Những trang đời lắng đọng

NHỮNG TRANG ĐỜI LẮNG ĐỌNG
Hoàng Kim

Về lại bến sông xưa
Những trang đời lắng đọng
Chuyện cổ tích người lớn
Tĩnh lặng cùng với Osho.

xem tiếp: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nhung-trang-doi-lang-dong/


NHỮNG TRANG ĐỜI LẮNG ĐỌNG
Hoàng Kim

xin thắp nén tâm hương tưởng nhớ cụ bà Nguyên Ngọc, cảm ơn bạn quý Văn Công Hùng đã chia sẻ; Hai Cụ thật tốt, thật phúc hậu; văn chương ngọc cho đời, những trang đời lắng đọng; xin được chép về xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nhung-trang-doi-lang-dong/https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nguyen-ngoc-ve-tay-nguyen/

Văn Công Hùng 6 tháng 5 năm 2022 lúc 4 giờ 23 Điếu văn của nhà văn Nguyên Ngọc viết và đọc tiễn vợ mình, tôi đọc mà ứa nước mắt vì nhiều nhẽ. Ông viết tại phòng cấp cứu bệnh viện, laptop kê lên tủ thuốc, và sau đấy được đưa về, ngồi trên xe đẩy và đọc. Lại nhìn cái ảnh ông được đưa từ bv về phục tang vợ mà xúc động. Vẫn biết tuổi ấy đi cũng là phải nhẽ, nhưng đọc xong cái điếu văn, cứ có cảm giác bàng hoàng, và tiếc. Tình yêu đẹp quá, cuộc đời đẹp quá, nghĩa tình xốn xang quá…

ĐIẾU VĂN CỦA NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC THƯƠNG TIỄN VỢ

“Kính thưa quý vị,

Hôm nay chúng ta cùng nhau tiễn đưa một người phụ nữ về nơi an nghỉ cuối cùng sau một cuộc đời hơn 80 năm, vừa anh hùng vừa bình thường một cách kỳ lạ. Người phụ nữ đó tên là Tôn Thị Tĩnh, sinh năm 1941, quê ở xã Tam Quan Bắc, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, trong một gia đình nghèo, có người cha tên là Tôn Chất, đã người tham gia thành lập chi bộ Đảng đầu tiên ở tỉnh Bình Định. Ngôi nhà nghèo xưa đã bị chiến tranh phá nát, sau năm 1975 mới được xây lại, vẫn nhỏ bé vậy, làm nơi ghi ký ức lịch sử.

Năm 1955, tôi là một trong những người đi tuyển cô bé Tĩnh mới 13-14 tuổi để đưa đi tập kết ra Bắc làm văn công quân đội ở sư đoàn 324. Nhưng rồi chẳng thấy có năng khiếu đặc biệt xuất sắc, nên chuyển cho đi học trường miền Nam, học Bổ túc công nông, lên đến Đại học sư phạm Hóa. Tốt nghiệp đại học, 21 tuổi, Tĩnh xung phong vào chiến trường miền Nam, đổi tên là Hồ Thanh Tâm. Tâm là tên người anh trai mà Tĩnh thương yêu nhất đờì, Hồ thì ta biết rồi, là gắn bó với cách mạng. Năm 1964 đầu năm 1965, nông thôn ở miền Nam được giải phóng mênh mông. Ta có ý định phát triển giáo dục ở vùng giải phóng, lớp sinh viên đã xong đại học được đưa vào là để mở các trường sư phạm đào tạo giáo viên cấp 2. Đó là lớp cán bộ nữ đầu tiên được đưa vào chiến trường miền Nam, coi như một thử nghiệm.

Nhưng rồi chiến tranh đã thay đổi lớn và bất thường. Tháng 3-1965 Mỹ trực tiếp đổ quân vào, gây ra chiến tranh cục bộ. Tôi gặp Tĩnh trong những ngày chiến trường biến động dữ dội ấy, hai anh em chỉ ngồi được với nhau một buổi tối ở trạm giao liên đặt gần chân núi Cát Sơn. Tôi nhớ đêm ấy máy bay mô-hóc bay rất nhiều, sục vào các hẻm núi, loại máy bay nhọn dài đen trùi trũi này hoạt động kiểu đó là dấu hiệu sắp có B52. Thật tình lúc đó tôi rất sợ Tâm sẽ hy sinh sớm. Cô đang hăng hái quá, mà thành thạo chiến trường còn quá ít. Tôi có kinh nghiệm những người mới vào chiến trường thường có ba nhược điểm lớn: chưa biết quy luật địch, chưa quen địa hình, lại chưa hiểu dân, lúc có biến nên dựa vào ai, nơi nào phải tránh xa. Lúc chia tay, chúng tôi cùng dặn: viết thư cho nhau nhé. Tâm cười bảo: nếu còn sống…

Cuối năm 1967, anh Hoài Nam ở báo cờ Giải phóng Khu 5 vừa đi Bình Định về kéo tôi ra ngoài cuộc họp, thì thầm một tin sét đánh: Con Tâm bị Mỹ bắt rồi! – Ở đâu? – Trên núi tây Đức Phổ. – Sao lại đóng ở đó! Tôi biết rõ nơi ấy. Đấy là một địa điểm rất hiểm yếu. Dịch vào phía nam một chút là thung lũng Hoài Ân ta và địch giành nhau dai dẳng khốc liệt. Rẽ xuống phía đông là Đức Phổ, địa bàn chủ yếu của sư đoàn không vận số 1 Mỹ, xế về phia tây là đường lên Ba Tơ, Mang Đen, Kontum, cửa ngõ của Tây Nguyên… Trường sư phạm của Tâm đóng ngay tại đó để tiện đón học viên từ nam Bình Định ra, Quảng Ngãi lên, Tây Nguyên xuống. Cô bị bọn lính sư đoàn Kỵ binh bay số 1 của Mỹ đổ trực thăng bắn bị thương rồi bắt trong một hang đá. Mấy năm sau, Thùy Trâm hy sinh cũng chính ở nơi này.

Tâm ở tù Mỹ đúng 7 năm, từ 1967 đến 1973, đã qua hầu khắp các nhà tù miền Nam. Thoạt đầu bị đưa lên Pleiku, tiền phương của quân khu 2 chính quyền Sài Gòn, rồi chuyển về Phú Tài chân đèo Cù Mông, cạnh Quy Nhơn. Tất nhiên tôi ráo riết theo rõi. Các anh ở Bình Định ra Khu họp báo tin: Con Tâm rất cừ. Nó lập chi bộ trong tù rồi, đã bắt liên lạc được với Tỉnh ủy… Nhưng đến sau Mậu Thân thì mất tin, không biết chúng chuyển đi đâu. Cũng có tin đã bị chúng thủ tiêu. Cho đến nỗi sau hiệp định Paris năm 1973 tôi gần như không có ý định đi tìm Tâm, tôi nghĩ tôi đã mất mãi mãi cô bé thân yêu của tôi rồi. Còn Tâm thì khi được trao trả, ra tới Sầm Sơn, gặp một người bạn thân của tôi, cô ấy chỉ yêu cầu anh ấy kể cho cô nghe trường hợp anh Ngọc hy sinh như thế nào. Một số bạn tù vào sau báo tôi đã ngã xuống trận vượt đường 104 đoạn Cầu Chìm – Trà Kiệu.

Vậy đó, chúng tôi đã tìm lại được nhau. Và tình yêu không thể không đến. Nó nữa, tình yêu ấy, nó cũng đã thắng chiến tranh.

7 năm ở tù của Tâm là 7 năm của một cuộc chiến anh hùng. Mỗi lần cô được chuyển từ một nhà tù này tới một nhà tù khác, là tin đồn đã đến trước về một người tù binh kiên cường đến mức đã bị đám cai tù tra tấn đánh gãy dập xương cả hai cổ tay mà không biết vì trên khắp cơ thể không chỗ nào là không đau. Mãi sau ra tù rồi, đi chữa bệnh ở Đức các bác sĩ mới phát hiện ra và công phu nối ráp lại. Một tay đại úy quân cảnh thẩm vấn tra tấn Tâm khốc liệt bao nhiêu ngày vẫn không moi được chút gì ở Tâm, ngoài sự kinh ngạc trước khí tiết của người nữ cách mạng. Mấy năm sau khi Tâm được trao trả qua sông Thạch Hãn và cầu Hiền Lương, tình cờ gặp lại chính viên đại úy ấy trong đoàn đại diện chính quyền miền Nam, anh ta trân trọng cúi đầu nói: “Hôm nay chị là người chiến thắng.” Tâm trả lời: Ước mong mai này đất nước thống nhất, xin được mời anh ra thăm miền Bắc.

Ở trong tù, ngoài việc đấu tranh căng thẳng từng ngày với địch, Tâm còn kiên trì và khôn khéo bí mật tổ chức các lớp học văn hóa cho chị em, thanh toán nạn mù chữ trong các nhà tù Tâm đã đi qua, có nơi thanh toán được cả cấp 2…

Sống với nhau mấy chục năm, tôi dần hiểu ra những người bạn thân thiết, thương yêu nhau như ruột thịt của Tâm là những người bạn tù. Giữa họ có một thế giới riêng, những ký ức, trải nghiệm đau khổ và hạnh phúc riêng, một ngôn ngữ riêng, một bầu khí quyển riêng, một thứ tình nghĩa sâu đậm riêng của những người từng cùng nhau đi qua một cuộc chiến đấu sinh tử đặc biệt, ngay cả tôi là người thân nhất của Tâm, cũng không thâm nhập và chia sẻ được.

Tâm ạ, chỉ còn 3 năm nữa là chúng mình sống được cùng nhau trọn nửa thế kỷ. Sao em, người phụ nữ quý nhất anh tìm được trên đời, em không nán sống cùng anh 3 năm nữa, em?

Thú thật nhiều lúc tôi muốn xem một người đã sống quyết liệt và kiên cường đến vậy trong chiến tranh, sẽ sống thế nào trong hòa bình? Và tôi đã nhận ra ở Tâm của tôi điều khám phá lớn: không dễ từng sống anh hùng trong chiến tranh rồi lại sống bình thường trong hòa bình đâu. Sự bình thường là một đức tính, chỉ có ở người thật trong sáng. Tâm của tôi đã làm được điều đó, giản dị và tự nhiên, ở cơ quan, trong xã hội, và cả trong gia đình. Cô có được đi học một khóa công tác xuất bản, nhưng rồi cũng như đã hụt văn công lần trước, cô lại hụt xuất bản, mà đi làm công tác tổ chức ở một cơ quan văn hóa tư tưởng. Rất thẳng thắn, công tâm, không tha thứ cho một giả dối nào, nhưng vẫn tự nhiên, nhẹ nhàng. Giữ một vị trí rất khiêm tốn, nhưng cô là trung tâm đoàn kết của tập thể, và lạ thế, Tâm nói thì thường được mọi người nghe.

Riêng đối với tôi cuộc vật lộn trong hòa bình khó nhọc hơn trong chiến tranh nhiều, cả ác hiểm nữa, dẫu trong chiến tranh tôi là kẻ lăn lộn không ít. Chắc bởi công cuộc làm mới văn học, làm mới xã hội và đất nước tất phải rất phức tạp, gian nan, cả nhiều hiểm nguy hơn. May thay luôn có Tâm ở cạnh, không chỉ là hậu phương như người ta thường nói. Còn là người bảo vệ, đủ sức nâng tôi dậy những khi tôi bị dập vùi hay vụng về tự vấp ngã. Hôm nay anh mất Tâm, con Phương mất mẹ, chỉ mong nỗi đau không cùng này cùng ký ức về em về mẹ sẽ giúp hai bố con nương vào nhau mà tiếp tục sống tốt như vẫn mãi mãi còn em trong gia đình hạnh phúc của chúng ta.

Kinh thưa quý vị,

Trong mất mát lớn này, chúng tôi càng hiểu thêm tình thương yêu rộng lớn và sâu sắc của vô số bạn bè đối với gia đình nhỏ bé của chúng tôi. Bao nhiêu bạn bè từ Hà Nội, từ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh đã lặn lội đường xa đến với chúng tôi chia buồn và chia đau. Lãnh đạo và chính quyền địa phương của tỉnh Quảng Nam, của thành phố Hội An, của xã Cẩm Hà nơi chúng tôi mới trở về cư trú được hơn 2 năm đã hết sức chu đáo, tận tụy và thương yêu chăm lo cho chúng tôi từ việc lớn đến việc nhỏ, nhất là trong hoạn nạn này.

Tôi cũng không thể không nhắc đến đại gia đình, các em các cháu của chúng tôi. Trong tai họa khổng lồ này của cha con tôi, chúng tôi càng hiểu sâu hơn sức mạnh gắn bó thương yêu của giòng họ.

Xin cho tôi được tạ lỗi về nhưng thiếu sót của cha con tôi trong cảnh tang gia bối rối này.

Tâm ơi, Tâm thương yêu của anh, giờ phút không hề muốn có, giờ vĩnh quyết đã đến rồi. Từ đêm nay sẽ không còn có em. Hai cha con sẽ cô đơn biết chừng nào.

Thôi em đi, em nhé, đến chốn vĩnh hằng”.

Ảnh từ nhà thơ Trần Tuấn

NGUYÊN NGỌC VỀ TÂY NGUYÊN
Hoàng Kim

Nguyên Ngọc về Tây Nguyên
‘Bạn bè tôi ở đó’
‘Tản mạn nhớ và quên’
‘Rừng Xà Nu’, ‘Đất Quảng’.

Chí bền chân không mỏi
‘Đường chúng ta đi’ hoài
‘Lắng nghe cuộc sống’ gọi
Nguyên Ngọc ngọc cho đời.

Thung dung ngày nắng hạ
An nhiên ngắm mưa rơi
Cuối dòng sông là biển
Cây đời mãi xanh tươi

Nguyên Ngọc: Nước mội, rừng xanh và sự sống” và Văn Công Hùng: Tây Nguyên của tôi.

Nguyên Ngọc có nhiều tác phẩm viết về Tây Nguyên nhưng ấn tượng nhất và sâu sắc nhất trong tôi là Phát triển bền vững ở Tây Nguyên; với Nước mội, rừng xanh và sự sống Văn là Người. Cụ là nhà văn chiến sĩ dấn thân suốt đời không mệt mỏi, có những trang văn thắp lửa, dữ dội và minh triết như lời khen của Cụ “Nguyễn Khải nhà văn tài năng nhất của thế hệ chúng tôi” (trong Ngọc cho đời).. Bất luận khen hay chê, Cụ là người thật đáng tôn kính.

NGUYÊN NGỌC LẮNG NGHE CUỘC SỐNG

“††Vấn đề Tây Nguyên về nhiều phương diện là một vấn đề lớn lại có những đặc trưng riêng trong sự phát triển chung của cả nước. Vấn đề này vốn đã không hề đơn giản, nay đã càng trở nên hết sức phức tạp, khó khăn, có thể còn khó khăn lâu dài, với những diễn biến cũng có thể còn chưa lường được hết và còn bất ngờ. Song vấn đề cũng có thể trở nên đơn giản hơn, vẫn có thể có lối ra, nếu ta dám thật sự nhìn lại tình hình một cách khách quan, nhận ra sai lầm lớn lẽ ra hoàn toàn có thể không mắc phải nếu biết tôn trọng thực tế và biết lắng nghe, từ đó nghiêm túc xác định lại quan điểm đúng, để có cách nhìn và cách hành xử thích hợp, đặc biệt biết thật sự tôn trọng các dân tộc bản địa Tây Nguyên, một bộ phận tuy có đến chậm hơn nhưng từng gắn bó rất sâu sắc, có đóng góp hết sức to lớn trong tiến trình lịch sử gian nan mấy thế kỷ qua của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Ở Tây Nguyên nếu không thật sự đặt quyền lợi của các dân tộc bản địa lên trên hết, là mục tiêu hàng đầu của mọi kế hoạch phát triển, thì chắc chắn không việc gị có thể thành công, sẽ thất bại tất yếu, thậm chí có thể đi đến thảm họa”. “††††††††††† Nhà Tây Nguyên học xuất sắc Jacques Dournes có một câu bất hủ khi nói về Tây Nguyên, ông viết: “Nếu phải hiểu để mà có thể yêu, thì lại phải yêu để mà có thể hiểu”. Đối với Tây Nguyên, cần một sự hiểu biết và một tình yêu đầy sự tôn trọng thật sự, một sự tôn kính chân thành và đấy ưu tư đối với một vùng đất và một vùng văn hoá vào loại độc đáo nhất còn lại trên đất nước ta và trên thế giới ngày nay.“.”Cần có một tình yêu đầy tôn trọng như vậy, để ra sức tìm hiểu sâu sắc vùng đất và người hết sức quan trọng và vô cùng đặc sắc này, từ đó mà có chủ trương và hành động đúng, mới mong có thể thoát ra khỏi bế tắc hiện tại, đưa Tây Nguyên vững chắc vào tiến trình phát triển chung của đất nước, vì Tây Nguyên, và vì cả nước“.

Hóa ra có một “bí mật” to lớn: ngọn nguồn của nước mội tuyệt diệu tưới tắm cả vùng cát dằng dặc ven biển miền Trung chính là nơi đó, Tây Nguyên, rừng đại ngàn, rừng nguyên sinh, rừng nhiệt đới Tây Nguyên. Chính rừng Tây Nguyên, từ trên Trường Sơn rất xa xôi kia, đêm ngày, hàng triệu triệu năm nay, như một người mẹ vĩ đại, bao dung và tần tảo, hứng lấy tất cả các nguồn nước của đất trời, cất lấy, “để dành”, tằn tiện, tuyệt đối không phí mất một giọt nào, để từng ngày từng ngày chắt chiu mà bất tận cung cấp cho đứa con đồng bằng của mình, cho sự sống có thể sinh sôi, nảy nở, trường tồn trên dải đất cát trông chừng rất khắc nghiệt kia. Cho các vương quốc, các triều đại, các nhà nước, các chế độ ra đời, phát triển, nối tiếp. Và sống còn… Nước mội chính là những dòng nước nhỏ, liên tục, không bao giờ dứt, đi âm thầm và vô hình trong lòng đất, từ những đỉnh Trường Sơn xa xôi kia, đến tận những cồn cát tưởng chẳng thể có chút sự sống này. Vậy đó, Tây Nguyên, ý nghĩa của Tây Nguyên và rừng Tây Nguyên, dù chỉ mới là qua một khía cạnh rất nhỏ của nó, nước

Cần ngay bây giờ chấm dứt mọi khai phá ở Tây Nguyên. Cần nghĩ đến một con đường sống khác, một kiểu sống khác, một kiểu phát triển khác. Trên cả nước. Trước hết trên mái nhà sinh tử Tây Nguyên. Bắt đầu lại một công cuộc cứu lấy Tây Nguyên. Bắt đầu một sự nghiệp to lớn trồng lại rừng Tây Nguyên, trong một trăm năm, quyết liệt, kiên định, thông minh, với những kế hoạch cụ thể, cho 50 năm, 20 năm, 10 năm, 5 năm, toàn Tây Nguyên, từng tỉnh, từng huyện, từng xã, từng làng. Khôi phục lại màu xanh cho Tây Nguyên. Bắt đầu ngay từ hôm nay, mùa xuân, mùa của màu xanh, của sự tỉnh táo, khôn ngoan. Cho đến một ngày, có thể một trăm năm nữa, con cháu chúng ta sẽ có thể bụm vào lòng bàn tay một ngụm nước mội trong veo mát lạnh rỉ ra từ đất cát và ngửa cổ uống ngon lành. Và biết rằng cha ông chúng từng rất dại dột, nhưng rồi cũng đã từng biết khôn ngoan, để cho sự sống từng sắp bị triệt diệt, lại được cứu, lại sinh sôi, phát triển, trường tồn“.

NGUYÊN NGỌC ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM

Nguyên Ngọc cuộc đời và tác phẩm có thật nhiều điều đáng đọc lại và suy ngẫm: Đó là khối lượng đồ sộ tác phẩm Nguyên Ngọc với các bài viết của bạn hữu, người đương thời nói và viết về ông, rất nhiều khen, nhưng cũng có người chê. Tôi ấn tượng nhất và thường đọc lại hơn cả là hai bài trên Phát triển bền vững ở Tây Nguyên; Nước mội rừng xanh và sự sống và có trích dẫn dưới đây để thỉnh thoảng tự chính mình đọc lại. Kể cả những bài mới đây nhất và cũng thuộc loại nhậy cảm nhất là “Con người nào thì làm ra văn hóa ấy …” (bài viết trên VHNA).

Những phản biện của Cụ Nguyên Ngọc như quan gián nghị đại phu cương trực xưa, thuốc đắng khó uống, chối tai khó nghe, nhưng thật uyên thâm, mạch lạc và sâu sắc. Chúng ta không phải điều nào cũng đồng tình với Cụ nhưng xã hội và minh quân cần những lời khó nghe ấy, đó là chính kiến và chỉ dấu trí tuệ. “Con người nào làm ra văn hóa ấy…” cụ Nguyên Ngọc đã cảnh báo sớm những khác biệt và biến thái trong định hướng đầu tư phụ thuộc vào con người và tầm văn hóa. Vụ Sơn Trà và điểm nóng Đà Nẳng bùng phát mới đây (2017) và đã xử lý năm 2020 thì trước đó năm 2006, ông đã cảnh báo “Phát triển bền vững là phát triển một cách có văn hóa” Các làng ven đô đang bị các khu công nghiệp (và biệt thự biển) mọc lên với tốc độ ngày càng nhanh nuốt chững hết đất, và cùng với đất là văn hóa lâu đời của các xứ đất ấy. họ đổ ra thành phố với một cục tiền đền bù chưa bao giờ cầm được to tướng đến vậy nhưng không còn đất, và đương nhiên cả cái văn hóa nghìn đời của đất ấy. Họ đổ ra thành phố, bơ vơ, vô nghề nghiệp, và điều này có thể nguy hơn nữa: bổng trở thành ‘vô văn hóa’ luôn. Văn hóa không phải theo nghĩa dăm ba chữ học hành, mà theo nghĩa những gì hàng nghìn năm con người đã tạo nên được cho tâm hồn mình do vật lộn và gắn bó sinh tử với đất mẹ quê hương. (Nguyên Ngọc lắng nghe cuộc sống NXB Văn Nghệ trang 163-175)

Cụ Nguyên Ngọc về Tây Nguyên ngày nay lúc cụ đã luống tuổi. Cụ ăn lẩu phố Núi và lưu ảnh kỷ niệm với nhà văn Tây Nguyên Văn Công Hùng, với đôi mắt nhìn thẳng trực diện tinh tường. Cụ bút lực trên 88 tuổi vẫn chưa suy giảm và vẫn trên đường xa. .

NGUYÊN NGỌC ĐÔI LỜI CẢM NHẬN

Tôi biết ơn nhà văn Nguyên Ngọc đã nói hộ lòng mình. Tôi noi gương nhà văn lão thành để viết Nguyễn Khải ngọc cho đời, Đến với Tây Nguyên mới.

Kỷ niệm với thầy bạn quý ở Tây Nguyên. Hiểu là một cách cảm ơn chân thành nhất. Lắng nghe cuộc sống để thấu hiểu

Đến với Tây Nguyên mới láng nghe cuộc sống, cùng những thầy bạn ưu tú dấn thân cho nghề nông và lưu lại những trang đời lắng đọng. Phát triển bền vững ở Tây Nguyên; Nước mội rừng xanh và sự sống; Nguyễn Khải nhà văn tài năng nhất thế hệ chúng tôi đọc tai đây

†Tài liệu trích dẫn :

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở TÂY NGUYÊN
Nguyên Ngọc

“bài viết nổi tiếng này chúng ta cần đọc đi đọc lại nhiều lần. Đến với Tây Nguyên là đến với con người, núi rừng cao nguyên, một vùng đất thiêng, một nền văn hóa sử thi to lớn”. Có những lớp sinh viên như thế. Chăm chú lắng nghe, chăm chú học để làm, chăm chú thấu hiểu để biết dũng cảm đối mặt với những sai lầm của quá khứ, để chung sức bảo tồn và phát triển bền vững những di sản (HK)

MỘT SỐ NÉT TỔNG QUAN

A Khái niệm Tây Nguyên

Theo địa lý hành chính hiện nay, Tây Nguyên gồm có năm tỉnh, kể từ bắc vào nam : Kontum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng. Tuy nhiên cần chú ý các tỉnh ven biển miền Trung và một số tỉnh miền Đông Nam Bộ đều có một vùng rừng núi khá rộng, cũng là nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số. Chẳng hạn tỉnh Quảng Nam, là tỉnh duyên hải, lại có đến 56 % diện tích là vùng núi và vùng dân tộc, tại đấy có dân tộc Cơ-tu là một dân tộc quan trọng ở khu vực nam Trường Sơn. Miền tây tỉnh Quảng Ngãi cũng có vùng núi và là vùng dân tộc tương tự, thì có dân tộc Hre cũng là một dân tộc quan trọng. Dân tộc Rakglei thì sống chủ yếu ở miền tây các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận. Một số tỉnh miền Đông Nam Bộ cũng có vùng núi và là vùng dân tộc khá rộng. Vùng Cát Tiên, nơi có di tích nổi tiếng của dân tộc Mạ, nằm phần lớn trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Sóc Bombo mà chúng ta đều biết qua bài hát quen thuộc cũng thuộc Bình Phước… Như vậy khái niệm Tây Nguyên xét về các về mặt dân tộc, văn hoá, xã hội, có thể cả lịch sử và địa lý, thật ra rộng hơn vùng được quy định theo địa lý hành chính. Có người đã dùng khái niệm Nam Trường Sơn để chỉ vùng này, có thể đúng hơn.

B Đặc điểm địa lý

Trong tác phẩm Rú Mọi (Les jungles Mois – NXB Tri Thức dịch với tên là Rừng người Thượng), cho đến nay vẫn được coi là công trình khảo sát cơ bản nhất về Tây Nguyên, tác giả Henri Maitre cho rằng Tây Nguyên không phải là một dãy núi – như vẫn được gọi trước nay (Trường Sơn, Chaîne annamitique) – mà là một bình nguyên nằm trên cao. Trong một kỷ địa chất xa xôi nào đó, vùng đất này do chấn động của vỏ trái đất đã được nâng cao lên đột ngột so với chung quanh, tạo thành một cao nguyên lớn.

Về địa hình, Tây Nguyên có hai đặc điểm đáng chú ý :

Cao vút ở hai đầu, cực bắc là cụm núi Atouat, với đỉnh Ngok Linh 2598 mét, cao nhất toàn Tây Nguyên và toàn miền Nam ; cực nam là dãy Chư Yang Sin, 2402 mét (là đỉnh cao nguyên Lang Biang). Giữa hai cụm núi ấy là một bình nguyên mênh mông, bằng phẳng, chỉ có những nếp lượn sóng liên tục. Đứng tại thành phố Buôn Ma Thuột chẳng hạn nhìn quanh, thấy cụm núi quan trọng nhất của tỉnh Đắc Lắc là núi Đ’leya, cũng xa tương tự như từ Hà Nội nhìn lên Ba Vì hay Tam Đảo…

Đặc điểm địa hình thứ hai rất quan trọng của Tây Nguyên là dốc đứng trên sườn phía đông, đổ xuống các tỉnh duyên hải nam Trung Bộ, tạo thành một bức trường thành sừng sững. Chính điều này khiến người Việt ở các tỉnh ven biển nam Trung Bộ nhìn ngược lên hướng tây đã nhầm Tây Nguyên là một dãy núi dài. Từ đồng bằng duyên hải nam Trung Bộ đi lên Tây Nguyên chỉ có một số đường độc đạo, ngày trước là các đường 19 từ Quy Nhơn, qua đèo An Khê và đèo Mang Giang lên Pleiku, rồi có thể đi tiếp qua Stung Treng của Cămpuchia; đường 26, từ Nha Trang – Ninh Hòa qua đèo Phượng Hoàng lên Buôn Ma Thuột; đường 28 từ Phan Rang qua đèo Ngoạn Mục lên Đà Lạt. Gần đây đã sửa chữa, nâng cấp và mở thêm một số đường khác, như các đường 14 từ Đà Nẵng và Quảng Nam lên Kontum, đường 24 từ Quảng Ngãi lên Kontum, đường 25 từ Tuy Hòa, Phú Yên lên Pleiku, v.v… Đáng chú ý, chẳng hạn nếu theo đường 19 Quy Nhơn – Pleiku thì sau khi lên khỏi đèo An Khê rất cao, ta lại tiếp tục đi bằng chứ không hề xuống dốc, sau đó cách khoảng vài chục km sẽ gặp đèo Mang Giang cũng rất cao và hiểm trở, vượt qua rồi lại tiếp tục đi bằng, đến Pleiku, sau đó sẽ xuôi dần thoai thoải về hướng tây đến bờ sông Mékông. Tức trong khi sườn phía đông dốc đứng, thì sườn phía tây của Tây Nguyên khá bằng phẳng, thoải thoải đổ về Mékông. Đặc điểm địa hình này sẽ rất quan trọng trong quan hệ của Tây Nguyên với các “lân bang” trong lịch sử lâu dài: quan hệ về phía tây, với Cămpuchia và với Lào, thuận tiện hơn là với Champa (và sau đó với Đại Việt) ở phía đông. Các bộ lạc ở Tây Nguyên quan hệ với “lân bang” trên vùng duyên hải phía đông chủ yếu do nhu cầu tìm muối mà Tây Nguyên hoàn toàn không có. Ở Tây Nguyên có hai địa danh đáng chú ý: Trong tiếng Ê Đê, buôn có nghĩa là làng (Buôn Hồ, Buôn Sam, Buôn Ma Thuột…), nhưng lại có Bản Đôn ở Đắc Lắc, phía tây Buôn Ma Thuột, sâu về phía nam Tây Nguyên, gần biên giới Cămphuchia. Bản là tiếng Lào, có nghĩa là làng. Bản Đôn chính là một trạm buôn của người Lào cắm sâu vào đây từ rất xưa, đến nay kiến trúc nhà cửa trong làng vẫn còn nhiều dấu vết Lào, người dân vẫn hiểu thông thạo tiếng Lào. Đây cũng chính là vùng dân tộc Mơ Nông, rất giỏi nghề săn bắt và thuần dưỡng voi. Rất có thể chính người Lào đã truyền nghề này cho người Mơ Nông… Trong cụm núi Ngok Linh lại làng Mường Hon. Mường chắc chắn là tiếng Lào, cũng có nghĩa là làng. Đây có thể là một làng người Lào vào định cư đã lâu đời trong cụm núi lớn này, cũng có thể là vết tích của những người Lào chạy dạt vào đây do hệ quả của các cuộc chiến tranh bộ lạc ngày xưa… Rõ ràng quan hệ của người Lào với các dân tộc Tây Nguyên từ xa xưa đã khá sâu.

Tây Nguyên vốn là một vùng đất núi lửa, hiện nay còn rất nhiều dấu vết núi lửa. Biển Hồ khá rộng ở phía bắc thị xã Pleiku chính là một miệng núi lửa cổ. Núi Hàm Rồng ở nam thị xã Pleiku còn rất rõ dấu vết miệng núi lửa. Ở Đắc Lắc có huyện Chư Mơgar, có nghĩa là “Núi Ngược”, vì miệng núi lửa cổ lõm xuống trên đỉnh khiến ngọn núi này trông như có đỉnh lộn ngược… Chính nham thạch núi lửa đã khiến Tây Nguyên trở thành một vùng đất bazan lớn nhất nước, chiếm đến 60% kho đất bazan của cả nước. Đất bazan đặc biệt thích hợp với một số cây công nghiệp như cà phê, cao su…

Tây Nguyên cũng là vùng có hệ động vật và thực vật phong phú nhất nước.

Về khí hậu, Tây Nguyên có hai mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 11 đến giữa tháng 5, và mùa mưa từ cuối tháng 5 đến tháng 10. Đất bazan là loại đất không giữ nước, nước mưa trượt đi trên bề mặt, về mùa khô Tây Nguyên gần như hoàn toàn không có nước.

C – Sơ lược lịch sử

1- Tiền sử :

Năm 1948, nhà dân tộc học người Pháp Goerges Condominas tìm được bộ đàn đá tiền sử ở làng Nđut Liêng Krak thuộc huyện Krông Nô tỉnh Đắc Lắc. Đây là bộ đàn đá đầu tiên tìm được trên thế giới. Về sau nhiều bộ đàn đá khác còn được tìm thấy ở nhiều nơi thuộc Tây Nguyên và ven Tây Nguyên. Đáng chú ý hệ thang âm của các đàn đá này trùng hợp với thang âm các bộ chiêng của các dân tộc Tây Nguyên hiện nay (thang ngũ âm, nhưng khác với thang ngũ âm Trung Hoa, mà lại gần thang âm tìm thấy ở một số nhạc cụ trên các đảo nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương). Tức có thể có một mối quan hệ nào đó còn chưa giải thích được giữa chủ nhân các bộ đàn đá tiền sử ấy (được xác định niên đại là cách đây 3000 năm) với các dân tộc đang sinh sống ở Tây Nguyên hiện nay, và cũng có thể có một dòng chảy của con người từ những vùng xa xôi từ phía nam đến Tây Nguyên trong những thời kỳ rất xa xưa.

Cách đây vài chục năm, trong khi chuẩn bị làm Thủy điện Ya Ly (trên vùng giáp giới hai tỉnh Kontum và Gia Lai), đã tiến hành khai quật di chỉ Lung Leng, nơi sẽ là lòng hồ. Đã phát hiện được tại đây dấu vết hết sức quan trọng của một nền văn hoá cổ, từ thời Đồ đá cũ, Đồ đá mới sang đến Đồ đồng… Từ sau đó, công tác khảo cổ ở Tây Nguyên được chú ý hơn, đã liên tục phát hiện nhiều khu di tích quan trọng khác, ở hầu khắp Tây Nguyên. Đã tìm được cả trống đồng ở nhiều nơi. Công tác khảo cổ ở Tây Nguyên nói chung chỉ mới bắt đầu, chưa đủ cơ sở cho những kết luận thật đáng tin cậy. Song bước đầu đã có thể thấy một số điểm đáng chú ý: các di vật đồ đá và đồ đồng tìm thấy ở Tây Nguyên rất gần với Đông Sơn, trong khi đồ gốm lại gần với văn hoá Sa Huỳnh. Như vậy ít ra có thể thấy nền văn hoá tiền sử ở Tây Nguyên từng có giao lưu rộng rãi với cả hai nền văn hoá lớn này ở phía bắc và phía nam…

Công cuộc khảo cổ ở Tây Nguyên chắc chắn còn hứa hẹn nhiều khám phá mới quan trọng.

2- Tây Nguyên trước thời Nam tiến của người Việt. Quan hệ của các dân tộc Tây Nguyên với Cămpuchia, Lào, Champa (và sau đó với Đại Việt).

Trước khi có cuộc Nam tiến của người Việt, vương quốc Champa xem Tây Nguyên nửa như một nước chư hầu nửa như vùng đất phía tây của mình. Trong thực tế triều đình Champa không hề kiểm soát được Tây Nguyên. Suốt một thời kỳ lịch sử rất lâu dài, Tây Nguyên là vùng sinh sống của các bộ lạc độc lập và tự trị. Trong đó đông nhất, mạnh nhất, chặt chẽ nhất là người Gia Rai, sống ở vùng trung Tây Nguyên. Trong người Gia Rai có các nhân vật rất đặc biệt gọi là P’tao Pui, P’tao Ia và P’tao Nhinh, mà người Việt dịch là “Vua Lửa”, “Vua Nước”, “Vua Gió”, người Pháp cũng dịch là “Roi du Feu”, “Roi de l’Eau”, “Roi du Vent”. Cách dịch “Vua”, “Roi” là không chính xác. Thật ra đây là một kiểu thủ lĩnh tinh thần và tâm linh rất độc đáo trong xã hội Gia Rai, một kiểu “thầy cúng” có uy tín lớn, đóng vai trò là người giữ mối quan hệ giữa Thần linh và con người, giữa thế giới “bên trên” và xã hội trần thế, không có bất cứ quyền hành thế tục và quyền lợi ưu tiên nào, nhưng lại là một thứ trung tâm cố kết và “điều hành” toàn bộ xã hội này một cách hết sức chặt chẽ và hiệu lực, kể cả trong quan hệ đối ngoại với các “lân bang”. Trong tác phẩm nghiên cứu rất công phu và đặc sắc “P’tao, một lý thuyết về quyền lực ở người Gia Rai Đông Dương” (P’tao, une théorie du pouvoir chez les indochinois Jarai), nhà Tây Nguyên học hàng đầu Jacques Dournes đã có sự phân tích và giải thích rất sâu sắc về các nhân vật này và một kiểu quyền lực cũng hết sức độc đáo ở xã hội Gia Rai nói riêng và xã hội Tây Nguyên nói chung, còn tồn tại cho đến rất gần đây, thậm chí còn ảnh hưởng tiềm tàng đến tận ngày nay.

Các P’tao là người Gia Rai, sống ở vùng Gia Rai, nhưng tầm ảnh hưởng lan rất rộng, sâu trên nhiều vùng dân tộc khác, thậm chí sang cả Cămpuchia. Trong nhiều thời kỳ, triều đình Cămpuchia từng coi các P’tao ở Tây Nguyên như một kiểu “vua thần”, định kỳ có dâng cống vật. Người Cămpuchia gọi các P’tao là Sadet (gần với từ Samdeth). Về sau, các “Vua Nước” và “Vua Gió” giảm dần ảnh hưởng rồi mất hẳn, chỉ còn “Vua Lửa”… Chúng tôi nghĩ việc nghiên cứu hình thái tổ chức xã hội với các P’tao của người Gia Rai có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm hiểu sâu sắc Tây Nguyên, con người, văn hoá, tổ chức xã hội cổ truyền… ở vùng đất đặc biệt này. Thậm chí cũng còn có thể cho phép chúng ta hình dung chừng nào về các xã hội cổ từng tồn tại trên vùng đất nay là bán đảo Đông Dương.

Tây Nguyên quan hệ với các “lân bang” chính là qua các P’tao. Quan hệ nhiều nhất là với Cămpuchia. Trong nhiều thời kỳ dài đã thường xuyên có các đoàn “sứ giả” đi lại hằng năm giữa các P’tao và triều đình Cămpuchia, trao đổi cống vật giữa hai bên. Trong quan hệ này đáng chú ý là về phía Cămpuchia đối với các P’tao Tây Nguyên là có tính chất “dâng lên”, còn từ phía các P’tao với các vua Cămpuchia là “ban xuống”. Do địa hình và cả chủng tộc, người Lào đã có quan hệ lâu đời và sâu với các dân tộc ở Tây Nguyên. Quan hệ của Tây Nguyên với Champa lại có những nét riêng khác: Trong thực tế, triều đình Champa đối xử với Tây Nguyên như với một “lân bang” phía tây của mình, cũng có quan hệ trao đổi cống vật định kỳ (với các P’tao) nhưng không chặt chẽ bằng phía Cămpuchia. Mặt khác, người Gia Rai, dân tộc lớn nhất và quan trọng nhất ở Tây Nguyên với người Chàm đều cùng thuộc một ngữ hệ Malayo-Polynésien nên rất gần gũi nhau, thậm chí có tác giả còn cho rằng người Gia Rai chính là người Chàm dạt lên Tây Nguyên trong những điều kiện và những thời gian lịch sử nào đó. Hiện còn có một số dấu vết các tháp Chàm ở vùng Gia Rai…

Trong quá trình Nam tiến, người Việt đã mất trên ba trăm năm mới giải quyết xong vùng đồng bằng ven biển Champa, sau đó đi tiếp về nam, đứng chân được trên vùng đất Thủy Chân Lạp vừa xong thì cũng là lúc người Pháp tràn vào. Do vậy triều đình Việt chưa có thời gian quan tâm nhiều đến vùng đất cao phía tây và các bộ lạc sống trên đó. Triều đình Huế cũng có phái một số quan chức lên tìm hiểu và bắt quan hệ với các bộ lạc Tây Nguyên, tất nhiên với ý đồ chinh phục. Tuy nhiên công cuộc này cũng còn rất sơ sài, các phái viên triều đình có gặp Vua Nước, Vua Lửa, mà họ gọi là Thủy Xá, Hỏa Xá, đặt quan hệ “triều cống” định kỳ của các vị này với triều đình và “ban tước” của triều đình cho các vị này, và vì hiểu rằng đây quả thực là các “Vua” nên họ yên trí như vậy là đã nắm được toàn bộ Tây Nguyên. Có hiện tượng đáng chú ý: triều Nguyễn đã từng thiết lập một hệ thống “đồn sơn phòng” suốt dọc các tỉnh trung Trung bộ trên ranh giới giữa vùng người Việt và vùng sinh sống của các dân tộc thiểu số ở phía tây, riêng ở Quảng Ngãi còn lập cả một bờ lũy dài hơn trăm km ngăn cách giữa hai vùng, chứng tỏ triều đình coi phía bên kia là một “nước” khác, có thể là một thứ “man” chư hầu…

3 – Người Pháp với Tây Nguyên.

Quá trình xâm nhập của người Pháp vào Tây Nguyên khá lâu dài và sâu.

Đầu tiên là các nhà truyền giáo. Do chính sách “sát tả”, bài trừ Cơ đốc giáo của các vua đầu triều Nguyễn, các nhà truyền giáo Cơ đốc đã tìm đường lánh lên vùng rừng núi Tây Nguyên có thể an toàn hơn. Họ đã đi bằng nhiều đường khác nhau, sau nhiều lần thất bại cuối cùng đã lên được đến vùng người Ba Na ở Kontum và thiết lập được xứ đạo đầu tiên trên cao nguyên tại đây. Tại Đại chủng viện ở thị xã Komtum hiện nay có một bảo tàng (được gọi là “Phòng truyền thống”) minh họa khá sinh động và chính xác con đường truyền đạo Cơ-đốc lên Tây Nguyên. Nhiều nhà truyền giáo cũng là những nhà dân tộc học tận tụy và uyên bác. Chính họ đã để lại những công trình nghiên cứu đa dạng và sâu sắc về Tây Nguyên.

Đồng thời và tiếp sau các nhà truyền giáo là các “phái bộ” (mission) khảo sát, vừa là những người tiên phong đi chuẩn bị và dọn đường cho việc chinh phục, đồng thời cũng là những nhà khoa học được đào tạo rất cơ bản, ít nhất ở hai trường Dân tộc học và Trường Pháp quốc hải ngoại (École française d’Outre-mer), một số người là sĩ quan quân đội. Nhiều phái bộ như vậy đã đi hầu khắp Tây Nguyên, không bỏ sót một vùng nào, nghiên cứu hoặc một cách tổng thể về vùng đất và người này, hoặc về từng phương diện, từng tộc người, từng vùng riêng biệt. Một trong những phái bộ đó, do Henri Maitre dẫn đầu, đã để lại một tác phẩm đồ sộ đến nay vẫn là công trình khảo sát cơ bản, toàn diện và tỉ mỉ nhất về Tây Nguyên, chưa ai vượt qua được. Công trình này có tên là Les jungles Mois (Rú Mọi), gồm hai phần, phần đầu là Nhật ký hành trình của phái bộ xuyên suốt Tây Nguyên, phần hai trên cơ sở tổng kết toàn bộ các khảo sát, dựng nên bức tranh toàn diện về Tây Nguyên. Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội đã tổ chức dịch phần hai công trình này, dưới cái tên Rừng người Thượng, đang được in ở nhà xuất bản Tri Thức.

Tiếp sau các phái bộ khảo sát là các nhà cai trị, cũng được đào tạo rất cơ bản về nhân chủng học, dân tộc học trước khi sang Việt Nam. Rất nhiều người trong số này, như Sabatier, công sứ Pháp đầu tiên ở Đắc Lắc, là nhà khoa học uyên bác. Ông là người đầu tiên sưu tầm và dịch ra tiếng Pháp trường ca Đam San, cũng đã sưu tầm và hệ thống hoá toàn bộ luật tục Ê Đê. Ông từng cai trị tỉnh Đắc Lắc bằng một kiểu “Tòa án Luật tục”, kết hợp khôn khéo luật tục của người Ê Đê với luật chung cho toàn Đông Dương. Bên cạnh những viên quan cai trị này, còn có những nhà chuyên môn giỏi và tâm huyết trong nhiều lĩnh vực, như Antomarchi, một nhà ngôn ngữ học lão luyện, người đã đặt ra vần chữ cái La tinh đầu tiên cho tiếng Ê Đê. Thậm chí còn có những bác sĩ như Jouin, vừa là một thầy thuốc nổi tiếng, vừa là một nhà dân tộc học sâu sắc…

Sau cùng đến lượt các nhà khoa học chuyên nghiệp, như G. Condominas, A. de Hautecloque-Howe, Boulbet, Maurice…, thường đi sâu và ở lại lâu dài trong các vùng thực địa, để lại những công trình quan trọng hoặc về từng dân tộc hoặc về từng vấn đề dân tộc học lớn ở Tây Nguyên. Có người như Jacques Dournes, là một linh mục đến Tây Nguyên, ở lại suốt hai mươi lăm năm, cuối cùng bỏ đạo, sống theo phong tục Tây Nguyên, là một nhà Tây Nguyên học lớn…

Công cuộc chinh phục Tây Nguyên của người Pháp diễn ra song song với cuộc xâm chiếm Việt Nam và toàn Đông Dương. Ở Tây Nguyên họ cũng gặp phải sự kháng cự của các bộ lạc bản địa. Trước đây, giữa các bộ lạc ở đây vẫn thường diễn ra chiến tranh, chủ yếu để cướp tù binh bán sang các nước chung quanh làm nô lệ. Vốn là những dân tộc quen sống tự do, phóng khoáng, có ý thức tự trọng và tinh thần thượng võ cao, không chịu bất cứ sự áp bức, áp đặt nào, họ đã đứng lên chống lại những người mới đến mang tới một ách thống trị xa lạ. Tuy nhiên những cuộc kháng cự thường rời rạc, một vài phong trào liên kết được một số vùng tương đối rộng không tồn tại được lâu. Song cũng có những vùng cuộc đấu tranh diễn ra khá dai dẳng, thậm chí có nơi suốt gần trăm năm đô hộ người Pháp vẫn không hoàn toàn thiết lập được bộ máy cai trị.

Khi đã chiếm được toàn bộ Đông Dương, người Pháp đã chia bán đảo này ra thành năm xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao miên. Vậy nên phân Tây Nguyên về đâu? Họ có cái mà Jacques Dournes, trong tác phẩm P’tao… của ông, gọi là “logique du découpage” (lô gích của sự phân cắt), tất nhiên là lô gích phân cắt sao cho thuận tiện hơn cả đối với sự cai trị của chính quyền thực dân. Thấy trong các “lân bang” trước nay, người Lào đã xâm nhập vào Tây Nguyên sâu hơn cả, về mặt chủng tộc cũng tương đối gần gũi, nên họ cắt Tây Nguyên về Lào. Một thời gian sau, nhận thấy thủ đô Lào đặt ở Viêng Chăn quá xa, khó với tới Tây Nguyên, đến năm 1904 Toàn quyền Đông Dương đã ký nghị định giao Tây Nguyên về cho triều đình Huế. Như vậy về mặt pháp lý (của chính quyền thực dân), từ năm 1904 Tây Nguyên mới chính thức thuộc về Trung Kỳ, và từ đó thuộc về Việt Nam.

Chủ trương của người Pháp đối với Tây Nguyên trước sau không hoàn toàn thống nhất. Viên công sứ Pháp đầu tiên cai trị Tây Nguyên là Sabatier (lúc bấy giờ toàn bộ Tây Nguyên được coi là một tỉnh gọi là tỉnh Kontum, thủ phủ đặt ở Buôn Ma Thuột) chủ trương “bảo tồn” nguyên vẹn Tây Nguyên, ngăn không cho người Việt, người Hoa, và cả người Pháp lên sinh sống và khai thác Tây Nguyên. Ông muốn giữ không chỉ đất đai, mà cả con người, văn hoá, xã hội Tây Nguyên mà ông khá am hiểu trong trạng thái đúng như khi nó được “tìm thấy”, không để cho vùng đất, người, văn hoá và xã hội cổ truyền tốt đẹp này bị tổn thương vì sự xâm nhập của các thế lực ngoại lai. Ông kiên trì thu phục được các tù trưởng bản địa (Ama Thuột chính là một tù trưởng có ảnh hưởng lớn trong vùng Ê Đê, đã quy thuận, hợp tác với Sabatier, và làng của ông, Buôn Ma Thuột

, trở thành thủ phủ của toàn vùng. Sabatier tự biến mình thành một tù trưởng đứng đầu toàn xứ, tổ chức nhiều cuộc ăn thề kết nghĩa trung thành với các tù trưởng lớn trong vùng, thiết lập một bộ máy và một phương thức cai trị dựa trên luật tục của các dân tộc bản địa…

Chính sách “đóng cửa Tây Nguyên” của Sabatier vấp phải sự chống đối của các thế lực thực dân muốn đổ xô vào khai thác vùng đất màu mở này. Cuối cùng, do áp lực gay gắt của họ, Sabatier bị lật đổ, ông đã thất bại trong ý đồ có thể tốt đẹp nhưng ảo tưởng của ông… Từ đó các nhà thực dân Pháp mới bắt đầu khai thác Tây Nguyên, chủ yếu là lập các đồn điền cà phê, cao su, chè do người Pháp làm chủ, sử dụng một số công nhân người Việt được đưa lên đây, và dần dần có thêm ít nhiều công nhân người Tây Nguyên…

Chính trong thời gian cai trị của người Pháp, đã đào tạo được một số trí thức trong các dân tộc bản địa Tây Nguyên, chủ yếu trong hai ngành y tế và giáo dục. Hầu như tất cả các trí thức này về sau đều trở thành cán bộ nòng cốt của cách mạng ở Tây Nguyên…

Chỉ hơn một tháng sau Cách mạng Tháng Tám, quân Pháp đã trở lại đánh chiếm Nam Bộ, tiếp liền sau đó là Tây Nguyên. Đáng chú ý là suốt 9 năm chiến tranh Pháp không chiếm được vùng duyên hải Nam Trung Bộ từ nửa tỉnh Quảng Nam vào đến Phú Yên, nhưng họ lại tập trung sức quyết chiếm Tây Nguyên. Ấy là vì vị trí chiến lược hết sức quan trọng của Tây Nguyên, về mặt quân sự “ai làm chủ được Tây Nguyên thì sẽ làm chủ cả miền nam Đông Dương”. Cuộc kháng chiến 9 năm ở vùng Nam Trung Bộ (lúc bấy giờ gọi là Liên khu 5) chính là cuộc giành giật quyết liệt giữa ta và địch vùng cao nguyên chiến lược này. Chính qua cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung này mà các dân tộc Tây Nguyên đã trở nên gần gũi và gắn bó ngày càng sâu sắc với cách mạng, với cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trở thành một bộ phận khắng khít không thể tách rời của cộng đồng rộng lớn đó. Từ những cơ sở chính trị đầu tiên được kiên trì xây dựng, tiến lên thành những cơ sở du kích vũ trang, các làng chiến đấu kiên cường, đến cuối những năm kháng chiến chống Pháp Tây Nguyên đã có thể trở thành địa bàn thuận lợi cho các đơn vị chủ lực mở những chiến dịch ngày càng lớn, cho đến chiến dịch Đông- Xuân 1953-54, phối hợp với Điện Biên Phủ, giải phóng hoàn toàn tỉnh Kontum và toàn bộ vùng Bắc Tây Nguyên…

Từ sau năm 1954 đến năm 1959-60, Tây Nguyên đã trải qua một giai đoạn rất đặc biệt. Đây là thời kỳ phong trào cách mạng ở miền Nam bị đánh phá hết sức ác liệt, tổn thất nặng nề trong các chiến dịch “chống cọng, tố cọng” của chính quyền Sài Gòn. Những cán bộ cọng sản không còn trụ lại được ở đồng bằng phải lánh lên miền núi để bảo tồn lực lượng. Họ phải lặn mình trong đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, dựa vào dân, được dân bảo vệ, nuôi dưỡng mà tồn tại. Chính trong hoàn cảnh này công tác vận động quần chúng đã được thực hiện tốt hơn cả. Để tồn tại, và là tồn tại để rồi sẽ đến lúc bùng dậy giành lại thế tấn công, những người cọng sản không chỉ dựa vào dân để được che chở mà còn phải ra sức gây dựng và phát triển tốt nhất, sâu nhất mọi mặt đời sống xã hội ở vùng dân tộc, và để làm được điều đó lại phải hiểu biết sâu sắc hơn bao giờ hết những đặc điểm quan trọng nhất của xã hội này, tôn trọng và vận dụng những đặc điểm đó trong công tác vận động quần chúng. Kết quả là trong khi phong trào cách mạng ở đồng bằng phải trải qua một giai đoạn thoái trào nghiêm trọng, thì ở miền núi và vùng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên ngược lại không hề có thoái trào, mà là phát triển mạnh mẽ và sâu sắc. Thậm chí ở một số vùng đã thực hiện được những điều kỳ lạ: như ở vùng người Cơ Tu và người Cà Dong thuộc miền núi Quảng Nam, một số cán bộ trụ bám ở lại tại đây đã tự mình mày mò sáng tạo ra chữ viết cho hai dân tộc này và từ năm 1954 đến năm 1959 đã thanh toán xong nạn mù chữ trong đồng bào dân tộc ở đây… Chính trên cơ sở đó mà khi bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ Tây Nguyên đã đạt đến một thời kỳ có thể gọi là cao trào, sự đóng góp của Tây Nguyên vào công cuộc chống Mỹ cứu nước là vô cùng to lớn. Không thể hình dung cuộc chiến đấu vĩ đại này và chiến công giải phóng Sài Gòn nếu không có Tây Nguyên…

Tóm lại, do những điều kiện lịch sử đặc trưng, các dân tộc Tây Nguyên đến với cộng đồng các dân tộc Việt Nam khá muộn, nhưng quá trình gia nhập và gắn bó với cộng đồng này lại rất nhanh và sâu sắc. Cho đến năm 1975, tình hình Tây Nguyên là rất tốt về mọi mặt.

4 – Về các dân tộc Tây Nguyên.

Tây Nguyên có khoảng 20 dân tộc khác nhau. Nói là “khoảng” vì có dân tộc theo bảng phân định dân tộc chính thức của nhà nước hiện nay được coi là một nhánh của một dân tộc chung lớn hơn, nhưng cho đến nay lại không chịu chấp nhận cách phân loại đó mà tự coi mình là một dân tộc riêng. Như người Cà Dong ở miền núi tây Quảng Nam, theo bảng phân loại dân tộc học của nhà nước là một nhánh của dân tộc Xơ Đăng, nhưng hầu hết người Cà Dong nhất định tự coi mình là một dân tộc riêng với tất cả các đặc điểm riêng của một dân tộc độc lập…

Các dân tộc ở Tây Nguyên thuộc hai ngữ hệ khác nhau: Môn-Khơme (hay Nam Á) và Malayo-Polynésien (hay Nam Đảo). Quan sát sự phân bố các dân tộc ở Tây Nguyên theo ngữ hệ có thể thấy một điều đáng chú ý: thuộc ngữ hệ Môn-Khơme có các dân tộc ở Bắc Tây Nguyên từ khoảng giữa tỉnh Gia Lai hiện nay trở ra, như các dân tộc Xơ Đăng, Cơ Tu, Dẻ Triêng, Rơ Mâm, Ba Na, Brâu…, và các dân tộc ở miền Nam Tây Nguyên từ nửa tỉnh Đắc Lắc trở vào như các dân tộc Mơ Nông, Kơ Ho, Mạ, Sre, Stiêng… Chen vào giữa, trên vùng đất từ giữa tỉnh Gia Lai hiện nay cho đến nửa tỉnh Đắc Lắc, là các dân tộc thuộc ngữ hệ Malayo-Polynésien gồm người Gia Rai, người Ê Đê, người Chu Rú, người Rakglei. Người Chàm sống ở vùng duyên hải nam Trung Bộ cũng thuộc ngữ hệ này. Có tác giả đã giải thích hiện tượng này như sau: Từ xa xưa Tây Nguyên vốn là vùng đất của các dân tộc Môn-Khơme. Các dân tộc Malayo-Polynésien đã từ các đảo phía nam đến, trước tiên đổ vào dải đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ hiện nay. Các dân tộc này đã chịu ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ, trong số đó riêng người Chàm đã phát triển thành một vương quốc hùng mạnh, và ép các dân tộc ở cạnh mình ra, buộc họ phải tìm cách tràn lên vùng đất cao phía tây. Do địa hình dốc đứng trên sườn phía đông của cao nguyên này, họ chỉ có thể tràn lên theo một số đường độc đạo nhất định: người Gia Rai đã lên theo đường đèo An Khê (tức đường 19 hiện nay) và đường Bà Lá, Cà Lúi, lên Cheo Reo, Ayun Par (tức đường số 25), chiếm cao nguyên Gia Lai; Người Ê Đê lên theo đường đèo Phượng Hoàng (tức đường 26 hiện nay) chiếm cao nguyên Đắc Lắc; Người Rakglei thì tạt lên mạn tây Khánh Hòa, Bình Thuận, Ninh Thuận, ở đây địa hình dốc đứng cản trở họ có thể lên xa hơn. Như vậy các dân tộc Malayo-Polynésien đã từ đồng bằng nam Trung Bộ tiến về phía tây, chen vào giữa như một chiếc nêm, ép các dân tộc Môn-Khơme ra hai đầu. Đương nhiên điều này diễn ra trong những thời kỳ lịch sử rất xa xưa, có thể khi Biển Đông còn cạn, miền nam bán đảo Đông Dương có thể còn gắn liền với các đảo Nam Á.

Đông, mạnh nhất ở Tây Nguyên là dân tộc Gia Rai, rồi đến người Ê Đê, người Ba Na, người Xơ Đăng… Cũng có những dân tộc rất nhỏ như người Châu ở trong thung lũng Mường Hon của núi Ngok Linh, chỉ có khoảng 80 người…

II- Hai vấn đề lớn trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền

A – Làng

Trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền, vẫn còn rất đậm nét cho đến tận ngày nay, làng là đơn vị xã hội cơ bản và duy nhất. Không có đơn vị xã hội cao hơn làng. Trong nhiều ngôn ngữ các dân tộc Tây Nguyên không có từ để chỉ đơn vị cao hơn làng. Boon trong tiếng Mơ Nông, Buôn trong tiếng Ê Đê, Plei trong tiếng Gia Rai, Ba Na, Veil trong tiếng Cơ Tu… đều có nghĩa là làng. Ngày trước trong một số dân tộc có từ T’ring dùng để chỉ liên minh giữa một số làng, nhưng đấy chỉ là những liên minh tạm thời để cùng nhau đối phó với một số trở lực nào đó, khi trở lực ấy đã được giải quyết thì những liên minh đó cũng tan rã, không hề có lãnh thổ và tổ chức hành chính tương đương.

Trong xã hội cổ truyền Tây Nguyên cũng không có đơn vị nhỏ hơn làng. Ở đây ý thức về cá nhân chưa phát triển, không có cá nhân độc lập đối với làng. Khi gặp một người Tây Nguyên, hỏi anh ta tên gì, thì phản xạ tự nhiên đầu tiên của anh ta là trả lời : Tôi là người của làng X hay Y nào đấy. Gạn hỏi kỹ hơn nữa : Nhưng anh tên là gì ?, lúc đó anh ta mới trả lời rõ hơn : Tôi là A hay B ở làng X hay Y. Vẫn không thể quên làng. Con người là một bộ phận nhỏ chìm trong cộng đồng làng, hoaf tan trong làng, không thể tách rời khỏi làng. Ở Tây Nguyên, hình phạt nặng nề nhất, nổi đau đớn lớn nhất, điều nhục nhã nhất đối với một người là bị đuổi khỏi làng. Thậm chí trong trường hợp đó con người mất luôn cả tính người, không làng nào khác chấp nhận anh ta nữa, anh ta sẽ trở thành như một con thú, lang thang và chết vùi trong rừng. Nếu ta thường nói người Tây Nguyên có tính cộng đồng rất cao, thì tính cộng đồng đó là tính cộng đồng làng, thậm chí còn sâu đậm và cụ thể hơn cả ý thức về tộc người. Một người Ba Na biết mình là người Ba Na, nhưng ý thức về tộc người Ba Na không sâu đậm bằng ý thức về làng của mình. Ngày trước, trong chiến tranh bộ lạc, không phải chẳng hạn mấy làng Ba Na này liên minh lại đi đánh nhau với mấy làng Gia Rai kia, mà là hai ba làng Ba Na này liên minh với vài ba làng Gia Rai kia đi đánh hai ba làng Gia Rai khác liên minh với vài ba làng Ba Na khác.

Làng được điều hành bằng một tổ chức đặc biệt là Hội đồng già làng, gồm đại diện của các hộ trong làng. Đứng đầu Hội đồng già làng là chủ làng. Già làng là những người hiền minh nhất của làng, những người am hiểu rừng núi, đất đai, phong tục tập quán, giàu kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm sống, giỏi giang trong đối ngoại, và là người có đức độ cao, được dân làng bầu lên, có thể bị truất phế khi có những vi phạm đối với các quy định truyền thống của làng… Những người như vậy thường là những người đã cao tuổi, nhưng cũng có những người còn khá trẻ vẫn được bầu làm già làng nếu được sự tin cậy và kính trọng của toàn làng.

Hội đồng già làng quản lý làng theo một hệ thống luật pháp đặc biệt : luật tục (droit coutumier) của làng, tức những điều được cả cộng đồng công nhận và tuân theo như là luật, song lại tồn tại dưới hình thức là những phong tục. Cũng có người dịch là tập quán pháp, tức những tập quán được cả cộng đồng tuân thủ như luật. Già làng chính là những người am hiểu tường tận luật tục. Trong Hội đồng già làng thường có một người có chức năng phân xử mọi bất đồng hay vi phạm bằng hình thức tòa án luật tục của làng.

Sức sống bền vững của làng ở Tây Nguyên quả thật rất kỳ lạ, trải qua tất cả các biến động của lịch sử. Trong các cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ vừa qua, nhiều lúc làng bị đánh dữ dội, bị xé nát, bị di chuyển đi xa, nhưng rồi cộng đồng làng lại được khôi phục, hồi sinh. Cho đến nay, mặc dầu bị xáo trộn rất dữ trong những chuyển động xã hội suốt mấy mươi năm qua, về cơ bản cộng đồng làng vẫn còn. Một bằng chứng đáng chú ý là trong mấy cuộc bạo động vừa rồi ở Tây Nguyên, làng nào đã đi biểu tình thì bao giờ cũng đi nguyên cả một làng, không bao giờ có hiện tượng đi lẻ tẻ, và đã đi cả làng thì bao giờ cũng là do già làng dẫn đầu.

Trong công tác vận động quần chúng ở Tây Nguyên thời chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, kinh nghiệm thành công quan trọng nhất là phải hiểu biết sâu xa và dựa chắc vào đặc điểm xã hội này, phát huy được vai trò của làng, của già làng trong mọi việc, ở mọi tình huống. Không hiểu và nắm được làng và già làng, thì sẽ không hiểu và nắm được gì cả ở Tây Nguyên, mọi công việc ắt thất bại. Và nếu làng ở đây tan rã thì nguy cơ rối loạn xã hội sẽ rất lớn.

B – Sở hữu Đất và Rừng

Ở Tây Nguyên, rừng núi mênh mông vậy nhưng đều có chủ rành mạch, cụ thể. Không có đất và rừng vô chủ. Người chủ của đất và rừng chính là các làng, từng làng. Rừng núi, tất cả đã được “chia” cho từng làng từ xa xưa, “đã là như vậy từ tổ tiên muôn đời truyền lại”, đã được “Yang (tức Thần linh) giao cho từng làng”, có ranh giới rất rõ rệt. Đất, rừng của làng là thiêng liêng, không ai được xâm phạm, không ai được làm ô uế. Người ta gọi đó là Quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng.

Sở hữu rừng của một làng gồm có những loại rừng sau đây :

– Rừng đã biến thành đất thổ cư ;

– Rừng sản xuất, tức khu rừng dân làng khai thác để làm rẫy ;

– Rừng sinh hoạt, là nơi dân làng tìm lấy những thứ cần thiết cho mọi sinh hoạt của mình : con ong, cái mật, dây mây, rau ăn, con thú để săn bẫy, gỗ để làm nhà…:

– Rừng thiêng (hay rừng ma) là nơi trú ngụ của các Yang (Thần linh), không ai được động đến, thường là rừng đầu nguồn. Đây thực chất là kinh nghiệm giữ rừng đầu nguồn được tích lũy lâu đời của người dân, bọc bên ngoài là một lớp vỏ tín ngưỡng.

Tất cả các loại rừng đó hợp thành không gian sinh tồn (espace vital), hay cũng có người như Condominas gọi là không gian xã hội (espace social) của làng. Một làng cần có đủ các loại rừng kể trên để có thể sinh tồn như một không gian xã hội, làm nên tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên.

Hội đồng già làng quản lý sở hữu tập thể này của cộng đồng làng bằng một hệ thống luật tục chặt chẽ và sinh động. Chính Hội đồng già làng chia khu rừng sản xuất cho các hộ trong làng để làm rẫy theo đúng những quy định trong luật tục, cũng theo đúng những quy định đó khai thác khu rừng sinh hoạt cho các nhu cầu hằng ngày của mình, giữ gìn khu rừng thiêng, và tôn trọng đúng các tập quán trong làng, tức trong khu rừng đã biến thành đất thổ cư, thành làng. Hằng năm, đất rừng làm rẫy có thể được điều chỉnh lại giữa các hộ nếu có người đông lên hay giảm đi. Về nguyên tắc, các hộ trong làng có thể chuyển đổi đất rừng canh tác cho nhau, nhưng tuyệt đối không được chuyển nhượng ra khỏi làng.

Như vậy, hai đặc điểm quan trọng của xã hội cổ truyền Tây Nguyên, Làng và Sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng gắn chặt với nhau. Chúng ta thấy rõ làng Tây Nguyên là “làng rừng” và là :

– một cộng đồng cư trú ;

– một cộng đồng sở hữu và lợi ích ;

– một cộng đồng tâm linh ;

– một cộng đồng văn hoá.

Quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng chính là nền tảng kinh tế, vật chất của thực thể cộng đồng làng. Toàn bộ đời sống vật chất, kinh tế, văn hoá, tinh thần, tâm linh, đạo đức của làng, của con người Tây Nguyên tồn tại trên nền tảng này. Sẽ rối loạn, đổ vỡ tất cả khi nền tảng này bị tổn thương và mất đi.

III – Tây Nguyên từ sau năm 1975

A – Những chủ trương lớn đối với Tây Nguyên từ sau năm 1975

Từ sau năm 1975, đối với Tây Nguyên chúng ta có hai chủ trương chiến lược:

* Xây dựng Tây Nguyên thành một địa bàn vững chắc về an ninh và quốc phòng, tương xứng với vị trí chiến lược của vùng cao nguyên quan trọng này.

* Xây dựng Tây Nguyên thành một vùng trọng điểm kinh tế của cả nước.

Để thực hiện chủ trương chiến lược đó, đã :

– Tăng cường lực lượng lao động lớn cho Tây Nguyên bằng cách tiến hành một cuộc đại di dân chưa từng có, chủ yếu từ đồng bằng châu thổ sông Hồng và vùng duyên hải Nam Trung Bộ lên Tây Nguyên. Theo kế hoạch ban đầu, dự kiến sẽ đưa lên Tây Nguyên 5 triệu dân. Kế hoạch này cũng đồng thời nhằm giải toar áp lực dân số cho hai vùng đồng bằng nói trên.

– Tổ chức toàn bộ Tây Nguyên thành các đơn vị kinh tế lớn : trong 10 năm đầu là các Binh đoàn làm kinh tế, gồm 3 binh đoàn 331, 332, 333 bao trùm gần toàn bộ Tây Nguyên. Mười năm sau, quân đội giao lại cho dân sự, các binh đoàn làm kinh tế chuyển thành các Liên Hiệp Xí nghiệp Nông, Lâm, Công nghiệp (LHXNNLCN), cũng bao trùm gần hết Tây Nguyên. Sau 10 năm nữa, nhận thấy mô hình quản lý này không hiệu quả, đã giải tán các LHXNNLCN, tổ chức lại thành các nông trường, lâm trường thuộc tỉnh hoặc thuộc trung ương.

Toàn bộ đất và rừng ở Tây Nguyên được quốc hữu hoá, được lấy giao cho các binh đoàn làm kinh tế, các LHXNNLCN, các nông trường, lâm trường, và giao cho dân di cư từ đồng bằng lên. Người bản địa chỉ còn phần đất thổ cư và một ít đất làm rẫy.

B – Một số ngộ nhận hoặc hời hợt trong chủ trương, chính sách đối với Tây Nguyên

* Về quyền sở hữu đất và rừng.

Ngộ nhận lớn nhất, tai hại nhất khi lập chủ trương, chính sách đối với Tây Nguyên là ta hầu như hoàn toàn không biết, không hề quan tâm đến quyền sở hữu truyền thống ở Tây Nguyên đối với đất và rừng. Ta đã ngộ nhận đất, rừng Tây Nguyên là vô chủ, là đất giữa trời, chẳng của ai hết. Ta đã hành động ở Tây Nguyên như trên một vùng đất không có người, lấy đất và rừng từ ngàn đời nay đã “được Yang giao cho làng”, từng làng, đem giao cho các đơn vị làm kinh tế mới được lập lên và cho hàng triệu người nơi khác được đưa đến, một cách hết sức “vô tư”. Đây là điều chưa từng diễn ra trong suốt lịch sử lâu dài ở Tây Nguyên từ xưa đến nay.

* Về phương thức canh tác ở Tây Nguyên : người Tây Nguyên có du canh, du cư ?

Để làm mọi việc ở Tây Nguyên, cũng như ở nhiều vùng miền núi khác, ta đã chủ trương trước hết phải định canh, định cư. Công tác định canh, định cư được coi là biện pháp hàng đầu, quan trọng, quyết định nhất, trước khi tiến hành mọi việc khác. Chủ trương đó dựa trên nhận định người Tây Nguyên vốn du canh, du cư, và du canh, du cư, làm rẫy thì phá rừng… Vậy người Tây Nguyên có du canh, du cư, phá rừng ?

Hãy thử nhìn vào kiến trúc ở Tây Nguyên. Một số dân tộc thuộc ngữ hệ Môn-Khơ Me ở phía Bắc Tây Nguyên có kiến trúc nhà rông rất đặc sắc. Nhà rông làng Kông Rơ Bàng của người Ba Na ở Kontum, được dựng lại đúng y nguyên mẫu, đúng nguyên kích thước tại Bảo tàng Dân tộc học Hà Nội, cao đến vài chục mét, bằng một tòa nhà 5 tầng, cột nhà rông to hai người ôm, mái cao vút sừng sững. Những dân tộc thuộc ngữ hệ Malayo-Polynésien không có nhà rông thì lại có kiến trúc nhà dài đặc sắc không kém. Nhà dài của ông Ama Thuột (tại thành phố Buôn Ma Thuột hiện nay) ngày trước dài đến gần 200 mét, đến nổi khi người chủ nhà muốn tập họp con cháu trong nhà thì phải thổi tù và. Các làng Ê Đê hiện nay vẫn còn những nhà dài đến vài ba chục mét, cây đòn dông trên mái nhà là một cây gỗ nguyên khối, không thể tìm thấy chỗ nối… Những dân tộc có kiến trúc vững chãi, đồ sộ như vậy chắc chắn không thể là những dân tộc sống tạm bợ, lang thang nay đây mai đó. Họ không hề du cư. Người Tây Nguyên chỉ dời làng trong mấy trường hợp : khi có dịch bệnh, chết nhiều người, “đất làng độc, có ma” ; hoặc khi mất nguồn nước uống bao giờ cũng được dẫn từ trên đỉnh núi cao xuống, bảo đảm trong sạch ; và trong trường hợp chiến tranh bộ lạc ngày trước… Còn thì làng là làng định cư ở một vị trí thuận lợi cho phương thức canh tác cũng không hề du canh. Người Tây Nguyên làm rẫy bằng cách đốt một khoảnh rừng và tỉa lúa xuống đấy. Chất mùn do lá rụng lâu năm và chất tro đốt có tác dụng phân bón. Một khoảnh đất canh tác như vậy trong hai hay ba năm thì bạc màu, người ta để hưu canh (ở Tây Nguyên gọi là “rẫy dế”), chuyển sang đốt một khoảnh rừng khác. Kỹ thuật chặt và đốt rừng làm rẫy được quy định rất chặt chẽ trong luật tục, không hề lãng phí và không bao giờ để xảy ra cháy rừng… Mỗi hộ trong làng thường có từ 10 đến 20 rẫy. Khi đã khai thác đến rẫy thứ 10 hay thứ 20, quay lại rẫy đầu tiên thì đã là 40 đến 60 năm, đủ thời gian cho rừng tái sinh. Đấy là phương thức tìm lấy thức ăn từ rừng và nuôi rừng khôn ngoan đã được tích luỹ và thử thách hàng nghìn đời. Cuốn sách nổi tiếng Chúng tôi ăn rừng… của nhà dân tộc học George Condominas chính là nói về cách sinh sống này của người Mơ Nông Gar ở nam Đắc Lắc. Đây là phương thức canh tác “luân khoảnh” – cách gọi đúng hơn “luân canh”, luân canh có thể được hiểu là năm nay trồng loại cây này sang năm chuyển sang trồng loại cây khác. Kinh nghiệm được tổng kết ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy nếu mật độ dân số không quá 10 người / km² thì làm rẫy không hề phá rừng. Làng Tây Nguyên định cư ở tâm điểm của vòng luân khoảnh ấy. Trong thực tế những thời gian cần phải làm việc nhiều ở rẫy những người lao động chính thường sống ở chòi rẫy, trong làng chỉ còn người già và trẻ em. Hết mùa rẫy làng lại đông vui, đây cũng là mùa “Ninh Nông” (mùa không làm rẫy), mùa lễ hội tưng bừng của Tây Nguyên.

Không hiểu đúng phương thức sinh sống và canh tác truyền thống của người Tây Nguyên, nhận định một cách cảm tính rằng người Tây Nguyên du canh, du cư, làm rẫy phá rừng… thì tất yếu không thể hiểu làng, cơ cấu, nền tảng vật chất, không gian sinh tồn, vai trò, vị trí của làng, tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên. Tức cũng không thể hiểu đúng xã hội này, lại vào lúc chúng ta đang muốn tạo ra những thay đổi to lớn nhất xưa nay chưa từng có trên vùng đất và người ở đây. Cuộc vận động định canh định cư, thực chất mang nhiều tính chất ép buộc, cũng đã góp phần phá vỡ các làng Tây Nguyên cổ truyền, làm xáo trộn xã hội.

* Hiểu rừng, cội nguồn của văn hoá và đời sống tâm linh ở Tây Nguyên

Đối với người Tây Nguyên, rừng không chỉ là tài nguyên, thậm chí cũng không chỉ là “môi trường”, “sinh thái” như cách hiểu thông thường của chúng ta về môi trường, sinh thái. Người Tây Nguyên có phong tục “bỏ mả”. Khi một người chết, người ta chôn trong một ngôi mộ tạm, con người ấy còn được coi như chưa đi hẳn khỏi thế giới này. Hàng ngày, người ta vẫn mang cơm nước và các vật dụng ra mộ để “nuôi” như nuôi một người còn sống. Trong thời gian đó, lâu ngắn tuỳ theo điều kiện của từng gia đình, người ta chuẩn bị một ngôi nhà mồ thật đẹp (trên chính ngôi mộ tạm), khi mọi việc đã xong thì làm lễ bỏ mả, một trong những lễ hội lớn và quan trọng nhất ở Tây Nguyên, diễn ra trong mùa Ninh Nông. Cả làng đều tham gia, nhiều làng lân cận cũng kéo đến, người ta làm lễ tiễn đưa người chết mãi mãi đi khỏi thế gian này. Sau lễ lớn đó, ngôi mộ sẽ bị bỏ hẳn, không ai chăm sóc, viếng thăm gì nữa. Con người ấy, theo quan niệm của người Tây Nguyên, vốn là một mẩu nhỏ của rừng vô tận và trường cữu, từ trong thăm thẳm không cùng của rừng mà đi ra, nay lại mãi mãi trở về với cội nguồn của mình là rừng, được trả về cho cội nguồn đó. Con người là một bộ phận nhỏ, và cũng có thể nói là tạm thời của thực thể to lớn và vĩnh cữu là rừng. Rừng mới là tất cả, là trường tồn, con người và cuộc sống trần thế của con người chỉ là một phần rất nhỏ, thoáng qua của thực thể bao trùm kia.

Người Tây Nguyên, tự trong sâu thẳm của họ, có một tình cảm thân thiết ruột thịt và một lòng kính trọng thiêng liêng đối với rừng, họ coi từng cây rừng đúng như một sinh vật sống chẳng hề thua kém con người, cũng có linh hồn ngang bằng con người, cũng đầy cảm xúc, vui mừng, hạnh phúc, đau đớn hệt con người. Khi buộc phải chặt hạ một cây gỗ cho nhu cầu thiết yếu của mình, bao giờ người Tây Nguyên cũng ân cần làm lễ xin lỗi cây, tạ ơn rừng. Người Tây Nguyên sống “theo đạo đức của rừng”, quan niệm con người cần phải hiền minh như rừng.

Như vậy ở Tây Nguyên, rừng là cội nguồn của đời sống tâm linh, tức phần sâu xa nhất trong con người và cộng đồng người, mất rừng thì con người và cộng đồng người mất đi cái nền rộng lớn, bền chặt, sâu thẳm nhất của mình, trở nên bơ vơ, “tha hoá”, mất gốc, mất cội nguồn.

Rừng cũng là cội nguồn của văn hoá, văn hoá Tây Nguyên là văn hoá rừng, toàn bộ đời sống văn hoá ở đây đều là biểu hiện mối quan hệ khắng khít, máu thịt của con người, cộng đồng người với rừng. Khi không còn rừng thì tất yếu văn hoá sẽ chết. Còn lại chỉ là những cái xác của văn hoá, văn hoá dỏm, giả…

Hiểu rừng một cách hời hợt, coi chỉ là tài nguyên, thậm chí là môi trường, sinh thái, tất không thể hiểu đúng nền tảng sâu xa, cơ bản nhất của xã hội này, và mọi việc làm của chúng ta ở đây chắc chắn không thể thành công, chỉ trợt đi trên bề mặt của thực tế, không ăn được vào đời sống.

* Sức chịu đựng cây công nghiệp của Tây Nguyên

Tây Nguyên là vùng đất bazan lớn nhất nước và đất bazan đặc biệt thích hợp với một số cây công nghiệp như cà phê, cao su… tạo ra sản phẩm có giá trị xuất khẩu đáng kể. Chủ trương biến Tây Nguyên thành một vùng trọng điểm kinh tế trong cả nước chính là dựa phần lớn vào ưu thế này. Tuy nhiên sức chịu đựng cây công ngiệp của Tây Nguyên dẫu lớn nhưng cũng có hạn, phát triển quá một mức nào đó thì sẽ phá rừng. Hạn mức đó đối với cà phê là 500.000 hecta, hiện nay đã bị vượt quá. Rừng Tây Nguyên là rừng nhiệt đới, nhiều tầng, thảm thực vật rất dày. Các nhà khoa học cho biết lá cây rừng nhiệt đới có tác dụng hấp thu năng lượng mặt trời gấp 30 lần rừng trồng. Cây cà phê, cả cây cao su, và đến cả rừng trồng đều không thể thay thế rừng nhiệt đới nguyên sinh.

Ở Tây Nguyên còn có vấn đề nước. Đất bazan không giữ nước. Đến mùa khô Tây Nguyên hầu như hoàn toàn không có nước. Những người trồng cà phê phải khoan sâu đến hàng trăm mét lấy nước ngầm tưới cà phê. Nguồn nước ngầm bị khai thác quá mức. Đến năm 1997, tầng nước ngầm ở Tây Nguyên đã tụt xuống 20 mét. Nếu tiếp tục tình trạng này, sẽ dẫn đến hiện tượng latérite hoá, tức đá ong hoá. Chúng ta sẽ để lại cho con cháu một cao nguyên đá ong !

C – Hệ quả

Những việc làm của chúng ta ở Tây Nguyên từ sau 1975 như đã trình bày trên đã đưa đến những hệ quả :

1- Dân số Tây Nguyên tăng nhanh, đột ngột, với cường độ lớn. Năm 1975, dân số Tây Nguyên khoảng dưới 1 triệu người, đến nay đã lên 5 triệu người, tăng gấp 5 lần, là vùng tăng dân số nhiều và nhanh nhất nước. Và ở đây là tăng cơ học, tức do đưa người nơi khác đến, chứ không phải tăng tự nhiên. Tăng tự nhiên với tỷ lệ sinh đẻ quá cao cũng gây ra nhiều khó khăn, như các dịch vụ xã hội thiết yếu (giáo dục, y tế, an sinh xã hội…) không theo kịp. Nhưng tăng cơ học thì đưa đến một tình hình nghiêm trọng hơn nhiều: nó làm đảo lộn cơ cấu dân cư, và từ đó tất yếu gây ra những đảo lộn về mọi mặt. Ngay từ sau năm 1975, đã có những cảnh báo của một số nhà khoa học và nhà văn hoá, cho rằng chủ trương đưa dân lên Tây Nguyên với tốc độ và cường độ quá cao là nguy hiểm, có thể là sai lầm chiến lược, nhưng lời cảnh báo đã không được nghe. Theo kinh nghiệm của thế giới, tăng dân số cơ học đến 3% / năm là mức báo động. Trong thực tế, suốt hơn 30 năm qua dân số Tây Nguyên đã tăng cơ học từ 7 đến 10% / năm.

Xét cơ cấu dân cư Tây Nguyên trong một thế kỷ qua, có thể thấy :

Đầu thế kỷ XX, các dân tộc bản địa chiếm 95% dân số.

Đến năm 1975, tỷ lệ này là 50%.

Hiện nay người bản địa chỉ còn 15-20% trên toàn địa bàn (Ở tỉnh Dắc Lắc, người bản địa còn 15%, tỉnh Đắc Nông còn 10%, tỉnh Kontum còn khoảng 50-55%… Người Tày ở Đắc Lắc đã đông hơn người Ê Đê bản địa). Người bản địa đã trở thành thiểu số, không phải trong cộng đồng Việt Nam nói chung, mà là thiểu số với tỷ lệ rất nhỏ, ngày càng nhỏ ngay chính trên quê hương ngàn đời của mình. Có thể nói, chính ở Tây Nguyên trong hơn 30 năm qua đã diễn ra những biến động xã hội lớn và sâu sắc nhất so với cả nước, nhưng những biến động đó lại rất âm thầm, hầu như không ai biết (cho đến ngày tình hình đột ngột mất ổn định).

2 – Sự tan vỡ của làng Tây Nguyên

Từ sau năm 1975, quyền sở hữu tập thể truyền thống của cộng đồng làng đối với đất và rừng nghiểm nhiên bị xoá bỏ, tất cả đất và rừng đều bị quốc hữu hoá. Như đã thấy ở trên, quyền sở hữu này chính là nền tảng vật chất, kinh tế của làng ; bị bứng mất đi nền tảng này, làng, tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên, tất yếu tan vỡ. Đây là sự đổ vỡ chưa từng có ở Tây Nguyên từ xưa đến nay, tác động đến tận gốc rễ của xã hội này. Càng đáng chú ý là làng, pháo đài bền vững của sức đề kháng xã hội ở Tây Nguyên trong suốt lịch sử lâu dài, nay lại bị phá vỡ đúng vào lúc Tây Nguyên, cũng như bất cứ vùng nào khác trong cả nước, đang phải đối mặt với những thách thức lớn của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, của hội nhập, ở Tây Nguyên đương nhiên càng nặng nề, khó khăn hơn bất cứ nơi nào khác. Chúng ta đã vô tình triệt tiêu mất sức đề kháng cơ bản của Tây Nguyên bằng cách phá vỡ các “chốt” đề kháng vốn bất khả chiến thắng của nó đúng vào lúc nó phải đương đầu với biến động lớn nhất. Theo một cách nào đó có thể nói trạng thái xã hội ở Tây Nguyên vừa qua và hiện nay là trạng thái của một cơ thể bị tước mất sức đề kháng sâu tận trong từng tế bào, hết sức dễ bị tổn thương.

Tình hình đó tất yếu dẫn đến những hệ quả tiếp theo không thể tránh :

3 – Môi trường bị tàn phá nghiêm trọng

Như đã nói ở trên, sau năm 1975, đất rừng ở Tây Nguyên được lấy giao cho các binh đoàn quân đội làm kinh tế, sau đó cho các LHXNNLCN, rồi đến các nông trường, lâm trường. Cho đến năm 1997, 90% đất rừng Tây Nguyên nằm trong tay các tổ chức quốc doanh. Thực tế hơn 30 năm qua đã chứng minh tất cả các chủ sơ hữu đó đều không giữ được rừng, trái lại là tác nhân phá rừng dữ dội nhất. Mỗi loại chủ sở hữu đó có cách phá rừng khác nhau, và đều nghiêm trọng như nhau.

Một phần lớn diện tích rừng còn lại được lấy giao cho dân di cư từ đồng bằng lên, lúc đầu là di cư theo kế hoạch của nhà nước, từ năm 1979 trở đi là dân di cư tự do, gồm cả đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía bắc (kể từ sau chiến tranh biên giới năm 1979). Những người mới đến lập tức cần có ngay lương thực để sinh sống, họ liền phá rừng để làm lương thực; sau đó lại tiếp tục phá để khai thác gỗ đem bán. Những người này cũng có tập quán canh tác hoàn toàn khác người Tây Nguyên. Người Việt vốn rất sợ rừng (“rừng thiêng nước độc”, “ăn của rừng rưng rưng nước mắt”…). Khác với người Tây Nguyên vốn sống chìm trong rừng, tự hoà tan mình trong rừng, coi rừng thân thiết như mẹ, người Việt đến đâu thì liền thấy có nhu cầu phá rộng ra cho trống chung quanh. Người Việt không có văn hoá rừng, bao giờ cũng thấy chật chội, rất sợ chìm đắm trong rừng. Ngay những người thuộc các dân tộc thiểu số phía bắc đến cũng có tập quán canh tác khác hẳn. Người Hmông chẳng hạn (là một dân tộc đổ lên Tây Nguyên rất mạnh, rất quyết liệt) đúng là một dân tộc du cư du canh, đến đâu là họ cạo trọc ngay toàn bộ rừng nơi họ đổ ập vào, không gì ngăn cản được. Hết khu rừng này, họ tiến sang khu rừng khác, triệt phá sạch đến cùng. Cũng cần phân biệt “rẫy” với “nương”, làm rẫy và làm nương là hai phương thức canh tác hoàn toàn khác nhau. Làm rẫy, như đã nói, là cách quảng canh luân khoảnh trong điều kiên mật độ dân số không cao. Còn nương là rẫy đã được chuyển sang canh tác cố định và chăm sóc như vườn. Trên rẫy bao giờ người ta cũng giữ lại một số cây hay gốc cây lớn để chống xói mòn, còn trên nương thì phải dọn sạch, san phẳng hoàn toàn, làm cho đất tơi ra (do đó rất dễ bị xói mòn). Làm nương cũng là cạo sạch rừng, từ nay ở đấy tuyệt đối không còn có rừng nữa, rừng đã vĩnh viễn trở thành đất canh tác, chẳng khác gì ruộng. Trái lại bản chất của làm rẫy là giữ rừng, mượn tạm rừng của Mẹ Tự nhiên để xin lấy cái ăn, rồi trân trọng trả lại cho Tự nhiên. Jacques Dournes đã gọi làm rẫy là lối canh tác “sang trọng” (de luxe) trong điều kiện mật độ dân số không cao. Cũng có thể gọi là lối canh tác nhân ái, thân thiện.

Các dân tộc bản địa Tây Nguyên, với mật độ dân số trong vùng tăng lên quá cao như hiện nay, cũng không còn có thể làm rẫy luân khoảnh, vừa tìm lấy cái ăn từ rừng vừa nuôi rừng như xưa. Họ lại bị những người nơi khác đến, năng nổ và khôn ngoan hơn, chiếm lấy những vùng đất thuận lợi nhất, màu mỡ, bằng phẳng, gần sông, gần đường…, phải lùi vào rừng ngày càng sâu, và không còn đủ đất để luân khoảnh được nữa, bây giờ họ thật sự biến thành những người du canh du cư và phá rừng !…

Cho đến nay, trừ một vài vùng nhỏ như một ít khu vực quanh núi Ngok Linh, vùng Komplong…, có thể nói về cơ bản rừng Tây Nguyên đã bị phá sạch, hậu quả về nhiều mặt không thể lường.

4 -Người bản địa bị mất đất.

Tình hình trên tất yếu đưa đến việc người bản địa bị mất đất. Rất đáng chú ý là việc mất đất này diễn ra chính là sau khi thực hiện việc giao đất giao rừng, cấp sổ đỏ cho người dân. Lúc bấy giờ, một số cơ quan chức năng như Viện Dân tộc học và một số nhà khoa học đã có kiến nghị : ở Tây Nguyên không nên giao đất cho hộ như ở đồng bằng mà là giao cho làng, để làng quản lý theo kinh nghiệm truyền thống, và cấm không được chuyển nhượng đất cho “người khác tộc” (cũng tức là không được chuyển nhượng ra khỏi làng), nhưng kiến nghị này không hề được chú ý. Đất vẫn được giao cho các hộ với đầy đủ 5 quyền. Kết quả :

Vì người bản địa nay đã trở thành thiểu số với tỷ lệ rất thấp, nên trong thực tế đất đã được giao rất nhiều cho người nơi khác đến ;

Người Tây Nguyên, như đã nói, chưa phát triển ý thức về cá nhân, về sở hữu cá thể, nên cũng không có ý thức khư khư giữ đất cho cá nhân, cho hộ.

Đất lại được giao hệt như ở vùng Kinh, chỉ gồm phần đất thổ cư, một ít đất làm rẫy, người bây giờ lại đã quá đông, không còn đất để thực hiện luân khoảnh, nên chỉ sau vài ba mùa, rẫy bạc màu, người ta rất dễ dàng đem bán với giá rất rẻ, thậm chí có thể đem cho không chỉ sau một bữa rượu ! Nhân cơ hội này, một số cán bộ đã dùng quyền lực chiếm rất nhiều đất.

Cuối cùng, đất từ tay người dân tộc bản địa chuyển dần hết sang tay người nơi khác đến. Người bản địa mất đất, chỉ còn hai con đường : lùi vào núi sâu, ngày càng khốn đốn, hoặc ở lại tại chỗ và đi làm thuê cho người nơi khác đến, chủ yếu là người Kinh, ngay trên mảnh đất truyền lại từ tổ tiên của mình. Chẳng khác tình cảnh làm cu li thời sau Sabatier. Điều nghịch lý của Tây Nguyên là các chỉ số phát triển ở đây đều khá cao so với nhiều vùng khác nhưng người bản địa, chủ nhân lâu đời của vùng đất này, lại bị bần cùng hoá, bị đẩy vào thế cùng. Tức phát triển lãnh thổ nhưng không phát triển được chủ thể trên lãnh thổ ấy.

Việc mất đất, không phải trong một xã hội bình thường mà là từ tay người dân tộc bản địa sang tay người nơi khác đến là người Việt, đã khiến vấn đề đất đai trở thành vấn đề dân tộc. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp của sự mất ổn định nghiêm trọng đã và đang diễn ra ở Tây Nguyên.

(Kinh nghiệm lịch sử : Luật Hồng Đức thời Lê Thánh Tông, khôn ngoan hơn chúng ta, đã biết chú ý và có những quy định riêng sáng suốt cho vùng dân tộc thiểu số khác với những quy định chung cho cả nước. Chẳng hạn có điều luật cấm không được cho vay mượn giữa người Kinh và người Man Liêu (tức các dân tộc thiểu số), vì hiểu rằng quan niệm về giá trị, về quyền sở hữu giữa hai bên khác nhau, sự vay mượn giữa hai bên tất dễ sinh những bất đồng, lừa đảo, lạm dụng…)

5 -Văn hoá Tây Nguyên bị mai một.

Việc mất rừng, tan vỡ của làng, cơ cấu dân cư bị đảo lộn lớn và đột ngột, người bản địa bị mất đất và mất gốc rễ trở thành lang thang trên chính quê hương ngàn đời của mình… tất yếu đưa đến đổ vỡ về văn hoá. Khi nói đến văn hoá Tây Nguyên, người ta thường nói đến nhà rông, nhà dài, cồng chiêng, các loại nhạc cụ độc đáo, các lễ hội…, không sai, nhưng đó là những biểu hiển ra bên ngoài, trên bề mặt của văn hoá, nếu tách những cái đó ra khỏi làng và rừng, mất rừng và mất làng, thì tất cả chỉ còn là những cái xác của văn hoá, những cái xác không có hồn. Mà ai cũng biết, văn hoá là hồn chứ không phải xác. Nên chú ý khi công nhận di sản văn hoá thế giới ở Tây Nguyên, UNESCO đã rất tinh, không phải công nhận cồng chiêng, cũng không phải âm nhạc cồng chiêng, mà là “không gian văn hoá cồng chiêng”, không gian ấy tức là rừng và làng.

Hiện nay trong lĩnh vực văn hoá ở Tây Nguyên, có hai điều đáng lo :

Hầu như không còn văn hoá thật của Tây Nguyên, chỉ có văn hoá giả Tây Nguyên, khai thác chất lạ (exotique) của Tây Nguyên, tạo nên một thứ văn hoá diễn, thu hút khách du lịch hám lạ, trong khi đời sống văn hoá thật của con người Tây Nguyên thì nghèo nàn, cằn cỗi. Đi dọc Tây Nguyên bây giờ chỉ còn thấy các kiến trúc của người Việt cố pha chút “độc đáo” nào đó, như làm mái cao vút lên, nhô nhọn ra… để giả chất Tây Nguyên. Nhà rông thì do nhà nước xây cho các làng, mà nhà rông là thứ “không thể đem cho”. Ở Tây Nguyên, khi lập một làng mới, việc quan trọng và thiêng liêng nhất là già làng chọn địa điểm và điều khiển việc cất nhà rông. Nhà rông là trái tim, là linh hồn của làng, chưa có nhà rông thì một làng chưa thực sự thành làng, và nhà rông bao giờ cũng phải do dân làng tự tay mình làm nên. Một nhà rông của nhà nước đem cho thì dù đẹp đến mấy cũng không thể trở thành nhà rông của làng, dân làng sẽ không bao giờ sử dụng, không thèm bước chân vào, sẽ để mốc meo, tàn tạ. Thật ra điều này cũng chẳng có gì lạ, đối với người Việt cũng hoàn toàn đúng như thế. Một cái miếu ở làng quê chẳng hạn bao giờ cũng được lập nên bắt đầu từ một sự tích nào đấy, một người có công với làng với nước, nay chết đi, nhân dân nhớ ơn mà lập miếu thờ. Hoặc thậm chí một cô gái thất tình, chết oan uổng trong một hoàn cảnh éo le nào đấy, bỗng trở nên linh thiêng, người ta cất miếu thờ. Một cái miếu do nhà nước tự dưng cất lên giữa đồng, một cái miếu “quốc doanh” thì chắc chắn chẳng ai đến hương khói làm gì!..

Ở Tây Nguyên hiện nay chúng ta đang “chơi” những cái xác văn hoá như vậy !

Mặt khác, hiện đại hoá, toàn cầu hoá và hội nhập cũng tất yếu đưa những luồng văn hoá lạ xâm nhập vào Tây Nguyên. Một sự xâm nhập như vậy là tự nhiên, không thể tránh. Điều đáng nói là nó diễn ra đúng vào lúc nền tảng và tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên, do những sai lầm của chúng ta nhiều năm qua, bị phá vỡ, khiến sức đề kháng và khả năng thích nghi của nó bị triệt tiêu. Văn hoá bản địa bị lai căng. Quan sát lớp người trẻ trong các dân tộc bản địa, có thể thấy có hiện tượng “đứt gãy” về văn hoá rất đáng lo ngại. Những thanh niên người dân tộc khi đã bị hư hỏng thì lại hư hỏng nặng hơn, tha hoá, lưu manh hoá dữ hơn cả những người cùng lứa tuổi ở vùng Kinh. Họ bị đổ vỡ vì mất nền. Chính điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự ổn định xã hội. Đi vào các làng Tây Nguyên hiện nay, rất đau lòng thấy thanh niên hầu như không còn uống rượu cần làm bằng ngũ cốc lên men được chiết từ các loại lá, vỏ, rể cây trong rừng, đậm đà, mà say tuý luý rượu đế, thậm chí khi không đủ tiền mua rượu đế thì pha cả cồn ra để uống. Thanh niên Tây Nguyên, vốn có cơ thể cường tráng và tuyệt đẹp, nay đang bị suy thoái cả về thể chất, sự suy thoái nòi giống sẽ không còn xa.

6 – Cảnh báo sớm của một nhóm nghiên cứu về tình hình Tây Nguyên.

Năm 1997, một nhóm nghiên cứu thuộc Viện Dân tộc học Việt Nam gồm các tác giả Vũ Đình Lợi (nay đã mất), Bùi Minh Đạo và Vũ Thị Hồng đã hoàn thành một công trình có tên là Sở hữu và sử dụng đất đai ở Tây Nguyên, được giáo sư Đặng Nghiêm Vạn viết lời giới thiệu vào năm 1999, và ấn hành tại nhà xuất bản Khoa học Xã hội vào năm 2000. Sau khi đã trình bày các dữ liệu, phân tích toàn diện và tỉ mỉ tình hình đất và rừng ở Tây Nguyên từ sau năm 1975, các tác giả đã đưa ra lời cảnh báo mạnh mẽ như sau :

Sẽ là không quá sớm khi đưa ra lời cảnh báo rằng nếu không kịp thời có giải pháp khắc phục những khiếm khuyết của quá trình khai thác và sử dụng đất đai thì “vấn đề dân tộc” sẽ rất có thể phát sinh trong thực tế nay mai ở Tây Nguyên, chí ít là mất ổn định, nghiêm trọng là máu lại đổ, với sự can thiệp vừa kín đáo, vừa trắng trợn của kẽ thù dưới chiêu bài bảo vệ người dân tộc, bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Một khi vấn đề dân tộc và tôn giáo quyện vào nhau thì nguy cơ tới thật khó lường”.

Đây thật sự là một lời cảnh báo đầy trách nhiệm, trung thực, dũng cảm và đã được chứng tỏ là hoàn toàn chính xác. Rất tiếc là nó đã hoàn toàn bị bỏ ngoài tai, thậm chí cả sau khi những điều cảnh báo đã thành hiện thực !

Như vậy, sau hơn 30 năm triển khai, hai mục tiêu chiến lược được đề ra từ đầu đối với Tây Nguyên đã không thực hiện được. Tây Nguyên đã trở thành một vùng mất ổn định nhất trong cả nước ; và việc xây dựng một vùng trọng điểm phát triển kinh tế trên một cơ sở mất ổn định như vậy chắc chắn không thể bền vững. Lãnh thổ tuy có được phát triển – cũng là một cách méo mó – nhưng chủ nhân của lãnh thổ thì bị bần cùng hoá và bế tắc. Tìm một con đường khắc phục những thực trạng đó hiện nay ở Tây Nguyên đã trở nên rất khó khăn.

IV – Phát triển bền vững ở Tây Nguyên

A – Phát triển bền vững là yêu cầu sống còn đối với Tây Nguyên.

* Hơn ở bất cứ nơi nào khác, phát triển bền vững là yêu cầu sống còn đối với Tây Nguyên.

Không thể nhìn và xử trí đối với Tây Nguyên tách rời với tất cả các vùng xung quanh và với cả nước.

Tây Nguyên là mái nhà của toàn bộ nam Đông Dương, chi phối có tính quyết định về nhiều mặt đối với toàn bộ khu vực rộng lớn này, ảnh hưởng nặng nề và sâu sắc đến sự an toàn về khí hậu, môi trường, sinh thái… cho đến ổn định xã hội ở toàn vùng này.

Xây dựng Tây Nguyên thành một trong những vùng trọng điểm kinh tế là đúng, nhưng không thể phát triển kinh tế ở Tây Nguyên với bất cứ giá nào. Tây Nguyên có nhiều tiềm năng về cây công nghiệp, đặc biệt là cây cao su và cà phê, nhưng tiềm năng đó không phải là vô tận. Cho đến nay, Tây Nguyên đã bị khai thác quá mức. Ngay bây giờ, tác hại của việc mất gần hết rừng Tây Nguyên đã khá rõ rệt. Chắc chắn trong những thiên tai lũ lụt ngày càng lớn, càng dữ, càng dày ở vùng Nam Trung Bộ, Đông và Tây Nam Bộ có phần nguyên nhân quan trọng từ rừng Tây Nguyên bị tàn phá đến kinh hoàng. Một số dự án lớn đang tiếp tục đe dọa nghiêm trọng Tây Nguyên, như dự án khai thác bauxit ở các tỉnh Đắc Nông, Lâm Đồng, Kontum từ nay đến năm 2025, chắc chắn sẽ vĩnh viễn bóc sạch và san phẳng rừng ở nhiều vùng rộng lớn thuộc các tỉnh này; chúng ta sẽ chỉ còn một vùng đất nham nhở và khô cằn ngay trên đầu nguồn nhiều con sông quan trọng của Nam Trung Bộ và Nam Bộ, kể cả sông Sài Gòn. Về lâu dài, nguy cơ Tây Nguyên bị đá ong hoá, sa mạc hoá là viễn cảnh thực tế, hầu như không thể tránh nếu cứ tiếp tục đà này, và sẽ là tai họa khó lường cho cả vùng nam Đông Dương rộng lớn.

Thật sự có một câu hỏi lớn cần trả lời : ở Tây Nguyên giữa phát triển và bảo tồn, bên nào nên trọng bên nào nên khinh ? Nếu phát triển ở Tây Nguyên mà không coi trọng bảo tồn, thậm chí lấy bảo tồn làm chính, thì sẽ không xa lắm khi đến một lúc không còn gì để phát triển nữa. Tiềm năng về nhiều mặt của Tây Nguyên là lớn, nhưng tiềm năng ấy không vô tận. Lại cũng không thể tính toán các kế họach phát triển ở Tây Nguyên tách rời các mối quan hệ hữu cơ có tính quyết định của Tây Nguyên đối với các vùng chung quanh. Một ví dụ rất cụ thể : cách đây 30 năm trong chương trình hợp tác với khối SEV, đã có kế hoạch khai thác quặng bauxit có trữ lượng khá lớn và chế biến nhôm ở Tây Nguyên, nhưng sau một thời gian khảo sát chính các chuyên gia Liên Xô, Hungari, Ba Lan… đã khuyên cáo không nên làm nữa, vì sẽ gây tàn phá lớn đối với môi trường ở Tây Nguyên và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường ở Nam Trung Bộ. Đến nay dự án khai thác bauxit mấy chục năm trước lại đang được vực dậy. Với kế hoạch to lớn này, chắc chắn chúng ta sẽ hoàn thành việc phá tan môi trường Tây Nguyên và hủy hoại cả môi trường không chỉ Nam Trung Bộ mà cả một khu vực không nhỏ ở Nam Bộ. Kế hoạch gọi là hoàn thổ, trồng lại rừng trên vùng rừng đã bị phá sạch và bóc lên để khai thác quặng bauxit… của các nhà đầu tư chỉ là một thứ lý thuyết suông, nói cho qua chuyện, cho được việc, nhắm mắt lại mà làm, hết sức vô trách nhiệm, và chắc chắn sẽ để lại hậu quả đến mức thảm họa cho tận mai sau.

Giữ gìn môi trường Tây Nguyên là vì chính lợi ích của phát triển không chỉ của Tây Nguyên hôm nay, và mai sau.

* Tây Nguyên là vùng đặc biệt nhạy cảm về mặt dân tộc. Như đã thấy ở trên, những điều kiện đặc thù của Tây Nguyên về địa lý, lịch sử đã khiến Tây Nguyên có nhiều điểm khác với các vùng dân tộc khác trong cả nước. Những nghiên cứu về các đặc điểm này cho đến nay không ít, nhưng quả thật đã không hề được quan tâm trong khi hoạch định các chủ trương, chính sách từ lớn đến nhỏ đối với Tây Nguyên. Chúng ta thật sự đã hành động ở Tây Nguyên giống hệt như ở bất cứ vùng nào khác trong cả nước, chẳng hề khác chút nào với ở các vùng người Việt, và điều đó đã để lại những hậu quả nặng nề. Đến nay cách hành xử này cũng chưa có thay đổi gì đáng kể. Trong nhiều dự án lớn đang và dự tính triển khai ở Tây Nguyên, như dự án gọi là “Thiên đường cà phê”, dự án khai thác bauxit…, rất đáng kinh ngạc là hầu như không hề thấy tính đến mặt xã hội, không hề chú ý đến việc Tây Nguyên là một vùng dân tộc rất đặc thù, đặc biệt không hề quan tâm đến những chủ nhân lâu đời là các dân tộc bản địa Tây Nguyên, truyền thống lịch sử và văn hoá của họ, lợi ích của họ, việc họ chấp nhận các dự án đó như thế nào, chúng sẽ ảnh hưởng tích cực, tiêu cực đến họ ra sao. Không hề thấy có dự án nào đưa người dân tộc bản địa tham gia như một chủ thể quan trọng của dự án. Họ hầu như hoàn toàn bị gạt ra ngoài, may lắm cũng chỉ có thể trở thành những người làm thuê khốn khổ cho những chủ nhân mới. Chắc chắn những dự án như vậy khó lòng thành công, nếu không nói rất có thể đến một lúc nào đó chúng sẽ bị chính những chủ nhân lâu đời của vùng đất này phản ứng, chống lại và huỷ hoại.

Như vậy không chỉ môi trường tự nhiên mà cả môi trường xã hội, cụ thể là vấn đề dân tộc, là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với sự phát triển bền vững ở Tây Nguyên.

* Về lâu dài hơn, cũng không thể không tính đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu đến nay không còn là dự báo mà đã là một thực tế, với mực nước biển dâng cao và Việt Nam sẽ là một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nhất, sẽ mất nhiều vùng đồng bằng quan trọng. Trong điều kiện đó, Tây Nguyên sẽ là vùng đất dự trữ cho cả nước. Đây cũng là một tham số quan trọng trong các bài toán lớn nhỏ về Tây Nguyên hiện nay và sắp đến.

B – Đất, Rừng và vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên.

Như đã thấy, vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên liên quan chặt chẽ với vấn đề đất đai (ở đây tức là rừng), và làng, quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng. Làng bị vỡ do mất đi nền tảng là quyền sở hữu ấy, tất xã hội sẽ rối loạn. Vấn đề đất và rừng, và trên nền tảng đó sự tan rã của làng, đã trở thành vấn đề dân tộc, và trên một vùng đất có nhiều đặc trưng về nhiều mặt như thế này, nếu vấn đề dân tộc không yên thì không thể có ổn định xã hội. Mầm mống mất ổn định nhất định sẽ âm ỉ lâu dài, và có thể bùng nổ bất cứ lúc nào. Vì vậy, muốn khôi phục ổn định ở đây, nhất thiết phải tìm mọi cách trả lại đất và rừng cho làng, khôi phục lại làng. Xã hội chỉ có thể ổn định khi tế bào cơ bản của nó là làng ổn định. Tình hình hiện nay đã trở nên hết sức phức tạp do sự xáo trộn tự chúng ta gây ra suốt hơn 30 năm qua.

Có một hiện tượng có thể rất đáng chú ý, nhưng lại không được các cơ quan làm chính sách, kể cả Ban Chỉ đạo Tây Nguyên hiện nay quan tâm : Kontum hiện là tỉnh có tỷ lệ phát triển đạo Tin lành vào loại cao nhất trên Tây Nguyên, nhưng lại là tỉnh có tình hình xã hội tương đối ổn định, trong mấy cuộc bạo loạn vừa qua không có vấn đề gì lớn. Vì sao ? Rất có thể chính vì ở Kontum người dân tộc bản địa còn đến trên 50 % trong dân số, việc người dân tộc bản địa mất đất vào tay người nơi khác đến không nghiêm trọng bằng các nơi khác, mâu thuẫn dân tộc chưa quá nặng nề. Rừng ở đây cũng vào loại còn khá nhất, một số khu rừng nguyên sinh rộng lớn còn được giữ khá tốt. Làng chưa bị tan rã hoàn toàn. Phải chăng đây là một bài học thực tế rất đáng để suy nghĩ.

Vậy nên bằng mọi cách trả lại rừng cho làng, để khôi phục lại làng, trước mắt và lâu dài, là con đường duy nhất để dần đi đến ổn định tình hình và phát triển ở đây. Có thể có những câu hỏi :

Làng có còn để được trả lại đất và rừng không ? Lấy đất, rừng ở đâu để trả lại cho làng ? Và bằng cách nào ? Tây Nguyên đương nhiên cũng không thể đứng ngoài sự phát triển chung trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá của cả nước, vậy trong quá trình đó làng sẽ biến đổi như thế nào, xã hội này sẽ biến đổi như thế nào ?

Quả thực đây là những câu hỏi rất khó, vừa do những sai lầm kéo dài của chúng ta, vừa do sự thúc đẩy của phát triển tất yếu ngày nay. Giải quyết tình hình Tây Nguyên hiện nay, theo chúng tôi, cần một sự nghiên cứu vừa cơ bản vừa cấp bách, một quyết tâm và tận tuỵ rất lớn, thậm chí còn khó hơn cả những thời kỳ khó khăn, ác liệt nhất trong chiến tranh trước đây. Không thể có một giải pháp chung, đơn giản, tức thì. Tuy nhiên có thể có một số điểm chung và cơ bản cần khẳng định :

Một là, bất chấp tất cả, làng vẫn còn, thực thể làng vẫn còn. Ở những vùng như miền núi các tỉnh Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ, hoặc một số vùng ở Kontum, do địa hình tương đối hiểm trở, người Kinh đổ lên trong những năm qua không quá nhiều, làng của người dân tộc bản địa còn khá nguyên vẹn. Ở những vùng khác, dầu cơ cấu của làng đã trở nên phức tạp hơn nhiều, trộn lẫn người nhiều dân tộc khác nhau trong một làng, nhưng thực thể làng bản địa tuy âm thầm mà vẫn còn, bằng chứng chính là dấu hiệu bộc lộ trong một số cuộc biểu tình vừa qua : người ta đi biểu tình từng làng (người bản địa) chứ không bao giờ đi xé lẻ. Tức thực thể cộng đồng làng vẫn sống một cách thật mạnh mẽ, tuy buộc phải âm thầm. Vậy vẫn còn làng để cho chúng ta trả lại đất và rừng, khôi phục lại tế bào cơ bản này của xã hội.

Ở Tây Nguyên hiện nay đất đai đã vào tay người Kinh rất nhiều, không thể động đến phần đất này, sẽ có thể gây ra rối loạn khác. Tuy nhiên đến nay vẫn còn 40% đất và rừng trong tay các nông trường, lâm trường quốc doanh, những nông, lâm trường này phần lớn làm ăn không hiệu quả, liên tục thua lỗ, cũng không giữ được rừng. Vậy tức là còn đất và rừng có thể lấy lại để trả cho các làng.

Trả cụ thể như thế nào, đương nhiên không thể có một cách thức chung, phải dựa vào dân trong từng trường hợp cụ thể mà giải quyết. Kinh nghiệm ở miền núi Quảng Nam cho thấy khi người dân đã biết và tin ở chủ trương trả lại đất và rừng cho làng thì họ sẽ chủ động nghĩ ra và bày cho ta giải pháp thích hợp nhất trong từng trường hợp cụ thể, kể cả cách thức quản lý rừng và làng sau khi rừng được trả. Vấn đề cốt yếu ở đây là thật sự trao lại quyền tự chủ cho người bản địa, không ai có thể hiểu tình hình cụ thể và biết cách gỡ rối cụ thể hơn họ.

Về việc trả rừng cho làng có hai điều cần chú ý :

Lâu nay vẫn có việc gọi là “giao rừng cho dân”, dân được giao giữ rừng, 1 hecta rừng mỗi năm trước đây được trả 50.000 đồng, nay là 100.000 đồng, nhưng đấy là nhà nước thuê dân giữ rừng cho nhà nước, chứ không thật sự là trả quyền làm chủ rừng cho dân, chính do đó mà rừng vẫn mất. Người ta chỉ giữ đến cùng cái gì thật sự là của người ta. Trả rừng phải là trả quyền sở hữu thật sự và toàn vẹn của tập thể cộng cồng làng đối với đất và rừng.

Thứ hai : không gian sinh tồn của làng ở Tây Nguyên, như đã nói, gồm ít nhất cả bốn loại rừng : rừng đã biến thành đất thổ cư, rừng làm rẫy, rừng sinh hoạt và rừng thiêng, không có đủ bốn loại rừng ấy thì làng không thể tồn tại như một đơn vị xã hội hoàn chỉnh. Giao cho làng Tây Nguyên chỉ một miếng đất để ở và một khoảnh đất để làm một cái rẫy thì chẳng nghĩa lý gì cả, làng sẽ cằn cỗi và chết.

Ở Quảng Nam trong một số năm qua đã thí điểm trả rừng cho làng. Rừng được trả triệt để, gồm đủ các loại rừng theo truyền thống, và trở thành tài sản thực sự của làng : kiểm lâm chỉ quản lý rừng về mặt sinh thái, quyết định cây nào đến đúng tuổi nào mới được chặt, nhưng chặt hay không, chặt cây nào là quyền của làng. Nhà nước muốn lấy một cây trong rừng thì phải hỏi mua của làng và được làng đồng ý, thuận mua vừa bán. Làng được quản lý theo một hương ước được thoả thuận giữa chính quyền, tổ chức Đảng và Hội đồng Già làng. Kết quả đầu tiên sau hai năm thí điểm : làng đã giữ được rừng nguyên vẹn, tuyệt đối không mất một cây gỗ nào, điều tất cả các chủ sở hữu trước đây (quân đội, nông trường, lâm trường, kiểm lâm…) đều bất lực. Vấn đề tiếp theo hiện nay là phải xác định được quy chế hưởng lợi của người dân làng đối với rừng đã được giao trả ; và dân làng sẽ làm ăn khá giả lên như thế nào trên tài sản rừng nay đã thuộc về mình. Xa hơn nữa là vấn đề Tây Nguyên, cơ cấu xã hội của nó, làng Tây Nguyên, đất và rừng Tây Nguyên, con người Tây Nguyên… sẽ chuyển động như thế nào trong chuyển động chung của cả nước trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay ? Tất nhiên đấy còn là những bài toán rất khó, song có một nguyên tắc : chính chủ thể con người Tây Nguyên sẽ tự mình tìm ra lời giải cho những bài toán ấy trong thực tế, chứ không phải những tổ chức áp đặt từ bên ngoài vào có thể “sáng suốt” nghĩ thay, làm thay.

Vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên, cũng như ở nhiều dân tộc khác trong cả nước trước nay, theo một cách nào đó chính là vấn đề thực sự tôn trọng các dân tộc bản địa, chống lại tư tưởng dân tộc lớn dưới mọi hình thức từ thô lỗ đến tinh vi, thực sự tin và kiên quyết trao quyền tự chủ cho người bản địa, trao quyền làm chủ, tôn trọng và tin tưởng ở sức sống và sức tự chủ, sức tự phát triển của xã hội và con người ở đây. Được trả lại quyền tự chủ thật sự – cụ thể là quyền sở hữu đất đai theo truyền thống – xã hội Tây Nguyên sẽ tự minh tìm được con đường, dẫu còn rất khó nhọc, cùng cả nước đi lên trong công cuộc phát triển chung. Mọi toan tính kiểu khác đều tất yếu thất bại, như thực tế mấy chục năm qua đã chứng minh.

C – Một tầng lớp trí thức mới cho Tây Nguyên.

Như đã thấy ở trên, trong suốt lịch sử lâu dài, xã hội Tây Nguyên đã được quản lý, điều hành hiệu quả, tồn tại và phát triển bền vững trải qua bao nhiêu thách thức lớn nhỏ bằng một cơ chế truyền thống độc đáo, xem ra là “thông minh” nhất trong điều kiện đặc trưng về nhiều mặt của vùng đất và người này. Trong cơ chế quản lý và điều hành đó nổi bật lên vai trò của già làng. Một trong những sai lầm quan trọng và tai hại nhất của ta trong thời gian qua là chúng ta đã không nghiên cứu, thấu hiểu, tôn trọng, tận dụng, đề cao lực lượng có ý nghĩa quyết định này, thậm chí còn muốn xoá bỏ, không công nhận, hạn chế uy tín và vai trò của họ… Gần đây, sau một số biến động, giật mình nhìn lại, mới có một số hoạt động nhằm tỏ ra tôn trọng, đề cao các già làng : mời ra trung ương gặp các vị lãnh đạo này nọ v.v… Những việc ấy cũng là cần, và cũng có tác dụng nhất định. Nhưng có chỗ cần suy nghĩ : những già làng này hiện nay còn thật sự có vai trò, vị trí dẫn dắt cộng đồng như trước đây không ? Nhất là trong tình hình hiện nay và trong phát triển tất yếu của Tây Nguyên sắp tới ? Vậy nên cần nghiên cứu kỹ già làng ở Tây Nguyên thực chất là ai ? Vì sao họ có thể có vai trò lớn như đã thấy ?

Như đã nói ở phần trên, già làng chính là những người có tri thức toàn diện nhất, uyên bác nhất, tích tụ được nhiều kinh nghiệm nhất trong đời sống giữa một thiên nhiên vừa bao dung vừa khắc nghiệt, giữa một xã hội vừa hài hòa vừa gay gắt là xã hội Tây Nguyên trải qua các chuyển biến lịch sử, lại là những người có đức độ cao, là những bậc hiền triết của làng. Người Pháp dịch “Hội đồng già làng” là “Conseil des sages”, Hội đồng của các bậc hiền nhân. Cũng cần chú ý, gọi là già làng nhưng già làng không nhất thiết là người cao tuổi nhất trong làng. Ông Núp ở làng S’tơr, ông Mết ở làng Xóp Dùi, rất nổi tiếng, nhưng khi làm già làng cũng chỉ khoảng 30 tuổi. Tuổi tác không phải là tiêu chuẩn chính. Theo ngôn ngữ ngày nay, có thể gọi đó là những bậc trí thức của làng. Xã hội Tây Nguyên trong suốt lịch sử lâu dài đã được quản lý, điều hành hết sức hiệu quả bởi một tầng lớp trí thức độc đáo như vậy. Lớp “trí thức” đó, trong biến chuyển và đi tới của xã hội Tây Nguyên hôm nay vẫn còn có uy tín và sức tập họp nhất định, nhưng không còn đủ sức ứng phó với những thách thức mới. Vậy phải chăng có vấn đề : cần thiết đào tạo một tầng lớp trí thức mới để dắt dẫn xã hội này trong công cuộc phát triển mới hiện nay và tương lai ?

Có thể đào tạo được một tầng lớp trí thức bản địa như thế không ? Có hiện tượng nhiều nhà giáo ở Tây Nguyên, qua kinh nghiệm thực tế của họ, cho rằng học sinh người dân tộc bản địa chỉ có thể học khá đến khoảng cấp 2, lên đến cấp 3 thì đuối. Có đúng thế không ? Chúng tôi không cho là như vậy, vấn đề có thể là ở sự cứng nhắc, giáo điều trong chương trình và cách dạy của chúng ta, không khai thác và phát huy đúng cách những thế mạnh của học sinh dân tộc bản địa. Vừa qua có một ví dụ cụ thể rất sinh động và thuyết phục : Cách đây vài năm, Viện Văn hoá Dân gian (nay là Viện Văn hoá) thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã mở một lớp thạc sĩ về văn hoá và dân tộc học cho 12 sinh viên cao học toàn người dân tộc bản địa Tây Nguyên, Ba Na, Ê Đê, Xơ Đăng, Mơ Nông, Hơ Re, Kơ Ho, Mạ v.v. Kết quả thật tuyệt: cả 12 người đều đạt xuất sắc, có người như chị Phạm Thị Trung, người Xteng, một nhánh nhỏ của dân tộc Xơ Đăng đã trình một luận văn tuyệt vời thậm chí rất hiếm được thấy ở một sinh viên cao học người Kinh. Trong quá trình học và làm luận văn, các sinh viên này đã phải tiếp xúc với các tác phẩm kinh điển của các nhà nhân học, dân tộc học hàng đầu thế giới, những C. Lévy-Strauss, E. Durkheim, A. van Ghenep, R. Tylor. G. Condominas, J. Dournes…, qua bản dịch và qua cả nguyên bản, họ đã tỏ rõ khả năng nắm vững các trí thức bác học cao nhất từng có, lại liên hệ vận dụng rất nhuần nhuyễn và sáng tạo vào thực tiễn xã hội của dân tộc mình, cả trong quá khứ và trong thách thức hiện tại, mà chắc chắn không ai hiểu sâu sắc được bằng họ… Rõ ràng có thể đào tạo một tầng lớp trí thức mới như vậy cho Tây Nguyên, nếu chúng ta có nhận thức đúng, có sự tận tụy, quyết tâm và kiên trì. Vai trò của cán bộ người Kinh, ở bất cứ cấp nào tại Tây Nguyên hiện nay không phải là làm thay, cũng không phải “cầm tay chỉ việc” như thường được nghe nói, mà là giúp tổ chức công việc đào tạo đó, cấp bách trước mắt, và lâu dài, một công việc có tính cách cơ bản và chiến lược. Phải tạo ra cho được một tầng lớp “già làng” kiểu mới của Tây Nguyên, và không cách nào khác, thực sự trao quyền giải đáp những bài toán lớn nhỏ của sự phát triển Tây Nguyên hiện nay vào tay họ. Đó là con đường duy nhất.

D – Tổ chức nghiên cứu Tây Nguyên.

Tất cả tình hình vừa qua chứng tỏ một vùng dân tộc đặc biệt như Tây Nguyên đòi hỏi một sự nghiên cứu có tính khoa học rất nghiêm túc, chặt chẽ, lâu dài, vừa cơ bản vừa cập nhật, để làm cơ sở cho mọi chủ trương, chính sách và việc làm lớn nhỏ của chúng ta ở đây. Quả thật chúng ta chưa triển khai được một công tác nghiên cứu như vậy, và một số công trình nghiên cứu của một số nhóm hoặc cá nhân các nhà nghiên cứu đã có, với những cố gắng đáng trân trọng, thì lại bị bỏ qua, hầu như hoàn toàn không được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và có trách trách nhiệm quan tâm, vận dụng. Có thể nói một cách không quá đáng, suốt hơn 30 năm qua – cũng chính là thời gian chúng ta triển khai những chủ trương chiến lược lớn trên vùng đất này – mọi việc làm của chúng ta đều khá tuỳ tiện, vội vã, dựa trên những cảm nhận bên ngoài hời hợt, chủ quan, kể cả khi tình hình đã trở nên rất bất ổn thì những ứng phó cũng là chắp vá, áp đặt, không thật sự tính đến những hệ quả lâu dài, không chịu quay lại tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa, không thèm nghe ý kiến tâm huyết của các chuyên gia. Những ứng phó như vậy có khi còn làm cho tình hình dẫu có thể tạm ổn trước mắt, trên bề mặt, nhưng về lâu dài, trong chiều sâu, lại càng xấu hơn, nặng nề, nguy hiểm hơn. Một số chủ trương mới rất lớn (chẳng hạn việc tận khai bauxit ở Đắc Nông và nhiều vùng khác tại Tây Nguyên) có thể mang tính chất phiêu lưu lớn, hậu quả về nhiều mặt thật khó lường…

Công tác tổ chức nghiên cứu cơ bản về Tây Nguyên do vậy là cấp bách.

Hiện nay và về lâu dài cần :

Thứ nhất : Tập họp các nghiên cứu của các nhà khoa học, các tổ chức trong nước đã có từ trước đến nay, trong đó rất cần chú ý đến một số nghiên cứu có giá trị và khá nghiêm túc của các tác giả miền Nam trong các thời kỳ (như các nghiên cứu của Toan Ánh, Nghiêm Thẫm…).

Thứ hai : Tổ chức dịch các công trình nghiên cứu của người Pháp về Tây Nguyên. Cho đến nay, những nghiên cứu tốt nhất, cơ bản, tương đối toàn diện, đồng thời chuyên biệt, chi tiết, sâu sắc nhất về Tây Nguyên là của các tác giả Pháp, bao gồm từ các nhà thám hiểm đầu tiên, đến các nhà truyền giáo, các nhà cai trị và các nhà khoa học. Các công trình này hoặc đã được in thành sách, hoặc còn nằm rải rác trong các tạp chí khoa học (như tạp chí BEFEO của Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp – đã được đưa lên mạng, tạp chí BAVH của Tổ chức Những người bạn của cố đô Huế…). Cần có một tổ chức chuyên tập họp và chăm lo việc biên dịch thành một tủ sách chuyên đề về Tây Nguyên, có thể đặt chẳng hạn tại một Trung tâm nghiên cứu ở một trường Đại học thuộc khu vực Miền Trung hay Tây Nguyên (có thể nên là ở Miền Trung vì nghiên cứu Tây Nguyên không thể tách khỏi nghiên cứu liên quan đến vùng duyên hải).

Người Mỹ chưa triển khai nghiên cứu được bao nhiêu về Tây Nguyên, ngoài vài tác phẩm của Hickey, chủ yếu tập họp, cô động các công trình đã có của Pháp, có bổ sung thêm một số dữ liệu mới thời chiến tranh sau này. Cũng nên tổ chức dịch để tham khảo.

Thứ ba : Cần có một tổ chức nghiên cứu toàn diện và cơ bản song song với nghiên cứu những vấn đề cụ thể, cấp thời về Tây Nguyên, có thể thành một Viện Nghiên cứu Tây Nguyên thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Viện này sẽ là trung tâm nối liền các tổ chức nghiên cứu đã nói ở điều thứ nhất và thứ hai.

Thứ tư : Cần có ngay một bộ phận tư vấn khoa học bên cạnh Ban Chỉ đạo Tây Nguyên hiện nay, gồm các chuyên gia về Tây Nguyên, đặc biệt các chuyên gia là người dân tộc bản địa, không phải là không có và lâu nay chưa hề được dùng.

***

Vấn đề Tây Nguyên về nhiều phương diện là một vấn đề lớn lại có những đặc trưng riêng trong sự phát triển chung của cả nước. Vấn đề này vốn đã không hề đơn giản, nay đã càng trở nên hết sức phức tạp, khó khăn, có thể còn khó khăn lâu dài, với những diễn biến cũng có thể còn chưa lường được hết và còn bất ngờ. Song vấn đề cũng có thể trở nên đơn giản hơn, vẫn có thể có lối ra, nếu ta dám thật sự nhìn lại tình hình một cách khách quan, nhận ra sai lầm lớn lẽ ra hoàn toàn có thể không mắc phải nếu biết tôn trọng thực tế và biết lắng nghe, từ đó nghiêm túc xác định lại quan điểm đúng, để có cách nhìn và cách hành xử thích hợp, đặc biệt biết thật sự tôn trọng các dân tộc bản địa Tây Nguyên, một bộ phận tuy có đến chậm hơn nhưng từng gắn bó rất sâu sắc, có đóng góp hết sức to lớn trong tiến trình lịch sử gian nan mấy thế kỷ qua của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Ở Tây Nguyên nếu không thật sự đặt quyền lợi của các dân tộc bản địa lên trên hết, là mục tiêu hàng đầu của mọi kế hoạch phát triển, thì chắc chắn không việc gị có thể thành công, sẽ thất bại tất yếu, thậm chí có thể đi đến thảm họa.

Nhà Tây Nguyên học xuất sắc Jacques Dournes có một câu bất hủ khi nói về Tây Nguyên, ông viết : “Nếu phải hiểu để mà có thể yêu, thì lại phải yêu để mà có thể hiểu”. Đối với Tây Nguyên, cần một sự hiểu biết và một tình yêu đầy sự tôn trọng thật sự, một sự tôn kính chân thành và đấy ưu tư đối với một vùng đất và một vùng văn hoá vào loại độc đáo nhất còn lại trên đất nước ta và trên thế giới ngày nay.

Cần có một tình yêu đầy tôn trọng như vậy, để ra sức tìm hiểu sâu sắc vùng đất và người hết sức quan trọng và vô cùng đặc sắc này, từ đó mà có chủ trương và hành động đúng, mới mong có thể thoát ra khỏi bế tắc hiện tại, đưa Tây Nguyên vững chắc vào tiến trình phát triển chung của đất nước, vì Tây Nguyên, và vì cả nước.

Nguyên Ngọc

NƯỚC MỘI, RÙNG XANH VÀ SỰ SỐNG
Nguyên Ngọc

(TBKTSG) – Câu chuyện này nói vào đầu xuân có thể hơi buồn, nhưng nghĩ kỹ lại có lẽ cũng có chỗ thích hợp, bởi vì đây là câu chuyện về màu xanh, màu của mùa xuân xanh. Của sự sống.

Quê tôi ở vùng Nam Trung bộ, đúng cái đoạn mà một nhà thơ từng thống thiết gọi là “dằng dặc khúc ruột miền Trung”. Ở đấy, miên man mấy trăm cây số ven biển là những cồn cát lớn, nơi trắng phau một màu trắng tinh khiết đến khó tin, nơi vàng rộm ngon lành trong nắng cháy. Làng cũng là làng trên cát; con người sống trên cát, tử sinh cùng với cát. 

Tôi có đọc một ít lịch sử và tôi biết, lạ vậy, toàn cát vậy, nhưng đấy vốn không phải là một vùng đất nghèo. Từng có cả một vương quốc thịnh vượng trên dải đất này. Một vương quốc nông nghiệp và hải dương. Có lẽ một trong những bí quyết thịnh vượng của vương quốc ấy là nước, mà thiên nhiên đã rất thông minh giữ và dành cho dải đất thoạt nhìn thật khô cằn này, và con người thì cũng thật thông minh hiểu được món quà quý của đất trời, biết tận dụng lấy cho mình.

Cho đến chỉ cách đây đâu khoảng chưa đến nửa thế kỷ, ở quê tôi vẫn còn một kỹ thuật nông nghiệp rất đặc biệt, tinh tế và thú vị, gọi là kỹ thuật “tưới nước mội”, người Việt học được của người Chăm khi đi vào Nam. 

Nước mội là nước rỉ ra từ các chân đồi cát, trong veo, mát lạnh, tinh sạch đến mức có thể bụm vào lòng bàn tay, ngửa cổ uống ngay ngon lành. Ở đây người ta vỡ ruộng ngay trên cát, các đám ruộng được gọi là “thổ”, những đám thổ trồng đủ các loại hoa màu. Ở góc thổ bao giờ cũng có một chiếc ao nhỏ, cạn thôi, nhưng quanh năm lúc nào cũng đầy ắp nước, tát đi lại đầy ngay, cả trong những mùa nắng hạn gay gắt nhất.

Nước mội từ trong lòng cát rỉ ra, nhẹ nhàng, chậm chạp, từ tốn, mà bất tận. Những chiếc ao nước mội, những con mắt ngọc xanh rờn, mát rượi của đất đai, làng mạc, đồng ruộng quê tôi. Nhỏ nhoi và thầm lặng, chính chúng nuôi sống nền nông nghiệp từng trù phú của vương quốc xưa, và của cả cha ông chúng tôi nữa khi họ đi về Nam…

Champa cũng là một vương quốc biển, từng dong thuyền đến những đại dương xa, và từng có những cảng quốc tế rộn rịp trên suốt dọc bờ biển của mình. Những người có đôi chút kiến thức về giao thương biển đều biết rằng một trong những điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất của một cảng biển quốc tế là nước ngọt, phải rất dồi dào nước ngọt. Những con tàu lang thang nhiều tháng trời trên các đại dương mặn chát, lắm khi chẳng vì mua bán gì cả, vẫn phải ghé lại các cảng ven bờ để “ăn” nước ngọt.

Và trên dải cồn cát miên man của mình, người Chăm là những người thiện nghệ nhất thế gian về nghề tìm mạch nước, đào và thiết kế giếng nước ngọt. Họ như có con mắt thần, có thể nhìn thấy đường đi của nước ngọt âm thầm trong lòng đất, những dòng nước mội. Chính hệ thống giếng nước ngọt thánh thiện và tuyệt vời – từ nước mội bất tận rỉ ra mà có – đã tạo nên vương quốc đại dương Champa, tôi nghĩ nói thế cũng chẳng hề quá đáng đâu…

Từ nhỏ, là dân vùng cát cháy miền Trung, tôi đã có hạnh phúc được biết nước mội, nếm nước mội, ăn nước mội, sống và lớn lên bằng cây cỏ được nuôi bằng nguồn nước mội ân huệ bất tận.

Của trời.

Rồi về sau, cuộc đời lại đã cho tôi một may mắn khác: tôi hiểu hóa ra “trời” không phải là một đấng trừu tượng thần bí nào, mà là một thực thể sống động, khổng lồ, cường tráng, hùng vĩ…, mà lạ thay, cũng lại rất mong manh, hết sức mong manh, ngày càng đang trở nên cực kỳ mong manh!


Trường Sơn. Tây Nguyên.

Tôi đã được đi đến nơi đó và gắn bó hơn nửa cuộc đời của mình ở đó.

Hóa ra có một “bí mật” to lớn: ngọn nguồn của nước mội tuyệt diệu tưới tắm cả vùng cát dằng dặc ven biển miền Trung chính là nơi đó, Tây Nguyên, rừng đại ngàn, rừng nguyên sinh, rừng nhiệt đới Tây Nguyên.

Chính rừng Tây Nguyên, từ trên Trường Sơn rất xa xôi kia, đêm ngày, hàng triệu triệu năm nay, như một người mẹ vĩ đại, bao dung và tần tảo, hứng lấy tất cả các nguồn nước của đất trời, cất lấy, “để dành”, tằn tiện, tuyệt đối không phí mất một giọt nào, để từng ngày từng ngày chắt chiu mà bất tận cung cấp cho đứa con đồng bằng của mình, cho sự sống có thể sinh sôi, nảy nở, trường tồn trên dải đất cát trông chừng rất khắc nghiệt kia. Cho các vương quốc, các triều đại, các nhà nước, các chế độ ra đời, phát triển, nối tiếp. Và sống còn…

Nước mội chính là những dòng nước nhỏ, liên tục, không bao giờ dứt, đi âm thầm và vô hình trong lòng đất, từ những đỉnh Trường Sơn xa xôi kia, đến tận những cồn cát tưởng chẳng thể có chút sự sống này.


Vậy đó, Tây Nguyên, ý nghĩa của Tây Nguyên và rừng Tây Nguyên, dù chỉ mới là qua một khía cạnh rất nhỏ của nó, nước.

Có lẽ cũng cần nói thêm một chút nữa về điều này: không chỉ cho dải đất cát cháy miền Trung đâu. Trường Sơn có một đặc điểm quan trọng về địa hình: đường phân thủy ở đây không chạy đúng giữa mà sát ngay về phía Đông của rặng núi dằng dặc này, nghĩa là sườn phía Tây của Trường Sơn rộng hơn sườn phía Đông rất nhiều, có thể đến bốn năm lần. Tức nước từ Tây Nguyên đổ về phía Tây cũng nhiều hơn về phía Đông có thể đến bốn hay năm lần. Mà đổ về phía Tây tức là về Mêkông, về Nam bộ. Về toàn miền Nam.

Trong một chừng mực nào đó, Tây Nguyên, rừng Tây Nguyên có ý nghĩa quyết định đối với toàn miền Nam về tất cả các mặt. Nếu chỉ nói một mặt nước thôi, thì có lẽ cũng nên nhớ: nước ở miền Tây Nam bộ, ở Cà Mau kia, cũng có thể là nước mội từ Mẹ Rừng Tây Nguyên chắt chiu đưa về đấy, cho mênh mang vùng đất lúa của cả nước ấy không bị nhiễm mặn…

Hàng ngàn đời nay có những con người đã sống ở đây, gắn bó ruột thịt với rừng và đã tạo nên cả một nền văn hóa đầy minh triết bắt nguồn chính từ sự gắn bó ấy. Để bày tỏ đôi lời thật giản lược về nền văn hóa ấy và những con người ấy, chắc có thể nói vắn tắt như thế này: người Tây Nguyên không bao giờ coi rừng là tài nguyên. Không bao giờ có khái niệm khai phá, chinh phục, chiếm lĩnh tự nhiên, rừng. Đơn giản, rừng đối với họ là tất cả, là mẹ, là cội nguồn của sự sống. Mà họ kính trọng và tôn thờ.

Chúng ta, những người tự coi là rất văn minh, rất khoa học, chúng ta biết nước là nguồn gốc của sự sống, nhưng chúng ta không biết, biết bằng hành vi cụ thể chứ không phải bằng lý lẽ to tát, rằng không có rừng thì cũng chẳng có, chẳng còn nước, nghĩa là cũng chẳng còn có sự sống, chúng ta không biết cái chân lý sơ đẳng và đơn giản ấy. Nhìn thấy rừng là con mắt ta hau háu nhìn thấy gỗ, gỗ, gỗ… Và hết gỗ rồi, bây giờ, thấy tài nguyên khác… Hau háu, hung hăng, hỗn hào chặt phá, và hết chặt phá, chẳng còn gì để chặt phá nữa thì đào bới…

Ở quê tôi, nay đã kiệt nước mội rồi. Chi tiết rất nhỏ ấy thôi, vậy đó, lại đang là tai họa tày trời!

Chắc chưa ai quên vụ lũ kinh hoàng ở Phú Yên vừa rồi. Cả thành phố Tuy Hòa, thị xã Sông Cầu chìm trong nước sâu. Gần trăm người chết. Ruộng đồng tan hoang… Một vị có trách nhiệm rất cao giải thích: Ấy là vì biến đổi khí hậu toàn cầu, và lại nữa, vì nhân dân mất cảnh giác. Tại trời và tại dân, trời thì ngày càng tai ác, còn dân thì mãi ngu dốt! Có một chi tiết hẳn ở cương vị của ông ấy, ông ấy ắt phải biết nhưng lại không thấy ông nói: năm 2009, ở Phú Yên áp thấp nhiệt đới gây mưa 330 mi li mét; năm 1991, cũng tại chính Phú Yên này, mưa 1.300 mi li mét, gấp hơn ba lần. Năm 1991 không có gì đáng kể, năm 2009 lại là tai họa khủng khiếp, vì sao?

Ở miền Trung – mà ở cả nước đều vậy – ngày xưa chỉ có lụt và lụt là mùa rất vui, thậm chí thân thiết, mỗi năm lại trở lại một lần, người ta chờ nước lụt, nước lên từ tốn, ruộng đồng được tưới tắm phù sa, cũng là lúc làm ăn rộn rã, có lẽ cũng tương tự như mùa nước nổi ở Nam bộ thuở nào.

Ngày nay không còn lụt, chỉ có lũ. Lũ rất khác lụt, lũ là nước đột ngột đổ ập xuống, như thác, hung bạo, nhanh và dữ cho đến nỗi, như vừa rồi, có người đã leo lên trần nhà rồi còn chết ngạt trong ấy vì không kịp dỡ mái để leo lên nữa! Lũ không mang phù sa đến, lũ quét sạch tất cả những gì nó gặp trên đường đi, và kéo đất đá từ trên rừng xuống lấp hết ruộng đồng.

Tất nhiên ngày xưa cũng có lũ, nhưng chỉ trong những năm mưa đặc biệt lớn, cả đời một con người chỉ chứng kiến vài lần. Ngày nay hễ đài vừa báo áp thấp nhiệt đới, thậm chí chỉ áp thấp, là cả nước đã rùng rùng lo chống lũ, sập núi, trôi rừng…

Con số 1.300 li năm 1991 và 330 li năm 2009 là con số hùng hồn, nó nói rằng vụ Phú Yên vừa rồi không phải chủ yếu do biến đổi khí hậu toàn cầu, không phải do trời, như lời giải thích uyên bác của vị quan chức nọ.

Do người. Do cơ chế nước mội tinh tế, tinh vi, thông minh, nhân hậu tuyệt vời của thiên nhiên đã không còn, đã bị phá vỡ, đã bị con người triệt diệt bằng cách triệt diệt rừng. Rừng Tây Nguyên. Trong một cuộc trao đổi ở Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Trung ương vừa rồi, nhiều chuyên gia đã cảnh báo: không chỉ có nguy cơ lũ quét đâu, sau lũ quét sẽ tiếp đến nguy cơ hạn hán sẽ còn khốc liệt, tai hại hơn. Bởi vì nước mội và lụt hàng năm hiền lành là cùng một cơ chế, cùng một tác giả: Rừng. Rừng Tây Nguyên.

Trong hơn 30 năm qua, chúng ta đã làm xong một công việc to lớn: cơ bản phá hết, cạo sạch đến tận cùng rừng tự nhiên trên cái mái nhà sinh tử của toàn Đông Dương này. Đã quét sạch xong hết trên mặt đất, bây giờ đang bắt đầu moi sạch nốt dưới lòng đất. Cao su tuyệt đối không phải là rừng, không sinh ra cơ chế nước mội. Các khu công nghiệp của công nghiệp hóa và hiện đại hóa càng tuyệt đối không phải là rừng. Một quy luật vận hành ổn định, điều hòa, thông minh của tự nhiên đã bị triệt diệt, nhanh và cơ bản hơn tất cả mọi giai đoạn từng có trong lịch sử. Một quy luật khác đã được thiết lập, quy luật của hỗn loạn.

Hãy nhìn lên cái mái nhà chung kia mà bao nhiêu thế hệ nhiều ngàn năm qua đã giao lại cho chúng ta, trên ấy đã mất hết màu xanh của sự sống.

Có còn cứu được không?

Còn, với một điều kiện: biết giật mình, dừng lại, bắt đầu lại.

Cũng cần nói: hầu hết các nước mà ngày nay ta gọi là những nước phát triển đều đã đi qua “con đường đau khổ”, cũng từng tàn phá hết rừng trên mặt đất và đào bới tàn bạo lòng đất, ở nước họ, rồi ở các nước khác. Chỉ có điều, gần một thế kỷ trước họ đã giật mình dừng lại, và từ đó bắt đầu làm lại, khôi phục lại màu xanh cho đất đai, núi non của họ.

Đi sau, chúng ta có thể khôn ngoan hơn như lẽ ra phải thế. Sự vội vã, kiêu căng, và lòng tham không đáy, đã che mắt chúng ta. Đang còn tiếp tục che mắt chúng ta. Chúng ta vẫn còn hăng lắm trong việc chặt phá nốt đôi chút còn lại và đang bắt đầu một công cuộc đào bới hung dữ.

Cần ngay bây giờ chấm dứt mọi khai phá ở Tây Nguyên. Cần nghĩ đến một con đường sống khác, một kiểu sống khác, một kiểu phát triển khác. Trên cả nước. Trước hết trên mái nhà sinh tử Tây Nguyên. Bắt đầu lại một công cuộc cứu lấy Tây Nguyên. Bắt đầu một sự nghiệp to lớn trồng lại rừng Tây Nguyên, trong một trăm năm, quyết liệt, kiên định, thông minh, với những kế hoạch cụ thể, cho 50 năm, 20 năm, 10 năm, 5 năm, toàn Tây Nguyên, từng tỉnh, từng huyện, từng xã, từng làng.

Khôi phục lại màu xanh cho Tây Nguyên.

Bắt đầu ngay từ hôm nay, mùa xuân, mùa của màu xanh, của sự tỉnh táo, khôn ngoan.

Cho đến một ngày, có thể một trăm năm nữa, con cháu chúng ta sẽ có thể bụm vào lòng bàn tay một ngụm nước mội trong veo mát lạnh rỉ ra từ đất cát và ngửa cổ uống ngon lành. Và biết rằng cha ông chúng từng rất dại dột, nhưng rồi cũng đã từng biết khôn ngoan, để cho sự sống từng sắp bị triệt diệt, lại được cứu, lại sinh sôi, phát triển, trường tồn.

NGUYỄN KHẢI NHÀ VĂN TÀI NĂNG NHẤT CỦA THẾ HỆ CHÚNG TÔI
Nguyên Ngọc

TT – Trước hết, tôi muốn nói điều này: đấy là người tài năng nhất trong thế hệ của chúng tôi, thế hệ những người cầm bút vậy mà hóa ra vắt qua cả mấy thời kỳ lịch sử quan trọng: một chút thời Pháp thuộc, đầy đủ Cách mạng Tháng Tám, đẫm mình trong hai cuộc chiến tranh lớn, và cả hòa bình nữa.

Một đận hòa bình cũng chẳng ít khó nhọc – cả hai cuộc, hòa bình một nửa nước miền Bắc từ sau năm 1954 và hòa bình cả nước sau 1975, hòa bình nào cũng xao động bao nhiêu sóng gió.

Rồi lịch sử văn học sẽ có thời gian ngẫm lại mà xem, tất cả những chuyển động bão táp, phức tạp, trăn trở đó của số phận đất nước và nhân dân, ta sẽ được đọc lại hẳn nhiều nhất, sâu nhất trong Nguyễn Khải. Đấy là một trong những nhà văn hàng đầu, quan trọng nhất của văn học ta suốt một thời kỳ cực kỳ sôi động.

Tôi gặp Nguyễn Khải lần đầu, tôi còn nhớ chắc chắn, ngày 19-8-1955. Bấy giờ Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua quân đội vừa họp ở Hà Nội. Tổng cục Chính trị gọi mỗi sư đoàn một người “biết viết” về Hà Nội để chia nhau viết về các anh hùng vừa được tuyên dương. Hóa ra đấy là cuộc tập hợp để rồi sau đó sẽ hình thành cả một thế hệ những người cầm bút chủ lực được rèn luyện trong kháng chiến chống Pháp và bắt đầu chính thức bước vào văn học sau năm 1954-1955.

Nguyễn Khải từ sư đoàn đồng bằng Bắc bộ lên, Phùng Quán, Nguyễn Khắc Thứ từ sư đoàn 325 Bình Trị Thiên ra, Hồ Phương từ sư đoàn 308 về, Nguyễn Trọng Oánh và Hải Hồ từ sư đoàn 304 Khu 4, Lý Đăng Cao từ phòng không, Hà Mậu Nhai từ sư đoàn 330 Nam bộ… Ít lâu sau, có thêm Hữu Mai từ Điện Biên Phủ, Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi từ sư đoàn 338 Nam bộ về…

Tôi là người về sau cùng, một cây bút mới tập tò đôi ba bài bút ký vô danh, từ sư đoàn 324 Khu 5 cũng được gọi về vì có ai đó tình cờ giới thiệu. Lính mới toanh, cấp thấp nhất trong nhóm, còn hoàn toàn trắng tay, gặp ai cũng sợ. Bấy giờ Hồ Phương đã có Thư nhà, chúng tôi ở chiến trường Khu 5 xa thế mà cũng từng được đọc và phục lăn. Nguyễn Khắc Thứ đã có cả bộ tiểu thuyết Đất chuyển đồ sộ. Phùng Quán vừa xáo động văn đàn bằng Vượt Côn Đảo. Nguyễn Khải thì từng đoạt giải thưởng Hội Văn nghệ VN, danh tiếng vang đến tận những chiến trường xa trong Nam của chúng tôi…

Những bước đi nhọc nhằn và dũng cảm

Tôi biết có người thường trách các nhân vật của Nguyễn Khải giống anh ấy quá, ai cũng đầy luận lý như anh. Tôi thì tôi nghĩ có hơi khác: mỗi người có một cách sống và một cách viết. Nguyễn Khải là người gửi vào các nhân vật của mình hết mọi trăn trở trên bước đường tư tưởng khó nhọc của anh – mà trên đời này người trung thực thì bao giờ các bước đường tư tưởng cũng vô cùng khó nhọc, chỉ có những anh chàng sống giả mới dễ hơn hớn hời hợt. Vậy nên, rồi bình tĩnh đọc kỹ lại hết anh mà xem, sẽ thấy đấy là người đã ghi lại được cho mai sau gần như toàn vẹn, trung thực những bước đi nhọc nhằn mà dũng cảm của con người chúng ta, cũng là của đất nước, trong suốt những năm tháng dài bão táp bên ngoài và bên trong, vừa hào hùng vừa đau đớn, như một nhà văn tài năng của dân tộc ắt phải làm.

Cái quan định luận, bây giờ thì có thể nói như thế này rồi: Nguyễn Khải đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp đồ sộ, một bức tranh toàn cảnh sẽ vô cùng cần thiết để hiểu một thời vào loại quan trọng nhất của đất nước. Và có hiểu được như vậy thì mới đi tới được, ít đau khổ hơn và ít vấp váp hơn.

Nguyễn Khải có viết một câu hết sức ưu ái đối với tôi, anh bảo tôi “là nhà tư tưởng của thế hệ chúng tôi”. Anh thương tôi quá mà nói vậy. Anh mới chính là nhà tư tưởng ấy, bởi nhà văn mà là nhà tư tưởng thì phải thể hiện các tư tưởng ấy ra trong tác phẩm của mình. Và anh mới là người làm được xuất sắc điều đó.

Tôi ở chiến trường du kích Khu 5 hẻo lánh, bao nhiêu năm sách vở chẳng có gì, về Tổng cục Chính trị chộp được một cái thư viện đầy sách tiếng Pháp, phần lớn là tiểu thuyết Liên Xô, liền lao vào đọc say mê. Một bữa Nguyễn Khải tình cờ đi qua nhìn thấy, dừng lại kêu lên: Ô, thằng này nó đọc được tiếng Pháp chúng mày ạ!… Và chúng tôi thân nhau từ đấy. Vì sao? Có lẽ vì cả hai ham tò mò mọi chuyện đời và bắt đầu muốn suy nghĩ.

Bấy giờ anh em ở trại sáng tác thường đùa, một thằng cao một thằng lùn – Khải cao lớn nhất, còn tôi thì thấp nhất trong số anh em được gọi về – mà lúc nào cũng cặp kè như vợ chồng, ngày đêm, không biết chúng nó tâm sự với nhau chuyện gì mà lắm thế! Hồi đó còn non nớt lắm, nhưng tôi cũng đã lờ mờ nhận ra điều này: Nguyễn Khải không phải là nhà văn của chủ nghĩa anh hùng, bấy giờ đang là xu thế chính thống của văn học ta. Anh là cây bút của các vấn đề xã hội, đọc kỹ lại xem, tinh một chút có thể thấy ngay ở những sáng tác trong thời chiến của anh đã manh nha những đường nét đầu tiên của xu hướng ấy. Và như vậy, anh đi sớm hơn chúng tôi rất nhiều…

Vậy mà ở trại sáng tác, Nguyễn Khải lại được phân công viết về nữ anh hùng Mạc Thị Bưởi. Thất bại. Không phải cái tạng của anh. Anh không viết được ca ngợi, cái tạng của anh là moi tìm, lục lọi, vặn đi vặn lại vấn đề, luôn đặt câu hỏi, không bằng lòng với những câu trả lời của chính mình, và luận lý, tự luận lý, suy ngẫm.

Rồi chúng tôi, ba anh em, Nguyễn Khải, Nguyễn Trọng Oánh và tôi, được cử đi tham gia cải cách ruộng đất đợt 5 “để có thêm hiểu biết nông thôn”, cùng về xã Hưng Nguyên, huyện Thủy Nguyên bên bờ sông Bạch Đằng, đúng nơi Trần Hưng Đạo đánh trận thủy chiến mấy trăm năm trước. Tất nhiên loại “trí thức” mặt trắng chúng tôi thì chỉ được làm đội viên quèn thôi. Mỗi đứa ở một thôn. Cũng hăng hái lắm.

Nhưng có hôm đi họp đoàn gặp nhau, Khải thì thầm vào tai tôi: Mình thấy như có cái gì đó không phải cậu ạ. Sao lại thế này nhỉ? Hay là tại bọn mình non chính trị quá!… Chỉ dám thì thầm. Chuyến ấy đi về, Khải và Oánh bảo: May mà ở đội của mình chưa bắn ai cả. Nhờ có anh đội trưởng rất tốt, dũng cảm và trung thực!…

Rồi đến thời kỳ Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô. Khải và tôi thường lén lút đọc các tài liệu về sự kiện chấn động ấy. Và tôi tin rằng những chuyển động dẫu chưa thật hoàn toàn rõ ràng ấy đã ảnh hưởng đến các chuyến đi và các sáng tác của anh.

Có lẽ rồi đến một lúc nào đấy, các nhà nghiên cứu văn học thâm thúy sẽ lần lại các bước đường tư tưởng và sáng tác của Nguyễn Khải. Theo tôi, đấy là con đường rất tiêu biểu của chuyển động văn học ta suốt một thời kỳ lịch sử dài và không hề đơn giản, dễ dàng, tiêu biểu nhất là ở Nguyễn Khải, chính vì đấy đúng là cái tạng của anh và cũng vì anh là người tài năng nhất, cũng trung thực nhất với chính mình.

Tôi muốn nói rõ điều này: sự trung thực, cả điều gọi là dũng khí của nhà văn chủ yếu phải là ở trong sáng tác của anh, chứ không phải là, chỉ là trong ứng xử hằng ngày ở đời của anh. Mỗi người ở đời đều có những ràng buộc riêng mà sự khắc nghiệt chẳng ai giống ai, nên không thể ai cũng phải ứng xử như nhau. Duy đã là người cầm bút thì phải trung thực đến cùng trong sáng tác của mình. Tôi biết, tôi tin Nguyễn Khải là như vậy. Khi anh viết Xung đột, rồi Mùa lạc, có chút bâng khuâng, song vẫn còn khá dè dặt; khi anh viết về chuyện ông Tư Kiền, đọc kỹ lại mà xem, phê phán chuyện không chịu vào hợp tác xã đấy, nhưng là sự phê phán của người cũng đã không tin lắm về sự phê phán của mình. Và sau này Nguyễn Khải đã từng công khai nói về nỗi xấu hổ của anh trước nhân vật ấy…

Càng về sau, tầm nhìn những vấn đề xã hội của anh rộng, sâu và sắc hơn; tiếng nói cũng thẳng thắn và mạnh mẽ hơn, tự cay đắng với mình, thậm chí cả quyết liệt nữa, như trong ngòi bút chính trị gần cuối đời của anh. Anh vẫn trầm tĩnh và khiêm nhường, nhưng tiếng nói và cả bút pháp đã như tiếng kêu cuối của con chim báo bão đối với con người, với đất nước, với xã hội.

Cách đây mấy tháng, lục lại một số tài liệu cũ, tôi tình cờ tìm thấy cái thiếp mời đám cưới của anh Khải và chị Bắc, một cái thiếp thời ấy in mực tím trên một mẩu giấy nhỏ bằng hai ngón tay. Tôi đã định mang tặng lại anh chị, vậy mà không kịp nữa rồi! Khải ơi, còn biết bao nhiêu kỷ niệm giữa chúng ta, cả yêu thương và giận hờn nhau nữa có lúc, đều quí vô cùng, vô cùng. Khải ra đi, hôm nay tôi chỉ viết được có mấy dòng này. Rồi thế nào tôi cũng còn phải viết về nhau nữa, bạn ạ. Mỗi chúng ta chỉ nhỏ nhoi thôi trong lịch sử rộng lớn. Nhưng, tôi tin vậy, những người sống trung thực, bao giờ cũng là một phần dù nhỏ nhưng không thể thiếu trong bức tranh toàn cảnh của cả một thời. Mà sự nghiệp sáng tác, cũng là tư tưởng của Khải, thì không nhỏ chút nào.

MỘT SỰ NGHIỆP LỚN VÀ CẤP THIẾT
Nguyên Ngọc
(Phát biểu tại lễ ra mắt Quĩ Dịch thuật Phan Chu Trinh – thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam – ngày 9/1/2007 tại Hà Nội)

Tôi xin cảm ơn ban tổ chức đã dành cho tôi vinh dự được nói vài lời trong buổi gặp gỡ trang trọng này, buổi gặp gỡ, tôi tin vậy, mở đầu cho một công việc rồi về sau hẳn sẽ được ghi nhớ như một cái mốc quan trọng trong đời sống văn hóa của chúng ta.

Tôi muốn mở đầu bằng một câu chuyện và mấy con số. Đó là chuyện cuốn Bàn về tự do của John Stuart Mill, từ lâu đã được coi là kinh điển không chỉ ở châu Âu mà trên toàn thế giới. Cuốn sách này được xuất bản lần đầu ở Anh năm 1859. Không đầy 10 năm sau, năm 1868, nó đã được dịch ở Nhật Bản, số phát hành lên đến 2 triệu bản, trong khi dân số Nhật lúc bấy giờ chỉ 36 triệu người. Có thể nói chắc chắn điều này gắn liền sâu sắc với công cuộc duy tân nổi tiếng của Nhật cách đây mấy thế kỉ, cuộc lựa chọn vĩ đại đã đưa nước Nhật vào một con đường và đến một số phận khác hẳn các nước châu Á bấy giờ hầu như đều ở trong hoàn cảnh và đứng trước những thách thức sống còn tương tự. Nước Nhật ngày nay cũng đang đứng đầu thế giới về số người đọc và về số sách dịch. Tôi nghĩ sẽ không quá đáng khi nói rằng tình hình đặc biệt đó không phải không có liên quan gì đến điều mà ta vẫn gọi là “sự thần kì Nhật Bản”. Có lẽ cũng nên biết rằng hầu hết các thuật ngữ về xã hội học, triết học, chính trị học, và nhiều khoa học khác đang được sử dụng ngày nay ở ta chính là xuất phát trước tiên từ Nhật, chính người Nhật là những người đầu tiên đã sáng tạo ra các thuật ngữ ấy để dịch các khái niệm du nhập từ phương Tây trong quá trình duy tân và hiện đại hoá của họ, các thuật ngữ này sau đó được các nhà cách mạng Trung Hoa đưa vào tiếng Trung, rồi mới chuyển sang Việt Nam. Và như ai cũng hiểu, một khái niệm mới chỉ có thể hình thành, định hình trong một xã hội, trong đời sống một dân tộc khi trong ngôn ngữ của xã hội và dân tộc đó đã chính thức xuất hiện những thuật diễn đạt những khái niệm ấy. Chính những khái niệm mới được định hình tạo ra những chuyển động xã hội, thậm chí những cuộc cách mạng xã hội rộng lớn, quyết định số phận các dân tộc.

Một ví dụ Nhật Bản thôi hẳn cũng đã khá đủ để cho ta thấy vai trò của dịch thuật trong đời sống và phát triển của các dân tộc. Đúng ra đấy là một quy luật phổ biến: một dân tộc, một đất nước chỉ có thể phát triển – thậm chí tồn tại mà không bị mỏi mòn, mai một – qua việc trao đổi liên tục với những nền văn hóa khác mình, trong đó dịch – “dịch” bằng cách này hay cách khác – là một phương tiện quan trọng nhất; và những biến đổi quan trọng nhất của đời sống một dân tộc thường gắn với những công cuộc tiếp nhận những ảnh hưởng văn hóa bên ngoài, càng xa và mới lạ thì tác động càng mạnh và càng quyết định, và cũng thường chủ yếu thông qua dịch thuật.

Ngay lịch sử ta cũng từng chứng minh khá rõ điều này: tiếp nhận văn hóa Phật giáo Ấn Độ thông qua dịch kinh Phật rất sớm ngay từ vài thế kỉ trước Công nguyên, tạo nên một nền văn hóa Việt rất độc đáo kết hợp văn hóa bản địa với văn hóa Phật giáo, đủ sức chống lại đồng hoá một nghìn năm của văn hóa xâm lược phương bắc; tiếp nhận văn hóa Trung Hoa Nho giáo bằng một lối “dịch” rất đặc biệt, qua một ngôn ngữ Hán Việt, viết Hán đọc Việt, cũng tạo sức mạnh văn hóa đủ để tồn tại một nghìn năm tiếp theo độc lập bên cạnh một đế quốc khổng lồ, và hơn thế nữa còn nhân đôi lãnh thổ về phương Nam; tiếp nhận văn hóa phương Tây, trước tiên bằng đọc trực tiếp, rồi bằng dịch, để tạo nên xã hội Việt Nam, văn hóa và văn học Việt Nam hiện đại …

Tuy nhiên cũng phải nói rằng, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, trong thời kì cận đại và hiện đại, việc tiếp cận và dịch thuật những tri thức tinh hoa của nhân loại ở ta khá chậm trễ và phiến diện. Các tác phẩm văn học thế giới được giới thiệu và dịch khá hơn, nhưng cũng chưa thật có hệ thống; đặc biệt từ khi có tác động của kinh tế thị trường thì vừa có mặt phong phú, đa dạng hơn, lại vừa có mặt hỗn độn hơn, chất lượng dịch nhiều khi rất kém. Còn những tác phẩm tinh hoa thuộc các ngành khoa học xã hội và nhân văn thì rất vắng bóng. Trước Cách mạng Tháng Tám, có thể nói ở Việt Nam hoàn toàn không có một tác phẩm triết học quan trọng nào của phương Tây được dịch ra tiếng Việt. Sau năm 1945, đặc biệt sau năm 1954, một số tác phẩm triết học đã được dịch khá công phu, nhưng cũng chỉ tập trung trong hệ tư tưởng Mác-Lênin. Có thể nói, không hề quá đáng, chúng ta hầu như bị đứt mất hàng trăm năm với tinh hoa của tri thức toàn diện của nhân loại. Chỉ một ví dụ này thôi cũng đã quá hùng hồn: Cuốn sách kinh điển “Bàn về tự do” của John Stuart Mill vừa nói đến trên kia mãi đến năm 2004 mới được dịch lần đầu tiên ở ta, và cũng chỉ in lèo tèo có một 1.000 bản, tức chậm hơn Nhật một thế kỉ rưởi và số lượng in thì ít hơn họ 2.000 lần! Có phải chỉ qua một điều này thôi đã có thể cắt nghĩa được sự chậm trễ hàng trăm năm của ta so với cái đất nước cách đây nghiệp phục hưng dân tộc. Tôi muốn đề nghị trong buổi họp mặt hôm nay, ít nhất và trước hết vài thế kỉ hoàn cảnh cũng chẳng hơn gì ta, và ngày nay ta thật sự chẳng biết đến bao giờ mới đuổi theo cho kịp. Quả thật cho đến hôm nay, ta vẫn còn là một ốc đảo cách biệt rất xa với đại dương mênh mông của tri thức nhân loại, cả cổ điển lẫn đương đại, đó là điều không thể và cũng không nên cố tìm cách chối cãi.

Cho nên sẽ hoàn toàn không đầy đủ, sẽ là phiến diện và thậm chí nguy hiểm, nếu trong chiến lược phát triển trước mắt và lâu dài của đất nước không thật sự có kế hoạch toàn diện, nghiêm túc, có hệ thống, và cả bức bách nữa, dịch thuật tinh hoa tri thức thế giới như một trong những chiến lược then chốt của phát triển, hoặc cũng có thể nói cách khác, trong sự trong những người tâm huyết chúng ta, thống nhất với nhau về nhận thức ấy, để rồi từ đó mới bàn đến những kế hoạch, những công việc cụ thể, và cũng từ đây loan nhận thức này ra toàn xã hội. Dự án Tủ sách tinh hoa tri thức thế giới, với Nhà xuất bản Tri Thức làm trung tâm đầu tiên, chỉ có thể thành công nếu chúng ta thật sự nhận ra tình hình nghiêm trọng này, và từ đó thống với nhau nhận thức này.

Cách đây hơn một thế kỉ có một người Việt Nam đã giật mình hiểu ra tình hình này, nhận ra sự lạc hậu chết người của xã hội ta về văn hóa và tri thức giữa một thế giới đang biến động dữ dội, đang “toàn cầu hoá” như cách nói của chúng ta ngày nay, cuộc toàn cầu hoá lần thứ nhất; và biết rằng Việt Nam chỉ có thể sống còn nếu quyết mạnh dạn hoà nhập cùng toàn thế giới, ra sức học thế giới. Người đó là Phan Châu Trinh, người Việt Nam sáng suốt nhất trong thời của ông. Về sau Huỳnh thúc Kháng có một đánh giá thoạt nghe có thể rất lạ về Phan Châu Trinh, ông gọi Phan Châu Trinh là “nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam”. Nhà cách mạng là người không chỉ chống ngoại xâm, mà là người muốn làm thay đổi xã hội, thay đổi một cách căn bản. Phan Châu Trinh chủ trương muốn cứu nước ra khỏi tình trang nô lệ thảm khốc thì phải làm thay đổi xã hội, khắc phục sự lạc hậu về văn hóa xã hội của đất nước, rút ngắn khoảng cách chết người giữa chúng ta với thế giới đang chuyển động như vũ bão. Và khẩu hiệu của ông ngắn gọn, súc tích, quyết đoán: “Chi bằng học!”. Chiến lược hàng đầu của ông là khai dân trí, tức khai hoá dân tộc, khai hoá cho dân tộc đang chìm đắm trong vòng u tối. Phan Châu Trinh đã tìm sang Nhật, và kết luận của ông sau chuyến khảo sát tận nơi ấy rất rõ ràng. Ông nói, đau đớn: “Xem dân trí nước Nhật rồi đem dân trí ta so sánh thật không khác gì đem con gà đọ với con chim cắt già… Trình độ quốc dân Nhật như thế, trình độ quốc dân ta như thế, không nô lệ làm sao được”. Trở về, ông phát động phong trào Duy Tân nổi tiếng. Hoàng Xuân Hãn đánh giá phong trào đó như sau: “Phan Châu Trinh đã chủ trương một cuộc cách mạng tân văn hóa”… Tiếc thay, vì những éo le của lịch sử, sự nghiệp tâm huyết và sáng suốt của Phan Châu Trinh đã phải dở dang. Độc lập dân tộc đã được dành lại bằng mấy cuộc chiến tranh khốc liệt và anh hùng. Song, như một nhà sử học đã nói, những nan đề do Phan Châu Trinh đã nhận thức và nêu ra cho đất nước, về nhiều mặt, vẫn còn nguyên đấy. Công cuộc khai hoá bị chậm trễ vì những uẩn khúc của lịch sử nhất định phải được tiếp tục, một cách ráo riết, cơ bản, có hệ thống. Phải đưa xã hội, dân tộc ta hoà nhập được với nền tảng tri thức cả cơ bản lẫn cập nhật của nhân loại. Đây phải là sự nghiệp của toàn dân, của tất cả những người tâm huyết với sự phát triển của dân tộc. Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà quĩ dịch thuật như là một công cụ hữu hiệu để góp phần thực hiện sự nghiệp này mang tên là Quỹ dịch thuật Phan Châu Trinh. Và cũng thật đẹp khi đứng đầu Quĩ này là nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, người cháu ngoại yêu quí của cụ.

Công việc ắt sẽ rất nhiều và rất nặng nề. Cần có kế hoạch tổng thể có tầm nhìn xa và lớn, đồng thời thiết thực từng bước. Cần huy động được tối đa trí tuệ, tài năng của nhiều người từng trải, đồng thời lại cần có chương trình đào tạo lực lượng dịch mạnh cho tương lai.

Hoàn cảnh mới của đất nước đang tạo cho chúng ta những điều kiện tốt hơn bao giờ hết để tiếp nối khai sáng cuộc được Phan Châu Trinh bắt đầu từ một 100 năm trước. Và cũng chính hoàn cảnh ấy, với quyết đoán của đất nước chủ động mạnh mẽ đi vào trào lưu toàn cầu hoá, buộc chúng ta phải quyết tâm thực hiện cho kì được sự nghiệp này. Chúng ta đã chậm trễ mất hàng trăm năm, quyết không thể chần chừ nữa. Mong cuộc gặp hôm nay, khiêm tốn, song sẽ là sự bắt đầu, bắt đầu lại con đường khai sáng rất đáng để tất cả chúng ta dồn hết tâm huyết và trí tuệ.

TRẦN ĐĂNG KHOA: TỐT VÀ TÀI ĐẾN NHƯ NGUYÊN NGỌC
Báo An Giang đăng bài của Trần Đăng Khoa

“Một người chuyên viết về người tốt, việc tốt, tài đến như Nguyên Ngọc, tốt đến như Nguyên Ngọc, không hiểu sao, lại có những người rất tốt, cứ nghi ngờ và thậm chí khăng khăng khẳng định Nguyên Ngọc là một người không tốt hoặc rất …không tốt” – Trần Đăng Khoa.

Cũng như Nguyễn Thi, Nguyên Ngọc vào chiến trường khi đã là một nhà văn nổi tiếng. Tác phẩm đầu tiên của ông là cuốn tiểu thuyết Đất nước đứng lên, viết về anh hùng Núp. Cuốn sách vừa ra đời đã có tiếng vang lớn. Và cũng từ đấy hình thành một lối viết của Nguyên Ngọc theo kiểu Nguyên Ngọc. Lối viết này quán xuyến suốt một đời cầm bút của ông và có ảnh hưởng tới nhiều nhà văn sau ông. Đó là viết về người thật việc thật và người tốt việc tốt. Nhân vật của Nguyên Ngọc đều bắt nguồn từ những nguyên mẫu có thật trong cuộc sống chiến đấu của nhân dân mà ông từng tham dự.

Chân dung nhà văn Nguyên Ngọc. Tranh Đinh Quang Tỉnh

Sau tiểu thuyết Đất nước đứng lên, là tập truyện ngắn Rẻo cao. Đây mới thật sự là kiệt tác của Nguyên Ngọc. Tập sách rất mỏng, chỉ phong phanh chừng một trăm trang, gồm có sáu truyện ngắn, mà truyện nào cũng đặc sắc. Bây giờ đọc lại vẫn còn thấy rất hay, vẫn không cũ. Văn Nguyên Ngọc là thứ văn trong, sánh như mật ong, lại đượm ướp một làn hương rất đặc biệt. Đọc cứ bàng hoàng váng vất mãi. Nguyên Ngọc hơn người ở tài văn. Không có thực tài, không thể viết được thế.

Lần giở những trang sách của Nguyên Ngọc, không hiểu sao, tôi cứ nghĩ đến Tố Hữu và Phạm Tuyên. Cũng như thơ Tố Hữu, ca khúc Phạm Tuyên, Nguyên Ngọc viết văn bằng hồn mình và cái hồn ấy thuộc về cách mạng. Ông bám sát các vấn đề lớn của chính trị, phục vụ trực tiếp các nhiêm vụ chính trị mà tác phẩm vẫn vượt qua được sự minh hoạ, vẫn thành tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh. Không ít tác phẩm có giá trị lâu dài. Những vấn đề lớn mà Tố Hữu quan tâm cũng là những vấn đề Nguyên Ngọc đề cập đến trong hầu hết các sáng tác của mình..

Có thể nói Nguyên Ngọc là một Tố Hữu trong văn xuôi, cũng như Phạm Tuyên là Tố Hữu trong âm nhạc. Cùng có tài, cùng dâng hiến trọn vẹn tài năng của mình cho đất nước, cho Đảng, vậy mà số phận của mỗi người khác nhau biết bao. Âu đó cũng là lẽ đời. Tố Hữu viết:

Lớp cha trước, lớp con sau
Đã thành đồng chí chung câu quân hành

Ta cũng gặp ý tưởng đó trong Rừng xà nu, một truyện ngắn rất hay của Nguyên Ngọc thời chống Mỹ. Bao lớp cha con nối nhau đánh giặc, bảo vệ cán bộ của Đảng. Nói như cụ Mết: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Mỹ Diệm treo cổ anh Xút lên cây vả đầu làng. Anh Xút chết, anh Quyết thay. Nối tiếp anh Quyết là Tnú. Cũng như Mai chết thì có Dít lớn dậy.

Đúng là Lớp cha trước, lớp con sau, mấy thế hệ nối tiếp nhau đánh giặc, bảo vệ buôn làng, bảo vệ Đảng. Nguyên Ngọc còn trung thành với ý tưởng này ngay cả trong từng đoạn văn tả cảnh rừng xà nu: “Trong rừng ít có loại cây nào sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”…

Truyện của Nguyên Ngọc hầu hết là thế. Ông ca tụng chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Ông rất gần với Tố Hữu và Phạm Tuyên. Và cũng như Tố Hữu và Phạm Tuyên, bút pháp ông nhất quán, trước sau như một, không thay đổi, không quay quắt. Trong khi đó, có không ít cây bút chuyển hướng, hoặc thay đổi cách tiếp cận hiện thực để thu hút sự chú ý của bạn đọc. Trước viết người tốt việc tốt thì sau viết người xấu việc xấu. Nguyên Ngọc không thế. Suốt đời dường như ông chỉ viết truyện người tốt việc tốt. Ngay cả khi dựng nhân vật tiểu thuyết, ông cũng tựa trên những con người có thật, những sự kiện có thật ở ngoài đời.

Còn nhớ năm 1969, Nguyên Ngọc cho ra cuốn Đất Quảng tập I. Cuốn sách được bạn đọc đón nhận rất nồng nhiệt. Nguyên Ngọc kể về cuộc chiến đấu của những người bám trụ ở vùng ven thành phố Đà Nẵng. Đó cũng là vùng đất hoạt động của ông. Nguyên Ngọc xuống đó không phải để làm một nhà văn đi thực tế mà ông là một người lính chiến, bám trụ thật sự. Đó là một địa bàn khốc liệt.

Để bảo vệ khu sân bay và thành phố Đà Nẵng, địch ủi trắng cả một vùng xung quanh. Chúng lùa dân vào ấp chiến lược. Chúng nã pháo vào vành đai trắng, chỉ một rảnh lá khô bất thường, chúng cũng cho trực thăng tới bắn. Người dân phải tìm mọi cách trụ lại. Họ rải lá khô cho địch bắn. Bắn mãi cũng chẳng thấy có gì. Họ cắm lá xanh rồi trồng cây xanh. Giặc bắn mãi, hoá quen, quen đến phát nản.

Cứ thế, bằng chính máu xương mình, dân lấn dần từng bước. Rồi họ đào hầm. Dựng lều bám trụ. Dân có trụ được thì cách mạng mới có đất mà trở về. Ngày nào cũng có người chết. Nhưng dân vẫn trụ vững.

Nguyên Ngọc nằm ở đây hai năm. Ông cùng dân chống càn, rồi chỉ huy dân đánh địch. Khi đồng chí Bí thư Đảng uỷ hy sinh, Nguyên Ngọc thay luôn làm Bí thư. Ông chiến đấu, bám trụ như một người lính kiên cường. Rồi ông ghi lại cuộc chiến đấu ấy. Đó là tiểu thuyết Đất Quảng tập I.

Trong số những người bám trụ ở vành đai này, Nguyên Ngọc rất quý Phan Văn Giả, Phó Bí thư đảng uỷ. Anh cùng nằm hầm bí mật với ông, cùng kề vai chiến đấu với ông. Khi Nguyên Ngọc phải rút về quân khu, chuyển sang vùng hoạt động khác, anh thay ông làm Bí thư. Đó là một người lính dũng cảm, mưu trí, chiến đấu rất kiên cường.

Anh là một trong những nhân vật chính của tiểu thuyết Đất Quảng. Khi vào tiểu thuyết, Nguyên Ngọc đổi tên anh là Thiệt. Bí thư Thiệt. Khi ở tập I tiểu thuyết Đất Quảng, Thiệt mới chỉ lấp ló xuất hiện. Anh sẽ là nhân vật trung tâm, là linh hồn của Đất Quảng tập II. Cuốn sách ấy Nguyên Ngọc đã viết xong. Ông cũng đã cho in một số chương trên báo Văn nghệ thời ấy.

Nhưng điều đau xót là sau đó, tổ chức Đảng tắm trong biển máu, tưởng không thể vực lên được. Địch nhổ hết cơ sở cách mạng. Bí thư Giả bị địch bắt và anh đã đầu hàng. Tất nhiên, anh là người còn lại cuối cùng. Anh chỉ khai những cơ sở đã bị xoá sổ, những con người đã bị địch giết. Bởi thế, việc đầu hàng, khai báo của Giả cũng không gây thiệt hại gì thêm cho cách mạng, nhưng đối với Nguyên Ngọc, thì đó lại là một tổn thất không gì bù được.

Tại sao một con người quả cảm mà ông yêu mến, tin tưởng như thế lại đầu hàng địch? Nguyên Ngọc đau xót lắm. Phản bội Cách mạng, phản bội Đảng là một tội lỗi không thể tha thứ được. Và như thế trong ông, bí thư Thiệt thực sự đã chết. Anh ta chẳng còn lý do gì để có thể tồn tại. Nguyên Ngọc đốt luôn cả cuốn sách đã viết xong. Bây giờ ông cũng không có ý định viết lại tập II nữa. Nhân vật của ông đã chết trong ông thì cuốn sách coi như cũng đã chết. Vì vậy mà Đất Quảng thành cuốn sách dang dở.

Nhưng Nguyên Ngọc vẫn đau đáu với đề tài chiến tranh Cách mạng ấy. Ông vẫn trung thành với lối viết đã có của mình. Nghĩa là vẫn viết người thật việc thật, người tốt việc tốt. Những tác phẩm gần đây nhất của ông, ông còn để nguyên cả đống tư liệu mà chả cần phải hư cấu hay dàn dựng thêm gì. Khi hiện thực tự nó đã đủ là một vẻ đẹp thì người viết không cần phải tô vẽ thêm nữa.

Đó là tập Đường mòn trên biển, kể về những người lính cảm tử của lữ đoàn 125 Hải quân, bí mật chuyên chở vũ khí vào Nam trong những năm chiến tranh, và tập Cát cháy, cũng lại viết về cuộc chiến đấu của những người bám trụ ở vùng Đất Quảng khốc liệt. Một đống tư liệu ngổn ngang bề bộn mà đọc lại rất hấp dẫn. Đấy là sức hấp dẫn của sự thật trần trụi, cũng là sự hấp dẫn của một tài năng. Phải nói đó là những tập sách hay của văn học ta hiện nay. Hai bút ký đặc sắc của ông vừa in trên báo Văn nghệ: ABôc ở Mường Hon và Lửa nguyên thuỷ cũng vẫn một bút pháp như vậy.

Bấy lâu nay, không ít người cứ dị ứng với loại truyện người tốt việc tốt. Thậm chí có người còn cực đoan cho đó không phải là văn chương thứ thiệt. Nguyên Ngọc là một trường hợp thú vị cho thấy sự thật lại không phải như vậy. Mới hay, văn chương thật bí hiểm. Nó đâu có như một số người vẫn nghĩ. Thực tình, cách viết của Nguyên Ngọc đâu có mới mẻ gì. Ông cũng chẳng phải là người cách tân hay cấp tiến gì gì. Ông vẫn viết như chúng ta đã từng viết trong những năm Sáu mươi của…thế kỷ trước.

Có đến hàng trăm nhà văn viết như ông. Nhưng rồi cũng có đến hàng trăm nhà văn sẽ bị thời gian đào thải. Có chăng chỉ còn lại một đôi người. Trong số rất ít người còn lại ấy, chắc chắn có Nguyên Ngọc. Nguyên Ngọc tồn tại được là nhờ tài văn. Mới hay tài văn và sự chân thành của tấm lòng người viết là vô hạn quan trọng. Vấn đề không phải viết về cái gì mà là viết như thế nào.

Điều đáng sợ nhất của văn chương ta là căn bệnh nhạt. Đó là căn bệnh trầm kha, nguy hiểm vì rất khó chữa. Nó không phải là cái xấu để người ta có thể dễ nhận biết và loại bỏ. Nó chỉ nhạt nhèo, không có sắc thái và cá tính. Nhưng nó lại được nhiều nhà quản lý, lãnh đạo ủng hộ vì nó luôn bảo đảm sự ổn định và an toàn. Nó yếu đuối, không có sinh khí, nhưng lại có sức mạnh trong việc làm băng hoại mọi sự sáng tạo.

Nguyên Ngọc luôn dị ứng với căn bệnh ấy. Ông bộc lộ thái độ của mình qua hàng loạt những bài viết và cả các bài trả lời phỏng vấn. Còn sáng tác, ông vẫn viết theo lối cũ. Văn Nguyên Ngọc là một dạng văn có ma lực. Giản dị, chắt lọc và trong veo. Đó cũng là dòng văn chủ đạo rất cần có trong đời sống của chúng ta hiện nay.

Tuy nhiên nếu cả nền văn học mà nhìn đâu cũng chỉ thấy một kiểu Nguyên Ngọc thì cũng thật đáng sợ. Vì nó lại có gì như là không bình thừơng. Trong khi đó chúng ta lại rất cần sự đa dạng phong phú trong các giọng điệu cũng như bút pháp và cách tiếp cận hiện thực. Bởi hiện thực vốn như thế. Nó bao giờ cũng phong phú, đa dạng và phức tạp. Hình như Nguyên Ngọc hiểu điều này thấm thía hơn bất cứ ai.

Bởi thế, mà ông yêu mến, ủng hộ Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Khắc Trường, Tạ Duy Anh… Đó là những tài văn hoàn toàn khác ông, thậm chí phong cách sáng tác ngược hẳn với ông. Chấp nhận và ủng hộ những tài năng hoàn toàn khác mình, tôi nghĩ đấy cũng là một cái tài của Nguyên Ngọc. Không phải ai cũng có được cái tài ấy.

Một người chuyên viết về người tốt, việc tốt, tài đến như Nguyên Ngọc, tốt đến như Nguyên Ngọc, không hiểu sao, lại có những người rất tốt, cứ nghi ngờ và thậm chí khăng khăng khẳng định Nguyên Ngọc là một người không tốt hoặc rất …không tốt. Nghiệt ngã thay, có người còn nhìn ông như một kẻ nổi loạn… Đó là điều làm tôi rất đỗi kinh ngạc và có lúc tôi đã coi đó như là một nỗi bi kịch của cả cuộc đời ông… 

Nguồn: Trần Đăng Khoa
(Báo Văn nghệ số 44 ra ngày 3/11/2007)

TỈNH THỨC LỜI MẸ DẶN
Hoàng Kim

Chiêm Lưu Huy đọc ngụ ngôn thời @hoangkimvn

Triệu Khuôn Dẫn cười vang rung chuyển rừng núi xung quanh mình. Ông và Triệu Quang Nghĩa vừa uống rượu vừa lỏng dần tay xiết chặt. Triệu Tống tổ cười vì tỉnh thức lời mẹ dặn: “Con vào tướng võ ra tướng văn, nhưng Nghĩa văn hơn con”. Sau này, Nhà Tống quả vậy thường dùng văn hơn võ, nhu hơn cương, chịu thiệt tiền của để được láng giềng hơn, và chịu nhiều lời chê của sử quan đời sau.

DẠY VÀ HỌC 20 THÁNG 10
Hoàng Kim
CNM365 Tình yêu cuộc sống
Ngày mới lời yêu thươngNgày nhớ trong tim tôi; Đêm Vu Lan thương chị; Bài ca yêu thương; Thắp đèn lên đi em; Ngẫm thơ ngoài ngàn năm; An Viên Phước Hoàng Gia; Thung dung; Ngày 20 tháng 10 là ngày Phụ Nữ Việt Nam, (năm 1930, Hội Phụ nữ Việt Nam chính thức được thành lập) Ngày 20 tháng 10 năm 1819 là ngày sinh của Báb người sáng lập tôn giáo Baha’i “Người noi theo vinh quang của Thượng đế”, Tôn giáo Baha’i ra đời năm 1863 tại Ba Tư, là Iran ngày nay, với khoảng 7 triệu tín đồ ở 235 quốc gia và vùng lãnh thổ. Cộng đồng tôn giáo Bahá’í Việt Nam hiện có hơn 8.000 tín đồ phân bố ở 45 tỉnh/ thành phố. Ngày 20 tháng 10 năm 1935, cuộc Vạn lý Trường chinh kết thúc. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Phương diện quân số 1 đã đến được miền bắc của tỉnh Thiểm Tây. Đây là một cuộc chuyển quân vĩ đại 12.000 km nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc và thế giới. Bài chọn lọc ngày 20 tháng 10: Ngày mới lời yêu thươngNgày nhớ trong tim tôi; Đêm Vu Lan thương chị; Bài ca yêu thương; Thắp đèn lên đi em; Ngẫm thơ ngoài ngàn năm; An Viên Phước Hoàng Gia; Thung dung; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/ và http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-20-thang-10/.

This image has an empty alt attribute; its file name is bai-ca-yeu-thuong-1a.jpg

NGÀY MỚI LỜI YÊU THƯƠNG
Hoàng Kim


Bài ca yêu thương là thơ hoa hồng
Đỏ của máu và xanh hi vọng.
Ngày nhớ trong tim tôi
Ngày mới nhớ về mạch sống.

Ngày Mẹ Cha vào chính ngày này
Ngày 29 tháng 8 âm lịch năm xưa
19 và 20 tháng 10 dương lịch hôm nay
‘Lời nguyền’ nhắc chúng con cố gắng:

Tổ tiên công đức muôn đời thịnh
Con cháu thảo hiền vạn kiếp vinh
Minh Lệ Hưng Long hai bầu sữa
Hoàng gia phúc hậu một con đường

ĐÊM VU LAN THƯƠNG CHỊ
Hoàng Kim

Chẳng thể nào ngủ được đêm nay
Đêm Vu Lan mờ tỏ
Trăng rằm khuya lồng lộng giữa trời
Thăm thẳm một lời Người nói …

Mẹ cũ như ngôi nhà cũ
Chiếc áo mẹ mang bạc phếch tháng năm
Cha cũ như con thuyền cũ
Dòng sông quê hương thao thiết đời con

Anh chị cũ tình vẹn nghĩa
Trọn đời thương nhau lồng lộng trăng rằm
Em tôi hồn quê dáng cũ
Con cháu niềm vui thương thảo tháng năm.

Thầy bạn lộc xuân đầy đặn
Bài ca thời gian ngời ngợi trăng rằm.

Thắp đèn lên đi em

Đêm Vu Lan gặp bạn
Thương nhớ bài thơ cũ
Chuyện đời không nỡ quên …

Ngày mới và đêm Vu Lan
Vầng trăng Sao Hôm Sao Kim thân thiết.
Loanh quanh tìm tòi cái mới
Đêm Vu Lan thức về lại chính mình.

Đêm Vu Lan nhớ mùa thu đi học
Nhớ ngọn đèn mờ tỏ giấc mơ xưa
Thương con vạc gọi sao mai mọc sớm
Vầng trăng khuya thăm thẳm giữa tâm hồn

Thắp đèn lên đi em (1)
Gốc mai vàng trước ngõ (2)
Tháng bảy mưa ngâu (3)
Đến chốn thung dung (4)

Đối thoại với Thiền sư (5)
Giấc mơ lành yêu thương (6)
Đêm Vu Lan Thơ về Mẹ (7)
Hoa Đất (8) Hoa Người (9)

Đêm Vu Lan nhớ bài thơ đi học
Thấm nhọc nhằn củ sắn củ khoai
Nhớ tay chị gối đầu khi mẹ mất
Thương lời cha căn dặn học làm người

xem tiếp Đêm Vu Lan thương chị Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-20-thang-10/

THƯƠNG CHỊ
Hoàng Kim

Mấy chục năm rồi chị chẳng thơ
Lương Y Từ Mẫu cả trong mơ
Bùi ngùi em nhớ ngày xưa ấy
Kỷ niệm theo em mãi đến giờ.
Em đi dạy học thấu nhân văn
Cày ruộng cha trao biết kiệm cần
‘Ôn cũ hiểu nay’ em phải nói
Thương nghe lời chị, chị yên tâm.

LỜI CỦA CHỊ DẠY EM
Huyen Hoang

Khó thì mặc khó nghèo mặc nghèo …

Chào ngày mới yêu thương

THƠ CHO CON
Hoàng Kim

… 20 tháng 10 ngày ông Mỹ giết
Ngày mà cửa nhà tan nát
Đói nghèo Bác dắt dìu cha
Tuổi thơ thì bắt ốc mò cua
Lớn một chút trồng khoai dạy học
Qua danh lợi hiểu vinh hiểu nhục
Trãi đói nghèo biết nghĩa biết ân
(đọc tiếp… Hoàng Kim thơ cho con https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoang-kim-tho-cho-con/)

THẮP ĐÈN LÊN ĐI EM !
Hoàng Kim

Em đã học nhiều gương sáng danh nhân
Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí
Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ
Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin.

Thắp đèn lên đi em!
Xua tăm tối, giữa đêm trường ta học
Vũ trụ bao la đèn em là hạt ngọc
Cùng sao khuya soi sáng mảnh đất này
Dù sớm chiều em đã học hăng say
Dù ngày mệt chưa một hồi thanh thản
Đèn hãy thắp sáng niềm tin chiến thắng
Em thắp đèn lên cho trang sách soi mình.

Thắp đèn lên đi em!
Xua tăm tối giữa đêm trường ta học
Em đâu chỉ học bằng ánh mắt
Mà bằng cả lòng mình, cả khối óc hờn căm
Thù giặc giết cha, bom cày sập tung hầm
Nhà tan nát, sân trường đầy miệng hố
Hãy học em ơi, dù ngày có khổ
Lao động suốt ngày em cần giấc ngủ ngon
Nhưng đói nghèo đâu có để ta yên
Và nghị lực nhắc em đừng ngon giấc
Nợ nước thù nhà ngày đêm réo dục
Dậy đi em, Tổ quốc gọi anh hùng.

Thắp đèn lên đi em!
Xua tăm tối giữa đêm trường ta học
Mặc cho gió đêm nay lạnh về tê buốt
Tấm áo sờn không đủ ấm người em
Vùng dậy khỏi mền, em thắp ngọn đèn lên
Để ánh sáng xua đêm trường lạnh cóng
Qua khổ cực càng yêu người lao động
Trãi đói nghèo càng rèn đức kiên trung
Em đã đọc nhiều gương sáng danh nhân
Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí
Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ
Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin.

Thắp đèn lên đi em!

Hoàng Kim

BÀI CA YÊU THƯƠNG
Hoàng Kim

Thương nước biết ơn bao người ngọc
Vì dân qua bến nhẹ tênh lòng
Nhớ bao tài đức đời thanh thản
Ân tình lưu dấu những dòng sông.

Linh Giang Kỳ Lộ tới Đồng Nai
Mỗi chốn đều ghi chuyện cảm hoài
Đá Bia núi Nhạn vùng huyền thoại
Nam Tiến ân tình thương nhớ ai.

Vì nước đâu nề cảnh biệt ly
Nghìn trùng thăm thẳm buổi ra đi
Thanh Lương an tĩnh hiền thoát tục
Lương Chánh thanh nhàn đức từ bi

Chí thiện cha nêu gương trung hiếu
Yêu thương người chấp mọi thị phi
Chuông chùa vang vọng niềm an lạc
Sông núi trời Nam mãi mãi ghi.

Trúc Lâm thăm thẳm đức Hoàng Thành
A Na bà chúa Ngọc Phương Nam
Đất phú trời yên người hạnh phúc
Hồn Việt đường vui tới cõi hiền.

Huyền Trân công chúa Đại Việt kết duyên với vua Chế Mân Chiêm Thành nhiều người cho rằng đó là mưu lược chính trị nhờ vậy mà Đại Việt thêm được hai châu Ô Lý. Sự thật đó là một liên minh của dân tộc Việt mà nếu không thành thì hai nước khó có thể tồn tại. Chế Mân là vị vua Chiêm Thành trong hoàn cảnh đất nước bị đế quốc Angkor sát nách luôn muốn thôn tính và vó ngựa quân Nguyên Mông đang thần tốc tràn xuống phương Nam. Ông đã bỏ qua vinh nhục bản thân nhiều lần tỏ lòng thành liên kết với Đại Việt bằng cách dâng lễ vật là hai châu Ô Lý để xin cầu hôn với Huyền Trân công chúa con vua Trần Nhân Tông. Hai châu Ô Lý thực chất là chiến phí cho công cuộc liên kết kháng chiến chống kẻ địch mạnh đến cướp đất cướp dân, trả ơn cho Đại Việt đã hai lần gánh chịu tổn thất nặng nề làm tiền phương chống trả quân Nguyên Mông, cản đường của kẻ đã lấy cớ mượn đường Đại Việt để đánh Chiêm Thành.

Chế Mân là vị vua anh minh ưu tú xứng đáng và thực lòng yêu thương Huyền Trân. Các vị vương mưu lược tài năng và các danh thần triều Trần hiểu rõ vận nước và sự chân thành đó của ông nên mới tán đồng cuộc hôn nhân, khi công chúa Huyền Trân đã bén duyên Trần Khắc Chung và mang ơn cứu mạng của chàng đối với cả cha và con trong trận chiến đẫm máu mà hai vua Trần và Huyền Trân xuýt bị giết. Thiết tưởng việc dành sự trong trắng của một cô gái đang độ xuân thì phải lìa bỏ người yêu để dấn thân cứu nạn nước và thực tâm yêu người khác làm chồng đó là một sự hi sinh lớn lao. Hậu thế cần một đánh giá công bằng đối với Chế Mân và Huyền Trân để thấu hiểu trọn vẹn những uẩn khúc sau này lúc Huyền Trân đi tu, thực thấu hiểu cuộc tình duyên nổi tiếng này trong lịch sử.

Tác giả Sao Khuê trong bài “Cảm nhận Huyền Trân” đã cho rằng: “Công chúa Huyền Trân là người đoan chính, chuyện bà tư thông với danh tướng Trần Khắc Chung là vô lý. Có năm lý do để Sao Khuê tin như thế, vì:

1) Trần Nhân Tông là một vị vua lỗi lạc từng lập kỳ tích chiến thắng quân Nguyên 2 lần. Sau đó khi còn rất trẻ đã từ bỏ danh lợi, thoái vị trao ngai vàng lại cho con mà xuất gia quy y Phật pháp, trở thành tôn sư sáng lập một Thiền phái Phật giáo. “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” – Có người cha anh hùng xuất chúng như thế thì Công chúa Huyền Trân khó thể là đứa con hư hỏng làm ô danh hoàng tộc.

2) Trần Khắc Chung là công thần qua mấy đời vua. Làm quan đến chức Nhập Nội Hành Khiển, Thượng Thư Tả Bộc Xạ (tương đương Tể Tướng). Công lao to tát đến độ được vua cho đổi sang quốc tính (họ Trần) – Xét về tuổi tác, luận về danh tiếng, đức độ…thì không lý gì ông lại làm ra chuyện xấu xa cùng Công chúa Huyền Trân để thân bại danh liệt.

3) Trên chuyến vượt thoát về Đại Việt ngoài Trần Khắc Chung còn có nhiều người khác (như An phủ sứ Đặng Vân và quân lính tùy tùng…) chứ không chỉ có Trần Khắc Chung và Công chúa Huyền Trân hai người…

4) Nếu là chuyện xấu xa thì tại sao những vị Vương Tướng cương trực cùng thời với Trần Khắc Chung (như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, …) không ai có thái độ gì?

5) Ngoài ra, còn bởi một lẽ riêng tư (mà Sao Khuê cho là rất quan trọng): Khi trốn khỏi Chiêm Thành thì hoàng tử Chế Đa Đa do Công chúa Huyền Trân hạ sinh mới vừa được mấy tháng tuổi không thể mang theo cùng! Lúc đó bà chẳng những là một người vợ vừa mất chồng mà còn là một người mẹ phải đoạn lìa núm ruột của mình. Sao Khuê cùng phận nữ, vô cùng cảm thương cho Công chúa Huyền Trân nên có thơ

CẢM PHẬN HUYỀN TRÂN

Ô, Rí năm nào đổi biệt ly
Huyền Trân Công Chúa bước vu qui
Ba sinh chưa vẹn đà tan tác
Hương lửa đang nồng vội thảm bi!
Đại Việt cướp người thuyền vượt lướt
Chiêm Thành ôm hận ngựa cuồng phi
Kiên trinh há thẹn dòng Long Phụng
Trung Đẳng (*) lòng son sử sách ghi!

(*) Sau này Công chúa Huyền Trân chẳng những được dân chúng lập miếu thờ phượng vì linh ứng, mà còn được nhiều đời vua xưng tụng là Thần hộ quốc. Vào năm Khải Định thứ chín đã chính thức sắc phong bà là “Trai Tĩnh Trung Đẳng thần”.

Hoàng Kim có “bài thơ yêu thương” họa vần”Cảm phận Huyền Trân”. Huyền Trân mang ơn cứu mạng của Lê Phụ Trần xả thân cứu cha và con trong cuộc chiến đẫm máu nhưng vẫn chấp nhận gác tình riêng vì NƯỚC NON NGÀN DẶM RA ĐI. Có Cha ấy và có Con ấy, dân tộc Việt thật là hồng phúc ! Tôi tâm đắc với câu trả lời của GS Trần Văn Giàu trước câu hỏi “Chúng ta có nên đề cập đến vấn đề châu Ô châu Rí không? GS. Trần Văn Giàu đã trả lời: “Có lúc nói, có lúc không. Chúng ta dựa vào lịch sử để nói, nhưng chúng ta không nên đi quá nhiều về lịch sử, bây giờ thì không cần nói vấn đề đó. Qua lịch sử, chúng ta nói về những vấn đề vượt lên trên lịch sử. Qua lịch sử ta nói đến con người, nhân cách của Người. Từ nhân cách ấy, cho ta thấy nhân cách của một dân tộc. Một đất nước sản sinh ra được một con người có một không hai trên thế giới, thử hỏi đất nước ấy và dân tộc ấy có đặc biệt hay không?”

Giáo sư Tôn Thất Trình đã nhận xét thật sâu sắc và chí lý, đại ý: Văn học Việt Nam hội nhập toàn cầu thiếu những tác phẩm lớn đích thực như “Chiến tranh và Hòa bình” của Lev Tonstoy để xây dựng nên hình tượng Natasa bản tính Nga, chứ huyền sử Việt không thiếu những biểu tượng cảm động như Huyền Trân công chúa và đất phương Nam. Chúng ta chưa đủ tầm để thấu hiểu lịch sử văn hóa Việt đó thôi”.

Thu Bồn có bài thơ “Tạm biệt Huế” dữ dội và cảm động in trong “Một trăm bài thơ tình chưa kịp đặt tên” phảng phất huyền sử mối tình say đắm và quyết liệt của Chế Mân – Huyền Trân với sự hi sinh thầm lặng cao cả của bốn nhân vật huyền thoại Trần Nhân Tông – Chế Mân- Huyền Trân- Lê Phụ Trần, bừng sáng bình minh Yên Tử.

TẠM BIỆT HUẾ
Thu Bồn

bởi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ
nên chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu
những lăng tẩm như hoàng hôn chống lại ngày quên lãng
mặt trời vàng và mắt em nâu

xin chào Huế một lần anh đến
để ngàn lần anh nhớ hư vô
em rất thực nắng thì mờ ảo
xin đừng lầm em với cố đô

áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy
nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền
nón rất Huế mà đời không phải thế
mặt trời lên từ phía nón em nghiêng

nhịp cầu cong và con đường thẳng
một đời anh đi mãi chẳng về đâu
con sông dùng dằng con sông không chảy
sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt
Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya
tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng
anh trở về hoá đá phía bên kia.

Huế 1980

Huế xưa và nay là nơi lưu dấu đức hi sinh cao cả vì nước của cha con vua Phật Trần Nhân Tông và công chúa Huyền Trân. Đền thờ công chúa Huyền Trân trong không gian Trung tâm Văn hóa Huyền Trân có không gian rộng 28 ha tọa lạc tại 151 đường Thiên Thai, phường An Tây, chân núi Ngũ Phong, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 7 km. “núi không cần cao, có tiên ắt thiêng. Sông không cần sâu, rồng chầu thành nổi tiếng”… Đến cố đô Huế, tôi dạo chơi cùng Trần Văn Minh người bạn thân thuở nhỏ nay là giáo sư tiến sĩ nhà giáo nhân dân nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm Huế. Chúng tôi cùng thành kính ngưỡng mộ đức Nhân Tông và Huyền Trân Công Chúa, cùng lắng nghe thông xanh đàn Nam Giao trò chuyện và lắng nghe tiếng chuông hòa bình mờ tỏ trong mây trên đỉnh tháp núi Ngũ Phong của vùng Trung tâm Văn hóa Huyền Trân. Đây là nơi giao hòa Trời Đất và hương linh các bậc Thầy, những người con trung hiếu tận tụy hi sinh hết lòng vì Nước vì Dân. Tôi đã cảm khái viết bài thơ nhớ Thầy Nguyễn Khoa Tịnh:

THẦY ƠI
Hoàng Kim

Thầy ơi, em nặng lòng với Huế
Mừng duyên lành con em xe về miền Trung
Nơi LỘC Khê Hầu NGUYÊN vẹn công nghìn năm mở cõi
Với dòng sông Hương soi bóng núi Ngự Bình.

Huế là cố đô Nhà Nguyễn trãi mười đời chúa mười ba đời vua, từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng Thuận Hóa năm 1558, cai quản xứ Đàng Trong sáng lập và tạo dựng mười đời chúa Nguyễn trong hơn 2 thế kỷ và chỉ chấm dứt sau khi nhà Tây Sơn nổi dậy và đánh đổ cả hai tập đoàn Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn vào cuối thế kỷ 18. Nhà Nguyễn được tiếp nối khi nhà Tây Sơn sụp đổ, vua Gia Long lên ngôi năm 1802 và chấm dứt triều Nguyễn khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào năm 1945, với 143 năm.

Thầy Nguyễn Khoa Tịnh thông xanh núi Huế là người thầy dạy nhân cách và lịch sử, khai sáng thế hệ chúng tôi. Tôi đã viết bài ‘Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời‘ để tỏ lòng tri ân sâu nặng đối với người Thầy lớn và những thầy bạn mà tôi không thể có được ngày hôm nay nếu thiếu sự động viên, giúp đỡ này: “Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin”.

Dân Việt đi như dòng sông về biển. Gia đình tôi cũng đi theo con đường Nam Tiến của dân tộc, từ Linh Giang dòng sông quê hương đến bao dòng sông thao thiết chảy. Chúng tôi đã đi từ Sông Thương, Sông Hồng, Sông Lam, Sông Nhật Lệ, Sông Thu Bồn, đến Sông Tiền, Sông Hậu, … từ Mekong nhớ Neva, Từ Sông Hương, Kỳ Lộ tới Đồng Nai… Những con sông tắm mát đời người.

Huyền Trân, Ngọc Khoa, Ngọc Vạn là ba người Mẹ Việt đã chịu điều tiếng thị phi để tạo dựng cơ nghiệp muôn đời cho dân tộc Việt. Huyền Trân công chúa là con gái của vua Trần Nhân Tông đã vì “nước non ngàn dặm ra đi” kết duyên vợ chồng với vua Chế Mân đất phương Nam. Hai công nữ Ngọc Vạn và Ngọc Khoa là con gái của chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã được chúa Nguyễn gả cho vua Chiêm Thành và vua Cao Miên “dùng chính sách hoà bình, thân thiện để kết hòa hiếu”. Năm 1620, Chúa Sãi gả Công Nữ Ngọc Vạn cho vua Cao Miên là Chư Chetta II (1618-1686) nên dân Việt đã vào làm ăn sinh sống thuận lợi tại vùng sông Đồng Nai Cù Lao Phố Biên Hòa ngày nay, thuộc đất Thủy Chân Lạp của Cao Miên. Năm 1631, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên cũng lại gả Công Nữ Ngọc Khoa cho Vua Chiêm Thành Pô Romê. Dân Việt đã vào sinh cơ lập nghiệp ở kinh đô Chiêm Thành thời ấy tại ven sông Kỳ Lộ thuộc huyện Đồng Xuân, Tuy An ngày nay. Sông Kỳ Lộ dài 120 km, bắt nguồn từ vùng núi La Hiên cao trên 1000 m, vùng giáp ranh giữa Bình Định và Gia Lai, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam đổ ra cửa biển Tiên Châu ở Tuy An (Phú Yên), với một phân lưu đổ vào Đầm Ô Loan, nhờ vậy mà hai dân tộc Chiêm-Việt có được sự hoà hiếu” (Theo Nguyễn Phúc tộc Thế phả xuất bản ở Huế 1995).

Tôi lưu một ghi chép nhỏ “Bài ca yêu thương” “Sông Hương, Kỳ Lộ tới Đồng Nai” để nhớ.

Cuối dòng sông là biển.

Hoàng Kim

NGÀY MỚI LỜI YÊU THƯƠNG
Hoàng Kim


Khoác thêm tấm áo trời se lạnh
Tâm bình vui bước tới an nhiên
Phúc hậu mỗi ngày thêm việc thiện
Yêu thương xa cách hóa gần thêm.

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ngay-moi-loi-yeu-thuong/ và 418 bài thơ Thung dung https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thung-dung

VỀ LẠI BẾN SÔNG XƯA
Hoàng Kim


Con về chốn cũ Mạ ơi
Mà sao con nhớ mãi thời ngày xưa
Cái thời Cụ đội nắng mưa
Thuyền con một lá sớm trưa dãi dầu.

Cái thời Chợ Mới chưa lâu
Mạ ơi con tép mớ rau tảo tần
Con về bóng hạc tháng năm
Nhìn sông nhớ Mạ thương thăm thẳm trời …

Bóng Cha như núi tỏ ngời
Mạ thành sông biển suốt đời trong con.

TỈNH THỨC. Hoàng Kim.“Thiên hà trong vắt khuya/ chuyển mùa/ tự nhiên tỉnh/ Ta ngắm trời, ngắm biển/ chòm sao em/vầng sáng anh,/ dưới vòm trời lấp lánh/ khoảnh khắc thời gian/ thăm thẳm/ một tầm nhìn. (Get up /Greeting from Hoàng Kim Vietnam to Kenny Rogers/ Clear late galaxies/ transfer season/ natural awakening/ I watch the sun, watching the sea/ watching the constellations./ glow from where he/ under the sparkling sky/ moment of time/ chasms/ a vision.’. Ngày này mấy năm trước tôi ốm nặng. Huỳnh Hồng, Nguyễn Bạch Mai, Thiện Lạc, và các bạn … lúc ban ngày đến thăm. Có các tình thân trong đời, khi thường và khi ốm, hoạn nạn và lúc khó mới thấy rõ. Buổi tối, tôi lên sân thượng bệnh viện ngắm sao. Nhớ lại bức ảnh đẹp nổi tiếng của Kenny Rogers. Tôi bật ra tứ thơ trên và nhắn gửi ông. Rất nhanh sau đó, tôi đã kết nối được với Kenny Rogers, lắng nghe từ ông lời cảm ơn. I love you all… thank you. -Kenny; Sự Tỉnh thức trong tôi. Thế giới phẳng chưa bao giờ gần đến thế Tôi vào trang của ông và sáng lên trang văn CNM365 Tình yêu cuộc sống của ngày này. https://hoangkimlong.wordpress.com/…/cnm365-tinh-yeu…/

Mỗi nhân cách tự tỏa sáng khi khai mở chính mình. Cảm ơn Kenny Rogers đã giúp tôi học cách thông minh để làm cho Hoàng Kim biết tương tác tốt hơn với bạn hữu và mọi người. Mỗi chúng ta là một thế giới. Dạy, học và làm từ bài học của chính bản thân mình và những người thân mình biết rất rõ.

ĐỒNG ĐỘI CÙNG THÁNG NĂM
Kính anh Nguyễn Mạnh Đẩu
Hoàng Kim


Đọc “Vị tướng viết văn
Tác giả Nguyễn Chí Tình
Thân mến tặng Nguyễn Mạnh Đẩu
“. (1)
Mà lặng người, rưng rưng nước mắt:

Mười sáu tuổi, áo vải đầu trần
Khoác ba lô lên đường nhập ngũ
Anh không nói văn chương.
Đường hành quân lội suối băng rừng
Trận chiến

xông lên mịt mù bom đạn
Anh không nói văn chương.
Mím chặt môi nghe lời trăng trối cuối cùng
Và vuốt mắt cho người đồng đội
Anh không nói văn chương.
Trong căn hầm chỉ huy
Trước biết bao éo le căng thẳng
Sinh mệnh anh em và lòng căm thù sâu thẳm
Anh không nói văn chương.
.
Anh không nói văn chương
Nhưng tất cả, còn đây tất cả
Như rễ hút đất lành để nuôi hoa lá
Như trăm dòng suối chảy từ rừng sâu
Để hôm nay
Ngồi trong gian phòng với mái tóc ngả màu
Hay ngước nhìn bầu trời quê xanh như ngày xưa ấy.

Tất cả đang sống dậy
Thành ngọn thác trào lên
Dồn dập nhịp đời, dồn dập nhịp tim
Như cuộc đời bắt anh phải viết
Như muôn người bắt anh phải viết
Mà anh không cần biết
Đó có là văn chương?

Nhà thơ nào từng nói thế:
“Một cây chông” đánh Mỹ
Vẫn hơn “Ngàn trang giấy” văn chương
Còn anh
Anh đã đi biết mấy nẻo đường
Khói lửa nắng mưa, tấm thân dầu dãi
Đã trải những tháng ngày ưu tư khắc khoải
Thì điều khác thường lại hóa đời thường:
Anh đến với văn chương
Để chẳng bao giờ hết được văn chương !
” (1)

2

Anh Hoàng Trung Trực đời lính, là anh trai em,
Đồng đội thân của anh, cũng mười bảy tuổi lên đường
Lớp anh trước, lớp em sau
Em trong lứa sinh viên 1971
trang sách soi trang đời
Thắp đèn lên đi em
Nhớ vầng trăng ngọn lửa
Xếp bút nghiên lên đường ra trận.

Tổ chiến đấu của em có bốn người
Xuân và Chương nằm lại
Trung với em về Trường sau chiến tranh
Lửa miền Nam vừa tắt chưa thôi
Hận Nam Quan “Nước mắt Vị Xuyên”
Nhiều đồng đội em hóa đá.

Anh Tư Trực của em trở lại đời thường
‘Mảnh đạn trong người’ ‘Nhớ bạn’
‘Bền chí’ ‘Hát ru con bằng khúc quân hành”

Đối thoại với Thiền sư‘ ;Trạng Trình” (2)
Anh ấy làm ông già phúc hậu sau chiến tranh
Chăm lo điều lành, việc lành cho bà con phường, quận
Thật nhớ ngày anh lặn lội vào thăm
Đồng đội cùng tháng năm
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dong-doi-cung-thang-nam/

3

Qua thơ của bạn Nguyên Hùng
Kể về vị tướng giữa đời thường
Anh và em bất ngờ kết nối
Anh nhớ tường tận từng chút về gia đình em
Thấu suốt mọi điều hay đồng đội
Hiểu tường tận uẩn khúc trăm năm…
Quốc Công đạo làm tướng
Vị tướng của lòng dân
Ban mai đứng trước biển
Thăm thẳm một tầm nhìn.

4

Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu là Người
Sinh tử giữa chiến trường
Đồng đội cùng tháng năm
Biết mình và biết người
Có ba dòng văn chương
Văn chương ngọc cho đời.

5

Anh đến với văn chương
Để chẳng bao giờ hết được văn chương !


Tài liệu dẫn:

(1) XIN KHOE MỘT CHÚT
Nguyễn Mạnh Đẩu

Nhà thơ, Nhà văn, Nhà nghiên cứu Nguyễn Chí Tình ( tên thật Nguyễn Đức Nhật ), sinh 1935, quê Nghi Trung ( Nghi Lộc-Nghệ An ). Ông là cháu nội Chí sĩ Nguyễn Đức Công ( tức Hoàng Trọng Mậu ), con trai Nhà giáo, Nhà thơ Nguyễn Đức Bính, cháu Nhà phê bình văn học Hoài Thanh (Nguyễn Đức Nguyên). Hơn tôi 13 tuổi, là đồng hương huyện Nghi Lộc, ông Nguyễn Chí Tình thân thiết tôi từ nhiều năm nay. Ông viết tặng tôi bài thơ, đăng trong tập CÓ MỘT MIỀN QUÊ ( NXB Thanh niên – 2015). Tôi xin được khoe với bè bạn Fb.

VỊ TƯỚNG VIẾT VĂN
(Thân mến tặng Nguyễn Mạnh Đẩu)
Tác giả Nguyễn Chí Tình


Mười sáu tuổi, áo vải đầu trần
Khoác ba lô lên đường nhập ngũ
Anh không nói văn chương.
Đường hành quân lội suối băng rừng
Trận chiến xông lên mịt mù bom đạn
Anh không nói văn chương.
Mím chặt môi nghe lời trăng trối cuối cùng
Và vuốt mắt cho người đồng đội
Anh không nói văn chương.
Trong căn hầm chỉ huy
Trước biết bao éo le căng thẳng
Sinh mệnh anh em và lòng căm thù sâu thẳm
Anh không nói văn chương.
Anh không nói văn chương

Nhưng tất cả, còn đây tất cả
Như rễ hút đất lành để nuôi hoa lá
Như trăm dòng suối chảy từ rừng sâu
Để hôm nay
Ngồi trong gian phòng với mái tóc ngả màu
Hay ngước nhìn bầu trời quê xanh như ngày xưa ấy.

Tất cả đang sống dậy
Thành ngọn thác trào lên
Dồn dập nhịp đời, dồn dập nhịp tim
Như cuộc đời bắt anh phải viết
Như muôn người bắt anh phải viết
Mà anh không cần biết
Đó có là văn chương?

Nhà thơ nào từng nói thế
“Một cây chông” đánh Mỹ
Vẫn hơn“Ngàn trang giấy” văn chương
Còn anh
Anh đã đi biết mấy nẻo đường
Khói lửa nắng mưa, tấm thân dầu dãi
Đã trải những tháng ngày ưu tư khắc khoải
Thì điều khác thường lại hóa đời thường:
Anh đến với văn chương
Để chẳng bao giờ hết được văn chương !

(2) Hoàng Trung Trực đời lính https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoang-trung-truc-doi-linh/
(3) Đồng đội cùng tháng năm https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dong-doi-cung-thang-nam/

(4) “Ông phân tích rành rọt thể hiện trên ba điều: phẩm chất phải trong sáng, tận nghĩa tận tình đối với đối tượng chính sách; năng lực phải chuyên sâu, đồng thời phải có trình độ tổng hợp chung; có tác phong công tác xông xáo, sâu sát, cụ thể. Về nhiệm vụ, ông nói rằng, cháu còn trẻ, đã trải qua chiến đấu, có nhiều triển vọng, bởi thế Cục sẽ bố trí cháu lần lượt luân chuyển qua các phòng nghiệp vụ trong Cục và đi thực tế, nhằm nắm bắt được mọi mặt công tác . Sau này, nếu phát triển lên cán bộ chủ trì, thì có kiến thức toàn diện, điều hành công việc sẽ thuận lợi hơn. Ông khuyên tôi phải không ngừng học tập, phấn đấu để có bằng Đại học rồi phải đi học ở Học viện Chính trị của quân đội để nâng cao trình độ. Lần thứ hai, vào một buổi chiều giữa tháng 3 năm 1983, sau giờ làm việc, ông cho gọi tôi lên gặp. Sau khi hỏi han về sức khỏe, tình hình gia đình và công việc – lúc này tôi đang là Phó phòng Nghiên cứu Tổng hợp của Cục – ông nói với tôi: Thủ trưởng Cục giao cho đồng chí sang Campuchia làm việc trong Tổ đại diện của Cục Chính sách tại Bộ Tư lệnh Quân Tình nguyện Việt Nam ở Phnôm Pênh. Tổ Đại diện có nhiệm vụ giúp Cục Chính sách và Cơ quan Chính trị Quân Tình nguyện nghiên cứu đề đạt, theo dõi, chỉ đạo , hướng dẫn việc tổ chức thực hiện chính sách đối với Quân Tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam ở chiến trường Campuchia. Sang đó cần bám sát hoạt động chiến đấu công tác của các đơn vị, nắm chắc tình hình, thường xuyên có báo cáo về Cục. Thời gian công tác ở Campuchia ít nhất là 1 năm, sau đó Cục sẽ cử người khác sang thay. Nếu gia đình có gì khó khăn, Cục sẽ cử cán bộ kịp thời giúp đỡ… Tôi hoàn toàn nhất trí và biểu thị quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Sau này, tôi được biết, việc cử tôi lên biên giới phía Bắc khi chiến tranh biên giới tháng 2/1979 mới nổ ra và tiếp theo là phân công tôi sang trực ở Campuchia là nằm trong ý định qui hoạch rèn luyện, bồi dưỡng tôi của các Thủ trưởng. Đó là một cách đào tạo cán bộ có hiệu quả” (Trích: THIẾU TƯỚNG LÊ TIẾN PHỤC – MỘT CÁN BÔ THANH LIÊM, bài viết của Nguyễn Mạnh Đẩu),

TỈNH THỨC VỚI KENNY ROGERS

Kenneth Donald “Kenny” Rogers sinh ngày 21 tháng 8 năm 1938, mất ngày 20 tháng 3 năm 2020, thọ 82 tuổi, Ông là một ca sĩ, nhạc sĩ, nhiếp ảnh gia, nhà sản xuất thu âm, diễn viên, doanh nhân người Mỹ, và là thành viên của Country Music Hall of Fame. Kenny Rogers là nghệ sĩ có nhạc bán chạy nhất mọi thời đại.Ông thành công nhất với thể loại nhạc đồng quê, dẫu vậy ông đã ghi hơn 120 đĩa đơn trên các thể loại âm nhạc khác nhau, đứng đầu các quốc gia và bảng xếp hạng album pop cho hơn 200 tuần ở Hoa Kỳ và đã bán được hơn 165 triệu bản trên toàn thế giới. Hai trong số các album của ông, The Gambler và Kenny, được nêu tên trong cuộc thăm dò “200 Albums có ảnh hưởng nhất từ trước tới nay” của About.com.[4] Ông được bình chọn là “Ca sĩ được yêu thích nhất mọi thời đại” trong một cuộc thăm dò năm 1986 của độc giả hai tạp chí USA Today và People. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng như AMAs, giải Grammy, ACMs , CMA, và một giải thưởng thành tựu trọn đời cho sự nghiệp của Kenny Rogers một ca sĩ, nhạc sĩ, nhiếp ảnh gia, nhà sản xuất thu âm, diễn viên, doanh nhân người Mỹ được trao tặng theo ghi nhận của Wikipedia Tiếng Việt.

Kenny Rogers lắng đọng CHUYỆN CỦA CHÚNG TÔI thật cảm động: ” Siêu sao đồng quê và biểu tượng âm nhạc từng đoạt giải thưởng GRAMMY Kenny Rogers đã gặt hái thành công lớn trong suốt sự nghiệp kéo dài hơn sáu thập kỷ.

Thành viên của Đại sảnh vinh danh nhạc đồng quê và siêu sao nhạc pop đã làm say mê những người yêu nhạc trên toàn cầu với những bài hát tuyệt vời, những màn trình diễn chân thành, giọng hát đặc biệt, món quà kể chuyện và sự hấp dẫn phổ quát, và năm 2016, Rogers bắt đầu chuyến lưu diễn thế giới cuối cùng của mình với một chương trình sẽ ca ngợi di sản âm nhạc của anh ấy: Thỏa thuận cuối cùng của người đánh bạc.

Rogers đã chơi cho hàng triệu người hâm mộ trên khắp thế giới, biểu diễn các bài hát đứng đầu bảng xếp hạng từ một danh mục các bản hit phong phú, bao gồm: “The Gambler,” “Lady,” “Islands In The Stream,” “Lucille,” “Coward of the County,” “She Believes In Me,” “Ruby, Don’t Take Your Love To Town,” “We’ve Got Tonight,” “Daytime Friends,” “Through The Years,” “Love Will Turn You Around,” “You Decorated My Life,” “Crazy,” “Every Time Two Fools Collide,” and “Buy Me A Rose.”

Nghệ sĩ đồng quê đầu tiên liên tục bán hết đấu trường, Rogers đã chơi cho hàng triệu người hâm mộ trên khắp thế giới. Thật đáng kinh ngạc, ông đã lập một kỷ lục trong vòng bảy thập kỷ qua (các thập kỷ 50, 60, 70, 80, 90, 2000, 2010), trong khi gửi 24 bài hát đến vị trí số 1 của bảng xếp hạng. Rogers đã bán được hơn 120 triệu album trên toàn thế giới, đưa anh ấy trở thành một trong mười nghệ sĩ solo nam bán chạy nhất mọi thời đại, theo RIAA. Rogers đã giành được nhiều giải thưởng cho công việc âm nhạc và từ thiện của mình, bao gồm ba giải thưởng GRAMMY, 21 giải thưởng âm nhạc Mỹ, 11 giải thưởng lựa chọn của mọi người, 10 giải thưởng của Viện âm nhạc quốc gia, sáu giải thưởng Hiệp hội âm nhạc quốc gia (bao gồm giải thưởng thành tựu trọn đời CMA năm 2013) và Giải thưởng Nghệ sĩ của một đời trong chương trình trao giải Nghệ sĩ của năm 2015 CMT. Rogers đã nhận được giải thưởng Thành tựu trọn đời từ Hiệp hội người mua giải trí quốc tế, giải thưởng Cliffie Stone Pioneer từ Học viện âm nhạc quốc gia và giải thưởng Horatio Alger, được trao cho những người nổi bật dù khởi đầu khiêm tốn. Vào ngày 29 tháng 2 năm 2016, Rogers đã được vinh danh với Giải thưởng Thành tựu Giải trí trọn đời Tony Martell 2016 tại TJ Martell Foundation Columbia Honors Gala lần thứ 8. Vào ngày 5 tháng 11 năm 2017, Rogers đã nhận được giải thưởng SESAC Legacy tại Nashville.

Rogers đã giành được một đề cử giải thưởng GRAMMY® và đề cử giải thưởng CMA năm 2014, cùng với người bạn và cộng tác viên lâu năm Dolly Parton, cho bản song ca của họ, https://www.youtube.com/embed/jT4_ohTS3Os….

Tôi không hề có năng khiếu âm nhạc nhưng cảm phục về cách ông và Facebook © 2020 tổ chức trang văn lắng đọng bảo tồn những giá trị vàng của ông. Đó là bài học lớn. Đọc Kenny Rogers @KennyRogersOfficial Trang chủ Giới thiệu Bài viết Ảnh Video Ghi chú Cộng đồng Tạo Trang Đã thích Đang theo dõi Giới thiệu Gợi ý chỉnh sửa Thông tin trang Chào đời vào 21 tháng 8, 1938 Thông tin liên hệ https://www.kennyrogers.com Twitter kennyrogers Tthông tin khác Thể loại Country, Pop, Rock, Jazz Quê quán Nashville, TN Hãng thu âm Warner Bros. Records Giới thiệu: Kenny Rogers’ Official Facebook. The love of God (Deluxe Edition) including “The Gospel Truth” feat. The Oak Ridge Boys available now on all digital platforms.” GRAMMY Award-winning country superstar and music icon Kenny Rogers has enjoyed great success during his storied career of nearly six decades. The enduring Coun… Xem thêm; Tiểu sử KENNY ROGERS Once again it’s Chrismas // Biography //… Xem thêm categories Nhạc sĩ/ Ban nhạcTIN Our Story GRAMMY Award-winning country superstar and music icon Kenny Rogers enjoyed great success during his storied career of over six decades.The enduring Country Music Hall of Fame member and pop superstar endeared music lovers around the globe with his amazing songs, heartfelt performances, distinctive voice, gift for storytelling and universal appeal, … Xem thêm

Giới thiệu
Tạo quảng cáo
Tạo Trang
Nhà phát triển
Tuyển dụng
Quyền riêng tư
Cookie
Lựa chọn quảng cáo
Điều khoản
Trợ giúp
Cài đặt
Nhật ký hoạt động

Facebook © 2020

Tiếng Việt
English (US)
中文(台灣)
日本語
한국어
ภาษาไทย
Français (France)
Español
Português (Brasil)
Deutsch
Italiano

LAO ĐỘNG VÀ NGHỈ NGƠI
Hoàng Kim

Ngủ thuốc bổ trường sinh
Sự trút bỏ căng thẳng
Làm việc và thư giản
Ngủ tốt người khỏe hơn.

Chớ coi thường sự ngủ
Lao động và nghỉ ngơi
Ngủ đúng và ngủ đủ
Tránh mối lo cho đời.

Làm nhiều thì mệt mỏi
Buông làm người tự do
Chọn tinh hoa yêu thích
Hiệu quả cho mỗi ngày

Phật Từ Bi Hỷ Xả
Trí huệ vui thanh nhàn
Phúc hậu bài học quý
Vui khỏe và ngủ ngon

Thiền là biết an nhiên
Xả là trút gánh nặng
Vứt bỏ mọi chuyện đời
Không vướng dạ an thôi
https://www.youtube.com/embed/5FCcXCchXDk?version=3&rel=1…

Giữa bao nổ lực lo toan cần ngủ ngon và tỉnh thức. Nhạc thiền tỉnh tâm an nhiên tự tại

TĨNH LẶNG CÙNG VỚI OSHO

Tôi may mắn đã có được bảy ngày đêm tĩnh lặng đối thoại và thực hành với Osho là vị Thiền sư, người Thầy tâm linh lỗi lạc Ấn Độ. Osho dẫn chúng tôi đi vào thế giới tịch lặng, thiền định sâu, chỉ dẫn cho ta bí quyết thiết yếu Năng lượng tích tụ và giải phóng, giúp ta tâm thế tỉnh lặng, an nhiên tự tại, thung dung trong cuộc sống. Ta chạm đáy sự thật, đối diện với sinh tử, về nơi tịch lặng, đến chốn thung dung để thấu hiểu sự sống. Osho sự thực hành là ngủ ngon và tỉnh thức.

Osho (11/12/1931- 19/1/1990) là vị Thiền sư, nhà văn, triết gia nổi tiếng người Ấn Độ, được nhắc tới nhiều nhất và gây ra nhiều tranh luận nhất trong thời hiện đại. Osho với bài giảng nổi tiếng “Con đường hoàn hảo”  thuật lại câu chuyện của chính ông bảy ngày đêm tỉnh lặng với những bạn đồng hành. “Hạnh phúc tại tâm” bản chất sự sống, khả năng hạnh phúc và hạnh phúc chân thật của con người, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ những tác phẩm của Osho.“Osho là bậc thầy chứng ngộ đang làm việc với tất cả mọi khả năng để giúp cho nhân loại vượt qua giai đoạn khó khăn trong sự phát triển tâm thức“. Dailai Latma đã viết như vậy về người thầy lỗi lạc này cuối trang bìa của tác phẩm Osho “Con đường của nhà huyền môn“.

Bạn Châu Trần Trần Ái Châu Quản Trị Mekongrice đã chép lại “Chuyện tình yêu của ông bà ngoại tôi” từ nguồn Osho tự truyện, là bài đọc đầu tiên để nhiều người cùng học. Hóa ra, tại lớp học tĩnh lặng này cũng có thật nhiều người bên tôi, trong tôi. .Osho đã hóa đá tĩnh lặng và đang thầm lắng nghe tiếng vọng thời gian, tiếng nói lương tâm của chính mình,

CHUYỆN TÌNH YÊU CỦA ÔNG BÀ NGOẠI TÔI
Osho tự truyện


Ông ngoại tôi già rồi, và đang chết dần. Trong làng không có bác sĩ, không có thuốc men, cho nên chúng tôi không biết nguyên nhân cái chết của ông, nhưng tôi nghĩ nó là từ một cơn đột quỵ nghiêm trọng. Ông nằm trên giường, tôi đến ngồi bên cạnh, tôi hỏi nhỏ vào tai ông :-Ông ngoại, ông có cái gì để nói trước lúc ra đi?

***

Ông tháo chiếc nhẫn ra và đặt vào tay tôi. Chiếc nhẫn trên đỉnh có đính một hạt kim cương. Còn bên dưới có một hộp thủy tinh nhỏ, bên trong có tượng Phật. Ông tôi thường không cho phép ai nhìn vào cái hộp thủy tinh, nhưng ông thì cứ thỉnh thoảng nhìn vào. Ông khóc :-Ta không có cái gì khác để cho con, bởi vì tất cả những gì ta cho con, đều sẽ bị tước mất khỏi con, y như nó đã bị tước đi khỏi ta. Ta chỉ có thể cho con tình yêu, thứ quý giá nhất mà ta dành cho người ta thương yêu.

***

Chiếc nhẫn đến nay tôi vẫn còn giữ bên mình và tôi kính trọng tình yêu của ông dành cho mình. Lúc cuối trước khi từ giã cõi đời, ông nói:-Mọi người đừng có lo lắng, ta không hề đang chết.Tất cả chúng tôi đều chờ xem ông có định nói cái gì khác nữa không, nhưng đó là tất cả. Đôi mắt ông khép lại, và ông không còn nữa. Tôi vẫn còn nhớ sự im lặng đó.

***

Cái xe bò chở xác ông đi băng qua một dòng sông cạn. Tôi còn nhớ chính xác tôi đi theo sau bà và không nói gì. Tôi không muốn khuấy động bà. Bà không nói một lời, nhưng có ai đó có một vài lời bình luận làm tôi lo lắng, và tôi nói với bà:-Bà ơi, bà hãy nói một cái gì đi, Bà đừng im lặng quá như vậy, con không chịu được.Bạn có tin được không, sau đó bà tôi hát, Bà hát chính bài ca mà bà đã từng hát khi yêu ông tôi lần đầu.

***

Vào thời đó, tại Ấn Độ, những cô gái kết hôn khi họ mới bảy tuổi, hay tối đa, là chín tuổi. Cha mẹ họ sợ nếu họ lớn thêm, tình yêu có thể làm họ phải lòng một ai khác. Nhưng bà tôi đến hai mươi bốn tuổi vẫn chưa lấy chồng. Cái đó là rất hiếm. Bà là một người phụ nữ đẹp … Có một lần, tôi hỏi: tại sao bà không chịu lấy chồng trong một thời gian dài như thế. Với sắc đẹp của bà, tôi nói, thì ngay cả ông vua của bang Chattarpur này, có thể cũng đã phải lòng bà.

***

Bà nói :-Thật kỳ lạ, là con đã đề cập đến chuyện đó, bởi vì chính ông ta đã phải lòng bà. Nhưng bà đã từ chối, không chỉ ông ta, mà còn rất nhiều người khác nữa. Tôi hỏi :-Cái đó lại càng kỳ lạ hơn : Bà từ chối vua của bang Chattarpur, nhưng bà lại phải lòng ông ngoại, một người đàn ông nghèo. Vì lý do gì vậy? Chắc chắn ông cũng không đẹp trai cho lắm, cũng không phi thường trên bất cứ phương diện nào. Tại sao bà lại phải lòng ông?

***

Bà nói -Con đang hỏi một câu hỏi sai. Việc phải lòng không có tại sao. Ta chỉ đơn giản thấy ông con, chừng đó là đủ. Ta thấy đôi mắt ông, và có một niềm tin cậy khởi lên trong lòng ta, mà nó không bao giờ lung lay.Cha của bà là một nhà thơ. Những bài thơ của ông vẫn còn được người dân nơi này và những làng xung quanh truyền tụng. Ông khác mọi người. Ông cương quyết về việc hôn nhân của con gái: trừ khi bà đồng ý, chứ ông sẽ không bao giờ gả con gái mình cho bất cứ ai. Bà đã phải lòng ông tôi như là một duyên ngộ, một sự tình cờ.

***

Về tình yêu của ông đối với bà, lúc ông sinh thời có lúc tôi hỏi:-Tại sao ông thương bà?Ông trả lời:-Ta không là nhà thơ hay một nhà tư tưởng, nhưng ta có thể nhận ra cái đẹp khi trông thấy nó. Bà con đẹp lắm. Ông thấy bà và không dừng được. Ông cảm thấy có một thôi thúc bằng mọi cách phải chiếm được tình yêu của bà.

***

Tôi chưa bao giờ thấy một phụ nữ nào đẹp hơn bà tôi. Tôi yêu và tôi quí bà suốt cuộc đời. Khi bà mất ở tuổi 80, tôi vội vã về nhà và thấy bà đang nằm ở đó, đã chết. Tất cả mọi người đều chỉ chờ một mình tôi. Bởi vì bà đã bảo họ rằng, họ không nên đặt thi thể bà lên giàn hỏa cho tới khi tôi về. Bà còn nhân mạnh chính tôi, không là ai khác, sẽ châm lửa vào giàn hỏa táng của bà. Do vậy họ chờ đợi tôi.

***

Tôi đi vào, vén khăn liệm lên … và thấy bà vẫn còn đẹp! Tôi đã cảm thấy châm lửa vào giàn hỏa táng là một nhiệm vụ khó khăn nhất mà tôi từng làm trong đời mình. Nó như thế là tôi đang châm lửa vào một trong những bức họa đẹp nhất của Leonard de Vinci, hay Vincent Van Gogh. Dĩ nhiên, đối với tôi, bà còn quý giá hơn cả Mona Lisa, đẹp hơn cả Cleopatra. Đó không phải là một sự phóng đại. Những người kia quá xa yêu thương hơn đối với tôi khi so sánh với bà.

***

Ông và bà ngoại đọng lại trong tôi mênh mông tình yêu thương. Hai người đều đã về cõi trên.

BẢY NGÀY ĐÊM TĨNH LẶNG

Đời người là một chuỗi trãi nghiệm.Trãi nghiệm sự sống chính là hiện tại. Bảy ngày đêm tỉnh lặng là sự chứng ngộ ám ảnh nhất. Bạn đã bao giờ về trong tịch lặng, xuống đáy địa ngục, đối diện sinh tử, lạc vào thế giới vô thức, hoàn toàn khác thế giới thường nhật, trút bỏ bận tâm, lo âu phiền muộn, danh vị chức phận, không trò chuyện, không điện thoại, không email,  chỉ nổ lực duy nhất bảo tồn sự sống.

Tôi đã từng Dạo chơi non nước Việtl: về Nghĩa Lĩnh đền Hùng; Lên Trúc Lâm Yên Tử; Tìm về đức Nhân Tông; Đến Thái Sơn nhớ Người; Yên Tử Trần Nhân Tông; Lên Việt Bắc điểm hẹn; đến Kiếp Bạc Côn Sơn ngưỡng vọng Lời dặn của Thánh Trần; Nguyễn Trãi kiệt tác thơ văn; Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn; Vào Tràng An Bái Đính, Thần Phù Ninh Bình để thấu hiểu sâu sắc hơn “Lênh đênh trên cửa Thần Phù, khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm“, Ngày xuân đọc Trạng Trình, Nguyễn Du trăng huyền thoại; Nguyễn Hiến Lê sao sáng; trọn đời làm người Thầy nghề nông chiến sĩ

Tôi đã từng tới Praha, Goethe và lâu đài cổ, Dạo chơi cùng Goethe; Học để làm ở Ấn Độ; Đến Neva nhớ Pie Đại Đế; Lên Thái Sơn hướng Phật; Lên đỉnh Thiên Môn Sơn; Đi để hiểu quê hương;  Đi thuyền trên Trường Giang, Nhớ bạn nhớ châu Phi. Tôi cũng đã từng Câu cá bên dòng Sêrêpok, vân vân và vân vân……

Nhưng Bảy ngày đêm tỉnh lặng là bài học sự sống, sức khỏe, sinh tử, chỉ có một lựa chọn phục sinh duy nhất nên sâu đậm nhất. Sau khi xong việc cười mãn nguyện, cuộc đời dường như mới hơn, nhẹ nhàng hơn, thanh thản hơn…Cám ơn đời, hôm nay là ngày mới.

Bien


TÂM TĨNH LẶNG AN NHIÊN

Năng lượng tích tụ là hiểm họa tiềm ẩm:
Hồ tích quá nhiều nước, rất dễ bị vỡ bờ.
Người trầm cảm u uất, rất dễ bị stress.
Xã hội kiểm soát chặt, rất dễ kích động.

Năng lượng biển tích tụ, gây nên sóng thần.
Năng lượng trời tích tụ, sẽ gây nên bão tố.
Đồng cỏ khô nắng hạn, rất dễ bị bắt lửa
Năng lượng người tích tụ, bùng nổ cách mạng

Xả năng lượng là bài học thật vô giá.
Lời Phật dạy đầu tiên là Từ Bi Hỷ Xả
Biết cười là biết xả, biết buông là xả.
Chánh pháp là giải phóng con người

Giải phóng cần phải sáng tạo và ít tổn hại.
Thiền giúp cho bạn cách trút bỏ gánh nặng.
Vất bỏ ngoài tai mọi chuyện đời
Lòng không vướng bận, dạ an thôi … (1)

(1) Tâm sự với Thiền sư
thơ của Hoàng Trung Trực
Ngủ ngon và tỉnh thức.
Tâm tỉnh lăng an nhiên

Bay ngay dem tinh lang

TÌNH MẸ VÀ ĐỨC NHẪN

Tình Mẹ thể hiện rõ nhất ở đức nhẫn: kiên nhẫn chăm sóc, kiên nhẫn chịu đựng, kiên nhẫn lắng nghe. Thương yêu con như mẹ hiền mới làm được chí thiện. Đức Nhẫn của Phật Di Đà ở chùa Chân Không là mẫu mực của tình yêu thương con người.

Thuở trước Di Đà tu luyện cùng 99 tăng ni tại một ngôi chùa. Di Đà ngày chuyên cần, đêm siêng năng làm lụng khiến bạn hữu nẩy sinh sự ghen ghét. Một lần nọ họ hùa nhau nói xấu Di Đà là đã làm vỡ chén ngọc và xin thầy đuổi Di Đà ra khỏi chùa. Thầy chủ trì gạn hỏi kỹ nhiều người thì ai cũng lặng thinh chẳng ai dám thề là minh thấy rõ việc đó. Nghe sư phụ la rầy mọi người, Di Đà  đã năn nỉ khuyên can và tự mình ra dựng chòi ở ngoài để tu.  Lần sau, trong chùa  có một người ăn mày chết hôi thối tại chốn phật đường. 99 tăng ni nọ đùn đẩy nhau, né tránh việc chôn cất. Di Đà đi kiếm củi về nghe chuyện đã không kịp ăn cơm, xin sư phụ để cõng đi chôn ngay. Thây ma hôi thối bám trên lưng Di Đà mỗi lúc một nặng. Đến khi Di Đà muốn dừng lại để chôn thì thây ma ôm chặt cổ Di Đà không chịu rời. Di Đà cả cười không chút nóng giận cõng thây ma đi tìm nơi chôn cất suốt đêm. Mãi cho đến lúc ban mai, khi đến chòi của Di Đà thì thây ma mới buông tay và chịu nằm xuống. Di Đà đã cởi áo mình mặc cho thây ma, Thốt nhiên, nơi đó biến thành đài sen thơm ngát.

Chốn ấy, nay là chùa CHÂN KHÔNG.

Nhẫn là một đức tính tốt đẹp từ xưa đến nay của con người. Khoan dung, độ lượng không nóng giận là “Nhẫn”. Cốt lõi của “Nhẫn” là Nhân. Khổng Tử nói: “khắc kỷ phục lễ vi nhân” (Người biết ước thúc bản thân có lời nói và hành vi hợp lẽ phải là người nhân). Chiến thắng bản thân mình là chiến thắng khó khăn nhất.

Xưa có người cha dạy con lúc bực tức hãy cố nén giận chạy ra sau nhà và đóng một cây đinh lên chiếc hàng rào gỗ. Người con nghe lời bố làm vậy và dần biết tự kiềm chế, theo thời gian số lượng đinh đóng mỗi ngày một ít đi. Đến một ngày, cậu đã không nổi giận một lần nào suốt thời gian dài. Cậu đến thưa với cha và ông bảo : Tốt lắm, bây giờ con đã biết nhẫn thì cứ mỗi tháng con không nổi nóng nữa con hãy nhổ một cây đinh ra khỏi hàng rào. Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một hôm người con đã vui mừng báo với cha rằng trên hàng rào đã không còn cây đinh nào nữa. Người cha nói :  Con đã làm rất tốt, nhưng con hãy nhìn những lỗ đinh con để lại trên hàng rào để thấy những lời con nói lúc nóng giận như những lỗ đinh này, chúng để lại những vết thương khó lành trong lòng người. Lời nó như tên không nên bắn bậy, đã lọt vào tai ai, không sao rút ra được.

CẢM NHẬN CÙNG VỚI OSHO

Nguyễn Quốc Toàn Từ chối vua để lấy một người dân thường, bà là người độc nhất chưa có người thứ hai

Kim Hoàng Kính anh Nguyễn Quốc Toàn Tỉnh lặng cùng với Osho văn chương nết đất Osho thật tuyệt vời.

Nguyễn Quốc Toàn: 1- Bu tui thỉnh thoảng đọc Osho chớ không ghiền ông ta như chú em và cậu con trai. Osho quá tài, nhưng cái gì quá cũng không nên. Osho hiểu Phật như chính Phật tự hiểu mình. Bởi vậy kinh, luật, luận, của Phật giáo đối với ông không còn là đỉnh cao cần vươn tới. Bố mẹ ông là tín đồ của Kỳ na giáo (người hoàn thành việc tu hành) bản thân Osho không theo một tôn giáo nào.2- Thuyết giáo của ông là một sự trộn lẫn giữa các giáo lý của Kỳ Na giáo (Jainism), Ấn Giáo (Hinduism), Phật Giáo, Lão Giáo (Taoism), Thiên Chúa Giáo (Christianity) và một vài tư tưởng triết học đương thời. Người nghe tưởng là ông ngợi ca đức Phật, thực ra ông xuyên tạc, tung hỏa mù vào nhận thức của chúng sinh về đức Phật. Osho bảo Tôi đồng ý với Đức Phật rằng “Cái Tôi là không thực, còn những thứ khác là thực”, trong khi đức Phật không hề nói thế trong suốt 45 năm thuyết Pháp. Giáo lý nhà Phật chủ trương diệt dục vì dục là nguồn gốc của khổ đau và luân hồi thì Osho lại chủ trương ngược lại. Ông dạy kỹ thuật giao hoan nam nữ cho dài lâu, đây là điểm quan trọng trong quá trình truyền đạo của ông, là “đường lối hành trì” để hành giả đạt đến giác ngộ giải thoát, đến Niết Bàn hay Thượng Đế”…

Kim Hoàng@ Nguyễn Quốc Toàn tuyệt vời ! Osho quá nổi tiếng và được bậc tôn quý Datlai Latma tôn vinh “Osho là bậc thầy chứng ngộ đang làm việc với tất cả mọi khả năng để giúp cho nhân loại vượt qua giai đoạn khó khăn trong sự phát triển tâm thức“. Datlai Latma đã viết như vậy về người thầy lỗi lạc này cuối trang bìa của tác phẩm Osho “Con đường của nhà huyền môn“. Chính quyền Mỹ phải trục xuất ông khi ông ở Mỹ, trước khi ông mất, vì sợ ảnh hưởng to lớn của bậc thầy chứng ngộ này lung lạc khối tôn giáo của họ. Đạo Phật với triết lý vô ngã tìm Phật ở tự thân chứ không tìm ở đâu khác, nhận thức luận tự do hơn nhiều triết thuyết khác. Cám ơn anh. Em xin chép ý kiến này của anh vào phần “Cảm nhận về Osho” tích hợp trong bài Tĩnh lặng cùng với Osho . https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tinh-lang-cung-voi-osho/

TRẬN MỞ MÀN CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH
Hồi ký của Hoàng Trọng


Sau 12 ngày đêm quần nhau với địch ở thị xã Xuân Lộc rồi cũng đến hồi kết thúc. Ngày 22/4, chúng tôi được chỉ huy đơn vị thông báo: “Ngày 21/4, địch đã rút chạy, ta hoàn toàn làm chủ thị xã Xuân Lộc, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức”. Chúng tôi nhảy lên ôm nhau vui sướng. Thế là thoát được một cửa tử.

Chưa kịp nghỉ, chúng tôi được quán triệt nghị quyết của Bộ chính trị : Triển khai chiến dịch Hồ Chí Minh, quyết tâm giải phóng Sài Gòn và giải phóng miền Nam trước ngày 19/5. Công việc của các đơn vị là củng cố lại lực lượng, trang bị thêm cho đủ cơ số đạn, chuẩn bị hành quân đánh trận mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh. Cả đại đội 3 của tôi còn chưa đến 2 trung đội.

Hành quân theo đường 20, trên đường, những đoàn người di tản, những nét mặt lo âu, những bước đi rệu rã. Qua ngã ba Dầu Giây, tranh thủ lúc đơn vị dừng lại nghỉ, tôi tìm gặp Hồng, con chú Long. Hồng cùng nhập ngũ một ngày với tôi, hiện đang là tiểu đội trưởng tiểu đội hỏa lực cối 60 của đại đội 2, cùng tiểu đoàn 4 với tôi. Anh em gặp lại nhau mừng lắm, còn nguyên vẹn cả. Tôi mở ba lô lấy cho Hồng 2 hộp sữa “quân tiếp vụ”. Chúng tôi pha sữa uống với nhau. Hồng bảo: “Đại đội 2 của em hy sinh và bị thương nhiều lắm. Nhiều đứa chịu không nổi đã đào ngũ. Anh em mình đã vào đây thì thà chết, đào ngũ nhục lắm”.
Tôi kể cho Hồng nghe chuyện tôi được anh Ty đại đội phó đại đội 3 “thử thách ” trong trận đánh Xuân Lộc. Hai anh em cười vui vẻ rồi chia tay.

Tối 26/4, đơn vị hành quân đến vị trí ém quân để ngày mai nổ súng. Trận này Trung đoàn 270, Sư 341 chúng tôi đánh vào chi khu Trảng Bom. Trong đó mục tiêu tấn công của tiểu đoàn chúng tôi là Suối Đĩa. Đêm, trăng sáng lắm, thỉnh thoảng địch bắn lên mấy quả pháo sáng. Hai người du kích đi trước dẫn đường, chúng tôi lặng lẽ bước theo sau. Những cơn buồn ngủ ập đến. Bước thấp, bước cao, mơ mơ màng màng, giật mình mới biết là mình đang vừa đi vừa ngủ gục. Trời nóng bức, cổ lúc nào cũng khô khốc. Gặp con suối nhỏ, nước lấp xấp, dưới ánh trăng mờ, không biết trong hay đục, chúng tôi xúm vào vốc lên miệng uống ngon lành.

Gần sáng, chúng tôi áp sát mục tiêu, bố trí đội hình chuẩn bị tấn công. Cầu Suối Đĩa chỉ dài khoảng 10 m. Bên kia cầu, địch dùng 2 xe containe chất đầy bao cát làm công sự. Mũi luồn sâu của đại đội 3, được tăng cường thêm một khẩu 12 ly 7, một DKZ và một cối 82 của đại đội 4, do đại đội trưởng Nếp, người Hải Phòng chỉ huy.

Sáng 27/4, trời vừa hững sáng, những loạt pháo gầm lên. Dứt tiếng pháo, bộ binh vào trận. Bên kia địch nấp trong công sự, sau những nhà dân bắn ra như mưa. Ngời, anh bạn đồng hương người xóm Bắc Minh Lệ, vừa dẫn tiểu đội chạy lên được vài chục bước thì bị địch bắn rát quá phải dừng lại. Phát hiện lỗ châu mai nơi hỏa lực địch bắn ra. Ngời bảo Hoa, xạ thủ B40 dập tắt ổ đề kháng. Hoa chưa kịp bắn thì trúng ngay một quả phóng lựu của địch, máu ra lênh láng phải chuyển về tuyến sau. Ngời lệnh cho Biếng thay Hoa, bắn 2 phát B40.
Địch im bặt.

Bên kia cầu một chiếc M48 của địch vừa bò lên chân dốc vừa nã đạn, bị trúng đạn DKZ, hỏng xích, không cơ động được. Lính trên xe nhảy xuống bỏ chạy toán loạn. Hướng đại đội 1 do đại đội trưởng Tạ chỉ huy. Anh Tạ, dân tộc Nùng, quê Cao Bằng, người to cao vạm vỡ. Nhìn chiếc xe tăng địch đang án ngữ bên kia cầu. Biết B41 chỉ còn một quả đạn. Anh Tạ nói với Phong:

– Còn một quả đạn, đồng chí tiêu diệt ngay chiếc xe tăng đứng trước kia. Thay mặt cấp ủy, chi bộ kết nạp đồng chí vào hàng ngũ của Đảng.

Có lẽ vì quá sung sướng, cảm động, hồi hộp, viên đạn Phong bắn ra bay vọt qua đầu tháp pháo xe tăng. Thấy Phong bắn trượt, anh Tạ nã thêm mấy quả M79. Địch quay lại bắn xối xả. Hai chiếc trực thăng vè vè lượn trên đầu cũng cùng nhã đạn. Lâm, lính thông tin 2w của tiểu đoàn, đi cùng đại đội 1, nghe phía đơn vị pháo 120 yêu cầu cho biết tọa độ để phối hợp. Cả Lâm và đại đội trưởng Tạ đều không biết tọa độ, cũng không kịp chuyển sang mật mã theo quy định thông tin, Lâm nói thẳng luôn vào máy:

– Chúng tôi đang bên này đầu cầu Suối Đĩa, trên đường tiến quân. Bên kia cầu có nhiều xe tăng địch, lính bộ binh rất đông. Lấy tọa độ dưới tầm của hai chiếc trực thăng.

Lâm vừa dứt lời pháo tới tấp bắn vào, khói bụi mịt mù. Lâm thét vào tổ hợp:

– Bị “đấm lưng” rồi, chuyển làn đi!

Chiều, phía Trảng Bom, bị 2 tiểu đoàn 5 và 6 tiến công, địch không trụ nổi phải rút lui theo Quốc lộ 1, và tụ lại ở Suối Đĩa. Tiểu đoàn 4 điều đại đội 2 (lúc này đang là đại đội dự bị) ra truy kích chặn đường địch rút lui. Hồng vừa triển khai cho tiểu đội giá súng để chuẩn bị bắn thì một loạt pháo địch bắn tới. Hai quả trúng ngay vị trí tiểu đội cối của Hồng. Hồng và 6 chiến sỹ trong tiểu đội đều hy sinh. Chiều hôm đó lính tiểu đoàn 5 và 6 hy sinh và bị thương nhiều. Thiếu úy Hùng, chính trị viên phó đại đội nói với tôi:

– Đơn vị đang đánh nhau phía trước, không còn ai. Thôi thì cậu cùng tôi đi cáng thương binh cho tiểu đoàn 6 vậy.

Hơn 3 giờ chiều, trời càng nóng. Theo lối mòn, chúng tôi vượt qua mấy quãng đồi trọc, cây cối mọc lúp xúp. Hùng vừa mới học trường sĩ quan chính trị ra, người nhỏ thó, thư sinh, mới được bổ sung về làm chính trị viên phó đại đội tôi trước ngày chúng tôi chuẩn bị đi B. Tôi cao hơn Hùng nên mỗi lần xuống dốc, tôi phải đi trước, khi lên dốc phải trở cáng để tôi đi sau. Chúng tôi vừa qua một đồi trọc, chuẩn bị leo lên một ngọn đồi mới. Tôi lại trở cáng để Hùng đi trước. Vừa trở cáng xong thì pháo địch phía sau dồn dập bắn tới. Một quả rơi trúng ngay giữa cáng. Khói bụi mịt mù. Tai tôi ù đi. Tôi chạy đến một mô đất để nấp. Khoảng 15 phút địch ngừng bắn. Tôi quay lại cáng, người thương binh tiểu đoàn 6 đã chết. Hùng bị thương máu chảy lênh láng. Đùi, mông và lưng nhầy nhụa. Mấy cuộn băng cá nhân của tôi và của Hùng không thể quấn hết vết thương.

Hùng tỉnh táo lắm. Người ta nói bị thương nặng mà tỉnh thì không thể sống nổi. Hùng thều thào, giọng chậm rãi, ngắt quảng:

– Mình quê ở Thanh Văn…Thanh Chương… Nghệ An. …Mình còn có …mẹ già …ở quê…. Mình chưa …làm gì được gì …cho mẹ….thương mẹ lắm…

Hùng lịm dần.

Một mình tôi đã đuối sức, không biết xoay xở ra sao với 2 cái xác tử sỹ. May có mấy đứa đại đội 4 đi ngang qua, tôi gọi lại nhắn về báo cáo tiểu đoàn.

Tối hôm đó, tôi tìm mò được về đến đơn vị khi đã gần 9 giờ đêm. Kết thúc trận đánh. Cả đại đội còn vỏn vẹn chưa đầy một trung đội.

Thấy tôi mò về, tụi bạn mừng lắm. Thế là thêm được một thằng chưa bị chết.

H.T (*)

(*) Ghi thêm của Hoàng Kim: 26 tháng 4 đánh chi khu Trang Bom là ngày mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh. Hoàng Trọng là người Làng Cồn Vượn (Quảng Minh) với Hoàng Ngời là người Làng Minh Lệ quê tôi và nhiều đồng đội đồng hương có trong trận này; xem thêm Gặp bạn ở quê nhà

(**) Xuân Lộc Tường thuật của BBC tháng 4/ 1975 https://youtu.be/ZTdkQJy1H_o

NHỚ BẠN
Hoàng Trung Trực

Ngỡ như bạn vẫn đâu đây
Khói hương bảng lãng đất này bình yên
Tình đời đâu dễ nguôi quên
Những dòng máu thắm viết nên sử vàng

Trời xanh mây trắng thu sang
Mình ta đứng giữa nghĩa trang ban chiều
Nhớ bao đồng đội thương yêu
Đã nằm lòng đất thấm nhiều máu xương

Xông pha trên các chiến trường
Chiều nay ta đến thắp hương bạn mình

MẢNH ĐẠN TRONG NGƯỜI
Hoàng Trung Trực

Bao nhiêu mảnh đạn gắp rồi
Vẫn còn một mảnh trong người lạ thay
Nắng mưa qua bấy nhiêu ngày
Nó nằm trong tuỹ xương này lặng câm…

Thời khói lửa đã lui dần
Tấm huân chương cũng đã dần nhạt phai
Chiến trường thay đổi sớm mai
Việt Nam nở rộ tượng đài vinh quang.

Thẳng hàng bia mộ nghĩa trang
Tên đồng đội với thời gian nhạt nhoà
Muốn nguôi quên lãng xót xa
Hát cùng dân tộc bài ca thanh bình

Thế nhưng trong tuỷ xương mình
Vẫn còn mảnh đạn cố tình vẹn nguyên
Nằm hoài nó chẳng nguôi quên
Những ngày trở tiết những đêm chuyển mùa

Đã qua điều trị ngày xưa
Nó chai lỳ với nắng mưa tháng ngày
Hoà bình đất nước đổi thay
Đêm dài thức trắng, đau này buồn ghê

Khi lên bàn tiệc hả hê
Người đời uống cả lời thề chiến tranh
Mới hay cuộc sống yên lành
Vẫn còn mảnh đạn hoành hành đời ta.

(Trích Hoàng Trung Trực đời lính https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoang-trung-truc-doi-linh/

THÁNG TƯ NĂM ẤY CÓ BA MƯƠI BẢY NGÀY. NHỮNG CÂU THƠ TRỰC TIẾP
Nhà văn Vương Cường

1.

Ngày 17–4-1975 từ Phan Rang, đại đội mình trong đội hình trung đoàn 101, sư đoàn 325 đang hành quân bằng xe cơ giới tiến về Sài Gòn. Trên mũ bộ đội hay bên xe đều có câu khẩu hiệu: “Thần tốc, thần Ttốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút xốc tới chiến trường giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng”. Lính lái xe vốn là tù binh quân lực Việt Nam Cộng Hòa được trưng dụng. Xe cắm đầy lá ngụy trang, mỗi xe chở theo một trung đội, đầy đủ cơ số đạn dược, súng ống, thuốc men, cơm nắm, gạo sấy, nước uống sẵn sàng chiến đấu bất kỳ tình huống nào. Qua những xóm làng vừa giải phóng, những cánh đồng hai bên đường lúa đã chín, không một bóng người, nắng miền trung lúc nào cũng hầm hập. Đôi làn mây trắng lạc trôi giữa trời xanh. Trên những mái nhà tôn, những lá cờ ba sọc đỏ trên nền vàng được sơn to như tấm chiếu, cố sáng lên trong nắng.

Vừa qua Phan Rang máy bay lao xuống ném bom chặn đường. Khói bom trùm kín đường quốc lộ. Tiếng pháo ro ro trên đầu. Được lệnh nhảy xuống xe và chạy vào con hào khô ẩn náu. Ở đây có rất nhiều người dân và một số thanh niên có người cởi trần đang trú ẩn. Bất ngờ nhìn thấy quân giải phóng, mũ tai bèo, khoác súng AK trong tư thế chiến đấu xuất hiện thì đều sợ hãi, tái mặt, có người thất thần. Một lát, bình yên trên khuôn mặt những người dân tươi lại, khói bom chưa tan hết, bộ đội lại nhảy lên xe, một màu xanh đi. Không nhớ nơi nào thì xe dừng lại, thay lá ngụy trang và bắt đầu hành quân bộ. Phía sân bay Thành Sơn trận chiến vẫn còn dữ dội. Nghe tiếng pháo nổ, cối cá nhân, AR15 và cả tiếng AK xa lụp bụp như rang ngô đậy vung. Khói bốc lên đen ngòm, cuộn từng lọn bay lên, trong khói vẫn thấy có những chiếc máy bay lóa nắng, vội vã bay. Bộ đội được lệnh đi cách nhau năm mét sát vệ đường, ngụy trang lẫn vào mép cỏ. Có khi lom khom, có khi nằm bẹp xuống bên vệ đường, bom nổ gần, khói đen thốc vào mặt, trùm kín một quãng dài. Một lúc, gió quét, đường một lại hiện dần ra trong nắng như chưa có chuyện gì xẩy ra.

Bỏ lại sau lưng nhiều nấm mộ trọc, khi nằm heo hút giữa rừng già, khi nằm cô quạnh bên đường, không cỏ, không hoa, sơ sài mộ chí. Đoàn quân xanh cứ lao về phía khói đen lẫn nắng…

Mười ngày đêm cơm vắt ngang lưng
nước uống không còn kịp lọc
giấc ngủ vo tròn không kịp buộc
chốt quanh những cặp mắt thâm quầng…

2.

Ngày 22- 4-1975 đơn vị hành quân bộ. Đến một khu rừng cao su bạt ngàn của Bà Rịa thì dừng lại. Đất khô cứng như đá, đào mãi cũng chỉ được cái lỗ toen hoẻn. Đi suốt đêm phần lớn trong rừng cao su. Sáng ra, nắng nóng đến 37-38 độ. Tất cả các bình tông đều hết nước. Mệt. Khát. Đói. Bộ đội hành quân trong rừng cao su, khoảng cách năm mét một người. Khát quá sức chịu đựng, những bước đi thất thểu, nhiều người phải uống nước đái. Mình cảm giác lưỡi được làm bằng gỗ gắn vào. Thấy bát hứng mủ cao su, đầy mạng nhện, có ít nước trong, liếm chút cho ướt lưỡi. Không ngờ nó đắng, hàng giờ sau vẫn còn đắng. Ở miền tây Thừa thiên biết muối quan trọng thế nào khi ba ngày không có muối. Giờ thì khát. Mơ nước…

Mắt lờ đờ tôi nhìn giọt sương
rơi giật cục theo nhip đều tôi đếm
bàn tay vội xòe ra để hứng
lại thu về vẫn những nốt chai.
…………………..
Lưỡi tôi cố tình liếm mãi đôi môi
nghe ram ráp như gỗ chà lên gỗ
rừng cao su đứng yên trong lò lửa
nhện chăng đầy bát nhựa khô nghiêng…

3.

Ngày 25 – 4 lại hành quân, trưa dừng chân giữa rừng cao su Bình Sơn, đào hầm nghỉ. Đất cao su mùa hạn cứng hơn đá. Xẻng khoét mãi cũng chỉ được cái lỗ toen hoẻn đủ chỗ mèo nằm. Trời nóng quá, nhiều người không nằm mà ngồi trên miệng hầm hóng gió. Mở lương khô ra ăn. Ăn lương khô, không có nước lại khát kinh khủng. Bỗng nghe tiếng máy bay và một loáng cả khu rừng cao su rung lên bần bật. Ba chiếc C130 đổ bom. Loại máy bay này, bay ngang, không phải bổ nhào như các loại F khi ném bom. Kiểu như B52 thu nhỏ. Dứt ba loạt bom, tiếng đất đá, cây đổ vẫn còn vang, nghe rõ tiếng chân người chạỵ, tiếng gọi cứu người gấp gáp. Trưa hôm đó trung đoàn mình cả thương vong mất 153 người. Mình nhìn thấy mấy chiếc GMC chở đầy xác bộ đội, như chở củi chạy đi. Những người lính trận chưa bao giờ kịp khóc bạn. Nhìn nấm mộ nằm heo hút một mình ở góc rừng, xa dần những bước chân đi về phía tiếng súng mà lòng đầy thương cảm.

Thương lắm…Đã vượt qua cả ngàn cây số đạn bombạn nằm lại ở rừng cao su Bà rịađành chịu lỗi với mẹngày mai chiến dịch cuối cùng sẽ mởchắc mẹ ở nhà dõi theo chờ máu chảy theo hình chữ Schảy đến mỗi ngõ nhà…

4.

Tiểu đoàn đi thẳng, đánh vào huyện lỵ Long Thành, mở cánh cửa hướng Đông vào Sài Gòn đúng năm giờ rưỡi chiều ngày đầu tiên của chiến dịch Hồ Chí Minh 26 – 4. Trước đó, khoảng mười sáu giờ, bên cạnh vài cái hầm toen hoẻn vừa khoét vội, đầu đội mũ tai bèo, tay cầm súng, ngồi bên miệng hầm, đảng viên chi bộ đại đội mình họp. Rừng cao su đất đỏ Bà Rịa, trời chưng nắng, nóng đến 37 – 38 độ. Trên trời vẫn nghe tiếng máy bay xa, thỉnh thoảng vài tiếng pháo bay ro ro trên đầu. Khi đi chiến dịch xuân 1975 chi bộ có hai mươi mốt, giờ chỉ còn mười người, mặt ai cũng gầy đen sạm, quần áo quyện mồ hôi, chân tay, giày dép lấm láp, chỉ còn ánh mắt là nguyên vẹn như đầu chiến dịch. Đại đội giờ toàn lính mới bốn lần dọc đường bổ sung, nhiều người chưa tham gia trận đánh nào. Lính cũ chỉ còn chưa đến hai mươi người. Phần lớn bị thương và hi sinh dọc đường chiến dịch. Chính trị viên đại đội, bí thư chi bộ Nguyễn Văn Bảo mở đầu cuộc họp:- “Chúng ta đã hi sinh và còn tiếp tục hi sinh. Dù hoàn cảnh nào cũng lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Không còn xa nữa chúng ta đánh vào giải phóng Sài Gòn. Những tư tưởng do dự, sợ hi sinh lúc này là có hại cho Đảng. Các đồng chí! Đây là cuộc họp cuối cùng trong chiến tranh nhưng là buổi họp chuẩn bị trận mở đầu chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Người Đảng viên lấy làm vinh dự được chết cho sự nghiệp cách mạng của Đảng”. Tất cả các đảng viên dự họp đều im lặng, nắm tay biểu quyết thay cho nghị quyết bằng văn bản. Đó là sự chấp nhận, dù hoàn cảnh nào đảng viên vẫn sẵn sàng hi sinh, đi đầu trong từng trận đánh.

Chi bộ họp xong, đã nghe pháo ta từ nhiều hướng, nhiều loại bắn dồn dập vào huyện lỵ Long Thành. Dưới đồi cây lúp xúp, dưới làn pháo đang dọn đường, đại đội hội ý nhanh với cán bộ chỉ huy từ tiểu đội, trung đội. Đại đội trưởng Trịnh Đình Hạnh hạ lệnh: “Đây là cánh cửa phía đông bắc chúng ta có vinh dự mở ra để đại quân tiến vào giải phóng Sài Gòn. Quân địch từ các nơi bỏ chạy về đây lập phòng tuyến tử thủ. Cuộc chiến sẽ rất ác liệt. Dù thế nào các trung đội, tiểu đội và từng chiến sỹ phải nêu cao tính thần không sợ hi sinh, bằng mọi giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Lần này đánh hợp đồng quân binh chủng. Pháo ta từ các hướng, đủ các loại đang dọn đường. Tiếp xe tăng đi đầu chở theo một số bộ binh vừa đủ, mở đường, bộ binh theo sau đánh chiếm các mục tiêu đã định. Các đồng chí phải nhanh chóng chuyển tinh thần ấy đến với từng chiến sỹ”. Nghe truyền đạt mệnh lệnh chiến đấu và phân công trung đội 2 và 3 phối hợp với xe tăng. Mình được giao phụ trách bộ đội mười hai người đi xe tăng số 1. Vừa lúc đó, pháo các loại bắn vào Long Thành im bặt, không biết từ đâu, năm chiếc T54 gầm rú, dàn hàng bạt đồi cây lúp xúp ập đến.

Những người lính đội mũ tai bèo, mang ngụy trang, ba lô sau lưng, tay ôm súng AK lom khom chạy tới, xe tăng không dừng mà chạy chậm. Tất cả đã nhảy lên trong chớp mắt, ngồi quanh sườn xe, tay nhăm nhăm súng. Khói vẫn còn bốc lên trước mặt từng cuộn, từng cuộn nhạt dần. Xe tăng cứ nhằm theo hướng khói mà chạy với tốc độ ngày càng cao. Có khi mất hút trong khói, bụi đen ngòm. Nó không cần biết dưới các bánh xích đường như thế nào. Chỉ một loáng gầm thét đã đến ngả ba Long Thành. Súng AK và AR15 nổ, pháo tăng bắn, nó rùng mình một cái, cả đất trời như đảo lộn. Khói pháo, súng hắt vào mặt trùm kín xe tăng, thoáng ngạt thở. Mình vừa nói to vừa ra hiệu cho mọi người để khóa súng ở nấc một. Thời Quảng Trị, nếu nghe tiếng AK giật cục, từng tiếng một, bọn địch nghe và cho rằng đây là lính mới, chúng sẽ ào lên, “bắt sống trẻ em Hà Nội!”. Bộ đội học bắn súng, phải là điểm xạ hai viên một, mới được xem là lính thiện chiến. Giờ ngồi trên xe tăng, số đạn mang theo có hạn mình sợ nhỡ ra hết đạn nên mới nói với mọi người như thế. Đại đội xe tăng gầm vượt qua ngã ba. Phía sau hai bên xe tăng là bộ binh khi bò, khi lom khom chạy trong khói bụi, tiểu đoàn trưởng Nguyến Ánh Dương trực tiếp chỉ huy. Trận chiến từ mũi bộ binh vô cùng ác liệt. Các loại súng, cối từ bên kia, khi trong các cửa sổ bắn ra như mưa. Nghe tiếng AR15, cối cá nhân M72 và đại liên nhằm vào quân ta đang tiến vào, bắn từng băng, dường như không nghỉ. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Ánh Dương bị đạn bắn thẳng ngay khi vừa ào lên phía cửa mở, sát ngã ba. Người cần vụ của anh bò lên kéo xác anh cũng bị hi sinh. Một đồng đội khác bò lên trong sự yểm trợ của các đồng đội phía sau cũng hi sinh nốt. Một lúc ba người hi sinh gần như đè lên nhau. Nhiều người lính bị đạn thẳng hi sinh hoặc bị thương ngay trước cửa mở.

Xe tăng vẫn thẳng tiến, đến một ngã ba, mình nhìn thấy xe tăng quân lực Việt Nam Cộng Hòa đi vuông góc cũng chạy ra đường lớn. Hai bên chạm mặt mà không nhận ra nhau. Một lát xe tăng mình nhận ra. Giữa xe tăng địch và ta có chiếc GMC chở chật người xen giữa. Pháo tăng ta buộc phải dùng đạn xuyên bắn xuyên qua cái GMC ở giữa và xuyên cả xe tăng cháy. GMC trở thành cái chướng ngại vật, buộc xe tăng ta phải tránh sang bên phải và tiếp tục đi. Vượt qua Long Thành, đại đội xe tăng lạc về phía Biên Hòa chừng mười bảy cây số thì dừng lại bên đường, cạnh rừng cao su. Một xe tăng đi lạc. Bốn chiếc vẫn nguyên. Trời đầy chớp sáng. Pháo sáng rải nhiều đến mức mình nhìn thấy cả máy bay trực thăng bay. Mình bảo bộ đội xuống nằm dưới bụng xe tăng, tránh pháo. Đến xe sau, thấy mấy thằng chưa biết tên, chủ quan, nằm ngay trên xe ngủ. Mình cầm lấy chân, dật và quát, muốn chết à, xuống ngay! Không thằng nào cựa quậy. Hóa ra, xe số 2 bộ binh hi sinh gần hết. Người sống sót kể lại với mình, có một người lính quê Hà Tĩnh bị một quả chống tăng bắn đúng bay khỏi xe. Một lát điểm quân và nhận lệnh quay lại đánh tiếp Long Thành. Khi xe tăng ta đánh vào, quân địch tản ra. Khi xe tăng ta đi qua, chúng tụ lại đánh bộ binh. Cuộc chiến phía sau vẫn còn nguyên vẹn, cứ dằng co.

Trên đường chuẩn bị quay lại, máy bay địch bắn rốc két vào đội hình. Tất cả được lệnh tản ra ngay giữa cánh đồng, có những ụ đất cỏ mọc um tùm. Những người lính chạy lom khom, tản ra theo đội hình tổ ba người. Bộ đội còn khoảng hơn ba mươi người. Khi quay trở lại thì thấy ta bắt được một chiếc xe DEP, bên trong viên trung úy cầm lái, viên đại úy lăm lăm súng ngắn chĩa ra ngoài, từ Biên Hòa chạy tới. Ta trưng dụng xe, viên đại úy bị trói lại còn viên trung úy vẫn cầm lái. Từ khi có chiếc xe DEP, mình được lệnh của đại đội trưởng và chính trị viên cũng với sáu chiến sỹ lên xe quay lại Long Thành bắt liên lạc với tiểu đoàn. Mình ngồi bên cạnh trung úy lái, yêu cầu chạy về Long Thành. Đại úy vẫn bị trói, ngồi sau cùng với sáu anh em đi mình. Thấy hai tay trung úy run bần bật, không thể lái được. Mình nói, anh bình tĩnh lái đi, tôi cũng ngồi bên anh đây. Thế là chạy lên phía trước các xe tăng. Chạy được khoảng vài trăm mét thì bị bắn hỏng lốp. Thế là mình cho bộ đội nhảy xuống bám xe tăng. Xe tăng chạy chậm. Mình thấy ai cũng nhảy lên xe nhẹ nhàng lắm. Không ngờ có người lính mới người Hà Nội không lên được.

Xe tăng vẫn chạy thẳng hướng Long Thành khi đang dừng trong rừng cao su, xốc lại lực lượng, chuẩn bị đánh vào. Đêm tối, từng mảng sáng từ pháo sáng và những viên đạn bay đi gửi lại không đủ đã tạo ra những khoảng tối như tối hơn. Bỗng chính trị viên Nguyễn Văn Bảo gọi mình xuống xe số 3, lý do, xe này chưa có Đảng viên! Xe số 1 vừa vào đến đầu quận lỵ Long Thành thì bị bắn trúng thùng xăng bốc cháy đùng đùng. Các loại súng địch lấy đó làm mục tiêu bắn điên loạn. Hai mươi mốt người trên xe chỉ còn ba người, một người quê Quỳnh Lưu, nếu không nhầm là xã Quỳnh Bảng sống sót trong hoảng loạn và bỏng toàn thân. (Sau này mình và đồng đội có đến thăm, thấy anh bạn ngồi trong màn không mặc được quần áo). Khi bị hoảng loạn, dưới ánh sáng suông, anh chạy vật vờ giữa hai làn đạn. Bên nào cũng nhằm anh mà bắn! Thế mà không dính viên đạn nào! Anh Sơn quê Thanh Hóa tiểu đội trưởng, người năm ngoái đã giới thiệu mình vào Đảng bị rơi khỏi xe khi đang cháy. Đôi bàn tay anh, cuốn băng cầm máu vội không chữa trị kịp thời nên các ngón bị dính vào nhau. Một người lính thông tin tiểu đoàn, tên Long, ngất lịm rơi xuống đất, tỉnh lại trong trạm phẫu tiền phương nhưng không có vết thương. Xe số 2, số 3 và số 4 được lệnh dừng lại vì đêm rất khó đánh, chờ sáng mai đánh tiếp. Trên đường ở Long Thành sau đó vài hôm, mình quay lại thấy có nhiều hình người không hàng, không lối, được vẽ ra bằng mỡ người bị cháy. Xác xe tăng quân ta đã chuyển đi rồi. Khóc tiểu đoàn trưởng Nguyễn Ánh Dương:Sài Gòn xa mấy ngàn cây số máuđi mãi không cùnganh dừng lại ở Long Thành với línhsống có nhau giờ chết cũng còn nhau…

5.

Sau ngày 30-4-1975, niềm vui sống sót tràn ngập trong tim, hiện rõ trên mặt của từng người lính. Họ vội vàng viết thư báo tin, còn sống và sẽ về thăm mẹ, vợ hay người yêu… Họ đã không cần đào hầm mỗi khi dừng chân. Thương nhất những người lính hi sinh trước cửa ngõ Sài Gòn. Chỉ vài giờ thậm chí vài phút mà không thể vượt qua. Nhưng tháng tư năm ấy có đến ba mươi bảy ngày…

Bốn giờ sáng, ngày thứ ba mươi bảy tức ngày 7-5-1975 trung đoàn mình hành quân đến tổng kho Long Bình. Khi chiếc xe đầu chạm cổng chính thì được lệnh dừng lại, các xe lần lượt sắp hàng, điểm quân trước khi vào. Bỗng nghe một tiếng nổ lớn rung chuyển cả không gian vừa yên tĩnh. Lệnh miệng tới tấp chuyền xuống, y tá lên ngay! Y tá lên phía trên ngay!. Mình nhìn xuống thấy nhiều y tá vai đeo túi thuốc chạy…

Một xe phía trước đoàn quân bị gài mìn hẹn giờ. Mìn nổ, trên thùng xe ba mươi người, xương thịt bay khắp nơi, lẫn vào nhau, không còn ai nguyên vẹn, không nhận dạng được. Mảnh xác tìm thấy xa nhất, bảy mươi mét. Chỉ một người sống sót. Thùng xe lõm xuống. Trong cabin, có ba người, lái xe, lính Việt Nam Cộng Hòa và người ngồi ngoài cùng không việc gì. Người ngồi giữa là anh Tương, người Quảng Bình, tiểu đoàn phó bị một mảnh nhỏ găm vào gáy. Thời Quảng Trị anh ước, hết chiến tranh mang cái hango nhiều tiện dụng về đi biển. Điều ước ấy của anh suýt nữa không thành. Thương lắm…

Đã vượt qua hàng trăm cửa tử
phút cuối cùng anh nằm lại ở cửa sinh
chia từng nắm thịt xương vùi đất
sống từng chia chết cũng còn chia…

Tháng 4 – 1975, Bổ sung 4 – 2021

CÓ MỘT CHỦ TỊCH HỘI CỰU THANH NIÊN XUNG PHONG NHƯ THẾ
Hoàng Minh Đức
(Làng Minh Lệ) 24 tháng 4, 2011


Năm 1964, ông Hoàng Minh Sơn lên đường nhập ngũ thì bà Hoàng Thị Dị lúc đó chỉ mới là một cô bé đang học cấp 2. Những năm đầu ông được bố trí công tác tại phòng chính trị Tỉnh đội Quảng Bình. Năm 1968, ông đi viết bài biểu dương tinh thần lao động của dân công Quảng Bình trên công trường Rào Nan. Ông đã gặp bà Dị và hai người yêu nhau. Họ hẹn hết chiến tranh sẽ tổ chức đám cưới. Nhưng cũng năm đó Đoàn 104, thanh niên xung phong Quảng Bình thành lập chi viện cho chiến trường. Bà xung phong vào Đoàn 104.

Được tin bà Dị đi thanh niên xung phong, ông Trần Sự Tỉnh đội trưởng Quảng Bình cho phép ông Sơn về 3 ngày để cưới vợ. Cưới xong, hai vợ chồng vội vã lên đường. Tiểu đoàn 46 của ông sang Lào chiến đấu trong đội hình của Sư đoàn 968, Quân khu 4. Đoàn 104 của bà phục vụ các tuyến đường trên đất Quảng Bình rồi năm sau cũng lật cánh sang tây Trường Sơn làm đường ở bên Lào. Năm 1972, có một lần bà đang làm trên cung đường 69 ở Khăm Muộn thì gặp ông hành quân đến Xa-va-na-khẹt.

Năm 1973, ông Sơn tham gia chiến dịch giải phóng Cao nguyên Bô-lô-ven. Bà Dị bị thương rồi về quê sinh con. Bà đặt tên cho con là Hoàng Đức Thắng. Bà chờ mong ông trong ngày chiến thắng sẽ trở về. Nhưng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng miền Nam xong ông lại tiếp tục sang Lào giúp bạn. Bà vào đội kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt rồi làm thủ quỹ hợp tác xã Minh Lệ.

Năm 1985, ông Sơn về hưu. Hết làm chủ tịch Hội Cựu chiến binh của xã xong lại tiếp tục làm công tác Người Cao tuổi. Bà làm công tác phụ nữ rồi làm Chủ tịch Hội Cựu thanh niên xung phong của xã. Hai vợ chồng bà vừa lao động sản xuất, nuôi dạy con, cháu, vừa giúp nhau trong công tác xã hội. Bà cùng ông thành lập câu lạc bộ ca trù. Ông viết lời và đánh trống chầu, bà là một ca nương đêm đêm tập luyện cùng chị em. Hàng đêm bà nấu nước chè xanh phục vụ các ca nương đến tập ca trù tại nhà bà.

Ngày Hội Người cao tuổi thị xã Ba Đồn triển khai phong trào tập thể dục “Thức vũ kinh” và bóng chuyền hơi, ông bà là người hăng hái hưởng ứng đầu tiên. Ông cắm bóng điện trước cổng và mua về một chiếc loa phóng thanh treo trên ngọn cây cau. Buổi khuya thức bà con đến tập cho đúng giờ. Bà đến từng nhà nhắc nhở mọi người xếp hàng trên con đường trước cổng nhà mình.

Nhà Văn hóa Thôn Bắc Minh Lệ xây dựng, hai ông bà là người ủng hộ số tiền nhiều nhất thôn. Khi hai cọc treo khẩu hiệu xóm 2 bị bão bẻ gãy ông bà đã bàn với Bí thư chi bộ xóm dựng một cái cổng chào bằng sắt, xây đế bê tông vững chãi. Bà cùng bí thư chi bộ đi vận động bà con ủng hộ. Số tiền ủng hộ chỉ mới được hơn một nửa thế là bà và bà bí thư ủng hộ gần 3 triệu 5 trăm ngàn đồng. Dù không nằm trong cấp ủy nhưng bà Dị đã cùng Bí thư chi bộ bám sát phong trào xây dựng nông thôn mới của xóm. Bà tham gia kiểm tra làm đường bê tông, sân bóng chuyền hơi và trồng hoa trên trục đường do chi hội Người Cao tuổi xóm 2 đảm nhiệm. Chỉ với số tiền thương bệnh binh ít ỏi nhưng bà đã ủng hộ phong trào xây dựng nông thôn mới tất cả các khoản trị giá trên 5 triệu đồng.

Từ ngày người chồng thân yêu qua đời, một mình bà nuôi dạy đứa cháu mồ côi Hoàng Phương Hằng (con của Hoàng Đức Thắng bị mất vì bệnh ung thư) và chăm lo công tác Hội Cựu thanh niên xung phong của xã. Bà đi đến từng nhà hội viên động viên tinh thần sống vui, sống khỏe, sống có ích làm gương sáng cho con cháu. Bà đã tổ chức cho Hội Cựu Thanh niên xung phong trồng ở nghĩa trang liệt sỹ, đình làng và bốn miếu các cây cảnh quý như cây đa đỏ, hoa mộc lan, hoa Ngọc Lan…vv.

Hội Cựu thanh niên xung phong của bà còn đảm nhiệm việc làm vệ sinh trục đường từ thôn Nam Minh Lệ ra thôn Bắc Minh Lệ và chăm sóc 2 nghĩa trang liệt sỹ của xã. Bà phát động hội viên giúp nhau xóa đói giảm nghèo, làm kinh tế gia đình. Ban nữ công của Hội thường xuyên hoạt động, duy trì số quỹ lên tới 13 triệu đồng. Số tiền cho vay để lấy lãi thăm hỏi các hội viên đau ốm. Đặc biệt đáp ứng lời kêu gọi của Trung ương Hội chia sẻ khó khăn do đại dịch covid -19 gây ra, toàn Hội đã đóng góp 2 triệu 530 ngàn đồng.

Là một phụ nữ, bà vẫn lo toan công việc gia đình và xã hội vẹn toàn. Bà luôn luôn đứng mũi chịu sào, lo lắng chế độ chính sách, chủ trì tang lễ cho các hội viên quá cố một cách chu toàn, trọng thể. Trong xã Quảng Minh ai cũng tấm tắc khen bà Hoàng Thị Dị, người có tâm, nhiệt tình với công tác xã hội. Bà xứng đáng là một Chủ tịch Cựu thanh niên xung phong gương mẫu, một người tuổi cao gương sáng cho mọi người học tập.

NGƯỜI ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở XÓM TÔI
Hoàng Minh Đức
(Làng Minh Lệ) 17 tháng 4, 2021


Bà Hoàng Thị Thiệu sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo tại xóm Bắc, làng Minh Lệ, xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch (nay là thị xã Ba Đồn), tỉnh Quảng Bình. Bà Hoàng Thị Thiệu đang giới thiệu lịch sử đoàn đại biểu Quốc hội Quảng Bình.

Trong kháng chiến chống Pháp, xóm Bắc, làng Minh Lệ quê tôi chỉ có 31 nóc nhà, cách đồn Minh Lệ chừng nửa cây số. Mẹ của bà Thiệu đi tản cư năm 1947 bị bệnh sốt rét ác tính chết trong rừng. Anh trai của bà Thiệu đi bưu điện, tham gia kháng chiến. Ở nhà, ông Hoàng Trá, cha của bà Thiệu, một mình “gà trống nuôi con”.

Hòa bình lập lại, năm 1955 bà Thiệu được bầu làm Liên đội trưởng, đội thiếu niên của xã Quảng Minh. Bà cùng đội thiếu niên tuyên truyền vận động bà con lập tổ đổi công. Bà làm thư ký tổ đổi công, rồi tiếp tục làm phó chủ nhiệm hợp tác xã bậc thấp chòm Minh Bình. Xây dựng hợp tác xã bậc cao, hợp nhất cả làng Minh Lệ lại, bà dẫn đầu đoàn thanh niên lên Chày (huyện Bố Trạch) khai hoang.

Về làng, bà tiếp tục huy động đoàn viên thanh niên đi vớt rong, bứt lá làm phân xanh, gánh nước tưới khoai đưa năng suất khoai làng Minh Lệ lên trên 10 tấn/ha. Có những củ khoai to như cái bình vôi, nặng 5 kg được đem đi triển lãm khắp tỉnh. Loại khoai này có vỏ màu vàng nhạt, ruột màu vàng nghệ, có mùi thơm đặc trưng, người dân địa phương thường gọi là “khoai tây”, (nay đã mất giống). Đặc biệt khi làm Bí thư Xã Đoàn, bà được bầu vào Ban chấp hành Đảng bộ xã Quảng Minh khóa 6 (nhiệm kỳ 1963-1964). Bà đã đứng mũi chịu sào trong việc di dân vào xã Cự Nẫm, huyện Bố Trạch. Bà cùng đoàn viên thanh niên vào trước, làm nhà sẵn cho bà con rồi chở người và đồ dùng, của cải vào sau.

Giặc Mỹ ném bom miền Bắc, Huyện Đội Quảng Trạch giao cho xã Quảng Minh huy động 150 thanh niên lên đường nhập ngũ. Cán bộ xã đội lo không đủ quân số. Nhiều người cho rằng vùng cồn bãi, công giáo toàn tòng, có nhiều người “theo Chúa vào Nam”. Có nhiều nhà, có người theo Việt Binh đoàn của Bảo Đại, không thể điều đi bộ đội được. Bà nói: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Cứu nước là nhiệm vụ của toàn dân, không kể lương hay giáo. Là một người thanh niên phải lên đường đi đánh Mỹ”. Với khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” bà đã vận động vượt mức được tất cả 250 thanh niên đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự, trong đó có nhiều thanh niên công giáo vùng cồn.

Khi được Đảng ủy phân công làm chủ nhiệm hợp tác xã Tây Bắc Minh Lệ, dù trong tay không có một đồng nào bà vẫn dám đứng ra đảm nhận công trình xây dựng nghĩa trang liệt sỹ của xã. Bà cho xã viên đi đào đá nung vôi rồi chở cát đá về xây trước con mắt đầy thán phục của cánh mày râu. Nhà nước giao chỉ tiêu cho hợp tác xã Tây Bắc Minh Lệ nuôi 200 con lợn gia công, làm thực phẩm gửi ra tiền tuyến, bà đã khoán cho xã viên nuôi vượt mức kế hoạch và thưởng cho mỗi đội sản xuất 2 con để làm thịt cho xã viên ăn tết. Những năm trên bom dưới đạn bà đã huy động dân công làng Minh Lệ tham gia làm thủy lợi kênh mương Rào Nan vượt quân số trên giao. Tổng kết phong trào thi đua, ông Nguyễn Trọng Khai, Chủ tịch huyện Quảng Trạch đã nêu gương “ 6 cái nhất” của bà Hoàng Thị Thiệu làm được để các xã khác học tập.

*

Còn nhớ cuối tháng 5 năm 1968, chúng tôi, những học sinh K8 tại xã Thiệu Thịnh, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa nghe tin có người trong Quảng Bình đến thăm. Khi gặp mới biết đó là bà Hoàng Thị Thiệu ở cạnh nhà tôi. Tôi gọi bà bằng chị vì bà lấy anh Trần Hữu Mánh, con trai bà cô của tôi. Anh Mánh mồ côi nên ở với ông nội tôi từ nhỏ. Anh là sĩ quan điều khiển tên lửa đang chiến đấu ở chiến trường Lào. Bà cho biết trên đường đi họp Quốc hội về thì ghé lại. Bà thay mặt bà con nhân dân Quảng Bình đến gặp ủy ban nhân dân xã Thiệu Thịnh cám ơn bà con đã chăm sóc nuôi dưỡng học sinh K8 chúng tôi. Lúc đó ở xã Thiệu Thịnh có 146 học sinh K8, thuộc một số xã huyện Quảng Trạch ra sơ tán. Bà dặn dò: “các em, các cháu phải biết vâng lời thầy cô và bố mẹ trong nhà để xứng đáng với quê hương Quảng Bình “hai giỏi”.

Đầu xuân Tân Sửu này, chúng tôi, những học sinh từng đi K8 hẹn nhau đến thăm bà Hoàng Thị Thiệu. Bà bùi ngùi nhớ lại chuyện xưa. Bà nói đoàn đại biểu Quốc hội Quảng Bình khóa 3 nay còn sống chỉ một mình bà. Đoàn Quảng Bình gồm có 7 người. Hai người ở Hà Nội về Quảng Bình ứng cử là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, và ông Phan Văn Hai, Nghệ nhân ngành nghệ thuật sân khấu ca kịch Việt Nam. Còn lại 5 người đang ở Quảng Bình, trong đó có ông Nguyễn Tư Thoan, làm Bí thư Tỉnh ủy. Ông Phạm Xuân Quảng là chủ tịch huyện Tuyên Hóa, ông Võ Khắc Ỷ chủ nhiệm hợp tác xã Việt Xô, ông Lê Trạm chủ nhiệm hợp tác xã ngư nghiệp Lộc Ninh. Chỉ có một mình bà là phụ nữ, bí thư Xã Đoàn, Thường vụ Tỉnh Đoàn Quảng Bình.

Tôi hỏi bà về kỷ niệm lần đầu tiên được gặp Bác Hồ. Bà trầm ngâm một hồi lâu, đôi mắt ầng ậng nước. Bà nói lúc đó bà mới 23 tuổi. Được ra thủ đô Hà Nội họp mới lần đầu. Quốc hội khóa 3, kỳ họp thứ nhất từ ngày 25/6 đến ngày 3/7 năm 1964. Cả nước có 429/ 455 đại biểu có mặt. Một hôm Bác Hồ mời tất cả đại biểu thanh niên đến nhà khách gặp mặt. Trên bàn tiệc, các cô chú phục vụ đã dọn sẵn kẹo và nước. Bác ân cần hỏi han từng người và luôn miệng nhắc: “Các cháu ăn kẹo đi chứ, ta vừa ăn vừa nói chuyện. Mà các cháu phải nhớ ăn cho hết kẹo đấy nhé. Ăn không hết thì cầm về. Còn nước uống không hết thì chừa lại cho Bác”. Tất cả cười vang, ai nấy đều vui vẻ. Cuối buổi Bác mời tất cả ra sân chụp ảnh chung với Bác. Ai cũng muốn đứng gần Người hơn.

Tôi nói: “Chị kể lại cái lần đến thăm bọn em, học sinh K8 ở Thanh Hóa đi”. Bà Thiệu nhớ lại. Đáng lẽ ngày 25/6 năm 1968 sẽ hết nhiệm kỳ nhưng vì tình hình chiến sự nên Quốc hội khóa 3 phải kéo dài đến năm 1971. Sau xuân Mậu Thân 1968, giặc Mỹ thua to, Tổng thống Giôn xơn tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra. Giặc Mỹ tập trung máy bay ném bom, tăng tần suất, cường độ đánh phá Hà Tĩnh, Quảng Bình, vùng cán xoong Quân khu 4. Kỳ họp thứ tư (từ ngày 19 đến 22/5/ 1968), bà phải đi bộ lên xã Phúc Trạch (Bố Trạch) rồi mới có xe. Xe chạy lên đèo Đá Đẽo rồi theo đường rừng ra Hà Tĩnh. Trên đường đi có khi gặp một lúc 7 chiếc xe bị bắn cháy. Ra Hà Nội trên xe vẫn còn cài lá ngụy trang và lấm đầy bùn đất.

Trước giờ họp, Bác Hồ đến hội trường. Các đại biểu thanh niên ở các đoàn tranh nhau vây quanh Bác. Bác kéo tay bà Thiệu đến gần và nói: “Bác muốn nghe tình hình quân dân Quảng Bình. Cháu Thiệu hãy kể lại tình hình bà con trong ấy cho Bác nghe. Làm thế nào mà tránh được bom đạn của địch. Làm thế nào để vừa sản xuất, vừa chiến đấu”. Bác hỏi han công tác chăm sóc người già, thương bệnh binh và thiếu nhi trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn. Bà Thiệu trả lời khi máy bay lao xuống ném bom nếu trúng vị trí mình đang đứng thì thấy cái đầu tròn và hai cánh máy bay nằm ngang. Mình phải chạy ngược lại cái hướng của máy bay của địch lao xuống. Bom ném xuống xa thì thấy thân bom dài, gần thì thấy đầu bom hình tròn. Ban đêm trẻ con và người già phải ra ngoài đồng, nằm ngủ dưới hầm. Dưới hầm lát các tấm ván, kê lên để tránh hơi đất, tối đến cầm chiếu xuống trải lên mà ngủ. Học sinh đến trường phải đội mũ rơm tránh mảnh đạn pháo rớt xuống đầu. Trạm xá dưới hầm. Họp hành cũng phải thắp đèn lên ngồi dưới hầm mà họp. Mỗi khi bom ném xuống khu vực nào là dân quân phải có mặt ở đó. Bắn 3 phát súng để mọi người đến cứu thương, đào hầm sập. Ngoài đồng đào những cái hầm cá nhân có nắp đậy. Khi máy bay ném bom thì mọi người xuống trú ẩn, dân quân kê súng trường lên bờ hầm mà bắn máy bay. Nghe xong Bác khen quân dân Quảng Bình “hai giỏi”, chiến đấu giỏi, sản xuất cũng giỏi.

Bà Thiệu nói kỳ họp đó bà là người nhỏ tuổi nhất và cũng là người từ tuyến lửa Quảng Bình ra nên được ngồi trên ghế chủ tọa đoàn. Trong buổi thảo luận ở tổ, bà cũng được vinh dự ngồi bên Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bà kể trời nóng nực, Đại tướng được ưu tiên ngồi gần quạt, nhưng ông nói “tôi ngồi trước quạt bị ho” và nhường chỗ cho bà. Bây giờ Đại tướng đã đi xa, mỗi khi nhớ lại bà Thiệu cảm thấy sống mũi cứ cay cay.

*

Miền Nam hoàn toàn giải phóng. Con em làng tôi ra đi cứu nước lần lượt trở về. Có những người nằm lại ở chiến trường không tìm được xác. Bắc Nam thống nhất, toàn Đảng, toàn dân ta bắt tay vào việc xây dựng lại đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như lời di chúc của Bác. Trong lúc cả nước đang đói. Nước thủy lợi Rào Nan chỉ về đến ruộng đồng hợp tác xã Tây Bắc Minh Lệ. Theo chủ trương của Đảng bộ xã Quảng Minh phải dãn dân di dời vào thôn Nam làng Minh Lệ và lên Động Lòi để lấy đất trồng lúa. Xóm tôi lúc đó có nước Rào Nan chảy đến tận vườn. Không ai muốn ra đi cả. Ai cũng nhìn vào bà Thiệu. Đồng chí Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân xã bàn, hay là cho xã viên chặt gỗ làm cho bà một cái nhà để bà đi rồi kéo dân đi theo. Bà khoát tay: “Thôi! Khỏi cần. Tôi sẽ đi trước nhưng chỉ xin các đồng chí cho một số nhân lực để bốc dỡ ngôi nhà nhỏ của tôi vào”.

Năm 1982, bà Thiệu về hưu. Bà lặng lẽ sống hòa mình cùng cộng đồng dân cư, bà con lối xóm. Hàng ngày bà quét dọn vệ sinh trước cổng nhà, bà tham gia sinh hoạt cùng hội cựu chiến binh và hội người cao tuổi. Bà đi tưới cây, quét dọn sân bóng, nhà văn hóa xóm. Bà nhặt các chai nhựa, bao bóng, những rác thải dọc bờ sông Nan bỏ lên xe rác. Nhiều lần gặp tôi bà nói: “Người làng mình sống đơn giản như vậy đó em à. Già rồi chị ít đi đây đi đó. Nhiều đứa là cháu chắt mình mà có mấy ai biết chị đã từng là đại biểu Quốc hội khóa 3 mô, chị đã nhiều lần được gặp Bác Hồ. Mà chị kể cho em nghe rứa chứ đừng viết gì về chị lên báo em nhé”. Rồi bà cười vang phô ra cả hàm răng bị rụng mất mấy chiếc.

Nguồn Văn nghệ số 16/2021

Hoàng Nhuận Cầm (ảnh từ nhà thơ Nguyễn Quang Thiều)

HOÀNG NHUẬN CẦM CHIẾC LÁ
Hoàng Kim

Ngắm ảnh quý của anh
Lòng bùi ngùi xúc động
Cũng bạn lính sinh viên
Thuở một thời ra trận

Người đọc thơ truyền lửa
“Chiếc lá buổi đầu tiên”
Thơ hiền anh gửi lại
Lời thương Trần Đăng Khoa

“Một thoáng Hoàng Nhuận Cầm”
Thơ “Sông Thương tóc dài”
Khoảnh khắc và mãi mãi
Trãi thế sự vui buồn

Nguyễn Hữu Sơn bình thơ
Nguyễn Quang Lập than phận
Bóng hạc chốn xa xôi
Những trang đời lắng đọng

*

Một thoáng Hoàng Nhuận Cầm
Trần Đăng Khoa

Đúng thế. Đây chỉ là một thoáng Hoàng Nhuận Cầm thôi. Nói đầy đủ về anh, có khi phải dùng đến cả một cuốn sách dày. Vì anh có nhiều mảng. Đây chỉ là những trao đổi chớp nhoáng…-

-Chú Khoa ơi, chú Cầm đi đột ngột quá. Cháu không thể tưởng tượng được… Trần Thị Quy (bimtocmongmo@yahoo.com)

-Đúng thế. Chú cũng bất ngờ. Hội Nhà văn mất nhiều nhà văn quá. Mà toàn là những tài năng thực sự. Tháng trước chúng ta mất nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Anh Thiệp mất, ta không bất ngờ. Vì anh ốm lâu rồi. Nằm bất tỉnh lâu rồi. Còn anh Cầm thì thì rất bình thường, chỉ gày loẻo khoẻo. Anh ấy còn nhận lời đi nói chuyện cùng nhà thơ Vương Trọng với bộ đội ở Ninh Bình do Thư viện Quân đội tổ chức. Anh ấy còn tham gia chương trình với Đài Tiếng nói Việt Nam. Nhưng đến giờ lên sóng, không thấy “bác sĩ Hoa súng” đâu cả. Phóng viên điện về nhà mới hay anh đã ra đi. Anh ấy vẫn bị bệnh phổi. Phổi yếu. Có lẽ do tắc nghẽn gì đó mà ra đi rất đột ngột…

-Chú có những kỷ niệm gì với nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm không? Vũ thị Duyên (duyen2004@gmail.com)

-Chú cũng hay đi nói chuyện cùng chú Cầm, do thư viện Quân đội tổ chức. Hai anh em bổ sung cho nhau nên người nghe không tẻ. Chú cứ rủ rỉ nói, thỉnh thoảng chọc cười cho người nghe đỡ buồn ngủ, nên chẳng mệt mỏi gì. Còn chú Cầm đọc thơ, nói chuyện thơ như biểu diễn nhạc Rôc ấy. Cảm giác như chú ấy xổ hết cả gan ruột, hơi sức ra cùng câu thơ, cùng châu chuyện. Nói xong ngồi thở dốc. Chú ấy nói như để rồi chết, nên vất vả lắm. Cũng chính vì thế, chuyện chú Cầm rất hấp dẫn. Chú ấy dựng cả hội trường dậy. Chú đã đi nói chuyện, đọc thơ từ bé, cũng đã biết cách nói chuyện của chú Cầm, mà nhiều khi vẫn ngạc nhiên vì cách ứng xử rất thông minh, đầy bất ngờ. Hồi chú còn làm quản lý ở Đài Tiếng nói Việt Nam, kênh của chú có dựng vở kịch về tệ nạn HIV. Cách dàn dựng rất mới. Nó không giống kịch truyền thống. Kịch chỉ có 15 phút, lại diễn ra ở ba địa điểm khác nhau: Một thành phố trung tâm. Một làng quê. Và một ở vùng miền núi hẻo lánh. Mỗi địa điểm chỉ có 5 phút. Không có dẫn dắt. Tất cả chỉ có đối thoại. Qua đối thoại mà biết câu chuyện. Biết địa điểm. Biết cả nhân vật và số phận của từng nhân vật. Sau vở kịch là phần bình luận: Phía sau sân khấu. Cũng dài bằng thời lượng kịch. Nghĩa là cũng chỉ có 15 phút. Phần này do nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm và nghệ sĩ Minh Vượng đặc trách. Đây là phần phụ nhưng lại rất quan trọng, vì nó làm sáng tỏ vở kịch. Nó sũng bổ sung cho kịch. Nhiều khán giả lại thích phần sau hơn. Có khán giả cho rằng phần sau kịch lại hay hơn kịch. Phần này chỉ có chú Cầm và cô Vượng diễn. Một loại kịch không kịch bản. Nó như kịch cương. Diễn ngẫu hứng mà đầy bất ngờ. Rất thú vị. Chú cũng tham gia nhiều cuộc “diễn” như thế với chú Cầm, như các chương trình: “Khách đến chơi nhà”. Trong đó có chương trình nhiều người rất thích như “Chính sách trên trời – Rối bời dưới đất”, phê phán những ông đưa ra bao nhiêu kế sách mà toàn chuyện viển vông, chẳng có cơ sở thực tiễn nào mà thực hiện, biến nó thành cuộc sống.

-Chú thấy thơ chú Hoàng Nhuận Cầm thế nào? Lê Thị Vi levi@yahoo.com

-Chú Hoàng Nhuận Cầm nổi tiếng từ những năm chống Mỹ cứu nước. Năm 1972-1973, chú ấy đã đoạt Giải Nhất cuộc thi thơ Tuần báo Văn nghệ với chùm thơ: Vào mặt trận lúc mùa ve đang kêu, Nhật ký chiến trường, Nghe tiếng chim trên điểm chốt…Thơ chú Cầm rất đẹp. Trong veo. Chú ấy là người lính trận nhưng lại mang tâm hồn trong trẻo và tươi mát của trẻ thơ. Chú Cầm đem cái chất trẻ thơ đó ra mặt trận. Và chính cái chất trẻ thơ đó đã làm nên Hoàng Nhuận Cầm. Chúng ta đã từng gặp những người lính trong thơ Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu, Hữu Thỉnh, Vương Trọng, Anh Ngọc, và nhiều thi sĩ khác nữa. Đấy là những người lính bụi bặm, gân guốc, từng trải và vật vã với rất nhiều nỗi niềm tâm trạng khi ra trận:

Chiến dịch này ăn cơm không phải độn
Mừng thì mừng nhưng thương mẹ bao nhiêu.

Người lính của chú Cầm lại ra trận lúc mùa ve đang kêu.

Họ nghe tiếng ve nhiều hơn tiếng súng.
Trong những ba-lô kia, ai dám bảo là không có
Một hai ba giọng hát chú ve kim.

Những người lính ấy khi đi trong rừng thì lập tức cánh rừng nhuốm màu Grim và biến thành cánh rừng cổ tích:

Những cây nấm nâu màu nâu già
Tự dưng thức dậy bên vòm lá
Những bông hoa chưa có tên hoa
Bỗng nhiên mở cánh ra nghe ngóng
Rừng đâu chỉ có giọng chim lạ
Còn có tiếng nhạc trên cổ la.

Và ngay cả khi giáp trận rồi, súng đã nổ rồi, ngồi trong hầm chốt, nhưng người lính vẫn Nghe lăn lăn những tiếng chim xuống hầm. Và rồi cứ bằng cái giọng điệu tưng bừng, vui vẻ của chim, của ve, của những con la như thế, chú Cầm đã phản ánh được một hiện thực nghiệt ngã này: Dân tộc Việt Nam đã gồng mình lên chống trả một kẻ thù không cân sức. Dân tộc ấy đã ra trận đến lớp người cuối cùng. Người lính trong thơ chú Cầm thực chất là học trò cầm súng, ở họ còn in đậm tính nết trẻ con. Vì thế, có lần chú đã ví: Thơ chú Cầm là vẻ đẹp của những làn sương mỏng bay trên thảm cỏ ban mai. Nó tươi mát, trong lành, rất thích hợp với độc giả ở tầng lớp học sinh, sinh viên. Chú Cầm là cây bút đa tài. Ngoài thơ chú còn viết kịch bản phim và trực tiếp đóng phim. Chú ấy tham gia nhiều bộ phim rất nổi tiếng như Đêm hội Long Trì, Mùi cỏ cháy, Số đỏ…

-Cháu được biết Hội Nhà văn sẽ đứng ra tổ chức lễ tang cho chú Hoàng Nhuận Cầm… Hà Trang (trangha2015@gmail.com)

-Đúng vậy. Theo quy chế mới của Hội Nhà văn, Hội chỉ tổ chức tang lễ cho những nhà văn đã từng làm công tác ở cơ quan Hội, những nhà văn ở Ban Chấp hành và là Lãnh đạo Hội. Còn các nhà văn Hội viên ở các cơ quan nào thì cơ quan ấy là chủ tang. Hội Nhà văn chỉ tổ chức đoàn viếng. Chú Cầm ở Hội Điện ảnh và Hãng phim truyện. Nhưng Hội đó hiện vẫn chưa bầu được Lãnh đạo, vì thế, theo nguyện vọng của gia đình, Hội Nhà văn sẽ làm Chủ tang, sẽ tổ chức chu đáo đám tang cho chú Cầm, như Hội đã tổ chức đám tang chu đáo cho chú Nguyễn Huy Thiệp. Dự kiến lúc đầu, Hội cử nhà thơ Hữu Việt viết điếu văn và đọc điếu văn. Chú Nguyễn Quang Thiều Chú tịch sẽ phát biểu thay mặt các nhà văn tiễn đưa chú Cầm về cõi vĩnh hằng. Hội muốn thay đổi cho đa dạng. Vì chú Việt rất thân với chú Cầm, cũng rất hiểu chú Cầm. Các Lãnh đạo Hội ở trong Ban Chấp hành sẽ luôn thay nhau làm việc hiếu cho đa dạng và luôn mới mẻ. Nhưng lịch trình đến phút chót lại thay đổi. Chủ tịch Nguyễn Quang Thiều sẽ đọc điếu văn. Trong giây phút cuối cùng, khi mọi người đi quanh linh cữu, sẽ nghe thơ chú Cầm. Bài Chiếc lá đầu tiên. Đây là bài thơ đúng chất chú Cầm nhất. Chú tiếc không dự được lễ tang này vì phải đi công tác Nghệ An Hà Tĩnh. Xin chia sẻ nỗi đau thương với gia đình nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm và các bạn đọc yêu mến nhà thơ. Xin các bạn hãy cùng tôi đọc lại một bài thơ rất tiêu biểu của nhà thơ mà chúng ta vô cùng yêu quý:

CHIẾC LÁ ĐẦU TIÊN
Hoàng Nhuận Cầm


Em thấy không, tất cả đã xa rồi
Trong tiếng thở của thời gian rất khẽ
Tuổi thơ kia ra đi cao ngạo thế
Hoa súng tím vào trong mắt lắm mê say

Chùm phượng hồng yêu dấu ấy rời tay
Tiếng ve trong veo xé đôi hồ nước
Con ve tiên tri vô tâm báo trước
Có lẽ một người cũng bắt đầu yêu

Muốn nói bao nhiêu, muốn khóc bao nhiêu
Lời hát đầu xin hát về trường cũ
Một lớp học bâng khuâng màu xanh rủ
Sân trường đêm – rụng xuống trái bàng đêm

Nỗi nhớ đầu anh nhớ về em
Nỗi nhớ trong tim em nhớ về với mẹ
Nỗi nhớ chẳng bao giờ nhớ thế
Bạn có nhớ trường, nhớ lớp, nhớ tên tôi“

Có một nàng Bạch Tuyết các bạn ơi
Với lại bảy chú lùn rất quấy!”
Mười chú chứ, nhìn xem, trong lớp ấy
(Ôi những trận cười trong sáng đó lao xao)

Những chuyện năm nao, những chuyện năm nào
Cứ xúc động, cứ xôn xao biết mấy
Mùa hoa mơ rồi đến mùa hoa phượng cháy
Trên trán thầy, tóc chớ bạc thêm

Thôi đã hết thời bím tóc trắng ngủ quên
Hết thời cầm dao khắc lăng nhăng lên bàn ghế cũ
Quả đã ngọt trên mấy cành đu đủ
Hoa đã vàng, hoa mướp của ta ơi

Em đã yêu anh, anh đã xa rồi
Cây bàng hẹn hò chìa tay vẫy mãi
Anh nhớ quá, mà chỉ lo ngoảnh lại
Không thấy trên sân trường chiếc lá buổi đầu tiên.

Bài thơ này lúc đầu được tác giả đặt tên là “Trường ơi, chào nhé”. Đây là một trong những bài thơ hay nhất của Hoàng Nhuận Cầm…

Nguồn: https://www.facebook.com/trandangkhoa1958/posts/1799716286853455

VỀ BỨC ẢNH QUÁ QUÝ CỦA HOÀNG NHUẬN CẦM
Nguyễn Quang Lập cùng với Trần Đăng Khoa2 người khác 12Thứ Sáu 23 tháng 4, 2021 lúc 21:52 · .

Anh Nguyễn Hữu Chỉnh, con trai cả của cậu ruột tui, cùng Đoàn Triệu Hải (sư đoàn PK 673) với Hoàng Nhuận Cầm. Anh học trước tui 3 năm, vào Bách Khoa cũng trước tui 3 năm, chưa kịp học đã đi bộ đội. Anh vừa tìm được bức ảnh Hoàng Nhuận Cầm năm 1972 tại Quảng Trị. Người cầm mũ vẫy chính là Hoàng Nhuận Cầm. Người ngồi giữa nhìn ra là anh Ngô Thế Long, cũng là dân Bách Khoa, đã giữ bức ảnh này đúng nửa thế kỷ.Mùa hè đỏ lửa ấy Hoàng Nhuận Cầm vào mặt trận với những câu thơ không thể trong trẻo hơn:

Đêm Trường Sơn, ngôi sao như trong hơn
Cầm này lại đi, lại đi… thôi chào nhé
Ta chẳng còn bắt ve, ta chẳng còn thơ bé
Thay việc bắt ve, ta lùng bắt quân thù quanh mỗi gốc xà nu..

Để rồi 30 năm sau chiến tranh Hoàng Nhuận Cầm lại có những câu thơ không thể chua xót hơn:

Tất cả chúng ta thật lòng nói dối
Tất cả chúng ta áo đẫm mồ hôi
Tất cả chúng ta căn nhà chật chội
Giữa cõi vô cùng vô tận mà thôi

Tất cả chúng ta đều bị theo dõi
Tất cả chúng ta sắp bị bắt rồi
Tất cả chúng ta như bầy chó đói
Ngửa mặt lên trời hóng bóng trăng rơi

Tất cả chúng ta đều không vô tội
Mỗi đêm một tờ giấy trắng mồ côi.

Nhìn tấm ảnh tự nhiên ứa nước mắt. Đau quá Cầm ơi!

Thi sĩ HOÀNG NHUẬN CẦM (HNC, 1952-2021)
Nguyễn Hữu Sơn Thứ Sáu 23 tháng 4 , 2021, lúc16 giờ 50

… Nhớ độ mùa hoa bằng lăng 1979. HNC đang mùa mê yêu. Ban trưa, anh rầu rĩ nơi thư viện Mễ Trì. Anh vào phòng những thằng em út khóa sau: “Các anh có phấn không? Cho em viên phấn”. Chẳng biết tự khi nào, cho mãi sau này, Anh vẫn có lối nói nhỏ nhẹ, giao đãi ân tình, thân mật, khiêm xưng như thế. Trò chuyện với Anh là cả một sự thú vị nối dài với nhiều lối nói ngược, trình diễn a ô ơ, gợi mở, tếu táo, sôi động, hấp dẫn. Bao nhiêu lần anh cùng cánh hẩu Phạm Xuân Nguyên chiếm riêng phòng tầng hai quán cháo lòng 18 Lý Thái Tổ, sát bên Viện Văn học. Anh nghiêm mặt, vờ như mắng người, mắng bạn, mắng lũ chúng nó: “Thằng dở người…”. Rồi Anh quơ tay, nhìn trước nhìn sau. Anh hỏi điếu thuốc lào. Anh hỏi diêm. Anh phà khói. Anh tặng sách, nắn nót đề chữ, gạch chân, tô xanh đỏ tím hồng, ngẫu hứng cách điệu thêm dáng mây, cánh cò, dòng sông. Anh diễn động tác Bác Hồ “mùa đông năm 46”. Anh nói sẽ cho bốn chàng lính trẻ xoa ngực tượng cô thợ dệt trong công viên trước ngày ra trận. Chuyện gì cũng vui, gia giảm chất thơ đầu bảng với tí văn xuôi, tí kịch, tí bi, tí hài đời thường ba động, rồi bất ngờ hạ giọng thật hiền hậu: “Anh ạ! Anh ạ!”… Trong Anh phơi phới, đầy ắp những kế hoạch, chương trình, dự định… Anh đọc thơ thì thôi rồi! Từ cuối hội trường, Anh bước lên. Nghiêm nghị. Đau đáu. Như chào. Như hỏi. Như nghi ngờ. Như kiếm tìm đồng điệu, xẻ chia. Không gian như nén lại. Sự hòa hợp người và thơ. Chết lặng trong tiếng thơ, âm điệu, dáng điệu trầm tư:

“Mai đành xa sông Thương tóc dài/
Vạn Kiếp tình yêu anh gửi lại
Xuân ơi xuân, lẽ nào im lặng mãi
Hạ chưa về… nhưng nắng đã Côn Sơn…

Mai đành xa sông Thương thật thương
Mắt nhớ một người, nước in một bóng
Mây trôi một chiều, chim kêu một giọng
Anh một mình – náo động – một mình anh”
(Sông Thương tóc dài)…

Anh tạo lập một từ trường thơ, không theo khuôn thước đề tài, đề vịnh, tụng ca, thời cuộc, mùa vụ, sự kiện. Thơ HNC căn bản tựa vào CHÍNH EM, vào nội tâm và những chiêm nghiệm nghệ sĩ, vào tiếng nói trữ tình và trải nghiệm buồn vui thế sự… Nhớ Anh, một nén tâm hương… Chiều 23/4/2021.

(((Thêm NHS (1994), Thơ HNC – Cảm nhận qua sáu mặt. Tạp chí Văn học, số 1 (265), tr.24-26. In lại trong NHS (2000), Điểm tựa phê bình. NXB Lao động, H., tr.97-109. Tuyển in trong HNC (2015), Xúc xắc mùa thu – Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến. NXB Hội Nhà văn, H., tr.285-295))).

Những trang đời lắng đọng
XE THỔ MỘ NAM KỲ
Anh Châu Trần Trần Ái Châu Quản Trị Mekongrice; có bài viết “Đi xe thổ mộ” “Chúng tôi ở với ngoại tại thị trấn Hiệp Hòa, Long An. Mẹ tôi dạy học xa, trường ở nơi gần nhà lồng chợ Phú Lâm, Sài Gòn. Cứ vài tháng, mẹ tôi lại về thăm chúng tôi một lần vào chiều thứ sáu để đến khuya chúa nhật lại phải khăn gói xa rời chúng tôi. Mẹ đi xe ngựa hay thổ mộ chuyền từng đoạn một, lụp cụp leng keng, leng keng lụp cụp… có khi khuya lơ khuya lắc mới tới nhà. Mỗi Tết mẹ tôi vẫn thường kể chuyện về đi xe thổ mộ cho các con cháu nghe”…(trích) Càng về khuya, các câu chuyện cũng cạn dần. Mẹ bắt đầu thấy đói và lấy nem ra ăn đỡ vài chiếc. Mẹ về tới nhà lúc đó anh chị em chúng tôi đã ngủ say, ngoại tôi bưng đèn ra mở cửa ngạc nhiên:-Sao mày không để mai sớm hãy về cho khỏe.Mẹ tôi trả lời:-Trường vắng tênh ai cũng về ăn Tết. Con nhớ tui nó quá má à. Mẹ tôi mỗi ngày Tết vẫn thường kể câu chuyện đi xe thổ mộ này. Nhưng sau đó người lại nói ngày Tết mà kể chuyện buồn không hên.Tham khảo: Nẻo nhớ tìm về, Nhà văn Võ Phước Hiếu xem tiếp https://www.facebook.com/mekongriceblog/posts/1364760833884314

MẶT TRỜI ĐƯƠNG CHEN LẶN
Đại nghĩa diệt thân
Nhà văn Hồ Biểu Chánh


“Chừng Minh Đạt gay chèo thì Thị Dần ứa nước mắt. Minh Đạt nói: -Em mở giùm dây đi. Bề nào qua cũng trở ra mà. Ở cái vùng bị tình nghi thì ở làm sao được. Không phải qua nhát nên qua sợ chết. Nhưng chết cho có ích kìa, chớ chết vô lối, chết dại dột, qua không chịu đâu. Thôi em vô nghỉ, để qua đi.” Đọc trang văn xúc động. Cảm ơn Châu Trần Trần Ái Châu Quản Trị Mekongrice; Những trang đời lắng đọng xem tiếp 12-Về thưa trước cho cha tôi hay đặng tôi vô lính https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=514161449762557&id=100035061194376

KÊNH ÔNG LỘC THÁP MƯỜI
Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười
Nhà văn Nguyễn Hiến Lê

Tổng đốc Nam Kỳ Lục Tỉnh Trần Bá Lộc; Tháp mộ Trần Bá Lộc nằm trong khu đất Thánh tại thị trấn Cái Bè .Pháp Nam hai nước một công thần.Trần Bá Lộc chết, không ai nhớ, Kênh ông Lộc Tháp Mười còn lại. .Anh Bình nghe tôi kể câu chuyện về ông Trần Bá Lộc, anh ngậm ngùi im lặng và không nói gì. Những trang đời lắng đọng xem tiếp https://www.facebook.com/mekongriceblog/posts/1369865803373817

TĨNH THỨC HOA SEN TRẮNG
Hoa sen trắng
Nhà văn Triết gia Ấn độ Osho


Tổ sư Bồ đề đạt ma đến với một chiếc giầy; Châu Trần 09/04/2021 MKR-

Triết gia Osho nổi tiếng người Ấn độ nói: Tôi cực lạc vì tên của Tổ sư Bồ đề đạt ma đã làm cho tôi phiêu diêu. Đã từng có nhiều chư phật trên thế giới, nhưng Tổ sư Bồ đề đạt ma sừng sững như đỉnh Everest. Cách hiện hữu của ông ấy, cách sống, và cách diễn đạt chân lí đơn giản là của ông ấy; nó là vô song.

Trong các chùa ở Miền tây thường bên cạnh thờ tượng Đức Phật, có thờ tượng của Tổ sư Bồ đề đạt ma. Tượng Tổ sư dễ nhận biết. Gương mặt một người hung dữ, vai đeo gậy. Trên gậy có chỉ một chiếc giày.Tổ sư Bồ đề đạt ma đã du hành từ Ấn Độ sang Trung Quốc để truyền bá thông điệp của Đức Phật, người thầy của mình, mặc dầu họ sống cách nhau một nghìn năm.

***

Khi Tổ sư Bồ đề đạt ma đến Trung Quốc, Vũ Đế ra đón ông ấy ở biên ải. Mọi ngưỡi nghĩ rằng một chứng ngộ lớn đang tới! Và tất nhiên Vũ Đế đã tưởng tượng Tổ sư có nét gì đó giống như Đức Phật: rất hoà nhã, duyên dáng, vương giả. Tuy nhiên khi ông ta thấy Bồ đề đạt ma thì ông đã bị choáng. Tổ sư Bồ đề đạt ma trông rất thô thiển. Không chỉ thế, ông ấy còn có vẻ rất ngớ ngẩn. Ông ấy đến cây gậy đeo trên vai chỉ có một chiếc giầy.Vũ Đế bối rối. Ông ta đã tới cùng với cả đoàn triều đình với các hoàng hậu quí phi. Họ sẽ nghĩ gì khi ta ra đón một loại người như thế này? Ông cố gắng vì lịch sự bỏ qua điều đó. Và ông đã không muốn hỏi “Sao ông lại đến nước chúng tôi chỉ với một chiếc giầy?

***

Nhưng Tổ sư Bồ đề đạt ma đã không để Vũ Đế yên. Ông ấy nói: -Đừng cố bỏ qua nó. Hãy hỏi và thẳng thắn ngay từ chính lúc đầu đi. Ta đã đọc được câu hỏi trong đầu ông rồi.Vũ Đế đâm ra lúng túng; sau cùng ông nói:-Vâng, ông đúng, câu hỏi này đã nảy sinh trong ta: Sao ông đến mà chỉ mang một chiếc giày?

***

Tổ sư Bồ đề đạt ma nói, -Để mọi thứ vào cảnh quan đúng như từ chính lúc đầu. Ta là người vô lí! Ông phải hiểu điều đó từ chính lúc bắt đầu. Ta không muốn tạo ra bất kì rắc rối nào về sau. Hoặc ông chấp nhận ta như ta vậy hoặc ông đơn giản nói rằng ông không thể chấp nhận được ta. Và ta sẽ rời khỏi vương quốc của ông. Ta sẽ đi lên núi. Ta sẽ đợi ở đó đến khi người của ta đến với ta. Vũ Đế lúng túng. Ông đã mang theo nhiều câu hỏi khi đến đón Tổ sư. Nhưng ông băn khoăn có nên đưa chúng ra hay không? Ông nghi ngai câu trả lời là lố bịch. Nhưng Tổ sư Bồ đề đạt ma một mức khăng khăng:-Ông hãy nên hỏi những câu ông đã mang tới đây.

***

Vũ Đế gượng gạo hỏi:-Câu hỏi đầu: Ta đã làm được nhiều phước đức…. Tổ sư Bồ đề đạt ma nhìn sâu vào trong đôi mắt của Vũ Đế. Một cơn lạnh toát chạy dọc sống lưng nhà vua. Ông nói:-Toàn những điều vô nghĩa! Làm sao ông có thể làm được nhiều phước đức ? Ông còn chưa nhận biết phước đức được hình thành từ nhận biết . Mà ông ngụ ý phước đức nào? Làm sao ông có thể tạo ra được phước đức? Phước đức chỉ được tạo ra từ Đức Phật.

***

Vũ Đế ngại ngần:-Việc ta nói làm nhiều phước đức. Ta ngụ ý rằng ta đã làm nhiều đến chùa, nhiều điện thờ cho Phật. Ta đã làm nhiều đạo tràng cho các khất sĩ Phật tử, các tín đồ, và tì kheo. Ta đã thu xếp cho hàng nghìn học sĩ để dịch kinh sách Phật sang tiếng Trung Quốc. Ta đã tiêu tốn hàng triệu đồng bạc cho việc phục vụ Đức Phật. Nhiều triệu khất sĩ xin ăn mọi ngày từ cung điện này nọ này trên khắp nước.

***

Và Tổ sư Bồ đề đạt ma cười. Vũ Đế chưa từng bao giờ nghe thấy tiếng cười như thế. Tiếng cười bụng có thể làm rung chuyển cả núi. Tổ sư cười sằng sặc và nói:-Ông đã hành động một cách ngu xuẩn. Mọi nỗ lực của ông đều đã là cực kì phí hoài. Sẽ không tạo ra kết quả nào từ nó cả. Đừng cố, và đừng tưởng tượng rằng ông sẽ được lên cõi trời thứ bẩy như các khất sĩ Phật giáo đã nói cho ông. Họ chỉ khai thác ông thôi.

***

Đây là chiến lược khai thác những người ngu như ông. Họ khai thác lòng tham của ông về thế giới bên kia, Họ vẽ cho ông những hứa hẹn lớn. Và lời hứa của họ không thể chứng minh là sai được vì không ai quay trở về từ thế giới bên kia để nói liệu những lời hứa đó có được hoàn thành hay không. Ông đã bị họ lừa rồi. Không có cái gì sẽ xảy ra từ điều mà ông nghĩ là việc làm phước đức. Thực ra, ông sẽ rơi vào địa ngục thứ bẩy, vì một người sống với những ham muốn sai như thế, người sống có ham muốn như thế, đều sẽ rơi vào địa ngục.

***

Vũ Đế e ngại. Ông cố gắng lái câu chuyện sang một chủ đề khác: -Vậy có cái gì linh thiêng hay không? Tổ sư Bồ đề đạt ma nói, -Không có cái gì linh thiêng, cũng như không có cái gì là báng bổ. Linh thiêng và báng bổ, đều là thái độ của tâm trí, của định kiến. Mọi việc đều đơn giản như chúng vậy. Không cái gì sai và không cái gì đúng, không cái gì tội lỗi và không cái gì phước đức. Vũ Đế buồn bực:-Ông thật quá thể đối với ta và người của ta. Sau đó, Tổ sư Bồ đề đạt ma nói lời tạm biệt, quay lưng lại và đi lên núi.

***

Trong chín năm trên núi ông ấy ngồi quay mặt vào tường. Mọi người đến với ông bởi vì đã được nghe, biết về cuộc đối thoại này. Dù khoảng cách sống giữa Tổ sư và Đức Phật trong hơn một nghìn năm, nhưng về trung tâm Tổ Sư vẫn ở cùng Đức Phật. Tổ sư nói điều tinh tuý của Đức Phật – tất nhiên theo cách riêng của ông ấy, theo phong cách của ông ấy, Ngay cả Phật cũng sẽ thấy cách trình bày này đó là kì lạ.

***

Đức Phật là người văn hoá, phức tạp, và duyên dáng. Còn Tổ sư Bồ đề đạt ma chính là cái đối lập trong cách diễn đạt của Đức Phật. Tổ sư không là người mà là con sư tử. Tổ sư không nói, mà ông ấy gầm lên. Tổ sư không có cái duyên dáng mà Đức Phật có. Cái mà ông ấy có là sự thô thiển, dữ dằn. Không thanh nhã như kim cương; Tổ sư hệt như vĩa quặng: thô ráp tuyệt đối , không có một sự đánh bóng. Và đó là cái đẹp của ông ấy. Đức Phật có cái đẹp rất nữ tính, lịch sự, mảnh mai. Còn Tổ sư Bồ đề đạt ma có cái đẹp riêng . Cái đẹp của một tảng đá – mạnh mẽ, nam tính, không thể phá huỷ được, cái đẹp của một sức mạnh lớn lao.

***

Đức Phật toả sức mạnh, nhưng sức mạnh của Đức Phật rất im lặng, như tiếng thì thào, như làn gió mát. Còn Tổ sư Bồ đề đạt ma là cơn bão, sấm rền và chớp giật. Đức Phật đến cửa nhà bạn nhẹ nhàng không một tiếng động, bạn thậm chí sẽ không nghe thấy tiếng bước chân của ông ấy. Còn Tổ sư Bồ đề đạt ma, khi ông ấy đến nhà bạn, ông ấy sẽ làm rung chuyển cả ngôi nhà từ tận móng của nó. Đức Phật sẽ không lay bạn dậy ngay cả khi bạn đang ngủ. Còn Tổ sư Bồ đề đạt ma? Ông ấy sẽ dựng bạn dậy từ trong nấm mồ! Ông ấy đánh mạnh, ông ấy là chiếc búa.

***

Tổ sư là chính cái đối lập của Đức Phật trong cách diễn đạt, nhưng thông điệp của ông ấy với Đức Phật là một. Tổ sư cúi mình trước Đức Phật là thầy của mình. Tổ sư chưa bao giờ nói “Đây là thông điệp của ta”. Tổ sư đơn giản nói:-Điều này thuộc về chư phật, chư phật cổ đại. Ta chỉ là sứ giả. Không cái gì là của ta, bởi vì ta không có. Ta như cây trúc hồng được chư phật chọn để làm chiếc sáo cho họ. Họ hát: ta đơn giản để cho họ hát qua ta.

Cảm ơn Châu Trần- Trần Ái Châu Quản trị Mekong Rice đã chép lại.
Thấu suốt là chứng ngô. HK lưu tại CNM365 Tình yêu Cuộc sống
Tham khảo:Hoa sen trắng-Nhà văn Triết gia Ấn độ Osho

Đến với Tây Nguyên mới
Hoàng Kim


Ai ẩn nơi phố núi
Ai tỏ Ngọc Quan Âm
Ai hiện chốn non xanh
Mây trắng trời thăm thẳm
Nước biếc đất an lành

Soi bóng mình đáy nước
Sáng bình minh giữa đời
Thung dung làm việc thiện
Vui bước tới thảnh thơi

Những trang đời lắng đọng
CHUYỆN ĐỜI HƠN TRANG VĂN
Hoàng Kim

Cảm ơn Bui Nina
Bạn bè Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự (MTA)

Chị em thủ thỉ “MÁY LÌN”.
Nước mắt chợt rơi lặng lẽ
Chuyện đời hơn trang văn
Ký ức ùa về lắng đọng.

MÁY LÌN

Tao nói thật với mày, ngày đó nghèo ơi là nghèo. Khách đến nhà lo nhất là khoản đãi cơm. Có thể lo được một bữa, chứ đến bữa thứ hai thì… thì chết cụ đời tao. Chứ không như bây giờ đâu, chỉ mong có khách để đánh chén cho đã đời. Vậy mà các ông bộ đội ở chiến trường về thì quý nhau hơn cả ruột thịt. Hôm ấy, tao thấy một ông áo lính bạc phếch, đầu đội mũ cối, lưng đeo cái ba lô xẹp lép đến nhà, chồng thì vồ xoắn vồ xuýt, cười ha hả, nhưng tao thì lo quắn ruột, miệng thì mếu nhưng cố mà cười.

Chồng nháy tao ra sân thì thầm, anh em sống chết với nhau ở chiến trường đấy, sống sót trở về. Em xem có món gì cho anh em nhâm nhi tý.

Tý cũng chết cụ nó vợ rồi chồng ơi. Nói thì nói vậy thôi, nhưng tao cũng đã tính toán rồi. Lườm chồng một cái, rồi chạy đôn chạy đáo lo bơ gạo, lo thức ăn, lo cút rượu…để cái mặt chồng vênh vang với bạn chứ. Chị em phụ nữ chúng mình ai chả thế, cái bao tử chồng là cái mặt mình, phải không mày?

Mới được nửa bữa nhìn lên đồng hồ thấy hơn một rưỡi chiều. Chết cụ rồi, kiểu này thì bạn chồng về thế nào được. Không về được thì phải lo bữa tối, rồi bữa sáng mai. Mình với con thì củ khoai, củ chóc cũng xong. Nhưng còn khách thì lấy gì đãi nữa đây?

Bịa lý do đi công việc gì đấy. Mày nói thế không được, thế hóa ra lừa dối à? Chồng nó cho ngay một bạt tai. Ở chiến trường họ cắn đôi hạt vừng chia nhau, giờ sống về đây, vợ lại đuổi khách có mà muối cái bản mặt trái soan…nằm ngang. Hì hì.

Khi rượu đã tây tây, chồng tớ nâng chén ngang mặt nói, ông đi mấy chục cây số đến thăm vợ chồng gia đình tôi, tình cảm đồng đội quý hơn kim cương rồi. Còn bao nhiêu là chuyện mà anh em mình chưa tâm tình hết. Vậy vợ chồng tôi kính cẩn mời ông ở lại tối nay để anh em thỏa lòng mong ước.

Mày ạ, tao có kính cẩn đâu, mà lại bảo vợ chồng tôi? Lão quen áp đặt vậy đấy. Ông khách dường như cũng biết hoàn cảnh, nên từ chối. Nhưng lão chồng tao cứ nài nỷ, tôi hỏi ông, nếu trận đồi 37 ấy, ông không cứu tôi, thì liệu hôm nay có bữa rượu này không? Không chứ gì? Vậy thì dù cháy nhà, sập quả đất thì ông cũng ở đây với tôi một đêm, như cái đêm cùng nhau ở dưới hầm tránh B52 rải thảm đấy.

Mày tính, lão chồng nói thế thì đến cụ giời cũng phải chịu. Nhưng mà tao thì tao sắp chảy cụ nó nước…mắt.

Đêm ấy, hai lão rỳ rầm suốt đêm. Nhưng tao cũng đâu có ngủ, suy tính xem sáng mai kiếm cái gì cho khách ăn. Nếu khách ăn xong rồi về thì còn đỡ, không may lão chồng lại “ kim cương” nữa là chết bỏ cụ đời tao rồi. Chưa biết tính thế nào, thì thấy cánh cửa mở kẹt. Biết ngay mà, không ngủ là hay đi đái, tính lão chồng tao thế. Tao mới lò dò trong đêm ra, thấy lờ mờ lão đang bật cần câu vào vạt rau ngót liền đá vào bụng chân đùa, ông giữ khách lại thì mai lấy “ máy lìn” cho khách ăn à?

Không thấy lão nói gì. Chắc là giận vợ rồi. Kiểu này phải sang bà ngoại vay mấy quả trứng làm bữa sáng thịnh soạn một tý cho lão nguôi giận. Lão chồng tao cũng dễ tính, mày ạ. Mới 5 giờ sáng, đã thấy bạn chồng lục cục dậy đòi về. Nói thế nào cũng đòi về, lấy cớ là nhà có việc không thể ở lâu được. Ở qua đêm, anh em hàn huyên thế là mỹ mãn rồi.

***

Mãi sau này tao mới biết, cái ông đang đêm bật cần câu vào vạt rau ngót không phải chồng tao mày ạ. Thế mới chết cụ đời tao chứ.

Bui Nina Fb Bùi Thanh Minh Minh”

NHỮNG TRANG ĐỜI LẮNG ĐỌNG
Hoàng Kim

Đáy đại dương là Ngọc Góp cát đá cho thơ. Những trang đời lắng đọng. Mười năm ở Bạc Liệu. Vàng đấy Ngọc cho đời. Văn chương tưng tửng vậy Dấu xưa đâu dễ tìm. Ngôi chùa cổ miệt vườn Sông Trăng thao thiết chảy Sóc Trăng Lương Định Của Thương thơ xưa Đông Hồ; Sóc Trăng tới Hà Tiên Nhớ hiền tài Mạc Cửu phên dậu đất phương Nam “Chẳng đội trời Thanh Mãn/ Lần qua đất Việt bang/ Triều đình riêng một góc/ Trung hiếu vẹn đôi đường/ Trúc thành xây vũ lược/ Anh Các cao văn chương” Thơ Đông Hồ thăm thẳm. Cảm ơn Lưu Huy Chiêm, Bài viết thật xúc động Mình vì văn chương này. Phải tìm về thăm bạn (ghi lại ngày tháng và cảm xúc ấn tượng).

*

MƯỜI NĂM Ở BẠC LIÊU [117] *
Chiêm Lưu Huy cùng với Hoàng Kim17 người khác.|
15 tháng 3, 2019

Hai người bạn chính gốc Bạc Liêu đầu tiên của tôi là Trần Ngọc Chánh và Tạ Minh Thuận.

1 – Nhờ chơi với Tạ Minh Thuận mà tôi biết cha của bạn là chú Tám Góp. Tám Góp không phải là tên cúng cơm. Chú thứ 8, thầu thu thuế hoa chi ở một cái chợ chồm hổm trên địa bàn phường 1, ngay trung tâm thị xã. Lời ăn lỗ chịu. Thu hoa chi là thu tiền mỗi ngày cho phường… Bất kể là ai, thường xuyên hay đột xuất, ngày nắng hay ngày mưa, chợ ế hay đắt khách; hễ bày hàng ra chợ tự phát ở ngã ba gần cây xăng ấy, bán bất kể thứ gì thì chú thu tiền. Gánh rau muống thì 200 đồng. Hàng cá thì 500 đồng. Gà, vịt hay phản thịt thu 1000 đồng. Gánh bún nước lèo thì 400 đồng. Kể cả những hộ buôn bán nhỏ không đủ doanh số đánh thuế cũng thu kiểu như vậy. Giống như đi thu tiền góp. Nên dân gian gọi chết danh là chú Tám Góp. Chú Tám Góp thương chiều con trai nên quý cả bạn của con. Tôi biết, chú hay cho Minh Thuận tiền, bảo là cho con thằng Thuận, tức là cho cháu nội. Còn việc Thuận dùng tiền đó cà phê với chúng tôi, chú cũng lờ đi. Có khi còn cho thêm, bảo chúng tôi mua cái gì về nhà mà làm đồ nhậu. Con dâu chú, tức là vợ Tạ Minh Thuận, vốn dân Tắc Thủ dưới miệt vườn, tên Thu Hồng. Thu Hồng đúng là gái miền sông nước Cà Mau. Hiền thục, chịu thương chịu khó, giàu nghèo chấp nhận phận dâu con. Còn nhớ có lần đoàn chúng tôi gần chục người đi công cán dưới các huyện vùng sâu vùng xa, đi ngang qua nhà mẹ Thu Hồng. Tiện đường, Tạ Minh Thuận đưa chúng tôi vào thăm. Ngôi nhà điển hình của những căn nhà vàm sông Tắc Thủ. Mặt tiền hướng ra sông, chiếc xuồng ba lá làm chân chạy thay xe máy ngoài chợ. Chợ đây hiểu là ngoài thị xã Cà Mau, cách Tắc Thủ 7 đến 8, 9 cây số. Chiều tối đến nơi rồi mà em gái chèo xuồng đi xuống hàng đáy chút xíu là có cá, tôm, cua tươi rói, dư sức ăn nhậu. Có ăn cua gốc chính hiệu kiểu này mới biết thế nào là cua Cà Mau. Gạch đỏ au, chắc như đá, béo, bùi, thơm, ngậy. Thịt cua thì ngọt mát (đông y gọi là tính hàn), vừa dai, còn nóng hổi; gỡ ra được từ thân, từ 2 càng, từ 8 cẳng. Chấm muối ớt, đưa hơi cay từ xị rượu đế 40 độ cồn, thôi thì nhớ đời. Ăn cua gạch son Cà Mau một lần rồi, đi đâu ăn cua cũng chào thua là vậy. Ngày ấy ( những năm đầu 1980s ), nơi này chưa có điện. Đêm tối, nhà khá giả thắp đèn măng sông. Ánh sáng lan tỏa cả một vùng. Đoàn khách chúng tôi được ưu tiên ngủ tại nhà trên. Nói như thế là còn nhà dưới. Mùng mền chiếu gối thơm mùi nắng. Sàn gỗ đước mát rượi. Bộ ván bóng loáng cũng làm bằng gỗ đước dày dặn như mời gọi sau một ngày gò lưng kẹt cứng như xếp cá mòi trên xe đò. Những chiếc gối trắng tinh có thêu thùa bông, hoa, lá giản dị nhưng cẩn thận từng đường kim, mũi chỉ. Gối được lấy từ tủ kính ra, là do các cô làm từ thời còn con gái, để lại nhà cha mẹ trước khi đi làm dâu, đi lấy chồng. Nhìn tủ gối thì biết nhà có bao nhiêu con gái xuất giá tòng phu. Đêm Cà Mau thanh vắng lạ lùng. Nghe rõ tiếng côn trùng tỉ tê, rả rích. Tiếng mái chèo xuôi nước trên sông. Ngang qua đây, rồi ra ngã năm, ngã bảy, thuyền khuya trôi về đâu? Ai đó hò vài câu vọng cổ ngàn năm không cổ, mất hút theo dòng nước xiết. Sông nước đêm khuya có mắt. Người đi xa không quên là vậy. Rất đặc biệt, khó cắt nghĩa tường tận ký ức sâu thẳm.


2 – Trần Ngọc Chánh nhiều tuổi hơn hai chúng tôi đôi chút. Ngọc Chánh ở với người dì trong khuôn viên chùa bên phường 5. Phường 5 ở bên kia kinh xáng Bạc Liêu – Cà Mau. Muốn sang sông phải qua cầu sắt hoặc đò ngang. Dì đã già, đi lại lụm cụm, nói năng chậm chạp, khó khăn. Ngọc Chánh kêu bằng dì Tư. Dì Tư nghèo hay vì lý do gì thì tôi không biết. Nhưng ở ké trong một gian hẹp nơi chay tịnh mà đồ đạc trong phòng còn vơi thì biết sinh hoạt chật vật thế nào. Dì Tư kêu Ngọc Chánh là thằng Tư. Dì bảo, thằng Tư đi biệt tối ngày. Có thể dì không biết thằng Tư – cháu của dì đi đâu, làm gì. Nhưng tôi biết, ngoài công việc ăn lương ở trạm quan trắc thuỷ văn trên sông Bạc Liêu – Cà Mau ít ỏi thì Ngọc Chánh còn tham gia chơi nhạc sống cho ban văn nghệ lúc hợp lúc tan, không ra nghiệp dư, không thành biên chế. Thứ 7, chủ nhật, ngày lễ thì chơi cho quán cà phê, giải khát. Có thời gian còn chơi ở ban nhạc nhà thờ, bên phường 2. Kể như Ngọc Chánh không có thu nhập gì đáng để, lại thường thức khuya về trễ. Chủ yếu tuổi trẻ là giao du, ham vui. Ngọc Chánh chơi Guitar điện gắn Micro khá điệu nghệ, chơi Guitar thùng thì khỏi chê. Bạn để tóc dài, có thể búi ra phía sau gáy, coi bộ rất nghệ sĩ. Coi bộ nghệ sĩ vậy, nhiều tình si mà không lấy ai làm vợ. Có thể tiếng Guitar đối với các nàng là ánh hào quang, nghe được, bay lên mây được nhưng không ăn được. Tình một đêm thì thích, không có tương lai!? Một lần có gánh hát cải lương từ Sài Gòn về Bạc Liêu căng phông màn, bắc rạp cả tuần. Nghe nói bà bầu gánh hát ấy biết tài và chịu chơi của bạn mà chiêu mộ. Tưởng mê thì đeo chơi, ai dè, xuống ghe bầu đi tuốt luốt. Tôi với Tạ Minh Thuận mất hút Ngọc Chánh từ ngày ấy. Sau này tôi lên Sài Gòn, tôi cũng cố ý tìm tung tích bạn. Nhưng không hề le lói ánh sáng dưới đường hầm. Lạ là mỗi lần đi ngang qua tiệm bánh mì Hà Nội trên đường Trần Hưng Đạo, quận 5 thì tôi đều để mắt vu vơ tìm bạn. Tôi nhớ, thời còn ở Bạc Liêu, có lần Ngọc Chánh nói với tôi. Bạn không lên Sài Gòn thì thôi. Hễ lên thì thế nào cũng ăn bánh mì Hà Nội. Bánh mì Hà Nội trên đường Trần Hưng Đạo, quận 5. Ngược lại, Tạ Minh Thuận thì khoái buổi chiều, đậu xe nhậu lẩu bò trên đường Minh Phụng tuốt trong Chợ lớn.

3 – Mới đó mà đã 30 năm rồi…! Dòng đời trôi nổi, xuôi ngược. Tìm đâu bạn xưa ơi! Tìm đâu bạn ta ơi! Tìm đâu bạn hiền ơi!

(Sài Gòn chiều 15.3.2019)

QUẢNG BÌNH ĐẤT MẸ ƠN NGƯỜI
Hoàng Kim

Quảng Bình đất Mẹ ơn Người
Tổ tiên cát bụi nhiều đời thành quê
Đinh ninh như một lời thề
Trọn đời trung hiếu để về dâng hương

Lòng son trung chính biết ơn
Quê hương chung đúc khí thiêng Quảng Bình
Về quê kính nhớ Tổ tiên
Mừng vui giữa chốn bạn hiền người thân

Đất trời ngày mới thanh tân
Thung dung thăm hỏi ân cần níu chân.
Đường xuân như một dòng sông
Việt Nam thống nhất thác ghềnh đến nơi.

Hồn chính khí bốc lên ánh sáng
Sáng choang ngọc đá giữa hoang tàn’.
Tâm nhân văn lắng đọng tinh hoa
Hoa Đất Hoa Người trong cõi Bụt.

BAN MAI ĐỨNG TRƯỚC BIỂN
Hoàng Kim

Ban mai đứng trước biển
Thăm thẳm một tầm nhìn
Đảo Yến trong mắt ai
Vị tướng của lòng dân.

Những trang đời lắng đọng
LÀNG CỒN VƯỢN QUẢNG MINH
Hoàng Khanh

Làng tôi

Đất Cồn Vượn địa linh một dải
Họ Hoàng ta mãi mãi trường tồn
Nơi từ đường an lạc hồng môn
Phát phúc đất trường tồn bất hủ

Con cháu họ Hoàng ta con nên của có.
Cửa lớn nhà cao ,ngói đỏ tường vôi
Lúa gạo đầy rương cơm trắng đầy nồi
Mặc đẹp ăn ngon cuộc đời đổi mới

Ruộng năm tấn chiêm múa thắng lợi
Khoai một sào sáu tạ trở lên
Có điện về xua bóng tối màn đêm
Qua ngõ vào thềm sân xi măng mát lạnh.

Con gái họ Hoàng không hề son phấn
Vẩn môi hồng má phấn tóc nhung
Thắm thoắt tay đưa lướt nhẹ mũi kim
Trên chiếc nón đẹp ngang tầm xứ Huế.

Rộn rã trên đê tiếng cười em bé
Bao học sinh cắp sách đến trường
Khăn đỏ,quần xanh,áo trắng tung tăng
Xưa có cữ nhân ,nay có bằng đại học.

Dòng sông Gianh vươn mình theo gió mát
Trước cữa nhà đàn vịt lội nhấp nhô
Kinh tế gia đình ,tăng trưởng quy mô
Đây máy cày kéo,đó là lò ấp trứng lộn

Cuộc sống phồn vinh về cùng thôn xóm.
Ấm lòng son nghĩa Đảng tình dân
Con cháu họ Hoàng ta nghĩ đến cội nguồn
Cây xanh lá thấm nhuần ơn cội rễ

Có Tổ tiên mới vinh tôn quý tử
Có hôm nay ta nhớ đến hôm qua
Vườn tử tôn kết trái đơm hoa
Phải đắp cội ,xây nền cho vững

Dù quá khứ có xiêu đình đổ ngói
Nhưng công lao tiền bối vẫn không mờ
Những sắc bằng ấn tín thưở xưa
Những di sản bây giờ còn lưu giữ

Để tự hào cho hậu sinh tôn tử
Lai phúc nhân ,đãi phúc địa an hòa
Xin chúc mừng cho đại gia tộc chúng ta
Trọn đạo nghĩa nước nguồn cây cội.

(Trích ở hương sử làng 15-11-1997).

Làng Cồn Vượn Quảng Minh gần Làng Minh Lệ quê tôi đều chung xã Quảng Minh. Thầy Hoàng Khanh (Khanh Hoàng) trưởng lão họ Hoàng làng Cồn Vượn

Những trang đời lắng đọng
NGỐC PHƯƠNG NAM LÀ NGỌC
Hoàng Kim
Chúc mừng cô giáo Ngốc PhươngNam và quý sư Thầy Cô cùng đạo hữu. Gương sáng cô Ngốc PhươngNam gắn bó nhiều năm dạy và học Tiếng Anh DUY TUỆ THỊ NGHIỆP với nhà Chùa với sư Thầy Cô đạo hữu thật là hiếm có. Biển học vô bờ siêng năng là bến Sự thật tốt hơn nhiều lời nói. Từ bi trí tuệ thật ngưỡng mộ.

NGẪM CÀ PHÊ THỜI DỊCH …
Thiện Lạc Quân

“Có thể nghĩ đó là một điều xa xỉ cũng có thể nghĩ qua đó ta tìm được một góc riêng tĩnh lặng để thư giãn, không ồn ào, không bè bạn, không có những cuộc trò chuyện rôm rã. Ai cũng thấy khó khăn trong làm ăn, trong kinh doanh, trong cuộc sống thường nhật. Bất giác những người bán vé số lã tã mồ hôi trên vầng trán tranh thủ chạy với xấp vé số dày cộm trên tay khi chưa kịp đến đã bị lắc tay xua đuổi. Ủng hộ nhanh vài vé và đôi lời động viên chợt thấy nụ cười của cụ mà thấy ấm lòng. Chợt nhớ ba, Ba cũng bán vé số, những ngày ba mệt ba nhờ mình đi bán. Ở quê ngày ấy (12 năm) không đông đúc như bây giờ, nhà nằm hút sâu và có rất nhiều chó. Bán đã khó mà còn phải vượt qua nỗi sợ hãi lại càng khó hơn…Thế nên bây giờ tôi vẫn giữ thói quen mua ủng hộ những người già yếu… Cuộc sống họ vốn đã khó khăn. Bây giờ càng khó khăn hơn nữa… Xin đừng xua đuổi họ. Thật tế nhị nhất để giữ ấm tình người

Kim Hoàng Những trang đời lắng đọng. Nhớ sinh viên gương sáng. Cảm ơn Thiện Lạc. Thầy xin được chia sẻ. Chúc vui khỏe ngày mới.

Thiện Lạc @ Kim Hoàng con cám ơn thầy. Kính chúc cô thầy dồi dào sức khoẻ, và càng nhiều những kiến thức chia sẻ cho chúng con học hỏi mỗi ngày.

Kim Hoàng@Thiện Lạc con thắp giùm thầy gửi đến mẹ con một nén tâm hương. Thầy nhớ bác Việt Phương ba điều nhớ mãi:“Thăm làng, ta ghé trại mồ côi, Các cháu má hồng môi rất tươi. Nhưng một thoáng buồn trong khóe mắt, Ta biết rằng ta nợ suốt đời…”. Thầy xúc động nhớ hoàn cảnh của con. Nhớ ngày con học trên lớp, trên đồng ở Viện Lúa và trại giống lúa Sóc Trăng. Nhớ ngày con mua sữa với cô Tuyết Hợp thăm thầy ốm. Cảm ơn con Thiện Lạc
Thầy lưu kỷ niệm tại Những trang đời lắng đọng https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nhung-trang-doi-lang-dong/

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365 bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Secret Garden – Poéme

Vuonxuan

Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
Quà tặng cuộc sống yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

Advertisement