Từ Hiếu với người hiền

TỪ HIẾU VỚI NGƯỜI HIỀN
“nhân sinh bách hạnh hiếu vi tiên” (cổ ngữ)
Hoàng Kim

Về quê lần trước ghé thăm đây.
Cầu Hiểu cầu Thương níu bạn thầy.
Thơ thiền Nhất Hạnh tìm gốc cũ.
Mặt trời từng hạt chính nơi này.

Hoàng Kim nhớ lần trước ra Huế đến thắp hương Nam Giao và chùa Từ Hiếu, cội nguồn của hiếu sinh. Lần khác có viếng thăm chúa Nguyễn Hoàng ở lăng Trường Cơ, tọa lạc tại xã La Khê, huyện Hương Trà, nay là làng La Khê, xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, và viếng thăm Thiên Thụ Sơn, vùng cây trên 2000 ha mà triều Nguyễn dày công mang kỳ hoa dị thảo cả nước về trồng ở chốn kinh kỳ để lưu dấu những hoài niệm.

Thật may mắn những lần được uống trà ban mai tĩnh lặng tại Từ Hiếu, được lắng nghe những lời dạy thân thiết và những trang văn uyên áo của người Thầy, được tĩnh lặng chứng ngộ pháp môn “cười” và pháp môn “phật giáo dấn thân”. Đời trãi ngộ lắm, thấm thía lắm, sâu sắc lắm mới có được những bài thi kệ thật hiếm có, trân quý như ngọc cho đời “Sinh Tử, cầu Hiểu cầu Thương, Thơ từng ôm và Mặt trời từng hạt” “Đường xưa mây trắng” “Việt Nam Phật Giáo sử luận” “Thả một bè lau”

Đời người hiếm có những dịp may được cùng những người thân chọn về đây, nói chuyện về các điều tâm đắc và lắng nghe trang đời, trang sách, cổ vật trò chuyện Từ Hiếu với Người Hiền xem tiếp http://hoangkimlong.wordpress.com/category/tu-hieu-voi-nguoi-hien/
Đêm thiêng tưởng nhớ Thầy.
#cnm365 #cltvn An nhiên

CẢM ƠN THẦY NGỌN LỬA
Bạch Ngọc Hoàng Kim


Cảm ơn Thầy ngọn lửa
Cười nụ và dấn thân
Cầu Hiểu tới cầu Thương
Thơ từng ôm và Mặt trời từng hạt

Thơ thiền Thích Nhất Hạnh; Từ Hiếu với người hiền; https://hoangkimvn.wordpress.com/2022/01/22/tu-hieu-voi-nguoi-hien/ Sự nhẫn nhục tuyệt đối https://youtu.be/jyaZuR3vj2o;

Chùa Bửu Minh: một số hình ảnh của Lễ nhập kim quan của Trưởng lão Hòa thượng Thích Nhất Hạnh (tại Tổ đình Từ Hiếu, Huế) https://www.youtube.com/watch?v=t04xsspfQlM

Bài phỏng vấn Thiền sư Thích Nhất Hạnh
Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã dặn dò …

*

Nhớ kỷ niệm một thời

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là tu-hieu-nho-nguoi-hien-5.jpg

LỜI THẦY DẶN THUNG DUNG
Hoàng Kim
tặng TM Ngày Hạnh Phúc của em

Mẹ lần đầu ra Huế
Cha Mẹ về mừng con
Chốn thị thành vinh hiển
Con hạnh phúc trăm năm

Huế núi Ngự sông Hương
Thăm thẳm một tầm nhìn.
Thiên Mụ, Từ Hiếu, Nam Giao
“Rùa ơi’ thương đội bia Tiến sĩ

Ngày Hạnh Phúc con biết ơn
Bao người thân hi sinh thầm lặng
Cha Mẹ người thân là động lực
Cho đồng xuân mãi mãi xuân

Tagore bậc hiền triết phương Đông:
Hãy cảm ơn ngọn đèn tỏa sáng,
nhưng chớ quên người cầm đèn
đang kiên nhẫn đứng trong đêm


Vui với chốn dân quê thuần phác
Sống thung dung trời đất cỏ cây
Vinh danh được Học Làm Người
Chí thiện công tâm phúc hậu.

Đá vàng trao hậu thế
Người hiền noi tiếng thơm
Hoàng Thành tới Trúc Lâm
Mừng Phước Đức ghi ơn.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là tu-hieu-nho-nguoi-hien-1.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là tu-hieu-nho-nguoi-hien-2.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là tu-hieu-nho-nguoi-hien-3.jpg

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim

“Thung dung cùng với cỏ hoa. Thỏa thuê đèn sách, nhẫn nha dọn vườn”. Cám ơn Trung Trung đã sửa lại câu thơ trên hay hơn và sâu sắc hơn “Thỏa thuê cùng với cỏ hoa.Thung dung đèn sách nhẫn nha dọn vườn”, mình đã sửa lại. Đó là triết lý nhân sinh “Ta về sống giữa thiên nhiên” của một đội ngũ các nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ đã chấp nhận trọn đời sống với ruộng đồng và chén cơm ngon của người dân. Tình yêu cuộc sống thể hiện trong ý tứ ‘thung dung’ đứng đầu câu thơ, lựa chọn cỏ hoa, thiên nhiên, chân quê làm khởi nghiệp. Sự nghiệp ấy gắn liền với cả một đời, một nghề, để sau này nhìn lại. “Xuân đi trăm hoa rụng, Xuân đến trăm hoa cười” ẩn chứa triết lý sâu sắc hơn là “Xuân đến trăm hoa cười, xuân đi trăm hoa rụng”. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585) “Thanh nhàn vô sự là tiên” trong bài thơ nôm “Chín mươi” có câu: “Chín mươi thì kể xuân đà muộn Xuân ấy qua thì xuân khác còn”. Tăng Quốc Phiên chống quân Thái Bình Thiên Quốc “càng đánh càng thua” nhưng trong bản tấu chương gửi vua thì ông đã quyết ý đổi lại là “càng thua càng đánh”. Việc “đánh thua” thì vẫn vậy nhưng ý tứ của câu sau mạnh hơn hẵn câu trước. Cám ơn bạn về ý THUNG DUNG, mình đưa ý này lên đầu dòng https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

(*) Hình ảnh và chuyện vui chép trong ghi chú: Nhớ kỷ niệm một thời là hôm trước Viện trưởng Trần Thế Thông đưa Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Trìu lên thăm Hưng Lộc thì. ngay hôm sau đó, Pham Sy Tan và Đặng Kim Sơn lại cùng thầy Quyen Mai Van và ông Carangal lên Trung tâm Hưng Lộc trao đổi và bàn chuyện hợp tác phát triển Chương trình Hệ thống Canh tác Việt Nam. (Hình trên là GSTS V. R. Carangal IRRI, người áo đỏ, bìa trái, đang trao đổi trên đồng ruộng với GSTS Mai Văn Quyền IAS, thứ hai phải qua,, TS. Đặng Kim Sơn CLRRI & IPSARD, TS. Phạm Sĩ Tân, CLRRI và TS Hoàng Kim cùng bàn về sự hợp tác IRRI và Việt Nam trong chương trình liên kết nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác). Tôi khi đó đã kể lại câu chuyện về ‘xếp’ Thông và cụ Trìu vừa lên thăm hôm qua, và trả lời Sơn, kể chuyện “Ấn tượng Borlaug và Hemingway” với sự đồng cảm thật sâu sắc. “Norman Borlaug nhà khoa học xanh”, “Lời Thầy dặn” thật thấm thía “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”. Nhớ kỷ niệm một thời không thể nào quên. Đặng Kim Sơn hỏi : Cậu ấn tượng nhất chuyên gì trong chuyến đi học CIMMYT mới đây? Tôi cười nói :”Ấn tượng Borlaug và Hemingway” “Năm tháng ở CIMMYT” . Chuyện “Norman Borlaug nhà khoa học xanh” thầy tới thăm tôi ở nhà riêng là không thể quên. Tôi đọc bốn câu thơ cho thầy Quyen Mai Van, với các bạn Đặng Kim Sơn, Pham Sy Tan cùng nghe và, bất ngờ giáo sư V R Carangal rút bút ra ghi và nói lời đồng cảm.

Đến Huế và Từ Hiếu


THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim

với Trần Ngọc Ngoạn, Van Quyen Mai, Hieu Nguyenminh, Mai Trúc Nguyễn Thị tại Vĩ Dạ Xưa đêm thiêng tháng Bảy mưa ngâu giấc mơ hạnh phúc. Tháng Bảy năm 2017 có điều kỳ diệu 5 ngày thứ Bảy, 5 ngày Chủ nhật và 5 ngày Thứ Hai mà theo Lịch Vạn Niên thì 823 năm mới lặp lại một lần. Đây là “nhóm ngày may mắn” để hành thiện những việc đặc biệt tốt đẹp đầy đặn yêu thương. Thầy bạn trong đời tôi là chùm hình ảnh và bài viết chuyện đời tự kể https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Ngày 14 &15 tháng 7 là ngày đặc biệt. Hồi tưởng lại còn có hai câu chuyện khác. Đó là ngày Nhớ cụ Nguyễn Ngọc TrìuThầy bạn trong đời tôi của thời điểm này tại năm 1987.

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một danh nhân (Cụ mất ngày 9/7/2016, đưa tang ngày 14/7/2016) Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một nhân cách lớn như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét: “Trìu làm lãnh đạo nhưng trước hết là một Con Người”. Hình trên là Bộ Trưởng Nguyễn Ngọc Trìu đến Trung tâm Hưng Lộc năm 1987 thăm thành tựu tiến bộ kỹ thuật “trồng ngô lai xen đậu ở vùng Đông Nam Bộ” và mô hình “nghiên cứu phát triển đậu rồng ở các tỉnh phía Nam”. Hai công trình này do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam giới thiệu, đã được Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp và được phát triển rộng rãi trong sản xuất, vang bóng một thời..

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một chính khách lớn, có cuộc đời và sự nghiệp dường như là cụ Nguyễn Công Trứ của thời đại Hồ Chí Minh. Mọi người khi nhắc đến Cụ đều nhớ ngay đến vị Chủ tịch tỉnh Thái Bình sinh ở Tây Giang, Tiền Hải đã làm rạng ngời “quê hương 5 tấn”, nhớ ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp trí tuệ, xông xáo và rất biết lắng nghe, sau này làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách mảng Nông Lâm Ngư nghiệp và Đặc phái viên của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đối với vùng Nam Bộ. Cụ Trìu cũng là Chủ tịch Hội những người làm vườn Việt Nam, nơi tâm nguyện của ông được bạn thơ Thợ Rèn mến tặng’ “Danh vọng hão huyền như mây khói . Làm vườn cây trái để ngàn năm” .Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một nhân cách lớn như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét: “Trìu làm lãnh đạo nhưng trước hết là một Con Người”.

(

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu cũng có đến thăm bạn học của tôi là Đinh Thế Lữ (Hoàng Kim với Pham Sy Tan học chung một lớp Trồng trọt 4, chung giường tầng giường dưới giường trên. Tôi học chung lớp Đinh Thế Lữ lớp Trồng trọt 10 sau khi bộ đội sáu năm và cùng chung lớp tiến sĩ với Đặng Kim Sơn, Mai Thành Phụng….Hình ảnh 3 từ trái qua phải: ô Nguyễn Quốc Tuấn PCT nguyên Viên trưởng Cây lương thực. Ô Ngô Thế Dân CT nguyên Thứ trưởng TT Bộ NN & PTNT, Bà Thanh, Ô Nguyễn Ngọc Trìu nguyên Bộ trưởng NN. PCT Hội đồng Bộ Trưởng (Phó Thủ Tướng CP). Ô Lữ. O Bùi Sỹ Tiếu PCT TT nguyên Bí thư TƯ Thái Bình Phó Trưởng Ban TW Đảng) Cụ Nguyễn Ngọc Trìu trước là Chủ tịch Hội Làm Vườn, sau mới đến GS Ngô Thế Dân. Nguồn: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-cu-nguyen-ngoc-triu/

TA VỀ VỚI ĐỒNG XUÂN
Hoàng Kim

Người khôn về chốn đông người
Cái nhìn thì mỏng, cái cười thì nông
Ta vui ở lại ruộng đồng
Để gieo tục ngữ để trồng dân ca.

Thung dung cùng với cỏ hoa
Thỏa thuê đèn sách, nhẩn nha dọn vườn
Mặc ai tính thiệt so hơn
Bát cơm gạo mới vẫn thơm láng giềng

Thiên nhiên là thú thần tiên
Chân quê là chốn bình yên đời mình
Bạn hiền bia miệng anh linh
Thảnh thơi hưởng trọn ân tình thế gian

Nước trong ngập ánh trăng vàng
Ta ra cởi bỏ nhọc nhằn âu lo
Lợi danh một thực mười hư
Trăm điều ước vọng chỉ phù du thôi

Ung dung thanh thản cuộc đời
Tình quê bồi đắp về nơi sâu đằm
Ta về sống giữa thiên nhiên
Chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao.

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Bài viết này liên quan tới thời điểm của các hình ảnh (1987-1991) Nhớ cụ Nguyễn Ngọc Trìu https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-cu-nguyen-ngoc-triu/ ; Nhớ kỷ niệm một thời xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là NLU.jpg

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365 bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thìch

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Thơ thiền Thích Nhất Hạnh

thichnhathanh

THƠ THIỀN THÍCH NHẤT HẠNH
Hoàng Kim

Tôi lắng lòng mình trong thơ họa của thiền sự Thích Nhất Hạnh và chợt tỉnh thức chứng ngộ về Sinh Tử, cầu Hiểu cầu Thương, Thơ từng ôm và Mặt trời từng hạt

Thầy Thích Nhất Hạnh là một thiền sư, giảng sư, nhà hoạt động xã hội và người vận động cho hòa bình, nhà văn, nhà khảo cứu khoa học nhân văn và lịch sử văn hóa xã hội, nhà ngôn ngữ, nhà thơ, nhà thư pháp. Thiền sư Thích Nhất Hạnh là nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thứ hai trên thế giới sau Đạt Lai Lạt Ma 14.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh tên húy là Nguyễn Xuân Bảo, sinh ngày 11 tháng 10 năm 1926  tại Thừa Thiên Huế, miền Trung Việt Nam, xuất gia theo Thiền tông vào năm 16 tuổi tại chùa Từ Hiếu, trở thành nhà sư năm 1949. Ngày 1 tháng 5 năm 1966, thiền sư Thanh Quý Chân Thật trao ấn khả cho Thích Nhất Hạnh tại chùa Từ Hiếu để trở thành thiền sự và chân truyền làm Tổ nhánh Từ Hiếu đời thứ 8 dòng Liễu Quán đời thứ 42 của phái thiền Lâm Tế Dhyana (cùng hệ phái tu đạo của học giả Nguyễn Hiến Lê, mời xem Nguyễn Hiến Lê sao sáng trời Nam).

Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã bảo tồn và phát triển những nhận thức sâu sắc từ truyền thống Phật giáo Đại thừa, phương pháp truyền thống Phật giáo Thượng tọa bộ, phối hợp với các phát kiến của ngành tâm lý học đương đại phương Tây để phát triển dòng tu Tiếp Hiện và đưa thông điệp “Phật giáo dấn thân” (engaged Buddhism) ra thế giới.

ThoThienThichNhatHanh

NỤ CƯỜI THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH chứng ngộ của thầy Thích Giác Tâm trân quý như ngọc “Người đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam dạy quần chúng Phật tử tu hành bằng pháp môn cười, để kết nối mọi người lại với nhau, cười được là chúng ta sẽ đến được với nhau, cho dù có khác nhau về chính kiến, ý thức hệ, tôn giáo, chủng tộc… Và khi đã đến được với nhau rồi thì cuộc đời này sẽ đẹp hơn, vui hơn, an lạc hơn“. thầy Thích Giác Tâm nhận xét. “Sư Ông hướng dẫn đệ tử mình thực tập cười bằng một bài thi kệ: Thức dậy miệng mỉm cười. Hăm bốn giờ tinh khôi. Xin nguyện sống trọn vẹn. Mắt thương nhìn cuộc đời“.

Thơ thiền Thích Nhất Hạnh có những tiếp hiện nhân văn, sâu sắc, uyên áo lạ thường. Những câu thơ hay như “chân hôn mặt đất, mắt ôm trời” ‘tháng tư đồng nội trăm hoa nở/ mong ước ôm đầy hai cánh tay/ sắc xuân rực rỡ trời phương ngoại/ thơ hát yêu thương rộng tháng ngày”… là sự thăng hoa của trí tuệ, tự thấm vào lòng người đọc.

Ba bài thơ hay “Sinh Tử”, “cầu Hiểu cầu Thương”, “Thơ từng ôm và Mặt trời từng hạt” là sự tỉnh thức, tâm đắc và yêu thích của tôi.

SINH TỬ

Thích Nhất Hạnh

Sinh sinh sinh tử sinh
Tử sinh sinh tử sinh
Tử sinh sinh, sinh tử
Tử sinh tử, sinh sinh.

CẦU HIỂU, CẦU THƯƠNG

Thích Nhất Hạnh

Lắng lòng nghe tiếng gọi quê hương
Sông núi trông ra đẹp lạ thường
Về tới quê xưa tìm gốc cũ
Qua rồi cầu Hiểu, tới cầu Thương.

THƠ TỪNG ÔM VÀ MẶT TRỜI TỪNG HẠT

Thích Nhất Hạnh

Nắng trên không gian và thơ trên nắng
Thơ làm ra nắng nắng ra thơ
Mặt trời cất chứa trong long trái khổ qua mùa đông,
trong khi bên ngoài gió hú
Thơ theo gió đi về cồn xưa bãi cũ
Mái tranh nghèo còn đứng đợi ven sông
Thơ nơi từng giọt mưa Xuân
Thơ trong từng đốm lửa hồng
Nắng cất chứa trong long gỗ thơm
Khói ấm đưa thơ về trên trang ngoại sử
Nắng vắng trong hư không,
nhưng nắng chất đầy một lò sưởi đỏ
Nắng lên thành mầu khói,
thơ đọng thành mầu sương
Nắng cất giữ trong từng hạt mưa Xuân
Giọt nước cúi xuống hôn đất cho hạt cây nẩy mầm
Thơ đi theo mưa về trên từng đọt lá
Nắng thành mầu xanh, thơ mầu hồng
Nắng chở trên cánh ong tới trút ấm trên đài hoa
Thơ theo nắng về rừng xa uống mật
Tưng bừng, xôn xao, bướm ong về chật đất
Nắng làm nên khúc múa, thơ làm nên lời ca
Mồ hôi giọt xuống đất khô, thơ bay trên luống cày
Cán cuốc trên vai, thơ vào ra theo nhịp thở
Nắng rụng bên sông, bóng chiều ngập ngừng bỡ ngỡ
Thơ đi về chân trời, nơi vầng sáng đang đắp chân mây
Mặt trời xanh rờn một rổ rau tươi
Mặt trời dẽo thơm trong bát cơm gạo Tám
Thơ trong ánh mắt em thơ,
thơ trong mầu da nắng sạm
Thơ nơi từng cái nhìn chăm chú
Thơ nơi từng bàn tay vun xới
miền đồng chua nước mặn xa xăm
Mặt trời cười tươi trên bông hướng dương
Mặt trời trĩu nặng nơi trái đào tiên tháng tám
Thơ nơi từng bước chân thiền quán
Thơ nơi từng dòng chữ
Thơ nơi từng nắp hộp kín đáo nuôi tình thương.

Tôi nghe nói về Làng Mai  của thiền sư Thích Nhất Hạnh xưa và nay có những điểm dị biệt “Có một đạọ Phật như thế” (lời Bùi Tín) (4) nên ‘đạo Phật dấn thân’ chưa bao giờ được chính quyền từ hai phía thực lòng ủng hộ. Tôi không chấp nhân Bùi Tín và các vị đang mưu toan ‘li tâm’ xa rời đường sống của dân tộc, dẫu vậy sự thực hành những thức sau đây, theo tôi  là chánh niệm: ”Từng bước chân thảnh thơi”, ”An lạc ngay lúc này”, ”Vui với từng hơi thở”, ”Bụt ở ngay trong ta”

Thơ thiền Thích Nhất Hạnh đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim

Tài liệu tham khảo:

* Nguồn trích dẫn ba bài thơ trên: Nhất Hạnh, Thích, 1926- Thơ từng ôm và mặt trời từng hạt / Thích Nhất Hạnh – Hà Nội, Hội Nhà Văn Công ty sách Phương Nam, 2015,

** Địa chỉ anh Sơn núi, hiện ngụ tại chốn xưa của thiền sư Thích Nhất Hạnh : Anh Nguyễn Đức Sơn 0913169616, Nguyễn Đức Huy 0909356056 chị Phạm Thị Thu Hương. Đồi thông Phương Bối, thôn 2 Lộc Châu, Bảo Lộc, Lâm Đồng (lên đèo Bảo Lộc đến cầu Đại Lào, cách cầu Đại Lào khoảng 1km rẽ trái theo đường Lê Thị Riêng khoảng 2km đến vùng đất của anh Sơn núi, đồi Phương Bối nơi tu trì của thầy Nhất Hạnh thời trước)

CHÁNH NIỆM LÀ SUỐI NGUỒN HẠNH PHÚC

Thích Nhất Hạnh

Khi chúng ta theo đuổi hạnh phúc, chúng ta cố gắng bỏ qua và chống lại sự đau khổ. Nhưng điều này không giúp chúng ta có thể an lành hơn. Nếu biết cách chuyển hoá sự đau khổ, chúng ta sẽ tìm được hạnh phúc đích thực.

Thực tế, hạnh phúc không phải sự chịu đựng. Nghệ thuật hạnh phúc cũng chính là nghệ thuật chịu đựng. Khi chúng ta có thể hiểu và chấp nhận những đau khổ chúng ta đang chịu đựng, gánh nặng ấy sẽ giảm đi. Không những thế, ta có khả năng chuyển hoá đau khổ và hài lòng với chính bản thân.

Khi chúng ta theo đuổi hạnh phúc, chúng ta cố gắng bỏ qua và chống lại sự đau khổ. Nhưng điều này không giúp chúng ta có thể an lành hơn. Nếu biết cách chuyển hoá sự đau khổ, chúng ta sẽ tìm được hạnh phúc đích thực.

Ngày nay, chúng ta phiền não vì không thể xử lí những đau khổ bên trong và luôn tìm cách che đậy chúng. Trường học không dạy những người trẻ cách để xử lí những vấn đề nội tại.

Chánh niệm là cách tốt nhất để giải quyết đau khổ, sống với giây phút hiện tại hay nhận biết được những điều đang xảy ra ngay tại lúc này. Chánh niệm giúp bạn nhận ra sự hiện diện của đau khổ trong bạn và thế giới.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh nêu ra 5 điều giúp bạn chuyển hoá đau khổ thành nặng lượng của hiểu biết và chữa lành, giúp chúng ta hạnh phúc.

1. Buông bỏ

Bước đầu tiên để tạo ra niềm vui và hạnh phúc là biết buông bỏ. Chúng ta bị ràng buộc bởi quá nhiều thứ. Sự buông bỏ thực sự cần thiết cho sự sống còn và hạnh phúc của chúng ta. Đôi khi bạn nghĩ, bằng cấp, tiền lương, nhà ở hay tình yêu rất quan trọng với hạnh phúc của bạn. Nhưng ngay cả khi bạn đã sở hữu những điều trên, đau khổ vẫn tiếp diễn. Đồng thời, bạn sợ rằng, nếu buông những thứ bạn đang có, tình hình sẽ tệ hơn, bạn sẽ đau khổ và không thể sống nổi.

Nhìn sâu vào điều bạn đang sợ hãi, nó chính là trở ngại khiến bạn không thể hạnh phúc. Buông bỏ cần rất nhiều dũng cảm, nhưng một khi bạn làm được, hạnh phúc sẽ đến rất nhanh. Để nhận được hạnh phúc, bạn cần phải đánh đổi.

2. Gieo hạt giống tích cực

Mỗi chúng ta đều có những hạt giống nằm sâu trong tiềm thức, nó có thể là địa ngục, cũng có thể là thiên đường. Chúng ta có thể hiểu biết, vui vẻ và làm việc thiện. Nhưng đa số chúng ta chỉ nghĩ đến đau khổ và chìm đắm trong nỗi buồn. Thực hành gieo hạt giống tích cực mỗi ngày để những điều tốt đẹp nảy mầm và vươn lên.

Điều gì cũng có mặt đối lập. Nếu bạn có hạt giống kiểu căng, bạn cũng có hạt giống từ bi. Khi thực hành chánh niệm mỗi ngày, hạt giống từ bi sẽ mạnh mẽ và phát triển hơn. Chúng ta có thể lựa chọn sống tích cực và hạnh phúc hơn, bởi điều đó nằm trong tầm tay của bạn.

3. Niềm vui từ chánh niệm

Chánh niệm giúp chúng ta kết nối với khổ đau để ôm ấp và chuyển hoá khổ đau, giúp chúng ta chạm vào những điều kì diệu của cuộc sống. Khi thực hành chánh niệm, bạn có thể chuyển hoá từng hơi thở thành hạnh phúc. Khi nhận biết thực tại, hạnh phúc sẽ đến sớm. Năng lượng tốt lành của chánh niệm khiến mọi hoạt động trong ngày của bạn đều là hạnh phúc.

4. Chánh định

Chánh định được sinh ra từ chánh niệm, nó có sức mạnh để vượt qua và đốt cháy mọi phiễn não làm cho bạn đau khổ. Những lo ngại về tương lai sẽ luôn ở đó, khiến bạn mất kiểm soát bản thân bất kì lúc nào. Chúng ta có thể nhìn thấy, thừa nhận và dùng chánh định để đưa chính mình về giây phút hiện tại.

Chánh định xoá đi đau khổ về quá khứ và sự lo lắng cho tương lai. Chánh định là sự tập trung vào hơi thở một cách thoải mái với cả tâm trí và trái tim. Bạn không cần phải gồng mình để đạt được chánh định, hãy luyện tập nhẹ nhàng và đều đặn, hạnh phúc sẽ đến rất êm đềm.

5. Tuệ giác

Với chánh niệm, chúng ta nhìn nhận sự căng thẳng của cơ thể và mong muốn giải toả nó nhưng đôi khi không thể. Tuệ giác giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc và giải thoát chúng ta khỏi những phiền ưu như ghen tuông, giận dữ và cho phép chúng ta hạnh phúc thật sự.Thông thường, người ta bị cuốn vào vòng tham ái, hận thù và quá để tâm vào những điều tiêu cực.

Bản chất của thực hành thiền định là giúp chúng ta chuyển hoá khổ đau thành hạnh phúc. Nó không phức tạp nhưng đòi chúng ta tu tập chánh niệm, tập trung và có cái nhìn sâu sắc.

Bước đầu tiên là chúng ta trở về với chính mình, dịu dàng với sự đau khổ của chính mình, buông bỏ những điều vô ích và nuôi dưỡng hạnh phúc hàng ngày với sự hiểu biết và xót thương bản thân và những người xung quanh. Với mỗi hơi thở, chúng ta giảm bớt khổ đau và tạo ra niềm vui mới.

Theo Trí Thức Trẻ

CHUYỆN CỔ TÍCH NGƯỜI LỚN
Hoàng Kim

Hoa Đất thương lời hiền;
Lời dặn của Thánh Trần;
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn;
Đặng Dung thơ Cảm hoài;

Ngày xuân đọc Trạng Trình;
Nguyễn Du trăng huyền thoại;
Tô Đông Pha Tây Hồ;
Kim Dung trong ngày mới;

Đào Duy Từ còn mãi
Đồng xuân lưu dấu hiền;
Đỗ Phủ thương đọc lại;
Châu Văn Tiếp Phú Yên;

Nha Trang và A. Yersin;
Cao Biền trong sử Việt;
Nguyễn Hiến Lê sao sáng;
Thương Kim Thiếp Vũ Môn;

A Na bà chúa Ngọc;
An Viên Ngọc Quan Âm;
Chuyện cổ tích người lớn;
Chuyện đồng dao cho em

CNM365 Tình yêu cuộc sống
27 đường link kiên kết
Nguồn: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-co-tich-nguoi-lon/

Lời dặn của Thánh Trần là “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”.Đọc lại thật sâu sắc! Tôn tử binh pháp thiên thứ nhất, trang đầu là “Tính toán”. Tôn Tử nói: Chiến tranh là việc lớn quốc gia, là việc sống chết của nhân dân, là sự mất còn của một nước, không thể không xem xét cẩn thận. Cho nên phải cân nhắc năm yếu tố, phải tính toán, so đo mà tìm hiểu thực tình của đôi bên: Thứ nhất là đạo nghĩa; thứ hai là thời trời; thứ ba là địa lợi; thứ tư là chủ tướng; thứ năm là pháp chế. Chỉ nói đến trí thức tinh hoa, tinh thần ái quốc và sức mạnh toàn dân thì chỉ mới tính toán so đo thứ nhất là đạo nghĩa. Chỉ nói đến tài năng và tôn vinh cụ thể một con người như Napoleon chẳng hạn thì chỉ mới tính toán so đo thứ tư là chủ tướng. Chính vì vãy Napoleon khi thua trận bị nhốt ngoài đảo mới thốt lên: Tiếc thay trước đây ta chưa đọc sách này (Tôn Tử binh pháp) và Cụ Hồ trước khi thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã nghiền ngẫm dịch Tôn Tử binh pháp, học lại thật kỹ Lịch sử Việt Nam và chọn nơi khởi binh ở làng Quốc Tuấn. .

Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mất ngày 20 tháng 8 âm lịch năm 1300. Người được dân Việt tôn kính gọi là Đức Thánh Trần và thường dâng lễ tạ ơn sớm từ 20 tháng 8 dương lịch đến ngày lễ chính. Vua Trần Anh Tông lúc Đức Thánh Trần sắp lâm chung có ân cần ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?”. Đức Thánh Trần  trả lời: “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”. Nguyên văn: “Ngày xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) dựng nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã (vườn không nhà trống), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê dùng người tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua nhà Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy” * (Đại Việt sử ký toàn thư tập 2 trang 76 -77).

Trần Hưng Đạo giành chiến thắng trước quân Nguyên trên sông Bạch Đằng, kết thúc chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt lần 3 vào ngày 9 tháng 4 năm 1288, tức 8 tháng 3 năm Mậu Tý. Sau ba lần thắng giặc, đất nước thanh bình, ông lui về Vạn Kiếp và mất ngày 20 tháng 8 năm 1300 tại vườn An Lạc. Đền Kiếp Bạc ( Hải Dương) là nơi đền thờ chính của đức Thánh Trần.

Chùa Thắng Nghiêm (Hà Nội) nơi Trần Hưng Đạo lúc nhỏ tu học, là nơi Người hiển thánh.

Đức Thánh Trần gương soi kim cổ

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là nhà chính trị, quân sự, nhà văn kiệt xuất thời nhà Trần. Chiến công kiệt xuất đánh bại quân đội nhà Nguyên năm 1285 và 1287 đã đưa Đức Thánh Trần thành đại danh tướng lừng lẫy nhất của thế giới và Việt Nam. “CHỌN TƯỚNG” là một chương trong Binh thư Yếu lược của Trần Quốc Tuấn, kiệt tác súc tích và sâu sắc lạ lùng.

“Người quân tử tiến thoái quả quyết, xem người thì thanh thản vui tươi, chí thì ở trừ tàn bạo, đó là khí độ của người tướng quốc. Thấy ác không giận, thấy lành không mừng, nhan sắc không thay đổi, đó là lượng của người thiên tử.

Được sự thắng nhỏ, gặp sự thua nhỏ, mà mừng lo hình ra nét mặt, hễ thấy động thì động, thấy tĩnh thì tĩnh, nhát mà không tính toán gì, cất chân thì thần sắc không định, mà hay lấy lời nói để thắng người, đó là tướng ngu vậy.

Bảy phép để biết người:

1. Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không
2. Lấy lời cật vấn đến kỳ cùng để xem cách ứng biến của họ.
3.  Cho gián điệp thử xem có trung thành không.
4. Hỏi rõ ràng tường tất để xem đức hạnh thế nào.
5. Lấy của mà thử để xem có thanh liêm không
6. Lấy sắc đẹp mà thử để xem có đứng đắn không.
7. Lấy việc khó khăn mà thử để xem có dũng cảm không.
8. Đem rượu cho họ uống say để xem có giữ được thái độ không.

Tướng ngu có tám điều tệ:

1. Lòng tham mà không chán
2. Ghen người hiền, ghét người tài
3. Tin lời dèm pha, thích lời nịnh hót
4. Xét người mà không xét mình
5. Do dự không quả quyết
6. Say đắm rượu và sắc đẹp
7. Thích xảo trá mà lòng nhút nhát
8. Nói lời viễn vông mà không giữ lễ

Gia Cát Lượng sách Tướng Uyển chỉ bảy phép biết người.

Biết tính tình của người, chẳng gì khó bằng xem xét, lành dữ tuy khác nhau, tính tình và vẻ mặt chẳng phải một: có kẻ thì ôn hoà, hiền lành nhưng làm việc trộm cắp;có kẻ bề ngoài thì cung kính nhưng trong bụng thì vô lễ, dối trá; có kẻ bề ngoài thì mạnh dạn nhưng trong bụng thì khiếp sợ;có kẻ làm việc tận lực nhưng bụng không trung thành;

Bảy phép sau đây để biết người

1. Hỏi việc phải trái để dò chí hướng;
2. Lấy lời cật vấn để biết ứng biến;
3. Đem mưu kế hỏi để lường kiến thức;
4. Giao chuyện hiểm nguy để soi dũng cảm;
5. Mời rượu cho uống say để xét tính tình;
6. Đưa lợi gái thử để rõ thanh liêm chính trực;
7. Đem việc cậy nhờ để xét sự trung thành, tin thật.

Tám hạng tướng và bậc đại tướng

Nhân tướng là người dùng đức để đem đường cho người, dùng lễ để xếp việc cho họ, hiểu thấu sự đói rét của người dưới, biết rõ khó nhọc của đồng sự, đó là nhân tướng.

Nghĩa tướng là người làm việc không cẩu thả, thấy lợi mà không tham, biết chết vinh hơn sống nhục.

Lễ tướng là người có địa vị cao quý mà không kiêu căng, công hơn người mà không cậy, tài năng mà biết hạ mình, cứng cỏi mà biết nhẫn nhịn.

Trí tướng là người gặp biến bất ngờ mà chí không đổi, ứng phó linh hoạt với việc khó khăn, có thể đổi họa thành phúc, gặp cơn nguy biến mà sắp đặt thành thắng thế.

Tín tướng là người thưởng phạt nghiêm minh công bằng, khen thưởng không chậm trễ và không bỏ sót, trừng phạt không buông tha cho kẻ cao quý.
Bộ tướng thủ hạ của đại tướng phải chọn người tay chân lẹ làng, võ nghệ tuyệt luân,  giỏi đánh gần, ứng biến di chuyển mau lẹ, để bảo vệ an toàn cao nhất cho chủ soái.
Kỵ tướng là người có thể vượt núi non cheo leo, từng trải việc nguy hiểm, cưỡi ngựa bắn tên mau lẹ như chim bay, tới thì đi trước, lui thì về sau.
Mãnh tướng là người khí thế vượt hẳn ba quân, dám coi thường địch mạnh, gặp đánh nhỏ vẫn luôn cẩn trọng, gặp đánh lớn thì can đảm quả quyết.

Bậc đại tướng là người bao trùm và vượt hẳn tám hạng tướng kể trên, gặp hiền tài thì tôn trọng lắng nghe, biết tỏ ý mình không theo kịp người, biết nghe lời can ngăn như thuận theo dòng nước, lòng rộng rãi nhưng chí cương quyết, giản dị và nhiều mưu kế.”

Ôi, đọc lại “Binh Thư Yếu lược” “Hịch Tướng Sĩ Văn” gương soi kim cổ, lắng nghe cuộc sống, để biết sửa mình; xem tiếp… Lời dặn của Thánh Trần;

Chuyện cổ tích người lớn

Ôi, đọc lại “Binh Thư Yếu lược” “Hịch Tướng Sĩ Văn” gương soi kim cổ, lắng nghe cuộc sống, để biết sửa mình; xem tiếpLời dặn của Thánh Trần;

Chuyện cổ tích người lớn
THÍCH NHẤT HẠNH GÓC NHÌN
Hoàng Kim

Thơ thiền Thích Nhất Hạnh tôi trước đã lắng lòng mình trong thơ họa của thiền sự Thích Nhất Hạnh và chợt tỉnh thức chứng ngộ về Sinh Tử, cầu Hiểu cầu Thương, Thơ từng ôm và Mặt trời từng hạt https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tho-thien-thich-nhat-hanh/. Hôm nay, tôi lại lắng lòng trước bài viết “Thống nhất lòng người” của nhà báo Hoàng Anh Sướng đăng trên “Góc nhìn” của VnExpress https://vnexpress.net/thong-nhat-long-nguoi-4270029.html và tôi chép laị trên CNM365 TÌNH YÊU CUỘC SỐNG Chuyện cổ tích người lớn https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-co-tich-nguoi-lon/

Thống nhất lòng người

Hoàng Anh Sướng
Thứ năm, 29/4/2021, 00:05 (GMT+7)

Một ngày năm 2013 tại Mỹ, thiền sư Thích Nhất Hạnh dặn tôi: “Gặp người Việt ở đây, con đừng giới thiệu là nhà báo từ Việt Nam sang nhé”.

Tôi theo chân Thiền sư cùng 300 đệ tử của thầy trong chuyến hoằng dương đạo Phật dọc nước Mỹ năm đó. Những ngày cuối, đoàn dừng chân tại tu viện Lộc Uyển thuộc tiểu bang California. Tại đây, thiền sư tổ chức hai khóa tu cho cộng đồng người Mỹ và người Việt. Sư ông dặn tôi thế, bởi e tôi có thể gặp sự phản ứng tiêu cực của một số người.

Khóa tu diễn ra trong 5 ngày. Cả ngàn người tham dự với đủ lứa tuổi, ngành nghề. Ai đến đây dường như cũng đang ôm ấp những nỗi khổ, niềm đau.

Có những nỗi đau bắt nguồn từ đời sống đương đại như đổ vỡ gia đình, làm ăn thất bại. Song có những tổn thương dằng dai từ mấy chục năm trước, trên những chiếc thuyền lênh đênh vượt biển.

Có người chứng kiến con thuyền chở vợ và mấy đứa con bị sóng nhận chìm vào lòng đại dương. Có người không thể quên cảnh hải tặc giết chồng mình, cướp tiền vàng, vứt xác xuống biển rồi bị chúng thay nhau hãm hiếp. Khi đến nước Mỹ, họ bị mang thai rồi sinh con. Bi kịch ở chỗ, càng lớn, khuôn mặt đứa con lại càng giống kẻ đã hãm hiếp mình. Người mẹ nào không thương đứa con rứt ruột đẻ đau. Nhưng nhìn mặt con là họ lại nhớ đến mặt tên hải tặc. Cả đời, trái tim người mẹ ấy cứ giằng xé.

Nhiều người đã trị liệu, chuyển hóa được nỗi đau khi kết thúc khóa tu. Nhưng cũng có người không thể thoát khỏi ngục tù quá khứ, nhất là từng có địa vị, chức sắc, quyền lợi, sự ấm êm. Họ không thể chấp nhận được sự thật và trở nên hận thù. Thiền sư cho rằng, họ là nạn nhân của khối khổ đau trong chính mình.

Do đặc thù công việc, trong nhiều chuyến đi châu Âu kéo dài 1-2 tháng, tôi gặp gỡ đông đảo người Việt tại đây, không ít người di cư khỏi Việt Nam từ những năm 1954, 1975. Lần đầu gặp tôi, một số tỏ rõ kỳ thị, lạnh lùng, thậm chí miệt thị ra mặt. Có người còn tỏ vẻ rất cảnh giác như tôi là kẻ nguy hiểm.

Điều đó không khiến tôi ngạc nhiên hay bị tổn thương. Bởi tôi hiểu họ. Nhưng điều khiến tôi bất ngờ là một số người không hề biết gì về đất nước, con người Việt Nam đương đại. Trong suy nghĩ của họ, Việt Nam vẫn còn nghèo nàn, đói khát, lạc hậu như hơn 50 năm về trước. Bởi từ ngày rời Việt Nam, họ chưa một lần trở về, thậm chí cắt đứt mọi liên lạc.

Sau vài lần tiếp xúc, thấy tôi không xin xỏ, lợi dụng, kích động hay làm phiền ai, thiện chí làm việc lợi lạc cho cộng đồng, họ bắt đầu mở lòng. Tôi lắng nghe họ thật kỹ, không phán xét. Những biến cố đau thương dù sao cũng đã qua, chỉ giây phút hiện tại mới đích thực là của mình. Nếu cho phép quá khứ giam hãm, ta mãi sống trong ngục tù khổ đau, không thể hạnh phúc trong hiện tại. Và vì thế, cũng không có tương lai thanh thản.

Chiến tranh đã qua đi 46 năm, nhưng vẫn còn những nỗi đau. Đất nước đã thống nhất mà đâu đó lòng người còn ly tán. Làm thế nào để có được hòa hợp, thống nhất lòng người? Làm thế nào để người Việt khắp năm châu ôm lấy nhau như đồng bào?

Mọi đường lối, chính sách, hành xử của nhà nước và mỗi người hôm nay sẽ dẫn tới hàn gắn nếu bắt nguồn từ cái tâm chân thành, không phân biệt.

Thời Lý – Trần, từ vua quan đến dân thường đã thực tập từ bi, đưa Lý – Trần trở thành triều đại thuần từ nhất trong lịch sử dân tộc. Sau khi chiến thắng quân Nguyên – Mông, quan quân đệ trình vua Trần Thánh Tông một hòm tài liệu, trong có chứa những lá thư liên lạc với giặc của vài nha lại. Thay vì mở hòm để xem kẻ nào đã phản bội, vua tự tay châm lửa đốt trước mặt bá quan để thống nhất lòng trăm họ. Bởi theo ông, chúng ta đã đánh lui quân thù, giành được độc lập, mục đích tối thượng là đoàn kết dân tộc.

Năm 2008, khi về Việt Nam lần thứ hai, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã xin phép nhà nước tổ chức ba đại trai đàn chẩn tế cầu siêu bình đẳng, giải oan cho cả người Bắc, người Nam ở hai bên chiến tuyến. Người Việt cùng chắp tay cầu nguyện cho 6 triệu sinh mạng đã mất bởi chiến tranh. Hành động đó giúp thả trôi bớt hận thù trong quá khứ, vun đắp sự lòng người.

Thống nhất lòng người hôm nay có thể coi là sự nghiệp chung của nhà nước và mọi người, mọi giới. Trong hành trình hòa hợp dân tộc này, tất cả chúng ta đều là đại sứ.

xem tiếp Chuyện cổ tích người lớn

CÓ MỘT ĐẠỌ PHẬT NHƯ THẾ 
Bùi Tín

Duyên hạnh ngộ với làng Mai:
 

Tôi nghe nói về làng Mai từ lâu. Trước đó là làng Hồng. Không phải là làng trồng hoa hồng, mà là cây hồng ăn quả, như hồng Lạng sơn ở bên nhà. Trồng hồng không được tốt, quả không sai, không ngọt, nên chuyển sang trồng mai. Mai cũng không phải mai hoa vàng, như ở miền Nam nước ta, màu vàng rực vào dịp Tết. Mai đây thật ra là mận, là prunier, là thổ sản danh tiếng miền Dordogne, Tây nam nước Pháp. Cả miền rộng này bạt ngàn là mận, nổi tiếng nhất là Agen. Quả mận Agen, màu tím đậm, thơm ngọt sấy thành mứt, tiêu thụ khắp nước Pháp, xuất khẩu đi toàn thế giới cùng với rượu đỏ Bordeaux.

Từ bé tôi đã có duyên với đạo Phật. Gia đình tôi có 10 anh chị em, tôi là thứ 8. Trước tôi là 7 người chị. Mẹ tôi sinh tôi trong một thai đôi, có bọc, một gái ra trước bị ngạt, và tôi ra sau, thoi thóp. Từ mấy năm trước, mẹ tôi kiên trì cầu tự, khấn xin, qua các ngôi chùa nổi tiếng vùng Nam Định, Ninh Bình và Hà đông, mới sanh được mụn con trai. Ngôi nhà nhỏ ở quê lại gần chùa làng. Không nhà nào gần chùa đến thế. Chỉ cách nhau con đường hẻm của xóm gọi là xóm Chùa. Cổng nhà và cổng Chùa hơi chếch nhau, cách nhau chỉ 5 mét. Hồi bé, các chị em tôi hay rủ nhau lẻn sang chùa hái đầy túi quả nhót từ vàng đến đỏ chót, tay áo luôn lấm chấm những hạt trắng li ti do vỏ quả nhót chà vào để lại. Sư bà và sư cô không đuổi còn vẫy vào xoa đầu rồi hái cho những quả táo con con.

Chuông chùa ngân vang dài… và tiếng mõ đều đều, đều đều… là những âm thanh quen thuộc nhất đưa tôi vào giấc ngủ, với những chuyện mẹ tôi kể về thái tử Ấn độ đi ra 4 hướng cửa thành gặp 4 nỗi khổ đau sinh, lão, bệnh, tử rồi ra đi tìm đường cứu nhân độ thế.

Cho nên mùa thu 2006 này, tôi về làng Mai, trước tượng Phật, nghe tiếng chuông chùa âm vang, tiếng mõ đều đều, ăn chay liền mười ngày, ngắm mái chùa cong cong bên hàng cây mận trĩu quả … cảm giác đầu tiên của tôi, cảm giác kéo dài cho đến khi rời làng luôn là trở về quê mình, làng mình, nhà mình, chùa làng mình.

Có một đạo Phật nhập thế:

Làng Mai luôn mở rộng. Từ xóm Thượng xuống xóm Trung là 2 kilômét, xuôi 3 kilômét nữa là xóm Hạ, vòng sang phía Tây 2 kilômét là xóm Sơn hạ. Mấy năm nay, làng phát triển hẳn sang phía Đông gần 40 kilômét, lập nên xóm Mới, rộng hơn, khang trang hơn. Vùng Dordogne ở Tây Nam nước Pháp là một vùng hữu tình, giàu có, nhiều đồi thoai thoải phơi nắng, lại không xa Đại Tây Dương. Vườn nho nối tiếp xen với vườn mận, vườn hướng dương điểm xuyết những vạt rừng thông nhân tạo. Những ngôi Chùa, lầu chuông, thiền đường, cư xá, nhà ăn, nhà khách, khóm trúc, hồ sen… của làng Mai, xen với nhà một số cư dân Pháp bản địa lâu đời, với chuồng trại nuôi bò, lò gạch ngói, nhà thờ Thiên chúa của làng xưa làm cho phong cảnh của toàn vùng thêm sinh động.

Người gốc Việt tùy lúc chiếm hơn hay kém một nửa dân số làng Mai. Một nửa là người phương Tây về đây tu lâu dài hay tu tập ngắn hạn, – 1 hay 2 tuần lễ, từ các tỉnh nước Pháp, từ Ý, Đức, Anh, Bỉ, Hà lan, từ Tây ban nha, Bồ đào nha, từ Mỹ, Canada, Úc, Tân tây lan; ngoài ra có cả người Nhật, Ấn độ, Thái lan, Đại hàn, Philippin, lại có cả người Balan, Nga, Do thái, Palestin… Họ ở phần lớn xóm Thượng. Giữa mùa hè, nhiều gia đình mang theo con lớn nhỏ, nên có cả một xã hội thiếu niên quốc tế ở đây. Rước đèn trung thu, đèn đủ kiểu do các em tự làm lấy, hướng dẫn bởi các ni sư ni cô khéo tay yêu trẻ, kéo dài hàng cây số dưới ánh trăng thu, các em bé tý mới 3 – 4 tuổi dẫn đầu, cuối là các anh chị 16, 18 tuổi, thật hồn nhiên trong tiếng trống và tiếng hát.

Ở trong nước tôi cứ nghĩ người đi tu phần lớn là người yếm thế, chán cuộc đời trần thế, gặp những nghịch cảnh gia đình hay xã hội. Đây cũng có những trường hợp như thế, nhưng có vẻ không nhiều. Khá nhiều người có kiến thức khá cao, thành đạt trong cuộc sống, những bác sỹ, luật sư nhà cao cửa rộng, lương bổng cao, những nhà vật lý, toán học, triết học, giáo sư… muốn đi tìm ý nghĩa từ cuộc sống, của cuộc sống và cho cuộc sống trên đời này. Họ đến đây để nghiên cứu, nghiền ngẫm và thực hành luôn, thực nghiệm luôn, hành đạo luôn đạo Phật, một đạo Phật vừa cao siêu, vừa gần gũi, vứa như khó hiểu vừa dễ cảm thụ bằng cả lý trí, linh tính và trái tim.

Đến đây, ai cũng hiểu sâu 3 viên ngọc quý đầu tiên – ”Tam Bảo”, là Phật, Pháp và Tăng. Phật là một vị tiêu biểu, là Thày dạy, là Ngôi sao chỉ đường, là Lãnh tụ tinh thần, là Nguồn Sáng, thông thường cũng là Bụt, là con người thật do dày công tu luyện được soi sáng thành Phật. Pháp là hệ thống lý luận, chân lý, giải thích cuộc đời và muôn vật, hướng dẫn việc tu luyện, cách sống để con người và loài người có được niềm hạnh phúc, an lạc ngay trong cuộc đời này. Pháp vừa mênh mông vô tận, thiên kinh vạn quyển, lại có thể thu gọn trong 260 từ trong Kinh Bát nhã, lại cô đọng chỉ trong vài câu, vài từ; ở đây chú trọng việc thực hành, đặc biệt là thực tập theo 5 giới, tức là 5 phép tu tập chánh niệm. Tăng là tăng thân, là tập thể anh chị em gần xa cùng thoát giới đi tu theo chân Phật, ở khắp mọi nơi trên thế giới, cùng chung một bậc Thày, cùng chung một Đạo pháp.

Tôi dự khá nhiều cuộc pháp thoại, thuyết trình về ”pháp”, nhiều cuộc trao đổi, hỏi đáp ngay ở hội trường – Thiền đường, nhiều buổi thảo luận, tu tập trong các nhóm nhỏ, đều nói về cuộc sống trong đời thường, của cá nhân, gia đình và xã hội. Giống như ở đời thường, không khí sinh hoạt khi thì nghiêm trang đôi lúc căng thẳng, xúc động, có nước mắt, có nụ cười, nhưng nét riêng ở đây là luôn thân ái, chăm chú, thông cảm với nhau, giúp nhau hiểu rõ sự đời trong tình thương. Ngay ở hội trường lớn, mỗi khi tiếng chuông vang, ai nấy đều yên lặng, nghiêm trang, lắng sâu trong suy nghĩ, để rồi sau đó rộ lên tiếng cười vang động, vui nhộn và sảng khoái, thoải mái không cần kiềm chế.

Đạo Phật ở làng Mai là đạo Phật nhập thế, nhập cuộc đời, nên dễ hiểu, dễ gần, dễ tiếp thu. Bài giảng tiếng Việt, dịch tức thời ra các tiếng Anh, Pháp, Đức, cũng như các khẩu hiệu tiếng Việt, châm ngôn tiếng Việt, sách báo, băng đĩa tiếng Việt được dịch và in ngay tại chỗ. Khẩu hiệu đây đó: ”Từng bước chân thảnh thơi”, ”An lạc ngay lúc này”, ”Vui với từng hơi thở”, ”Bụt ở ngay trong ta”…

Sáng nghe tiếng chuông vang khi trời đang rạng, hãy ”thiền” vài phút với lời tự hẹn: Đón chào 24 giờ tinh khôi của ngày mới; tự hẹn sống an vui, có ích cho mình và xung quanh, tránh mọi cám dỗ có hại.

Khi ngồi vào bữa ăn, nghe chuông ngân, hãy ”thiền” vài phút nữa: ta biết ơn những ai làm nên bữa ăn này, trồng lúa, rau, vận chuyển, chế biến; ta nhớ đến bao người thiếu ăn trên thế gian này; hãy ăn ngon lành, nhai kỹ cho cơ thể ta khỏe khoắn. Trước đó, hãy tự lấy thức ăn vừa đủ cho mình, không thiếu không thừa, lấy bao nhiêu ăn cho hết, không lãng phí, quý trọng mỗi sản phẩm xã hội.

Ảnh: Làng Mai

Một đạo Phật cao siêu mà hồn nhiên: 

Ở làng Mai, tôi gặp mấy chục sinh viên nam nữ Việt từ Sàigòn, Huế, Cần thơ, Luân đôn (Anh), Boston (Mỹ), Sydney (Úc) … đến dự lớp học 1 hay 2 tuần lễ, vào dịp nghỉ hè. Các bạn trẻ làm quen nhau rất nhanh, để lưu luyến vô cùng khi tạm biệt. Họ đều là du sinh, học khoa lịch sử, văn học, thông tin, báo chí. Họ cũng kết bạn nhanh với các sinh viên gốc Mỹ, Anh, Pháp, Canada. Họ cùng nhau tập những bài hát tiếng Việt và tiếng Pháp do các thày cô ở làng Mai sáng tác. Các em mang theo đàn ghi-ta, sáo để chơi nhạc, ca hát với nhau.

Đến đây, các em làm quen với những khái niệm triết học, tâm lý, tâm linh khá trừu tượng, nhiều khi cao siêu, ban đầu khó hiểu. Nhân quả, tương tác, Niết bàn, khoảng không, khoảng rỗng, vô thường, vô ngã, vô minh, không bắt đầu không kết thúc… Hơn nữa, lại còn: ”Ngũ uẩn giai không” là gì; ”chư pháp không tướng” là gì; rồi những con số: Tam bảo, Tứ diệu đế, Ngũ lực, Lục căn, Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên …

Các khái niệm cao siêu được giảng giải theo lối phổ cập dân gian, có ví dụ dễ hiểu, từ thấp lên cao, từ cụ thể đến trừu tượng. Tôi thử hỏi lại 2 em, các em đều hiểu khá rõ. Các bà các chị lớn tuổi cảm nhận được trên đại thể, khi trao đổi với nhau mới vỡ lẽ thêm…

Tôi hiểu dần vì sao làng Mai có thanh niên xuất gia để đi tu cũng như về tu học ngắn hạn nhiều đến vậy. Các em đều có chí, ham học, cảm thấy e ngại cái xã hội xô bồ sùng bái vật chất coi nhẹ tâm linh, nhất là cái xã hội trọc phú đầy cạm bẫy ở bên nhà, luôn đe dọa ”nuốt chửng” tuổi trẻ bất cứ lúc nào. Các em rất chăm chú nghe pháp thoại, còn ghi

Ở làng Mai, không khí yên tĩnh kéo dài thỉnh thỏang lại rộ lên những ngày hội tấp nập đông vui, có trống, có cờ phướn, múa rồng múa lân, mừng xuân, trồng cây nêu, giỗ Tổ, Phật đản, lễ Vu lan, những buổi ngâm thơ, ngày Hội hoa Thủy tiên, Hội hoa Mai, Hội hái mận, những ngày hội làng thắm tình quê hương…Tôi dự đám cưới rất vui ở xóm Mới, cô dâu là em một ni cô ở đây, ”chàng” là bác sỹ cùng ở San José (Bắc Cali) mới sang hôm trước.

Cuộc sống cao siêu khi nghe giảng, khi trầm tư, lúc ngồi thiền, hài hòa với những giờ phút sống hiếu động hồn hiên giữa thiên nhiên. Dự những cuộc múa tập thể và trò chơi tập thể, rồi đêm lửa trại ở xóm Trung và xóm Thượng, tôi thấy rõ thêm vì sao tuổi trẻ thích về đây sống. Có lúc như cuộc sống trong tổ chức Hướng đạo thời trẻ của tôi. Những trò chơi khỏe, hồn nhiên, em bé 8-9 tuổi cùng cụ già 60-62 tuổi chơi với nhau, theo vòng tròn lớn nhỏ, bỏ khăn; chim bay, cá lặn; bịt mắt bắt dê; chuyển bóng; kéo co; rồi tìm nhau trong rừng, tìm phương hướng, tìm các chòm sao trên trời, hái hoa hồng để trả lời câu đố và chọn bài hát… Tuổi già về đây như trẻ lại giữa trẻ nhỏ và thiên nhiên. Rồi những vở kịch nho nhỏ tự biên tự diễn. Cái thú vị là nội dung được hướng dẫn và khêu gợi để thực tập chánh niệm, hiểu sâu thêm các buổi học, về cuộc đời của Bụt, về tình thương yêu con người, về cái Thiện và cái Ác, về Chính và Tà, về yêu quý thiên nhiên và gìn giữ môi trường…

Có một đạo Phật nhiều khoa học, ít thần bí: 

Đã có bao nhiêu trường phái truyền bá đạo Phật. Từ Đại thưà đến Tiểu thừa, từ gốc Ấn độ, Tây tạng, qua Trung hoa, Tich lan, đến Thái lan, Cambốt, xuống Nam dương, sang Nhật bản. Có những trường phái truyền bá những điều thần bí, siêu nhiên, đầy phép thần thông kỳ ảo. Chư thày cô làng Mai đang xây dựng một đạo Phật truyền thống, thịnh hành từ đời Trần, mang đậm bản sắc Việt, lại khá là hiện đại, dựa trên những khám phá mới mẻ nhất về sinh học, vật lý, hóa học, toán học, thiên văn, tâm lý học…để lý giải cuộc sống muôn hình muôn vẻ.

Có cả một lớp trí thức cao cấp xuất gia và về dự tu học ở đây. Tiến sỹ, kỹ sư, bác sỹ, luật sư, nghiên cúu sinh, du sinh chiếm tỷ lệ không nhỏ. Các bài giảng phổ thông, dễ hiểu, có khi mở đầu bằng hỏi và đáp một thiếu niên Pháp hay Mỹ mới 12 tuổi, rất vui vẻ sinh động, hoặc mở đầu bằng thử ngắm cho sâu một chiếc lá phong để ”nhìn” thấy trong đó áng mây, mặt trời, giọt mưa, hạt mầm, hệ thống ”nhà máy” sản xuất chất lục diệp tố, không quên người trồng chăm sóc cây, để rồi cuối cùng có thể nhận ra cả vũ trụ chứa trong một hạt bụi trần. Kết quả nghiên cứu về tế bào, về ADN, về di truyền, về kỹ thuật tạo hàng lọat cơ thể sống từ một tế bào – ”clonage”, chứng tỏ trong cái riêng đều có cái chung, cái ”một” chứa cái toàn thể, phép nhiệm màu bao trùm khắp mọi nơi; con người ngày càng hiểu ra biết bao điều bí ẩn, chế tạo ra biết bao kỹ thuật tân kỳ như máy bay, tàu ngầm, vô tuyến truyền hình, điện thoại cầm tay, kính thiên văn (với khám phá ra big bang và lỗ đen), máy computơ cá nhân, để …”ngộ” ra rằng các nhà khoa học thật ra vẫn chưa hiểu biết gì cho thấu đáo về vũ trụ và con người cả; chỉ một tế bào mà hàng triệu điều bí hiểm.

Hè này có một tuần lễ 800 nhà khoa học và yêu khoa học thuộc 20 nước về làng Mai trao đổi nghiên cứu về tế bào vỏ não, tìm hiểu sâu thêm một loạt khái niệm: xúc cảm, tình cảm, tiềm thức, nhận thức, linh tính và tâm linh, mật thiết liên quan đến những khái niệm Thân và Tâm, rồi: Thọ, Tưởng, Hành, Thức thâm thúy của đạo Phật.

Ở làng Mai không còn những nhận thức thô thiển, như có một Thượng đế, một ông Phật nào đó giống như con người, có đầu mình và tứ chi, sống ở trên trời cao, ngày đêm ban phước lành cho chúng sinh; mà Phật ở ngay trong ta, trong Pháp, trong Tăng, trong ý thiện, việc thiện ta và mọi người cùng làm cho cuộc đời chung đỡ khổ, vun trồng yêu thương và hạnh phúc ở khắp nơi ngay trong cuộc đời này. Phật cũng ở khắp mọi nơi trong một vũ trụ vừa hài hòa theo quy luật chặt chẽ, lại cũng đầy những phức tạp ngẫu nhiên vô thường.

Khoa học ngày nay cũng chứng minh rằng thế giới vũ trụ là không có bắt đầu, không có kết thúc; sự vận động chuyển hóa là không cùng; cái này khác cái kia, cũng lại không khác cái kia; một là tất cả, tất cả cũng lại là một; phải trái trên dưới, một hai, đông tây nam bắc, màu sắc, mùi vị đều là khái niệm chủ quan của con người. Bụt dạy: bất sinh bất diệt, bất cấu (nhơ bẩn) bất tịnh(sạch), bất tăng bất giảm; vô vô minh diệc vô vô minh tận (không có ngu dốt mà cũng không bao giờ hết ngu dốt); vô lão tử diệc vô lão tử tận (không có già và chết, mà cũng không hết già và chết). Khoa học và phật giáo gật gù tâm đắc, khoác vai nhau chặt. Thật là vui, thú vị.

Có một đạo Phật lạc quan yêu cuộc đời này: 

Đã có thành kiến cho rằng đi tu là chịu khổ hạnh. Có nhiều trường phái tu khổ hạnh, hành xác, đi chân đất, nhịn đói, chịu khát, nằm gai nếm mật, chịu rét, từ chối nền văn minh vật chất, chịu khổ để cứu nạn.

Ở đây có sự khổ luyện, sự kiên trì thoát phàm tục, tinh tiến tâm linh, nhưng không khổ hạnh hành xác. Các thày cô ở đây được luyện để yêu đời, quý trọng cơ thể mình, cảm nhận hạnh phúc nội tâm cho mình và cho xung quanh trong mỗi một phút sống. Nụ cười làng Mai sao mà đẹp. Nụ cười ngầm, hơi tủm tỉm khi gặp nhau, nhìn nhau, như nói rằng: chúng ta là anh chị em! Buổi sáng khi mới gặp lại nhau, mọi người chắp tay trước ngực, hình búp sen bên trái tim, như một lời chào thân, trao tặng nhau một búp sen thơm mát. Người phương Tây về đây cũng vui lòng tiếp nhận cách bắt tay, cách ôm chào nhau chân thật: nhìn vào mắt nhau với tình anh chị em, ôm nhau cũng nghĩ đến nhau thật lòng, xoa tay nhẹ vào lưng nhau nếu tự thấy cần; không còn kiểu bắt tay qua loa, áp 2 bên má một cách qua quít, có khi vô cảm. Các ni cô gọi đây là ”thiền ôm”, ôm với tình thương chân thật; tất nhiên các ni cô trẻ chỉ ôm với người cùng giới.

Nét đậm đà của làng Mai là thức ăn chay mà ngon chi lạ, ngon lạ lùng. Các ni cô, ni sư rất coi trọng khoa nấu nướng, nâng bếp núc thành khoa học và nghệ thuật cao. Vệ sinh thì tuyệt hảo. Vườn rau tự túc sạch tuyệt đối. Từ rau muống, bắp cải, rau cải, rau cần, cà chua, cà rốt, đến bầu, bí, dưa chuột, mướp đắng, rau thơm: mùi, húng, tía tô, thìa là, diếp cá, bạc hà… cho đến hành, gừng, giềng… Đủ thứ, như ở quê mình, tươi ngon. Các thày cô nhà bếp luôn nói đến ngon lành, ngon đi với lành. Lại còn cân bằng âm dương, theo mùa, thứ này đi với loại rau kia, hỗ trợ bổ xung cho nhau, bổ dưỡng lại ngon miệng. Đậu phụ hấp, ninh, rán, sào với các thứ rau khác nhau, với biết bao loại đậu, loại khoai, sắn, giá, nấm… làm cho thức ăn phong phú, không bữa nào giống bữa nào suốt trong một tuần. Nộm và nước chấm cũng nhiều lọai, cùng vừng, lạc, dấm, dầu ô-liu, gừng, xả. Cơm, xôi đủ loại, bánh mì, cháo…tha hồ lựa chọn. Người phương Tây có thể dùng bơ, pho mát, sữa bò, trứng (loại không ấp thành gà con được).

Chè và bánh do các bà các chị người Huế hướng dẫn sao mà phong phú, tinh tế, ngon lành đến vậy. Từ chè hạt sen, đậu xanh, đậu ván, đậu đen đến bánh bột lọc, bánh giò, bánh xèo, bánh xu xê, bánh Trung thu…

Điều chính ở đây là quan niệm của Phật pháp nhập sâu vào bộ máy hậu cần và nuôi dưỡng con người. Hãy chăm nom thật tốt cơ thể chúng sinh, hãy mang chánh niệm từ khi trồng rau, tưới cây cho đến khi rửa sạch lương thực để chế biến; hãy mang chánh niệm vào mỗi nhát dao thái củ khoai củ cà rốt cho đều đặn, vuông vắn, mỹ thuật. Hãy mang chánh niệm vào việc nấu nướng để thấu hiểu rằng biết bao công sức của con người làm nên gạo, khoai, rau đậu này đây, ta phải nối tiếp để phục vụ lại cho chúng sinh đến mức cao nhất, cho mọi người ăn thật ngon lành để làm điều thiện cho đời này.

Các ni cô và ni sư – hơn 100 người tu ở đây, phần lớn là còn trẻ, dưới 36 tuổi, gọi nhau bằng sư ông, sư bác, sư chú, sư cô hay sư anh, sư chị, sư em, như trong một nhà. Mỗi người còn nhận một hai người bạn tâm giao thân thiết nhất để kết nghĩa, giúp nhau tu luyện tiếp thu sâu đạo pháp, tuyệt đối tránh phạm giới, trước hết là 5 giới gồm có: không sát sinh, không ăn cắp, không tà dâm, không dối trá, không uống rượu và dùng ma túy…

Không khí an nhiên tự tại ở làng Mai còn được xác lập tự nhiên, bền vững vì trong cư xử hàng ngày, nội bộ gia đình lớn này thường nhắc nhau dùng ”ái ngữ”, tránh dùng những từ ngữ khó nghe. Tôi hỏi mấy thầy: như vậy có phải là bỏ qua, nhân nhượng với nhau khi có mâu thuẫn để giữ hòa khí? Thày Pháp Ấn là 1 trong 13 giáo thọ (như là trợ giáo về giảng pháp) ở làng Mai nói ngay: không phải vậy; pháp đạo, kỷ luật ở làng Mai nghiêm, không bỏ qua sai lầm, vì bỏ qua là có hại cho anh chị em mình, là thiếu thương yêu nhau; ”ái ngữ” là lời nói xuất phát từ yêu thương, đã từ yêu thương thì sẽ được tiếp nhận vào tim người mình nói chuyện, không phải chỉ là chọn hình thức chữ nghĩa cho êm tai. Khi nóng mặt lên, tức giận, thở gấp thì không thể có ”ái ngữ” . Khi tỉnh táo, thở sâu, có tình thương lập tức có ”ái ngữ” đầy sức thuyết phục dù nội dung có mạnh.

Không khí yêu đời trẻ trung ở làng Mai còn nhiều biểu hiện khác. Bên dàn đồng ca, cùng niệm kinh Bụt bằng tiếng Việt, Anh, Pháp, Đức, còn hát ca nhiều bè, còn có nhóm diễn kịch ngắn, tập đàn dương cầm, guita, thổi sáo, còn xưởng nhỏ tập nặn tượng, vót tre làm diều, nhóm phụ trách mầm non, thiếu nhi, nhóm hội họa, cắm hoa, chụp ảnh, đánh cờ, – cờ tướng và cờ quốc tế, cho đến lớp học tiếng Việt… Thật vui khi được nói tiếng Việt với các ni cô Từ Nghiêm (người Mỹ), Tín Nghiêm (Đại Hàn), với các thầy Pháp Ý (người Y), Pháp Sơn (Tây Ban Nha), Pháp Hộ (Thụy Điển)… Nhiều người nói sõi như người Việt mình vậy.

Có một đạo Phật rất dân tộc cũng khá hiện đại: 

Làng Mai có một thư viện khá lớn. Riêng Thiền sư Nhất Hạnh có tủ sách riêng đồ sộ, tiếng Pháp, Anh, Đức, Ấn độ, Nhật, chữ Hán, chữ Phạn, chữ Nôm, tư liệu về lịch sử Phật giáo Tiểu thừa, Đại thừa, về lịch sử Phật giáo Việt nam từ xa xưa qua thời Lý, Trần đến nay. Nhiều kinh sách được lược dịch hoặc tóm tắt chuyển sang tiếng Việt. Bút lực của Thày Nhất Hạnh sung mãn, có đến 60 cuốn tiếng Việt do nhà xuất bản Lá Bối phát hành, cùng với những tập thơ thiền, một số bài thơ được phổ nhạc. Nét dân tộc khá rõ là gắn bó thờ cúng tổ tiên với đạo Phật ở làng Mai này.

Nét hiện đại của làng Mai cũng rất rõ. Giờ giấc nghiêm đến từng phút. Sáng dậy đúng 5 giờ rưỡi khi chuông lớn vang lên. Đúng 8 giờ rưỡi buổi giảng trên hội trường bắt đầu. Giảng bằng tiếng Việt, hoặc tiếng Pháp, Anh, tùy theo ngày, được dịch ngay sang các tiếng khác. Ngoài những loa đặt các góc phòng còn có loa tại các phòng nhỏ hay tại các cụm di động có mái che trên bải cỏ ngoài sân rộng, khi người dự quá đông. Các buổi pháp thoại đều được ghi bằng hình ảnh và âm thanh, buổi tối được nhân bản vào băng, vào đĩa để phổ biến ngay sáng hôm sau. Bộ phận ngoại ngữ và kỹ thuật có trình độ chuyên nghiệp cao, tháo vát, cập nhật với kỹ thuật truyền thông hiện đại quốc tế.

Văn phòng làng Mai cũng khá là chuyên nghiệp. Kế hoạch dự kiến cho cả năm, phân công cụ thể, có thời gian biểu hàng tuần cho từng xóm. Khách đến và đi thường xuyên, bằng đủ phương tiện, xe riêng, xe lửa, xe buýt, máy bay, đón và đưa, đâu ra đấy. Thư đến và thư đi, email gửi và nhận tới tấp. Quan hệ với chính quyền địa phương, các quận, các tỉnh và thành phố Bordeaux rất chặt. Từ sản xuất, vận chuyển, bưu điện, thuế khóa, vệ sinh môi trường, cung cấp điện nước, đường sá cầu cống, xây dựng, quản lý đất rừng…đâu có đơn giản. Bác Cả, hơn 70 tuổi người có công thăm dò, quy hoạch và xây dựng làng Mai từ những năm 1986, 87 cho biết những gian khổ về mua đất, dựng nhà, cung cấp điện nước đến công trình vệ sinh, cống rãnh được khắc phục dần để có được cơ ngơi ngày nay.

Nét đẹp hiện đại, tiên tiến nữa tôi nhận ra ở đây là an ninh rất tuyệt. Người tứ phương đến tấp nập. Thế mà hầu như không có mất mát, trộm cắp, hàng chục năm nay vẫn vậy. Ở mỗi xóm có một góc đặt các thứ để quên, đánh rơi: mũ dạ, ô, dày, dép, kính mắt, bút, cả túi, ví tiền (với tiền mặt, thẻ ngân hàng, thẻ căn cước được giao lại cho người chủ) cặp, sách, túi lớn nhỏ, một vài đồ trang sức.

Tôi nghĩ đạo pháp nhập vào mọi người, điều giới thứ 2 (không ăn cắp) được thấm sâu, chúng ta là anh chị em thân thiết, hãy sống tốt, vun trồng điều thiện, tưới tắm hạt nhân trong sạch nảy nở trong lòng ta. Anh bạn nhà báo đi với tôi thủ thỉ: ”Thích thật, ở đây ngủ không cần đóng cửa, cả xóm không cần canh gác tuần tiễu, đồ đạc riêng để đâu yên đấy, không ai nhòm ngó đụng vào. Bao giờ cho mỗi làng mạc quê ta trong nước sống như thời Nghiêu Thuấn, như ngay làng Mai này! Cần gì đến chó Bécgiê, chuông báo động, máy quay phim dọc hàng rào và cổng ra vào. Thế này mới thực là hiện đại”.

Người phương Tây và trí thức trẻ gốc Việt sống ở đây tô đậm thêm tính hiện đại của làng Việt độc đáo này. Sách báo về khoa học tự nhiên và xã hội có nhiều người đọc. Mạng internet ”làng Mai” là mạng phong phú, kỹ thuật và mỹ thuật cao, lưu trữ tốt cả hình và tiếng, đứng hàng đầu trong làng mạng tiếng Việt. Các ni cô tiến sỹ, giáo sư, thạc sỹ, các ni sư cử nhân, bác sỹ, kỹ sư… ở đây đang cùng nhau học chữ Hán nôm, học tiếng Phạn, đọc thơ ca đời Lý Trần và nghiên cứu kho tàng ca dao Việt để cùng nhau trở về với dân tộc và đưa tâm linh dân tộc phát triển tới phía trước.

Các thày cô ở đây thật sự khiêm nhường, không muốn phô trương thành tích, làm đến đâu nói đến đó; thực tế một viện phật học dân tộc hiện đại, kết hợp nghiên cứu với giáo dục và thực hành đang được hình thành ở đây, được bà con ta ở hải ngoại và trong nước cũng như giới đại học quốc tế ngày càng biết đến.

Có một số chuyện bị hiểu lầm, hiểu sai, chư vị làng Mai vẫn cứ ”tự mình biết mình”; ở đây, tôi đọc được hơn chục bài thơ của Cụ Quảng Độ được thày Nhất Hạnh in và giới thiệu bằng nhiều bút danh khác nhau từ những năm 1985,86 ….Trong lịch sử Phật giáo dạy ở đây, công sức của chư vị lãnh đạo Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất luôn ở vị trí trang trọng nhất.

Đạo Phật và thái độ đối với những người cộng sản: 

Nhiều lần tôi hỏi chuyện các thầy cô ở đây về mối quan hệ giữa đạo Phật và đảng cộng sản. Các thầy cô phát biểu rất dè dặt thận trọng. Một thầy đọc khá nhiều sách mác-xít, từng học về lịch sử đảng cộng sản tại trường đại học sư phạm trong nước, cho rằng: “Chúng tôi luôn coi những người cộng sản cũng là những anh chị em mình trong gia đình dân tộc và cộng đồng loài người. Dù học thuyết họ theo đuổi đã từng ”vô minh”, từng bắt các linh mục tu sỹ đi cải tạo, thực tế bắt làm khổ sai, phá đình chùa, quẳng tượng Phật xuống ao, nay họ đã có được ít nhiều ”tuệ giác” đối với tôn giáo. Làng Mai đề ra việc đối thoại và cầu nguyện đối với chính quyền và đảng cộng sản; đối thoại để nói thẳng thắn những điều cần nói không e sợ, quanh co; cầu nguyện là cầu nguyện chư Phật soi sáng cho mọi người cộng sản, nhất là những người cộng sản cầm quyền, làm nảy nở Phật tánh dù còn ít trong tâm họ, cho họ biết noi gương các nhà cầm quyền thời Trần, yêu thương và quý trọng người dân, dựa vững vào đạo đức và cuộc sống tâm linh…”

… “Chúng tôi cho rằng phục hưng đất nước phải do cả dân tộc cùng làm, theo nhiều giới nhiều cách khác nhau, mỗi người chung một tay, nhà chính trị, nhà lãnh đạo tôn giáo, nhà dân chủ, trí thức, kinh doanh, cùng dựa vào gốc dân tộc”.

Tôi gặp anh bạn nhà báo F. Prévost ở làng Mai từ nước Bỉ đến, để tu tập chứ không để viết báo. Anh thuộc cánh tả, từ tuổi trẻ đã mê Staline – ”người cha của các dân tộc”, mê ông Mao, ông Hồ, để rồi vỡ mộng cay đắng trước cả khi bức tường Berlin vỡ tan. Nay anh tìm hiểu sâu đạo Phật; vốn có khiếu trào lộng, anh so sánh ”đạo Cộng sản” với đạo Phật; cộng sản cũng có Phật, Pháp và Tăng của họ. ”Phật” là Marx, ”Pháp” là học thuyết đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, ”Tăng” là đảng viên cộng sản đông đảo khắp nơi. Theo anh, Cộng sản là ”đạo Phật lộn ngược”, đầu cơ lòng thiện của con người để hứa hẹn một thiên đường nhân ái bốn bể là anh em, không có bóc lột, đầu cơ nguyện vọng độc lập dân tộc không bị nô dịch, để dành độc quyền thống trị con người từ tinh vi đến đẫm máu nhất.

Anh nói đến học giả Jean François Revel (mới mất tháng 4-2006 ở tuổi 82) triết gia uyên thâm của cánh tả Pháp đã tỉnh ngộ để chủ biên cuốn sách đồ sộ ”Sách đen của chủ nghĩa cộng sản”, với thống kê hơn 100 triệu sinh mạng chết thê thảm từ các cuộc thanh trừng, trại khổ sai, trại cải tạo, cách mạng văn hóa vô sản, quét sạch tôn giáo, những vụ án vu cáo gián điệp, phản động… Anh nói đến cái ”nghiệp” quá nặng của người cộng sản, đến nay nhiều người vẫn còn trong ”mê lộ”, chưa chịu tỉnh…

Có một đạo Phật có sức lan tỏa: 

Tôi gặp một số cán bộ, đảng viên cộng sản từ trong nước về đây tu tập, tìm hiểu. Có người là giáo sư đại học, là cán bộ từng làm việc trong ủy ban kế hoạch nhà nước, là sinh viên đoàn viên đoàn thanh niên cộng sản. Có chị là đảng viên, chồng là trung tướng quân đội nhân dân về hưu, vốn là cấp dưới tướng Trần Độ. Duyên hạnh ngộ bắt nguồn từ chuyến về thăm quê hương của tăng thân làng Mai đầu năm 2005. Có ni sư đến từ Huế và Bảo lộc (Lâm đồng) về đây học, tự coi là về nguồn để tu tập.

Quả vậy, hạt giống tự làng Mai đã gieo và mọc ở vùng cố đô Huế, vùng Bảo lộc với các chùa Từ Hiếu và tu viện Bát Nhã, cả trên đất Hoa kỳ, nơi có chùa Lộc Uyển (ở Nam Cali), Đạo tràng Thanh Sơn và Tu viện Rừng Phong… Lại còn nhiều tập thể, nhóm cư sĩ làng Mai, rải rác trên đất Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Canada và cả ở trong nước.

Riêng số xuất gia nhập tăng thân làng Mai nay đã lên gần 300. Số đang xin nhập còn nhiều. Số cư sĩ, dự tu tập hàng năm, theo từng mùa từng khóa không kể hết.

Các thày làng Mai đã tổ chức những cuộc Pháp thoại và Thiền hành ở Roma và Londres, ở Marseille và New York, ở Hàng Châu (Trung quốc)….nữa, và tháng 10 này ở giữa Paris.

Bí quyết của sự lan tỏa từ làng Mai là những nét đặc sắc của một đạo Phật trở về với chính gốc gác của mình, cởi bỏ những thần bí quá siêu nhân để về với nhân thế trần gian, với mỗi bước chân thảnh thơi, nụ cười hé nở trên đôi môi, búp sen tinh khiết bên trái tim, bữa ăn luôn ngon lành, giấc ngủ luôn an bình, thế ngồi luôn vững chãi trên niềm tin.

Bí quyết của làng Mai còn là sự hòa hợp giữa các tôn giáo, coi các tôn giáo đều là anh em, không tranh dành, đố kỵ, đối lập nhau. Bouddha, Jésus, Mahomet đều là anh em. Ở làng Mai có linh mục Công giáo, có mục sư Tin lành, có người theo đạo Do thái, Ấn độ giáo, Anh giáo, không nhất thiết từ bỏ hẳn tôn giáo của mình, vẫn có thể tu tập Phật giáo. Từ làng Mai đã có sáng kiến một cuộc gặp các nhà lãnh đạo cao nhất các tôn giáo để cùng cất lên nguyện vọng hòa bình của thập đại chúng sinh, góp phần dập tắt ngay các lò lửa chiến tranh – những địa ngục phi lý trên trần gian tuyệt đẹp này.

Một đạo Phật không làm chính trị? Về làng Mai, các thày và cô thường nói ”chúng tôi không làm chính trị”. Có lúc các thày nói: ”Làm chính trị, xin để dành cho các nhà chính trị ở ngoài đời, chúng tôi chỉ chuyên lo về tôn giáo”.

Hỏi chuyện các thày cô, trao đổi tâm tình với thày Nhất Hạnh, thỉnh thoảng tôi lại cười thầm một mình khi nhớ lại câu ”chúng tôi không làm chính trị”. Đây chỉ là một cách nói, có lẽ chỉ đúng trên một ý nghĩa nào đó.

Nhớ lại hồi chiến tranh, nhóm Phật giáo phản chiến, chống huynh đệ tương tàn, bị 2 bên lên án, bên quốc gia coi là đâm sau lưng chiến sỹ, bên kia coi chống chiến tranh cách mạng là tay sai đế quốc. Kẹt cứng giữa 2 làn đạn. Nhưng không thể nào khác. Chiến tranh là sát sinh; mà người Việt mình giết nhau nhiều nhất, lâu nhất, hăng say nhất. Hơn 1 triệu người Việt giết chết nhau suốt 30 năm, còn chưa đủ? Từ đâu để cho ”vô minh”, ”tà thức”, ”cuồng sát nhân sinh”, ” lôi kéo nhau vào hỏa ngục” lâu và sâu đến thế? Thế hệ trẻ vẫn còn chất vấn cha ông mình.

Với tò mò của nhà báo, tôi hỏi chuyện các thày cô về chuyến hồi hương đầu năm 2005. Các vị chức sắc của làng có vẻ thận trọng, vì đang còn tính đến chuyến đi thứ 2 dự định trong 77 ngày (11 tuần lễ) đầu năm Đinh Hợi (2007) đang được chuẩn bị; tôi hỏi quý thầy cô có ý kiến cho rằng đoàn đã bị chính quyền trong nước lợi dụng trong chuyến đi? Trả lời: ”Chúng tôi biết chuyện đó. Nhưng chúng tôi nghĩ khác. Chẳng lẽ dư luận quốc tế ngày nay lại nhẹ dạ, đơn giản đến vậy sao. Có ai chỉ lấy một chuyến đi để đánh giá về tự do tôn giáo của một chính quyền trong cả một năm; nghĩ thế là lầm to”. Vậy làng Mai có coi đó là một chuyến hành hương thắng lợi? Trả lời: ”Có chứ. Chúng tôi không dám chủ quan, nhưng thật ra vượt quá hy vọng ban đầu. Các buổi pháp thoại càng về sau càng đông. Chúng tôi in ra đĩa, hàng mấy ngàn đĩa nay còn đưa về trong nước.” Mấy thày làm báo Lá thư làng Mai nói thêm: ”Vui là nhiều quan chức cộng sản cấp cao ở các bộ, các viện, giáo sư đại học, sinh viên khá là đông chăm chú nghe, có vẻ mở lòng tiếp nhận, còn tỏ ra còn khát…”

Một cư sỹ trí thức Việt kiều làm việc ở Lyon (Pháp) từng tham gia tăng đoàn làng Mai về quê cho tôi rõ thêm: ”Các buổi pháp thoại cuối ở Hànội đông ngẹt. Sự đồng cảm tăng lên. Thày cao hứng nói vui: tăng thân làng Mai chúng tôi mới thiệt là cộng sản, không ai có xe riêng, có tiền riêng, điện thoại riêng, nhà riêng mà sống yên vui, yêu thương nhau, có hạnh phúc…; và xã hội chủ nghĩa mà sao lại tìm cách lật nhau, chống nhau, lừa nhau, tham nhũng lan tràn, xì ke ma túy, gái điếm khắp nơi, làm sao có hạnh phúc… Cả hội trường vỗ tay rất lâu khi thày nói rằng người cộng sản, người làm chính trị khi cầm quyền rất cần có đạo đức và cũng rất cần có cuộc sống tâm linh”.

Giữa tăng thân làng Mai và chính quyền cộng sản có điều gì căng thẳng không. Tôi được biết những cuộc thương lượng về chuyến trở về kéo dài từ 2 năm trước, không ít lúc căng, có lúc tưởng như không thành. Nhờ cái duyên – Bụt cho chăng, nên đã thành. Đó là khi họ gặp khó trong quan hệ với các nước và công luận quốc tế cũng như với dư luận trong nước, về vấn đề tôn giáo, họ phải điều chỉnh chính sách. Nói thẳng ra là họ không thể cứng mãi, họ buộc phải tính đến chuyện để một đoàn lớn tăng thân áo nâu về thuyết pháp từ Bắc vào Nam; để đoàn đem sách về đạo Phật về cũng như không kiểm duyệt trước nội dung các buổi pháp thoại.

Theo tin tôi nhận từ 16 Boileau – Paris (sứ quán Việt nam), ”sứ thần” làng Mai đến đây thương lượng về chuyến đi là ”nhà ngoại giao đáng nể”. Mềm mỏng trong đối xử, khá cứng cỏi trong nội dung. Việc tăng đoàn ”đến viếng lăng” – một vấn đề khá nhạy cảm cuối cùng họ chịu để buông lửng, không ghi vào chương trình. Cho đến khi những ngày cuối ở Hànội, đoàn ghé thăm Chùa Một cột xong, người hướng dẫn ”lơ đãng” dẫn sang phía lăng ông Hồ Chí Minh ngay sát đó, đoàn vẫn lặng lẽ đi ra nơi đậu xe, lên xe về nơi nghỉ. Coi như xong, không căng thẳng, rồi không bên nào nhắc đến nữa…

Khéo thật, tôi nghĩ, thế là không làm chính trị chăng.

Đề nghị 7 điểm với cái nhíu mày tạm biệt: Anh bạn nhà báo từ Hànội sang Paris kể cho tôi ngày cuối đoàn làng Mai ở Hànội, Thiền sư Nhất Hạnh gặp từ biệt Thủ tướng Phan Văn Khải, không khí hòa dịu nhẹ nhàng, nhưng ít ai biết có mấy phút khá căng, khi Thày đưa bản đề nghị 7 điểm về ”Chính sách của nhà nước Việt nam đối với Phật giáo.”

Nội dung trước hết là: tách rời tôn giáo với chính quyền, không có quyền can thiệp vào nhau. Các vị xuất gia sẽ không là dân biểu quốc hội, thành viên của hội đồng nhân dân, của Mặt trận Tổ quốc hay của một đảng phái nào, cũng không nhận huân chương của chính quyền; làm như thế là phạm giới.

Hai là nhà nước mời những vị tôn túc trưởng lão Phật giáo làm cố vấn cho ngành lập pháp và hành pháp để tháo gỡ những khó khăn, hàn gắn những đổ nát, xây dựng tình huynh đệ trong cộng đồng Phật giáo, thiết lập truyền thông với nhà nước. Danh sách các vị được mời: Hòa thượng Trí Quang, Trí Tịnh, Nhật Liên, Huyền Quang, Quảng Độ, Phổ Tuệ…

Các điểm tiếp theo là: nhà nước và tôn giáo chung sức xây dựng đạo đức văn hóa, chống tham nhũng và tệ nạn xã hội, cấp hộ khẩu cho giới tu hành, phục hoạt Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất và hoạt động của Ban tôn giáo.

Chỉ liếc mắt thoáng đọc 2 điểm đầu, ông Khải đã nhíu mày, đặt bản văn xuống và không trả lời. Yên lặng và buổi tiếp kết thúc trong xã giao. Thông tấn xã nhà nước và báo chí trong nước nhận nghiêm lệnh không được công bố 7 điểm.

Thày Pháp Ấn cho tôi biết một điểm son của cuộc hồi hương là những cuộc chan hòa anh em giữa các giáo đoàn khác nhau, trong và ngoài nước, Giáo hội Phật giáo Việt nam với Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất, áo nâu xen với áo vàng, Bắc, Trung, Nam hòa hợp, cùng trò chuyện, cùng thiền hành, cùng tụng giới, tiêu biểu nhất là ở chùa Từ Đàm – Huế.

Làng Mai yên tĩnh… Mùa thu 2006 này, làng Mai từ ngoài nhìn vào vẫn yên tĩnh như một làng quê Việt nam thời xa xưa. Hôm nay lại là ”ngày làm biếng”. Vài tháng một lần, sau những ngày bận rộn, căng thẳng như các lớp học, hội thảo, tiếp khách thập phương, các ngày hội làng, làng công bố một ”ngày làm biếng”, cho mọi người thức dậy muộn, nằm nghỉ ngơi, tắm, giặt, đọc sách, viết thư riêng, thăm nhau, đi dạo. Mỗi thành viên mỗi tháng có 40 Euro tiền bỏ túi, tiêu vặt; theo giá tiền ”đồng” trong nước bằng 800.000 đồng, là khá lớn, nhưng ở đây vừa đủ để mua tem, thẻ gọi điện thoại, thiếp chúc mừng, bưu ảnh, chiếc kem, gói kẹo chocolat, túi vải, cuốn sách, bút mực, bàn chài và kem đánh răng…

Thật ra ở Văn phòng làng Mai, các thày cô đang thức khuya dạy sớm, dồn dập công việc. Việc chuẩn bị cuộc hành hương thứ hai vào đầu năm Đinh Hợi (2007) đang rất khẩn trương. Danh sách tăng đoàn, giấy tờ, hộ chiếu, visa. Làm việc với sứ quán Việt nam, với Sứ quán Pháp ở Hànội. Kế hoạch cho từng ngày của 77 ngày hồi hương, theo chủ đề: ”Bồi đắp gốc rễ, khai thông suối nguồn”. Nội dung chính của cuộc trở về này vẫn là hoằng pháp, với một việc quan trọng là tổ chức Đại Trai Đàn, cầu siêu trong cả nước cho tất cả những người Việt anh chị em ta chết trong hơn nửa thế kỷ qua, không kể đứng bên chiến tuyến nào, dưới lá cờ nào, theo đảng phái hay tổ chức chính trị, tôn giáo, địa phương nào. Một cuộc cầu siêu chân thành, sâu sắc. Tôi mong dịp này ai có người thân chết trên biển cả xin thông tin cho biết tên tuổi, ngày và nơi bị nạn trên biển để làng Mai có thể thống kê và lên danh sách cầu siêu, từ đó may ra biết rõ thêm về sự kiện bi thảm này, vì hiện ước lượng quá xa nhau, từ 20 ngàn đến 500 ngàn, con số nào gần sự thật.

Lại còn việc theo dõi bộ phim ”Đường xưa mây trắng” sẽ tiến hành ra sao để lột tả đúng hoặc gần đúng cuộc đời của Bụt, tải được đạo pháp thâm thúy mà tự nhiên, tránh thần bí hóa và chạy theo thị hiếu, nhưng lại hấp dẫn người xem. Việc này không đơn giản, vì bộ phim lớn này sẽ có thể quay với ngoại cảnh ở Ấn độ, Thái lan, Việt nam và Mỹ…Nhân vật đông, nhiều vẻ, cần khung diễn viên có tài, nhập vai thật đạt, sống động, tả được cả tăng đoàn theo Bụt lên đến 1.250 đệ tử, với cuộc sống trong rừng rậm, cả một thế giới động vật: voi, hổ, hươu, nai, cừu, trâu, bò, rắn, trăn, cá sấu, thỏ, sóc, thiên nga, phượng hoàng, gà, vịt, chim sẻ, công, sáo… và thiên nhiên hùng vỹ: thác đổ, đồng cỏ, sông Hằng kỳ vỹ, núi tuyết Hymalaya, bầu trời sao và mây trắng…đều có ”vai diễn” trong phim.

Ngay trước mắt đoàn tăng thân làng Mai sẽ thiền hành giữa thủ đô Paris ngày chủ nhật 22-10 sau cuộc nói chuyện ở Hội trường lớn Mutualité tối 21-10.

Thật là duyên hạnh ngộ đẹp cho tôi được trở về làng Mai mùa thu năm nay. Cuộc đời còn lại của tôi mang dấu ấn cuộc hành hương ngắn ngủi này. Tự tin hơn, yêu đời hơn. Ăn thức ăn đơn giản mà ngon lành hơn. Tim bị bệnh vì đập thất thường nay ổn định khác hẳn trước. Danh lợi hão huyền coi nhẹ từ 16 năm tan biến hẳn như sương khói. Tôi hết đỏ mặt, cao giọng khi tranh luận. Tôi tin hơn ở con đường phi bạo lực, quý trọng gấp bội các chiến sỹ dân chủ trong nước gan góc kiên trì lẽ phải, sự thật và điều thiện, đang nêu gương cho các đảng viên cộng sản còn mê muội sớm từ bỏ tà đạo.

Tạm biệt làng Mai thân thiết, tôi nhớ đến lời Bụt nói với chú bé chăn trâu paria/tiện dân: “Con ạ, có những điều đông đảo người tin từ lâu là lẽ phải, vậy mà là tà thức đấy!” Đó là tà thức coi tầng lớp paria nhơ nhớp hơn trâu chó, ai đụng vào họ là bị nhiễm bẩn không sao gột rửa. Như tà thức gần đây coi đấu tranh giai cấp và bạo lực là thiêng liêng (!), là động lực thúc đẩy xã hội (!), như tà thức hiện tại coi độc quyền một đảng là chân lý vĩnh cửu (!), bất chấp giá trị dân chủ hiển nhiên của thời đại, bất chấp những kêu gào bất công và oan ức ngút ngàn, ngày đêm vang lên từ ngàn vạn dân oan khắp nông thôn và thành thị quê ta, bất chấp can ngăn của các bậc thức giả trong và ngoài đảng. Mọi nơi đang đòi đa nguyên đa đảng trong trật tự như đòi nước và không khí, coi như chiếc cầu vượt sóng dữ, đúng như lời dạy thâm thúy của Phật: lẽ phải không nằm ở giới quyền quý, cũng không ở giới tăng lữ, nó nằm rộng khắp trong đông đảo chúng sinh. Người cầm quyền phải học cúi đầu cầm bát đi khất thực, thực tế là ra khỏi những dinh thự xa hoa một cách láo xược, khiêm tốn đi xin những lời hay ý đẹp trong người dân thường qua lá phiếu riêng của từng công dân.

Đạo Phật canh tân, đạo Phật trẻ lại đang cùng các lực lượng dân chủ và dân tộc kết hợp đấu tranh chính trị với phục hưng văn hóa, bồi dưỡng tâm linh, đẩy lùi tà đạo và tà thức, độc đảng và bạo quyền, mở ra trang sử mới cho dân tộc Việt nam luôn quý điều Thiện, chuộng tình huynh đệ, nghĩa đồng bào.

Paris. 18/10/2006.
BÙI TÍN
(Nguồn: Tập san Phật giáo dấn thân)

Video yêu thích
Nghìn lẻ một đêm
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Hình như

#CNM365 #CLTVN HÌNH NHƯ
Hoàng Kim

Hình như thênh thênh ngày rộng
Hình như dìu dịu nắng trời
Ngày mới không còn thấy vội
Thanh nhàn ngày tháng đưa nôi …

Hình như xuân về trước ngõ
Hình như mưa bụi ngập ngừng
Hơi đông vẫn còn se lạnh
Mà chồi non đã rưng rưng …

Hạnh phúc sao mà giản dị
An nhiên vui với mỗi ngày
Ríu rít nghe chim gọi tổ
Nồng nàn hương mít thơm cây …

Hoa Lúa quyện vào Hoa Đất
Giấc mơ hạnh phúc bình an
Ngắm gốc mai vàng trước ngõ
Thời gian lắng đọng người hiền.

http://hoangkimlong.wordpress.com/category/hinh-nhuhttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-21-thang-1/

emve
#cnm365 #cltvn Xuân Hoàng Gia https://youtu.be/sf4gSKfSsbE

HoangKim999
Hoàng Kim

HÌNH NHƯ
Hoàng Kim

Hình như mùa xuân lắng đọng
Thầy em và nắng tháng Ba
Hoàng Thành Trúc Lâm biển Ngọc
Sớm xuân thân thiết đậm đà.


Việt Nam có Bảo tàng Chăm, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Viện Viễn Đông Bác cổ cũ) và Bảo tàng Dân tộc học (mới xây dựng) đạt các tiêu chuẩn về khoa học, trưng bày, các hoạt động nghiên cứu, phục chế. Hệ thống bảo tàng Việt Nam hiện còn thiếu đa dạng. Hầu hết tập trung chủ yếu vào tính chính trị, lịch sử dân tộc qua các thời kỳ, mà vắng bóng các loại bảo tàng chuyên ngành để khai thác các tư liệu, hiện vật còn nằm rải rác trong dân; thiếu . những loại bảo tàng khoa học đời sống giúp nâng tầm kiến thức văn hóa cho người dân và. gìn giữ hồn cốt cha ông. Hoàng Kim đối thoại với thiền sư @Jim Rohn có nói: “Hãy canh gác cánh cửa TÂM TRÍ. Chúng ta trở thành thế nào chủ yếu được quyết định bởi những người chúng ta gặp, những sự kiện chúng ta tham gia, những cuốn sách chúng ta đọc, và lối sống mà chúng ta lựa chọn”

Video yêu thích
Chỉ tình yêu ở lại

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Bạch Mai sắn Tây Nguyên

BẠCH MAI SẮN TÂY NGUYÊN
#cnm365 #cltvn 12 tháng 1
Hoàng Kim

Đến với Tây Nguyên mới
Xuân ấm áp tình thân
Có một ngày như thế
Bạch Mai sắn Tây Nguyên

Chúc mừng ngày Hạnh Phúc TS. Nguyễn Bạch Mai.#cnm365 #cltvn 12 tháng 1 Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-12-thang-1/:

Giống sắn KM419 chủ lực sản xuất và thương mại đang được tích hợp gen kháng bệnh CMD của C39 * với các giống sắn lai triển vọng KM419, KM397, KM440. Đề tài này được liên kết, để Bảo tồn và phát triển sắn. Các giống sắn tốt thương hiệu Việt Nam với quy trình “Mười kỹ thuật thâm canh sắn (10T)” https://hoangkimlong.wordpress.com/category/muoi-ky-thuat-tham-canh-san/.

Chúng tôi may mắn lần đó đã gặp nhiều bạn quý, có cả những nhân vật lớn của Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cựu Hiệu trưởng GS.TS. NGND. Trần Đức Viên (2007 – 2014), tân Hiệu trưởng GS.TS. Nguyễn Thị Lan (2015 – nay) người đoạt Giải thưởng Kovalevskaia 2018, TS. Lê Ngọc Báu Liên hiệp các hội KHKT tỉnh Đắk Lắk với nhiều người khác, có cả chuyện hay “Kim Thiếp Vũ Môn Trần Gia Ninh” và các chuyện thú vi khác, tôi chưa kịp chép lại. BM Nguyễn ngày nay đang tiếp tục dấn bước trên con đường Bảo tồn và phát triển sắn https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bao-ton-va-phat-trien-san/

Bài học chọn giống sắn Việt Nam tương tự bài học chọn giống lúa Việt Nam “Hồ Quang Cua gạo SThttps://hoangkimlong.wordpress.com/category/ho-quang-cua-gao-st/ (Commercial key cassava variety KM419 is being integrated with C39’s CMD resistance gene * with promising hybrids of KM419, KM397, and KM440. This topic is being linked, for Vietnam cassava conservation and sustainable development. Good cassava varieties with Vietnamese brand and the “Ten cassava intensive farming techniques 10T”Vietnamese cassava lesson is similar to Vietnamese rice lesson “Ho Quang Cua, Soc Trang ST24 fragrant rice”- with Hoàng Kim, Hoang Long, Trúc Mai, BM Nguyễn, Hung Nguyenviet, Nguyễn Minh Cường, Nhạn Phạm, Jonathan Newby, Quyen Mai Van, Trần Ngọc Ngoạn)

Kỹ thuật trồng sắn KM419 (khoai mỳ)-ACP_Đăk Lăk https://youtu.be/VT3yDprIh8E Video by Quang Chinh Pham

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN

BM Nguyễn cùng với Jonathan Newby.10 tháng 11, 2019  · Được mùa VÀO NGÀY NÀY 2 năm trước; Hoàng Kim cùng với Luat NguyenCua Ho Quang. 11 tháng 11, 2019  · Đã chia sẻ với Công khai

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là st25-gao-ngon-viet-nam.jpg

HỒ QUANG CUA GẠO ST
Hoàng Kim

Chúc mừng Gạo thơm Sóc Trăng ST24 của kỹ sư Hồ Quang Cua anh hùng lao động và đồng sự TS Trần Tấn Phương, ThS Nguyễn Thị Thu Hương với Doanh nghiệp Lúa giống Hồ Quang Trí, tỉnh Sóc Trăng đã vinh dự đoạt giải nhất cuộc thi Gạo ngon Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 4 tháng 11 năm 2019. Chúc mừng Gạo thơm Sóc Trăng ST24 của Việt Nam từ năm 2017 đã tỏa sáng Hạt ngọc Việt được vinh danh với gạo Thái Lan và… Xem thêm Hồ Quang Cua gạo ST https://hoangkimlong.wordpress.com/2021/11/11/ho-quang-cua-gao-st/

CHỌN GIỐNG SẮN KHÁNG CWBD
Nguyễn Bạch Mai, Hoàng Kim, Nguyễn Thị Trúc Mai, Hoàng Long, Nguyễn Văn Phu Selection of cassava varieties resistant to CWBD **

Chọn giống sắn kháng CWBD Ở Việt Nam, giải pháp chủ yếu ngăn chặn lây lan CWBD là phòng trừ tổng hợp: sử dụng giống sắn KM419, KM440,KM397, KM98-1 ít nhiễm bệnh hơn so với KM94 và dùng nguồn giống sạch bệnh; vệ sinh đồng ruộng tiêu hủy nguồn bệnh kịp thời; diệt rầy lá, rầy thân, nhện đỏ, rệp sáp và các loại côn trùng lây lan bệnh; cần chăm sóc sắn tốt, bón phân và làm cỏ 3 lần để tăng sức đề kháng cho cây, bố trí mùa vụ thích hợp để hạn chế dịch hại; tiêu hủy nguồn bệnh kịp thời khi bệnh xuất hiện; xem tiếp Bạch Mai sắn Tây Nguyên https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bach-mai-san-tay-nguyen/ http://cayluongthuc.blogspot.com/2012/07/muoi-ky-thuat-tham-canh-san.html” và https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chon-giong-san-khang-cmd/ Trò chuyện với Hoàng Kim https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tro-chuyen-voi-hoang-kim/ (*)

Selection of cassava varieties resistant to CWBD. In Vietnam, the main solution to prevent the spread of CWBD is integrated control: using cassava varieties KM419, KM440, KM397, KM98-1 less infected than KM94 and using disease-free seed sources; field sanitation to destroy disease sources in a timely manner; kill leafhoppers, stem planthoppers, red spiders, mealybugs and other disease-spreading insects; it is necessary to take good care of cassava, fertilize and weed 3 times to increase the resistance of the plants, arrange appropriate seasons to limit pests; promptly destroy the source of the disease when the disease appears; see more http://cayluongthuc.blogspot.com/2012/07/muoi-ky-thuat-tham-canh-san.html” and https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chon-giong-san-khang-cmd/ Conversations with Hoang Kim https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tro-chuyen-voi-hoang-kim/ https://www.youtube.com/embed/0MVPGxOpoPY?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=vi&autohide=2&wmode=transparentCAVAC Cách chọn thân cây sắn để trồng (Video hướng dẫn về bệnh khảm trên cây sắn)https://youtu.be/0MVPGxOpoPY Video của Australian Embassy, Cambodia 18 8 2021 đã viết. “Bạn có biết sắn là cây trồng lớn thứ hai của Campuchia và mang lại sinh kế cho hơn 90.000 hộ gia đình, đóng góp hàng trăm triệu đô la cho nền kinh tế? Điều này cũng có nghĩa là sâu bệnh có thể có tác động tàn phá. Australia thông qua chương trình Chuỗi Giá trị Nông nghiệp Campuchia-Australia (CAVAC) và Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) đang làm việc với Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản để ngăn chặn sự lây lan của bệnh Chổi rồng (CWBD), một mối đe dọa lớn đối với cây sắn. Bệnh CWBD làm giảm hàm lượng tinh bột và sản lượng sắn 80%). Australian Embassy, Cambodia 18 tháng 8 lúc 13:05 “Eradicating Disease from Cambodia’s Cash Crop (ភាសាខ្មែរនៅខាងក្រោម) Did you know cassava is Cambodia’s second biggest crop and provides a livelihood for more… than 90,000 households, contributing hundreds of millions of dollars to the economy? This also means that pests and diseases can have a devastating impact. Australia through the Cambodia-Australia Agricultural Value Chain (CAVAC) program and the International Centre for Tropical Agriculture (CIAT) is working with the Ministry of Agriculture, Forestry and Fisheries to stop the spread of Cassava Witches’ Broom Disease, a major threat to cassava that reduces its starch content and yields by 80%” Australian Embassy, Cambodia said.

**

Chọn giống sắn kháng CWBD Ở Việt Nam, giải pháp chủ yếu ngăn chặn lây lan CWBD và CMD là phòng trừ tổng hợp: sử dụng giống sắn KM419, KM440,KM397, KM98-1 ít nhiễm bệnh hơn so với KM94 và dùng nguồn giống sạch bệnh; vệ sinh đồng ruộng tiêu hủy nguồn bệnh kịp thời; diệt rầy lá, rầy thân, nhện đỏ, rệp sáp và các loại côn trùng lây lan bệnh; cần chăm sóc sắn tốt, bón phân và làm cỏ 3 lần để tăng sức đề kháng cho cây, bố trí mùa vụ thích hợp để hạn chế dịch hại; tiêu hủy nguồn bệnh kịp thời khi bệnh xuất hiện; xem thêm http://cayluongthuc.blogspot.com/2012/07/muoi-ky-thuat-tham-canh-san.html

Selection of cassava varieties resistant to CWBD. In Vietnam, the main solution to prevent the spread of CWBD is integrated control: using cassava varieties KM419, KM440, KM397, KM98-1 less infected than KM94 and using disease-free seed sources; field sanitation to destroy disease sources in a timely manner; kill leafhoppers, stem planthoppers, red spiders, mealybugs and other disease-spreading insects; it is necessary to take good care of cassava, fertilize and weed 3 times to increase the resistance of the plants, arrange appropriate seasons to limit pests; promptly destroy the source of the disease when the disease appears; (Hoang Kim and the Team, said. Conversations with Hoang Kim https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tro-chuyen-voi-hoang-kim/ )

CHỌN GIỐNG SẮN KHÁNG CMD
Nguyễn Thị Trúc Mai, Hoàng Kim, Hoàng Long, và đồng sự
Selection of cassava varieties resistant to CMD (*)

Ở Việt Nam, giống sắn KM419 và KM440 đến nay là phổ biến nhất, sau cả áp lực nặng của bệnh khảm lá CMD và bệnh chổi rồng CWBD. https://youtu.be/XDM6i8vLHcIhttps://youtu.be/kjWwyW0hkbU chúng tôi khuyên nông dân nên trồng các loại giống sạch bệnh KM568, KM535, KM419, KM440, KM94, KM140, KM98-1, HN5, HLS14 để khảo nghiệm DUS và VCU. Sắn Việt Nam bảo tồn và phát triển bền vững: xem thêm https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chon-giong-san-khang-cmd/

In  Vietnam, up to now, cassava varieties KM419 and KM440 are popular,  after even CMD and CWBD, https://youtu.be/XDM6i8vLHcI and https://youtu.be/kjWwyW0hkbU planting clean KM568, KM535, KM419, KM440, KM94, KM140, KM98-1, HN5, HLS14 for DUS and VCU trials remains our advice to farmer at this stage.  Cassava conservation and sustainable development in Vietnam: https://youtu.be/XMHEa-KewEk; https://youtu.be/5l9xPES76fU;

*

Bệnh virus khảm lá CMD từ ban đầu Tây Ninh (2017) lan rộng trên 15 tỉnh thành Việt Nam (2018) là thách thức của các nhà khoa học. “V/v sử dụng giống sắn KM419 trong sản xuất” đã được Bộ NNPTNT xác định tại công văn chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn, Cục Bảo vệ Thực vật số 1068/ BVTV ngày 3 tháng 5 năm 2019. Giống sắn KM419 có năng suất tinh bột cao nhất và diện tích trồng phổ biến nhất hiện nay ở Việt Nam. Giống sắn KM419 chống chịu trung bình bệnh CMD và bệnh chổi rồng (CWBD), trong điều kiện áp lực hai bệnh này ở Việt Nam là rất cao. Sự cần thiết cấp bách lai tạo KM419 đưa thêm gen kháng bệnh của giống C39, KM440 (KM94 đột biến); KM397 vào giống sắn ưu tú này .

Giống sắn KM419 bìa trái thấp cây, tán gọn, cọng đỏ, chống chịu trung bình với bệnh CMD và CWBD , và các dòng sắn lai ít bệnh CMD và CWBD, so với HLS 11 giữa, cao cây, cọng xanh, nhiễm nặng bệnh CMD

Chọn giống sắn Việt Nam giải pháp tiếp nối hiệu quả là sử dụng giống sắn KM419 năng suất tinh bột cao sạch bệnh tiếp tục lai tạo với các giống sắn kháng bệnh CMD đã có. Bài viết Chọn giống sắn kháng CMD kết nối Chọn giống sắn kháng CWBDChọn giống sắn Việt Nam đúc kết tóm tắt thông tin đã có và định hướng cho sự nổ lực Trúc Mai, Hoang Long, BM Nguyễn, Nguyen Van Nam, Nhan Pham, Hung Nguyenviet, Hoàng Kim, Jonathan Newby … đang lai hữu tính và bồi dục nâng cao tính kháng cho các giống sắn KM419, KM440, KM397, tốt nhất hiện nay

Chúng tôi khuyên nông dân nên trồng các loại giống sạch bệnh KM568, KM535, KM419, KM440, KM94, KM140, KM98-1, HN5, HLS14 để khảo nghiệm DUS và VCU , bảo tồn và phát triển những giống sắn tốt nhất có năng suất cao và ít sâu bệnh.

Chọn giống sắn kháng CMD https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chon-giong-san-khang-cmd/

Giống sắn KM419 và KM440; Casava in Vietnam: Save and Grow, PhuYen https://youtu.be/XDM6i8vLHcI

CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM
Hoàng Kim, Hoàng Long (chủ biên) và đồng sự
http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong

Bài viết mới (đọc thêm, ngoài giáo trình, bài giảng)

Bảo tồn và phát triển sắn
Cách mạng sắn Việt Nam
Chọn giống sắn Việt Nam
Chọn giống sắn kháng CMD
Chọn giống sắn kháng CWBD
Bạch Mai sắn Tây Nguyên
Giống sắn KM419 và KM440
Mười kỹ thuật thâm canh sắn
Sắn Việt bảo tồn phát triển
Sắn Việt Lúa Siêu Xanh
Sắn Việt Nam bài học quý
Sắn Việt Nam sách chọn
Sắn Việt Nam và Howeler
Sắn Việt Nam và Kawano
Sắn Việt và Sắn Thái
Quản lý bền vững sắn châu Á
Cassava and Vietnam: Now and Then

Lúa siêu xanh Việt Nam
Giống lúa siêu xanh GSR65
Giống lúa siêu xanh GSR90
Gạo Việt và thương hiệu
Hồ Quang Cua gạo ST
Cơm Niêu Vàng Gạo Đông A
Con đường lúa gạo Việt
Chuyện cô Trâm lúa lai
Chuyện thầy Hoan lúa lai
Lúa C4 và lúa cao cây
Lúa sắn Cămpuchia và Lào
Lúa sắn Việt Châu Phi
Lúa Việt tới Châu Mỹ

Giống ngô lai VN 25-99
Giống lạc HL25 Việt Ấn


Giống khoai lang Việt Nam
Giống khoai lang HL518
Giống khoai lang HL491
Giống khoai Hoàng Long
Giống khoai lang HL4
Giống khoai Bí Đà Lạt

Việt Nam con đường xanh
Việt Nam tổ quốc tôi
Vườn Quốc gia Việt Nam
Nông nghiệp công nghệ cao
Nông nghiệp sinh thái Việt
Nông nghiệp Việt trăm năm
IAS đường tới trăm năm
Viện Lúa Sao Thần Nông
Hoàng Thành đến Trúc Lâm
Ngày Hạnh Phúc của em
Có một ngày như thế

Thầy bạn là lộc xuân
Thầy bạn trong đời tôi
Trường tôi nôi yêu thương
IAS đường tới trăm năm
Sóc Trăng Lương Định Của
Thầy lúa Bùi Bá Bổng
Thầy Quyền thâm canh lúa
Thầy nghề nông chiến sĩ
Thầy Norman Borlaug
Thầy Luật lúa OMCS OM
Thầy Tuấn kinh tế hộ
Thầy Tuấn trong lòng tôi
Thầy Vũ trong lòng tôi
Thầy lúa xuân Việt Nam
Thầy Ngoạn Hồ Núi Cốc
Thầy bạn Vĩ Dạ xưa
Thầy là nắng tháng Ba
Thầy Dương Thanh Liêm
Thầy Hiếu Đêm Giáng Sinh
Thầy Nguyễn Hoàng Phương
Thầy Nguyễn Lân Dũng
Thầy nhạc Trần Văn Khê
Thầy ơi
Thắp đèn lên đi em
Thầy Tuệ Trung Thượng Sĩ
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Nguyễn Du trăng huyền thoại
Lê Quý Đôn tinh hoa
Trần Công Khanh ngày mới
Phạm Trung Nghĩa Viện Lúa
Phạm Quang Khánh Hoa Đất
Phạm Văn Bên Cỏ May

24 tiết khí nông lịch
Nông lịch tiết Lập Xuân
Nông lịch tiết Vũ Thủy
Nông lịch tiết Kinh Trập
Nông lịch tiết Xuân Phân
Nông lịch tiết Thanh Minh
Nông lịch tiết Cốc vũ
Nông lịch tiết Lập Hạ
Nông lịch tiết Tiểu Mãn
Nông lịch tiết Mang Chủng
Nông lịch tiết Hạ Chí
Nông lịch tiết Tiểu Thử
Nông lịch tiết Đại Thử
Nông lịch tiết Lập Thu
Nông lịch Tiết Xử Thử
Nông lịch tiết Bạch Lộ
Nông lịch tiết Thu Phân
Nông lịch tiết Hàn Lộ
Nông lịch Tiết Sương Giáng
Nông lịch tiết Lập Đông
Nông lịch tiết Tiểu tuyết
Nông lịch tiết Đại tuyết
Nông lịch tiết giữa Đông
Nông lịch Tiết Tiểu Hàn
Nông lịch tiết Đại Hàn

Nhà sách Hoàng Gia

Video tài liệu tham khảo chọn lọc :

Cây Lương thực Việt Nam Chuyển đổi số nông nghiệp, Học không bao giờ muộn Cách mạng sắn Việt Nam https://youtu.be/81aJ5-cGp28; Mười kỹ thuật thâm canh sắn : Cassava in Vietnam Save and Grow 1Daklak; Cassava in Vietnam: Save and Grow 2Daklak; Cassava in Vietnam: Save and Grow 3Daklak; Giống sắn KM410 và KM440 ở Phú Yên https://youtu.be/XDM6i8vLHcI; Giống sắn KM419, KM440 ở Đăk Lăk https://youtu.be/EVz0lIJv2N4; Giống sắn KM419, KM440 ở Tây Ninh https://youtu.be/XMHEa-KewEk; https://youtu.be/kjWwyW0hkbU; https://youtu.be/9mZHm08MskE; Trồng sắn KM419, KM98-5, KM98-1 ở Căm pu chia https://youtu.be/TpTIxv9LaFQ; Ngăn chặn lây lan CWBD bệnh chổi rồng ở Căm pu chia https://youtu.be/0gNY0KZ2nyY; Trồng khoai lang ở Hàn Quốc https://youtu.be/J_6xW3j47Sw; Trồng lúa đặc sản ở Trung Quốc https://youtu.be/rJSZfrJFluw; Trồng khoai lang tím ở Trung Quốc https://youtu.be/0CHOG3r64xs;Trồng và chế biến khoai tây ở Trung Quốc https://youtu.be/0gNY0KZ2nyYv; Làm măng ngọt giá cao ở Trung Quốc https://youtu.be/i1oFFqFMlvI; Nghệ thuật làm vườn yêu thích, dễ làm, hiệu quả https://youtu.be/kPIzBRPezY4https://youtu.be/_jUJrIWp2I4; Trồng ngô ở vùng cao Trung Quốc https://youtu.be/bZsfEwr9i6I

CHỌN GIỐNG SẮN VIỆT NAM
Hoàng Kim
, Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai, Nguyễn Việt Hưng, Trần Công Khanh (Bài tổng hợp dùng để giảng dạy sắn trong nhà trường và làm tài liệu khuyến nông)

Việt Nam có tổng diện tích sắn thu hoạch năm 2018 là 513.000 ha, với năng suất sắn củ tươi bình quân 19,2 tấn/ ha, sản lượng sắn củ tươi 9,84 triệu tấn. Hai giống sắn chủ lưc KM419 và KM94 chiếm lần lượt 38% và 31,7% tổng diện tích sắn Việt Nam, là hai giống sắn thương mại phổ biến nhất Việt Nam hiện nay. RTB Newsletter 2016. Assessment reveals that most cassava grown in Vietnam has a CIAT pedigree, http://www.rtb.cgiar.org/2016-annual-report/assessment-reveals-that-most-cassava-grown-in-vietnam-has-a-ciat-pedigree/ .
Nguồn gốc và đặc điểm của hai giống sắn chủ lực KM419, KM94 và bốn giống sắn có diện tích trồng phổ biến rộng tại Việt Nam KM140, KM98-5, KM98-1, SM937-26 như sau

Giống sắn KM419
Giống sắn KM 419 được chọn tạo từ tổ hợp lai BKA900 x KM 98-5. Giống do Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Phú Yên, Trường Đại học Nông Lâm Huế tuyển chọn và giới thiệu (Hoàng Kim, Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Thị Trúc Mai, Võ Văn Quang, Nguyễn Bạch Mai, Nguyễn Thị Lệ Dung, Nguyễn Phương, Hoàng Long, Nguyễn Minh Cường, Đào Trọng Tuấn, Trần Công Khanh, Nguyễn Minh Hiếu, Nguyễn Văn Bộ, Nguyễn Thị Cách, Nguyễn Trọng Hiển, Lê Huy Ham, H. Ceballos and M. Ishitani. (2016), Giống được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận sản xuất thử tại Quyết định số 85 / QĐ-BNN-TT Hà Nội ngày 13 tháng 1 năm 2016 cho vùng sinh thái Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ).

Giống sắn KM419 là giống sắn chủ lực của Việt Nam có diện tích thu hoạch năm 2016 chiếm 38 % so với giống sắn KM94 chiếm 31,7% (RTB Newsletter 2016. Assessment reveals that most cassava grown in Vietnam has a CIAT pedigree), và năm 2019 giống sắn KM419 chiếm khoảng 42% tổng diện tích sắn toàn Việt Nam

Giống KM419 có đặc điểm:

+ Thân xanh xám thẳng, ngọn xanh cọng đỏ, lá xanh đậm, không phân nhánh.
+ Năng suất củ tươi: 34,9-54,9 tấn/ha.
+ Tỷ lệ chất khô: 35,1- 39.0%.
+ Hàm lượng tinh bột: 27,8 – 30,7%.
+ Năng suất tinh bột: 10,1-15,8 tấn/ ha
+ Chỉ số thu hoạch: 62 %.
+ Thời gian thu hoạch: 7-10 tháng.
+ Nhiễm trung bình bệnh chồi rồng và bệnh khảm lá virus CMD
+ Cây cao vừa, nhặt mắt, tán gọn, thích hợp trồng mật độ dày 12,500- 14.000 gốc/ ha .

Giống sắn KM419 đã phát triển rộng rãi tại Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên,…được nông dân các địa phương ưa chuộng với tên gọi sắn giống cao sản siêu bột Nông Lâm. Đặc biệt tại tỉnh Phú Yên giống sắn KM419 được trồng trên 85% tổng diện tích sắn của toàn tỉnh mang lại bội thu năng suất và hiệu quả cao về kinh tế xã hội. Tại Tây Ninh, năm 2019 diện tích sắn bị nhiễm bệnh CMD tuy vẫn còn cao nhưng mức độ hại giảm mạnh, lý do vì KM419 và KM94 là giống chủ lực chiếm trên 76% diện tích mỗi vụ của toàn tỉnh (KM419 chiếm 45% ở vụ Đông Xuân và 54,2% ở vụ Hè Thu; KM94 chiếm 31% ở vụ Đông Xuân và 21,6% ở vụ Hè Thu). Tại Đăk Lắk, năm 2019 diện tích sắn KM419 chiếm trên 70% diện tích mỗi vụ của toàn tỉnh.

Sự bùng nổ về năng suất sản lượng và hiệu quả kinh tế sắn đã trùng hợp với sự xuất hiện, lây lan của các bệnh hại bệnh sắn nghiêm trọng. Đặc biệt bệnh khảm lá CMD do virus gây hại (Sri Lanka Cassava Mosaic Virus) lây lan rất nhanh và gây hại khủng hoảng các vùng trồng sắn. Tại Việt Nam, bệnh này được phát hiện vào tháng 5/2017 trên giống sắn HLS11, đến tháng 7/ 2019 bệnh đã gây hại các vùng trồng sắn của 15 tỉnh, thành phố, trên hầu hết các giống sắn hiện có ở Việt Nam. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cục BVTV đã có văn bản 1068 ngày 9/5/2019 xác định “Việc hướng dẫn nông dân mua giống KM419 sạch bệnh là giải pháp an toàn, kinh tế nhất hiện nay” .

Nghiên cứu tuyển chọn giống sắn năng suất tinh bột cao, kháng được sâu bệnh hại chính (CMD, CWBD) phù hợp với điều kiện sản xuất tại tỉnh Phú Yên và vùng phụ cận (Nguyễn Thị Trúc Mai, Hoàng Kim, Hoàng Long và đồng sự 2020). Sử dụng giống sắn KM419 năng suất tinh bột cao và nhiểm trung bình bệnh CMD và bệnh chồi rồng (CWBD) để đưa thêm vào gen mục tiêu (C39) kháng bệnh. Chọn tạo và phát triển 1-2 các giống sắn mới trong phả hệ các giống sắn triển vọng KM568, KM537, KM536, KM535, KM534 là nội dung nghiên cứu quan trọng “Chọn tạo sắn Việt Nam” cấp thiết, có tính khả thi cao, tính mới cao, kế thừa và phát triển bền vững giống sắn ở Việt Nam tốt nhất hiện nay.

Hệ thống nhân giống sắn sạch bệnh các giống sắn năng suất tinh bột cao, kháng được sâu bệnh hại chính (CMD, CWBD) thích hợp với điều kiện sản xuất, cần phân biệt rõ các giống sắn, nắm vững nguồn gốc, đặc tính giống và bản tả kỹ thuật của mỗi giớng. Giống sắn tốt Việt Nam KM419 là giống sắn chủ lực sản xuất có năng suất tinh bột trong nhóm giống sắn đạt cao nhất, là sự thật đứng đầu sản xuất thương mại sắn ở Việt Nam trên mười năm nay (2009-2020), nhiểm nhẹ đến trung bình bệnh chồi rồng (CWBD) và bệnh virus khảm lá sắn (CMD), đã chịu áp lực cao trong vùng bệnh CMD tại tỉnh Tây Ninh từ năm 2017, đã được Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn, Cục Bảo vệ Thực vật số 1068/ BVTV TV ngày 3 tháng 5 năm 2019 xác định khuyến cáo “Sử dụng giống sắn KM419 trong sản xuất”. Hướng bảo tồn phát triển tiến bộ di truyền giống sắn Việt Nam nên tích hợp thêm gen năng suất tinh bột cao, kháng bệnh hại chính (CMD, CWBD),thích hợp với điều kiện sản xuất, tránh nhầm lẫn giống sắn KM419 (có bản tả kỹ thuật chi tiết đã công bố) với giống sắn HLS11 tuy năng suất bột cao nhưng nhiểm nặng bệnh virus khảm lá sắn (CMD) và giống sắn KM94 tuy năng suất khá, nhiễm trung bình bệnh CMD nhưng nhiễm nặng bệnh chồi rồng (CWBD)

Giống sắn KM 94

Tên gốc KU50 (hoặc Kasetsart 50) được nhập nội từ CIAT/Thái Lan trong bộ giống khảo nghiệm Liên Á năm 1990. Giống do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nhập nội, tuyển chọn và giới thiệu (Trần Ngọc Quyền, Hoàng Kim, Võ Văn Tuấn, Kazuo Kawano 1995, Trịnh Phương Loan, Trần Ngọc Ngoạn và ctv. 1995). Giống được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống quốc gia năm 1995 trên toàn quốc tại Quyết định số 97/NN-QLCN/QĐ ngày 25/11/1995. Giống sắn KM94 là giống sắn chủ lực của Việt Nam có diện tích thu hoạch năm 2008 chiếm 75, 54% (Hoang Kim Nguyen Van Bo et al. 2010), năm 2016 chiếm 31,8 % và năm 2019 chiếm khoảng 37% tổng diện tích sắn toàn Việt Nam

Giống KM94 có đặc điểm:

+ Thân xanh xám, ngọn tím, không phân nhánh.
+ Năng suất củ tươi: 33,0 tấn/ha.
+ Tỷ lệ chất khô: 35,1- 39.0%.
+ Hàm lượng tinh bột: 28,7%.
+ Năng suất tinh bột: 7,6-9,5 tấn/ ha
+ Chỉ số thu hoạch: 58 %.
+ Thời gian thu hoạch: 9-11 tháng.
+ Nhiễm trung bình bệnh chồi rồng, bệnh khảm lá sắn CMD và bệnh cháy lá
+ Cây cao, cong ở phần gốc, thích hợp trồng mật độ 10.000-11 000 gốc/ ha .

Giống sắn KM 140

Giống sắn KM140 là con lai của tổ hợp KM 98-1 x KM 36 do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam tuyển chọn và giới thiệu (Trần Công Khanh, Hoàng Kim, Võ Văn Tuấn, Nguyễn Hữu Hỷ, Phạm Văn Biên, Đào Huy Chiên, Reinhardt Howeler và Hernan Ceballos 2007, 2009). Giống KM140 được Bộ Nông nghiệp & PTNT, cho phép sản xuất thử trên toàn quốc (Quyết định số 3468/ QĐ- BNN- TT, ngày 05/ 11/ 2007) và công nhận chính thức tại Quyết định số 358 ngày 20 tháng 09 năm 2010 và cho phép sản xuất hàng hoá trên toàn Quốc theo Thông tư số 65. 65/2010/TT-BNNPTNT, ngày 05 tháng 11 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. 0714-10-10-00.và đoạt giải Nhất Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn quốc VIFOTECH năm 2010. Giống KM140 được trồng nhiều tại các tỉnh phía Nam với diện tích thu hoạch năm 2008 trên 30.000 ha, năm 2010 trồng trên 150.000 ha; hiện là giống phổ biến.

Đặc điểm giống:
+ Thân xanh, thẳng, ngọn xanh, cây cao vừa phải, không phân nhánh.
+ Năng suất củ tươi: 33,4 – 35,0 tấn/ha.
+ Tỷ lệ chất khô: 34,8 – 40,2%.
+ Hàm lượng tinh bột: 26,1- 28,7%.
+ Năng suất bột : 9,5 -10,0 tấn/ha
+ Chỉ số thu hoạch: 58 -65 %.
+ Thời gian thu hoạch: 8-10 tháng.
+ Nhiễm nhẹ bệnh cháy lá.
+ Thời gian giữ bột ngắn hơn KM94

Chọn giống sắn Việt Nam; Giống sắn KM140 giải VIFOTECH http://news.gov.vn/Home/VIFOTEC-2009-boasts-for-high-applicability/20101/6051.vgp

Giống sắn KM 98-5
Nguồn gốc: Giống sắn KM98-5 là con lai của tổ hợp KM 98-1 x Rayong 90 do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam tuyển chọn và giới thiệu (Trần Công Khanh, Hoàng Kim, Võ Văn Tuấn, Nguyễn Hữu Hỷ, Phạm Văn Biên, Đào Huy Chiên, Reinhardt Howeler và Hernan Ceballos 2006, 2009). Giống được UBND tỉnh Tây Ninh và UBND tỉnh Đồng Nai công nhận kết quả đề tài ứng dụng KHKT cấp Tỉnh năm 2006. Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 2009 cho các vùng Đông Nam Bộ, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên tại Quyết định số 358 ngày 20 tháng 09 năm 2010 Giống KM98-5 được trồng tại các tỉnh phía Nam với diện tích thu hoạch năm 2008 trên 25.000 ha, năm 2010 trồng trên 100.000 ha; hiện là giống phổ biến..

Đặc điểm giống:
+ Thân xanh, hơi cong ở gốc, ngọn xanh, ít phân nhánh.
+ Giống sắn KM98-5 có cây cao hơn và dạng lá dài hơn so với KM419
+ Năng suất củ tươi: 34,5 tấn/ha.
+ Tỷ lệ chất khô: 39,2%.
+ Hàm lượng tinh bột: 28,5%.
+ Năng suất bột : 9,8 tấn/ha
+ Chỉ số thu hoạch: 63 %.
+ Thời gian thu hoạch: 8-10 tháng.
+ Thời gian giữ bột tương đương KM94
+ Nhiễm nhẹ bệnh cháy lá.

Giống sắn KM98-1

Nguồn gốc: KM98-1 là con lai Rayong 1x Rayong 5 (= giống sắn KU 72 của Thái Lan hình trên, nhưng việc lựa chọn giống bố mẹ, lai tạo và chọn dòng thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam) do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam tuyển chọn và giới thiệu (Hoàng Kim, Kazuo Kawano, Trần Hồng Uy, Trần Ngọc Quyền, Võ Văn Tuấn, Trần Công Khanh, 1999). Giống KM98-1 được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1999 cho các vùng Đông Nam Bộ, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên. Giống KM98-1 được trồng phổ biến tại các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Nghệ An, Thừa Thiên Huế…. với diện tích thu hoạch năm 2008 trên 18.000 ha, năm 2010 trồng trên 20.000 ha, hiện là giống phổ biến..

Đặc điểm giống:
+ Thân xanh, tai lá rõ, lá xanh, cọng tím
+ Năng suất củ tươi: 32,5 – 40,0 tấn/ha.
+ Tỷ lệ chất khô: 35,8%.
+ Hàm lượng tinh bột: 27,2- 28,3 %.
+ Năng suất bột : 8,9 tấn/ha
+ Chỉ số thu hoạch: 66 %.
+ Thời gian thu hoạch: 8-10 tháng.
+ Nhiễm nhẹ bệnh cháy lá.
+ Bảo quản giống ngắn hơn KM94

Giống sắn SM 937-26

Nguồn gốc: Tên gốc SM937 của CIAT/Clombia được nhập nội bằng hạt từ CIAT/Thái Lan năm 1990. Giống do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam tuyển chọn và giới thiệu (Trần Ngọc Quyền, Hoàng Kim, Võ Văn Tuấn, Kazuo Kawano 1995). Giống SM937-26 được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận tạm thời năm 1995 cho các vùng Đông Nam Bộ, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên tại Quyết định số 98/NN-QLCN/QĐ ngày 25/11/1995.. Giống SM937-26 được trồng nhiều tại các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi với diện tích thu hoạch năm 2008 trên 15.000 ha, năm 2010 trồng trên 20.000 ha, hiện là giống phổ biến.

Đặc điểm giống:
+ Thân nâu đỏ, thẳng, không phân nhánh
+ Năng suất củ tươi: 32,5 tấn/ha.
+ Tỷ lệ chất khô: 37,9%.
+ Hàm lượng tinh bột: 28,9%.
+ Năng suất bột : 9,4 tấn/ha
+ Chỉ số thu hoạch: 61 %.
+ Thời gian thu hoạch: 8-10 tháng.
+ Nhiễm nhẹ bệnh cháy lá.
+ Vỏ củ dày và cứng hơn KM94

Những bài viết liên quan
Chọn giống sắn Việt Nam
Cách mạng sắn Việt Nam
Sắn Việt và Sắn Thái
Lúa sắn Cămpuchia và Lào
Lúa sắn Việt Châu Phi
Năm giống sắn mới tại Phú Yên
Quản lý bền vững sắn châu Á
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Cassava and Vietnam: Now and Then

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là NLU.jpg

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Cassava in Vietnam: Save and Grow, Phu Yen KM419 KM440 KM397 , KM444, KM414
The cassava revolution in Vietnam

CHỌN GIỐNG SẮN VIỆT NAM
Hoàng Kim


Ngành sắn Việt Nam với trên một tỷ đô la kim ngạch xuất khẩu mỗi năm đang gặp thảm họa bệnh virus khảm lá sắn CMD. “Việc hướng dẫn nông dân mua giống sắn KM419 sạch bệnh là giải pháp an toàn, kinh tế nhất so với thực trạng nhiễm bệnh khảm lá sắn hiện nay” Công văn chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn, Cục Bảo vệ Thực vật số 1068/ BVTV TV ngày 3 tháng 5 năm 2019 “V/v sử dụng giống sắn KM419 trong sản xuất” đã xác định. Giải pháp chọn giống sắn Việt Nam tiếp nối hiệu quả là sử dụng giống sắn KM419 năng suất tinh bột cao sạch bệnh tiếp tục lai tạo với các giống sắn kháng bệnh CMD đã có.

Bệnh hại được các địa phương giám sát chặt chẽ quy mô và mức độ hại, loại trừ giống mẫn cảm và giống có năng suất tinh bột thấp nên chiều hướng kiểm soát khắc phục bệnh CMD dần.được tốt lên. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cục Bảo vệ Thực vật có công văn chỉ đạo số 1068/ BVTV TV ngày 3 tháng 5 năm 2019 “V/v sử dụng giống sắn KM419 trong sản xuất” xác định: “Việc hướng dẫn nông dân mua giống sắn KM419 sạch bệnh là giải pháp an toàn, kinh tế nhất so với thực trạng nhiễm bệnh khảm lá sắn hiện nay”- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ban Chỉ đạo phòng chống bệnh khảm lá tại văn bản điều hành “Báo cáo công tác chỉ đạo phòng chống bệnh khảm lá sắn” ngày 29 tháng 7 năm 2019 đã xác định: Giống sắn KM419 chiếm tỷ trọng nhiều nhất (45% ở vụ Đông Xuận và 54,2% ở vụ Hè Thu) đứng thứ hai là giống KM94 (31,1% ở vụ Đông Xuận và 21,6% ở vụ Hè Thu). Đây là hai giống chủ đạo được trồng ở Tây Ninh chiếm 76% ở mỗi vụ. Giống HLS11 (nhiễm bệnh nặng) vẫn được nông dân trồng nhưng tỷ lệ đã giảm nhiều so với năm trước (chỉ còn 15% ở vụ Đông Xuân và 7,3% ở vụ Hè Thu). Đây là tín hiệu chuyển biến tích cực là hiệu quả của công tác chỉ đạo trong thời gian qua. Do cơ cấu giống sắn KM419 và KM94 hai giống có mức độ nhiễm bệnh nhẹ nhất đến thời điểm hiện tại chiếm trên 75% cơ cấu giống được trồng nên mặc dù diện tích nhiễm bệnh vẫn cao nhưng mức độ gây hại của bệnh đã giảm rất nhiều. Nhiều hộ dân sử dụng nguồn giống sạch bệnh để trồng, từng bước loại bỏ giống sắn nhiễm bệnh nặng, cụ thể vụ hè thu năm 2019 giống HLS11 đã giảm 78% diện tích trồng so với cùng kỳ năm trước.

Hệ thống nhân giống sắn sạch bệnh các giống sắn năng suất tinh bột cao, kháng được sâu bệnh hại chính (CMD, CWBD) thích hợp với điều kiện sản xuất, cần phân biệt rõ các giống sắn, nắm vững nguồn gốc, đặc tính giống và bản tả kỹ thuật của mỗi giớng. Giống sắn tốt Việt Nam KM419 là giống sắn chủ lực sản xuất có năng suất tinh bột trong nhóm giống sắn đạt cao nhất, là sự thật đứng đầu sản xuất thương mại sắn ở Việt Nam trên mười năm nay (2009-2020), nhiểm nhẹ đến trung bình bệnh chồi rồng (CWBD) và bệnh virus khảm lá sắn (CMD), đã chịu áp lực cao trong vùng bệnh CMD tại tỉnh Tây Ninh từ năm 2017, đã được Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn, Cục Bảo vệ Thực vật số 1068/ BVTV TV ngày 3 tháng 5 năm 2019 xác định khuyến cáo “Sử dụng giống sắn KM419 trong sản xuất”. Hướng bảo tồn phát triển tiến bộ di truyền giống sắn Việt Nam nên tích hợp thêm gen năng suất tinh bột cao, kháng bệnh hại chính (CMD, CWBD),thích hợp với điều kiện sản xuất, tránh nhầm lẫn giống sắn KM419 (có bản tả kỹ thuật chi tiết đã công bố) với giống sắn HLS11 tuy năng suất bột cao nhưng nhiểm nặng bệnh virus khảm lá sắn (CMD) và giống sắn KM94 tuy năng suất khá, nhiễm trung bình bệnh CMD nhưng nhiễm nặng bệnh chồi rồng (CWBD)

Đúc kết nguyên nhân làm dịch bệnh nghiêm trọng và giải pháp khắc phục hiệu quả

Tại Tây Ninh thủ phủ sắn Việt Nam bệnh sắn CMD được công bố dịch hại ngày 21/7/2017. Cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật Việt Nam đã ban hành lần đầu văn bản số 1605/BVTV-TV Quy trình kỹ thuật phòng trừ bệnh khảm lá sắn (Cassava Mosaic Disease – CMD) xác định đối tượng dịch hại mới và lần đầu tiên xuất hiện gây hại tại Việt Nam. Ngày 28/7/2017, UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành quyết định công bố dịch khảm lá cây sắn. Diện tích dịch bệnh khảm lá sắn toàn tỉnh Tây Ninh loang nhanh sáu tháng cuối năm 2017 đến sáu tháng đầu năm 2018 là 31.216 ha chiếm 91,1% tổng diện tích sắn trồng, và lan rộng trên 15 tỉnh.

1. Nguyên nhân làm dịch bệnh nghiêm trọng

1.1 Người dân thiếu triệt để sử dụng hom giống sắn sạch bệnh CMD trên quy mô lớn của các giống sắn KM419, KM94, KM440, KM397, KM505 ít mẫn cảm với bệnh CMD và Bọ phấn trắng (Whitefly), mức nhiễm bệnh quá rộng, dân tiếc tiền và công sức, ngại tiêu hủy và ngại tự đầu tư thay giống tốt sạch bệnh

1.2. Người dân và các cấp hữu quan chưa tiêu hủy triệt để đối với nguồn giống sắn nhiễm bệnh; chưa kiểm dịch thực vật nghiêm ngặt và giám sát chặt chẽ sự vận chuyển trồng mới cây giống sắn nhiễm bệnh từ vùng này sang vùng khác nên bệnh CMD đã không thể khoang vùng và ngăn chặn kịp thời;

1.3 Người dân và các cấp hữu quan chưa dập dịch được Bọ phấn trắng (Whitefly) là môi giới truyền bệnh làm lây lan bệnh khảm lá CMD,

1.4 Hệ thống liên kết hổ trợ kịp thời các nghiên cứu sâu bệnh CMD ở Việt Nam và Đông Nam Á sử dụng các giống kháng CMD trên nền di truyền của giống sắn năng suất tinh bột cao, phổ thích nghi rộng nhất Việt Nam là sắn KM419 và KM94, thanh lọc giống sạch bệnh và lai tạo với giống kháng CMD có năng suất bột đủ tốt hiện có, do thiếu nguồn đầu tư kịp thời nên sự chọn tạo, khảo nghiệm, xây dựng mô hình trình diễn, nhân nhanh giống sắn kháng bệnh chưa theo kịp với yêu cầu.

2. Giải pháp khắc phục bệnh hại sắn CMD

2.1 Sự chỉ đạo cấp bách, kịp thời và hiệu quả

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã có công điện khẩn số 5920/ CĐ-BNN-BVTV ngày 19/7/2017 về việc thực hiện cấp bách việc tiêu hủy nguồn bệnh khảm lá sắn (mì) ở tỉnh Tây Ninh và những nơi phát hiện dịch bệnh. Sau đó Bộ đã có ngay Quy trình kỹ thuật phòng trừ bệnh khảm lá sắn (Cassava Mosaic Disease – CMD) với văn bản số 1605 BVTV -TV 1605/ BVTV-TV ngày 21/7/ 2017 và tiếp đó là chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn, công văn số 4142 BNN PTNT ngày 31/5/2018, công văn số 1465 Cục Bảo vệ Thực vật ngày 6/6/ 2018 hướng dẫn chi tiết giải pháp ứng phó dịch hại và cách phòng trừ. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cục Bảo vệ Thực vật có công văn chỉ đạo số 1068/ BVTV TV ngày 3 tháng 5 năm 2019 xác định “Việc hướng dẫn nông dân mua giống sắn KM419 sạch bệnh là giải pháp an toàn, kinh tế nhất so với thực trạng nhiễm bệnh khảm lá sắn hiện nay” – .

2.2 Xác định rõ kế hoạch hành động ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

Kết luận tại Hội thảo Quốc tế công bố bởi tiến sĩ Claude M. Fauquest Giám đốc Quan hệ đối tác Sắn toàn cầu Thế kỷ 21 (Director of the Global Cassava Partnership for the 21st Century – GCP21)

Hội nghị sắn quốc tế lần thứ IV, Benin, ngày 11-15 tháng 6 năm 2018 đã tổ chức một phiên họp đặc biệt để báo cáo tình trạng dịch bệnh virus khảm lá sắn gần đây (CMD) ở Đông Nam Á. Mục tiêu của bốn báo cáo này là làm cho cộng đồng sắn quốc tế nhận thức được vấn đề nghiêm trọng và phát triển các đề xuất thực tế cho một kế hoạch hành động nhanh chóng với tất cả các bên liên quan trong khu vực để kiểm soát dịch bệnh CMD ở vùng Đông Nam Á của Thế giới.

Bốn bản báo cáo trình bày tại hội nghị quốc tế gồm: 1) Báo cáo về sự bùng nổ dịch bệnh CMD của Giáo sư Lê Huy Hàm từ AGI, Việt Nam; 2) Báo cáo kinh tế của Tiến sĩ Jonathan Newby từ CIAT – Việt Nam; 3) Báo cáo giám sát của nhà virus học Wilmer Cuellar từ CIAT-Colombia; 4) Báo cáo về các chiến lược được phát triển với các bên liên quan trong khu vực Đông Nam Á của Tiến sĩ C.M. Fauquet, Giám đốc GCP21.

Mục đích của phiên họp này là chứng minh tầm quan trọng của sắn ở khu vực này trên thế giới, sản xuất 55 triệu tấn sắn mỗi năm, cho thấy mức độ lây lan của bệnh CMD và thông báo cho cộng đồng về những nỗ lực phát triển cho đến nay một kế hoạch hành động khu vực. Khảo sát thực địa mở rộng và sự tương tác của các bên liên quan trong khu vực được thực hiện bởi CIAT và các đối tác quốc gia cho thấy CMD chính thức có mặt tại 6 tỉnh của Campuchia và 2 tỉnh miền Nam Việt Nam. Lây lan hiện nay của bệnh được ước tính là ít hơn 10% tổng diện tích trồng sắn. Dựa trên kiến ​​thức hiện tại về dịch bệnh CMD, các chuyên gia đều đồng ý rằng khu vực này đang ở giai đoạn sớm của dịch bệnh khi vẫn có thể hạn chế tác động của căn bệnh này. Các chuyên gia cũng đồng ý rằng CMD chủ yếu lây lan bằng cách vận chuyển nguyên liệu trồng sắn nhiễm bệnh được sử dụng để trồng các cánh đồng mới. Các vectơ bọ phấn trắng (whitefly) tự nhiên của bệnh có mặt trên sắn trong vùng và đóng vai trò môi giới truyền bệnh trong các lĩnh vực nhưng chúng đóng một vai trò nhỏ cho đến nay trong sự lây lan của bệnh sang các lĩnh vực mới. Quan trọng nhất, các chuyên gia chỉ ra rằng việc vận chuyển và xuất khẩu tinh bột, sắn lát, bột sắn hoặc củ sắn tươi không đe dọa nhập khẩu bệnh thông qua bất kỳ sản phẩm nào làm giảm lo ngại về thương mại trong nước và xuất khẩu. Các nước trong khu vực được khuyến khích chủ động truyền đạt tình trạng của bệnh và tham gia cùng nhau để gắn kết một hành động phối hợp chống lại mối đe dọa virus mới khảm lá sắn trong khu vực.

Kinh nghiệm kiểm soát dịch bệnh virus khảm lá sắn CMD ở châu Phi và châu Á đã chỉ ra rằng nguồn rủi ro lớn nhất để lây lan bệnh này từ sang vùng khác là do sự trao đổi của hom giống sắn từ cây bị nhiễm bệnh. Các cây sắn bị nhiễm bệnh có thể được vận chuyển hàng trăm cây số trong một ngày. Các vectơ bọ phấn trắng ((whitefly) cũng có thể góp phần lan truyền bệnh lên đến 100 km mỗi năm. Biện pháp kiểm dịch nghiêm ngặt trong nước là đặc biệt quan trọng để giám sát vùng bệnh hại và hạn chế sự di chuyển của hom giống bị nhiễm bệnh lan truyền từ nơi này sang nơi khác. Cần chú ý xác định các khu vực không có bệnh để giữ cho chúng không bị bệnh. Việc thương mại hóa ngành công nghiệp sắn ở Đông Nam Á tạo cơ hội cho việc cải thiện dòng chảy thông tin để ngăn chặn sự di chuyển của các vật liệu trồng giống sắn bị nhiễm bệnh.

Kế hoạch hành động theo vùng có thể bao gồm các bước sau:

Hành động ngắn hạn

+ Tích hợp dữ liệu giám sát liên tục được thu thập bởi các nhóm nghiên cứu khác nhau làm việc trong khu vực để xác định các khu vực bị ảnh hưởng và bị đe dọa ngay lập tức
+ Lập bản đồ phân bố giống ở các khu vực có tỷ lệ mắc CMD cao bằng cách sử dụng các marker phân tử.
+ Phổ biến thông tin cho các dịch vụ khuyến nông và nông dân để nâng cao nhận thức và quản lý bệnh.
+ Nhân nhanh và phân phối hom giống không có virus (hoặc những giống sắn năng suất bột cao ít bị nhiễm virus khảm lá CMD) cho nông dân ở các vùng bị ảnh hưởng.
+ Tiêu chuẩn hóa các giao thức chẩn đoán và giám sát được sử dụng bởi các nhóm nghiên cứu khác nhau làm việc trong khu vực

Hành động trung hạn

+ Nhập khẩu, thử nghiệm và nhân của vật liệu giống sắn kháng CMD hiện tại ở một số địa điểm trong khu vực.
+ Giới thiệu cách ly các quần thể này được phát triển bằng cách nhập nội nguồn gen giống sắn kháng CMD từ các giống sắn châu Phi, châu Mỹ Latinh và Đông Nam Á .

Hành động dài hạn

+ Sự tích hợp của các gen kháng virus vào giống sắn KU50 (đối với Việt Nam sử dụng hai giống để tích hợp gen kháng virus là KM419 và KM94 có quy mô trồng 42% và 37% diện tích sắn Việt Nam hiện nay) dựa trên lợi ích từ tất cả những đặc tính tốt mà giống được trồng rộng rãi này trong khu vực có thể cung cấp.

+ Cộng đồng sắn quốc tế có mặt tại hội nghị bày tỏ sự sẵn sàng mạnh mẽ của họ để cộng tác với bất kỳ kế hoạch khu vực nào nhằm quản lý sự lây lan của CMD. Đặc biệt, các đồng nghiệp sắn từ lục địa châu Phi có thể cung cấp kiến ​​thức tích lũy rộng rãi về CMD, sự lan truyền và kiểm soát chúng, bao gồm các công cụ chẩn đoán và các giống kháng CMD có năng suất cao.

+ GCP21 đã tập hợp một loạt các bên liên quan trong khu vực Đông Nam Á và đang lập kế hoạch một hội thảo khu vực để xây dựng kế hoạch hành động chi tiết phối hợp với các bên liên quan trong khu vực để nhanh chóng thực hiện các biện pháp can thiệp khẩn cấp ngăn chặn dịch bệnh CMD gây ảnh hưởng tiêu cực đến công nghiệp sắn vùng này.

SanPhuYen1

2.3. Các điểm sáng bảo tồn phát triển sắn bền vững đã được đúc kết

Sắn Việt Nam bảo tồn phát triển bền vững đã đạt những kết quả ngoạn mục trong các thử nghiệm được tổ chức tại Tây Ninh, Phú Yên, Đắk Lắk, Đồng Nai, nơi mà nông dân sử dụng các công nghệ và phương pháp cải tiến tăng năng suất sắn từ 8,5 tấn / ha lên 36 tấn / ha, một sự gia tăng hơn 400 phần trăm (Hoàng Kim, Reinhardt Howeler, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai 2015).

Tại Phú Yên, bốn giống sắn mới KM419, KM440, KM444, KM397 năng suất cao, triển vọng, được bà con nông dân ưa chuộng. Số liệu thu hoạch thực tế tại khảo nghiệm sản xuất ở xã Xuân Sơn Nam, huyện Đồng Xuân ngày 11 tháng 9 năm 2015, bốn giống này đều đạt năng suất sắn củ tươi 30,0-36,0 tấn/ ha vượt 25-50% so với giống sắn KM94. Giống sắn KM419 đã đạt năng suất củ tươi 36 tấn/ ha, trên mô hình 4 ha trình diễn so với năng suất sắn KM94 bình quân tại địa phương đạt 22 tấn/ ha. Giống sắn KM419 ở hộ ông Hồ Văn Sang đạt năng suất 58 tấn/ ha.

Mười biện pháp kỹ thuật thâm canh rãi vụ sắn thích hợp bền vững tại tỉnh Phú Yên, được thảo luận đúc kết, bao gồm:

1) Sử dụng hom giống sắn tốt nhất của giống sắn thích hợp nhất;

2) Thời gian trồng tốt nhất và thời điểm thu hoạch tối ưu cho năng suất tối đa và kinh tế;

3) Bón phân NPK kết hợp phân HCVS và PC để cải thiện độ phì đất và tăng năng suất;

4) Khoảng cách trồng tối ưu cho giống sắn tốt nhất và thích hợp loại đất;

5) Ngăn chặn sâu bệnh hại bằng IPM;

6) Trồng xen sắn với lạc, cây họ đậu; trồng băng cây đậu phủ đất, luân canh;

7) Dùng thuốc diệt cỏ, tấm phủ đất để kiểm soát cỏ dại kết hợp bón thúc sớm và chuyển vụ;

8) Kỹ thuật làm đất trồng sắn thích hợp để kiểm soát xói mòn đất;

9) Phát triển hệ thống quản lý nước cho canh tác sắn;

10) Đào tạo huấn luyện bảo tồn phát triển sắn bền vững, sản xuất kết hợp sử dụng sắn.

2.4. Chọn giống sắn Việt Nam thành tựu và bài học tiếp nối

Chọn giống sắn ở Việt Nam: hiện trạng và quan điểm tương lai. Hành động dài hạn. Tích hợp gen kháng virut khảm lá sắn CMD vào tế bào mầm KU50 và KM419 để hưởng lợi từ tất cả các đặc điểm tốt mà hai giống sắn này đã được trồng rộng rãi trong khu vực có thể mang lại. Đối với Việt Nam và Campuchia, hai giống sắn KM419 và KM94 với 42% và 37% diện tích sắn Việt Nam hiện nay, với khoảng 50% và 40% diện tích sắn hiện tại của Campuchia, cần được sử dụng để tích hợp các gen kháng vi-rút: xem thêm https://hoangkimlong.wordpress.com/carget/cach-mang-san-viet-nam/

Cassava breeding in Vietnam: current status and future perspective. Long-term action. Introgression of virus resistance genes into KU50-based germplasm to benefit from the all the good traits that this widely cultivated variety in the region can offer. For Vietnam and Cambodia, two varieties are used to integrate antiviral genes: KM419 and KM94 with 42% and 37% of the area of Vietnamese cassava today, with about 50% and 40% of the current cassava area of Cambodia

Câu chuyện Sắn và Việt Nam: bây giờ và sau đó Cassava and Vietnam: Now and Then của giáo sư tiến sĩ Kazuo Kawano, người Nhật, chuyên gia chọn giống sắn hàng đầu Thế giới. Cách mạng sắn Việt Nam là chuyện nhiều năm còn kể. Bạn tốt khó tìm, khó bỏ lại, và không thể quên lãng (Good friends are hard to find, harder to leave, and impossible to forget). https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cach-mang-san-viet-nam/. Sự tiếp nối là sách sắn “Quản lý bền vững sắn châu Á từ nghiên cứu đến thực hành” Howeler R.H. and T. M. Aye 2015 (Nguyên tác: Sustainable Management of Cassava in Asia – From Research to Practice, CIAT, Cali, Colombia, 147 p. Người dịch: Hoàng Kim, Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai 2015; Quản lý bền vững sắn châu Á : Từ nghiên cứu đến thực hành. Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Nhà Xuất bản Thông tấn, Hà Nội, Việt Nam, 148 trang, là những kinh nghiệm quý Sắn Việt Nam một câu chuyện thành công (Cassava in Vietnam : asuccessful stoty). “Thay cho những lời khuyên tốt nhất hiện có về kỹ thuật canh tác sắn sau hơn 50 năm kinh nghiệm thực tiễn kết hợp nghiên cứu và làm việc với nông dân để thấu hiểu những thách thức thực tế cuộc sống và cơ hội mà họ phải đối mặt” (The work summarized in this manual represents the best available advice from more than 50 years of combined research experience and work with farmers to understand their real-life challenges and opportunities. – Clair Hershey, CIAT Cassava program).

“Bệnh virus khảm lá sắn CMD và cách phòng trừ” tài liệu đồng ruộng và ý kiến tư vấn
tại đây*

Tài liệu dẫn:

SẮN VIỆT NAM BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

CASSAVA CONSERVATION AND SUSTAINABLE DEVELOPMENT IN VIETNAM, Trong sách: Sản xuất sắn bền vững ở châu Á đối với nhiều mục đích sử dụng và cho nhiều thị trường. Reihardt Howeler (biên tập) và nhiều tác giả CIAT 2015. Sách Vàng nghề sắn Thông tin dưới đây là lời cám ơn và một số thư mục tài liệu sắn đã xuất bản

ACKNOWLEDGEMENT

The authors sincerely acknowledge the contributions of many colleagues who participated and contributed to the Vietnam National Cassava Program (VNCP), as shown in the references below.

REFERENCES

Bui Ba Bong. 2012. 45th Anniversary of CIAT: Welcome from Vietnam. Hanoi, Sept 10, 2012. http://foodcrops.blogspot.com/2012/09/45th-anniversary-of-founding-of-ciat.html)

Buresova, M., Hoang Kim and Tran Ngoc Quyen. 1987. The economics of winged bean on manioc as natural support under the conditions of South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No 20: 101-114. In: CIAT 1990. National Biographies of Cassava in East and Southeast Asia, p. 416.

Food and Agriculture Organization (FAO). 2013. Cassava’s huge potential as 21st century crop.FAO Press Release, June 4, 2013. http://www.thedominican.net/2013/06/cassava-hugepotential-crop.htmlFood and Agriculture Organization (FAO). 2014.

FAOSTAT. http://faostat.fao.org/Food and Agriculture Organization (FAO). 2015. FAOSTAT. http://faostat3.fao.org/

Hoang Kim. 2003. Technology of Cassava Breeding. In: N.T. Dan and L.H. Quoc. (Eds.). Varietal Technology of Plant, Animal and Forestry. Volume 2. pp. 95-108.

Hoang Kim, Tran Ngoc Quyen, and Nguyen Thi Thuy. 1990. Breeding sweet potatoes and cassava to appropriate agro-ecological regions of the South. Ministry of Agriculture and Food Industry.Monthly Scientific J. of Technical and Economic Management No. 9. 1990. pp 538-544.

Hoang Kim, K. Kawano, Tran Hong Uy, Tran Ngoc Quyen, Vo Van Tuan and Tran Cong Khanh.1999. Result of selection KM98-1 cassava variety. Recognition document report of KM98-1 variety. Scientific Conference of Agriculture and Rural Development, held in Da Lat. July 29-31, 1999. 29 p.

Hoang Kim, K. Kawano, Pham Van Bien, Tran Ngoc Ngoan, Tran Ngoc Quyen and Trinh Phuong Loan. 2001. Cassava breeding and varietal dissemination in Vietnam from 1975 to 2000. In: R.H. Howeler and S.L. Tan (Eds.). Cassava’s Potential in the 21st Century: Present Situation and Future Research and Development Needs. Proc. 6th Regional Workshop, held in Ho Chi Minh city, Vietnam. Feb. 21-25, 2000. pp. 147-160. http://danforthcenter.org/iltab/cassavanet

Hoang Kim, Pham Van Bien and R. Howeler 2003. Status of cassava in Vietnam: Implications for future research and development. In: A review of cassava in Asia with country case studies on Thailand and Viet Nam. FAO-IFAD-CIAT-CIRAD-IITA-NRI. Proc. Validation Forum on theGlobal Cassava Development Strategy, held in FAO, Rome, Italy. April 26-28, 2000. Vol/3.Rome, Italy. pp. 103-184 http://www.globalcassavastrategy.net

Hoang Kim, Tran Ngoc Quyen, Nguyen Thi Thuy, Vo Van Tuan, Tran Cong Khanh, Nguyen Thi Sam, Truong Van Ho, Nguyen Thanh Binh, Nguyen Dang Mai, Luong Thi Quyet, Hoang Thi Hien, K. Kawano, R. Howeler, P. Vanderzaag, E. Chujoy, Il Gin Mok, Zhang Dapheng and YehFang Ten. 2006a. Final Report, Breeding of Cassava and Sweet Potatoes Suitable for Agroecological Regions of South Vietnam (1981-2006). Institute of Agricultural Sciences for Southern Vietnam, Proc. 90th Establishment Anniversary (1925-2015).

Hoang Kim, Pham Van Bien, R. Howeler, H. Ceballos, Joel J. Wang, Tran Ngoc Ngoan, Tran Cong Khanh, Nguyen Huu Hy, Nguyen Thi Thuy, Tran Ngoc Quyen, Vo Van Tuan, Trinh Phuong Loan, Nguyen Trong Hien, Nguyen Thi Sam, Tran Thi Dung, Tran Van Minh, Dao Huy Chien,Nguyen Thi Cach, Nguyen Thi Bong, Nguyen Viet Hung, Le Van Luan, Ngo Vi Nghia, Tran Quang Phuoc and Nguyen Xuan Thuong. 2006b. Cassava Development Project Summary (2001-2005). In: Institute of Agricultural Sciences for Southern Vietnam, Proc. 90th Establishment Anniversary (1925-2015).

Hoang Kim, Nguyen Van Bo, Hoang Long, Nguyen Trong Hien, H. Ceballos and R. Howeler. 2010.Current situation of cassava in Vietnam. In: R.H. Howeler (Ed.). A New Future for Cassava in Asia: Its Use as Food, Feed and Fuel to Benefit the Poor. Proc. 8th Regional Workshop, held in Vientiane, Lao PDR. Oct 20-24, 2008. pp. 100-112.

Hoang Kim, Nguyen Thi Truc Mai, Nguyen Bach Mai, Hoang Long, Tran Ngoc Ngoan, Le Huy Ham, R. Howeler and M. Ishitani. 2014a. Cassava in Vietnam: Save and Grow. Recent progress of sustainable cultivation techniques for cassava in Vietnam. In: Intern. Symp. “CollaborationBetween Japan and Vietnam for the Sustainable Future – Plant Science, Agriculture and Biorefinery”, held in Hanoi, Vietnam. Dec 8, 2014.

Hoang Kim, Tran Ngoc Ngoan, Nguyen Thi Truc Mai, Vo Van Quang, Nguyen Bach Mai, Nguyen Thi Le Dung, Nguyen Phuong, Hoang Long, Nguyen Minh Cuong, Dao Trong Tuan, Tran Cong Khanh, Nguyen Minh Hieu, Nguyen Van Bo, Nguyen Thi Cach, Nguyen Trong Hien, Le Huy Ham, H. Ceballos and M. Ishitani. (2014, 2016). New variety KM419. Recogition Report of KM419 variety, the Ministry of Agriculture and Rural Development, National Council of Plant Varieties, Hanoi. 89p. MARD recognition for trial production in Decision No. 85/QD- 85/ QĐ-BNN-TT Jan 13, 2016.

Hoang Long, Nguyen Thi Truc Mai, Nguyen Bach Mai, Hoang Kim, M. Ishitani and R. Howeler. 2014. Cassava in Vietnam: production and research; an overview. Paper presented at Asia Cassava Research Workshop, hosted by ILCMB- CIAT-VAAS/ AGI, in Hanoi, Vietnam. Nov3, 2014. 15 p.

Howeler, R.H. 2004. Integrated Cassava-based Cropping Systems in Asia: Farming Practices to Enhance Sustainability. End of Project Report − Second Phase of the Nippon Foundation Cassava Project in Asia 1999-2003. CIAT, Cali, Colombia. 120 p.

Howeler, R.H. 2008. Background and general methodology used in the Nippon Foundation Project. In: R.H. Howeler (Ed.). Integrated Cassava-based Cropping Systems in Asia − Working with Farmers to Enhance Adoption of More Sustainable Production Practices. Proc. Workshop on the Nippon Foundation Cassava Project in Thailand, Vietnam and China, held in Thai Nguyen,Vietnam. Oct 27-31, 2003. pp. 5-32.

Howeler, R.H. 2010. Cassava in Asia: A potential new green revolution in the making. In: R.H. Howeler (Ed.). A New Future for Cassava in Asia: Its Use as Food, Feed and Fuel to Benefit the Poor. Proc. Eighth Regional Workshop, held in Vientiane, Lao PDR. Oct 20-24, 2008. pp. 34-64.

Howeler, R.H. 2014. Sustainable Soil and Crop Management of Cassava in Asia – A Reference Manual. CIAT, Cali, Colombia. 280 p.Howeler, R.H. and T.M. Aye. 2014. Sustainable Management of Cassava in Asia − From Research to Practice. CIAT, Cali, Colombia. 147 p.

Howeler, R.H. and T.M. Aye. 2015. Người dịch: Hoàng Kim, Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai 2015. Quản lý bền vững sắn châu Á: Từ nghiên cứu đến thực hành, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Nhà Xuất bản Thông tấn, Hà Nội, Việt Nam. 148 p.

Jin Shu Ren. 2014. Future prospect for tapioca production and trade in East Asia, retired Vice Chairman of Starch Industrial Association of China (SIAC).

Nguyen Bach Mai, Nguyen Minh Anh and Hoang Kim. 2014. Selecting high yield cassava varieties and transferring suitable techniques of intensive cultivation to farmers in Dak Lak (Abstract). J Agriculture and Rural Development. pp. 108-112.

Nguyen Huu Hy. 2015. Achievements of research and development of cassava and sweet potatoes in the period of 1975-2015 . Institute of Agricultural Sciences for Southern Vietnam. Proc. 90th anniversary of establishment (1925-2015).

Nguyen Huu Hy, R. Howeler, Nguyen Thi Sam and Tong Quoc An. 1995. Results of research on cassava technical cultivation in the Southeast. In: N.H.Nghia (Ed.). Results of Root Crops (1991-1995). Hanoi Publisher. pp. 39-43.

Nguyen Huu Hy, Pham Van Bien, Nguyen The Dang and Thai Phien. 1996. Recent progress in cassava agronomy research in Vietnam. In: R. H. Howeler (Ed.). Cassava Breeding, Agronomy and Farmer Participatory Research in Asia. Proc. Fifth Regional Workshop, held at CATAS,China. Nov 3-8, 1996. pp. 235-256.

Nguyen Huu Hy, Hoang Kim, R. Howeler, Tran Cong Khanh, Vo Van Tuan and Tong Quoc An. 2000. Developing new varieties of high yield and high starch content, and methods ofsustainable cassava cultivation in gray soil of An Vien commune, Thong Nhat District, Dong Nai Province. In: The Publisher 10th Information of Cassava in Vietnam. Ho Chi Minh City,Vietnam. March 13-14, 2001. pp. 122-133.

Nguyen Huu Hy, Nguyen The Dang, Pham Van Bien, Tran Thi Dung, Nguyen Thi Cach and Thai Phien. 2007a. Cassava agronomy research in Vietnam. In: R.H. Howeler (Ed.) Cassava Research and Development in Asia: Exploring New Opportunities for an Ancient Crop. Proc Seventh Regional Workshop, held in Bangkok, Thailand. Oct 28-Nov 1, 2002. pp. 204-211.

Nguyen Huu Hy, Nguyen Thi Cach and Tong Quoc An. 2007b. Cassava leaf production research in Vietnam. In: R.H. Howeler (Ed.). Cassava Research and Development in Asia: Exploring New Opportunities for an Ancient Crop. Proc. Seventh Regional Workshop, held in Bangkok,Thailand. Oct 28-Nov 1, 2002. pp. 494-495.

Nguyen Minh Cuong. 2014. Selection of varieties and determination of the amount of potassium, and its appropriate application for KM419 cultivation in Tay Ninh. MSc thesis, Nong Lam University. Ho Chi Minh City, Vietnam. 147 p.

Nguyen Thanh Phuong. 2011. Studies on intercropping food legumes with cassava on sandy areas in Binh Dinh province. J. Science and Technology of Vietnam Agriculture ISSN 1859-1558 (25) 2011. pp. 97-102.

Nguyen The Dang. 2007. Farmer participatory research on soil erosion control and fertilizer use for cassava in Vietnam 1999-2002. In: R.H. Howeler (Ed.). Cassava Research and Development in Asia: Exploring New Opportunities for an Ancient Crop. Proc. Seventh Regional Workshop, held in Bangkok, Thailand. Oct 28-Nov 1, 2002. pp. 352-362.

Nguyen The Dang and Dinh Ngoc Lan. 1998. Farmer Participatory Research on cassava in Vietnam: Results and expected developments. In: Hoang Kim and Nguyen Dang Mai (Eds.). Results of Vietnam Cassava Research and Extension. Vietnam Cassava Worshop, held inInstitute of Agricultural Sciences for Southern Vietnam, held in Ho Chi Minh City, Vietnam. March 2-4, 1998. pp. 106-116.

Nguyen Thi Cach, Nguyen Thi Hoa Ly, R. Howeler, Tran Ngoc Ngoan, Tran Van Minh, Hoang Trong Khang, Dao Thi Phuong, Le Van An, Vu Thi Lua, Pham Van Bien, Le Van Phuoc and Hoang Kim. 2007. Farmer participatory variety trials conducted in Vietnam. In: R.H. Howeler(Ed.). Cassava Research and Development in Asia: Exploring New Opportunities for an Ancient Crop. Proc. Seventh Regional Workshop, held in Bangkok, Thailand. Oct 28-Nov 1, 2002. pp. 363-376.

Nguyen Thi Truc Mai, Nguyen Minh Hieu and Hoang Kim. 2014. Research on cassava cultivation techniques to improve cassava root yields in Dong Xuan District, Phu Yen Province (Abstract). J. Agriculture & Rural Development, No 3 and 4/2014. pp. 76-84.

Nguyen Thi Truc Mai, Nguyen Minh Hieu, Hoang Kim and Nguyen Trong Tung. 2015. Results of research on methods of cassava cultivation in Phu Yen Province. J. Agriculture and Rural Development. pp. 22-29.

Nguyen Thi Thien Phuong, 2012. Selection of peanut varieties for monoculture and intercropping with cassava in Dong Nai Province. Master thesis. Nong Lam University. Ho Chi Minh City, 147 pages.

Nguyen Trong Hien, Trinh Van Mỵ, Nie Xuan Hong, Vu Thi Vui, Nguyen Thien Luong and Tran Van Manh. 2012a. Results of selection and development of cassava variety Sa21-12. MARD recognition for trial production in Decision No. 168/QD-TT-CLT. May 14, 2012.

Nguyen Trong Hien, Trinh Van Mỵ, Nie Xuan Hong, Vu Thi Vui, Nguyen Thien Luong and Tran Van Manh. 2012b. Results of selection and development of cassava variety Sa06. MARD recognition for trial production in Decision No. 169/QD-TT-CLT. May 14, 2012 .

Nguyen Van Bo, Hoang Kim, Le Quoc Doanh, Tran Ngoc Ngoan, Bui Chi Buu, R. Lefroy, Le Huy Ham, Mai Thanh Phung and Tran Vien Thong. 2013. Vietnam cassava achievements and lessons learnt. In: The 11th Extension Forum @ Agriculture, 2013. Subject: “Solutions forsustainable development of cassava”, held by Center for National Agricultural Extension in coordination with the Department of Agriculture and Rural Development, held in Tay Ninh province, Aug 26, 2013. http://foodcrops.blogspot.com/2013/09/vietnam-cassava-achievementand-learnt.html)

Pham Van Bien and Hoang Kim. 1992. Cassava production and research in Vietnam. Historical review and future direction. In: R.H. Howeler (Ed.). Cassava Breeding, Agronomy and Utilization Research in Asia. Proc. Third Regional Workshop, held in Malang, Indonesia. Oct. 22-27, 1900. pp. 106-123.

Pham Van Bien, Hoang Kim and R. Howeler. 1996. Cassava cultural practices in Vietnam. In: R.H. Howeler (Ed.). Benchmark Study on Cassava Production, Processing and Marketing in Vietnam. Proc. of a Workshop, held in Hanoi, Vietnam. Oct. 29-Nov.1, 1992. pp. 58-97.

Pham Van Bien and Hoang Kim. 1998. Vietnam cassava. In: Cassava in the Asian region: current situation and prospects. (Cassava Vietnam in Asia Regional Cassava : Current situation and prospects. In: Hoang Kim and Nguyen Van Mai (Eds.). Results of Research and Extension forCassava in Vietnam. Vietnam Cassava Workshop, held at the Institute of Agricultural Sciences for Southern Vietnam, held in Ho Chi Minh City, Vietnam. March 2-4, 1998. pp. 9-13.

Pham Van Bien, Hoang Kim, Tran Ngoc Ngoan, R. Howeler and Joel J. Wang. 2007. New developments in the cassava sector of Vietnam. In: R.H. Howeler (Ed.). Cassava Research and Development in Asia. Exploring New Opportunities for an Ancient Crop. Proc. SeventhRegional Workshop, held in Bangkok, Thailand. Oct 28-Nov 1, 2002. pp. 25-32. http://www.ciat.cgiar.org/asia_cassava

Tran Cong Khanh, Hoang Kim, Vo VanTuan, Nguyen Huu Hy, Pham Van Bien, Dao Huy Chien, R. Howeler and H. Ceballos. 2007. Results of breeding and developing variety KM140 .Recognition Document of variety KM140. Acceptance Conference of Ministry of Agricultureand Rural Development. 45 pages . The decision of the Ministry of Agriculture and Rural Development Certificate No. 3468/QD-BNN–TT, Nov 5, 2007. J. Agriculture and Forestry Engineering, Nong Lam University of Ho Chi Minh City, No. 1 & 2/2007. pp. 14-19. “Theresults of breeding and developing variety KM140”. Report for official recognition by the Scientific Council of Agriculture and Rural Development, Ho Chi Minh City. Dec 2009. 54 p.

Tran Cong Khanh, Hoang Kim, Vo Van Tuan, Nguyen Huu Hy, Pham Van Bien, Dao Huy Chien, R. Howeler and H. Ceballos. 2009. Results of breeding and developing variety KM98-5. Report for official recognition by the Scientific Council of Agriculture and Rural Development, Ho ChiMinh City. Dec 2009. 40 p.

Tran Ngoc Ngoan. 2008. Evolution of FPR methodologies used and results obtained in Vietnam. In: R.H. Howeler (Ed.). Integrated Cassava-based Cropping Systems in Asia − Working with Farmers to Enhance Adoption of More Sustainable Production Practices. Proc. of the Workshop on the Nippon Foundation Cassava Project in Thailand, Vietnam and China, held in Thai Nguyen, Vietnam. Oct 27-31, 2003.pp. 92-104.

Tran Ngoc Ngoan, and R.H. Howeler. 2007. The adoption of new technologies and the socioeconomic impact of the Nippon Foundation cassava project in Vietnam. In: R.H. Howeler (Ed.). Cassava Research and Development in Asia: Exploring New Opportunities for an AncientCrop. Proc. Seventh Regional Workshop, held in Bangkok, Thailand. Oct 28-Nov 1, 2002. pp.387-399.

Tran Ngoc Ngoan, Nguyen Trong Hien, Nguyen Thi Cach and Hoang Kim. 2014. Results of regional cassava varietal yield trials at four locations in 2011-2013 (Summary). J. Agriculture and Rural Development. June, 2014.

Tran Ngoc Ngoạn, Nguyen Viet Hung, Hoang Kim, Nguyen Trong Hien, Nguyen Thi Cach, Hoang Kim Dieu, Nguyen Thi Truc Mai, Tran Phuong Dong, Nie Xuan Hong. 2015. Final report of the State-level cassava topics: Research and development of cassava as raw materials for themanufacturing of starch and biofuels. Ministry of Science and Technology, Department of Information Science and Technology. Certificate No. 2015-52-787/KQNC. Nov 13, 2015.

Tran Ngoc Quyen, Hoang Kim, Vo Van Tuan and K. Kawano. 1995. Selection results of the new cassava varieties KM60, KM94, KM95 and SM937-26. Scientific Council for Agriculture and Rural Development Ministry, in Bao Loc, Lam Dong , July 14-16, 1995. 26 p.

Trinh Thi Phuong Loan, Tran Ngoc Ngoan, Hoang Van Tat, Dao Huy Chien et al. 1999. Research results on cassava varietal selection in North Vietnam. Results of cassava research and extension. 8th Vietnam Cassava Workshop, held in Ho Chi Minh City, in 1999. pp. 86-96.

Trinh Thi Phuong Loan, Nguyen Trong Hien, Dao Huy Chien, Tran Ngoc Ngoạn and Nguyen Viet Hung. 2008. The results of breeding and developing variety KM98-7. In: MARD, Agricultural Research Workshop , held at Vietnam Academy of Agricultural Science (VAAS), Hanoi. Sep.13, 2008.

See more…
Những thay đổi gần đây trong ngành sắn Việt Nam
Sắn Việt Nam bảo tồn và phát triển bền vững

RECENT CHANGES IN THE CASSAVA SECTOR IN VIETNAM
Nguyen Van Bo (1) and the Vietnam Cassava Research and Development Network
(1) Vietnam Academy of Agricultural Science, Hanoi, Vietnam.


The cassava production and processing industry in Vietnam has experienced enormous
changes in the last decade. During the past 20 years the area planted to cassava has nearly doubled, from about 278,000 ha in 1993 to 544,000 hectares in 2013, while at the same time, with the adoption of high-yield and high-starch varieties, the average yield has also doubled from 9 to about 18 t/ha. The vast majority of cassava in Vietnam is produced by smallholder farmers, for whom it constitutes one of the more important sources of income, especially in poorer communities.

Cassava processing was a very minor business in Vietnam just 20 years ago, whereas now there are more than 80 large cassava starch-processing factories throughout the country, with many more smaller factories. In Tay Ninh Province, which is the largest producer of cassava and has the highest average yield, there are more than 80 starch factories, both large and small. The export of dried cassava chips and of processed starch has grown from a minor industry and now constitutes one of the larger export sectors. Much of the export of cassava products, particularly dried chips, goes to China, with smaller amounts, mainly of starch, to Singapore and elsewhere. In 2010 export
income from cassava grew faster than any other export, with a final value of more than US$800 million, making cassava one of the top agricultural export commodities.

A new area of processing is ethanol for use as fuel. The country’s four ethanol-producing plants have a capacity of 320 million liters per year, with another 300 million liters of capacity expected to come on line soon from three plants under construction in Phu Tho, Quang Ngai and Binh Phuoc Provinces. At the current production levels of cassava, these ethanol plants could consume as much as one-third of total production and half of current exports of chips, much of which is currently used for bio-ethanol production in China.

While the industry is in good health, there are risks. High-yielding and high-starch
varieties have been adopted by most farmers in Vietnam, but about three-quarters of all cassava grown is one variety, namely KM 94. Currently this variety performs well; however, there are always concerns when one variety dominates to such an extent. There are several promising recently released varieties that should be good alternatives to KM 94, but a more systematic approach to breeding and varietal distribution is needed. Cassava production has been largely pest and disease free for many years, but this is changing. The cassava mealybug, Phenacoccus manihoti, has caused major problems in Thailand and Cambodia, although as yet has not been a major problem in Vietnam. By contrast, there are a number of diseases that are causing concerns. A
timely response to all cassava pest and diseases, in terms of cultural measures of control and breeding for resistance, is now needed. Another threat to cassava production is the low sustainability of many cassava production systems in terms of management of soil fertility and prevention of soil degradation from erosion. The challenge is to work with farmers to identify which are the most appropriate site-specific management systems.

CASSAVA CONSERVATION AND SUSTAINABLE DEVELOPMENT IN VIETNAM
Hoang Kim (1), Nguyen Thi Truc Mai (2), Nguyen Bach Mai (3) and Reinhardt Howeler (4)


(1) Nong Lam University (NLU), Linh Trung, Thu Duc, Ho Chi Minh City, Vietnam;
hoangkim.vietnam@gmail.com; hoangkim@hcmuaf.edu.vn
(2) Hue University of Agriculture and Forestry (HUAF), 102 Phung Hung, Hue, Vietnam;
maiyourlove2003@yahoo.com
(3) Tay Nguyen University (TNU), 567 Le Duan – Buon Ma Thuot , Dak Lak , Vietnam;
maithuyantam@gmail.com
(4) CIAT-Emeritus; r.howeler@cgiar.org

ABSTRACT
The project entitled “Vietnam Cassava Conservation and Sustainable Development” has been very successful, as indicated by the results of trials and demonstrations conducted in Tay Ninh, Dak Lak, Phu Yen and Dong Nai provinces, where farmers using the improved technologies and practices boosted cassava yields from 8.5 t/ha to 36 t/ha – a more than four fold increase.

During the period from 1975 to 2015 cassava has become the third most important food
crop in Vietnam, after rice and maize. In 2013 the cassava area in Vietnam reached 544,300 ha, with a production of 9.74 million tonnes, and an average yield of 17.9 t/ha. Within Asia, Vietnam is now the third largest cassava producer, after Thailand and Indonesia. Between 1975 and 2000, cassava yields in the country ranged from 6 to 8 t/ha, and the crop was grown mainly for human food and animal feeding. This changed markedly with the introduction by CIAT in 1988 of some high-yielding breeding lines and varieties from Thailand. Two varieties, Rayong 60 and KU 50, were selected for release in 1993 and 1995 and were named KM60 and KM94, respectively. During the 1990s and the first decade of the 21st Century, Vietnam produced several new cassava varieties, initially mainly selections from sexual seed from Thailand and CIAT, such as KM95-3, SM937-26, KM98-1, KM98-7, but our breeders also made crosses that resulted in the release of the latest new varieties: KM140, KM98-5, KM419 and others. The breeding and adoption of new varieties as well as the development and adoption of more sustainable production practices resulted in a complete transformation of cassava, from a poor man’s food crop to a highly profitable industrial crop.

More recently, new advances in cassava cultivation techniques have focused on key
demonstration sites in the provinces of Tay Ninh, Dak Lak and Phu Yen using mainly KM419 as a very promising short-duration cassava variety with a fresh root yield of about 35-55 t/ha (28% higher than KM94) and a starch content of about 28-31%. This and other new varieties, together with new advances in cassava cultivation techniques, have yielded spectacular results in trials organized in those three provinces.

The Vietnam National Cassava Program (VNCP) has introduced various methodologies, named “6M” and “10T”, as well as Farmer Participatory Research (FPR), as collaborative experiences that helped to bring advanced technologies into production for millions of poor farmers. This included the selection of high-yielding varieties and the testing and selection by farmers of locally appropriate technologies. Cassava in Vietnam has great potential but also faces big challenges. At the national level, cassava has become one of the main export crops, which has provided for millions of smallholders an opportunity to increase their yields and improve their
standard of living.

Key words: Cassava, production, utilization, cultivation techniques, achievements, lessons and challenges, conservation, sustainable development, Vietnam.

OVERVIEW OF CASSAVA PRODUCTION AND UTILIZATION IN VIETNAM

Current Cassava Production in the World and in Vietnam

Cassava (Manihot esculenta Crantz) has become one of the most important crops in
the world, used as food, feed and fuel (Table 1). In terms of production, cassava currently ranks 5th, far behind maize, rice, wheat, and potato. But, in many tropical countries, especially in Africa, it is the most, or second most, important food crop. Cassava is not only a crop used for food, but also for animal feed, starch processing and in many countries it is currently the main raw material for biofuel processing, including in Vietnam (Nguyen Van Bo et al., 2013). Compared with 1980, the cassava growing area in the world in 2011 had increased 44%, more than any other food crop (Howeler, R.H. 2014).

Giáo sư Kazuo Kawano và các thành viên Hãng phim NHK Nhật Bản ghi nhận hình ảnh giống sắn KM419 siêu bột cao sản ít sâu bệnh thích ứng rộng tại hai tỉnh Tây Ninh và Đồng Nai năm 2009 tạo nên bước đột phá “Cách mạng sắn ở Việt Nam” đã đưa bội thu sắn Tây Ninh lên 27-30 tấn/ ha trên phạm vi toàn tỉnh, gấp ba lần năng suất sắn trước năm 2000. Giống sắn KM419 từ năm 2009 đã chuyển dần thành giống sắn chủ lực ở tỉnh Tây Ninh và mở rộng diện tích trồng khắp cả nước chiếm 38% tổng diện tích sắn Việt Nam, so giống sắn KM94 chiếm 31,7% (RTB Newsletter 2016. Assessment reveals that most cassava grown in Vietnam has a CIAT pedigree)

Cassava and Vietnam: Now and Then

(キャッサバとベトナム-今昔物語)

Kazuo Kawano

I visited Vietnam for a week this last December,  where a team of NHK video-taped for a documentary of the changes caused by the new cassava varieties I introduced 20 years ago in the lives of small framers, the enhanced activities of industrial and business communities and the development of research organizations. It was a most interesting, amusing and rewarding visit where I reunited with a multitude of former small farmers who are more than willing to show me how their living had been improved because of KM-60 and KM-94 (both CIAT-induced varieties) , many “entrepreneurs” who started from a village starch factory, and several former colleagues who became Professor, Vice Rector of Universities, Directors of research centers and so on. Vietnam can be regarded as a country who accomplished the most visible and visual progress most rapidly and efficiently utilizing CIAT-induced technology.

For my own record as well as for responding to the requests from my Vietnamese colleagues, I decided to record the changes and progress that had taken place in Vietnam in general and in cassava varietal development in particular in a series of picture stories. This is the first of long stories that would follow.

昨年の12月に、NHKの国際ドキュメンタリー番組の収録でベトナムを10年ぶりに再訪する機会があった。それは私が中心となって開発したキャッサバの多収性・高澱粉性の新品種群を20年 前に導入した事が引き起こした人々の生活向上の様子を、南から北へと訪ね歩く旅であった。今回の旅では、小農から出発して家を建て中農、富農となった多数 の人々、村の澱粉加工所の親父だったのが大工場のオーナーや実業家となっている幾人もの成功者、そして殆んど名前だけの研究員であったのが今や試験場長、 大学教授、副学長になっている昔の仲間達を訪ね歩いたが、その殆んどの人が私との再会を喜んでくれて、口々に新しいキャッサバ品種のおかげで自分達の生活 と境遇が革命的に良くなったと話してくれた。

私自身の記録のため、それにベトナムの昔の仲間からのリクエストに答える目的もあって、この20年間のベトナムの発展とキャッサバ生産の進展を絵物語風に書き留めることにした。これはその長い物語の始まりの章である。


The basis of Vietnamese agriculture is rice. Cassava is planted on the upper parts.

In flat, dry area, they plant cassava predominantly

Meeting old friends at Hung Loc Agricultural Research Center:Now, Hoang Kim is Senior Lecturer at Nong Lam University in Ho Chi Minh city and Nguyen Huu Hy is Director of Hung Loc Agricultural Research Center

Reunion with advanced farmer Mr. Ho Sau with Hoang Kim and students in Trang Bom, Dong Nai

Reunion with advanced farmer Mr. Tong Quoc Thanh with Hoang Kim in Tay Ninh

Meeting Former Director Truong Van Ho, old colleague Trinh Thi Phuong Loan (Retired as Deputy Director) and other friends at Root Crop Research Center, Vietnam Agricultural Science Institute in Hanoi

Meeting Tran Ngoc Ngoan (Now, Vice-Rector of Thai Nguyen University), Mrs. Loan and Mr. Ngo Trung Kien (an advanced farmer) in Mr. Kien’s house, Pho Yen, Bac Thai

Meeting Mrs. Sau and Mrs. Quyen, successful former cassava farmers, in Hatay, near Hanoi

Giving concluding remarks in the end of Vietnam Journey in Lake Hoan Kiem, Hanoi,
5 Dec 2009

A BRIEF HISTORY OF A SUCCESSFUL BREEDING PROGRAM

As is widely known, Vietnam has accomplished a rapid economic development in  recent 20 years. During the same period, , cassava, starting from a low status crop grown by small farmers and consumed as human food by poor people, has grown into a major crop providing raw materials for animal feeding, industrial starch processing and most recently bio-ethanol production (though I have some reservations for using cassava for this purpose), thus bringing precious cash income to millions of small farm families. When I first visited Vietnam in 1988, cassava’s acreage all over the country was 0.28 million ha with mean yield of 8.4 t/ha. It now occupies 0.56 million ha (official figure: the actual figure is said to be around 0.65 million ha; the emphasis of research is gradually shifting from varietal improvement to soil conservation) with 15.9t/ha mean yield. Vietnam has now advanced to World No. 2 exporter of cassava products next only to Thailand.

It is extremely gratifying to witness this progress toward the end of my career; then, what made this experience possible? The breeding work that has brought this result started when I joined CIAT as cassava breeder in 1973, where CIAT was inaugurating an integrated cassava research program with global mandate by recruiting a half dozen of young PhD from world reputable universities. As such, I initiated a comprehensive cassava breeding program using a population which contained a vast genetic variation coming from more than 2000 native varieties collected from the centers of origin and diversification of cassava all over Latin America.

Especially noteworthy in this process is the fact that those countries such as Colombia, Brazil and Mexico where abundant cassava germplasm existed donated  to or allowed CIAT to collect native cassava varieties on the condition that the newly established international research center CIAT uses all these germplasm for the welfare of people in the world without pursuing any monetary profit. It goes without saying that those rural small farmers who grew native cassava varieties inherited from their ancestors were very cooperative with the CIAT collection. The researchers as well the early CIAT administration clearly shared the immeasurable importance of basic germplasm in pursuing large scale breeding.

I accomplished much of the basic breeding during the first 10 years at CIAT/Colombia and moved to Thailand in 1983 by opening a CIAT/Asia office on the understanding that the effect of cassava varietal improvement would be more eminent in Asia. Thus, I started a more practical breeding in close collaboration with Thai workers. Here again, we were very thankful that the Colombian government allowed us to transfer cassava breeding materials to Asia without condition. As a result, I had transferred more than 1 million genotypes of cassava, mainly in the form of F1 hybrid seeds, from Latin America to Asia during the 15 years that followed.

This breeding work, based on the hybridizations between Latin American and Thai materials, resulted in a great success and produced many superior varieties. Now, some 97% of the total 1.15million ha of cassava in Thailand is planted with these new varieties we developed. I transferred many advanced breeding materials from Thailand to other Asian countries such as Indonesia, Philippines, China and Vietnam. In this process as well, the Thai government authorization of transferring our breeding materials to other Asian countries, which could well be potential (in fact, actual) competitors to Thailand, was to be highly appreciated.

In 1989, I brought planting stakes of Rayong 60 and Kasetsart 50 among others as a check-in baggage of the Bangkok-Ho Chi Minh flight (The import and plant quarantine permit had been very willingly arranged by the Vietnamese institution). Upon harvesting the first cycle evaluation /multiplication at Hung Loc Center in 1990, I carried the planting stakes of these varieties from HCM to Hanoi to be evaluated and multiplied by the research institutions in the North. In retrospect, my action was rather unorthodox power play. Nevertheless, considering that this was the beginning of a long story which would develop to generating an annual additional economic effect in the order of 200 million US dollars to be shared by the millions of small farmers, power play may be justified on certain critical occasions.

F1 selection at CIAT/Colombia in1976

One of the early selections, CIAT/Colombia circa 1980

F1 selection at Rayong Center, Thailand, circa 1987

Rayong 60 in Feb 1988 at Rayong Center, one of the major early successes at CIAT/Thai collaborative breeding program

A typical cassava field in North Vietnam in 1989

Cassava harvest being carried to market in Ho Chi Minh city in 1988

Processing cassava for noodle near Bien Hoa in 1988

Cassava starch processing as a cottage industry in Tay Ninh early 1990s

By 1996, farmers can harvest more cassava for feeding pigs by planting new varieties (Here is KM-60 or Rayong 60  in Hung Loc Agricultural Research Center, Dong Nai Province (1990)

and Ha Tay Province (1996)

Large scale cassava starch factories began to appear in Tay Ninh circa 1996

Cassava starch production became a big business following the step of Thailand (Tay Ninh 2009)

Now, the Bio-ethanol processing using cassava (A new Bio-Ethanol Plant is being built in Phu Tho)

Ho Chi Minh city (Saigon)
I began my first trip report to Vietnam 22 years ago with the following phrase “As the Air France flight 174 landed eventlessly at the airport of Ho Chi Minh City, only the vastness of the airport reminded me of its once familiar name of Tan Son Nhut, which was now more a symbol; of disrepair and abandonment.” Now, two decades later, Ho Chi Minh city is an entirely different place. See the town before and now.


The tallest building I could see in 1988. It had an eerie feeling of a ghost house.

Street filled with bicycles in 1988.

Now in 2009, many new buildings were constructed and being constructed.

Traffic is now like Bangkok 20 years ago.

Now, serious efforts are being paid to keep the town presentable.

As a result, the city looks very charming these days.

Hanoi

A similar transmutation took place in Hanoi, but the extent of metamorphosis is actually greater in Hanoi because Hanoi in the 1980s was somewhat dismal place.


A typical Hanoi building in 1989


A Hanoi street in 1989

Hanoi outlook in 2009, it is quite an attractive town.

Hanoi street is less noisy and probably more cultured than HCM (2009)

Relaxing at Hoan Kiem Lake in Hanoi (2009)

People (South)

Children and housing in Bien Hoa near Ho Chi Minh city in 1988

Moon cake factory in Ho Chi Minh city in 1988

Busy street in Ho Ch Minh city in 2009

Barbecue shop in Ho Chi Minh city in 2009

Children and mothers attending an art class in Ho Chi Minh city in 2009

People (North)

“Curiosos”; When we visited Hanoi in 1989, just the presence of Reinhardt Howeler caused quite a sensation.

Farm people near Hanoi in 1989

Children in cassava field near Hanoi in 1989

People in front of Mrs. Sau’s house in Hatay, near Hanoi in 2009; Successful lives change many things.

People relaxing on the bridge at Hoan Kiem Lake in Hanoi in 2009

Hanoi street shop in 2009; Westerners are no longer a curiosity

Shops in Ho Chi Minh city (more pictures including)

  • Ben Thanh Market in the center of Ho Chi Minh city in 1988
  • Inside the Market
  • Cassava sold in open market in Ho Chi Minh city in 1988
  • Market in 2009
  • Bread shop in HCM street in 2009; the cheapest one is \15 and the most expensive one is \50 (US$0.55)
  • A super market
  • Yet, outside HCM, this type of a small, traditional operation is still common; A movable shop near Bien Hoa in 2009
  • Shops in Hanoi
  • Hanoi market with children in 1989
  • Money changers in Hanoi street in 1989
  • Hanoi street shops in 2009
  • A toy shop in Hanoi in 2009
  • A department store in Hanoi in 2009

Book store in Ho Chi Minh city

  • As was expected, there was hardly any book store worthy of mention in my first visit in 1988. What I observed in this visit in 2009 follows:
  • The main section of a big book store
  • Children book section
  • Stationary section
  • I was most impressed with the good quality maps printed in Vietnam being sold at very reasonable prices

Noodle shops
When I first visited Vietnam in 1988, there was hardly any restaurant, in many places not even an eating place for pay, outside Saigon. All our itinerary was managed by the “Liaison officer” of the Government office in charge of foreign visitors and all the eating outside the big cities was officially arranged. The choice and the quality was predictably unimpressive at that time.

  • I was to witness a tremendous change in eating in this visit in 2009.
  • For shop in Hanoi
  • The renowned “Fo”
  • Market noodle shop in Ben Thanh Market in Ho Chi Minh city
  • A super deluxe version of cassava noodle “ラーメン” at \250(US$2.75)
  • Vietnam has caught up with Thailand in this type of ordinary eating; “Fo” is quite comparable with “Bamie Nam” of Thailand
  • Vietnam is the No.2 exporter of coffee next only to Brazil overtaking Colombia. As such, the Vietnamese coffee is good as ever, together with the Vietnamese bread,

Hotel
I described about the state of a government-run “hotel”  where we stayed in May 1989 as follows; “Yet, we had worst experiences when we traveled outside big cities. When we decided to stay in the city of Phan Rang about 350km to the northeast of Ho Chi Minh city, the new privately run hotel was all full so that we had to stay at the government run hotel. The government hotel occupied a large lot in which the sleeping quarters were 100m away from the eating place. Not a single soul was staying at this vast place on that night. I suspected no one had stayed for the past three months at least. The room was full of spider webs and dung of wall lizards and inevitably very dirty. There was no air conditioning or private toilet. A naked bulb was the only illumination and the door knob must have given out some 15 years ago and a huge pad lock had replaced it. The towel was provided but its original color was indiscernible. Many cockroaches were running in the communal bath room in which the toilet was full of rubbish and never flushed. An about 5cm rubber hose connected to the water faucet was the only shower facility (actually it worked very well; the only thing I liked of this ghost house. I was rather refreshed after suffering from all these pandemonium). The whole atmosphere suggested how a prison cell would look like. The whole setting was in good contrast with the private run hotel which was smaller but filled with guests and maintained a cheerful atmosphere. This was in the South. Things were worse in the North.

Yet, the most appalling part was the payment. The attendants, all elderly women, charged each of the Vietnamese colleagues an equivalent of US$1.75 in local currency, which was not particularly high for our understanding but paying an equivalent of 1.5 day wage for this accommodation was disputable. By regulation, they charged each of us US$27.50 in hard currency. In China, foreigners usually have to pay twice as much as native Chinese for air tickets, train tickets or hotel accommodation. For the domestic air tickets of Air Vietnam, foreigners have to pay four times as much in hard currency. Yet, this time it was 15 times as much. The attendants were showing the faces of incredulity. Anyone paying money for staying in this place was surprising enough. It must take foreign idiots to pay two month salary of local people for staying in this miserable place. Something is grossly wrong with the economic system. It is a tragedy that more than ten years was necessary to realize that.”Everything changed during the past 20 years, of course. Yet, it is in the hotel situation where the change can be seen most dramatically.

  • Hotel buildings in Ho Chi Minh city in 2009
  • Breakfast at Saigon Oscar Hotel where I stayed for three days in Dec 2009

Yet, the most impressive is the change in people’s attitude toward service and responsibility. I carelessly left a bag containing some memory cards and a recharger in my room at this Saigon Oscar Hotel. I realized this when I arrived in Hanoi but it was too late. Only half expectedly, I called the hotel from Yamatedai, Japan informing about what had happened. The hotel attendant answered that they were keeping the item in their Lost-and Found section. I immediately sent a Fax asking them to send the bag to my address in Japan. To my delight, the bag arrived in Yamatedai in good order a week later. I found it fair to inform this rather pleasant experience in some travelers’ Blog (口コミ旅行情報) as follows;

HUNG LOC AGRICULTURAL RESEARCH CENTER

In addition to the recognition, promotion and social success of my former colleagues such as Hoang Kim, Nguyen Huu Hy, Trinh Thi Phuong Loan and Tran Ngoc Ngoan, the upgrading of the institutions where we used to conduct the varietal improvement work together is another very pleasant side product of our collaboration.

We (Reinhardt Howeler and myself) started with this type of formal, if not stressful, negotiation on how we would conduct our collaboration at Hung Loc Center in 1988.

Even as late as in 1992, the meeting was not without some tenseness.

Hung Loc Center was a rather sleepy, smallish place typical of underdeveloped countries (1990)

Harvested cassava roots from the experimental plots were carried by this type of “Truck” to the nearby processing place, circa 1992.

To my delightful surprise, Hung Loc Center in 2009 is a quite different place.

New building at Hung Loc Center in 2009

Meeting old friends in front of the meeting hall at Hung Loc Center in Dec 2009.

AGRICULTURAL COLLEGE No. 3 TO THAI NGUYEN UNIVERSITY

When we first visited North Vietnam in 1989, Thai Nguyen was a rather uninspiring rural town where the only higher education institution was a small college called Agricultural College No.3. Several students hanging their laundry at their dormitory was about the only memory I got in my first visit to AC3.

AC3 campus in 1994. Children beside the cassava experiment field inside the AC3 campus in 1994

Thai Nguyen University campus in Dec 2009 (The former AC3 was upgraded to a university housing more than 10,000 students)


My dear friend Ngoan is now Vice Rector of Thai Nguyen University


Receiving a gift from the University in Dec 2009

VARIETAL IMPROVEMENT

Varietal Improvement in the South

This is, of course, the core of the story. Since much has been reported in formal papers, I am herein just showing some photos for remembrance.


The first bulk harvest of KM-60 (right) compared with the local variety, probably HL-23 (left) at Hung Loc Center in 1991.

KM-60 (left) and the local variety HL23 (right) with KK and Kim at Hung Loc Center circa 1993.

Director Hoang Kim standing contentedly with KM-94 (right) and the local variety HL23 (left) at Hung Loc Center circa 1993.

KK with colleagues at KM-60 field in Dong Nai in 1996

Harvest of new varieties from Thailand at Hung Loc Center in 1997.

Multiplication of a new variety from Thailand at Hung Loc Center in 1997.


New variety KM98-1 at Hung Loc Center in 2000.

Good planting of KM 98-5 in Tay Ninh in 2009.

KK and Kim in Tay Ninh at KM 419 field in Dec 2009.

Varietal Improvement in the North

Ngoan and KK in a varietal trial field in Bac Thai circa 1995.

KK and farmers near Pho Yen in 1997.

Local variety Vinh Phu (left) and KM-94 (right) with Ngoan and KK at AC3 experiment field in 1997.

Local variety (left) and KM-60 (right) in Hatay in 1996 with Loan at the center with a TV crew.

A new selection KM-95-1 (left) and the local variety Vinh Phu (right) in Hatay in 1997 with Director Ho on the left.

A group photo taken at the experiment field in Hatay in 1997. Faces of Ho, Loan, Mr. Tat, Mrs. Sau, Mrs Quyen among others.

Cassava field near Pho Yen in Dec 2009.

Ngoan (Professor and Vice Chancellor), Mr. Kien (a dedicated farmer), KK, and Loan (Retired Deputy director) at Mr. Kien’s cassava field near Pho Yen in Dec 2009.

READINESS FOR WORKING WITH FARMERS 

One thing outstanding in our collaboration with the Vietnamese colleagues is their acute readiness for working closely with farmers. This is in good contrast to my Latin American experience.

Cassava field near Hanoi, circa 1995. Loan, a farm wife, KK and Ho.

Hearing from farmers in Hatay in 1996. KK and Mr. Chien, Deputy Director of Root Crop Research Center, VASI.

Loan leading a town meeting in Hatay in 1996.

Ngoan presiding a village meeting in Pho Yen in 1996.

Harvest of a field trial in Bac Thai in 1996; a curious mixture of Ngoan (Professor to be), students, farmers, an old woman and a baby.

Reunion at Mr. Kien’s house in Pho Yen 13 years later.

Strangely absent from my photo collection is Hoang Kim. Kim is the undisputed champion of associating with fellow researchers from other institutions, farmers from many provinces. Kim initiated the invitation of advanced farmers to the selection field at Hung Loc Center so as to evaluate and select their own favorites; a harbinger to the later much celebrated “farmer participatory research.

Cassava and Vietnam Now and Then 81

Here in 2009 in Dong Nai and Tay Ninh cassava field, Kim is mixing with advanced farmers, students, extension staff and officials.

SUCCESSFUL FARMER 

I: Mrs. Tran Thi Quyen, Hatay

Here are the portraits of some successful farmers who had improved their lots remarkably utilizing the new cassava varieties.

Cassava and Vietnam Now and Then 82

Typical cassava farmers’ houses seen in our 1989 visit in North Vietnam.

Cassava and Vietnam Now and Then 83

Mrs. Tran Thi Quyen was one of those cassava/pig farmers in Hatay Province who had first adopted KM-60, With the better harvest of the new variety, she could increase the number of pigs she could sell to the market. This was the new house she was building using the money she earned and saved, which she was proudly showing me in my 1997 visit. The house was complete with a kitchen, toilet and bathroom under the single roof and cost some \80,000 (US$700) at that time.

Cassava and Vietnam Now and Then 84

Mrs. Quyen (left) with her grandchild in our reunion in Dec 2009.

Cassava and Vietnam Now and Then 85

Mrs. Quyen is still growing cassava and pigs. She is now building a new much bigger house.

II: Mr. Ngo Trung Kien, Pho Yen

Cassava was a small farmers’ crop used for family pig feeding or sold to small noodle factories.

Cassava and Vietnam Now and Then 86

Cassava chips drying on the road circa 1994.

Cassava and Vietnam Now and Then 87

Cassava and pig in North Vietnam before the introduction of new varieties.

Cassava and Vietnam Now and Then 88

Cassava noodle drying near Hanoi in 1989.

Cassava and Vietnam Now and Then 89

Mr. Ngo Trung Kien of Pho Yen, Bac Tay Province a dedicated farmer and one of the earliest adopters of KM-60. He has been successful in expanding his cassava/pig farming. Here in his plot in 2009, he was planting KM-98.

Cassava and Vietnam Now and Then 90

Mr. Kien is a innovative farmer as well. He introduced feeding chickens with cassava.

Cassava and Vietnam Now and Then 91

Pig feeding continues as ever. Mr. Kien told us he could now sell more than 50 mature pigs to the market annually.

Cassava and Vietnam Now and Then 92

Meeting village people at Mr. Kien’s house, Dec 2009. He has taught all his techniques to other farmers in the same village. Many farmers have built new houses and virtually all families own a motorcycle these days.

III: Mr. Tong Quoc Thanh, Tay Ninh

Mr. Tong Quoc Thanh of Tay Ninh Province was one of the earliest adopters of KM-60 promoted by the erstwhile Director Hoang Kim of Hung Loc Center. He was reputed to have made a lot of money by the multiplication and the sales of planting stakes of KM-60 and later KM-94. Either because he is a shay man by character or he is afraid of the Tax Office, Mr. Thanh does not elaborate too much about his success especially on the money making. Nevertheless, by any standard Mr. Thanh is a vastly successful man and the extensive cassava planting of his own cannot defy the reputation.

Cassava and Vietnam Now and Then 93

Mr. Thanh uses KM98-5 (tai xanh) and KM419 (tai do, cut lun) for intercropping with rubber tree, Tay Ninh in 2009.

Cassava and Vietnam Now and Then 94

KM-94 is still the best for mono-culture cassava in Tay Ninh, Mr. Thanh agrees. But he is planting KM98-5 (tai xanh) and KM419 (tai do) extensively in his field, probably because being a new variety, KM98-5 and KM419 still offers good opportunities for planting stake sale.

Cassava and Vietnam Now and Then 95

V: Mrs. Nguyen Thi Sau, Hatay
… When we visited Mrs. Sau in 1996, she showed us her new pig pen; KK, Mrs. Sau, Mrs. Quyen, children and Mr. Tat (Extension office at Root Crop Research Center, VASI).

In 1997, Mrs. Sau was very proud of posing in front of her new house and motor cycles. I heard the house cost some equivalent of 250,000 (US$2,000) at that time.

Cassava and Vietnam Now and Then 96

Loan, Chien, Mrs. Sau’s husband (working in the Municipal office), Mrs. Sau and Tat.

Cassava and Vietnam Now and Then 97


Mrs. Sau’s new mansion in 2009.

Cassava and Vietnam Now and Then 98
Cassava and Vietnam Now and Then 99

Front view of Mrs. Sau’s mansion.
Sala of Mrs. Sau’s mansion.

Cassava and Vietnam Now and Then 100

With the expansion of Hanoi city area, Mrs. Sau’s place is now much urbanized. Being a small but smart “entrepreneur”, Mrs. Sau is now President of a mineral water production and distribution company.

V: Mr. Ho Sau, Trang Bom

At the time of our first visit in 1988, Trang Bom, one of the fiercest battle fields of Vietnam War, was not much more than a sleepy little town.

Cassava and Vietnam Now and Then 101

Mr. Ho Sau, who lived next door to Hung Loc Center near Trang Bom and Bien Hoa, was the first farmer to be invited to Hung Loc Center to observe the harvest of a cassava varietal trial which included KM-60. He quickly decided to multiply the small sample stakes of KM-60 for his own planting and later for sales to other farmers. Mr. Sau, 2nd from left, was a celebrated participant to the Workshop held at Hung Loc Center in 1997.
Mr. Sau’s cassava Palace in 2009. Mr. Sau is now an enormously successful business man owning large cassava plantings, a couple of cassava processing plants and a trading company.

His garden is decorated with many wonderful objects. A sculpture carved from the root of a single tree.

Yet, the most imposing is the crocodile pool with a dozen or so crocodiles for display.

Cassava and Vietnam Now and Then 102

Mr. Sau is not a type to hide his success to the extent of being flamboyant. Yet, he is intent in giving opportunities to many kinds of people. He is building houses for less fortunate families in the same village. Here in this photo below, he provides land and facility for Prof. Kim and his students to conduct field experiments. As such, I was reminded of the Colombian Pablo Escobar. While Escobar was a bad guy drug king, Mr. Sau may be a good guy cassava king.

Cassava and Vietnam Now and Then 103

From right to left: Students of Nong Lam University, Prof. Kim. KK and Mr. Sau.

GRAHAM GEEENE [ THE QUIET AMERICAN ]

It was a delight to travel through Vietnam with 「The Quiet American」in hand. It was my third time to read this book. By the end of the journey, my paper back was nearly disintegrated. While I could not find this novel being sold in book stores in Ho Chi Minh and Hanoi, the street hawkers had a pirated version of the book. Honoring the hawkers’ smartness of finding the value of 「The Quiet American」as souvenir, I paid 80,000Don (some \400) to a hawker in Ho Chi Minh. In Hanoi, a hawker ran after me for some 50m offering the book for 50,000Dong.

Joy of reading 「The Quiet American」at The Continental Hotel.

Excerpts from 「The Quiet American」Graham Greene

P. 60, “I never knew a man who had better motives for all the trouble he caused.”

P. 74, “I was to see many times that look of pain and disappointment touch his eyes and mouth when reality didn’t match the romantic ideas he cherished, or when someone he loved or admired dropped below the impossible standard he had set.”

P. 94, “I laugh at anyone who spends so much time writing about what doesn’t exist – mental concepts.”

P. 103, “If somebody asked you what your deepest sexual experience had been, What would you say?” I knew the answer to that. “Lying in bed early one morning and watching a woman in a red dressing-gown brush her hair.” “Joe said it was being in bed with a Chink and a negress at the same time.”

P. 167, “He gets hold of an idea and then alters every situation to fit the idea.”

Plain as it is, this novel describes about the dark side of innocence. It is now profoundly touching that Greene had clearly manifested the impossibility of America winning a war against Vietnam as far back as in 1955.

In this vein, it is unsettling to find that this novel is regarded as a simple love story, if not a melodrama, in Japan, as can be seen in the following cut out from the major newspaper Asahi. It is somehow a part of our Japanese culture to reduce things to a minimum context, resigning to not seeing the whole.

DAVID HALBERSTAM [THE MAKING OF A QUAGMIRE]

David Halberstam is best known for his 「The Best and the Brightest」which was published in 1972 and became a world best-seller. His earlier book「The Making of a Quagmire], published in 1965, is less known but highly appreciated by some critics for much of the Halberstam’s perspectives on the Vietnam War originated from his experiences described in this book. I have been wanting to read this book ever after I read 「The Best and the Brightest」but the book was out of print for a long time. In one of many Internet notices from “Amazon” , of which I seldom pay serious attention, I found 「The Making of a Quagmire」was republished in 2008.

While 「The Best and the Brightest」is an in-depth analysis of Washington politics during the Johnson/ Nixon era, 「The Making of a Quagmire」is a ground level description of the local battles and politics in Vietnam during the Kennedy time. If 「The Quiet American」is a romantic narrative of innocence and complacency, 「The Making of a Quagmire」is a poignant account of ignorance and arrogance.

While「The Making of a Quagmire」contains all the reasons why America could not win the War in Vietnam, Chapter Six “Disaster: The Battle of Ap Bac” of this book describes, factor by factor, why the South Vietnamese/American forces could not win local battles in Vietnam. It is not that the Battle of Ap Bac was the turning point of the Vietnam War. It is remarkable because the Battle of Ap Bac contained all the elements why the Viet Cong/National Liberation Front could not be defeated.

If one reads 「The Making of a Quagmire」seriously, it should be transparent under the bright sun that this war could not be won by outside forces. Yet, Kennedy/Johnson Administration did not learn from the Pulitzer Prize (1964) of Halberstam in general and from the Battle of Ap Bac (Jan 1963) in particular. The North bombing by the US Air Force started in Feb 1965 and US Marines Corps were massively stationed at Da Nang in Mar 1965. History continues. As if nothing had not been learnt from Vietnam, and from 「The Best and the Brightest」in particular, the father/son Bush Administration went ahead with the Iraq and Afghan War on the same ignorance and arrogance. To human history, what is not learnt often outweighs what is learnt.

EPILOGUE
Throughout my many years of association with Vietnam, I have gotten to know many people, whom I seem to be able to categorize in retrospect. I got my first impression of the Vietnamese from the several Vietnamese trainees staying at the International Rice Research Institute, Los Baños, Philippines in 1963 and it was not particularly a favorable one. They appeared rather uncaring, cynical and apathetic, if not selfish, contemptuous, and corrupt. I may be too harsh and judgmental on them; nevertheless, Halberstam wrote about this type of people belonging to the upper strata of the South Vietnamese society during the same period so vividly and critically in 「The Making of a Quagmire」that my judgment might not have been too far away from the reality.

My ten years of close collaboration with my cassava breeding colleagues in the 1990s and the reunion with them in this trip completely changed my assessment of the Vietnamese. As evidenced by the series of my reporting here, they are industrious, insightful, considerate and indefatigable, as if to emulate General Vo Nguyen Giap. I might be a little too positively partial to those friends of mine. Nevertheless, I have a similar feeling toward some of my colleagues in Rayong, Thailand and Nanning, China to count a few. During the two decades of post-war Japan, we seem to have many Japanese of this category as well.

Then comes the mass of the population who just want tomorrow to be better than today. In this trip, I was deeply impressed and touched in meeting many people who seemed never to doubt tomorrow is better than today. This reminds me of the Japanese during the next two decades of post-war where the majority of the population was seeing a rosy future. Now in Japan, more than 30,000 people commit suicide annually and the main reason for this act is believed to be hopelessness to the present and future. Needless to say, Vietnam is not without problems such as the incompleteness of juridical system or rampant corruption to name some. Yet, the proportion of people feeling happy seems to be far higher in Vietnam than in Japan now. It is fascinating to imagine where these former colleagues of mine would further lead this society to.

  • People at a cassava open market near Hanoi in 1989.
  • People on a boat in Saigon river in 1988.
  • People on a ferry near Hanoi in 1989.
  • Boys on a Hanoi street in 1991.
  • Girls on a Hanoi street in 1991.
  • Two daughters at a village starch plant in Tay Ninh in1992.
  • People harvesting rice in Tay Ninh in 2009.
  • Hyper-energetic people in Ho Chi Minh city in 2009.
  • People relaxing at Hoan Kiem Lake, Hanoi in 2009.Chi tiết hình ảnh mời xem tại Source: https://foodcrops.blogspot.com/2012/09/cassava-and-vietnam-now-and-then.html

See more:

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là san-vietnam-bao-ton-va-phat-trien-ben-vung-1.jpg

Cassava in Vietnam: a successful story  

Sắn Việt Nam CIAT câu chuyện thành công

CIAT is 50: Building a sustainable food future since 1967

xem tiếp Nhớ kỷ niệm một thời https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-ky-niem-mot-thoi/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
Chỉ tình yêu ở lại
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

#cltvn định hướng và giải pháp

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là cay-luong-thuc-viet-nam.jpg

#CLTVN ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
TS. Hoàng Kim và TS Hoàng Long

#cltvn định hướng và giải pháp tóm tắt và tổng hợp thông tin từ các nguồn: 1) Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn MARD 2021a. Dự thảo Chiến lược Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050; 2) MARD 2021b Chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045; 3) Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn MARD 2009. Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011-2020. Kèm theo công văn số: 3310/BNN-KH ngày 12/10/ 2009 của  Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; 4) MARD, FAO, UNDP/FAO VIE 98/019.08 2001. Kế hoạch tổng thể nghiên cứu nông nghiệp Việt Nam. Tầm nhìn đến năm 2020. Hội thảo quốc gia tổ chức tại Hà Nội ngày 3-4 tháng 5 năm 2001 với sự tham gia của 11 cục vụ, 28 viện nghiên cứu, 6 trường đại học, 6 công ty và 8 tổ chức quốc tế (UNDP, FAO, WORLD BANK, DANIDA, GTZ, JICAR, ISNAR); 5) Hoàng Kim 2010: Cây Lương thực Việt Nam hiện trạng và định hướng nghiên cứu; 6) Tổng cục Thống kê https://www.gos.gov.vn ; 7) FAO 2021 FAOSTAT (

#cltvn định hướng và giải pháp tóm tắt và tổng hợp thông tin từ các nguồn: 1) Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn MARD 2021a. Dự thảo Chiến lược Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050; 2) MARD 2021b Chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045; 3) Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn MARD 2009. Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011-2020. Kèm theo công văn số: 3310/BNN-KH ngày 12/10/ 2009 của  Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; 4) MARD, FAO, UNDP/ FAO VIE 98/019.08 2001. Kế hoạch tổng thể nghiên cứu nông nghiệp Việt Nam. Tầm nhìn đến năm 2020. Hội thảo quốc gia tổ chức tại Hà Nội ngày 3-4 tháng 5 năm 2001 với sự tham gia của 11 cục vụ, 28 viện nghiên cứu, 6 trường đại học, 6 công ty và 8 tổ chức quốc tế (UNDP, FAO, WORLD BANK, DANIDA, GTZ, JICAR, ISNAR); 5) Hoàng Kim 2010: Cây Lương thực Việt Nam hiện trạng và định hướng nghiên cứu; 6) Tổng cục Thống kê https://www.gos.gov.vn ; 7) FAO 2022 FAOSTAT (2021; 2020, 2015, 2010, 2005, 2000, 1995,1990)

Cây Lương thực Việt Nam #cltvn là tập tài liệu giảng dạy và nghiên cứu cây lương thực tại Bộ môn Cây Lương thực Rau Hoa Quả, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh (xem #cltvn đề cương môn học). Tài liệu này tóm tắt giải pháp kỹ thuật canh tác lúa, sắn, ngô, khoai lang và nền tảng khoa học thực tiễn của những giải pháp ấy. Tên của năm tiểu mục là điểm chính tâm ý tác giả: 1) Việt Nam con đường xanh; 2) Lúa siêu xanh Việt Nam; 3) Cách mạng sắn Việt Nam; 4) Ngô Việt Nam ngày nay; 5) Giống khoai lang Việt Nam;  

ĐỊNH HƯỚNG

Phấn đấu thực hiện mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp thịnh vượng, nông dân giàu có, nông thôn văn minh hiện đại”. “Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định nông nghiệp, nông dân , nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng  để phát triển kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị an ninh quốc phòng, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc  và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Nghị quyết Đại hội Đảng XII và Đại hội Đảng XIII đều định hướng :Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu” (Trích bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Đại hội VII Hội Nông dân Việt Nam, nhiệm kỳ 2018-2023; Tạp chí Nông thôn mới 2021, trang 8).

Việt Nam con đường xanh Định hướng chiến lược quốc gia, phương hướng nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế xã hội 2021-2030  (Đảng Cộng Sản Việt Nam 2021, Văn kiện Đại hội Đảng XIII của Đảng) [1] đã xác định 10 giải pháp cơ bản: 1) Tập trung hoàn thiện nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải quyết tốt hơn quan hệ giữa Nhà nước và thị trường. 2) Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm tạo bứt phá nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; 3) Phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế; 4) Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, bảo đảm thực chất, hiệu quả; phát triển nền kinh tế số; thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô; 5) Phát triển kết cấu hạ tầng, kinh tế vùng, kinh tế biển, lấy các đô thi làm động lực phát triển vùng và đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới; 6) Phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân; 7) Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên; tăng cường bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai; 8) Củng cố, tăng cường quốc phóng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia;  9) Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập và vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; 10) Tiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động; đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo đột phá trong cải cách hành chính.

Đảng và Nhà nước xác định: Nông dân là lực lượng chính, Nông thôn nông nghiệp là cơ bản nền tảng kinh tế là động lực phát triển để nâng cao đời sống vật chất tinh thần vả chất lượng cuộc sống của người nông dân; Cây Lương thực Việt Nam hiện trạng và định hướng nghiên cứu, bài nghiên cứu và giảng dạy của Hoàng Kim 2010 đã đúc kết và tổng luận:: Nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam; Sản xuất lương thực là ngành quan trọng nhất của nông nghiệp Việt Nam. Định hướng nghiên cứu phát triển cây lương thực theo vùng sinh thái và theo lĩnh vực; xem chi tiết tại đây https://sites.google.com/site/hoangkimvietnam/chaongaymoi/cy-lng-thc/bai-giang-cay-luong-thuc-1/cay-luong-thuc-viet-nam-hien-trang-va-dinh-huong-nghien-cuu-phat-trien.:
 
Dự thảo Chiến lược Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021- 2030, tầm nhìn đến 2050, Bộ trưởng Bộ NN & PTNT Lê Minh Hoan nhận định: Hiện nay ngành nông nghiệp Việt Nam đang tồn tại hai vấn đề lớn. 1) Nông nghiệp Việt Nam ngày nay vẫn phát triển dựa trên đơn ngành; sử dụng nhiều đất đai và chi phí đầu vào, trong khi giá trị khoa học công nghệ và các mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn chưa khai thác hết tiềm năng. Ngành nông nghiệp muốn bảỏ tồn và phát triển bền vũng cần chuyển đổi quan niệm và cấu trúc dựa trên việc phát triển những giá trị khác ngoài sản lượng. Ngành nông nghiệp Việt Nam GDP đóng góp tăng nhưng chi phí đầu vào cũng tăng theo nên giá trị gia tăng bị giảm, giá trị thu nhập trực tiếp của người nông dân không đồng hành với sự tăng trưởng kinh tế. 2) Thị trường nông sản Việt Nam còn nhiều bất cập, giá thu mua nông sản không chỉ dựa trên giá cả mà dựa trên nhiều giá trị khác như môi trường, biến đổi khí hậu, sức khỏe người nông dân, logistic; quan hệ đối ngoại, … Ngành nông nghiệp Việt Nam cần định vị lại những giá trị cối lõi, tiếp cận xu thế tại tất cả những ngành hàng. Chiến lược phải hướng đến sự tăng trưởng bao trùm, tạo ra bao nhiêu việc làm, người nông dân được thụ hưởng sự phát triển của ngành nông nghiệp.

Theo Ông Cao Đức Phát, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp, nguyên Phó Ban Kinh tế Trung ương, phát biểu đóng góp cho Dự thảo Chiến lược Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050,đã xác định:Nông nghiệp Việt Nam ngày cần đáp ứng yêu cầu an toàn thực phẩm, thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, giảm phát thải carbon hiệu ứng nhà kính,  giảm chi phí sản phẩm, tăng chuỗi giá trị ngành hàng, nâng cao  giá trị văn hóa dân tộc, lợi thế du lịch sinh thái và biến các giá trị này thành giá trị kinh tế trong nông nghiệp. Nông nghiệp Việt Nam ngày nay còn nhiều dư địa phát triển chăn nuôi, thủy sản, trồng rừng nhưng không phải vô hạn. Một số lĩnh vực phải giảm như khai thác trên biển, đặc biệt là khai thác ven bờ. Nông nghiệp Việt Nam  20 năm qua (2000-2020) động lực chính là đổi mới chính sách và đổi mới khoa học công nghệ. Hiện nay động lực chính là khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Theo Ông Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn nhấn mạnh: Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cần hiện thực hóa định hướng của Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ XIII; tái cơ cấu nông nghiệp gắn chặt với xây dựng nông thôn mới, thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững gắn với những cơ hội về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, thị trường. Hướng tới việc xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh; chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng nông nghiệp xanh, nông nghiệp sinh thái, phát triển tích hợp đa ngành, đa giá trị, liên kết nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là giong-lua-sieu-xanh-gsr65.jpg
Giống lúa siêu xanh GSR65 https://hoangkimlong.wordpress.com/2021/12/31/phu-yen-noi-lua-san/

GIẢI PHÁP

Phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm và đã xác định là khâu đột phá trong phát triển kinh tế xã hội, Chuyển đổi mạnh mẽ phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là vấn đề sống còn trong hợp tác và cạnh tranh  giữa các địa phương, giữa các quốc gia. Việc nâng tầm sản phẩm hàng hóa có hàm lượng KHCN cao, phát triển sản xuất hàng hóa, vừa đảm bảo tiêu dùng, vừa tham gia vào chuỗi cung ứng trong nước, góp phần vào định hướng xuất khẩu. Phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cần đột phá trọng điểm vào những sản phẩm chủ lực, giải pháp ưu tiên, xây dựng mô hình hiệu quả tại vùng chuyên canh, đặc biệt quan tâm vùng khó khăn, mô hình liên kết các nhà, kết nối thị trường, thương mại hóa sản phẩm chủ lực OCOP, đặc thù, khuyến nông phục vụ cơ cấu lại nông nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045 và sự vận dụng hiệu quả tại từng địa phương là rất quan trọng; xem thêm http://hoangkimlong.wordpress.com/category/#cltvn-dinh-huong-va-giai-phap

Tài liệu trích dẫn

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 2021-2030, TẦM NHÌN 2045

MARD 2021b, Vụ Kế hoạch
 
 
Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba đột phá chiến lược trong sự nghiệp phát triển kinh tế và giữ gìn an ninh quốc phòng của đất nước (Văn kiện Đại hội Đảng XI). Đào tạo nguồn nhân lực được xác định là một trong những giải pháp then chốt trong cơ cấu lại ngành nông nghiệp hiện nay.
 
Phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2010-2020 Trong thời gian vừa qua, đã có nhiều chính sách được ban hành nhằm xây dựng và phát triển nhân lực cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn như: Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; Quyết định số 2534/QĐ-BNN-TCCB, phê duyệt Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực ngành nông nghiệp và PTNT giai đoạn 2011-2020; Quyết định 1323/QĐ-BNN-TCCB phê duyệt đề án nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành nông nghiệp và PTNT giai đoạn 2014-2020… Trong giai đoạn 2011 – 2020, mạng lưới các trường đào tạo ngành nghề nông nghiệp đã được quy hoạch, sắp xếp lại, đầu tư cơ sở vật chất để đáp ứng quy mô và chất lượng đào tạo phục vụ nhu cầu xã hội và phát triển của ngành. Các trường trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tuyển sinh và đào tạo 863 nghiên cứu sinh tiến sĩ, 20.374 thạc sĩ, 132.514 cử nhân, kỹ sư, 54.478 sinh viên cao đẳng và hơn 198.006 học sinh trung cấp. Mỗi năm có khoảng gần 1 triệu lao động nông thôn được đào tạo nghề, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của ngành từ 28% năm 2009 lên 60% năm 2019, góp phần tích cực vào quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, lao động nông nghiệp Việt Nam nhìn chung có trình độ, kỹ năng thấp, lao động chưa qua đào tạo vẫn chiếm tỉ lệ lớn. Trong số gần 1 triệu lao động nông thôn được đào tạo nghề, có đến 65% học nghề phi nông nghiệp để chuyển nghề. Lao động có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ thấp, tương ứng với 2.83 % và 4.6%. Lao động nông nghiệp đang phải đối mặt với xu hướng già hóa nhanh. Những hạn chế trên làm cho năng suất lao động trong ngành nông nghiệp Việt Nam không chỉ thấp hơn nhiều các nước trong khu vực mà còn thấp nhất trong các nhóm ngành kinh tế. Cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa mạnh mẽ, trung bình hàng năm, lao động của ngành giảm 1%, tương đương khoảng 500.000 lao động chuyển ra khỏi khu vực nông nghiệp. Xây dựng Chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho giai đoạn 2021-2025 Sự thay đổi nhanh chóng về khoa học kỹ thuật, biến đổi khí hậu và những đòi hỏi khắt khe hơn trong quy trình sản xuất các sản phẩm nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ hội nhập đã tác động mạnh mẽ đến ngành nông nghiệp nước ta. Việc thiếu hụt lao động qua đào tạo, có trình độ sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bền vững của ngành. Chất lượng và trình độ lao động thấp sẽ không chỉ ảnh hướng đến năng suất lao động mà lâu dài sẽ tác động tới việc tiếp cận khoa học công nghệ để tận dụng cơ hội của cách mạng công nghiệp 4.0 và phát triển nền nông nghiệp hiện đại. Trước những đòi hỏi, thách thức đó, Bộ Nông nghiệp và PTNT đang xây dựng Chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho giai đoạn 2021-2025 với mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực có đủ kiến thức, kĩ năng, phẩm chất đáp ứng các yêu cầu và đòi hỏi của nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nền nông nghiệp thông minh, tạo ra bước đột phá về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp; phấn đấu đến năm 2030 đưa nông nghiệp Việt Nam đứng trong số 15 nước phát triển nhất trên thế giới./.

Thúy Hằng

                                                          (Nguồn: MARD 2021b , Vụ Kế Hoạch)

CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM
  Hiện trạng và định hướng nghiên cứu

·        Khái quát hiện trạng sản xuất cây lương thực ở Việt Nam.·        Định hướng nghiên cứu phát triển cây lương thực.Hoàng Kim #CLTVN 2010
https://sites.google.com/site/hoangkimvietnam/chaongaymoi/cy-lng-thc/bai-giang-cay-luong-thuc-1/cay-luong-thuc-viet-nam-hien-trang-va-dinh-huong-nghien-cuu-phat-trien

1. Khái quát hiện trạng sản xuất cây lương thực ở Việt Nam

Nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, đóng góp 22,1% GDP năm 2008, gần 30% giá trị xuất khẩu và trên 60% lực lượng lao động Nông nghiệp nước ta đã tăng trưởng cao và ổn định trong suốt thời gian dài, đạt được những thành tựu to lớn, mặc dù thường gặp những tổn thất nặng nề do thiên tai:.Lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp là lĩnh vực duy nhất trong nền kinh tế liên tục xuất siêu, năm sau cao hơn năm trước, kể cả trong những giai đoạn kinh tế gặp khó khăn. Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 đạt khoảng 16 tỷ USD gấp 3,8 lần năm 2000, trong đó tăng trưởng trung bình của các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu giai đoạn 2000 – 2008 là: gạo 13,6%, cà phê 19,4%; cao su 32,5%; điều 27,8%; hải sản 19,1%. (MARD 2009). Định hướng thị trường trong sản xuất nông nghiệp ngày một rõ nét Hộ nông dân đã trở thành đơn vị tự chủ kinh tế. Hệ thống doanh nghiệp nhà nước đã được tổ chức lại có hiệu quả sản xuất cao hơn. Thu nhập của hộ nông dân và hệ thống hạ tầng nông thôn có được cải thiện. Việc phục hồi rừng, nguồn nước và đa dạng sinh học cũng đã có những kết qủa. Tuy vậy, nông nghiệp vẫn còn nhiều trở ngại và thách thức: Bình quân thu nhập nông dân còn rất thấp. Sự khác biệt lớn giữa các vùng, khoảng cách giàu nghèo có xu hướng ngày càng tăng. Nhiều vấn đề bức thiết trong nông nghiệp, nông dân và nông thôn đang tạo áp lực cho tăng trưởng kinh tế và sự ổn định kinh tế xã hội. Trong bối cảnh tự do hóa thương mại và toàn cầu hóa, ở một nước đông dân, bình quân diện tích đất trên đầu người thấp, tỷ trọng đóng góp GDP, giá trị xuất khẩu và lực lượng lao động cao. Nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. 

Sản xuất lương thực là ngành quan trọng nhất của nông nghiệp Việt Nam. Lúa là cây lương thực quan trọng nhất, chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất.(Bảng 1). Cây lương thực quan trọng thứ hai là ngô đang có xu hướng tăng ở Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung. Cây lương thực quan trọng thứ ba là cây sắn đang có xu hướng tăng ở vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng núi và trung du Bắc Bộ. Cây lương thực quan trọng thứ tư là khoai lang có xu hướng giảm ở hầu hết các vùng. Những cây lương thực, thực phẩm lấy củ và lấy hạt khác (như khoai tây, khoai môn, khoai mỡ, dong riềng, hoàng tinh cao lương, lúa mì, lúa miến, lúa mạch) chiếm tỷ trọng không nhiều.

Sau 25 năm đổi mới (1986-2010), Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong nông nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất lương thực. Sản lượng lương thực Việt Nam không những đủ cho nhu cầu trong nước mà còn có khối lượng lớn cho xuất khẩu. Bình quân lương thực đầu người tăng từ 445 kg năm 2000 lên 501 kg năm 2008. Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo và các sản phẩm sắn (tinh bột sắn và sắn lát) đứng thứ hai trên thế giới sau một thời gian dài thiếu lương thực.

Bảng 1 Diện tích, năng suất, sản lượng bốn cây lương thực chính của Việt Nam

Cây trồng Chỉ tiêu199520002005200620072008
LúaDiện tích (1000 ha)6,7667,6667,3267,3247,3057,414
Năng suất (tấn/ha)3,684,244,884,894,865,22
Sản lượng (triệu tấn)24,9632,5235,7935,8235,5638,72
NgôDiện tích (triệu ha)5567309951,0311,1501,125
Năng suất (tấn/ha)2,112,743,513,703,754,02
Sản lượng (triệu tấn)1,172,003,503,824,314,53
SắnDiện tích (nghìn ha)277237432475560556
Năng suất (tấn/ha)7,978,3515,3516,2415,8916,90
Sản lượng (triệu tấn)2,211,986,647,711,90939
Khoai langDiện tích (nghìn ha)304254205181180162
Năng suất (tấn/ha)5,536,337,568,008,058,16
Sản lượng (triệu tấn)1,681,611,551,451,451,32


Nguồn FAOSTAT 2009 được tổng hợp và trích dẫn bởi Hoàng Kim 2010

Việt Nam hiện đã đạt được an ninh lương thực trên phạm vi quốc gia . Tuy nhiên để đảm bảo được an ninh lương thực ở cấp hộ gia đình trên phạm vi cả nước vẫn đang còn là một vấn đề lớn, đặc biệt ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên


3.
Định hướng nghiên cứu phát triển cây lương thực

            Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam 2011-2020 (MARD QĐ số 3310/BNN-KH ngày 12/10/2009) đối với ngành sản xuất lương thưc là “Phát triển sản xuất lúa gạo Việt Nam trở thành mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn có hiệu quả và đảm bảo an ninh lương thực.” Trên cơ sở tính toán cân đối giữa nhu cầu tương lai của đất nước và dự báo nhu cầu chung của thế giới nhằm đảm bảo tuyệt đối an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống, đảm bảo quyền lợi hợp lý của người sản xuất và kinh doanh lúa gạo và xuất khẩu có lợi nhuận cao, đảm bảo sản lượng lúa đến năm 2020 đạt hơn 41 triệu tấn lúa trên diện tích canh tác 3,7 triệu ha.

Phát triển hợp lý các loại cây trồng có lợi thế cạnh tranh trung bình hoặc thấp, thay thế nhập khẩu” Trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế hợp lý, xác định địa bàn và quy mô sản xuất tối ưu cho những mặt hàng này. duy trì sản lượng tối đa hơn 6,5 triệu tấn ngô hạt năm 2015 và 7,2 triệu tấn năm 2020. Đối với cây trồng áp dụng công nghệ biến đổi gen, tiến hành thử nghiệm và chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở những nơi thích hợp, trước hết áp dụng với cây trồng không trực tiếp sử dụng làm thực phẩm cho người như cây có sợi, cây lấy dầu công nghiệp, cây trồng làm nguyên liệu thức ăn gia súc mà thế giới đã áp dụng rộng rãi. Đối với những cây trồng mới trong tương lai mà thị trường có nhu cầu như cây trồng làm nguyên liệu sản xuất nhiên liệu sinh học (chú trọng diesel sinh học), cây trồng làm vật liệu xây dựng, làm giấy, gỗ và lâm sản, cây dược liệu… cần tiến hành trồng khảo nghiệm và sản xuất thử. Nếu có triển vọng thì mở rộng sản xuất hướng vào những vùng kém thích nghi với các cây trồng cổ truyền hiện nay (các vùng đất trống đồi núi trọc, vùng ven biển, vùng khô hạn,…). Trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế hợp lý, quy hoạch diện tích đất thích hợp ở một số vùng chuyên canh địa phương để tổ chức sản xuất một số loại cây thay thế nhập khẩu như ngô, đỗ tương, bông, thuốc lá, dầu ăn,…

Ưu tiên về cây lương thực theo vùng là:

–         Vùng núi và trung du Bắc Bộ: lúa, ngô và sắn

–         Đồng bằng sông Hồng: lúa, ngô

–         Bắc và Duyên hải Nam Trung Bộ: lúa, ngô

–         Đồng bằng sông Cửu Long: lúa

–         Đông Nam Bộ: lúa, ngô, sắn

Khó khăn và thách thức Mặc dù đạt được những thành tựu quan trọng nhưng sản xuất lương thực đang gặp nhiều khó khăn và thách thức lớn:

·        thiếu các giống có năng suất cao  và chất lượng tốt cho xuất khẩu, thích hợp với điều kiện của Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long.

·        Hiệu qủa kinh tế của các cây lương thực thấp, nhất là lúa, so với các cây trồng khác (cây công nghiệp, rau, qủa), hơn nữa , do giá lương thực thấp và biến động mạnh trên thị trường quốc tế. Chất lượng gạo Việt Nam thấp so với tiêu chuẩn quốc tế và do hạn chế trong công tác thị trường.

·        Thiếu công nghệ và thiết bị thích hợp cho thu họach, xử lý sau thu họach, bảo quản , chế biến để giảm tổn thất và tăng giá trị sản phẩm.

·        Bị ảnh hưởng nặng nề của thiên tai và dịch bệnh.

Chính sách cho nghiên cứu cây lương thực

Để vượt qua những khó khăn và thách thức này  và đạt được các chỉ  tiêu phát triển , cần phải ban hành các chính sách phù hợp cùng với những đầu tư 

Hổ trợ mạnh mẽ cho nghiên cứu các cây lương thực chính (nhất là lúa và ngô) để tạo ra các giống năng suất cao, chất lượng tốt và công nghệ sản xuất tiên tiến phù hợp, đặc biệt cho Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long nhằm bảo đảm an ninh lương thực và đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.

Các ưu tiên và chiến lược nghiên cứu cây lương thực

Nghiên cứu sẽ tập trung vào ba cây chính lúa, ngô và sắn. Các ưu tiên và chiến lược cụ thể như sau:

Lúa:

·        Cải tiến giống: 1) Phát triển giống có chất lượng cao đáp ứng đòi hỏi của thị trường trong nước và thế giới, phù hợp với các điều kiện sinh thái nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. 2) Phát triển các giống lúa năng suất cao cho các vùng sản xuất thâm canh (lúa lai và siêu lúa); 3) Phát triển các giống lúa thích hợp với các điều kiện bất lợi như hạn hán, ngập úng, chua phèn và mặn.

·        Nghiên cứu, đề xuất và chuyển giao kỹ thuật canh tác lúa thích hợp cho các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau nhằm đạt được năng suất tiềm năng.

·        Nghiên cứu chế tạo thiết bị và công nghệ cho thu họach, xử lý sau thu họach, bảo quản và chế biến gạo, giảm tổn thất, nâng cao chất lượng sản phẩm và giá trị thị trường, kể cả giá trị gia tăng thông qua đa dạng hóa các sản phẩm từ gạo.

·        Tiến hành nghiên cứu thị trường và tiếp thị đối với gạo, nhất là thị trường xuất khẩu, bao gồm các yếu tố về cung và cầu, giá cả và biến động giá cả ở tất cả các khâu của sản xuất.

·        Tiến hành nghiên cứu hiệu qủa trồng lúa và các yếu tố ảnh hưởng.

Ngô:

·        Cải tiến giống: phát triển giống ngô (nhất là ngô lai) có năng suất và chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh và các điều kiện bất lợi, phù hợp với yêu cầu của sản xuất chuyển đổi cơ cấu cây trồng và công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau của cả nước (đặc biệt ở miền Bắc và Đông Nam Bộ)

·        Nghiên cứu đề xuất và chuyển giao kỹ thuật tổng hợp thâm canh ngô

·        Nghiên cứu và phát triển thiết bị và công nghệ sau thu hoạch, kéo dài thời gian bảo quản và chế biến ngô, kể cả đa dạng hóa các sản phẩm từ ngô.

·        Nghiên cứu thị trường ngô, nhu cầu về ngô cho công nghiệp sản xuất thức ăn gia súc.

·        Nghiên cứu hiệu qủa trồng ngô và các yếu tố ảnh hưởng.

Sắn:

·        Xây dựng kế hoạch và quy hoạch để xác định vùng trồng sắn thích hợp

·        Phát triển giống: phát triển các giống có năng suất và hàm lượng tinh bột cao, tỷ lệ chất khô cao làm nguyên liệu cho công nghiệp ; phát triển các giống thích hợp với vùng đồi núi để đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ.

·        Đề xuất và chuyển giao kỹ thuật canh tác tổng hợp cho trồng sắn thâm canh.

·        Nghiên cứu, khảo nghiệm và đề xuất thiết bị và công nghệ chế biến sắn thành các sản phẩm lương thực khác nhau, nguyên lieu thức ăn chăn nuôi và tinh bột.

·        Nghiên cứu thị trường sắn cho công nghiệp để phát triển sắn trên quy mô thích hợp.

·        Nghiên cứu hiệu qủa kinh tế và tác động của trồng sắn đến môi trường.

Đồi với tiểu ngành cây lương thực nói chung:

Ngoài các phần đề cập trên về các ưu tiên trong nghiên cứu cho từng cây lương thực chính , các nghiên cứu nêu dưới đây là cần thiết chung cho cả tiểu ngành cây lương thực.

Thông tin cần thiết cho các nhà họach định chính sách

·        Nghiên cứu cơ sở khoa học để quy họach diện tích thích hợp cho cây lương thực và mức sản lượng lương thực.

·        Nghiên cứu các biện pháp đảm bảo an ninh lương thực hộ gia đình.

·        Nghiên cứu lựa chọn cây lương thực phù hợp ở các vùng cụ thể.

·        Nghiên cứu ảnh hưởng của trồng cây lương thực đến môi trường ở vùng đồi núi.

Tăng cường ứng dụng công nghệ sinh học

·        Lúa, ngô, (sắn và khoai): rút ngắn thời gian thuần hóa giống và chuyển các tính trạng chất lượng mong muốn về chất lượng và khả năng chống chịu các điều kiện khó khăn đối với giống mới.

·        Khoai tây, sắn và các cây có củ khác: nhân nhanh giống.

·        Trong sản xuất phân bón và thuốc trừ sâu sinh học.

·        Trong chế biến lương thực

Đối với mỗi lọai cây lương thực , nghiên cứu cần đặc biệt lưu ý đến (i) hiệu qủa kinh tế, (ii) tầm quan trọng đối với xã hội, (iii) tác động đến môi trường và các nhân tố ảnh hưởng đến từng khía cạnh này, trong khuôn khổ của hệ thống cây trồng ở mỗi vùng sinh thái cụ thể.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 2009. Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011-2020. Kèm theo công văn số: 3310/BNN-KH ngày 12/10/ 2009 của  Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

2. FAO 2010.FAOSTAT (1990; 1995, 2000, 2005, 2007, 2008) http://www.fao.org

3. MARD, FAO, UNDP/FAO VIE 98/019.08 2001. Kế hoạch tổng thể nghiên cứu nông nghiệp Việt Nam. Tầm nhìn đến năm 2020. Hội thảo quốc gia tổ chức tại Hà Nội ngày 3-4 tháng 5 năm 2001 với sự tham gia của 11 cục vụ, 28 viện nghiên cứu, 6 trường đại học, 6 công ty và 8 tổ chức quốc tế (UNDP, FAO, WORLD BANK, DANIDA, GTZ, JICAR, ISNAR)

Chiến lược Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050  https://www.mard.gov.vn/Pages/chien-luoc-phat-trien-nong-nghiep-va-nong-thon-ben-vung-giai-doan-2021-2030-tam-nhin-den-2050.aspx

CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM #CLTVN ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC
TS. Hoàng Long, TS Hoàng Kim (Chủ biên) và đồng sự, 2022

Đề cương môn học #CLTVN được tích hợp nội dung dạy và học đối với các cây lương thực lúa, ngô, sắn, khoai lang, bao gồm điểm thuyết trình (20%), điểm thực hành tiểu luận (30%) ,và điểm thi cuối kỳ (50%) . Hệ thống thông tin học trực tuyến hổ trợ dạy và học,

CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM dạy và học trực tuyến
TS. Hoàng Long, TS Hoàng Kim (Chủ biên) và đồng sự. 2022

Tài liệu dạy và học đọc thêm ngoài bài giảng

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là cay-luong-thuc-viet-nam.jpg

CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM
Hoàng Kim, Hoàng Long (chủ biên) và đồng sự
http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong


Bảo tồn và phát triển sắn
Cách mạng sắn Việt Nam
Chọn giống sắn Việt Nam
Chọn giống sắn kháng CMD
Bạch Mai sắn Tây Nguyên
Giống sắn KM419 và KM440
Mười kỹ thuật thâm canh sắn
Sắn Việt bảo tồn phát triển
Sắn Việt Nam ngày nay
Vietnamese cassava today
Sắn Việt Lúa Siêu Xanh
Sắn Việt Nam bài học quý
Sắn Việt Nam sách chọn
Sắn Việt Nam và Howeler
Sắn Việt Nam và Kawano
Sắn Việt và Sắn Thái
Quản lý bền vững sắn châu Á
Cassava and Vietnam: Now and Then

Lúa siêu xanh Việt Nam
Giống lúa siêu xanh GSR65
Giống lúa siêu xanh GSR90
Gạo Việt và thương hiệu
Hồ Quang Cua gạo ST
Cơm Niêu Vàng Gạo Đông A
Con đường lúa gạo Việt
Chuyện cô Trâm lúa lai
Chuyện thầy Hoan lúa lai
Lúa C4 và lúa cao cây
Lúa sắn Cămpuchia và Lào
Lúa sắn Việt Châu Phi
Lúa Việt tới Châu Mỹ

Giống ngô lai VN 25-99
Giống lạc HL25 Việt Ấn


Giống khoai lang Việt Nam
Giống khoai lang HL518
Giống khoai lang HL491
Giống khoai Hoàng Long
Giống khoai lang HL4
Giống khoai Bí Đà Lạt

Việt Nam con đường xanh
Việt Nam tổ quốc tôi
Vườn Quốc gia Việt Nam
Nông nghiệp công nghệ cao
Nông nghiệp sinh thái Việt
Nông nghiệp Việt trăm năm
IAS đường tới trăm năm
Viện Lúa Sao Thần Nông
Hoàng Thành đến Trúc Lâm
Ngày Hạnh Phúc của em
Có một ngày như thế

Thầy bạn là lộc xuân
Thầy bạn trong đời tôi
Sóc Trăng Lương Định Của
Thầy Quyền thâm canh lúa
Borlaug và Hemingway
Thầy Luật lúa OMCS OM
Thầy Tuấn kinh tế hộ
Thầy Tuấn trong lòng tôi
Thầy Vũ trong lòng tôi
Thầy lúa xuân Việt Nam
Thầy Ngoạn Hồ Núi Cốc
Thầy bạn Vĩ Dạ xưa
Thầy Dương Thanh Liêm
Thầy Hiếu Đêm Giáng Sinh
Phạm Trung Nghĩa Viện Lúa
Phạm Quang Khánh Hoa Đất
Phạm Văn Bên Cỏ May

24 tiết khí nông lịch
Nông lịch tiết Lập Xuân
Nông lịch tiết Vũ Thủy
Nông lịch tiết Kinh Trập
Nông lịch tiết Xuân Phân
Nông lịch tiết Thanh Minh
Nông lịch tiết Cốc vũ
Nông lịch tiết Lập Hạ
Nông lịch tiết Tiểu Mãn
Nông lịch tiết Mang Chủng
Nông lịch tiết Hạ Chí
Nông lịch tiết Tiểu Thử
Nông lịch tiết Đại Thử
Nông lịch tiết Lập Thu
Nông lịch Tiết Xử Thử
Nông lịch tiết Bạch Lộ
Nông lịch tiết Thu Phân
Nông lịch tiết Hàn Lộ
Nông lịch tiết Sương Giáng
Nông lịch tiết Lập Đông
Nông lịch tiết Tiểu tuyết
Nông lịch tiết Đại tuyết
Nông lịch tiết giữa Đông
Nông lịch Tiết Tiểu Hàn
Nông lịch tiết Đại Hàn

Food Crops Ngọc Phương Nam
Nhà sách Hoàng Gia

Video Cây Lương thực chọn lọc :

Cây Lương thực Việt Nam Chuyển đổi số nông nghiệp, Học không bao giờ muộn Cách mạng sắn Việt Nam https://youtu.be/81aJ5-cGp28; Mười kỹ thuật thâm canh sắn : Cassava in Vietnam Save and Grow 1Daklak; Cassava in Vietnam: Save and Grow 2Daklak; Cassava in Vietnam: Save and Grow 3Daklak; Giống sắn KM410 và KM440 ở Phú Yên https://youtu.be/XDM6i8vLHcI; Giống sắn KM419, KM440 ở Đăk Lăk https://youtu.be/EVz0lIJv2N4; Giống sắn KM419, KM440 ở Tây Ninh https://youtu.be/XMHEa-KewEk; https://youtu.be/kjWwyW0hkbU; https://youtu.be/9mZHm08MskE; Trồng sắn KM419, KM98-5, KM98-1 ở Căm pu chia https://youtu.be/TpTIxv9LaFQ; Ngăn chặn lây lan CWBD bệnh chổi rồng ở Căm pu chia https://youtu.be/0gNY0KZ2nyY; Trồng khoai lang ở Hàn Quốc https://youtu.be/J_6xW3j47Sw; Trồng lúa đặc sản ở Trung Quốc https://youtu.be/rJSZfrJFluw; Trồng khoai lang tím ở Trung Quốc https://youtu.be/0CHOG3r64xs;Trồng và chế biến khoai tây ở Trung Quốc https://youtu.be/0gNY0KZ2nyYv; Làm măng ngọt giá cao ở Trung Quốc https://youtu.be/i1oFFqFMlvI; Nghệ thuật làm vườn “The life of okra and bamboo fence” https://youtu.be/kPIzBRPezY4 Bảy điều trước tiên của người Trung Quốc: Củi, gạo, dầu, muối, tương, giấm, trà | Lý Tử Thất https://youtu.be/u-xS-dkz3a0

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-10.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-11.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-12.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-15.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-maize-books.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-cassava-books.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-sweet-potato-books.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-rhq.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-13.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-view.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-19.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-20.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-21.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-22.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-23.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-24.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-25.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-27.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-28.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-29.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-30.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-31.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-32.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-33.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-34.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-35.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-36.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-37.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-38.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-39.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-40.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-41.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-43.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-42.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-44.jpg

LỘC XUÂN
Hoàng Kim

Trời xanh trao nắng, lúa vàng ưa.
Xuân tới đông qua tiết trở mùa.
Ngày mới lúa siêu xanh tỏa rộng.
Hoa Người Hoa Đất thắm ước mơ.

VUI ĐI DƯỚI MẶT TRỜI
Hoàng Kim


Hãy lên đường đi em
Ban mai vừa mới rạng
Vui đi dưới mặt trời
Một niềm tin thắp lửa

Ta như ong làm mật
Cuộc đời đầy hương hoa
Thời an nhiên vẫy gọi
Vui đời khỏe cho ta.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là hoangkim1.jpg

VUI ĐI DƯỚI MẶT TRỜI
Hoàng Kim

Vui đi dưới mặt trời
Nắng dát vàng trên đồng xuân
Mưa ướt vệt bóng mây, tím sắc trời cuối hạ
Đất ước, cây trông, lòng nhớ …

Em trốn tìm đâu trong giấc mơ tâm tưởng
Ngôi nhà con hạnh phúc trăm năm
Bếp lửa ngọn đèn khuya
Vận mệnh cuộc đời cố gắng

Tình yêu là người thầy tốt hơn trách nhiệm
Đồng lòng đất cảm trời thương
Phúc hậu minh triết tận tâm
Cố gắng làm người có ích

Tháng năm tròn đầy vườn thiêng cổ tích
Mừng ban mai mỗi ngày tỉnh thức bình an
Chào ngày mới CNM365 Tình yêu cuộc sống
Thảnh thơi vui cõi phúc được thanh nhàn.

Vui đi dưới mặt trời
Một niềm tin thắp lửa

VUI ĐI DƯỚI MẶT TRỜI
Hoàng Kim

Hãy lên đường đi em
Ban mai vừa mới rạng
Vui đi dưới mặt trời
Một niềm tin thắp lửa

Ta như ong làm mật
Cuộc đời đầy hương hoa
Thời an nhiên vẫy gọi
Vui đời khỏe cho ta.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là 2-nhatoi.jpg

Học mặt trời tỏa sáng
Phúc hậu và an nhiên
Biết kiên trì việc chính
Học nước chảy đá mòn
Vui đi dưới mặt trời

HoangKim2017a

LỘC XUÂN
Hoàng Kim

Trời đất giao hòa mang Tết đến
Tháng ngày luân chuyển chở xuân qua
Một giấc an lành ngon đến sáng.
Quả níu cành xuân trĩu trước nhà.

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC http://hoangkimvn.wordpress.com/
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365; Tình yêu Cuộc sống,Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

#cltvn đề cương môn học

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-1.jpg

CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM #CLTVN ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC
TS. Hoàng Long, TS Hoàng Kim (Chủ biên) và đồng sự. 2022

Đề cương môn học #CLTVN được tích hợp nội dung dạy và học đối với các cây lương thực lúa, ngô, sắn, khoai lang, bao gồm điểm thuyết trình (20%), điểm thực hành tiểu luận (30%) ,và điểm thi cuối kỳ (50%) . Hệ thống thông tin học trực tuyến hổ trợ dạy và học,

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là lua-chuong-1-1.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là lua-chuong-2.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là lua-chuong-3.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là lua-chuong-4.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là lua-chuong-5.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-tieu-luan-12-trang.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là ngo-chuong-1.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là ngo-chuong-2.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là ngo-chuong-3.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là ngo-chuong-4.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là ngo-chuong-5.jpg
  • 
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là san-chuong-1.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là san-chuong-2.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là san-chuong-3.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là san-chuong-4.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là san-chuong-5.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là khoai-chuong-1.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là khoai-chuong-2.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là khoai-chuong-3-1.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là khoai-chuong-4-1.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là khoai-chuong-5.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-5-1.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-2.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-3.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-4.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-7-1.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-6-1.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-9-1.jpg

CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM dạy và học trực tuyến
TS. Hoàng Long, TS Hoàng Kim (Chủ biên) và đồng sự. 2022


Tài liệu dạy và học đọc thêm ngoài bài giảng

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là cay-luong-thuc-viet-nam.jpg

CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM
Hoàng Kim, Hoàng Long (chủ biên) và đồng sự
http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong


Bảo tồn và phát triển sắn
Cách mạng sắn Việt Nam
Chọn giống sắn Việt Nam
Chọn giống sắn kháng CMD
Bạch Mai sắn Tây Nguyên
Giống sắn KM419 và KM440
Mười kỹ thuật thâm canh sắn
Sắn Việt bảo tồn phát triển
Sắn Việt Nam ngày nay
Vietnamese cassava today
Sắn Việt Lúa Siêu Xanh
Sắn Việt Nam bài học quý
Sắn Việt Nam sách chọn
Sắn Việt Nam và Howeler
Sắn Việt Nam và Kawano
Sắn Việt và Sắn Thái
Quản lý bền vững sắn châu Á
Cassava and Vietnam: Now and Then

Lúa siêu xanh Việt Nam
Giống lúa siêu xanh GSR65
Giống lúa siêu xanh GSR90
Gạo Việt và thương hiệu
Hồ Quang Cua gạo ST
Cơm Niêu Vàng Gạo Đông A
Con đường lúa gạo Việt
Chuyện cô Trâm lúa lai
Chuyện thầy Hoan lúa lai
Lúa C4 và lúa cao cây
Lúa sắn Cămpuchia và Lào
Lúa sắn Việt Châu Phi
Lúa Việt tới Châu Mỹ

Giống ngô lai VN 25-99
Giống lạc HL25 Việt Ấn


Giống khoai lang Việt Nam
Giống khoai lang HL518
Giống khoai lang HL491
Giống khoai Hoàng Long
Giống khoai lang HL4
Giống khoai Bí Đà Lạt

Việt Nam con đường xanh
Việt Nam tổ quốc tôi
Vườn Quốc gia Việt Nam
Nông nghiệp công nghệ cao
Nông nghiệp sinh thái Việt
Nông nghiệp Việt trăm năm
IAS đường tới trăm năm
Viện Lúa Sao Thần Nông
Hoàng Thành đến Trúc Lâm
Ngày Hạnh Phúc của em
Có một ngày như thế

Thầy bạn là lộc xuân
Thầy bạn trong đời tôi
Sóc Trăng Lương Định Của
Thầy Quyền thâm canh lúa
Borlaug và Hemingway
Thầy Luật lúa OMCS OM
Thầy Tuấn kinh tế hộ
Thầy Tuấn trong lòng tôi
Thầy Vũ trong lòng tôi
Thầy lúa xuân Việt Nam
Thầy Ngoạn Hồ Núi Cốc
Thầy bạn Vĩ Dạ xưa
Thầy Dương Thanh Liêm
Thầy Hiếu Đêm Giáng Sinh
Phạm Trung Nghĩa Viện Lúa
Phạm Quang Khánh Hoa Đất
Phạm Văn Bên Cỏ May

24 tiết khí nông lịch
Nông lịch tiết Lập Xuân
Nông lịch tiết Vũ Thủy
Nông lịch tiết Kinh Trập
Nông lịch tiết Xuân Phân
Nông lịch tiết Thanh Minh
Nông lịch tiết Cốc vũ
Nông lịch tiết Lập Hạ
Nông lịch tiết Tiểu Mãn
Nông lịch tiết Mang Chủng
Nông lịch tiết Hạ Chí
Nông lịch tiết Tiểu Thử
Nông lịch tiết Đại Thử
Nông lịch tiết Lập Thu
Nông lịch Tiết Xử Thử
Nông lịch tiết Bạch Lộ
Nông lịch tiết Thu Phân
Nông lịch tiết Hàn Lộ
Nông lịch tiết Sương Giáng
Nông lịch tiết Lập Đông
Nông lịch tiết Tiểu tuyết
Nông lịch tiết Đại tuyết
Nông lịch tiết giữa Đông
Nông lịch Tiết Tiểu Hàn
Nông lịch tiết Đại Hàn

Food Crops Ngọc Phương Nam
Nhà sách Hoàng Gia

Video Cây Lương thực chọn lọc :

Cây Lương thực Việt Nam Chuyển đổi số nông nghiệp, Học không bao giờ muộn Cách mạng sắn Việt Nam https://youtu.be/81aJ5-cGp28; Mười kỹ thuật thâm canh sắn : Cassava in Vietnam Save and Grow 1Daklak; Cassava in Vietnam: Save and Grow 2Daklak; Cassava in Vietnam: Save and Grow 3Daklak; Giống sắn KM410 và KM440 ở Phú Yên https://youtu.be/XDM6i8vLHcI; Giống sắn KM419, KM440 ở Đăk Lăk https://youtu.be/EVz0lIJv2N4; Giống sắn KM419, KM440 ở Tây Ninh https://youtu.be/XMHEa-KewEk; https://youtu.be/kjWwyW0hkbU; https://youtu.be/9mZHm08MskE; Trồng sắn KM419, KM98-5, KM98-1 ở Căm pu chia https://youtu.be/TpTIxv9LaFQ; Ngăn chặn lây lan CWBD bệnh chổi rồng ở Căm pu chia https://youtu.be/0gNY0KZ2nyY; Trồng khoai lang ở Hàn Quốc https://youtu.be/J_6xW3j47Sw; Trồng lúa đặc sản ở Trung Quốc https://youtu.be/rJSZfrJFluw; Trồng khoai lang tím ở Trung Quốc https://youtu.be/0CHOG3r64xs;Trồng và chế biến khoai tây ở Trung Quốc https://youtu.be/0gNY0KZ2nyYv; Làm măng ngọt giá cao ở Trung Quốc https://youtu.be/i1oFFqFMlvI; Nghệ thuật làm vườn “The life of okra and bamboo fence” https://youtu.be/kPIzBRPezY4 Bảy điều trước tiên của người Trung Quốc: Củi, gạo, dầu, muối, tương, giấm, trà | Lý Tử Thất https://youtu.be/u-xS-dkz3a0

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-10.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-11.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-12.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-15.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-maize-books.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-cassava-books.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-sweet-potato-books.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-rhq.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-13.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-view.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-19.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-20.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-21.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-22.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-23.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-24.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-25.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-27.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-28.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-29.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-30.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-31.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-32.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-33.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-34.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-35.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-36.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-37.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-38.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-39.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-40.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-41.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-43.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-42.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là de-cuong-cay-luong-thuc-44.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là NLU.jpg

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com/
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365; Tình yêu Cuộc sống,Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Biển Hồ Chùa Bửu Minh

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là den-voi-tay-nguyen-moi-4.jpg

BIỂN HỒ CHÙA BỬU MINH
Hoàng Kim

Nhớ Biển Hồ
Chùa Bửu Minh
Sương che mờ sáng
Biển ẩn thâm xanh
Chẳng giấu được Tháp Hiền

Người hiền dân tin
Đất lành chim đậu
Trần Huyền Trang
Tháp Đại Nhạn
Thăm thẳm một tầm nhìn.

Một đời người
Một Giác Tâm
Một Biển Hồ
Một bóng nắng
Một dát vàng
Gần trần nhưng thoát tục
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bien-ho-chua-buu-minh/

Ừ THÌ …
Thích Giác Tâm

Ừ thì xuân đến xuân đi
Ngàn xưa cứ vậy có gì khác đâu
Sông kia nước chảy qua cầu
Mây kia bàng bạc trên đầu xưa nay
Bốn mùa luân chuyển vòng xoay
Người già nằm xuống trẻ nay lớn rồi
Nghĩ thân phù thế bồi hồi
Nhành mai sân trước…..tặng đời mai sau.

—————
Ngày 16/01/2022Thích Giác Tâm.
Ảnh: Chùa Bửu Minh Gia Lai (tác giả Phạm Trần Bình)

THƠ THIỀN
Bạch Ngọc
Hoàng Kim
hòa vận thơ Thiền, Hòa thương Thích Giác Tâm

Thơ Thiền hạt ngọc gieo châu
Mai vàng trước ngõ thẳm sâu Biển Hồ
Nếp hiền vui giữa hoang sơ
Giác Tâm ngộ tính trang thơ chuyện đời…
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bien-ho-chua-buu-minh/,


ĐẾN VỚI TÂY NGUYÊN MỚI
Hoàng Kim

Đến với Tây Nguyên mới
Thăm lại chiến trường xưa
Đất sắn nuôi bao người
Sử thi vùng huyền thoại.

Vầng đá chốn đại ngàn
Rượu cần nơi bản vắng
Câu cá bên dòng Sêrêpôk
Tắm tiên Chư Jang Sin

Thương Kim Thiết Vũ Môn
Nhớ người hiền một thuở
Đình Lạc Giao Hồ Lắk
Biển Hồ Chùa Bửu Minh

Nước, rừng và sự sống
Chuyện đời không thể quên
Cây Lương thực bạn hiền
Lớp học vui ngày mới

Ai ẩn nơi phố núi
Ai tỏ Ngọc Quan Âm
Ai hiện chốn non xanh
Mây trắng trời thăm thẳm
Nước biếc đất an lành

Soi bóng mình đáy nước
Sáng bình minh giữa đời
Thung dung làm việc thiện
Vui bước tới thảnh thơi


Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là chua-buu-minh-bien-ho-1.jpg

Biển Hồ Chùa Bửu Minh
Đến với Tây Nguyên mới

ĐIÊU KHẮC TƯỢNG PHẬT BẰNG TRÁI TIM.
Thích Giác Tâm


Ảnh: Kim thân Phật Tổ chùa Bửu Minh Gia Lai. Tăng Ni sinh của thiền phái Trúc Lâm không ai không nhớ 4 câu trong bài phú Cư trần lạc đạo của Trúc Lâm Sơ tổ Trần Nhân Tông:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên.
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch.
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Bài kệ trên, dịch nghĩa :

“Sống giữa phàm trần, hãy tùy duyên mà vui với đạo
Đói thì ăn, mệt thì ngủ
Trong nhà sẵn của báu, đừng tìm đâu khác
Đối diện với cảnh mà vô tâm, thì không cần hỏi thiền nữa”.
(Thơ văn Lý Trần – tập 2 – NXB Khoa Học Xã Hội – Hà Nội – 1989. Tr.510).

Tôi thích nhất là câu: “Trong nhà sẵn của báu, đừng tìm đâu khác”. Chúng ta có của báu trong nhà “Phật tính” vậy mà không nhận ra, cứ luôn đi tìm kiếm cứ ngỡ rằng Phật ở đâu đó, đem Phật đi tìm Phật. Chính chúng tôi (cùng với một người thợ xây tên Trịnh Cảo) là người tạc tượng Phật vẫn không thấy hết vẻ đẹp hoàn mỹ của tượng Phật mình làm, vẫn cứ mặc cảm nghĩ rằng mình không bằng cấp, không đào tạo trường Mỹ thuật, không được học nghề theo kiểu cha truyền con nối. Tạc tượng chỉ bằng tình kính yêu vô hạn đối với Đức Thế Tôn thôi, và nghiên cứu cách làm tượng qua thư tịch sách vở, tượng Phật Bửu Minh sao có thể hơn được các pho tượng Phật nổi tiếng xưa nay ở Việt Nam. Đợi đến khi Cư Sĩ Giác Đạo – Dương Kinh Thành ở thành phố Hồ Chí Minh lên tiếng khen ngợi, tôi mới giật mình thốt lên: ” Ủa vậy sao?” Có người cầm Thiền bảng nện vô vai tôi giật mình tỉnh ra và viết đoản văn: ” Kim thân Phật Tổ chùa Bửu Minh – Gia Lai”. Và ngày hôm nay (16/06/2013) tôi được một người Phật tử đem tặng một tấm ảnh Kim thân Phật Tổ chùa Bửu Minh (có xóa bỏ phông) lại giật mình lần thứ hai, pho tượng của mình làm đây sao? Thời bao cấp ăn cơm khoai cơm độn, xi măng sắt thép quý như vàng, tại sao mình lại thực hiện pho tượng thành công quá mong ước!

Câu trả lời pho tượng Phật thành công là chỉ do niềm tin và thương Phật quá lớn, ngày nhớ Phật, đêm nhớ Phật không lúc nào xa rời Phật dù trong chốc lát. Lúc vừa hoàn thành pho tượng Hòa thượng Giác Toàn (khi ấy là Thượng tọa) đi công tác phật sự tỉnh Kon Tum có ghé lại chùa Bửu Minh thăm, vô cùng ngạc nhiên trước gương mặt của Đức Phật, tán thán khen ngợi nhưng vẫn mạnh dạn phê phán:” Mặt Phật rất từ bi, rất hiền, rất thiền nhưng so với toàn thân thì đầu Phật bị nhỏ không cân đối thầy Giác Tâm xem lại và nếu được nên sửa đầu Phật cho lớn hơn mới cân đối với toàn thân” Một lời góp ý của Hòa thượng thôi, mà tôi với anh thợ xây Trịnh Cảo toát mồ hôi hột. Đầu Phật, mặt Phật đã hoàn chỉnh rồi bây giờ nếu nghe Hòa thượng góp ý mình phải làm lại từ đầu. Tuy biết sửa lại đầu Phật sẽ vô cùng khó khăn, nếu sửa lại mặt Phật không đẹp như hiện giờ thì sao? Pho tượng sẽ bị hủy bỏ không tôn thờ như lời khấn nguyện ban đầu: ” Phật không gia hộ cho con làm tượng Phật đẹp con sẽ không phụng thờ và đem Phật bỏ chìm xuống đáy Biển Hồ”. Nhưng rồi vẫn lắng nghe lời Hòa thượng chỉ dạy góp ý, mạnh dạn đục bỏ và sửa lại. Tay cầm búa tay cầm mũi ve đục mà run cầm cập. Trong tâm Phật vẫn còn, lòng thương Phật vẫn nguyên vẹn, mỗi ngày mỗi bồi đắp xi măng gọt đẽo chỉnh sửa với ảnh mẫu là tượng Kim thân Phật Tổ Nha Trang và tượng Phật Thích Ca Phật Đài Vũng Tàu. Sửa lại đầu Phật, mặt Phật lớn hơn theo lời góp ý của Hòa thượng Giác Toàn đã thành công. Kim thân Phật Tổ chùa Bửu Minh có nét giống hai pho tượng nói trên là nhân duyên như thế.

Gia Lai năm 1988
Thích Giác Tâm

Chua Buu Minh – Nghĩa Hưng, Chư Păh, Gia Lai.
Nguồn: https://www.youtube.com/watch?v=eY88tcaKI14

LỜI VÀNG TRUYỆN BIỂN HỒ
Hoàng Kim


Phật Tổ chùa Bửu Minh
Trái tim Tâm thành Bụt
Kim thân Người có Phật
Lời vàng truyện Biển Hồ.

ĐẾN VỚI TÂY NGUYÊN MỚI
Hoàng Kim

Đến với Tây Nguyên mới
Thăm lại chiến trường xưa
Đất sắn nuôi bao người
Sử thi vùng huyền thoại.

Vầng đá chốn đại ngàn
Rượu cần nơi bản vắng
Câu cá bên dòng Sêrêpôk
Tắm tiên Chư Jang Sin

Thương Kim Thiết Vũ Môn
Nhớ người hiền một thuở
Đình Lạc Giao Hồ Lắk
Biển Hồ Chùa Bửu Minh

Nước, rừng và sự sống
Chuyện đời không thể quên
Cây Lương thực bạn hiền
Lớp học vui ngày mới

Ai ẩn nơi phố núi
Ai tỏ Ngọc Quan Âm
Ai hiện chốn non xanh
Mây trắng trời thăm thẳm
Nước biếc đất an lành

Soi bóng mình đáy nước
Sáng bình minh giữa đời
Thung dung làm việc thiện
Vui bước tới thảnh thơi

Đến với Tây Nguyên mới
Biển Hồ Chùa Bửu Minh

Học không bao giờ muộn
Xuân ấm áp tình thân
SUY NGẪM ĐẦU NĂM MỚI


Thầy Hòa thượng Thích Giác Tâm, Biển Hồ Chua Buu Minh viết lời đầu xuân: “Chỉ có khiêm hạ mới tồn tại trong cõi đời này, nên nhớ mình là ai trong vai diễn đời, đạo. Bước đầu của vai diễn nên đóng vai lính, mang vác xác trong sân khấu. Mới vào nghề cần phải học hỏi, trải nghiệm, từng bước đi lên, đừng mang hia đội mũ quá sớm, đóng vai vua vai thượng thủ vội vàng, vở diễn không thành công, người xem bỏ về nửa chừng, sân khấu hạ màn trong tức tưởi ấm ức. Lỗi tại ta mọi đàng”. Học không bao giờ muộn. Kính tâm đắc lời Thầy (Hoàng Kim xin chia sè. Xuân ấm áp tình thân) — với Hoàng Kim và 20 người khác.

SƯ PHỤ THÍCH GIÁC TÂM:ĐƯỢC HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ GHPGVN TẤN PHONG LÊN HÀNG GIÁO PHẨM HÒA THƯỢNG.Đạo hiệu: Thích Giác Tâm Sinh năm 1957 Quê quán: Xã Cát Tường, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định Nơi sinh: Xã Biển Hồ, Pleiku, Gia LaiXuất gia năm 14 tuổi với Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Hương tại chùa Bửu Minh, xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.16 tuổi thọ giới Sa Di tại Đại Giới Đàn Phước Huệ – Nha Trang do Đại lão Hòa thượng Thích Phúc Hộ chùa Đá Trắng – Phú Yên làm đàn đầu25 tuổi thọ Đại giới tại Đại Giới Đàn Báo Quốc – Huế do Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu chùa Linh Mụ làm đàn đầu.Tấn phong lên hàng giáo phẩm Thượng tọa tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ 6 năm 2007Năm 2004 – 2021 đại trùng tu chùa Bửu Minh, thôn 01 xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai Năm 2019 – 2021 khai sơn và xây dựng chùa Quảng Đức ở xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh tỉnh Gia Lai, và chùa Hương Quang ở xã Hà Tam, huyện Đăk Pơ tỉnh Gia Lai.Tham gia Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Gia Lai từ năm 1998 đến nay 2021Các chức vụ đảm trách:- Ủy viên hướng dẫn nam nữ Phật tử- Phó trưởng ban Trị sự kiêm Trưởng ban hoằng pháp- Phó trưởng ban Trị sự kiêm Trưởng ban thông tin truyền thông- Trưởng ban trị sự Phật giáo huyện Chư Păh (3 nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ 5 năm)- Ủy viên MTTQVN huyện Chư Păh (3 nhiệm kỳ) Hơn 50 năm tu học hành đạo và tham gia Giáo hội, vào ngày 31/12/2021 Hội đồng Trị sự trung ương GHPGVN tổ chức Hội nghị kỳ 6 khóa 8 tấn phong Sư Phụ lên hàng giáo phẩm Hòa thượng.Chúng đệ tử lược viết vài dòng tiểu sử trích ngang về Sư Phụ nhân ngày được tấn phong lên hàng giáo phẩm để nhớ đến hạnh nguyện của người đối với đạo pháp và dân tộc.Trong ngày hoan hỷ Sư phụ có sáng tác 2 bài thơ lục bát 4 câu:

CÔNG QUẢ

Theo thầy học đạo bao năm
Khai sơn tạo dựng khó khăn không sờn
Hôm nay công quả vuông tròn
Tấn phong giới phẩm ấn còn mai sau.

@ NGUYÊN XUÂN

Ngày đầu, đầu của một năm
Viên dung công quả trăng rằm sáng soi
Trọn tâm phụng hiến một đời
Cầu cho nước thịnh dân vơi khổ sầu.
(TGT)
—————————
Chùa Bửu Minh, ngày 01/01/2022 Đệ tử: Thích Thường Chiếu (lược ghi)

NGÀY MỚI NGỌC CHO ĐỜI
Hoàng Kim


Một đóa mai vàng ngày mới
Một lời ấm áp tình thân
Một Biển Hồ soi bóng nắng
Một Giác Tâm xa mà gần.

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bien-ho-chua-buu-minh/

Video nhạc tuyển
Lãng du trong văn hoá Việt Nam
Việt Nam quê hương tôi
KimYouTube

PHOTOGRAPHYKentWeakley

Photography by Kent Weakley·
Quà tặng cuộc sống yêu thích
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Lời biết ơn chân thành

Phú Yên nôi lúa sắn https://youtu.be/CKdEr4aS2NA

LỜI BIẾT ƠN CHÂN THÀNH
bởi Hoàng Kim và đs., 2021

Hoàng Kim tham dự hội nghị Phú Yên 31 12 2021 theo giấy mời của Chủ tịch UBND Tỉnh Phú Yên. Chúng tôi lưu trích đoạn lúa sắn thuộc lĩnh vực kỹ thuật công nghệ trong phim của Đài Phát thanh và Truyền hình Phú Yên với Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp thực hiện tháng 12 năm 2021 . Phim chiếu tại Hội nghị Tổng kết Hoạt động Khoa học Công nghệ giai đoạn 2016-2020, Định hướng Phát triển Ứng dụng KHCN & ĐMST giai đoạn 2021-2025.

Trong khi đang họp, tôi nhớ lại ký ức không quên tin nhắn “Dân vùng sắn chạy lũ” ngày 14 11 năm 2021 https://youtu.be/6nbaafj1clM; với giống sắn KM397

Nhớ chuyện “Mưa lũ gây cô lập hoàn toàn huyện Đồng Xuân” ngày 11 tháng 11, 2020 https://youtu.be/SEFBlK88b3k

Mỗi tiến bộ khoa học công nghệ ứng dụng nơi vùng sâu vùng xa nhiều khó khăn, là biết bao sự tâm huyết và cố gắng. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bao-ton-va-phat-trien-san/

Phú Yên giống sắn KM419 https://youtu.be/9RjedC3UEDs Lời biết ơn chân thành Một niềm tin thắp lửa Một niềm vui ngày mới Phú Yên nôi lúa sắn https://hoangkimlong.wordpress.com/category/phu-yen-noi-lua-san/

Phú Yên lúa sắn ngô https://youtu.be/vOFaqzCdvLA
Lời biết ơn chân thành https://hoangkimlong.wordpress.com/category/loi-biet-on-chan-thanh/
TS Nguyễn Trọng Tùng, TS Hoàng Kim và đồng sự bày tỏ lời biết ơn đất và người Phú Yên

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/loi-biet-on-chan-thanh/

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC http://hoangkimvn.wordpress.com/
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn; Kim on Facebook; Kim on Twitter

Phú Yên nôi lúa sắn

PHÚ YÊN NÔI LÚA SẮN
Hoàng Kim


Thông tin Sở Khoa học và Công nghệ Phú Yên, Hội nghị tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ Phú Yên giai đoạn 2016-2020; Định hướng phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2025. Sáng ngày 31/12/2021, tại TP Tuy Hòa, UBND tỉnh Phú Yên đã phối hợp với Sở KH&CN tổ chức hội nghị tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ Phú Yên giai đoạn 2016-2020; Định hướng phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2025. Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại TP Tuy Hòa và kết nối trực tuyến đến các thị xã, huyện trong địa phương cùng đại diện Bộ KH&CN. Chủ trì Hội nghị là đồng chí Đào Mỹ, Phó Chủ Tịch UBND tỉnh Phú Yên và đồng chí Dương Bình Phú, Giám đốc Sở KH&CN, tham dự Hội nghị còn có ông Thân Ngọc Hoàng, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển Khoa học và Công nghệ địa phương và đại diện lãnh đạo các Sở, Ban, Ngành, đơn vị, doanh nghiệp trong tỉnh; xem tiếp https://khcnpy.gov.vn/hoi-nghi-tong-ket-hoat-dong-khoa-hoc-va-cong-nghe-phu-yen-giai-doan-2016-2020-dinh-huong-phat-trien-ung-dung-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-giai-doan-2021-2025/

Phú Yên nôi lúa sắn https://youtu.be/CKdEr4aS2NA là lời biết ơn chân thành bởi Hoàng Kim và đs. 2021. Hoàng Kim tham dự hội nghị theo giấy mời của UBND Tỉnh Phú Yên. Chúng tôi lưu trích đoạn lúa sắn thuộc lĩnh vực kỹ thuật công nghệ trong phim của Đài Phát thanh và Truyền hình Phú Yên với Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp thực hiện tháng 12 năm 2021. Phim chiếu tại Hội nghị tổng kết hoạt động khoa học công nghệ giai đoạn 2016-2020, định hướng phát triển ứng dụng KHCN & ĐMST giai đoạn 2021-2025 https://youtu.be/CKdEr4aS2NA


Trong khi đang họp, tôi nhớ lại ký ức không quên tin nhắn “Dân vùng sắn chạy lũ” ngày 14 11 năm 2021 https://youtu.be/6nbaafj1clM; với giống sắn KM397

Nhớ câu chuyện “Mưa lũ gây cô lập hoàn toàn huyện Đồng Xuân” ngày 11 tháng 11, 2020 https://youtu.be/SEFBlK88b3k

Mỗi tiến bộ khoa học công nghệ ứng dụng nơi vùng sâu vùng xa nhiều khó khăn, là biết bao tâm huyết và sự cố gắng. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bao-ton-va-phat-trien-san/

Phú Yên giống sắn KM419 https://youtu.be/9RjedC3UEDs Lời biết ơn chân thành Một niềm tin thắp lửa Một niềm vui ngày mới Phú Yên nôi lúa sắn https://hoangkimlong.wordpress.com/category/phu-yen-noi-lua-san/

Phú Yên lúa sắn ngô https://youtu.be/vOFaqzCdvLA
Lời biết ơn chân thành https://hoangkimlong.wordpress.com/category/loi-biet-on-chan-thanh/
TS Nguyễn Trọng Tùng, TS Hoàng Kim và đồng sự bày tỏ lời biết ơn đất và người Phú Yên

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC http://hoangkimvn.wordpress.com/
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn; Kim on Facebook; Kim on Twitter

Sắn Phú Yên giải pháp phát triển bền vững

SẮN PHÚ YÊN GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
TS. Nguyễn Thị Trúc Mai, TS. Hoàng Kim, TS. Hoàng Long

Báo cáo Phú Yên 28 12 2021 Hội nghị “Giới thiệu về các công nghệ trong sản xuất Nông Lâm Thủy sản”, tài liệu hội nghị và bài tham luận tại Phú Yên 31 12 2021 “Hội nghị Tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ giai đoạn 2016- 2020, định hướng phát triển ứng dụng KHCN & ĐMST giai đoạn 2021-2025” UBND Tỉnh Phú Yên,

Bài học Cây Lương Thực (đọc thêm ngoài bài giảng) đôc tiếp bài “Sắn Phú Yên giải pháp phát triển bền vững” tại đây http://hoangkimlong.wordpress.com/category/bao-ton-va-phat-trien-san/

CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM
Hoàng Kim, Hoàng Long (chủ biên) và đồng sự
http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong

#CLTVN
Bảo tồn và phát triển sắn
Cách mạng sắn Việt Nam
Chọn giống sắn Việt Nam
Chọn giống sắn kháng CMD
Bạch Mai sắn Tây Nguyên
Giống sắn KM419 và KM440
Mười kỹ thuật thâm canh sắn
Sắn Việt bảo tồn phát triển
Sắn Việt Nam ngày nay
Vietnamese cassava today
Sắn Việt Lúa Siêu Xanh
Sắn Việt Nam bài học quý
Sắn Việt Nam sách chọn
Sắn Việt Nam và Howeler
Sắn Việt Nam và Kawano
Sắn Việt và Sắn Thái
Quản lý bền vững sắn châu Á
Cassava and Vietnam: Now and Then

Lúa siêu xanh Việt Nam
Giống lúa siêu xanh GSR65
Giống lúa siêu xanh GSR90
Gạo Việt và thương hiệu
Hồ Quang Cua gạo ST
Cơm Niêu Vàng Gạo Đông A
Con đường lúa gạo Việt
Chuyện cô Trâm lúa lai
Chuyện thầy Hoan lúa lai
Lúa C4 và lúa cao cây
Lúa sắn Cămpuchia và Lào
Lúa sắn Việt Châu Phi
Lúa Việt tới Châu Mỹ

Giống ngô lai VN 25-99
Giống lạc HL25 Việt Ấn


Giống khoai lang Việt Nam
Giống khoai lang HL518
Giống khoai lang HL491
Giống khoai Hoàng Long
Giống khoai lang HL4
Giống khoai Bí Đà Lạt

Việt Nam con đường xanh
Việt Nam tổ quốc tôi
Vườn Quốc gia Việt Nam
Nông nghiệp công nghệ cao
Nông nghiệp sinh thái Việt
Nông nghiệp Việt trăm năm
IAS đường tới trăm năm
Viện Lúa Sao Thần Nông
Hoàng Thành đến Trúc Lâm
Ngày Hạnh Phúc của em
Có một ngày như thế

Thầy bạn là lộc xuân
Thầy bạn trong đời tôi
Sóc Trăng Lương Định Của
Thầy Quyền thâm canh lúa
Borlaug và Hemingway
Thầy Luật lúa OMCS OM
Thầy Tuấn kinh tế hộ
Thầy Tuấn trong lòng tôi
Thầy Vũ trong lòng tôi
Thầy lúa xuân Việt Nam
Thầy Ngoạn Hồ Núi Cốc
Thầy bạn Vĩ Dạ xưa
Thầy Dương Thanh Liêm
Thầy Hiếu Đêm Giáng Sinh
Phạm Trung Nghĩa Viện Lúa
Phạm Quang Khánh Hoa Đất
Phạm Văn Bên Cỏ May

24 tiết khí nông lịch
Nông lịch tiết Lập Xuân
Nông lịch tiết Vũ Thủy
Nông lịch tiết Kinh Trập
Nông lịch tiết Xuân Phân
Nông lịch tiết Thanh Minh
Nông lịch tiết Cốc vũ
Nông lịch tiết Lập Hạ
Nông lịch tiết Tiểu Mãn
Nông lịch tiết Mang Chủng
Nông lịch tiết Hạ Chí
Nông lịch tiết Tiểu Thử
Nông lịch tiết Đại Thử
Nông lịch tiết Lập Thu
Nông lịch Tiết Xử Thử
Nông lịch tiết Bạch Lộ
Nông lịch tiết Thu Phân
Nông lịch tiết Hàn Lộ
Nông lịch tiết Sương Giáng
Nông lịch tiết Lập Đông
Nông lịch tiết Tiểu tuyết
Nông lịch tiết Đại tuyết
Nông lịch tiết giữa Đông
Nông lịch Tiết Tiểu Hàn
Nông lịch tiết Đại Hàn

Food Crops Ngọc Phương Nam
Nhà sách Hoàng Gia

Video Cây Lương thực chọn lọc :

Cây Lương thực Việt Nam Chuyển đổi số nông nghiệp, Học không bao giờ muộn Cách mạng sắn Việt Nam https://youtu.be/81aJ5-cGp28; Mười kỹ thuật thâm canh sắn : Cassava in Vietnam Save and Grow 1Daklak; Cassava in Vietnam: Save and Grow 2Daklak; Cassava in Vietnam: Save and Grow 3Daklak; Giống sắn KM410 và KM440 ở Phú Yên https://youtu.be/XDM6i8vLHcI; Giống sắn KM419, KM440 ở Đăk Lăk https://youtu.be/EVz0lIJv2N4; Giống sắn KM419, KM440 ở Tây Ninh https://youtu.be/XMHEa-KewEk; https://youtu.be/kjWwyW0hkbU; https://youtu.be/9mZHm08MskE; Trồng sắn KM419, KM98-5, KM98-1 ở Căm pu chia https://youtu.be/TpTIxv9LaFQ; Ngăn chặn lây lan CWBD bệnh chổi rồng ở Căm pu chia https://youtu.be/0gNY0KZ2nyY; Trồng khoai lang ở Hàn Quốc https://youtu.be/J_6xW3j47Sw; Trồng lúa đặc sản ở Trung Quốc https://youtu.be/rJSZfrJFluw; Trồng khoai lang tím ở Trung Quốc https://youtu.be/0CHOG3r64xs;Trồng và chế biến khoai tây ở Trung Quốc https://youtu.be/0gNY0KZ2nyYv; Làm măng ngọt giá cao ở Trung Quốc https://youtu.be/i1oFFqFMlvI; Nghệ thuật làm vườn “The life of okra and bamboo fence” https://youtu.be/kPIzBRPezY4 Bảy điều trước tiên của người Trung Quốc: Củi, gạo, dầu, muối, tương, giấm, trà | Lý Tử Thất https://youtu.be/u-xS-dkz3a0

Bài viết liên quan (Bộ môn Cây Lương thực Rau Hoa Quả)

GIỐNG SẮN KM440 TÂY NINH
Hoàng Kim, Nguyễn Thị Trúc Mai, Hoàng Long

Bảo tồn và phát triển sắn; Tin nổi bật quan tâm

#quantv#dangvanquan #CLTVN Giống sắn KM440 Tây Ninh (Cassava variety KM440 Tay Ninh), https://youtu.be/9mZHm08MskE, nông dân thường gọi là “mì tai trắng”, để phân biệt với Giống sắn chủ lực KM419 (Cassava popular variety KM419), nông dân thường gọi là “mì tai đỏ”, và Giống sắn KM94 (Cassava variety KM94), nông dân thường gọi là “mì KUC đọt tím” là giống sắn MKUC28-77-3 = KU50= KM94 được khảo nghiệm sản xuất rộng rải tại Tây Ninh năm 1994 và Bộ Nông nghiệp PTNT Việt Nam công nhận giống tiến bộ kỹ thuật đặc cách năm 1995 xem thêm https://kimyoutube.blogspot.com/2021/12/giong-san-km440-tay-ninh.html

Phú Yên nôi lúa sắn https://youtu.be/CKdEr4aS2NA

LỜI BIẾT ƠN CHÂN THÀNH
bởi Hoàng Kim và đs., 2021

Hoàng Kim tham dự hội nghị Phú Yên 31 12 2021 theo giấy mời của Chủ tịch UBND Tỉnh Phú Yên. Chúng tôi lưu trích đoạn lúa sắn thuộc lĩnh vực kỹ thuật công nghệ trong phim của Đài Phát thanh và Truyền hình Phú Yên với Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp thực hiện tháng 12 năm 2021 . Phim chiếu tại Hội nghị Tổng kết Hoạt động Khoa học Công nghệ giai đoạn 2016-2020, Định hướng Phát triển Ứng dụng KHCN & ĐMST giai đoạn 2021-2025.

Trong khi đang họp, tôi nhớ lại ký ức không quên tin nhắn “Dân vùng sắn chạy lũ” ngày 14 11 năm 2021 https://youtu.be/6nbaafj1clM; với giống sắn KM397

Nhớ chuyện “Mưa lũ gây cô lập hoàn toàn huyện Đồng Xuân” ngày 11 tháng 11, 2020 https://youtu.be/SEFBlK88b3k

Mỗi tiến bộ khoa học công nghệ ứng dụng nơi vùng sâu vùng xa nhiều khó khăn, là biết bao sự tâm huyết và cố gắng. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bao-ton-va-phat-trien-san/

Phú Yên giống sắn KM419 https://youtu.be/9RjedC3UEDs Lời biết ơn chân thành Một niềm tin thắp lửa Một niềm vui ngày mới Phú Yên nôi lúa sắn http://hoangkimlong.wordpress.com/category/phu-yen-noi-lua-san/

Phú Yên lúa sắn ngô https://youtu.be/vOFaqzCdvLA

Video yêu thích
KỶ YẾU KHOA NÔNG HỌC 65 năm thành lập Khoa
Bài học quý sức khỏe
Secret Garden, Bí mật vườn thiêng 
Nong Lam University
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter