Minh triết Hồ Chí Minh

minhtriethochiminhtulieu

Minh triết Hồ Chí Minh là tài liệu nghiên cứu lịch sử của Hoàng Kim nhằm hiểu đúng thực chất Bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dương: Vì sao không có được giải pháp hợp tác giữa Hồ Chí Minh, Bảo Đại, Ngô Đình Diêm, Nguyễn Trường Tam, Trần Trọng Kim, Nguyễn Hải Thần, Phạm Quỳnh, Hoàng Xuân Hãn, Phan Văn Giáo … Đánh giá về bình sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh sâu sắc nhất có lẽ đó là bài thơ: “Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh. Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành. Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy. Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời có nói : “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.  Suốt đời Bác làm hai việc chính là kiến tạo Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) thành một mặt trận rộng rãi “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công thành công, đại thành công” thực hiện “kế sách một chữ đồng” giành độc lập dân tộc và mở đường Hồ Chí Minh thống nhất đất nước Việt Nam.

Danh mục một số tư liệu lịch sử tuyển chọn

Ngọn nến Hoàng cung bộ phim lịch sử của đạo diễn Nguyễn Quốc Hưng, ra mắt lần đầu năm 2004, đoạt Giải thưởng: Cánh Diều Vàng Việt Nam cho Phim truyền hình dài tập xuất sắc nhất, tái hiện, cung cấp thêm một góc nhìn khác cho sự kiện này.

Chính phủ của Bảo Đại và Trần Trọng Kim
Tài liệu cho sử gia
Trần Chung Ngọc và sachhiem.net
Đế quốc Việt Nam
Một cơ hội bị bỏ lỡ ở Việt Nam năm 1945?
Học giả Trần Trọng Kim
Hoàng Xuân Hãn con người và chính trị
Nhà văn hóa Phạm Quỳnh
Bảo Long – Hoàng thái tử cuối cùng thời quân chủ VN
Vài suy nghĩ về cựu hoàng Bảo Đại
Phan Văn Giáo người đứng đầu miền Trung thời Cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng
Tư liệu quý ngày 2 tháng 9

 

cauhieucauthuong-2

Từ Hiếu trà sớm với người hiền, không gian tĩnh lặng, thời gian đặc biệt, lắng nghe cổ vật và đất trời trò chuyện, ngắm mặt trời mọc và sương đêm đọng mật trên lộc nõn cây xanh cuối thu. Tôi mong ước được các bậc thức giả và thầy bạn ghé thăm, cảm nhận.

hochiminhtulieu1960

Thêm một tư liệu quý: Bút tích Hồ Chí Minh ngày 1.9.1960 lưu ở Bảo tàng Lịch sử Hà Nội. Bản thảo bài phát biểu bế mạc lễ kỷ niệm quốc khánh năm 1960, do Bác tự tay đánh máy trong đó có câu “…chậm lắm là 15 năm nữa Tổ quốc ta sẽ thống nhất Bắc Nam sẽ sum họp một nhà” mà sau đó Bác đã xóa đi không đọc chính thức. Dòng chữ đó cho thấy Bác đã tiên đoán ngày thống nhất đất nước là vào năm 1975?

Minh triết Hồ Chí Minh,  đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim

Bản sao một số tài liệu tham khảo chính

PHAN VĂN GIÁO NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU MIỀN TRUNG
THỜI CỰU HOÀNG BẢO ĐẠI LÀM QUỐC TRƯỞNG

Nguyễn Đắc Xuân

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, toàn bộ lực lượng Cách mạng rút ra vùng nông thôn và rừng núi phía Tây Huế để lập chiến khu trường kỳ kháng chiến. Quân đội Pháp và những đảng phái thân Pháp chống Việt Minh trở lại tái chiếm Cố đô Huế (7-2-1947).

Một Ủy ban Chấp chánh Lâm thời (Comité adminis -tratif provisoire) được thành lập ở Huế để quản trị những vùng do Quân đội Pháp chiếm đóng và kiểm soát. Những quan lại cũ như Trần Văn Lý, Lê Quang Thiết được cử phụ trách Uỷ ban nầy. Đến cuối năm 1947, có dư luận Pháp sẽ chọn “giải pháp Bảo Đại” để đương đầu với kháng chiến. Uỷ ban Chấp chánh Lâm thời tổ chức một cuộc biểu tình lớn của dân chúng ở Huế để cùng với các cuộc biểu tình ở nhiều địa phương khác ủng hộ Cựu hoàng Bảo Đại, gửi điện sang Hồng Kông yêu cầu Cựu hoàng Bảo Đại về nước, đứng ra lập Chính phủ quốc gia để lo việc nước.

Đến 1-6-1948, “giải pháp Bảo Đại” thật sự thành hình với sự ra đời của Chính Phủ Trung Ương Lâm Thời tại Sài Gòn do ông Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng, Quốc vụ khanh Tổng trấn Trung phần giao cho Dược sĩ Phan Văn Giáo (Chính Đạo, tr. 85). Từ đó Dược sĩ Phan Văn Giáo ngồi vào ghế của ông Trần Văn Lý với nhiều quyền hành rộng lớn hơn.

phanvangiaonguonndx

Dược sĩ Phan Văn Giá. Ảnh TL của Souverains et Notabilités D’ Indochine IDEO -1943

Dược sĩ Phan Văn Giáo sinh năm 1901 tại Ninh Hoà (Khánh Hoà). Tốt nghiệp trường Dược ở Hà Nội năm 1922 và hành nghề Dược tại Thanh Hoá. Ông từng là Cố vấn kinh tế cho tỉnh Thanh Hoá (Conseiller provencial de Thanh Hoá), và được mời làm một  thành viên của Phòng Thương mại và Nông nghiệp Bắc Trung kỳ (Mem -bre de la Chambre de Com -merce et d’Agriculture du Nord-Annam), rồi làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác tỉnh Thanh Hoá (Président du Conseil d’Administration de la Ban -que Agricole et de Coopérative de Thanh Hoá). Về mặt chính trị, ông được bầu làm Đại biểu dân chúng của tỉnh Thanh Hoá. (Représentant du peuble de la Province de Thanh Hoá). Ít lâu sau ông lại được mời làm thành viên Đại hội đồng Kinh tế và tài chính Đông Dương (Membre du Grand Conseil des Intéréts Économiques et Finances de l’Indochine). Ông thích chơi thể thao – đặc biệt là môn Quần vợt (Tennis), ông lập ra và làm Chủ tịch Hội Thể dục Thể thao K. H. Thanh Hoá (Président de l’Associa -tion sportif de K. H. Thanh Hoá). Do cùng sở thích chơi quần vợt, nên sau khi vua Bảo Đại hồi loan (1932), Dược sĩ Phan Văn Giáo có nhiều dịp gặp vua Bảo Đại và không lâu sau họ thân nhau. Đến ngày Cách mạng Tháng 8/1945 bùng nổ, vua Bảo Đại hạ chiếu thoái vị và được mời làm Cố vấn cho Chính phủ Cách mạng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Sau đó Cựu hoàng được ra nước ngoài làm “ngoại giao” và sống lưu vong ở Trung Quốc-Hồng Kông. Trong lúc đó, Dược sĩ Phan Văn Giáo bị Việt Minh bắt giam gần một năm rưỡi rồi mới được trả tự do.

Do mối quan hệ cũ với Cựu hoàng Bảo Đại, năm 1948, khi biết Pháp chủ trương thực hiện “giải pháp Bảo Đại” để chống lại cuộc kháng chiến do Mặt trận Việt Minh khởi động từ ngày 19-8-1946, Dược sĩ Phan Văn Giáo cùng 24 trí thức nhân sĩ thân Pháp khác qua Hồng Kông họp bàn với Cựu hoàng mọi lẽ thiệt hơn và mời Cựu hoàng “hồi loan” lần thứ hai. Những nhân sĩ trí thức thân Pháp cùng qua Hồng Kông có các vị như Nguyễn Văn Xuân, Trần Thanh Đạt, Trần Văn Lý, Ngô Đình Diệm v.v. Ngày Cựu hoàng về nước tại sân bay Liên Khương (Đà Lạt, ngày 28-4-1949), Dược sĩ Phan Văn Giáo được ra tận cầu thang máy bay đón Cựu hoàng. Việc đó chứng tỏ Phan Văn Giáo là người thân tín nhất của Cựu hoàng lúc bấy giờ.

phanvangiaobaodainguonndx

Dược sĩ Phan Văn Giáo mặc quốc phục đón Cựu hoàng Bảo Đại “hồi loan” ở sân bay Liên Khương (Đà Lạt), ngày 28-4-1049. Ảnh TL riêng của NĐX

Cũng cần nhắc lại trước khi Cựu hoàng Bảo Đại hồi loan, năm 1948, Dược sĩ Phan Văn Giao đã được Quốc trưởng Bảo Đại thăng hàm Trung tướng, do đó một buổi lễ diễn binh long trọng đã được tổ chức trước lầu Ngọ Môn để Thủ tướng chính phủ Nguyễn Văn Xuân, đại diện cho Cựu Hoàng đang ở Hồng Kông, gắn lên vai Trung tướng Phan Văn Giáo ba ngôi sao bạc. Một dược sĩ bổng trở thành một tướng lãnh “quốc gia” để lo tổ chức quân sự đương đầu với kháng chiến chống Pháp ở miền Trung.

Hai ngày sau khi Chánh phủ ra mắt chính thức, ngày 3-7-1949, Cựu hoàng Bảo Đại ký lại Quyết định bổ nhiệm ba Thủ hiến: Bắc Việt: Nguyễn Hữu Trí, Trung Việt Phan Văn Giáo và Nam Việt Trần Văn Hữu” (Đôn, 79), (Chính Đạo, tr.138), (P.Devil -lers, tr. 430). Dược sĩ Phan Văn Giáo chính thức được đứng đầu bộ máy hành chính quân sự ở Trung Kỳ.

1.Thành lập Việt Binh  Đoàn ở miền Trung

Về Huế nhậm chức Tổng trấn (sau là Thủ hiến) chống Việt Minh, việc đầu tiên của Trung tướng Phan Văn Giáo là tổ chức và xây dựng một “quân đội quốc gia” tại miền Trung mà ông có tham vọng sẽ thay thế quân đội Pháp sau nầy. Ông xin đại uý Nguyễn Ngọc Lễ, nguyên là lính Khố Đỏ của Pháp nhưng đã được nhà báo Nguyễn Vỹ có đề cập đến trong tác phẩm Tuấn, chàng trai nước Vit, xem như một thanh niên có tinh thần quốc gia, về giữ chức Tư lệnh đội quân mà ông đặt tên là Việt Binh Đoàn. Theo ông Phan Văn Giáo, Việt Binh Đoàn là V.B.Đ. ngầm ý là vua “Vua Bảo Đại”, “Vì Bảo Đại”, hay “Với Bảo Đại”. Ông Lễ, từ khi chuyển qua Việt Binh Đoàn được thăng cấp thiếu tá. Ông rất thương lính nên được lính theo ông khá đông. Phong cách chỉ huy của ông Nguyễn Ngọc lễ rất hợp với phong cách lãnh đạo của Thủ hiến Phan Văn Gíao. Theo Hoành Linh Đỗ Mậu, tác giả Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi thì “Ông Giáo là một chính trị gia nhìn xa thấy rộng, hoạt bát, lanh lợi, và rất bình dân. Đối với binh sĩ và cán bộ dân sự thường phải trực tiếp đối đầu với hiểm nguy, ông coi họ như bà con ruột thịt, thường giúp đỡ tiền bạc mỗi khi họ túng thiếu. Thỉnh thoảng ông đi hành quân với binh sĩ, ngủ lại đêm với họ ở những tiền đồn hẻo lánh xa xôi” (tr.63-64).

Với chỉ tiêu của đợt thành lập đầu tiên là 10.000 quân nhân cho quân lực Việt Binh Đoàn, ông Lễ có rất nhiều cộng sự viên có khả năng trong bộ tham mưu của ông, trong đó có ông Đỗ Mậu.

Ông Đỗ Mậu được ông Thủ hiến Phan Văn Giáo cử giữ chức Trưởng Phòng Ba, đặc trách về tổ chức, huấn luyện, và hành quân, đồng thời kiêm nhiệm chức chủ nhiệm tuần báo Tiếng Kèn, cơ quan ngôn luận chính thức của quân đội Việt Binh Đoàn. Cả hai nhiệm vụ này đều phù hợp với khả năng và sở thích của ông Mậu.

Chỉ hơn một năm sau, quân đội Việt Binh Đoàn đã phát triển mạnh mẽ, tinh thần chiến đấu cao và khả năng tác chiến ở mức khá hiện đại. Tại nhiều địa phương chiến lược, đơn vị Việt Binh Đoàn đã thay thế các đơn vị của quân đội Pháp. Uy tín và uy thế của Việt Binh Đoàn càng ngày càng lên cao làm cho các chính khách ở ngoài Bắc cũng như trong Nam và các cấp chỉ huy Pháp đi từ ngạc nhiên đến thán phục khác. Nhiều khi họ tổ chức hẳn thành những phái đoàn đến thăm để nghiên cứu.

Ngày 8 tháng 3 năm 1949, cựu hoàng Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol ký thoả ước Elysée biến Việt Nam thành một quốc gia “Độc lập trong Liên Hiệp Pháp”, nhưng Quốc phòng, Ngoại giao và Tài chính vẫn bị Pháp chi phối, kiểm soát.

Tháng 4 năm 1949, Cựu hoàng Bảo Đại hồi loan giữ chức Quốc trưởng.  Ông đi công du ba miền để thăm viếng đồng bào. Ông về  thăm Cố đô Huế, thăm thân mẫu là Đoan Huy Hoàng Thái hậu, dự lễ kỵ các Tiên Vương.

baodainguonndx

Quốc trưởng Bảo Đại vào Thế Miếu. Ảnh TL do NĐX sưu tập

baodai2

Quốc trưởng Bảo Đại thăm Cung Diên Thọ. Ảnh TL do NĐX sưu tập

Quốc trưởng rất hài lòng thấy tại miền Trung có một quân đội hoàn toàn Việt Nam, do chính sĩ quan Việt Nam chỉ huy, tinh thần cũng như tác phong hùng dũng, gương mẫu, không thua gì quân đội chính qui của Pháp.

Cũng trong năm 1949, Tướng Phan Văn Giáo cho tổ chức một hội chợ  rất qui mô tại vườn hoa Bến Thương Bạc bên sông Hương để trưng bày thành tích của Việt Binh Đoàn. Hội chợ đã thu hút được hàng vạn người tham dự, trong đó có nhiều chính khách, tướng tá, các nhân sĩ, thương gia từ Hà Nội, Đà Lạt, Sài Gòn đến tham dự.

Giải pháp Bảo Đại đã khai sinh ra Việt Binh Đoàn, tiền thân đích thực của Quân đội Việt Nam Cọng Hòa sau này, một đội quân Việt Nam trên phương diện tổ chức, nhân sự và đường lối Việt Nam. Tuy người Pháp lúc bấy giờ có thành lập một số “tiểu đoàn Việt Nam” nhưng những tiểu đoàn này vẫn do sĩ quan Pháp hoặc tay sai của họ chỉ huy và vẫn bị người Việt Nam khinh bỉ vì bản chất “lính đánh thuê” của chúng. Trái lại, Việt Binh Đoàn, dù chưa có truyền thống của một quân đội độc lập lâu dài, dù còn phải phối hợp với quân đội Pháp để cùng chiến đấu chống lại Việt Minh đã được xem là một “quân đội quốc gia”.

Bên cạnh Việt Binh Đoàn còn có trường Võ Bị Quốc Gia đầu tiên ở Huế (tại Đập Đá – nơi toạ lạc KS Hương Giang ngày nay). Trường nầy đã cung cấp cho quân đội Việt Nam Cộng Hoà sau này những sĩ quan chỉ huy cấp tướng và cấp tá. Cũng chính Việt Binh Đoàn đã đào tạo ra những sĩ quan sau này được chọn lựa vào Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Tổng Thống Phủ của ông Ngô Đình Diệm và những cấp chỉ huy của hai sư đoàn 1 và 2 ở Quảng Trị và Thừa Thiên.

Ông Giáo không phải là người hoàn toàn và chắc chắn đã có những lỗi lầm cá nhân, nhưng trên mặt công việc, nhất là công việc chung, theo ông Đỗ Mậu “ông Phan Văn Giáo là một nhân vật có lập trường quốc gia chống Cộng rất vững chắc, một cán bộ cao cấp có tài tổ chức, có tầm nhìn xa và rộng, lại có tinh thần đoàn kết rộng rãi và biết trọng dụng nhân tài. Đã từng công tác với ông trong một số công việc khó khăn và quan trong, tôi cứ tiếc hoài một người như ông Phan Văn Giáo mà không làm Bộ trưởng Quốc Phòng để tổ chức và chỉ huy quân đội quốc gia…” để đương đầu với kháng chiến.

2. Những bước thăng trầm

Là một chính khách muốn vươn lên nắm những chức vụ có quyền lực, Thủ hiến miền Trung- tướng Phan Văn Giáo đã ra Bắc vào Nam vận động lực lượng mới. Ngày 6-10-1950, Tướng Phan Văn Giáo ra Hà Nội họp với Nguyễn Hữu Trí và Phạm Công Tắc (giáo chủ đạo Cao Đài Tây Ninh). Theo tình báo Pháp lúc ấy cho Phan Văn Giáo có ý thân cận với Đại Việt để có thể thành lập một Quân lực Việt Nam dưới trướng của Phan Văn Giáo. Lê Thăng (Tiến sĩ Luật, Hội đồng Thành phố Hà Nội và Viện Dân biểu bắc Kỳ, vợ đầm) và Phan Huy Quát (Y sĩ, Bộ trưởng QGGD, Đảng Đại Việt) theo lời mời của Phan Văn Giáo đã vào thăm Huế, thăm lực lượng Việt Binh Đoàn. Lực lượng đối trọng với Phan Văn Giáo là Thiên Chúa Giáo chống Cộng. Người đứng đầu là Giám mục Lê Hữu Từ. Ngày 17-10-1950, nhân đi kinh lý Hội An, Phan Văn Giáo chỉ trích đường lối thân Mỹ của Lê Hữu Từ (Giám mục ở Phát Diệm). Khẳng định mình luôn hướng về Pháp.

Vì quá chú trọng đến việc phát triển Việt Binh Đoàn, Thủ hiến Phan Văn Giáo không quan tâm đúng mức đến các hoạt động hành chính, dân sự. Ngày 31-10-1950, trong báo cáo tháng 10/1950 nhận định rằng Thủ hiến Phan Văn Giáo “hay đi khỏi Huế, công việc gần như “chết”. Phan Văn Giáo một lòng theo Pháp nhưng lại không được lòng Thiên chúa giáo và chính quyền Pháp. Hậu quả là Bộ trưởng Quốc phòng Pháp không đồng ý ký nghị định thăng cấp sĩ quan cho một số Việt Binh Đoàn mà tướng Phan Văn Giáo  với tư cách ‘Tổng thanh tra quân đội” đã gắn lon cho họ. Lương của Hạ sĩ quan và binh lính ở miền Trung cũng thấp hơn các quân nhân cùng cấp bậc trong quân đội Pháp. Dẫu vậy, Việt Binh Đoàn ở miền Trung dưới quyền Phan Văn Giáo vẫn tiến bộ đều đặn. Và không những những sĩ quan, hạ sĩ quan binh lính dưới quyền Phan Văn Giáo bị thiệt thòi mà chính bản thân Phan Văn Giáo cũng khó giữ được địa vị của mình trước mắt thế lực Thiên chúa giáo thân Pháp. Ngoài Thiên chúa giáo, Phan Văn Giáo còn phải đương đầu với lực lượng thân Pháp khác ở miền Nam mà người đứng đầu là Thủ tướng Trần Văn Hữu.

phanvangiaomongdiep

Thủ hiến Phan Văn Giáo trên du thuyền của Quốc trưởng Bảo Đại trên biển Nha Trang. Người phụ nữ ngồi cạnh là bà “Thứ phi” Mộng Điệp. Ảnh TL riêng của NĐX.

Tư liệu lưu trữ của Pháp cho biết sáng ngày 30/12/1950, Quốc trưởng Bảo Đại tiếp kiến Đại tướng de Lattre de Tassigny tại Ban mê thuột để họp với các lãnh tụ các sắc dân thiểu số cao nguyên Trung Việt và bàn về vấn đề thay đổi chính phủ Trần Văn Hữu.

baodai3

Quốc trưởng Bảo Đại và Đại tướng De Lattre de Tassigny tại Ban mê thuột. Ảnh TL của NĐX sưu tập

Quốc trưởng Bảo Đại cho rằng chưa tìm được người xứng đáng để làm Bộ trưởng Quốc Phòng cho quân đội Quốc gia Việt Nam. Quốc trưởng cũng không giấu ý kiến muốn cử tướng Phan Văn Giáo làm Tổng Tham Mưu Trưởng, và giữ bên cạnh Bảo Đại (Chính Đạo, 210). Nhưng sự thực trong nội bộ những người có quyền và có trách nhiệm của Pháp đã có sẵn một nhận định khác. Trong báo cáo về tình hình ở Huế, tháng 12/1950 của Tư lệnh miền Trung, Lorillot, do J. J. Poupaert, Giám đốc Hành chính [Administrateur des Services Civils], soạn thảo ngày 5/1/1951 thì:

– Việc cải thiện Việt Binh Đoàn miền Trung đang đi đúng đường. Việt Binh Đoàn tham gia chiến dịch bình định chống du kích ở miền Trung có kết quả. Nhưng các tỉnh trưởng chưa tròn nhiệm vụ, ngoại trừ Ninh Thuận, Khánh Hoà và Quảng Bình. Sự thất bại về lãnh vực hành chính này là nét đặc trưng của năm 1950. Một trong những lý do là thiếu viên chức có khả năng, nhưng phần lớn là do Thủ hiến Phan Văn Giáo đặt quá nhiều trọng tâm vào Việt Binh Đoàn và rồi việc thành lập Quân Đội Quốc Gia, sao lãng công tác hành chính. Thực tế, vấn đề cán bộ hành chính quan trong và cấp bách hơn cả cán bộ quân sự, nhưng các giới chức Việt không rõ điều này.

Việc tuyển chọn cán bộ hành chính phải khởi sự từ đầu, trước hết là tìm những người của hành động có khả năng nắm giữ quyền hành, việc thiết lập các trung tâm huấn luyện công chức hành chánh cần thiết, nhưng chỉ ở tầm quan trọng thứ hai. Sắc lệnh ngày 9/12/1950 của Bảo Đại bổ nhiệm các chức Đốc Sự và Giám Sự cho những người chỉ mới có sự hiểu bíêt hành chính tương đương với những sĩ quan mới học chỉ huy.

Sở Công An ở miền Trung, dưới quyền Trần Văn Mạnh, không hoạt động hữu hiệu như miền Nam. Phải cho y nhiều ngân sách hơn và nhiều nhân viên hơn, chúng ta sẽ thấy vấn đề đào tạo cán bộ vì thật khó khăn để cải thiện các viên chức cảnh sát.

Giáo dục, an sinh xã hội, công tác xã hội đều ở mức độ sơ đẳng (élémentaire). Đối mặt những cải cách điền địa và các lãnh vực khác của Việt Minh, chính phủ Việt Nam chẳng có gì chống lại. Ở miền Trung, có sự bất quân bình rõ ràng giữa những cố gắng quân sự, đã mang lại hiệu quả, và dân sự, mà người ta chưa khai phá. Tôi đã nhấn mạnh với Thủ hiến Phan Văn Giáo mới đây về điểm này, vì ông ta cần xúc tiến mạnh hơn về hướng đó.

Nhưng từ đầu tháng 1/1951, ông ta đang phải đương đầu một cách tế nhị với Chính phủ Trung ương. Những kế hoạch mà hiện nay ông Giáo đang muốn thực hiện:

– Được cử làm Tổng trưởng Quốc phòng.

– Đưa ông Lê Khắc Tưởng, đương kim Giám đốc Tài chính Trung phần, lên chức Tổng trưởng Tài chánh.

– Thành lập quân đội Quốc gia Việt Nam dưới quyền ông ta.

Tất cả những ước muốn trên hầu như đã thất bại. Không còn chuyện ông Giáo làm Tổng trưởng Quốc phòng, mà ngay cả chức Tổng Thanh Tra nữa cũng thế. Văn phòng Quốc trưởng cũng như chính phủ Trần Văn Hữu chống lại những vận động của Giáo. Ông Giáo, dù còn làm Thủ hiến, đang vận động làm Tư lệnh Sư đoàn miền Trung. Có lẽ Chính phủ Trung ương không muốn biến ông ta thành một Thủ hiến theo mốt Trung Hoa (à la Chinoise) hay tạo ra “một quốc gia trong một quốc gia”.

Nếu ông Gíao mất chức Thủ hiến, tương lai Việt Binh Đoàn sẽ:

-khủng hoảng (malaise et flotte -ment), đặc biệt trong số những cán bộ thân ông Giáo, và đào ngũ có thể xảy ra.

-những khó khăn này có thể vượt qua nếu biến các binh sĩ Công giáo thành lực lượng nòng cốt, và người thay ông Giáo là người có nhiệt tình và được Bảo Đại tín nhiệm.

Cách nào đi nữa, có vấn nạn “Phan Văn Giáo” trong việc thành lập quân đội Quốc gia Việt Nam. Thấy chẳng có ai có khả năng làm Thủ hiến. Trần Văn Lý – người tiền nhiệm của ông Giáo và là người Thiên chúa giáo  nhưng không được sự tin cậy  của Bảo Đại.

Ngày 20-7-1951, Thủ hiến Trung Việt Phan Văn Giáo bị Chính phủ Trần Văn Hữu cho về nghỉ dài hạn. Cựu Tuần vũ Trần Văn Lý (Đảng xã hội Thiên chúa giáo được Giám mục Ngô Đình Thục bảo trợ) được cử lên thay (Đoàn Thêm, 97). Việc Pháp huyền chức Phan Văn Giáo ngoài ý muốn của Quốc trưởng Bảo Đại, nhưng Quốc trưởng Bảo Đại cũng không ngăn được mà muốn cứu Phan Văn Giáo thì phải chờ một dịp khác.

Phan Văn Giáo về nghỉ gần một năm thì chính phủ Trần Văn Hữu đổ, Chính phủ Nguyễn Văn Tâm lên thay (6-6-1952). Theo đề nghị của Quốc trưởng Bảo Đại, ngày 25-6-1952, Nguyễn Văn Tâm mời Phan Văn Giáo trở lại chính trường và giao giữ chức Phó Thủ tướng kiêm luôn công tác Thông tin, Tuyên truyền (Đoàn Thêm 112). Ngồi ghế Phó Thủ tướng được hơn sáu tháng, dù được Quốc trưởng tín nhiệm, nhưng Pháp và Thiên chúa giáo vẫn gây sức ép, cuối cùng vào 8-1-1953, Phó Thủ tướng Phan Văn Giáo phải xin từ chức. Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm phải cải tổ Chính phủ và mời Lê Văn Hoạch thay Phan Văn Giáo (Đoàn Thêm, tr. 121). Lê Văn Hoạch: gốc Cần Thơ, Y sĩ Đông Dương, Thủ tướng Cộng hoà Nam Kỳ, Tín đồ đạo Cao Đài. Lê Xuân Khoa, tác giả sách Lịch sử Việt Nam xác nhận sự thật lịch sử ấy trong một đoạn ngắn gọn:

– “Thủ tướng chính phủ Trung ương Trần Văn Hữu chống Thủ hiến miền Trung Phan Văn Giáo, và cuộc vận động của Phan văn Giáo với Bảo Đại để ông kiêm nhiệm Tư lệnh Sư đoàn miền Trung đã khiến Tư lệnh người Pháp Lorillot nhận xét rằng Thủ hiến Giáo muốn tạo ra “một quốc gia trong một cuốn gia” (Khoa, tr.417). Đã bị Pháp nhận xét như thế rồi cho nên Phan Văn Giáo buộc lòng phải ra đi dù Quốc trưởng Bảo Đại không đồng ý cũng phải chấp nhận.

3. Thủ hiến Phan Văn Giáo ra  đi nhưng vẫn còn để lại…

Quốc trưởng Bảo Đại và Dược sĩ Phan Văn Giáo tuổi tác cách nhau đến trên một giáp (Phan Văn Giáo sinh năm 1901 và Bảo Đại sinh năm 1913) nhưng hai người thân với nhau trên sân quần vợt từ đầu những năm bốn mươi. Trong hoạt động chính trị, Dược sĩ họ Phan tích cực cộng tác với Pháp thực hiện “giải pháp Bảo Đại” (1948), ủng hộ Quốc trưởng Bảo Đại hết mình trong việc thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam (sau nầy là Quân đội VNCH). Ngoài ra trong đời sống tình cảm Dược sĩ Phan Văn Giáo và Quốc trưởng Bảo Đại còn là tình “anh em cột chèo”.

Như trên đã viết, Phan Văn Giáo là người thân cận nhất Quốc trưởng Bảo Đại từ sau ngày ông rời Hồng Kông về đóng đô ở Đà Lạt. Dược sĩ Phan biết rất rõ tính “ham chơi” của Cựu hoàng Quốc trưởng. Trong hoàn cảnh Hoàng hậu Nam Phương còn ở bên Pháp, bà “thứ phi” Bùi Mộng Điệp còn ở  Hà Nội chưa vô kịp, Dược sĩ Phan liền đem người em gái của cô tình nhân của mình là Lê Thị Phi Ánh “tiến dâng” cho Bảo Đại. Cô Phi Ánh trắng trẻo, cao ráo, mũi cao, mắt sáng, người đẹp nhất trong bốn cô Phi (Phi Lệ, Phi Hồng, Phi Hoa và Phi Ánh) con gái cụ Lê Quang Thừa (Ông Sáu) xuất thân danh gia vọng tộc ở Huế. Đang lúc “cô đơn”, gặp được Phi Ánh, Bảo Đại phải lòng ngay- [Ông Lê Quang Thừa là anh ruột ông Lê Quang Thiết làm việc ở Uỷ ban Chấp chánh Lâm thời đã viết ở trên]. Bảo Đại đã tặng cho Phi Ánh một món tiền lớn và xuất tiền mua cho cô một biệt thự gần ga Đà Lạt để ở.

Ngoài bà Nam Phương và bà Mộng Điệp, bà Phi Ánh cũng được công nhận là vợ chính thức của Bảo Đại. Bảo Đại và bà Phi Ánh có được hai người con là Phương Minh và Bảo Ân.

baphianhvobabaodai

 Bà Phi Ánh – người vợ thứ ba chính thức của Cựu hoàng Bảo Đại. Ảnh TL do NĐX sưu tập

Về sau Bảo Đại bị chế độ Ngô Đình Diệm phế truất phải sống lưu vong bên Pháp, bà Phi Ánh phải ở lại Sài Gòn bà phải “đi bước nữa” với một người thầu khoán giàu có và sau đó bà mất ở Sài Gòn. Hiện nay hai người con của bà với Cựu hoàng Bảo Đại đang định cư ở Hoa Kỳ.

Đối với người dân Huế, nhắc đến Dược sĩ Thủ hiến Phan Văn Giáo họ nhớ đến hai việc. Một là: Phan Văn Giáo tổ chức Việt Binh Đoàn chống lại cuộc du kích chiến của Việt Minh rất ác liệt; hai là: Dược sĩ Thủ hiến Phan Văn Giáo rất mê nữ sinh đẹp của xứ Huế. Mỗi lần ông đến thăm trường Đồng Khánh, thấy nữ sinh nào đẹp ông liền để ý và cho người mời lên Phủ Thủ Hiến (nay là khách sạn Résidence tại 5 Lê Lợi Huế) cho ông gặp. Nhiều hiệu trưởng, Giám thị trường Đồng Khánh sợ lắm nhưng không dám trái lệnh ông. Theo dư luận có nhiều nữ sinh đã bước qua thời con gái trong Phủ Thủ hiến của họ Phan. Cũng có nữ sinh sau khi thất thân với ông, ông vận động cho sang Pháp và sau trở thành nhà thơ nhà văn nổi tiếng. Cũng theo dư luận, tác giả bài thơ được Phạm Duy phổ nhạc “Kiếp nào có yêu nhau” là một trong những tình nhân miễn cưỡng của Dược sĩ Phan Văn Giáo.

*

*       *

Đối với cuộc kháng chiến chống Pháp ở miền Trung, Dược sĩ Phan Văn Giáo là một kẻ có trọng tội. Nhưng chuyện cũ đã đi qua hơn nửa thế kỷ rồi, nó đã thành lịch sử, nên dù muốn dù không Dược sĩ Phan Văn Giáo cũng là một nhân vật lịch sử. Và, khi Dược sĩ đã là một nhân vật lịch sử thì người viết sử phải hiểu con người, tư tưởng và hành trạng của họ một cách xác thực mới viết sử đúng được. Phan Văn Giáo là một trí thức làm kinh tế giỏi, có đầu óc tổ chức quân đội hiện đại. Chỉ tiếc cái tài đó phục vụ cho một mục đích đi ngược với ý muốn giải phóng đất nước của dân tộc nên đã thất bại. Mặt khác, về  phía kháng chiến phải đương đầu với một người có tài và có thế lực như thế mà thắng được, sự chiến thắng đó rất có giá. Và, cũng qua quãng đời Phan Văn Giáo đứng đầu miền Trung thời Cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng (1949-1954) người viết sử nắm được nội bộ của các lực lượng thân Pháp chống lại kháng chiến như thế nào. Thời Phan Văn Giáo làm Thủ hiến Trung phần, ở Huế có các thế lực: gia đình họ Ngô của Thiên chúa giáo (đứng đầu là Giám mục Ngô Đình Thục), thế lực Thiên chúa giáo của Giám mục Lê Hữu Từ, các tổ chức của đảng Đại Việt, Quốc Dân đảng. Phan Văn Giáo có quan hệ với Đại Việt nên không được các thế lực trên hậu thuẫn. Ngoài ra, Phan Văn Giáo còn phải đương đầu với Trần Văn Hữu nặng tình với “Nam kỳ quốc”. Phan Văn Giáo gắn bó sự nghiệp chính trị của mình với Cựu hoàng Bảo Đại. Vì thế sau năm 1954, sự nghiệp chính trị của Cựu hoàng cáo chung thì cuộc đời chính trị của Phan Văn Giáo cũng chấm dứt. Dù sao, sự thất bại trong hoạt động chính trị của Phan Văn Giáo cũng là một bài học cho trí thức Việt Nam bây giờ và cho cả mai sau.

Gác Thọ Lộc, Mùa Đông 2007

 Nguyễn Đắc Xuân


Sách tham khảo

* Cao Thế Dung, Việt Nam ba Mươi Năm Máu Lửa, Alpha (Hoa Kỳ) 1991
*Chánh Đạo, Việt Nam Niên Biểu (1939-1975), (tập B: 1947-1954), Nxb Văn Hoá (Hoa Kỳ) 1997
* Chánh Đạo, Nhân Vật Chí, Nxb Văn Hoá (Hoa Kỳ) 1997
*Đoàn Thêm, HAI MƯƠI NĂM QUA, VIỆC TỪNG NGÀY (1945-1964), Nam Chi Tùng Thư, SG 1966
* Gouvernement Général de L’Indochine, Souverains et Notabilités D’ Indochine IDEO -1943
* Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945-1995 – Chiến tranh, Tị nạn, Bài học lịch sử, Tập I, Tiên Rồng (Hoa Kỳ) 2004
* Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam, Édit. Du SEUIL, 1952
* Trần Trọng Kim, Một Cơn Gió Bụi, Nxb Vinh Sơn, SG 1969
* Trần Văn Đôn, Việt Nam Nhân Chứng, Nxb Xuân Thu (Hoa Kỳ),1989
* Và nhiều tài liệu hình ảnh riêng của Nguyễn Đắc Xuân do bà Bùi Mộng Điệp cung cấp.

 

Video yêu thích


Hồ Chí Minh – Ẩn số Việt Nam “Đó là lãnh tụ của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thành công nhất mà chúng ta thấy trong thế kỉ này”.
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Minh triết Hồ Chí Minh

MinhtrietHoChMinh

365 CHUYỆN KỂ MỖI NGÀY. Minh triết Hồ Chí Minh. Ngày 2 tháng 9 là ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là ngày Quốc Khánh Việt Nam, ngày khai sinh  nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 19 tháng 5 là ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là ngày thành lập Việt Minh, ngày khai sinh đường Hồ Chí Minh trong lịch sử. chuỗi năm sự kiện lớn này như ngôi sao vàng năm cánh, như năm ngón tay trên một bàn tay, đóng mốc son ngày 2 tháng 9 và ngày 19 tháng 5 vào lịch sử Việt Nam và thế giới đối với nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sự nghiệp thống nhất Tổ quốc Việt Nam.

Hồ Chí Minh trọn đời minh triết. Việt Nam Hồ Chí Minh là biểu tượng Việt; Hồ Chí Minh nói đi đôi với làm mẫu mực đạo đức có lý có tình; Hồ Chí Minh rất ít trích dẫn, thực tiễn, quyền biến, năng động ; Hồ Chí Minh kiên quyết khôn khéo trong tổ chức tuyên truyền cách mạng, giỏi thu phục tập hợp hiền tài.

Vì sao khi hình thành một nước Việt Nam mới không có giải pháp hợp tác giữa Hồ Chí Minh, Bảo Đại, Ngô Đình Diêm, Nguyễn Trường Tam, Trần Trọng Kim, Nguyễn Hải Thần, Phạm Quỳnh, Hoàng Xuân Hãn, Phan Văn Giáo … ?  Đó là những nhân vật lịch sử lớn chi phối sâu sắc đối với thời cuộc. Bài học lịch sử là khối vàng ròng giá trị to lớn cần thấu hiểu và cắt nghĩa cho đúng. Sự thật lịch sử đang sáng tỏ dần.  Bước ngoặt lịch sử Việt Nam mới. Bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dương. Tướng Giáp là ẩn số Chính Trung, … Đọc lại và suy ngẫm.

Việt Nam Hồ Chí Minh là biểu tượng Việt.

Bác Hồ là biểu tượng của thế giới người hiền, là tinh hoa văn hóa Việt gốc và văn hóa tương lai.

Giáo sư Trần Văn Giàu trong bài viết Nhân cách lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã luận về bảy phẩm chất nhân cách mà cũng là minh triết của Bác Hồ được con dân nước Việt và thế giới ngợi ca. Đó là : Ưu tiên đạo đức, Tận tụy quên mình, Kiên trì bất khuất, Khiêm tốn giản dị, Hài hòa kết hợp, Thương, quý người, nâng đỡ con người, thấu tình đạt lý, Yêu thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên. Giáo sư Trần Văn Giàu kết luận: “Xin mượn ý của một nhà báo ở châu Đại Dương để tạm kết chủ đề luận về nhân cách Hồ Chủ tịch: Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn”.

Bác sĩ Vũ Đình Tụng đã kể câu chuyện Bức thư huyết lệ trong hàng vạn chuyện đời thường về Bác Hồ, xin được trích nguyên văn: 8 giờ đêm – một đêm tháng Chạp năm 1946 – bác sĩ Vũ Đình Tụng phải mổ một trường hợp chiến thương quá đặc biệt và rất đau lòng: một chiến sĩ “sao vuông” rất trẻ, tuy vết thương nặng, đạn xé tung cả một khúc ruột mà miệng vẫn mỉm cười, cái nụ cười quá quen thuộc và thân thương đối với bác sĩ. Anh tự vệ Thủ đô ấy, người chiến sĩ gan góc ấy lại chính là Vũ Văn Thành, con trai út của bác sĩ.

Suốt ngày hôm ấy, tôi đã phải mổ cưa gắp đạn và khâu vết thương cho hàng chục chiến sĩ nhưng đến trường hợp con tôi, thần kinh tôi căng lên một cách kinh khủng. Mấy người giúp việc khuyên tôi nên nghỉ tay, nhưng tôi vẫn cố kìm mình để giữ bình tĩnh gắp mảnh đạn cuối cùng trong thân thể người con. Xong việc, tôi loạng choạng rời khỏi bàn mổ.

Các bác sĩ và những người giúp việc đã cố gắng nhiều, nhưng vết thương do quân thù gây ra quá nặng đã cướp đi mất Thành, con trai của tôi, anh của Thành là Vũ Đình Tín, tự vệ chiến đấu cũng vừa bị mất sau ngày Tổng khởi nghĩa, tôi đau đớn đến bàng hoàng.

Một buổi chiều trời rét lắm, sau đêm Nôen cuối cùng ở bệnh viện Bạch Mai, bị bom đạn tàn phá, vào lúc tôi mổ xong một ca thương binh nhẹ thì bác sĩ Trần Duy Hưng, lúc bấy giờ giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ trân trọng trao cho tôi một bức thiếp của Hồ Chủ tịch. Tôi cảm động quá. Mới đầu tôi cứ ngỡ là một mệnh lệnh mới của Người. Nhưng thật không ngờ, đó lại là một bức thư riêng đầy tình cảm lớn lao của Bác chia đau thương với gia đình tôi. Khi đó, Bác gọi tôi là “Ngài”.

“Thưa Ngài,
Tôi được báo cáo rằng: con giai Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.

Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột.

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước – Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi, tinh thần họ luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc. Những thanh niên đó là anh hùng dân tộc. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ.

Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây, chắc Ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng.

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn Ngài, và gửi Ngài lời chào thân ái và quyết thắng.
Tháng 1-1947
Hồ Chí Minh”

Đọc xong bức thư, tôi thấy bàng hoàng. Bác bận trăm công nghìn việc, thế mà Bác vẫn nghĩ đến tôi, một gia đình đang có cái tang đau lòng như hàng vạn gia đình khác.

Tôi thấy nỗi đau thương và sự hy sinh của gia đình mình trở thành nhỏ bé trong cái tình thương mênh mông và sự hy sinh cao cả của Bác đối với cả dân tộc. Tôi nhủ mình sẽ phải làm tốt công việc để xứng đáng với sự hy sinh của các con và khỏi phụ lòng Bác.

Sau đó, tôi theo Bác lên Việt Bắc – căn cứ thần thánh của cách mạng Việt Nam. Từ một người thầy thuốc của xã hội cũ, một giáo dân ngoan đạo, tôi đã trở thành một người thầy thuốc tốt, một Bộ trưởng Bộ Thương binh xã hội của nước Việt Nam mới.

Vũ Đình Tụng kể, Lê Thân ghi, theo báo Nghệ An, tháng 9-1994

Tổ chức UNESCO tại kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 24 ở Paris năm 1987 đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh  là “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa do các đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Người trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, và Người đã dành cả cuộc đời mình cho sự giải phóng nhân dân Việt Nam, đóng góp cho cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của các dân tộc.

19 tháng 5 là ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là ngày thành lập Việt Minh và khai sinh đường Hồ Chí Minh trong lịch sử. Hành trình đến tự do hạnh phúc của dân tộc Việt đã trãi qua giành độc lập dân tộc và đấu tranh  thống nhất Tổ quốc trong cuộc trường chinh thế kỷ . Minh triết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp đấu trang giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc quy non sông vào một mối. Những việc khác Bác có Di chúc để lại cho đời sau.  Công lao và những biến đổi phần sau không thể và không nên quy hết về Người. Có một số uẩn khúc đời người cần có đủ tư liệu mới đánh giá đầy đủ.

Bác Hồ có bài thơ “Chơi chữ” rất lạ vào những ngày đầu khởi lập nước Việt Nam mới.Đó  là một kỳ thư, kinh Dịch độc đáo, một luận giải sứ mệnh và tự đánh giá về mình của Bác:

Chơi  chữ

Hồ Chí Minh

(Bản dịch của Nam Trân):

Người thoát khỏi tù ra dựng nước,
Qua cơn hoạn nạn, rõ lòng ngay;
Người biết lo âu, ưu điểm lớn,
Nhà lao mở cửa, ắt rồng bay!

Nguyên tác:
Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc,
Hoạn quá đầu thì thuỷ kiến trung;
Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,
Lung khai trúc sản, xuất chân long.

折字
Chiết tự
Chơi chữ
囚人出去或為國
患過頭時始見 忠
人有憂愁優點大
籠開竹閂出真龍

Chiết tự là một hình thức phân tích chữ Hán ra từng bộ phận để thành những chữ mới, có ý nghĩa khác với ý nghĩa ban đầu. Theo lối chiết tự, bài thơ này còn có nghĩa đen như sau: chữ tù (囚) bỏ chữ nhân (人), cho chữ hoặc (或) vào, thành chữ quốc (國). Chữ hoạn (患) bớt phần trên đi thành chữ trung (忠). Thêm bộ nhân (人) đứng vào chữ ưu (憂) trong “ưu sầu” thành chữ ưu (優) trong “ưu điểm”. Chữ lung (籠) bỏ bộ trúc đầu (竹) thành chữ long (龍).

Bác Hồ nói đi đôi với làm mẫu mực đạo đức

Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng chuyên nghiệp, mẫu mực về đạo đức cách mạng, là tấm gương sáng về tự học suốt đời. Người nói: “Học ở đâu? Học ở trường, học trong sách vở, học lẫn nhau và học ở dân“. Người luôn nói và làm đi đôi., học không biết mỏi, dạy không biết chán.

Bác viết: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Jêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Jêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có ưu điểm chung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, tôi tin rằng họ nhất định sống chung với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm một người học trò nhỏ của các vị ấy..” Trích “Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng”, NXB Khoa học xã hội, H.1996, trang 152. (Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng).

Nói và làm của Hồ Chí Minh điều gì cũng minh triết và thiết thực. Từ bài “Tâm địa thực dân” viết ở Pháp năm 1919 đến “Tuyên ngôn độc lập” năm 1945. Từ “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” năm 1945 đến “Lời kêu gọi sau khi hội nghị Giơnevơ thành công” năm 1954. Từ “Lời phát biểu trong buổi đón tiếp Ủy ban Quốc tế” năm 1954 sau cuộc chiến tranh Đông Dương tàn khốc và dai dẳng 8,9 năm  đến “Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” công bố năm 1969 lúc cuộc chiến tranh Việt Nam đang ở giai đoạn dữ dội và ác liệt nhất. Việc làm nào, lời nói nào của Bác Hồ đều là nói đi đôi với làm, là khuôn vàng thước ngọc của đạo đức cách mạng “cần, liêm, chính, chí công vô tư“. Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất Tổ Quốc, tự do và hạnh phúc của dân. Người viết: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước được độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”  Tư tưởng xuyên suốt của Người là “Việc gì lợi cho dân , ta phải hết sức làm. Việc gì hạicho dân ta phải hết sức tránh” “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công

Hồ Chí Minh có nhiều bài chuyên bàn về đạo đức và đạo đức cách mạng. Đó là các bài “Đạo đức công dân” (1-1955), Đạo đức cách mạng (6-1955; 12-1958), “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (2-1969). Người chủ trương phát triển văn hóa gắn liền với đời sống mới, kêu gọi thực hành đời sống mới trong mọi lĩnh vực, mọi tầng lớp và trong từng con người. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: ” Đời sống mới không phải là cái gì cũ cũng bỏ hết không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý…; Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm …; Cái gì mới mà hay thì ta phải làm

Bác Hồ rất ít trích dẫn !

Ông Trường Chinh nói với ông Hà Đăng khi chiêm nghiệm về phong cách văn chương của chủ tịch Hồ Chí Minh: Bác Hồ rất ít trích dẫn. Lúc đầu tôi cũng cho là ngẫu nhiên. Về sau, hỏi trực tiếp, Bác nói: Mác, Ang ghen, Lê Nin nói rất đúng. Nhưng hoàn cảnh Mác, Ang ghen, Lê Nin hoàn toàn khác hoàn cảnh của chúng ta. Vậy nên muốn nói gì, trước hết phải hiểu cho thật rõ điều mà các vị ấy muốn nói, nói cho phù hợp với hoàn cảnh của mình, cho dân mình dễ hiểu. Do đó, Bác viết bằng sự suy nghĩ của mình. Bác rất ít trích dẫn”. (Hà Đăng 2002. Trường Chinh, người anh cả trong làng báo. Trong sách: Trường Chinh, một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 320). Ông Trường Chinh là một trong những người làm việc lâu nhất, thường xuyên nhất với Bác. Những chắt lọc và nhận xét trên đây chắc chắn là điều cần cho chúng ta suy ngẫm.

“Bác viết bằng sự suy nghĩ của mình. Bác rất ít trích dẫn” đó là phong cách văn chương của Hồ Chí Minh. Những người thông hiểu lịch sử, văn hóa, hiểu sâu các điển cố văn chương, chuyện hay tích cổ sẽ có thể chỉ ra vô số những điều trùng khớp của những lời hay ý đẹp từ xa xưa đã được Bác vận dụng một cách hợp lý hợp tình trong thời đại mới. Bác là người chú trọng ngôn ngữ giản dị, ngắn gọn, dễ hiểu, có tính thuyết phục cao, có nhịp điệu. Một thí dụ nhỏ như câu: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào/ Học tập tốt, lao động tốt/ Đoàn kết tốt, kỹ luật tốt/ Giữ gìn vệ sinh thật tốt/ Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” là câu sáu chữ có nhịp điệu như câu thơ cổ.

Hồ Chí Minh trọn đời minh triết

Một số vĩ nhân còn lầm lẫn và khuyết điểm vào một thời điểm nào đó trong đời, riêng Bác Hồ thì chưa tìm thấy. Tôi cố gắng làm một người học trò nhỏ của Bác, học sự minh triết “dĩ công vi thượng”, tâm đức, quyền biến, năng động. Học làm người phúc hậu, thực việc, nói đi đôi với làm, chắt lọc tinh hoa lý luận và thực tiễn để vận dụng linh hoạt, sáng tạo, và thích hợp vào đời sống của mình.

Bác Hồ nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.  Suốt đời Bác làm hai việc chính là kiến tạo Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) thành một mặt trận rộng rãi “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công thành công, đại thành công” thực hiện “kế sách một chữ đồng” giành độc lập dân tộc và mở đường thống nhất Việt Nam.

Bác Hồ thật đúng là: “Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh. Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành. Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy. Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH”.

Hồ Chí Minh khéo tập hợp hiền tài

Bác kiên quyết khôn khéo tổ chức tuyên truyền cách mạng, giỏi thu phục tập hợp hiền tài.

ChinhphuHoChiMinh1961

Lãnh đạo Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đầu năm 1961, (ảnh Phan Chí) đã soi thấu nhiều góc khuất của bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dươngminh triết Hồ Chí Minh.

GSTranTheThong1
“Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ sống mãi”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp phát biểu tại cuộc Hội thảo Quốc tế Hồ Chí Minh Việt Nam và Hòa Bình Thế Giới, Calcutta Ấn Độ 14-16 tháng 1 năm 1991. Lưu bút của đại tướng Võ Nguyên Giáp thân tặng Trần Thế Thông, (Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam) Xuân Tân Mùi năm 1991.

Vietnammoitulieulichsu

Việt Nam mới được tính từ ngày 2 tháng 9 năm 1945, đó là Việt Nam Dân chủ Cộng hòaBác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tướng Giáp là ẩn số Chính Trung. Cách mạng là sửa lại cho đúng để hợp thời thế. Chí Thiện là Chính Trung dĩ bất biến ứng vạn biến. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491– 1585) trong Trung Tân quán bi ký, viết năm 1543 có nói: Vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê… Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện (xem thêm: Ngày xuân đọc Trạng Trình). Tướng Giáp biết nhiều, tâm đắc với “dĩ công vi thượng”. Tướng Giáp hiểu rõ Chính Trung là Chí Thiện của Hồ Chí Minh.

Sự cân nhắc đúng tầm mức chi phối thời cuộc của Pháp, Trung Hoa Dân Quốc, Anh, Trung Hoa Cộng sản, Mỹ, Nga. Sự lợi dụng mau lẹ và kiên quyết trước phong trào vô sản quốc tế và cộng sản đang trỗi dậy, ngọn nến hoàng cung vương triều Nhà Nguyễn phong kiến đang suy tàn nhưng có những lực cản thật mạnh mẽ, hệ thống thuộc địa thực dân cũ đã lung lay và hệ thống thực dân mới đang chuyển đổi nhanh chóng. Sự cần thiết đánh giá đúng tầm vóc và vị thế lịch sử của Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng,  Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Đế Duy Tân, Bảo Đại, Trần Trọng Kim, Ngô Đình Diệm, Hoàng Xuân Hãn, Trần Văn Giàu, Phạm Quỳnh,  Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Trường Tam, Phan Văn Giáo, … Bài học lịch sử là khối vàng ròng giá trị to lớn cần thấu hiểu và cắt nghĩa cho đúng. Sự thật lịch sử sáng tỏ dần.

HoChiMinh VoNguyenGiap

Kẻ phi thường giữ nước

2 tháng 9 là ngày khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng là ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 70 năm nhìn lại lịch sử trước và trong những ngày cách mạng tháng tám, đánh giá tầm vóc lịch sử của ngày Việt Nam độc lập.

Hồ Chí Minh chọn “Đường kách mệnh” phát động “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta“, làm cách mạng theo Lê Nin, mà không chọn cải lương tôn quân theo Không Tử. Người chọn theo phe Đồng Minh mà không chọn theo phe Trục của Nhật, Đức, Ý như vua Bảo Đại và chính quyền Trần Trọng Kim. Người chọn Liên Xô, Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng Sản Trung Quốc làm chỗ dựa “giành và giữ chính quyền” chứ không chọn Trung Hoa Dân Quốc, Pháp, Anh để duy trì chế độ quân chủ và sự cai trị trở lại của Pháp như cũ.

Đọc lại và suy ngẫm bài viết của Bác Hồ về “Khổng Tử” đăng trên báo “Thanh Niên”, cơ quan huấn luyện của tổ chức Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Quảng Châu ngày 20/2/1927. Hồ Chí Minh chọn đường lối cách mạng thì theo phương pháp và cách tổ chức của Lê Nin mặc dù suốt đời Người ưu tiên đạo đức thực hành đức trị theo Khổng Tử.

Bác viết: “Khổng Tử đã viết “Kinh Xuân Thu” để chỉ trích “những thần dân nổi loạn” và “những đứa con hư hỏng”, nhưng ông không viết gì để lên án những tội ác của “những người cha tai ác” hay “những ông hoàng thiển cận”. Nói tóm lại, ông rõ ràng là người phát ngôn bênh vực những người bóc lột chống lại những người bị áp bức… Nếu Khổng Tử sống ở thời đại chúng ta và nếu ông khăng khăng giữ những quan điểm cũ thì ông sẽ trở thành phần tử phản cách mạng. Chính phủ Trung Quốc đã làm mất đi một thể chế cũ trái với dân chủ. Còn những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng đọc các tác phẩm của Khổng Tử và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin!”.

Hồ Chí Minh sọạn thảo Báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản ngày 12 tháng 7 năm 1940. Tài liệu tổng hợp, phân tích và đánh giá đầy đủ, toàn diện tình hình và cực kỳ súc tích, thể hiện tầm nhìn thiên tài và nhãn quan chính trị kiệt xuất, sâu sắc hiếm thấy. Người viết:

Tóm lại, những điều kiện khách quan cho phép chúng tôi có hi vọng thành công. Song, lực lượng chủ quan- lực lượng của Đảng còn quá yếu. Như trên đã nói, một đảng mới mười tuổi lại trãi qua hai lần khủng bố lớn, số cán bộ có kinh nghiệm đấu tranh hiện còn đang rên xiết trong tù ngục, khiến đảng viên và quần chúng như “rắn mất đầu” không thể tận dụng cơ hội tốt “nghìn năm có một”.

Chúng tôi liệu có khả năng làm thay đổi hoàn cảnh đó, khắc phục khó khăn đó, giúp Đảng hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó hay không? Có.

Chúng tôi nhất định không thể từ trong đánh ra. Chúng tôi chỉ có cách từ ngoài đánh vào. Nếu chúng tôi có được: 1) Tự do hành động ở biên giới; 2) Một ít súng đạn; 3) Một chút kinh phí; 4) Vài vị cố vấn thì chúng tôi nhất định có thể lập ra và phát triển một căn cứ địa chống Pháp, chống Nhật – đó là hi vọng thấp nhất. Nếu chúng tôi có thể mở rộng Mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức, có thể lợi dụng mâu thuận giữa các nước đế quốc thì tiền đồ tươi sáng là có thể nhìn thấy được. Tôi rất hi vọng các đồng chí giúp tôi nhanh chóng giải quyết vấn đề này. 12.7.40.” (Hồ Chí Minh Toàn tập t. 3 tr. 162-174).

Cách mạng tháng Tám khởi đầu là “giành chính quyền về tay nhân dân” ở Hà Nội (ngày 19/8) sau đó là Huế (ngày 23/ 8) và Sài Gòn (ngày 25/8). Trước kia trong sách lịch sử, kể cả sách giáo khoa, ngày 19/8 được gọi là  ngày “cướp chính quyền”, sau này sửa lại thành ngày “giành chính quyền”, về sau nữa thì sửa lại thành “giành chính quyền về tay nhân dân” (đúng như nhân xét của FB Hoang Bui). Ý nghĩa cơ bản cuộc cách mạng tháng 8 trong sách giáo khoa lịch sử được ghi nhận: Lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm; Xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm; Đập tan ách phát-xít Nhật; Giành chính quyền về tay nhân dân, nhân dân trở thành chủ nhân đất nước.

Tình thế của thời cơ cách mạng tháng Tám đã diễn ra đúng như sự mô tả tại Từ điển Bách khoa Mở Wikipedia. Sau khi quân Nhật triệt hạ quân Pháp tại Việt Nam và muốn Việt Nam trở thành đồng minh sau chiến tranh, Nhật đã tuyên bố trả độc lập cho Việt Nam, và Việt Nam đã thành lập chính phủ quân chủ lập hiến do ông Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Thể chế quân chủ lập hiến này tương tự thể chế của Nhật hiện tại.

Ngày 11-3, vua Bảo Đại ra “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, hủy bỏ Hòa ước Patenôtre 1884 ký với Pháp, khôi phục chủ quyền đất nước. Ngày 17-8, chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh chào mừng độc lập, ngày 19/8, hưởng ứng lời kêu gọi mừng độc lập, nhân dân hàng chục vạn người nô nức kéo về Hà Nội đứng đầy quảng trường. Lực lượng Việt Minh đã cho người trà trộn, phát cờ đỏ sao vàng cho người dân, đồng thời đã cướp diễn đàn, hạ hoàng kỳ và treo cờ đỏ sao vàng lên, kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh. Cuộc mít tinh nhanh chóng biến thành cuộc biểu tình cướp chính quyền.

Việc tập dượt quần chúng tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền, thay đổi hình thức tuyên truyền, tổ chức đấu tranh để thích hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa, không phải tự dưng mà có cùng lúc được khắp cả nước. Cách mạng tháng Tám thành công bài học  quan trọng nhất là tổ chức được Việt Minh và lựa đúng thời cơ tổng khởi nghĩa.

Tháng 5 năm 1941 các lực lượng ái quốc, trong đó nòng cốt là Đảng Cộng Sản Đông Dương, dẫn đầu bởi Hồ Chí Minh, tập họp tại một địa điểm gần biên giới Việt- Trung, tham gia một tổ chức đứng về phía Đồng Minh giành độc lập cho Việt Nam gọi là Việt Nam Độc lập Đồng minh, thường được gọi vắn tắt là Việt Minh. Tổ chức này xây dựng một chiến khu do họ kiểm soát ở biên giới Việt Trung. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Võ Nguyên Giáp thành lập một trung đội 34 người mang tên Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (một trong những tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam), ngay sau khi thành lập đã tiến đánh quân Nhật, mở rộng chiến khu. Trước khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, chiến khu đã bao gồm nhiều tỉnh vùng đông Bắc Bắc Bộ, gọi là chiến khu Việt Bắc. Phản ứng trước sự kiện Nhật đảo chính Pháp, ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” nhằm phát động cao trào kháng Nhật cứu nước.

Trước tình thế này, Nhật đề nghị giúp đỡ chính quyền vua Bảo Đại vãn hồi trật tự và ổn định tình hình, nhưng vua Bảo Đại đã từ chối, ông đã nói một câu nói nổi tiếng: “Ta không muốn một quân đội nước ngoài làm đổ máu thần dân ta”. Vua Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim đã trói tay quân Nhật, để nhường lợi thế lại cho “người nhà” mình.

Cách mạng tháng Tám là việc Việt Minh tiến hành khởi nghĩa buộc chính phủ Đế quốc Việt Nam do vua Bảo Đại phê chuẩn, được Nhật bảo hộ, bàn giao chính quyền trung ương và các địa phương cho lực lượng này trong tháng 8 năm 1945. Việc chuyển giao quyền lực được chính phủ Đế quốc Việt Nam thực hiện cơ bản trong hoà bình, ít có đụng độ dù xảy ra tranh chấp với lực lượng Nhật, Đại Việt, Hòa Hảo,… ở một số địa phương. Lực lượng quân đội Nhật tại Việt Nam không có phản ứng đáng kể trước những hoạt động của Việt Minh vì lúc này Nhật đã tuyên bố đầu hàng đồng minh và đang chờ quân đồng minh tới giải giáp, hơn nữa vua Bảo Đại và Thủ tướng Đế quốc Việt Nam Trần Trọng Kim đã từ chối lời đề nghị của Tư lệnh quân đội Nhật giúp chính phủ chống lại Việt Minh.

Tại thời điểm cách mạng tháng Tám  thì các đảng phái khác như Đại Việt, Việt Nam Quốc dân đảng… cũng có hành động tương tự buộc chính quyền Đế quốc Việt Nam tại một số ít địa phương trao quyền lực cho họ. Trừ một số địa phương tỉnh lỵ Hải Ninh (nay thuộc Quảng Ninh), Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Vĩnh Yên nằm trong tay Việt Quốc, Việt Cách và quân Tưởng; còn lại chính quyền Việt Minh đã được thiết lập trên toàn bộ các tỉnh lỵ (muộn nhất 28/8: Đồng Nai Thượng, Hà Tiên), hầu hết địa phương trong cả nước. Một số nơi có khó khăn hơn như Hà Giang, quân Tưởng bức rút quân Nhật (29/8), Cao Bằng (giành chính quyền 21/8 nhưng sau đó quân Tưởng tràn vào), Lạng Sơn (giành chính quyền sau đó Tưởng tràn vào, tháng 10 mới thành lập chính quyền cách mạng), Vĩnh Yên (Quốc dân đảng nắm giữ), Hải Ninh – Móng Cái (Cách mệnh Đồng Minh hội nắm), một số địa bàn ở Quảng Ninh (do Đại Việt, Cách mệnh Đồng Minh hội nắm), ở Đà Lạt (quân Nhật còn kháng cự mạnh như ngày 3/10)…

Kết quả sau khi cướp chính quyền và vua Bảo Đại thoái vị, “Đáp ứng lời kêu gọi của Ủy ban, tôi sẵn sàng thoái vị. Trước giờ quyết định này của lịch sử quốc gia, đoàn kết là sống, chia rẽ là chết. Tôi sẵn sàng hy sinh tất cả mọi quyền lợi, để cho sự đoàn kết được thành tựu, và yêu cầu đại diện của Ủy ban sớm tới Huế, để nhận bàn giao.” (thư của vua Bảo Đại gửi Việt Minh).  “Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị” (Chiếu Thoái vị của vua Bảo Đại). Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Việt Minh đã mời vua Bảo Đại tham gia làm cố vấn tối cao của Chính phủ Hồ Chí Minh. Sau này, khi vua Bảo Đại ra nước ngoài thì việc trở về hay không là do sự quyết định của vua như hồi ký của vua Bảo Đại kể lại. Đặc biệt là tài liệu Một cơn gió bụi, cuốn Hồi ký nổi tiếng của nhà sử học, thủ tướng Trần Trọng Kim (1883–1953) xuất bản năm 1949, đã chỉ rõ tóm lược quãng đời làm chính trị của ông từ năm 1942 đến năm 1948. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hai năm 1945 – 1946, cũng đã có 8 thư và điện gửi Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman. Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Harry Truman ngày 16/2/1946 (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, tr 91- 91), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ chính nghĩa của cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam giành độc lập dân tộc, đứng về phía đồng minh chống phát xít; sự phi nghĩa của cuộc xâm lược mà thực dân Pháp đang đẩy mạnh ở Đông Dương trái ngược những lập trường Mỹ đã nêu trong các hội nghị quốc tế.

Trong Hồ Chí Minh tuyển tập, bài Lịch sử nước ta, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội năm 2002, trang 596, Bác Hồ viết về Lý Công Uẩn:

“Công Uẩn là kẻ phi thường
Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta
Mở mang văn hóa nước nhà
Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.”

Cũng trong sách và bài viết trên, trang 598, Bác Hồ viết về Nguyễn Huệ:

“Nguyễn Huệ là kẻ phi thường
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,
Ông đà chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.
Cho nên Tàu dẫu làm hung
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.”

Kẻ phi thường” là chữ của Bác Hồ dùng để đánh giá và tôn vinh vị vua khai quốc Lý Thái Tổ Công Uẩn, cũng là chữ đánh giá công bằng lịch sử đối với người anh hùng áo vải Quang Trung hoàng đế Nguyễn Huệ. Bác Hồ ngày 19 tháng 5 năm 1965 thăm Khúc Phụ bày tỏ sự đánh giá công tâm học Khổng Tử và chính Người đã suốt đời ưu tiên thực hành đạo đức nhưng chính Bác đã lựa chọn “đường kách mệnh” theo Lê Nin.

Kẻ phi thường” “đường kách mệnh” có những chữ “lạ”. Hồ Chí Minh là nhà thông thái, hẵn nhiên không phải dùng nhầm chữ. Đó là câu chuyện còn để ngõ cho đời sau.

Hồ Chí Minh có nói “Các Vua Hùng đã có công dựng nước.  Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” trước cán bộ Đại đoàn Quân tiên phong tại cửa Đền Giếng trong khu di tích Đền Hùng thuộc núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Hồ Chí Minh cũng là kẻ phi thường giữ nước như Lý Công Uẩn và Nguyễn Huệ.

Bảy mươi năm sau nhìn lại lịch sử trước và trong những ngày cách mạng tháng tám, đánh giá tầm vóc lịch sử của ngày Việt Nam độc lập, càng đọc càng thấm thía nhiều điều sâu sắc.

Hồ Chí Minh đã hiểu đúng dịch lý và giành được lợi thế ở bối cảnh quốc tế nhiễu loạn thời đó.

Hồ Chí Minh – Ẩn số Việt Nam   “Đó là lãnh tụ của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thành công nhất mà chúng ta thấy trong thế kỉ này”.

Minh triết Hồ Chí Minh.

Hoàng Kim

 

Tài liệu tham khảo

(*) Việt Nam mới tư liệu lịch sử là chuyên mục thu thập tài liệu tham khảo của Hoàng Kim để phục vụ cho bài viết nghiên cứu lịch sử chuyên đề. Mục đích nhằm dạy và học lịch sử văn hóa giáo dục Việt Nam mới có nguồn tư liệu tin cậy thuận tiện để đối chiếu. Trang viết lưu trữ một số tài liệu không nỡ quên, có tính học thuật và ít phổ biến. Các tác phẩm lớn như Toàn tập Hồ Chí Minh, Tổng tập Võ Nguyên Giáp, Việt Nam sử lược, Một cơn gió bụi, thông tin Từ điển Bách khoa Wikipedia và những sách báo đã quá phổ biến trong hệ thống thông tin đại chúng,  … không cập nhật vào đây.

Danh mục một số tư liệu lịch sử

Chính phủ của Bảo Đại và Trần Trọng Kim
Tài liệu cho sử gia
Trần Chung Ngọc và sachhiem.net
Đế quốc Việt Nam
Một cơ hội bị bỏ lỡ ở Việt Nam năm 1945?
Học giả Trần Trọng Kim
Hoàng Xuân Hãn con người và chính trị
Nhà văn hóa Phạm Quỳnh
Bảo Long – Hoàng thái tử cuối cùng thời quân chủ VN
Vài suy nghĩ về cựu hoàng Bảo Đại
Phan Văn Giáo người đứng đầu miền Trung thời Cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng
Tư liệu quý ngày 2 tháng 9

Dưới đây là bản sao một số tài liệu tham khảo chính

Video nhạc tuyển

Hồ Chí Minh – Ẩn số Việt Nam “Đó là lãnh tụ của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thành công nhất mà chúng ta thấy trong thế kỉ này”.
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  CNM365 Tình yêu cuộc sống Cây Lương thực  Dạy và Học  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

Minh triết Hồ Chí Minh

HoChiMinh1
19 tháng 5 là ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là ngày thành lập Việt Minh, khai sinh  đường Hồ Chí Minh trong lịch sử. Chuỗi ba sự kiện lớn này đóng mốc son ngày 19 tháng 5 vào lịch sử Việt Nam và thế giới đối với nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sự nghiệp thống nhất Tổ quốc Việt Nam. Bác Hồ trọn đời minh triết. Bài viết này chỉ xin đề cập ba ý: Việt Nam Hồ Chí Minh biểu tượng Việt; Bác Hồ nói đi đôi với làm mẫu mực đạo đức; Bác Hồ rất ít trích dẫn.

Việt Nam Hồ Chí Minh là biểu tượng Việt

Bác Hồ là biểu tượng của thế giới người hiền, là tinh hoa văn hóa Việt gốc và văn hóa tương lai.

Giáo sư Trần Văn Giàu trong bài viết Nhân cách lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã luận về bảy phẩm chất nhân cách mà cũng là minh triết của Bác Hồ được con dân nước Việt và thế giới ngợi ca. Đó là : Ưu tiên đạo đức, Tận tụy quên mình, Kiên trì bất khuất, Khiêm tốn giản dị, Hài hòa kết hợp, Thương, quý người, nâng đỡ con người, thấu tình đạt lý, Yêu thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên. Giáo sư Trần Văn Giàu kết luận: “Xin mượn ý của một nhà báo ở châu Đại Dương để tạm kết chủ đề luận về nhân cách Hồ Chủ tịch: Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn”.

Bác sĩ Vũ Đình Tụng đã kể câu chuyện Bức thư huyết lệ trong hàng vạn chuyện đời thường về Bác Hồ, xin được trích nguyên văn.

” 8 giờ đêm – một đêm tháng Chạp năm 1946 – bác sĩ Vũ Đình Tụng phải mổ một trường hợp chiến thương quá đặc biệt và rất đau lòng: một chiến sĩ “sao vuông” rất trẻ, tuy vết thương nặng, đạn xé tung cả một khúc ruột mà miệng vẫn mỉm cười, cái nụ cười quá quen thuộc và thân thương đối với bác sĩ. Anh tự vệ Thủ đô ấy, người chiến sĩ gan góc ấy lại chính là Vũ Văn Thành, con trai út của bác sĩ.


Suốt ngày hôm ấy, tôi đã phải mổ cưa gắp đạn và khâu vết thương cho hàng chục chiến sĩ nhưng đến trường hợp con tôi, thần kinh tôi căng lên một cách kinh khủng. Mấy người giúp việc khuyên tôi nên nghỉ tay, nhưng tôi vẫn cố kìm mình để giữ bình tĩnh gắp mảnh đạn cuối cùng trong thân thể người con. Xong việc, tôi loạng choạng rời khỏi bàn mổ.

Các bác sĩ và những người giúp việc đã cố gắng nhiều, nhưng vết thương do quân thù gây ra quá nặng đã cướp đi mất Thành, con trai của tôi, anh của Thành là Vũ Đình Tín, tự vệ chiến đấu cũng vừa bị mất sau ngày Tổng khởi nghĩa, tôi đau đớn đến bàng hoàng.

Một buổi chiều trời rét lắm, sau đêm Nôen cuối cùng ở bệnh viện Bạch Mai, bị bom đạn tàn phá, vào lúc tôi mổ xong một ca thương binh nhẹ thì bác sĩ Trần Duy Hưng, lúc bấy giờ giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ trân trọng trao cho tôi một bức thiếp của Hồ Chủ tịch. Tôi cảm động quá. Mới đầu tôi cứ ngỡ là một mệnh lệnh mới của Người. Nhưng thật không ngờ, đó lại là một bức thư riêng đầy tình cảm lớn lao của Bác chia đau thương với gia đình tôi. Khi đó, Bác gọi tôi là “Ngài”.

“Thưa Ngài,
Tôi được báo cáo rằng: con giai Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.

Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột.

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước – Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi, tinh thần họ luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc. Những thanh niên đó là anh hùng dân tộc. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ.

Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây, chắc Ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng.

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn Ngài, và gửi Ngài lời chào thân ái và quyết thắng.
Tháng 1-1947
Hồ Chí Minh”

Đọc xong bức thư, tôi thấy bàng hoàng. Bác bận trăm công nghìn việc, thế mà Bác vẫn nghĩ đến tôi, một gia đình đang có cái tang đau lòng như hàng vạn gia đình khác.

Tôi thấy nỗi đau thương và sự hy sinh của gia đình mình trở thành nhỏ bé trong cái tình thương mênh mông và sự hy sinh cao cả của Bác đối với cả dân tộc. Tôi nhủ mình sẽ phải làm tốt công việc để xứng đáng với sự hy sinh của các con và khỏi phụ lòng Bác.

Sau đó, tôi theo Bác lên Việt Bắc – căn cứ thần thánh của cách mạng Việt Nam. Từ một người thầy thuốc của xã hội cũ, một giáo dân ngoan đạo, tôi đã trở thành một người thầy thuốc tốt, một Bộ trưởng Bộ Thương binh xã hội của nước Việt Nam mới.

Vũ Đình Tụng kể, Lê Thân ghi, theo báo Nghệ An, tháng 9-1994

Tổ chức UNESCO tại kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 24 ở Paris năm 1987 đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh  là “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa do các đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Người trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, và Người đã dành cả cuộc đời mình cho sự giải phóng nhân dân Việt Nam, đóng góp cho cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của các dân tộc.

19 tháng 5 là ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là ngày thành lập Việt Minh và khai sinh đường Hồ Chí Minh trong lịch sử. Hành trình đến tự do hạnh phúc của dân tộc Việt đã trãi qua giành độc lập dân tộc và đấu tranh  thống nhất Tổ quốc trong cuộc trường chinh thế kỷ . Minh triết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp đấu trang giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc quy non sông vào một mối. Những việc khác Bác có Di chúc để lại cho đời sau.  Công lao và những biến đổi phần sau không thể và không nên quy hết về Người. Có một số uẩn khúc đời người cần có đủ tư liệu mới đánh giá đầy đủ.

Bác Hồ có bài thơ “Chơi chữ” rất lạ vào những ngày đầu khởi lập nước Việt Nam mới.Đó t là một kỳ thư, kinh Dịch độc đáo, một luận giải sứ mệnh và tự đánh giá của Bác:
Chơi  chữ

Hồ Chí Minh

(Bản dịch của Nam Trân):

Người thoát khỏi tù ra dựng nước,
Qua cơn hoạn nạn, rõ lòng ngay;
Người biết lo âu, ưu điểm lớn,
Nhà lao mở cửa, ắt rồng bay!

Nguyên tác:
Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc,
Hoạn quá đầu thì thuỷ kiến trung;
Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,
Lung khai trúc sản, xuất chân long.

折字
Chiết tự
Chơi chữ
囚人出去或為國
患過頭時始見 忠
人有憂愁優點大
籠開竹閂出真龍

Chiết tự là một hình thức phân tích chữ Hán ra từng bộ phận để thành những chữ mới, có ý nghĩa khác với ý nghĩa ban đầu. Theo lối chiết tự, bài thơ này còn có nghĩa đen như sau: chữ tù (囚) bỏ chữ nhân (人), cho chữ hoặc (或) vào, thành chữ quốc (國). Chữ hoạn (患) bớt phần trên đi thành chữ trung (忠). Thêm bộ nhân (人) đứng vào chữ ưu (憂) trong “ưu sầu” thành chữ ưu (優) trong “ưu điểm”. Chữ lung (籠) bỏ bộ trúc đầu (竹) thành chữ long (龍).

Bác Hồ nói đi đôi với làm mẫu mực đạo đức

Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng chuyên nghiệp, mẫu mực về đạo đức cách mạng, là tấm gương sáng về tự học suốt đời. Người nói: “Học ở đâu? Học ở trường, học trong sách vở, học lẫn nhau và học ở dân“. Người luôn nói và làm đi đôi., học không biết mỏi, dạy không biết chán.

Bác viết: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Jêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Jêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có ưu điểm chung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, tôi tin rằng họ nhất định sống chung với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm một người học trò nhỏ của các vị ấy..” Trích “Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng”, NXB Khoa học xã hội, H.1996, trang 152. (Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng).

Nói và làm của Hồ Chí Minh điều gì cũng minh triết và thiết thực. Từ bài “Tâm địa thực dân” viết ở Pháp năm 1919 đến “Tuyên ngôn độc lập” năm 1945. Từ “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” năm 1945 đến “Lời kêu gọi sau khi hội nghị Giơnevơ thành công” năm 1954. Từ “Lời phát biểu trong buổi đón tiếp Ủy ban Quốc tế” năm 1954 sau cuộc chiến tranh Đông Dương tàn khốc và dai dẳng 8,9 năm  đến “Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” công bố năm 1969 lúc cuộc chiến tranh Việt Nam đang ở giai đoạn dữ dội và ác liệt nhất. Việc làm nào, lời nói nào của Bác Hồ đều là nói đi đôi với làm, là khuôn vàng thước ngọc của đạo đức cách mạng “cần, liêm, chính, chí công vô tư“. Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất Tổ Quốc, tự do và hạnh phúc của dân. Người viết: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước được độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”  Tư tưởng xuyên suốt của Người là “Việc gì lợi cho dân , ta phải hết sức làm. Việc gì hạicho dân ta phải hết sức tránh” “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công

Hồ Chí Minh có nhiều bài chuyên bàn về đạo đức và đạo đức cách mạng. Đó là các bài “Đạo đức công dân” (1-1955), Đạo đức cách mạng (6-1955; 12-1958), “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (2-1969). Người chủ trương phát triển văn hóa gắn liền với đời sống mới, kêu gọi thực hành đời sống mới trong mọi lĩnh vực, mọi tầng lớp và trong từng con người. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: ” Đời sống mới không phải là cái gì cũ cũng bỏ hết không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý…; Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm …; Cái gì mới mà hay thì ta phải làm

Bác Hồ rất ít trích dẫn !

Ông Trường Chinh nói với ông Hà Đăng khi chiêm nghiệm về phong cách văn chương của chủ tịch Hồ Chí Minh: Bác Hồ rất ít trích dẫn. Lúc đầu tôi cũng cho là ngẫu nhiên. Về sau, hỏi trực tiếp, Bác nói: Mác, Ang ghen, Lê Nin nói rất đúng. Nhưng hoàn cảnh Mác, Ang ghen, Lê Nin hoàn toàn khác hoàn cảnh của chúng ta. Vậy nên muốn nói gì, trước hết phải hiểu cho thật rõ điều mà các vị ấy muốn nói, nói cho phù hợp với hoàn cảnh của mình, cho dân mình dễ hiểu. Do đó, Bác viết bằng sự suy nghĩ của mình. Bác rất ít trích dẫn”. (Hà Đăng 2002. Trường Chinh, người anh cả trong làng báo. Trong sách: Trường Chinh, một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 320). Ông Trường Chinh là một trong những người làm việc lâu nhất, thường xuyên nhất với Bác. Những chắt lọc và nhận xét trên đây chắc chắn là điều cần cho chúng ta suy ngẫm.

“Bác viết bằng sự suy nghĩ của mình. Bác rất ít trích dẫn” đó là phong cách văn chương của Hồ Chí Minh. Những người thông hiểu lịch sử, văn hóa, hiểu sâu các điển cố văn chương, chuyện hay tích cổ sẽ có thể chỉ ra vô số những điều trùng khớp của những lời hay ý đẹp từ xa xưa đã được Bác vận dụng một cách hợp lý hợp tình trong thời đại mới. Bác là người chú trọng ngôn ngữ giản dị, ngắn gọn, dễ hiểu, có tính thuyết phục cao, có nhịp điệu. Một thí dụ nhỏ như câu: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào/ Học tập tốt, lao động tốt/ Đoàn kết tốt, kỹ luật tốt/ Giữ gìn vệ sinh thật tốt/ Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” là câu sáu chữ có nhịp điệu như câu thơ cổ.

*

Bác Hồ nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.  Suốt đời Bác làm hai việc chính là kiến tạo Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) thành một mặt trận rộng rãi “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công thành công, đại thành công” thực hiện “kế sách một chữ đồng” giành độc lập dân tộc và mở đường thống nhất Việt Nam.

Bác Hồ thật đúng là: “Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh. Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành. Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy. Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH”.

Một số vĩ nhân còn lầm lẫn và khuyết điểm vào một thời điểm nào đó trong đời, riêng Bác Hồ thì chưa tìm thấy. Tôi cố gắng làm một người học trò nhỏ của Bác, học sự minh triết “dĩ công vi thượng”, tâm đức, quyền biến, năng động. Học làm người phúc hậu, thực việc, nói đi đôi với làm, chắt lọc tinh hoa lý luận và thực tiễn để vận dụng linh hoạt, sáng tạo, và thích hợp vào đời sống của mình.

Hồ Chí Minh trọn đời minh triết.

Hoàng Kim

(*) Bài viết nhân kỷ niệm 125 năm (1890 – 1969) ngày sinh của Bác Hồ. Bài này là sự tiếp nối của những  bài trước: Qua đèo chợt gặp mai đầu suối. Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh. Về Việt Bắc đêm lạnh nhớ Bác… Trên Face Book có chuyên trang  Việt Nam Hồ Chí Minh. Trang Tình yêu cuộc sống và CNM365 có bài viết Chào ngày mới 19 tháng 5 đúc kết thông tin Wikipedia ngày này năm xưa: ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là ngày thành lập Việt Minh, và khai sinh  đường Hồ Chí Minh.

xem thêm:

NHÂN CÁCH LỚN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

GS. Trần Văn Giàu

Nhiều học giả đã nghiên cứu về Cụ Hồ-Nhà lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, nhà sáng tạo tư tưởng, nhà văn hoá lớn của thế giới. Bài viết này chỉ xin đề cập đến một phạm vi hẹp hơn, đó là nhân cách Cụ Hồ, ngõ hầu góp phần nghiên cứu Cụ như một con người vĩ đại.

Trước hết, phải cắt nghĩa nhân cách là gì? Từ điển tiếng Việt ghi là “phẩm chất con người”. Theo sách “Đường Kách mệnh”, do chính Cụ viết thì nhân cách là “tư cách của người cách mạng”; được Cụ khái quát trong 23 điều ngắn gọn, thuộc về ba cách ứng xử của người cách mạng với: chính bản thân, với người khác và với công việc.

Về nhân cách Cụ Hồ, theo tôi, kết tụ trong 7 điểm cơ bản, cũng là 7 phẩm chất được con dân nước Việt và thế giới ngợi ca.

  1. Ưu tiên đạo đức

Tôi cho rằng quan tâm thật nhiều đến đạo đức, nhân cách là  đặc điểm nổi bật nhất của Cụ Hồ, làm cho Cụ khác biệt hẳn với hầu hết các nhà lãnh đạo cách mạng khác ở cả ta và Tây.

Nhiều nhà sử học phương Tây đã sớm để ý đến điều khác biệt ấy và họ cứ đinh ninh rằng, đó là do ảnh hưởng của Khổng giáo. Đương nhiên, không thể phủ nhận ảnh hưởng lâu đời của Khổng giáo đến văn hóa Việt Nam.

Cá nhân tôi cho đó trước hết thuộc về truyền thống dân tộc – một đất nước chỉ trong vòng 2.000 năm – hai thiên niên kỷ đã phải hàng chục lần tiến hành kháng chiến chống lại kẻ thù xâm lược mạnh hơn ta gấp bội; muốn tồn tại không thể trông cậy vào số kiếp, mà phải dựa vào chất con người chiến đấu, lâu ngày thành nếp tư tưởng, quý trọng bậc nhất đạo đức, nhân cách, tính kiên trì bất khuất, đức quên mình vì nước, vì dân.

Nếu đặt nhân cách, đạo đức lên hàng đầu là duy tâm (như có người nói) thì việc sùng bái tiền hàng, chạy cuồng theo lợi nhuận là duy vật hay sao?

Bởi vậy, khi Lênin từ trần vào năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định rằng: Các dân tộc phương Đông sở dĩ kính mến Lênin vì vị thầy của cách mạng giải phóng sinh tiền là một “người khinh thường xa hoa, yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị”.

Khi mở lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên vào năm 1925 (Cụ Hồ lúc này lấy tên là Vương) đã đặt ra 23 điều thuộc về tư cách người cách mạng lên trang đầu của cuốn sách “Đường Kách mệnh”.

Cho nên, khi bàn về các tiêu chuẩn bầu chọn anh hùng quân đội trong kháng chiến, thì tiêu chuẩn đạo đức, nhân cách được Cụ đặt lên hàng đầu, trên cả những thành tích xuất sắc.

Tựa như trong “Luận ngữ”, sách tổ của đạo Nho, chữ “nhân” được nói đi nói lại nhiều nhất. Người đời sau quả có lý để nhận xét, đánh giá: đạo của Khổng phu tử là đạo nhân. Còn trong các bài viết của Cụ Hồ, chữ đạo đức cách mạng được sử dụng nhiều nhất. Con dân Việt Nam xem Cụ Hồ như bậc tái tạo lương tri, xây dựng phẩm chất, nhân cách cho các thế hệ cách mạng, cho kháng chiến và xây dựng hòa bình.

2. Tận tụy quên mình

Đạo đức của Cụ Hồ được cấu thành từ ba mệnh đề, trong đó, mệnh đề thứ nhất là: Trung với nước, Hiếu với dân. Nếu như ngày xưa “trung quân vương và hiếu phụ mẫu” (trung thành với vua, hiếu thảo với cha mẹ), đòi hỏi những gì thì ngày nay nội dung trung với nước, hiếu với dân cũng đòi hỏi như vậy; thậm chí còn cao hơn nữa.ởi thế, nếu đã trung với nước, hiếu với dân thì suốt đời phải tận tụy, quên mình phục vụ nước nhà, phục vụ nhân dân. Đây là cái đức lớn nhất, cái gốc của nhân cách Cụ Hồ, là điều mà đồng bào ta và nhân dân thế giới ngợi ca.

Cụ viết: “Bài học chính trong đời tôi là tuyệt đối và hoàn toàn cống hiến đời mình cho sự nghiệp giải phóng và thống nhất Tổ quốc, giải phóng giai cấp công nhân và dân tộc bị áp bức, cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cho sự hợp tác anh em và hòa bình giữa các dân tộc”. Và Cụ đã làm đúng như vậy.

Quên mình vì nước, vì dân đã hiếm; mà tận tụy quên mình suốt đời phục vụ thì vô cùng hiếm hoi, chỉ có bậc thánh nhân và tông đồ của dân mới làm được trọn vẹn.

Học trò, vừa là bạn chiến đấu của Cụ – Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Cụ Hồ không có cái gì riêng; cái gì của nước, của dân là của Người; quyền lợi tối cao của nước, lợi ích hàng ngày của dân là sự lo lắng hàng ngày của Người; gia đình của Người là đại gia đình Việt Nam”.

Nhà báo Úc nổi tiếng thế giới là Búc-sét có dịp tiếp xúc với Người, đã nhận xét: “Nói tới một người mà cả cuộc đời mình để lại ân tình sâu nặng cho nhân dân thì không có một ai khác ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

  1. Kiên trì, bất khuất

Có lẽ đoạn văn sau đây của nhà báo La-cót-tơ là tiêu biểu cho công luận quốc tế nhận xét một cách khách quan rằng:

“Trong ngót nửa thế kỷ, ông Hồ Chí Minh lãnh đạo một cuộc chiến đấu chưa từng có, về biến chuyển của chiến thuật và tình huống, về tính đa dạng của cách xử trí, về những hy sinh phải chấp nhận, về sức mạnh yếu khác nhau một trời một vực ở mặt vũ khí.

Bị tòa án thực dân xử tử hình, mươi lần thoát khỏi lưu đày và máy chém, khi thì mặc áo vàng nhà sư Thái Lan, khi thì mặc quân phục đệ bát lộ quân Trung Quốc. Và giành được chính quyền rồi, ông Hồ phải liên tiếp đương đầu với hai đế quốc phương Tây.

Thời nay có nhà cách mạng nào đủ gan lớn mật đầy để chống đối trật tự của các liệt cường với một quyết tâm bền bỉ đến thế? Ông Hồ đã hồi sinh một dân tộc, tái tạo một quốc gia, lãnh đạo hai cuộc chiến tranh, về cơ bản là chiến tranh của  những người bị áp bức.

Cuộc chiến đấu của ông chống Mỹ tỏ rõ các giới hạn của sức mạnh kỹ thuật khi đương đầu với con người”.

Dũng cảm, quyết tâm, bền bỉ, bất khuất  – Cụ Hồ là như vậy. Tờ Thế giới của Pháp đã có lần viết: “Người Mỹ có thể tàn phá hết đất nước này, nhưng đất nước này thậm chí sau khi bị tàn phá hết, cũng không cúi đầu khuất phục”.

Báo Quốc gia của Ấn Độ đã viết: “Đằng sau cái cốt cách dịu dàng của Cụ Hồ là một ý chí sắt thép. Dưới cái bề ngoài giản dị là một tinh thần quật khởi anh hùng  không có gì uy hiếp nổi”.

Điều đáng chú ý là phẩm chất, nhân cách đó của Cụ Hồ cũng là nhân cách, phẩm chất của các môn đệ của Cụ, và cũng là phẩm chất, nhân cách của đại đa số nhân dân Việt Nam. Cho nên cái hy vọng của Mỹ, hễ Cụ Hồ mất thì  kháng chiến tất sụp đổ, hy vọng đó trở thành tuyệt vọng.

4- Khiêm tốn, giản dị

Cuộc đời hoạt động cách mạng của Cụ Hồ rất sôi nổi, long trời, lở đất đến như vậy, tiếng thơm lan khắp năm châu bốn bể, trong Đảng và Chính phủ (Nhà nước và đoàn thể) Việt Nam; Cụ Hồ là người lãnh đạo tối cao được kính mến như vậy; nhưng đời sống của Cụ rất bình thường, vô cùng giản dị, khiêm tốn. Tính giản dị, khiêm tốn của Cụ được ca tụng hết lời, cũng như đức quên mình vì mọi người.

Chủ tịch An-len-dơ của Chilê nhận xét: “Không bao giờ chúng ta thấy sự giản dị và sự vĩ đại đi liền với nhau như vậy”.

Ông M.Kha Li của Cộng hòa Arập thống nhất khẳng định: “Thiên thần thoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cuộc sống giản dị, khiêm tốn”.

Cả Việt Nam, toàn thế giới đều biết đến bộ quần áo kaki sờn, đôi dép cao su mòn, ngôi nhà sàn gỗ đơn sơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chẳng phải từ những ngày đầu đào tạo cán bộ cách mạng (1925), Cụ Hồ với danh xưng là đồng chí Vương đã khuyên cán bộ phải “ít lòng ham muốn vật chất”, “không háo danh kiêu ngạo”.  Và Cụ đã sống như những gì Cụ dạy cán bộ. Tính khiêm tốn, giản dị còn thể hiện rõ trong Di chúc năm 1969: “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”…

Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn. Gần Tam Đảo và Ba Vì…  Trên mộ nên xây một cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi” (Hồ Chí Minh – Toàn tập – Tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, H,2002. tr.499).

Khó kiếm thay một người  công lao đã đạt đến đỉnh cao nhất của vinh quang mà vẫn giữ tính khiêm tốn, giản dị y như thuở hàn vi hoạt động trong vòng vây dày đặc của kẻ thù. Gương sáng chói ấy không một hạt bụi nào có thể bám được.

5- Hài hòa, kết hợp

Có một đức tính lớn của Cụ Hồ mà mãi đến khi Cụ qua đời và phải đọc thật nhiều bài viết của nhân loại ngợi ca Người, ta mới nhận ra được tầm quan trọng. Giống như khi đứng ở chân núi, làm sao thấy được núi cao. Đó là tính hài hòa, sự nhất quán trong suy nghĩ và việc làm, giữa những cái khác nhau, giữa những cái thường bị xem là trái nhau.

Một học trò của Cụ là Lê Duẩn có viết đại ý: Ở Cụ Hồ, tinh hoa của dân tộc kết hợp với Chủ nghĩa Mác – Lênin là đỉnh cao của tư tưởng loài người ở thời đại mới.

Cách mạng Việt Nam phát triển theo con đường của Chủ nghĩa Mác – Lênin, nhưng không tách rời tinh hoa của dân tộc. Bởi ở đó là nơi kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Và Cụ Hồ là người Lêninnít đóng góp lớn nhất, nhiều nhất, hài hòa nhất vào kho tàng lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Báo Asahi của Nhật Bản cắt nghĩa rất rõ ràng: “Điều làm cho Cụ Hồ trở thành một lãnh tụ quần chúng tuyệt vời là sự kết hợp chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp phong trào giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa”.

Ta có thể thêm vào một ý: cái này vừa là cứu cánh, vừa làm động lực cho cái kia một cách nhịp nhàng hết sức, như hai dây đồng của một dây đàn.

Đẹp thay, đúng thay lời Jin Rou-sơ viết cho báo Chiến đấu của Pháp: “Từ 30 năm nay, trong số các nhân vật mà tôi được gặp, chắc chắn Cụ Hồ là đáng khâm phục nhất. Cụ là người hoàn toàn đáng được mọi người ca ngợi, bởi vì Cụ đã kết hợp đến mức nhuần nhuyễn, phi thường chủ nghĩa anh hùng với đầu óc sáng suốt, lòng yêu nước tuyệt vời, tinh thần cách mạng trong sáng, thái độ cứng rắn trước cuộc sống với lòng nhân đạo đối với con người.

Sự hài hòa giữa những tính tình đôi khi trái ngược nhau đó, giải thích tại Cụ Hồ cùng một lúc là nhà thơ, là đảng viên, là nhà lãnh đạo quốc gia, nhà ngoại giao, lại vừa là một chiến sĩ”.

Bên cạnh các tư tưởng lớn và những phẩm chất có tính tư tưởng cao, người ta còn chú ý ở Cụ Hồ sự kết hợp hài hòa của những điều dường như ở mức thấp hơn mà cũng thường gặp hơn trong đời sống hằng ngày.

Báo Ảnh diện của Ấn Độ đặc tả: “Cụ Hồ đã kết hợp nhuần nhuyễn sự tao nhã cao quý với tác phong gần gũi, giữa dân chủ, giữa tự do không nghi thức với sự nghiêm chỉnh thận trọng, vì vậy Cụ Hồ có một sự hấp dẫn đặc biệt, không gì so sánh được”.

Còn báo Chiến sĩ của An-giê-ri lại chú trọng đến một mặt rất dung dị, nhưng rất quan trọng của một sự kết hợp hài hòa ở Cụ Hồ: “Nhà văn, nhà báo, dù ai có ác ý nhất cũng không tìm thấy một chút thiếu sót nhỏ nhặt trong cuộc đời gần 80 năm.

Đây cũng là một trong những bài học mà chúng ta có thể rút ra  từ cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Người ta không thể là nhà cách mạng trong những việc lớn mà lại thiếu sót trong những việc nhỏ”.

Tôi có thể đem hàng chục, hàng trăm dẫn chứng cụ thể để chứng minh sự kết hợp hài hòa mà các báo trên vừa nói. Cụ Hồ đúng là hiện thân của sự hài hòa.

6- Thương, quý người, nâng đỡ con người, thấu tình đạt lý

Như phần lớn các nhà hiền triết cổ kim, đông tây, thương người là một trong những đức lớn của Cụ Hồ – được thể hiện qua từng lời nói, từng việc làm của Cụ suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng không mệt mỏi.

Trong tiềm thức của Cụ Hồ – thương người đồng nghĩa với nhân ái. Vậy nhân ái của Cụ Hồ khác gì với nhân ái của Khổng Mặc, hay chỉ là một mà thôi? Đương nhiên là khác không nhỏ. Nguyễn Tất Thành – Anh Ba bồi bếp rồi thủy thủ con tàu buôn ấy có một tâm hồn nhạy cảm, xót xa từng thân phận của những người cùng khổ mới có những nét bút làm xúc động lương tâm con người đến thế khi anh mô tả một cuộc hành hình theo kiểu Lunch ở đất Mỹ.

Nếu không có trái tim đập cùng nhịp với những người thất thế cô đơn, làm sao viết chuyện một cụ già ở Epinettơ, Pari, đã mất hết nhà cửa, vợ con trong cuộc đại chiến, đang ngày ngày chờ từng bát cháo từ  thiện?

Lòng thương người của Nguyễn Ái Quốc đồng nghĩa với tình thương dành cho các dân tộc bị xích xiềng thực dân. Tình thương của Người không chỉ là cảm thông mà là chỉ dẫn cho người lao động và các dân tộc bị áp bức biết tự mình cởi ách nô lệ, chớ không phải mòn móng ngựa, bánh xe để du thuyết cho vương hầu.

Đi tìm và khai phá con đường cách mạng, Nguyễn Ái Quốc luôn đặt vấn đề tự do song song với hạnh phúc của dân tộc. Có người Mỹ nói: Cụ Hồ vừa là Oasinhtơn, vừa là Lin-con. Đúng mà chưa đủ vì Cụ Hồ còn đi xa hơn nữa với tấm lòng nhân ái thiết thực.

Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải trải qua nạn đói khủng khiếp do Pháp – Nhật gây ra. Trong tình cảnh vô cùng khó khăn ấy, Cụ Hồ chủ trương phát động nhân dân tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Bản thân Người gương mẫu mỗi tháng nhịn ăn ba bữa để góp gạo cứu đói, và Cụ Hồ đã đổ lon gạo dành dụm của mình vào hũ gạo tiết kiệm của muôn dân như mọi người dân bình dị.

Những việc làm vì thương người, thương dân của Cụ Hồ sao có thể kể xiết. Ngay cả khi đi Chiến dịch Biên giới, Người không chịu cưỡi ngựa mà cùng đi bộ với 7 cán bộ, chiến sĩ, để ngựa thồ hành lý đỡ cho anh em.

Đoàn được chia chiến lợi phẩm một chai rượu Tây, Cụ bảo mọi người uống xong đừng vứt bỏ chai mà súc sạch rồi đem cho dân đựng hạt giống. Khi đi thăm trại tù binh về, Cụ không còn áo khoác vì đã cho tên quan ba thầy thuốc bị rét cóng.

Hiếm có một lãnh tụ như vậy. Cụ Hồ đích thực có một tình thương mênh mông dành cho bao kiếp người, bao số phận con người.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Những tư tưởng lớn của Hồ Chủ tịch là những tình cảm lớn. Trong đời hoạt động cách mạng của Hồ Chủ tịch, cũng như trong đời sống hàng ngày của mình, Hồ Chủ tịch đối xử với người luôn có lý, có tình. Bác Hồ muôn vàn yêu thương đối với đồng chí, đồng bào,

Trong tình yêu đó, có chỗ cho mọi người, không quên sót một ai và sắp xếp cho mỗi người vị trí chiến đấu, cũng như lo lắng chu đáo cho mỗi người việc làm, đời sống và học tập, vừa nghiêm khắc đòi hỏi, vừa thương yêu dìu dắt… Đối với kẻ lầm đường, lạc lối, lòng Hồ Chủ tịch còn rộng hơn biển cả, Người dạy phải khoan hồng, vui mừng đón rước những đứa con vì cảnh ngộ mà lạc bầy”.

Cảm động, đẹp đẽ thay lời của Montaron viết trên báo Bằng chứng Thiên Chúa giáo của Pháp, rằng: “Cụ Hồ Chí Minh là một trong những chiến sĩ đầu tiên của thế giới thứ ba, của các dân tộc nghèo đói thèm khát cuộc sống cho người. Cụ đã dạy cho họ rằng muốn được giải phóng, phải dựa vào sức mình là chính, và một dân tộc chỉ có thể sống còn khi dân tộc ấy không chịu sống nô lệ.

Nhất là Cụ đã dạy rằng, cuộc chiến đấu vì nhân phẩm, tự do phải được đặt trên mọi cuộc chiến đấu khác. Cụ đã đem hết sức mình để đem lại cơm ăn, nước uống cho những ai đói khát. Cụ đã bênh vực cho những người yếu hèn và mang lại nhân phẩm cho những người nghèo khổ…”.

7- Yêu thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên

Không chỉ có tâm hồn cách mạng, thi nhân, thương yêu con người, Cụ Hồ còn yêu thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên. Tình yêu thiên nhiên của Cụ Hồ khác xa tình yêu thiên nhiên của Lão Trang, bởi Cụ Hồ yêu thiên nhiên đâu phải để tiêu dao, xa trần tục, thế sự.

Tình yêu ấy gắn liền với cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Cụ tìm thấy trong thiên nhiên một nguồn cổ vũ, chia sẻ buồn vui. Ở thiên nhiên, Cụ Hồ tìm thấy một sự quân bình trong tâm hồn sau, hoặc trong những giờ phút căng thẳng. Với Cụ Hồ, thiên nhiên như bạn tâm tình; thiên nhiên được nhân hóa, thiên nhiên như người bạn tri ân, bạn chiến đấu.

Ngay cả khi phải ngồi trong nhà tù Quốc dân đảng, Cụ Hồ vẫn có trăng sao làm bầu bạn:

“Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

Thơ tả thiên nhiên đấy mà thực ra là lời nhắn gửi tới đồng chí rằng Cụ vẫn sống, vẫn giữ vững tinh thần, vẫn nhớ anh em mà không quên nhiệm vụ cách mạng:

“Núi ấp ôm mây, mây ấp núi
Lòng sông gương sáng bụi không mờ
Bồi hồi dạo bước Tây phong lĩnh
Trông lại trời Nam nhớ bạn xưa”.

Đặc biệt, thơ Cụ Hồ thấm đượm triết lý chính trị cách mạng khi tả buổi bình minh thức dậy trên đường đi công tác:

“Phương đông màu trắng chuyển sang hồng
Bóng tối đêm tàn quét sạch không
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ
Người đi thi hứng bỗng
thêm nồng”.

Thiên nhiên dường như chứng kiến sự tận tụy với công việc của một nhà lãnh đạo kháng chiến ở giữa làng chiến khu Việt Bắc:

“Xem sách, chim rừng vào cửa đậu
Phê văn, hoa núi ghé nghiên soi
Tin vui thắng trận dồn chân ngựa
Nhớ cụ, thơ xuân tặng một bài”.

Diệp Minh Châu – một nhà điêu khắc quê ở miền Nam, bồi hồi kể lại câu chuyện cảm động ở chiến khu Việt Bắc: “Tôi đang nghe đài phát thanh, bỗng có tiếng Bác gọi: Chú Châu qua đây! Tôi ngồi bên Bác. Bác kéo đầu tôi ghé vai Bác, trỏ ra cửa sổ. Một mảnh trăng lưỡi liềm nhô ra khỏi núi, tỏa sắc xanh huyền ảo xuống những dãy rừng xa. Bác nói: Của chú đấy!”.

Đó là thiên nhiên Việt Bắc. Còn cảnh đẹp Thủ đô Hà Nội trong Người được nhà văn Cuba là Rôđighét mô tả: “Tôi được biết có hai điều Bác Hồ yêu thích, đó là hoa và tiếng chim ca. Hoa và chim luôn ở bên Người. Ngôi nhà nhỏ của Bác nhìn ra phía nào cũng có một ô cửa sổ, một bức tranh bằng ánh sáng, và khi gió nhẹ thổi qua bức tranh như có sức sống”.

Không chỉ yêu nước, thương nòi, yêu dân, yêu con người và loài người một cách nồng nhiệt, Cụ Hồ còn yêu thiên nhiên một cách đằm thắm, vừa hàm ơn, vừa hòa hợp với thiên nhiên, gắn thiên nhiên với cuộc đấu tranh vì nhân phẩm và tự do của con người.

Phải chăng trong Người luôn hiện hữu mối quan hệ gần gũi giữa tình yêu thiên nhiên với trạng thái tâm hồn thanh thản, tỉnh táo, ung dung tự tại trong lúc bình cũng như khi biến.

Xin mượn ý của một nhà báo ở châu Đại Dương để tạm kết chủ đề luận về nhân cách Hồ Chủ tịch: Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn.


Video nhạc tuyển

Hồ Chí Minh – Ẩn số Việt Nam “Đó là lãnh tụ của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thành công nhất mà chúng ta thấy trong thế kỉ này”.
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  CNM365 Tình yêu cuộc sống Cây Lương thực  Dạy và Học  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook