Thung dung

thayoi
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Hoàng Kim

Cuộc đời có những ngày thoải mái
Ngơi cùng ban mai riêng của lòng mình
Nghe giọt thời gian lung linh điểm ngọc
Thung dung, thanh nhànkhát khao xanh.thungdung
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG thơ văn Hoàng Kim

232 bài và CNM365 (gồm 1500 trang tư liệu)

Lưu trữ

Tháng Mười Một 2016
Tháng Mười 2016

Tháng Chín 2016

Có ba dòng văn chương

huongtichnuihong
Hoàng Kim thăm nhà thơ Hải Như và trò chuyện với anh Hoàng Đình Quang. “Dòng văn chương Xu thời quá phổ biến trong mọi xã hội.  Dòng văn chương Ưu thời có hai dạng loại của Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, Khang Hi và Vi Tiểu Bảo. Thầy Tịnh nói với em “Có những tác phẩm văn chương nên hướng đến những giá trị nhân văn sâu xa hơn, như một món ăn trong thờ cúng, dẫu một con ruồi nhỡ rơi vào và đã được vứt đi nhưng cảm giác sẽ không bằng thức ăn hoàn toàn tinh khiết ”.

CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

Hoàng Kim

hoangdinhquang1

“Khi nàng trở về chả còn mặt trời
Một tí dưới đáy ly bàng hoàng
Con mèo đen bàng hoàng vệt váy”
(thơ Hoàng Đình Quang).

Hoàng Kim
quên thơ mới mất rồi.
Mình làm người cổ điển thôi.
Nhưng mình thích ảnh này
Và chuyện con mèo vàng
CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

“Bất kể mèo trắng mèo đen
Miễn là bắt được chuột”
Nhân loại đang lên đồng
Cuồn cuộn mọi nơi
Lên cơn hưng phấn.
Mọi chốn nháo nhào
Theo thuyết thực dụng
Thời Vi Tiểu Bảo lên ngôi

Ai Vi Tiểu Bảo?
Ai là Khang Hy?
Ai Trần Cận Nam?
Ai Ngô Tam Quế?

Nén hương bùng cháy trên tay.
Con mèo vàng từ chốn cao nhảy xuống.
Một câu hỏi khắc khoải mênh mông
Giữa trời xanh cao rộng.

Ai phán xét ai,
Nhân danh ai.?
Lịch sử
Nhân dân
và chính CON NGƯỜI:

Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh, Nguyễn Du
Ai là kẻ anh hùng?
Ai là bậc anh hùng?
Ai là anh hùng danh sĩ tinh hoa?

“Trăm năm trong cõi người ta.
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”.
“Thiện căn cốt ở lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

Nguyễn Du với Hồng Sơn Liệp Hộ
ĐI SĂN
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Kẻ đạt quan trường chí đỉnh mây,
Còn ta vui thú với hươu nai.
Cốt lòng thư thái không mong được,
Không hại điều nhân diệt các loài.
Xạ ngủ cỏ thơm hương ướt ẩm,
Núi xa, chó sủa tiếng ngoài tai.
Thú vui phù thế âu tùy thích,
Xe đón lọng che ấy những ai ?

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :
LIỆP
Y quan đạt giả chí thanh vân,
Ngô diệc lạc ngô mi lộc quân.
Giải thích nhàn tình an tại hoạch,
Bỉnh trừ dị loại bất phương nhân.
Xạ miên thiển thảo hương do thấp,
Khuyển độ trùng sơn phệ bất văn.
Phù thế vi hoan các hữu đạo,
Khu xa ủng cái thị hà nhân.

Chú thích:
Thanh vân, mây xanh, chỉ công danh thành đạt“.

*

Người dặn ta từ thuở xưa.
Càng về sau mỗi ngày càng thấm
Có ba dòng văn chương.

CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

hainhuhoangkim

(*) Notes: Hoàng Kim thăm nhà thơ Hải Như “Hôm trước em có thăm vợ chồng bác Hải Như nhà thơ ở nhà riêng tại 7/2A Tổ 3 Khu phố 2 Hà Huy Giáp, Phường Thạnh Lộc , Quận 12 TP Hồ Chí Minh. Cụ tên thật là Vũ Như Hải, sinh năm 1923 tại làng Bái Dương, huyện Nam Trực tỉnh Nam Định. Cụ là một trong 80 thành viên đầu tiên tham gia Đại hội Văn nghệ Toàn Quốc lần thứ nhất ngày 25-7- 1948 tại chiến khu Việt Bắc. Hai cụ nay 93 và 91 tuổi. Nhà thơ Hải Như là tác giả của hơn 100 bài thơ được phổ nhạc. Các tác phẩm chính đã xuất bản có ‘Trái đất mai này còn lại tình yêu’ (1985), ‘Thơ viết về Người’ (2004, 2015) ‘Có hai dòng văn chương’ (2010) và nhiều tác phẩm khác. Nhà thơ Hải Như phảng phất những tính cách giống Thầy Tịnh của chúng ta: uyên thâm về học thức và vốn sống, điềm tĩnh, vị tha, theo sát thời cuộc. Cụ cũng có điều tương đồng với Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Thầy Hiến, … Cụ nói với em: ‘Văn dĩ tải đạo’ cần nói đúng người, đúng việc, đúng lúc, đúng chỗ, thậm chí chưa nói tốt hơn là vội nói ra. Cụ Hải Như tặng em tập sách ‘Thơ Viết về Người’ mới in lại và tặng bản sao tập di cảo ‘Chân dung phác thảo’ với hàng chục khuôn mặt mà cụ giữ mấy chục năm nay, chưa bao giờ in với lời dặn ‘cháu viết bài hoặc đăng sau này lúc thích hợp’. Theo nhà thơ Hải Như thì có HAI DÒNG VĂN CHƯƠNG: Lâu nay nhiều người vẫn nhầm lẫn giữa văn học và báo chí. Báo chí là hiện thực, văn học có hư cấu. Chức năng văn học là thức tỉnh con người. Từ văn học có ‘Hai dòng văn chương’ là Ưu thời và Xu thời. Dòng văn chương Ưu thời gồm những áng văn chương của kẻ sĩ vốn giàu lòng trắc ẩn, luôn trăn trở suy tư về kiếp người, sự hưng thịnh của dân tộc. Dòng văn chương Xu thời, gồm các tác phẩm nói theo Balzac, chỉ muốn “bào nhẵn những gồ ghề trong cuộc sống xã hội”, những áng văn chương “một chiều”. Em thì phân biệt CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG. Đây không phải là sự phân biệt của em mà khởi đầu bởi thầy Tịnh và thầy Dộ trò chuyện với nhau thuở trước. Em mới thấm chứ chưa thể kể lại thật kỹ được. Dòng văn chương Xu thời quá phổ biến trong mọi xã hội.  Dòng văn chương Ưu thời có hai dạng loại của Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, Khang Hi và Vi Tiểu Bảo. Thầy Tịnh nói với em “Có những tác phẩm văn chương nên hướng đến những giá trị nhân văn sâu xa hơn, như một món ăn trong thờ cúng, dẫu một con ruồi nhỡ rơi vào và đã được vứt đi nhưng cảm giác sẽ không bằng thức ăn hoàn toàn tinh khiết”. Em Hoàng Kim

Nguyễn Du với Hồng Sơn Liệp Hộ
KỲ LÂN MỘ VÀ CHUYỆN NGUYỄN DU

(còn tiếp….)

Xem thêm
Giải mã bí ẩn ngạc nhiên về lăng mộ vua Quang Trung
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (3)
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (2)
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (1)


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Có ba dòng văn chương

cobadongvanchuong1

CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

Hoàng Kim

Câu chuyện lạ lùng này ấn tượng mãi trong tôi ngày lên núi Dũng Quyết 27 tháng 11 năm 2014 viếng thăm đền thờ Quang Trung Hoàng Đế (*). Tại chốn thiêng cao vọi này, tôi thành kính thắp hương, nhưng trong đầu lại vụt ra câu hỏi: ‘Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh, Nguyễn Du ai là kẻ anh hùng, ai là bậc anh hùng, ai là anh hùng danh sĩ tinh hoa tài trí đức độ kiệt xuất nhưng mệnh vua không tới?’.

cobadongvanchuong
Thốt nhiên nén hương bùng cháy và có một con mèo rất lớn từ đâu đó nhảy phắt xuống, quấn quýt bên tôi.

Tôi nhớ rất rõ trên tấm bia đá lớn cạnh chuông đại hồng chung có khắc sáu câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài ‘Lịch sử nước ta’ (sau này đã thay bằng tấm văn bia khác). Nội dung thơ Bác như sau: ‘Nguyễn Huệ là kẻ phi thường./ Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,/ Ông đà chí cả mưu cao,/ Dân ta lại biết cùng nhau một lòng./ Cho nên Tàu dẫu làm hung,/ Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.’ (Hồ Chí Minh tuyển tập Q1, trang 598). Năm câu chuyện lịch sử  đột ngột ùa về trong nén hương đang bùng lên trên tay và tôi ngộ ra được lời bàn luận của thầy Tịnh ‘có ba dòng văn chương’.

Hôm nay tôi xin kể lại bài thơ ‘Kẻ phi thường’ với chuyến hành hương đầy kỷ niệm. Tặng phẩm vô giá của thầy Nguyễn Khoa Tịnh sách Binh thư Yếu lược Trần Quốc Tuấn. Chuyện thầy và tôi bình sách ‘Lộc Đỉnh Ký’ Kim Dung sau hơn hai mươi năm gặp lại. Nhà thơ Hải Như tặng sách “Có hai dòng văn chương”,”Thơ viết về Người” “Chân dung phác thảo”. ‘Kỳ Lân Mộ’ và chuyện Nguyễn Du tiểu thuyết lịch sử của nhà giáo nhà văn Nguyễn Thế Quang.

nuiDungQuyet

TA VỀ TRỜI ĐẤT HỒNG LAM

Bài thơ ‘Kẻ phi thường’ với chuyến hành hương đầy kỷ niệm

Hoàng Kim

Ta về trời đất Hồng Lam
Bâng khuâng bước dưới trăng vàng lộng soi
Ngực trần chạm tới thảnh thơi
Nghe lưng thấu đến bồi hồi đất quen.
Linh miêu chốn Tổ Rồng Tiên
Quấn quanh trao gửi nổi niềm Thái Sơn
Hỡi ai là kẻ phi thường
Đỉnh chung dâng nén tâm hương nhớ Người.

Trần Hưng Đạo và Chùa Thắng Nghiêm
TẶNG PHẨM VÔ GIÁ CỦA THẦY TỊNH

Sách Binh thư Yếu lược Trần Quốc Tuấn là di sản vô giá thầy Tịnh tặng gia đình tôi, nay tôi để trang trọng bên di ảnh của Thầy nơi trân trọng cùng những kỷ vật hình ảnh thiêng liêng của Cha Mẹ, Dì, Anh Hai Hoàng Ngọc Dộ và những người thân thiết khác.

Thầy Tịnh là người đã viết bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên” với lời đề tặng “Thầy ước mong em noi gương Quốc Tuấn”

Em ơi em can đảm bước chân lên !

“Thương mến tặng em Hoàng Kim.
Thầy ước mong em noi gương Quốc Tuấn”

Nguyễn Khoa Tịnh

Đọc thơ em, tim tôi thắt lại
Lòng nghẹn ngào, nước mắt chảy rưng rưng
Nửa xót xa nhưng nửa lại vui mừng
Xót xa vì đời em còn thơ dại
Mới tuổi thơ mà cuộc đời đầy khổ ải
Mới biết cười đã phải sống mồ côi
Như chiếc thuyền giữa biển tự trôi
Như chiếc lá bay về nơi vô định
Bụng đói” viết ra thơ em vịnh:

Cơm ngày một bữa sắn trộn khoai
Có biết lòng ta bấy hỡi ai?
Vơi vơi lòng dạ, cồn cào bụng
Kể chi no đói, mặc ngày dài”

Phải!
Kể chi no đói mặc ngày dài
Rất tự hào là thơ em sung sức
Rất tự hào là em tôi đầy nghị lực
Đã hiển lộ mình qua “Cái chảo rang

“Trung dũng ai bằng cái chảo rang
Lửa to mới biết sáp hay vàng
Xào nấu chiên kho đều vẹn cả
Chua cay mặn ngọt giữ an toàn
Ném tung chẳng vỡ như nồi đất
Quăng bừa xó bếp vẫn nằm ngang
Tốt đẹp đâu cần danh tiếng hão
Bạn cùng lửa đỏ, nóng chang chang

Phải!
Lửa to mới biết sáp hay vàng!
Em hãy là vàng,
Mặc ai chọn sáp!
Tôi vui sướng cùng em
Yêu giấc “Ngủ đồng
Hiên ngang khí phách:

Sách truyền sướng nhất chức Quận công
Ta sướng khi ra ngủ giữa đồng
Lồng lộng trời hè muôn làn gió
Đêm thanh sao sang mát thu không
Nằm ngữa ung dung như khanh tướng
Lấy mấy vần thơ tỏ nỗi lòng
Tinh tú bao quanh hồn thời đại
Ngủ đồng khoan khoái ngắm gương trong

Tôi biết chí em khi “Qua đèo Ngang
Ung dung xướng họa với người anh hùng
Đã làm quân thù khiếp sợ:

Ta đi qua đèo Ngang
Cũng gặp Người trèo qua núi hiểm
Đỉnh dốc chênh vênh
Xe mù bụi cuốn
Có lẽ thiên nhiên đã định bao giờ
Một dãy Hoành Sơn bát ngát trận đồ
Điệp điệp núi cao
Trùng trùng rừng thẳm.
Người thấy
Súng gác trời xanh
Gió lùa biển lớn
Nông dân rộn rịp đường vui
Thanh Quan nàng nhẽ có hay
Cảnh mới đã thay cảnh cũ.
Ta hay
Máu chồng đất đỏ
Mây cuốn dặm khơi
Nhân công giọt giọt mồ hôi
Hưng Đạo thầy ơi có biết
Người nay nối chí người xưa

Tới đây
Nước biếc non xanh
Biển rộng gió đùa khuấy nước
Đi nữa
Đèo sâu vực thẳm
Núi cao mây giỡn chọc trời

Nhớ thù nhà, luống thẹn làm trai
Thương dân nước, thà sinh phận gái
“Hoành Sơn cổ lũy”
Hỏi đâu dấu tích phân tranh?
Chỉ thấy non sông
Lốc cuốn, bốn phương sấm động.

Người vì việc nước ra đi
Ta muốn cứu dân nên thăm trận thế
Điều không hẹn mà xui gặp mặt
Vô danh lại gặp hữu danh
Cuộc đời dài ắt còn sẽ gặp nhau
Nay hội ngộ giữa đỉnh cao trời đất
Anh em ta ngự trên xe đạp
Còn Người thì lại đáp com măng
Đường xuyên sơn
Anh hùng gặp anh hùng
Nhìn sóng biển Đông
Như ao trời dưới núi.

Xin kính chào
Bậc anh hùng tiền bối
Ta ngưỡng mộ Người
Và tỏ chí với non sông
Mẹ hiền ơi!
Tổ Quốc ơi!
Xin tiếp bước anh hùng!

Hãy cố lên em!
Noi gương danh nhân mà lập chí
Ta với em
Mình hãy kết thành đôi tri kỷ!
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Tôi tự hào bài “Tỏ chí” của em:

Quốc Tuấn ngày xưa chí vững bền
Thù nhà, nợ nước chẳng hề quên
Đến bữa quên ăn, đêm quên ngủ
Thương dân, yêu nước quyết báo đền
Văn hay thu phục muôn người Việt
Võ giỏi kinh hồn lũ tướng Nguyên
Mươi năm sau nữa ơi ông Tuấn
Nối chí ông, nay cháu tiến lên!

Tôi thương mến em
Đã chịu khó luyện rèn
Biết HỌC LÀM NGƯỜI !
Học làm con hiếu thảo.
Mười lăm tuổi đã “Tập làm thầy giáo

Vui gì hơn buổi đầu làm thầy giáo
Của lớp vở lòng đất mẹ yêu thương
Trưa nắng luyến các em cùng đến lớp
Giọng líu lo như chim hót ven đường.

Đứng trước các em tuổi nhỏ đáng yêu
Mà đã tưởng tới bao nhiêu người lớn
Nghe em đọc giọng thanh thanh dễ mến
Mà đã nghe đất nước xuyến xao mình!

Tổ Quốc đang chờ em phía trước.
Em ơi em, can đảm bước chân lên!

1970

Thầy khi tặng sách đã hỏi tôi: Vì sao em chọn gương danh nhân Trần Quốc Tuấn để học ? Em thích nhất chương nào trong sách này? Tôi thưa với Thầy đức Thánh Trần Quốc Tuấn là người minh triết, văn võ song toàn, vị thánh hiền tài, thân danh trọn vẹn nhất trong sử Việt mà em ngưỡng mộ nhất. Hơn nữa học theo gương Người (như bài thơ trên đây) chính thầy là người khuyến khích em từ thuở nhỏ .  Chương sách “Đạo làm tướng” là em thích nhất trong sách này. Lời dặn lại của Đức Thánh Trần: Bậc đại tướng là người bao trùm và vượt hẳn tám hạng tướng kể trên, gặp hiền tài thì tôn trọng lắng nghe, biết tỏ ý mình không theo kịp người, biết nghe lời can ngăn như thuận theo dòng nước, lòng rộng rãi nhưng chí cương quyết, giản dị và nhiều mưu kế“. “Người quân tử tiến thoái quả quyết, xem người thì thanh thản vui tươi, chí thì ở trừ tàn bạo, đó là khí độ của người tướng quốc. Thấy ác không giận, thấy lành không mừng, nhan sắc không thay đổi, đó là lượng của người thiên tử.” Bảy phép để biết người: 1. Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không  2. Lấy lời cật vấn đến kỳ cùng để xem cách ứng biến của họ. 3.  Cho gián điệp thử xem có trung thành không. 4. Hỏi rõ ràng tường tất để xem đức hạnh thế nào. 5. Lấy của mà thử để xem có thanh liêm không 6. Lấy sắc đẹp mà thử để xem có đứng đắn không. 7. Lấy việc khó khăn mà thử để xem có dũng cảm không. 8. Đem rượu cho họ uống say để xem có giữ được thái độ không”.

Thầy cười, khen, tặng sách và viết lời đề tặng.

Nhờ Thầy mà sau này tôi có duyên may viết được bài  Trần Hưng Đạo và chùa Thắng Nghiêm

THẦY VÀ TÔI BÌNH SÁCH LỘC ĐỈNH KÝ

Khi tôi còn nhỏ, thầy Tịnh, thầy Thuật, thầy Phượng và thầy Dộ (anh Hai tôi) hay chơi cờ và bình sách hay. Thầy Thuật đánh cờ giỏi nhất, thầy Tịnh là người giỏi cờ thứ hai. Thầy Tịnh đã có nói đến  “ba dòng văn chương” “nghiên cứu lịch sử và dạy sử” với nhiều chuyện thật hay nhưng chưa được chép lại. Riêng việc ‘có ba dòng văn chương’ một hôm thầy hỏi tôi: Hoàng Kim đọc sách Kim Dung chưa? tôi thưa thầy là chưa. Thầy nói thầy đọc rồi và thích nhất hai bộ “Tiếu ngạo giang hồ” và “Lộc Đỉnh Ký”.

Khoảng năm 1990 sau hai mươi năm gặp lại, tôi không ngờ Thầy nhắc lại câu chuyện cũ về sách ưa thích của Thầy là ‘Tiếu ngạo giang hồ; ghét  ‘ngụy quân tử kiếm’ không đáng làm thầy, ưa thích thung dung tự tại của Lệnh Hồ Xung và Nhậm Doanh Doanh.

Thầy nói với tôi “Lộc Đỉnh Ký” là dòng văn chương thứ ba, có những loại sách thuộc loại ưu thời nhưng khó đọc. Lúc thầy trò gặp lại, tôi thưa thầy quan điểm của tôi về bộ sách này. ĐỌC LỘC ĐỈNH KÝ CỦA KIM DUNG, chúng ta sẽ thấy Vi Tiểu Bảo là hình tượng của mẫu người Trung Quốc hiện đại: có tốt có xấu, tốt là căn bản “với vua tốt thì trung, với bạn tốt thì nghĩa, với cha mẹ thì hiếu, với vợ con thì ái” mặt khác phổ biến là thực dụng, giảo hoạt, không dễ đối phó. Tôi tấu đồng và tâm đắc với nhận xét của Kim Dung đây là tiểu thuyết cuối cùng hay nhất của đời ông. Muốn hiểu người Trung Quốc có lẽ phải đọc sách này chăng? Lộc Đỉnh Ký dụng công sâu xa của Kim Dung để viết về Hoàng Đế Khang Hy một trong mười vị vua anh minh xuất sắc nhất trong lịch sử Trung Quốc. Thời Khang Hy đế chế Trung Hoa có biên giới lãnh thổ rộng lớn nhất so với từ trước đến nay. Bậc minh chủ không chỉ giỏi dùng người hiền đức, người tài mà còn biết biến dịch, tâm cơ, giỏi dụng công chế ngự được người xấu, kẻ ác, những loại người lưu manh, giảo hoạt, lập lờ tốt xấu. Lộc Đỉnh Ký là sách về mưu lược trị loạn của Khang Hy. Đó là một kỳ thư hiếm thấy. Đây là loại sách không dễ đọc vì lợi bất cập hại . Nó thuộc nhóm sách hay hạn chế đọc chỉ dùng cho bậc minh chủ.


CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

Nhớ về kỷ niệm thầy Nguyễn Khoa Tịnh, tôi có trò chuyện với cô Trần Thị Diệu Vinh (vợ thầy Nguyễn Khoa Tịnh) cô Lê Thị Muôn (vợ thầy Hoàng Ngọc Dộ cũng là anh Hai, người Thầy lớn của tôi) và với anh Lê Quang Vinh. Nội dung như sau: “Hôm trước em có thăm vợ chồng bác Hải Như nhà thơ ở nhà riêng tại 7/2A Tổ 3 Khu phố 2 Hà Huy Giáp, Phường Thạnh Lộc , Quận 12 TP Hồ Chí Minh. Cụ tên thật là Vũ Như Hải, sinh năm 1923 tại làng Bái Dương, huyện Nam Trực tỉnh Nam Định. Cụ là một trong 80 thành viên đầu tiên tham gia Đại hội Văn nghệ Toàn Quốc lần thứ nhất ngày 25-7- 1948 tại chiến khu Việt Bắc. Hai cụ nay 93 và 91 tuổi. Nhà thơ Hải Như là tác giả của hơn 100 bài thơ được phổ nhạc. Các tác phẩm chính đã xuất bản có ‘Trái đất mai này còn lại tình yêu’ (1985), ‘Thơ viết về Người’ (2004, 2015) ‘Có hai dòng văn chương’ (2010) và nhiều tác phẩm khác. Nhà thơ Hải Như phảng phất những tính cách giống Thầy Tịnh của chúng ta: uyên thâm về học thức và vốn sống, điềm tĩnh, vị tha, theo sát thời cuộc. Cụ cũng có điều tương đồng với Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Thầy Hiến, … Cụ nói với em: ‘Văn dĩ tải đạo’ cần nói đúng người, đúng việc, đúng lúc, đúng chỗ, thậm chí chưa nói tốt hơn là vội nói ra. Cụ Hải Như tặng em tập sách ‘Thơ Viết về Người’ mới in lại và tặng bản sao tập di cảo ‘Chân dung phác thảo’ với hàng chục khuôn mặt mà cụ giữ mấy chục năm nay, chưa bao giờ in với lời dặn ‘cháu viết bài hoặc đăng sau này lúc thích hợp’. Theo nhà thơ Hải Như thì có HAI DÒNG VĂN CHƯƠNG: Lâu nay nhiều người vẫn nhầm lẫn giữa văn học và báo chí. Báo chí là hiện thực, văn học có hư cấu. Chức năng văn học là thức tỉnh con người. Từ văn học có ‘Hai dòng văn chương’ là Ưu thời và Xu thời. Dòng văn chương Ưu thời gồm những áng văn chương của kẻ sĩ vốn giàu lòng trắc ẩn, luôn trăn trở suy tư về kiếp người, sự hưng thịnh của dân tộc. Dòng văn chương Xu thời, gồm các tác phẩm nói theo Balzac, chỉ muốn “bào nhẵn những gồ ghề trong cuộc sống xã hội”, những áng văn chương “một chiều”. Em thì phân biệt CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG. Đây không phải là sự phân biệt của em mà khởi đầu bởi thầy Tịnh và thầy Dộ trò chuyện với nhau thuở trước. Em mới thấm chứ chưa thể kể lại thật kỹ được. Dòng văn chương Xu thời quá phổ biến trong mọi xã hội.  Dòng văn chương Ưu thời có hai dạng loại của Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, Khang Hi và Vi Tiểu Bảo. Thầy Tịnh nói với em “Có những tác phẩm văn chương nên hướng đến những giá trị nhân văn sâu xa hơn, như một món ăn trong thờ cúng, dẫu một con ruồi nhỡ rơi vào và đã được vứt đi nhưng cảm giác sẽ không bằng thức ăn hoàn toàn tinh khiết”. Em Hoàng Kim

 

huongtichnuihong
Hoàng Kim thăm nhà thơ Hải Như và trò chuyện với anh Hoàng Đình Quang. “Dòng văn chương Xu thời quá phổ biến trong mọi xã hội.  Dòng văn chương Ưu thời có hai dạng loại của Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, Khang Hi và Vi Tiểu Bảo. Thầy Tịnh nói với em “Có những tác phẩm văn chương nên hướng đến những giá trị nhân văn sâu xa hơn, như một món ăn trong thờ cúng, dẫu một con ruồi nhỡ rơi vào và đã được vứt đi nhưng cảm giác sẽ không bằng thức ăn hoàn toàn tinh khiết ”.

CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

Hoàng Kim

hoangdinhquang1

“Khi nàng trở về chả còn mặt trời
Một tí dưới đáy ly bàng hoàng
Con mèo đen bàng hoàng vệt váy”
(thơ Hoàng Đình Quang).

Hoàng Kim
quên thơ mới mất rồi.
Mình làm người cổ điển thôi.
Nhưng mình thích ảnh này
Và chuyện con mèo vàng
CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

“Bất kể mèo trắng mèo đen
Miễn là bắt được chuột”
Nhân loại đang lên đồng
Cuồn cuộn mọi nơi
Lên cơn hưng phấn.
Mọi chốn nháo nhào
Theo thuyết thực dụng
Thời Vi Tiểu Bảo lên ngôi

Ai Vi Tiểu Bảo?
Ai là Khang Hy?
Ai Trần Cận Nam?
Ai Ngô Tam Quế?

Nén hương bùng cháy trên tay.
Con mèo vàng từ chốn cao nhảy xuống.
Một câu hỏi khắc khoải mênh mông
Giữa trời xanh cao rộng.

Ai phán xét ai,
Nhân danh ai.?
Lịch sử
Nhân dân
và chính CON NGƯỜI:

Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh, Nguyễn Du
Ai là kẻ anh hùng?
Ai là bậc anh hùng?
Ai là anh hùng danh sĩ tinh hoa?

“Trăm năm trong cõi người ta.
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”.
“Thiện căn cốt ở lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

Nguyễn Du với Hồng Sơn Liệp Hộ
ĐI SĂN
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Kẻ đạt quan trường chí đỉnh mây,
Còn ta vui thú với hươu nai.
Cốt lòng thư thái không mong được,
Không hại điều nhân diệt các loài.
Xạ ngủ cỏ thơm hương ướt ẩm,
Núi xa, chó sủa tiếng ngoài tai.
Thú vui phù thế âu tùy thích,
Xe đón lọng che ấy những ai ?

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :
LIỆP
Y quan đạt giả chí thanh vân,
Ngô diệc lạc ngô mi lộc quân.
Giải thích nhàn tình an tại hoạch,
Bỉnh trừ dị loại bất phương nhân.
Xạ miên thiển thảo hương do thấp,
Khuyển độ trùng sơn phệ bất văn.
Phù thế vi hoan các hữu đạo,
Khu xa ủng cái thị hà nhân.

Chú thích:
Thanh vân, mây xanh, chỉ công danh thành đạt“.

*

Người dặn ta từ thuở xưa.
Càng về sau mỗi ngày càng thấm
Có ba dòng văn chương.
Nguyễn Du với Hồng Sơn Liệp Hộ
CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

hainhuhoangkim

(*) Notes: Hoàng Kim thăm nhà thơ Hải Như

Nguyễn Du với Hồng Sơn Liệp Hộ
KỲ LÂN MỘ VÀ CHUYỆN NGUYỄN DU

(còn tiếp….)

 

(*) Xem thêm
Giải mã bí ẩn ngạc nhiên về lăng mộ vua Quang Trung
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (3)
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (2)
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (1)


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Thầy ơi

nguyenkhoatinh

THẦY ƠI

Tưởng nhớ Thầy Nguyễn Khoa Tịnh

Hoàng Kim

Thầy ơi, em nặng lòng với Huế
Mừng duyên lành con em xe về miền Trung
Nơi LỘC Khê Hầu NGUYÊN vẹn công nghìn năm mở cõi
Với dòng sông Hương soi bóng núi Ngự Bình.

nguyenkhoatinh7
BÀI CA TRƯỜNG QUẢNG TRẠCH  là bài thơ nổi tiếng của Thầy Trần Đình Côn, Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Quảng Trạch “Hồi tưởng lại một mùa thu ấy Mấy thu rồi biết mấy đổi thay Khởi công ròng rã tháng ngày Dốc lòng , dốc sức dựng xây trường mình Vùng các trắng biến thành ao cá  Rừng dương xanh lộng gió vi vu Giếng thơi trong suốt ngọt ngào Cổng trường cao rộng đón chào anh em…” và hình ảnh thầy trò Trường Quảng Trạch (ảnh Lê Quang Vinh), là ấn tượng mãi không bao giờ quên trong trái tim tôi.

Bài ca Trường Quảng Trạch, tôi đã dành trọn chiều và suốt đêm 2.4.2012 tại phòng đợi máy bay để đưa thơ này lên mạng. Bốn mươi bốn năm trước, Thầy Trần Đình Côn đã khóc đưa chiếc áo máu cha tôi bị bom Mỹ giết hại vào phòng truyền thống của Trường và viết nên những câu thơ cháy lòng:  “Thương em cảnh gieo neo mẹ mất / Lại cha già giặc giết hôm qua/ Tình thầy, tình bạn, tình cha/ Ấy là tình nghĩa thiết tha mặn nồng”.

nguyenkhoatinh1

Thầy Nguyễn Khoa Tịnh thông xanh núi Huế là người thầy dạy nhân cách và lịch sử, khai sáng thế hệ chúng tôi. Tôi đã viết bài ‘Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời‘ để tỏ lòng tri ân sâu nặng đối với người Thầy lớn và những thầy bạn mà tôi không thể có được ngày hôm nay nếu thiếu sự động viên, giúp đỡ này: “Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin”.

Thầy Nguyễn Khoa Tịnh sinh ngày 21 tháng 7 năm 1935 tuổi Ất Hợi, mất ngày 5 tháng 12 năm 1993 nhằm ngày 21/10 năm Quý Dậu. Thầy mất lúc 58 tuổi khi chưa nghỉ hưu (Giỗ Thầy lần thứ 23 là ngày 21/10 Bính Thân trùng ngày 20 tháng 11 năm 2016 NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM). Thân phụ của Thầy là cụ Nguyễn Khoa Hoan, thân mẫu là cụ Tôn Nữ Thị Yến. Nhà riêng của Thầy nay vợ con Thầy thừa tự ở số 10, kiệt 42, đường Nguyễn Công Trứ, phường Phú Hội, Thành phố Huế …

Thầy Nguyễn Khoa Tịnh lúc sinh thời nổi tiếng là thầy dạy sử và văn học sử đặc biệt thông tuệ. Thầy là “hình ảnh mẫu mực về đạo đức, thẩm mĩ cao khiết khai sáng đầy lãng mạn góp phần tạo nên hoài bão, ước mơ và nhân cách sống trong khoảng đầu đời vô cùng quan trọng của học trò” như lời tự hào của bao thế hệ học trò của Thầy và được đúc kết tại bài viết “Thầy cô tôi thời ấy…” của nhà báo Lê Quang Vinh đăng trên báo “Quảng Bình cuối tuần”, số 107 (8061), ngày 14/5/2015 và Kỷ yếu “50 năm mái ấm Trường Quảng Trạch”.

Tự học và học để làm (Learning by Doing), học không biết mỏi, dạy không biết mệt là suối nguồn tươi trẻ hạnh phúc của tôi. ‘Học ở trường, học ở trong sách vở, học lẫn nhau và học ở dân’. ‘Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời‘. Tổ ấm gia đình và thầy quý bạn hiền là sinh khí và tinh lực đời ta. Cuộc sống có nhiều thầy bạn trong nhiều lĩnh vực nhưng thật may mắn cho ai khi gặp được bậc thầy minh triết phúc hậu khai tâm và thành ‘đôi tri kỹ’. Phạm Bình Trọng nhớ về ‘Thầy Hiến'(*) còn tôi thì ‘Ơn Thầy‘ nghề nghiệp và chẳng bao giờ quên được ‘Thầy ơi!’.

Mời bạn đọc bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên!” bài thơ khai tâm của thầy Nguyễn Khoa Tịnh đối với tôi để thấu hiểu. Tôi luôn coi đây là một áng văn chương vô giá, là một viên ngọc quý, chưa bao giờ và chưa lúc nào mà tôi tìm thấy một áng văn thắp lên ngọn lửa nghị lực trong lòng tôi sâu sắc đến vậy. Từ cậu bé chân đất làng Minh Lệ – Báo Quảng Bình điện tử có kể về tuổi thơ tôi và câu chuyện của những người Thầy. Thật xúc động biết bao khi Thầy “đãi cát tìm vàng” xâu chuỗi lại tuổi thơ và những vần thơ  em viết lúc còn nhỏ với sự trân quý và xúc động đặc biệt sâu xa giúp luyện nên nhân cách một CON NGƯỜI .

Thầy ơi ! các Thầy Cô và bạn bè đã giúp em nghị lực vượt lên mồ côi, đói nghèo để biết sống phúc hậu, nghị lực và làm người có ích. Em nay chép lại thơ thầy, đọc lại thơ Thầy mà rưng rưng nước mắt, biết ơn KÝ ỨC THỜI GIAN. “Hồi tưởng lại những mùa thu ấy/ Bao ngày qua biết mấy buồn vui / Đắng cay nay mới ngọt bùi / Đường đi muôn dặm đã ngời mai sau”.

Thầy đã hóa thân vào Huế, vào bóng núi, mạch nước,  gốc thông, khai sáng cho em, lồng lộng như trời Nam, khuyến khích em trọn đời tiếp bước.

Lời của thầy theo mãi bước em đi.

Hoàng Kim

 

thayoi

EM ƠI EM CAN ĐẢM BƯỚC CHÂN LÊN !

“Thương mến tặng em Hoàng Kim.
Thầy ước mong em noi gương Quốc Tuấn”

Nguyễn Khoa Tịnh

Đọc thơ em, tim tôi thắt lại
Lòng nghẹn ngào, nước mắt chảy rưng rưng
Nửa xót xa nhưng nửa lại vui mừng
Xót xa vì đời em còn thơ dại
Mới tuổi thơ mà cuộc đời đầy khổ ải
Mới biết cười đã phải sống mồ côi
Như chiếc thuyền giữa biển tự trôi
Như chiếc lá bay về nơi vô định
Bụng đói” viết ra thơ em vịnh:

Cơm ngày một bữa sắn trộn khoai
Có biết lòng ta bấy hỡi ai?
Vơi vơi lòng dạ, cồn cào bụng
Kể chi no đói, mặc ngày dài”

Phải!
Kể chi no đói mặc ngày dài
Rất tự hào là thơ em sung sức
Rất tự hào là em tôi đầy nghị lực
Đã hiển lộ mình qua “Cái chảo rang

“Trung dũng ai bằng cái chảo rang
Lửa to mới biết sáp hay vàng
Xào nấu chiên kho đều vẹn cả
Chua cay mặn ngọt giữ an toàn
Ném tung chẳng vỡ như nồi đất
Quăng bừa xó bếp vẫn nằm ngang
Tốt đẹp đâu cần danh tiếng hão
Bạn cùng lửa đỏ, nóng chang chang

Phải!
Lửa to mới biết sáp hay vàng!
Em hãy là vàng,
Mặc ai chọn sáp!
Tôi vui sướng cùng em
Yêu giấc “Ngủ đồng
Hiên ngang khí phách:

Sách truyền sướng nhất chức Quận công
Ta sướng khi ra ngủ giữa đồng
Lồng lộng trời hè muôn làn gió
Đêm thanh sao sang mát thu không
Nằm ngữa ung dung như khanh tướng
Lấy mấy vần thơ tỏ nỗi lòng
Tinh tú bao quanh hồn thời đại
Ngủ đồng khoan khoái ngắm gương trong

Tôi biết chí em khi “Qua đèo Ngang
Ung dung xướng họa với người anh hùng
Đã làm quân thù khiếp sợ:

Ta đi qua đèo Ngang
Cũng gặp Người trèo qua núi hiểm
Đỉnh dốc chênh vênh
Xe mù bụi cuốn
Có lẽ thiên nhiên đã định bao giờ
Một dãy Hoành Sơn bát ngát trận đồ
Điệp điệp núi cao
Trùng trùng rừng thẳm.
Người thấy
Súng gác trời xanh
Gió lùa biển lớn
Nông dân rộn rịp đường vui
Thanh Quan nàng nhẽ có hay
Cảnh mới đã thay cảnh cũ.
Ta hay
Máu chồng đất đỏ
Mây cuốn dặm khơi
Nhân công giọt giọt mồ hôi
Hưng Đạo thầy ơi có biết
Người nay nối chí người xưa

Tới đây
Nước biếc non xanh
Biển rộng gió đùa khuấy nước
Đi nữa
Đèo sâu vực thẳm
Núi cao mây giỡn chọc trời

Nhớ thù nhà, luống thẹn làm trai
Thương dân nước, thà sinh phận gái
“Hoành Sơn cổ lũy”
Hỏi đâu dấu tích phân tranh?
Chỉ thấy non sông
Lốc cuốn, bốn phương sấm động.

Người vì việc nước ra đi
Ta muốn cứu dân nên thăm trận thế
Điều không hẹn mà xui gặp mặt
Vô danh lại gặp hữu danh
Cuộc đời dài ắt còn sẽ gặp nhau
Nay hội ngộ giữa đỉnh cao trời đất
Anh em ta ngự trên xe đạp
Còn Người thì lại đáp com măng
Đường xuyên sơn
Anh hùng gặp anh hùng
Nhìn sóng biển Đông
Như ao trời dưới núi.

Xin kính chào
Bậc anh hùng tiền bối
Ta ngưỡng mộ Người
Và tỏ chí với non sông
Mẹ hiền ơi!
Tổ Quốc ơi!
Xin tiếp bước anh hùng!

Hãy cố lên em!
Noi gương danh nhân mà lập chí
Ta với em
Mình hãy kết thành đôi tri kỷ!
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Tôi tự hào bài “Tỏ chí” của em:

Quốc Tuấn ngày xưa chí vững bền
Thù nhà, nợ nước chẳng hề quên
Đến bữa quên ăn, đêm quên ngủ
Thương dân, yêu nước quyết báo đền
Văn hay thu phục muôn người Việt
Võ giỏi kinh hồn lũ tướng Nguyên
Mươi năm sau nữa ơi ông Tuấn
Nối chí ông, nay cháu tiến lên!

Tôi thương mến em
Đã chịu khó luyện rèn
Biết HỌC LÀM NGƯỜI !
Học làm con hiếu thảo.
Mười lăm tuổi đã “Tập làm thầy giáo

Vui gì hơn buổi đầu làm thầy giáo
Của lớp vở lòng đất mẹ yêu thương
Trưa nắng luyến các em cùng đến lớp
Giọng líu lo như chim hót ven đường.

Đứng trước các em tuổi nhỏ đáng yêu
Mà đã tưởng tới bao nhiêu người lớn
Nghe em đọc giọng thanh thanh dễ mến
Mà đã nghe đất nước xuyến xao mình!

Tổ Quốc đang chờ em phía trước.
Em ơi em, can đảm bước chân lên!

1970

nguyenkhoatinh4a

LỜI CỦA THẦY THEO MÃI BƯỚC EM ĐI

Đúc gan sắt để dời non lấp bể. Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ“. Trước tượng Phan Bội Châu, nhớ thầy Nguyễn Khoa Tịnh và bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên“.

Hoàng Kim

Thầy thung dung bước lên bục giảng
Buổi học cuối cùng “Tổng kết sử Việt Nam”
Tiếng Thầy ấm trong từng lời nói
Như muốn truyền cho các em
Tất cả những niềm tin.

Đôi mắt sáng lướt nhìn toàn bộ lớp
Thầy có dừng trên khuôn mặt nào không ?
Thầy có tin trong lớp còn ngồi học
Có những em nung nấu chí anh hùng ?

Các em hiểu những gì
Trong tim óc người Thầy
Mái tóc đà điểm bạc
Em biết Thầy tâm huyết rất nhiều
Trên mười năm dạy học
Vẫn canh cánh trong lòng
Luôn tìm kiếm những người
Có chí lớn
và tấm lòng yêu nước
thương dân.

Mười năm
Thức đo thời gian
Dài như cả nỗi đau chia cắt
Sương bạc thời gian phôi pha mái tóc
Câu chuyện mười năm Đông Quan dạy học
Hẳn nhiều đêm rồi
Thầy nhớ Ức Trai xưa?

Mười năm
Trang lòng, trang thơ
Nhớ tráng sĩ Đặng Dung đêm thanh mài kiếm
Ôi câu thơ năm nào
giữa lòng Thầy xao xuyến
Anh hùng lỡ vận ngẫm càng cay

Mười năm
Dằng dặc thời gian
Đo lòng Thầy nhớ miền Nam tha thiết
Em tin trong lòng Thầy
Luôn âm ỉ cháy lửa lòng yêu nước
Thầy có tin rằng trong lớp
Có người trò nghèo
Chí Quốc Tuấn Ức Trai.

Dẫu đất này khi thịnh khi suy
Song hào kiệt đời nào cũng có

Thầy giảng Bình Ngô Đại Cáo
Chuyện chân chúa Nguyễn Hoàng
Âm thầm tìm kiếm Đào Duy Từ …
Chuyện “Tam cố thảo lư”
Anh em Lưu Bị
vượt núi thẳm, mưa tuyết, đường xa
ba lần đến Long Trung
tìm kiếm Khổng Minh Gia Cát
tuổi chỉ đáng bằng tuổi con mình
nhưng trọng dụng kỳ tài
tôn làm quân sư cùng lo việc nước…

Thầy kể chuyện Đào Duy Từ
Khai quốc công thần nhà Nguyễn
dựng nghiệp nhọc nhằn, người hiền lắm nạn
cha mẹ chết oan, chiếc lá giữa dòng
Đào Duy Từ còn mãi với non sông
Kỳ tài nước Nam chẳng kém Ngọa Long
Định Bắc thu Nam công đầu Nam tiến.
Chế thắng chiều sâu, ba tầng thủ hiểm
Hoành Sơn, Linh Giang, Lũy Thầy
Sừng sững mưu cao.
Người lập nên định chế đàng Trong
Một chính quyền rất được lòng dân
Minh chúa, dân mến, tướng tài.
Người viết kiệt tác Hổ trướng khu cơ,
Nhã nhạc cung đình và tuồng Sơn Hậu,
Trí tuệ bậc Thầy, danh thơm vạn thuở
Minh triết ông cha học mãi không cùng …

Bài học lịch sử Việt Nam
Biết bao người con trung hiếu
Tận tụy quên mình vì dân vì nước
Nhiệt huyết lời Thầy cháy bỏng khát khao …

Tổ Quốc Việt Nam rất đổi tự hào
Vượng khí non sông khí thiêng hun đúc
Lòng dân cơ trời chuyển xoay vận nước
Đất Quảng Trạch mình đâu kém Nam Dương?

Có nông phu ham học, chăm làm
Mà thao lược chuyển xoay thời vận.
Ôi sử sách cổ kim bao nhiêu gương sáng
Học sử ai người biết sử để noi?

“Lịch sử dân tộc mình
Những năm bảy mươi
Các em sẽ là người viết tiếp
Điểm theo thời gian
Truyền thống ông cha xưa
Oanh liệt vô cùng”

Tiếng Thầy thiết tha
Truyền nguồn cảm xúc
Các em uống từng lời
Lắng nghe từng chữ
Lời tâm huyết thấm sâu vào lòng em:
“Nung gan sắt để dời non lấp bể
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”
Em đã tìm được trong Thầy
Một người anh
Một người đồng chí
Em vững tin trong sự nghiệp cứu dân
Hẳn có lòng Thầy luôn ở bên em!

Thầy nói nhiều về Việt Nam thân yêu
Dựng nước gian nan, người dân còn khổ
Mắt Thầy thiết tha quá chừng
Làm em mãi nhớ
Thầy truyền cho chúng em niềm tin
Đạo làm người, lòng yêu nước
Em càng thấm thía vô cùng
Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa
Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Thiếp, Phan Châu Trinh, …
Đều yêu nghề dạy học.

Tổ Quốc cần, gọi em về phía trước
“Em ơi em, can đảm bước chân lên!” (1)
Em sẽ khắc trong lòng
Những lời dạy đầu tiên!

Lời của Thầy theo mãi bước em đi !
nguyenkhoatinh9

Hình ảnh thăm gia đình Thầy và bữa cơm họp mặt tại nhà hàng Huế xưa.

Hoàng Kim học để làm ở Ấn Độ
Hoàng Kim
Rút trong tập THƠ CHO CON
(1)  bài thơ của thầy Nguyễn Khoa Tịnh
EM ƠI EM CAN ĐẢM BƯỚC CHÂN LÊN (ở trên hoặc tại đây)

Mai Em Về – Tân Nhàn (Album Thương)

Tài liệu trích dẫn

(1)  Nếp nhà và nét đẹp văn hóa  Hoàng Kim có trích dẫn bài viết “Nên thợ nên thầy” “No ăn no mặc”của  nhà văn Hoàng Ngọc Hiến. Dưới đây xin chép bài “Thầy Hiến” của nhà văn  Phạm Bình Trọng để cung cấp thêm một góc nhìn về vai trò người Thầy trong đời sống: “Trường đại học viết văn Nguyễn Du không đào tạo ra nhà văn. Trường chỉ có tham vọng bồi đắp cho nhà văn nền tảng văn hóa về con người và nền tảng tư tưởng triết học của loài người. Không còn nhà văn đến học, trường đã kết thúc vai trò lịch sử sau sáu khóa tồn tại. Trường viết văn Nguyễn Du của thầy Hoàng Ngọc Hiến không còn nữa nhưng tinh thần Hoàng Ngọc Hiến, linh hồn Hoàng Ngọc Hiến vẫn còn mãi trong những nhà văn đã từng đèn sách ở ngôi trường mang bóng dáng lừng lững người thầy Hoàng Ngọc Hiến” (Phạm Bình Trọng).

hoangngochienTHẦY HIẾN

Phạm Bình Trọng

Chúng tôi vẫn gọi trường viết văn mà chúng tôi là những người học khóa đầu tiên là “Trường Viết Văn Nguyễn Du Của Thầy Hoàng Ngọc Hiến”. Phải gọi vậy để phân biệt với trường viết văn cũng mang tên Nguyễn Du của Hội Nhà Văn Việt Nam đã có từ giữa thế kỉ trước và hiện nay vẫn đang tồn tại đã liên tiếp mở những khóa bồi dưỡng viết văn ngắn hạn để những nhà văn đã thành danh khai tâm truyền nghề cho những người mới cầm bút.

Nhìn những lớp người trẻ có vốn sống dày dặn của một thời lịch sử khốc liệt, có hồn văn chương thấp thoáng trên những trang tác phẩm đã xuất bản nhưng vì chiến tranh và vì một nền giáo dục nông cạn, hời hợt, nhồi nhét thô thiển và méo mó, bị chính trị hóa nặng nề làm cho những hồn văn chương đó thiếu hụt quá lớn nền tảng văn hóa về con người và nền tảng tư tưởng triết học của loài người. Thiếu hụt hai tầng quan trọng của nền tảng văn hóa đó, những trang viết của họ khó tiếp cận được với giá trị nhân văn, chỉ còn là thứ văn chương minh họa, cổ động cho chính trị, thứ văn chương công cụ của chính trị, núp bóng chính trị. Văn chương núp bóng. Con người bầy đàn. Không có cá nhân, không có con người tự do thì không thể có nhân cách văn hóa. Với tâm trạng đó, nhà nghiên cứu văn học Hoàng Ngọc Hiến, người thầy Hoàng Ngọc Hiến dạy ngữ văn ở nhiều trường đại học sư phạm đã dành nhiều tâm sức, thời gian xây dựng đề án tổ chức, xây dựng nội dung giảng dạy của một trường viết văn theo hệ đại học, chính qui, dài hạn cho những hồn văn chương đó.

Với đề án trong tay, với nỗi băn khoăn về sự thiếu hụt nền tảng văn hóa đích thực ở những nhà văn tương lai của nền văn học nước nhà, ông đến gặp những quan chức nhà nước đứng đầu ngành văn hóa và ngành giáo dục đại học, vận động để có một trường viết văn hệ đại học.

Giữa năm 1979 trường đại học viết văn Nguyễn Du chính thức ra đời và chiêu sinh khóa 1. Trường do một tiến sĩ văn chương có lí lịch được tin cậy về chính trị làm hiệu trưởng. Thầy Hoàng Ngọc Hiến chỉ là chủ nhiệm khoa nhưng chúng tôi đều nhận ra bóng thầy Hoàng Ngọc Hiến lừng lững trên ngôi trường đơn sơ chỉ là một dãy nhà tranh mái lá vách liếp trên đất trường Đại học Văn hóa và song song với những dãy nhà vách liếp mái lá là nhà nội trú của sinh viên trường Đại học Văn hóa, 103 Đê La Thành, Hà Nội. Chúng tôi vẫn thấy tinh thần Hoàng Ngọc Hiến, linh hồn Hoàng Ngọc Hiến trong từng tiết học, ở từng con người, người dạy và người học, trong những tiết học đó.

Tinh thần Hoàng Ngọc Hiến ở người dạy và người học hiển hiện rõ nhất ớ khóa 1 trường đại học viết văn Nguyễn Du. Không thể đào tạo ra nhà văn, với nhận thức đó trường chỉ nhận những người đã có tác phẩm văn chương được xuất bản, đã là nhà văn và có nền học vấn đã tốt nghiệp trung học phổ thông. Có người bước ra từ cuộc chơi trò trốn tìm với cái chết suốt mười năm ở mặt trận phía Nam. Trong tay chỉ có mảnh giấy chứng nhận thương binh. Mảnh bằng tốt nghiệp trung học phổ thông bị thất lạc không còn nữa thì phải dự cuộc kiểm tra kiến thức môn văn và môn sử do trường Đại học Văn hóa ra đề và chấm bài. Một chuyện bi hài đã xảy ra. Nhà văn Thái Bá Lợi, tác giả truyện vừa Hai người trở lại trung đoàn đang có tiếng vang đã bị điểm 1, điểm thấp nhất bài kiểm tra môn Văn!

45 sinh viên khóa 1 là lứa nhà văn dân sự và nhà văn quân đội chắt ra từ cuộc chiến tranh thảm khốc hàng triệu người lính từ hai phía bỏ xác ngoài mặt trận, hàng triệu người dân trên khắp đất nước chết thảm vì bom đạn từ trên trời rơi xuống, chết thảm vì những khối thuốc nổ gài vào cuộc sống bình yên. Chết trên cánh đồng ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Chết trong xưởng máy ở Hải Phòng. Chết trên giường ngủ êm ấm giữa trung tâm Sài Gòn. 22 nhà văn mặc áo lính và 23 nhà văn dân sự với những cái tên đã được dư luận quan tâm như Dương Thu Hương, Lâm Thị Mỹ Dạ, Vương Anh, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khắc Trường, Chu Lai, Thái Bá Lợi…

Đã đi qua suốt cuộc chiến tranh mười năm, người học không còn trẻ nữa. Còn người dạy là những nhà văn hóa hàng đầu Việt Nam ở các trường đại học và các viện nghiên cứu được thầy Hiến chọn lọc và đến gặp trực tiếp từng người đặt hàng họ giảng về những đề tài mà họ chuyên sâu và đã có những thành tựu khoa học được ghi nhận. Trò có bề dày cuộc sống thì thầy cũng có bề dày chữ nghĩa nên cũng không có thầy nào còn trẻ.

Nhà khoa học đích thực đều có tâm hồn nghệ sĩ, hồn nhiên và trẻ trung. Giáo sư tâm lí học Hồ Ngọc Đại mái tóc muối tiêu mà phần muối đã lấn lướt phần tiêu với chiếc áo blouson của lính phi công Nga và chiếc xe đạp đua Sputnik ông mang về từ nước Nga Xô viết, nơi ông lấy bằng tiến sĩ tâm lí học. Áo bay và xe đua Sputnik đang là mốt của thanh niên Hà Nội lúc đó. Trước những đôi mắt chăm chú của người học nhìn lên, đôi mắt ông cũng sáng lấp lánh như đôi mắt cô gái đang yêu. Giọng sang sảng và say sưa, ông dẫn Marx vanh vách nhưng ông lại hồn nhiên nói: Cách mạng tháng Tám thành công là do dân trí thấp!

Giảng đường là hai gian đầu của dãy nhà lá tuềnh toàng nhưng những giờ lên lớp về ngôn ngữ của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, lên lớp về lịch sử văn hóa Việt Nam của giáo sư Trần Quốc Vượng, lên lớp về lịch sử văn hóa thế giới của giáo sư Nguyễn Hồng Phong… đã thu hút cả những cán bộ ở các cơ quan văn hóa, sinh viên khoa văn các trường Đại học Sư phạm, Đại học Tổng hợp đến nghe, ngồi chật trong phòng học, ngồi tràn cả ra ngoài cửa.

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi ở Viện Văn học được dành khá nhiều giờ để diễn giải về lịch sử thể kí sự. Be rượu nhỏ để trước mặt, nhà văn Nguyễn Tuân thủng thẳng nói về việc nhặt nhạnh, tích cóp từ ngữ trong dân gian, học lời ăn tiếng nói của người lam lũ làm ra hạt gạo, củ khoai cũng là người sáng tạo ra ngôn ngữ dung dị mà gợi cảm. Học ngôn từ của cuộc sống, học cả cách nhìn, cách cảm nhận cuộc sống. Nguyễn Tuân nói về những chuyến đi theo cách của Nguyễn Tuân để có những bài kí mang phong cách Nguyễn Tuân. Nhìn con người lịch lãm trong đời, lịch lãm trong văn chúng tôi hình dung ra con người văn hóa Nguyễn Tuân và con người văn hóa đó đã làm nên sức hấp dẫn của trang sách Nguyễn Tuân và sức hấp dẫn của lời nói Nguyễn Tuân.

Mang tinh thần Hoàng Ngọc Hiến là mang những giá trị văn hóa mới mẻ đến cho chúng tôi, được chúng tôi háo hức đón nhận. Không mang tinh thần đó, một tên tuổi lớn, một nhà thơ có tài viết về tình yêu say đắm nhưng mãi mãi khắc khoải không bao giờ đến được: Phải duyên phải lứa thì thương / Để chi đêm thẳm ngày trường hỡi em. Tình yêu luôn khắc khoải trong xa cách. Dù có sát bên nhau vẫn xa vời vợi: Có một bận em ngồi xa anh quá / Anh bảo em ngồi xích lại gần hơn / Xích lại gần hơn chút nữa, anh hờn / Em đứng dậy mỉm cười vội vã / Đến bên anh và mơn trớn: Em đây / Anh vui liền nhưng lại buồn ngay / Vì anh thấy vẫn còn xa nhau quá! Người viết về tình yêu say đắm và khắc khoải như vậy, không phải chỉ chúng tôi chờ đợi mà cả những người trẻ làm công việc chữ nghĩa ở các báo, các nhà xuất bản, các viện khoa học xã hội cũng đến để được nghe tiếng nói của một tình yêu khôn cùng. Nhưng nhà thơ tình yêu lại nói những điều rất chính trị mà ông đã nói hàng chục, hàng trăm lần với các trường học, các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị quân đội, nơi ông được mời đến nói chuyện thơ với quần chúng công nông binh trong nhiều năm qua bây giờ nhà thơ lớn lại rỉ rả nói ở trường viết văn Nguyễn Du. Người nghe cứ lặng lẽ biến mất. Phòng học trống vắng đến nỗi nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ phải đưa cả hai con gái nhỏ, bé Lim và bé Líp, vào phòng học, ngồi lấp bớt đi những chiếc ghế trống để nhà thơ lớn khỏi buồn.

Giữa năm 1981, khóa 1 trường đại học viết văn Nguyễn Du đi thực tế để viết tác phẩm tốt nghiệp. Tôi, Nguyễn Trí Huân, Lâm Thị Mỹ Dạ được ở cùng đoàn đi Lâm Đồng với thầy Hoàng Ngọc Hiến. Chúng tôi đã ngồi thuyền độc mộc ngược dòng sông Đồng Nai đến buôn Go, Cát Tiên, mảnh đất heo hút của tỉnh Lâm Đồng giáp Đắc Nông, gặp những nông dân đói đất từ Nam Định, đồng bằng Bắc Bộ vào khai khẩn vùng đất màu mỡ còn hoang vu Cát Tiên để nhà văn Nguyễn Trí Huân có bút kí Bát ngát Đồng Nai Thượng. Chúng tôi đã đến nghĩa trang liệt sĩ ở thành phố Đà Lạt đứng lặng trước san sát những nấm mồ liệt sĩ vô danh để nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ có bài thơ hay với câu kết rưng rưng: Người vô danh, cỏ cũng vô danh / Nhưng tôi thấy suốt đời tôi mắc nợ. Trong một đêm ở nhà khách tỉnh ủy Lâm Đồng, đường Duy Tân, Đà Lạt, tôi viết xong truyện ngắn Giai điệu Đà Lạt. Truyện ngắn này sau đó đăng ở tạp chí Văn nghệ Quân đội và in trong nhiều tập sách khác, được chọn in trong tập truyện ngắn xuất bản bằng tiếng Anh, The Dalat Melody, của nhà xuất bản Ngoại Văn, năm 1983.

clip_image004

Thầy Hoàng Ngọc Hiến (bìa phải), tác giả và nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

Đến Lâm Đồng chúng tôi được gặp một tấm lòng hồn hậu, thân thiết, một tỉnh ủy viên, trưởng ban Tuyên giáo tỉnh ủy Lâm Đồng Hồ Phú Diên. Tấm lòng đó đã đưa chúng tôi đi nhiều ngả đường Lâm Đồng, đã mở lòng với chúng tôi về cuộc đời ở rừng gian nan của ông. Quê ông ở miệt biển Bình Thuận nhưng trong suốt cuộc chiến tranh vừa qua ông sống chui lủi trong những cánh rừng cao nguyên Đà Lạt. Trong một bữa nhậu vui vẻ, tôi ngồi bên phải và Hồ Phú Diên ngồi bên trái Hoàng Ngọc Hiến. Được nghe câu chuyện của Hồ Phú Diên và Hoàng Ngọc Hiến, tôi mới chợt nhận ra ông thầy Hoàng Ngọc Hiến của mình. Hồ Phú Diên than phiền rằng làm tuyên giáo nhưng ông thiệt thòi là không được học lí luận dài hạn, bài bản ở trường đảng Nguyễn Ái Quốc. Hoàng Ngọc Hiến liền nhỏ giọng, nói: Anh không được học là may. Học cái sai thì càng học càng ngu. Đất nước mình khốn khổ như hiện nay là vì cái ngu đó. Tôi nhìn Hồ Phú Diên. Ông cũng bất ngờ như tôi nhưng sau đó tôi nhận ra ông càng thân tình, quí mến, nể trọng Hoàng Ngọc Hiến hơn.

Đó là giữa năm 1981. Mười năm sau, cái sai mà Hoàng Ngọc Hiến nói đến mới bộc lộ ra ở sự sụp đổ cả hệ thống cộng sản Đông Âu.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Thơm hương hoa lộng lẫy Hoa Người

thomhuonghoalonglayhoanguoi
THƠM HƯƠNG HOA LỘNG LẪY HOA NGƯỜI

Hoàng Kim

Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ
Chợt thấy lòng rưng rưng
Công việc nghề nông cực mà hạnh phúc
Cố lên em nổ  lực không ngừng.

Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo
Câu ca ông bà theo suốt tháng năm
Thêm bữa cơm ngon cho người lao động
Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng.

Em ơi hãy học làm ruộng giỏi.
Nghề nông thời nào cũng quý kỹ năng
Người dân khá hơn là niềm ao ước
Thơm hương hoa lộng lẫy Hoa Người.

hoahongngayvui

thomhuonghoalonglayhoanguoi3

  CHÚC MỪNG QUÝ THẦY CÔ BẠN HỮU
GIA ĐÌNH NÔNG NGHIỆP

Dù đi đâu ta mãi là hạt giống
Đã được ươm xanh tốt ở vườn trường


thomhuonghoalonglayhoanguoi1

HOA CỦA ĐẤT

Hoàng Kim

Bao năm Trường Viện là nhà
Sắn khoai ngô lúa đều là thịt xương
Một đời người một rừng cây
Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng

thaybanlalocxuancuocdoi1

ƠN THẦY

Hoàng Kim

Cha ngày xưa nuôi con đi học
Một nắng hai sương trên những luống cày
Trán tư lự, cha thường suy nghĩ
Phải dạy con mình như thế nào đây?

Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất
Cái chết giằng cha ra khỏi tay con
Mắt cha lắng bao niềm ao ước
Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng

Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy
Tương lai con đi, sự nghiệp con làm
Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ
Cha ngã xuống rồi trao lại tay con

Trên luống cày này, đường cày con vững
Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa
Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ
Thôi thúc tim con học tập phút giờ …

lophoctrendongLỚP HỌC TRÊN ĐỒNG

Trò đứng trên bờ
Thầy cày dưới ruộng
Roi rói đất lật lên
Thẳng tắp từng hàng từng luống …

Buổi đầu chưa quen đường cày đâu vững
Thầy nắn tay cầm, thầy sửa dáng đi
Trán lấm tấm mồ hôi, trời thì lạnh giá
Nhưng mọi người đều học say mê

Thầy dạy con muốn đường cày đẹp
Phải vững tay cày và thẳng mắt trông
Bước đĩnh đạc, đường hoàng, ngay ngắn
Dóng trâu đi đúng lối, thẳng đường

Con hiểu thầy bày từng lời cặn kẽ
Đâu chỉ dạy cày, thầy dạy đức cho con
Nuôi mục đích trước sau như một
Việc tốt đưa ra, quyết vượt tới cùng …

NỐI NGHIỆP

– Các em học hiểu không?
– Hiểu lắm!
– Em nào ra cày?
Muôn cánh tay giơ lên …

Luống cày chạy băng băng
Đất lành sôi sự sống
Từng hàng, từng hàng lật lên
Áo mới thay dần mặt ruộng

Thầy trò say mê mãi
Dưới ruộng trò cày
Trên bờ thầy hớn hở
Đường cày càng vững vàng hơn…


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

 

 

Con đường lúa gạo Việt Nam

Đến Long Phú, Sóc Trăng bạn sẽ gặp con đường Trường Khánh - Đại Ngãi nối vựa lúa chất lượng ngon và năng suất cao nhất nước.

CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM

Hoàng Kim

Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa. Giáo sư tiến sỹ, anh hùng lao động Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long,  tác giả chính của cụm công trình ‘Nghiên cứu và phát triển lúa gạo’ đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh, đã có hai bài viết quan trọng giới thiệu về “Lịch sử cây lúa Việt Nam” và “Cải tiến giống lúa cho sản xuất lúa gạo tại Việt Nam”. Giáo sư đã đưa ra các bằng chứng và dẫn liệu ‘Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa’ và ‘các tiến bộ của giống lúa Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21’. Hai bộ sách: Nguyễn Văn Luật (chủ biên), xuất bản lần đầu năm 2001, 2002, 2003 Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20, ba tập Nhà Xuất Bản Nông nghiệp, Hà Nội, 1.347 trang, và Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu 2011. Khoa học về cây lúa, di truyền và chọn giống. Nhà Xuất bản Nông Nghiệp, 623 trang đã đúc kết về những tiến bộ này.

Con đường lúa gạo Việt Nam” là chùm bài lược thuật về các dâng hiến lặng lẽ của một số nhà nông học,  nhà giáo và nông dân giỏi nghề nông. Họ gắn bó cuộc đời với nông dân, nông nghiệp, nông thôn, và những sinh viên, học viên nghề nông để làm ra những hạt gạo ngon hơn, tốt hơn cho bát cơm của người dân. Tập tài liệu nhỏ này mục đích nhằm kể lại những mẫu chuyện đời thường nghề nông cho các em sinh viên đọc thêm ngoài giờ học chính.

Thầy Norman Borlaug nhà khoa học xanh, cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói, đã có dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

Dạy học không chỉ trao truyền tri thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn trao truyền ngọn lửa. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Nam Bộ Việt Nam, quê hương của nhà bác học nông dân Lương Định Của, là nơi con đường lúa gạo Việt Nam khởi phát và tỏa rộng, là nơi mở đầu cho chùm bài viết này. Về miền TâySao anh chưa về lại miền Tây. Nơi một góc đời anh ở đó. Cần Thơ Sóc Trăng sông Tiền Sông Hậu. Tên đất tên người chín nhớ mười thương. Anh có về Bảy Núi Cửu Long. Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ. Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ. Anh có về nơi ấy với em không?” (thơ Hoàng Kim).

Lương Định Của con đường lúa gạo
Nơi tỏa rộng con đường lúa gạo Việt

Những chân dung nghề nông phác thảo

Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai
Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Những người Việt lỗi lạc ở FAO
Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam
Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Thầy Xuân lúa và hệ canh tác

DẠY, HỌC VÀ LÀM cây lương thực
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh

Con đường xanh của chúng ta
Công việc này trao lại cho em
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Hoa của Đất

Về miền Tây
Hoa Lúa

Xin giới thiệu ‘Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng‘ trong chùm bài viết trên

GaoThomSocTrang

HỒ QUANG CUA GẠO THƠM SÓC TRĂNG

Hoàng Kim

Nhà văn, nhà báo Huỳnh Kim vừa có bài viết ấn tượng Gạo thơm ST ra thế giới viết về kỹ sư Hồ Quang Cua, tác giả nhãn hiệu Gạo thơm Sóc Trăng nổi tiếng ST5, ST20,… “Thái Lan làm được sao mình không làm? ” “ST ra thế giới nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi“. Những trăn trở của anh Hồ Quang Cua và những người tâm huyết “chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao” cũng là trăn trở của hàng triệu nông dân Việt Nam.

ST5

Làm gì để nâng cao giá trị canh tác, giá trị sử dụng và hiệu quả kinh tế để hạt ngọc Việt đi ra thế giới ? Từ nghiên cứu chọn tạo giống tốt, hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh, đến phục tráng, thực nghiệm, nhân giống gốc, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, đến tổ chức hệ thống sản xuất chế biến kinh doanh khép kín là  một chuỗi công việc to lớn để có được chén cơm ngon như những tấm hình minh họa dưới đây

LuaSocTrang

Anh Hồ Quang Cua (thứ nhất bên trái) cùng anh Bùi Bá Bổng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT (thứ hai từ bên phải), trong hội thảo đầu bờ trên cánh đồng mẫu lớn. Chúng tôi đang học theo thầy Lương Định Của con đường lúa gạo, học theo anh để tiếp nối công việc của anh và thực hiện đề tài Chọn tạo giống lúa hướng đến thích ứng với biến đổi khí hậu từ nguồn gen siêu lúa xanh (GSR) và đặc sản Sóc Trăng (ST). Tôi biết ơn anh Hồ Quang Cua vì tấm lòng của anh đối với nông dân, đối với cây lúa, đối với nghề nông  và những kỹ năng cuộc sống quý giá mà anh đã thân thiết trao đổi, gợi mở,…

Tôi nhớ đến anh là nhớ đến gạo thơm Sóc Trăng và ngược lại. Ra bến xe đò về thành phố, hỏi đến ông Cua gạo thơm Sóc Trăng là hầu như ai cũng biết và họ hồ hởi khoe ông Cua và gạo trắng, gạo ngon, … rượu  ngon Sóc Trăng và nếp cẩm.  Chợt dưng tôi thấu hiểu những ông Bụt đời thường, những ông Bụt của đất, của nước, của hạt ngọc phương Nam.

ST Tim

Trăn trở về Lúa Gạo Việt Nam chiến lược chọn tạo giống, tôi viết thư trao đổi với anh Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp. Anh tán đồng với phương pháp “đưa thêm các nguồn gen quý vào những giống lúa vốn đã rất phổ biến và nổi tiếng trong sản xuất” như cách chúng ta đã làm trong tạo chọn và phát triển các giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím) công nhận giống năm 1997 thành vùng giống sản xuất lớn, thâm canh cao ở Bình Minh, Vĩnh Long năm 2007, đưa năng suất khoai lang từ 9,00 tấn lên 29,8 tấn trên phạm vi toàn tỉnh; Giống sắn KM98-5, KM419 tạo giống cũng theo cách trên và nay đã thành vùng giống sắn sản xuất lớn ở Tây Ninh, đưa năng suất sắn từ 8,5- 12,5 tấn /ha của giống sắn địa phương lên 17,0- 27,0 tấn/ha và nay toàn tỉnh đạt năng suất 30,0 tấn/ha, cá biệt những nông hộ sản xuất giỏi đạt 50,0 – 65,0 tấn/ha trên diện rộng, chủ lực là giống sắn mới KM419 chiếm trên 50% diện tích sắn và các giống KM94, KM98-5… Điều này cũng như công việc chúng ta đang làm đưa thêm nguồn gen quý vào giống lúa “hoa hậu” OM6976 của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cúc Hòa, Phạm Trung Nghĩa và cộng sự Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, để chọn tạo và phát triển dòng OM6976-41 (GSR89), hoặc những việc chúng ta đang làm mới đây nhằm kết hợp GSR với ST.

Anh Lê Huy Hàm đồng tình và trao đổi nhiều thông tin định hướng chọn tạo giống lúa (như đã nêu ở bài trên). Anh viết: “Kính gửi anh Kim. Cám ơn anh đã giới thiệu về các giống lúa mới có tiềm năng ứng phó với biến đổi khí hậu. Điều này tôi rất quan tâm. Hiện nay chúng tôi đi theo hướng là không tạo ra giống lúa mới mà chỉ cải tạo giống cũ. Lý do vì chúng ta đã tạo ra quá nhiều giống lúa mới, nông dân hoa mặt không còn biết phân biệt giống nào tốt, giống nào xấu nữa (Không như sắn và khoai lang, số giống chọn tạo không nhiều nhưng rất bền trong sản xuất – HK). Nhiều giống lúa cũng làm cho việc xây dựng thương hiệu giống và thương hiệu gạo khó khăn, là một trong các nguyên nhân làm gạo Việt Nam có giá thấp trên thị trường. Vì vậy hiện nay tôi đang nâng cao tinh chịu mặn và tình chịu ngập của các giống đại trà lúa miền Bắc và miền Nam bằng việc đưa gen Saltol (chịu mặn) và gen Sub1 (chịu ngập) vào các giống lúa đại trà của Việt Nam. Mức chịu mặn giai đoạn mạ hiện nay đã đạt 5-6 ‰, chiu ngập 10-15 ngày, sau khi nước rút lại mọc lại. Chúng ta có thể cùng nhau thử nghiệm các giống này tại Sóc Trăng. Anh làm cầu nối với tỉnh thì rất tốt. Chúng ta cùng nhau tìm kinh phí. Chúng tôi hy vọng rằng bằng cách này, chúng ta sẽ không tao ra các giống mới mà chỉ cải thiện các giống đã chấp nhận rộng rãi ở các đặc tính chịu mặn, chịu ngập, kháng rầy, đạo ôn, khô văn, bạc lá… và cuối cùng tạo ra Multiple tolerant rice varieties hay super rice. Đây là đặc tính cần để ứng phó với biến đổi khí hậu. Chúng tôi cũng sẵn sàng tham gia với kế hoạch của anh về SGR(Green Super Rice – Siêu lúa xanh)ở tỉnh Sóc Trăng, Phú Yên và Gia Lai. Anh móc nối, có thể chúng ta sẽ tổ chức gặp nhau Viện Di truyền – Đại học Nông Lâm hoặc tại các tỉnh trên. Chúng tôi có thể lại tạo để chuyển thêm gen saltol vào SGR để tăng tính chịu mặn, đánh giá ở góc độ phân tử, sau đó anh cùng với Sóc Trăng, Phú Yên , Gia Lai và các nơi đánh giá tại địa Phương. Anh suy nghĩ nhé. Chúc anh khỏe, Lê Huy Hàm

ST5 nhân giống

Tôi muốn khởi đầu câu chuyện “Lúa Gạo Việt Nam diễn đàn chọn tạo giống” bằng sự Tổng quan “Con đường lúa gạo Việt Nam” kể về nhiều nhân vật kỳ vĩ và nhiều nhà khoa học tâm huyết tài năng như: Lương Định Của, Tôn Thất Trình, Bùi Huy Đáp, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Vũ Tuyên Hoàng, Mai Văn Quyền, Trần Văn Đạt, Bùi Bá Bổng, Bùi Chí Bửu, Nguyễn Công Tạn, Phan Phải, Nguyễn Thị Trâm, Lê Huy Hàm, Tạ Minh Sơn, Nguyễn Trí Hoàn, Phạm Văn Ro, Nguyễn Thị Cúc Hòa, Nguyễn Thị Lang, Đỗ Khắc Thịnh, Nguyễn Văn Hoan, Mai Thành Phụng, Nguyễn Gia Quốc … Họ đã đóng góp to lớn trong chọn tạo giống lúa, góp phần làm nên diện mạo “Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20”. Nhưng tôi xin được viết chậm lại để có thời gian thong thả hơn. Sự cần thiết phải đi thẳng vào những vấn đề nóng hổi, cấp bách của thực tiễn sản xuất đang đòi hỏi: “Làm gì để phát triển khoa học công nghệ mới tạo được đột phá cho hạt ngọc Việt?“.

Chúng ta hãy bắt đầu từ anh Hồ Quang Cua và gạo thơm Sóc Trăng, từ vùng đất quê hương Long Phú, Đại Ngãi (Đại Nghĩa theo cách gọi của tiếng miền Nam), đi trên con đường lúa gạo Trường Khánh, Đại Nghĩa của dân tộc Việt, nơi sinh thành của nhà bác học cây lúa Lương Định Của. Chúng ta cũng bắt đầu bằng ý kiến thảo luận của anh Lê Huy Hàm, chuyên gia về di truyền chọn giống lúa. Tôi hiểu ý anh Hàm “Chọn giống lúa là đừng ham tạo ra nhiều giống mà cần tuyển chọn kỹ để có giống lúa ưu tú phổ biến thành thương hiệu nổi bật, đứng vững trong sản xuất“. Mời bạn hãy đọc “Gạo thơm Sóc Trăng ra thế giới” của Huỳnh Kim. Bài viết ngắn nhưng nhiều thông tin lắm. Đất nước cần có nhiều Hồ Quang Cua và “gạo thơm Sóc Trăng” hơn nữa cho bà con nông dân và cho sản xuất! Đọc Huỳnh Kim, tôi cảm giác như gặp lại Sơn Nam: ” … Năm tháng đã trôi qua/ Ray rứt mãi đời ta/ Nắng mưa miền cố thổ/ Phong sương mấy độ qua đường phố/ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê “. Năm tháng sẽ qua đi, chỉ những thành quả thiết thực cho chén cơm manh áo của người dân là còn lại.

Đất Nước cần nhiều những nhà khoa học dấn thân, cần cù, phúc hậu, trí tuệ chọn tạo giống lúa, cây lương thực ngon hơn, tốt hơn cho người dân, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp, các giải pháp khoa học công nghệ để người dân lao động bớt nhọc nhằn hơn, giảm rũi ro và tổn thất sau thu hoạch.

Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Hoàng Kim

GẠO THƠM ST RA THẾ GIỚI

Huỳnh Kim

Cục Sở hữu trí tuệ đã chứng nhận nhãn hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” từ cuối năm 2011 cho dòng sản phẩm gạo thơm mang tên ST. Người xây đắp cho thương hiệu này, kỹ sư Hồ Quang Cua, nay đang mong muốn nâng ST lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới.

Kỹ sư Hồ Quang Cua – Ảnh: H.Kim

Thái Lan làm được sao mình không làm?

Tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt Trường ĐH Cần Thơ năm 1978, anh Hồ Quang Cua  trở về quê nhà Sóc Trăng, làm việc tại Phòng Nông nghiệp huyện Mỹ Xuyên, sau đó được đề bạt làm Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Sóc Trăng. Đến nay, anh đã cùng nhóm cộng sự đi qua chặng đường hơn 20 năm xây dựng thương hiệu gạo thơm ST.

Từ năm 1991, Hồ Quang Cua đã tham gia nhóm nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL và ĐH Cần Thơ lo sưu tập, thử nghiệm các giống lúa thơm cổ truyền của Việt Nam, Thái Lan và Đài Loan. Được làm việc cùng các nhà khoa học đầu đàn như GS Võ Tòng Xuân, GS Nguyễn Văn Luật, rồi ra nước ngoài học, anh bắt đầu có ý tưởng làm lúa thơm cao cấp cho Việt Nam, trước hết là cho tỉnh Sóc Trăng.

Dạo đó, anh phát hiện giống lúa thơm nổi tiếng Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan là do một cán bộ ở huyện chọn tạo; vậy mà những năm 1992 – 1997, mỗi năm Thái Lan thu gần 1 tỉ USD nhờ xuất khẩu hơn một triệu tấn gạo này. “Họ làm được sao mình lại không làm, trong khi đến cuối thế kỷ 20 mình đã xuất khẩu gạo ổn định và lo được an ninh lương thực rồi?” – Hồ Quang Cua tự vấn rồi cùng nhóm cộng sự và bà con nông dân ở huyện lao vào công việc bất kể ngày đêm. Trong bước đi đầu tiên kéo dài nhiều năm ấy, các anh đã rút ra 3 kết luận hình thành nên cây lúa thơm tương lai: 1/ Quá trình biến dị, lúa có thể cho ra giống mới có phẩm chất cao hoặc dùng làm nguồn lai tạo tiếp; 2/ Việt Nam đất chật người đông, cây lúa thơm phải là cây cải tiến có năng suất cao chứ không thể như Thái Lan, Ấn Độ sử dụng cây lúa mùa cổ truyền năng suất thấp; 3/ Phải đào tạo nhân lực để hình thành đội ngũ nghiên cứu.

Lúc đầu, ít người tán thành những nhận định mới này, nhưng rồi được Bộ Nông nghiệp và lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng khích lệ, dần dần bảy giống lúa thơm bố mẹ được lai tạo, trong đó có gien giống Khao Dawk Mali, giống Tám Xoan ở phía bắc và giống Tào Hương của Sóc Trăng. Tới năm 2013 này, đã có 21 giống ST. Riêng ST20, cho hạt gạo thon dài, cơm mềm dẻo, thơm hương dứa và hương cốm.

Từ năm 2009, đã có gần 25.000 ha lúa thơm ST được trồng tại Sóc Trăng và hàng vạn héc ta nữa được các tỉnh ven biển khác ở ĐBSCL trồng. Ngoài việc trồng lúa hai vụ, các anh còn giúp nông dân trồng lúa thơm theo các mô hình hành tím – lúa và tôm – lúa. Ông Trà Diên ở xã Viên Bình, huyện Trần Đề, nơi đang làm 2.500 ha lúa ST5, nói: “Tôi làm 23 công cấy tầm lớn hai vụ ST5, mỗi năm lời hơn 150 triệu đồng, gấp đôi lúa IR ngày trước”. Hồ Quang Cua nói: “Các tỉnh ven biển ĐBSCL có thể trồng được vài trăm ngàn héc ta giống ST. Riêng việc trồng lúa thơm ở vuông tôm đã giúp ổn định môi trường, tái tạo sự sống trong đất, làm chậm quá trình thoái hóa đất”.

Trong đào tạo, từ cây lúa thơm ST, đã có 10 kỹ sư làm tiếp các đề tài lên thạc sĩ, riêng anh Trần Tấn Phương đã bảo vệ tiến sĩ hồi tháng 10.2011 chuyên về di truyền với đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm cao sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”.

ST ra thế giới, nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi

Cuối năm 2011, đã có 5 đơn vị được Sở NN-PTNT Sóc Trăng trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”. Đó là Công ty Gentraco ở Cần Thơ, Công ty lương thực Sóc Trăng, Công ty TNHH Thành Tín, Công ty chế biến gạo chất lượng cao Sóc Trăng và cơ sở sản xuất lúa giống và gạo thơm Mỹ Xuyên. Cũng năm đó, lần đầu tiên, Việt Nam xuất khẩu được hơn 400.000 tấn gạo thơm, chủ yếu là giống Jasmine vì giống ST chưa có nhiều, mới đủ tiêu thụ nội địa.

Tình hình này đã thôi thúc kỹ sư Hồ Quang Cua cùng các đồng sự dấn thân tiếp vào một kế hoạch mới. Họ đang làm đề án “Xây dựng liên minh nông dân và doanh nghiệp dựa trên quan hệ sản xuất mới” với mục tiêu hàng đầu là “tăng thu nhập cho nông dân”. Nông dân trồng lúa thơm ST sẽ tăng thu nhập lên tối thiểu 20% trong năm đầu tiên và tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và năm thứ 3 nhờ nắm bắt đầy đủ kỹ thuật canh tác. Cơ sở nào để có dự án này? Anh Cua cho biết giá gạo trắng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 chỉ nhỉnh hơn 400 USD/tấn dẫn tới hiệu quả sản xuất lúa gạo thấp. Trong khi đó, Công ty lương thực Sóc Trăng và Công ty TNHH Trung An ở Cần Thơ đã xuất khẩu gạo ST20 với giá 900 USD/tấn và đang thiếu hàng để bán.

Hồ Quang Cua hỏi: “Vậy ta có nắm được cơ hội này để thâm nhập sâu vào thị trường gạo cao cấp của thế giới không? Và ta có thể tổ chức sản xuất một vài chủng loại lúa đặc thù của Việt Nam, như ST, với mô hình doanh nghiệp liên kết với nông dân?”. Rồi tự trả lời: “Làm được nghĩa là chúng ta tạo được một quan hệ sản xuất mới, hữu cơ giữa nông dân và doanh nghiệp, điều mà Chính phủ vừa phê duyệt trong kế hoạch tái cơ cấu sản xuất lúa của Bộ NN-PTNT”.

Theo các tác giả dự án, gạo thơm ST20 và ST21 là gạo thơm cao cấp, rất được người tiêu dùng trung lưu thành thị ưa chuộng, bán được giá cao, nội địa bình quân 1 USD/kg, xuất khẩu tới 900 USD/tấn, như vậy là gạo Việt Nam bắt đầu cạnh tranh được với gạo thơm cao cấp của Thái Lan. Giờ  đây, nếu mô hình liên kết nông dân – doanh nghiệp được đầu tư làm bài bản ở quy mô lớn hàng ngàn héc ta ngay từ năm đầu, thì chẳng những gia tăng thu nhập ngay cho nông hộ và doanh nghiệp mà còn là mô hình để làm đúng việc liên kết bốn nhà trong cánh đồng mẫu.

“Mong ước cuối cùng của tôi là việc xác lập quan hệ sản xuất mới mang tính bền vững cho chuỗi giá trị, và gạo thơm Sóc Trăng sẽ có ngày được nâng lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới”, kỹ sư Hồ Quang Cua quả quyết như vậy.

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131007/gao-thom-st-ra-the-gioi.aspx

 


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Myanmar đất nước chùa tháp

myanmar-dat-nuoc-chua-thapMYANMAR ĐẤT NƯỚC CHÙA THÁP

Hoàng Kim.

Tôi đến Myanmar hai lần nhưng cả hai lần đều ngắn ngủi, vì đó chỉ là sự quá cảnh Việt Nam qua Ấn Độ nên tôi dè dặt chưa dám viết gì nhiều về nơi này, ngoại trừ sự ám ảnh ấn tượng về đất nước chùa tháp và câu chuyện huyền thoại bà Aung San Suu Ky. Nói về Myanmar tôi nhớ ngay đến thầy Mai Văn Quyền, thầy Nguyễn Lân Dũng và anh Bulukhin Nguyễn Quốc Toàn, những người lưu trong tôi sự sâu đậm về đất nước kinh kim cương thừa.

myanmarThầy Quyền nghề nông của chúng tôi sang giảng dạy và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp ở Myanmar. Thầy đã mang về tặng cho tôi kỷ vật vô giá bức khảm tuyệt đẹp khu rừng thiêng dát đầy nắng vàng và cây xanh. Tôi trang trọng treo ở chốn tĩnh lặng để khi dâng hương ở bàn thờ Cha Mẹ lại thân thiết nhớ về những người thầy yêu mính trong đời mình.

ƠN THẦY

Cha ngày xưa nuôi con đi học.
Một nắng hai sương trên những luống cày.
Trán tư lự, cha thường suy nghĩ.
Phải dạy con mình như thế nào đây?

Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất.
Cái chết giằng cha ra khỏi tay con.
Mắt cha lắng bao niềm ao ước.
Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng.

Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy.
Tương lai con đi, sự nghiệp con làm.
Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ.
Cha ngã xuống rồi trao lại tay con.

Trên luống cày này, đường cày con vững.
Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa.
Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ.
Thôi thúc tim con học tập phút giờ …”.

(trích trong bài: Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời)

 

Myanmar1
Thầy Nguyễn Lân Dũng viết bài Myanmar ngày nay tổng hợp thật nhanh và thật ấn tượng về những điều kỳ diệu lạ lùng đang diễn ra ở đó.

Myanmar5
Anh Bulukhin lang thang hơn một tuần bên đó và đưa ra câu đố về bức phù điêu lạ “Vũ điệu bắn cung” do cậu con trai mang về từ Yangon.

Myanmar: Gian nan con đường dân chủ những tư liệu dưới đây giúp đúc thông tin Myanmar đất nước chùa tháp, đọc lại và suy ngẫm.

myanmar

Bài học con người và lịch sử văn hóa Myanmar, chúng ta sẽ còn nhiều lần quay lại.

Hoàng Kim

xem tiếp

MYANMAR GIAN NAN CON ĐƯỜNG DÂN CHỦ

Blog VOA 16/11/2015

Trần Vinh Dự

Mặc dù việc kiểm phiếu chưa kết thúc, nhưng câu chuyện NLD (Liên minh Dân chủ Toàn quốc) thắng cử là câu chuyện chắc chắn. Đây là một sự kiện trọng đại trong lịch sử của Myanmar, cho dù cuối cùng thì phe quân đội có để cho NLD lên cầm quyền hay không. Ít ra thì cuộc bầu cử cũng đã được diễn ra và được công nhận rộng rãi là cuộc bầu cử tự do, theo nghĩa không có những chiêu trò gian lận làm ảnh hưởng lớn đến kết quả bầu cử, và dĩ nhiên, việc đảng NLD thắng gần như tuyệt đối trên các ghế được đem ra bầu như vậy là việc quá ấn tượng.

Hai vế này cho thấy đảng USDP (Liên minh Đoàn kết và Phát triển) của phe quân đội cũng đã chơi “fair” ván bài mà họ chấp nhận chơi. Ở mặt khác nó cũng cho thấy rằng mặc cho các thành tựu gần đây mà giới lãnh đạo USDP đạt được trong lĩnh vực mở cửa và phát triển kinh tế, quần chúng Myanmar cũng vẫn kỳ vọng một sự thay đổi thực sự chứ không phải câu chuyện bình mới rượu cũ của USDP, và vì vậy họ đặt niềm tin vào NLD cũng như cá nhân bà Suu Kyi.

Chiến thắng của NLD được coi là một bước tiến về dân chủ ở Myanmar, tuy nhiên trước khi có những chuyện này, Myanmar đã có 2 nền tảng quan trọng của dân chủ. Đó là việc có nhiều đảng phái được công nhận (dù có được bầu cử dân chủ hay không), và người Myanmar cũng đã quen với văn hóa chính trị dân chủ. Sự kiện lần này đặt thêm một dấu mốc quan trọng nữa, nhưng nó không chỉ nằm ở chỗ NLD thắng, mà nó còn nằm ở chỗ USDP và lực lượng quân sự chấp nhận ván cờ bầu cử tự do, và chấp nhận kết quả của ván cờ này (ít nhất là theo những gì họ nói cho đến giờ).

Cũng có nhiều người đặt câu hỏi về việc liệu NLD có làm tốt vai trò lãnh đạo nền kinh tế. Điều này làm tôi nhớ câu nói của triết gia John Dalberg-Acton rằng “tự do không phải là phương pháp để đạt được mục tiêu chính trị tốt hơn, bản thân nó chính là mục tiêu chính trị cao nhất”. Vì thế cũng không nên đặt vấn đề là việc NLD lên cầm quyền là để phát triển kinh tế, và họ phải làm tốt hơn những gì USDP đã làm trong giai đoạn vừa qua. Thậm chí họ có thể làm tệ hơn trong một nhiệm kỳ, và có thể trong kỳ bầu cử sau họ sẽ thua, nhưng cái được là người dân Myanmar và nền chính trị đã chấp nhận sử dụng cơ chế bầu cử dân chủ để tìm ra người lãnh đạo theo ý mình. Đó mới là điều quan trọng nhất, hoặc nói như John Dalberg-Acton, đó mới là mục tiêu cao nhất.

Dân chủ hóa từ trên xuống

Những diễn biến hiện nay làm người ta dễ quên con đường đã qua. Con đường này mang nặng dấu ấn của ông Than Shwe, người đã lãnh đạo chính quyền quân sự trong gần 20 năm, sau đó thực hiện cuộc cải cách chính trị vào năm 2011 để dựng nên một chính quyền mang màu sắc dân sự do ông Thein Sein làm tổng thống, còn bản thân ông lui vào hậu trường.

Tại sao Than Shwe lại thực hiện cuộc cải cách chính trị mà dấu mốc bản lề là vào năm 2011 khi ông chính thức rút vào hậu trường? Than Shwe luôn được ghi nhận là một nhà độc tài tàn bạo và kẻ thù của tiến trình dân chủ ở Myanmar. Ông chỉ đạo hai cuộc đàn áp đẫm máu phong trào đấu tranh dân chủ, một lần vào năm 1988 và một lần vào năm 2007 (cách mạng cà sa). Vì các “thành tích” đàn áp trong suốt những năm lãnh đạo của mình, ông bị xếp hạng thứ 4 trong danh sách các nhà độc tài tệ hại nhất thế giới bởi Parade Magazine năm 2009.

Thế nhưng vào năm 2003, khi ông tròn 70 tuổi, thì chính quyền của ông đã soạn ra “lộ trình 7 bước đến dân chủ”. Năm 2008, hiến pháp mới do chính quyền của ông soạn được thông qua. Năm 2009, ông Than Shwe đã nói về cuộc bầu cử diễn ra sau đó vào năm 2010 rằng “tôi sẽ trở thành một công dân bình thường, một người bình thường, và các cộng sự của tôi cũng vậy vì chính quyền sẽ là một chính quyền dân sự”. Và ông đã làm đúng như thế, khi vào năm 2011 một chính quyền mang màu sắc dân sự được dựng lên (mặc dù họ đều từng xuất thân từ quân đội).

Nhiều người cho rằng ông Than Shwe thực hiện cuộc đổi mới chính trị là vì bị áp lực. Điều đó đúng một phần, nhưng nó khó giải thích câu chuyện ông cho soạn ra “lộ trình 7 bước đến dân chủ” từ năm 2003. Cũng khó nói tuổi tác khiến ông nghĩ lại, vì cách lãnh đạo của ông vẫn cứng rắn, thể hiện ở việc đàn áp năm 2007. Vì thế không thể nói khác được rằng cuộc đổi mới này thực sự là cuộc đổi mới từ trên xuống, từng bước, và có kế hoạch chặt chẽ.

Vai trò của ông Thein Sein cũng không hề nhỏ. Trước khi nhậm chức tổng thống, ông đã được coi là một người khá ôn hòa. Ngay sau khi trở thành tổng thống thì ông đã ngay lập tức thực hiện nhiều cuộc cải cách mạnh mẽ, trong đó có việc “thoát Trung”, điển hình là việc hủy bỏ dự án xây thủy điện Myitsone theo tiếng gọi của người dân nước ông. Ông cũng thả hàng nghìn tù nhân chính trị, bình thường hóa quan hệ với đảng NLD, làm thân với phương Tây, và hàng loạt các động thái thay đổi mạnh mẽ khác.

Ông cũng là người mà, nếu chúng ta còn nhớ, vào đầu năm 2014 lên tiếng về việc có thể thay đổi hiến pháp năm 2008, theo đó cho phép “bất cứ công dân nào” cũng có thể trở thành tổng thống. Hiến pháp 2008 được viết ra bao gồm nhiều nội dung bảo vệ cho phe quân sự, trong đó bao gồm cả một nội dung viết ra chỉ nhắm vào bà Suu Kyi, đó là cấm công dân Myanmar có thành viên trong gia đình là người quốc tịch khác trở thành tổng thống. Nó cũng quy định phe quân đội nghiễm nhiên có 25% số ghế trong Quốc hội mà không qua bầu cử, và 75% số phiếu thì không thay đổi được hiến pháp. Đó là lá chắn hiến pháp để bảo vệ phe quân đội. Phát ngôn này của ông Thein Sein, một người xuất thân từ phe quân đội, và là đương kim tổng thống, là một phát ngôn đáng kinh ngạc và thể hiện tư tưởng đặc biệt cấp tiến và thái độ thân thiện với bà Suu Kyi.

Tới lần này, ngay trước cuộc bầu cử diễn ra, ông Thein Sein cũng khẳng định sẽ chấp nhận kết quả bầu cử. Cuộc bầu cử cũng diễn ra theo cách mà ngay cả phe đối lập là đảng NLD cũng thừa nhận là tự do. Vì thế, cho đến giờ, phải thừa nhận là ông Thein Sein đóng vai trò rất quan trọng.

Vai trò tiếp diễn của quân đội trong nền chính trị

Nhiều người đang đặt dấu hỏi liệu phe quân đội sẽ làm gì tiếp theo. Nghi ngờ là có cơ sở vì ít nhất vào năm 1988 họ cũng đã sổ toẹt kết quả cuộc bầu cử dân chủ thời đó. Tuy nhiên, lần này, có ít lý do để tin chuyện tương tự sẽ lặp lại.  Khả năng lớn là ông Thein Sein sẽ rời nhiệm sở và ông có quyền rời nhiệm sở trong thế ngẩng cao đầu. Thế nhưng sau đó việc quân đội có để yên cho NLD lãnh đạo đất nước trong nhiệm kỳ này không thì vẫn là một câu hỏi mở.

Ai cũng biết phe quân đội nắm tối thiểu 25% số phiếu, và với 75% số phiếu thì không thay đổi được hiến pháp. Với hiến pháp hiện tại thì thứ nhất là bà Suu Kyi không thể làm tổng thống bởi một quy định trong hiến pháp mà phe quân đội đặt ra chỉ để áp dụng cho trường hợp của bà, và thứ 2 là 3 bộ cực kỳ quan trọng đối với sự ổn định của nền chính trị Myanmar đều nằm trong tay quân đội – bộ quốc phòng, nội vụ, và biên giới.

Vì thế vai trò của quân đội vẫn hết sức trọng yếu trong nền chính trị Myanmar, và dĩ nhiên bà Suu Kyi cũng như NLD không ảo tưởng gì về chuyện này. Để giữ được ổn định và phát triển, họ phải tìm kiếm sự đồng thuận từ quân đội. Điều này làm cho nền chính trị Myanmar sẽ còn tiếp tục ở trạng thái bấp bênh trong một thời gian dài. Có nhiều người cho rằng nếu cuộc chuyển giao quyền lực thuận buồm xuôi gió, quân đội Myanmar sẽ dần trở thành lực lượng chính trị giống như vai trò của quân đội Thái Lan trong nền chính trị nước này, tức là họ sẽ đứng một bên để yên cho chính phủ làm, nhưng sẵn sàng “can thiệp” trong những giai đoạn họ cho là “khủng hoảng”.

Điều này nếu thành công thì, xét cho cùng, sẽ là một kỳ tích và một bài học mới về chuyển đổi chế độ trên thế giới. Từ một nền độc tài bị cả thế giới lên án sang một nền dân chủ tự do và pháp quyền mà không phải trải qua các cuộc cách mạng đẫm máu như chúng ta đã nhìn thấy ở nhiều nơi trên thế giới.

Những thách thức lớn của NLD và Aung San Suu Kyi

Có 4 thách thức rất lớn. Thứ nhất, việc bà Suu Kyi không thể làm tổng thống tạo ra những phức tạp không hề nhỏ. Dù một đại diện khác của NLD lên làm tổng thống, và theo ý muốn của bà Suu Kyi, người đó chỉ là bù nhìn và bà sẽ là người ngồi “trên tổng thống”, thì điều đó cũng không dễ dàng. Nó có thể tạo ra xung đột ngay trong chính nội bộ đảng NLD. Không ai muốn mình là bù nhìn cả, nhất là về mặt pháp luật không quy định như vậy.

Thứ hai là cái bóng của bà Suu Kyi quá lớn và bà năm nay đã 70 tuổi. Cái bóng quá lớn của bà cũng khiến cho các tài năng chính trị khác của NLD bị lu mờ. Nếu có bất kỳ chuyện gì xảy ra với bà liên quan đến sức khỏe thì đó sẽ là một tổn thất cực kỳ lớn của NLD. Và con người thì không ai bất tử. Bà Suu Kyi và đảng NLD chắc chắn sẽ phải có kế hoạch thật tốt liên quan đến chuyện chuẩn bị nhân sự thế hệ kế tiếp.

Thứ ba là là câu chuyện phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Rất nhanh thôi sau khi cầm quyền, hào quang có được trong giai đoạn đấu tranh dân chủ sẽ phải nhường chỗ cho việc chứng minh các thành tựu từ việc quản lý có hiệu quả nền kinh tế và xã hội nếu NLD muốn tiếp tục cầm quyền. Điều này nói thẳng ra là không dễ dàng. Lech Walesa, nhà dân chủ lỗi lạc của Ba Lan (người cũng được nhận giải Nobel Hòa Bình vào năm 1983), chẳng hạn, chỉ trụ được ở vai trò tổng thống có đúng một nhiệm kỳ, sau đó cũng thua cuộc trong một cuộc bầu cử tự do.

Thứ tư là NLD sẽ liên tục phải tìm kiếm sự đồng thuận từ quân đội nếu muốn duy trì sự ổn định và phát triển. Dĩ nhiên các cuộc mặc cả liên tục này sẽ không dễ dàng.

Chính trị thực dụng và câu chuyện thoát Trung

Dưới thời của tổng thống Thein Sein, Myanmar đã thực hiện một cuộc chuyển đổi ngoạn mục về đường lối ngoại giao. Nó được kích hoạt vào đúng lúc nước Mỹ xoay trục về chiến lược ngoại giao và hướng sang châu Á. Vì thế nó được phương Tây, nhất là Mỹ, ủng hộ mạnh mẽ. Nó giúp USDP, một đảng do phe quân sự lập ra, nhanh chóng lấy được vị thế và uy tín đối với phương Tây, cũng như sự hậu thuẫn cần thiết của phương Tây để thực hiện cuộc chuyển đổi mềm về mô hình chính trị.

Đó là chưa kể nó giúp Myanmar thoát khỏi một số phận bi thảm của một thuộc quốc (vassal state) của Trung Quốc. Chưa có quốc gia nào giàu mạnh lên được với số phận thuộc quốc của đế quốc này. Có lẽ lựa chọn của Myanmar cũng là bài học tốt cho một vài nước Đông Nam Á có vẻ như đang vì vài mối lợi ích trước mắt mà Trung Quốc bố thí mà tạm thời đánh mất mình như Campuchia chẳng hạn.

Vì thế, một điểm mà chắc chắn giới quan sát và lãnh đạo các nước có lợi ích liên quan mật thiết với Myanmar sẽ quan tâm là, dưới sự dẫn dắt của bà Suu Kyi và NLD, Myanmar sẽ thực hành một nền chính trị thực dụng như thế nào, và câu chuyện quan hệ của họ với Trung Quốc sẽ ra sao. Bà Suu Kyi đang tỏ ra nóng lòng để thực hiện vai trò lãnh đạo, và chắc chắn, bà sẽ muốn tạo ra một con đường riêng chứ không đơn giản là thực hiện tiếp những gì mà ông Thein Sein đang làm dang dở.

*Blog của Tiến sĩ Trần Vinh Dự là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Trần Vinh Dự

Trần Vinh Dự chuyên nghiên cứu, tư vấn, và viết về các vấn đề kinh tế của Việt Nam, Hoa Kỳ và thế giới. Ngoài lĩnh vực sở trường này, ông cũng thường xuyên viết về các vấn đề quan hệ quốc tế liên quan tới Á Châu. Trần Vinh Dự tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Đại học tổng hợp Texas ở Austin, làm chuyên gia tư vấn kinh tế cho tập đoàn ERS Group Inc., đồng sáng lập và là cố vấn cho Quỹ nghiên cứu Biển Đông.

Myanmar

MYANMAR NGÀY NAY

Blog Nguyễn Lân Dũng

Nhờ có Vietnam Airline mà càng ngày càng có nhiều người Việt Nam có thể bay từ Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh sang Myamar để du lịch hoặc tìm cơ hội hợp tác kinh tế. Năm 1989, hội đồng quân sự đổi tên tiếng Anh từ Burma thành Myanmar, tên của thủ đô đổi từ Rangoon thành Yangon. Myanmar là tên quốc gia, trong khi Bama (Burma lấy nguồn gốc từ đây) là tên gọi thông tục. Nhiều nhóm người Myanmar tiếp tục sử dụng tên “Burma” vì họ không chấp nhận tính hợp pháp của chính quyền quân sự cũng như sự đổi tên đất nước. Một vài chính phủ phương tây, chẳng hạn Hoa Kỳ, Australia, Ireland và Anh tiếp tục sử dụng tên “Burma”, trong khi Liên minh châu Âu sử dụng cả hai. Liên Hợp Quốc sử dụng tên “Myanmarr”.

Myanmar có diện tích lớn hơn nước ta nhiều (676 577 km2). Nước này có 5.876 km đường biên giới với Trung Quốc (2.185 km), Thái Lan (1.800 km), Ấn Độ (1.463 km), Lào (235 km) và Bangladesh (193 km). Đường bờ biển dài 1.930 km. Tính theo chiều dài bắc-nam thì dài tới 2090 km, bề ngang chỗ rộng nhất là 925 km. Tuy nhiên dân số ít hơn nước ta khá nhiều, theo thống kê vào tháng 7-2010 thì dân số nước này là 59,1 triệu người, mật độ bình quân chỉ có 87 người km2. Khi máy bay sắp hạ cánh xuống sân bay quốc tế của Thủ đô Yagon thì nhìn xuống chỉ thấy đồng ruộng mênh mông, không thấy một nhà cửa, xóm làng gì cả.
Sự đa dạng chủng tộc dân cư ở Myanmar (135 sắc tộc khác nhau) đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định chính trị, lịch sử và nhân khẩu học của quốc gia này . Người Miên (Burma) chiếm tới 68%, dân tộc Shan (9%), Karren (8%), Rakhine (4%), các dân tộc còn lại không quá 4%. Có tới 89% người Myanmar theo Phật giáo (Thiên chúa giáo-5,6%; Hồi giáo- 3,8%; Hinđu giáo- 0,5%…).
Phật giáo được coi như quốc đạo với 500 000 tăng ni và hầu hết mọi người trong đời mình phải qua nhà chùa rèn luyện không dưới 3 năm (!). Họ theo giáo phái Nam Tông như Ấn Độ, chứ không phải Bắc Tông như Trung Quốc. Người ta gọi Myanmar là “đất nước chùa tháp” vì có tói hàng vạn đền chùa lớn nhỏ nằm trên khắp đất nước.

Vì điều kiện công tác chúng tôi chỉ có thể ghé thăm một số chùa nổi tiếng. Chùa vàng Swedagon có lẽ là rộng lớn nhất và đẹp đẽ nhất vì phủ bằng bàng thật. Các bạn nói tháp lớn nhất lắp bằng vàng khối chứ không phải chỉ mạ vàng. Người đông như hội, vào chùa đều phải đi đất, không được đốt một chút vàng mã nào (!). Họ đến bằng lòng thành kính và cầu mong mọi sự yên bình chứ không phải để cầu xin, tiền tài, bổng lộc. Trên tay họ chỉ có vài bông hoa , một chuỗi hoa hay một nén hương mà thôi. Tất cả đều yên lặng, thành kính và nhiều người mang theo cơm hộp để ở cà ngày trong đền.

Bạn kể chuyện cơn siêu bão Nargis đã tàn phá Myanmar khiến trên 100 000 người chết. Chùa Swedgon bị vỡ từng khối vàng lớn nhưng người dân dã thu gom lại để tái thiết chùa mà không thiếu một chút vàng nào (!)Hàng vạn cây cổ thụ bị đốn ngã, bạn đã tận dụng để tạo ra các bức tượng bằng gỗ quý có giá trị nghệ thuật rất cao

Chúng tôi được bạn đưa đi thăm bằng thuyền đến một ngôi chủa rất lớn ở giữa sông. Mọi người mua bỏng ném xuống sông và hàng đoàn cá nổi lên nuốt chửng những nắm bỏng lớn, trông thật vui mắt.

Chúng tôi còn đi thăm nhiều ngôi đền khác nữa mà không kịp nhớ nổi tên. Đặc biệt được đến thăm những con voi trắng mà người dân Myanmar vô cùng sùng bái.

Ấn tượng sâu sắc nhất đối với chúng tôi là người Myanmar trông ai cũng hiền lành, thánh thiện, Không có trộm cắp, đĩ điếm, cờ bạc, cãi cọ, đâm chém, cướp bóc, nghiện hút ( trừ Khu tám giác vàng quá đặc biệt ở biên giới ba nước mà chua có cách gì triệt phá nổi).., Từ sau khi tháo gỡ một phần cấm vận , xe hơi cũ đã được thay gần hết bằng xe hơi đời mới. Không có một chiếc xe máy trên đường phố, nhưng có những xe đạp cải tiến chở được hai khách ngồi quay lưng lại nhau trong một thùng bên cạnh, Xe máy có che ô chở được hai hành khách ngồi trên một ghế lắp phía sau xe.

Người Myanmar không ăn thịt chó nên rất nhiều chó trên đường phố, Đặc biệt là không thấy con nào sủa hoặc dữ tợn. Quạ và chim bổ câu bay khắp nơi- chứng tỏ môi trường thiên nhiên còn rất trong sạch. Đồng bằng Ayeyarwady, diện tích gần 50.400 km², phần lớn để canh tác lúa gạo. Vậy mà Myanmar không xuất khẩu được lúa gạo, vì mỗi năm chỉ làm có một vụ. Công việc thủy lợi không phát triển và hiện nay mới đang nhờ Việt Nam giúp đỡ. Nông dân Myanmar ưa một cuộc sống rất thanh đạm, không có ý định làm giàu và họ coi cuộc sống sau khi chết quan trọng hơn đời sống thực trên trần thế.
Việt Nam có rất nhiều cơ hội để hợp tác phát triển nông lâm thủy sản với Myanmar. Độ tăng trưởng kinh tế chậm của Myanmar góp phần giữ gìn môi trường và các hệ sinh thái. Rừng, gồm rừng nhiệt đới với loại gỗ tếch có giá trị kinh tế cao ở vùng hạ Myanmar, bao phủ 49% diện tích đất nướ. Các loại cây khác mọc ở vùng này gồm cao su, keo, tre, lim, đước, dừa, cọ… Trên những cao nguyên phía bắc có sồi, thông, và nhiều giống đỗ quyên khác nhau bao phủ đa phần diện tích. Những vùng đất dọc bờ biển có nhiều cây ăn quả nhiệt đới. Tại Vùng khô, thực vật thưa thớt và còi cọc hơn. Có nhiều loài động vật rừng rậm tiêu biểu, đặc biệt hổ và báo có nhiều tại Myanmar. Ở vùng Thượng Myanmar, có tê giác, trâu rừng, lợn lòi, hươu, linh dương và voi nhà… Các loài động vật có vú nhỏ hơn cũng rất nhiều – vượn, khỉ , cáo bay, heo vòi… Đáng chú ý là sự đa dạng về các loài chim với hơn 800 loài (vẹt, peafowl, gà lôi, quạ, diệc và gõ kiến..). Trong số các loài bò sát có cá sấu, tắc kè, rắn mang bành, trăn , rùa… Hàng trăm loài cá nước ngọt là nguồn thực phẩm quan trọng. Năm 1994, đất canh tácchiếm 15,3% (chỉ mới 2% có tưới tiêu), đồng cỏ 0,5%, rừng và cây bụi 49,3%, các đất khác 34,9%. Khoáng sản chính: dầu khí, thiếc, kẽm, antimon, đồng, vonfram, chì, than, đá quý…. Mức sống của người Myamar rất chênh lệch so với nhau. Một số nhỏ rất giàu có họ đến với các siêu thị lớn, hết sức hoành tráng, đi xe đời mới nhất và sở hữu những tài sản kếch xù. Còn phần lớn dân cư an phận sống cuộc đời rất thanh bạch nhưng lại cảm thấy thỏa mãn (!). Đó có phần tốt nhưng cũng là sức cản cho sự phát triển kinh tế của đất nước.

Myanmar là một trong những quốc gia có quan hệ ngoại giao sớm nhất với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong thời kháng chiến chóng thực dân Pháp Myanamar là cửa ngõ giúp ta liên hệ với thế giới bên ngoài. Đầu thập niên 1950 Myanmar đã mua vũ khí từ Ấn Độ chuyển qua Lào để sang giúp quân đội ta, Cơ quan đại diện Chính phủ VNDCCH tai Rangoon được thành lập từ tháng 1-1948. Sau 1954 Myanmar giữ lập trường trung lập và có Tổng lãnh sự quán ở cả hai mièn Nam Bắc.Tháng 11-1954 Thủ tướng U Nu và Hồ Chủ tịch ký tuyên bố chung ghi nhận”năm nguyên tắc chung sống hòa bình”. Tháng 2-1958 Hồ Chủ tịch sang thăm chính thức Myanmar. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã hai lần Chính phủ Myanmar ra tuyên bố phản đối Mỹ ném bom miền Bắc và giải dioxin ở miền Nam. Sau ngày Việt Nam thống nhất đất nước, Myanmar thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ với Việt Nam từ ngày 25 tháng 5 năm 1975. Tháng 5-1994 Thủ tướng Võ văn Kiệt thăm Myanmar và hai bên ký kết 3 Hiệp định (thương mại, du lịch và thành lập UB hỗn hợp). Sau đó là các chuyến viếng thăm hữu nghị của các Thủ tướng Phan Văn Khải, Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch nước Trần Đức Lương cùng với các cuộc viếng thăm Việt Nam của các Tướng Myanmar. Tuyên bố chung ngày 2-4-2010 đã khẳng định việc gia tăng hợp tác trong 12 lĩnh vực kinh tế. Đến tháng 7-2010 Việt Nam là bạn hàng xuất nhập khẩu thứ 10 của Myanmar, và là bạn hàng xuất nhập khẩu thứ 4 của Myanmar trong ASEAN. Tính đến hêt năm 2010 các doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều dự án với vốn đăng ký tới gần 1 tỷ USD. Các doanh nghiệp đã có mặt sớm tại Myanmar là VNA, VIETTEL, PETROVIETNAM, BIDV. Hoàng Anh Gia Lai, TCT Sông Đà, TCT tôn Hoa Sen. TCT sữa quốc tế, TCT Điện lực, VIGLACERA, VIETRANIMEX….
Ngày 7-11-2010 đã có 29 triệu cử tri đi bầu cử Quốc hội (sau 20 năm kể từ 1990) để thành lập Chính phủ dân sự mới. Đầu tháng 2/2011,Quốc hội Myanmar đã bầu Thủ tướng mãn nhiệm trước đây – ông Thein Sein- làm Tổng thống dân sự đầu tiên sau gần 50 năm cầm quyền của quân đội. Chính phủ quân sự Than Shwe đã chuyển giao quyền lục êm thấm cho Chính phủ dân sự Thein Sein và một trang lịch sử mới đã mở ra trên đất nước này. Bà Aung San Suu Kyi ( sinh ngày 19-6-1945) Yagon. Trong những năm 1988-1995 bà hoạt động đòi tự do nhân quyền cho Myanma và bị chính quyền Myanma giam lỏng.Năm 1990, bà được trao Giải tưởng niệm Thorolf Rafto. Bà được tặng giải Nobel Hòa bình năm 1991. Tháng 9 năm 2006, theo bình chọn của tạp chí Forbes, Aung San Suu Kyi ở vị trí thứ 47 trong số 100 phụ nữ quyền lực nhất thế giới. Năm 2011 bà được trao Huy chương Wallenberg. Hiện nay bà là hội viên danh dự của Câu lạc bộ Madrid. Năm 2012 bà được bầu làm nghị sỹ quốc hội của Myanma. Ngày 16/6/2012, Ủy Ban Giải Nobel Hòa Bình đã tổ chức đón tiếp bà Suu Kyi, người đoạt giải Nobel Hòa Bình năm 1991. Buỗi lễ với sự hiện diện của vua Harald, hoàng hậu Sonja, thái tử Haakon, thủ tướng Jens Stoltenberg, Chủ tịch Quốc hội Dag T. Andersen, và lãnh đạo các chính đảng của Nauy. Chủ tịch Ủy Ban, ông Thorbjørn Jagland đọc diễn văn chào đón Aung San Suu Kyi. Diễn văn nhấn mạnh gương tranh đấu của Aung San Suu Kyi đã mang lại hi vọng cho thế giới. Chế độ quân phiệt càng quản chế và cô lập mạnh bao nhiêu, tiếng nói của bà càng rõ hơn. Lý tưởng và sự tranh đấu kiên trì của bà đã động viên được người dân Miến và chiến thắng được chế độ quân phiệt. Tự do và dân chủ không do nhà cầm quyền hay luật pháp ban phát. Những giá trị cao quý đó phải do tranh đấu bền bỉ mà có.

Thành quả tranh đấu của Aung San Suu Ky mang một thông điệp: chế độ độc tài có tất cả mọi thứ trong tay nhưng họ rất sợ dân chủ và trước sau cũng sụp đổ.

Nguyễn Lân Dũng
sinh năm 1938 là một giáo sưtiến sĩ sinh học, Nhà giáo Nhân dân của Việt Nam [1]. Công tác chính của ông là giảng dạy và nghiên cứu tại Viện vi sinh vật và Công nghệ sinh học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. (Wikipedia)

MỘT LẦN TỚI MIẾN ĐIỆN

Bulukhin

Bu thích gọi Myanma là Miến Điện vì nghe nó thâm u, kì bí, phù hợp với những thông tin về đất nước này bao giờ cũng trái chiều, gây tò mò, thắc mắc.  Có người bảo Miến Điện tương đương Việt Nam 35 năm trước (khoảng 1976) tức là lúc dân ta còn nhai hạt bo bo thay gạo, mọi hàng hóa trên đời phải mua bằng tem phiếu.  Mấy chú bộ đội trong nam về bắc còn tòng teng cái khung xe đạp và con búp bê nhựa sau ba lô… Tờ thông báo du lịch Miến Điện của Ami tour nhắc nhỡ quý khách có thể mang theo mỳ gói hoặc mắm ruốc đề phòng ăn không hợp khẩu vị.  Ở Răng Gun 19 giờ là đóng cửa, quý khách không nên ra ngoài một mình…Bởi vậy khi máy bay tiếp đất Răng Gun, Bu tui trong bụng không yên… Càng thêm sợ khi làm thủ tục nhập cảnh thấy nhà ga tối om, cúp điện! Đến hồi máy nổ chạy lên thì ơ kìa,  nhà ga họ lộng lẫy không kém chi Nội Bài và Tân Sơn Nhất, chưa nói là hơn. Riêng tấm thảm hoa ở phòng đợi dài 110 mét, rộng 11 mét tuyệt đẹp ( không có chỗ nối)  đã làm các vị Việt Nam thầm phục. Các sân bay xứ mình không nói làm gì, phòng đợi ở sân bay Bangkok (cách nay 10 năm) ở sân bay Bắc Kinh, Thượng Hải cách nay 5 năm bu tui chưa  thấy tấm thảm lót nền sang trọng thế.

Bữa ăn tối đầu tiến đến Răng gun ở nhà hàng  Bangkok Kitchen tuyệt ngon.  Chỉ riêng mấy loại nước chấm, các bà nội trợ khó tính Hà Nội đã khen rối rít. Bốn ngày, bốn bữa ăn sáng, tám bữa ăn chính chưa thấy vị  khách Việt Nam nào kêu không hợp khẩu vị.   Ngủ đêm ở khách  sạn Royal Park 4 sao  sang trọng và tiện nghi.

19 gìờ đèn điện ngoài phố sáng trưng, xe tắc xi mời đi dạo phố, không dám đi vì ngôn ngữ bất đồng, với lại xe họ không có đồng hồ đếm cây số, chỉ áng chừng để tính tiền. Cả thành phố chưa thấy cây xăng nào, nghe bảo các chỗ đổ xăng người ta xếp thùng, phuy, cao lêu nghêu, người bán đong từng xô đổ vào ô tô, bên cạnh đó có nơi nhà hàng ăn uống vẫn lửa đỏ từng bừng.

Vài ấn tượng đầu tiên khi đặt chân đến Răng Gun bạn đọc tạm, Bu còn viết tiếp.

NGÀ

6 giờ sáng ngày đầu tiên ở Răng gun bu rủ một anh bạn xách máy ảnh đi dạo phố coi thử cảnh vật xứ người ra sao. Quái lạ, trời sáng trưng rồi mà sao phố xá vẫn đóng im ỉm? Hoá ra, với người Miến lúc đó mới 5 giờ 30. Giờ họ chậm hơn giờ mình nửa tiếng. Định về lại khách sạn thì thấy một anh Miến đạp chiếc xe đi ngược chiều. Nói đạp xe nhưng chiếc xe ấy không hẳn là xe đạp, mà là một thứ “xi đờ ca” chạy bằng cơ bắp. Ngoài phần xe đạp thông thường ra, người ta gắn vào (bên phải người lái) một cái thùng để chở khách. Bu ra hiệu dừng xe và chễm chệ ngồi vào thùng. Anh chàng Miến khom lưng, guồng chân, nói một tràng líu ríu, chằc là hỏi “ông đi đâu”. Xe lăn bánh được một đoạn, bu ra hiệu dừng xe, đưa cho anh lái một đô la, nhảy vội xuống đất. Anh chàng kia không ra mừng, không ra ngạc nhiên, đạp xe đi, ngoái lại nói một tràng líu ríu, có thể là cảm ơn, cũng có thể bảo chụp hình cả người lẩn xe người ta mà trả có một đô, đồ keo kiệt! Hehehe.

Có anh đi Miến Điện về viết như đinh đóng cột lên mạng, con gái Miến ra đường trang điểm bằng vôi bột xoa lên má. Khiếp! vôi bột mà xoa lên má thì bỏng da, hỏi còn gì là má nữa. Ấy thế mà các cô rao bán hàng lưu niệm ở nơi đông khách du lịch hai má cứ trắng xóa như hề tuồng. Chả nhẽ da mặt mấy em Miến này chịu được vôi bột? Cho đến khi vào khách sạn Kyaik Hto (trên đỉnh núi cao 1200m so với mặt biển) mới biết thứ bột trắng ấy được mài từ thân cây thanaka (chỉ có ở Miến Điện). Khúc gỗ thanaka bằng cái cốc vại mài lên đá với nước lả. Dung dịch thu được trắng đục như sữa, xoa lên da chống được tia tử ngoại mặt trời và làm trắng da. Khổ! Nào có thấy em nào trắng, em nào em nấy da dẽ cứ như đồng điếu đấy thôi.

Trong số những vật phẩm bu tui mang về tặng bà xã có một phiến gỗ thanaka và một cái đĩa đá mài hình tròn. Sau khi nghe bu thuyết trình về công dụng trang điểm của nó, bà xã nguýt dài: Ôi dào, trang với chả điểm kiểu này thì có mà dở hơi. Hihihi!!

Theo các nhà Trầu Học thì tập tục ăn trầu phổ biến ở vùng nhiệt đới châu Á và châu Đại Dương. Quốc đảo Đài Loan khoảng 25 triệu dân mà có tới 20% dân số ăn trầu. Cả nước mỗi năm chi ra 3 tỷ USD để nhai nhai, nhả nhả, một thứ chẳng ngon lành béo bổ gì. Thế nhưng đứng đầu thế giới về vụ ăn trầu phảỉ là dân Miến Điện. Những ai đi Miến về đều nói thế, và bu tui loanh quanh nước Miến 5 ngày cũng thấy thế. Từ nông thôn cho chí thành thị, hang cùng ngõ hẽm nào cũng có người bán trầu, gặp 10 người thì đã có tới 4, 5 người nhai trầu bỏm bẻm.

Cách tiếp thị trầu của người Miến khác xa người Đài Loan. Các em “Tây Thi bán trầu hút khách” xứ Đài có chiêu câu khách ngoạn mục: Áo mỏng liền váy ngắn, cúc cài chiếu lệ, “quên” mặc nội y, anh nào mua đủ 100 Đài tệ trầu cau thì em cho xem luôn vòng 1 !

Hehehe…. P/S Đoạn nói về “Tây Thi bán trầu hút khách” và tấm hình minh hoạ dưới đây bu dẫn theo tác giả Thu Hà trên báo điện tử Vietnamnet.

Người Miến không thế, trầu bày ra đấy, ai cần thì mua không thì thôi, chẳng đon đả mời chào, không nói lời đưa đẩy. Như anh chàng đen nhẻm dưới đây, đã không mời thì chớ, còn trừng trừng nhìn khách, thượng đế nào yếu bóng vía có khi phải co giò …chạy.Nhìn vào quầy bán trầu (ảnh dưới) của anh chàng này chỉ thấy trầu không , vôi, một hộp không nắp đựng vai (từ cây gỗ gì đó đẽo ra) còn 7 hộp khác đựng gì thì có trời biết nỗi. Bu đoán mò: Cau khô, vỏ chay, vỏ quạch, vỏ trầm, rễ sen, là những thứ người ăn trầu nói chung vẫn dùng. Có thể có thêm đinh hương và đậu khấu là hai món người Miến khoái xài như các nhà Trầu Học nói tới.Bàn dân thiên hạ ăn trầu thì không nói làm gì, đằng này chú cảnh sát giao thông cũng ăn trầu khi đang thi hành công vụ (ảnh dưới). Tay phải chú cầm roi (điện ?), tay trái cầm bộ đàm. Đang tả xung hữu đột điều khiển người đi đường thì bổng chú ta dừng lại, nhổ toẹt bả trầu xuống đường. Nhè lúc này bu giơ máy ảnh lên, chú ta quay tít cây roi (điện?) và hô to: No photo. No photo!! Bu đành rút êm nhưng vẫn ghi nhanh được cảnh chú vào quán trầu mua tiếp 5 miếng, cho vào bao ni lông, đút túi quần để dành ăn tiếp…

Người Việt ta ăn trầu chưa đến mức nổi tiếng thế giới, nhưng đã có một nềnVăn Hoá Trầu mang bản sắc Việt rất độc đáo, với sự tích trầu cau bi thương và cảm động, với tâm sự của dân gian: Miếng trầu là đầu câu chuyện. Thương nhau cau sáu bửa ba, ghét nau cau sáu bửa ra làm mười. Rồi những nhà thơ viết về trầu: Xóm làng đã đỏ đèn đâu, chờ em ăn giập miếng giầu em sang (Nguyễn Bính). Các cụ ông say thuốc, các cụ bà say giầu, còn con trai con gái. chỉ nhìn mà say nhau (tác giả ?). Vậy thì xài trầu tầm cỡ nước Miến Điện hẳn phải có một nền Văn Hoá Trầu cực kì phong phú không kém gì người Việt, chưa nói là hơn . Hiềm nỗi chính phủ nước này chủ trương bế quan toả cảng, các nhà báo, nhà nghiên cứu không được tự do vào đó hành nghề. Văn học dân gian Miến chưa có ai dịch thuật giới thiệu. Bu tui được cái văn dốt võ dát, ở Miến có 5 ngày, chỉ nói được vài dòng chung chung, cốt mua vui cho bạn bè vậy, hehehe..

*

Bài viết “MỘT LẦN ĐẾN MIẾN ĐIỆN” trên đây, Bu nói những điều mắt thấy tai nghe ở cái xứ sở khuất nẻo và huyền bí. Có thể bạn sẽ hỏi: Tại sao Miến Điện rộng gấp đôi nước Việt, đất đai màu mỡ, tài nguyên dồi dào, dân số chỉ hơn nửa Việt Nam, có một quá khứ vàng son làm thế giới nể phục, lại nghèo nàn chậm tiến hơn nhiều nước Đông Nam Á. Anh Cô Cô người Miến hướng dẫn viên du lịch đã trả lời câu hỏi đó không chút dè dặt:  “Thể chế chính trị Miến Điện nhiều năm do quân đội nắm giữ, họ dựa vào súng đạn, đàn áp nhiều cuộc nổi dậy đòi tự do và dân chủ của dân chúng và tăng lữ, đẩy Miến Điện một thời thịnh vượng trở thành một nước nghèo nàn, xứ sở của sự sợ hãi…”

Ngày 4 tháng 1 năm 1948 Miến Điện thoát khỏi ách nô dịch thực dân Anh trở thành nước cộng hòa độc lập với tên gọi Liên bang Myanma do Sao Shwe Thaik làm tổng thống và Unu làm thủ tướng. Dẫu sao thì chính phủ Unu cũng còn được gọi là dân chủ. Nhưng đến 1962 tướng Ne Win đảo chính quân sự và lên nắm quyền suốt 26 năm liền. Ông này theo đuổi chính sách Xã hội chủ nghĩa, thân cộng sản, lấy quốc hiệu Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Liên bang Myanma. Đứng đầu phe cộng sản thời bấy giờ là Liên xô và Tàu đang coi nhau như “kẻ thù số một”. Mao Trạch Đông chống Liên Xô do việc Khơ rút sốp hạ bệ thần tượng Sta lin. Bản thân Mao đưa ra chính sách Đại nhảy vọt, chỉ trong ba năm làm chết đói 37,55 triệu người, mười năm Đại cách mạng Văn hóa chết thêm 20 triệu, tổng cộng 57,55 triệu, 100 triệu người bị đấu tố (trang 243, sách Mao Trạch Đông ngàn năm công tội của giáo sư Tân Tử Lăng, Thông tấn xã Việt Nam xuất bản).

Thể chế XHCN của Ne Win thân cộng ngày càng mất lòng dân. Chính vì thế năm 1974 nhân đám tang của U Than (Tổng thư kí Liên hợp quốc người Miến Điện) một cuộc biểu tình lớn đã xẩy ra, quân đội nổ súng đàn áp, máu người đổ đầy đường. Năm 1988 tướng Saw Maung làm đảo chính buộc Ne Win từ chức, lập nên Hội đồng Khôi phục trật tự và luật pháp Liên bang (SLORC). Hội đồng này lãnh đạo kinh tế yếu kém, thẳng tay đàn áp các phong trào đòi dân chủ, phản đối áp bức chính trị, dẫn đến cuộc nổi dậy 8888 (ngày 8 tháng 8 năm 1988), và bị quân đội đàn áp dã man, làm chết 3000 người (theo Trần Viết Đại Hưng, Email: dalatogo@yahoo.com).

Tuy nhiên cuộc biểu tình 8888 đã dọn đường cho bầu cử Quốc hội Nhân dân năm 1990. Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) do bà Aung San Suu kyi lãnh đạo thắng hơn 60% số phiếu và chiếm 80% ghế trong Quốc hội. Nhân dân Miến Điện hy vọng có sự đổi đời . Nhưng chính quyền quân sự đã thẳng thừng bác bỏ kết quả bầu cử, không những không trao quyền lực cho (NLD) mà còn giam cầm, quản thúc bà Suu kyi tổng cộng 15 năm ( trong số 21 năm từ 1990 đến 2011). Chủ trì việc loại bỏ NLD là thống tướng Than Xuề lúc bấy giờ giữ chức phó tổng chỉ huy lực lượng vũ trang, kiêm phó chủ tịch Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật pháp Liên bang (SLORC). Tháng 3 năm 1992 Than Xuề làm bộ trưởng bộ quốc phòng , tháng 4 năm đó giữ chức chủ tịch (SLORC) tiếp theo làm thủ tướng.

Việc loại bỏ NLD trong bầu cử 1990 và chính sách đàn áp dân chúng của Than Xuề làm nhiều nước như Ái Nhĩ Lan, Anh quốc, Áo, Ấn Độ, Bỉ, Đức, Hoa Kì, Ca na đa, Na Uy, Hàn quốc, Pháp, Tân Tây Lan, Singgapo, Thái Lan, Tây Ban Nha, Úc…đã có các cuộc biểu tình chống chính quyền quân phiệt Miến Điện. Liên Hiệp Quốc, trực tiếp can thiệp bằng ngoại giao. Hội đồng Bảo an LHQ cử đặc sứ Ibrahim Gambari đến Miến Điện cùng với các nước Đông Nam Á làm áp lực đòi chính phủ quân sự phải đối thoại với thủ lãnh đối lập – bà Aung San Suu Ky.

Mỹ và EU đưa ra nhiều biện pháp trừng phạt kinh tế như cấm nhập hàng hóa Miến Điện, hạn chế đầu tư… Nền kinh tế Miến do vậy gặp rất nhiều khó khăn. Có gần 2 triệu người Miến Điện sang lao động kiếm sống ở Thái Lan. Jackie, điều phối viên của MAP cho biết lao động nhập cư phải làm việc quá giờ và được trả lương thấp, thậm chí thấp hơn mức tối thiểu mà chính phủ Thái đưa ra. Họ không có quyền thành lập công đoàn và gặp rào cản về ngôn ngữ. Tính ra người lao động Miến Điện ở Thái thu nhập khoảng 3000 baht (1,2 triệu VNĐ)/ tháng. Con số đó còn cao gấp đôi những người lao động ở chính quốc. Tại các thị trấn giáp biên về phía nam quán karaoke và nhà thổ nhiều gấp đôi nhà hàng và quán rượu, tệ nạn xã hội vượt tầm kiểm soát của chính quyền sở tại. Một sự thực hiển nhiên, khi còn là thuộc địa Anh (1948 trở về trước) xuất khẩu gạo của Miến Điện đứng đầu thế giới. Đến năm 2011 dự kiến xuất khẩu 1,5 triệu tấn, chỉ bằng 1/5 số gạo xuất của Việt Nam. Ở SEA Games (1965-1973) đội tuyển bóng đá quốc gia Miến Điện 5 lần liền giành cúp vô địch, từ đó đến nay trên bảng xếp hạng chỉ là con số không.

Trước áp lực của  Liên Hợp quốc, Hoa kỳ, EU, khối ASEAN và nhiều nước trên thế giới, chính quyền quân phiệt Miến Điện đã chấp nhận tiến hành tổng tuyển cử vào ngày 7 tháng 11 năm 2010.  Ngày 3 tháng 3 năm 2011 Thủ tướng chính quyền quân sự ông Thein Sein tuyên thệ trở thành tổng thống Miến Điện. Tướng Min Aung  Halaing thay thế ông Than Xuề  làm tổng tư lệnh quân đội. Chính phủ mới có 34 bộ, trong đó có 23 bộ trưởng và thứ trưởng vốn là tướng lĩnh vừa mới lột bỏ quân hàm quân hiệu. Dư luận phương Tây cho rằng chính quyền quân sự Myanmar về hình thức đã mở đường cho một chính phủ dân sự sau nửa thế kỉ liên tiếp các chính phủ quân sự nắm quyền. Nhưng chế độ dân sự lần này hoàn toàn không thực chất.

Sau khi nhà cầm quyền Miến Điện dở bỏ lệnh quản thúc tại gia, tháng 7 2011 bà Aung San Suu Ky đã xuất hiện trước công chúng như một trắc nghiệm chính trị. Đi đến đâu bà cũng được nhân dân quây quần đón tiếp.  Chính quyền Miến Điện ngay lập tức cảnh báo sẽ đàn áp nếu có những cuộc tập hợp ủng hộ như trong quá khứ.

Bà San Suu Kyi được nhân dân mến mộ

Nhân dân Miến Điện cũng như những người yêu quý đất nước con người Miến Điện hy vọng vào sự trở lại chính trường của bà Suu Kyi. Chính bà cũng đã lên tiếng đề nghị ASEAN kêu gọi Mỹ và EU dở bỏ lệnh cấm vận đối với Miến Điện. Và tại cái xứ sở đầy rẫy sợ hãi này đã le lói ngọn gió đổi mới.

Tháng 1.2011 xuất hiện tấm hình các doanh nhân gặp Thống tướng Than Xuề

Ngày 7.6.2011 Một phái đoàn ngoại giao cao cấp của EU đến Răng gun khởi đầu những cuộc đối thoại về dân chủ và nhân quyền với chính phủ dân sự mới thành lập của Miến Điện.

Ngày 15.6.2011 Tồng thư ký Ban Ki-moon của Liên Hiệp Quốc cũng loan báo sẽ lập một văn phòng làm việc toàn thời gian chuyên trách về Miến Điện, để thúc đẩy quốc gia Đồng Nam Á này đổi mới chính trị.

Mong lắm thay một thể chế dân chủ thực sự cho toàn dân Miến Điện.


Bulukhin

Xem hồ sơ bác Bu