Sóng yêu thương vỗ mãi

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là song-yeu-thuong-vo-mai-den-vo-cung.jpg

SÓNG YÊU THƯƠNG VỖ MÃI
Hoàng Kim

Anh yêu biển tự khi nào chẳng rõ
Bởi lớn lên đã có biển quanh rồi
Gió biển thổi nồng nàn hương biển gọi
Để xa rồi thương nhớ chẳng hề nguôi

Nơi quê mẹ mặt trời lên từ biển
Mỗi sớm mai gió biển nhẹ lay màn
Ráng biển đỏ hồng lên như chuỗi ngọc
Nghiêng bóng dừa soi biếc những dòng sông

Qua đất lạ ngóng xa vời Tổ Quốc
Lại dịu hiền gặp biển ở kề bên
Khi mỗi tối điện bừng bờ biển sáng
Bỗng nhớ nhà những lúc mặt trăng lên

Theo ngọn sóng trông mù xa tít tắp
Nơi mặt trời sà xuống biển mênh mông
Ở nơi đó là bến bờ Tổ Quốc
Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng …

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là song-yeu-thuong-vo-mai-den-vo-cung-2.jpg
Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là song-yeu-thuong-vo-mai-den-vo-cung-3.jpg

xem thêm

Giấc mơ lai khoai lang

GIẤC MƠ LAI KHOAI LANG
Hoàng Kim


Muống biển liệu có thể lai khoai lang để gia tăng tính kháng? Trước đây khi còn trẻ thơ, tôi đã tự hỏi vậy. Gần đây, bài thơ ‘Chuyện Tình Hoa Muống Biển” của anh Hoàng Đại Nhân gợi tôi trở về câu chuyện cũ. Bài thơ trong sáng giản dị và hay, cốt truyện tình yêu đẹp, giá trị nhân văn cao, hình ảnh tuyệt vời. Tôi trở lại câu hỏi khoa học cây trồng Muống biển liệu có thể lai khoai lang để gia tăng tính kháng?

Hoa muống biển và hoa khoai lang hình thái thật giống nhau.

Muống biển và khoai lang là hai loài thực vật có quan hệ gần gũi. Muống biển (Ipomoea pes-caprae (L.) R.Br.) là loài thực vật thuộc họ Bìm bìm (Convolvulaceae) mọc phổ biến trên của các bãi biển và chịu được không khí mặn. Carl von Linné (23 tháng 5 năm 1707 – 10 tháng 1 năm 1778), nhà thực vật học, bác sĩ kiêm động vật học người Thụy Điển, người tiên phong của ngành sinh thái học “Hoàng tử của giới thực vật học“, cha đẻ của hệ thống phân loại theo danh pháp hiện đại, là người đầu tiên mô tả loài thực vật này; năm 1818, Robert Brown là người phân loại nó vào chi hiện tại. Muống biển được tìm thấy trên bờ cát vùng nhiệt đới ven biển Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, phía bắc của bang New South Wales, và dọc bờ biển bang Queensland thuộc nước Úc. Muống biển ở Việt Nam mọc hoang khắp các bãi cát ven biển từ Hà Tiên, Rạch Giá (Kiên Giang), đến Vũng Tàu (Bà Rịa Vũng Tàu), Nha Trang (Khánh Hòa), Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Phòng…Muống biển có công dụng làm thuốc nhưng hiện chưa có các nghiên cứu sâu về cây này. Theo Nông nghiệp Việt Nam muống biển công dụng trong y học cổ truyền được dùng toàn cây để chữa trị các chỗ viêm do dị ứng với sứa biển, phong độc, bệnh ngoài da; hạt để chữa trị mệt mỏi; lá được dùng để giã nát đắp lên chỗ ngứa do sứa biển.

Khoai lang (Ipomoea batatas L) là cây hai lá mầm thuộc họ Bìm bìm Convolvulaceae, chi Ipomoea, Chi phụ: Quamoclit; Phân chi: Batatas Loài: Ipomoea batatas. Họ Bìm bìm có 55 chi và khoảng 1650 loài, trong đó chi Ipomoea là chi lớn nhất với khoảng 600 loài (Austin, 1997). Ở Việt Nam có 13 chi và 76 loài (Lương Ngọc Toàn và csv, 1978). Cây khoai lang được phân loại trong chi Batatas. Hiện nay trong nội tộc phân chi Batatas có 13 loài hoang dại quan hệ với khoai lang. Khoai lang có số nhiễm sắc thể 15, là dạng lục bội thể (6x) duy nhất có khả năng tạo củ để làm lương thực. Trần Văn Minh 2008 đã trích dẫn tài liệu của Iting và Kehr 1953 nghiên cứu sự phân chia giảm nhiễm ở các giống khoai lang của Mỹ và giả thuyết là khoai lang có nguồn gốc đa bội khác nguồn. Nó hình thành từ tổ hợp lai giữa một tứ bội thể với nhị bội, sau đó xẩy ra quá trình phân đôi nhiễm sắc thể ở con lai bất dục. Nishiyama 1982 và Shiotani 1988 thì lại cho rằng khoai lang là một tứ bội cùng nguồn, hình thành do sự đa bội hoá của loài lưỡng bội.

Carl von Linné nhà thực vật học Thụy Điển, nhà bác học hàng đầu của nhân loại ngành sinh thái học “Hoàng tử của giới thực vật học“, cha đẻ của hệ thống phân loại theo danh pháp hiện đại. Ông là người đầu tiên mô tả loài muống biển. Ông cũng là nhà thơ, nhà ngôn ngữ lừng danh mà August Strindberg tác giả người Thụy Điển viết: “Linné kỳ thực là một nhà thơ sinh ra để trở thành nhà tự nhiên học”. Linné được Goethe nhà bác học thiên tài người Đức ca ngợi: “Trừ Shakespeare và Spinoza, tôi không biết ai giữa những người không còn sống mà ảnh hưởng tới tôi lớn hơn thế”.

Hình ảnh cậu bé tiến về biển lúc bình minh gợi chúng ta nhớ về câu chuyện muống biển, khoai lang quan hệ với “Hai vạn dặm dưới đáy biển” một tiểu thuyết khoa học viễn tưởng của Jules Verne nhà văn Pháp nay đã chuyển thể thành phim. Hai Vạn Dặm Dưới Đáy Biển http://hdonline.vn/phim-hai-van-dam-duoi-day-bien-10140.htm…

Câu chuyện “20,000 Leagues Under the Sea” 1954 kể rằng: Trong năm 1868, tin đồn về một con quái vật biển tấn công tàu ở Thái Bình Dương đã tạo ra lo âu và khiếp sợ trong thủy thủ Hoa Kỳ, làm gián đoạn đường vận chuyển hàng hải . Chính phủ Hoa Kỳ mời Giáo sư Pierre Aronnax và Conseil phụ tá của ông lên một tàu chiến thám hiểm để chứng minh hay bác bỏ sự tồn tại của con quái vật. Kết quả “Hai vạn dặm dưới đáy biển” Giáo sư Pierre Aronnax nhà bác học biển và cộng sự đã thấu hiểu đại dương, thế giới biển, nguồn thức ăn khác biệt và vô tận dưới biển sâu, và năng lực của tàu ngầm, phát minh khoa học làm mở rộng tầm mắt và thay đổi nhận thức về thế giới biển.

Giống khoai lang ở Việt Nam HL491 và HL518 chất lượng ngon, năng suất cao.

Giống khoai lang Việt Nam ngon nhất hiện nay là HL518 Nhật đỏ, HL491 Nhật tím (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim, Trần Công Khanh, Nguyễn Thị Sâm 1997) và khoai lang Hoàng Long (Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy 1981), Ba giống khoai lang ngon này mức kháng sùng chỉ đạt trung bình (http://foodcrops.blogspot.com/2010/01/giong-khoai-lang-o-viet-nam.html)

Giáo sư Vũ Đình Hòa (Học Viện Nông nghiệp Việt Nam) trong luận án tiến sĩ năm 1991 có thực hiện việc lai giống khoai lang loài khoai lang Ipomoea batatas L với loài khoai lang dại Ipomoea Trifida để tìm giải pháp giống khoai lang kháng sùng.

Vậy, muống biển liệu có thể lai khoai lang để gia tăng tính kháng?

Có thể hay không thể. To be or not to be.

xem tiếp: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/muong-bien-lai-khoai-lang/ Xem phim tại http://hdonline.vn/phim-hai-van-dam-duoi-day-bien-10140.html#OiqOQ7DCOXrz7GES.99

Ban mai trên biển Quê hương, nơi có sóng, có gió và loài hoa muống biển. Tôi yêu quê tôi, yêu vùng gió cát “Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình”. Nhớ đết thắt lòng con “dèm” nhỏ, con cua nhỏ nên dòng Gianh và những vạt muống biển xanh bất tận bên bờ Nhật Lệ.  Và bài thơ Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng  đã ra đời từ đó.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi| Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sốngFood CropsKim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Sóng yêu thương vỗ mãi

SÓNG YÊU THƯƠNG VỖ MÃI ĐẾN VÔ CÙNG
Hoàng Kim


Anh yêu biển tự khi nào chẳng rõ
Bởi lớn lên đã có biển quanh rồi
Gió biển thổi nồng nàn hương biển gọi
Để xa rồi thương nhớ chẳng hề nguôi

Nơi quê mẹ mặt trời lên từ biển
Mỗi sớm mai gió biển nhẹ lay màn
Ráng biển đỏ hồng lên như chuỗi ngọc
Nghiêng bóng dừa soi biếc những dòng sông

Qua đất lạ ngóng xa vời Tổ Quốc
Lại dịu hiền gặp biển ở kề bên
Khi mỗi tối điện bừng bờ biển sáng
Bỗng nhớ nhà những lúc mặt trăng lên

Theo ngọn sóng trông mù xa tít tắp
Nơi mặt trời sà xuống biển mênh mông
Ở nơi đó là bến bờ Tổ Quốc
Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng …

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi| Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sốngFood CropsKim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Sóng yêu thương vỗ mãi

SÓNG YÊU THƯƠNG VỖ MÃI ĐẾN VÔ CÙNG

Hoàng Kim

Anh yêu biển tự khi nào chẳng rõ
Bởi lớn lên đã có biển quanh rồi
Gió biển thổi nồng nàn hương biển gọi
Để xa rồi thương nhớ chẳng hề nguôi

Nơi quê mẹ mặt trời lên từ biển
Mỗi sớm mai gió biển nhẹ lay màn
Ráng biển đỏ hồng lên như chuỗi ngọc
Nghiêng bóng dừa soi biếc những dòng sông

Qua đất lạ ngóng xa vời Tổ Quốc
Lại dịu hiền gặp biển ở kề bên
Khi mỗi tối điện bừng bờ biển sáng
Bỗng nhớ nhà những lúc mặt trăng lên

Theo ngọn sóng trông mù xa tít tắp
Nơi mặt trời sà xuống biển mênh mông
Ở nơi đó là bến bờ Tổ Quốc
Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng …

(*) Ban mai trên biển Nhật Lệ, Quảng Bình. Chùm ảnh của Hoàng Kim và bài thơ Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng

 


SÓNG CỦA XUÂN QUỲNH
Thơ hay và lời bình yêu thích

Hoàng Kim. “Tôi vẫn thích trở lại với ‘Sóng’  của Xuân Quỳnh, thơ hay là lời bình thật tốt của Hà thị Hải, báo Phụ nữ Việt Nam tháng 1/2002″.

 

Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sóng không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể.

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ.

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?

Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức

Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh- một phương

ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vàn cách trở

Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa

Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Ðể ngàn năm còn vỗ

        Thơ Xuân Quỳnh có nét rất riêng, trong số các nhà thơ nữ của Việt Nam, đó là: chân thật và đam mê mãnh liệt. Trong thơ chị cháy lên cái sắc màu của một thế giới lung linh, thế giới tình yêu. Thơ Xuân Quỳnh, thơ tình Xuân Quỳnh là niềm khao khát hạnh phúc. Thơ Xuân Quỳnh rất tình, rất đời và rất đàn bà bởi niềm khát khao ấy. Nói đến khát khao hạnh phúc trong thơ Xuân Quỳnh có nghĩa là nói đến “Sóng”.

        Tình yêu- vốn là đề tài muôn thuở. Xuân Diệu- nhà thơ của tình yêu- có bài thơ nổi tiếng “Biển”. Còn Xuân Quỳnh, chị mượn hình tượng “sóng” để diễn tả những cảm xúc, trạng thái của người phụ nữ khi yêu. “Biển” của Xuân Diệu mạnh mẽ, dữ dội và nồng nàn, bộc lộ một tình yêu rất nam tính. Còn “Sóng” của Xuân Quỳnh thì đậm tính chất nữ tính, nhẹ nhàng, chân thành mà vẫn nồng nàn, thiết tha.

Dữ dội và dịu êm
N ÀO VÀ LẶNG LẼ
Sóng không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể.

        Bao trùm bài thơ, lan toả khắp bài thơ là hình tượng “sóng”. Âm hưởng bài thơ là âm hưởng của con sóng dạt dào, nhịp nhàng. Nhịp của con sóng vỗ bờ triền miên, vô hồi hay nhịp của tiếng lòng thi sĩ- nhân vật chủ thể- đang yêu và khao khát yêu. Mỗi trạng thái của tâm hồn người phụ nữ đang yêu có thể tìm thấy sự tương đồng ở một khía cạnh nào đó của con sóng. Con sóng ấy khao khát, hay chờ sự “xoay vần” của con Tạo nữa. Trái tim ấy kiên quyết “tìm ra tận bể”, tìm đến độ sâu xa nhất trong tình yêu, để tìm hiểu, để khám phá và để yêu.

        Khát vọng tình yêu là chuyện của muôn đời, muôn người, nhưng mãnh liệt nhất là của tuổi trẻ, như có nhà thơ viết:

Nếu phải chia cho người yêu một nửa
Thì em ơi nhận lấy khoảng đời đầu

    Ðã yêu là kháo khát, là bồi hồi

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ.

        Nhận ra trạng thái khác của mình, người phụ nữ kiên quyết tìm hiểu, “tìm ra tận biển”, tận bến bờ sâu thẳm của tình yêu. Thế nhưng “tình yêu có những lý lẽ mà lí trí không sao giải thích nổi“. Tình yêu đầy bí ẩn, và chính vì nó bí ẩn nên nó lại càng đẹp và lại càng là nỗi khát khao của con người:

Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

        Nữ thi sĩ người Bungaria Blaga Ðimitrôva- đã nói “Ta đi tìm mình cho ta và cũng là tìm ta cho chính ta nữa“. Xuân Quỳnh cho rằng: “Yêu là đi tìm một nửa của mình, cũng chính là đi tìm mình“. Như thế tình yêu làm cho con người ta hoàn thiện hơn, đẹp hơn. Tình yêu cũng làm cho con người ta băn khoăn về sự bắt đầu, sự khởi nguồn của nó. Thế nhưng: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?” (Xuân Diệu). Và có người thốt lên: “Có gì lạ quá đi thôi!“, còn Xuân Quỳnh, chị bộc bạch một cách hồn nhiên, rất con gái, nhẹ nhàng, bối rối lẫn chút đắm say, ngọt ngào pha lẫn hơi nũng nịu:

Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

        Nhà thơ, cũng như bao người con gái khác, đều không sao trả lời được. Em yêu anh tự bao giờ, em cũng chẳng biết nữa. Có lẽ là từ nỗi nhớ về anh da diết. Bởi đã yêu là nhớ:

Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được

        Vẫn là hình tượng “sóng”. Sóng nhớ bờ, ngày đêm không thôi dào dạt. Cũng như em:

Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức

        Ca dao xưa cũng viết về nỗi nhớ khi yêu:

Ðèn thương nhớ ai
Mà đèn chẳng tắt
Mắt thương nhớ ai
Mắt ngủ chẳng yên

        Nhà thơ Chế Lan Viên miêu tả nỗi nhớ cũng rất hay:

Anh không ngủ. Hẳn vì em đang nhớ
Một trời sao rực cháy giữa đôi ta
Anh thức giấc. Cho lòng em lặng gió
Cho sao trời yên rụng một đêm hoa

        Hai câu thơ được tách riêng thành một khổ thơ như nỗi lòng, tâm trạng của thi sĩ bấy giờ. Tâm trạng ấy lan sang người đọc. Thiết tha, sâu lắng và mãnh liệt.

        Yêu không chỉ là nhớ. Yêu là sự thuỷ chung, son sắt, dẫu xa cách ngàn trùng. “Khoảng cách trong tình yêu cũng như gió với lửa, dập tắt ngọn lửa nhỏ nhưng thổi bùng ngọn lửa lớn” (ngạn ngữ). Tình yêu của nhà thơ mãnh liệt và sâu đậm. Nỗi nhớ trong thơ chị gắn với khái niệm thời gian vô tận và không gian vô cùng. Với thời gian, nó không có ngày đêm. Với không gian, nó chẳng có nhiều phương hướng; chỉ có một phương thôi- đó là anh. Hai người yêu nhau luôn hướng về nhau. Họ là mặt trời soi rọi cho nhau vào những buổi sớm và là mặt trăng sưởi ấm những đêm khuya.

        Nhưng tình yêu sẽ chỉ là lãng mạn, tình yêu không thực sự là tình yêu theo đúng nghĩa nếu nó xa rời thực tế- cuộc đời. Mà cuộc đời vốn nhiều nỗi trái ngang. Bên cạnh hạnh phúc, tình yêu cũng là đau khổ. Nhưng không phải vì thế mà tình yêu kém đi nét đẹp và sự lung linh của nó. Trái lại tình yêu càng trở nên huyền diệu hơn khi nó vượt qua mọi giông bão của cuộc đời. Ðó là khát vọng mà con người luôn hướng tới.

Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa

        Khát khao được hướng tới tình yêu đích thực, hướng tới sự vĩnh cửu của tình yêu trở nên mãnh liệt. Và ở khổ thơ cuối cùng, biểu tượng “sóng” đã trở thành nơi cất giữ niềm khát khao mạnh mẽ.

Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Ðể ngàn năm còn vỗ

        Thơ Xuân Quỳnh là tiếng hát của trái tim đắm đuối trong sóng nhạc tình yêu. Ðọc thơ tình của chị, người ta khát khao yêu, khát khao hạnh phúc. Người đàn bà ấy dù đã trải qua nhiều nỗi truân chuyên, thế nhưng giông bão bao nhiêu thì chị lại càng sống hết mình bấy nhiêu. Chị sống cho tình yêu, hơi thở của chị là hơi thở của tình yêu, “một tình yêu dù đã đi qua mọi va chạm, mọi đau đớn của cuộc đời mà vẫn khát khao, vẫn chờ đợi tình yêu bằng cả sự trinh bạch của tâm hồn. Cái mà không một sự tàn phá, va đập nào của thời gian và cuộc đời chạm tới được”.

Nguồn: vuhuu.edu.vn/null/Ebook/Phe_Binh/bai3_1.htm

Bài viết mới

Video yêu thích

Chúc mừng SÓNG KHÔNG TỪ BIỂN thơ Nguyên Hùng nhạc Le An Tuyen qua giọng ca vàng của Bích Hồng. Cuộc đời có được tác phẩm neo đậu trong lòng những người thân, bạn hữu thân thương và cộng đồng là đủ. Tôi cũng yêu biển và đồng cảm sâu sắc với thơ nhạc của bạn. Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng.
https://hoangkimlong.wordpress.com/2017/05/04/song-yeu-thuong-vo-mai-den-vo-cung/
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thựcDạy và HọcTình yêu cuộc sốngKim on LinkedInKim on Facebook, Kim on Twitter