Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời


THẦY BẠN LÀ LỘC XUÂN CUỘC ĐỜI Hoàng Kim giữa thầy quý bạn hiền, trãi nghiệm sâu sắc với thời gian, hôm nay bồi hồi vui nhớ lại. Cuộc đời yêu thương bài học quý …

NGHỊ LỰC BÀI CA THỜI GIAN

Không vì danh lợi đua chen
Thù nhà, nợ nước quyết rèn bản thân !


Hoàng Kim về lại mái trường xưa

Đâu phải bây giờ ta mới quý thời gian
Mỗi ngày đi qua
Mỗi tháng đi qua
Mỗi năm đi qua
Thấm thoắt thời gian
Nhìn sự vật đổi thay ta biết rõ

Mái tóc Thầy ta đã bạc đi già nữa
Hàng trăm bạn bè thuở ấy đã đi xa
Ta lại về đây với mái trường xưa
Thân thiết quá nhưng sao hồi hộp thế
Trăm khuôn mặt trông vừa quen vừa lạ
Ánh mắt chào đọng sáng những niềm vui

Ta chỉ là hạt cát nhỏ nhoi
Trong trùng điệp triệu người lên tuyến lửa
Giá độc lập giờ đây thêm hiểu rõ
Thắng giặc rồi càng biết quý thời gian

Đất nước ba mươi năm chiến đấu gian nan
Mỗi tấc đất đều đậm đà nghĩa lớn
Bao xương máu cho tự do toàn vẹn
Bao đồng bào, đồng chí đã hi sinh.

Ta dâng cho Tổ Quốc tuổi thanh xuân
Không tiếc sức cho cuối cùng trận thắng
Xếp bút nghiên để đi cầm khẩu súng
Càng tự hào làm người lính tiên phong

Nay trở về khi giặc đã quét xong
Trách nhiệm trao tay tiếp cầm ngọn bút
Nâng cuốn sách lòng bồi hồi cảm xúc
Ta hiểu những gì ta phải gắng công

Trận thắng hôm qua bạn góp máu hồng
Lớp học hôm nay bạn không trở lại
Trách nhiệm trong mình nhân lên gấp bội
Đồng chí ơi, tôi học cả phần anh.

Biết ơn thầy cô giáo dịu hiền
Bằng khích lệ động viên lòng vượt khó
Trăm gian nan buổi ban đầu bở ngỡ
Có bạn thầy càng bền chí vươn lên

Trước mỗi khó khăn có bạn luôn bên
Như đồng đội trong chiến hào chia lửa
Ôi thân thiết những bàn tay tập thể
Ta nhủ lòng cần xứng đáng hơn

Đâu phải bây giờ ta mới quý thời gian
Hiểu mất mát, biết tự hào phải cố
Trận tuyến mới nguyện xứng là chiến sĩ
Thiêng liêng lời thề, vững một niềm tin.

Năm tháng giữa trời Âu

Đi giữa Praha rực rỡ nắng vàng
Gió bớt thổi nên lòng người bớt lạnh
Phố xá nguy nga, nhịp đời hối hả
Gợi lòng ta uẩn khúc những suy tư

Ôi quê hương thân thiết tự bao giờ
Mỗi bước đi xa càng thêm yêu Tổ Quốc
Nhớ quê nhà nửa đêm ta tỉnh thức
Ngóng phương trời vợi vợi nhớ mênh mông

Biết ơn quê nghèo cắt rốn chôn rau
Nơi mẹ cha xưa suốt đời lam lũ
Cha giặc giết luống cày còn bỏ dỡ
Sự nghiệp này trao lại tay con

Biết ơn anh tần tảo sớm hôm
Năm năm học mỗi ngày cơm một bữa
Bắt ốc, mò cua, bền gan, vững chí
Nhắc nhở thù nhà nợ nước cho em.

Biết ơn mái trường ta đã lớn khôn
Hũ gạo nghĩa tình bạn thầy san sẽ
Những lớp đàn em bi bô tuổi nhỏ
Mang mớ rau, củ sắn giúp thầy

Sống giữa lòng dân những tháng những ngày
Anh chị góp công, bạn thầy giúp sức
Đêm trăn trở ngọn đèn khuya tỉnh thức
Nhớ một thời thơ ấu gian nan …

Biết ơn em người bạn gái thủy chung
Thương cha mẹ quý rể nghèo vẫn gả
Em gánh vác mọi việc nhà vất vả
Dành cho anh nghiên cứu được nhiều hơn

Hưng Lộc trại nhà mảnh đất yêu thương
Nơi suốt đời ta nghĩa tình gắn bó
Mảnh đất thiêng chim phượng hoàng làm tổ
Lúa, ngô, sắn, khoai, hoa, qủa dâng đời.

Đến Tây Bán Cầu bay qua giấc mơ
Nấc thang học càng vươn cao càng muốn
Dạy và học có bao giờ là muộn
Bao cuộc đời dạy và học thành công

Nhớ cuộc đời năm tháng không quên
Năm năm học mỗi ngày cơm một bữa
Đêm tỉnh thức đói cồn cào trong dạ
Vẫn gan vàng, dạ sắt, lòng son.

Nhớ ngày cha ngã xuống vì bom
Tấm áo máu suốt đời ta nhớ mãi
Trong thương đau càng quyết tâm gấp bội
Học để làm trả được nghĩa tình sâu.

Nhớ ngọn đèn chong giữa canh thâu
Những đêm lạnh của trời Hà Bắc
“Thắp đèn lên đi em!” thơ của thời đi học
Xốn xang lòng đã mấy chục năm qua

Ôi vầng trăng thăm thẳm quê ta
Và ngôi sao Mai đã thành đốm lửa
Giọt máu tim ta treo giữa trời nhắc nhở
Em bên Người năm tháng lớn dần lên

Nhớ những mùa chiến dịch thức bao đêm
Thèm một bữa cơm rau và giấc ngủ
Sau trận đánh lại miệt mài cuốn vở
Tin có ngày trở lại mái trường yêu

Bao bạn bè của năm tháng không quên
Nay vĩnh viễn nằm sâu trong lòng đất
Về thăm quê cũng người còn, người mất
Bài học trường đời chắp nối bấy năm qua

Nay cánh chim trời bay cao, bay xa
Điều kiện học khác xưa, phòng riêng ngọai quốc
Năm tháng trời Tây là niềm mơ ước
Cần phải miệt mài nghị lực gắng công

Dẫu mỗi ngày hơn tám tiếng học căng
Ngôn ngữ mới buổi đầu chưa hiểu kịp
Nổ lực học dẫu đêm về có mệt
Mỗi ngày này là vốn quý thời gian.

Chốn phồn hoa bao cám dỗ thấp hèn
Bao thèm muốn làm người ta lùn xuống
Những dễ dãi khiến lòng người dao động
Hãy cố cầm lòng bền chí học chăm.


Khoa học cây trồng là đất nước và cây
Nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ
Minh triết, phúc hậu, tận tâm suốt đời ghi nhớ
Tự thắng mình là bài học đầu tiên !

Dù mất điện hay có điện lung linh suốt đêm
Không bao giờ quên vầng trăng ngọn lửa
Ngày dẫu miệt mài
Đêm về phải cố

Khắc sâu lời nguyền xưa !

Hoàng Kim
(Rút trong tập: THƠ CHO CON)
xem tiếp

1-truongtoi

THẦY BẠN LÀ LỘC XUÂN CUỘC ĐỜI
Hoàng Kim
Bao năm Trường Viện là nhà Lúa Ngô Khoai Sắn đều là thịt xương. Một đời người một rừng cây Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng. Tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn thầy bạn dưới mái trường Nông Lâm thân thương và làm món quà nhỏ thân tặng cho các em sinh viên nghèo hiếu học nhân ngày Nhà giáo Việt Nam. Thầy, bạn là lộc xuân cuộc đời.  “Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin” (1).

Về lại mái trường ta đã lớn khôn   xem tiếp tại https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-la-loc-xuan-cuoc-doi/

 

Xem lại bài viết cùng chủ đề lưu trong tư liệu cũ năm 2010

NIỀM TIN VÀ NGHỊ LỰC SỐ 1 – 2010

FOOD CROPS
Norman Borlaug di sản, niềm tin và nghị lực  Hoàng Kim
Hiện trạng sắn Việt Nam và sự cải thiện giống sắn  Hoàng Kim
Current situation of cassava in Vietnam and the breeding of improved cultivars  Hoang Kim et al.
Giống khoai lang ở Việt Nam  Hoàng Kim
Cây sắn Việt Nam hiện tại và tiếp nối   Kazuo Kawano, Hoàng Kim
Cassava and Vietnam – Now and Then  GS.TS Kazu Kawano
Cassava in Vietnam: a successful story  Hoang Kim
Cây nhiên liệu sinh học Việt Nam điểm tin chọn lọc  Hoảng Kim
Giống sắn KM140 Giải Nhất Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Toàn Quốc 2009
Trần Công Khanh, Hoàng Kim, Nguyễn Hữu Hỹ
Xây dựng nông thôn mới    GSTS Nguyễn Văn Luật
Xây dựng thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam TS Trần Văn Đạt

DẠY VÀ HỌC
Goodreads for Me  Hoang Kim
Google câu chuyện thần kỳ HK điểm sách của David Vise và Mark Malseed
Thông dịch là chìa khóa mở cửa nhìn ra thế giới HK giới thiệu ba bài Văn Bảy
Rèn nhân cách để lập nghiệp HK giới thiệu bài của GS Nguyễn Đình Chú
Thích Thanh Từ   biên khảo của Hoàng Kim
Nhớ Nguyễn Khải  biên khảo của Hoàng Kim
Hoàng Đình Quang  biên khảo của Hoàng Kim
Đến với những bài thơ hay   HK giới thiệu thơ Nguyễn Duy
Đến với những bài thơ hay 2  HK giới thiệu thơ Phím chiến

THUNG DUNG
Dạo chơi non nước Việt   thơ Hoàng Kim
Trúc Lâm Yên Tử  thơ Hoàng Kim
Lên Yên Tử sưu tầm thơ đức Nhân Tông  thơ Hoàng Kim
Lời của Thầy theo mãi bước em đi Hoàng Kim
Niềm vui lớn  Hoàng Kim
Học đi con  thơ Hoàng Kim
Những bài thơ em và tôi  thơ Hoàng Kim
Hoa đồng nội   thơ Hoàng Kim
Tháng bảy mưa ngâu thơ Hoàng Kim
Thư cho con giữa mùa thi thơ Hoàng Kim

Cavalier: Poems of hope, faith and courage
Thung dung: thơ của hi vọng niềm tin và nghị lực
http://hubpages.com/hub/Cavalier-Poems-of-hope-faith-and-courage

 


Kỉ yếu Nong Lam University

Nong Lam University
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Advertisements

Thầy ơi


THẦY ƠI. Tưởng nhớ Thầy Nguyễn Khoa Tịnh  Hoàng Kim Thầy ơi, em nặng lòng với Huế Mừng duyên lành con em xe về miền Trung Nơi Lộc Khê Hầu nguyên vẹn công nghìn năm mở cõi  Với dòng sông Hương soi bóng núi Ngự Bình. Bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên“ của thầy Nguyễn Khoa Tịnh và bài thơ “Lời của Thầy theo mãi bước em đi” lâu nay tôi vẫn giữ riêng mình. Con gái đầu lòng của gia đình tôi khi yêu thương gả về xứ Huế thăm thẳm trong tôi là lời “Thầy ơi”. Hôm nay nhà giáo nhà báo Lê Quang Vinh và nhà giáo nhà thơ Ma Thi Len đã thức tỉnh tôi viết tiếp về Thầy. 

Tôi chưa hề gặp chị Ma Thi Len ngoài đời mà chỉ biết tiếng và hiểu chị qua mạch văn. Chị chép bài thơ thầy Tịnh và bài thơ của tôi về trang nhà. Tôi đọc lời cảm nhận và lặng lẽ ghé sang đọc trang chị rồi bất chợt bắt gặp một bài viết mới đây của chị về câu chuyện thơ nghe thật thấm thía. Tôi bần thần tự hỏi: “Có khi nào một người làm thơ gặp một người bình thơ mà bài bình thơ đã ám ảnh người làm thơ suốt đời, nâng bước và thay đổi chính số phận của người đó như câu chuyện này hay chưa?. Thầy Tịnh đã làm được chuyện đó. Thơ của thầy là thể loại ‘thơ truyền thống’ thật đặc biệt và lối bình thơ đặc biệt. Xin đối chiếu với câu chuyện chị kể. Chị viết:

Sáng nay , 15/11/2017 , các thành viên ” Hoa giữa Đại ngàn ” nghe nhà thơ gạo cội Vũ Quần Phương nói về thơ ” Cách tân ” và thơ ” Truyền thống ” . Ông cũng đã phân tích thơ Tố Hữu và thơ Hồ Chí Minh. Đây là hai nhà thơ không chuyên . Vì yêu thơ nên trong khi hoạt động Cách mạng đã “xuất khẩu” thành thơ. Tố Hữu tự nhận mình là nhà thơ nghiệp dư nhưng là nhà Cách mạng chuyên nghiệp . Thơ là để hỗ trợ, phục vụ tuyên truyền cho Cách mạng dễ thấm, dễ hiểu, dễ đi vào lòng người. Còn Bác Hồ, thơ đã giúp cho Bác lạc quan, yêu đời trong đấu tranh Cách mạng. Vũ Quần Phương phân tích về bốn câu thơ của Bác khi Bác bị bắt tại Trung Quốc giam chung cùng các phạm nhân hình sự rằng: khi dẫn Nguyễn Ái Quốc vào phòng giam thì đã chật ních người không còn chỗ ngồi. Chỉ còn một chỗ, đó là cái hố vệ sinh có đậy nắp. Người buộc phải ngồi lên đó và làm thơ, nghĩ về những gì sẽ diễn ra sắp tới . Đó là ngày mai và cũng là tương lai của cuộc Cách mạng nước nhà sắp tới sẽ thế nào . Người viết :

Đi bộ
Năm mươi ba cây số một ngày
Mũ áo dầm mưa rách hết giày
Lại khổ thâu đêm không chỗ ngủ
Ngồi trên hố xí đợi ngày mai!
Đó. Chúng ta hãy học tư tưởng, tác phong, đạo đức, cách sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh!

Vũ Quần Phương còn nói về tình bạn giữa Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi . Khi nói về tình bạn thì dù có vướng mắc gì, một trong hai người hãy xuống nước, chủ động bắt chuyện ,bày tỏ với người kia. Tình bạn giống như cái cây bị héo, nếu ta chăm tưới tắm cho nó thì nó sẽ tốt tươi, phát triển .

Thơ “Cách tân ” hay thơ mới hiện nay có tạp thơ của Hoàng Xuân Tuyền ra mắt dịp kỹ niệm 1005 năm Thăng Long – Hà Nội ( 2015 ) , viết phản ảnh đời sống thực tại hiện thời .

Ngày nay, người người làm thơ, nhà nhà làm thơ, cả nước làm thơ . Việt Nam ta là một đất nước của thơ ca. Đó cũng là truyền thống của Ông Bà, Cha Mẹ chúng ta nên mới có nhiều Ca dao, Dân ca như thế . Nhưng thơ là tiếng lòng, thơ là cuộc sống. Phải viết sao cho sống động và thật nhằm phục vụ cuộc sống con người .

Ông cũng nói về vấn đề Tự do. Tự do là quyền lợi, quyền sống của con người . Nhưng Tự do để làm gì? Mục đích của Tự do là gì? Và phải làm gì để Tự do có mục đích và ý nghĩa Chứ không phải đòi Tự do rồi chẳng làm gì cả, chẳng giúp ích gì cho ai cả . Thì cái Tự do đí chẳng có ý nghĩa gì !

Bài nói chuyện khá bổ ích cho những người làm thơ nghiệp dư chúng tôi! Xin cảm ơn !”

Tôi chép lại đoạn văn trên và muốn trò chuyện với chị: “Thưa chị Ma Thị Len và anh Lê Quang Vinh. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh dạy sử không dạy văn. Thuở đó thầy Phạm Ngọc Căng và thầy Hồ Ngọc Diệp dạy văn. Nhưng đôi khi thầy Tịnh dạy văn khi thầy văn ốm. Anh Lê Quang Vinh đã nhớ đúng”.

Tôi cũng chưa nghe cô Vinh và các con thầy nói về thơ của thầy nhưng bài thơ “Bài ca Trường Quảng Trạch” của thầy Trần Đình Côn và bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên” cùng những lon gạo nghĩa tình mà thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng, đọc và vận động thầy bạn chia sẻ cho người học trò nghèo mồ côi, mãi mãi là bài thơ ấn tượng và sâu sắc nhất cuộc đời tôi.

Cám ơn anh Lê Quang Vinh và chị Ma Thị Len về sự đồng cảm này.
Xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/2016/11/25/thay-oi/

Lời của Thầy theo mãi bước em đi

NHỚ THẦY. Hoàng Kim trước tượng Phan Bội Châu, nhớ thầy Nguyễn Khoa Tịnh và bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên“. …”Thầy truyền cho chúng em niềm tin Đạo làm người, lòng yêu nước Em càng thấm thía vô cùng Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp, Phan Châu Trinh, …Đều yêu nghề dạy học.”

Thầy thung dung bước lên bục giảng
Buổi học cuối cùng “Tổng kết sử Việt Nam”
Tiếng Thầy ấm trong từng lời nói
Như muốn truyền cho các em
Tất cả những niềm tin.

Đôi mắt sáng lướt nhìn toàn bộ lớp
Thầy có dừng trên khuôn mặt nào không ?
Thầy có tin trong lớp còn ngồi học
Có những em nung nấu chí anh hùng.

Các em hiểu những gì
Trong tim óc người Thầy
Mái tóc đà điểm bạc
Em biết Thầy tâm huyết rất nhiều
Trên mười năm dạy học
Vẫn canh cánh trong lòng
Luôn tìm kiếm những người
Có chí lớn
và tấm lòng yêu nước
thương dân.

Mười năm
Thức đo thời gian
Dài như cả nỗi đau chia cắt
Sương bạc thời gian phôi pha mái tóc
Câu chuyện mười năm Đông Quan dạy học
Hẳn nhiều đêm rồi
Thầy nhớ Ức Trai xưa?

Mười năm
Trang lòng, trang thơ
Nhớ tráng sĩ Đặng Dung đêm thanh mài kiếm
Ôi câu thơ năm nào
giữa lòng Thầy xao xuyến
“Anh hùng lỡ vận ngẫm càng cay”

Mười năm
Dằng dặc thời gian
Đo lòng Thầy nhớ miền Nam tha thiết
Em tin trong lòng Thầy
Luôn âm ỉ cháy lửa lòng yêu nước
Thầy có tin rằng trong lớp
Có người trò nghèo
Chí nối Ức Trai xưa.

“Dẫu đất này khi thịnh khi suy
Song hào kiệt đời nào cũng có”

Thầy giảng Đại cáo bình Ngô
Liên hệ chuyện chân chúa Nguyễn Hoàng
âm thầm tìm kiếm Đào Duy Từ …
cũng như chuyện “Tam cố thảo lư”
anh em Lưu Bị
vượt núi thẳm, mưa tuyết, đường xa
ba lần đến Long Trung
tìm kiếm Khổng Minh Gia Cát
tuổi chỉ đáng bằng tuổi con mình
nhưng trọng dụng kỳ tài
đã tôn làm quân sư cùng lo việc nước…

Thầy kể chuyện Đào Duy Từ xưa
Bậc khai quốc công thần nhà Nguyễn
dựng nghiệp nhọc nhằn, người hiền lắm nạn
cha mẹ chết oan, chiếc lá giữa dòng…
Đào Duy Từ còn mãi với non sông:
Người có công nghiệp lẫy lừng chẳng kém Ngọa Long
Định Bắc, thu Nam, công đầu Nam tiến.
Người tổ chức phòng ngự chiều sâu
Hoành Sơn, Linh Giang, Lũy Thầy
minh chúa, quân giỏi, tướng tài, ba tầng thủ hiểm
Người xây dựng nên định chế đàng Trong
một chính quyền rất được lòng dân
nức tiếng một thời.
Người viết nên kiệt tác Hổ trướng khu cơ,
tuồng Sơn Hậu, nhã nhạc cung đình
là di sản muôn đời.
Trí tuệ bậc thầy, danh thơm vạn thuở …

Thầy giảng về bài học lịch sử Việt Nam
những người con trung hiếu
tận tụy quên mình vì dân vì nước
hẳn lòng Thầy cháy bỏng khát khao
vượng khí non sông khí thiêng hun đúc
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Có nông phu ham học, chăm làm
Mà thao lược chuyển xoay thời vận.

Ôi sử sách cổ kim bao nhiêu gương sáng
Học sử ai người biết sử để noi?

“Lịch sử dân tộc mình
Những năm bảy mươi
Các em sẽ là người viết tiếp
Điểm theo thời gian
Truyền thống ông cha xưa
Oanh liệt vô cùng”

Tiếng Thầy thiết tha
Truyền nguồn cảm xúc
Các em uống từng lời
Lắng nghe từng chữ
Lời tâm huyết thấm sâu vào lòng em:
“Nung gan sắt để dời non lấp bể
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”
Em đã tìm được trong Thầy
Một người anh
Một người đồng chí
Em vững tin trong sự nghiệp cứu dân
Hẳn có lòng Thầy luôn ở bên em!

Thầy nói nhiều về Việt Nam thân yêu
Dựng nước gian nan, người dân còn khổ
Mắt Thầy thiết tha quá chừng
Làm em mãi nhớ
Thầy truyền cho chúng em niềm tin
Đạo làm người, lòng yêu nước
Em càng thấm thía vô cùng
Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa
Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Thiếp, Phan Châu Trinh, …
Đều yêu nghề dạy học.

Tổ Quốc cần, gọi em về phía trước
“Em ơi em, can đảm bước chân lên!” (1)
Em sẽ khắc trong lòng
Những lời dạy đầu tiên!

Lời của Thầy theo mãi bước em đi.

Hoàng Kim
Rút trong tập THƠ CHO CON

(1) bài thơ của thầy Nguyễn Khoa Tịnh
Em ơi em can đảm bước chân lên“. (ở đây)
http://webcache.googleusercontent.com/search…


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính 
Hoàng Kim
, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con

Trở về đầu trang
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam   Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Có một ngày như thế

Hoi dong Huong Quang Binh 1CÓ MỘT NGÀY NHƯ THẾ
Quê hương xa mà gần
Hội Đồng Hương họp mặt
Ngày Nhà giáo Việt Nam

Thầy giáo chín mười xuân
Cười bảy hai trẻ chán
Đùa sáu ba còn sớm
Dạy và học suốt đời

Đường vui đời thênh thênh
Học thầy và học bạn
Mãi miết khát khao xanh
Về Chứa chan Chưa chán

Có một ngày như thế
Háo hức chờ tin vui …
xem tiếp … https://hoangkimlong.wordpress.com/category/co-mot-ngay-nhu-the/

HỘi ĐỒNG HƯƠNG QUẢNG BÌNH TẠI TP HỒ CHÍ MINH
Chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20. 11.

 

2017-11-16_Ngayvui

2017-11-16_Niemvuingaymoi

Trần Đình Lý đã thêm 6 ảnh mới — cùng với Lan Hoàng12 người khác tại Nhà hàng Thu Hiền. Thành phố Hồ Chí Minh Lần đầu tiên Hội đồng hương Quảng Bình tại TP. HCM tổ chức Chúc mừng Ngày Nhà giáo VN 20-11. Còn thiếu khá nhiều Thầy Cô (Thầy Cô thông cảm) nhưng sự có mặt (đại diện) của 8 trường ĐH, Học Viện trên địa bàn TP sẽ là sự khởi đầu cho những năm sau. Cảm ơn BCH HĐH tỉnh, CLB nhà báo/ Doanh nghiệp/ Luật sư Người Quảng Bình tại TP.HCM!”

 


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Im lặng mà bão giông


Im lặng mà bão giông, khoảnh khắc mà trường cửu, tưởng như vô định nhưng đang thấu mọi cõi” Võ Nguyên Giáp, Văn Cao  ảnh Nguyễn Đình Toán thật đẹp và cảm khái.
Tôi (Hoàng Kim) cũng tưởng sẽ có một khoảng lặng mới quay lại với những bài viết về đại tướng Võ Nguyên Giáp khi tôi đã đăng mười bài về Người trên DANH NHÂN VIỆT

1) Nhân cách lớn của đại tướng Võ Nguyên Giáp
2) Tướng Giáp trí tuệ bậc Thầy
3) Võ Nguyên Giáp sao sáng trời Nam
4) Võ Nguyên Giáp vị nhân tướng khuyến học
5) Võ Nguyên Giáp thiên tài quân sự
6) Đại tướng Võ Nguyên Giáp chân dung một huyền thoại
7) Võ Nguyên Giáp đọc lại và suy ngẫm
8) Đọc lại và suy ngẫm Tết Mậu Thân 1968
9) Võ Nguyên Giáp vị tướng của lòng dân
10) Võ Nguyên Giáp tự trong sâu thẳm.

Nhưng tự trong sâu thẳm, tôi  vẫn không thể cưỡng được ý muốn viết tiếp đôi lời. Hôm nay cũng vậy, nhân Chào ngày mới 15 tháng 11 tưởng nhớ ngày sinh Văn Cao, nhạc sĩ nổi tiếng, tác giả quốc ca Việt Nam, tôi lại ngắm nhìn bức ảnh của Văn Cao với đại tướng Võ Nguyên Giáp và lời bình thật hay của nhà nhiếp ảnh danh tiếng Nguyễn Đình Toán mà nhớ tới và thật thấm thía lời bình của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trong bài viết “Tướng Giáp, người anh hùng của độc lập Việt Nam, đã qua đời” : “Giải tỏa tấn bi kịch vô hình khủng khiếp đè lên con người đó, bỏ qua mọi thứ “công tội” do chính cái chủ nghĩa mà con người đó theo đuổi, trả lại cho con người đó cái giá trị đích thực của một vị tướng đánh trận tài năng, phải nói chính là vòng tay ân nghĩa của nhân dân.“Về nghỉ là thượng sách. Thử điểm lại lịch sử xưa nay có tướng nào giành được chiến công lẫm liệt mà không đi kèm thân bại danh liệt hay không?”.


Lắng nghe lại Mùa xuân đầu tiên Tác giả: Văn Cao, Ca sĩ:Thanh Thúy

Đọc lại và suy ngẫm  VÕ NGUYÊN GIÁP VỊ TƯỚNG CỦA LÒNG DÂN  Hoàng Kim đăng trên  DANH NHÂN VIỆT ngày 5 tháng 10 năm 2013 ngay sau ngày Người mất http://danhnhanviet.blogspot.com/2013/10/vo-nguyen-giap-vi-tuong-cua-long-dan.html


Hoàng Kim

 

 

(Tài liệu dẫn:

VÕ NGUYÊN GIÁP VỊ TƯỚNG CỦA LÒNG DÂN

Võ Nguyên Giáp 103 mùa xuân huyền thoại, vị tướng của lòng dân, còn mãi với non sông. Người dĩ công vi thượng, biết người biết mình, dám đánh và biết đánh thắng, nhà chỉ huy quân sự thiên tài và hoạt động chính trị lỗi lạc bên cạnh chủ tịch Hồ Chí Minh. Hiếm có vĩ nhân nào văn võ song toàn được lòng dân ngưỡng mộ kính trọng đến thế.

Võ Nguyên Giáp 103 mùa xuân huyền thoại

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911, qua đời lúc 18g 9 phút ngày 4 tháng 10 năm 2013, quốc tang của nước Việt Nam và an táng ngày 9 tháng 9 năm Quý Tỵ (13/10/2013)tại mũi Rồng- đảo Yến, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Võ Nguyên Giáp trong cuộc trường chinh thế kỷ là nhà chỉ huy quân sự thiên tài và hoạt động chính trị lỗi lạc bên cạnh chủ tịch Hồ Chí Minh suốt cuộc chiến tranh ba mươi năm (1945-1975). Người đạt sự kính trọng hiếm thấy của toàn dân Việt Nam và sự ngưỡng mộ sâu sắc của toàn thế giới. Người không chỉ là vị anh hùng dân tộc lỗi lạc, Đại tướng đầu tiên, Tổng tư lệnh tối cao của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người chỉ huy chính trong Chiến tranh Đông Dương (1946–1954) và chiến tranh Việt Nam (1960–1975) mà còn là bậc danh nhân văn hóa tài đức vẹn toàn, “trung với Nước, hiếu với Dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng “. Người thực sự “dĩ công vi thượng” đặt lợi ích của Nhân Dân, Đất Nước lên trên hết, toàn tâm toàn ý vì Nước, vì Dân. Người là vị Phó Thủ tướng phụ trách Khoa học Kỹ thuật sau khi Việt Nam thống nhất, Chủ tịch Ủy ban quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch. Người đã đề xuất những kiến nghị đặc biệt “cơ bản và cấp bách”, các dự báo, chiến lược, quyết sách thiên tài, mang tầm vóc trí tuệ bậc Thầy, có giá trị kinh điển rất cao mà các bậc hiền tài của Việt Nam và Thế giới đều cần Đọc lại và Suy ngẫm. Cuộc đời của Người là 103 mùa xuân huyền thoại.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp hoặc tham gia chỉ huy hầu hết các chiến dịch quan trọng như Chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947), Chiến dịch Biên giới (thu đông năm 1950), Chiến dịch Trung Du (tháng 12 năm 1950), Chiến dịch Đông Bắc (năm 1951, Chiến dịch Đồng Bằng (tháng 5 năm 1951), Chiến dịch Hòa Bình (tháng 12 năm 1951), Chiến dịch Tây Bắc (tháng 9 năm 1952), Chiến dịch Thượng Lào (tháng 4 năm 1953), Chiến dịch Điện Biên Phủ (tháng 3 – 5 năm 1954), Chiến dịch Tết Mậu Thân (1968), Chiến dịch đường Chín Nam Lào 1971, Chiến dịch Trị Thiên – Huế năm 1972, Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.

Sau khi Việt Nam thống nhất, đại tướng Võ Nguyên Giáp thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng năm 1980 nhưng vẫn tiếp tục là Ủy viên Bộ Chính trị đến năm 1982 và Phó Thủ tướng phụ trách Khoa học – Kỹ thuật. Năm 1983 ông được Hội đồng Bộ trưởng phân công kiêm nhiệm thêm vai trò Chủ tịch Ủy ban quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch. Năm 1991, đại tướng nghỉ hưu ở tuổi 80.

Thời gian cuối đời, đại tướng vẫn quan tâm đến những vấn đề cơ bản và cấp bách của đất nước, với một loạt những tác phẩm, kiến nghị, đề xuất còn mãi với thời gian như: Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi; Để cho khoa học thật sự trở thành động lực phát triển kinh tế xã hội, Đổi mới, tiếp tục đổi mới, dân chủ, dân chủ hơn nữa, nâng cao trí tuệ, đoàn kết tiến lên trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, Đổi mới nền giáo dục và đào tạo Việt Nam; yêu cầu kiểm định và báo cáo Đại hội Đảng Cộng sản X về Vụ PMU18; gặp gỡ và khuyến khích doanh nhân làm xuất khẩu nông sản; đề nghị dừng chủ trương xây dựng Nhà Quốc hội ở khu di tích 18 Hoàng Diệu; viết thư yêu cầu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tạm dừng Dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên vì lý do an ninh quốc gia và vấn đề môi trường; đúc kết Tổng tập Võ Nguyên Giáp;…

Những tác phầm chính của đại tướng Võ Nguyên Giáp:

Tổng tập Võ Nguyên Giáp (…, 2010); Điện Biên Phủ 50 năm nhìn lại (2004); Tổng hành dinh trong mùa xuân đại thắng (2000); Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử (2000); Đường tới Điện Biên Phủ (…, 2001); Chiến đấu trong vòng vây (1995,… 2001); Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (1979); Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam (Võ Nguyên Giáp chủ biên, 2000); Những chặng đường lịch sử (1977); Vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân (1972); Những năm tháng không thể nào quên (1970,…, 2001) Mấy vấn đề đường lối quân sự của Đảng (1970); Từ nhân dân mà ra (1964); Đội quân giải phóng (1950); Vấn đề dân cày (Trường Chinh,Võ Nguyên Giáp (1938);

Đại tướng Võ Nguyên Giáp những câu nói bất hủ:

“Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ sống mãi”;”dĩ công vi thượng”; “dám đánh và biết đánh thắng”; “Ý định của tôi là ra lệnh hoãn cuộc tiến công ngay chiều hôm nay, thu quân về vị trí tập kết, chuẩn bị lại theo phương châm đánh chắc, tiến chắc”; “Ngày hôm đó, tôi đã thực hiện được một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình!”; “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!”; “Chúng tôi đánh theo cách đánh khác, cách đánh của Việt Nam, và chúng tôi sẽ thắng”; “Vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình”;”Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó”…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp lời vàng còn mãi với thời gian.

Võ Nguyên Giáp vị tướng của lòng dân

Bác Giáp là vị tướng của lòng dân mà hầu như ai cũng yêu kính rất mực. Chiều tối qua, trên chuyến xe từ Trường về nhà, tôi chưa hay tin Bác Giáp mất nên còn hào hứng trao đổi với PGS. TS. Lê Huy Hàm, Viện Trưởng Viện Di Truyền Nông nghiệp Việt Nam, về việc cùng nhau phối hợp chọn tạo giống lúa cao sản xanh (Green Super Rice -GSR) tại Phú Yên và Gia Lai. Đồng thời phối hợp thu thập hạt lai giống sắn quý KM419, KM140, …để chiếu xạ tạo giống mới. Tôi kể cho anh nghe lời của giáo sư Nhật Kazuo Kawano đã xúc động ngưỡng mộ bác Giáp như thế nào trong tài liệu: Sắn Việt Nam hiện tại và tương lai (Cassava and Vietnam: Now and Then). Giáo sư đã viết:”Mười năm hợp tác chặt chẽ với các đồng nghiệp chọn tạo giống sắn của tôi từ những năm 1990 và nay gặp lại họ trong chuyến đi này đã hoàn toàn thay đổi sự đánh giá của tôi về Việt Nam. Bằng chứng trong hàng loạt các báo cáo của tôi ở đây, thì họ thật siêng năng, sâu sắc, chu đáo và dường như không biết mệt mỏi để noi theo gương của Đại tướng Võ Nguyên Giáp” (My ten years of close collaboration with my cassava breeding colleagues in the 1990s and the reunion with them in this trip completely changed my assessment of the Vietnamese. As evidenced by the series of my reporting here, they are industrious, insightful, considerate and indefatigable, as if to emulate General Vo Nguyen Giap …).

Buổi tối về nhà, nghe tin Bác Giáp mất, tôi dừng hết mọi việc để lên thắp hương trên bàn thờ Cha tôi để tưởng nhớ Cha và tưởng nhớ Bác Giáp (Bài viết này vào lúc một giờ khuya và nối tiếp vào sáng hôm sau). Cha tôi sinh năm 1913 nhỏ hơn Bác Giáp hai tuổi, bị máy bay Mỹ bắn chết năm 1968 vào ngày 29 tháng 8 âm lịch, trước ngày Bác Giáp mất (30/8) một ngày. Sinh thời cha tôi là lính Vệ Quốc Đoàn cùng tiểu đội với bác Lê Văn Tri sau này là Phó Tư Lệnh Quân chủng Phòng Không Không Quân. Anh Hoàng Trung Trực và tôi sau này cũng tham gia quân đội.

Cha vợ tôi, cụ Nguyễn Đức Hà 91 tuổi ở Đức Long, Phan Thiết, nghe tin Bác Giáp mất, cụ đã đi xe đò từ lúc 2 giờ khuya để mờ sáng kịp vào Đồng Nai cùng con cháu đi viếng Bác. Cụ là chiến sĩ quân báo của đơn vị 415 ban 2 trung đoàn anh hùng 812 tỉnh đội Bình Thuận. Cụ đã bị lao tù hai lần và chỉ được ra khỏi tù khi bộ đội vào giải phóng lao xá năm 1975. Cụ đã rất xúc động khi viết vào sổ tang của người anh Cả quân đội.

Ở đất nước mình biết bao nhiêu gia đình cha con, anh em nối nhau cầm súng… Biết bao gia đình thành kính tưởng nhớ Đại tướng như gia đình con thành kính tiễn Người .
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong số ít những vĩ nhân mà nhân cách, cuộc đời và sự nghiệp được lòng dân ngưỡng mộ và kính trọng sâu sắc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh được tôn vinh là Người Cha thân yêu của lực lượng vũ trang “bộ đội cụ Hồ” và đại tướng Võ Nguyên Giáp là người anh Cả của quân đội như lời của nhà thơ Hoàng Gia Cương:

Mãi mãi là Anh

Kính tặng anh Văn -Đại tướng Võ Nguyên Giáp-

Anh đã là Anh – mãi mãi Anh
Người Anh của lớp lớp hùng binh
Song toàn văn võ, thông kim cổ
Vững chí bền gan đạp thác ghềnh!

Lòng dân và Đại tướng Võ Nguyên Giáp:

“Văn lo vận nước Văn thành Võ/ Võ thấu lòng dân, Võ hoá Văn”. Đó là đôi câu đối của cụ Hồ Cơ trên 90 tuổi, từng là Hiệu trưởng trường Trung học Nguyễn Nghiêm, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, nay sống ở phường Láng Hạ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, khái quát tài năng, đức độ của vị Đại tướng huyền thoại, đăng trong bài”Một câu đối – Một đời người” của VOV. Sự ra đi của Võ Đại tướng đã mở đầu cho những giá trị mới của cuộc sống như một câu đối khác cũng của nhà giáo Hồ Cơ ngưỡng vọng Người: “Trăm tuổi lừng danh Văn Đại tướng/ Nghìn thu vang tiếng Võ Anh hùng”. Nhà văn Sơn Tùng có bức trướng: “Võ nghiệp dẹp xong ba đế quốc/ Văn tài xây đắp một nhà chung/ Võ Văn minh đạo chân Nguyên Giáp/ Nhật nguyệt vô thường một sắc không”. Bộ Nội vụ tặng Đại tướng đôi lộc bình trên đó có ghi đôi câu đối mang ý nghĩa sâu xa : “Tâm sáng Đảng tin, đời trường thọ/ Trí cao Dân mến, sử lưu danh.” mà tài liệu Soha.vn đã trích dẫn. Nhiều bài thơ văn nhạc viết về Người và đồng đội “Lính Cụ Hồ” theo chân Người.

Tôi ứa nước mắt thấm thía lời dạy của Bác Giáp về lòng yêu nước và sức mạnh toàn dân:”Có lòng dân là có tất cả”.

Võ Nguyên Giáp còn mãi với non sông

Nhà sử học Dương Trung Quốc nhận định: “Võ Nguyên Giáp là một tên tuổi lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam và càng lớn hơn trong tâm thức những người sống cùng thời với ông. Cuộc đời Võ Nguyên Giáp là một tấm gương phản chiếu của gần trọn thế kỷ XX, thế kỹ dữ dội nhất và cũng bi hùng nhất của dân tộc Việt Nam”.

John Kennedy phỏng vấn đại tướng Võ Nguyên Giáp và đã viết bài “Trí tuệ bậc Thầy” đăng trên tạp chí George tháng 11 năm 1998, bản tiếng Việt trong sách Hữu Mai 2011 “Không là huyền thoại” (tái bản lần thứ tư) trang 564-569. John Kennedy đã viết: “Giáp từng nói: Chúng ta sẽ đánh bại địch ngay lúc chúng đông quân nhất, nhiều vũ khí nhất, nhiều hi vọng chiến thắng nhất. Bởi vì tất cả sức mạnh đó sẽ làm thành áp lực nặng nề cho địch” Bởi vậy ông chiến đấu theo cách của riêng ông, không theo kiểu của người Mỹ , giao chiến với địch ngay tại nơi và ngay khi địch ít ngờ tới nhất. Ông đã huy động tất cả mọi người tham gia cuộc chiến, làm cho lính Mỹ xa nhà hàng ngàn dặm, không bao giờ có thể cảm thấy an toàn. Ông đã duy trì cuộc chiến đấu dai dẵng, làm cho nguồn lực và nhuệ khí của địch cạn kiệt, trong khi phong trào phản chiến ở Mỹ bùng phát”. Đó là một cách lý giải về nghệ thuật chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ mà tướng Giáp là trí tuệ bậc Thầy.

Trần Đăng Khoa kể về một ông già bản mà nhà thơ đã gặp trên đường vào Mường Phăng. Ông già hồ hởi: ” Chuyện Đại tướng chứ gì? Đại tướng thì tôi biết. Tôi cũng đã mấy lần gặp Đại tướng rồi. Vùng này là quê của Đại tướng đấy. Năm nọ Đại tướng có về quê. Đại tướng nói chuyện với đồng bào bằng tiếng dân tộc. Đại tướng là già làng của chúng tôi đấy. Nhà Đại tướng ở chỗ kia kìa…” Nói rồi, ông già chỉ lên núi Mường Phăng. Một dải rừng xanh um giữa mênh mông đồi trọc. Ở Điện Biên và cả mấy vùng lân cận, rừng cơ bản đã bị phá xong. Nửa đêm, tôi còn thấy những dải lửa cháy rừng rực vắt giữa lưng chừng trời. Đồng bào đốt nương đấy. Chẳng còn cách nào ngăn được. Đói thì phải phá rừng. Rừng núi nhiều nơi đã trơ trụi, nhưng Mường Phăng thì vẫn um tùm rậm rạp như rừng nguyên sinh. Tôi đã đi dưới những tầng cây ấy, nghe chim rừng hót ríu ran. Một làn suối âm thanh trong trẻo và mát rượi rót xuống từ lưng chừng trời. Không một rảnh cây nào bị chặt phá hay bị bẻ gẫy. Ở đây, người dân còn đói cơm, thiếu mặc, nhưng họ vẫn nâng niu gìn giữ khu rừng. Họ tự đặt tên cho khu rừng là “Rừng Đại tướng”. Đấy là ngôi đền thiêng, ngôi đền xanh thiên nhiên mà người dân đã tự lập để thờ ông. Đối với vị tướng trận, đó là hạnh phúc lớn. Một hạnh phúc mà không phải ai cũng có được trong cõi trần này…

Chiến tranh đã qua lâu, đã có cả núi sách của phương Tây và Việt Nam viết về cuộc chiến này với nhiều nghiên cứu công phu về đánh giá thời cuộc. Sự khai sinh của nước Việt Nam mới và cuộc chiến giành độc lập thống nhất tổ quốc gắn liền với hai vĩ nhân chói sáng nhất lịch sử dân tộc Việt ở thế kỷ XX. Đó là Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp.

Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp còn mãi với non sông.

Hoàng Kim

Video yêu thích
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thựcDạy và HọcTình yêu cuộc sốngKim on LinkedInKim on Facebook   Kim on Twitter

Những vần thơ yêu thương

Những vần thơ yêu thương Thuận Nghĩa Chí Thắng Hoàng Kim

Hôm về em ngọt tiếng ru hời

một hôm em về đồng rộng
một hôm em về khơi xa
hình như anh ngồi trên cát
khe tay vốc chảy nuột nà

hình như anh ngồi với hát
vuốt lời có cánh bay qua
đám mây dưới lời bàng bạc
môi em trôi dải lụa là

một hôm em về tán lá
một hôm em về gốc cây
anh như dế mèn thuở nọ
tanh tách đá hẫng chân ngày

anh như dế mèn năm ấy
phiêu lưu trong tiếng ru đêm
môi rằm ngang trời ngầy ngậy
cắn lên anh miếng dịu mềm

một hôm em về ghế đá
một hôm em về công viên
anh thành một nhành cỏ úa
run lên dưới gót ảo huyền

một hôm đột nhiên là thật
(ước thế có làm sao không?)
bàn tay nắm nhau rất chặt
mình đi đến tận vô cùng

là hôm rất chi dễ chịu
anh như cái gã thợ cày
ngửa nằm bên bờ ruộng cạn
ngắm nhìn cò lã lơi bay

và em con chim chiền chiện
lích chích trên nhành bông lau
được không xin làm ngọn gió
vời nâng cánh em qua đầu

và em con chuồn chuồn ớt
về cay cay một khoảng đời
anh tô lên hoàng hôn đỏ
hẹn một chân trời sinh sôi

anh tô lên đôi mày ấy
màu của buổi chiều vô ưu
một hôm em về là vậy
giấc anh lìm lịm ngủ vùi

một hôm em về là vậy
ngọt lành đưa những tao nôi
anh như những ngày thơ dại
bình yên trong tiếng ru hời...

Thuận Nghĩa
Mùa Trăng Tròn

Ở đâu

Ở đâu có một ngôi nhà bé
Cửa sổ đèn khuya bóng em ngồi
Giai điệu dân ca ngân nhè nhẹ
Tự tình dạ khúc gửi xa xôi

Ở đâu có một khuôn vườn lặng
Em nở dùm tôi những nụ hồng
Chim hót chào reo bình minh nắng
Sương mòn xao xuyến như mắt mong

Ở đâu có một trời thương nhớ
Em thấu dùm tôi nỗi cháy lòng

Ở đâu có một con thuyền nhỏ
Chở những vần thơ tôi sang sông

Phan Chí Thắng

Lời thương

Lời ru yêu thương của mẹ
Tiếng lòng đằm thắm của cha
Nỗi nhớ thèm như bầu sữa
An nhiên nhú giữa ông bà

Có một vườn thiêng cổ tích
Nước xanh cây xanh cỏ xanh
Tung tăng bướm tung tăng gió
Say mê chim hót đầu cành

Nơi có một trời thương nhớ
Suốt đời ta chẳng quên nhau
Suối nhạc hồn thơ rộng mở
Đất thương trời bắc nhịp cầu …

Hoàng Kim

 

Video yêu thích

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thựcDạy và HọcTình yêu cuộc sốngKim on LinkedInKim on Facebook   Kim on Twitter

 

Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ

NGUYỄN DU VÀ NGUYỄN CÔNG TRỨ
Hoàng Kim
ngắm tập sách Nguyễn Du truyện Thúy Kiều, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu đính ẩn giấu một bí mật lắng đọng vô giá (*). Nhớ lại câu chuyện ngày 11 tháng 10 năm 2012, Phan Lan Hoa có bài viết hay “Em xin làm lẽ Nguyễn Công Trứ”, tôi thảng thốt giật mình vì bài luận quá hay, sâu sắc, nên vui đùa lại và cầu thân kết nghĩa: ” Vô nhà đã thấy THƯƠNG, Vì Dặm ân TÌNH, thuyền quyên ứ hự VUI làm thiếp. Ra ngõ rồi thêm NHỚ, Linh Giang ơn NGHĨA, anh hùng khấp khởi SƯỚNG gặp em.” Nhà văn thầy giáo Nguyễn Thế Quang, tác giả của hai cuốn tiểu thuyết “Nguyễn Du” và “Thông reo ngàn Hống” với Ví dặm ân tình sau này đã khuyến khích tôi viết chuyên khảo về “Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ”. Năm năm qua tôi chỉ mới viết được chùm bài “Nguyễn Du 250 năm nhìn lại” mà thư mục “Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ” lại chưa kịp bổ sung, nay xin duyệt lại và hiến tặng bạn đọc.  https://hoangkimlong.wordpress.com/categoryguyen-du-va-nguyen-cong-tru/

(*) Tập sách Nguyễn Du truyện Thúy Kiều, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu đính ẩn giấu một bí mật lắng đọng vô giá. Tôi (Hoàng Kim) đến thăm cụ Hải Như nhà thơ lớn Việt Nam. Tôi thưa với cụ rằng tôi tìm được sách ‘Truyện Thúy Kiều’ do hai cụ Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu đính có lưu dấu một số ẩn ngữ quan trọng rõ nhất là trên trang bìa và hai bài tựa của sách in mà các bản về sau đều không thấy có. Từ bản này luận ra sách này in đúng bản phường gần gũi hơn với bản gốc của cụ Nguyễn Du, vì chứa đựng những chi tiết khác mà bản kinh của triều Nguyễn đã kiểm duyệt cắt bỏ và chỉ cho phép ấn hành bản đang được dùng rộng rãi sau này. Trong dòng văn chương ưu thời có  lẽ nên phân biệt rõ thêm kiểu Nguyễn Du và kiểu Nguyễn Công Trứ. Tôi sẽ bổ sung thông tin phần này trong một chuyên luận tại thời điểm thích hơp.

Các bậc thầy Van Quyen Mai, Ngoke Suong, To Le Van, Khai Vutrong, Vu Trinh … và những nhà văn, thơ, tư pháp mê Kiều như các anh Bu Lu Khin, Phan Chi, và các bạn Lâm Cúc, Huynh Thi Kim Em … hẵn đồng tình với tôi rằng: Cho đến nay đánh giá Thúy Kiều mà thực chất là đánh giá Nguyễn Du hình như chưa có một phán quyết nào, lời bình nào hay và sâu sắc hơn “Vịnh Thúy Kiều” của Nguyễn Công Trứ. Bài thơ “Vịnh Thúy Kiều” của Nguyễn Công Trứ là lời (công tố, thẩm phán, luật sư?) thách đố với lịch sử “trơ gan cùng tuế nguyệt” ẩn ngữ đời người. Bài thơ này chỉ có thế giải đáp mật ngữ đồng thời với lời thơ Nguyễn Du: “Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”. (Ba trăm năm nữa chốc mòng. Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như?). Nguyễn Công Trứ “Vịnh Thúy Kiều” nhưng thực là nhằm vào Nguyễn Du.

VỊNH THÚY KIỀU

Nguyễn Công Trứ

Từ Mã Giám Sinh cho tới chàng Từ Hải.
Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu.
Bây giời Kiều còn hiếu vào đâu.
Mà bướm chán ong chường cho đến thế.
Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa.
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm.
Bán mình trong bấy nhiêu năm.
Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai”.

Nguyễn Công Trứ (1778-1858) con người ấy, sự nghiệp ấy thật không tầm thường, khẩn điền mở cõi giúp dân, ra tướng võ vào tướng văn, Uy Viễn phong lưu rất mực: “Ngồi buồn mà trách ông xanh/ Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười/ Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo/ Giữa trời vách đá cheo leo/ Ai mà chịu rét thì trèo với thông.” Nguyễn Công Trứ kém Nguyễn Du 13 tuổi và cùng đồng hương Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Ông là vị tướng văn võ song toàn, phong lưu đa tình, gian thần đời loạn năng thần đời trị, có công với triều Nguyễn trong cai trị, dẹp loạn. Ông cùng chủ kiến với Gia Long, Minh Mệnh ra tay trước (tiên phát chế nhân) để chặn bước những người xuất chúng và các thế lực tiềm tàng ngấp nghé ngai vàng, trong đó có Nguyễn Du. Nguyễn Công Trứ luận về Thúy Kiều nhưng thực chất là luận về Nguyễn Du: “Bán mình trong bấy nhiêu năm, Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai.” Nguyễn Công Trứ thân mật hay chống đối Nguyễn Du đó là điều hậu thế cần lý giải cho đúng? Biết đúng Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ thật không dễ.

Nguyễn Du không chịu theo Nguyễn Huệ như Ngô Thì Nhậm cũng không sớm theo Nguyễn Ánh như Đặng Trần Thường mà chỉ chấp nhận ra làm quan triều Gia Long sau mười lăm năm lưu lạc khi thế nước đã phân định rõ ràng. Cuộc đời Nguyễn Du sau mười lăm năm lưu lạc là làm hiền triết giữa đời thường và chốn quan trường. Nguyễn Du ra làm quan Tri huyện Sơn Nam, Cai bạ Quảng Bình, Hàn Lâm Đại học sĩ, Chánh sứ của triều Nguyễn sang sứ nhà Thanh, (tương đương các chức vụ Chủ tịch huyện, Tỉnh trưởng, Bộ trưởng Giáo dục, Bộ trưởng Ngoại giao thời nay). Nguyển Du viết sách Bắc Hành tạp lục kiệt tác sử thi, chính kiến ngoại giao đánh giá bao quát mọi thời của Trung Quốc và kiệt tác Truyện Kiều là bài ca muôn thuở về tình yêu cuộc sống của dân tộc Việt. Nguyễn Du mất mà không để lại lời dặn dò gì.

Thúy Kiều với nguyên mẫu là Hồ Xuân Hương (Hồ Phi Mai) có nhiều kiệt tác thơ dân gian đời thường và thơ Hán Nôm, tiêu biểu nhất là Lưu Hương Ký. Trang thơ Hồ Xuân Hương 154 bài trên Thi Viện có nhiều bài rất hay: “Độ Hoa Phong” là Hạ Long tuyệt bút yêu thiên nhiên, Bài thơ “Miếu Sầm thái thú” cao vọi tầm tư tưởng nhân hậu và khí phách đảm lược của một kỳ tài, thơ tôn vinh phụ nữ và giải phóng con người, “Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu” tri âm tri kỹ nghĩa tình bền vững, “thơ Nôm truyền tụng” thanh tục đời thường, như có như không. “Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” là kiệt tác thơ tình yêu của Hồ Xuân Hương thuộc dạng thơ hát nói.

TỎ Ý

Hồ Xuân Hương
tặng Mai Sơn Phủ (Nguyễn Du)

(Bản dịch của Hoàng Kim)

Hoa rung rinh,
Cây rung rinh,
Giấc mộng cô đơn nhớ hương tình,
Đêm xuân bao cảm khái.

Hươu nơi nao
Nhạn nơi nao
Mình ước trong nhau ban mai nào
Lòng em thương nhớ ai thấu sao!

Sông mênh mông
Nước dạt dào
Lòng hai chúng mình đều ao ước
Nước mắt thầm rơi mặn chát.

Thơ thương thương,
Lòng vương vương,
Ấm lạnh lòng ai thấu tỏ tường,
Bút người tả xiết chăng?

Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Đâu là gác Đằng Vương ?
Mây vương vương
Nước sương sương
Mây nước chung nhau chỉ một đường
Dặm trường cách trở thương càng thương.

Ngày thênh thênh,
Đêm thênh thênh,
Đêm ngày khắc khoải nhớ thương anh,
Người ơi đừng lỡ hẹn sai tình.

Gió bay bay
Mưa bay bay
Mưa gió giục em viết thơ này
Bút xuân gửi đến người thương nhớ

Anh đồng lòng
Em đồng lòng
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm (*)
Thơ cùng ngâm
Rượu và trăng
Thăm thẳm buồn ly biệt
Vầng trăng chia hai nửa
Cung đàn ly khúc oán tri âm (**),
Thôi đành bặt tiếng hồ cầm
Núi cao biển sâu đằng đẳng
Xin chớ tủi buồn mà than cổ kim.

Chàng hẹn gì
Ta hẹn gì
Hai ta đều muộn, nói năng chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Lời và chữ còn đó
Ai là kẻ tình si
Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì
Hãy nên trao gửi mối duyên đi
Lòng son ai nỡ phụ.

Truyện Thúy Kiều của Nguyễn Du “Gương trong chẳng chút bụi trần. Một lời quyết hẵn muôn phần kính thêm. Bấy lâu đáy biển mò kim. Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa? Ai ngờ lại hợp một nhà. Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm! Nghe lời sửa áo cài trâm. Khấu đầu lạy trước cao thâm nghìn trùng. Thân tàn gạn đực khơi trong. Là nhờ quân tử khác lòng người ta. Mấy lời tâm phúc ruột rà. Tương tri dường ấy mới là tương tri!”. Kim Vân Kiều tái hợp. Lưu Hương Ký với Truyện Thúy Kiều là một ẩn ngữ tình yêu cuộc sống.

Hoàng Kim về bến Giang Đình xưa nơi Nguyễn Du viết Kiều và Nguyễn Công Trứ cùng Nguyễn Du đàm đạo. Non xanh còn đó, nước biếc còn đây, rác còn nhiều nhưng nước non vẫn vậy.

Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ văn chương giống và khác nhau thế nào? Trong tác phẩm “Có ba dòng văn chương“. Hoàng Kim thăm nhà thơ Hải Như (thân phụ của anh Hanh Vu ) và trò chuyện với anh Hoàng Đình Quang  đã nhận xét: “Dòng văn chương Xu thời quá phổ biến trong mọi xã hội. Dòng văn chương Ưu thời có hai dạng loại của Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, Khang Hi và Vi Tiểu Bảo. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh nói “Có những tác phẩm văn chương hướng đến những giá trị nhân văn đặc biệt sâu xa như món ăn trong thờ cúng, dẫu một con ruồi nhỡ rơi vào và đã được vứt đi nhưng cảm giác sẽ không bằng thức ăn hoàn toàn tinh khiết ”. Nguyễn Du là biểu tượng của dòng văn chương ưu thời thứ nhất. Nguyễn Công Trứ là biểu tượng của dòng văn chương ưu thời thứ hai. Dòng văn chương xu thời quá phổ biến trong mọi xã hội là dòng văn chương thứ ba.

Tôi yêu Kiều Nguyễn Du.

Hoàng Kim

 


Kiều – Nguyễn Du
Ca trù hát nói Việt Nam

Non xanh xanh

Nước xanh xanh
Sớm tình tình sớm, trưa tình tình trưa
Áy ai tháng đợi năm chờ
Mà người ngày ấy bây giờ là đây…

Hồng Hồng Tuyết Tuyết ca trù hát nói tinh hoa cổ văn chương Việt) NS Quách Thị Hồ

Những bài viết có liên quan

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook   Kim on Twitter