Có ba dòng văn chương

huongtichnuihong
Hoàng Kim thăm nhà thơ Hải Như và trò chuyện với anh Hoàng Đình Quang. “Dòng văn chương Xu thời quá phổ biến trong mọi xã hội.  Dòng văn chương Ưu thời có hai dạng loại của Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, Khang Hi và Vi Tiểu Bảo. Thầy Tịnh nói với em “Có những tác phẩm văn chương nên hướng đến những giá trị nhân văn sâu xa hơn, như một món ăn trong thờ cúng, dẫu một con ruồi nhỡ rơi vào và đã được vứt đi nhưng cảm giác sẽ không bằng thức ăn hoàn toàn tinh khiết ”.

CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

Hoàng Kim

hoangdinhquang1

“Khi nàng trở về chả còn mặt trời
Một tí dưới đáy ly bàng hoàng
Con mèo đen bàng hoàng vệt váy”
(thơ Hoàng Đình Quang).

Hoàng Kim
quên thơ mới mất rồi.
Mình làm người cổ điển thôi.
Nhưng mình thích ảnh này
Và chuyện con mèo vàng
CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

“Bất kể mèo trắng mèo đen
Miễn là bắt được chuột”
Nhân loại đang lên đồng
Cuồn cuộn mọi nơi
Lên cơn hưng phấn.
Mọi chốn nháo nhào
Theo thuyết thực dụng
Thời Vi Tiểu Bảo lên ngôi

Ai Vi Tiểu Bảo?
Ai là Khang Hy?
Ai Trần Cận Nam?
Ai Ngô Tam Quế?

Nén hương bùng cháy trên tay.
Con mèo vàng từ chốn cao nhảy xuống.
Một câu hỏi khắc khoải mênh mông
Giữa trời xanh cao rộng.

Ai phán xét ai,
Nhân danh ai.?
Lịch sử
Nhân dân
và chính CON NGƯỜI:

Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh, Nguyễn Du
Ai là kẻ anh hùng?
Ai là bậc anh hùng?
Ai là anh hùng danh sĩ tinh hoa?

“Trăm năm trong cõi người ta.
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”.
“Thiện căn cốt ở lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

Nguyễn Du với Hồng Sơn Liệp Hộ
ĐI SĂN
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Kẻ đạt quan trường chí đỉnh mây,
Còn ta vui thú với hươu nai.
Cốt lòng thư thái không mong được,
Không hại điều nhân diệt các loài.
Xạ ngủ cỏ thơm hương ướt ẩm,
Núi xa, chó sủa tiếng ngoài tai.
Thú vui phù thế âu tùy thích,
Xe đón lọng che ấy những ai ?

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :
LIỆP
Y quan đạt giả chí thanh vân,
Ngô diệc lạc ngô mi lộc quân.
Giải thích nhàn tình an tại hoạch,
Bỉnh trừ dị loại bất phương nhân.
Xạ miên thiển thảo hương do thấp,
Khuyển độ trùng sơn phệ bất văn.
Phù thế vi hoan các hữu đạo,
Khu xa ủng cái thị hà nhân.

Chú thích:
Thanh vân, mây xanh, chỉ công danh thành đạt“.

*

Người dặn ta từ thuở xưa.
Càng về sau mỗi ngày càng thấm
Có ba dòng văn chương.

CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

hainhuhoangkim

(*) Notes: Hoàng Kim thăm nhà thơ Hải Như “Hôm trước em có thăm vợ chồng bác Hải Như nhà thơ ở nhà riêng tại 7/2A Tổ 3 Khu phố 2 Hà Huy Giáp, Phường Thạnh Lộc , Quận 12 TP Hồ Chí Minh. Cụ tên thật là Vũ Như Hải, sinh năm 1923 tại làng Bái Dương, huyện Nam Trực tỉnh Nam Định. Cụ là một trong 80 thành viên đầu tiên tham gia Đại hội Văn nghệ Toàn Quốc lần thứ nhất ngày 25-7- 1948 tại chiến khu Việt Bắc. Hai cụ nay 93 và 91 tuổi. Nhà thơ Hải Như là tác giả của hơn 100 bài thơ được phổ nhạc. Các tác phẩm chính đã xuất bản có ‘Trái đất mai này còn lại tình yêu’ (1985), ‘Thơ viết về Người’ (2004, 2015) ‘Có hai dòng văn chương’ (2010) và nhiều tác phẩm khác. Nhà thơ Hải Như phảng phất những tính cách giống Thầy Tịnh của chúng ta: uyên thâm về học thức và vốn sống, điềm tĩnh, vị tha, theo sát thời cuộc. Cụ cũng có điều tương đồng với Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Thầy Hiến, … Cụ nói với em: ‘Văn dĩ tải đạo’ cần nói đúng người, đúng việc, đúng lúc, đúng chỗ, thậm chí chưa nói tốt hơn là vội nói ra. Cụ Hải Như tặng em tập sách ‘Thơ Viết về Người’ mới in lại và tặng bản sao tập di cảo ‘Chân dung phác thảo’ với hàng chục khuôn mặt mà cụ giữ mấy chục năm nay, chưa bao giờ in với lời dặn ‘cháu viết bài hoặc đăng sau này lúc thích hợp’. Theo nhà thơ Hải Như thì có HAI DÒNG VĂN CHƯƠNG: Lâu nay nhiều người vẫn nhầm lẫn giữa văn học và báo chí. Báo chí là hiện thực, văn học có hư cấu. Chức năng văn học là thức tỉnh con người. Từ văn học có ‘Hai dòng văn chương’ là Ưu thời và Xu thời. Dòng văn chương Ưu thời gồm những áng văn chương của kẻ sĩ vốn giàu lòng trắc ẩn, luôn trăn trở suy tư về kiếp người, sự hưng thịnh của dân tộc. Dòng văn chương Xu thời, gồm các tác phẩm nói theo Balzac, chỉ muốn “bào nhẵn những gồ ghề trong cuộc sống xã hội”, những áng văn chương “một chiều”. Em thì phân biệt CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG. Đây không phải là sự phân biệt của em mà khởi đầu bởi thầy Tịnh và thầy Dộ trò chuyện với nhau thuở trước. Em mới thấm chứ chưa thể kể lại thật kỹ được. Dòng văn chương Xu thời quá phổ biến trong mọi xã hội.  Dòng văn chương Ưu thời có hai dạng loại của Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, Khang Hi và Vi Tiểu Bảo. Thầy Tịnh nói với em “Có những tác phẩm văn chương nên hướng đến những giá trị nhân văn sâu xa hơn, như một món ăn trong thờ cúng, dẫu một con ruồi nhỡ rơi vào và đã được vứt đi nhưng cảm giác sẽ không bằng thức ăn hoàn toàn tinh khiết”. Em Hoàng Kim

Nguyễn Du với Hồng Sơn Liệp Hộ
KỲ LÂN MỘ VÀ CHUYỆN NGUYỄN DU

(còn tiếp….)

Xem thêm
Giải mã bí ẩn ngạc nhiên về lăng mộ vua Quang Trung
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (3)
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (2)
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (1)


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Có ba dòng văn chương

cobadongvanchuong1

CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

Hoàng Kim

Câu chuyện lạ lùng này ấn tượng mãi trong tôi ngày lên núi Dũng Quyết 27 tháng 11 năm 2014 viếng thăm đền thờ Quang Trung Hoàng Đế (*). Tại chốn thiêng cao vọi này, tôi thành kính thắp hương, nhưng trong đầu lại vụt ra câu hỏi: ‘Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh, Nguyễn Du ai là kẻ anh hùng, ai là bậc anh hùng, ai là anh hùng danh sĩ tinh hoa tài trí đức độ kiệt xuất nhưng mệnh vua không tới?’.

cobadongvanchuong
Thốt nhiên nén hương bùng cháy và có một con mèo rất lớn từ đâu đó nhảy phắt xuống, quấn quýt bên tôi.

Tôi nhớ rất rõ trên tấm bia đá lớn cạnh chuông đại hồng chung có khắc sáu câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài ‘Lịch sử nước ta’ (sau này đã thay bằng tấm văn bia khác). Nội dung thơ Bác như sau: ‘Nguyễn Huệ là kẻ phi thường./ Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,/ Ông đà chí cả mưu cao,/ Dân ta lại biết cùng nhau một lòng./ Cho nên Tàu dẫu làm hung,/ Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.’ (Hồ Chí Minh tuyển tập Q1, trang 598). Năm câu chuyện lịch sử  đột ngột ùa về trong nén hương đang bùng lên trên tay và tôi ngộ ra được lời bàn luận của thầy Tịnh ‘có ba dòng văn chương’.

Hôm nay tôi xin kể lại bài thơ ‘Kẻ phi thường’ với chuyến hành hương đầy kỷ niệm. Tặng phẩm vô giá của thầy Nguyễn Khoa Tịnh sách Binh thư Yếu lược Trần Quốc Tuấn. Chuyện thầy và tôi bình sách ‘Lộc Đỉnh Ký’ Kim Dung sau hơn hai mươi năm gặp lại. Nhà thơ Hải Như tặng sách “Có hai dòng văn chương”,”Thơ viết về Người” “Chân dung phác thảo”. ‘Kỳ Lân Mộ’ và chuyện Nguyễn Du tiểu thuyết lịch sử của nhà giáo nhà văn Nguyễn Thế Quang.

nuiDungQuyet

TA VỀ TRỜI ĐẤT HỒNG LAM

Bài thơ ‘Kẻ phi thường’ với chuyến hành hương đầy kỷ niệm

Hoàng Kim

Ta về trời đất Hồng Lam
Bâng khuâng bước dưới trăng vàng lộng soi
Ngực trần chạm tới thảnh thơi
Nghe lưng thấu đến bồi hồi đất quen.
Linh miêu chốn Tổ Rồng Tiên
Quấn quanh trao gửi nổi niềm Thái Sơn
Hỡi ai là kẻ phi thường
Đỉnh chung dâng nén tâm hương nhớ Người.

Trần Hưng Đạo và Chùa Thắng Nghiêm
TẶNG PHẨM VÔ GIÁ CỦA THẦY TỊNH

Sách Binh thư Yếu lược Trần Quốc Tuấn là di sản vô giá thầy Tịnh tặng gia đình tôi, nay tôi để trang trọng bên di ảnh của Thầy nơi trân trọng cùng những kỷ vật hình ảnh thiêng liêng của Cha Mẹ, Dì, Anh Hai Hoàng Ngọc Dộ và những người thân thiết khác.

Thầy Tịnh là người đã viết bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên” với lời đề tặng “Thầy ước mong em noi gương Quốc Tuấn”

Em ơi em can đảm bước chân lên !

“Thương mến tặng em Hoàng Kim.
Thầy ước mong em noi gương Quốc Tuấn”

Nguyễn Khoa Tịnh

Đọc thơ em, tim tôi thắt lại
Lòng nghẹn ngào, nước mắt chảy rưng rưng
Nửa xót xa nhưng nửa lại vui mừng
Xót xa vì đời em còn thơ dại
Mới tuổi thơ mà cuộc đời đầy khổ ải
Mới biết cười đã phải sống mồ côi
Như chiếc thuyền giữa biển tự trôi
Như chiếc lá bay về nơi vô định
Bụng đói” viết ra thơ em vịnh:

Cơm ngày một bữa sắn trộn khoai
Có biết lòng ta bấy hỡi ai?
Vơi vơi lòng dạ, cồn cào bụng
Kể chi no đói, mặc ngày dài”

Phải!
Kể chi no đói mặc ngày dài
Rất tự hào là thơ em sung sức
Rất tự hào là em tôi đầy nghị lực
Đã hiển lộ mình qua “Cái chảo rang

“Trung dũng ai bằng cái chảo rang
Lửa to mới biết sáp hay vàng
Xào nấu chiên kho đều vẹn cả
Chua cay mặn ngọt giữ an toàn
Ném tung chẳng vỡ như nồi đất
Quăng bừa xó bếp vẫn nằm ngang
Tốt đẹp đâu cần danh tiếng hão
Bạn cùng lửa đỏ, nóng chang chang

Phải!
Lửa to mới biết sáp hay vàng!
Em hãy là vàng,
Mặc ai chọn sáp!
Tôi vui sướng cùng em
Yêu giấc “Ngủ đồng
Hiên ngang khí phách:

Sách truyền sướng nhất chức Quận công
Ta sướng khi ra ngủ giữa đồng
Lồng lộng trời hè muôn làn gió
Đêm thanh sao sang mát thu không
Nằm ngữa ung dung như khanh tướng
Lấy mấy vần thơ tỏ nỗi lòng
Tinh tú bao quanh hồn thời đại
Ngủ đồng khoan khoái ngắm gương trong

Tôi biết chí em khi “Qua đèo Ngang
Ung dung xướng họa với người anh hùng
Đã làm quân thù khiếp sợ:

Ta đi qua đèo Ngang
Cũng gặp Người trèo qua núi hiểm
Đỉnh dốc chênh vênh
Xe mù bụi cuốn
Có lẽ thiên nhiên đã định bao giờ
Một dãy Hoành Sơn bát ngát trận đồ
Điệp điệp núi cao
Trùng trùng rừng thẳm.
Người thấy
Súng gác trời xanh
Gió lùa biển lớn
Nông dân rộn rịp đường vui
Thanh Quan nàng nhẽ có hay
Cảnh mới đã thay cảnh cũ.
Ta hay
Máu chồng đất đỏ
Mây cuốn dặm khơi
Nhân công giọt giọt mồ hôi
Hưng Đạo thầy ơi có biết
Người nay nối chí người xưa

Tới đây
Nước biếc non xanh
Biển rộng gió đùa khuấy nước
Đi nữa
Đèo sâu vực thẳm
Núi cao mây giỡn chọc trời

Nhớ thù nhà, luống thẹn làm trai
Thương dân nước, thà sinh phận gái
“Hoành Sơn cổ lũy”
Hỏi đâu dấu tích phân tranh?
Chỉ thấy non sông
Lốc cuốn, bốn phương sấm động.

Người vì việc nước ra đi
Ta muốn cứu dân nên thăm trận thế
Điều không hẹn mà xui gặp mặt
Vô danh lại gặp hữu danh
Cuộc đời dài ắt còn sẽ gặp nhau
Nay hội ngộ giữa đỉnh cao trời đất
Anh em ta ngự trên xe đạp
Còn Người thì lại đáp com măng
Đường xuyên sơn
Anh hùng gặp anh hùng
Nhìn sóng biển Đông
Như ao trời dưới núi.

Xin kính chào
Bậc anh hùng tiền bối
Ta ngưỡng mộ Người
Và tỏ chí với non sông
Mẹ hiền ơi!
Tổ Quốc ơi!
Xin tiếp bước anh hùng!

Hãy cố lên em!
Noi gương danh nhân mà lập chí
Ta với em
Mình hãy kết thành đôi tri kỷ!
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Tôi tự hào bài “Tỏ chí” của em:

Quốc Tuấn ngày xưa chí vững bền
Thù nhà, nợ nước chẳng hề quên
Đến bữa quên ăn, đêm quên ngủ
Thương dân, yêu nước quyết báo đền
Văn hay thu phục muôn người Việt
Võ giỏi kinh hồn lũ tướng Nguyên
Mươi năm sau nữa ơi ông Tuấn
Nối chí ông, nay cháu tiến lên!

Tôi thương mến em
Đã chịu khó luyện rèn
Biết HỌC LÀM NGƯỜI !
Học làm con hiếu thảo.
Mười lăm tuổi đã “Tập làm thầy giáo

Vui gì hơn buổi đầu làm thầy giáo
Của lớp vở lòng đất mẹ yêu thương
Trưa nắng luyến các em cùng đến lớp
Giọng líu lo như chim hót ven đường.

Đứng trước các em tuổi nhỏ đáng yêu
Mà đã tưởng tới bao nhiêu người lớn
Nghe em đọc giọng thanh thanh dễ mến
Mà đã nghe đất nước xuyến xao mình!

Tổ Quốc đang chờ em phía trước.
Em ơi em, can đảm bước chân lên!

1970

Thầy khi tặng sách đã hỏi tôi: Vì sao em chọn gương danh nhân Trần Quốc Tuấn để học ? Em thích nhất chương nào trong sách này? Tôi thưa với Thầy đức Thánh Trần Quốc Tuấn là người minh triết, văn võ song toàn, vị thánh hiền tài, thân danh trọn vẹn nhất trong sử Việt mà em ngưỡng mộ nhất. Hơn nữa học theo gương Người (như bài thơ trên đây) chính thầy là người khuyến khích em từ thuở nhỏ .  Chương sách “Đạo làm tướng” là em thích nhất trong sách này. Lời dặn lại của Đức Thánh Trần: Bậc đại tướng là người bao trùm và vượt hẳn tám hạng tướng kể trên, gặp hiền tài thì tôn trọng lắng nghe, biết tỏ ý mình không theo kịp người, biết nghe lời can ngăn như thuận theo dòng nước, lòng rộng rãi nhưng chí cương quyết, giản dị và nhiều mưu kế“. “Người quân tử tiến thoái quả quyết, xem người thì thanh thản vui tươi, chí thì ở trừ tàn bạo, đó là khí độ của người tướng quốc. Thấy ác không giận, thấy lành không mừng, nhan sắc không thay đổi, đó là lượng của người thiên tử.” Bảy phép để biết người: 1. Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không  2. Lấy lời cật vấn đến kỳ cùng để xem cách ứng biến của họ. 3.  Cho gián điệp thử xem có trung thành không. 4. Hỏi rõ ràng tường tất để xem đức hạnh thế nào. 5. Lấy của mà thử để xem có thanh liêm không 6. Lấy sắc đẹp mà thử để xem có đứng đắn không. 7. Lấy việc khó khăn mà thử để xem có dũng cảm không. 8. Đem rượu cho họ uống say để xem có giữ được thái độ không”.

Thầy cười, khen, tặng sách và viết lời đề tặng.

Nhờ Thầy mà sau này tôi có duyên may viết được bài  Trần Hưng Đạo và chùa Thắng Nghiêm

THẦY VÀ TÔI BÌNH SÁCH LỘC ĐỈNH KÝ

Khi tôi còn nhỏ, thầy Tịnh, thầy Thuật, thầy Phượng và thầy Dộ (anh Hai tôi) hay chơi cờ và bình sách hay. Thầy Thuật đánh cờ giỏi nhất, thầy Tịnh là người giỏi cờ thứ hai. Thầy Tịnh đã có nói đến  “ba dòng văn chương” “nghiên cứu lịch sử và dạy sử” với nhiều chuyện thật hay nhưng chưa được chép lại. Riêng việc ‘có ba dòng văn chương’ một hôm thầy hỏi tôi: Hoàng Kim đọc sách Kim Dung chưa? tôi thưa thầy là chưa. Thầy nói thầy đọc rồi và thích nhất hai bộ “Tiếu ngạo giang hồ” và “Lộc Đỉnh Ký”.

Khoảng năm 1990 sau hai mươi năm gặp lại, tôi không ngờ Thầy nhắc lại câu chuyện cũ về sách ưa thích của Thầy là ‘Tiếu ngạo giang hồ; ghét  ‘ngụy quân tử kiếm’ không đáng làm thầy, ưa thích thung dung tự tại của Lệnh Hồ Xung và Nhậm Doanh Doanh.

Thầy nói với tôi “Lộc Đỉnh Ký” là dòng văn chương thứ ba, có những loại sách thuộc loại ưu thời nhưng khó đọc. Lúc thầy trò gặp lại, tôi thưa thầy quan điểm của tôi về bộ sách này. ĐỌC LỘC ĐỈNH KÝ CỦA KIM DUNG, chúng ta sẽ thấy Vi Tiểu Bảo là hình tượng của mẫu người Trung Quốc hiện đại: có tốt có xấu, tốt là căn bản “với vua tốt thì trung, với bạn tốt thì nghĩa, với cha mẹ thì hiếu, với vợ con thì ái” mặt khác phổ biến là thực dụng, giảo hoạt, không dễ đối phó. Tôi tấu đồng và tâm đắc với nhận xét của Kim Dung đây là tiểu thuyết cuối cùng hay nhất của đời ông. Muốn hiểu người Trung Quốc có lẽ phải đọc sách này chăng? Lộc Đỉnh Ký dụng công sâu xa của Kim Dung để viết về Hoàng Đế Khang Hy một trong mười vị vua anh minh xuất sắc nhất trong lịch sử Trung Quốc. Thời Khang Hy đế chế Trung Hoa có biên giới lãnh thổ rộng lớn nhất so với từ trước đến nay. Bậc minh chủ không chỉ giỏi dùng người hiền đức, người tài mà còn biết biến dịch, tâm cơ, giỏi dụng công chế ngự được người xấu, kẻ ác, những loại người lưu manh, giảo hoạt, lập lờ tốt xấu. Lộc Đỉnh Ký là sách về mưu lược trị loạn của Khang Hy. Đó là một kỳ thư hiếm thấy. Đây là loại sách không dễ đọc vì lợi bất cập hại . Nó thuộc nhóm sách hay hạn chế đọc chỉ dùng cho bậc minh chủ.


CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

Nhớ về kỷ niệm thầy Nguyễn Khoa Tịnh, tôi có trò chuyện với cô Trần Thị Diệu Vinh (vợ thầy Nguyễn Khoa Tịnh) cô Lê Thị Muôn (vợ thầy Hoàng Ngọc Dộ cũng là anh Hai, người Thầy lớn của tôi) và với anh Lê Quang Vinh. Nội dung như sau: “Hôm trước em có thăm vợ chồng bác Hải Như nhà thơ ở nhà riêng tại 7/2A Tổ 3 Khu phố 2 Hà Huy Giáp, Phường Thạnh Lộc , Quận 12 TP Hồ Chí Minh. Cụ tên thật là Vũ Như Hải, sinh năm 1923 tại làng Bái Dương, huyện Nam Trực tỉnh Nam Định. Cụ là một trong 80 thành viên đầu tiên tham gia Đại hội Văn nghệ Toàn Quốc lần thứ nhất ngày 25-7- 1948 tại chiến khu Việt Bắc. Hai cụ nay 93 và 91 tuổi. Nhà thơ Hải Như là tác giả của hơn 100 bài thơ được phổ nhạc. Các tác phẩm chính đã xuất bản có ‘Trái đất mai này còn lại tình yêu’ (1985), ‘Thơ viết về Người’ (2004, 2015) ‘Có hai dòng văn chương’ (2010) và nhiều tác phẩm khác. Nhà thơ Hải Như phảng phất những tính cách giống Thầy Tịnh của chúng ta: uyên thâm về học thức và vốn sống, điềm tĩnh, vị tha, theo sát thời cuộc. Cụ cũng có điều tương đồng với Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Thầy Hiến, … Cụ nói với em: ‘Văn dĩ tải đạo’ cần nói đúng người, đúng việc, đúng lúc, đúng chỗ, thậm chí chưa nói tốt hơn là vội nói ra. Cụ Hải Như tặng em tập sách ‘Thơ Viết về Người’ mới in lại và tặng bản sao tập di cảo ‘Chân dung phác thảo’ với hàng chục khuôn mặt mà cụ giữ mấy chục năm nay, chưa bao giờ in với lời dặn ‘cháu viết bài hoặc đăng sau này lúc thích hợp’. Theo nhà thơ Hải Như thì có HAI DÒNG VĂN CHƯƠNG: Lâu nay nhiều người vẫn nhầm lẫn giữa văn học và báo chí. Báo chí là hiện thực, văn học có hư cấu. Chức năng văn học là thức tỉnh con người. Từ văn học có ‘Hai dòng văn chương’ là Ưu thời và Xu thời. Dòng văn chương Ưu thời gồm những áng văn chương của kẻ sĩ vốn giàu lòng trắc ẩn, luôn trăn trở suy tư về kiếp người, sự hưng thịnh của dân tộc. Dòng văn chương Xu thời, gồm các tác phẩm nói theo Balzac, chỉ muốn “bào nhẵn những gồ ghề trong cuộc sống xã hội”, những áng văn chương “một chiều”. Em thì phân biệt CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG. Đây không phải là sự phân biệt của em mà khởi đầu bởi thầy Tịnh và thầy Dộ trò chuyện với nhau thuở trước. Em mới thấm chứ chưa thể kể lại thật kỹ được. Dòng văn chương Xu thời quá phổ biến trong mọi xã hội.  Dòng văn chương Ưu thời có hai dạng loại của Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, Khang Hi và Vi Tiểu Bảo. Thầy Tịnh nói với em “Có những tác phẩm văn chương nên hướng đến những giá trị nhân văn sâu xa hơn, như một món ăn trong thờ cúng, dẫu một con ruồi nhỡ rơi vào và đã được vứt đi nhưng cảm giác sẽ không bằng thức ăn hoàn toàn tinh khiết”. Em Hoàng Kim

 

huongtichnuihong
Hoàng Kim thăm nhà thơ Hải Như và trò chuyện với anh Hoàng Đình Quang. “Dòng văn chương Xu thời quá phổ biến trong mọi xã hội.  Dòng văn chương Ưu thời có hai dạng loại của Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, Khang Hi và Vi Tiểu Bảo. Thầy Tịnh nói với em “Có những tác phẩm văn chương nên hướng đến những giá trị nhân văn sâu xa hơn, như một món ăn trong thờ cúng, dẫu một con ruồi nhỡ rơi vào và đã được vứt đi nhưng cảm giác sẽ không bằng thức ăn hoàn toàn tinh khiết ”.

CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

Hoàng Kim

hoangdinhquang1

“Khi nàng trở về chả còn mặt trời
Một tí dưới đáy ly bàng hoàng
Con mèo đen bàng hoàng vệt váy”
(thơ Hoàng Đình Quang).

Hoàng Kim
quên thơ mới mất rồi.
Mình làm người cổ điển thôi.
Nhưng mình thích ảnh này
Và chuyện con mèo vàng
CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

“Bất kể mèo trắng mèo đen
Miễn là bắt được chuột”
Nhân loại đang lên đồng
Cuồn cuộn mọi nơi
Lên cơn hưng phấn.
Mọi chốn nháo nhào
Theo thuyết thực dụng
Thời Vi Tiểu Bảo lên ngôi

Ai Vi Tiểu Bảo?
Ai là Khang Hy?
Ai Trần Cận Nam?
Ai Ngô Tam Quế?

Nén hương bùng cháy trên tay.
Con mèo vàng từ chốn cao nhảy xuống.
Một câu hỏi khắc khoải mênh mông
Giữa trời xanh cao rộng.

Ai phán xét ai,
Nhân danh ai.?
Lịch sử
Nhân dân
và chính CON NGƯỜI:

Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh, Nguyễn Du
Ai là kẻ anh hùng?
Ai là bậc anh hùng?
Ai là anh hùng danh sĩ tinh hoa?

“Trăm năm trong cõi người ta.
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”.
“Thiện căn cốt ở lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

Nguyễn Du với Hồng Sơn Liệp Hộ
ĐI SĂN
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Kẻ đạt quan trường chí đỉnh mây,
Còn ta vui thú với hươu nai.
Cốt lòng thư thái không mong được,
Không hại điều nhân diệt các loài.
Xạ ngủ cỏ thơm hương ướt ẩm,
Núi xa, chó sủa tiếng ngoài tai.
Thú vui phù thế âu tùy thích,
Xe đón lọng che ấy những ai ?

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :
LIỆP
Y quan đạt giả chí thanh vân,
Ngô diệc lạc ngô mi lộc quân.
Giải thích nhàn tình an tại hoạch,
Bỉnh trừ dị loại bất phương nhân.
Xạ miên thiển thảo hương do thấp,
Khuyển độ trùng sơn phệ bất văn.
Phù thế vi hoan các hữu đạo,
Khu xa ủng cái thị hà nhân.

Chú thích:
Thanh vân, mây xanh, chỉ công danh thành đạt“.

*

Người dặn ta từ thuở xưa.
Càng về sau mỗi ngày càng thấm
Có ba dòng văn chương.
Nguyễn Du với Hồng Sơn Liệp Hộ
CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

hainhuhoangkim

(*) Notes: Hoàng Kim thăm nhà thơ Hải Như

Nguyễn Du với Hồng Sơn Liệp Hộ
KỲ LÂN MỘ VÀ CHUYỆN NGUYỄN DU

(còn tiếp….)

 

(*) Xem thêm
Giải mã bí ẩn ngạc nhiên về lăng mộ vua Quang Trung
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (3)
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (2)
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (1)


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.