Minh triết cho mỗi ngày


MINH TRIẾT CHO MỖI NGÀY
Hoàng Kim
“phải thật công khai, thật công phu, thật công bằng và thật công tâm khi nghiên cứu về Võ Nguyên Giáp”, câu nói này của thượng tướng Trần Văn Trà thật minh triết và thật ám ảnh. Bài viết của Lê Mai ‘Võ Nguyên Giáp trong mắt Trần Văn Trà’, tôi thường đọc lại.  Trần Văn Trà nhận định: “Suốt hai cuộc kháng chiến, tôi chưa hề thầy Bí thư Quân ủy Trung ương kiêm Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp mắc một sai lầm nào về chiến lược và chiến thuật quân sự; tôi chỉ thấy Anh Văn đi những nước cờ bậc thầy để vây hãm và tiến công quân địch”. Đó thật sự là một tổng kết rất sâu sắc của một danh tướng Việt Nam đối với Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Ngày 20 tháng 4 năm 1996 là ngày mất của Thượng tướng Trần Văn Trà (1919-1996).Ra đi hai bàn tay trắng. Trở về một dải giang san. “Trăng xưa, hạc cũ”, dòng sông lặng. Mây nước yên bình, thiên mã thăng”.

Trần Văn Trà danh tướng Việt Nam

Thượng tướng Trần Văn Trà tên thật là Nguyễn Chấn còn có bí danh là Tư Chi, Tư Nguyễn, Ba Trà, sinh năm 1919 tại xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, mất ngày 20 tháng 4 năm 1996 tại thành phố Hồ Chí Minh, là danh tướng Việt Nam, tư lệnh chiến trường chính Nam Bộ trong chiến tranh Việt Nam (1955–1975) là giai đoạn thứ hai và là giai đoạn khốc liệt nhất của Chiến tranh trên chiến trường Đông Dương (1945–1979).

Ông xuất thân trong một gia đình làm nghề nông, thời trẻ học tiểu học tại Quảng Ngãi, năm 1936, ông tham gia Đoàn Thanh niên Dân chủ Huế khi còn đang học tại trường Kỹ nghệ thực hành Huế; năm 1938 gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông từng bị thực dân Pháp bắt giam hai lần. Ông giữ chức Ủy viên Kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ từ sau Cách mạng tháng Tám, . Ông tham gia công tác quân sự, khi chiến tranh Đông Dương nổ ra tại Nam Bộ, giữ chức Chi đội trưởng (tương đương trung đoàn trưởng), Chi đội 14 Khu trưởng Khu 8, xứ ủy viên Nam Bộ (1946-1948); Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu Sài Gòn – Chợ Lớn; Tư lệnh Khu 7 (1949-1950); Phó Tư lệnh Nam Bộ, Tư lệnh Phân khu Miền Đông Nam Bộ (1951- 1954). Năm 1955, ông tập kết ra Bắc, giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1955-1962), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn (1958). Ông được phong quân hàm Trung tướng năm 1959,  Giám đốc Học viện quân chính và Chánh án Tòa án quân sự Trung ương (1961). Ông được cử làm Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam (1963-1967 và 1973-1975), Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam (1968-1972), Phó Bí thư Quân ủy Quân giải phóng Miền Nam. Sau Hiệp định Paris 1973, ông làm Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại Ban Liên hiệp đình chiến bốn bên ở Sài Gòn. Ông được phong quân hàm Thượng tướng năm 1974. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông giữ chức Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7. Ông là ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (dự khuyết khóa 3, chính thức khóa 4).  Được thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, hạng ba, Huân chương Chiến thắng hạng nhất.Ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng từ năm 1978 đến năm 1982.

Năm 1982, ông cho in cuốn Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm, trong đó có ghi những nhận định chủ quan của nhiều lãnh đạo Đảng Lao động, khi đã đánh giá quá cao khả năng quân sự của mình và đánh giá quá thấp khả năng của quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa trước và trong dịp Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Sách mới in đến tập 5 thì bị thu hồi do quan điểm không được coi là chính thống, nên các tập sau không được xuất bản. Ông làm Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam từ năm 1992. Những trước tác của Trần Văn Trà hiện có:

  • Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm (gồm nhiều tập, mới in tập 5 thì bị thu hồi do quan điểm bị coi là không chính thống, nên các tập sau không được xuất bản)
  • Gởi người đang sống (1996)
  • Mùa thu lịch sử (1996)
  • Cảm nhận về xuân Mậu Thân (1968) (1998)

Ông lập gia đình với tiến sĩ sinh hóa nguyên Phó Giám đốc Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thị Thoa, con gái luật sư Lê Đình Chi (1912-1949), Trưởng ban Quân pháp Nam Bộ. Sau khi nghỉ hưu, ông viết hồi ký và tham gia nhiều hoạt động xã hội.

Ông qua đời ngày 20 tháng 4 năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ngôi mộ Thượng tướng Trần Văn Trà có khắc thanh gươm Bác Hồ tín cẩn trao cho ông (10/1948, khi ông đang là trưởng đoàn bảo vệ tháp tùng các cán bộ Miền Nam ra Miền Bắc thăm Bác Hồ): – “Bác trao cho chú thanh gươm quý giá này, đưa về cho đồng bào Nam Bộ để diệt thù. Chú báo cáo với đồng bào rằng, trong lòng Bác, lòng Đảng lúc nào cũng ở bên cạnh đồng bào. Chúng ta đồng lòng vì nước, nhất định chúng ta sẽ thắng!”. Bài thơ của ông  “Ra đi hai bàn tay trắng/ Trở về một dải giang san/ “Trăng xưa, hạc cũ”, dòng sông lặng/ Mây nước yên bình, thiên mã thăng” được khắc trên bệ đá dưới chân con ngựa bạch tạc bằng đá trắng nguyên khối đang trong tư thế chuẩn bị bay lên…

Tên ông được đặt cho một con phố ở khu đô thị Phú Mỹ Hưng, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh, và một con đường chính khác ở khu dân cư Hưng Phú, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ từ cuối năm 2015.

Mây nước yên bình, thiên mã thăng

(còn tiếp…)

Tài liệu dẫn:

Võ Nguyên Giáp trong mắt Trần Văn Trà

Lê Văn

Báo chí cho hay, đến nay ở VN và trên thế giới đã có tới 120 cuốn sách, không kể vô số những bài báo, bài nghiên cứu về Võ Nguyên Giáp. Có một nghịch lý, hình như những sự kiện lịch sử, những yếu nhân lịch sử của VN lại được các tác giả nước ngoài nghiên cứu nhiều hơn, sâu hơn, đầy đủ hơn là các tác giả trong nước.  Vì sao vậy? Ta mà chưa hiểu hết ta. Và ta thường hay tự ca ngợi mình: “Ôi ta là ta mà ta vẫn cứ mê ta” (Chế Lan Viên).

Nhưng nghiên cứu về Võ Nguyên Giáp thì rõ ràng chưa đủ, càng không thể đầy đủ nếu chỉ căn cứ vào sách báo trong nước. Như nhiều người khác, tôi cũng có một số cuốn sách về Võ Nguyên Giáp, tỷ như Võ Nguyên Giáp của Geogres Boudarel, nhà sử học Pháp; Chiến thắng bằng mọi giá của Celcil B.Currey, một sử gia quân sự Hoa Kỳ; Võ Nguyên Giáp – một sự đánh giá của Peter MacDonald, sử gia quân sự người Anh và tất nhiên – còn nhiều cuốn sách khác của các tác giả trong nước.

Sách của các tác giả nước ngoài nhìn chung khách quan, có những phân tích, đánh giá rất sâu sắc con người, tài năng và sự nghiệp của tướng Giáp. Họ lưu ý đến nhiều vấn đề, nhiều chi tiết có khi rất nhỏ nhưng lại có ý nghĩa lớn. Họ quan tâm đủ mọi thứ. Tuy nhiên, chưa thể coi các cuốn sách ấy đã là đầy đủ, hoàn hảo về Võ Nguyên Giáp. Chắc rằng thời gian tới sẽ có rất nhiều công trình nghiên cứu về Võ Nguyên Giáp – nhất là khi ông đã về cõi vĩnh hằng.

Mong ước nghiên cứu đầy đủ, khách quan về Võ Nguyên Giáp là mong ước cháy bỏng của tướng Trần Văn Trà. Ông là một danh tướng cùng thời với Võ Nguyên Giáp, là cấp dưới của ông Giáp. Trần Văn Trà là Tư lệnh B2, địa bàn chiến lược quan trọng nhất trong cuộc chiến với người Mỹ. Sau khi Hiệp định Pari được ký kết, Trần Văn Trà được cử làm Trưởng đoàn quân sự của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Ban Liêp hiệp quân sự bốn bên, Sài Gòn. Sau ngày 30.4.1975, có một thời gian ông là Chủ tịch Ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định. Ba ông “họ Trần”: Trần Văn Giàu, Trần Văn Trà, Trần Bạch Đằng là ba nhân vật lừng danh một thời vang bóng tại Sài Gòn cũng như miền đất Nam Bộ.

Tác phẩm nổi tiếng của Trần Văn Trà: Những chặng đường lịch sử của B2 thành đồng, mới xuất bản được Tập 1: Hòa hay chiếntranh và Tập 5: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm. Nghe nói, Lê Đức Thọ phán, cuốn sách ấy sai từ đầu đến cuối, sách bị thu hồi nhưng nay đã được in lại.

Tháng 3.1992, tướng Trà đồng ý trả lời phỏng vấn của Nhật Hoa Khanh – tác giả Gặp Tố Hữu tại biệt thự 76 Phan Đình Phùng, về nhân vật lịch sử Võ Nguyên Giáp. Nhật Hoa Khanh – nhà nghiên cứu lịch sử VN hiện đại rất đặc sắc, đã công bố nhiều bài nghiên cứu rất có giá trị, hấp dẫn.

Bài trả lời phỏng vấn của Trần Văn Trà về Võ Nguyên Giáp có nhiều luận điểm cực kỳ sâu sắc, gợi lên cho giới nghiên cứu nhiều suy nghĩ. Võ Nguyên Giáp hiện lên trong mắt Trần Văn Trà đầy tài năng và nhân cách.

Nghiên cứu về Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Trà cho rằng “phải thật công khai, thật công phu, thật công bằng và thật công tâm” – bốn chữ “thật” rất đắt giá trong cách diễn đạt. Đã nghiên cứu về Võ Nguyên Giáp là phải “thật công khai”: công khai tư liệu, công khai quan điểm, công khai sự kiện; công khai trong nước, ngoài nước. “Thật công phu” vì với một trí tuệ bậc thầy, siêu việt như Võ Nguyên Giáp, nếu nghiên cứu một cách hời hợt, bề ngoài, không đi sâu vào bản chất, vào quy luật, không hiểu được những nước cờ quân sự thiên tài của ông, không rút ra được các bài học thì làm sao thuyết phục?

“Thật công bằng” nghe qua tưởng đơn giản nhưng khó làm sao! Ông Trần Bạch Đằng từng phát biểu: “Tất cả chúng ta đều có thắc mắc giống nhau: Kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điên Biên Phủ mà không nhắc đến tên đồng chí Võ Nguyên Giáp. Lịch sử là lịch sử, nếu thiếu chân thật, sẽ ảnh hưởng đến đạo lý”. Rằng Điện Biên Phủ thắng lợi là nhờ cố vấn TQ. “Họ” không biết rằng, nếu nghe lời cố vấn TQ tấn công theo kiểu “biển người”, thất bại là chắc chắn và cuộc kháng chiến đã phải lùi lại mười năm. “Họ” còn nói, tổng tấn công năm 1975, đồng chí (…) là Bí thư Quân ủy Trung ương chứ không phải ông Giáp. Rồi cuốn Đại thắng mùa xuân của Văn Tiến Dũng nghe nói bị độc giả phản ứng, phải sửa tới 30 chỗ. Lịch sử rất công bằng. Cho nên, “thật công bằng” đi liền với “thật công tâm”.

Trần Văn Trà nhận định: “Suốt hai cuộc kháng chiến, tôi chưa hề thầy Bí thư Quân ủy Trung ương kiêm Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp mắc một sai lầm nào về chiến lược và chiến thuật quân sự; tôi chỉ thấy Anh Văn đi những nước cờ bậc thầy để vây hãm và tiến công quân địch”. Đó phải chăng là sự tổng kết rất sâu sắc của một danh tướng đối với Võ Nguyên Giáp.

Trần Văn Trà chỉ rõ, Võ Nguyên Giáp “là một Tổng tư lệnh biết đau với từng viết thương của mỗi người lính, biết tiếc từng giọt máu mỗi chiến binh”.

Đó cũng là quan điểm cốt tử trong tư tưởng quân sự Võ Nguyên Giáp: giành thắng lợi cao nhất đi đôi với tổn thất thấp nhất. Ông nói, phải sử dụng cái đầu của người lính chứ không phải thân thể họ. Nếu ông Giáp không ra lệnh hoãn cuộc tấn công, hàng loạt tướng lĩnh, chỉ huy ưu tú và bộ đội đã hy sinh ở Điện Biên. Cho nên, những tướng lĩnh và người lính coi ơn ấy là ơn cứu mạng vậy. Nếu để ông toàn quyền trong các chiến dịch Mậu Thân 68, Xuân hè 72 thì tình hình chắc đã khác. Trần Văn Trà nêu rõ: “nếu thực hiện cách đánh thận trọng hơn theo quan điểm của Anh Văn thì chắc chắn số lượng thương binh và tử sỹ sẽ ít hơn, số lượng chiến sỹ còn sống và còn khỏe sẽ nhiều hơn, chẳng những thế, chiến thắng sẽ lớn hơn nữa”.

Trần Văn Trà cũng nhận xét rất chính xác, rằng Võ Nguyên Giáp là con người bao dung, độ lượng. Đối với những người hiểu lầm hoặc cố tình hiểu lầm, ghen ghét, đố kỵ tài năng…Võ Nguyên Giáp vẫn tiếp tục cư xử một cách nhã nhặn và bình thản. Ông chỉ nói về cái tốt, cái đúng của đồng đội, chưa bao giờ thanh minh cho bản thân mình một vấn đề gì.

Một vấn đề rất lý thú nữa mà Trần Văn Trà nêu lên, đó là cách gọi Võ Nguyên Giáp như thế nào cho đúng nhất. Gọi “Đại tướng”không có gì sai nhưng không biểu hiện được vai trò đứng đầu toàn quân của Võ Nguyên Giáp và mối quan hệ rất khăng khít của ông đối với toàn quân. Nên gọi “Tổng tư lệnh” hoặc “Anh Văn”.

Gọi “Tổng tư lệnh” là cách gọi một cách trang trọng. Võ Nguyên Giáp là tư lệnh của các tư lệnh, chính ủy của các chính ủy. Ông đứng vững trên vị trí Tổng tư lệnh liên tục 30 năm, hạ đo ván 7 tướng lĩnh đứng đầu của Pháp và 3 tướng lĩnh đứng đầu của Hoa Kỳ, tài năng ấy thật phi thường, khó ai có thể so sánh. Cho nên, muốn gọi Võ Nguyên Giáp theo chức vị một cách trang trọng, “tôi cho rằng gọi Tổng tư lệnh đúng hơn cả” – tướng Trà kết luận.

Điều này hoàn toàn đúng. Càng đúng hơn vì bây giờ chúng ta thấy, VN có không ít Đại tướng, lại có cả Đại tướng chưa qua quân đội một ngày nào, nói chi đến chiến công. Ngày trước, ngay như Trần Văn Trà được phong Trung tướng năm 1959 và tới 15 năm sau ông mới được phong Thượng tướng.

Còn gọi Anh Văn là gọi một cách thân mật. Tất nhiên, không phải ai cũng có thể gọi Anh Văn, vì điều đó còn phụ thuộc vào tuổi tác, mối quan hệ công tác, quan hệ thân thuộc nữa. Gọi Anh Văn vừa nói lên vai trò Anh Cả của Võ Nguyên Giáp trong quân đội, vừa nói lên quan hệ vô cùng mật thiết của ông đối với toàn quân. Và chúng ta biết, Hồ Chí Minh thường gọi Võ Nguyên Giáp một cách trìu mến mà thâm thúy: chú Văn.

Chính vì tất cả những điều đó mà trong mắt Trần Văn Trà, Võ Nguyên Giáp giành được sự yêu mến gần như tuyệt đối của toàn quân, toàn dân. Đây là điều mà hẳn chúng ta ai cũng đồng ý và lấy làm tự hào.

Lê Mai

(Ngày 7.10.2013 – những ngày tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

Bài viết mới

Video yêu thích

http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn; Tình yêu cuộc sốngKim on LinkedInKimYouTubeKim on FacebookKimTwitter

 

Advertisements

Minh triết cho mỗi ngày

MINH TRIẾT CHO MỖI NGÀY
Hoàng Kim
về lại mái nhà xưa, tôi bồi hồi nhớ lại  ‘thăm ngôi nhà cũ của Darwin’ ở Anh, ngôi nhà cũ của giáo sư ‘Lương Định Của con đường lúa gạo’ ở Sóc Trăng, nhớ sự hội ngộ mới đây ‘90 năm Viện KHKTNN miền Nam’. Triết lý nhân sinh của Darwin thật sâu sắc. “Mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên“. Tôi ‘từ cậu bé chân đất làng Minh Lệ‘ đã tự mình trãi nghiệm và nhận thức sâu sắc thêm về quá trình chọn lọc nhân tạo, để thấu hiểu ‘con đường xanh ta đi‘ của dân tộc Việt Nam  bảo tồn và phát triển tinh hoa trí tuệ. ‘Nguyễn Khải ngọc cho đời’ đã dặn lại thật đúng: “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại !”. ‘Trần Đăng Khoa trong tôi’ cũng trao đổi thật chí lý: “Cái còn thì hãy còn nguyên. Cái tan dù tưởng vững bền cũng tan“. Ngắm trăng rằm, tôi thấm thía nhất lời dặn chất phác của Cha: “Con đi học và đi làm phải biết kính thầy, nhường bạn, phúc hậu, chính trực, tận tâm, tự ý cẩn thận không dại nghe người ta xui“. Về lại mái nhà xưa, ruộng lúa, nương khoai, đình làng, sông núi quê hương, nhớ lại và suy ngẫm.

Ngày 19 tháng 4 năm 1882 là ngày mất của Charles Darwin sinh năm 1809, nhà sinh vật học vĩ đại người Anh, tác giả cuốn Nguồn gốc các loài, căn bản của thuyết chọn lọc tự nhiên và đấu tranh sinh tồn.

Thăm ngôi nhà cũ của Darwin”, tôi may mắn được đã có giây phút lặng ngắm đôi mắt Darwin soi thấu nguồn gốc các loài và khu vườn di sản nhỏ bé của người. Down House là ngôi nhà cũ của nhà tự nhiên học người Anh Charles Darwin và gia đình ông. Tại nơi này Darwin đã làm việc về thuyết tiến hóa bởi chọn lọc tự nhiên và nhiều thí nghiệm khác. Charles Robert Darwin (12 tháng 2, 1809 – 19 tháng 4, 1882) là một nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực tự nhiên học người Anh.  “Nguồn gốc các loài” của Charles Darwin xuất bản lần đầu tiên ngày 24 tháng 11, năm 1859 là ấn phẩm khoa học tiêu biểu và là tác phẩm nòng cốt của ngành sinh học tiến hóa. chứng minh rằng mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên. Thăm ngôi nhà cũ của Darwin là tìm đến tư duy mạch lạc của một trí tuệ lớn để vận dụng soi tỏ nhiều vấn đề lịch sử văn hóa theo tư duy minh triết, khách quan, độc lập, tỉnh táo của một trí thức khoa học thật . Đọc lại và đánh giá đúng đắn, chí thiện, sáng rõ “Niên biểu lịch sử Việt Nam“, ” 500 năm Nông nghiệp Việt Nam”, “90 năm Nông nghiệp miền Nam” nhằm tìm thấy trong sự rối loạn và góc khuất lịch sử  dòng chủ lưu tiến hóa, chấn hưng văn hóa, giáo dục và nông nghiệp Việt.

Thầy bạn trong đời tôi là một hạnh phúc lớn.Tôi thật sung sướng trong đời mình được may mắn tiếp cận với nhiều thầy quý bạn hiền có tầm nhìn xa rộng, sức khái quát cao và tài năng khoa học phi thường. Tôi tự hào đời mình gắn bó máu thịt với 90 năm Viện KHKTNN miền Nam; 60 năm Đại học Nông Lâm TP. HCM đã được du học ở Tiệp Khắc kỷ niệm một thờiPraha Goethe và lâu đài cổ, Dạo chơi cùng Goethe, “Viện Di truyền Mendel ”, Di sản Walter Scott, Nghị lực, Học để làm ở Ấn Độ, 500 năm nông nghiệp Brazil,  … Tôi đã có thời gian quý báu được cùng làm việc với các chuyên gia lỗi lạc quốc tế, không màng lợi danh,  đã đến cùng làm việc ở Viện Trường hoặc khi tôi đi học như GSTS. Norman Bourlaug (CIMMYT), GS.TS. Kazuo Kawano, TS. Reinhardt Howeler, TS. Hernan Ceballos, TS. Rod Lefroy, (CIAT),  GS.TS. Peter Vanderzaag, TS. Enrique Chujoy, TS. Il Gin Mok, TS. Zhang Dapheng (CIP), GS.TS. Wiliam Dar, TS. Gowda (ICRISAT), GSTS.  V. R. Carangal (IRRI), TS. Magdalena Buresova , GSTS. Pavel Popisil (Tiệp), Những người bạn Nga của Viện Vavilop” tại Hưng Lộc, VIR, AVRDC,  … và một đội ngũ nhiều thầy quý bạn hiền ở Việt Nam. Đó là năm tháng không quên.

‘Minh triết cho mỗi ngày’ là những điều lắng đọng, những lời tâm đắc.

Hoàng Kim

Từ cậu bé chân đất làng Minh Lệ

Hoàng Kim tư liệu chọn lọc
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam 1925-2015

Tập kỷ yếu Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam 1925-2015 là một tóm tắt nông nghiệp Việt Nam 90 năm khá thú vị: Tác giả tập sách mỏng này là Bùi Chí Bửu, Trần Thị Kim Nương, Nguyễn Hồng Vi, Nguyễn Đỗ Hoàng Việt, Nguyễn Hiếu Hạnh, Đinh Thị Lam, Trần Triệu Quân, Võ Minh Thư, Đỗ Thị Nhạn, Lê Thị Ngọc, Trần Duy Việt Cường, Nguyễn Đức Hoàng Lan, Trần Thị Kim Cúc, Nguyễn Thị Kim Thoa, Đinh Thị Hương, Trần Văn Tưởng, Phan Trung Hiếu, Hồ Thị Minh Hợp, Đào Huy Đức* (*Chủ biên chịu trách nhiệm tổng hợp). Ba cuốn sách khác (ảnh), một số lời bình luận ngắn của GS Trần Thế Thông với một số hình ảnh cuối bài viết này là của Hoàng Kim, lưu giữ một số tư liệu hình ảnh của Viện giai đoạn 1981-2018 trong ký ức tôi.

Khoa học nông nghiệp là một tổng thể của kiến thức thực nghiệm, lý thuyết và thực tế về nông nghiệp, nông dân, nông thôn do các nhà nghiên cứu phát triển với các phương pháp khoa học, trong đó đặc biệt là sự quan sát, giải thích, và dự báo những hiện tượng của nông nghiệp. Việt Nam là đất nước “dĩ nông vi bản”, do đó nông nghiệp của chúng ta gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước. Viện đã không ngừng phát triển trong chặng đường lịch sử 90 năm. Viện đã cùng đồng hành với nông dân Việt Nam, người mà lịch sử Việt Nam phải tri ân sâu đậm. Chính họ là lực lựơng đông đảo đã làm cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân thành công; đồng thời đã đóng góp xuất sắc trong thời kỳ đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, với nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, tạo nên những đột phá liên tục làm tiền đề cho công nghiệp và dịch vụ phát triển như ngày nay. Sự kiện 02 triệu người chết đói năm 1945 luôn nhắc người Việt Nam rằng, không có độc lập dân tộc, không có khoa học công nghệ, sẽ không có ổn định lương thực cho dù ruộng đất phì nhiêu của Đồng bằng Sông Cửu Long có tiềm năng vô cùng to lớn.

Lịch sử của Viện cũng là lịch sử của quan hệ hợp tác mật thiết với các tổ chức nông dân, với lãnh đạo địa phương, với các Viện nghiên cứu trực thuộc VAAS và các Trường, Viện khác, với các tổ chức quốc tế. Khoa học nông nghiệp không thể đứng riêng một mình. Khoa học nông nghiệp phải xem xét cẩn thận các yếu tố kinh tế, môi trường, chính trị; trong đó có thị trường, năng lượng sinh học, thương mại hóa toàn cầu. Đặc biệt, nông nghiệp phải nhấn mạnh đến chất lượng nông sản và an toàn lương thực, thực phẩm, khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Lịch sử đang đặt ra cho Viện những thách thức mới trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, hàng rào thuế quan được dỡ bỏ, thay vào đó là rào cản kỹ thuật đối với nông sản trên thương trường quốc tế. Thách thức do bùng nổ dân số, thiếu đất nông nghiệp, thiếu tài nguyên nước ngọt, biến đổi khí hậu với diễn biến thời tiết cực đoan, thu nhập nông dân còn thấp là những nhiệm vụ vô cùng khó khăn, nhưng rất vinh quang của Viện, đang mong đợi sự năng động và thông minh của thế hệ trẻ.”

Lịch sử của Viện được chia là hai phân kỳ : Từ ngày thành lập Viện 1925 đến năm 1975, và từ năm 1975 đến năm 2018.

Từ năm 1925 đến năm 1975 những nhân vật lịch sử tiêu biểu của Viện trong thời kỳ này là GS.TS. Auguste Chavalier (1873-1956) Người thành lập Viện Khảo cứu Khoa học Đông Dương, năm 1918;  Yves Henry (1875-1966) Người thành lập Viện Khảo cứu Nông Lâm Đông Dương, năm 1925;  GS. Tôn Thất Trình, GS. Thái Công Tụng, GS. Lương Định Của, … là những người có ảnh hưởng nhiều đến Viện trong giai đoạn này

Từ năm 1975 đến năm 2018 Viện trãi qua 5 đời Viện trưởng GS Trần Thế Thông, GS Phạm Văn Biên, GS Bùi Chí Bửu, TS Ngô Quang Vinh và TS Trần Thanh Hùng.  Một số ảnh tư liệu thời tôi ở Viện với một số sự kiện mà tôi từng chứng kiến.

Viện từ năm 1975 đến năm 2015 là một Viện nông nghiệp lớn đa ngành, duy nhất trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam. Đó là tầm nhìn phù hợp điều kiện thực tế thời đó. Viện có một đội ngũ cán bộ khoa học nông nghiệp hùng hậu, có trình độ chuyên môn cao, thế hệ đầu tiên của giai đoạn hai mươi lăm năm đầu tiên sau ngày Việt Nam thống nhất (1975 – 2000)  gồm các chuyên gia như:  Giáo sư Trần Thế Thông, Giáo sư Vũ Công Hậu, Giáo sư Lê Văn Căn, Giáo sư Mai Văn Quyền, Giáo sư Trương Công Tín, Giáo sư Dương Hồng Hiên, Giáo sư Phạm Văn Biên, … là những đầu đàn trong khoa học nông nghiệp.

Viện có sự cộng tác của nhiều chuyên gia lỗi lạc quốc tế đã đến làm việc ở Viện như: GSTS. Norman Bourlaug (CIMMYT), GS.TS. Kazuo Kawano, TS. Reinhardt Howeler, GS.TS. Hernan Ceballos, TS. Rod Lefroy, (CIAT),  GS.TS. Peter Vanderzaag, TS. Enrique Chujoy, TS. Il Gin Mok, TS. Zhang Dapheng (CIP), GS.TS. Wiliam Dar, TS. Gowda (ICRISAT), GSTS.  V. R. Carangal (IRRI), TS. Magdalena Buresova , GSTS. Pavel Popisil (Tiệp), VIR, AVRDC,  …

Thật đáng tự hào về một khối trí tuệ lớn những cánh chim đầu đàn nêu trên. Chúng ta còn nợ những chuyên khảo sâu các đúc kết trầm tích lịch sử, văn hóa, sinh học  của vùng đất này để đáp ứng tốt hơn cho các vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn, đời sống và  an sinh xã hộiđể vận dụng soi tỏ “Niên biểu lịch sử Việt Nam“, ” 500 năm Nông nghiệp Việt Nam”, “90 năm Nông nghiệp miền Nam” nhằm tìm thấy trong góc khuất lịch sử  dòng chủ lưu tiến hóa của văn hóa, giáo dục , nông nghiệp Việt.


GS Trần Thế Thông nay đã 97 tuổi cùng Hoàng Kim trò chuyện về Viện

GS Trần Thế Thông, GS Vũ Công Hậu làm việc cùng chuyên gia Viện Vavilop Liên Xô.

GS.Vũ Công Hậu và chuyên gia Liên Xô chương trình thu thập bảo tồn tài nguyên cây trồng.

 

Mô hình trồng xen lạc, đậu xanh, đậu nành, đậu rồng với ngô lai, sắn có hiệu quả cao ở vùng Đông Nam Bộ và Duyên hải miền Trung. TS. Hoàng Kim đang báo cáo kết quả nghiên cứu và phát triển mô hình trồng xen ngô đậu với bộ trưởng Nguyễn Ngọc Trìu.

GS Mai Văn Quyền hướng dẫn chuyên gia IRRI và TS Phạm Sĩ Tân chuyên gia Viện Lúa ĐBSCL thăm mô hình trồng xen ngô đậu trong hệ thống cây trồng vùng Đông Nam Bộ.

Viện trưởng GS. Phạm Văn Biên với chuyên gia CIAT và các lãnh đạo Mạng lưới Sắn châu Á, châu Mỹ La tinh tại Hội thảo Sắn châu Á tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh năm 2000.

Mạng lưới sắn Việt Nam (VNCP) Nguyễn Thị Sâm (ĐHNL HCM) Nguyễn Thị Bồng (ĐHHĐ, Nguyễn Thị Nga (Bộ NNPTNT) Bùi Van Nhiều (Khuyến nông Bình Định) Hoàng Kim (Viện KHKTNNMN) đánh giá tuyển chọn giống sắn KM98-5 trên đồng ruộng.

Viện trưởng GS. Phạm Văn Biên và TS Nguyễn Thanh Bình, TS Hoàng Kim hướng dẫn Bộ trưởng Lê Huy Ngọ thăm các giống điều ghép PN1 và các giống điều mới chọn tạo tại Trung tâm Hưng Lộc, Đồng Nai.


Viện Trưởng GS. Bùi Chí Bửu hướng dẫn Tổng Giám đốc CIAT thăm các giống sắn mới
.

Quyền Viện Trưởng TS. Ngô Quang Vình cùng các chuyên gia CIAT đánh giá các giống sắn mới (KM419 bên phải và KM140 bên trái).

TranThanhHung

Viện trưởng TS. Trần Thanh Hùng (giữa) nhận hoa chúc mừng của các đồng nghiệp.

Bao năm Trường Viện là nhà
Sắn Khoai Ngô Lúa đều là thịt xương
Một đời người một rừng cây
Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng

Video yêu thích
Về mái nhà xưa, Lưu Bích
TRỞ VỀ MÁI NHÀ XƯA “Come back to Sorrento”
Giấc mơ trưa – Thùy Chi
I will be right here waiting for you

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook   KimYouTube

Minh triết cho mỗi ngày

VƯỜN NHÀ BUỔI SÁNG HÔM NAY
Hoàng Kim

Albert Einstein thật minh triết. Năm câu nói của Einstein mà tôi thích nhất là: “Tình yêu là người thầy tốt hơn trách nhiệm”. (Love is a better teacher than duty). “Nếu anh không thể giải thích đơn giản thì anh chưa hiểu đủ rõ”. (If you can’t explain it simply, you don’t understand it well enough). “Học từ ngày hôm qua, sống ngày hôm nay, hi vọng cho ngày mai. Điều quan trọng nhất là không ngừng đặt câu hỏi.” (Learn from yesterday, live for today, hope for tomorrow. The important thing is not to stop questioning). “Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng”. (Science without religion is lame, religion without science is blind). “Đừng tham công mà hãy cố gắng làm người có ích”. (Strive not to be a success, but rather to be of value). 

Học và hành được năm câu trên là đủ dùng tốt cho một đời. Einstein thật minh triết.

CNM365. Chào ngày mới 18 tháng 4. Ngày 18 tháng 4 năm 1955, ngày mất Albert Einstein, nhà vật lý vĩ đại (sinh năm 1879). Ngày 18 tháng 4 là ngày Độc lập Zimbabwe. Ngày 18 tháng 4 năm 1506, Viên đá đầu tiên của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô được đặt, hiện là một trong bốn nhà thờ lớn nhất ở Vatican.  xem tiếp…

Bài viết mới

Video yêu thích

http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn; Tình yêu cuộc sốngKim on LinkedInKimYouTubeKim on FacebookKimTwitter

Minh triết cho mỗi ngày

MINH TRIẾT CHO MỖI NGÀY.
Hoàng Kim
Lev Tolstoy ngày  này 17 tháng 4 đã hoàn thành tiểu thuyết Anna Karenina, tác phẩm đỉnh cao của tiểu thuyết lãng mạn, đạt số phiếu bầu cao nhất trong danh sách 10 tác phẩm vĩ đại nhất mọi thời đại, theo bình chọn gần đây của 125 nhà văn nổi tiếng. ‘Suy niệm mỗi ngày” của ông cũng sâu thẳm như 64 quẻ Kinh Dịch sách Nguyễn Hiến Lê, mà mỗi ý đều là lời khuyên chính tâm và khôn ngoan. Lev Tolstoy khuyên chúng ta nên kính trọng người khác không phải vì họ giàu mà vì họ lao động. Thật sai lầm khi coi thường những người siêng lao động nhưng nể trọng những người giàu mà lười. Cuộc sống tốt đẹp không gì hại bằng lười lao động, bỏ bê công việc. Ai lao động trong tình yêu mang lại niềm vui và sự tốt lành cho người khác thì cũng tốt cho tâm hồn mình.

đọc tiếp

Tắm tiên ở Chư Yang Sin

TẮM TIÊN Ở CHƯ YANG SIN
Hoàng Kim
Face Book nhắc tôi tấm ảnh đẹp ‘Tắm tiên ở Chu Yang Sin mà tôi có đưa ảnh ngày 17 năm 2016, chứ chưa có lời bình. Bạn có tin không, từ sau ngày ấy đến nay bụng tôi đã thon nhỏ lại, tóc đen lại như anh chàng trẻ tuổi ngồi bên cạnh và bây giờ thì cân nặng đã giảm hẵn từ 79 kg xuống còn lại 70 kg, so với chiều cao là 1m70  thì vừa gọn. Phép mầu ư? Chẳng phải. Đó là một câu chuyện dài đến bây giờ mới kể, cũng có phiếm bình đôi chút nhưng là sự thật.  Nguyễn Thanh Bình, BM Nguyễn và Phạm Quang Chinh biết rõ điều này. Trở về với thiên nhiên người ta sẽ vậy. FAO có bài viết: “Returning land, returning peace” (Trở về đất, trở về hòa bình).

Việt Nam tự hào có 32 Vườn Quốc gia trải rộng khắp các vùng sinh thái. Đó là 32 khu dự trữ sinh quyển của thế giới, khu bảo tồn thiên nhiên, rừng đặc dụng và thắng cảnh nổi tiếng, những quà tặng cuộc sống vô giá mà chúng ta may mắn được thừa hưởng, những điểm đến du lịch đáng ao ước của đời người, là suối nguồn vô tận, năng lượng dồi dào của mạch viết. Vườn quốc gia Chư Yang Sin là một trong năm vườn quốc gia ờ Tây Nguyên gồm Bidoup Núi Bà, Chư Mom Ray, Chư Yang Sin, Kon Ka Kinh, Yok Đôn

Vườn quốc gia Chư Yang Sin là một khu rừng đặc dụng của Việt Nam nằm trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk gồm các xã Yang Mao, Cư Drăm, Cư Pui, Hoà Phong, Hoà Lễ, Hoà Sơn, Khuê Ngọc Điền thuộc huyện Krông Bông và các xã Yang Tao, Bông Krang, Krông Nô, Đắk Phơi thuộc huyện Lắk, được thành lập theo quyết định số 92/2002/QĐ-TTg ngày 12 tháng 7 năm 2002 của Thủ tướng chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Mục tiêu nhiệm vụ của vườn quốc gia Chư Yang Sin là bảo vệ mẫu chuẩn các hệ sinh thái rừng trên núi cao Tây Nguyên, bảo tồn các loài động, thực vật hoang dã, đặc biệt là các loài đặc hữu và quý hiếm, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường, phát triển du lịch sinh thái; góp phần phát triển kinh tế, xã hội địa phương; bảo vệ rừng đầu nguồn sông Serepôk, Mê Kông, điều hoà, cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp.

Vườn quốc gia Chư Yang Sin có toạ độ địa lý từ 120°14′16″ đến 130°30′58″ vĩ bắc; từ 108°17′47″ đến 108°34′48″ kinh đông. Tổng diện tích là 58.947 ha; trong đó gồm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 19.401 ha, phân khu phục hồi sinh thái 39.526 ha, phân khu hành chính dịch vụ 20 ha. Vườn quốc gia Chư Yang Sin có diện tích vùng đệm 183.479 ha, nằm trên địa bàn các huyện Krông Bông, Lắk thuộc tỉnh Đắk Lắk và các huyện Lạc Dương, Lâm Hà thuộc tỉnh Lâm Đồng. Thế núi mạch sông căn bản tại đây có đỉnh núi Chư Yang Sin 2.442 mét, cao nhất hệ thống núi cao cực Nam Trung Bộ. Núi này ở phía Nam hợp với núi Ngọc Linh ở phía Bắc tạo thành ‘nóc nhà Tây Nguyên’ huyền thoại. Sông Krông Bông, ngã ba suối Ya Brô đến đường phân thuỷ sông Krông Ana ở phía Đông. Suối Đắk Cao, suối Đắk Kial và đến đường phân thuỷ giữa Đắk Cao và Đắk Phơi ở phía Tây. Sông Krông Nô làm ranh giới Đăk Lăk và Lâm Đồng ở phia Nam. Thác Krông Kmar qua dãy Chư Ju – Chư Jang Bông đến suối Ea Ktuor ở phía Bắc.

Tắm tiên ở Chư Yang Sin là tắm mình trong nguồn năng lượng vô tận của trời xanh, cây xanh, gió mát và không khí an lành, đó là quà tặng may mắn của cuộc sống. Tôi đã viết bài thơ ‘Con đường yêu thương’ ‘Mưa xuân’ của ngày này năm trước và ý định nối dài thêm nhưng vẫn chưa có thời gian.

Con đường yêu thương
Hoàng Kim
Rời phố khi trời ưng ửng sớm
Về rừng lúc đất tỏa hương khuya
Mai núi nghiêng soi bên suối biếc
Bình yên xóm nhỏ tiếng chim gù …

Mưa xuân
Hoàng Kim
Được nói lời yêu, lời hờn giận
Được chờ tin nhắn, ngóng câu thương
Đời chợt an nhiên, người chợt hiểu
Thoáng chốc mưa xuân đã ướt đường.

Y Pi MLô người dân tộc M’Nông ở xã Hòa Phong huyện Krông Bông trồng sắn KM419 diện tích 1,6 ha đạt năng suất sắn củ tươi bình quân 46,5 tấn/ ha do dùng giống mới và thực hành ứng dụng tốt ‘Mười biện pháp kỹ thuật thâm canh sắn’


Anh Phạm Quang Chinh (giữa trái) và Hoàng Kim (giữa phải) cùng bà con nông dân Krông Bông thu hoạch sắn KM419 trong niềm vui được mùa.


Nguyễn Bạch Mai đã cùng các bạn Tây Nguyên tổ chức sản xuất sử dụng giống sắn mới KM419 và HLS11 thay thế các giống sắn cũ năng suất thấp hơn và bị nhiễm bệnh Hôm nay tôi giúp em Nguyễn Bạch Mai ở Tây Nguyên hoàn thiện luận án tiến sĩ sắn chuẩn bị bảo vệ vừa lúc FB nhắc trên chuyên mục ON THIS DAY những tấm ảnh kỹ niệm không quên. Tôi ngắm ảnh và thấm thía đọc lại nhật ký đường xuân vui thấy các em đang tiếp bước tự tin và vững vàng hơn niềm vui và con đường xanh từ thuở ấy.

Tôi vui viết cảm khái cũ nối chúc mừng Nguyễn Bạch Mai (BM Nguyễn) tiến bộ mới:

Con đường xanh yêu thương
Hoàng Kim
“… Rời phố khi trời ưng ửng sớm
Về rừng lúc đất tỏa hương khuya ...”
Bạch Mai Nguyễn chúc mừng em gắng
Mai sáng quê hương đẹp núi rừng.

Tôi phải nói trước một câu cho rõ, vì chưa kịp kể tiếp câu chuyện thú vị này: Chúng tôi cùng bà con nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp, giúp bà con nông dân sinh kế giảm  nghèo và tăng năng suất sắn để giảm diện tích trồng sắn quảng canh năng suất thấp, sau đó tôi được bà con địa phương dẫn đi thăm vườn quốc gia và được tắm tiên ở … suối tiên.

còn tiếp …

xem thêm Từ Mekong nhớ Neva


TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

Volga Xinh Đẹp – Trần Thu Hà – Tình khúc Nga bất hủ – YouTube
https://www.youtube.com/watch?v=_8SVl1bOLYY

Ban Mai
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook  Kim on Twitter

 

Trần Mạnh Báo ở ThaiBinhSeed


TRẦN MẠNH BÁO Ở THAIBINHSEED
Hoàng Kim
Chúc mừng gạo Việt từ giống tốt đến thương hiệu. Chúc mừng anh Trần Mạnh Báo. Bao nhiêu bạn cũ đã đi rồi Nhớ để mà thương cố gắng thôi Nhà khoa học xanh gương trung hiếu Người thầy chiến sĩ đức hi sinh Dưới đáy đại dương là ngọc quý Trên đồng chữ nghĩa ấy tinh anh Doanh nghiệp Thái Bình chăm việc thiện Giống tốt bội thu vẹn nghĩa tình. ‘Niêu Vàng cơm ngon từ giống, gạo sạch từ tâm‘.

còn tiếp…

Cát bụi cuộc đời… càng nghe càng thấm !

Hoàng Kim là tác giả bài viết Lương Định Của con đường lúa gạo với một số những chân dung nghề nông phác thảo Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi; Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc TrăngPhạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh; Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai; Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn; Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu XanhNhững người Việt lỗi lạc ở FAOBùi Huy Đáp lúa xuân Việt NamLê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên; Kênh ông Kiệt giữa lòng dân; Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi; Thầy Xuân lúa và hệ canh tác. Hoàng Kim cũng là tác giả những chuyên luận, trao đổi dạy học và làm về cây lương thực như: Gạo Việt chất lượng và thương hiệu;  Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh; Con đường xanh của chúng ta ; Công việc này trao lại cho em; Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời; Hoa Đất; Về miền TâyHoa Lúa

Video yêu thích

Bài ca thời gian Run away with me.

 


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Nếp nhà và nét đẹp văn hóa

QUÊ HƯƠNG
những người thân quý của tôi
Nếp nhà và nét đẹp văn hóa
Hoàng Kim

‘Văn tế cụ Nguyễn Ngọc Xừ’ trang thơ của cụ Hoàng Bá Chuân
thấm đẫm tình người giống như bài ‘Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc’.
Nhát cuốc của cụ Hoàng Hữu Chư dám đối mặt với hiểm nguy
để chính trực khóc thương đắp mộ cho người trung liệt hi sinh,
là gương soi cho chúng ta biết sống tử tế, chính trung, phúc hậu.
Thật yêu Việt Nam máu xương ông cha thăm thẳm tình người
Lớp ông cha trước, con cháu sau, chính khí ngất trời
Biết gạt nước mắt niềm riêng để chung lo cho TỔ QUỐC.
‘Hồn chính khí bốc lên ánh sáng
Sáng choang ngọc đá giữa hoang tàn’.
Tâm nhân văn lắng đọng tinh hoa
Hoa Đất Hoa Người trong cõi Bụt.
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/que-huong/
VĂN TẾ CỤ NGUYỄN NGỌC XỪ

Cụ Minh Sơn Hoàng Bá Chuân chấp bút khi  con cháu bốc mộ năm 1962 sau 6 năm
CCRĐ. Cụ Hoàng Hữu Chư (cha tôi) bất chấp nguy hiểm đã chính trưc lập mộ cho
người oan. Cụ Nguyễn Ngọc Xừ sau này là liệt sĩ

Hỡi ôi !
Vật đổi sao dời
Ô qua bóng xế
Hoa nở sớm còn tối rụng,
giấc chiêm hồ điệp mê man
Dâu bèo nay hợp mai bong,
dáng ngọc phù du nhân thế.
Lò tạo hóa xây nên cảnh nghịch,
nghĩ lại càng đau
Máy âm dương khuôn đúc cơn sầu,
buồn không xiết kể!
Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy,
giấc ký quy khôn tính cuộc vuông tròn
Một năm mười hai tháng đương bao,
cơn ly biệt chẳng biết đâu số hệ.

Nhớ cha xưa
Lao động chung tình tập đoàn chủ nghĩa
Sóng cách mạng dồn lên cuồn cuộn,
gắn mình vào hai chữ bình tây
Gió dân quyền nổi dậy vang vang,
dốc lòng quyết một niềm phản đế
Bao nhiêu thu trãỉ dự danh Chủ tịch,
khi tấn công khi phòng ngự,
lo lường mọi viêc mọi nơi
Mấy chục năm tròn chạm việc Nhân sinh,
nào sản xuất nào tăng gia,
tính liệu từng ly từng tí.
Đem thân ái hữu cùng lương giáo,
dạ chân thành nên quần chúng tin yêu
Lòng trung kiên hẹn với nước non,
lòng thành thực nên nhân dân nhất trí
Những tưởng ngày còn dài, tháng đang rộng,
xâm lăng tẩy sạch,
hội hòa bình vui rộn cảnh chim câu
Nào ngờ thời chẳng biết, vận không hay,
biến chuyển khôn lường,
cơn cảm tử tuôn vang tiếng dế
Ôi thôi thôi
mây phủ cành tùng,
mù sa cội quế.
Cha dù chết nhưng tinh thần vẫn sống,
thỏa tâm tình đế quôc đã tiêu vong
Sống thời khôn ắt phải thác thiêng liêng,
hội khí phách đoàn con đều đồng chí
Nay nhân cải cát mộ phần,
kính dâng văn tế
Hồn chinh khí bốc lên ánh sáng
chào mừng xã hội chóng thành công.
Phách chung linh hẹn với đồng xanh,
chúc tặng nhân dân đều tâp thể.
Từ ấy Côn Lôn ngọn lửa
sáng choang ngọc đá giữa hoang tàn
Rồi đây Đông Hải vừng hồng
soi rọi vàng thau trong thế kỷ
Than ôi !
Thượng hưởng

Minh Sơn
Hoàng Bá Chuân chấp bút .

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/que-huong/

Thành kính tưởng nhớ liệt sĩ vì nước quên thân.

Hoàng Kim kính anh chị Hap Nguyen Ngoc . Em xin có đôi liễn trích hai câu của ông em là cụ Minh Sơn Hoàng Bá Chuân (em ruột của bà ngoại em) trong ngày sang cát cho cụ Nguyễn Ngọc Xừ năm 1962, sáu năm sau ngày cụ mất: “Hồn chính khí bốc lên ánh sáng Sáng choang ngọc đá giữa hoang tàn”. Trong hoàn cảnh cùng cực đó anh Thừa, chị Thảo và vợ chồng anh Hạp, vợ chồng anh Huề đã vượt lên hoàn cảnh để trở thành những tinh hoa của đất nước, những bậc thầy hàng đầu của ngành địa chất Việt Nam như giáo sư nhà giáo nhân dân Nguyễn Văn Chiển, giáo sư tiến sĩ khoa học Nguyễn Ngọc Thừa, giáo sư nhà giáo nhân dân Trần Nghi và kể cả thầy Hap Nguyen Ngoc tuy không đi làm nghiên cứu sinh nhưng là ‘lão làng’ trong nghề địa chất. Em xin có câu thứ hai trong đôi liễn đó: “Tâm nhân văn lắng đọng tinh hoa Hoa Đất Hoa Người trong cõi Bụt”.

Hoàng Kim Chúc mừng anh Khai Vutrong sinh nhật vui khỏe hạnh phúc. ” NẾP NHÀ VÀ NÉT ĐẸP VĂN HÓA. Tự trọng và tôn trọng sự thật. Trí thức cứ nói. Có ai nghe mình không mới quan trọng…”. PGS.TS Vũ Trọng Khải (Khai Vutrong) nói. “Điều ông quan tâm nhất vẫn là vấn đề sở hữu đất đai. “Người dân, trước hết là nông dân, phải có quyền sở hữu đất đai. Chí ít là quyền sử dụng đất theo luật hiện hành phải là quyền tài sản, là hàng hóa được mua bán theo cơ chế thị trường. Cần bỏ ngay khái niệm thu hồi đất, đền bù giải tỏa, giải phóng mặt bằng theo giá Nhà nước quy định. Đất dùng cho công hữu, an ninh quốc phòng nếu cần phải trưng mua theo giá thị trường. Đó là điều tối thiểu và căn bản để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp bền vững trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng”. “TỰ TRỌNG VÀ TÔN TRỌNG SỰ THẬT” là bài viết thật hay của báo Nông nghiệp Việt Nam hôm nay viết về anh Khai Vutrong…. Anh là con trai ‘nhà nòi’ của Luật sư Vũ Trọng Khánh. Cụ Vũ Trọng Khánh là Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa , người đã cùng Chủ tịch Nước Hồ Chí Minh với các lãnh tụ Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp … trong Ban soạn thảo Hiến pháp Việt Nam năm 1946. Người cha chính trực, hiểu biết, tài năng đề xuất những phác thảo cho chính quyền nước Việt Nam mới, trên nữa thế kỷ trôi qua vẫn còn nguyên vẹn giá trị nhân văn. Suy ngẫm những sai sót đất nước phải trả giá mà rùng mình nhìn lại những lời cảnh tỉnh sâu sắc chưa kịp và chưa làm. Người con sáng ý cha.  Cụ và Anh đều là người chính trực, suy xét việc đều thận trọng, hiểu biết, có chủ kiến. Đó là nếp nhà của một trí thức chính trực. Em Hoàng Kim viết bài QUÊ HƯƠNG những người thân quý của tôi Nếp nhà và nét đẹp văn hóa thật thấm thía chính trung, chính trực, trung tân, chí thiện, Em tâm đắc nhiều điều với các bài viết của anh. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/que-huong/

Hoàng Kim “Hồn chính khí bốc lên ánh sáng Sáng choang ngọc đá giữa hoang tàn”. “Tâm nhân văn lắng đọng tinh hoa Hoa Đất Hoa Người trong cõi Bụt”

Các em cảm phục tấm lòng và khí phách của các anh chị. Bài văn tế viết về người cha mà cũng chính là viết về nhưng người con và một dòng họ trung chính thật tốt đẹp của quê hương.

Anh Khai Vutrong cũng có hoàn cảnh đặc biệt như các anh chị, cũng như Hoàng Gia Cương theo dòng thời gian từ “Phố Cụt” đến “Phố nối” “Phố cong Tam Đảo” “Đi trong phố nhỏ” “Phố cụt” không cụt nữa mà đã được hóa giải.

Thơ Hoàng Gia Cương trong cõi vô biên lặng lẽ với thời gian, trãi nghiệm với thời gian. Chùm thơ Phố là một minh chứng rất rõ của sự trãi nghiệm nhân văn, sâu sắc, tinh tế và tài hoa của chính trực , tự trọng và tôn trọng sự thật. Đó là một chùm thơ mẫu mực.

Em thấy anh chảy nước mắt lặng lẽ nên gửi anh bài này. https://hoangkimlong.wordpress.com/…/hoang-gia-cuong…/

Hoàng Kim Kính anh Hap Nguyen Ngoc, tấm ảnh này là hai cụ Nguyễn Thị Như Đồng và Hoàng Bá Chuân là người đã viết bài văn tế cụ thân sinh anh, ngày gia đình cải táng. Hoàng Gia Cương con trai út của cụ đã viết bài thơ giới thiệu về Ông mà em rất thích:

Cha tôi là một nhà Nho

Cha tôi là một nhà Nho
Người luôn tự nhận môn đồ Khổng Khâu
Tứ Thư người đọc thuộc làu
Ngũ Kinh người vẫn ghi sâu từng lời…

Cha tôi sinh chẳng gặp thời
Chữ Nho như lá rụng rơi cuối mùa
Nỗi niềm đầy ắp trang thơ
Công danh sớm nắng chiều mưa nát nhòe

Cha tôi dạy trẻ nhà quê
Áo nâu guốc mộc chõng tre, đèn cầy…
Cơm ăn đã có vợ cày
Trò thương điếu đóm một vài hào rau !

Phải thời “Tây học” tràn vào
Chữ Nho bị quẳng sang ao nước tù
Cha tôi bỏ nghiệp thầy đồ
Theo trào lưu mới mầy mò … chữ Tây !

Chữ Tây vừa ngọng vừa dài
Đọc câu văn đến đứt hơi, nhạt phèo!
Thôi thì nghèo giữ phận nghèo
Cha tôi trồng sắn, nuôi heo qua ngày!

Cái thời đuổi Nhật đánh Tây
Cha thành “tuyên huấn” miệt mài làm thơ
Cha tôi lại dạy i, tờ
Làm theo lời Bác xóa mù giúp dân.

Cha tôi giờ đã thoát trần
Người đi tìm các vĩ nhân tôn thờ
Cha tôi là một nhà thơ
Cha tôi là một nhà nho cuối mùa!

6/1979
[3] Hoàng Gia Cương THEO DÒNG THỜI GIAN
Thơ tuyển chọn 2013. NXB Văn Học Hà Nội, tr. 40-41

Hoàng Kim em thấu hiểu anh Hap Nguyen Ngoc NỔI LÒNG NGÀY GIỔ CHA TÔI (Tâm sự), cảm phục tấm lòng và gương sáng của các anh chị nên em chép ý tâm đắc trong NẾP NHÀ VÀ NÉT ĐẸP VĂN HÓA. Đạo trời đất là Trung Tân. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm giảng giải về phép xử thế của bậc hiền minh trong thời thế nhiễu loạn, vàng lầm trong cát: ”…Vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê… Nghĩa chữ Trung Chính là ở chỗ Chí Thiện.Trung Tân quán bi ký, 1543). Đạo ở mình ta lấy đạo trung/ Chớ cho đục, chớ cho trong (Thơ chữ Nôm, Bài số 104) Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn, người đến chốn lao xao (Thơ chữ Nôm, Bài số 79) …Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. (Diên Thọ kiều bi ký, 1568) An nhàn, vô sự là tiên (Sấm ký)”. xem tiếp… https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nep-nha-va-net-dep-van-hoa/

Bài viết mới

Video yêu thích

http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn; Tình yêu cuộc sốngKim on LinkedInKimYouTubeKim on FacebookKimTwitter