Đối thoại với Thiền sư

ĐỐI THOẠI VỚI THIỀN SƯ
Hoàng Kim

Kính Thầy Suối Trí Tuệ
Thừa Ân Giác Linh Ôn
Buu Minh Giác Tâm sáng
Hoa Lúa soi tâm hồn

Nam mô a di đà Phật
Bạch Ngọc kính Thầy
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoa-lua/

Lời dẫn:
1) Chùa Bửu Minh Gia Lai http://chuabuuminh.vn/ là ngôi chùa cổ gần Biển Hồ- Pleyku, Thầy Thích Giác Tâm tác giả ‘Con về còn trọn niềm tin‘ là sư trụ trì của chùa Bửu Minh.

2) Hòa thượng Thích Viên Quán, viện chủ chùa Thừa Ân, phường Yên Đỗ, Tp.Pleiku, tỉnh Gia Lai viên tịch vào lúc 13h30 ngày 16.9.2018.

3) ‘Ba trước của tôi’ bài của thầy Thích Giác Tâm

BA TRƯỚC CỦA TÔI
Thích Giác Tâm
(Hồi ức trong mùa Vu Lan Báo Hiếu).

Chuyện của một gia đình không danh gia vọng tộc, chỉ là một gia đình thường thượng bậc trung, thì có gì đáng nói để nói. Nhưng nếu không nói ra con cháu trong tộc họ không biết nguồn gốc của mình, người mà không biết đến nguồn gốc cội rễ của gia tộc là một thiếu sót lớn.

Mẹ tôi người huyện An Nhơn tỉnh Bình Định, có chồng cùng quê, là “ba trước” của tôi, (từ đây được gọi là “ba trước”, còn người sinh ra tôi được gọi là ba tôi, để dễ phân biệt và theo dõi câu chuyện không lẫn lộn) ông làm nghề thợ may, sinh ra được ba người con gái. Đặt tên May, Vá, Bảy. Cặm cụi ngồi may suốt ngày, nhiều năm nhiều tháng ông mắc bệnh phổi và mất khi tuổi chưa tới 40. Quê nhà làm ăn khó khăn, mẹ bồng bế ba con lên đồn điền chè Biển Hồ, tỉnh Pleiku lập nghiệp, thời gian đó vào năm 1945-1946. Mười hai năm sau mẹ gặp ba tôi họ Nguyễn tên Trợ và sinh ra hai anh em tôi.

Khi lên ở xã Biển Hồ, làm lại Tờ khai gia đình (hộ khẩu bây giờ), ba tôi hỏi mẹ tôi:” Mấy nhỏ họ gì ?” Mẹ tôi trả lời cục ngủn:”Họ Ma”. Ba tôi nói:” Họ gì họ Ma, họ ma quỷ thì còn làm ăn thế nào được. Đổi lại họ Mai đi, ở Bình Định có anh hùng Mai Xuân Thưởng chống Pháp, nên lấy theo họ Mai”. Ông quyết định đổi họ, và thế là các chị tôi từ họ Ma đổi thành họ Mai, cắt đứt gốc rễ tổ tiên ông bà họ Ma của mình.

Người Việt không có họ Ma, họ Ma là người Chăm. Trong gia phả của một số người Việt gốc Chăm tôi tìm hiểu được, thì người Chăm có 4 họ chính: “Ôn, Ma, Trà, Chế”. Bởi vậy tôi tin chắc chắn rằng “ba trước” tôi là gốc người Chăm (Chiêm Thành). Lịch sử để lại chúng ta biết rằng thành Đồ Bàn là thủ phủ của vương quốc Chiêm Thành) khu vực chùa Thập Tháp, tháp Cánh Tiên, thuộc xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định bây giờ là Kinh Đô Đồ Bàn xưa, của người Chiêm Thành (khoảng thế kỷ thứ 11-12).

Có lần trò chuyện với một người phụ nữ Chăm ở Phan Rang, bán hàng thổ cẩm ở hội chợ thành phố Pleiku, tôi hỏi:” Chị có biết về lịch sử tổ tiên ông bà chị không ?”. Chị trả lời:” Con có học có biết, nhưng câu chuyện lịch sử đã qua đi lâu quá rồi, hơn tám, chín trăm năm , bây giờ tụi con đã thành người Việt, nhắc, nhớ lại lịch sử vong quốc của mình chỉ thêm buồn”. Một câu trả lời vô cùng dễ thương, không khơi gợi, hoài niệm quá khứ để phát sinh thù hận, gây chết chóc điêu linh.

Trong Kinh tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân Đức Phật dạy:

“Điều thứ nhất là giác ngộ rằng cuộc đời là vô thường, cõi nước nào cũng mong manh dễ đổ vỡ, những cấu tạo của bốn đại đều trống rỗng và có tác dụng gây đau khổ, con người do tập hợp của năm ấm mà có, lại không có thực ngã, sinh diệt thay đổi không ngừng, hư ngụy và không có chủ quyền. Trong khi đó thì tâm ta lại là một nguồn suối phát sinh điều ác và thân ta thì là một nơi tích tụ của tội lỗi. Quán chiếu như trên thì dần dần thoát được cõi sinh tử”.

Thông điệp của Đức Phật luôn vang vọng trên khắp hành tinh này, từ 2600 năm qua: “Ngài dạy yêu thương, không hận thù, tất cả con người là quyến thuộc nhiều đời nhiều kiếp với nhau, là máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn như nhau. Hãy nương vào nhau mà sống, đừng bao giờ hủy diệt nhau. Rằng cuộc đời là vô thường, cõi nước nào cũng mong manh dễ đổ vỡ”. Vậy mà nhân loại con người, không ai nhớ đến làm chi, chúng ta nhân danh gia đình, xã hội, tôn giáo, tổ quốc mình đi rao truyền, cưỡng chiếm, và chân lý luôn thuộc về kẻ mạnh.

Ngày giỗ của “ba trước” tôi, là ngày 17 tháng 2 âm lịch. Con cháu có kẻ nhớ người quên, ông không còn một tấm ảnh nào để thờ.
Cứ mỗi lần có dịp đi du lịch các tỉnh thành, tôi đều tìm đến các tháp Chăm (có nơi gọi tháp Chàm) để thăm viếng, để học hỏi về lịch sử nam tiến, lịch sử ngoại giao của tổ tiên mình, về bài học nhân danh….để hủy diệt nhau, cho sự tồn sinh của dân tộc mình, tôn giáo mình.

Gia Lai, ngày 16.9.2016

Thích Giác Tâm

xem tiếp
HOA LÚA,
Hoàng Kim
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoa-lua/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Advertisements

Thanh trà Thủy Biều cố đô Huế

THANH TRA THỦY BIỀU CỐ ĐÔ HUẾ
Hoàng Kim
Thăm vùng thanh trà Thủy Biều nôi trái cây nữ hoàng đặc sản cố đô Huế. Giáo sư tiến sĩ Trần Văn Minh hướng dẫn chúng tôi ghé thăm vợ chồng thầy giáo nông dân Thân Trọng Lập, Nguyễn Thị Phượng một gia đình trồng thanh trà ngon nức tiếng của vùng bưởi huyền thoại. Thầy Minh là nhà giáo nhân dân, nguyên Hiệu trưởng Đại học Nông Lâm Huế, người thầy nghề nông của bao thế hệ sinh viên miền Trung cũng là bạn nhà nông thân thiết của bà con nơi đây. Chúng tôi là bạn thân thuở nhỏ. Tôi ra Huế họp, thầy Minh nói “Mình tranh thủ thăm ngay vừa dịp”

Năm nay, lễ hội Thanh Trà Huế lần thứ năm được tổ chức từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 9 tại phường Thủy Biều để tôn vinh loại trái cây ngon đặc sản cố đô Huế. Bưởi Thanh Trà Huế được lưu truyền trong văn hóa dân gian sâu đậm nhất từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725), vị Chúa Nguyễn đời thứ 6 đã  ăn hết trái bưởi Thanh Trà ngay giữa làng Lương Quán và tấm tắc khen ngon. Thanh trà Thủy Biều sau đó trở thành đặc sản.

Chuyện kể rằng, chúa Nguyễn Phúc Chu là một vị chúa giỏi nhà Nguyễn có nhiều công đức với dân và đất phương Nam. Chúa trong một lần du thuyền trên sông Hương chợt nhìn thấy có một vùng cây trái bưởi thanh trà xanh mướt ven sông, xum xuê, hữu tình, chúa truyền ghé thăm nơi đó là làng Nguyệt Biều, Lương Quán. Dân làng hái bưởi Thanh Trà dâng chúa thưởng thức, chúa ăn tấm tắc khen ngon và lệnh cho dân làng mở rộng trồng thêm. Từ đó, cứ vào giữa tháng 7 âm lịch hàng năm, trái bưởi Thanh Trà chín rộ, dân làng Lương Quán lại chọn ra những quả ngon nhất mang vào kinh thành tiến vua chúa để được ban thưởng. Đình làng Nguyệt Biều, đình làng Lương Quán thuộc phường Thủy Biều ngày nay làm nơi lưu dấu công đức những bậc thành hoàng bản thổ của vùng đất thanh trà mà hậu thế ghi ơn. Bưởi Thanh Trà Thủy Biều nổi danh từ đó …

Ngày nay Bưởi Thanh Trà Thủy Biều thuộc top 50 đặc sản trái cây nổi tiếng nhất Việt Nam, là một trong năm đặc sản Thừa Thiên Huế xác lập kỷ lục châu Á, trang thông tin điện tử phường Thủy Biều thành phố Huế giới thiệu. Lễ hội thanh trà Huế không có “cửa” cho thanh trà kém chất lượng. Chú trọng chất lượng là tiêu chí của Ban Tổ Chức lễ hội thanh trà Thủy Biều, trang thông tin Thừa Thiên Huế Online (http://tintuc.hues.vn) nhấn mạnh.

Giáo sư Trần Văn Minh với một số thành viên Ban Tổ chức lễ hội Thanh Trà Huế và chúng tôi chụp ảnh lưu niệm tại trường tiểu học Thủy Biều, tâm điểm của các gian hàng lễ hội. Tại lễ hội năm nay, bên cạnh các hoạt động trưng bày, giới thiệu mua bán thanh trà và các mặt hàng truyền thống tại địa phương, Ban tổ chức đã đưa thêm các hoạt động cung tiến thanh trà tại hai đình làng Nguyệt Biều và Lương Quán; triển lãm tranh, ảnh nghệ thuật liên quan đến thanh trà và các hoạt động lao động sản xuất tại địa phương; xây dựng dịch vụ lựa chọn thanh trà tại vườn bằng “con đường thanh trà”; tổ chức Hội thi “Trái ngon thanh trà Huế”; Hội thi bữa cơm gia đình với nguồn thực phẩm tại địa phương; Hội thi ẩm thực được chế biến từ quả thanh trà… Anh Trần Quang Phước cho hay diện tích trồng bưởi Thanh Trà tại hai làng Lương Quán và Nguyệt Biều ở phường Thủy Biều  khoảng trên  140 ha với 750 hộ gia đình.

Cụ Nguyễn Thị Phượng chỉ dẫn cho chúng tôi cách lựa trái thanh trà ngon trên vườn. Cụ cho hay gia đình thầy Minh nhiều năm nay đã là bạn thân thiết của gia đình cụ. Những cây bưởi đầu dòng quý được những lão nông tri điền các hộ nông dân trồng thanh trà giỏi, các nhà khoa học và khuyến nông, các nhà quản lý và hệ thống tổ chức con đường di sản địa phương cùng đồng hành khơi dậy tiềm năng con người, cây và đất. Con đường di sản là con đường gắn bó khoa học với nông dân, du lịch sinh thái, ẩm thực Việt với mạch thiêng lịch sử văn hóa giáo dục Việt.

Căn nhà nhỏ tĩnh lặng, bình dị của một cặp vợ chồng già tại vùng bưởi thanh trà Thủy Biều cố đô Huế ẩn chứa một minh triết và lời khuyên thầm lặng. Gian giữa cửa chính, nơi hướng về bàn thờ tưởng nhớ tổ tiên ngời ngời một bức đại tự xưa “Phong Vân đắc lộ”. Gian bên, bạn nhìn thấy trên tường nhà “Lễ phát thưởng khuyến học của ông bà Thân Trọng Lập” đối với con cháu .

bannhanong

Ông bà Thân Trọng Lập Nguyễn Thị Phương chụp ảnh lưu niệm với giáo sư Trần Văn Minh, vợ chồng thầy giáo Quang đại học Nông Lâm Huế là ấn tượng về truyền thống hiếu học của người Việt. “Nên thợ nên thầy nhờ có học. No ăn no mặc bởi hay làm”. Chúng ta ngộ ra được truyền thống hiếu học của vùng đất kinh kỳ xưa. Cụ Lập thu thập các giấy khen thành tích học tập của con cháu chắt để khuyến khích sự học, tuyên dương tại những dịp giỗ chạp hiếu hỉ gia đình, ngợi khen những cháu ngoan giỏi học và hành được những việc tốt lành.

Ngắm bức tranh cổ, tôi bâng khuâng nghĩ về con đường di sản Thanh trà Huế. Tôi nhớ về câu chuyện năm 1613, chúa Nguyễn Hoàng, vị chân chúa, người khai sáng gia tộc họ Nguyễn ở Đằng Trong, mà hậu duệ là vương triều nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam.  Chúa Tiên Nguyễn Hoàng lúc lâm bệnh nặng, đã gọi người con thứ 6 là Thụy quận công Nguyễn Phúc Nguyên từ Quảng Nam về kế vị và căn dặn: “Đất Thuận Quảng này phía bắc có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang, phía Nam có núi Hải Vân và Bi Sơn, thật là đất của người anh hùng dụng võ. Vậy con phải biết thương yêu dân, luyện tập binh sĩ để xây dựng cơ nghiệp muôn đời“. Thương yêu dân, giáo hóa dân, tạo nên nết tốt bản sắc văn hóa lịch sử của một vùng đất. Giáo dục gia đình xã hội thấm thía trong từng nếp nhà. Đó là con đường di sản.

Kinh thành Huế thu nhỏ tại bún bò Ngọc Dung, Thủ Đức  là một cách yêu quê hương và lan tỏa tình yêu này đến người khác của một người bạn Huế khác tại thành phố Hồ Chí Minh. Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên bạn tôi đã chia sẻ câu chuyện này. Việt Nam tổ quốc tôi, có sự tương đồng trong cách thể hiện lòng biết ơn của mình đối với quê hương yêu dấu của những người con xa xứ hoặc gắn bó với quê hương thăm thẳm nhớ ơn cội nguồn. Con đường xanh Việt Nam, con đường xanh của chúng ta là con đường di sản kết nối sức mạnh Việt, khai mở tiềm năng mạnh mẽ của những sản phẩm chất lượng cao Việt Nam vươn ra thế giới.

Thanh trà Huế tại nôi di sản Thủy Biều là bài học thời sự nóng hổi về nông dân ngày nay và nông sản Việt, là câu trả lời về sự tỉnh thức tâm linh và tầm nhìn của những người biết ơn và nặng lòng với quê hương đất nước, biết trở về tìm kiếm kho báu chính mình phúc hậu an nhiên. Người dân vùng thanh trà Thủy Biều Huế biết cách bảo tồn và quảng bá loài quả quý địa phương, một nông sản Việt có giá trị đích thực, biết thức dậy tiềm năng của một vùng đất lành, một nghề lành, kết nối nông nghiệp du lịch sinh thái ẩm thực lịch sử văn hóa, gắn hiện tại với quá khứ và tương lai Việt.

Thanh trà Thủy Biều cố đô Huế là sản phẩm đầy đặn tự hào Việt Nam.

Hoàng Kim

Ghi chú: Tôi (HK) nói với anh Trần Quang Phước (thứ hai bên phải): Ngày này năm xưa, anh nhớ chứ? Ảnh này thật đẹp !

Video yêu thích
KimYouTube

Giữ trong sáng tiếng Việt

GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT
Hoàng Kim

Về cải cách tiếng Việt chữ Việt, có một số ý kiến phàn biện gần đây là rất đáng lưu ý được trích dẫn cuối bài này tại nguồn https://hoangkimlong.wordpress.com/2018/09/06/giu-trong-sang-tieng-viet/.  Kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cấp hữu quan sớm kết luận và trả lời chính thức.

Tiếng Viết chữ Việt là di sản văn hóa Việt Nam cần nghiêm minh thực hiện Luật Di sản Văn hóa đã được Quốc Hội ban hành số 28/2001/QH10 Hà Nội ngày 29 tháng 6 năm 2001. Chữ Quốc ngữ cải cách không nên bàn nữa. Việc bác bỏ đề xuất cải cách chữ Quốc ngữ của PGS Bùi Hiền đã được Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học, GS.TS. Nguyễn Văn Hiệp chính thức trả lời lãnh đạo cấp trên và toàn thể công luân. Sự đòi hỏi triệt để phải nên ban hành Luật Ngôn ngữ Việt Nam để thể chế hóa và đáp ứng sâu sắc hơn nhu cầu thực tiễn của việc kết nối thực hiện tốt Luật Di sản Văn hóa. Tinh thần của Luật Di sản Văn hóa và kết luận của GSTS. Nguyễn Văn Hiệp trong văn bản chính thức trả lời đã khẳng định: Chữ Quốc ngữ là một loại chữ ghi âm rất tốt của người Việt hình thành vào thế kỷ 17 năm 1651 gắn với việc xuất bản cuốn Từ điển Việt Bồ Đào Nha Latin của linh mục Alecxandre de Rhores tại Rome. Chữ Quốc ngữ là quá trình góp sức lâu dài trong đó có người Việt Nam, được cộng đồng người Việt chấp nhận một cách tự nhiên, thuần thục, phổ cập, là chữ viết thống nhất của nước Việt Nam, là di sản văn hóa. Chữ Quốc ngữ vấn đề cải cách từ khi hình thành cho đến nay đã được bàn rất nhiều lần. Nhiều đề xuất cải cách đều bị thất bại vì các lý do chính: Thứ nhất, chữ Quốc ngữ có đủ khả năng để ghi lại toàn bộ các âm có thể có trong tiếng Việt hiện đại. Không có một âm nào trong tiếng Việt lại không thể dùng chữ Quốc ngữ ghi lại. Thứ hai, chữ Quốc ngữ đã phát triển đến giai đoạn ổn định, được cả cộng đồng chấp nhận và sử dụng một cách tự nhiên, mang tính quy ước và phổ cập. Thứ ba, tiếng Việt chữ Việt ẩn chứa văn hóa lịch sử. Tiếng Việt chữ Việt là di sản văn hóa dân tộc Việt Nam, tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước giữ nước của nhân dân ta, nên không nhất thiết phải vận dụng nguyên tắc “một âm vị ghi bằng một ký tự và ngược lại” chữ viết của một ngôn ngữ không đồng nhất với ký hiệu ngữ âm quốc tế. Toàn dân tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Hoàng Kim cám ơn quý thầy cô và các bạn đã trao đổi, bàn luận và chia sẻ. Tôi đồng tình với trao đổi của nhiều bạn bức xúc phản đối cải cách Tiếng Việt chữ Việt. Đặc biệt, tôi hoàn toàn đồng tình với phản biện của giáo sư Nguyễn Lân Dũng : “Nếu cải cách tiếng Việt hàng triệu dân phải đi học từ đầu  (1) và phản biện đắng của cụ Trinh Trang (2) kèm theo bài này với chính kiến của tôi ở lời bình cuối mỗi bài.Tôi có  ba câu hỏi:

THỨ NHẤT, việc dạy theo cách cũ vẫn không gây ra khó khăn hay lạc hậu gì, tại sao phải cải cách thay bằng cách khác tốn kém rất nhiều, với việc bán sách thực nghiệm ‘chia tiền’ (theo lời của GS Hồ Ngọc Đại) để làm cho 800.000 học sinh nhí bị thành chuột bạch của sự thử nghiệm? THỨ HAI, Tiếng Việt chữ Việt là di sản văn hóa dân tộc Việt Nam, vì sao lại phải ‘lách luật’ mà không có thông báo chính thức từ Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với tất cả các tỉnh thành trên cả nước đều thực hiện mà lại ‘thử nghiệm’ theo một quy trình nơi này nơi khác vi phạm nghiêm trọng luật di sản văn hóa?; THỨ BA, trong cuốn sách công nghệ giáo dục có tách từ quy về hình vẽ, xây dựng cải cách mới “mà chỉ có giảng viên đã tập huấn mới dạy được, còn xã hội và gia đình thì không thể dạy được” sự quá nôn nóng chuyển thực nghiệm sang phổ cập để bán sách, tách rời nhà trường gia đình xã hội trong giáo dục trẻ dựa vào đâu? cũng chưa hề có một văn bản chính thức giải thích rõ ràng cho dân, chưa hỏi ý kiến người dân, các trường các thầy cô cứ áp cứ dạy, hỏi rằng dân chủ ở đâu. cách làm đã hợp lý chưa?

“Nếu anh không thể giải thích đơn giản thì anh chưa hiểu đủ rõ”. (If you can’t explain it simply, you don’t understand it well enough). Lời vàng Albert Einstein đã nói như vậy. Tiếng Việt chữ Việt là di sản văn hóa Việt Nam.

Kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cấp hữu quan sớm kết luận và trả lời chính thức. Nguồn:https://hoangkimlong.wordpress.com/2018/09/06/giu-trong-sang-tieng-viet/

Quan điểm của chính phủ về chủ trương cải cách Tiếng Việt(tại video kèm theo là câu trả lời: https://www.facebook.com/daihocnonglamHCM/posts/1992656134106492?__tn__=K-R)

Tài liệu dẫn:

(1)
NẾU CẢI TIẾN TIẾNG VIỆT HÀNG TRIỆU NGƯỜI DÂN PHẢI ĐI HỌC TỪ ĐẦU

GS Nguyễn Lân Dũng

“Thử tưởng tượng nếu việc cải cách chữ viết tiếng Việt của PGS.TS Bùi Hiền được thực thi, hàng triệu người dân sẽ phải học lại từ đầu các cấu trúc ngữ pháp. Nghĩ đến điều đó thôi cũng thấy rõ là đề án này không thể áp dụng”, GS Nguyễn Lân Dũng cho biết.

Liên quan đến đề án cải tiến chữ viết tiếng Việt của tác giả Bùi Hiền, GS Lân Dũng thẳng thắn cho rằng, khó có thể thực hiện một đề án có quá nhiều hệ lụy như đề án cải cách tiếng Việt của PGS.TS Bùi Hiền.

“Đây là một công trình khoa học nên phải có căn cứ cơ sở thì người thực hiện mới có thể nghiên cứu. Chúng ta không nên ném đá nhưng cũng phải thẳng thắn khẳng định là không thể áp dụng được. Ngôn ngữ nào cũng có những điều chưa hợp lý. Nhưng trong quá trình gìn giữ, người ta phải bảo toàn cả những mặt trái và mặt phải.

Giả sử việc cải tiến chữ viết tiếng Việt của ông Bùi Hiền thành hiện thực thì cả một hệ thống Hiến pháp, sách giáo khoa, tài liệu công dân ở các cơ quan chức năng đều phải được tiến hành in lại. Kể cả đồng tiền quốc gia cũng phải được in và phát hành lại. Bản thân mỗi công dân Việt Nam cũng phải học lại từ đầu để nắm cấu trúc của chữ quốc ngữ mới. Chỉ phân tích đơn giản thế thôi đã thấy đề án này phi thực tế”, GS Lân Dũng phân tích.

Theo ông, tiếng Anh, tiếng Nga cũng tồn tại những điều bất hợp lý nhưng không ai thay đổi. Với tiếng Việt, ngày xưa Bác Hồ chỉ đổi một từ duy nhất, đó là từ z nhằm mục đích phân biệt ngôn ngữ ở một số vùng miền địa phương. Nhưng chỉ đổi đến mức thế thôi, còn cải cách cả một tổng thể hệ văn tự như thế là việc không thể. Hệ lụy của việc thay đổi đó là vô cùng lớn.

GS Lân Dũng cho hay, tiếng Việt đã vượt lên trên cả sứ mệnh của ngôn ngữ, trở thành phương tiện truyền tải về pháp luật, chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo. Vì thế thay đổi ngôn ngữ sẽ gây nên những xáo trộn vô nghĩa về các hoạt động, thậm chí làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của đất nước.

Dưới góc độ của một nhà nghiên cứu văn học, GS Hà Minh Đức cho biết, tiếng Việt hiện nay đã phát triển đến tầm cao, trở thành một phần tinh hoa văn hóa Việt Nam. Vì thế không cần đến bất kỳ một sự cải tiến nào.

Ông nói thêm: “Xưa nay, việc cải cách đã được áp dụng khá nhiều trong lĩnh vực giáo dục, trong đó có ngôn ngữ nhưng chưa có công cuộc cải cách ngôn ngữ nào thành công. Có một nghịch lý của nền giáo dục Việt Nam là các chuyên gia thì không phải nhà quản lý, mà nhà quản lý lại không phải là chuyên gia. Vì thế công tác cải cách giáo dục ít khi đi vào thực tế”.

“Kể cả khi các cơ quan hành chính chấp nhận đề án cải tiến của tác giả Bùi Hiền thì phương pháp này cũng sẽ bị vô hiệu hóa vì không thể đi vào đời sống, không hợp ý lòng dân”, GS Hà Minh Đức cho biết.

Lời bình (1)

GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT
Hoàng Kim

Ôi Tiếng Việt (*) như bùn và như lụa …
Tiếng yêu thương sinh tử của dân mình
Ghét loại chó chỉ chúi đầu ngửi vết
Quên sinh tử phù,”giản thể” bới lung tung.

Non sông Việt trường tồn bền vững mãi
Tiếng Việt ngàn đời lợi khí quốc gia (**)
Người Việt dân mình xin đừng quên gốc
Trãi hiểm nghèo ta vẫn là ta.

Đất Tổ Quốc suốt ngàn năm văn hiến
Năm mươi tư dân tộc thuận hòa
Giữ trong sáng Tiếng Việt là vô giá
Chớ nên lầm ‘giản thể’ bán ông cha.

(2)
VỀ NHỮNG LỘN XỘN TRONG NGÀNH GIÁO DỤC

Trịnh Tráng

Tôi đã không có ý định viết về những lộn xộn trong ngành giáo dục và những vấn đề liên quan đến GS TS Hồ Ngọc Đại. Thế nhưng có 4 yếu tố nó cứ rậm rịch trong đầu, thúc dục tôi phải viết, phải tham chiến trên cái chiến trường thối hoắc như hũ mắm và nát nét như tương đâm này:Đó là:

1- Lời Tổng Bí Thư : “Đặc biệt quan tâm đến tác động của mạng xã hội”. Điều đó cho thấy Tổng Bí Thư hoặc những trợ lý vẫn thường xuyên theo sát những stt trên mạng Facebook. Có thể đó là câu nói để đánh lừa, để xoa dịu người ta sau khi bộ luật về “an ninh mạng” vừa thông qua.
2- Ông Hồ Ngọc Đại có thổ lộ với VTV và một số phóng viên rằng; ông không nhận chức Bộ trưởng GD để nghiên cứu cống hiến cho Gíao Dục.
3- Gần đây VTV cho lên sóng nhiều chương trình đánh bóng cho ông Hồ Ngọc Đại và bảo vệ cho những hành vi phạm pháp của ông ta là cho lưu hành giảng dạy những tài liệu chưa được Quốc hội thông qua. Việc làm vô trách nhiệm này của VTV không có gì là lạ, cũng giống như phóng sự chiến trường Syria bom nổ tung trời, những đoàn người chạy tị nạn nháo nhác … của phóng viên gạo cội Lê Bình ngồi trong Sứ quán lấy tin từ TV để “dựng” bài. Do vậy cần phải làm rõ và đính chính những thông tin sai lệch.
4 – Những dự án tiền tấn của bộ GD-ĐT đều là những dự án vô bổ, tiền của đổ xuống sông xuống biển cả mà không đem lại một chút, một chút lợi ích nào; làm cho nền giáo dục rối tung rối mù, cha mẹ học sinh thì nháo nhác đi chạy trường, tìm trường, chạy đôn đáo về kết quả tuyển sinh đại học …

Trước hết nói về ông Hồ Ngọc Đại. Các bạn chắc hẳn thắc mắc sao tôi không gọi GS TS HNĐ như trước đây? Các bạn hãy đọc rồi sẽ hiểu. Cha ông HNĐ vốn là cấp dưới của TBT Lê Duẩn , quê Hải Phòng, đã hy sinh thân mình bảo vệ ông Duấn. Nợ người đồng đội một mạng sống, khi ra Bắc, làm TBT ông Duẩn cho tìm và đón con ân nhân từ Hải Phòng lên Hà Nội nuôi dạy ăn học, cùng ở chung ở nhà TBT 6-Hoàng Diệu. Sau khi ông HNĐ tốt nghiệp ĐH ở Nga về ông Duẩn gả con gái và cho ra ở riêng ở 2B Nguyễn Biểu, nơi bà cả Lê Thì Sương đang ở. Lúc này tình hình gia đình ông Duẩn hơi phức tạp, một số cán bộ đưa ra ý kiến cho bà 2 tạm lánh sang Trung Quốc để tránh dư luận và căng thẳng trong gia đình. Bà Bảy Vân, tên thật là Nguyễn Thụy Nga, đang bụng mang dạ chửa (mang thai Lê Kiên Thành) chia tay chồng sang TQ trong sự nhớ thương đã diết của TBT. Và cũng vào dịp này Hồ Ngọc Đại cũng qua Nga học Phó Tiến sĩ (Kandidat) rồi Tiến sĩ. Có chút học hàm, học vị HNĐ xem trời bằng vung, chê cha vợ vô học, duy lý chí. Từ đó hai cha con không bao giờ nói chuyện với nhau. Với đồng nghiệp, HNĐ được cho là “nguyên nhân của sự mất đoàn kết” hoặc “đi đến đâu là ở đó thành hai phe: ủng hộ và phản đối”. Với tính cách như vậy làm sao TBT Lê Duẩn cất nhắc vào ghế bộ trưởng Giáo dục được, mà HND làm sao làm lãnh đạo được? Những lời ông nói với VTV và một số phóng viên rằng ông “được cử làm bộ trưởng nhưng không nhận mà để nghiên cứu cống hiến cho giáo dục” là những lời nói sạo. Phương Tây có ngạn ngữ rất hay: “Những kẻ thất bại trong cuộc sống luôn tưởng tượng ra những ánh hào quang không có thực từ quá khứ”.

Cái mà ông Đại cho là nghiên cứu rồi đặt cho cái tên công nghệ giáo dục (CNGD) thực ra là công trình nghiên cứu của người thầy ông Đại, một GS viện sĩ Nga để dạy cho các học sinh nhỏ tuổi thiểu năng trí tuê, bắt đầu nhận biết bằng các hình vuông tròn tam giác, rồi từ đó cải thiện, nâng cao trí tuệ nhận, hiểu biết như những HS bình thường. Ông Đại hoàn toàn hiểu điều này, cho nên sau khi dạy thực nghiệm ở trung tâm Giảng Võ xong, ống chọn địa điểm thực nghiệm thứ 2 là vùng sâu vùng xa ở Lào Cai, nơi có các em người dân tộc H’Mông, Dao, Lô Lô ….Trong lúc mọi người không chú ý, ông đã cho lập các dự án nhân rộng ra 50 tình thành với sự ủng hộ nhiệt thành của các bộ, thứ trưởng như Nguyễn Minh Hiển, Phạm Vũ Luận, Nguyễn Vinh Hiển, Phùng Xuân Nhạ… bởi vì họ chỉ có tư duy quản lý dự án: tức là bao nhiêu tiền, chia nhau thế nào chứ không ai nghĩ đến quản lý chất lượng và thành quả dự án ra sao.

Không dừng lại ở đó, ông Đại còn lên sóng thoá mạ những người phản đối CNGD của ông là những người ngu học… Với tôi là một nhà khoa học chân chính, tôi không chấp nhận những xảo ngôn của ông Đại, và về trình độ học vấn tôi chỉ đánh giá ông ngang bằng với giáo viên cấp 2 – một công việc ông đã làm trước khi rời Hải Phòng. Mặc dù ông có bằng Tiến sĩ do Liên xô cấp, có học hàm Giáo sư do Nhà nước cấp nhưng cả về học thuật lẫn nhân cách ông không xứng đáng được tôi gọi là GS TS, nếu gọi thế làm ô uế giới trí thức chân chính chúng tôi. Ông có những suy nghĩ hết sức khác thường rằng “cha mẹ không được can thiệp vào việc dạy dỗ trẻ em” hoặc “cha mẹ không được lấy khuôn mẫu của mình để dạy cho trẻ”. Có người đặt câu hỏi: nếu trẻ hỏi: “bố ơi, vì sao sau khi đi nhà cầu phải chùi đít?” Chả lẽ bố trả lời : “ con hãy đến hỏi GS TS HNĐ!”. Hoặc không được dạy con: “chăm ngoan học giỏi, lớn lên thông minh giống bố” mà phải dạy: “lớn lên giống ông hàng xóm hoặc ông Đại?”.

GHI CHÚ: Chính vì tính khí của HNĐ dị thường nên đã có cuộc chia ly hoàng hôn màu đỏ gắt với con gái TBT. HIện nay ông không tham gia các ngày kỷ niệm lớn của gia đình họ Lê. Ông sống gần như biệt lập. Có lẽ những việc làm của ông là để giải stress hơn là mục đích kiếm tiền. Hiện ông đáng thương hơn đáng giận. Mọi người đừng chửi rủa ông ấy nữa nghe. Cuối đời rồi, để ông ấy bình thản.

Về các dự án cải cách giáo dục

Bây giờ thì nói về các dự án cải cách giáo dục (CCGD) của Bộ Giáo dục và Đào tạo ( B GD ĐT).Chương trình CCGD không phải là chuyện mới lạ mà nó có ngay từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH). Khi Chính phủ Lâm thời VNDCCH vừa thành lập, cụ GS Vũ Khắc Hoè đã được cử làm Bộ trưởng GD. Ông đã phát dộng CCGD, thay đổi các chương trình giảng dạy của Mẫu quốc Pháp bằng chương trình giảng dạy phù hợp với Nhà nước VNDCCH độc lập, ví như học Lịch sử Việt Nam thay cho Lịch sử nước Pháp, thay những bài ngữ văn ca ngợi nước VNDCCH thay cho ca ngợi nước Pháp… còn các chương trình giảng dạy các môn tự nhiên và cách dạy tất cả các môn học vẫn giữ nguyên: khen thưởng kỷ luật nghiêm minh, thầy luôn gương mẫu từ lời nói đến hành động, thầy yêu thương trò như con đẻ, dạy dỗ nghiêm khắc…Quá trình cải tiến đó diễn ra đều đặn qua các thời Bộ trưởng Đặng Thai Mai, Nguyễn Văn Huyên rất suôn sẻ, rất ổn định và rất tốt đẹp.

+ Sau khi thống nhất đất nước, năm 1978 bắt đầu nhen nhóm ý tưởng CCGD, nhưng phải đến 1981 Bộ GDDT mới bắt đầu đề án thay sách giáo khoa (SGK) kéo dài cho đến 1992.

Từ đây bắt đầu các cơn khát, cơn sốt dự án.

+ Chiến dịch thay sách lần thứ nhất (1981-1992) vừa xong thì đã triển khai dự án làm SGK lần thứ 2 bằng vốn vay ODA 2 tỷ Đô la ($). Tiền chi cho các chuyên gia dự án (là cán bộ của BGD cử sang) từ 12.000 – 15.000$/ tháng. BGD thấy làm dự án ngon ăn, cán bộ lãnh đạo tha hồ vơ vét đầy túi nên lại bày về ra đề án “Đổi mới chương trình SGK với dự toán kinh phí 70 ngàn tỷ đồng. Trước sự phản ứng gay gắt của Quốc hội, nên BGDDT phải rút lại đề án này.

+ Ba năm sau, Bộ GDĐT lại trình lên UB TV QH dự án chương trình thay SGH, sau khi bóc tách phần cơ sở vật chất thì dự toán kinh phí còn lại 34.275 tỷ đồng. Cả hội trường QH nhào nhào phản đối, bộ trưởng GDĐT Phạm Vũ Luận phân bua: sai sót đó là do đ/c vụ trưởng ngồi sau đưa cho Thứ trưởng tờ giấy. Bộ vẫn chưa có ý kiến gì về con số đó !?

+ Tháng 10/2014 QH thông qua nghi quyết NQ 88/214 phê chuẩn đề án “Chương trình thay đổi SGK” với dự toán kinh phí biên soạn chương trình chỉ có 462 tỷ đồng. Một dự án quan trong như vậy mà dự toán với những con số nhảy múa từ 70 ngàn tỷ, rồi xuống 34 ngàn tỷ, cuối cùng gút lại ở 462 tỷ. Thế mới biết Bộ GDĐT khát dự án mức nào và điều Bộ này quan tâm là quản lý dự án tức là dự án bao nhiêu tiền và chia chác như thế nào; còn chất lượng của dự án giáo dục không ai đến xỉa đến.

+ Năm 2008 Bộ GDĐT triển khai dự án “Nâng cao chất lượng giảng dạy ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” với tổng kinh phí là 9.378 tỷ từ ngân sách nhà nước. Sau 10 năm thực hiện, tiền thì tiêu gần hết mà chất lượng dạy và học vẫn không có biến chuyển gì đáng kể.

+ Tháng 1/2012 bộ GDĐT triển khai chương trình EVEN với tổng vốn phê duyệt là 17,6 triệu $ (=350 tỷ đồng), sau một thời gian thử nghiệm nhiều trường kêu cứu, và nói không với EVEN. Thất bại của dự án này là tất yếu và thấy trước vì dập khuôn chương trình cải cách của Columbia dành cho HS khó khăn.

Điều này nói lên rằng: Bộ GDĐT khát dự án đến mức nào. Có dự án là có tiền chia nhau!?

PHẦN KẾT: dự án giáo dục không chềnh ềnh ra như dự án BOT giao thông: cầu vênh, đường tróc lở là biết ngay, không giống các dự án công nghiệp: sừng sững như những trái núi phả khói bụi mù trời, xả nguồn nước ô nhiễm độc hại, cá tôm và các loài thủy sinh chết hàng loạt cũng biết ngay để ngăn chặn, để phản đối. Đàng này dự án giáo dục êm đềm triển khai trong các phòng máy lạnh, trên những bàn phím mà sản phẩm của nó là những tập sách giáo khoa, những tài liệu hướng dẫn, những đĩa dạy mẫu… nên không mấy người biết và quan tâm. NHƯNG NÓ NGỐN ĐI HÀNG TRĂN NGÀN TỶ ĐỒNG TỪ NGÂN SÁCH MỖI NĂM, VÉT ĐI NHỮNG ĐỒNG TIỀN CÒM CÕI CUỐI CÙNG CỦA CHA MẸ HỌC SINH. Chả nhẽ có con không cho con đi học, cho con đi học chả nhẽ không mua sách? Hàng vạn bộ sách cứ in ra mỗi năm rồi bỏ đi. Mỗi năm lãng phí hàng trăm ngàn tỷ đồng.

Chuyện tưởng nhỏ nhưng lại rất lớn lao và vô cùng hệ trọng bởi sẽ nó liên quan đến vóc dáng Quốc gia. Mong rằng BCT, Quốc hội, Chính phủ nhanh chóng vào cuộc chấn chỉnh nền giáo dục đang tàn tạ, ốm yếu và nát bét như hiện nay. Xin nêu một ví du về in ấn và sử dụng SGK của phương Tây: SGK được thống nhất và giảng dạy trong toàn quốc và cấp miễn phí cho học sinh. Trên bìa có in chữ: HÃY GIỮ GÌN SÁCH CẨN THẬN ĐỂ DÙNG CHO BẬC ĐÀN EM CỦA CÁC EM! Hết năm học, HS nộp lại cho thầy/ cô giáo cất đi để cấp phát cho HS năm sau. Có chuyện HS học đúng trường của bố học trước dây và được phát đúng bộ sách trước đây bố đã dùng. Thật phấn khích!

Dưới đây là ảnh của một số bộ trưởng giáo dục đầu tiên: 1-Vũ Đình Hoè GS, Nhà Sử học 2-Đặng Thai Mai GS, Nhà BL văn học. 3-Nguyễn Văn Huyên, GS TS, Nhà GD học, nhà Dân tộc học. 4-Tạ Quang Bửu, đa tài, uyên bác nhiều ngành khoa học, Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp.

Lời bình (2)

GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT
Hoàng Kim

Tách thầy Đại khỏi phe nhóm chia tiền ?
Xử lưu manh “mượn đầu heo nấu cháo”
Đạo lý làm Thầy học trò không chuột bạch
Luân lý dạy Người nghề giáo có lương tâm.

Phan LanHoa phản biện luật lưu manh mời xem thông tin đầy đủ cập nhật tại đâyhttps://hoangkimlong.wordpress.com//category/giu-trong-sang-tieng-viet/

Lời ngoài chính sử (3)

“GIÁO DỤC LÀ QUỐC SÁCH” NÓI VÀ LÀM

“Giáo dục là quốc sách”. Tại Việt Nam, mặc dù tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục luôn ở mức rất lớn, thậm chí không hề thua kém các nước phát triển, nhưng tại sao nền giáo dục vẫn lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng như ngày hôm nay? Đó là bởi vì tiền đã không được giành cho đúng mục đích để giải quyết những vấn đề nổi cộm nhất của ngành, mà lại bị đổ vào những dự án “khủng”, núp danh “cải cách, đổi mới”, nhưng thực chất chỉ nhằm tạo cơ hội kiếm chác, ăn chia.

Trách nhiệm, nếu có, không chỉ thuộc về những người làm công tác quản lý giáo dục, mà còn là lỗi ở sự dễ dãi của hệ thống chính trị lẫn sự thờ ơ của cả xã hội, thứ có thể giết chết “tiền đồ” của cả một dân tộc.

Sách giáo khoa thực nghiệm gây tranh cãi của GS Hồ Ngọc Đại

Công bằng mà nói, mặc dù thời bao cấp nghèo khổ, thiếu thốn đủ đường, nhưng nền giáo dục khi ấy xem ra vẫn còn tử tế hơn rất nhiều so với bây giờ. Sau khi kinh tế được cởi trói, đi theo định hướng thị trường, nền giáo dục Việt Nam cũng bắt đầu bị cuốn vào vòng xoáy kim tiền, với những cơn sốt dự án, song bằng tư duy “tiểu nông” của những người thực hiện, gây tốn kém không biết bao nhiêu tiền bạc của đất nước.

Sau hai lần thay sách giáo khoa trong thập niên 1990 – 2000 (bằng vốn vay ODA lên tới 2 tỷ USD), sang tới năm 2011, Bộ Giáo dục lại trình Quốc hội đề án Đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông mới với kinh phí ước đạt 70 ngàn tỷ VNĐ, khiến dư luận không khỏi bức xúc; Rồi sau nhiều lần điều chỉnh và trả lời chất vấn tại Quốc hội, các vị quan chức giáo dục lại điều chỉnh con số, rút từ 34.275 tỷ xuống còn 462 tỷ để được thông qua. Có lẽ những người này chỉ đang tìm cách giải ngân tiền, chứ chẳng phải vì mục đích “nâng cao chất lượng” hay xa hơn là “trồng người”, dù cho ngân sách rót ít hay nhiều thì cuối cùng họ vẫn có phương án để tiêu. Vì thế, có người còn nói vui, rằng Bộ Giáo dục bây giờ đi làm dự án, quản lý dự án là chủ yếu chứ không còn là quản lý giáo dục nữa. Phải chăng, cũng vì vậy mà tồn tại một xu hướng, khi những vị có bằng cấp về kinh tế, kinh doanh, thương mại, … lại hay được giao trọng trách lèo lái con thuyền giáo dục, hơn là những triết gia, nhà tư tưởng hay sư phạm thuần túy.

Hiện nay, không ít cá nhân gắn mác giáo sư tiến sĩ hay chuyên gia giáo dục đang phải sống dựa vào công việc viết sách, bởi vậy họ thường mong có dự án để khỏi thất nghiệp. Nói về sách giáo khoa, đây thực ra không phải là vấn đề quá phức tạp.
Nếu không hoặc chưa có giáo trình tử tế, chúng ta hoàn toàn có thể nhập khẩu từ những nền giáo dục tiên tiến, về dịch và cải biên lại cho phù hợp để dạy cho học sinh; duy chỉ những môn đặc thù như ngữ văn, lịch sử, công dân giáo dục, … là cần biên soạn thật tử tế để phù hợp với văn hóa, bản sắc, lẫn ý chí của dân tộc. Ngay đến Hàn Quốc cũng lựa chọn phương án này khi lấy sách giáo khoa của Nhật Bản để dạy cho học sinh. Cách làm như trên, chắc chắn cũng không thể tốn kém như những đề án “tỷ USD” của Bộ Giáo dục.

Ngoài ra, việc viết sách giáo khoa cũng không đến mức quá khó, nếu biết huy động và kêu gọi các trí thức “thật sự” tham gia, không vì mục tiêu lợi nhuận. Chẳng hạn, Nhóm giáo dục Cánh Buồm của nhà giáo Phạm Toàn, từ nhiều năm qua đã chia sẻ miễn phí trên mạng bộ sách giáo khoa (được đánh giá là rất tốt và nhân văn) đối với bậc học đến lớp 9. Hay Tiến sĩ Giáp Văn Dương có lần từng thẳng thắn phát biểu, rằng “Nếu để các trí thức viết sách giáo trình, không cần đến hàng ngàn tỷ, mà chỉ cần một phần kinh phí rất nhỏ, hay thậm chí cả khi Bộ Giáo dục không hỗ trợ, thì chúng tôi vẫn có thể làm được.” Ngoài ra, nhà nước cũng nên chấm dứt độc quyền, hãy để nhà trường, giáo viên, phụ huynh và người học được tự do lựa chọn sách giáo trình, trên tinh thần đáp ứng được yêu cầu về chất lượng.

xem tiếp…
GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT Hoàng Kim phần 1 ngày 6 tháng 9 , phần 2 ngày 9 tháng 9, phần 3 ngày 11 tháng 9, phần 4 ngày 17 tháng 9 năm 2018 tài liệu bài tại đây  https://hoangkimlong.wordpress.com//category/giu-trong-sang-tieng-viet/

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Chỉ tình yêu ở lại

Ở đâu một trời thương nhớ

Hoàng Kim

Ở đâu lung linh Kiếp Bạc
Sao Khuê mờ tỏ Côn Sơn
Ở đâu một trời thương nhớ
Cho ta khoảng lặng tâm hồn.

Nhớ ai vừng đông vừa rạng
Ước dòng tin nhắn đầu tiên
Hương đất thơm mùa ruộng cấy
Phương xa vời vợi bạn hiền.

Ở đâu bàng hoàng Phố chợ
Tháng năm ngơ ngẫn sớm chiều
Con nhảy xe đò về ruộng
Mưa dầm bóng Mẹ liêu xiêu.

Tìm tới Phố đông để sống
Lời nào em học đầu tiên?
Biết ơn nhọc nhằn Cha Mẹ
Lấm lem con chữ ưu phiền.

Phố chợ người càng đông đúc
Đồng Xuân xa lại càng thưa
Vui với việc hiền ở phố
Bâng khuâng thương nhớ chiêm mùa…

Tình yêu thì không có tuổi
Yêu thương đầy đặn tháng năm
Nhớ mãi ‘Nụ cười sơn cước’
Thương hoài tình thấm trang văn.

Tôi  tìm thấy sự liên hệ và thức tỉnh của lớp người trong thời đại mình. Đó là một thế hệ cầm súng trãi qua nội chiến chống ngoại xâm, lại dấn thân vào việc diệt giặc đói, diệt giặc dốt nâng cao dân trí. Họ sống minh triết, phúc hậu, yêu thương, an nhiên và phát triển, dù bị vây bủa giữa các xu hướng thực dụng, bon chen, các thói ích kỷ tham nhũng, cố làm giàu bằng mọi giá.

‘Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ca khúc NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC của nhạc sỹ tài năng Tô Hải vẫn làm ta xao xuyến bồi hồi, ca khúc không già theo năm tháng vì nó là tình yêu, mà tình yêu thì không có tuổi’. Cám ơn anh Bu Lu Khin về bài viết ” VÀ TRONG LÒNG MƯA HƠN Ở NGOÀI TRỜI”thật chân thành xúc động tưởng nhớ nhạc sĩ Tô Hải, Em Hoàng Kim xin chép bài viết của anh về chung trang thơ văn ‘Chỉ tình yêu ở lại’

VÀ TRONG LÒNG MƯA HƠN Ở NGOÀI TRỜI
Bu Lu Khin  (13.9.2018)

Nhạc sĩ Tô Hải đã qua đời ngày 11.8.2018 tại quận Phú Nhuận Thành phố Hồ Chí Minh. Bạn bè, thân hữu tiễn đưa nhạc sĩ theo nghi lễ công giáo tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp thuộc dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn. Để tưởng nhớ nhạc sĩ tài hoa, bu tui đăng lại bài “Và trong lòng mưa hơn ở ngoài trời” thay một nén nhang thương tiếc một tài năng âm nhạc nước nhà…

Tựa đề là một câu trong ca khúc NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC của nhạc sĩ Tô Hải sáng tác khi ông mới 20 tuổi (1947).  Chàng trai Tô Hải vào Vệ Quốc Đoàn trong những ngày đầu cách mạng tháng 8 năm 1945, đã từng qua hai trường huấn luyện quân chính có văn bằng hẳn hoi nhưng ông không thành tá tướng như các bạn mà trở thành…nhạc sỹ!. Năm 1947 Tô Hải được điều về bộ tư lệnh mới thành lập làm thư ký riêng cho một nhân vật mà theo ông “Thật hấp dẫn và “quái dị” có tên là Thế Hùng, biệt hiệu Hùng hét”. Ông Hùng đã từng tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố (Tàu) với Hoàng Văn Thái và Hoàng Minh Thảo, nhưng do tiền sử phục vụ trong quân đội Pháp nên không được vào đảng, chỉ giữ chức trưởng Ban Quản trị Liên khu bộ. Ông Hùng bất mãn với vai trò này, giận cá chém thớt, hét hò quát tháo đám dưới quyền, trừ anh lính biết làm nhạc Tô Hải. Ông tạo điều kiện cho Tô Hải sáng tác vì bản thân ông cũng có máu văn nghệ, bài hát Tây bài hát Tàu, cải lương, vọng cổ, ông làm được tuốt. Hùng hét và Tô Hải cùng ở nhà bọ Phến vùng Thung Gio, một địa phương miền núi Hòa Bình. Bọ Phến có cô con gái cực xinh tên là Phẩm kém Tô Hải vài tuổi. Tiếng đàn tiếng hát của anh lính Tô Hải làm xao xuyến người đẹp miền sơn cước, và làn da khóe mắt cô Phẩm như làm anh lính đẹp trai, lắm chữ, đàn hay hơn hát hay hơn. Là người từng trải yêu đương, ông Hùng thấy giữa cặp trai tài gái sắc này đã lập lòe ngọn lửa tình có cơ bùng cháy. Một hôm ông nói với Tô Hải “Mày chớ dại mà hứa hẹn gì! Không được đâu! Đã hứa mà không giữ lời với họ là có khi tiêu đời đấy con ạ”.

Đột nhiên có lệnh điều động trung đội phó Tô Đình Hải đi học trường võ bị Trần Quốc Tuấn. Tô Hải nhớ lại: “Những ngày tôi chuẩn bị lên đường Phẩm không đi làm nương. Nàng cứ loanh quanh bên tôi như chờ tôi nói một lời hứa hẹn, một lời tỏ tình gì đó. Nghe lời ông Hùng tôi miễn cưỡng im lặng về mối tình mà tôi ấp ủ bấy lâu với Phẩm, người con gái có đôi mắt mà đến khi từ giả cuộc đời có lẽ vẫn in hằn trong tâm khảm. Nó sáng, nó đen, nó long lanh, nó nói hơn cả những điều cần phải nói bằng lời. Lúc chào mọi người lên đường, tôi cố tìm đôi mắt ấy lần cuối nhưng không thấy. Cô vô tình đến thế sao? Hay cô đang nằm khóc vùi trên nhà sàn? Tôi bận rộn tìm lại đôi mắt huyền của Phẩm đến mức chẳng còn nghe thấy lời chúc mừng của anh em cơ quan và đồng bào trong bản. ..Lòng buồn nặng trĩu vì cuộc chia tay không hoàn chỉnh, tôi bước đi về hướng Chồng Mâm, Chợ Giời”…

Sắp xắn quần để chuẩn bị lội qua con suối đầu tiên của chín con suối độc thì nghe tiếng gọi anh Hải. Thì ra Phẩm đón đường tôi ở chân dốc này. Cô nói “Bọ Hùng bảo em ra đón anh ở đây”. Cuộc gặp gỡ có sắp xếp này té ra chính là sáng kiến của ông Hùng hét! Hai đứa gặp nhau cứ như đã thổ lộ tình yêu, đã hẹn hò thề ước gì rồi. Phẩm trao cho tôi một gói xôi gạo cẩm, một chiếc vòng bạc, và nói trong tiếng nức nở “Anh Hải đi học thành tài, đánh Tây xong, nhớ về Thung Gio…lâu mấy em cũng đợi!”.

Trời Hòa Bình hôm ấy quá mù ra mưa, chàng trai Tô Hải quay lưng giả từ người yêu về trường võ bị. Chân bước ra đi mà trái tim ở lại, anh hát thầm cho chính mình nghe: “Tôi nhớ mãi một chiều xuân chia phôi, mây mờ buông xuống núi đồi, và trong lòng mưa hơn ở ngoài trời”. Trong người lính 20 tuổi Tô Hải, hai bên đường anh đi, sau cả dãy núi Kim Bôi kia nữa là hình ảnh: “Một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trắng, một chiếc vòng sáng lóng lánh, với nụ cười nàng quá xinh”.

Ca khúc NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC theo bước chân người lính – nhạc sỹ Tô Hải – hình thành và hoàn thiện ngay trên đường đi. Đêm liên hoan đầu tiên của tiểu đoàn chiêu sinh “ Tôi đã thả hồn trong tiếng đàn và hát lên sự thật của trái tim mình cho anh em khóa sinh nghe. Họ im lặng đến kỳ lạ rồi xuýt xoa khi nghe tôi buông xuống câu “Đời đời không tàn với khúc nhạc lòng tôi”, họ vỗ tay kéo dài và hét lên bis! bis…”

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ca khúc NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC của nhạc sỹ tài năng Tô Hải vẫn làm ta xao xuyến bồi hồi, ca khúc không già theo năm tháng vì nó là tình yêu, mà tình yêu thì không có tuổi.

NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC
Sáng tác: NHẠC SĨ TÔ HẢI

Tôi nhớ mãi một chiều xuân.. chia phôi,
mây mờ buông xuống núi đồi
và trong lòng mưa hơn cả ngoài trời.
Cỏ cây hoa lá, thương nhớ mãi người đi
và dâng sầu lên mi mắt người về.

Thơ thẩn đàn chim ngừng tiếng hót,
và mưa Xuân đang tưới luống u sầu,
buồn cho dòng nước mờ xóa bóng chim uyên
và gió chiều còn khóc thương mãi
mối tình còn vấn vương.

Ai về sau dãy núi Kim – Bôi,
nhắn giùm tim tôi chưa phai mờ,
hình dung một chiếc thắt lưng xanh,
một chiếc khăn màu trắng trăng,
một chiếc vòng sáng lóng lánh,
với nụ cười nàng quá xinh.

Nàng ơi, tôi đã rút tơ lòng,
dệt mấy cung yêu thương gởi lòng trong trắng,
của mấy bông hoa rừng
đời đời không tàn với khúc nhạc lòng tôi.

Nụ cười sơn cước cũng như Thơ tình cuối mùa thuThuyền và Biển, Những tình khúc vượt thời gian, … biết bao dãy núi cao vọi và lấp lánh kia như những vì sao trên bầu trời.

Chỉ tình yêu ở lại

 

 

https://hoangkimlong.wordpress.com


HoangKim999

HÃY HƯỚNG VỀ MẶT TRỜI
Hoàng Kim.
Lên đường đi em
Ban mai vừa rạng
Hãy hướng về mặt trời !
Ta hãy chăm như con ong làm mật
Cuộc đời này đầy hương hoa
Ngày mới thung dung vẫy gọi
Mật cho đời, vui khỏe cho ta!

(xem tiếp)

Video yêu thích
Hãy đi về phía mặt trờiKimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook;
Kim on Twitter

👋

Hãy hướng về mặt trời


HÃY HƯỚNG VỀ MẶT TRỜI
Hoàng Kim.

Lên đường đi em
Ban mai vừa rạng
Hãy hướng về mặt trời !
Ta hãy chăm như con ong làm mật
Cuộc đời này đầy hương hoa
Ngày mới thung dung vẫy gọi
Mật cho đời, vui khỏe cho ta!

ANH ĐI VỀ PHÍA VÙNG TÂM BÃO
Hoàng Kim

Anh đi về phía vùng tâm bão
Chân bước thung dung chẳng ngại ngần
Biển thẳm sóng im như giấy phẳng
Trời quang gió vắng chỉ còn trăng.

Dưới đáy đại dương kia là ngọc
Sóng bắt đầu từ gió sóng ơi
Ấm lạnh cuộn hai đầu thăm thẳm
Trãi bão dông mới hiểu cuộc đời

Gửi chút niềm riêng chưa ngõ hết
Mà thôi đón bão nói chi nhiều
An nhiên kiên định đi vào trận
Bão không quật ngã bởi trời theo …

NĂNG LƯỢNG
Hoàng Kim

Mình thích những người tử tế,
Đi trong phố nhỏ bình yên
Trời đất người là năng lượng
Cây xanh muôn thuở vững bền.

xem tiếp
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hay-huong-ve-mat-troi

Giữ trong sáng tiếng Việt

GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT
Hoàng Kim

Tiếng Viết chữ Việt là di sản văn hóa Việt Nam cần nghiêm minh thực hiện Luật Di sản Văn hóa đã được Quốc Hội ban hành số 28/2001/QH10 Hà Nội ngày 29 tháng 6 năm 2001. Chữ Quốc ngữ cải cách không nên bàn nữa. Việc bác bỏ đề xuất cải cách chữ Quốc ngữ của PGS Bùi Hiền đã được Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học, GS.TS. Nguyễn Văn Hiệp chính thức trả lời lãnh đạo cấp trên và toàn thể công luân. Sự đòi hỏi triệt để phải nên ban hành Luật Ngôn ngữ Việt Nam để thể chế hóa và đáp ứng sâu sắc hơn nhu cầu thực tiễn của việc kết nối thực hiện tốt Luật Di sản Văn hóa. Tinh thần của Luật Di sản Văn hóa và kết luận của GSTS. Nguyễn Văn Hiệp trong văn bản chính thức trả lời đã khẳng định: Chữ Quốc ngữ là một loại chữ ghi âm rất tốt của người Việt hình thành vào thế kỷ 17 năm 1651 gắn với việc xuất bản cuốn Từ điển Việt Bồ Đào Nha Latin của linh mục Alecxandre de Rhores tại Rome. Chữ Quốc ngữ là quá trình góp sức lâu dài trong đó có người Việt Nam, được cộng đồng người Việt chấp nhận một cách tự nhiên, thuần thục, phổ cập, là chữ viết thống nhất của nước Việt Nam, là di sản văn hóa. Chữ Quốc ngữ vấn đề cải cách từ khi hình thành cho đến nay đã được bàn rất nhiều lần. Nhiều đề xuất cải cách đều bị thất bại vì các lý do chính: Thứ nhất, chữ Quốc ngữ có đủ khả năng để ghi lại toàn bộ các âm có thể có trong tiếng Việt hiện đại. Không có một âm nào trong tiếng Việt lại không thể dùng chữ Quốc ngữ ghi lại. Thứ hai, chữ Quốc ngữ đã phát triển đến giai đoạn ổn định, được cả cộng đồng chấp nhận và sử dụng một cách tự nhiên, mang tính quy ước và phổ cập. Thứ ba, tiếng Việt chữ Việt ẩn chứa văn hóa lịch sử. Tiếng Việt chữ Việt là di sản văn hóa dân tộc Việt Nam, tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước giữ nước của nhân dân ta, nên không nhất thiết phải vận dụng nguyên tắc “một âm vị ghi bằng một ký tự và ngược lại” chữ viết của một ngôn ngữ không đồng nhất với ký hiệu ngữ âm quốc tế. Toàn dân tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Hoàng Kim cám ơn quý thầy cô và các bạn đã trao đổi, bàn luận và chia sẻ. Tôi đồng tình với trao đổi của nhiều bạn bức xúc phản đối cải cách Tiếng Việt chữ Việt. Đặc biệt, tôi hoàn toàn đồng tình với phản biện của giáo sư Nguyễn Lân Dũng : “Nếu cải cách tiếng Việt hàng triệu dân phải đi học từ đầu . Tôi có  ba câu hỏi:

THỨ NHẤT, việc dạy theo cách cũ vẫn không gây ra khó khăn hay lạc hậu gì, tại sao phải cải cách thay bằng cách khác tốn kém rất nhiều, với việc bán sách thực nghiệm ‘chia tiền’ (theo lời của GS Hồ Ngọc Đại) để làm cho 800.000 học sinh nhí bị thành chuột bạch của sự thử nghiệm? THỨ HAI, Tiếng Việt chữ Việt là di sản văn hóa dân tộc Việt Nam, vì sao lại phải ‘lách luật’ mà không có thông báo chính thức từ Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với tất cả các tỉnh thành trên cả nước đều thực hiện mà lại ‘thử nghiệm’ theo một quy trình nơi này nơi khác vi phạm nghiêm trọng luật di sản văn hóa?; THỨ BA, trong cuốn sách công nghệ giáo dục có tách từ quy về hình vẽ, xây dựng cải cách mới “mà chỉ có giảng viên đã tập huấn mới dạy được, còn xã hội và gia đình thì không thể dạy được” sự quá nôn nóng chuyển thực nghiệm sang phổ cập để bán sách, tách rời nhà trường gia đình xã hội trong giáo dục trẻ dựa vào đâu? cũng chưa hề có một văn bản chính thức giải thích rõ ràng cho dân, chưa hỏi ý kiến người dân, các trường các thầy cô cứ áp cứ dạy, hỏi rằng dân chủ ở đâu. cách làm đã hợp lý chưa?

“Nếu anh không thể giải thích đơn giản thì anh chưa hiểu đủ rõ”. (If you can’t explain it simply, you don’t understand it well enough). Lời vàng Albert Einstein đã nói như vậy. Tiếng Việt chữ Việt là di sản văn hóa Việt Nam.

Kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cấp hữu quan sớm kết luận và trả lời chính thức. Nguồn:https://hoangkimlong.wordpress.com/2018/09/06/giu-trong-sang-tieng-viet/

Tài liệu dẫn:

GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT
Hoàng Kim

Ôi Tiếng Việt (*) như bùn và như lụa …
Tiếng yêu thương sinh tử của dân mình
Ghét loại chó chỉ chúi đầu ngửi vết
Quên sinh tử phù,”giản thể” bới lung tung.

Non sông Việt trường tồn bền vững mãi
Tiếng Việt ngàn đời lợi khí quốc gia (**)
Người Việt dân mình xin đừng quên gốc
Trãi hiểm nghèo ta vẫn là ta.

Đất Tổ Quốc suốt ngàn năm văn hiến
Năm mươi tư dân tộc thuận hòa
Giữ trong sáng Tiếng Việt là vô giá
Chớ nên lầm ‘giản thể’ bán ông cha.

NẾU CẢI TIẾN TIẾNG VIỆT HÀNG TRIỆU NGƯỜI DÂN PHẢI ĐI HỌC TỪ ĐẦU

GS Nguyễn Lân Dũng

“Thử tưởng tượng nếu việc cải cách chữ viết tiếng Việt của PGS.TS Bùi Hiền được thực thi, hàng triệu người dân sẽ phải học lại từ đầu các cấu trúc ngữ pháp. Nghĩ đến điều đó thôi cũng thấy rõ là đề án này không thể áp dụng”, GS Nguyễn Lân Dũng cho biết.

Liên quan đến đề án cải tiến chữ viết tiếng Việt của tác giả Bùi Hiền, GS Lân Dũng thẳng thắn cho rằng, khó có thể thực hiện một đề án có quá nhiều hệ lụy như đề án cải cách tiếng Việt của PGS.TS Bùi Hiền.

“Đây là một công trình khoa học nên phải có căn cứ cơ sở thì người thực hiện mới có thể nghiên cứu. Chúng ta không nên ném đá nhưng cũng phải thẳng thắn khẳng định là không thể áp dụng được. Ngôn ngữ nào cũng có những điều chưa hợp lý. Nhưng trong quá trình gìn giữ, người ta phải bảo toàn cả những mặt trái và mặt phải.

Giả sử việc cải tiến chữ viết tiếng Việt của ông Bùi Hiền thành hiện thực thì cả một hệ thống Hiến pháp, sách giáo khoa, tài liệu công dân ở các cơ quan chức năng đều phải được tiến hành in lại. Kể cả đồng tiền quốc gia cũng phải được in và phát hành lại. Bản thân mỗi công dân Việt Nam cũng phải học lại từ đầu để nắm cấu trúc của chữ quốc ngữ mới. Chỉ phân tích đơn giản thế thôi đã thấy đề án này phi thực tế”, GS Lân Dũng phân tích.

Theo ông, tiếng Anh, tiếng Nga cũng tồn tại những điều bất hợp lý nhưng không ai thay đổi. Với tiếng Việt, ngày xưa Bác Hồ chỉ đổi một từ duy nhất, đó là từ z nhằm mục đích phân biệt ngôn ngữ ở một số vùng miền địa phương. Nhưng chỉ đổi đến mức thế thôi, còn cải cách cả một tổng thể hệ văn tự như thế là việc không thể. Hệ lụy của việc thay đổi đó là vô cùng lớn.

GS Lân Dũng cho hay, tiếng Việt đã vượt lên trên cả sứ mệnh của ngôn ngữ, trở thành phương tiện truyền tải về pháp luật, chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo. Vì thế thay đổi ngôn ngữ sẽ gây nên những xáo trộn vô nghĩa về các hoạt động, thậm chí làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của đất nước.

Dưới góc độ của một nhà nghiên cứu văn học, GS Hà Minh Đức cho biết, tiếng Việt hiện nay đã phát triển đến tầm cao, trở thành một phần tinh hoa văn hóa Việt Nam. Vì thế không cần đến bất kỳ một sự cải tiến nào.

Ông nói thêm: “Xưa nay, việc cải cách đã được áp dụng khá nhiều trong lĩnh vực giáo dục, trong đó có ngôn ngữ nhưng chưa có công cuộc cải cách ngôn ngữ nào thành công. Có một nghịch lý của nền giáo dục Việt Nam là các chuyên gia thì không phải nhà quản lý, mà nhà quản lý lại không phải là chuyên gia. Vì thế công tác cải cách giáo dục ít khi đi vào thực tế”.

“Kể cả khi các cơ quan hành chính chấp nhận đề án cải tiến của tác giả Bùi Hiền thì phương pháp này cũng sẽ bị vô hiệu hóa vì không thể đi vào đời sống, không hợp ý lòng dân”, GS Hà Minh Đức cho biết.

 

GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT
Hoàng Kim

Tách thầy Đại khỏi phe nhóm chia tiền
Xử lưu manh “mượn đầu heo nấu cháo”
Đạo lý làm Thầy học trò không chuột bạch
Luân lý dạy Người nghề giáo có lương tâm
Phan LanHoa phản biện luật lưu manh
mời xem thông tin đầy đủ cập nhật tại đây

GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT
Hoàng Kim

Nhà văn Dạ Ngân ngày 10 tháng 9 năm 2018 có bài viết “Sách Công nghệ Giáo dục mấy lời gan ruột” . GS Nguyễn Đăng Hưng ngày 10 tháng 9 năm 2018 cũng có bài viết ” Công nghệ Giáo dục, nên hay không, làm sao xử lý?”. Mời đọc nguyên văn hai bài viết này tại đây để rộng đường dư luận. GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT Hoàng Kim phần 1 ngày 6 tháng 9 , phần 2 ngày 9 tháng 9 và phần 3 ngày 11 tháng 9 cập nhật tại trang Tình yêu cuộc sống  https://hoangkimlong.wordpress.com//category/giu-trong-sang-tieng-viet/

SÁCH CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC – MẤY LỜI GAN RUỘT

Nhà văn Dạ Ngân

10-9-2018

Thời điểm 1978, năm mà Công nghệ giáo dục (CNGD) có mảnh đất thực nghiệm ở Giảng Võ, đất nước mình như thế nào? Thê thảm. Cả nước ăn bo bo, nỗi nhục mà dân miền Nam không quên là miền Tây Nam bộ mà cũng phải ăn bo bo. Cả nước bị dựng ngược với “thay trời đổi đất sắp xếp lại giang sơn”, với “trăm phần trăm phải hợp tác hóa tập đoàn hóa”, với “phát huy quyền làm chủ tập thể” ra rả trên loa phường loa xã và hệ thống truyền thông độc quyền.

Rồi cuộc chiến ở hai đầu đất nước, phía Bắc và Tây Nam, cuộc chiến 10 năm trời, ngài TBT ngùn ngụt khát vọng thay trời đổi đất đã bộc lộ một sai lầm chết người (trong chuỗi sai lầm của ông và ê kíp) là ghi Trung Quốc – kẻ thù vĩnh viễn vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ơi trời, có là thù truyền kiếp đi nữa thì cũng không được ghi vào như vậy, bởi đây là Hiến pháp của nước VN, kế thừa Hiến pháp 1946 kia mà.

Nhắc lại tí chút để thấy, không có chống lưng của TBT Lê Duẩn và cố vấn Trưởng Ban tổ chức Lê Đức Thọ thì có nằm mơ mà Công nghệ với thực nghiệm nhé. Chúng tôi hay đi lại với tiến sĩ Hồ Ngọc Đại từ không khí đổi mới sau khi CNGD vượt phạm vi thực nghiệm. Do anh Thân và anh Phạm Toàn là nhóm chí cốt với nhau hồi ở Hải Phòng mà anh Toàn giúp anh Đại rất nhiều ở thực nghiệm.

Nhiều lần chúng tôi hỏi vui “Ơi phò mã, học vị ấy, tư chất ấy, trình độ ấy sao không làm bộ trưởng bộ giáo dục cho dân nhờ?” (vì trong tình cảm của chúng tôi, chỉ có mấy vị không thể ai hơn: Tạ Quang Bửu, Nguyễn Văn Huyên), lứa anh Đại anh Toàn, chúng tôi ngưỡng mộ Hoàng Tụy và Phan Đình Diệu, riêng Kiến Giang thì không dám nghĩ đến vì anh ấy là nhân vật sốc với Đảng).

Hỏi cho vui chứ biết thừa, ông Duẩn cũng không để con rể mình làm chi cho chướng, bản thân anh Đại cũng thấy chướng và dĩ nhiên, dư luận sẽ thấy cực kỳ chướng. Anh Đại còn hay hỏi han chia sẻ với văn nghệ sĩ, trong văn giới tôi thấy anh quý thực lòng Dương Thu Hương, Nguyên Ngọc, Bùi Ngọc Tấn… (Khều chi tiết trên đây vào để nói, bảo anh Đại là phò mã mà không thèm chức bộ trưởng là không đúng, kiểu bênh ấy rất Việt Nam, rất châu Á, rất phương đông, kiếm mà dễ à, bố vợ thấy chướng mà được à? Và tội gì làm bộ trưởng chi cho vừa mang tiếng, vừa cực cái thân). Và bản thân anh Đại dễ gần, hay hay.

Nhân thân mình do mình chọn, sự phức tạp này liên quan tới vòng xoáy phán xét của lịch sử cũng không có gì lạ, kiểu lớn thuyền thì lớn sóng. Vì sao CNGD ra đời? Khát vọng cá nhân của người học tâm lý trẻ ở nước Nga Xô viết (nếu không chính xác, xin được thứ lỗi), cộng với bật đèn xanh của hai lãnh tụ họ Lê và bộ trưởng lúc đó, rằng phải thống nhất, phải có cái gì đó thống nhất cho cả hai miền, nền tảng cách mạng này bắt đầu từ lớp Một. Chủ trương thống nhất không sai nhưng như mọi thứ ngày càng hay bị phán xét là do bất cập từ hoặc duy ý chí, hoặc coi nhẹ đối tượng “được giải phóng”.

Hà Nội không tham chiếu những thành quả của miền Nam mà giáo dục là một đơn cử. Xóa hết vì con đường xã hội chủ nghĩa, xóa hết mô hình kinh tế, sách vở, nghệ thuật, giáo khoa, hệ thống tư thục từ cấp tiểu học đến đại học… để làm mới rập khuôn kiểu Bắc. Môt sự tổn thương tinh thần và tổn thương vật chất mà chừng như không nhiều người cảm nhận được hết, như những người trong cuộc. Nói tóm lại, hậu chiến bời bời, tan hoang, lòng người ly tán, có kết thúc chiến tranh nhưng chưa có hòa bình, vì hòa bình trong lòng người mới là mục đích tối thượng.

Người dân nào hay biết cái CNGD sau 2006, tức gần 30 năm thí điểm, đã nhân rộng ra bắt đầu ở Lào Cai, với học sinh dân tộc thiểu số. Bộ trưởng ưa cái gì mà chẳng suôn sẻ, nhất là chuyện bán sách và chia. Bây giờ, nhờ thông tin như vũ bão của Internet và mạng xã hội mà dân mới biết cách dạy lạ của CNGD. Dưới thời Bộ trưởng Nhạ, CNGD vừa được thẩm định 2 vòng và chính thức có 50% học sinh lớp 1 học kiểu nhìn các ô mà đọc thơ lục bát!

Vì sao có bão mạng? Sao bão mạng với BOT, bão mạng với Luật Đặc khu thì đồng thuận mà bão mạng về CNGD thì chia tuyến, trong đó trí thức, văn nghệ sĩ hai bên đều phừng phừng nổi nóng? Nguyên do khá nhiều, có những nguyên do nhạy cảm, tế nhị.

Nhưng xin đừng mạt sát dân đen, hàng chục triệu gia đình có con liên quan đến cách học lạ, hàng triệu dân thường có smartphone và fb, họ phản ứng tức thì, đồng loạt không phải từ những clip tình cờ hay bị ai xỏ mũi mà họ là những người ấm ức, thậm chí đã phẫn nộ triền miên với giáo dục mấy chục năm qua. Hàng triệu gia đình ấy không có tiền để cho con du học, tức là né nền giáo dục trầm ê này, tức là người ta không có điều kiện để tỵ nạn giáo dục!

Đã mấy lần cải cách kiểu chuột bạch, Nxb Giáo dục đã mang tiếng là Nxb ăn đủ, lần này, phát hiện về CNGD là giọt nước tràn ly. Tiếng Việt vẫn ổn, học đánh vần ráp chữ vài tháng xong, còn chính tả ư, hãy thay đổi cách học bằng thầy cô đọc và trò viết như cũ đi, vui và hiệu quả chứ, và bắt học sinh đọc nhiều sách đi, còn tái mù ư, phổ cập tiểu học mà trẻ tái mù thì nhất định không phải do hồi lớp Một chúng không học CNGD!

Những bài học không chuẩn của giáo khoa CNGD khiến người dân phát khùng thêm. Đọc thơ nhìn ô mới là học vẹt. Nhưng sao không là câu này, đại loại “Bầu ơi thương lấy bì cùng/Tuy là khác giống nhưng chung một giàn”. Vì sao phải là hai câu về Bác Hồ mà thực sự, như chúng ta từng than thở với nhau, đó là hai câu vè. Bác Hồ là danh xưng, là thương hiệu chứ tên bác là Hồ Chí Minh kia mà.

Thưa các anh, riêng hai câu này các anh biết không hay mà vẫn đưa vào sách, vậy thì hoặc các anh bộc lộ cái không chuẩn (nên mới có nhiều bài khác ít sức thuyết phục), và các anh làm cho giáo khoa thư của nền giáo dục VNCH có cơ sống lại với những lời được tôn vinh.

Từng giọt nước, dân thấy họ luôn bị hết vố này và vố khác, mất rừng, mất biển đảo, mất nhà mất đất, mất mạng do môi trường (ung thư cao nhất thế giới), và trên hết, hàng chục triệu gia đình đã ngậm đắng nuốt cay vì nạn thay sách giao khoa và cải cách liên miên của của các vị. Đang có 5 đầu mối làm sách giáo khoa mà Nxb độc quyền giấy phép vẫn chưa biết thương dân, vẫn ăn đủ. Dân phẩn uất vì người ta ngửi thấy cái mùi “làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”.

Là sản phẩm gọi trắng là hàng hóa, (tư nhân hóa thì SGK cũng sẽ là hàng hóa), hãy nên chấp nhận sự phán xét. Riêng tôi, tiếng Việt và người Việt cho dù i tờ trước hay a bờ cờ trước, hay e bờ be trước, khá ổn. Không việc gì bỏ cả đời ra làm phức tạp một chuyện đơn giản là chỉ cần một kỳ đánh vần và ráp vần là có thể đọc vanh vách thơ Quê Hương của Đỗ Trung Quân (sách Tiếng Việt truyền thống tôi vừa mua). Vì vậy, khi đã bị soi, đừng nóng, như chúng tôi, viết tiểu thuyết là phải bị khen và chê tơi bời, có người viết bài mạt sát hẳn hoi vốn là bạn thiết của mình.

Dĩ nhiên sách cho lớp 1 và giáo khoa thư quan trọng hơn tiểu thuyết của chúng tôi, quan trọng nhất ấy. Như đã nói, lớp 1 là thời trăng mật của đứa trẻ với học đường, lật đổ phương pháp truyền thống để cha mẹ chúng ra rìa (không giúp được), để mà chi? Những bài học trong SGK lớp 1 nhất định phải chuẩn, tuyệt đối, trong và tinh.

Bỗng thèm những kích cỡ như Hoàng Xuân Hãn, Trần Trọng Kim và bỗng nhớ GS TS Phan Đình Diệu dù như là lạc đề. Ông, PĐD ấy đã nói thẳng nhiều lần khi ông đương chức, rằng cần thay đổi thể chế chứ đừng cải đổi lòng vòng, nhưng ông vẫn kiên nhẫn lặng thầm đặt nền móng ngành Tin học cho đất nước VN. Và khi đã thấy không hợp tác với người đương quyền được nữa, ông “đi chỗ khác chơi”.

Giáo dục cần tư tưởng tổng thể trong triết lý. Sao cho không chỉ lớp 1 vui học mà sinh viên cũng vui học vì chúng không bị đại cương nắm đầu mãi với một thứ triết học hàng nửa thế kỷ qua vẫn thế? Nước Mỹ trên hết, Putin cũng bảo nước Nga trên hết, ông Tập của Trung Hoa cũng bảo nước Tàu trên hết. VN nhỏ xíu, người Việt thì quốc gia, đất đai, tổ quốc này đâu có là trên hết. Cái gì đang trên hết ở đây, dân dù có đen và có ngu, họ cũng thừa biết, lâu rồi.

Vì sao stt này dài thấy ghê? Vì tôi đứng về phe nước mắt.

Stt dài, một lần, và sẽ chấp nhận ném đá, mời các bạn.

CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC ”, NÊN HAY KHÔNG LÀM SAO XỬ LÝ?

GS Nguyễn Đăng Hưng
10-9-2018

Phần I: Vài phản biện cụ thể

Tôi rất đắn đo khi đưa lên mạng những dòng này. Bao lần định viết rồi lại xóa! Định tổ chức tọa đàm tại Đà Nẵng, lại tạm đình chỉ… Tuy ý thức được là vấn đề này liên quan đến mọi tầng lớp nhân dân, rất nhạy cảm, nhưng tôi quyết định tỏ rõ lập trường của mình và chấp nhận phản biện của mọi người.

VÀI LỜI MỞ TRƯỚC

1.- Tôi xin nói trước là tôi không đồng ý về các thái độ cực đoan, không có chút lịch sự tối thiểu khi tranh luận, để cho cảm tính chi phối rồi dùng những lời lẽ quá đáng, thậm chí mạt sát chửi rủa những người lớn tuổi có học vị cao như các ông Bùi Hiền, Hồ Ngọc Đại… Tôi xin báo trước là những còm thuộc loại này sẽ không thể tồn tại trên tường của tôi…

2.- Cũng xin nói rõ là cái gọi là “Công nghệ giáo dục, CNGD” không liên quan gì đến mưu toan cải tiến chữ viết tiếng Việt của ông Bùi Hiền! Việc ông này sau một thời gian im lặng vì đã phải đón nhận sự phản đối kịch liệt của toàn dân, đứng ra bênh vực GS Hồ Ngọc Đại, cho mình đồng thuyền đồng hội, là hành động vớ vẩn, bất minh, đáng trách như kẻ nhảy lên xe tuần hành của các cầu thủ U23 phất cờ chia phần chiến công của một ông tiến sỹ hám danh nọ!

Sự xâm phạm chữ quốc ngữ, một báu vật cùng với tiếng Việt đã quyện vào hồn dân tộc, đã bị phát giác và bị loại bỏ. Viện ngôn ngữ học qua khẳng định mới đây của GS Viện Trưởng Nguyễn Văn Hiệp: Trả lời chính thức của Viện Ngôn ngữ học về đề xuất cải cách chữ viết của ông Bùi Hiền, đã ký giấy khai tử cho công trình này. Chúng ta không nên bàn đến nữa, không nên nhắc đến nữa, một thây ma vừa được chôn!

3.- Ngoài Bắc đã duy trì cách đọc ký tự chữ quốc ngữ (A BỜ CỜ) từ Hội Truyền Bá Chữ Quốc Ngữ của các cụ Nguyễn Văn Tố, Hoàng Xuân Hãn. Trong Nam lại dùng cách đọc có ảnh hưởng của tiếng Pháp (A, BÊ, XÊ.). Hai cách đọc này có thể tồn tại song song vì ngoài Bắc vẫn đọc VTV là vê tê vê chứ không đọc vờ tờ vờ…

Không nên lấy khác biệt nhỏ này làm quan trọng để dẫn đến chia rẽ Bắc-Nam, đả kích lung tung, không có lợi cho tinh thần đoàn kết, thống nhất dân tộc!

VÀI ĐỀ NGHỊ CỤ THỂ

Tôi đã nghe tiếng từ lâu, về trường phái Hồ Ngọc Đại cho giáo dục. Tôi đã đánh giá GS là người tâm huyết lo cho giáo dục bền bỉ liên tục trong giai đoạn có bao điều bất cập tràn lan như dạy thêm học thêm…!

Tôi cũng biết có nhiều trí thức mà tôi kính trọng ủng hộ CNGD, nhất là nhóm Cánh Buồm do nhà giáo Phạm Toàn, một sĩ phu Bắc Hà mà tôi quen thân, nể trọng, một trí thức dấn thân đã có những phản biện xã hội sắc bén hợp thời cho đất nước.

1.- Xin nói rõ là cái nhìn của tôi đối với CNGD là cái nhìn phản biện, của một cá nhân với tất cả những giới hạn của nó. Nếu có điều khó chấp nhận, tôi mong nó sẽ được điều chỉnh, thẩm định, cải tiến để hiện diện song hành với các phương phảp giảng dạy truyền thống mà không có áp đặt bắt buộc. Tôi nghĩ cần phải có thời gian, có nghiên cứu thống kê khoa học (mẫu thử có giá trị là 1000 học sinh, so sánh thì phải kể đến trình độ giáo viên, điền kiện lớp học…).

Điều tôi cương quyết không đồng ý là thái độ khinh miệt phò mới nới cũ, thái độ giáo điều cao ngạo chỉ cái tôi đề xuất mới đúng mà thôi!

2.- Thành ra tôi đã đi từ lòng ngưỡng mộ, từ thiện cảm tiên thiên, tôi tự mình tìm hiểu mới ngộ ta nhiều điều. Té ra CNGD có nhiều bất cập. Tôi sẽ chân thực tỏ bày ở đây và sẽ không thoả hiệp với cái mà tôi nhận thức rõ là sai trái.

Tôi cám ơn cộng đồng mạng đã gợi cho tôi sự hoàn nghi, cái bắt đầu của mọi khám phá, và tôi thấy được nhiều điều của CNGD cần phải thẩm định!

CÁI GỌI LÀ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC (CNGD)?

Trước tiên, tôi thấy khó chịu với từ “Công Nghệ Giáo dục” dùng cho việc đánh vần tiếng Việt! Nó chỉ là một thứ thủ thuật, một phương pháp cụ thể! Nâng quan điểm đến mức công nghệ nghe không ổn, Thật vậy, hễ công nghệ (technology) là phải phổ quát, có hệ thống, có thâm sâu khoa học! CNGD này phát xuất từ “Học thuyết phát triển phương pháp giáo dục” của V.V Davydov và D.B Elkonin thịnh hành tại Liên Xô những năm 70. GS Hồ Ngọc Đại đã mang mô hình GD của nước Nga về áp dụng tại Việt Nam. Thời ấy tin học chưa phát triển. Ngày nay các phương tiện thính thị của công nghệ điện tử, các phương tiện trao đổi của công nghệ thông tin có thể hỗ trợ cho việc giảng dạy mà dùng từ CNGD cho một phương pháp giản đơn của việc đánh vần, thật lòng tôi nghe không ổn! Ngay các giáo sư người Nga cũng dùng từ: phương pháp giáo dục thôi, họ đâu có rao cao giá quá đáng là “công nghệ giáo dục”!

CÓ NÊN ÁP DỤNG CNGD CHO CÁCH DẠY TOÁN KHÔNG?

Ta biết GS Hồ Ngọc Đại rất tự hào về việc dạy “toán hiện đại, cao cấp” cho học sinh cấp 1 ở trường thực nghiệm. Ông từng tuyên bố: Trẻ con lớp 1 ở trường Thực nghiệm được học tiếng Việt, toán hiện đại, cao cấp.

Đây là mặt trái của CNGD mà tôi rõ nhất, là nhà khoa học thâm niên về cơ học tính toán tại Bỉ trong 40 năm.

GS Nguyễn Tiến Dũng (Đại Học Toulouse, Pháp) đã viết một bài phản biện khá đầy đủ về việc này. Ông có nhận xét tóm lược: “Tôi e là khi học sinh lớp 1 mất quá nhiều thời gian vào việc tiêu hóa ngôn ngữ toán học hình thức, thì thời gian dành cho việc học những khái niệm cơ bản nhất của toán học lại bị giảm đi, dẫn đến hổng kiến thức cơ bản”.

Tôi xin thêm là, tại Bỉ cũng đã có một thời áp dụng cách dạy toán cách tân này dựa theo lý thuyết tập hợp (1965-1975). Sau mười năm thí nghiệm đại trà, kết quả là một đại họa của nền giáo dục Bỉ. Trẻ em không biết tính toán cụ thể, các ngành kỹ thuật cần cụ thể tính toán không thể tuyển sinh được. Một đợt phản đối mạnh mẽ phát xuất từ các phụ huynh, có đồng tình của các giáo sư đại học, các doanh nhân, chủ nhân các xí nghiệp công nghệ…! Kết quả là Bộ Giáo dục Bỉ đã phải cho ngưng cách dạy toán cách tân, cho thu hồi sách mới, trở lại với cách dạy truyền thống cho đến ngày nay.

Nước Bỉ không phải là trường hợp duy nhất tại Âu Châu. Có lẽ GS Hồ Ngọc Đại đã bị ảnh hưởng trường phái cách tân này rất thịnh hành tại Châu Âu một thời, có lan tràn sang Nga! Nhà toán học Nga Kolmogorov cũng đã mắc sai lầm khi đưa lý thuyết hình thức về tập hợp vào dạy đại trà cho trẻ nhỏ ở Nga nhưng rồi phải bỏ sau khi bị la ó phản đối!

Tóm lại, đây là một sai lầm căn bản. Tôi đề nghị phải dứt khoát loại bỏ các chương trong sách CNGD về cách dạy toán, ngỏ hầu tránh cho Việt Nam rơi vào sai lầm ê chề của châu Âu trong những năm 70!

TÁCH RỜI TRẺ EM RA KHỎI SỰ HỖ TRỢ CHĂM SÓC CỦA PHỤ HUYNH CÓ QUÁ CỰC ĐOAN KHÔNG?!

Một trong những phát biểu ấn tượng nhất của GS Hồ Ngọc Đại thường được công dân mạng trích dẫn là (xem hình bên dưới): “Ở phương pháp cũ ai cũng dạy được… nhưng với phương pháp mới của tôi thì ngoài cô giáo không ai làm được. Bố mẹ không làm được. Trẻ con chỉ học ở trường là đủ…”

Tôi thấy có gì rất hãi khi ở lứa mẫu giáo và tiểu học lại cố tình tách trẻ em ra khỏi sự chăm sóc, hỗ trợ của phụ huynh! Có thể lúc đầu phụ huynh chưa nắm bắt, nhưng dần dà sẽ biết thôi (và sau 20 năm thì học sinh sẽ thành phụ huynh thôi!)! Chủ trương này được khẳng định cho CNGD là quá chủ quan!

Tôi tự hỏi trong thử nghiệm, có thật như thế không? Phải nói phát biểu của GS Đại nếu có thì thật đáng tiếc! Ngay quan điểm này không thôi, đã đặt phương pháp của GS Đại bên bờ sai trái! Không thể quan niệm chuyện giáo dục trẻ em mà tách rời ra khỏi gia đình tổ ấm! Đấy chính là sai lầm của nhà nước cực đoan thời Stalin!

CÓ ĐÚNG CNGD THẬT SỰ ĐI TỪ ĐƠN GIẢN ĐẾN PHỨC TẠP KHÔNG?

Trong một lần khác, GS Đại khẳng định: “Nguyên tắc phát triển. Môn học thiết kế theo lôgích nội tại của Hệ thống khái niệm khoa học, tôn trọng sự phát triển tự nhiên của Đối tượng, không có sự cưỡng bức từ ngoài. Sự phát triển này sẽ là tối ưu”, nếu quá trình đi từ trừu tượng đến cụ thể, từ chung đến riêng, từ đơn giản đến phức tạp…”

Giáo dục đi tư đơn giản đến phức tạp là đúng, nhưng tại sao lại tạo thêm rối rắm cho một việc đơn giản là học đánh vần. Tôn trọng sự phát triển tự nhiên là biến học sinh 5, 6 tuổi thành nhà ngữ âm học đi tìm chân lý ư? Việc này mâu thuẫn với mệnh đề cuối của phát biểu vừa trích dẫn! Ông nói đi từ đơn giản đến phức tạp, nhưng té ra trong CNGD, Hồ Ngọc Đại chính trong hành động, đã phức tạp hóa một công việc đơn giản, trừu tượng hóa một động tác cụ thể…

Ở đây, ta thấy GS Đại đang nói một đàng làm một nẻo vậy!!!

Còn mệnh đề của ông “đi từ trừu tượng đến cụ thể, từ chung đến riêng” làm tôi ngao ngán! Có phải GS Đại đang cổ súy cho thói nói lý thuyết thì thao thao mà cụ thể trong việc làm thì ngược lại, nói chung chung thì hay mà đi đến riêng từng sự việc là rỗng tuếch, chả có gì!

Những tuyên bố của GS Đại dùng cho việc quảng bá CNGD thường mâu thuẫn như thế. Điều này cho ta thấy GS Đại không nhất quán trong hành trình khoa học giáo dục của mình, chưa có cộng tác viên bỏ công phản biện nghiêm túc về nội dung CNGD và kết quả là sự quả quyết thiếu cân nhắc, gây phản cảm cho người nghe khi GS Đại xuất hiện trên báo đài…

(Còn tiếp)

Được đăng bởi Xuân Nguyên vào lúc 09:42

xem tiếp…
GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT Hoàng Kim phần 1 ngày 6 tháng 9 , phần 2 ngày 9 tháng 9 và phần 3 ngày 11 tháng 9  tại đây  https://hoangkimlong.wordpress.com//category/giu-trong-sang-tieng-viet/

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Đợi nắng

ĐỢI NẮNG
Hoàng Kim nối vần thơ anh Phan Chi (*)
(2017)

Em đã yêu và tôi đã yêu
Mình nối dài vần thơ có lửa
Ta đã là máu thịt trong nhau
Khắc khoải niềm thương nỗi nhớ …

Người vợ nhớ chồng hóa đá Vọng Phu
Người yêu nhớ người yêu thành hòn Trống Mái
Núi Nhạn ngàn năm tháp Nhạn én bay về
Đá Bia muôn đời trời xanh chỉ lối.

Yên Tử non thiêng thăm thẳm một tầm nhìn
Hải Vân ơi Người ở đừng về mà hóa đá
Sông Hương ngập ngừng sông Hương nghẹn chảy
Năm tháng qua rồi chỉ tình yêu ở lại mà thôi.

Đợi nắng mùa đông
Sưởi ấm tổ ấm Tình Thiên thu
Tình yêu cao hơn sinh tử biệt li
Tôi đã yêu và em đã yêu
Em đã yêu và tôi đã yêu

(*)

PhanChiThang

MÙA THU HÔN TÔI
Phan Chi
(2008)

Mùa thu ôm tôi
Chặt hơn một người từng ôm người khác
Bàn tay heo may luồn trong man mác
Trên từng da thịt thấm đẫm hồn thu

Người tình trăm năm mang bóng dáng mùa
Mùa thu hôn tôi
Nếp tháng năm hằn buồn theo khoé miệng
Đuôi mắt kéo dài hồ thu lúng liếng
Đang còn ngọn lửa bỏng cháy trưa hè

Băng giá mùa đông đâu đó chưa về
Mùa thu yêu tôi
Bằng những cúc vàng không cần rực rỡ
Lá níu cành sợ không xanh được nữa
Làn sương phảng phất run tiếng chuông chùa

Cuộc tình trăm năm ngất ngây giấc mơ thật đùa
Tôi trong mùa thu
Người đàn bà yêu như rồi phải chết
Mùa của dịu dàng đắm say tha thiết
Tôi đã yêu và em đã yêu
Em đã yêu và tôi đã yêu.

Video nhạc tuyển

Waiting for you.

Thank you Andreea Petcu ! Waiting For You music of Ernesto Cortazar video edited by Andreea Petcu are wonderful. With best regards.

Bài ca thời gian
Tình Thiên thu Phim hay đang chiếu trên VTV3
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter