Kiệt tác của tâm hồn

KIỆT TÁC CỦA TÂM HỒN
Hoàng Kim


tôi may mắn được trãi nghiệm ở Brazil bốn danh thắng và kiệt tác: 1) Rio de Janeiro thành phố núi và biển, một trong bảy kỳ quan thế giới mới nổi tiếng rất xinh đẹp; 2) Thác nước Iguaçu giữa Brazil và Achentina; 3) Ngọc lục bảo Paulo Coelho, “O Alquimista” cuốn sách bán trên 65 triệu bản, lượng phát hành chỉ sau kinh Thánh, mang thông điệp nhân văn “Hãy sống trọn vẹn ước mơ của mình” tiếng nói yêu thương con người và khai mở tâm linh vũ trụ; 4) 500 năm nông nghiệp Brazil, “Land and Food 500 years of Agriculture in Brazil” cuốn sách cẩm nang nghề nghiệp đặc biệt quý giá do các bạn Brazil tặng, giúp chỉ dấu quan trọng của sự nhận thức và phương pháp luận học tập nghiên cứu giảng dạy nông nghiệp sinh thái để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật định hướng tầm nhìn tốt hơn.

Rio de Janeiro thành phố núi và biển
Trong tháng 5 và tháng 6 năm 2003, tôi được khảo sát một số nước trọng điểm sắn ở châu Phi và châu Mỹ, trong đó có Brazil và Colombia và tham dự Hội thảo sắn CIAT ở Colombia “Phát triển của một giao thức cho các thế hệ sắn đơn bội kép và sử dụng chúng trong chọn giống” (The Development of a Protocol for the Generation of Cassava Doubled-Haploids and their Use in Breeding). Dịp may này đã giúp tôi được làm việc với nhiều người bạn tốt tại EMBRAPA (Empresa Brasileira de Pesquisa Agropecuária) – CNPMF, Brazil và được chiêm ngưỡng Rio de Janeiro thành phố núi và biển, Di sản thế giới UNESCO, một trong bảy kỳ quan thế giới mới nổi tiếng xinh đẹp và quyến rũ; được thăm và làm ở một số nơi và thác nước  Iguazu nằm trên sông Iguazu thuộc hai vườn quốc gia Brazil (bang Paraná) và Achentina (tỉnh Misiones) một thắng cảnh cực kỳ tuyệt đẹp.

Rio de Janeiro thành phố đẹp giữa núi và biển được khám phá lần đầu tiên ngày  1 tháng 1 năm 1502 do một đoàn thám hiểm của Bồ Đào Nha trở thành những người châu Âu tìm đến vùng đất mới Rio, nay là thành phố Rio de Janeiro tại Brasil, Di sản thế giới được công nhận bởi UNESCO, một trong bảy kỳ quan thế giới mới.

Tượng Chúa Cứu Thế tại Rio de Janeiro của Brasil đã cùng với Vạn Lý Trường Thành, Đấu trường La Mã, Chichén Itzá , Machu Picchu,  Petra, Taj Mahal, làm thành  bảy kiệt tác kiến trúc nghệ thuật mới của văn minh nhân loại do mạng lưới toàn cầu bình chọn, bên cạnh Bảy kỳ quan thế giới cổ đại

Rio de Janeiro là thành phố ở phía nam của Brasil với diện tích 1260 km² và dân số 5,6 triệu người nhưng toàn vùng đô thị Rio de Janeiro có dân số lên đến 11,6 triệu người.  Rio đã từng là thủ đô của Brasil giai đoạn 1763-1960 và thuộc Đế quốc Bồ Đào Nha từ 1808- 1821. Thành phố kỳ diệu này nổi tiếng với phong cảnh tự nhiên, nhạc samba và các lễ hội carnival, các loại hình âm nhạc khác và các  bãi biển. Sân bay quốc tế Galeão – Antônio Carlos Jobim kết nối Rio de Janeiro với nhiều chuyến bay quốc tế với các thành phố khắp trên thế giới và các tuyến điểm nội địa của Brasil. Thành phố Rio de Janeiro có  nhiệt độ ôn hòa. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 °C đến 26 °C. Do vị trí địa lý gần biển, gió thay đổi hướng thường xuyên, nên thành phố  thường hứng các đợt lạnh từ Nam Cực vào mùa thu và mùa đông. Hầu hết mùa hè thường có mưa rào gây lũ và lở đất. Các vùng núi có lượng mưa lớn hơn vì núi chắn luồng gió ẩm thổi đến từ Đại Tây Dương. Rio thuộc vùng khí hậu savan nhiệt đới rất gần với ranh giới khí hậu nhiệt đới gió mùa và thường đặc trưng bởi mùa mưa kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ mùa hè trên 27°C giống điều kiện mùa hè ở Nam Bộ Việt Nam.

Thác nước Iguaçu giữa Brazil và Achentina

Thác nước Iguazu được bảo vệ bởi hai vườn quốc gia là vườn quốc gia Iguaçu của Brazil và vườn quốc gia Iguazú của Argentina. Cả hai vườn quốc gia này lần lượt được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1984 và 1986. Đây cũng là một trong những khu vực bảo tồn rừng lớn nhất ở Nam Mỹ. Thác nước Iguaçu nổi tiếng thế giới Ngày 11 tháng 11 năm 2011, thác nước Iguazu đã được công bố là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên của tổ chức Bảy kỳ quan thế giới mới (NOWC) Thác nước  Iguazu cũng thường được so sánh với thác nước Victoria ở châu Phi, cũng là thác nước nổi tiếng ngăn cách Zambia và Zimbabwe. Thác Iguazu rộng hơn, nhưng bởi vì nó được chia thành khoảng 275 thác nước nhỏ bởi các đảo nhỏ nên thác Victoria là “bức màn lớn nhất” của các thác nước trên thế giới, với chiều rộng trải dài hơn 1.600 m và cao 100 m. Địa hình của Brasil phân bố rất đa dạng và phức tạp. Đất đai Brazil phần lớn giống đất đai vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Tôi có nhiều hình ảnh đẹp chụp cùng các bạn EMBRAPA, thong thả sẽ hiến tặng bạn đọc.

Ngọc lục bảo Paulo Coelho

Ngày xưa có một người thợ đá thử 999.999 viên đá, đến viên đá cuối cùng đã tìm được một viên ngọc lục bảo quý giá vô ngần. Paulo Coelho là ngọc lục bảo của đất nước Brazil. Tác phẩm của ông “O Alquimista” là kiệt tác của tâm hồn. Tiểu thuyết này được dịch ra 56 thứ tiếng, bán chạy chỉ sau kinh Thánh, đến năm 2008 đã bán được hơn 65 triệu bản trên toàn thế giới. Cuốn sách với tựa đề tiếng Anh là “The Alchemist” do Alan R. Clarke chuyển ngữ, và bản tiếng Việt có tựa đề là “Nhà giả kim” do Lê Chu Cầu dịch, Công ty Văn hóa Truyền thông Nhã Nam và Nhà Xuất bản Văn hóa in và phát hành.  Điều gì đã làm cho nhà văn Brazil này được đọc nhiều nhất thế giới như vậy?

Bạn vào Google+ có thể nhanh chóng tìm thấy trang Paulo Coelho với ghi chú: Làm việc tại escritor; Đã theo học Santo Inacio, Rio de Janeiro; Hiện sống tại Genebra, Confederação Suíça; 2.125.931 người theo dõi và 89.976.943 lượt xem. Bạn cũng vào trang FaceBook và thấy Paulo Coelho với trên 27,897,938 người thích.

Paulo Coelho
sinh ngày 24 tháng 8 năm 1947 là tiểu thuyết gia nổi tiếng người Brasil. Ông sinh tại Rio de Janeiro, bố ông là kỹ sư Pedro Queima de Coelho de Souza (đã mất năm 2011) mẹ là Lygia Coelho. Paulo Coelho có một em gái tên là Sonia Coelho. Ông vào học trường luật ở Rio de Janeiro, nhưng đã bỏ học năm 1970 để du lịch qua Mexico, Peru, Bolivia, Chile, châu Âu và Bắc Phi. Sau đó, ông trở về Brasil viết tiểu thuyết và cộng tác với một số nhạc sĩ như Raul Seixas soạn lời cho nhạc pop và nhạc dân tộc Brasil. Ông kết hôn với Christina Oiticica, sinh ngày 23 tháng 11 năm 1951 là một họa sĩ sinh ra và lớn lên tại thành phố Rio de Janeiro, Brasil, sau này trở thành một danh họa của trường phái sơn dầu nghệ thuật đất và sinh thái. Bà có phòng tranh riêng tại hơn sáu mươi phòng trưng bày trong hai mươi quốc gia. Vợ chồng của Paulo Coelho và Christina hiện định cư tại Rio de Janeiro  của Brasil, vừa có nhà riêng tại Tarbes ở Pháp.

Paulo Coelho sống khỏe bằng nghề viết văn. Ông là tác giả viết sách  tiếng Bồ Đào Nha bán chạy nhất mọi thời đại. Những sách của ông bán chạy nhất tại Brasil, Anh, Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Canada, Ý, Israel, Hy Lạp. … Sách của ông đã được dịch ra 56 thứ tiếng và bán ra hơn 86 triệu bản của trên 150 nước. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng của các nước và tổ chức quốc tế, trong đó có nhiều giải thưởng rất danh tiếng.

O Alquimista
là kiệt tác của tâm hồn, với tựa đề tiếng Anh là “The Alchemist” do Alan R. Clarke dịch, có lẽ là tiểu thuyết danh giá và thành công nhất của Paulo Coelho. Sách đến năm 2008 đã bán được hơn 65 triệu bản trên thế giới và được dịch ra 56 thứ tiếng, trong đó có bản có tiếng Việt với tựa đề là Nhà giả kim. Tác phẩm này được dựng thành phim do Lawrence Fishburne sản xuất, vì diễn viên này rất hâm mộ Paulo Coelho. Trong danh sách những người mến mộ tác phẩm khắp thế giới có cả cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton.

Điều gì đã làm cho tác phẩm này được nhiều người yêu mến đến vậy?

Tôi có ba điều tâm đắc nói về tác phẩm.

Thứ nhất. O Alquimista là kiệt tác của tâm hồn, mang thông điệp nhân văn “Hãy sống trọn vẹn ước mơ của mình!” tiếng nói yêu thương con người và khai mở tâm linh vũ trụ. Trước đây Goethe với sử thi Faust, Nỗi đau của chàng Werther đã nói lên những khát vọng ước mơ vươn tới của con người. Paulo Coelho qua câu chuyện sử thi về một cậu bé chăn cừu chí thiện và khát khao đi đến tận cùng của ước mơ. Cậu thích chăn cừu để được đi đó đây, vui thú với thiên nhiên và lao động hồn hậu, nghị lực, cẩn trọng, trí tuệ và cố gắng không ngừng.

Thứ hai. Văn của Paulo Coelho giản dị, trong sáng, minh triết, sáng sủa lạ lùng, rất giàu chất thơ và nhạc. Bản gốc O Alquimista tiếng Brazil theo lời của những người bạn của tôi ở EMBRAPA họ rất tự hào giới thiệu và ngưỡng mộ là Paulo Coelho viết văn Brazil rất hay. Về bản tiếng Anh cũng vậy được rất nhiều người thích. Bản tiếng Việt do Lê Chu Cầu dịch Công ty Văn hóa Truyền thông Nhã Nam và Nhà Xuất bản Văn hóa in và phát hành tôi say mê đọc thật thích thú. Văn chương đích thực của Paulo Coelho đã vượt qua được rào cản ngôn ngữ. Điều đó rõ ràng là chất lượng ngôn ngữ hàng đầu.

Thứ ba. Paulo Coelho thấu hiểu và hoạt dụng những bí nhiệm của cuộc Đại Hóa. Đoạn trích kinh Thánh Tân Ước, Lukas 10: 38-42, ở đầu sách; Phần “Vào truyện” nói về sự tích hoa Thủy tiên ở đầu sách và phần Phụ lục kể câu chuyện về Thánh nữ và Chúa Hài Đồng ở cuối sách đã chứng tỏ sự huyền diệu của kiệt tác. Paulo Coelho thật khéo kể chuyện. Lối dẫn truyện của ông hay ám ảnh.

Paulo Coelho thấu hiểu và hoạt dụng những bí nhiệm của cuộc Đại Hóa“. Đề từ Kinh Thánh Tân Ước, Lukas 10: 38-42, Vào truyện Sự tích hoa Thủy tiên ở đầu sách và Chuyện Thánh nữ và Chúa Hài Đồng ở cuối sách là sự huyền diệu của kiệt tác. Các bạn sinh viên đừng bao giờ coi thường PHẦN ĐẦU và  PHỤ LỤC cuối luận văn. Những phần này dễ lơ đểnh bỏ qua nhưng thường là phần tinh tế của một kiệt tác. Một số nhà khoa học và nhà văn không thành công là khi sản phẩm khoa học và tác phẩm chưa đến được đông đảo tận tay của người tiêu dùng. Kho báu chính mình là ở chỗ đó. Nguyên bản O Alquimista gốc tiếng Bồ Đào Nha có phần đề từ, vào truyện và phụ lục mà bản dịch sách tiếng Anh đã “lược bỏ ” nhưng dịch giả Lê Chu Cầu đã “thêm vào” trở lại đúng nguyên tác trong bản dịch tiếng Việt. Đó là một trong ba điều mà tôi chợt ngộ được về trí tuệ bậc Thầy của một nhà văn lớn. Paulo Coelho thật khéo kể chuyện thấu hiểu và hoạt dụng những bí nhiệm của cuộc Đại Hóa mà những nhà văn tài giỏi đôi khi lơ đểnh bỏ qua. Tôi sẽ chép lại đầy đủ nguyên văn ba đoạn trích TUYỆT HAY này trong bài viết “Trí tuệ bậc Thầy” nhưng trước hết xin trích dẫn những lời đề từ tuyệt hay làm người đọc chú ý hơn đối với tác phẩm

* Hẹn gặp ở Samarra” của John O’Hara

Thần chết nói:

Có một thương gia ở thành Baghda sai một đầy tớ ra chợ mua thức ăn về để dành. Một lúc sau người đầy tớ quay về, mặt mày tái mét, toàn thân run lẩy bẩy. Hắn nói: “Thưa ông chủ, đúng lúc tôi vào chợ thì một bà già trong đám đông xô phải tôi. Khi quay lại nhìn, tôi thấy đó chính là Thần chết. Bà ta nhìn tôi, làm một cử chỉ đe dọa. Cầu xin ông chủ cho tôi mượn con ngựa của ông, tôi sẽ mau chóng chạy khỏi thành phố này để trốn thoát số phận. Tôi sẽ đến Samarra, Thần chết sẽ không thể tìm thấy tôi ở đấy”. Thương gia cho tên đầy tớ mượn con ngựa của mình. Người đầy tớ nhảy ngay lên lưng ngựa, đạp mạnh đinh thúc ngựa, người và ngựa phóng đi hết tốc lực. Sau đó người chủ đi ra chợ nhìn thấy ta trong đám đông, bèn đến gần và nói: “Này, sao ngươi lại đe dọa đứa con ở của ta khi ngươi gặp nó sáng nay?”. “Ta đâu có làm cử chỉ đe dọa gì”, ta đáp, “ta chỉ ngạc nhiên khi gặp hắn ở Baghda bởi vì ta hẹn gặp hắn tối nay ở Samarra kia mà”. -W- Somerset Maugham

Bay trên tổ chim cúc cu của Kenn Keyse  

Tặng Vico Lowell, người đã bảo tôi rằng loài rồng không hề có, nhưng rồi lại đưa tôi đến hang ổ của chúng. “Ai đi đâu ai về đâu/ Ai bay trên tổ vượt đầu cúc cu”

*  “Mặt trời nhà Scozta” của Gaudé

Một chiều
chúng tôi đi dọc một con đồi,
thầm lặng.
Trong bóng tối
hoàng hôn dần tắt,
em họ tôi
chàng hộ pháp
vận toàn đồ trắng,
bước chân bình thản,
gương mặt đồng hun,
lặng lẽ.

Im lặng
là đức tính của chúng tôi.
Cụ tổ chúng tôi xưa
ắt là cô đơn lắm
– một vĩ nhân giữa bầy đàn ngu xuẩn
hay một người điên bất hạnh –
nên mới truyền dạy chúng tôi
một im lặng nhường này.

CESARE PAVESE, “I mari del Sud” trong Lavorare stanca
* “Hoàng tử bé” của Saint – Exupéry do Bùi Giáng dịch,
ông thêm vào lời đề từ của chính ông.

Bích câu đâu nữa bóng chàng Uyên
Sông núi thô sơ bặt tiếng Huyền
Có lẽ hồn ta không đẹp nữa
Nét thần thôi họa bức thiên duyên.

Đề từ “Nhà giả kim” của Paulo Coelho

Kính tặng J, người đã thấu hiểu và hoạt dụng những bí nhiệm của cuộc Đại Hóa.

Chúa Jesu và các môn đệ tiếp tục đi, đến một làng nọ. Một cô gái tên Marta rước người vào nhà. Em gái cô là Maria ngồi dưới chân Người nghe giảng dạy, còn Marta thì bận rộn lo tiếp đãi Người. Rồi cô phàn nàn rằng: “Chúa không thấy em con để một mình con làm hết mọi việc sao? Xin Chúa hãy bảo nó phụ con với!”. Chúa mới bảo cô: “Marta ơi, Marta. Con bận rộn, lo lắng nhiều việc quá. Nhưng chỉ có một việc thật cần thiết thôi và Maria đã chọn phần việc ấy thì không ai truất phần của em con được.”

Thánh Kinh Tân Ước, Lukas 10:38-42

*

Thật may mắn khi gặp được kiệt tác của tâm hồn khai mở hạnh phúc lòng ta tỉnh lặng và yêu thương hơn. Thiên nhiên, Tình yêu, Tình bạn, Việc tốt, Nhà ở, Sách hay, Hoa đẹp và Thú cưng, Niềm vui Khoa học Nghệ thuật là tám cánh cửa niềm vui đời người. Sách hay là bí quyết trường thọ, trí tuệ túi khôn nhân loại, cội nguồn tri thức, kỳ quan thế giới, bổ rẻ hiệu quả, mọi lúc mọi nơi mọi lứa tuổi. Đọc lại và suy ngẫm. Bao kiệt tác thấm thía, dễ tiếp nhận, dễ kiếm là sách hay.

KHÍ – SINH NĂNG QUAN TRỌNG NHẤT CỦA CON NGƯỜI NHƯNG LẠI BỊ QUÊN LÃNG
Thầy Duy – Nam Y Thiện Dược
Chữa người bệnh, không chữa chứng bệnh.
http://www.namythienduoc.com/ DtDĐ 091 887 87 37

(lâu lâu đăng lại cho người chưa đọc)Trong Đạo học, nền tảng của Y học phương đông cho rằng mọi hình thái sự sống trong vũ trụ đều được bắt nguồn từ một dạng năng lượng gọi là Khí. Theo nghĩa dễ hiểu khí là không khí, là hơi thở và đồng thời là sinh năng, một từ tương đương với từ Prana trong yoga Ấn Độ. Tựa như Đạo, Khí là thứ không thể trông thấy được, nó không có hình dạng, lặng lẽ nhưng lại thâm nhập vào mọi thứ trong vũ trụ.

Cơ thể con người là một tiểu vũ trụ thu nhỏ nên khí có mặt khắp nơi dưới nhiều dạng khác nhau len lỏi khắp các tế bào, cung cấp năng lượng duy trì hoạt động của các cơ quan tạng phủ trong cơ thể từ khi mới thụ thai cho đến khi qua đời. Nhưng thật tiếc là đến giờ khoa học vẫn chưa thể tiếp cận và nghiên cứu về dạng năng lượng quan trọng bậc nhất này từ đó dẫn đến sự hạn chế trong phương pháp điều trị các loại bệnh cho con người.

Y học cổ truyền được phát triển qua các bậc thầy Đạo gia, những con người lỗi lạc với tầm hiểu biết bao quát và nhìn nhận sâu xa từ Tuệ năng chứ không từ trí năng như người thường, đã nhìn ra tầm quan trọng của khí đối với sự sống để từ đó đúc kết thành các phương pháp giúp phục hồi cũng như nâng cao Khí trong cơ thể con người thông qua các phương pháp tập luyện hít hở ( khí công, dưỡng sinh) và sử dụng thảo dược để tiếp thêm Khí từ ngoài vào. Hầu như tất cả những người luyện tập khí đều có một sức khoẻ vượt trội và tuổi thọ hơn người và hơn hết là một tâm trí minh mẫn sáng suốt đến cuối đời.

NGUYÊN KHÍ – SINH NĂNG CỦA SỰ SỐNG.

Bên trong con người Khí có nhiều dạng khác nhau, và Nguyên khí mà một dạng sinh năng quan trọng nhất bởi nó quyết định tình trạng sức khoẻ, thể lực cũng như tuổi thọ của một người. Nguyên khí có thể được coi như một bình Ắc quy, một cục pin vô hình cung cấp năng lượng duy trì sự sống 70 năm cho nhục thân hoạt động. Nó được hình thành vào lúc thụ thai giữa tinh cha và huyết mẹ, ở những hơi thở đầu tiên của sự sống được đưa vào bào thai trong bụng mẹ.

Nguyên khí bắt đầu hao hụt tan biến khi đứa trẻ chào đời, tỉ lệ tan biến nhanh hay chậm của nguyên khí quyết định tuổi thọ củ một đời người. Đây là lý giải tại sao người sống thọ, người chết sớm dù sinh hoạt gần giống nhau. Và lý do tại sao trẻ em sung sức và năng lượng hơn người lớn là vì sinh năng ban đầu của chúng không bị ô nhiễm và tan biến nhiều như người lớn, chúng vẫn được sạc đầy năng lượng từ bình ắc quy nhằm duy trì sự vận hành của tạng phủ ở mức tốt nhất.

Chính sự sinh hoạt mất cân đối, thức khuya, nhậu nhẹt, thủ dâm, quan hệ tình dục quá nhiều, ăn uống vô tội vạ các loại thực phẩm không tốt… làm hao hụt đẩy nhanh tốc độ tan biến của nguyên khí trong cơ thể khiến cho sức sống và tuổi thọ con người ngắn lại rất nhiều.

Nếu nguyên khí được bồi bổ và tăng cường qua thảo dược, ẩm thực, hít thở đúng cách, tập thể dục, yoga, khí công… những phương pháp này như việc nạp lại năng lượng ( sạc pin) cho bình ắc quy nguyên khí của cơ thể từ đó kéo dài sinh lực và tuổi thọ cho con người.

Khi người cha và người mẹ khoẻ mạnh, nguyên khí đầy đủ thì con cái hầu như là khoẻ mạnh. Ngược lại, cha mẹ yếu nhược, việc mang thai của người mẹ gặp vấn đề về ăn uống, thai nghi không được hấp thụ đầy đủ khí từ cha mẹ va ăn uống nên đứa trẻ ra đời với nguyên khí không đầy đủ ( Đông y xếp và chứng bệnh Tiên thiên bất túc) đưa nhỏ sẽ phát triển chậm chạm, sức khỏe kém, èo uột khó nuôi.

Sự tan biến của nguyên khí là để khí hoá tạo thành năng lượng cung cấp cho sự hoạt động của các cơ quan tạng phủ trong cơ thể. Chúng ta bị hiểu sót khi cho rằng máu và dinh dưỡng mới là năng lượng chính cho cơ thể hoạt động, nhưng các nhà khí công đã chứng minh điều này khi nhịn ăn liên tục 1 tháng hoặc lâu hơn, thập chí cả năm (khi ở trạng thái nhập định) mà cơ thể vẫn khoẻ mạnh bình thường khi không cần thức ăn. Chỉ đơn giản năng lượng được sinh ra từ nguyên khí đã nuôi sống cho cơ thể, và vì nguyên khí cần được nạp thêm nên việc ăn uống và hít thở đúng chính là phương thức tiếp thêm cho bình ắc quy huyền diệu này.

Khi chúng ta ăn uống, hệ tiêu hoá vận hành đưa dinh dưỡng vào cơ thể và cung cấp thêm một dạng năng lượng gọi là “Dinh khí” cho cơ thể vận hành. Khi chúng ta không đủ năng lượng từ việc ăn uống, các cơ quan hoạt động yếu dần đến một thời điểm thiếu hụt năng lượng trầm trọng cơ thể phát tín hiệu báo động, thế là một loạt các phản ứng sinh hoá trong các tế bào vận hành để bẻ gãy các chuỗi ATP phóng thích một lượng lớn năng lượng giúp cho cơ thể hồi phục và duy trì tiếp sự sống một thời gian nhất định. Cơ chế này chính là cơ chế cung cấp năng lượng của nguyên khí dưới con mắt khoa học. Còn chối ATP bẻ gãy giải phóng tạo ra năng lượng từ đâu thì khoa học vẫn còn mơ hồ chưa giải thích rõ được vì không soi chụp Nguyên khí ra được.

Nguyên khí tan biến tạo ra năng lượng cho cơ thể gọi là Dương khí. Dương khí luân chuyển khắp nơi theo các dòng chảy mà y học cổ truyền gọi là “Kinh Lạc” tại các dòng chảy của kinh lạc và huyệt đạo các nhà nghiên cứu dùng máy đo điện trở thì thấy chỉ số khác hẳn so với các nơi khác. Bởi vì Khí tạo ra năng lượng, như một loại điện sinh học lưu chuyển trong cơ thể nên việc dùng máy điện trở để đo là có thể giải thích được. Dương khí này phân chia ra thành các loại khí khác nhau để đảm nhiệm vai trò khác nhau trong cơ thể mà Đạo gia đã ứng dụng trong việc phòng bệnh và trị bệnh cho con người hàng ngàn năm trước.

Đầu tiên, có các dòng dương khí chảy sát dưới da được gọi là “Vệ khí” có nghĩa là dòng khí bảo vệ cho cơ thể con người. Nó có tác dụng đẩy lui các loại khí không tốt (Tà khí) xâm nhập cơ thể chúng ta. Ví như 2 người cùng ra mưa ra gió, người thì khoẻ mạnh bình thường người thì bị trúng gió cảm mạo ( do vệ khí kém). Khi Vệ khí đầy đủ và chuyển động dưới da, nếu quan sát kỹ chúng ta có thể cảm nhận nó đi như làn nước ấm lan khắp bề mặt cơ thể. Người không đủ vệ khí thì ngược lại, cứ có cảm giác lạnh lạnh gai gai và không chịu được gió, máy lạnh thổi trực tiếp vào người.

Dương khí khi đi vào tạng phủ cung cấp năng lượng cho sự hoạt động nhịp nhàng thì chúng ta không thấy hay cảm nhận được. Chỉ khi thiếu hụt dương khí ở một tạng phủ thì sự biểu hiện thông qua các triệu chứng của tạng phủ đó cho chúng ta thấy được dương khí chỗ đó bị thiếu hụt. Đông y gọi là chứng “ Khí Hư”

Ví dụ như khi hệ tiêu hoá không đủ Dương khí ( Đông y gọi là Tỳ khí hư) thì chức năng tiêu hoá hấp thụ của dạ dày và đường ruột suy kém dẫn đến tình trạng hay lạnh bụng, khó tiêu, ăn không thấy ngon, ăn đồ sống lạnh vào khó chịu, hay đi ngoài nhiều lần, đi phân sống, nát, người gầy ốm ăn bao nhiêu cũng không tăng cân, tay chân rũ rượi không có sức, hay mệt mỏi, thích nằm nghỉ, ngại lao động…

Khi hệ hô hấp không đủ dương khí ( Đông y gọi là Phế khí hư) thì xuất hiện các chứng trạng như hay mệt hụt hơi biếng nói, hơi thở ngắn, mệt mỏi nhanh khi vận động hoặc khi leo cầu thang, sợ gió sợ quạt thổi vào người, thích tắm nước nóng ngại nước lạnh, dễ bị cảm mạo, đau mỏi vai gáy, tiếng nói nhỏ, yếu, hay ra mồ hôi…

Dương khí của tạng Tâm hư yếu thì biểu hiện lâm sàng sẽ là hay hồi hộp, sợ sệt, tim đập nhanh, khó chịu vùng ngực, tinh thần uể oải không sức sống, ngủ kém chập chờn hay mơ linh tinh, hay cáu giận vô cớ, trí nhớ kém hay quên, dễ giật mình, dễ buồn và trầm cảm, lãnh cảm thờ ơ với những gì xung quanh…

Thận khí yếu thì hay chóng mặt ù tai, đau mỏi vai gáy, thay chân tê mỏi và lạnh, sợ lạnh sợ gió nhiều, đau mỏi thắt lưng (do dễ bị thoái hoá cột sống), làm việc nặng xíu là thở gấp, hay mắc tiểu và đi tiểu nhiều lần trong ngày, hay tiểu đêm, tinh thần uỷ mị yếu đuối, chức năng sinh lý suy giảm, phụ nữ hay ra huyết trắng, rong kinh, khó mang thai và dễ xẩy thai, nam giới thì tinh trùng yếu, dương sự kém, người già hay suyễn, thở yếu…

Sẽ chẳng lấy làm lạ khi bệnh nhân mắc cách triệu chứng trên khi đi khám bệnh sau khi làm đủ loại xét nghiệm chụp chiếu cũng sẽ không tìm ra bệnh gì và dựa vào các chỉ số bình thường thì bác sĩ cũng sẽ kết luận bệnh nhân không có bệnh gì dù người bệnh rất mệt và có nhiều triệu chứng nêu trên. Đơn giản vì máy móc y học ngày nay chưa chụp chiếu xét nghiệm được Khí trong cơ thể nên hầu như tất cả các triệu chứng trên chỉ được xếp vào hội chứng như hội chứng rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn tiền đình, trầm cảm sau sinh, hội chứng ruột kích thích, rối loạn lo âu… và chỉ có thuốc điều trị triệu chứng (điều trị phần ngọn) chứ không có thuốc đặc trị (điều trị phần gốc).

Và chắc chắn một điều rằng chỉ khi nào khoa học thừa nhận và nghiên cứu đầy đủ về Khí thì lúc đó Y học hiện đại mới tạo ra được các loại thuốc đặc trị các các chưng bệnh do Khí hư gây ra.

Y học cổ truyền dựa theo Đạo học và các học thuyết Âm Dương, Ngũ Hành, Tạng Tượng… đã đi sâu vào việc điều trị các chứng bệnh bằng các tạo ra các bài thuốc từ thảo dược, thể dục dưỡng sinh, khí công, châm cứu ấn huyệt… để giúp cơ thể lấy lại sự quân bình do việc thiếu hụt khí hoặc huyết trong cơ thể gây ra.

Lẽ dĩ nhiên rằng việc phòng bệnh hơn là chữa bệnh nên phương Đông rất chú trọng đến việc ăn uống và thể dục theo một số quy tắc nhất định để bảo vệ khí không bị hao hụt nhiều ( gọi là phương pháp dưỡng sinh) và chỉ khi cơ thể suy yếu thì mới sử dụng thuốc và châm cứu để tác động vào khí huyết tạng phủ. Chính vì điều này mà hầu như tuyệt đối không cho trẻ và người khoẻ mạnh dùng các vị thuốc đại bổ nguyên khí như Nhân sâm và Lộc nhung, Đông trùng hạ thảo…, vì nếu cơ thể khí huyết đầy đủ thì việc dùng thuốc bổ quá thì gây ra nhiều hệ quả đáng tiếc.

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau Music
Vietnam traditional music
KimYouTube


Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter