnh cao? Tác giả nêu câu hỏi và cuối bài kết luận: “Điều hiển nhiên, tác phẩm văn học đỉnh cao không phải là thứ cầu được, ước thấy. Nó đòi hỏi nhà văn phải có tài năng lớn, trí tuệ siêu việt, nhân cách cao thượng. Hơn nữa, tầm tư tưởng phải vượt thoát ra khỏi sự cám dỗ của đời thường. Nhà văn cỡ này phải có tâm huyết tới mức tử vì đạo. Những phẩm chất trên, các nhà văn Việt Nam đều có cả, nhưng thượng đế ban cho họ hơi ít “.

Tình yêu cuộc sống tuyển chọn và giới thiệu để mọi người cùng đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim

NỖi NIỀM TÁC PHẨM ĐỈNH CAO

Nhà văn Hoàng Quốc Hải (*)

TNc: Tham luận này nhà văn Hoàng Quốc Hải đọc tại Đại hội VII Hội Nhà văn Việt Nam. Mười năm trôi qua vẫn còn nguyên “nỗi niềm” ấy. Nhân ĐH IX sắp họp, trang nhà xin giới thiệu cùng bạn đọc ý kiến của tác giả Vương triều sụp đổ….

Tại sao văn học Việt Nam hiện nay không có tác phẩm đỉnh cao?

Câu hỏi ấy đã bao hàm câu trả lời rồi. Thật ra trên thế giới không phải đã có nhiều quốc gia có nền văn học đỉnh cao. Và cũng không phải thời nào cũng có tác phẩm đỉnh cao.

Châu Âu suốt ba thế kỷ ( XVII – XVIII – XIX ), nền văn học xuất hiện nhiều trường phái, đạt nhiều đỉnh cao chói lọi. Nhưng sang thế kỷ XX các đỉnh cao cứ thưa vắng dần, và chỉ còn lại những bình nguyên văn học.

Nước ta không phải không có văn học đỉnh cao. Nhưng người mình thường có tư tưởng vọng ngoại. Cái gì của nước ngoài cũng xem trọng, của ta thì xem thường. Đã thế, người trong nghề lại không chịu thừa nhận ai, ngoài mình. Đó là đầu óc thiếu tự tin, nhưng lại nặng về vị kỷ. Lọai tư duy này làm con người trở nên bé mọn, và thường không được khách quan, sáng suốt.

Mười năm (1932 – 1942) của Tự lực văn đoàn làm nảy sinh các trường phái văn học:

– Lãng mạn.

– Hiện thực phê phán.

– Suy đồi. …

Các trường phái này cọ sát nhau nảy sinh khá nhiều đỉnh cao văn học. Thế nhưng sự đánh giá của cả đương đại và hậu thế khá dè dặt, thậm chí không thừa nhận.

Trong giai đoạn này ta dễ nhận thấy có một nhà văn, nếu ông sinh ở nước khác, và với những cống hiến ấy, đời phải tôn ông là bậc thiên tài. Đó là Vũ Trọng Phụng.

Vũ Trọng Phụng sống và chết trong nghèo khổ. Sinh thời, ông chỉ ao ước: “ Nếu như ở đời có được cơm mà ăn no nhỉ?”. Năm 27 tuổi, ông qua đời vì bệnh lao phổi, để lại một người con và một đống tác phẩm. Không ít trong số mấy chục tác phẩm của ông đạt tầm cao thế giới.

Vậy mà những tác phẩm ấy bị vùi lấp trên nửa thế kỷ, không một lần được tái bản. Bởi một thời gian dài người ta vu cho ông là phần tử Trốt- kít( Trosky ). Tới khi tác phẩm của ông được tái bản, chị Vũ Mỹ Hằng, con gái ông đã ngoài 50 tuổi, chỉ dán mắt nhìn các tác phẩm của cha mình là tài sản chung của xã hội, theo “Luật bản quyền” vừa mới ban hành.

Chị Hằng và chồng đưa phần mộ của cha mình về ngôi vườn tại quê hương, nơi làng Mọc. Ngôi mộ được xây cất đàng hoàng, ốp đá cẩm thạch mà không có bất kỳ một tài trợ nào từ nhà nước và các hội đoàn. Sự thờ ơ đến bội bạc của đương thời và hậu thế khiến nhiều nhà văn thấy nản lòng.

Lại mười năm nữa ( 1986- 1995 ) thường gọi là “văn học thời đổi mới”. Giai đoạn này, các nhà văn Việt Nam bằng văn chương của mình, đã khuấy động toàn xã hội; đem lại cho mọi người một không khí sinh hoạt dân chủ. Công chúng độc giả trong cả nước như bị lên đồng, và họ “ngốn” tác phẩm của nhà văn như người khát trên sa mạc. Báo Văn nghệ in trên 100.000 rồi 200. 000 bản cho mỗi số, vẫn không đủ bán. Tiểu thuyết tirage thấp nhất là 10.000 bản, cao nhất tới gần 100.000 bản cho mỗi đầu sách. Thơ cũng in từ 5000 đến 10.000 bản. Thử hỏi văn chương đó ai viết ? Phần lớn các tác giả của những tác phẩm ấy vẫn còn tồn tại, và một phần không nhỏ có mặt trong Đại hội này.

Thời đó, cái 10 năm vàng son ấy, tuyệt nhiên không có công chúng nào đòi chúng ta phải có tác phẩm đỉnh cao.

Liệu có phải những gì chúng ta viết thời đó đều đã ở đỉnh cao, hay bởi giai đoạn đó văn học đã đề cập một cách thỏa đáng khát vọng của công chúng. Có lẽ vậy. Vấn đề là khát vọng của số đông được thỏa mãn.

Và 10 năm lại đây ( 1996-2005 ), số lượng tác phẩm của các nhà văn phát hành không phải là ít, nhưng không khuấy động được công chúng. Không khí văn học bình lặng như mặt nước ao thu. Khá nhiều tác phẩm rất đáng đọc. Nó tốt cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Nhưng công chúng bạn đọc vẫn cứ thờ ơ, và đòi nền văn học đương đại phải có tác phẩm đỉnh cao. Đòi hỏi đó là nỗi bức xúc của công chúng trước hiện thực xã hội. Bởi soi vào tác phẩm văn học, họ cảm thấy hẫng hụt.

Thật ra, cái nền hiện thực xã hội trong 10 năm gần đây, dư thừa chất liệu cho các nhà văn Việt Nam làm nên tác phẩm đỉnh cao. Đây là cơ hội, dù là cơ hội đem lại nhiều bất hạnh cho số đông, nhưng nếu bỏ qua là một tiếc nuối, một ân hận. Bức tranh xã hội đủ màu sắc. Vui có, buồn có, bi thương có, âm mưu thủ đoạn có, tham nhũng hối lộ có, lừa đảo có, đểu cáng có, bất hiếu bất mục , bất nhân bất nghĩa… không thiếu một loại nào. Đặc biệt lũ cơ hội xuất hiện nhan nhản. Đó là những kẻ tiếm dụng quyền hành để tước đoạt trắng trợn tài sản quốc gia, hối hả tích lũy vốn liếng để mau chân chạy sang hàng ngũ tư bản. và bây giờ chúng đang âm mưu rửa tiền để hợp thức hóa và công khai khối tài sản khổng lồ mà chúng chiếm được bằng các thủ đoạn bất lương. Từ bức tranh xã hội này, công chúng đòi hỏi nhà văn bằng ngòi bút và lương tâm của mình, vạch mặt bọn chúng, “ không cho chúng nó thoát!”. Phải cho tái xuất các gương mặt kiểu “Nghị Quế “, “Nghị Hách”, “Xuân tóc đỏ”, “Bà phó Đoan”, “Bá Kiến”, “Chí Phèo” … thời hiện đại.

Bức tranh hiện thực xã hội phong phú là vậy mà không được phản chiếu trong tác phẩm, vì thế công chúng mới chối bỏ. Và đó là điều tệ hại nhất đối với nhà văn. Đó còn là dấu hiệu báo trước một nền văn học đang vững chắc bước vào giai đoạn suy thoái. Có người đặt vấn đề, hay là nhà nước không đầu tư tiền bạc thỏa đáng cho nhà văn sáng tác?

Không phải vậy. Tiền bạc là cần thiết nhưng không phải là nhân tố cấp bách với nhà văn.

Ta chẳng từng thấy Ngô Tất Tố phải bán non tác phẩm cho nhà xuất bản Mai Lĩnh, để lấy tiền sống đó sao? Lại chẳng thấy Nam Cao, Vũ Trọng Phụng sống trong khốn khó, mà các ông vẫn để lại cho đời những tác phẩm đỉnh cao đó sao?

Thật ra muốn có tác phẩm đỉnh cao, ngoài yếu tố tài năng của nhà văn, còn đòi hỏi xã hội phải chuẩn bị cho nó.

Thời Vũ Trọng Phụng, Nam Cao các mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn dân tộc và đế quốc đã phát triển tới đỉnh điểm. Các trào lưu văn học đua nhau nảy nở thành trường phái mà không có sự gò ép, cấm đoán. Chính quyền thực dân chỉ khống chế các đoàn thể chính trị, cách mạng. Các nhà văn như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Xuân Sanh… tiêu biểu cho các trường phái đều có những tác phẩm đỉnh cao.

Muốn nói gì thì nói, 10 năm đó ( 1932-1942 ), các trường phái văn chương đua nhau nảy nở, đã là chất xúc tác cho các nhà văn sáng tạo. Bản thân mỗi nhà văn đều có lòng yêu ghét rõ ràng, và được viết tất cả những gì mình viết, mà không sợ chính quyền thực dân cản trở.

Tình hình hiện nay, phải thừa nhận điểm yếu của văn chương Việt Nam là đơn điệu quá. Trên nửa thế kỷ qua tất cả chỉ nói theo một giọng điệu, viết theo một thi pháp. Bản thân nghệ thuật là khám phá, là luôn luôn tìm tòi đổi mới. Vậy mà 60 năm qua chỉ đi mỗi một con đường để cùng đến một mục tiêu làm gì chẳng cũ kỹ, sáo mòn. Lẽ ra phải tạo điều kiện để có nhiều con đường khác nhau, cùng đến chung một đích; đó là dân tộc, là Tổ quốc, là chủ nghĩa yêu nước.

Vậy cái gì cản trở nhà văn? Phải chăng quyền tự do sáng tác, tự do công bố tác phẩm của nhà văn bị hạn chế? Nó còn là sự tự kỷ ám thị, lâu năm trở thành nỗi sợ hãi, tới mức không dám viết về những điều mình nghĩ. Bởi chế tài những sai sót của nhà văn không được minh bạch, không có luật mà phụ thuộc vào định hướng chung chung. Và rồi ai cũng có quyền phá hỏng cả một sáng tác phẩm nghiêm túc của nhà văn, thậm chí phá nát cả sự nghiệp và cuộc đời nhà văn bằng nhận thức thấp kém của chính một người quyền uy nào đấy. Tình trạng đó tới nay vẫn chưa chấm dứt. Thỉnh thoảng vẫn thấy những tác phẩm bị đình chỉ phát hành, bị thu hồi nhưng không công bố công khai, khiến tác giả và công chúng cũng không biết vì sao nữa.

Để chấm dứt tình trạng mù mờ đó cần phải xây dựng một xã hội đối thoại, xã hội dân chủ. Vì vậy, mọi thứ phải được minh bạch trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Tôi đề nghị nhà nước hãy trả lại cho văn chương báo chí quyền tự do sáng tác, mà nhà nước đã trưng dụng trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm vừa qua. Đó không chỉ là quyền tự do sáng tác của nhà văn, nhà báo mà còn là quyền được thông tin khách quan của công chúng. Chiến tranh đã chấm dứt 30 năm rồi mà văn chương báo chí vẫn sống trong cảnh mù mờ. Cả nước có tới gần 1000 tờ báo và tạp chí, nhưng quy về chỉ có mỗi một Tổng biên tập, tránh sao khỏi sự đơn điệu và sáo mòn.

Tròn 60 năm kể từ ngày văn chương báo chí đi theo cách mạng, tỉ lệ mắc sai lầm về tư tưởng, về chính trị, kinh tế trong đội ngũ văn chương báo chí là thấp nhất so với bất cứ một ngành nghề nào. Thế mà độ tin cậy của Nhà nước đối với nhà văn lúc nào cũng ở mức thấp nhất.

Nhân loại đang bước mạnh vào kỷ nguyên hội nhập. Những ngành có tính chất sống còn của một quốc gia, từ xưa nhà nước vẫn độc quyền nắm giữ như thông tin viễn thông, điện lực, tài chính ngân hàng, nhà nước còn mở cửa mời gọi tư bản đến hùn hạp tỉ lệ đến 30%. Nhiều phương diện được thúc đẩy cổ phần hóa, tư nhân hóa. Vậy mà chỉ một tờ báo, một nhà xuất bản tư nhân lại không thể chấp nhận. Tiếc thay, những quyền đó đã được ghi liên tục trong hiến pháp từ ngày mở nước tới nay. Tôi đề nghị Nhà nước nên thành lập một cơ quan kiểm duyệt. Ví dụ đó là Cục kiểm duyệt chẳng hạn. Đặt nó trong Bộ nào, Ngành nào tùy Nhà nước.

Công cụ để giám sát, chế tài là “luật báo chí”, “luật xuất bản”, “luật sở hữu trí tuệ”; đồng thời tham chiếu cả “luật dân sự”, “luật hình sự”.

Mọi công dân Việt Nam đều phải tuân thủ luật pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều đó có nghĩa rằng, công dân nhà văn Việt Nam không được phép viết ra, cũng như không được phép công bố những điều mà luật pháp ngăn cấm.Ví dụ tuyên truyền cho bạo lực, dâm ô, kích động các phần tử phản động chống lại nhà nước …Trái lại, công dân nhà văn Việt Nam có quyền được viết,được công bố những sáng tác phẩm của mình trên các phương tiện thông tin và in ấn,với những nội dung mà luật pháp không cấm.

Đương nhiên, đây là quyền công dân, lẽ ra phải được tôn trọng,được bảo hộ song hành với việc ban bố các đạo luật trên.

Chúng ta đang sống trong một xã hội công dân, đòi hỏi mọi sự phải được giải quyết minh bạch. Vì vậy, những tác phẩm bị kiểm duyệt toàn bộ hoặc kiểm duyệt một phần, cần được công bố công khai. Và nói rõ tác giả đã vi phạm những điều nào, điều nào theo luật định. Nếu tác giả không chấp nhận, họ có quyền khiếu nại việc đó ra tòa dân sự.

Một khi mọi việc đã minh bạch, mà nhà văn không đem lại được điều gì mới mẻ vào văn chương, thì đúng là họ bất tài. Mọi trách cứ, mọi lên án của công chúng bạn đọc đều trở nên có lý.

Điều hiển nhiên, tác phẩm văn học đỉnh cao không phải là thứ cầu được, ước thấy. Nó đòi hỏi nhà văn phải có tài năng lớn, rí tuệ siêu việt, nhân cách cao thượng. Hơn nữa, tầm tư tưởng phải vượt thoát ra khỏi sự cám dỗ của đời thường. Nhà văn cỡ này phải có tâm huyết tới mức tử vì đạo. Những phẩm chất trên, các nhà văn Việt Nam đều có cả, nhưng thượng đế ban cho họ hơi ít.

Láng Thựợng ngày 21 tháng 4 năm 2005

HoangQuocHai
(*) Nhà văn Hoàng Quốc Hải

(1) Tham luận đọc tại Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VII.
(Rút trong tập KẺ SĨ TRƯỚC THỜI CUỘC xuất bản 2014)
Nguồn: Quà tặng xứ mưa theo trannhuong.com

Bài viết mới

Video yêu thích

BanMai2
Ban Mai
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook