Dòng sông quê hương

DÒNG SÔNG QUÊ HƯƠNG

Hãy học thái độ của nước mà đi như dòng sông

Hoàng Kim

Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con

Chèo thuyền cho khuất bến Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn

Câu ru quặn thắt đời con
Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ

Ra đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam.


“Trong lòng ta có một dòng sông quê hương thao thiết chảy.”

Hoàng Kim

CNM365. Chào ngày mới 15 tháng 12. Ngày này năm xưa.  Ngày 15 tháng 12 năm 1939, bộ phim “Cuốn theo chiều gió” lần đầu tiên được công chiếu tại nhà hát Loew’s Grand ở Atlanta, Georgia, Mỹ. Ngày 15 tháng 12 năm 1966  là ngày mất của Walt Disney, họa sĩ phim hoạt hình, đạo diễn, nhà kịch bản, nhà sản xuất người Mỹ (sinh năm 1901). Ngày 15 tháng 12 năm 1926 là ngày sinh Chính Hữu, nhà thơ, sĩ quan quân đội người Việt Nam (mất năm 2007); xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-15-thang-12/; Bài chọn lọc: Dòng sông quê hương

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi|Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Advertisements

Giếng Ngọc Tao Đàn

Văn là đẹp, chương là sáng. Ngôn ngữ đẹp và sáng mới là văn; thơ thấm thía xúc động tự dưng thuộc mới thật sự là thơ hay. Nguyễn Trãi viết: ‘Chữ học ngày xưa quên hết dạng. Chẳng quên có một chữ cương thường’. Đối với Trần Đăng Khoa ‘thơ hay là thơ giản dị, xúc động, ám ảnh’. (Giếng Ngọc Tao Đàn, lời suy ngẫm Hoàng Kim và ảnh của Hoàng Tố Nguyên)

 

Bài đọc thêm
TƯỚNG TẠI TÂM SINH, TƯỚNG TÙY TÂM TÍNH

Cổ nhân giảng: “Tướng do tâm sinh”. Kỳ thực, tướng ở đây không chỉ là “tướng mạo” mà còn là hoàn cảnh xung quanh của một người. Nếu một người mà trong lòng luôn vui vẻ và tràn đầy ý nghĩ tích cực thì hoàn cảnh liền lập tức chuyển biến thành tốt. Trái lại, nếu một người mà trong lòng luôn chứa đựng ý nghĩ tiêu cực thì hoàn cảnh xung quanh của người ấy cũng trở nên không tốt, rất nhiều mâu thuẫn sẽ nối gót nhau mà đến.

Tướng tại tâm sinh

Chúng ta trong cuộc sống hàng ngày, thường gặp phải không ít người luôn mang tâm oán trách. Họ oán trách công việc quá nhiều, oán trách bạn bè không hiểu mình, thậm chí trời mưa hay trời nắng cũng oán trách… Họ không biết được rằng, oán trách là một loại cảm xúc xấu nhất khiến mối quan hệ căng thẳng và mâu thuẫn trở nên kịch liệt hơn. Nó không chỉ khiến cho sức khỏe của chính bản thân người ấy xấu đi mà còn khiến người thân bạn bè dần dần xa lánh họ.

Mục sư người Mỹ – Will Bowen đã viết trong cuốn “A Complaint Free World” (Thế giới không có lời phàn nàn) rằng, những người phàn nàn quanh năm cuối cùng có thể bị cô lập và bị mọi người xung quanh xa lánh. Oán giận là một loại độc dược. Nó có thể làm giảm nhiệt huyết, phá hủy ý chí, hạ thấp địa vị, hủy hoại cả tâm và thân của con người. Cho nên, oán trách vận mệnh chi bằng hãy cải biến vận mệnh, oán trách cuộc sống chi bằng hãy cải thiện cuộc sống!

Trong “Thế giới không có lời phàn nàn” có một ví dụ thực như thế, một người vì “không oán trách” mà đã cải biến được vận mệnh của mình. Tại một thành phố của nước Mỹ, có một vị khách trung niên bắt taxi đến sân bay. Sau khi lên xe, vị này phát hiện ra chiếc xe mà mình đang đi không chỉ có vẻ ngoài bắt mắt mà bố trí trong xe cũng rất ngăn nắp, trang nhã. Tài xế ăn mặc rất chỉnh tề, lịch sự. Khi xe vừa chạy, ông ấy liền nhiệt tình hỏi hành khách xem độ ấm trong xe đã thích hợp chưa? Không lâu sau, ông lại hỏi hành khách muốn nghe nhạc hay radio? Hành khách lựa chọn nghe nhạc và một đoạn hành trình thoải mái của hai người bắt đầu. Khi xe dừng trước một đèn đỏ, lái xe quay đầu lại và bảo cho vị khách biết trên xe có tờ báo buổi sáng và tạp chí định kỳ. Ngoài ra, phía trước còn có một tủ lạnh nhỏ, trong tủ lạnh có nước trái cây và cocacola, hành khách có thể tự lấy dùng, nếu muốn uống cà phê, bên cạnh cũng có bình thủy chứa cafe nóng.

Người tài xế mở lời: “Tôi là một người dễ nói chuyện, nếu anh muốn nói chuyện phiếm thì tôi có thể nói cùng anh. Nếu anh muốn nghỉ ngơi hoặc ngắm phong cảnh, tôi sẽ yên lặng lái xe, không quấy rầy anh.” Sự phục vụ đặc biệt này khiến vị khách thực sự ngạc nhiên, anh không khỏi nhìn vị tài xế thắc mắc, khó hiểu. Vị khách cất lời hỏi: “Từ bao giờ anh bắt đầu sự phục vụ này vậy?” Trầm mặc một lát, vị tài xế nói: “Thực ra, khi mới bắt đầu, xe của tôi cũng không có cung cấp dịch vụ toàn diện như bây giờ. Tôi cũng chỉ giống những người khác, hay phàn nàn, thường xuyên càu nhàu khách, phàn nàn chính phủ bất tài, phàn nàn tình hình giao thông không tốt, phàn nàn xăng quá đắt đỏ, phàn nàn con cái không nghe lời, phàn nàn vợ không hiền thục… cuộc sống mỗi ngày quả thực là ảm đạm.

Nhưng một lần, tôi vô tình nghe được một cuộc đàm thoại về cuộc sống trong một tiết mục quảng cáo. Đại ý là nếu bạn muốn thay đổi thế giới, thay đổi cuộc sống của bạn, đầu tiên hãy thay đổi chính mình. Nếu bạn cảm thấy luôn không vừa lòng thì tất cả những chuyện phát sinh đều khiến bạn cảm thấy như gặp xui xẻo. Trái lại nếu bạn cảm thấy hôm nay là một ngày may mắn, như vậy hôm nay mỗi người bạn gặp phải, đều có thể là quý nhân của bạn. Cho nên tôi tin rằng, nếu tôi muốn vui vẻ, phải thôi phàn nàn, phải thay đổi chính mình. Từ thời khắc đó, tôi quyết định sẽ đối xử tử tế với mỗi hành khách của mình.

Năm thứ nhất, tôi sửa sang xe trong ngoài sạch sẽ, trang trí mới hoàn toàn. Tôi luôn nở nụ cười với mỗi hành khách, kết quả là thu nhập năm đó của tôi tăng lên gấp đôi.

Năm thứ hai, tôi dùng lòng chân thành của mình để quan tâm chia sẻ niềm vui cũng như nỗi buồn của khách hàng. Đồng thời tôi cũng khoan dung và thăm hỏi khách hàng nhiều hơn. Thu nhập năm thứ hai của tôi tăng gấp đôi năm thứ nhất. 

Đến năm thứ ba, cũng chính là năm nay tôi đã biến chiếc xe của mình thành một chiếc xe “5 sao” độc nhất này. Ngoài thu nhập tăng lên, hiện tại khách hàng mà tôi chở phần lớn đều là khách quen.

Đến nơi, tài xế xuống xe, ra phía sau giúp hành khách mở cửa, cũng đưa một tấm danh thiếp đẹp, nói: “Mong lần sau có thể tiếp tục phục vụ anh.” Kết quả, việc làm ăn của anh tài xế không hề bị ảnh hưởng khi nền kinh tế trở nên đình trệ. Anh đã thay đổi, không chỉ sáng tạo ra một nguồn thu nhập tốt, mà còn tạo nên một cuộc sống bình yên như vậy.

Cuộc đời là một chuyến lữ hành, mỗi chúng ta đều có cơ hội trở thành tài xế, nghênh đón những vị khách đi ngang qua đời ta. Có lẽ chúng ta sẽ không thể luôn gặp những vị khánh hiền hòa, nhưng chúng ta có thể làm một người tài xế tốt bụng, dù không tránh được đoạn đường kẹt xe, nhưng có thể dùng tâm tình vui vẻ, cùng nhau hưởng thụ một đoạn hành trình hạnh phúc và ấm áp.

 

Tướng tùy tâm tính

Một nhà tâm lý học người Mỹ đã nói rằng: Lực hấp dẫn của một người không phải đơn thuần đến từ dung mạo bên ngoài mà là trực tiếp đến từ tâm tính. Bảo trì một tâm tính tốt là phương pháp làm đẹp hữu hiệu nhất.

(Hình minh họa: Qua Kknews.cc)

Các nhà tâm lý học nước Mỹ gần đây đã làm một nghiên cứu để đánh giá sự ảnh hưởng của dung mạo bên ngoài và bên trong của một người đối với người tiếp xúc. Trong nghiên cứu họ đã ghi hình một số nhóm người. Ban đầu, một số nhóm người này được dẫn vào một căn phòng riêng biệt, rồi từng người sẽ tự giới thiệu về bản thân.

Sau đó họ mời một số người không quen biết những người giới thiệu này, căn cứ vào video ghi hình và chấm điểm cho từng người. Những căn cứ để chấm điểm là hình dáng bên ngoài, biểu hiện cảm xúc, kỹ năng giao tiếp, cuối cùng đánh giá xem bản thân mình có yêu thích người ấy hay không. Kết quả cho thấy, những nhân tố bên ngoài có sức ảnh hưởng nhỏ nhất, những nhân tố tích cực bên trong lại có sức ảnh hưởng lớn nhất đối với người tiếp xúc.

Tâm tình tốt hay xấu đều sẽ thể hiện hết ra ở khuôn mặt

Các chuyên gia cho rằng, khi trong lòng cảm thấy vui vẻ, dễ chịu, lượng máu chảy về phía bề mặt da sẽ tăng lên làm cho sắc mặt hồng hào và sáng bóng hơn. Những trạng thái cảm xúc không tốt như căng thẳng, ức chế, hốt hoảng, sợ hãi sẽ làm rối loạn nội tiết khiến cho lượng máu cung cấp cho da sẽ giảm đi. Từ đó, khiến sắc mặt mất đi vẻ sáng bóng mà trở nên khô, thậm chí xuất hiện nếp nhăn. Nếu như tâm tình không tốt kéo dài trong một thời gian sẽ làm suy nhược thần kinh, mất ngủ, làm da bị lão  hóa.

Ngoài ra, sự bài tiết hormone do thần kinh chi phối, nên vào lúc tâm tình không vui, thì tuyến mồ hôi và tuyến bã nhờn bị ức chế, khiến sự bài tiết dầu trên da bị bất thường. Nó cũng làm cho lỗ chân lông to hơn, da trở nên nhão hơn. Đây cũng là một nguyên nhân gây ra các bệnh về da.

Nếu như một người thường xuyên vui vẻ, thì vẻ mặt sẽ dễ chịu, tường hòa. Đây là nguyên nhân vì sao có một số người có khuôn mặt cũng không phải xinh đẹp xuất chúng nhưng lại rất ưa nhìn.

Tướng do tâm sinh, người tâm thiện có vẻ mặt hiền lành

(Ảnh hoa hậu thế giới Canada là Anastasia Lin)

Trong tướng thuật, “tướng” thông thường là chỉ tướng mặt, cũng đại thể là chỉ toàn bộ tướng mạo. “Tướng do tâm sinh” là có ý nói rằng, một người có tâm tính như thế nào thì sẽ có tướng mạo như thế ấy. Tâm tư (ý nghĩ) và hành vi của một người có thể thông qua các đặc điểm trên khuôn mặt mà được hiển hiện ra.

Trong “Tứ khố toàn thư” viết: “Vị tương nhân chi tương, tiên thính nhân chi thanh; vị thính nhân chi thanh, tiên sát nhân chi hành; vị sát nhân chi hành, tiên quan nhân chi tâm.” Ý nói rằng, đừng nhìn tướng mạo người mà trước tiên hãy nghe thanh âm của người ta, đừng nghe thanh âm người mà trước tiên hãy quan sát hành vi của người ta, đừng quan sát hành vi người mà trước tiên hãy xét cái tâm của người ta. Âu cũng là nhấn mạnh rằng cái “tâm” quyết định cái “tướng” của con người, rằng biến hoá của tướng mặt cũng là biểu hiện ra bên ngoài của sự biến hóa của tâm mang lại.

Thời xưa có câu ngạn ngữ: “Hữu tâm vô tương, tương do tâm sinh; hữu tương vô tâm, tương tùy tâm diệt”, ý nói có tâm thì dẫu vô tướng, tướng cũng sẽ do tâm mà sinh. Có tướng mà không tâm, thì tướng ấy cũng tuỳ tâm mà tiêu mất. Những lời này cũng là để nói rằng, tướng mạo của một cá nhân là tuỳ theo tâm niệm thiện-ác của cá nhân ấy mà biến hoá theo.

Dưới đây là một truyền thuyết lâu đời về “tướng do tâm sinh”:

Thời cổ đại có một thợ thủ công sinh sống ở tỉnh Sơn Đông. Mặc dù lớn lên khôi ngô tuấn tú nhưng anh ta lại thích tạc những hình tượng ma quỷ. Những tác phẩm điêu khắc của anh vô cùng sống động, và theo thời gian, việc buôn bán của anh càng ngày càng phát đạt. Một ngày, anh nhìn vào gương và vô cùng kinh ngạc khi thấy rằng diện mạo của mình đã trở nên hung tợn và xấu xí. Anh đã đến gặp rất nhiều danh y nổi tiếng, nhưng không ai có thể giúp được anh.

Chàng trai dừng lại ở một ngôi đền và kể sự tình với một người lớn tuổi. Ông lão trả lời: “Tôi có thể giúp điều ước của anh trở thành sự thật, với điều kiện là anh hãy tạc cho tôi một số bức tượng Quan Thế Âm với các dáng điệu khác nhau”. Người nghệ nhân đã đồng ý ngay lập tức và bắt đầu nghiên cứu tư tưởng và diện mạo của Quan Thế Âm Bồ Tát. Anh cũng cố gắng hết sức để thực hành theo đạo đức của Ngài như thể chính mình là đức Quan Thế Âm vậy.

Sau sáu tháng nghiên cứu và làm việc chăm chỉ, anh đã khắc được một số bức tượng sinh động của Phật Bà Quan Âm, thể hiện lòng tốt, từ bi, khoan dung và thần thánh của Ngài. Mọi người rất ngạc nhiên trước những bức tượng sinh động giống như thật. Người nghệ nhân cũng rất ngạc nhiên khi thấy rằng tướng mạo của mình đã hoàn toàn thay đổi, giờ đây nhìn anh thật hùng dũng và oai nghiêm.

Kỳ thực, từ Trung Y cổ đại cũng như sinh lý học và tâm lý học hiện đại là có thể thấy rằng đạo lý “tướng do tâm sinh” cũng giản đơn. Cái tướng mạo của người ta là do hai bộ phần ‘hình’ và ‘thần’ tạo thành. Hình tướng là đặc thù của sinh lý còn thần tướng vừa bao hàm nhân tố sinh lý, vừa phụ thuộc vào sự tu chỉnh quyết định. Nhất cử nhất động từng ý từng niệm trong cuộc sống, qua một thời gian thì dần dần sẽ ngưng đọng trên khuôn mặt, nghĩa là “hữu chư nội tất hình chư ngoại” (có gì bên trong ắt xuất hình bên ngoài).

Tâm niệm nảy sinh, cũng sẽ ảnh hưởng lên thân thể. Nếu như nội tâm an hoà tĩnh tại thì thần thanh khí sảng, lạc quan, đôn hậu, quang minh ngay thẳng. Điều đó sẽ khiến cho khí huyết điều hoà, ngũ tạng an định, công năng chính thường, thân thể khoẻ mạnh, ắt sẽ thể hiện ra mặt mũi sáng sủa, thần thái phấn khởi, ai gặp mặt cũng cảm thấy thoải mái, có cảm giác thân thiện an hoà một cách tự nhiên.

Tướng do tâm sinh: Trung y thời cổ đại nhìn tướng mặt biết bệnh

(HÌnh minh họa: Qua Kknews.cc)

Cổ nhân cho rằng, tướng mạo chính là thước đo sức khỏe thân thể của một người. Trung y thời cổ đại có thể thông qua nhìn tướng mạo mà biết được nguyên nhân của bệnh. Trung y cổ đại giảng: “Tứ chẩn”, gọi là “Vọng, Văn, Vấn, Thiết”, tức là bốn phương pháp để thầy thuốc thăm khám bệnh, gồm có Vọng (nhìn), Văn (nghe), Vấn (hỏi), Thiết (sờ).

Trong đó, Vọng chính là nhìn thần sắc. Vọng đứng đầu trong “Tứ chẩn”, cho nên nó được đánh giá là rất quan trọng trong chẩn đoán bệnh.

Từ bên ngoài của một người có thể thấy: Nếu một người mà mắt nhìn không được rõ thì điều đó chứng minh là gan người ấy có vấn đề. Đầu lưỡi không cảm giác rõ vị thì tim có vấn đề. Môi tái nhợt, không có sắc thì tính khí bất hòa. Mũi ngửi mà không rõ mùi vị thì phổi có vấn đề, tai nghe không rõ thì chức năng thận suy yếu. Các bộ phận khác nhau của tướng mạo là có liên quan mật thiết đến lục phủ ngũ tạng trong thân thể người. Cho nên, người ta nhìn sự biến hóa của tướng mạo bên ngoài sẽ biết được nguyên nhân then chốt của bệnh.

Đối với người lớn tuổi, từng trải, cũng có thể thông qua nhìn tướng, nhìn cách đi, nghe giọng nói, là biết được tính cách, sở thích và tình trạng bệnh của người này. Có rất nhiều điều khiến người ta tin rằng đã được định trước trong mệnh, nhưng cũng có rất nhiều điều đều là do tư tưởng không tốt, thói quen không tốt và hành vi không thiện của bản thân tạo thành.

Cho nên, cũng có thể coi “tâm” là nhân của “tướng”, “tướng” là quả của “tâm” (theo quan hệ nhân-quả). Nếu nội tâm của một người yên bình, tĩnh lặng, lạc quan, từ bi, ngay chính, lương thiện thì cơ thể của người ấy sẽ hoạt động một cách trơn tru, người ấy đương nhiên sẽ có được một sức khỏe tốt, tinh thần tốt và dung mạo phúc hậu.

An Hòa (dịch và t/h) / ĐKN

Trong bài này Cảnh Chương phân tích rất nhiều, đưa ra rất nhiều dẫn chứng về việc dùng chữ “người” và “ngài” của Ng Du, nhưng có sự nhầm lẫn rất cơ bản. Người Hà Tĩnh (thậm chí cả Nghệ an và Quảng bình) đều dùng cả 2 từ này, nhưng từ “người” là để chỉ người này, người nọ, còn từ ngài chủ yếu dùng chỉ thân xác con người, hay là đối tượng là thân hình người. Chính vì vậy mà dù có rất nhiều từ người trong truyện Kiều nhưng không thể chuyển sang từ ngài được. Còn trong câu thơ kia (nét ngài nở nang) là nói đến thân hình của Vân chứ không phải mục đích chỉ người này người nọ. Tác giả bài này đã quên rằng – quạ đen, chứ không phải đen là quạ! Và tương tự – mày ngài, chứ không phải ngài là mày. Con nữa, tả lông mày mà dùng từ “nở nang” thì không ai công nhận ông là đại thi hào.

(GDVN) – Chúng ta đều có cơ sở để khẳng định cách miêu tả “nét ngài” là hình ảnh “nét mày ngài” của nàng Vân hơn là nét người, dáng người của nhân vật này.
giaoduc.net.vn
Hoàng Kim
T

Hoàng Kim “Vân xem trang trọng khác vời. Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang” Khuôn mặt đầy đặn phúc hậu. Lông mày thanh tú và dài (mày ngài) che trọn mắt, Hơi thở khi ngủ êm ái nhẹ như rùa thở (quy tức) đó là những nét đặc biệt quý tướng rất được xem trọng trong nhân tướng học. Thúy Vân có nét đẹp “trang trọng”, “đoan trang” phúc hậu . “Khuôn trăng đầy đặn” “hoa cười ngọc thốt đoan trang” Với quý tướng phúc hậu như Thúy Vân là người rất chuộng cuộc sống hạnh phúc “đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con” “Một cây cù mộc, một sân quế hòe”. Người có tướng đoan trang phúc hậu thì tốt hơn nhiều so với người có tướng sắc sảo, ưa trội hơn người khác. Phúc hậu hơn thì phước lộc hơn. Cảnh Chương không nhầm, nhưng phản biện của chú Pine Le Xuan là hay, là tài tuy chưa đúng Mai Trúc Nguyễn Thị ạ. Thầy Hoàng Kim nghĩ vậy. Hoang To Nguyen đồng ý chứ?

Mai Trúc Nguyễn Thị
Mai Trúc Nguyễn Thị cháu chỉ tin Thầy Hoàng Kim thôi chú Pine Le Xuan ^^
Pine Le Xuan
Pine Le Xuan Ở đây Ng Du không nói mày ngài, mà “nét ngài”! Hoàng Kim chớ nhầm lẫn.
Pine Le Xuan
Pine Le Xuan Sao có thể lẫn lộn danh từ và tính từ?

Pine Le Xuan
Pine Le Xuan ở đây mọi người không phân tích cấu trúc câu, không để ý đến từ dùng tả, mà cứ nói vòng vo bên ngoài thôi Nguyễn Thị Trúc Mai.
Pine Le Xuan
Pine Le Xuan Có ai chấp nhận dùng từ nở nang để tả lông mày không? Người thường tả như vậy còn bị chê, nói chi đến đại thi hào?
Hoàng Kim
Hoàng Kim Pine Le Xuan quý mến. Anh có ý riêng của anh, cũng là ý hay nhưng Hoàng Kim thì bình với Mai Trúc Nguyễn ThịHoang To Nguyen theo nghĩa khác. Văn là đẹp, chương là sáng. Ngôn ngữ đẹp và sáng mới là văn; thơ thấm thía xúc động tự dưng thuộc mới thật sự là thơ hay. Nguyễn Trãi viết: ‘Chữ học ngày xưa quên hết dạng. Chẳng quên có một chữ cương thường’. Đối với Trần Đăng Khoa ‘thơ hay là thơ giản dị, xúc động, ám ảnh’. (Giếng Ngọc Tao Đàn, lời suy ngẫm Hoàng Kim và ảnh của Hoàng Tố Nguyên) TƯỚNG TẠI TÂM SINH, TƯỚNG TÙY TÂM TÍNH. Mời đọc thêm ở đây. https://hoangkimlong.wordpress.com/…/gieng-ngoc-tao-dan/


Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi|Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Miền Trung của tôi

MIỀN TRUNG CỦA TÔI. Hoàng Kim Về nơi cát đá miền Trung. Ban mai tỉnh thức một vùng nước non. Dấu xưa thăm thẳm Tháp Chàm. Biển xanh cát đá với rừng hoang sơ. Hoa trên cát, núi Phổ Đà. Tháp bà chúa Ngọc dẫu xa mà gần. Mình đi về chốn trong ngần Ta thương cát đá cũng cần có nhau Trải bao mưa gió dãi dầu Đồng Xuân nắng ấm nhuốm màu thời gian. Thung dung bước tới thanh nhàn Dịch cân kinh luyện giữa vùng non xanh Cát vàng, biển biếc, nắng thanh Bình Minh An Đức Hoàng Thành Trúc Lâm. Đàn cừu quấn trước linh sơn. Dọc đường gió bụi càng thương quê mình. Miền Trung thao thức tầm nhìn. Non sông một giải nặng tình quê hương.

Trong hình ảnh có thể có: 5 người, mọi người đang ngồi, bàn và trong nhà
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, đại dương, bầu trời, ngoài trời, nước và thiên nhiên
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, bầu trời, đại dương, bãi biển, ngoài trời, thiên nhiên và nước
Trong hình ảnh có thể có: đại dương, bầu trời, ngoài trời, thiên nhiên và nước
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng, bầu trời, cây, cỏ, thực vật, đám mây, núi, ngoài trời và thiên nhiên

(*)  xem thêm https://cnm365.wordpress.com/cat…/chao-ngay-moi-10-thang-12/. Bài chọn lọc Nha Trang và Yersin.

NguyenQuocToanThaiNguyenBachLien

Anh Nguyễn Quốc Toàn Bulukhin  và anh Thái Nguyễn Bạch Liên

NGUỒN SON GẶP LẠI RÀO NAN

Bu Lu Khin tặng Hoàng Kim

Nguồn Son về gặp Rào Nan
Ngả ba hun đúc đứa con họ Hoàng
Một thời đói khổ gian nan
Miệt mài đèn sách rỡ ràng công danh
*
Không màng quan chức đua tranh
Chỉ làm cây lúa phủ xanh ruộng đồng
Cháu con đi học ấm lòng
Không ngày một bữa, thuở ông quá nghèo

Bu Lu Khin Học cách đi của nước TUYỆT HAY. Địa hình phẳng lặng thì sông chảy thành dòng. Đổ đá chặn dòng thì sông gầm gào thác đổ. Đắp đập ngăn lại thì sông thành hồ và bốc hơi lên trời thành mây mưa về đất. Sông quyệt liệt, sông không chịu dừng bao giờ …
Nhân nói chuyện mây mưa… chép tặng bạn bài “thơ thẩn” bu làm đã lâu lắm

Em sinh nơi xứ biển
Anh chào đời trên rừng
Trời xoay sai điểm hẹn
Chúng mình thành người dưng

Đến vòng quay thứ mấy
Chúng mình vừa gặp nhau
Tình yêu hay sóng dậy
Em mất hút vào đâu

Đành làm mây lang thang
Anh mưa về mặt biển
Em cuộn sóng tràng giang
Mưa trùm lên xao xuyến

Biển và may xa ngái
Vẫn tan hòa trong nhau
Dẫu mây bay mê mãi
Vẫn tìm về biển sâu.

SÔNG NGÒI MIỀN TRUNG

Thái Công Tụng
(bài nói chuyện tại SAIM ngày 15/5/2015)

Following introduction in section 1, section 2 lists and describes rivers in Central VietNam from Thanh Hoá to Bình Thuân provinces . Some rivers have large watersheds since they take sources from Laos; some others have quite small watersheds with mountains nearby . Some rivers witnessed the partition of the country like Sông Gianh and Sông Bến Hải: Sông Gianh in Quang Binh province was the border between northern and southern regions following the Trinh-Nguyễn wars of the 17th centurỵ  Sông Bến Hải, located along the 17th parallel, used to be the border between North and South Vietnam from 1954 to 1975 . Various folk literature which includes folk songs, rhymes, incantations, proverbs  expressing the lifestyle of rural people , fishermen along rivers with all their hopes, dreams are included.

Section 3 discussed role of forested watersheds in river development . Deforestation, severe overgrazing and drought has led to floods, widespread soil erosion and reduced water retention in aquifers . There is an urgent need to reforest uphills watersheds to recharge aquifers, helping life quality and water flows for crop irrigation in the plains.

Section 4 discusses the use of rivers in Central VietNam. They serve as source of irrigation, of transport of commodities through boats from the foothills to the sea . Reservoirs uphills help water storage for irrigation and hydroelectricity stations . Rivers and streams provide important ecological functions and services.

Section 5 discusses main issues of rivers in Central VietNam: flood, drought, salinity intrusion, degraded coastline, sand excavation.. .

In conclusions in sector 6, the author stresses the importance of balancing between users of water and natural resources in the context of rapid urbanization and the need of off-the-land activities to relieve land pressure and birth regulation to regulate population explosion .

1.Tổng quan

Miền Trung gồm những đồng bằng từ Thanh Hoá vào đến Bình Thuận, có nhiều dòng sông chảy qua. Các dòng sông miền Trung cũng rất đa dạng:

. khi ngắn vì phát xuất từ sườn Đông dãy Trường Sơn  không xa bờ biển (các sông ở Huế, Phan Rang, Nha Trang ..)

. khi dài  vì phát nguyên từ đất Ai Lao chảy ra Biển Đông  như Sông Mã, Sông Chu ở Thanh Hoá

. lại có vài con sông như sông  Sê Păng Hiêng, Sê Pôn.. ở Quảng Trị  bắt nguồn từ Việt Nam chảy qua Ai Lao.

Cũng cùng một dòng sông nhưng có thể có nhiều tên khác nhau, tùy theo khúc sông.

Ví dụ:

sông Ba chảy qua An Khê, Cheo Reo xuống Tuy Hòa. Đoạn sông từ đập Đồng Cam xuống biển có tên là sông Đà Rằng

sông Cả ở Nghệ An thì đoạn hạ lưu gọi là sông Lam

sông Thu Bồn ở Quảng Nam có tên như vậy ở đoạn từ mỏ than Nông Sơn chảy về biển, còn đoạn thượng lưu có tên là sông Vu Gia

-ngược lại, cả ba sông chảy qua Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết đều cùng tên là Sông Cái !

Nhiều dòng sông có tính cách lịch sử như sông Gianh, sông Bến Hải vì chứng kiến sự phân chia đất nước. Sông ngòi có khi  hiền hoà trôi, đem phù sa về đồng bằng, tạo nên xóm làng trù phú yên vui nhưng có lúc giận dữ với nước lụt trôi về với dòng chảy mạnh cuốn trôi ra biển người và tài sản.Nhiều dòng sông có lưu vực hẹp và giãy núi gần biển như tại Bình Trị Thiên nên vào m ùa mưa lũ, lưu lượng các dòng sông này rất lớn và gây ra nạn lụt.

Trong những năm gần đây, vùng duyên hải miền Trung vốn đã nghèo như  trong ca từ
Quê em nghèo lắm ai ơi
Mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu ăn

lại chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu rất rõ rệt, biểu hiện qua tần suất xuất hiện của thiên tai ngày càng tăng . Bài hát Về Miền Trung của nhạc sĩ Phạm Duy :

Về miền Trung ! Miền thùy dương bóng dừa ngàn thông
Thuyền ngược suôi suốt một dòng sông dài
Ôi quê hương xứ dân gầy
Ôi bông lúa, con sông xưa, thành phố cũ

ghi nhận vài sắc thái miền Trung với rừng dừa như ở Bồng Sơn, Tam Quan (Bình Định), rừng thông, những con thuyền với giọng hò, tiếng hát trên những dòng sông. Nhiều dòng sông có lưu vực hẹp và giãy núi gần biển như tại Bình Trị Thiên nên vào mùa mưa lũ, lưu lượng các dòng sông này rất lớn và gây ra nạn lụt.Mà mùa mưa lũ ở Bình Trị Thiên thì rất trễ, không như trong Nam hay ngoài Bắc mưa đầu hè như trong bài hát: Em đứng lên gọi mưa vào hạ hoặc như trong thơ Nguyên Sa:

Tháng sáu trời mưa, trời mưa không dứt
Trời không mưa anh cũng lạy trời mưa
Anh lạy trời mưa phong toả đường về
Và đêm ơi xin cứ dài vô tận

Binh Trị Thiên những tháng 5, tháng 6 lại là những tháng nóng khô nhất trong năm

2. Những dòng sông chính

2.1 Đồng bằng Thanh Hoá

Nhiều dòng sông chính ở đồng bằng này có duyên nợ với đất Lào vì sông Mã bắt nguồn từ tỉnh Lai Châu, xuôi về tỉnh Sơn La nhưng sau đó chảy sang Sầm Nưa đất Lào trên một đoạn đường dài hơn 50 km, trở lại vào đất Thanh Hoá, hội lưu với sông Chu rồi ra biển ở cửa Lạch Trào.

Sông Mã dài 512km, và có một lưu vực rộng 28 400km2. Một phần của trung lưu nàm trên đất Lào .Phía thượng lưu sông Mã có nhiều thác lón nhỏ cũng như những vực là những vũng nước sâu trong lòng sông.  Sông Mã chảy qua nhiều khu vực có nhiều chế độ mưa khác nhau  nên sự phân phối dòng chảy trong năm cũng khá phức tạp : nhiều thác, nhiều vực, và còn có đặc điểm là thường đổi dòng, đổi lạch, nhất là các đoạn phía trên có bãi cát ngầm thường di chuyển vị trí do sự thay đổi của dòng chảỵ. Nhờ Sông Mã nên sự trao đổi hàng hoá giữa miền xuôi và miền ngược rất dễ dàng và phương tiện chính là đò . Nhà thơ Quang Dũng có nhắc đến Sông Mã trong bài thơ Tây Tiến:

Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

Sông Chu, dài khoảng 300km, bắt nguồn từ đất Sầm Nưa trên Lào, chảy vào địa phận tỉnh Thanh Hoá ở huyện Thường Xuân và đổ vào sông Mã ở phía bắc thành phố.

Sông Mã cũng dễ lụt như sông Hồng nên cũng có hệ thống đê điều nhằm hạn chế lũ lụt

Đồng bằng này lại có đập Bái Thượng  nên nước trong các kênh mương được dẫn vào ruộng lúa. Ngoài hai sông chính là Sông Mã và sông Chu, còn có những sông nhỏ khác như sông Yên chảy qua các huyện Nông Cống, Quảng Xương và Tĩnh Gia rồi đổ ra cửa Lạch Ghép.

Đồng bằng Thanh Hoá là đồng bằng lớn thứ ba sau đồng bằng sông Cửu Long  và sông Hồng . Bãi tắm biển ở Thanh Hoá là bãi biển Sầm Sơn

2.2 đồng bằng Nghệ An

sông Cả dài 600km, bắt nguồn từ cao nguyên XiêngKhouang trên Lào, chảy theo hướng TB – ĐN qua nhiều huyện của Nghệ An, đoạn  hạ lưu có tên sông Lam. chảy theo hướng TB- ĐN trong các huyện Đức Thọ, Can Lộc và Thạch Hà và đổ ra Biển Đông ở Cửa Sót chỉ cách thị xã Hà Tĩnh khoảng 10km phía Bắc. Diện tích lưu vực khoảng 27 200 km2, một phần lưu vực nằm trên đất Lào, chiếm khoảng 35% diện tích.

Sau khi sông Cả chạy qua Con Cuông, thì tiếp nhận nước từ bờ trái là sông Hiếu. Sông này bắt nguồn từ dãy núi Phu Hoat.  Đập Đô Lương trên Sông Cả tưới được nhiều ruộng ở các vùng Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu .Từ Đô Lương trở đi, sông Cả đi vào đồng bằng, lòng sông nhiều uốn khúc. Cách cửa sông 30 km, gần Bến Thủy, sông Cả lại nhận thêm nước từ hai sông là Ngàn Sâu và Ngàn Phố.  Lưu vực sông Cả có diện tích  27 224 km2, trong đó 9 470 km2 thuộc vùng núi Ai Lao (Xieng Khoang và Sầm Nứa)

Đồng bằng Nghệ An có bãi biển Cửa  Lò, dài 12km, cách  thành  phố Vinh 16 km về phía Đông Bắc. Cửa Lò là nơi  hai con sông đổ ra biển: sông  Cấm ở phía  Bắc và  sông Lam phía Nam

2.3 đồng bằng Hà Tĩnh

có dãy núi Trường Sơn chạy gần biển, đặc biệt có rặng núi Hồng Lĩnh (tên khác: Ngàn Hống) với 99 ngọn núi hình răng cưa sừng sững chọc trời, nhưng cũng có vài thung lủng rộng ở phiá trong như tại huyện Hương Khê giáp Lào. Câu ca dao:

Bao giờ Ngàn  Hống hết cây
Sông Lam hết nước họ này hết quan

để nói về dòng họ gia đình khoa bảng cụ Nguyễn Du.

Các dòng sông ở đây thì nhiều nhưng ngắn. Có hai dòng sông quan trọng :

– Ngàn Sâu dài 131 km, chảy qua thung lũng Hương Khê, chảy theo hướng N- B

Ngàn Phố dài 86 km  là sông bắt nguồn từ vùng biên giới Việt Lào thuộc huyện Hương Sơn. Trên thượng nguồn sông này có đập chắn ngang tạo ra hồ nhân tạo, hồ Kẻ Gỗ.

Hai sông Ngàn Sâu và Ngàn Phố gặp nhau ở Linh Cảm rồi chảy vào Sông Lam để ra biển ở Cửa Hội. Tại đồng bằng này, các suối ở phía thượng nguồn có phương ngữ là ‘rào’ như ca dao sau đây :

Đến đây lạ bến lạ rào,
Hởi con chim hồng nhạn, ở phương nào tới đây
Kẻo mai, nhớ núi chim bay
Ai nhớ chim muốn hỏi, biết thư bày ra sao ?

Hai tỉnh Nghệ An và Hà Tỉnh có cùng phương ngữ gọi chung là tiếng Nghệ, có chung câu hò, tiếng hát và cùng uống chung dòng nước sông Lam, có chung biểu tượng là núi Hồng-sông Lam:

Núi Hồng ai đắp mà cao
Sông Lam ai bới ai đào mà sâu

Sau khi qua đồng bằng Hà Tỉnh để xuôi Nam,  ta sẽ gặp Đèo Ngang, được bất hủ hoá qua bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan để gặp vùng đất Quảng Bình

image

 2.4 đồng bằng Quảng  Bình

Sông Gianh, có tên khác là Rào Nậy, Linh Giang dài 155 km, bắt nguồn từ rặng núi đá vôi Giăng Màn (có hình thù kéo dài liên tục nên có tên Giăng Màn) ở biên giới Việt Lào, chảy theo hướng TB – ĐN qua các huyện Tuyên Hoá, Quảng Trạch rồi đổ ra biển ở cửa cùng tên.

Trong lịch sử, sông Gianh là ranh giới thời Trịnh-Nguyễn phân tranh giữa Đàng Trong (chúa Nguyễn) và Đàng Ngoài (chúa Trịnh) .

Sông Nhật Lệ, còn có tên khác là Đại Giang chảy trong huyện Bố Trạch và Quảng Ninh rồi đổ ra cửa cùng tên ở cách Đồng Hới khoảng 3 km về phía ĐB.

Tiếng hát ngư ông giữa dòng Nhật Lệ
Tiếng kêu đàn nhạn trên áng Hoành Sơn

Khúc thượng nguồn của sông Nhật Lệ, trong huyện Bố Trạch có tên là sông Sa Lung. Có phụ lưu lớn bên phía phải (hữu ngạn) là sông Trạm ( Kiến Giang). Bền bờ sông Nhật Lệ có di tích lũy Thầy, do Đào Duy Từ xây dựng năm 1631 để  chống cự với quân chúa Trịnh

 2.5  đồng bằng Quảng Trị

Sông Bến Hải chỉ dài khoảng 60 km, chảy ra Biển Đông ở Cửa Tùng, có cầu Hiền Lương là nơi phân chia hai miền Nam Bắc, nằm ở vĩ tuyến 17, theo hiệp định Geneve 1954

Sông Thạch Hãn bắt đầu từ sườn Đông dãy Truờng Sơn chảy về biển qua các địa danh Cà Lu, Ba Lòng, thành phố Quảng Trị rồi  hợp với sông  Cam Lộ. Sông này chảy qua vùng đất huyện Cam Lộ,  chảy qua thị xã Đông Hà, đổ vào sông Thạch Hãn, rồi ra biển ở Cửa Việt.

Cách thị xã Quảng Trị 4 km phía Bắc có địa danh Ái Tử được nhắc nhở qua ca dao :

Mẹ thương con, qua cầu Ái Tử
Vợ trông chồng đứng núi Vọng Phu
Một mai bóng xế trăng lu
Con ve kêu mùa Hạ, biết mấy Thu cho gặp chàng

2.6. đồng bằng Thừa Thiên

Từ  ngoài vào, phải kể:

Sông Ô Lâu ở địa phận huyện Quảng Điền .

Sông Bồ là phụ lưu bên trái của sông Hương, bắt nguồn từ vùng núi A Lưới, chảy theo hướng TB – ĐN rồi đổ vào sông Hương ở huyện Phú Vang.

Sông Hương bắt đầu từ vùng núi huyện Nam Đông, chảy qua huyện Hương Thủy và thành phố Huế, rồi đổ ra phía Nam phá Tam Giang. Do hai nhánh Tả trạch và Hữu trạch hợp lại ở Ngã Ba Tuần trước khi vào đồng bằng .

Cả ba con sông trên đều chảy vào phá Tam Giang là một phá rất  dài vì chiều dài là 30 km và rộng từ 1 đến 6 km. Ở phía Nam, phá ăn thông với các đầm: Thanh Lam, Hà Trung, Thủy Tú, Cầu Hai và trước trận lụt lịch sử  1999, có hai cửa ăn thông ra Biển Đông là Thuận An và Tư Hiền.

image

Trong bài Hội Trùng Dương, nhạc sĩ Phạm Đình Chương có nhắc đến Sông Hương:

Miền Trung vọng tiếng, em xinh em bé tên là Hương giang, đêm đêm khua ánh trăng vàng mà than . Hò ơi, phiên Đông Ba buồn qua cửa chợ, bến Vân Lâu thuyền vó đơm sâu  Hỡi hò, hỡi hò Quê hương em nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn. Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm à ơi, khiến đau thương thấm tràn, ngập Thuận An để lan biển khơi, ơi hò ơi hò

– Hai con sông Nong và Truồi phát xuất từ núi Truồi và đổ vào đầm Cầu Hai.

Đầm Cầu Hai, toả rộng dưới chân núi Bạch Mã (1444m) ngắn và rộng, thông thương với đầm (‘phá’) Tam Giang và đổ ra biển ở cửa Tư Hiền. Nhìn vào bản đồ, phá Tam Giang tương tự như một dòng sông, còn đầm Cầu Hai giống như một cái hồ lớn. Các đầm phá Cầu Hai, Tam Giang này, qua các trận lũ lụt cuối năm 1999, đã có thêm nhiều cửa biển nữa. Riêng phá Tam Giang-Cầu Hai này đã chiếm 1/3 diện tích toàn tỉnh Thừa Thiên và 30% dân số Thừa Thiên sống quanh vùng phá-đầm này. Phá Tam Giang đã trở thành bất hủ với câu ca dao:

Nhớ em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang

Dòng sông ở Huế với nhiều điệu hò như mái nhì , mái đẩy, dô hậy, đẩy thuyền vốn là những thể hò dân gian trên sông nước,

Tiếng hò của mối tình ngang trái:

Nước chảy xuôi, con cá buôi lội ngược
Nước chảy ngược, con cá vượt lội ngang
Thuyền em xuống bến Thuận An
Thuyền anh lại trẩy lên ngàn anh ơi!

Câu hò chân thật:

Thiên sanh nhân, hà nhân vô lộc
Địa sanh thảo, hà thảo vô căn
Một mình em ngồi dựa lòng thuyền, dưới nước trên trăng
Biết cùng ai trao duyên gửi phận, cho được bằng thế gian

2.7. đồng bằng Quảng Nam

Sông Hàn (tên khác : sông Cẩm Lệ, sông Hà Thân ..tùy theo từng khúc khi chảy qua các địa phương khác nhau) chảy qua thành phố Đà Nẳng rồi đổ ra Vủng Hàn.

-Đứng bên đất Hàn,
Ngó qua Hà Thanh, xanh như tàu lá
Đứng bên Hà Thanh
Ngó qua bên Hàn, phố xá nghênh ngang

-Em đứng nơi cửa sông Hàn
Ngó sang bãi biển Tiên Sa
Ngũ Hành Sơn ở trên
Mủi Sơn Trà ngoài khơi
Nghe chuông chùa Non Nưóc
Em nhớ mấy lời thề ước
Anh làm sao cho duyên nợ đuợc vuông tròn
Kèo lòng người xứ Quảng mỏi mòn đợi trông

image

Sông Thu Bồn dài 205 km và lưu vực rộng 10 496 km2. Sông Thu Bồn còn có một phụ lưu khác, gọi là sông Cái (tên khác: sông Chợ Củi), cũng bắt nguồn vùng biên giới Việt-Lào, nối với sông Thu Bồn ở huyện Đại Lộc. Sông Cái lại có một phụ lưu bên phải ở khúc thượng nguồn tên là Sông Bung,  chảy theo hướng TN- ĐB trong huyện Giằng

Sông Thu nước chảy đôi dòng,
Đèn khêu hai ngọn anh trông ngọn nào ?
Muốn  tắm mát lên ngọn sông đào,
Muốn  ăn sim chín thì vào rừng xanh

Một phụ lưu lớn phía phải sông Thu Bồn có tên là sông Tranh, bắt nguồn từ miền núi huyện Trà Mi, chảy từ Nam lên phía Bắc qua các huyện Hiệp Đức, vùng mỏ than An Hoà Nông Sơn.

Sông Thu Bồn chảy qua Hội An để đổ ra Cửa Đại (Đại Chiêm). Hội An trước kia nằm sát biển, nay đã lùi sâu vào trong đất liền. Hiện tại trên hệ thống sông Thu Bồn, nhiều nhà máy thủy điện công suất lớn như Sông Tranh 1 và 2, Sông A Vương, Sông Bung… đang được xây dựng góp phần cung cấp điện cho nhu cầu ngày càng tăng của cả nước.

– Sông Vu Gia: dài 52 km, chạy trên địa bàn huyện Nam Giang và huyện Đại Lộc.

Đây là tuyến sông có vai trò quan trọng trong vận tải hàng hoá và hành khách đường sông của tỉnh Quảng Nam

Thượng nguồn của hệ thống sông Vu Gia Thu Bồn có nhiều tiềm năng thủy điện nên có nhiều hồ chứa và đập thủy điện đã được xây dựng

– Sông Vĩnh Điệndài 12 km, nối giữa sông Thu Bồn và sông Hàn tạo thành tuyến vận tải giữa thị xã Hội An, Vĩnh Điện và Đà Nẵng.

Sông Tam Kỳ với diện tích lưu vực 800 km2 là sông lớn thứ hai. Thị xã Tam Kỳ là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam ngày nay .

Nối sông Tam Kỳ với sông Thu Bồn là một sông nhỏ ( ‘Trường giang’), chảy song song với bờ biển và đây là tàn tích của một phá nưóc mặn xưa kia càng ngày bị bồi lấp, nằm dọc bờ biển tỉnh Quảng Nam.

2.8.  đồng bằng Quảng Ngãi

Sông Trà Bồng dài khoảng 45 km, chảy trong huyện cùng tên, qua thị trấn Châu Ổ, huyện lị huyện Bình Sơn rồi đổ ra cửa Sa Kì ở vũng Dung Quất:

Đi ngang lên mũi Sa Kỳ
Ngó ra lao Ré, xiết chi nỗi sầu

Lao Ré trong ca dao là Cù Lao Ré, còn gọi là đảo Lý Sơn ỏ ven bờ biển Quảng Ngãi

Sông Trà Khúc ( còn có tên khác là sông Thạch Nham) dài 120 km, phát nguyên vùng núi phía TN tỉnh Quảng Ngãi và Cao Nguyên, chảy theo hướng TN – ĐB qua thị xã Quảng Ngãi và đổ ra biển ở cửa Cổ Lủy. Trên sông này có đập thủy nông Thạch Nham xây vào thời đệ nhất Cọng Hoà năm 1959

Ai về Thiên Ấn sông Trà
Có thương thì hãy ghé nhà thăm em

Sông Vệ , dài khoảng 90km, bắt nguồn từ vùng núi huyện Ba Tơ, chảy theo hướng TN- ĐB qua các huyện Nghĩa Hành, Tư Nghĩa, Mộ Đức  trong tỉnh Quảng Ngãi, rồi đổ ra cửa Cổ Lủy ở phía Đ thị xã Quảng Ngãi.

image

                       Bánh xe lấy nước trên sông Trà Khúc:

Dọc bờ sông Trà Khúc cũng như trên vài dòng sông khác ở Bình Định, ta thường gặp các bờ xe dùng để đưa nước từ sông lên bờ để đưa nước vào ruộng . Nhà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói đến các bờ xe này trong bài Tình Nhớ:

Người ngỡ đã xa xưa, nhưng người bỗng lại về
Tình ngỡ sóng xa  đưa, nhưng còn quá bao la
Ôi trái tim phiền  muộn đã vui lại một  giờ,
Như bờ xa nước cạn đã chìm vào cơn  mưa.

2.9. đồng bằng Bình Định 

Các sông ngòi không lớn; ở thượng lưu có nhiều dãy núi bám sát bờ sông nên độ dốc rất lớn, lũ lên xuống rất nhanh, thời gian truyền lũ ngắn. Ở đoạn đồng bằng, lòng sông rộng và nông có nhiều luồng lạch, mùa kiệt nguồn nước rất nghèo nàn; nhưng khi lũ lớn nước tràn ngập mênh mông vùng hạ lưu gây ngập úng dài ngày vì các cửa sông nhỏ và các công trình che chắn nên thoát lũ kém. Từ ngoài vào, phải kể :

–  Sông An Lão bắt nguồn từ vùng núi huyện Ba Tơ tỉnh Quảng Ngãi

Nước Ba Tơ chảy vô Bình Định
Nhắn bạn chung tình tránh nịnh, chớ theo

và chảy từ Bắc xuống Nam qua các huyện An Lão, Hoài Ân tỉnh Bình Định và hợp với sông Lại (Lại Giang) ở gần thị trấn huyện lị huyện Hoài Nhơn trước khi đổ ra biển. Vùng Bồng Sơn Tam Quan ở huyện Hoài Nhơn có rất nhiều rặng dừa ven bờ biển:

-Tam Quan đất tốt trồng dừa
Nam thanh nữ tú cho vừa ý anh

-Ai về Bình Định cùng anh
Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa

Dừa xanh trên bến Tam Quan
Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu

Sông Côn  dài hơn sông An Lão, phát nguyên từ khối núi Ngọc Rô ở huyện Kon Plong tỉnh Kontum, đoạn trung lưu,  chảy vào huyện Tây Sơn có tên sông Hà Giao, đoạn hạ lưu chia ra nhiều chi lưu, đổ ra vịnh Quy Nhơn. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác có viết truyện dài nhan đề  Sông Côn mùa lũ

Nước Lại Giang mênh mang mùa nắng
Dòng sông Côn lai láng mùa mưa
Đã cam tháng đợi năm chờ
Duyên em đục chịu, trông nhờ quản bao

2.10. đồng bằng Tuy Hoà

do Sông Ba bồi đắp. Đây là một con sông lớn và dài gần 400km, bắt nguồn từ cao nguyên Kontum, chảy qua các tỉnh Pleiku và Phú Yên rồi ra biển ỏ Tuy Hoà . Đoạn hạ lưu, từ chỗ hợp lưu với sông Hinh ỏ Củng Sơn, chảy ra biển, gọi là sông Đà Rằng, có đập Đồng Cam . Lưu vực rất rộng ( 13800km2); với một lưu vực rộng lớn như thế cọng thêm hệ thống dẫn nước của đập Đồng Cam tưới các cánh đồng phù sa phì nhiêu, tạo một nền nông nghiệp phát đạt.:

Tiếng đồn Bình Định tốt nhà
Phú Yên tốt ruộng, Khánh Hoà tốt trâu

Bên phải sông Ba có một  nhánh gọi là sông Hinh hợp với sông Ba ở Củng Sơn, huyện lỵ của huyện Sơn Hoà. Trên sông có trạm thủy điện Sông Hinh, công suất 66 MW

Trong đồng bằng Phú Yên cũng có một đầm lớn rộng 1500ha, có sò huyết, tục gọi đầm Ô Loan.

2.11. đồng bằng Khánh Hoà.

Sông ngòi ở Khánh Hòa nhìn chung ngắn và dốc, cả tỉnh có khoảng 40 con sông dài từ 10 km trở lên, tạo thành một mạng lưới sông phân bố khá dày. Hầu hết các con sông đều bắt nguồn tại vùng núi phía Tây trong tỉnh và chảy xuống biển phía Đông.

Sông Dinh bắt nguồn từ vùng núi Chư H’Mư (đỉnh cao 2.051 m) thuộc dãy Vọng Phu, có tổng diện tích lưu vực 985 km2, chảy qua Ninh Hoà, với các đặc sản có tên trong ca dao:

-Thơm Vạn Giã  thơm đà quá ngọt
Mía Phú Ân  cái đọt cũng ngon
Hỡi người chưa vợ chưa con
Vào đây chung gánh nước non với mình
Quản bao lên thác xuống ghềnh
Mía ngon, thơm ngọt đượm tình quê hương

Sông Cái chảy qua thành phố Nha Trang :

-Anh muốn tìm nguồn nước trong
Nên đi ngược dòng sông Cái
Hay vì bị bùa ngải
Nên anh phải bỏ bãi, lên nguồn?
Thuyền anh dù thuận gió đi luôn
Đến đầu Thác Ngựa cũng phải cuốn buồm trở lui

(Thác Ngựa là một trong các thác nguy hiểm ở thượng nguồn sông Nha Trang)

-Phải chi Sông Cái có cầu
Thiếp qua, thiếp giải cơn sầu chàng nghe
Ai làm chén nọ xa ve
Mùa xuân thiếp đợi, mùa hè chàng trong
Biết là có đặng hay không
Đó chờ, đây đợi uổng công hai đàng

image

2.12. đồng bằng Ninh Thuận.

Vùng này có tiếng nắng thừa mưa thiếu, khô hạn . Sông Phan Rang, còn gọi sông Cái (sông Dinh) có đập Nha Trinh , ngày nay nhờ nước xả của đập thủy điện Danhim trên Dalat, nên lượng nước sử dụng cho sự tưới ruộng được nhiều hơn. Phía Đông Bắc thị xã Phan Rang, có đầm Nại rộng 700 ha . Ngoài ra có một số sông suối nhỏ khác (sông Trâu, sông Bà Râu ..) . Vì Ninh Thuận bị bao che bởi 2 rặng núi phía Nam và phía Bắc nên bị gió cản do đó rất khô hạn. Với khô hạn, sự bốc hơi nước mạnh nên do sự mao dẫn, các mầu bọt trắng đục đùn lên mặt đất. Đó là đất cà giang, nhiều cacbonat natri.. Ngoài ra, phía Nam đồng bằng này, có công ty muối Cà Ná sản xuất muối . Nhưng vì bơm nước biển quá nhiều để sản xuất muối nên nhiều vùng xung quanh bị nhiễm mặn với giếng nước, vườn cây, hoa màu đều chết

image

Nhiều  vườn mãng cầu gần trạm bơm nước biển bị chết do đất bị nhiễm mặn

2.13. đồng bằng Bình Thuận.

Từ mũi Dinh đến Phan Thiết, giãy núi Trường Sơn ở xa bờ biển hơn, do đó các đồng bằng rộng  hơn nhưng lại khô hạn: vũ lượng hàng năm nhỏ hơn 600mm và số ngày mưa ít hơn 80. Nếu kể bắt đầu từ ngoài vào, ta có sông Lòng Sông, chảy qua huyện Tuy Phong, rồi đến sông Lủy, đổ ra cửa Phan Rí. Sông Lũy có một nhánh bên trái có tên sông Mao.

Sông Cái, còn có tên sông Mường Mán  chảy qua Phan Thiết

3. Lưu vực và ảnh hưởng rừng trên  lưu vực

Lưu vực sông là vùng lãnh thổ mà sông nhận được nưóc nuôi dưỡng. Các dòng sông miền Trung có lưu vực nhỏ, chỉ trừ sông Mã, sông Cả , sông Thu Bồn và sông Ba . Trong thủy lợi, diện tích lưu vực sông được tính từ nguồn đến vị trí công trình tính toán.

Rừng có ảnh hưởng đến các yếu tố thủy văn trong lưu vực: rừng hạn chế dòng chảy mặt, chuyển nước mặt thành nước ngầm, nhờ vậy có tác dụng điều tiết nguồn nước sông suối Rừng bảo vệ đất trên các triền lưu vực, giúp chống  xói mòn. Những lưu vực có rừng che phủ thì độ ẩm không khí tăng cao, làm tăng lượng nước rơi địa hình. Chính nhờ các khả năng điều tiết to lớn như vậy của rừng  nên sự phá rừng bừa bãi trên lưu vực đã dẫn đến những kết qủa tai hại như lũ lụt xảy ra, hạn hạn tiếp diễn, xói mòn triền dốc, đem theo cả sỏi đá lẫn cát bùn làm nhiều hồ chứa nước dễ bị bít và cạn, phải nạo vét định kỳ.

4. Công dụng của các dòng sông

Trong các tài nguyên thiên nhiên, sông ngòi là một tài nguyên vô giá vì đảm nhận nhiều chức năng, cung cấp cho con người những dịch vụ tối cần cho cuộc sống.

Sông ngòi giữ nhiều chức năng quan trọng như:

.cung cấp nước sinh hoạt

.nước dùng trong các kỹ nghệ: mía đường, xi măng, giấy

.đem từng lớp lớp phù sa về giúp cho nông nghiệp trồng trọt, chăn nuôi

.nuôi thủy sản (cá, tôm..)  ở mọi môi trường: thủy sản nước ngọt,  thủy sản nước lợ và nước mặn

. vận tải ghe thuyền chuyên chở phẩm vật từ miền xuôi lên miền ngược và đem sản phẩm miền núi xuống đồng bằng:

Ai về nhắn với họ nguồn
Mít non chở xuống, cá chuồn chở lên

. hồ chứa nước tại các vùng  cao vừa sản xuất điện năng, vừa công dụng tưới nước và điều hoà dòng chảy

5. Các vấn nạn những dòng sông

Dòng sông vốn là một tài nguyên qúy giá nhưng gặp các vấn nạn sau đây :

5.1 Lũ lụt .

Vì các dòng sông miền Trung không dài, độ dốc núi non rất lớn, đồi núi trọc, không cây che phủ nên nước mưa, vốn tập trung vào vài tháng trong năm, dễ gây ra lụt,  nhất là từ Thanh Hoá đến Quảng Nam. Rừng bị phá hại đã làm  các qúa trình địa mạo tiêu cực như xói mòn, rửa trôi, trượt lở đất xảy ra nhanh chóng .

image

5.2 Hạn hán.

Cũng vì phá rừng nên lượng mưa chảy tràn trên mặt (runoff) nhiều hơn lượng nước mưa thấm vào đất. Gặp mùa nắng kéo dài hoặc khi mùa mưa kết thúc sớm,  lưu lượng trên sông giảm dần nên nhiều nơi thiếu nước sinh hoạt.

5.3 Mặn hoá

Do bùng nổ dân số, sinh đẻ búa xua không kiểm soát, các đồng bằng miền Trung có diện tích đất trồng trọt được càng ngày càng nhỏ nên phải tận dụng thâm canh vào mùa khô, do đó phải bơm nước tưới ruộng, làm nước nhiễm mặn càng xâm nhập sâu. Do bơm nước, mực nước hạ thấp, cường độ thấm nước từ các sông tăng lên, làm nước mặn ngoài biển lấn vào.Vào cuối mùa nắng, khi dòng chảy của sông ngòi nhỏ nhất thì độ mặn lên xa trên mọi dòng sông miền Trung, gây khó khăn cho dân chúng về nước uống cũng như về tưới hoa màu. Cũng có chỗ hệ thống đê ngăn mặn bị vỡ khiến nhiều ruộng bị mặn, không trồng trọt được.

5.4 Sạt lở bờ sông

Sự khai thác bừa bãi càng ngày càng nhiều các tài nguyên như cát, sỏi, vật liệu xây dựng trên các dòng sông để xây cất trong quá trình đô thị hoá cũng như xây kè lấn ra bờ sông  làm thay đổi dòng chảy hiện có, thay đổi cấu trúc/kết cấu/ địa mạo dòng sông, gây nhiều vực sâu, đưa đến tình trạng sạt lở về lâu dài, như tình trạng các dòng sông như Thu Bồn, Trà Khúc v.v.  khiến nhiều gia đình sống mấp mé bên các triền sông phải di dời hàng năm.

5.5 Bùn cát lơ lửng

nếu nhiều trong dòng nước thì  các hồ chứa bị bồi đầy nhanh chóng. Sự phá rừng trên thượng nguồn  làm bào mòn lưu vực và do đó,  lượng phù sa lắng đọng sẽ tăng cao lòng sông và làm giảm sự thoát lũ.

5.6 Thủy triều và sóng lớn

Các rừng ngập mặn bị phá để làm đìa nuôi tôm, nên các làng duyên hải càng bị gió ngoài khơi thổi mạnh, không có hàng rào thực vật thiên nhiên chống đỡ, nên triều cường và sóng lớn lấn sâu vào đất liền; nhiều đìa nuôi tôm, nhièu ao nuôi cá cuốn trôi ra biển. Triều cường làm nhiều vùng thấp bị ngập hư hại và làm các đê bao, đê ngăn mặn bị phá hủy . Khi thủy triều vào trong sông, độ mặn lan truyền, khuyếch tán. Dưới tác dụng của dòng triều, nước biển xâm nhập vào sông, đi về hướng thượng nguồn. Chiều dài xâm nhập phụ thuộc vào cường độ của dòng triều và lượng nước trên thượng lưu đổ về.

5.7 Ô nhiễm nước.

Nếu xưa kia, nước quan trọng thì ngày nay, nước lại càng quan  trọng hơn. Lý do chính là do áp lực dân số, tạo nên nhu cầu  nước. Kỹ nghệ phát triển, đô thị phát triển, dân số phát triển kéo theo nhiều phế thải và nhiều ô nhiễm; nhưng vì mọi ô nhiễm dù là từ đất (bãi rác rò rĩ, thuốc sát trùng, phân bón ), dù là từ không khí (từ các khu kỹ nghệ, từ khói xe) nhưng cuối cùng rồi  cũng phải chảy về chỗ thấp, nghĩa là vào nước.Tóm lại, nước không những phải nhiều cho một dân số càng ngày càng tăng (Việt Nam nay đã 90 triệu dân) mà còn phải  sạch để bảo đảm sức khoẻ. Nước mà dơ bẩn thì vô hình gây ra một gánh nặng cho nền y tế. Đặc biệt, trên các dòng sông miền Trung, có nhiều vạn đò sống trên sông và  sử dụng trực tiếp nước sông nên  dịch bệnh là một ám ảnh thường xuyên .Thực vậy, phần lớn phân người từ các đô thị đi thẳng vào sông ngòi mà không được xử lý

Mọi vấn nạn trên đều có tương quan với nhau. Mùa mưa, nước lụt cuốn trôi nhà cửa ruộng vườn vì mưa lũ nhiều do rừng đầu nguồn bị phá; mùa nắng thì do bơm nước nhiều qúa sự luân lưu của dòng chảy (nước mặt và nước ngầm ) nên nước mặn  xâm nhập sâu vào nội địa.

6. Kết luận

Các dòng sông là những đường dây nối liền miền núi và miền biển, do đó muốn phát triển bền v ững các dòng sông là phải chú ý cả hai miền. Vậy muốn giải quyết các vấn nạn trên, sự quản trị đồng bộ của lưu vực đòi hỏi những biện pháp tổng hợp :

trồng rừng ở đầu nguồn để chuyển một phần nước mặt thành nước ngầm nhằm hạn chế nưóc lũ dồn về hạ lưu qúa nhanh, kéo dài thời gian truyền lũ. Rừng cây giúp giảm tốc độ dòng chảy, giảm lượng nước chảy tràn bề mặt và lượng đất bị xói mòn. Sự phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên rừng không loại trừ lẫn nhau; đúng hơn, chúng phụ thuộc và hỗ trợ cho nhau . Tài nguyên rừng bảo vệ tài nguyên nước và nhờ tài nguyên nước, mới có những đập thủy điện nhỏ trên các vùng núi non, giúp nông dân thôn bản có thể giải trí nhờ truyền hình, giúp xay lúa, chà gạo, giải phóng phụ nữ khỏi các việc nặng nhọc lam lũ.

trồng rừng ở cuối nguồn, nghĩa là tại các đầm phá ven biển, mục đích ngăn ngừa xói lở bờ biển, giúp cản sóng và tạo điều kiện thuận lợi cho nuôi tôm, cá  và đặc biệt tại các tỉnh như  Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị… là những tỉnh luôn phải hứng chịu các điều kiện của gió bão.

Trồng cây phi lao trên các đồi cát duyên hải tránh nạn cát bay

-tại các vùng có địa hình thuận lợi, xây dựng các hồ chứa để tích nước nhằm giảm mức độ của lũ. Các công trình giữ nước trên núi hay vùng gò đồi giúp  điều tiết lượng nước và tạo thuỷ điện. Ven các suối, trồng cây ăn trái hay cây lương thực đa niên để giữ đất và có nguồn lương thực.

–phân một phần lưu lượng lũ của sông chính vào sông nhánh hoặc tạo hồ liên thông nhau, giúp san sẻ lượng nước dư thừa từ vùng có quá nhiều nước đến các hồ thiếu nước.

-và lồng ghép vào chương trình trên phải là một chuơng trình điều hoà dân số,- chú trọng vào chất lượng hơn là số lượng dân-, cũng giúp cải thiện môi trường sống, vì có sự liên hệ chặt chẽ giữa dân số và môi trường. Điều hoà dân số nhất là tại các làng chài ven biển là nơi sinh suất rất cao .

-vì miền Trung đất hẹp, người đông nên tiềm năng nông nghiệp rất eo hẹp; do đó phải có các hoạt động phi nông nghiệp, không cần đất như các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, công nghiệp điện tử, chuyển vận, du lịch, môi giới bất động sản v.v.Phát triển bền vững tôn trọng môi trường  phải là mục tiêu của dân miền Trung để bảo toàn các giá trị non sông ngày nay và các thế hệ kế tiếp

 

Thư tịch sơ lược

Nguyễn Dược-Trung Hải . Sổ tay điạ danh Việt Nam . Nhà xuất bản Giáo Dục 2003

Thái Công Tụng . Natural environment and land use in Viet Nam . in Viet Nam: Culture and Environment . Viện Việt Học Cali  2012

Thái Công Tụng . Land use in Thanh Hoá province, with special reference to the Bái Thượng dam irrigation rehabilitation project.  Vietnamologica 1996.

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Nha Trang và Yersin

NHA TRANG VÀ YERSIN
Hoàng Kim
thật vui sau khi họp Phan Công Kiên (Cong Kien Phan) và tôi đã dành được thời gian lên thăm và thắp hương tưởng nhớ bác Năm. Chúng tôi đứng bên khu mộ và giếng nước thơi trong để tưởng nhớ Người. Tôi và vợ tôi đã từng dọn nhà và nói chuyện về bác Năm nhưng tôi chưa dịp nào đưa gia đình đến nơi này. Tôi thầm mong một ngày sẽ đưa gia đình và các bé con cháu tôi về nơi đây để thấu hiểu Nha Trang và Yersin ngày trở lại, một bài học lớn. Bài học giấc mơ hạnh phúc …

Nha Trang, biển yến rừng trầm, thiên đường nghỉ dưỡng du lịch biển đảo nổi tiếng Việt Nam là cũng là nơi an nghĩ và lưu dấu những cống hiến đặc biệt xuất sắc của nhà bác hoc thiên tài Yersin.

Quần thể mộ Yersin ở Suối Dầu và thư viện Yersin ở Viện Pasteur Nha Trang là trường hợp duy nhất Chính phủ Việt Nam cấp bằng chứng nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia cho một người nước ngoài. Tại làng Tân Xương ở Suối Dầu, dân làng thờ Yersin làm thành hoàng. Ngày mỗi ngày, công viên Yersin, Bảo tàng Yersin, mộ Yersin càng có nhiều lượt khách trong nước và quốc tế đến thăm để chiêm nghiệm bài học lớn tình yêu cuộc sống.

Alexandre Émile Jean Yersin là nhà bác học lỗi lạc người Pháp gốc Thụy Sĩ. Ông là bác sĩ y khoa, nhà vi khuẩn học, nhà thám hiểm, nhà nông học, nhà chăn nuôi, nhà điểu học, nhà dân tộc học, nhiếp ảnh gia, nghiên cứu khí tượng, nhà văn, nhà dịch thuật, nhà nhân đạo và ân nhân được nhân dân Việt Nam tôn kính. Ông được trao tặng Bắc Đẩu Bội tinh, huân chương cao quý nhất của nước Pháp, Việt Nam long bội tinh, Viện sĩ Viện Hàn Lâm Khoa học, Viện Hàn lâm Y học, Viện Hàn lâm Khoa học các thuộc địa, Hội Bệnh học Hải ngoại, Hội Y học Nhiệt đới, Hội Thiên văn Pháp quốc. (xem tiếp tại đây hoặc tại đây)

Mộ Alexandre Yersin (1863-1943) tại Suối Dầu, Nha Trang, Việt NamYersin sinh ngày 22 tháng 9 năm 1863 tại làng Lavaux (hat Vaux) Aubonne, Thụy Sĩ,tổ tiên ông vốn là người Pháp di cư sang Thụy Sĩ, năm 1889 ông được phục hồi quốc tịch Pháp. Alecxandre Yersin mất ngày 01 tháng 3 năm 1943 tại Nha Trang. Yersin đã phát hiện độc tố bệnh bạch hầu năm 1888, Ông thám hiểm năm 1892 tìm ra con đường bộ từ Nha Trang ven Biển Đông băng qua dãy Trường Sơn qua Stung Treng đi suốt dọc ha lưu sông Mekong đến Phnom Penh. Ông là người thám sát lần đầu Cao nguyên Lâm Viên năm 1893 giúp thiết lập nên thành phố nghỉ mát Đà Lạt. Yersin đã tìm ra trực khuẩn gây bệnh dịch hạch sau này được đặt theo tên ông Yersinia pestis năm 1894 và điều chế huyết thanh chữa trị. Yersin là người sáng lập Viện Pasteur Nha Trang năm 1895. Với tiền thưởng khoa học, Yersin mua một khu đất rộng 500 héc-ta ở Suối Dầu để làm nông nghiệp và chăn nuôi. Ông là người đầu tiên du nhập và phát triển cây cao su ở Việt Nam năm 1897. Ông tuyển chọn nhiều loại thực vật và động vật từ khắp nơi trên thế giới để nuôi trồng tại Suối Dầu, biến nó thành một cộng đồng nông nghiệp và khoa học với một trạm xá phục vụ cư dân trong vùng. Ông cho trồng cây cà-phê Liberia, các loại cây thuốc, cây coca để sản xuất cô-ca-in sử dụng trong ngành dược. Ông làm vườn, trồng hoa, nuôi chim, nuôi ngựa bò, sản xuất huyết thanh chống dịch cho bò. Trung tâm thí nghiệm này về sau trở thành Viện Thú y đầu tiên ở Đông Dương. Ông là người thành lập và là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Y Đông Dương (tiền thân của Đại học Y Hà Nội) năm 1902. Ông trồng thử nghiệm cây canh ki na để sản xuất thuốc ký ninh chữa bệnh sốt rét năm 1917. Ông Năm Yersin nghiên cứu khoa học, sống thung dung trọn đời với người dân và thiên nhiên trong lành ở Suối Dầu, Nha Trang, Khánh Hòa.

Nha Trang và Yersin có một mối nhân duyên thật kỳ lạ. Năm 1891, khi đặt chân đến Nha Trang, Yersin đã yêu mến vùng đất này, và quyết định lưu trú tại đây. Ông viết cho Émile Roux, “Hãy đến đây với tôi, ông sẽ biết ở đây thú vị như thế nào, thời tiết không nóng nhiều, cũng không lạnh lắm, một khung cảnh thanh bình tuyệt đối và nhiều công việc cần làm“. Tên “Nha Trang” có hai giả thuyết, một giả thuyết cho rằng nó được hình thành do cách đọc của người Việt phỏng theo âm một địa danh Chăm vốn có trước là Ya Trang hay Ea Trang (có nghĩa là “sông Lau”, tiếng người Chăm, tức là gọi sông Cái chảy qua Nha Trang ngày nay, con sông này đổ ra biển đúng chỗ có nhiều cây lau). Từ tên sông, sau chỉ rộng ra vùng đất, từ năm 1653. Giả thiết khác cho rằng Nha Trang trước năm 1891 chỉ mới là một vịnh nước yên tĩnh đầy nắng chưa có tên gọi trên bản đồ nhưng khi Yersin đến ở và xây “nhà trắng” ở đó nổi bật trên những ngôi nhà làng chài lúp xúp trên dải cát trắng từ năm 1891, thì họ gọi là ”nhà trắng” lâu dần phiên âm thành Nha trang. Giả thiết đầu tiên được các nhà nghiên cứu thống nhất hơn. Dẫu vậy giả thuyết thứ hai cũng được nhiều người ủng hộ.

Yersin lưu dấu nhiều ký ức sâu đậm tại Nha Trang. Di sản Yersin thật sự to lớn và bền vững với thời gian ở Việt Nam. Ông từ trần tại nhà riêng ở Nha Trang ngày 1 tháng 3 năm 1943 , và để lại di chúc: “Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu. Yêu cầu ông Bùi Quang Phương giữ tôi lại tại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang, và những người cộng sự lâu năm. Đám táng làm giản dị, không huy hoàng không điếu văn.” Noël Bernard, người đầu tiên viết tiểu sử Yersin đã nhận xét: “Chắc chắn rất hiếm có người ít tư lợi đến thế. Yersin tự xóa mờ mình đi để người khác được tự do sáng kiến, sự tự do mà chính bản thân ông hết sức gắn bó”

Yersin cũng lưu dấu ở Đà Lạt, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Thủ Dầu Một. Tại Đà Lạt, thành phố tình yêu, nơi núi non tuyệt đẹp trên cao nguyên Lâm Viên, Yersin là người nước ngoài đầu tiên đã thám hiểm và khám phá ra Đà Lạt. Tên ông được lưu dấu tại Trường Lycée Yersin (Trường Cao đẳng Sư phạm), Trường Đại học Yersin và Công viên Yersin. Tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Thủ Dầu Một, tên của Yersin được đặt tên đường để vinh danh. Dẫu vậy, nơi chính của Người vẫn là ở Nha Trang.

Tôi thắp hương tưởng nhớ bác Năm Yersin theo lối gọi yêu mến của người dân Việt và bâng khuâng nhớ Người. Tôi thầm tự hỏi: dưới vòm trời này, đất lành này, núi biếc biển xanh này, so sánh con người phúc hậu, hiền lành, khiêm nhường đang nằm dưới ngôi mộ yên bình kia và những vĩ nhân lỗi lạc nhất của các nước lớn đến và ra đi khỏi Việt Nam, rốt cụộc thì ai hơn ai ? Ai đọng lại trong lòng dân Việt sâu bền hơn?

Ông Năm Yersin không phải là người Việt nhưng ông được mọi người Việt mọi thời yêu quý, tôn kính, ngưỡng mộ. Ông thật hạnh phúc.

 

NHA TRANG VÀ YERSIN NGÀY TRỞ LẠI

TS. Phan Công Kiên và TS. Hoàng Kim thăm bác Năm. Phan Công Kiên là Phó Viện Trưởng Viện nghiên cứu Bông và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố và tôi được mời tham gia Hội đồng Khoa học và Công nghệ Khánh Hòa đánh giá nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu xác định đối tượng và cơ cấu cây trồng phù hợp trên đất thoái hóa tại xã Cam Thịnh Tây, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa”. Thật vui sau khi họp Cong Kien Phan và tôi đã dành được thời gian lên thăm và thắp hương tưởng nhớ bác Năm. Chúng tôi đứng bên khu mộ và giếng nước thơi trong để tưởng nhớ Người. Tôi và vợ tôi đã từng dọn nhà và nói chuyện về bác Năm nhưng tôi chưa dịp nào đưa gia đình đến nơi này. Tôi thầm mong một ngày sẽ đưa gia đình và các bé con cháu tôi về nơi đây để thấu hiểu Nha Trang và Yersin ngày trở lại, một bài học lớn. Bài học giấc mơ hạnh phúc……

Chuyến bay trễ. Tôi tình cờ gặp PGS.TS. Đặng Việt Bích là con trai của cố Tổng Bí thư và Chủ tịch Nước Trường Chinh. Ông Bích và phu nhân cùng chuyến bay với tôi vào thành phố Hồ Chí Minh. PGS.TS. Đặng Việt Bích nguyên là Phó Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng khoa học Đại học Văn hóa Hà Nội (1998-2000), Hiệu trưởng trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội (1998-2002) Chủ tịch Hội đồng thi đua Đại học Văn hóa Hà Nội (1992-2000). Chúng tôi nói chuyện suốt chuyến bay về ‘bác Năm’ Yersin. Biết bao danh nhân nước ngoài đến Việt Nam nhưng mấy ai được dân Việt tôn kính và quý trọng đến vậy? Ông Năm khiêm nhường như thế nhưng công đức và công bằng lịch sử lắng đọng như một ân nhân dân Việt .

Tôi về nhà muộn, không dừng được những suy nghĩ về bác Năm. Tôi bất chợt đọc được cảm nhận xúc động của em Nguyễn Quang Huy quê Phú Yên và tôi không nỡ không thức dậy thắp ngọn đèn khuya để đối thoại thầm lặng với đêm thiêng. Nguyễn Quang Huy viết:

Em đọc Yersin, người chữa trị dịch hạch và thổ tả, vào những buổi sáng ở cao nguyên Lâm Viên, lòng vô cùng ngưỡng mộ về vị bác sĩ danh tiếng này. Từ một chuyên gia trong lĩnh vực vi trùng, lại bỏ áo bluse để trở thành một thủy thủ vì sau một chuyến công tác đã “lần đầu tiên thấy biển”. Rồi khi trở thành thủy thủ lại một lần nữa từ bỏ những con sóng để khám phá ra cao nguyên Lâm Viên vì “nhìn thấy những đám mây trên rặng núi của Khánh Vĩnh chưa có ai khám phá”. Thế rồi sau những chuyến phiêu lưu lại trở thành một chuyên gia nông học, chủ đồn điền để lại cho người Việt biết bao lợi ích vì những công hiến của mình. Từ đồn điền rộng 500ha ông lại lui vè với mảnh đất mấy mét vuông với tấm bia mộ khiêm tốn ở Suối Dầu, để lại cho đời hình ảnh về một con người phi thường, một người không có cha nhưng đã đi xa hơn những giới hạn mà những người cha có thể đạt tới.

Theo mô tả của Patrick Deville thì Yersin suốt đời theo đuổi cái hiện đại nhất, em lại nhớ tới lời dạy của thầy Hoàng Kim rằng trong nghiên cứu khoa học phải mang về những thông tin số liệu mới nhất của thế giới, giống tốt nhất để phục vụ cho bà con. Em ngưỡng mộ cách thiết kế bài giảng của thầy, thể hiện được sự tôn trọng khoa học và yêu nghề lớn lao.

Em chưa đến được viện Passteur cũng như đến Suối Dầu thăm mộ của bác sĩ Yersin, nhưng em có cảm giác một sự đồng điệu ghê gớm với con người của thế kỉ trước này. Em cũng đã ghé thăm trường Lycée Yersin (đã đổi tên thành Cao Đẳng Sư Phạm) hay Đại học Yersin nhưng chư tìm thấy dấu ấn nào. Mong rằng có dịp sẽ đến được Suối Dầu Nha Trang để thắp một nén nhang và tưởng nhớ về một con người vĩ đại.

Cảm ơn thầy ạ.”

*

Gửi những người thân yêu đọc bài viết này. Ngày này năm xưa, ngày 12 tháng 12 năm 1427 nhằm ngày 24 tháng 11 năm Đinh Mùi sau Hội thề Đông Quan được tổ chức giữa thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn Lê Lợi và chủ tướng quân Minh là Vương Thông, Đại Việt đã giành lại độc lập, kết thúc cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.Vua Minh sai La Nhữ Kính mang thư sang phong Trần Cảo là An Nam Quốc Vương, bãi bỏ quân nam chinh, ra lệnh cho Thông trở về Bắc, trả lại đất cho An Nam, việc triều cống theo lệ cũ năm Hồng Vũ, cho sứ thần đi lại.Tổng cộng 10 vạn quân Minh đã được hồi hương an toàn. Tác phẩm Bình Ngô đại cáo viết rằng: “Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc, Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run. Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức. Chẳng những mưu kế kì diệu Cũng là chưa thấy xưa nay…”Nực cười Vương Thông, Liễu Thăng, Mộc Thanh, … bao nhiêu danh tướng nước ngoài sang Việt Nam, họ đã lưu lại gì nơi đây? “Tham công danh một lúc để cười cho cả thế gian” Sao họ không đến Việt Nam như một người bạn, như một ân nhân, như Yersin?

Chúng ta đang gõ đúng cánh cửa hạnh phúc, khai mở một tiềm năng trí huệ.

Hoàng Kim

(*)  xem thêm https://cnm365.wordpress.com/cat…/chao-ngay-moi-10-thang-12/. Bài chọn lọc Nha Trang và Yersin.

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Đại tuyết ta còn mãi miết đi

Đại tuyết ta còn mãi miết đi.

Hoàng Kim

Hạnh phúc đơn sơ sao đẹp thế
Ngắm hoa nhớ buổi nắng đông về
Yêu sao ngày mới mừng xuân đến
Đại tuyết
ta còn mãi miết đi.

Ghi chú:

8 tháng 12 là ngày đại tuyết
22 tháng 12 là chính giữa đông.
Thuận thời an nhàn, trái thời vất vả
Thiên thời 24 tiết khí lịch nhà nông.

Đỗ Phủ hôm nay về Trường An,
John Lennon lắng giọng ca vàng.
Golda Meir lừng danh Thủ tướng.
Ngày đại tuyết là ngày sang trang.

Khuyên em đừng quên “nhất thì nhì thục”
Di sản Việt Nam học mãi không cùng
Mình học để làm 24 tiết khí
Mộc mạc hát vần bài học đầu tiên.

Đất cảm trời thương, lòng người gắn bó
Dẫu khó vạn lần khéo liệu cũng xong
Mùa xuân đến tự tiết xuân sẽ đến
Bởi biết rằng năm tháng đó là em.

CNM365. Chào ngày mới 8 tháng 12. Đỗ Phủ hôm nay về Trường An, John Lennon lắng giọng ca vàng. Golda Meir lừng danh Thủ tướng. Ngày đại tuyết là ngày sang trang. 8 tháng 12 là ngày đại tuyết trong 24 tiết khí lịch nhà nông. Ngày này năm xưa. Năm 757, Đỗ Phủ về kinh thành Trường An làm quan trong triều vua Đường Huyền Tông sau loạn An Sử.  Đỗ Phủ cùng với Lý Bạch là hai nhà thơ vĩ đại nhất Trung Quốc thời nhà Đường. Đỗ Phủ được các nhà phê bình Trung Quốc gọi là Thi thánhThi sử do đức độ cao thượng, tài thơ văn tuyệt vời. Tầm vóc tác phẩm ông như Shakespeare, Victor Hugo. Cuộc đời Đỗ Phủ là tấm gương phản chiếu đất nước Trung Hoa thời loạn đời sống nhân dân điêu đứng tột cùng vì thường xuyên biến động. Bài thơ nổi tiếng ‘Xem người đẹp múa kiếm’ của Đỗ Phủ  gợi cho người Việt Nam nhớ bài thơ bi tráng ‘Thuật hoài’ đêm thanh mài kiếm của Đặng Dung. Thơ Đỗ Phủ ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Trung Quốc và Nhật Bản. Cụ Hồ Chí Minh trong Di chúc có trích thơ Đỗ Phủ. Ngày 8 tháng 12 năm 1980 là ngày mất John Lennon ca sĩ nhạc sĩ và nhà hoạt động hòa bình đặc biệt nổi tiếng người Anh sinh năm 1940, người được ngưỡng mộ nhất trong lịch sử âm nhạc thế giới. John Lennon với Paul McCartney là  bộ đôi sáng tác vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Ngày 8 tháng 12 năm 1978  cũng là ngày mất của Golda Meir, Thủ tướng Israel sinh năm 1898, chính trị gia người Israel sinh tại Đế quốc Nga. Bà là người phụ nữ đầu tiên của Israrel và người phụ nữ thứ ba trên thế giới giữ chức vụ Thủ tướng Israel ngày 17 tháng 3 năm 1969, sau khi giữ chức Bộ trưởng Lao động và Bộ trưởng Ngoại giao. Bà  được miêu tả là “người giỏi nhất trong chính phủ “có “ý chí mạnh mẽ, nói chuyện thẳng thắn, người của dân Do Thái”; xem thêm https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-8-thang-12/; Bài chọn lọc Đại tuyết ta còn mãi miết đi (thơ Hoàng Kim)

Video yêu thích
KimYouTube

Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời

THẮP ĐÈN LÊN ĐI EM ! Em đã học nhiều gương sáng danh nhân Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin… Ngày 7 tháng 12 (nhằm ngày 21 tháng 10 âm lịch) là ngày mất của thầy Nguyễn Khoa Tịnh, người Thầy đã viết những câu thơ có lửa “Em ơi em can đảm bước chân lên!”. Trong ngày kỷ niệm đáng nhớ này, lưu lại cho các em BM Nguyễn, Mai Trúc Nguyễn Thị, Xuan Ky Nguyen, Võ Văn Quang …và biết bao các em sinh viên nghèo hiếu học đôi lời Thầy dặn https://hoangkimlong.wordpress.com/2017/12/06/loi-thay-dan/

Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời” là bài học của chính tôi để giúp các bạn trẻ  tự đúc kết bài học trưởng thành thấm thía cho chính riêng mình. Cụ Nguyễn Hiến Lê sao sáng trời Nam là một nhà giáo, nhà văn, học giả, dịch giả, với 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã trao đổi về triết lý nhân sinh của Cụ: ‘Rất ít khi con người rút được kinh nghiệm của người trước. Ai cũng phải tự rút kinh nghiệm của mình rồi mới khôn, vì vậy mà thường vấp té. Nhưng phải như vậy thì loài người mới tiến được.’ ‘Khi nghèo thì phải tận lực chiến đấu với cảnh nghèo vì phải đủ ăn mới giữ được sự độc lập và tư cách của mình. Nhưng khi đã đủ ăn rồi thì đừng nên làm giàu, phải để thì giờ làm những việc hữu ích mà không vì danh và lợi. Giá trị của ta ở chỗ làm được nhiều việc như vậy hay không’.Cụ Nguyễn Hiến Lê là người được giới trí thức và nhân dân lao động kính trọng vì nhân cách cao qúy, cuộc sống thanh bạch, học vấn uyên  bác và hiệu qủa lao động hiếm thấy. Cụ Nguyễn Hiến Lê trong “Lời mở đầu” tác phẩm “Đời viết văn của tôi” đã viết: “Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ HỌC và VIẾT. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau gần suốt đời. Tôi VIẾT ĐỂ HỌC và HỌC ĐỂ VIẾT”. Nguyễn Hiến Lê trí tuệ bậc Thầy, ngọn đèn văn hóa với cuộc đời và di sản là một mẫu mực nhân cách người hiền còn mãi với thời gian.

Câu chuyện tôi kể vắn tắt dưới đây về những bạn trẻ thân thiết quanh mình, đó là những gương sáng nghị lực vượt khó thật xúc động.

Nguyễn Xuân Kỳ (Xuan Ky Nguyen) người vừa bảo vệ luận án tiến sĩ ở Đại Học Huế mấy tháng trước về đề tài luận án ” Tuyển chọn giống lúa ngắn ngày và xác định các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp ở tỉnh Quảng Bình”. Đề tài luận án có ý nghĩa tốt khoa học thể hiện là công trình nghiên cứu có hệ thống, cung cấp những dẫn liệu khoa học phục vụ công tác nghiên cứu tuyển chọn giống lúa ngắn ngày; Tuyển chọn được hai giống lúa tốt ngắn ngày SV181 và SVN1; xác định mức độ ổn định và chỉ số thích nghi của các giống lúa; xác định lượng giống lúa gieo sạ và tổ hợp phân bón thích hợp đối với hai giống lúa mới nêu trên. Hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh đối với hai giống lúa đã xác định ở Quảng Bình.

Cô Lệ và tôi là người hướng dẫn của em. Nguyễn Xuân Kỳ mồ côi cha từ nhỏ ở với mẹ và anh. Ngày vui mẹ, vợ con cùng thầy cô hướng dẫn, người thân nội ngoại và bạn hữu đã cùng chia sẻ và ôn lại biết bao kỷ niệm về nghị lực vượt khó thật đáng tự hào.

Xuân Kỳ miệt mài và say mê công việc gắn bó với đồng đội với lúa với ruộng đồng và nghề nông. Bạn cùng công ty biết hướng những lợi ích và niềm vui vào việc hổ trợ khuyến học.

Nguyễn Thị Trúc Mai (Mai Trúc Nguyễn Thị,) người vừa bảo vệ luận án tiến sĩ ở Đại Học Huế  tháng này về đề tài luận án ” Nghiên cứu tuyển chọn giống sắn có năng suất tinh bột cao và kỹ thuật thâm canh tại tỉnh Phú Yên” Đề tài luận án đã cung cấp những dẫn liệu khoa học cùng với những kết quả thực tế giống mới, biện pháp canh tác mới xác định lịch thời vụ trồng và thời điểm thu hoạch sắn thích hợp hiệu quả; Công trình nghiên cứu đã tuyển chọn và xác định được giống sắn KM419 năng suất củ tươi và năng suất tinh bột cao; xác định được lượng phân bón thích hợp nhất đối với giống sắn KM419 là 100 kg N + 80 kg P2O5 + 150 kg K2O + 10 tấn phân chuồng/ ha hoặc công thức 100 kg N + 80 kg P2O5 + 150 kg K2O + 1000 kg phân hữu cơ vi sinh/ ha. Mật độ trồng thích hợp là 14.285 cây/ ha, tương ứng khoảng cách 1,00m x0,70m. Hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh rãi vụ đối với giống sắn KM419 tại Phú Yên.


Đồng Xuân là vùng quê nghèo, Nhà cha mẹ Mai Trúc Nguyễn Thị thừa tự trên chính ngôi nhà ở của ông bà ngoại tại thị trấn La Hai huyện Đồng Xuân. Mai Trúc Nguyễn Thị sinh năm 1987 con gái út của một gia đình nông dân nghèo ‘Mẹ lần đầu đến Huế’ mà ông bà cha mẹ đều là nôi cách mạng. Huyện Đồng Xuân là vùng núi tỉnh Phú Yên, nôi quê hương danh tướng Chu Văn Tiếp khai quốc công thần triều Nguyễn, cũng là quê hương đồng chí Phan Lưu Thanh người cộng sản đầu tiên, chi bộ đầu tiên và Tỉnh ủy Phú Yên đầu tiên. Câu chuyện về Mai Trúc Nguyễn Thị  là một tấm gương sáng về nghị lực vượt khó thật đáng tự hào được nhiều thầy bạn quý mến

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Trần Nhân Tông lời Thầy dặn

TRẦN NHÂN TÔNG LỜI THẦY DẶN. “Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu. Sách Nhàn đọc giấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim…” (Trần Nhân Tông 1258-1308). CNM365. Chào ngày mới 7 tháng 12. Trần Nhân Tông trong bức danh họa Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ, tác giả là Trần Giám Như thế kỷ thứ 14. Ngày này năm xưa. Năm 1258, ngày sinh của Trần Nhân Tông, tức Trần Khâm là vị vua Phật, hoàng đế thứ ba nhà Trần, người nổi tiếng anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam. Năm 1972, các phi hành gia trên phi thuyền Apollo 17 trên đường tới Mặt Trăng lần đầu tiên chụp  rõ mặt sáng của “Viên bi xanh“ Trái Đất. Năm 1995, tàu vũ trụ Galileo đã đến Sao Mộc sau hơn 6 năm từ khi được phóng bởi Tàu con thoi Atlantis trong Sứ mệnh STS-34. Vua Phật Trần Nhân Tông sinh ngày 7 tháng 12 năm 1258 nhằm ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ, mất năm 1308,  là một trong những vị vua anh minh nhất của lịch sử Việt Nam. Người tên thật là Trần Khâm, vua Trần thứ ba (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước vua Trần Anh Tông). Với 50 năm cuộc đời, vua Phật Trần Nhân Tông đã kịp làm được ít nhất năm việc lớn hiếm thấy và khó ai bì kịp ở mọi dân tộc và mọi thời đại: 1) Minh quân lỗi lạc, làm vua 15 năm (1278 – 1293) trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến hai lần đánh thắng quân Nguyên Mông là đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thời đó; 2) Tổ sư thiền phái Trúc Lâm và Thái Thượng Hoàng 15 năm (1294-1308) là vua Phật Việt Nam. 3) Nhà văn hóa và nhà thơ kiệt xuất với kiệt tác thơ Thiền Trần Nhân Tông và thắng tích Trúc Lâm Yên Tử; 4) Người thầy chiến lược vĩ đại muôn đời của kế sách một chữ “đồng” “vua tôi đồng lòng, toàn dân đồng sức”, nhược thắng cường, yếu thắng mạnh, nước nhỏ thắng nước lớn, sự nghiệp mở nước và thống nhất non sông Việt bằng vương đạo, thuận thời, thuận người . 5) Nhà trị loạn kỳ tài đã hưng thịnh nhà Trần và cứu nguy cho nước Việt ở thời khắc quyết định, biến nguy thành an, biến những điều không thể thành có thể; xem thêm: https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-7-thang-12/. Bài viết chọn lọc: Lên Yên Tử sưu tầm thơ đức Nhân TôngLên non thiêng Yên Tử; Lời của Thầy theo mãi bước em đi; Em ơi em can đảm bước chân lên; Lời dặn lại của Đức Thánh Trần; Lời Thầy dặn

DemYenTuLÊN YÊN TỬ SƯU TẦM THƠ ĐỨC NHÂN TÔNG

“Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu.
Sách Nhàn đọc giấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim…”
(Trần Nhân Tông 1258-1308)

Người ơi con đến đây tìm
Non thiêng Yên Tử như tranh họa đồ
Núi cao trùng điệp nhấp nhô
Đất trời bảng lãng chuông chùa Hoa Yên

Thầy còn dạo bước cõi tiên
Con ươm mầm sống xanh thêm ruộng vườn
Mang cây lộc trúc về Nam
Ken dày phên giậu ở miền xa xôi

Cư trần lạc đạo, Người ơi
Tùy duyên vui đạo sống đời thung dung
Hành trang Thượng sĩ Tuệ Trung
Kỳ Lân thiền viện cành vươn ra ngoài

An Kỳ Sinh trấn giữa trời
Thơ Thiền lưu dấu muôn đời nước non …

(Hoàng Kim cẩn đề) KimYouTube