Thầy Ngoạn thơ tình Hồ Núi Cốc

THẦY NGOẠN THƠ TÌNH HỒ NÚI CỐC

Hoàng Kim

TRẦN thế hay là Thiên thai đây.
Người hiền như NGỌC chốn trời mây.
Ai du ai NGOẠN nơi trần thế.
Hạnh phúc ngời lên đôi mắt say.

Nhớ thuở tìm về thăm bạn cũ.
Thái Nguyên đường thẳm hút sương mù.
Mênh mang mường Mán mình mong mỏi.
Lấp loáng luồng Lưu lượn lững lờ.

Núi Cốc chùa Vàng xao xuyến đợi
Sông Công đảo Cái ước mong chờ
Nham Biền, Yên Lãng uy nghi quá
Tam Đảo, Trường Yên dạ ngẫn ngơ.

Nhớ Sắn Việt Nam tình bạn quý.
Thương người Nam Bắc nghĩa anh em.
Thơ của tháng năm đời đẹp lắm.
Mình hẹn tìm nhau ở Bến Mơ.

https://cnm365.wordpress.com/2015/08/16/tho-tinh-ho-nui-coc/

HoNuiCoc01

Hồ Núi Cốc là quần thể du lịch sinh thái thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cách trung tâm thành phố 15 km về hướng Tây Nam theo lộ Đán -Tân Cương – núi Cốc. Nơi đây có núi Cốc, sông Công, hồ núi Cốc – vịnh Hạ Long, hồ trên núi – với diện tích mặt hồ khoảng 25 km2. Đền Hồ Chí Minh trên rừng Yên Lãng, đỉnh đèo De dưới là mỏ than núi Hồng giữ ngọn lửa thiêng, vùng huyền thoại chuyện tình yêu thương. Đảo Cái lưu dấu những cổ vật đặc biệt quý hiếm. Chùa Vàng và đền bà chúa Thượng Ngàn nổi tiếng. Đây là vùng đất địa linh của tam giác châu giữa  lòng của vòng cung Đông Triều với dãy Tam Đảo có 99 ngọn Nham Biền chạy xuống Yên Tử , trường thành chắn Bắc (hướng kia là dãy Tản Viên 99 ngọn chạy dọc sông Đáy tới Thần Phù, Nga Sơn nối Trường Sơn tạo thế trường tồn và mở  mang cho dân tộc Việt. Đây là vùng thiên nhiên trong lành, suối nguồn tươi trẻ, lưu dấu tích anh hùng, mỹ nhân trong vầng trăng, bóng nước giữa rừng …


Những tác phẩm âm nhạc vượt thời gian Huyền thoại Hồ Núi Cốc, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Vũ Phong Vũ (bản khác NSƯT Thanh Hoà), Thanh Lam Tùng Dương ; Hồ trên núi, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Hồ Quỳnh Hương (bản khác NSƯT Anh Thơ); Thơ giao lưu Hồ Núi Cốc giữa những người bạn Mùa Thu Vàng, Hà Duy Tự, Trúc Nhã, LamCa07, Hoàng Kim… được giao hòa trong khung cảnh thiên nhiên lộng lẫy, kỳ thú này.

Chương trình Sắn Việt Nam cùng Chương trình Sắn Châu Á nhiều lần họp tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng đi khảo sát các vùng sắn ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái,  … và đã có hai lần thăm Hồ Núi Cốc.

Lưu lại những ấn tượng khó quên về một vùng đất thiêng liêng của Tổ Quốc Việt Nam.

HoNuiCoc02 HoNuiCoc03 HoNuiCoc04 HoNuiCoc05 HoNuiCoc06 HoNuiCoc07 HoNuiCoc08 HoNuiCoc09 HoNuiCoc10 HoNuiCoc11 HoNuiCoc12

 

Ấn tượng Obama


OBAMA MỘT NHÂN CÁCH LỚN VĂN HÓA

Hoàng Kim

Tôi còn tiếp tục quay lại với Obama cho dù ông đã rũ bỏ quyền lực trở về đời thường nhưng tư tưởng của ông vẫn sống mãi. “Thế giới tôn trọng chúng ta không chỉ bởi những khẩu pháo. Họ tôn trọng sự đa dang và cởi mở của chúng ta, cùng với cách mà chúng ta tôn trọng mọi tín ngưỡng”. Câu nói của Obama lắng đọng sâu sắc trong lòng tôi. Một thế giới đang đổi thay nhưng những người chí thiện, công tâm, lời nói đi đôi với việc làm, dám và biết đương đầu với điều ác và người xấu mãi mãi được lòng dân cùng lịch sử ghi công. Obama một nhân cách lớn văn hóa.

Obama thật ấn tượng ! Obama là tổng thống da màu đầu tiên của nước Mỹ đã làm được điều tưởng như không thể, khi ông tiếp nối ước mơ của Martin Luther King “I Have a Dream” “Tôi có một giấc mơ lay động lương tâm và bừng dậy sức mạnh của nước Mỹ“. Trãi hai nhiệm kỳ tổng thống, ông đã biến được giấc mơ ấy thành hiện thực, niềm tin và hi vọng không chỉ đối với nước Mỹ mà còn trở thành biểu tượng là người bạn tốt, chân thành, tín nhiệm, đáng tin cậy, được mến mộ khắp toàn thế giới và Việt Nam, người mà việc làm đúng như lời nói. Obama đã về đích vinh quang.

Tôi tâm đắc giữ mãi hình ảnh Tổng thống Obama cúi xuống đón bó hoa của em bé Việt Nam tặng Người, cúi xuống chào Nhật Hoàng lớn tuổi và nhớ về câu thơ Lỗ Tấn được Chủ tịch Hồ Chí Minh dịch “Quắc mắt coi khinh ngàn lực sĩ. Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng (Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ. Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu). Bác Hồ dẫn lại và nói ‘lực sĩ’ là kẻ cường quyền, ‘nhi đồng’ là nhân dân. Obama một nhân cách lớn văn hóa.

Obama vững tin vào tương lai của nước Mỹ. Dẫu vậy, một linh cảm mà tầm nhìn Obama đã thấy trước một bức tranh tối tương lai thế giới đầy lo âu hơn. Tôi nhớ lại thông điệp sau cùng của Obama cuối năm 2016: “Tôi muốn kết luận lại bài diễn văn của mình bằng cách nói rằng tôi thừa nhận lịch sử đang kể một câu chuyện rất khác câu chuyện tôi nói ngày hôm nay. Chúng ta đã chọn một cái nhìn lịch sử đen tối hơn và đầy hoài nghi hơn. (Let me conclude by saying that I recognize history tells a different story than the one that I’ve talked about here today. There’s a much darker and more cynical view of history that we can adopt).

Vị Tổng thống Mỹ ở năm cuối nhiệm kì và đương nhiên không thể tái tranh cử, với thông điệp liên bang nổi tiếng, với chuyến thăm Cu Ba đầy ngưỡng mộ và ấn tượng, với chuyến thăm Việt Nam sự kiện nổi bật đã mở ra trang tiến bộ mới trong quan hệ Việt Mỹ . Tổng thống Obama tập trung vào những công việc còn sót lại trong nhiệm kỳ của mình, để có thể rời Nhà Trắng với giấc mơ Obama, niềm tin tự do và dấu ấn còn mãi với thời gian.

Tổng thống Mỹ Obama sang thăm Việt Nam tại một thời điểm thật thú vị: Trong dịp mà cả nước Việt Nam ngợp trời cờ hoa rộn ràng chào đón ngày bầu cử Quốc Hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Chào mừng ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là ngày thành lập Việt Minh, khai sinh đường Hồ Chí Minh trong lịch sử. Chuyến thăm trùng khớp với những sự kiện lớn lao nhất đối với nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sự nghiệp thống nhất Tổ Quốc của đất nước này.

Cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton trong lần thăm Việt Nam trước đây đã thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ hai nước, được ông gọi là “một trong những thành tựu lớn nhất đời tôi”. Ông Bill Clinton đã đọc câu Kiều “Sen tàn cúc lại nở hoa; Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân” và phát biểu rằng, hai nước không thể thay đổi được quá khứ, nhưng có thể thay đổi tương lai và nước Mỹ nhìn về Việt Nam như một đất nước chứ không phải như một cuộc chiến. Nước Mỹ luôn mong muốn tăng cường hợp tác với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực.

Tổng thống Mỹ Barack Obama trong lần thăm Việt Nam năm 2016 được sự đón tiếp của nhân dân Việt Nam thật nồng ấm, kính trọng và thân thiện, làm chúng ta liên tưởng đến câu chuyện ngày 19 tháng 5 trong lịch sử. Người Việt lúc ấy thực sự mong đợi Obama lời tuyên bố bỏ cấm vận buôn bán vũ khí với Việt Nam; hỗ trợ Việt Nam thực hiện thành công TPP; Biển Đông là vấn đề quốc tế, cân bằng lực lượng và giữ nguyên trạng. Obama đã về đích vinh quang bởi đáp ứng đúng ý nguyện hòa bình và phát triển biền vững của người Mỹ, người Việt và mọi người dân yêu chuộng độc lập, tự do, hòa bình trên thế giới.

Đạo luật Bảo vệ Bệnh nhân và Chăm sóc Sức khỏe Hợp túi tiền (tiếng Anh: Patient Protection and Affordable Care Act, viết tắt PPACA), thường được gọi là Đạo luật Chăm sóc Sức khỏe Hợp túi tiền (Affordable Care Act, ACA) hoặc Obamacare, là một đạo luật liên bang Hoa Kỳ đã được Tổng thống Barack Obama ký thành luật ngày ngày 23 tháng 3 năm 2010. Đạo luật này cùng với Đạo luật Hòa hợp Giáo dục và Chăm sóc Y tế đã thể hiện sự chỉnh sửa pháp luật đáng kể của Hoa Kỳ để nâng cao chất lượng cuộc sống người nghèo. Hẵn nhiên tăng phúc lợi xã hội là phải thắt hầu bao của hệ thống công quyền, đòi hỏi sự phục vụ phi lợi nhuận nhiều hơn và tăng sự xã hội hóa đóng góp của người giàu hơn. Tổng thống Mỹ Trump khi thay thế tổng thống Obama đã những muốn thay đổi đạo luật này nhưng chưa thể. Đọc trang văn đầy thao thức của cây bút vàng Kim Loan về bảo hiểm y tế Việt Nam cho người nghèo, tôi lặng người xúc động và liên tưởng tới Obama . Kim Loan phản biện thật tốt và hợp lòng người. Chúng ta hãy cùng đọc lại để hiểu hơn về bài toán chăm sóc sức khỏe của người da màu lao động nghèo nước Mỹ và những người nghèo khổ khác trong xã hội Mỹ cũng tương tự như Việt Nam và cá nuước, với đạo luật chính sách lớn của ông

(*) Kim Loan viết : “Xem thời sự VTV , thấy đưa thông tin về việc sẽ tăng giá viện phí cao gấp mấy lần hiện tại nếu như bệnh nhân ko có bảo hiểm y tế, bắt đầu từ đầu tháng 6/ 2017. Trong khi đó cả nước còn hơn 20 triệu người chưa mua bảo hiểm , họ thuộc thành phần lao động nghèo . Nghe cô phóng viên đưa tin với thái độ bình tĩnh, không bình luận mình lại thấy có vẻ chính sách BHYT của xứ ta vô tư quá. Người giàu có thì họ đem tiền tỷ ra nước ngoài chữa bệnh. Cán bộ cấp cao cũng được đưa ra nước ngoài chữa bệnh. Người trung lưu, người có rủng rỉnh tiền thì việc mua BHYT dễ ợt, công nhân, công chức viên chức thì đóng bhyt theo quy định nên cũng không lo. Còn 20 triệu người nghèo lo ăn từng ngày chưa đủ, lấy tiền đâu ra mua BHYT cho bản thân và cho cả gia đình. Đó là chưa kể hộ có con em đi học tới kỳ phải mua BHYT học đường cũng phải tiền vay bạc hỏi! Con đường nào chờ họ khi bệnh tật ập đến mà không có BHYT, trong người ko có vài chục ngàn đồng lận lưng? Lại nhớ có lần thấy một người đàn ông vô gia cư (homeless) ở Mỹ sống vất vưởng ở trước khu bán hàng của người Việt tại SJ với một chiếc xe đẩy hàng trong siêu thị, mà họ lấy làm tài sản của mình. Tất cả đồ dùng của họ nằm trong xe đẩy đó, tỏ ra mệt mỏi, người dân đã gọi 119 , một lát xe cảnh sát, xe cứu thương hụ còi tới và người homeless bước lên xe cấp cứu, nhân viên y tế còn đưa cả xe đẩy hàng của người đàn ông đó lên xe. Trông người rồi ngẫm đến ta. Chưa có chính sách quy định về bắt buộc phải có BHYT thì hàng ngày đã và đang có rất nhiều người nghèo đau bệnh không có tiền đành chờ chết. Nay thêm sự thắt chặt và tăng giá khám, điều trị lên gấp nhiều lần, 20 triệu người nghèo sẽ ra sao khi bệnh tật? Không dám nghĩ tiếp. Đau lòng lắm nếu phải bước vô Bệnh viện. Sự đói nghèo của người dân có khi không phải do họ mà do sự tham nhũng tham ô của bộ máy công quyền đã ăn hết phần của họ, quyền được sống tử tế của họ. Chị Nguyễn Thế Thanh ơi, chị chuyển giúp sự lo âu của em đến ĐBQH Nghĩa được không ạ?”

Một ý kiến khác: “Cũng là ” bất đắc dĩ” phải tăng bệnh viện phí vì ngân sách thiếu hụt ! Nhà nước không thể cáng đáng hết “. Trông người lại ngẫm đến ta. Obama chân dung một con người, đọc lại và suy ngẫm. Obama nhân cách và tầm nhìn đã làm lay động lương tâm của nước Mỹ và lưu dấu sâu sắc trong lòng tôi, Kim Loan ạ.

Obama một nhân cách lớn văn hóa.

(còn tiếp …)

Những bài liên quan
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/an-tuong-obama/
Cúi đầu một nét đẹp văn hóa

Người Mỹ di truyền và biến đổi

NGƯỜI MỸ DI TRUYỀN VÀ BIẾN ĐỔI

Hoàng Kim

Câu chuyện ảnh Nga Lê, Anh và Tim với cộng đồng người Mỹ gợi cho tôi ý tưởng viết về Người Mỹ di truyền và biến đổi. Giáo sư Nguyễn Hữu Minh và tiến sĩ Nguyễn Chiến Thắng là cựu sinh viên của Georgetown University thuộc Washington, United StatesChung Le đang ở đấy, mời trao đổi thêm về điều này. Tôi dịp may trước đây được học nguồn gốc cây ngô, sắn, khoai lang ở Mexico, Colombia và Peru. Sự khởi đầu ghi chép từ  Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng đến CIANO, Oregon theo dấu vết Con đường di sản Lewis và Clark, đi theo “Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe“ lần tới Minh triết Thomas Jefferson sau đó kết nối được với  Borlaug và Hemingway để tìm hiểu ngô sắn khoai nguồn gốc di truyền và sự biến đổi. Tôi ngẫu hứng lãng du sang vùng trời khác trầm tư Người Mỹ di truyền và biến đổi  Đối thoại giữa các nền văn hóa.

Câu chuyện kể này tôi ám ảnh hoài từ khi tiến sĩ Hannibal Multar, người Mỹ gốc Do Thái Jesusalem, chuyên gia CIMMYT mà tôi đã giới thiệu ở Đối thoại giữa các nền văn hóa. Ông dẫn tôi đi thăm thăm nguồn gốc cây ngô ở thung lũng Oaxaca ở Tây Nam Mexico  và cộng đồng người da đỏ ở Teotihuacan thành phố thời tiền Colombo, di sản thế giới 1987 tại Mexico, thăm kim tự tháp cổ Monte Alban trung tâm của nền văn minh Zapotec, di sản thế giới năm 1987 ở tiểu bang Oaxaca  phía nam Mexico. Chuyến đi tôi tóm tắt ở Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng, .


Cây ngô có tên khoa học là Zea mays L. do nhà thực vật học Thụy Điển Linnaeus đặt tên theo hệ thống tên kép Hy Lạp – La tinh: Zea là một từ của Hy Lạp để chỉ cây ngũ cốc và mays là từ “Maya”, tên một bộ tộc da đỏ ở vùng Trung Mỹ. Cây ngô có nguồn gốc ở Trung Mỹ, trồng nhiều nhất ở Châu Mỹ, nước trồng nhiều nhất là Hoa Kỳ, sản lượng ngô năm 2014 khoảng 353 triệu tấn/năm.

Cây ngô hiện đại đã là kết quả thuần dưỡng từ cỏ ngô Teosinte thung lũng sông Balsas, ở nam Mexico từ 5.500 tới 10.000 TCN. Dấu tích bắp ngô khảo cổ tìm thấy sớm nhất khoảng năm 4.250 TCN tại hang Guila Naquitz trong thung lũng Oaxaca ở tây nam Mexico. Oaxaca là một trong 31 tiểu bang của Mexico được bao bọc bởi các bang Guerrero về phía tây, Puebla về phía tây bắc, Veracruz về phía bắc, Chiapas về phía đông và đường bờ biểnThái Bình Dương ở phía nam.

Cây ngô tại Trung Mỹ sau đó được lan dần ra các khu vực xung quanh trở thành cây lương thực quan trọng nhất của châu Mỹ trước khi Cristop Colông tìm ra châu Mỹ. Đến cuối thế kỉ 15, cây ngô được người Tây Ban Nha đưa về trồng ở vùng Địa Trung Hải, Italia, Pháp… sau đó người Bồ Đào Nha đưa sang Trung Quốc, Nhật Bản…ở Châu Á và đến thế kỉ 16 mới đưa sang các nước châu Phi (José Antonio Serratos Hernández 2009). Ở Việt Nam cây ngô có nguồn gốc từ Trung Quốc. Đầu đời Khang Hi, năm 1685, Trần Thế Vinh đi sứ nhà Thanh lấy được giống ngô đem về nước  (Lê Quý Đôn “Vân Đài loại ngữ” ). Ngô được trồng ở hạt Sơn Tây, làm lương thực chính, sau đó lan rộng ra cả nước. Cây ngô từ nguồn gốc ban đầu ở Mexico nay vùng phân bố phổ biến khắp toàn cầu với  sản lượng đứng đầu cây lương thực cây thực phẩm và thức ăn gia súc. Tổng sản lượng ngô toàn cầu năm 2014 là 1.016,74 triệu tấn, kế tiếp là lúa nước 745,71 triệu tấn, lúa mì 713,18 triệu tấn. (Hoàng Kim chủ biên 2017).

Mexico là nôi cội nguồn của cây ngô. Người dân México cho đến nay mặc dẫu đã nhiều thay đổi nhưng bữa ăn truyền thống vẩn dùng ngô làm món ăn chính. Ngô được ăn chung với các loài rau đậu, ớt, cà chua, lúa mì. México là nơi ra đời có nhiều loại bánh ngô có nhân thịt hoặc trộn rau, bánh ngô phomat, bánh ngô cay, thực phẩm đồ uống phổ biến là sữa ngô và rượu tequila được chế từ lá cây Agave Azul Tequilana, một loài thực vật bản địa ở Mexico, có độ cồn từ 38–40%, cá biệt có loại có độ cồn lên tới 43–46%. Ngày nay việc sử dụng gạo cũng rất phổ biến tai México để làm lương thực, ngoài ra còn có thịt bò, thịt lợn, thịt gà, rượu nho, tỏi,  đu đủ, dứa, ớt cay, khoai lang, đậu, lạc, chocolate … thế nhưng món ăn ngô vẫn chủ đạo trong đời sống thường ngày.

Tôi thăm người da đỏ ở Mexico, khảo sát cây ngô nguồn gốc di truyển và sự tiến hóa, so sánh bữa ăn thường ngày của người dân nông thôn bản địa truyền thống với người dân Mexico ở các phố xá sầm uất. Tôi chợt lẩn thẫn và trầm tư ngẫm nghĩ về người Mỹ di truyền và tiến hóa. Điều lạ là chẳng phải tôi, người tự xác định trọn đời làm nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ quan tâm câu chuyện “Người da đỏ ở Mexico” mà Giáo sư Nguyễn Hữu Minh và tiến sĩ Nguyễn Chiến Thắng, em tôi, ngành xã hội học và kinh tế của khoa học nhân văn, nguyên là cựu sinh viên của Georgetown University thuộc Washington, United States, Nga Lê,  Anh và Tim, cả nhà ai cũng rất quan tâm “Người da đỏ ở Seattle“. Người Mỹ trở thành đề tài nóng tiếp cận đa ngành trong sự tìm hiểu.


Tôi liên tưởng câu chuyện
Thăm ngôi nhà cũ của Darwin, ngắm nhìn đôi mắt nhà tự nhiên học người Anh Charles Darwin soi thấu nguồn gốc muôn loài, và  thật ngưỡng mộ sức khái quát của ông trong sự đúc kết “Nguồn gốc các loài” .
Triết lý của Charles Darwin thật sâu sắc. “Mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên.  Đến thăm người da đỏ ở Mexico ở Oregon miền Tây nước Mỹ và thăm cây ngô nguồn gốc phát sinh và đa dạng di truyền ở Mexico. Tôi vụt nhớ về học thuyết tiến hóa và liên tưởng tới sự tương quan  giữa cây Ngô di truyền và biến đổi với người Mỹ di truyền và biến đổi. Ý tưởng này thật lạ cứ đeo bám tôi suốt bao năm?


(*) Charles Robert Darwin  (12 tháng 2, 18099 tháng 4, 1882) là một nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực tự nhiên học người Anh. Tại ngôi nhà cũ bình dị Down House ở Anh, Darwin đã làm việc về thuyết tiến hóa bởi chọn lọc tự nhiên và nhiều thí nghiệm khác. Ông đã phát hiện và chứng minh rằng mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên.“Nguồn gốc các loài” của Charles Darwin, xuất bản lần đầu tiên ngày 24 tháng 11, năm 1859 là ấn phẩm khoa học tiêu biểu và là tác phẩm nòng cốt của ngành sinh học tiến hóa.

Tôi may mắn cũng có được cơ hội đến Thăm ngôi nhà cũ của Darwin”, du học ở “Viện Di truyền Mendel Tiệp Khắc”, thăm Praha Goethe và lâu đài cổ , Tiệp Khắc kỷ niệm một thờiDạo chơi cùng Goethe, Di sản Walter Scott, Nghị lực, Học để làm ở Ấn Độ, có thời gian làm việc với Những người bạn Nga của Viện Vavilop, được đến Brazil và nhiều nước Nam Mỹ thấu hiểu tài liệu quý 500 năm nông nghiệp Brazil,  may mắn tiếp cận trang vàng của những người thầy lớn có tầm nhìn rộng và sức khái quát cao. Tôi may mắn cũng đã được trãi nghiệm một phần trong  90 năm Viện KHKTNN miền Nam; 60 năm Đại học Nông Lâm TP. HCM  và duyên may đã được học tận gốc, nhiều trăn trở may kịp chụp ảnh lại, nay lúc rỗi rãi có khối trò chơi, chỉ tiếc vẫn chưa lý giải được một cách hệ thống.

Người Mỹ ở nước Mỹ có lẽ được nghiên cứu về dân tộc học kỹ hơn hết so với nhiều nước trên thế giới. Dân số nước Mỹ năm 2016 ước khoảng 323,14 triệu người. Hoa Kỳ là một quốc gia đa-chủng tộc, nơi sinh sống của nhiều người có nhiều nguồn gốc quốc gia và chủng tộc khác nhau.

Hoa Kỳ là một quốc gia đa sắc tộc và chủng tộc. Vì vậy, Hoa Kỳ là một quốc gia đa văn hóa, nơi có rất nhiều truyền thống và giá trị đa dạng khác nhau. Nền văn hóa phương Tây khởi đầu từ của những người định cư Hà Lan, Anh, Đức  Ái Nhĩ Lan, Ý, Ba Lan Pháp, Scotland hòa trộn với dòng văn hóa bản địa sắc tộc Mỹ thành dòng chính chủ đạo.

Nền văn hóa đặc sắc Mỹ gốc châu Phi, phát triển trên truyền thống của những người nô lệ Trung Phi hòa trộn với văn hóa bản địa sắc tộc Mỹ ũng có ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn hóa dòng chính của Mỹ. Sự bành trướng lãnh thổ của Hoa Kỳ về  miền Tây đã hội nhập vùng Louisiana và vùng Tây Nam Spenish Territory ngôn ngữ Tây Ban Nha và văn hóa Mexico đến gần hơn với Hoa Kỳ. Làn sóng di dân ồ ạt từ Đông Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latin tới nước Mỹ suốt những thập kỷ qua đã hòa trộn lan tỏa nấu chảy các nền văn hóa để có dòng chủ lưu và các đặc điểm văn hóa riêng biệt của tổ tiên mình. Người Mỹ còn có hơn 4 triệu người sống ở ngoại quốc, chủ yếu ở Canada, Mexico và châu Mỹ Latinh.

So sánh các nhóm sắc tộc và chủng tộc của người Mỹ và người Mexico cho thấy: Tại México người lai giữa người da trắng và người da đỏ ước 60-75%, người da đỏ bản địa chiếm tỉ lệ 12 – 30% dân số;  người da trắng đến từ Tây Ban Nha, Mỹ, Canada, Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Đức,  Ba Lan,  Nga,… chiếm tỉ lệ 9 – 25 %; người da vàng đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippines, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ … và người da đen đến từ châu Phi chiếm tỷ lệ ít hơn. Tại Mỹ những số liệu chi tiết tôi chưa có cơ hội khảo sát sâu hơn nhưng sự sử dụng ngôn ngữ của người Mỹ đã cho thấy:

Các ngôn ngữ (2007)[43]
Tiếng Anh (1 ngôn ngữ) 225,5 triệu
Tiếng Tây Ban Nha bao gồm tiếng Creole 34,5 triệu
Tiếng Hoa 2,5 triệu
Tiếng Pháp bao gồm tiếng Creole 2,0 triệu
Tiếng Tagalog 1,5 triệu
Tiếng Việt 1,2 triệu
Tiếng Đức 1,1 triệu
Tiếng Triều Tiên 1,1 triệu

Người Mỹ di truyền và biến đổi, con đường di sản còn nhiều điều cần học và bàn luận.

Hoàng Kim

Còn tiếp …

Borlaug và Hemingway

BORLAUG VÀ HEMINGWAY

Hoàng Kim.

nghiên cứu “Đối thoại giữa các nền văn hóa’ tôi theo “Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe“ tới Minh triết Thomas Jefferson sau đó tiếp nối với Norman Borlaug và Ernest Hemingway, để rồi trở lại sâu hơn trong bài  Người Mỹ di truyền và biến đổi. Mời bạn đọc Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương  https://hoangkimlong.wordpress.com/category/di-khap-que-nguoi-de-hieu-dat-que-huong/

Năm 1988, tôi đến CIANO thăm nơi làm việc của nhà khoa học xanh Norman Borlaug nhà nhân đạo người Mỹ đã ‘cứu sống nhiều người hơn bất cứ ai khác trong lịch sử’ và thăm nơi lưu dấu di sản Ernest Hemingway, tác giả của kiệt tác Ông già và biển cả là bài học tự do sáng tạo sống giữa thiên nhiên. Tôi mang theo suốt đời ấn tượng sâu sắc với Norman Borlaug và thích văn phong truyện ngắn Hemingway. Tôi chỉ mới chép đôi điều về họ trên Wikipedia Tiếng Việt, nay lưu lại điểm nhấn này để thỉnh thoảng quay lại chiêm nghiệm sâu hơn về di sản của hai con người kỳ dị, người thầy và bạn lớn này.
còn tiếp…

Xem thêm

Con đường di sản Lewis và Clark
Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng
Đối thoại giữa các nền văn hóa
Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe
Minh triết Thomas Jefferson

Minh triết Thomas Jefferson


MINH TRIẾT THOMAS JEFFERSON

Hoàng Kim.

Minh triết Thomas Jefferson là phần năm bài nghiên cứu về khoa học nông nghiệp, giáo dục lịch sử văn hóa “Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương” của Hoàng Kim. Sự nối tiếp phần một “Con đường di sản Lewis và Clark“; phần hai “Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng”, phần ba “Đối thoại giữa các nền văn hóa’, phần bốn “Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe“. Mời đọc  https://hoangkimlong.wordpress.com/category/di-khap-que-nguoi-de-hieu-dat-que-huong/

Thomas Jefferson là vị tổng thống thứ ba của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, ông là người sáng lập ra Đảng Dân chủ – Cộng hòa Hoa Kỳ, và là một nhà triết học chính trị có ảnh hưởng lớn, một trong những người theo chủ nghĩa tự do nhiệt thành lớn nhất thời cận đại, nhà tư tưởng và lập pháp hàng đầu của nước Mỹ. Di sản lớn nhất gửi lại cho hậu thế của Thomas Jefferson là một nhà minh triết, tác giả của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ, của Đạo Luật Virginia về Tự Do Tôn Giáo và Người Cha của Đại Học Virginia’. Di sản này ảnh hưởng to lớn đến nước Mỹ và toàn cầu, đủ đọng mật cho một thế giới biến chuyển.

Thomas Jefferson trên mộ chí của mình, ông yêu cầu viết nguyên văn câu:

HERE WAS BURIED THOMAS JEFFERSON
AUTHOR OF THE DECLARATION OF AMERICAN INDEPENDENCE
OF THE STATUTE OF VIRGINIA FOR RELIGIOUS FREEDOM
AND FATHER OF THE UNIVERSITY OF VIRGINIA.
Tạm dịch là “Nơi đây an nghỉ Thomas Jefferson, tác giả của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ, của Đạo Luật Virginia về Tự Do Tôn Giáo và là Người Cha của Đại Học Virginia”.

Sức lan tỏa của minh triết Thomas Jefferson thật rộng lớn. Bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo, và đọc trước công chúng tại vườn hoa Ba Đình (nay là quảng trường Ba Đình) ngày 2 tháng 9 năm 1945 trong câu đầu tiên đã có trích dẫn Bản tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ: “Hỡi đồng bào cả nước, ‘Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc’.   Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do“. Ngày 3/9/1945, tức chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ trong thời kỳ mới cần phải thực hiện ngay là “… Thứ ba, phải có một hiến pháp dân chủ. Người đề nghị Chính phủ “tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống… Thứ sáu, đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: tín ngưỡng tự do và Lương – Giáo đoàn kết …” Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 đã được tổ chức thành công, một cuộc bầu cử thật sự tự do, thật sự dân chủ, là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam. Chính sách lớn tín ngưỡng tự do và Lương – Giáo đoàn kết thật sự là nguồn sáng của đại đoàn kết dân tộc. Sinh thời minh triết Hồ Chí Minh rất ít trích dẫn. Bác nói: “Mác, Ang ghen, Lê Nin nói rất đúng. Nhưng hoàn cảnh Mác, Ang ghen, Lê Nin hoàn toàn khác hoàn cảnh của chúng ta. Vậy nên muốn nói gì, trước hết phải hiểu cho thật rõ điều mà các vị ấy muốn nói, nói cho phù hợp với hoàn cảnh của mình, cho dân mình dễ hiểu.”. (Hà Đăng 2002. Trường Chinh, người anh cả trong làng báo. Trong sách: Trường Chinh, một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 320).

Đối thoại giữa các nền văn hóa chính là sự chỉ ra được những học tập tương đồng và giao thoa văn  hóa.

Minh triết Thomas Jefferson là một chỉ dấu đặc biệt quan trọng.

THOMAS JEFFERSON CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP 

Thomas Jefferson sinh ngày 13 tháng 4 năm 1743 tại Shadwell, Quận Goochland, Virginia, nay thuộc Quận Albemarle. Cha của Thomas Jefferson là Peter Jefferson, một kỹ sư đo đất và làm chủ một đồn điền nông nghiệp có gốc tổ tiên miền Wales nước Anh. Mẹ của ông là bà Jane Randolph, con gái của ông Isham Randolph, một thuyền trưởng có trang trại riêng và thỉnh thoảng cũng có làm ruộng. Cha và mẹ ông kết hôn năm 1739. Thomas là con là con trai lớn thứ ba trong gia đình gồm 4 trai 6 gái mà các anh chị lớn phần nhiều đã mất lúc nhỏ nên khi ông Peter qua đời lúc Thomas Jefferson 14 tuổi đã là trưởng nam quản lý gia sản thừa kế 2.000 ha đất đồn điền với 20-40 nô lệ do người giúp việc quản gia John Harvie trông nom.

Thomas Jefferson bắt đầu đi học lúc 5 tuổi và đã trải qua 7 năm trong số 9 năm đầu tiên tại nông trại gia đình bên bờ sông James, gần Richmond, tiểu bang Virginia. Năm Thomas lên 9 tuổi, gia đình ông dọn về Shadwell và Thomas vào học nội trú tập đọc  tập viết tại trường làng và cũng được cha dạy kèm thêm. Ông Peter đã dạy con câu cá, săn gà rừng, học cưỡi ngựa, săn hươu nai và học kéo đàn vĩ cầm. Thomas học nội trú dưới sự quản lý của William Douglas, một tu sĩ gốc Scotland là người dạy giỏi, nấu ăn ngon, trừ văn học cổ điển. Thomas ngoài các môn học thông thường còn được học tiếng La Tinh, tiếng Hy Lạp, tiếng Pháp. Sau khi cha mất, Thomas về trường gần Gordonsville học với James Maury, một tu sĩ theo Anh giáo và cũng là một học giả.  Ông được huấn luyện về lòng nhân đạo và  niềm tin vào Thượng đế nhưng ông không hoàn toàn tin tưởng vào một tổ chức tôn giáo nào.

Thomas Jefferson học Đại học William & Mary (1760–1762) ở Williamsburg là thủ phủ của Virginia lúc ấy có dân số thời đó chỉ khoảng 1,000 người. Ông học  toán học, văn chương, triết học với tiến sĩ William Small một học giả gốc Scotland và àm quen với xã hội thành thị trong hai năm trường này. Năm 1762, ông học luật với George Wythe, một luật gia uyên thâm nhất của địa phương là người đã ảnh hưởng lớn tới Jefferson và chính vị luật sư này cũng là người sau này có trong các vị ký tên vào Bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ. Thomas Jefferson được hai ông Small và Wythe giới thiệu với Thống đốc Francis Fauquier. Bốn người này thường bàn luận thời cuộc và nghe nhạc thính phòng tại tư dinh Thống đốc. Thomas Jefferson nhờ vậy gặp được Patrick Henry. Thuở đó sau cuộc chiến tranh Bảy Năm (1756-63) Pháp và người Da đỏ, người Pháp đã bị người Anh thay thế và thế lực Anh đã lấn át tại phía tây bán cầu và trên biển, thụ hưởng được sự phát triển thương mại trên rất nhiều lãnh thổ. Năm 1760, vua George III nước Anh  lên ngôi bất lực trước các bất ổn ở thuộc địa Bắc Mỹ làm cho số nợ nần của nước Anh tăng lên do việc quản trị kém các vùng đất mới. Quốc hội Anh đã thông qua đạo luật tem thuế để gia tăng lợi tức cho nước Anh vào tháng 3 năm 1765. Patrick Henry đã dùng lời hùng biện đả kích sự bất công này. Năm 1767, Thomas Jefferson được nhận vào luật sư đoàn và bắt đầu hành nghề luật sư một cách khá thành công. Ông vẽ kiểu và trông coi xây dựng tòa nhà Monticello trên một ngọn đồi gần Shadwell và Williamsburg.

Năm 1772 Thomas Jefferson cưới Martha Wayles Skelton, một góa phụ 23 tuổi, con gái ông John Wayles là một luật sư danh tiếng sống gần Williamsburg.  Ông Thomas đã chiếm được cảm tình của bà Martha nhờ nhân cách và tài nghệ vĩ cầm của ông đã hòa đàn dương cầm của bà Martha làm cho một nhân vật khác cũng theo đuổi bà nhưng đành phải bỏ cuộc. Gia đình Jefferson về an cư tại Monticello, là tòa nhà lớn do chính Jepferson vẽ kiểu và đang xây chưa xong. Bà Martha Jefferson về chung sống với ông Thomas Jefferson 10 năm. Họ có với nhau sáu con gồm năm gái một trai, nhưng chỉ có hai con gái là Martha và Mary sống cho đến tuổi trưởng thành. Bà Martha Jefferson qua đời năm 1782. Ông Thomas ở vậy chăm nuôi hai con gái sau khi vợ mất mà không lập gia đình nữa.

Thomas Jefferson đã là một trong những nhân vật dẫn đầu tại Quốc hội Lục địa. Sau Chiến tranh Cách mạng Mỹ là cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ chống lại đế quốc Anh diễn ra từ 1775 đến năm 1783, khởi đầu chỉ là cuộc giao tranh nhỏ giữa quân đội Anh và nhân dân thuộc địa có vũ trang ngày 19 tháng 4 năm 1775. Kết quả là thắng lợi của nghĩa quân, buộc Anh phải ký Hiệp định Paris 1783 rút quân khỏi Bắc Mỹ và 13 thuộc địa được độc lập. Vào mùa xuân năm 1776, ý kiến của các đại biểu Quốc hội Lục Địa Mỹ càng nghiêng về nền Độc Lập cho các xứ thuộc địa Bắc Mỹ. Ngày 7 tháng 6 năm đó, Richard Henry Lee thuộc xứ Virginia đã đưa ra một bản nghị quyết nổi danh, đó là “Các thuộc địa liên hiệp này phải có quyền và phải là các xứ tự do, độc lập”. Quốc hội Lục địa Mỹ chỉ định một ủy ban gồm 5 nghị sĩ Thomas Jefferson, John Adams, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston để soạn thảo Bản Tuyên ngôn Độc Lập Mỹ. Ủy ban này hoạt động từ ngày 11 tháng 6 năm 1776. Ủy ban đồng ý cử Jefferson là người viết ra bản thảo và đã đồng ý với rất ít thay đổi. Ngày 2 tháng 7, Quốc hội Lục địa bắt đầu tranh luận “bản tuyên bố các nguyên do và sự cần thiết phải cầm lấy vũ khí”. Quốc hội đã thấy rằng bản thảo này “quá mạnh” nên đã nhờ một nhân vật ôn hòa hơn là ông John Dickinson viết ra một bản thay thế nhưng văn bản mới gồm phần lớn các quan điểm được đưa ra bởi Thomas Jefferson. Bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ được chấp thuận vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, cho đến ngày 5 Tháng 7 năm 1776, tuyên ngôn được xuất bản.


Bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ là tác phẩm nổi tiếng nhất của Thomas Jefferson. Bản văn này là một kiệt tác mô tả tinh thần độc lập tự do của người Mỹ vừa bình dị, chuẩn mực, vừa mạnh mẽ cương quyết, đạt tính pháp lý cao, khiến cho mọi người cùng đồng ý. Bản văn biện hộ cho thế đứng của cuộc Cách mạng Hoa Kỳ, xác nhận niềm tin vào  quyền tự nhiên của con người, thức tỉnh lương tri nhân loại cứu xét quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Tháng 9 năm 1776, Thomas Jefferson rời khỏi Quốc hội Lục Địa và sau đó, lại phục vụ tại Viện Dân Biểu Virginia (the Virginia House of Delegates). Ông Jefferson tự nhận không có khả năng phục vụ Quân đội trong cuộc Chiến tranh Cách mạng, nhưng lại có thể trở thành một nhà làm luật hữu ích. Ông Jefferson chỉ sau năm ngày làm việc trong ngành lập pháp, đã bắt đầu một chương trình cải cách rộng lớn, đầu tiên liên quan tới việc phân phối đất đai.Tại Virginia, một số người giàu đã kiểm soát các vùng đất rộng lớn và chiếm giữ nô lệ để canh tác trên vùng đất rộng lớn này  khiến cho việc phân phối đất đai không công bằng. Chính quyền thuộc địa địa phương lại hạn chế quyền bầu cử của người dân và bót nghẹt các cơ hội giáo dục cho con em những người nghèo và những người không có đặc quyền đặc lợi. Ông Thomas Jefferson khi được bầu vào Hội đồng lập pháp của địa phương đã lập tức trong hai năm, xây dựng được một bộ luật nhằm đặt nền móng cho một chính phủ của nhân dân, hình thành nên “giai cấp quý tộc của đức hạnh và tài năng” thay thế cho “giai cấp quý tộc tài sản kếch sù nhưng thiếu phẩm hạnh” . Đó là các đạo luật được đông đảo người dân ủng hộ của ông Thomas Jefferson: Đạo luật tiêu hủy luật giới hạn về thừa kế (“Bill for Abolition of Entails”), Đạo luật tiêu hủy quyền thừa kế của con trưởng (“The Bill Abolishing and Primogeniture”), Đạo luật tự do tôn giáo (“The statute for religious freedom”). Nhờ những đạo luật này đã bảo đảm sự tự do trí tuệ và phân cách “nhà thờ” và “quốc gia”, hủy bỏ các đặc quyền của “nhà thờ Anh Giáo”, giới tu sĩ không còn được hưởng lương bổng của chính quyền và người dân Virginia không còn phải đóng thuế để yểm trợ nhà thờ nữa.

Ông Thomas Jefferson đã được Quốc hội xứ Virginia  bầu làm Thống đốc tiểu bang hai lần, mỗi nhiệm kỳ 1 năm trong 2 năm 1779 và 1780. Xứ Virginia thời gian đó đã phải chịu đựng nhiều hậu quả nặng nề của cuộc Chiến tranh cách mạng. Theo lời yêu cầu của George Washington, Jefferson đã lấy bớt các tài nguyên và nhân lực bảo vệ xứ Virginia để dùng trợ giúp Quân đội Cách mạng. Năm 1781, quân Anh đánh chiếm xứ Virginia và chính Jefferson cũng suýt bị bắt vào ngày 4 tháng 6 năm đó, khi các đội quân của tướng Banastre Tarleton đánh phá miền Monticello. Ngày 2 tháng 6, nhiệm kỳ thống đốc của ông Jefferson chấm dứt và ông bị chỉ trích năng nề là đã không thể chống cự được quân đội Anh và sự việc này đã làm tổn thương danh dự của ông Jefferson trong nhiều năm, dù cho một cuộc điều tra về sau đã xóa đi sự kết tội này. Sau đó, Thomas Nelson Jr, là vị sĩ quan đứng đầu đoàn Dân quân của xứ Virginia đã được đưa lên thay thế Jefferson làm Thống đốc. Sau khi quay về Monticello, ông bắt đầu viết tác phẩm: “Ghi chép về Tiểu Bang Virginia” (Notes on the State of Virginia, 1784-85). Đây là cuốn sách chứa đựng rất nhiều dữ kiện của xứ Virginia và nhiều niềm tin và lý tưởng của ông Jefferson.

Ông Thomas Jefferson năm 1783 đã trở lại tham gia Quốc hội một lần nữa, ông đứng đầu ủy ban được cử ra để xem xét hiệp ước hòa bình với Anh. Tháng 5 năm 1784, Quốc hội Hoa Kỳ cử ông Thomas Jefferson làm đại diện cho chính phủ Mỹ non trẻ qua nước Pháp để tham gia cùng John Adams và Benjamin Franklin thương lượng các hiệp ước thương mại ở Pháp và ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này. Năm 1785, do ông Franklin từ chức Công sứ tại Pháp, ông Jefferson lên kế tiếp chức vụ. Có người đã hỏi ông Jefferson: “Có phải Ngài đã thay thế ông Franklin không?”, thì ông Jefferson đã trả lời: “Thưa không, tôi kế tiếp ông ấy vì không có ai có thể thay thế ông Franklin”. Ông Thomas Jefferson đã lưu lại châu Âu cho tới mùa thu năm 1789 và đã cho thi hành các phương pháp ngoại giao trong hòa bình theo sát các đường hướng của Benjamin Franklin.

Ông Thomas Jefferson khi qua nước Pháp đã mang theo người con gái là Martha và tới năm 1787, người con gái Mary cũng sang theo. Lúc ông ở Pháp thì hai con ông đã theo học tại Paris. Ông Thomas Jefferson quan tâm nhiều về Canh nông và Kiến trúc, ông đã đi nhiều nước châu Ấu và đã quan tâm cách trồng lúa của người dân Ý và đã đưa lén hạt lúa giống về Hoa Kỳ để trồng tại hai xứ South CarolinaGruzia. Ông cũng báo cáo về Quốc hội Hoa Kỳ sự phát minh ra máy dập có thể sản xuất hàng loạt các bộ phận cơ khí. Về kiến trúc, ông Jefferson đã nghiên cứu, tìm hiểu nhiều dinh thự trong đó có Tòa Nhà Maison Carrée tại Nimes, để sau này ông vẽ nên Điện Capitol Mới tại Richmond, Virginia. Ông Jefferson đã về lại nước Mỹ vào tháng 10 năm  1789. Ông làm ngoại trưởng Mỹ trong nội các của Tổng thống George Washington, ông đã công bố tư tưởng dân chủ mà dựa vào đó Đảng Dân chủ Hoa Kỳ được xây dựng, điều này đã đưa đến việc Jefferson đắc cử Tổng thống Mỹ năm 1800.

Thomas Jefferson đã làm được thật nhiều việc trong cương vị Tổng thống. Con đường di sản Lewis và Clark  là một trong những thí dụ nhỏ về trí tuệ tầm nhìn của Thomas Jefferson. Ông rời khỏi chức vụ Tổng thống vào năm 1809, sau hai nhiệm kì, khi 65 tuổi và cảm thấy tự do khi dùng thời giờ cho các bạn bè, sách vở, thư từ, đất đai và để vun trồng “các sự theo đuổi trầm lặng của Khoa học”. Ông đã viết: “Không một người tù nào cảm thấy nhẹ nhàng hơn tôi khi tôi trút được gánh nặng quyền lực“. Ông đã trải qua 15 năm cuối của cuộc đời, góp công vào việc thành lập Đại học Virginia (UVA) tại thành phố Charlottesville, khai trương vào năm 1825. Ông xem việc thiết lập trường Đại học Virginia là một trong ba công trình quan trọng và đắc ý nhất của đời mình.

Thomas Jefferson mất ngày 4 tháng 7 năm 1826 ở Monticello, gần Charlottesville, tại căn nhà tự ông xây cất, cùng một ngày với John Adams, là Phó tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ (1789–1797) và là Tổng thống thứ 2 của Hoa Kỳ (1797–1801) hưởng thọ 83 tuổi. Trên mộ bia được ông chọn từ trước, có mang dòng chữ: “Đây là nơi an nghỉ cuối cùng của Thomas Jefferson, tác giả của bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, của Đạo luật Virginia về tự do tín ngưỡng, và là cha đẻ của trường Đại học Virginia”. Lời hấp hối của John Adams là “Độc lập muôn năm”, và “Thomas Jefferson vẫn sống”.

THOMAS JEFFERSON DI SẢN VÀ NGUỒN SÁNG

Thomas Jefferson đã đóng góp rất lớn lao vào các nguyên tắc của nền Dân Chủ Hoa Kỳ. Ông vùng với Tổng thống George Washington, là một trong các nhân vật lịch sử vĩ đại nhất của người Mỹ , nước Mỹ và cuộc Cách mạng Bắc Mỹ. Danh tiếng của ông đã truyền cảm hứng khắp nước Mỹ và Thế giới. Ông Jefferson đã ủng hộ các Quyền của Con người, các tự do ngôn luận, tôn giáo và báo chí và cũng vì tôn trọng nền tự do sau này mà ông đã phải chịu đựng nhiều vụ nói xấu của các tờ báo vô trách nhiệm.

Ông Thomas Jefferson còn là một nhà canh nông. Ông đã phát minh ra một thứ máy cày được nông dân Mỹ dùng trong nhiều năm. Ông đã đưa loại máy đập lúa từ châu Âu vào Hoa Kỳ và khuyến khích Robert Mills trong việc phát triển loại máy gặt. Ông cũng là một trong những người chủ trương phương pháp luân canh. Ông Thomas Jefferson là một nhà khoa học, ông khuyến khích việc phát minh ra “thì kế”, không những được dùng trong các cuộc chạy đua mà còn trong các công cuộc khảo sát thiên văn. Ông cũng là người đặt niềm tin vào loại tàu ngầm và về y tế, là một trong các nhân vật quan trọng chấp nhận chủng ngừa đậu mùa. Các con cháu của ông cũng đồng lòng chủng ngừa như ông.

Ông Thomas Jefferson xuất sắc về kiến trúc. Ông đã vẽ kiểu cho Tòa nhà Monticello gồm 35 phòng của ông,  là một trong các dinh thự lịch sử đẹp nhất của Hoa Kỳ. Ông cũng đã vẽ kiểu Điện Capitol của Thủ phủ Richmond và các tòa nhà ban đầu của Đại Học Virginia. Ông Thomas Jefferson đã nghĩ ra các loại ghế xếp, ghế đu đưa, cùng cải tiến nhiều vật dụng khác cho tiện nghi con người. Ông thường được gọi là “Người cha của Văn phòng bằng sáng chế” bởi vì đạo luật đầu tiên về phát minh, sáng chế đã được ông giám sát.

THOMAS JEFFERSON SỰ ĐỐI THOẠI VĂN HÓA

(còn tiếp…)

Hồ Chí Minh ẩn số Việt Nam


Hồ Chí Minh – Ẩn số Việt Nam  là bộ phim nghiên cứu lịch sử có giá trị. 19 tháng 5 là ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minhcũng là ngày thành lập Việt Minh, khai sinh đường Hồ Chí Minh trong lịch sử. Chuỗi ba sự kiện lớn này đóng mốc son ngày 19 tháng 5 vào lịch sử Việt Nam và thế giới đối với nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sự nghiệp thống nhất Tổ quốc Việt Nam.


Hồ Chí Minh ẩn số Việt Nam là một phim tiểu sử, bộ phim tập trung kể lại cuộc đời của Hồ Chủ tịch, từ khi còn là cậu bé Nguyễn Sinh Cung, đến những ngày bôn ba ở nước ngoài tìm đường cứu nước, rồi trở về lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.Những người làm phim cố gắng tìm hiểu về con người Hồ Chí Minh, vốn vẫn là “ẩn số” đối với họ, dựa trên nghiên cứu của các học giả quen thuộc như Douglas Pike, William Duiker.
“Đó là lãnh tụ của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thành công nhất mà chúng ta thấy trong thế kỉ này”.

Xem tiếp
Minh triết Hồ Chí Minh
Bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dương

BacHooVietBac

Bác Hồ rất quý trọng tình cảm gia đình. Ở Việt Bắc Bác Hồ thường đến thăm các gia đình người dân tộc. “Xa nhà chốc mấy mươi niên. Đêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con”.“Quê ta ngọt mía Nam Đàn Bùi khoai chợ Rộ, thơm cam Xã Đoài Ai về ai nhớ chăng ai Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh”. “Chốc đà mấy chục năm trời. Còn non, còn nước, còn người hôm nay”.  Sự thật các ẩn ngữ dần được giải mã. Hồ Chí Minh – Ẩn số Việt Nam.


Nguyễn Du và đền cổ Trung Liệt


NGUYỄN DU VÀ ĐỀN CỔ TRUNG LIỆT

Hoàng Kim

Đền cổ Trung Liệt Hà Nội ở số cũ 124 Thụy Khuê nay không rõ còn ở đó hay đã di dời về đâu? Ngôi đền cổ này có liên quan đến Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương.Tôi đã viết bài khảo cứu Nguyễn Du đêm thiêng đọc lạiNguyễn Du với Hồ Xuân Hương sau chuyện lạ đêm mồng 4 tháng 7 năm 2012. Hôm nay việc chưa thể giải mã bất chợt nối mạch với câu chuyện “âm mưu đào phá mộ tổ của thần đồng thơ Trần Đăng Khoa và cái chết rùng rợn của những kẻ phá mộ” của nhà báo Hoàng Anh Sướng đăng trên Văn Hiến Việt Nam.

Đền Trung Liệt Hà Nội có liên quan tới gia tộc của nhà thơ Trần Đăng Khoa: “Cụ tổ sáu đời là Trần Khuê. Cụ đã cùng anh ruột là Phương Trì Hầu Trần Lương, Sùng Lĩnh Hầu Trần Thai cùng em con chú ruột là Côn Lĩnh Bá Trần Đĩnh, Thủ lệnh trấn Hải Dương và Tổng trấn Kinh Bắc Trần Quang Châu, hộ giá vua Lê Chiêu Thống khi vị vua này bôn ba ở các tỉnh phía Bắc, chưa sang cầu cứu nhà Thanh. Đến năm Tự Đức thứ 14 nhà Nguyễn (1862), các vị trên được thờ ở đền Trung Liệt, Hà Nội, cùng với ba con của Trần Đĩnh là Trần Dần, Trần Hạc và Vũ Trọng Dật (con rể)…

Nguyễn Du quan hệ gì đến đền cổ Trung Liệt ? ngôi đền này nay ở đâu, di dời về đâu? Mời bạn đọc kỹ ba bài viết trên với những điểm nhấn bàn luận thông tin mới.

Tóm tắt Nguyễn Du và đền cổ Trung Liệt.

Thầy Nguyễn Lân Dũng trong bài viết “Một khám phá độc đáo về Truyện Kiều”  ủng hộ quan điểm của  GS. NGND Ngô Quốc Quýnh (Đại học Quốc gia Hà Nội) qua tác phẩm “Thử tìm hiểu tâm sự Nguyễn Du qua Truyện Kiều” cho rằng: Nguyễn Du gửi gắm tâm sự của mình qua Truyện Kiều mà nàng Kiều là Nguyễn Du và Từ Hải chính là Nguyễn Huệ, Kim Trọng chính là Lê Chiêu Thống. Truyện Kiều viết về nàng Kiều nhưng thực chất gửi gắm tâm sự  của kẻ sĩ tinh hoa trong thời thế nhiễu loạn.

Tôi (Hoàng Kim) thoạt tiên đồng tình với quan điểm này nhưng qua ba chất vấn của cụ già Linh Nhạc Phật Ý trong câu chuyện Nguyễn Du đêm thiêng đọc lại chợt thấy đúng là có ba điều không ổn cần nghiên cứu tiếp : Một là Nguyễn Du nếu chính là nàng Kiều, Từ Hải chính là Nguyễn Huệ và Kim Trọng chính là Lê Chiêu Thống  thì tại sao Nguyễn Du lại chống Nguyễn Huệ, và Nguyễn Du chịu ra làm quan cho Nguyễn Ánh mà trước đó  kiên quyết không chịu ra làm quan cho nhà Tây Sơn như anh trai là Nguyễn Nể và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn, thậm chí còn lại chống nhà Tây Sơn để đến nổi bị Thận Quận Công bắt và Nguyễn Du bị quản thúc nhiều tháng ở Nghệ An? Hai là Nguyễn Du là người thế nào mà dám mắng Minh Thành Tổ một vị vua danh tiếng lừng lẫy thời nhà Minh ở Trung Quốc tại bài ‘Kỳ Lân mộ’ và ngầm ý chê Nguyễn Huệ là em tiếm quyền anh, chú giết cháu rể và giành ngôi của cháu con anh ruột, để nhà Tây Sơn đổ vỡ từ bên trong? Ba là  Nguyễn Công Trứ chống đối hay ủng hộ Nguyễn Du khi trong bài “Vịnh Thúy Kiều” Nguyễn Công Trứ đã viết: “Từ Mã Giám Sinh cho đến chàng Từ Hải. Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu. Bấy giờ Kiều còn hiếu vào đâu. Mà bướm chán ong chường cho đến thế. Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa. Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm. Bán mình trong bấy nhiêu năm. Đố đem chữ hiếu mà làm được ai“.

Kết quả sau 5 năm tìm tòi, tôi có ba phát hiện mới: Một là Nguyễn Du không chỉ là nhà thơ lớn và danh nhân văn hóa thế giới mà còn là một danh sĩ tinh hoa, hiền tài lỗi lạc của Việt Nam. Nguyễn Du đã vượt lên vinh nhục bản thân giữa thời nhiễu loạn, vàng lầm trong cát để trao lại ngọc cho đời. Nguồn sử liệu và phân tích chi tiết qua các bài Nguyễn Du đêm thiêng đọc lại; Nguyễn Du 250 năm nhìn lạiNguyễn Du cuộc đời và thời thếHai là Nguyễn Du trong tác phẩm Truyện Kiều có hình tượng các nguyên mẫu Nguyễn Du là Từ Hải và Hồ Xuân Hương là Thúy Kiều. Nguyễn Du thương Hồ Xuân Hương đọa đày tủi nhục không được chung sống với người minh yêu “Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung” phải trãi qua ba đời chồng, cam chịu lẽ mọn, chỉ tỏa sáng bia miệng giai thoại và Lưu Hương Ký. Hồ Xuân Hương thương Nguyễn Du long đong chìm nổi bị người đời và lịch sử thị phi vì “bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn” làm một tôi trung của nhà Lê, cam chịu cảnh mười lăm năm lưu lạc, chỉ hé lộ với Bắc Hành tạp lục và Truyện Kiều chứa một trời tâm sự để trao lại ngọc cho đời. Hồ Xuân Hương khen Nguyễn Du là anh hùng “Tấn Dương được thấy mây rồng có phen” khen Tấn Văn Công bôn ba, khí phách của người quân tử chịu hoạn nạn. Nguyễn Du thương Hồ Xuân Hương “khen cho con mắt tinh đời. Anh hùng đoán giữa trần ai mới già” . Nguyễn Du đã dùng lời Thúy Kiều đánh giá “Từ Hải” và lời của Từ Hải thán phục Thúy Kiều, để thể hiện sự ý hợp tâm đầu của đôi nam nữ “trai anh hùng, gái thuyền quyên” Nguồn sử liệu và phân tích chi tiết qua các bài Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du là bậc anh hùng;  Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán, Nguyễn Du và Hồng Sơn Liệp Hộ. Ba là Nguyễn Du cuộc đời và tác phẩm là tấm gương soi thấu nhiều uẩn khúc lịch sử . Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết SơnNguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng. Nguyễn Du cuộc đời và thời thế; Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc 1781-1796; Nguyễn Du và đền cổ Trung Liệt; Hồ Xuân Hương kiệt tác thơ chữ Hán đang hé lộ những tư liệu mới về bí mật ngoại giao thời Tây Sơn,  Nguyễn Du và thời đại Nguyễn Du.

Hoàng Kim

Còn tiếp …

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube