Học không bao giờ muộn

Thầy bạn là lộc xuân
HỌC KHÔNG BAO GIỜ MUỘN
Hoàng Kim
Cảm ơn cô giáo Kim Nguyệt với Chuyện đọc rất đáng suy ngẫm. Thầy bạn là lộc xuân Học không bao giờ muộn

Ông chủ giàu có thấy nhân viên lái xe của mình đã làm việc chăm chỉ trong nhiều năm. Vì muốn người lái xe này vẫn có một cuộc sống ổn định khi về hưu, nên ông chủ này đã đưa cho người lái xe tấm séc trị giá 1 tỷ đồng.Không ngờ lái xe này đã trả lời, “Không cần đâu ạ, trong tay tôi cũng đã có hơn chục tỷ đồng rồi”. Ông chủ giật mình hỏi: “Anh làm lái xe, lương của anh chỉ có 5 triệu đồng một tháng, làm sao lại tích cóp được nhiều tiền như vậy?”

Lái xe trả lời: “Trong suốt quá trình lái xe, khi ông ngồi ở đằng sau gọi điện và nói là sẽ mua đất ở đâu, tôi cũng mua một ít, ông nói mua cổ phiếu nào, tôi cũng mua một ít, hiện nay ước tính tôi cũng đã có hơn 10 tỷ đồng rồi.”

Qua câu chuyện ngắn này chúng ta có thể thấy khi chúng ta đi cùng triệu phú chúng ta có thể kiếm tiền triệu, đi cùng tỷ phú chúng ta có thể kiếm tiền tỷ.Một cây rơm rạ hoàn toàn không đáng giá một xu, nhưng nếu như nó được dùng để buộc một mớ rau cải thì nó sẽ có giá của một mớ rau cải. Nếu như nó được dùng để buộc cua biển, thì nó lại có giá đắt đỏ ngang với cua biển.Nếu như chúng ta ở cùng với những người có lối sống tích cực thì chúng ta cũng suy nghĩ tích cực, nhưng nếu chúng ta sống cùng người tiêu cực, thì chúng ta sẽ suốt ngày than trách số phận hẩm hiu.

Có người nói rằng, cuộc đời của mỗi con người có 3 thứ may mắn nhất: Khi đi học gặp phải thầy giáo tốt, khi đi làm gặp phải tiền bối tốt, khi lập gia đình gặp phải người bạn đời tốt.Đôi khi chỉ cần một nụ cười, hay một câu nói cũng đủ để tạo ra sự khác biệt cho cuộc sống của chúng ta, và khiến nó trở nên ý nghĩa hơn.Điều bất hạnh nhất của chúng ta là sống với những người có lối nghĩ tiêu cực, không có kiến thức sâu rộng và cái nhìn toàn diện, điều này sẽ khiến cho cuộc sống của ta trở nên nhạt nhẽo và vô vị.

Có câu nói rất hay rằng, “Bạn là ai không quan trọng, mà quan trọng là bạn ở cùng với ai!” Bạn ở chung với người như thế nào, thì bạn sẽ như thế đó !

MƯỜI THÓI QUEN MỖI NGÀY
Hoàng Kim

1. Vui khỏe phúc hậu, an nhàn vô sự là tiên
2. Biết dưỡng sinh, sống quen thanh đạm nhẹ mình
3. Hưởng ánh nắng, khí trời và sương mai mỗi sáng
4. Dạy và học tình yêu cuộc sống cnm365 mỗi ngày
5. Đi bộ và dọn vườn, tập thể dục mỗi ngày nữa giờ
6. Tắm rửa sạch sẽ mỗi ngày có lợi cho sức khỏe
7. Luyện thói quen đi lại ít phút sau mỗi giờ làm việc
8. Sau khi đi làm về cần nghĩ ngơi 15 phút mới tắm
9. Khi người mệt mỏi tốt nhất ngủ ngon và nghỉ ngơi
10 Buông bỏ những dư thừa và hư danh giả tạm

MƯỜI TƯ DUY TÍCH CỰC

Ai đúng ai sai, mình không sai là được
Người già người trẻ, cứ vui khỏe là được
Việc nhiều lộc ít, làm xong việc là được
Tận tâm tiết kiệm, đừng lãng phí là được
Bất kể giàu nghèo, cứ hoà thuận là được
Không kén ngon dở, cứ sạch nóng là được
Bất luận đẹp xấu, cứ tốt duyên là được
Nhà lớn nhà nhỏ, cứ ấm no là được
Xe mới xe cũ, cứ chạy tốt là được
Sung túc hay nghèo, cứ bình an là được

HỌC KHÔNG BAO GIỜ MUỘN
Hoàng Kim

Cảm ơn giáo sư Trần Đăng Hòa đã chép tặng và chia sẽ bài “Lời thề Socrates dành cho giảng viên trong Viện Đại học Nghiên cứu (A Socrateic Oath for Faculty of Research Universities). Cám ơn bạn Hoài Vân đã chép tặng và chia sẻ ba mẫu chuyện lời vàng vô giá: 1. Vàng hay bùn, thứ nào giá trị hơn? 2. Gạo vẫn là gạo; 3. Một cốc nước và một hồ nước. Hoàng Kim dạy và học xin được chép lại và lưu về trang trường học và CNM365 để hiến tặng bạn đọc

Học không bao giờ muộn

LỜI THỀ SOCRATES DÀNH CHO GIẢNG VIÊN TRONG VIỆN ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU
(A Socratic Oath for Faculty of Research Universities)

1. Tôi xin tuyên thệ cống hiến sức mình cho sự tiến bộ và mở mang tri thức, nhận thức rằng tôi có nghĩa vụ đối với sinh viên, với lĩnh vực chuyên môn, với các giảng viên đồng nghiệp, với viện đại học, và với công chúng.

2. Tôi dấn thân vào nghề dạy học và xem nó như là một thiên chức đạo đức. Tôi thừa nhận nghiên cứu và hoạt động học thuật hàm chứa sự tín thác của công chúng và chấp thuận công việc chuyên môn như là một nghĩa vụ xã hội. Trong quá trình thực hiện những nghĩa vụ của mình, tôi sẽ dành cho công tác giảng dạy lẫn nghiên cứu lòng tận tâm bền bỉ, sáng tạo, và kiên định. Tôi sẽ theo đuổi kiến thức mới và những hoạt động sáng tạo một cách cẩn trọng phù hợp với những tiêu chuẩn nghề nghiệp cao nhất trong lĩnh vực của mình. Và tôi sẽ làm hết sức mình để phục vụ cộng đồng rộng lớn hơn. Khi thực hiện những nhiệm vụ này, tôi thừa nhận rằng giảng dạy, nghiên cứu, và phục vụ công chúng là những trách nhiệm căn bản của mỗi giảng viên đại học; rằng đó là những trách nhiệm cần phải được cân đối thường xuyên; và rằng trong khi những trách nhiệm này có tầm quan trọng như nhau, giảng dạy luôn là trọng tâm trong sứ mệnh của viện đại học.

3. Vì mục đích đó, tôi chấp nhận lòng tín thác hàm chứa trong việc truyền tải kiến thức để có được sự chính xác, công bằng, cân đối, và thống nhất trong cách trình bày chuyên môn của tôi và trong việc xử lý những quan điểm khác nhau. Dù giảng dạy chủ đề gì đi nữa tôi cũng sẽ thực hiện một cách nghiêm ngặt, nhưng cũng với tinh thần khai phóng, “nêu bật cái tổng quát trong bản thân cái cụ thể,” với tầm nhìn sâu, rộng và cách nhìn nhân bản đối với những vấn đề nền tảng, với bối cảnh, những mối quan hệ, và những hệ quả của nó.

4. Tôi sẽ tôn trọng sự chính trực trong mối quan hệ giữa giảng viên và sinh viên, ở khía cạnh cá nhân lẫn tri thức, nhằm loại bỏ từ trong ý thức những biểu hiện quá trớn nhằm thuyết phục người khác hay bao biện, cũng như đối với hành vi lạm dụng hay quấy rối.

5. Tôi sẽ rất cẩn trọng trong việc chuẩn bị cho các giờ giảng trên lớp, các buổi thảo luận, các buổi thực hành trong phòng thí nghiệm, hay những hoạt động khác và giám sát với cùng cung cách như vậy đối với việc chuẩn bị của các sinh viên trợ giảng cộng tác với tôi. Tôi sẽ khách quan, nghiêm khắc, và công bằng trong đánh giá sinh viên và sẽ có mặt trong các buổi thảo luận của sinh viên, những giờ tiếp sinh viên, những buổi thực hành trong phòng thí nghiệm, và những cuộc tiếp xúc chính thức khác bên ngoài giảng đường.

6. Cuối cùng, tôi sẽ tham gia vào đời sống của cộng đồng viện đại học, hợp tác với các đồng nghiệp của tôi trong những nỗ lực giáo dục và tham gia vào các hoạt động trong khuôn viên đại học. Và, trong khi phát triển sự nghiệp của chính mình, tôi sẽ khuyến khích, giúp đỡ, và hướng dẫn các đồng nghiệp của mình, đặc biệt là những người mới được bổ nhiệm, để họ có thể trở thành những giảng viên hiệu năng và những học giả thành công.Lời thề này do tôi tự nguyện thực hiện và gìn giữ với ý thức rằng đặc ân của quyền tự do học thuật được dành cho tôi đi liền với bổn phận của trách nhiệm nghề nghiệp để vinh danh và phục vụ sinh viên, ngành học, nghề nghiệp, đồng nghiệp, và viện đại học của tôi, và xã hội rộng lớn hơn.

Nguồn: “Tạo dựng tương lai (The Creation of the Future)” – Frank T.H. RhodesBiên dịch bởi Hoàng Kháng, Tô Diệu Lan. Cảm ơn Giáo sư Trần Đăng Hòa đã chép lại và chia sẻ

BA BÀI HỌC QUÝ GIÁ
Hoài Vân sựu tầm tuyển chọn và hiệu đính
Tháng 8 mùa thu, lá khởi vàng chưa nhỉ? (ảnh trên)


1. Vàng hay bùn, thứ nào giá trị hơn?

Một cao tăng hỏi: Anh cho rằng một hạt vàng và một đống bùn, thứ gì tốt hơn?Người cầu đạo đáp: “Tất nhiên là vàng rồi!”Vị cao tăng mỉm cười, nói tiếp: “Vậy nếu anh là một hạt giống thì sao?”Lời bình: Trên thế giới này không có cái gì là xấu, tốt tuyệt đối. Chỉ cần phù hợp với bạn sẽ là tốt.

2. Gạo vẫn là gạo

Một thanh niên thỉnh giáo vị đạo sĩ: “Sư phụ, có người nói con là thiên tài, cũng có người mắng con là ngốc nghếch, ý kiến của thầy thế nào ạ?”“Vậy con đánh giá mình thế nào?” – vị đạo sĩ hỏi lại.Người thanh niên nọ vẻ mặt ngơ ngác.“Ví dụ một cân gạo, trong mắt người làm bánh thì nó là bánh nướng, trong mắt người nấu rượu thì nó là rượu, trong mắt người ăn xin thì đó là một bữa cơm cứu mạng. Còn gạo thì vẫn là gạo mà thôi.”Lời bình: Cách bạn tự đánh giá bản thân mình có vai trò quyết định đến giá trị của chính bạn.

3. Một cốc nước và một hồ nước

Đạo trưởng có một đệ tử thường hay oán thán. Một hôm, ông bỏ muối vào một cốc nước và bảo người đó uống. Đệ tử nói: “Mặn đến phát đắng.”Vị đạo trưởng tiếp tục bỏ nhiều muối hơn vào hồ nước và bảo đệ tử thử lại. Sau khi uống xong, người này nói: “Nước rất tinh khiết và ngọt”.Lúc này, vị đạo trưởng mới nói: “Đời người, đau khổ chính là muối, vị mặn của nó được quyết định bởi thứ vật dụng chứa nó.”Lời bình: Những người thường hay ca thán, oán trách thế giới, hãy xem lại liệu có phải trái tim của mình quá hẹp hòi?(Lạng mụm có chỉnh sửa)

“Nghĩ về nhau hóa nên gần/ Còn hơn chỉ cách vài phân hững hờ” Thơ ảnh Hoahuyen Đào Ngọc

HỌC KHÔNG BAO GIỜ MUỘN
Hoàng Kim


Hôm nay chúng ta cùng đọc bài NHỚ ÔNG với thư trao đổi của cu Nguyễn Xiển gửi cụ Đỗ Mười; cùng nghiên cứu bài giảng tóm tắt PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHOA HỌC và trích yếu 20 sách hay của PGS. TSKH Phan Dũng; cùng nghiền ngẫm CHÚ NĂM tản văn sâu sắc của nhà văn Phan Chí Thắng. Học không bao giờ muộn. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoc-khong-bao-gio-muon/

NHỚ ÔNG
Nam Nguyen 28 Tháng 9, 2018

Lời PGSTSKH. Phan Dũng (9 8 2020): Thư của ông Nguyễn Xiển, người 40 năm làm Phó rồi Tổng thư ký Đảng xã hội Việt Nam gửi Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mười cách đây 26 năm.

Giữa những năm 90 ông Xiển đã điếc nặng, đi lại cũng khó khăn hơn rồi. Ông không được hút thuốc lá nữa, nhưng vẫn có thể nhấm nháp mỗi bữa một chút bia. Thỉnh thoảng có học trò cũ, anh chị em trí thức hay Việt kiều qua thăm ông vui lắm. Các con cháu phải đọc báo thật to cho ông nghe, còn tivi thì phải vặn hết cỡ volume ông mới nghe được. Bà lúc này cũng mệt dài dài, phải nằm một chỗ, không chăm sóc được cho ông như trước nữa. May mà có nhiều con gái, con trai ở gần và qua lại luôn để ông đỡ buồn.

Chẳng còn giữ chức vụ nào nữa, tuổi cao lắm rồi nhưng vẫn có nhiều người muốn hỏi ý kiến ông, muốn ông cho ý kiến với lãnh đạo về việc này, việc khác. Tôi nhớ có một tối ông tiếp một chị trung niên còn khá trẻ, khi chị về rồi ông mới bảo “Đấy là vợ ông Trần Xuân Bách đấy, thương lắm, chả biết giúp thế nào…”. Viết hồi ký cũng là một việc để ông vận dụng trí lực, chống với tuổi già.

Đây có lẽ là một trong những bức thư cuối cùng của ông Xiển, tôi xin đăng lại mà không có comment nào, các bạn hãy tự đọc và chiêm nghiệm…

THƯ GỬI ĐỒNG CHÍ ĐỖ MƯỜI
Hà Nội, ngày 12 tháng 1 năm 1994

Kính gửi: Đồng chí Đỗ Mười

Thưa Anh.
Trước hết, tôi xin cảm ơn Anh đã cho người đến thu ý kiến của tôi đề đạt với hội nghị giữa nhiệm kỳ. Tôi luôn quan tâm với vận mệnh của đất nước, nhưng với cái tuổi 87, tuổi gần đất xa trời, trí óc tôi không còn được minh mẫn như trước nữa, e có những điều suy nghĩ không được đúng chăng! Tôi đã trao đổi với anh Nguyễn Lân và cùng nhau viết nên bản góp ý này.

Cũng may là tôi còn có vinh dự được nhiều anh em trí thức cũ và mới quý mến và tin cậy. Trong số đó có những đồng chí cũ của tôi ở Đảng Xã hội Việt Nam và một số anh em trí thức trẻ, kể cả mấy người là đảng viên cộng sản.Vậy tôi xin trình bày với anh một số thắc mắc, băn khoăn của anh em để anh xem xét. Họ nói với tôi nhiều vấn đề nhưng chủ yếu là hai điều chính sau đây:

Một là mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng.
Hai là quan hệ giữa Đảng với trí thức.

Họ nói: “Đảng luôn tuyên bố là Đảng hoàn toàn vì dân, thậm chí là đầy tớ trung thành của dân. Nhưng trong thực tế, từ trung ương đến địa phương, người dân ngoài Đảng hoàn toàn bị lép vế, thậm chí như là thứ dân”.

Họ cho rằng số đảng viên so với toàn dân chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ, nhưng từ ban lãnh đạo xã đến chính phủ trung ương, rất hiếm có người ngoài Đảng tham gia. Trong hội đồng nhân dân các cấp cũng như trong Quốc hội, có mấy ai là người ngoài Đảng.

Nhớ lại khi Bác Hồ mới về lãnh đạo đất nước, họ thấy trong Chính phủ của Bác cũng như ở các cơ sở, đa số là những người ngoài Đảng tin Bác và tin Đảng, tận tụy công tác đến cuối đời. Nhìn lại thấy rất ít người mắc khuyết điểm.

Đến nay thì từ chủ tịch xã, phường đến chánh, phó chủ nhiệm các khoa, trưởng phó phòng hành chính, tuyệt đại bộ phận đều phải là đảng viên. Mà buồn thay trong cái quốc nạn tham nhũng hiện nay thì có thể nói thủ phạm phần nhiều là những đảng viên, vì chỉ họ mới có quyền để mà tham nhũng!

Hôm trước, tôi có báo cáo với anh Phạm Văn Đồng là nhiều người rất thắc mắc về có ý định đưa ảnh bà Nguyễn Thị Định vào thờ trong đền Hai Bà Trưng. Anh Đồng đã cho đi điều tra. Tôi mong sẽ ngăn ngừa được những việc làm thiếu thận trọng như vậy cũng như việc xâm phạm Tháp Rùa trên Hồ Gươm.

Về vấn đề trí thức, anh chị em có nhiều thắc mắc. Họ hỏi tôi: Có phải trí thức ngày nay kém các bác ngày xưa mà trong chính phủ, các cơ quan, kể cả các viện khoa học, hầu như không có một người lãnh đạo nào là người ngoài Đảng.

Họ kể chuyện rằng hiện nay ở Trung Quốc, nhiều viện trưởng, chủ nhiệm khoa trường đại học là những Hoa Kiều ở ngoại quốc được mời về. Trong khi đó cũng có những Việt kiều đóng những vai quan trọng trong chính giới và nhất là trong các ngành kinh tế của các nước tư bản. Liệu Đảng ta có dám mời họ về giữ những nhiệm vụ như thế không?

Họ nói: Gần đây, Đảng tuyên bố trí thức là một trong ba thành phần cơ bản của nhân dân, nhưng sao trí thức ngoài Đảng lại không được Đảng tin tưởng? Trái lại, họ còn bị rẻ rúng nữa. Một nhà trí thức lớn như Trần Đức Thảo đã từng tranh đấu thắng lợi với một nhà tư tưởng trứ danh như Jean-Paul-Sartre mà chỉ vì nói thẳng trong vụ Nhân văn – Giai phẩm mà bị bỏ rơi trong bao nhiêu năm. Đến khi ông ta chết ở Pháp, được Pháp trọng thị, thì ta mới đề cao trong báo chí. Anh em cho đó là một việc đáng buồn! Một trí thức khác như Nguyễn Mạnh Tường, 22 tuổi đỗ hai bằng tiến sĩ ở Pháp, khi về nước tham gia kháng chiến được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng và hoàn thành xuất sắc, nhưng chỉ vì phát biểu không đúng theo chủ trương của Đảng mà bị bắt ngồi xó trong bao nhiêu năm, đến nỗi trở thành một người bất mãn, khiến gần đây cho xuất bản quyển “Un excomunié” rất tệ hại.

Gần đây, một trí thức lớn là Nguyễn Khắc Viện đã có công to trong kháng chiến chống Pháp và trong phổ biến văn hoá Việt Nam, thế mà tuy đã là đảng viên, nhưng chỉ vì nói thẳng mà bị coi như một kẻ phản động.

Một trí thức lỗi lạc khác là Phan Đình Diệu, một nhà khoa học được nhiều trường Đại học trên thế giới ca tụng nhưng chỉ vì trình bày thẳng thắn những ý kiến của mình mà bị hắt hủi, đến nỗi các báo chí không được đăng những bài đáp lại những lời phê phán của người khác.

Chắc anh còn nhớ lại nội dung câu chuyện giữa chúng ta trong buổi trao tặng huân chương sao vàng cho Đảng Xã hội Việt Nam trước khi kết thúc 40 năm hoạt động. Tôi có nói với Anh tại sao tôi không gia nhập Đảng Cộng sản: “Hồ Chủ tịch đã giao cho tôi làm Phó tổng thư ký rồi Tổng thư ký Đảng Xã hội Việt Nam. Bây giờ đã già rồi, tôi vào Đảng Cộng sản làm gì!”.

Sau khi tuyên bố thôi hoạt động thì chúng tôi an phận thủ thường. Tuy không nhắc lại chuyện cũ, nhưng cũng thật khó hiểu vì sao khi đăng tin cáo phó hoặc mừng thọ một số đảng viên Xã hội hay Dân chủ, kể cả các nguyên ủy viên Ban chấp hành Trung ương, thì báo chí ta không dám nói đến khía cạnh hoạt động này của họ. Trường hợp đưa tin mừng đại thọ 90 tuổi của anh Hoàng Minh Giám trên báo Nhân dân (có đăng ảnh anh đến thăm gia đình) là một ví dụ điển hình. Vì sao lại không dám nhắc đến việc làm Phó Tổng thư ký Đảng Xã hội Việt Nam của anh ấy trong mấy chục năm qua, nhưng lại nêu đã từng làm Phó chủ tịch Quốc hội (một chức vụ anh Giám chưa bao giờ làm). Tôi đã đích thân yêu cầu Báo Nhân Dân đính chính nhưng đã không được đáp ứng đúng mức. Việc viết lịch sử cách mạng Việt Nam gần đây, trong đó có lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, thường quá chú trọng đến thành tích quy công cho Đảng, nhưng lại chưa nêu đúng mức hoặc bỏ qua những sai lầm, khuyết điểm (thậm chí có lúc nghiêm trọng) cũng như vai trò, đóng góp của quần chúng, những người ngoài đảng. Bản sơ thảo lịch Quốc hội khoá I là một ví dụ. Những bài viết về đăng trên một số báo gần đây không dám đề cập đến 40 năm của tôi trong Đảng Xã hội Việt Nam.

Tôi xin nêu thí dụ gần đây nhất: Nhà báo Hoàng Phong có viết một bài về sự nghiệp của tôi đăng trên báo Đoàn kết của Hội Việt kiều tại Pháp. Mặc dù rất thân, song cũng không dám đả động gì đến 40 năm làm Phó rồi Tổng thư ký Đảng Xã hội Việt Nam của tôi. Một số bạn thân có đề nghị tôi nhắc lại trong dịp này, những ý kiến mà tôi đã phát biểu ở Mặt trận và Quốc hội mà không được chấp nhận. Tôi không muốn nhắc lại chuyện cũ, chỉ đề nghị những việc gì Đảng nhận thấy sai thì phải sửa. Nếu Đảng tiếp tục đối xử với Anh Nguyễn Khắc Viện, Anh Phan Đình Diệu như hiện nay thì sẽ không được lòng tin ở trong nước cũng như trí thức Việt kiều ở ngoài nước. Trí thức Việt Nam khao khát độc lập, tự do, dân chủ, không thể bằng lòng với chế độ chưa có tự do báo chí – ngôn luận như hiện nay. Xin Đảng phải sáng suốt hơn các Đảng khác, phải thay chế độ “đảng trị” bằng chế độ “đức trị”.

Xin chân thành cảm ơn.

Kính chúc anh dồi dào sức khỏe, hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình.

Kính thư

Đồng kính gửi:
– Các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị.
– Đồng chí Cố vấn Phạm Văn Đồng.”

Thương nhớ ông vô cùng!

Nam Nguyen

Sách hay là bạn quý
Hoàng Kim cám ơn PGS. TSKH Phan Dũng đã tặng sách hay

Thư ngỏ tặng sách trên mạng
của PGS. TSKH Phan Dũng


Tp. Hồ Chí Minh, ngày 26/5/2017

Kính gửi các bạn thật sự trăn trở, thật sự lo lắng về tình hình giáo dục-đào tạo Việt Nam trong suốt thời gian dài.

Thưa các bạn:

Đã gần 70 tuổi, tôi xin phép xưng hô “tôi – các bạn” cho thân mật.Tôi là Phan Dũng, PGS. TSKH, người sáng lập và giám đốc Trung tâm Sáng tạo Khoa học-kỹ thuật (TSK) thuộc Trường đại học khoa học tự nhiên, Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh từ năm 1991 đến 2014.

Tôi viết thư ngỏ này nhằm thông tin đến các bạn một “điểm sáng” trên bức tranh giáo dục-đào tạo không mấy phấn khởi của nước nhà. “Điểm sáng” này là những kết quả việc làm của chúng tôi hơn 40 năm qua, thể hiện ở mấy đặc điểm sau:
– Chưa từng có ở Việt Nam từ trước đến nay.
– Hiện đang là duy nhất ở Việt Nam.
– Đối với thế giới vẫn còn đang rất mới.
– Những người học đã thu được những ích lợi rất to lớn trong cuộc sống, công việc cả về nhận thức lẫn hành động, cảm thấy hạnh phúc hơn so với trước khi học.

Triết lý của chúng tôi là giáo dục-đào tạo phải xây dựng những người học hạnh phúc. Biện pháp thực hiện của chúng tôi là chọn, biên soạn và dạy môn học trang bị cho người học những năng lực cần thiết để người học biết mưu cầu hạnh phúc và biết cách đạt được hạnh phúc phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể riêng của mỗi người, có những đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của xã hội, đất nước.

Môn học được chúng tôi chọn, biên soạn và dạy là Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới (TRIZ mở rộng), viết tắt là PPLSTVĐM (TRIZ mở rộng). TRIZ có nghĩa là Lý thuyết giải các bài toán sáng chế với tác giả G.S. Altshuller. Môn học này dạy các phương pháp và các kỹ năng tư duy sáng tạo tiên tiến nhất trên thế giới hiện nay, giúp người học giải quyết tốt các vấn đề và ra quyết định đúng trong suốt cuộc đời của mỗi người. Đến nay, chúng tôi đã dạy hơn 500 khóa học cơ bản và nâng cao cho hơn 20.000 người ở trong và ngoài nước, đủ mọi thành phần kinh tế, xã hội, chuyên môn, nghiệp vụ, có độ tuổi từ 15 đến 74, từ học sinh đến tiến sỹ, từ anh đạp xích lô, chị nội trợ, tiểu thương đến các cán bộ cấp vụ, thứ trưởng.

Chúng tôi đã tiết kiệm cho xã hội khoảng 100 triệu USD vì người Việt Nam không học tại TSK thì phải học ở nước ngoài với giá học phí 500 USD một người, một ngày. Ngoài ra còn phải tính đến các chi phí khác như vé máy bay khứ hồi, ăn, ở, đi lại… tại chỗ. Trong khi đó, suốt hơn 40 năm qua chúng tôi hoạt động tự trang trải, không dùng tiền từ ngân sách nhà nước.

Mặt khác, ngoài 20 quyển sách bằng tiếng Việt viết về PPLSTVĐM (TRIZ mở rộng), chúng tôi còn công bố các công trình nghiên cứu dưới dạng các báo cáo, báo cáo chính, các bài báo, các bài báo mời ở các nước như Nga, Mỹ, Anh, Hà Lan, Nhật, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Thái Lan.

Thông tin mà tôi gửi đến các bạn tập trung trong quyển sách có tựa đề “Giáo dục và đào tạo: xây dựng những người hạnh phúc nhờ sáng tạo (một số kết quả thu được trong hơn 40 năm qua)” (xem hình).

Tôi xin tặng các bạn quyển sách nói trên.

Mời các bạn click vào địa chỉ sau:http://cstc.vn/papers/SThoc-13_kemThuNgo_saved.pdf

Quyển sách có Mục lục ở trang 5 nhưng để các bạn tiện theo dõi, tôi xin tóm tắt nội dung:

– Lý luận khoa học là cơ sở triết lý giáo dục-đào tạo xây dựng những người hạnh phúc và biện pháp thực hiện triết lý của chúng tôi được trình bày từ trang 15 đến trang 140.

– Du nhập, phổ biến và phát triển PPLSTVĐM (TRIZ mở rộng) ở Việt Nam được trình bày từ trang 141 đến trang 171.

Tiếp theo là các bản thu hoạch, thư cảm nhận của các học viên sau khi học môn PPLSTVĐM (TRIZ mở rộng). Bạn nào quan tâm nhiều hơn có thể đến TSK đọc nhiều ngàn bản thu hoạch tương tự. Mỗi bản thu hoạch của học viên (người thực, việc thực) có thể coi là truyện ngắn thậm chí rất ngắn, tâm sự về các thay đổi tích cực, các áp dụng của học viên sau khi học môn PPLSTVĐM (TRIZ mở rộng) nên rất dễ đọc với độ tin cậy cao. Quả thật, sau khi học, các học viên thấy mình hạnh phúc hơn.

Các bản thu hoạch của các học viên chứng minh chúng tôi đã chọn triết lý giáo dục-đào tạo xây dựng những người hạnh phúc và thực hiện triết lý đó trên thực tế hơn 40 năm qua là đúng. Chúng tôi cho rằng, chúng tôi đã thành công. Chính vì vậy, chúng tôi mới thông tin đến các bạn thông qua quyển sách tổng kết các việc làm của chúng tôi.

Các bản thu hoạch của các học viên này được sắp xếp theo thứ tự sau:

1. Thu hoạch nêu lý do thúc đẩy học viên đi học môn PPLSTVĐM (TRIZ mở rộng) và các ích lợi trình bày từ trang 171 đến trang 252.

2. Thu hoạch của học sinh, sinh viên trình bày từ trang 252 đến 325.

3. Thu hoạch của công nhân, tiểu thương, người làm nghề tự do trình bày từ trang 325 đến trang 355.

4. Thu hoạch của những người trình độ đại học trình bày từ trang 355 đến trang 395.

5. Thu hoạch của các nhân viên, cán bộ quản lý làm việc trong các cơ quan nhà nước trình bày từ trang 395 đến trang 432.

6. Thu hoạch của các nhân viên, cán bộ quản lý làm việc trong các công ty tư nhân, nhà nước, liên doanh trình bày từ trang 432 đến trang 541.

7. Thu hoạch của các thầy cô giáo, các cán bộ quản lý giáo dục các cấp từ mầm non đến sau đại học trình bày từ trang 541 đến trang 663.

8. Các vần thơ thu hoạch của các học viên trình bày từ trang 664 đến trang 709.

9. Thu hoạch của các cán bộ quản lý, giảng dạy và nghiên cứu trong các lớp tôi dạy ở nước ngoài trình bày từ trang 710 đến 724.

Tiếp theo là 8 phụ lục rất nên đọc.Bạn không nhất thiết đọc lần lượt mà có thể chọn đề tài nhất định theo số thứ tự trang đã viết ở trên để đọc, tùy theo sự quan tâm của mình. Ví dụ, bạn nào không quan tâm phần lý luận có thể đọc ngay phần các bản thu hoạch của các học viên từ trang 171, hoặc bạn nào quan tâm thu hoạch của các học viên là những người làm việc trong các công ty tư nhân, nhà nước, liên doanh, xin đọc từ trang 432 đến trang 541…

Vì sự phát triển lành mạnh, đúng hướng của giáo dục và đào tạo Việt Nam, vì sự nghiệp chung, vì tương lai của nước nhà, tôi tha thiết mong các bạn chia sẻ “thư ngỏ” này, trước hết cho các bạn của bạn trên Facebook, cho càng nhiều người biết và đọc quyển sách càng tốt.

Các bạn quan tâm thêm các hoạt động mở lớp học thường xuyên của TSK… xin truy cập website của TSK: http://cstc.vn.

Các bạn quan tâm thêm các hoạt động của tôi, xin vào Google đánh cụm từ “PGS. TSKH. Phan Dũng”.

Các ý kiến trao đổi xin gửi về địa chỉ email: phandung.tsk@gmail.com

Trân trọng cảm ơn các bạn rất nhiều và chúc các bạn mọi điều tốt lành nhất.

Phan Dũng

CHÚ NĂM
Phan Chí Thắng


Quê tôi không có lệ gọi người theo thứ tự trong nhà như dân Nam Bộ. Tôi không rõ chú tên Năm hay là thứ 5 trong gia đình. Trong số đồng hương với cha mẹ tôi, chú là người hay đến chơi với cha mẹ tôi nhất.

Tôi đặc biệt để ý đến chú vì chú chẳng bao giờ nói chuyện với tôi, ngoài một lần chú bảo chú đi cách mạng là theo ba cháu chứ hồi đó chú chỉ biết cách mạng là đánh Pháp giành độc lập thôi. Chú không nói chuyện với tôi vì tôi còn trẻ con và vì chú còn bận nói chuyện với cha tôi.

Chú nhỏ con, gầy gò. Trên người chú duy có đôi mắt là sáng, còn lại không có gì đáng chú ý. Chú là công an nhưng chưa bao giờ tôi thấy chú mặc sắc phục nên không biết chú chức gì, làm việc gì. Quần áo chú mặc trên người cũng tầm tầm như bao cán bộ công nhân viên hồi đó. Quần kaki tem phiếu, áo sơ mi cũng tem phiếu. Mùa đông thêm chiếc áo đại cán kaki chắc cũng tem phiếu.

Bao giờ chú cũng chở vợ trên chiếc xe đạp nam có lẽ hơi cao so với chú đến thăm cha mẹ tôi. Vợ chú gầy như con mắm, môi thâm, da vàng và mắt lộ bạch, di chứng nhiều năm sốt rét rừng. Cô chú không có con. Đàn ông không con không sao, đàn bà không con thường khô đét, khó tính và tự kỷ.

Tôi chưa từng thấy người đàn bà nào ít nói và buồn bã như cô Năm và cũng chưa thấy ai chăm vợ như chú ấy. Nhớ mãi mỗi lần ra về, chú Năm dựng xe đạp sát vỉa hè, ngồi lên yên, một chân chống lên vỉa hè cho vững, đợi cô ngồi đàng hoàng trên booc ba ga rồi chú mới cong lưng đạp xe đi.

Có những đợt bặt vài năm cô chú không đến nhà tôi. Cha tôi nói chắc chú đi công tác xa Hà Nội. Cha không nói chú đi đâu, có thể cha cũng không biết. Sau 1975 tôi mới biết là chú đi B. Con người gầy gò nhỏ thó đó vượt Trường Sơn nhiều lần.

Sau mỗi lần đi B ra Hà Nội chú lại chở cô đến nhà tôi chơi. Chú rì rầm trò chuyện với cha tôi trong khi cô được mẹ tôi châm cứu và cho ít thuốc bổ. Còn tôi giả vờ học bài nhưng căng tai nghe cha chú nói chuyện. Lúc nào cần để tôi không hiểu, họ dùng tiếng Pháp.Sau 1975 chú chuyển về Huế, vẫn làm công an. Từ đó tôi ít gặp chú. Năm 1985, một lần về quê tôi đạp xe tìm thăm chú. Chú người làng khác, bên kia đường xe lửa. Ngôi nhà ba gian bình thường, sân láng xi măng nằm trong khu vườn nhỏ. Không có vẻ gì là chú làm to. Trên tường ngoài ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh không thấy treo bằng khen huân huy chương gì cả. Người như chú bét ra phải có huy chương chống Pháp và huy chương chống Mỹ.

Chú về hưu được mấy năm, ở nhà làm vườn. Chú pha trà mời tôi uống, miệng ngậm điếu sâu kèn như mọi người Huế xưa, cô xuống bếp luộc khoai đãi cháu. Cô gầy hơn xưa, tóc bạc trắng. Chú biểu tôi kể chuyện Hà Nội. Tôi hạ giọng thì thầm, bắt chước kiểu cha tôi trước đây nói chuyện với chú:
⁃ Đại hội tới có nhiều cái mới lắm ạ.

Đôi mắt chú vốn đã sáng nay lấp lánh. Chắc hẳn cán bộ đảng viên như chú mong chờ đổi mới lắm. Tiếc là tôi không biết gì hơn để nói với chú về Đại hội.

Cô mang nồi khoai ra, bốc khói thơm lừng. Tôi ăn khoai, ngắm chú bóc vỏ mời cô ăn. Họ có hạnh phúc không nhỉ? Cặp vợ chồng thời chiến mấy khi gần nhau, lại không con cái. Ta là lọ hoa, con cái như bông hoa. Lọ hoa không có hoa thật buồn.

Mà hạnh phúc là gì. Nếu hạnh phúc là được thương yêu nhau, được cho nhiều hơn nhận thì chú Năm là người hạnh phúc. Chú hài lòng với thực tại, nghĩa là chú hạnh phúc?

Cuộc mưu sinh làm tôi ít có dịp thăm chú. Đám tang chú không ai báo, mà nếu biết chắc tôi cũng không bay về Huế kịp.

❤️

Có lẽ tôi đã quên chú Năm như quên nhiều người khác. Họ nhiều lắm, không có gì đặc biệt và tự họ không thấy mình đặc biệt, nếu năm ngoái tôi không về quê lên đồi thắp hương cho người bà con trong họ.

Người Huế rất coi trọng mồ mả. Mả to đẹp gọi là lăng. Thường chôn người chết trên đồi hoặc vùng đất cao. Mỗi năm một nhiều thêm lên những ngôi mộ mới, đồi chi chít mộ.

Lăng của người bà con tôi xây đã lâu, cũ kỹ nằm tít trên cao. Đập vào mắt tôi là một cái lăng đôi còn khá mới, xây kỹ và đẹp. Thấy tôi tò mò, đứa cháu chở xe đưa tôi đi thăm mộ nói lăng ôn Năm bà Năm đó. ⁃ Ôn Năm nào? ⁃ Ôn Năm công an lính của ba cậu hồi xưa.

Tôi thắp mấy nén hương cắm trước bia, vái mấy vái. Bia ghi tên ông bà Năm. Dưới có dòng chữ “con cháu bác sĩ Tôn Thất Tân đồng phụng lập”

Thật kỳ lạ, thường là nam nữ tử tôn đồng phụng lập, nôm na là con cháu nội ngoại cùng xây lăng này. Chú Năm không con. Lăng lại do người khác họ xây.

Thằng cháu tôi, hiện làm Phó công an Phường liền kể: ⁃ Khi con trai của bác sĩ Tôn Thất Tân từ Mỹ về ra Phường xin phép xây lăng cho ôn Năm mọi người mới biết câu chuyện từ năm 1945.Sau Cách mạng tháng Tám, chính quyền non trẻ có một số người cực đoan và manh động. Cụ Phạm Quỳnh bị giết trong trường hợp này. Chú Năm lúc đó trong đội diệt tề, là đội chuyên ám sát những người làm cho Pháp, được lệnh giết bác sĩ Tân. Nhận thấy bác sĩ Tân là người nhân hậu, tuy làm cho Pháp nhưng làm thầy thuốc chứ không chống cách mạng, ôn Năm đột nhập vào nhà bác sĩ Tân, nói rõ nhiệm vụ của mình phải giết bác sĩ và khuyên bác sĩ hãy trốn vào Sài Gòn hành nghề, đừng ở Huế nữa. Do không hoàn thành nhiệm vụ ôn Năm bị kỷ luật.

Ông bác sĩ kịp chạy vào Sài Gòn, không tham gia chính trường dù nhiều lần được người Pháp và ông Diệm mời ra làm việc. Sau 75 ông đưa cả gia đình sang Mỹ định cư. Trước khi chết, ông kể với người con trai cả, cũng là bác sĩ, về ông Năm và việc ông Năm cứu sống ông năm 1945 như thế nào.

Thực hiện di nguyện của cha, ông bác sĩ về quê, xin xây lăng cho cô chú Năm.

Đúng ngày giỗ chú Năm, cả nhà ông bác sĩ từ Mỹ về, đông mấy chục người, mời thầy chùa tụng kinh làm lễ trước lăng, đông và vui lắm.Tôi lại tự hỏi cô chú Năm có hạnh phúc không nhỉ, hạnh phúc là gì?

Hạnh phúc là được làm người tử tế.

HỌC KHÔNG BAO GIỜ MUỘN
Hoàng Kim

Đường trần tỏa sáng ý thơ
Thênh thênh dạo bước bến mơ thỏa tình
Em vui đạt được ý mình
Anh mừng giống mới sắp thành niềm vui

Lúa thí nghiệm vụ Hè Thu tại Trung tâm DTARC Tập đoàn Lộc trời, ở ấp Hòa Tân, xã Định Thành, huyện Thoại Sơn , tỉnh An Giang, đang ngậm sữa đến chín, ảnh Dương Văn Chín

TRẠNG TRÌNH DƯỠNG SINH THI
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585)


Giữ khí, gìn tinh, lại dưỡng thần
Ít lo, ít muốn, ít lao thân.
Cơm nên vừa bụng, đừng nhiều vị,
Rượu chỉ vài phân, chớ qúa từng.
Miệng cứ câu đùa, vui miệng mãi,
Bụng thường nghĩ tốt, bụng lâng lâng.
Bốc đồng, biến trá, thôi đừng hỏi,
Để tớ tiêu dao đến tuổi trăm.

(Bản dịch của GS. Lê Trí Viễn)

BẢY BƯỚC ĐẾN HẠNH PHÚC
1. Suy nghĩ ít lại, Cảm nhận nhiều hơn!
2. Bớt đi khó chịu, Mỉm cười nhiều hơn!
3. Nói ít lại, Lắng nghe nhiều hơn!
4. Xem it lại, Hành động nhiều hơn!
5. Phán xét ít lại, Chấp nhãn nhiều hơn!
6. Phàn nàn ít lại, Trân trọng nhiều hơn!
7. Sợ hãi ít lại, Yêu thương nhiều hơn!

CHÍN ĐIỀU LÀNH SỨC KHỎE

1) Cười nhiều Giận ít
2) Vui nhiều Lo ít
3) Làm nhiều Nói ít
4) Đi nhiều Ngồi ít
5) Rau nhiều Thịt ít
6) Chay nhiều Mặn ít
7) Chua nhiều Ngọt ít
8) Tắm nhiều Lười ít
9) Thiện nhiều Tham ít

BÀI TẬP THỞ DƯỠNG SINH

Cách thở dưỡng sinh có nguồn gốc từ bài tập thở Ấn Độ tên pranayama (điều hòa hơi thở 478), hiện vẫn được áp dụng trong thiền, yoga, bao gồm thở vào trong 4 giây, giữ hơi trong 7 giây và thở ra trong 8 giây, đếm thầm trong đầu. Kỹ thuật thở này giúp bạn thư giản,nhanh hồi sức, ngủ nhanh, ngon và sâu , Cách điều hòa hơi thở 478 là sự tập trung chú ý luyện thở thay vì suy nghĩ lo lắng khi bạn nằm xuống ngủ. Các bước thực hiện:

Bước 1: Thở ra, hoặc thổi hơi ra hoàn toàn bằng miệng. Lưu ý thở mạnh, tạo thành tiếng. Đầu lưỡi đặt đằng sau răng hàm trên.
Bước 2: Đóng miệng, hít nhẹ nhàng bằng mũi, đếm thầm trong đầu đến 4.
Bước 3: Nín thở, đếm đến 7.
Bước 4: Lại thở mạnh ra thành tiếng, đếm đến 8.
Bước 5: Đóng miệng vào và hít nhẹ nhàng, lặp lại toàn bộ quá trình thêm ba lần nữa.

Nếu kỹ thuật này chưa đủ giúp bạn ngủ nhanh thì nên được kết hợp với các vật dụng hỗ trợ như mặt nạ ngủ, nút tai, nhạc thư giãn, tinh dầu khuếch tán hoa oải hương hoặc tránh uống nước có cafeine trước khi ngủ.

QUY TẮC VÀNG BA PHÚT

Phương pháp đánh răng 333

Mỗi ngày nên đánh răng 3 lần, sau bữa ăn 3 phút, mỗi lần đánh 3 phút. Nguyên tắc cơ bản khi đánh răng là chải sạch mọi mặt, từ bên trong lẫn bên ngoài của hàm răng.

Dưỡng tâm 3 phút sau khi tỉnh dậy

Nhắm mắt dưỡng tâm 3 phút sau khi tỉnh dậy rồi từ từ vận động tứ chi và đầu cổ.đừng vội bật nhanh dậy như khi người lính chiến tranh. Người già bị huyết áp cao hoặc mắc bệnh tim, mỗi khi thức giấc không nên ngồi dậy ngay; 25% trường hợp đột quỵ và đột tử xảy ra vào buổi sáng từ 7h đến 8h.

Đun nước thêm 3 phút sau khi sôi

Khi đun nước cần làm theo các bước: Trước tiên, để nước trong ấm một lúc rồi mới bắt đầu đun sôi; khi nước sôi mở nắp ấm; cuối cùng đợi nước sôi tầm ba phút và để lửa nhỏ. Cách đun này giúp các chất có hại trong nước bay hơi.

Ăn uống nóng lạnh cách nhau 3 phút

Không ăn uống nóng lạnh cùng lúc hại sức khỏe mà tối thiểu cách 3 phút. Ăn đồ nóng huyết quản sẽ giãn ra, nếu uống nước lạnh ngay, huyết quản đột ngột co lại làm huyết áp tăng cao dẫn đến đau đầu, buồn nôn, đau bụng.

Học cách hãm trà đừng nóng vội

Trà ngon, cà phê ngon phải biết pha đúng cách, đúng gu phải biết cách pha trà không nóng vội Ngâm trà trong nước 70-80 độ C khoảng 3 phút sau đó thay nước và tiếp tục ngâm trà thêm 3 phút nữa làm tăng hương vị của trà, giúp cafein tiết ra uống ngon, tỉnh táo, sảng khoái tinh thần

Không tức giận quá 3 phút
Năng lượng tiêu tốn trong 10 phút tức giận tương đương khi chạy 3.000 m. Ngoài ra, các phản ứng sinh lý lúc tức giận kích thích cơ thể sản sinh các chất độc phức tạp hơn bất cứ cảm xúc nào. Do đó, người tức giận khó sống lâu. Muốn tăng sức khỏe cũng như kéo dài tuổi thọ, bạn không nên tức giận quá 3 phút.

GSR PY1

LÚA SIÊU XANH PHÚ YÊN
Hoàng Kim

Vụ xuân năm 2014,  anh Nguyễn Trọng Tùng, phó Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT cùng anh Phúc, anh Thắng, Hoàng Long, Trúc Mai, anh Mạnh, anh Minh, anh Tồn, cô Thỏa và tôi bắt đầu triển khai việc đánh giá và tuyển chọn 12 giống lúa triển vọng thực hiện vụ đầu tiên trên vùng hạn Đồng Xuân, vùng mặn Tuy An và vùng thâm canh ở trại giống lúa Hòa An và Hòa Đồng. Lúa Siêu Xanh Phú Yên thật tốt, hứa hẹn tuyển chọn được giống mới triển vọng.

GSR PY3
GSR PY4
GSR PY5
GSR PY7
GSR PY8

Ngọc phương Nam: Bạn ước gặt gì hôm nay?
Học mỗi ngày, Bài học sâu sắc của cuộc sống

TRUYỆN KIỀU RA TRẬN
Hoàng Minh Đức

Anh giải phóng quân đi ra trận
Mang Truyện Kiều trong đáy ba lô
Đồng đội bị thất lạc chưa về
Mở trang Kiều bói xem còn mất.

Về Nghi Xuân thăm khu di tích
Gặp người thương binh kể Truyện Kiều
“Các bác ơi cốt hồn dân tộc
Cụ Tiên Điền thiêng biết bao nhiêu”.

Tôi về bên dòng sông Nhật Lệ
Ngoài khơi xa thấp thoáng cánh buồm
Thấy Nguyễn Du đang ngồi viết
“Buồn trông cửa bể chiều hôm”.

Chiến tranh qua rồi, mấy mươi năm
Lũ giặc cuồng ngông cuốn cờ về nước
Mộng bành trướng của bầy xâm lược
Được hay thua nên đọc trước Truyện Kiều.

Truyện Kiều là khúc hát, niềm yêu
Là quốc túy, tâm hồn dân tộc
Mười ngón tay rỏ máu Kiều, thánh thót
Tiếng đàn rơi, từng giọt cuộc đời.

Có nơi nào như Tổ quốc tôi
Người lính mang Truyện Kiều ra trận.

VỀ QUẢNG TRỊ NGƯỜI ƠI
Hoàng Đại Nhân

Em có về Quảng Trị với anh không ?
Miền đất thân thương bao mùa nắng gió
Mảnh đất kiên trung thắm dòng máu đỏ
Nơi cổ thành tiếng súng vọng ngàn xa…

Hãy ghé thăm dòng Bến Hải hiền hòa
Đậm dấu tích một dòng sông lịch sử
Đã qua rồi, thời đạn bom khói lửa
Nay dịu êm nghe sóng vỗ cửa Tùng

Rồi ghé thăm dòng Thạch Hãn kiên trung
Dòng nước biếc chứa bao điều huyền thoại
Dòng sông lửa – chiến công vang vọng mãi
Nơi “Đáy sông còn đó bạn tôi nằm”*

Nghĩa trang Trường Sơn, em nhớ ghé thăm
Hãy thắp nhang khu tượng đài tưởng niệm
Niềm xúc động dâng trào khi bước đến
Hơn chục ngàn liệt sĩ trắng hàng bia

Những chàng trai từ khắp các miền quê
Đã nằm xuống cho non sông một dải
Tuổi hai mươi, các anh còn sống mãi
Như Trường Sơn mây trắng nắng vàng bay

Quảng Trị hôm nay cuộc sống đổi thay
Đồng xanh lúa đang chờ mùa gặt mới
Cảng Cửa Việt vươn tầm xa đi tới
Cầu Hiền Lương nâng nhịp bước đôi bờ

Đakrông đẹp xinh như một bài thơ
Một dòng sông ẩn chứa nhiều huyền thoại
Về Quảng Trị một lần là nhớ mãi
Mảnh đất thiêng, tiếng vọng gọi ta về.

Sài Gòn, 16/6/2017
* Câu thơ của Lê Bá Dương

LÚA LỘC TRỜI AN GIANG
Dương Văn Chín (Chin Duong)

Công tác lai tạo chọn lọc giống cây trồng nói chung và lai tạo chọn lọc giống lúa mới nói riêng là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ, giữ lửa đam mê của các nhà di truyền chọn giống cây trồng. Hiện nay mặc dù có những công cụ hiện đại về mặt sinh học phân tử giúp ích nhiều trong chọn tạo giống lúa mới, nhưng lai truyền thống theo phả hệ vẫn đóng một vai trò quan trọng. Cây lúa làm mẹ được khử nhị đực. Nhị đực của cây bố được lấy hạt phấn và rắc vào bầu nhụy cái của cây mẹ. Quá trình thụ phấn và thu tinh xảy ra để tạo ra hạt lai F1. Cây F1 có cường lực giống lai và khỏe mạnh cường tráng hơn bố mẹ, nhưng là quần thể đồng nhất chưa phân ly. Từ thế hệ F2 trở đi, quá trình phân ly diễn ra . Nhà di truyền chọn giống chọn cá thể từ thế hệ này sang thế hệ khác, trên cơ sơ những đặc tính tốt của bố và những đặc tính tốt của mẹ để đến thế hệ F9- F10 thì cá thể được chọn lọc đã thuần , không còn phân ly . Những dòng thuần triển vọng được so sánh tại cơ sở lai tạo . Những dòng thuần xuất sắc được đựa đi khảo nghiệm quốc gia tổ chức bởi Cục trồng trọt (Bộ Nông nghiệp & PTNT) ở những vùng sinh thái khác nhau và ở những mùa vụ khác nhau. Kết tiếp là khảo nghiệm sản xuất trên diện đại trà . Thông thường mất khoảng 10 năm mới ra được 1 giống lúa mới được công nhận chính thức . Thí dụ như giống Lộc trời 1 , đạt Top 3 gạo ngon nhất thế giới đấu xảo năm 2015 tại Malaysia , phải mất 12 năm mới được công nhận chính thức . Cặp lai được tiến hành năm 2004 và Bộ NN công nhận chính thức năm 2016 ( Hình 1 : Các dòng lúa còn phân ly đang được chọn lọc cá thể ; Hình 2 : giống lúa đã thuần đang được khảo nghiệm quốc gia vụ Hè Thu 2020 tại DTARC )

Video Lộc Trời 28 ở An Giang

VANILLA CÂY LAN CHO QUẢ LÀM HƯƠNG LIỆU
DS Trần Việt Hưng


DẠY VÀ HỌC Cảm ơn anh Nguyễn Huệ Chí Thái đã chia sẻ 13 Tháng 8, 2014 · Hãy xem và mở rông kiến thức để làm giầu từ vốn rừng việt nam các bạn thân yêu của HC trên FB Những người bạn già thích làm vườn ,chơi mà có tiền từ vườn nhà mình mỗi bưởi sáng trưa chiều http://hoalanvietnam.org/a1760/vanilla-cay-lan-cho-qua-lam-huong-lieu

Vanilla: Cây lan cho quả làm hương liệu 25/06/2014 07:00:00 DS Trần Việt Hưng
HLVN – Chúng tôi hân hạnh giới thiệu với các bạn đọc sự tiếp tay của Dược sĩ Trần Việt Hưng với các bài biên khảo rất có giá trị về các dược liệu lấy từ hoa lan và những bài biên khảo công phu về các món ăn của chúng ta. Xin các bạn hãy đón coi.

Thưa quý Anh Chị,Hôm nay nhận bài Vanilla tôi liền chuyển đi ngay vì câu chuyện tình yêu rất lãng mạn không biên giới của Công Chúa ngày xưa.”Huyền sử Totonaca (một bộ tộc thổ dân sống tại vùng Mazantla, Mexico) kẻ rằng: “Cây vanilla được sinh ra khi Công chúa Xanat, bị vua cha cấm yêu một chàng trai dân thường, đã cùng tình nhân bỏ trốn vào rừng, nhưng họ bị bắt và bị chém, máu của hai người chết vì yêu đã ngấm xuống đất và từ đất đã mọc lên cây vanilla, tượng trưng cho một tình yêu bất tử.”Và ngoài ra cũng muốn biết tại sao cây Vanilla vườn Dược Thảo của SVDKSG/DHDKSG có Hoa mà không có trái. Có thể nhiều Anh Chị chưa bao thấy Hoa của cây Vanilla.Mời quý Anh Chị xem.Vanilla là cây độc nhất trong họ Orchidaceae (Lan) cho quả dùng làm thực phẩm. Với các cựu sinh viên ĐH Dược Khoa Sài Gòn trước năm 1975, chắc không ai quên được môn học Reconnaissance (nhận mặt thuốc) của năm Tập sự (Stagiaire) vì phải biết mặt vanilla, dễ đến mức không cần phải học. Vườn Dược thảo của ĐH Dược Sài Gòn cũng có một cây Vanilla planifolia. “Lá tuy xum xuê nhưng chưa bao giờ ra quả” (xin quý vị đọc tiếp cả bài để biết lý do).

VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu02Chi Vanilla có khoảng 110 loài, trong đó Vanilla planifolia là loài quan trọng nhất về phương diện kinh tế. Các cây lan Vanilla phát triển rất tốt trong khu vực giữa các Vĩ tuyến 20 Bắc và 20 Nam bao gồm những vùng từ Mexico xuống Nam Mỹ và qua tận Madagascar (Phi châu).Từ nhiều thế kỷ trước khi người Âu châu ‘khám phá’ Châu Mỹ, thổ dân Aztec đã dùng vanilla làm hương vị và đã biết cách ‘làm chín’ (ủ=dú) quả để tạo mùi thơm. Quả vanilla đã được người Aztec dùng làm ‘cống vật’ dâng Vua, lảm nguyên liệu để chế hương thơm và làm thuốc bổ.Huyền sử Totonaca (một bộ tộc thổ dân sống tại vùng Mazantla, Mexico) kẻ rằng: “Cây vanilla được sinh ra khi Công chúa Xanat, bị vua cha cấm yêu một chàng trai dân thường, đã cùng tình nhân bỏ trốn vào rừng, nhưng họ bị bắt và bị chém, máu của hai người chết vì yêu đã ngấm xuống đất và từ đất đã mọc lên cây vanilla, tượng trưng cho một tình yêu bất tử.

“VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu03Khi thực dân Tây Ban Nha do Hernan Cortés chiếm ngự Mexico, một tay phụ tá Bernal Diaz đã nhận thấy Hoàng đế Montezuma thường uống loại nước giải khát ‘chocolatl’ làm bằng hạt cacao, hạt bắp (cả hai đều được nghiền thành bột) và thêm hương vị từ tlilxochitl (bột nghiền từ quả vanilla đen) pha thêm mật ong. Người Tây ban Nha đã mang cây về ‘mẫu quốc’ và đến cuối thế kỷ 16, việc dùng vanilla đã phổ biến khắp Âu châu: tại Anh từ 1602, và tại Pháp từ 1700, vanilla đã được dùng để tăng mùi cho chocolat và thuốc lá.VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu04Trong suốt 3 thế kỷ, sau Cortès, Mexico đã là một trung tâm sản xuất vanilla độc quyền trên thế giới. Một vài thử nghiệm sơ khởi trồng Vanilla tại vùng Viễn Đông đã được thực hiện tại Buitenzorg, Java từ 1819, nhưng tuy cây trổ hoa, lại không ra quả. Bí mật này chỉ được giải đáp vào năm 1836 khi nhà thực vật người Belgique, Charles Morren, cho hoa vanilla thụ phấn bằng tay. Ông đã giải thích là hoa vanilla tại Mexico ra quả do sự trợ giúp của một loài côn trùng chỉ có tại địa phương, và côn trùng này là một loài ong (melipone bee), cùng với một loài chim hummingbird đã giúp hoa thụ phấn trong môi trường thiên nhiên. Ngoài ra, hoa của lan vanilla rất chóng tàn, chỉ nở kéo dài trong vòng 24 giờ, nên việc thụ phấn phải diễn ra đúng thời điểm để cây ra quả.

VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu05 VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu06Đến 1841, Edmond Albius, một cựu nô lệ tại Reunion đã tìm ra phương pháp tạo thụ phấn cho hoa vanilla khá ‘độc đáo’: dùng đầu nhọn của đũa tre đã vót, lấy khối phấn hoa, tách môi hoa và đưa khối phấn vào tiếp xúc với bàu noãn. Phương pháp thủ công này vẫn hiện được áp dụng tại những đồn điền trồng vanilla ở nhiều nơi trên thế giới.Hiện nay, vanilla được trồng tại những đồn điền ở Phi châu như tại Reunion, Mauritius, Madagascar, Seychelles, Tanzania; ở Á châu như Java, Indonesia) ; ở Nam Mỹ như Brazil; ở các đảo trong khu vực Caribbea như Jamaica.

Ngày nay Cộng hòa Malagasy (Madagascar cũ), đảo Comores và Reunion cung cấp khoảng 90% lượng hạt vanilla sản xuất trên toàn thế giới, phần còn lại do từ Seychelles, Mexico, Polynesia (thuộc Pháp), Indonesia và Uganda.Hoa Kỳ là quốc gia đứng đầu thế giới về tiêu thụ vanilla, theo sau là Âu châu (nhất là Pháp). Tổng sản lượng thế giới hiện nay mỗi năm khoảng 1400 tấn vanilla khô.(Một số cây vanilla planifolia, đã được trồng tại vài khu vực Nam Florida như Miami-Dade, Long Pine Key, Everglades HK, nhưng không ra quả trong các điều kiện tự nhiên)Tên khoa học và những tên gọi khác:Vanilla planifolia thuộc họ Orchidaceae.Các tên thực vật đồng danh: Vanilla fragrans, Epidendrum vanilla, Myrobroma fragrans.Tên thường gọi Flat-leaved Vanilla.Ngoài ra còn có 2 loài Vanilla khác cũng được trồng để làm gia vị là Vanilla pompana (Pompana Vanilla, West Indian Vanilla) và Vanilla tahitensis (Tahitian Vanilla).VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu07 VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu08Vanilla pompanaVanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu09 VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu10 Vanilla tahitensis

Mô tả thực vật:Vanilla planifolia:Cây thuộc loại dây leo, thân mọng mọc bám nhờ rễ cuốn vào cây chống, thân đường kinh 1-2 cm (0.4-0.8″), có thể mọc dài đến 10-15 m (11-16.4 yards). màu lục xậm, chia thành những đốt, khoảng cách giữa 2 nốt từ 5-15 cm (2-6″). Rễ dài, màu trắng nhạt, khí sinh, đường kính chừng 2 mm (0.08″), mọc đối diện với lá. Lá phẳng, mọng, mọc cách, hình thuôn-mũi giáo, dài 8-25 cm x 2-8 cm (3.15-10″ x 0.8-3.15″); mũi lá tuy nhọn nhưng cùn, gốc hơi tròn, phiến có nhiều gân song song nổi rõ; cuống ngắn.Hoa lớn, có mùi thơm, màu xanh-vàng nhạt, đường kinh khoảng 10 cm (4″), rất chóng tàn. Cuống hoa rất ngắn. Bàu noãn hình trụ cong, dài khoảng 4-7 cm (1.6-2.75″), rộng 1-1,5 cm (0.4-0.6″). Hai cánh hoa phia trên dạng tương tự như cánh đài, nhưng nhỏ hon; cánh hoa phia dưới biến dạng thành cánh môi hình loa kèn. Quả dạng nang, hơi hình trụ dài 10-25 cm (4-10″), đường kinh 5-15 mm (0.2-0.6″), khi khô có mùi thơm, chứa nhiều hạt li ti nhỏ cỡ 0,3 mm (0.12″); hạt được phóng thich khi nang quả nứt làm đôi. Hoa thường chỉ trổ hoa mỗi năm một đợt, tại Mexico trong các tháng 4-5, và các đảo Phi châu như Madagascar, Reunion vào các tháng 11-Giêng.

VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu11 VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu12Vanilla planifoliaTại Mexico và Trung Mỹ, vanilla planifolia được thụ phấn tự nhiên do loài ong điạ phương Melapona và cũng có thể do loài chim hút mặt hummingbird đặc biệt trong vùng. Tỷ lệ thụ phấn tự nhiên chỉ khoảng 1%.VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu13Vanilla pompanaVanilla pompana = West Indian Vanilla. Phân bố tự nhiên tại Đông-Nam Mexico, Trung Mỹ, Trinidad’ trồng tại Guadalupe, Martinique và Dominica. Hình dạng thực vật rất giống V. fragrans, nhưng lá lớn hơn dài 15-30 cm (6-12″), ngang 5-12 cm (2-5″), hoa màu vàng-xanh nhạt cũng to hơn và mộng hơn, thùy quanh dài đến 8,5 cm (3.35″), môi hoa có vảy nhỏ. Nang quả dầy và ngắn chừng 10-17,5 cm x 2,4-3,3 cm (4-6.7″ x 1-1.3″) .VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu14 VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu15Vanilla tahitinensisVanilla tahitinensis = Tahitian vanilla, giống địa phương Tahiti, trồng tại Hawaii. Lá hẹp và thuôn dài 12-14 cm x 9-10 mm (4.7-5.5″ x 3.5-4″). Nang quả mập, vỏ dày. Một số nhà thực vật cho rằng đây là một loài biến chủng tự nhiên từ V. planifolia đưa từ Manila sang Tahiti vào 1848.

Tại Việt Nam, không thấy có tài liệu nào của các tác giả Việt ghi về chi Vanilla, tuy nhiên trong “The Orchids of VietNam”, TS Leonid Averyanov có ghi loài Vanilla atropogon (trang 128), tìm thấy tại Hòn Bà (Khánh hòa), tác giả mô tả mẫu vật về phương diện thực vật nhưng không ghi những ứng dụng kinh tế.VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu16Vanilla atropogonThành phần hóa học:Quả vanilla chứa phần chinh là Vanillin ngoài ra còn có những hợp chất (khoảng 250) như eugenol, caproic acid, phenoles, phenol ether, alcohols, hợp chất loại carbonyl, acids (như vanillic acid), esters, lactones, các carbohydrate dây thẳng và thơm, vitispiranes.Quả V. planifolia tại Mexico chứa 1.5-2 % vanillin, tại Bourbon chứa đến 2.6 % vanillin-

Thành phần dinh dưỡng của quả (theo USDA):100 gram (3.5 oz) chứa:- Calories 288- Carbohydrate 12.65 g (0.45 oz)- Chất đạm 0.06 g (0.0021 oz)- Chất béo tổng cộng 0.06 g (0.0021 oz)- Khoáng chất:Sodium (9 mg), Potassium (148 mg), Calcium (11 mg), Sắt (0.12 mg), Đồng (0.072 mg), Magnesium (17 mg), Manganese (0.230 mg), Phosphorus (6 mg), Kẽm (0.11 mg)- Vitamins:Niacin (0.425 mg), Pantothenic acid (0.035 mg), Pyridoxine (0.026 mg), Riboflavine (0.095 mg)Vanillin:VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu17Vanillin là một aldehyde phenolic, thành phần chính trong dịch chiết từ quả vanilla planifolia. Trong quả có khoảng 2 % vanillin (tính theo trọng lượng khô) (Vanillin cũng có mặt trong một số cây cỏ khác như lan Leptotes bicolor, vỏ thông đỏ Tàu.)(Về phương diện hóa học, vanillin=4-hydroxy-3-methoxybenzal dehyde có thể điều chế từ nhiều nguồn gốc khác nhau. Ferulic acid một hợp chất loại phenolic thơm rất thông thường trong thiên nhiên, được sử dụng như một nguyên liệu căn bản trong các quy trình biến đổi thành các hương liệu hữu ich khác: vanillin, vanillic acid và protocatechuic acid đều là những chất biến đổi từ ferulic acid, Isoeugenol có thể chuyển thành ferulic acid và sau đó thành vanillin)Vanillin được Nicolas-Theodore Gobley cô lập từ dịch chiết vanilla planifolia và sau đó tinh chế thành một chất khá ‘tinh khiết’ từ 1858. Do nhu cầu cao, các nhà hóa học đã tìm cách tổng hợp vanillin từ những nguồn nguyên liệu khác.1874: 2 nhà hóa học Đức Ferdinand Tiemann và Wilheim Haarmann đã tổng hợp được vanillin từ coniferin, một glucoside của isoeugenol lấy từ vỏ thông.1878: Karl Reimer, tổng hợp vanillin từ guaiacol.Từ cuối thế kỷ 19, vanillin do bán tổng hợp từ eugenol đã được bán trên thị trường.Từ những năm 1930s, lignin một phụ phẩm thải từ kỹ nghệ bột giấy đã được dùng làm nguyên liệu để tổng hợp vanillin thay cho tinh dầu đinh hương (chứa eugenol). Tuy nhiên việc dùng lignin đã trở thành không thích hợp và vanillin tổng hợp hiện nay được sản xuất từ những phó phẩm dầu hỏa: guaicol và glyoxilic acid.Từ năm 2000, Công ty Rhodia đã đưa ra phương pháp sinh tổng hợp vanillin bằng cách lên men vi sinh từ ferulic acid, trich từ cám gạo. Phương pháp chưa được áp dụng vì giá thành quá cao 700 USD/kg so với 15 USD từ dầu hỏa (một ưu điểm duy nhất là vanillin từ phương pháp vi sinh được phép xem như Natural flavoring, trong khi đó vanillin từ dầu hỏa buộc phải ghi Synthetic flavor).Vanillin có nhiều công dụng trong công nghiệp thực phẩm (thường ghi là ‘imitation vailla) để tạo thêm hương vị, công nghiệp mỹ phẩm (nước hoa, kem dưỡng da), che mùi vị khó chịu trong dược phẩm, đồng thời làm chất trung gian trong việc tổng hợp nhiều hóa chất khác (khoảng 13% tổng sản lượng vanillin được sử dụng làm nguyên liệu để tạo những hóa chất khác); ngoài ra vanillin còn dùng làm ‘phẩm màu’ trên các tấm mỏng dùng trong phương pháp Sắc ký lớp mỏng (thin layer chromatography=TLC)Nghiên cứu dược học:Hoạt tính dược học của Vanilla planifolia được xem là do Vanillin. Cũng như đa số polyphenols, Vanillin có những hoạt tinh chống oxy-hóa và diệt tế bào ung thư.VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu18- Vanillin có khả năng bảo vệ các tế bào gốc keratinocyte (người) chống lại bức xạ cực tím B, bảo vệ được da (Food Chemistry & Toxicology Jan 2014)- Vanillin có hoạt tinh chống đột biến genes và ức chế hoạt động gây ung thư (carcinogenesis) của hóa chất. Một nghiên cứu về hoạt tính của vanillin trên sự tăng trưởng và lan tràn của tế bào ung thư vú (mammary adenocarcinoma) 4T1 của chuột loại BALB/c. Chuột cho uống vanillin cho thấy có sự giảm số lượng các nhóm tế bào ung thư tràn qua phổi so với chuột đối chứng. Nghiên cứu trong ống nghiệm (in vitro) ghi nhận vanillin, khi dùng ở nồng độ không gây độc hại cho tế bào, có khả năng ngăn chặn sự xâm nhập và di chuyển của tế bào ung thư, đồng thời ức chế hoạt tinh của men MMP-9 do tế bào ung thư bài tiết. Vanillin cũng ngăn chặn sự tăng trưởng của tế bào ung thư khi thử in vitro. Tuy nhiên vanillic acid, một chất biến dưỡng thứ cấp từ vanillin lại hoàn toàn không tác dụng trên các tế bào ung thư. (European Journal of Pharmaceutical Science 2005)Vanillin có hoạt tính thu nhặt các gốc tự do gây tác hại cho tế bào hệ thần kinh đưa đến những suy thoái thần kinh như trong các trường hợp bệnh Alzheimer’s, Parkinson. Vanillin cho thấy có tác động ngăn chặn hoạt động của PON (peroxynitrite), ngăn chặn phản ứng oxy-hóa dihydrorho damine 123 (Journal of Agricultural Food and Chemistry 2004).Một nghiên cứu năm 1992 (Menashian at al.) ghi nhận vanilla giúp làm giảm buồn nôn và làm thèm ăn nơi bệnh nhân đang chemotherapy (ung thư hóa trị). Năm 2004, Fladby và Fizgerald ghi nhận Vanilla có thể giúp chẩn đoán bệnh Alzheimer’s do người bệnh thường không ‘ngửi’ được mùi vanilla (Edible Orchids-Krum Sotirov).

Công dụng:Thực phẩm:Vanilla được dùng khá phổ biến trong công nghiệp thực phẩm. Do hương vị tương đối tế nhị, thay đổi theo từng loài vanilla và ngay trong cùng một loài, hương vị cũng thay đổi theo địa phương nơi cây trồng (như càphê, nho).Vanilla planifolia bao gồm các loài trồng tại Ấn độ, Indonesia, Papua New Guinea, Mexico, Guatamala, Uganda được chia thành 2 nhóm:- Bourbon vanilla hay Bourbon – Madagascar vanilla từ vanilla planifolia sản xuất tại Madagascar, Comoros, Reunion (Trong thế kỷ 19, các đảo Comores và Reunion được gọi là Iles de Bourbon). Mùi thơm ‘ngọt ngào’, mạnh nhất trong các loài vanilla. Chiếm khoảng 70% tổng sản lượng vanilla trên thị trường.- Mexican vanilla, từ vùng gốc Mexico nơi xuất phát của V. planifolia. Hương vị đậm hơn nhưng lượng sản xuất giới hạn, hương thơm được giới tiêu thụ đánh giá ‘cao’, tinh tế hơn. Mùi dịu dàng pha trộn hương thơm tổng hợp của nhiều loài hoa dại Mexican vanilla trồng tại Vera Cruz được xếp vào loại ‘hảo hạng’. VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu19Bourbon vanilla VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu20Mexican vanilla Vanilla tahitiensis cung cấp ‘Tahitian vanilla’. Hạt xậm màu, ngắn và mập, chứa nhiều dầu béo hơn hạt V. planifolia, hương thơm thoảng thêm mùi hoa dại. Được mô tả là có mùi tổng hợp của cam thảo, cherry, mận và nho. Trước dây toàn bộ lượng Tahitian vanilla được xuất qua Pháp nhưng hiện nay khoảng ½ được xuất qua HK.French vanilla, không phải là tên của loài cây, nhưng là nhóm từ ngữ để gọi những chế phẩm có mùi vanilla.VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu21

Trong công nghiệp thực phẩm, vanilla là một ‘phụ gia’ rất thông dụng, đặc biệt là là kem đá lạnh (ice cream). Nhu cầu Vanilla ice cream đã dùng khoảng 50% tổng số lượng vanilla sản xuất trên thế giới, chưa kể luợng pha trộn vào các ice-cream khácHoa Kỳ đã nhập cảng mỗi năm khoảng 50 tấn vanilla từ Mexico.Trong khoa ‘nấu nướng’ Vanilla được dùng rất nhiều, làm tăng và tạo mùi thơm cho bánh, kẹo, cho các loại sauces.VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu22Trên thị trường quả Vanilla thường có màu nâu-chocolat hay đen (than), dẻo và được phủ bằng một lớp ‘sương tinh thể’ (frost hay givre). Quả có thể tiếp tục dùng lại, sau khi trích (extract), chỉ cần rửa và phơi khô trở lại, và sau đó tồn trữ trong bình kín, Khi quả khô, trở thành dòn thì mất hết mùi hương.Vanilla extract: Dịch chiết vanilla (quả vanilla băm vụn) bằng hỗn hợp nước-alcohol, đun nóng ở 70°F (21°C), chiết nhiều lần, sau đó giữ (ủ) trong bình kin từ 3-6 tháng. (Vanilla extract sản xuất tại Mexico thường bị pha trộn thêm coumarin một chất tạo hương vị độc hại. Coumarin đã bị cấm sử dụng trong thực phẩm tại HK từ 1954) Vanillin và những hợp chất tạo mùi trong quả tan trong alcohol hơn là trong nước, nên nồng độ alcohol càng cao càng tốt.Pure vanilla extract chứa 35% alcohol (tính theo thể tích).Vanilla flavoring loãng hơn, chứa lượng alcohol thấp hơn.Imitation vanilla là những thành phẩm làm bằng vanillin tổng hợp. FDA bắt buộc nhãn sản phẩm phải ghi ‘imitation’ nếu dùng hương liệu (vanillin) tổng hợp. Danh từ ‘Vanilla extract’ dành riêng cho hương liệu lấy từ quả vanillaVanilla oleoresin, trong thương mãi, là tên gọi dành cho chất lỏng màu nâu-đen lấy được khi chiết quả vanilla bằng các dung môi. Chất lỏng này không phải là nhựa-dầu. Vanilla oleoresin được dùng khi cần có hương vị đậm đặc, hoặc khi cần hòa tan trong dầu.Vanilla sugar là bột trộn quả tán mịn với đường, thường dùng để chế tạo chocolat.Harold McGee, trong “On Food and Cooking” (trang 430-432) đã giải thích về mùi thơm của Vanilla về phương diện hóa học như sau:”Quả vanilla, sau khi chế biến (cured) chứa khoảng 20% nước, 20% chất sơ, 25% chất đường, 15% chất béo và phần còn lại là acid amin, hợp chất phenolic, các hưong vị khác và sắc tô màu nâu. Đường trong quả tạo vị ngọt, acid amin tự do tạo vị béo, vị ngon và tanin tạo vị chát. Mùi hương của vanilla là một tổng hợp phức tạp từ trên 200 chất dễ bay hơi, trong đó vanillin là chính, nhưng vanillin dùng riêng, không tạo được mùi hương của vanilla”.McGee tóm lược quy trình chế biến quả Vanilla:VanillaCayLanChoQuaLamHuongLieu23″Việc chế biến Vanilla, khởi đầu từ 6 đến 9 tháng sau khi hoa thụ phấn, cho quả màu xanh bắt đầu chín.Bên trong quả, hàng ngàn hạt nhỏ li ti nằm ém trong vách pha trộn với hỗn hợp đường, chất béo, acid amin và hỗn hợp phenolic-đường. Các men bắt đầu hoạt động, phóng thích các hợp chất phenolic và các hợp chất này di chuyển ra gần lớp vỏ bên ngoài. Giai đoạn đầu của quy trình chế biến (curing) là ‘làm chết quả’ để quả ngưng sử dụng đường và acid amin, đồng thời ‘gây thương tổn’ cho tế bào quả để phóng thích các hợp chất phenolic giúp di chuyển đến gặp các men. Hai mục đích này được thực hiện bằng cách phơi quả dưới nắng gắt hay nhúng quả nhanh vào nước nóng hoặc hấp quả bằng hơi nước. Tế bào vỏ quả bị hư hại tạo sự hoạt động cho các men polyphenoloxidase, làm vỏ chuyển từ màu xanh sang nâu. Sau đó là giai đoạn quả được phơi nắng, ban ngày, đến thật nóng rồi bọc vải trong đêm, để toát mồ hôi (sweat). Giai đoạn này kéo dài nhiều ngày (có nơi như Madagascar từ 7-10 ngày) để tạo sự phóng thích vanillin và các hợp chất phenolic khỏi sự kết nối với các phân tử đường. Sức nóng và tia nắng làm bốc hơi bớt độ ẩm của quả, ngăn chặn sự hoạt động của vi khuẩn bên ngoài vỏ, đồng thời tạo sắc tố và mùi thơm do phản ứng giữa đường và acid amin bên trong quả. Từ 3-5 kg (7.7 pounds) quả tươi, sẽ lấy được 1 kg (2.2 pounds) quả chế biến (cured). Trong giai đoạn sau cùng của việc chế biến, quả được vuốt thẳng và tạo dẻo bằng tay, làm khô trong vài tuần, tồn trữ và ủ… để hương vị gia tăng. Toàn bộ thời gian chế biến có thể kéo dài khoảng 40-50 ngày với Bourbon vanilla, và 6-7 tháng với Mexican vanilla.Vanilla dùng làm thuốc:Trong những thế kỷ 16-17, vanilla được giới Y-Dược Âu châu cho là có những dược tính như kích thích, giúp tiêu hóa và kích dục, giải độc, trị nóng sốt. Vanilla được ghi chép trong một thời gian dài, trong các Chế dược thư Anh và Đức, chinh thưc trong Chế dược thư Mỹ (US Ph) từ 1860 cho đến 1910. Hiện nay quả vanilla hầu như không còn dùng trong dược phẩm.

Tài liệu sử dụng:- The book of Spices (Frederic Rosengarten).- Vanilla Facts (vanilla.servolux.nl).- Complete Guide to Orchids (Ortho Books).- The Oxford Companion to Food (Alain Davidson).- Vanillin health benefit (Ray Sahelian MD).

DS Trần Việt Hưng

Bài viết mới

Video nhạc tuyển

Tháp Mười: Nói chuyện về sản xuất bền vững với thành viên HTX | THDT
Bài ca thời gian

Tình Thiên thu
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter



Học không bao giờ muộn

HỌC KHÔNG BAO GIỜ MUỘN
Hoàng Kim

Tại sao Twitter mạnh vậy?
https://twitter.com/hoangkimvietnam
Học không bao giờ muộn.

Hoàng Kim Ở đời tắc biến tắc thông,
Cớ chi mà đợi mấy ông phường chèo?
HỌC KHÔNG BAO GIỜ MUỘN
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoc-khong-bao-gio-muon/

TẢ PÍ LÙ
Chiêm Lưu Huy
(Chữ .Tả pí lù’ của cụ Vương Hồng Sển)
*
Ở đời có bốn cái ngu,
Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu (1).

Ở đời có bốn cái cầu,
Thiếu một trong bốn còn đâu là đời.

Ở đời nói thiệt mà chơi,
Đủ đầy cả bốn là đời thần tiên.

Ở đời viết lách liên thiên,
Sách không độc giả thì in làm gì ?

Ở đời “lều chõng” đi thi
“Mua bằng tiến sĩ” làm gì chẳng mong.

Ở đời tắc biến tắc thông,
Cớ chi mà đợi mấy ông phường chèo.

Gạch đá ném xuống ao bèo,
Đã dốt thì nát, đã nghèo còn ngu.

Ầu ơ…! Lời mẹ hát ru,…
Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu.

Tả lí lù viết dăm câu,
Trêu hoa ghẹo nguyệt mà đau đớn tình,…!


Ghi chú : (1) Thơ ca dân gian.

Tao Đàn Mẫu Phương Nam (bài Chiêm Lưu Huy, ảnh Hoàng Kim)

NGẪM ‘MƯỜI NĂM Ở BẠC LIÊU’
Sách hay đáng đọc lạ
i

NƯỚC MẮM CUA
Lưu Huy Chiêm


Lời mở đầu
Thời MƯỜI NĂM Ở BẠC LIÊU, tôi đã biết thế nào là nước mắm nhĩ, nước mắm Phú Quốc. Người Bạc Liêu pha chế nước mắm thứ thiệt với dấm (hoặc chanh) ớt, tỏi, nêm thêm đường tạo thành thứ nước chấm tuyệt vời. Món nào có chén nước chấm ấy, rạch ròi, khác biệt. Thí dụ, mắm nguyên chất xắt lát ớt ăn canh chua; nước mắm gừng ăn cá nướng; mắm tép muối chua ăn thịt heo luộc, bánh hỏi; mắm nêm có xả, tỏi, ớt ăn gỏi cuốn; xả xào chao ăn vịt nấu chao vv… Tuyệt nhiên, những món ăn dân dã đều không có nước mắm cua đồng như ở quê tôi.
1 – Cua ở đây là cua đồng, không phải cua biển hấp hay luộc chấm muối tiêu chanh, ăn chơi, mà là con cua đồng. Cua đồng sống trên ruộng đồng rong rêu nước ngọt, nho nhỏ thôi, láo nháo chừng trái ổi găng, ổi đá, hay hạt mít, hạt gấc. Trưa hè, tháng 5, tháng 6 âm lịch; trời nắng như đổ lửa, cua ngoi lên bờ. Tôi, chị tôi, mẹ tôi ai cũng có thể bắt được cua đồng. Nói thì dễ thế, làng tôi có người say nắng, ngộp thở vì chộp cua đang trưa, giữa đồng nắng nóng, may mà cứu kịp. Cha tôi vốn tham công tiếc việc cũng không khuyến khích chúng tôi bắt cua bò nắng. Đến con trâu buộc ở hàng tre mà cha tôi còn di dời cọc, tránh cho nó khỏi nắng Mặt Trời,…
Tôi đang kể chuyện làm nước mắm cua. Hôm nào bắt được khá nhiều, nghĩa là đầy cái giỏ tre do cha tôi đan, là mẹ tôi xóc rửa sạch, bóc mai, bỏ yếm cho vào cối giã; giã, thấu trộn cùng với muối cục sao cho đủ mặn rồi hoà nước mát lành. Nước mát lành múc trong bể xây bằng gạch xi măng. Sau khi chắt lọc hết xương cặn, bã; cái thứ nước đục nhờ ấy được cho vào chai, lọ thuỷ tinh; thêm vào chút thính gạo rang vàng cháy rồi nút lá chuối khô, để vào góc bếp hay xó xỉnh nào đó, một thời gian ngắn, mắm kịp lên men thì mang ra chấm rau muống luộc, gọi là nước mắn cua. Phải nói thật, món ăn trường kỳ cơm rau muống, bầu, bí, rau lang, rau dền nước mắm cua mặn cứng, khó nuốt lắm. Tôi đã từng phát khóc mà rồi cũng phải tập làm quen.

2 – Còn nhớ, thời thơ ấu, nhà tôi ăn nước mắm nghệ. Không chắc là nước mắm xứ Nghệ – Nghệ An. Nhưng thơm mà ngon lắm. Cơm nóng rưới nước mắm nghệ thì rất ngon. Thời ấy và trước nữa, những con đò Nghệ An chở nước mắm xứ Nghệ trứ danh ra tới Thái Bình quê tôi, quả là một kỳ công của những con người đầu óc manh nha, mầm mống kinh tế thị trường. Khái niệm hay quy luật “có cầu ắt có cung” đúng hay không thì tôi không biết !

3 – Sau này, nghĩa là trước và sau năm 1975 một chút, anh Lưu Ba của tôi hồi ấy, dạy học ở Tiên Lãng – cái huyện duyên hải tách biệt với thành phố cảng Hải Phòng bằng con sông Văn Úc mênh mông, đi qua đi lại bằng Đò Khuể; gần đây lại nổi tiếng với tên tuổi anh em ông Đoàn Văn Vươn; thỉnh thoảng có mang về mấy chai nước mắm Cát Hải hay Cầu Niệm. Nghe nói, nước mắm quốc doanh thời ấy phải mua bằng tem phiếu. Tem phiếu nhà nước in, quy định ô nào được mua nước mắm, không phải muốn thì cắt lung tung. Mẹ tôi vốn tiết kiệm, lại pha nước mắm Cầu Niệm, Cát Hải với nước muối đun sôi theo công thức, một nhân thành 3, 4. Tôi từng tiếc đứt ruột mà xin mẹ, thà ăn ít một chút. Mẹ tôi thương tôi nhưng không thể chiều tôi. Mẹ không có cách nào. Tôi không còn lựa chọn khác. Mẹ đành lòng pha loãng ra; cả nhà ăn dè, ăn dần. Nước mắm cua ư…!?

4 – Bây giờ vô siêu thị, vài chục tên tuổi nước mắm cạnh tranh nhau thị phần, trưng bày bắt mắt. Các bà, các cô lựa thương hiệu đã đời, sau cùng vẫn ưu tiên hãng nào khuyến mãi chén, tô sứ hay thuỷ tinh hoặc thìa, dĩa, muỗng,… Đôi khi mang những thứ đồ ấy về chẳng biết để vào đâu hay để làm gì.
Báo chí xấu xí vì lợi quyền hay muốn nổi tiếng và gì gì nữa, còn cho đăng bài phân tích thành phần đạm, chất bảo quản, tạo màu, hương vị,… Và, ngòi bút tỏ ra thông thái còn “khuyên” theo kiểu áp đặt người ta, không được gọi nước mắm mà thay tên gọi : Nước chấm !? Hiệp hội nước mắm Việt muốn la làng. Nước mắm nhĩ thứ thiệt, quốc hồn quốc tuý xuất xứ đảo Phú Quốc, cá cơm Phan Thiết,… đóng chai tại Sài Gòn có cần phải kiểm định, kiểm chứng, kiểm tra, dán nhãn, đánh thuế…?!
Chẳng mong trời có mắt, sự kiện ầm ĩ rồi cũng dần qua đi, trôi vào quên lãng.

5 – Thay lời muốn nói.
Một thời, không ai nuôi con cua đồng mà cua đồng sinh sôi nảy nở đầy đồng, mặc một năm bốn mùa nắng hạn, rét buốt hay bão dông. Con cua đồng gần gũi với đời sống nông dân Thái Bình, đồng bằng Bắc Bộ quê tôi. Chính nó tạo nên “thương hiệu nước mắm cua đồng” không tên, không tuổi và có thể là vô tiền khoáng hậu – nhưng góp phần không nhỏ, bổ sung đạm và khoáng chất, đặc biệt là can – xi, giúp những đứa trẻ làng quê thế hệ tôi cứng cáp để sau này, đứng vững trên đôi chân của mình.

Bây giờ, còn ai về đó không ? Về quê nhà ta, đêm không trăng, đốt cây đèn dầu, ăn món canh bầu với nước mắm cua để hiểu, đời thế nào là một cơn gió bụi hay chỉ là bóng câu qua cửa,…!

Học không bao giờ muộn
QUÁ HAY QUÁ Ý NGHĨA !!!!

Hoàng Kim (sưu tầm, tuyển chọn)

Trong đám cưới, người cha nói với con rể:
“Tôi là người đầu tiên nắm tay cô ấy, không phải cậu
Người đầu tiên hôn cô ấy là tôi, không phải là cậu
Người đầu tiên bảo vệ cô ấy là tôi, không phải cậu.

Nhưng mà
Có thể đi cùng cô ấy suốt cuộc đời,
Đó là cậu chứ không phải là tôi.

Nếu có một ngày cậu không yêu cô ấy nữa
Đừng phản bội cô ấy
Đừng đánh cô ấy
Đừng nói với cô ấy.
Hãy nói với tôi,
Tôi đưa cô ấy về nhà!

Cậu con rể quỳ xuống,lúc đó các khách mời đều rơi nước mắt

Nếu bạn là một người đàn ông,
Xin hãy tử tế yêu quý người phụ nữ bên cạnh mình
Bởi vì họ là những cô con gái quý báu của người khác.

Lúc nhỏ tiêu tiền là ở nhà bố mẹ đẻ
Lúc khôn lớn đi kiếm được tiền là ở nhà chồng

Thế nên bạn nên nhớ, ngoài cha mẹ của họ ra,
Họ không nợ bất kỳ ai.

Nếu thấy hay #hãy_chia sẻ cho nhiều người được hiểu nhé!
(St)

MỪNG CHÍ THIỆN ĐÀO HOA
Hoàng Kim


Hiệu quả xưa nay chính tuổi Mèo
Đinh thì béo tốt Kỷ tong teo
Bôn ba chẳng thể qua thời vận
Trái gió cho nên phải lộn lèo
Thương lắm lòng thành yêu thì ốm
Nhớ nhiều mắt sáng kính không đeo
An nhiên vui khỏe cùng năm tháng
Chứa Chan Đá Dựng vượt bao đèo !

Tếu táo đùa Dê luận tuổi Mùi
Đường thi xướng họa bật cười vui
Cụ Thiện ba lầu mê mãi vượt
Chú Đào hai kính quyết tâm dùi
Miền nhớ” cam lòng hăng hái tiến
Bóng chiều” gừng rụi chẳng thèm lui
Tây Ninh bạn quý thương nhau thế
Lặn lội thăm nhau nhớ ngọt bùi.

Đường thi hai cụ tài liên vận
Xin được đôi vần nối ý vui
cụ Hồ Văn Thiện và Đào Ngọc Hòa
HỌC KHÔNG BAO GIỜ MUỘN
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoc-khong-bao-gio-muon/

XƯỜNG HỌA VUI TẾU TÁO
Cụ Hồ Văn Thiện khởi xướng


TỰ BẠCH
Hồ Văn Thiện

Cùng tên cùng tuổi cái con mèo
Nhưng tớ Kỷ già ốm tóp teo
Bởi đã nhiều phen làm đít thớt
Lại từng đôi bận giữ tay lèo
Ơn trời bổng lộc không cần gánh
Phúc tổ nợ nần chẳng phải đeo
Bóng xế còn ham vui tuyết nguyệt
Những toan trèo thử cả ba đèo !

12-4-2013
Hồ Văn Thiện
PS: Bài họa thơ một bạn thơ trẻ cùng tên với tôi ( Phan Chánh Thiện) và cùng sinh năm Mão nhưng kém tôi 4 giáp. Từ lâu đã không xướng họa giao lưu , nghe Huy Vụ nói nay tạm gác bút để lo sự nghiệp và đang ở TX Phú Mỹ Bà Rịa Vũng Tàu đã gửi lời thăm tôi. Tôi đưa bài họa để cảm ơn anh.

Bài họa
MỪNG CỤ CẦM TỈNH KỶ MÃO
(Bài họa tếu vui-Ngũ độ thanh)


Biết lão cầm tinh tuổi “mụ” mèo
Nom gần mấy chỗ nhỏ tèo… teo
Công còn ngủ muộn nào gian dối
Cụ vẫn làm thơ chẳng hứa lèo
Khéo giỡn ngâm bình ngơ ngẩn mộng
Duyên hài xướng họa thẫn thờ đeo
Tâm hồn khoáng đạt già… xung mãn
Khỏe mạnh hồi xuân vưỡn ngáy đèo.

Hoahuyen
09.6.2020.

TỰ HỌA TUỔI ẤT MÙI
(Đlbt – Ngũ độ thanh)
Đào Ngọc Hòa

Hãnh diện vì ta tuổi ất mùi
Tâm hồn mẫn cảm lắm buồn vui
Công còn ngủ nướng âm thầm… giã
Kính chửa thèm đeo lặng lẽ… dùi
Lúc xã tam bành nhanh nhẹn lỉnh
Khi bồ tứ lộng khẽ khàng lui
Hoa Huyền lãng tử thành thương hiệu
Xướng họa đường thi thỏa ngưỡng bùi.

Hoahuyen
10.6.2020

Bài họa ngẫu hứng

ÔNG ĐÚNG TUỔI CON DÊ
Hồ Văn Thiện

Hóa ra ông đẻ đúng năm Mùi
Nên được trời cho sống chỉ vui
Sáng sáng bốn lầu lần lượt nhảy
Đêm đêm công ngủ thỏa thuê dùi
Được phong dê cụ không đeo kính
Đã đến động đào chẳng khoái lui
Nắng cực vượt qua miền đá đẻo
Máu me hơn cả bố con Bùi

Thiền Hộ
10-6-2020

Ảnh tác giả Hoahuyen một lần đến thăm tôi

9ức Thánh Trần lời dặn lại

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Bài viết mới

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính Hoàng Kim Ngọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thực Dạy và HọcTình yêu cuộc sống Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Học không bao giờ muộn

HỌC KHÔNG BAO GIỜ MUỘN
Hoàng Kim

Tình yêu, giáo dục, văn hóa, khoa học cây trồng và du lịch Việt là sự nghiệp trồng người, cần tự nguyện lặng lẽ dấn thân dạy và học suốt đời. Mục đích sau cùng của DẠY và HỌC là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và LÀM được việc. Anh Bu và anh Chiêm : xin hỏi một câu lẫn thẩn Vì sao ngẫu nhiên là 4 mà không là 5 hoặc 6 như ngẫu nhiên Thơ Lê Đình Cánh – May mà. ?

May mà …
Lê Đình Cánh


May mà Huế ở Thừa Thiên
Kinh kỳ thuở trước còn nguyên cổ thành
Tháp xưa còn tiếng chuông lành
Tường rêu còn nhuộm sứ sành sắc lam.

May mà Huế ở trời Nam
Còn câu đối cũ dựng am sách nghèo
Nhà vườn còn gác trăng treo
Còn diều khuê các bơi chèo gió xanh.

Nếu mà Huế ở xứ Thanh
Lầu son ngói nát, Cổ thành gạch tan
Hán Nôm nghìn tuổi thành than
Nền xưa dấu cũ hoang tàn nắng mưa.

(Chọn từ blog của bác BiBo
http://blog.360.yahoo.com/blog-v97aU78_Y7J4qXdrf8kq?p=112…)

Lời bình của bác Bu Lu Khin:


Lê Đình Cánh là một trong những nhà thơ mà tôi yêu thich. Trong khi lục bát Đồng Đức Bốn xuất thần, bạo liệt, có lúc bụi bặm… Lục bát Nguyễn Duy tài hoa mà hóm hỉnh, thì lục bát Lê Đình Cánh cứ rỉ rả mà thâm trầm sâu cay. Thọ Xuân là quê ông,”May mà” là bài thơ ông nói về quê mình?? Ở đó có Lam Kinh, một khu di tích rộng khoảng 30 ha ở xã Xuân Lam. Lam Kinh có đến 14 công trình di tích như Ngọ môn, Sân rồng, Chính điện Lam Kinh, Khu thái miếu triều Lê sơ, Lăng mộ các vua và hoàng hậu, Vĩnh lăng, Bia Vĩnh Lăng, Hựu lăng, Chiêu lăng, Dụ lăng, Kinh lăng, Khu đền thờ Lê Lợi, Khu đền thờ Lê Lai, Đền thờ Bố Vệ. Nhà nước đã bỏ ra vô số công sức và tiền của để tôn tạo phục chế lại Lam Kinh nhưng rồi không hiểu sao vong linh các vua Lê cứ hỏi nhau nơi đây là đâu nhỉ? Có phải là Lam Kinh vàng son trên đất Thọ Xuân không? Lê Đình Cánh làm thơ chứ không làm vua nên ông không hỏi thế. Mà hỏi ai? và ai trả lời? ông chỉ hú vía thốt lên “may mà” nghe sao mà ai oán.

May mà Huế ở Thừa Thiên
Kinh kỳ thuở trước còn nguyên cổ thành

Đọc đến đó chưa ai hiểu nhà thơ nói gì. Thì Huế vẫn còn cho nên Unesco mới phong tặng danh hiệu Di sản văn hoá của nhân loại chứ sao. Tiếp theo tác giả vẫn tiếp tục rỉ rả với cố đô Huế

May mà Huế ở trời Nam
Còn câu đối cũ dựng am sách nghèo


Thế rồi đột ngột như cầu thủ nhà nghề phạt trực tiếp 11 mét. Tác giả cho bóng vào gôn

Nếu mà Huế ở xứ Thanh
Lầu son ngói nát cổ thành gạch tan

Lê Đình Cánh tuyệt nhiên không nói đến Lam Kinh, vì sao vậy? vì Xứ Thanh là phát tích nhiều triều đại vua chúa chứ đâu chỉ có các đời vua thời hậu Lê. Có lẽ những Lê Hoàn, những chúa Trịnh, chúa Nguyễn rồi vua Nguyễn cũng không còn lăng tẩm mà về vì hậu duệ thời a còng đang làm cái việc gọi là duy tu và tôn tạo các di tích lich sử và văn hoá…

Nguồn từ Blog Hocmoingay
http://nguoixunghekiev.vn/serviceView_323_333_27705.html

Video yêu thích
https://youtu.be/_Bs4XcVufqY
Bài ca thời gian Run away with me.
Vietnamese Dan Bau Music
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam 

Học không bao giờ muộn

HỌC KHÔNG BAO GIỜ MUỘN
Hoàng Kim

Tình yêu, giáo dục, văn hóa, khoa học cây trồng và du lịch Việt là sự nghiệp trồng người, cần tự nguyện lặng lẽ dấn thân dạy và học suốt đời. Mục đích sau cùng của DẠY và HỌC là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và LÀM được việc. Cảm ơn cậu Hoàng Gia Cương, chị Phương Thảo, anh Chiêm Lưu Huy với những bài viết hay, xin được chia sẻ cho chuyên mục “Học không bao giờ muộn” https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoc-khong-bao-gio-muon/

CẬU TÔI
Hoàng Gia Cương

FB HGC 27 5 2020
Nhớ về người CẬU (em ruột mẹ tôi) thân yêu, tôi đưa lên bài tôi đã viết về cậu:

Tôi cũng không còn nhớ được là tôi biết mặt cậu tôi từ lúc nào. Khi mẹ tôi sinh tôi thì cậu còn “lang bạt kỳ hồ” tận đẩu tận đâu không ai biết được. Cách mạng Tháng 8, cậu tôi về tham gia lãnh đạo cướp chính quyền ở địa phương (Quảng Trạch, Quảng Bình) rồi lại đi đây đi đó tận đâu đâu trước khi định cư tại Kỳ Anh (Hà Tĩnh), tôi cũng không biết rõ. Tôi từng đi tản cư ra Nghệ An khi mới lên 5, về quê thì không có cậu, ngay sau hoà bình lập lại thì tôi ra Hà Nội cho tới tận bây giờ. Tôi chỉ đoán chừng là tôi gặp cậu lần đầu lúc tôi đã lên 3, vì khi cách mạng tháng 8 thành công tôi đã tròn 3 tuổi. Tính ra khoảng thời gian mà tôi có dịp gặp và gần cậu cho tới tận năm cậu 93 tuổi, lúc cậu đi vào cõi vĩnh hằng, cộng lại chỉ được độ một tháng là cùng. Vậy mà tôi lại rất thân thiết và yêu quí cậu, yêu quý cậu gần như yêu quý mẹ tôi.

Năm thì mười hoạ có dịp qua Kỳ Anh tôi mới gặp cậu trong chốc lát. Đôi khi cậu cũng có dịp ra Hà Nội nhưng do tôi đi học, đi bộ đội hay đi công tác liên miên nên cũng ít khi gặp. Thế nhưng tôi lại hay gặp cậu qua thư từ. Cậu có nhiều cháu nhưng được cái là tôi rất hợp với cậu ở chỗ thích thơ, biết làm thơ, đặc biệt là thơ Đường luật nên cậu rất quý tôi. Hồi cha tôi ở Quảng Bình và cả khi đã ra Hà Nội, cha tôi thường tham gia hội hè, giao lưu với các cụ nhà nho, suốt ngày ngồi xướng hoạ. Hễ có bài thơ hay của mình hoặc của các bạn thơ, cha tôi lại gửi ngay cho cậu để cậu hoạ. Ở Hà Tĩnh, cậu cũng có một hội xướng hoạ thơ như thế. Vậy là hai bên liên tục thư đi thư lại với hàng loạt bài thơ nóng hổi, từ thơ vịnh cảnh, vịnh tình, cho tới thơ cổ động, tuyên truyền và thơ châm biếm, thơ đả kích giặc Mỹ xâm lược. Nhiều bài thơ của các cụ sau khi xướng hoạ và phẩm bình đã được đăng tải trên nhiều tờ báo như Cứu Quốc, Độc Lập, Thống Nhất… Từ nhỏ cha tôi đã tập cho tôi làm thơ Đường luật và cha tôi đã không ngờ là tôi nhanh chóng trở thành một bạn thơ của các cụ. Tôi cũng cùng tham gia xướng họa với các cụ ngay từ thời còn ngồi ghế trường phổ thông. Vì thế tôi gần như là một “hội viên nhóc con” của cả mấy hội xướng hoạ gồm toàn bậc cao niên ấy. Hồi tôi mới vào bộ đội, đang đóng quân ở sân bay Cát Bi, cha tôi có gửi cho tôi một bài thơ nói về gia đình mình với 7 người con, toàn trai, trong đó có đầy đủ tên con cháu nhưng đều nói lên truyền thống gia đình và hàm ý khích lệ, động viên con cháu:

Tài ba lừng lẫy ngoài ba xứ
Danh tiếng vang truyền khắp bốn phương

Tôi đã có một bài thơ hoạ lại, được cha tôi chuyển cho tất cả các cụ xem. Chừng hơn tháng sau tôi nhận được thư cậu tôi gửi từ Kỳ Anh, trong đó có 2 câu mà tôi nhớ mãi:

Cương cháu làm thơ giỏi thế a
Lời tuy gần gũi, ý cao xa…

Xin bạn đọc lượng thứ cho, viết lại 2 câu thơ này không phải tôi có ý “mèo khen mèo dài đuôi” đâu mà chỉ là để chứng minh rằng cậu tôi rất quý tôi, vậy thôi. Chính vì sự yêu quý này mà có lần cậu tôi đã kể cho tôi nghe về một khúc ngoặt quyết định trong cuộc đời cậu, cũng nhờ một bài thơ! Trước hết, cũng xin được nói rõ một chút về cậu tôi: Cậu tôi là NGUYỄN ĐÌNH NGÔ, một cán bộ lão thành cách mạng, nay đã mất. Cậu là cha của liệt sĩ NGUYỄN HOÀNG LƯU, người đã từng phát minh ra chiếc thước tính Lô ga rít hình tròn, làm nên một cuộc cải tiến kỹ thuật lớn trong Binh chủng Pháo Binh, người được mệnh danh là “nhà khoa học không bằng cấp” từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước.

Chuyện cậu tôi kể là như thế này:

“… Đầu những năm 30 của thế kỷ trước, do vừa biết chữ quốc ngữ lại vừa biết chữ nho nên cậu được chọn làm thơ lại (thư ký) cho Tuần vũ tỉnh Quảng Bình là Tôn Thất Chữ. Thời gian này là lúc thực dân Pháp đang ra sức đàn áp phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Chúng ráo riết truy lùng, bắt bớ, giam cầm và tra tấn dã man những người Cộng sản. Các nhà lao ở Vinh, Hà Tĩnh và ở Huế đều chật ních tù chính trị, vì vậy chúng đã chuyển một số tù nhân về giam ở nhà lao Đồng Hới.

Cậu còn nhớ, khoảng đầu năm 1933, cậu phải theo tuần vũ Tôn Thất Chữ đi thị sát nhà lao Đồng Hới. Khi đến khu biệt giam kín mít, Tôn Thất Chữ dừng lại trước hầm giam của một nữ tù Cộng sản. Đó là chị Võ Thị Ngọ, mới chưa tròn 20 tuổi. Chị Ngọ đã tham gia phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh và bị bắt ngoài Hà Tĩnh rồi được chuyển vào đây. Trong một lần đấu tranh quyết liệt chống hành động dã man vô nhân đạo của bọn cai ngục, chị Võ Thị Ngọ đã dũng cảm dùng thanh củi đánh lại tên cai ngục Phô-cô-ni nên bị chúng tống vào khu hầm kín biệt giam này. Quen thói trăng hoa, thấy chị Ngọ trẻ trung xinh đẹp, Tôn Thất Chữ buông lời bỡn cợt, trêu ghẹo. Chị Ngọ khinh bỉ nhìn tên tuần vũ. Biết không tán tỉnh được, Tôn Thất Chữ nói:

-Con gái trẻ trung xinh đẹp thế mà sao không chịu ở nhà lấy chồng, sinh con cho sung sướng lại nghe theo lời xúi giục của bọn cộng sản, thích đi làm giặc để phải tù phải tội cho khổ thân?
Chị Ngọ không thèm trả lời tên tuần vũ. Trước cái nhìn khinh bỉ và căm hờn của chị Ngọ, viên tuần vũ đành lặng lẽ bỏ đi. Sự việc xẩy ra rất nhanh nhưng nó đã như một tia chớp loé lên trong đầu cậu. Trước đây cậu chưa biết thế nào là người cộng sản, nghĩ là họ cũng chỉ như các đoàn thảo khấu, mọi rợ và ngu đần. Không ngờ một người con gái cộng sản mà có khí phách kiên cường như thế. Viên tuần vũ đi rồi mà cậu còn nấn ná dừng lại để nhìn người tù cho rõ mặt. Bỗng nhiên chị Ngọ chìa ra cho cậu một mảnh giấy, nhờ chuyển tận tay cho viên tuần vũ. Cậu không ngần ngại, nhận lời. Tranh thủ lúc đi một mình cậu đã đọc vội tờ giấy với nét chữ tuy viết bằng bút chì nhưng rất rõ ràng sắc sảo. Đó là một bài thơ! Phải khẳng định ngay rằng đây là một bài thơ Đường luật làm rất chuẩn về niêm luật, và đặc biệt là về ý tứ. Có lẽ vì bài thơ quá hay mà cậu đã thuộc lòng ngay từ khi ấy và cho tới tận ngày nay. Bài thơ của chị Ngọ như sau:

Nước mất nhà tan nợ gánh chung
Có ta, ta phải gánh vai cùng.
Liễu bồ cùng đứng trong trời đất
Vàng đá xin thề với núi sông!
Tay yếu, chân mềm tuy phận gái
Gan bền, chí vững ấy đàn ông.
Chưa đền nợ nước, duyên gì nữa?
Gươm nọ là con, súng ấy chồng!

Về đến dinh tuần vũ, lựa lúc Tôn Thất Chữ vui vẻ cậu trao bài thơ cho ông ta. Viên tuần vũ chăm chú đọc, nét mặt đầy kinh ngạc và tỏ ra rất khâm phục. Từ hôm ấy cậu thấy ông ta có ít nhiều thay đổi trong cách cư xử với tù chính trị. Phải chăng ông ta tự thẹn với lương tâm? Điều đó cậu không chắc lắm. Còn cậu, từ hôm ấy trong đầu óc cậu bài thơ cứ được đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần. Cậu cũng thấy tự thẹn với bản thân mình. Người ta là phận gái mà như thế, đằng này mình sức dài vai rộng lại cũng có ít chữ nghĩa mà cam tâm làm tay sai cho bọn thực dân và lũ tay chân gian ác sao?

Sau vài đêm suy nghĩ, cậu quyết định xin “treo ấn từ quan”. Về nhà, cậu đã xé bỏ sắc phong “cửu phẩm” của chính phủ bù nhìn Nam triều và bắt đầu một cuộc đời “mai danh ẩn tích” đi làm cách mạng. Cho đến nay cậu vẫn chưa có dịp gặp lại người nữ tù cộng sản ấy, chỉ nghe người ta nói là chị Ngọ đã dũng cảm và kiên cường vượt qua tất cả, không chỉ thời gian ấy mà cả nhiều lúc sóng gió sau này”…

Bài thơ của người nữ tù Cộng sản Võ Thị Ngọ đã làm thay đổi cuộc đời cậu tôi, đã đánh dấu một khúc ngoặt vô cùng quan trọng và có tính quyết định trong cuộc đời cậu tôi! Kể từ ngày ấy, cậu tôi đã tìm cách bắt mối với cách mạng và bắt đầu cuộc đời hoạt động bí mật. Để có vỏ bọc, cậu đã học nghề làm thầy địa lý, chuyên đi xem mạch đất cho người ta làm nhà, an táng, cải táng… Bước chân của cậu đã đi khắp các vùng nông thôn, miền núi Quảng Bình, Hà Tĩnh. Khi cách mạng tháng tám bùng nổ, cậu là một trong những người lãnh đạo cướp chính quyền ở huyện.

8/2003
HGC

Ảnh: Con sông quê tôi. — cùng với Trương Minh Dục, Nicolas Hoàng, Hoàng Hữu Đức16 người khác.

NẾU SAU NÀY CÓ THÀNH MẸ CHỒNG
Phương Thảo FB 27 5 2020

1. Chị đừng nói xấu con dâu trước mặt con trai, bởi vì chị làm như vậy chỉ khiến chúng nó cãi nhau. Cãi nhau mãi cuối cùng không chịu đựng được thì li hôn. Đến lúc đó chị vừa có lỗi với con trai, vừa có lỗi với cháu nội, chị có nhẫn tâm không?

2.Việc chăm con(cháu nội mình) cứ để con dâu lo, là mẹ ai cũng lo cho con chị đừng bắt con dâu làm theo ý mình, chị có tâm thì chỉ hỗ trợ, san sẻ, còn đừng xen quá sâu vào việc chăm con của con dâu (ví dụ như phải uống cái này cái kia) tuyệt đối không nên.

3. Khi con dâu ở cữ , phải chăm con, chị có thể không giúp vì chị cho rằng đó không phải nghĩa vụ của chị, nhưng chị phải nhớ, đến khi chị bệnh tật, chị cũng đừng bảo con dâu phải chăm chị, nó không có nghĩa vụ đó đâu. Vậy nên chị ạ, hãy đối xử tốt với con dâu vì khi chị trăm tuổi người chăm sóc chị là con dâu chứ ai?

4. Chị đừng thấy bực dọc khi con trai giúp con dâu làm việc nhà, vì gia đình là tổ ấm của hai người, vợ chồng đều phải có trách nhiệm gánh vác trọng trách này.

5. Chị đừng bao giờ suốt ngày ca tụng con dâu nhà người khác giỏi giang,nào là thức khuya dậy sớm,chăm chỉ,thế này thế kia, ở trong chăn mới biết chăn có rận, chị làm sao biết được chuyện nhà người ta thế nào. Và quan trọng hơn, muốn có một người con dâu tốt cần phải trở thành người mẹ chồng tốt trước đã.

6. Chị đừng cho rằng chị sinh và nuôi lớn con trai chị thì con dâu nợ chị một đời. Chị ạ, chị muốn con dâu hiếu thuận, quan tâm yêu quý chị thì chị cũng phải đối xử tốt với con dâu. Chị phải dùng hành động để cảm hóa trái tim người khác chứ không thể yêu cầu và bắt buộc người khác phải đối tốt mới mình khi mà chị đối xử với người ta không ra gì.

7. Khi con dâu về nhà mẹ đẻ, mua quà biếu bố mẹ, chị đừng tức tối hay nóng giận bởi vì hai người đó dành cả đời để nuôi con dâu chị nên người, nhưng đến khi trưởng thành nó lại phải đi làm con gái người khác, chứ có được chăm sóc bố mẹ đẻ của nó đâu. Chị nên cảm ơn họ đã sinh ra và nuôi lớn con dâu chị .

8. Chị và con dâu cãi vã không nên đi ra nói xấu con dâu, không được chê bai này nọ, vì con trai mình quyết định cưới rồi thì ắt hẳn con dâu cũng có điểm tốt, nếu không người ta sẽ cười chị trước.

9. Hãy yêu quý con dâu như con gái thì nó cũng đối xử với chị như bố mẹ đẻ chị ạ.

Phụ nữ sau khi kết hôn chỉ có duy nhất 1 điểm tựa là người chồng, vì ở nhà ngoại họ chỉ là KHÁCH, ở nhà nội chỉ là người NGOÀI. Nếu người chồng không yêu thương vợ, không quan tâm và cảm thông với vợ thì phụ nữ trở thành ĐỨA TRẺ MỒ CÔI không nơi nương tựa. Thế nhưng người chồng – điểm tựa duy nhất của người phụ nữ chỉ thường xuyên nói với vợ “Em đối xử với MẸ anh tốt vào, bởi vì đó là người đã sinh ra anh, đã nuôi anh khôn lớn”. Nhưng không có người đàn ông nào nói với mẹ mình rằng, “MẸ, mẹ hãy đối xử tốt với vợ con đi ạ, vợ con phải rời khỏi vòng tay của bố mẹ, một mình đến nhà mình làm dâu không dễ dàng gì! Vậy nên gia đình chúng ta hãy đối xử thật tốt với cô ấy để cô ấy coi đây là nhà của mình ❤

NGƯỜI LÀM THƠ HAY NHÂN CÁCH THƠ
(Ảnh internet, bài Chiêm Lưu Huy FB 27 5 2020)

*
Tôi có may mắn biết tên tuổi ba nhà thơ “Dân gian đương đại”. Người còn, người mất, người quá già yếu. Người trẻ nhất thì lại chết “ở tuổi còn son”. Xin được kể tên ngẫu nhiên… Lê Kim Giao, Đồng Đức Bốn, Nguyễn Hữu Mão và Nguyễn Bảo Sinh.

1 – Nguyễn Bảo Sinh được cha là Nguyễn Hữu Mão gắn cho chết danh “Sinh chó” giữa lòng Hà nội. Quả thật, sau bao năm tháng lăn lộn mưu sinh… về sau chính chó, mèo, hậu cần cho xới đá gà… là nghề giúp ông sống thanh thản với thơ dân gian.

2 – Đồng Đức Bốn tài thơ lục bát không thua mấy Nguyễn Bính, Bùi Giáng… Một thời “lạc đường” sang thơ tự do, may mà Nguyễn Huy Thiệp “ngộ” cho mà có được góc chiếu giữa đình văn chương, nghệ thuật. Lục bát của anh mới mẻ thần kỳ:
“Chiều nay hồ tây có giông.
Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm”.
Hay:
“Tẽn tò con sáo sang sông,
Tưởng sang bên ấy mà không có gì.
Tẽn tò con sáo bay đi,
Tưởng sang bên ấy có gì lại không”.
Lại nữa:
“Đang trưa ăn mày vào chùa,
Sư ra cho một lá bùa rồi đi.
Ăn mày chẳng biết làm gì,
Nhét bùa vào túi lại đi ăn mày”.

3 – Lê Kim Giao “con ông cháu cha”, con nhà nòi… nhưng từ bỏ tất cả, về nông thôn làm ông giáo làng. Ông dậy lũ trẻ quê mùa, thò lò mũi:
“Đây là chữ o,
Đây là chữ a,
Đây là tay trái,
Đây là tay phải,
Còn mẹ thì không được bao giờ quên!”
Ông có những bài thơ về vật nuôi, tự trào như heo, gà trống… rất có giá… “Sống hiên ngang không sợ ó diều / Ăn chỉ mời gọi bạn / Ò… ó… o…! / Ngươi làm thơ”.

Người ta viết về “Tứ đại gia” không nhiều. Nay tôi xin đề thơ CHÂN DUNG họ theo phong cách của họ để tặng họ, gọi là có chút lòng thành! Không quên liên kết 5 khung hình mà người thơ:” vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”… ưa thích!?
CHÂN DUNG TỨ TỬ THƠ
*
Đây là Lê Kim Giao.
Đây là Đồng Đức Bốn.
Đây là Nguyễn Hữu Mão.
Đây là Nguyễn Bảo Sinh,
Mê mẩn thập tự chinh,
Trên trường văn, trận bút.

Về tới đích cũng chết.
Không về cũng lìa đời.
Sao không bỏ cuộc chơi,
Về với người yêu dấu …

Về với người yêu dấu,
Không phải đấu trường văn.
Không phải đòn trận bút.
Không phải đi đò đầy…

Ây à ê im ao.
Ây à ồng ức ốn.
Ây à uyễn ữu ão.
Ây à uyễn ảo inh.
Chiếm góc chiếu giữa đình,
Khóc cười người yêu dấu…
Tẽn tò sáo sang sông…
Kêu buồn đêm tối khổ…
Cho cái chưa của mình…

( 07.7.2011 – 27.5.2016)

Nghiên cứu đa dạng di truyền hệ gene người Việt Nam: Những viên gạch đầu tiên

Báo Tia Sáng 27/05/2020 07:25Thu Quỳnh

Cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam có mối liên hệ với nhau như thế nào? Dù được các nhà dân tộc học và lịch sử bàn thảo suốt một thời gian dài nhưng vấn đề này vẫn chưa ngã ngũ. Và những nghiên cứu đầu tiên về đa dạng di truyền hệ gene ở người Việt Nam của Viện Nghiên cứu hệ gene (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) có thể hé mở một phần câu trả lời.

Ở thời kỳ Đông Sơn và tiền Đông Sơn, tất cả khối Lạc Việt, Tây Âu, hay Tày Thái cổ… đều là ‘Yue’ (Bách Việt). Nghiên cứu hệ gene ty thể của nhóm GS Nông Văn Hải cũng đã cho thấy điều này. Trong ảnh: Trống đồng Ngọc Lũ và hoa văn trên trống đồng. Nguồn: Bảo tàng lịch sử Việt Nam. 

Ký ức tộc người và “ký ức” hệ gene người

Cuộc thảo luận về nguồn gốc người Việt dường như chưa bao giờ dứt trên nhiều diễn đàn và luôn sẵn sàng được hâm nóng lên khi được xới lại. Thực ra đây không phải là chuyện “trà dư tửu hậu”, mà trong giới học thuật, tính đa dạng tộc người và nguồn gốc tộc người ở Việt Nam và Đông Nam Á lục địa đã được các nhà dân tộc học và tiền sử học đào bới cả trăm năm qua, như GS Peter Bellwood1 (ĐH Quốc gia Úc), nhà nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á từng cùng các nhà nghiên cứu Việt Nam công bố các nghiên cứu về văn hóa Đông Sơn nhận định. Vấn đề này không dễ dàng ngã ngũ để đi đến kết luận, rất dễ gây hiểu lầm và chia rẽ, do một tình trạng phổ biến trong nghiên cứu tiền sơ sử và nguồn gốc tộc người là thiếu dữ liệu – những gì các nhà khoa học đang có hiện nay mới chỉ là những mảnh ghép khác nhau của một “bức tranh” khổng lồ đã chìm vào quá khứ.


Theo dòng hồi ức của các dư dân thời hiện đại và giả thiết của các nhà dân tộc học thì tổ tiên của 54 dân tộc (và có thể nhiều nhóm địa phương trong đó), nay được sắp xếp thuộc 5 ngữ hệ đã có vô vàn hướng dịch chuyển, cộng cư trong quá khứ. Chẳng hạn, nhiều cư dân thuộc các tộc người ở khu vực miền núi phía Bắc hoặc Tây Nguyên vẫn kể về quá trình họ đi từ phương Bắc xuống hoặc từ vùng biển phía Nam đi lên. Các nhà khảo cổ học cũng đã giải thích về sự đa dạng các nhóm người ngay trong kỷ nguyên khởi đầu lịch sử Việt Nam, như TS Nguyễn Việt, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á cho biết: những cư dân Đông Sơn và Tiền Đông Sơn từ thời khởi đầu dựng nước Việt Nam không tương ứng với một tộc người duy nhất là Kinh hay bất kỳ một tộc người khác trong thời hiện đại ngày nay, bởi trong nhận thức của các nhà khảo cổ học thế giới, “ở thời kỳ Đông Sơn và tiền Đông Sơn, tất cả khối Lạc Việt, Tây Âu (hay Tày-Thái cổ)… đều là ‘Yue’ (Bách Việt)”. Nhưng từ trước tới nay, các nhà dân tộc học và khảo cổ đang giữ những cứ liệu và các giả thiết đó mà chưa mang ra để đặt câu hỏi cho các nhà nghiên cứu hệ gene. Hầu như không ai hay biết gì về việc những quá trình giao lưu tiếp biến ấy đã được “ghi nhớ” như thế nào trên hệ gene của mỗi cá nhân ở các tộc người.


Trong khi đó, phân tích hệ gene người cổ sẽ chứng minh được điều đó, đem lại một trong những câu trả lời gần nhất cho những gì đã xảy ra trong quá khứ. Các kỹ thuật hiện đại giúp giải trình tự hệ gene từ di cốt người cổ có thể giúp bóc tách dần thông tin về nguồn gốc, lịch sử di truyền cũng như thấy được sự đa dạng, cộng cư của di cốt khai quật được theo mỗi mốc thời gian họ sinh sống. Tuy vậy, trước nay giới khảo cổ học và nghiên cứu hệ gene trong nước chưa có nhiều cơ hội trao đổi và thực hiện các nghiên cứu chung. Mãi tới gần đây, các  nhóm nghiên cứu quốc tế,  gồm các nhà di truyền ở ĐH Harvard, Hoa Kỳ, Bảo tàng thiên nhiên Copenhagen, Đan Mạch và ĐH Cambridge, Anh… đã cùng với các nhà nghiên cứu của Viện Khảo cổ học (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) hợp tác phân tích được di cốt người cổ ở Đông Nam Á, trong đó có người Mán Bạc2 và người Hoà Bình3 và xu hướng di cư sớm từ thời cổ đại. Những nghiên cứu này đã đưa một số dữ liệu gene người cổ tại Việt Nam vào cơ sở dữ liệu gene của thế giới – đây là căn cứ để các nhóm nghiên cứu khác lấy làm cơ sở so sánh đối chiếu sau này.


Bên cạnh đó, phân tích hệ gene ở người hiện tại có thể giúp khẳng định tính đa dạng di truyền của các tộc người hiện nay, ví dụ có thể cho biết những đặc điểm chung giữa người Kinh, Tày, Thái… so với các tộc người cụ thể khác trong cùng một nhóm tộc người (phân loại theo ngữ hệ) của mình hoặc các dân tộc thuộc ngữ hệ khác. Nhưng chính vì thiếu chia sẻ thông tin và chưa có nghiên cứu nào chung giữa các nhà khoa học xã hội với nhà nghiên cứu hệ gene người Việt Nam nên dường như câu hỏi liệu rằng hệ gene có thể lưu lại dấu vết nào cho những lần các tộc người gặp gỡ, giao thoa trong lịch sử dường như vẫn đang còn bỏ lửng.

Cỡ mẫu đủ lớn và đa dạng

Trong bối cảnh vẫn còn nhiều tranh luận ngổn ngang đó, GS Nông Văn Hải, nguyên Viện trưởng sáng lập Viện Nghiên cứu hệ gene, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, một nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm về hệ gene người Việt Nam đã đi tìm câu trả lời trong quá trình thực hiện Đề tài độc lập cấp Nhà nước (2015-2019), do Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ – “Giải trình tự và xây dựng hoàn chỉnh hệ gene người Việt Nam đầu tiên làm ‘trình tự tham chiếu’ và bước đầu phân tích nhân chủng học tiến hóa người Việt Nam”4.

Giữa các dân tộc có lịch sử di truyền, nguồn gốc chung nào đó và có sự giao thoa về mặt di truyền chứ không có một dân tộc ‘thuần chủng’

Trước khi đi sâu vào chẻ từng phát hiện của đề tài, ông giải thích về một số nguyên tắc khi nghiên cứu hệ gene để trả lời cho các câu hỏi về nhân chủng học tiến hóa ở trên. Tức là, để tìm ra tính đa dạng hệ gene, khu vực phân bố địa lý của các kiểu gene và ước lượng thời điểm chúng bắt đầu xuất hiện trong quá khứ, phải phân tích trình tự hệ gene ty thể (di truyền theo dòng mẹ), vùng đặc hiệu giới tính nam của nhiễm sắc thể Y (di truyền theo dòng bố) hoặc toàn bộ hệ gene (lai giữa dòng bố và dòng mẹ). Đây là cách làm đã thành chuẩn mực phổ biến của các nhóm trên thế giới – họ có thể sử dụng lần lượt hoặc kết hợp đồng thời cả ba trình tự hệ gene trên trong các nghiên cứu về nhân chủng học tiến hóa và lịch sử di truyền ở người hiện đại hoặc kết hợp, đối chiếu với các mẫu khảo cổ học.


Làm sao để biết đâu là đặc trưng của mỗi nhóm hoặc từng tộc người? Cũng theo thông lệ, sẽ cần phân tích trình tự và so sánh với hệ gene tham chiếu trên cơ sở dữ liệu gene quốc tế để từ đó xác định các kiểu gene đơn bội đặc trưng của người Việt Nam (haplotypes – một nhóm cụ thể của gene mà con cháu thừa hưởng từ cha mẹ. Haplotype có thể đặc trưng cho một nhóm, hay một quần thể và thậm chí là một loài).


Để thực hiện đề tài, GS Nông Văn Hải đã hợp tác với giáo sư người Mỹ Mark Stoneking, Viện Max Planck về Nhân chủng học tiến hóa, CHLB Đức, người dày dạn kinh nghiệm hợp tác phân tích hệ gene của nhiều tộc người, từ Thái Lan, Philipines đến các dân tộc ở châu Phi. Nhóm nghiên cứu khảo sát lấy mẫu gene các tộc người trên quy mô lớn nhất từ trước tới nay ở Việt Nam – hơn 600 người thuộc 22 dân tộc ở năm ngữ hệ chính ở Việt Nam và Đông Nam Á lục địa (gồm các ngữ hệ: Nam Á, Thái – Kadai, Hmông-Miền, Nam Đảo và Hán-Tạng), đồng thời phân tích cùng với dữ liệu hệ gene của nhóm cư dân hiện đại lân cận và các tập dữ liệu gene của người ở Đông Nam Á cổ đại đã được công bố trước đây trong cơ sở dữ liệu hệ gene quốc tế.


Nhưng trong trình tự hệ gene với hơn 3 tỉ “ký tự”  của mỗi người, làm sao để xác định được sự giống và khác nhau giữa các tộc người theo cách hợp lý nhất? Nhóm phân tích dữ liệu đa hình nucleotide đơn  – SNP (single nucleotide polymorphisms), trong đó tập trung đi sâu phân tích hệ gene sử dụng công nghệ mới gene CHIP (gồm khoảng 600.000 điểm thể hiện sự khác biệt về mặt di truyền giữa các cá thể). Đây cũng là những công nghệ  mà các nhóm nghiên cứu đa dạng di truyền các tộc người trên thế giới đang sử dụng chủ yếu, bởi vì 99,9% trình tự hệ gene là hoàn toàn giống nhau giữa các cá thể, tộc người trong toàn bộ loài người, GS Nông Văn Hải cho biết.


Kết quả phân tích, được xuất bản trên tạp chí Molecular Biology and Evolution5 (Q1, IF~15, thứ 2 về sinh học  tiến hóa) cho thấy “tính đa dạng tộc người phân theo ngữ hệ đã phản ánh các nguồn gốc khác nhau về đa dạng di truyền ở Việt Nam”, nghĩa là trong 22 dân tộc được khảo sát, “dân tộc này cũng có chung các đặc điểm về gene của dân tộc khác trong cùng ngữ hệ hoặc khác ngữ hệ”, GS Nông Văn Hải giải thích. Chẳng hạn, nhìn các bảng số liệu phân tích mức độ lai hỗn hợp (Admixture) có thể thấy rõ: các dải màu sắc khác nhau quy ước cho các tộc người hay ngữ hệ khác nhau  cho thấy tình trạng “lai” giữa các dân tộc là phổ biến và hiển nhiên – “giữa các dân tộc có lịch sử di truyền, nguồn gốc chung nào đó và có sự giao thoa về mặt di truyền chứ không có một dân tộc ‘thuần chủng’”.

Bảng 1: Các dải màu sắc quy ước cho các tộc người trong biểu đồ này (màu giống nhau, chạy liên tục) cho thấy tình trạng “lai” giữa các dân tộc là hiển nhiên. Ảnh: Nhóm nghiên cứu cung cấp. 

Tạm lấy một số ví dụ cụ thể để hiểu rõ hơn cho các phát hiện trên là: các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á có nhiều đặc điểm gần về gene so với các ngữ hệ Thái – Kadai, và cũng có những điểm chung với ngữ hệ Hmong – Miền. Đơn cử về người Kinh – tộc người phổ biến ở Việt Nam và thuộc ngữ hệ Nam Á – không chỉ có nhiều đặc điểm giống với các dân tộc thuộc ngữ hệ Thái – Kadai (như Tày, Thái, Nùng…) mà cũng có cả điểm giống với dân tộc xa xôi và tương đối biệt lập khác ở miền núi phía Bắc như Lô Lô, Si La, Phù Lá (thuộc ngữ hệ Hán – Tạng) hay với các cư dân ở Nam Trung Quốc, đảo Đài Loan ngày nay và nhiều dân tộc khác nữa. Trong phần “thảo luận”, nhóm tác giả khẳng định nghiên cứu này, với dữ liệu nhiều hơn và chính xác hơn, đã đưa ra phát hiện ngược lại so với công bố về hệ gene người Kinh vào năm 2019.


Mặt khác, nghiên cứu cũng phát hiện ra, có những tộc người tuy gần gũi hơn với tộc người khác về mặt ngôn ngữ (cùng ngữ hệ), nhưng lại xa nhau hơn về mặt di truyền. Có thể trong lịch sử tổ tiên của họ là những nhóm lai, nhưng sau này do ảnh hưởng văn hóa, điều kiện sống, chiến tranh… các thế hệ sau đã chuyển sang dùng ngôn ngữ của nhóm khác, hoặc là đã có sự giao lưu tiếp xúc giữa các tộc người thuộc các ngữ hệ khác nhau.


Công bố này được đánh giá là đầy đủ nhất cho đến nay, sử dụng các phương pháp hiện đại trong phân tích dữ liệu hệ gene, nhằm làm rõ sự đa dạng về mặt di truyền của người Việt Nam, theo đánh giá trên trang của Hiệp hội Tiến bộ Khoa học Hoa Kỳ. Điều này thực sự có ý nghĩa bởi vì trước đây, sự đa dạng di truyền của Việt Nam vẫn là một địa hạt chưa được khai phá, đặc biệt là với dữ liệu hệ gene trên quy mô lớn, bởi vì đa phần các nghiên cứu về hệ gene trước đây đều tập trung vào nhóm người Kinh. Do đó, trong trong thông cáo báo chí của Viện Max Planck về Nhân chủng học tiến hóa, GS Mark Stoneking, đồng tác giả liên hệ của nghiên cứu cũng đã lưu ý rằng: “Nhìn chung, chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lấy mẫu của các nhóm dân tộc khác nhau nhằm xây dựng hoàn chỉnh dữ liệu hệ gene, từ đó cung cấp những hiểu biết mới về sự đa dạng di truyền và lịch sử của một khu vực đa sắc tộc, mà Việt Nam là ví dụ điển hình”.

“Những nghiên cứu này đã góp phần thêm một cái nhìn khách quan chân thực về tính đa dạng của người Việt Nam, bác bỏ những nhận định thiếu căn cứ khoa học, chủ quan về sự khác biệt của tộc người cụ thể đối với các tộc người khác trong một cộng đồng cùng tồn tại qua suốt chiều dài lịch sử”.

Giờ đây, các yếu tố đa dạng ngôn ngữ và đa dạng về ngoại hình (hình thái) của các cá thể thuộc các sắc tộc người Việt Nam mà “ai cũng có thể tự nhìn thấy” đã được khẳng định là có sự đa dạng về nguồn gốc di truyền. Điều này đã góp phần thêm một cái nhìn khách quan chân thực về tính đa dạng của người Việt Nam, bác bỏ những nhận định thiếu căn cứ khoa học, chủ quan về  sự khác biệt của tộc người cụ thể đối với các tộc người khác trong một cộng đồng cùng tồn tại qua suốt chiều dài lịch sử.

Truy ngược đồng hồ tiến hóa

Dữ liệu hệ gene không chỉ cho thấy chuyện của ngày hôm nay, mà các kỹ thuật phân tích có thể giúp “truy” dấu vết di truyền từ hàng ngàn đến hàng chục nghìn năm quá khứ. Trong đó, thông thường, các nhà khoa học trên thế giới sẽ phân tích gene đồng hồ tiến hóa và so sánh với các hệ gene tham chiếu của cư dân hiện đại thuộc các tộc người khác và của các mẫu người cổ trong cơ sở dữ liệu gene quốc tế để tìm ra các điểm bắt đầu phát sinh, rẽ nhánh. Từ đó xác định mốc thời gian giao thoa trong lịch sử của từng tộc người.

Vì thế, trước đó, vào năm 2018, cũng từ nguồn gene dùng trong nghiên cứu của Đề tài này, GS Nông Văn Hải và các đồng nghiệp đã phân tích các biến đổi trong trình tự hệ gene ty thể của người Việt Nam nhằm tìm ra dấu ấn của các lần xuất hiện và tập trung dân cư trong thời cổ đại và công bố trên tạp chí Scientific Reports, thuộc Tập đoàn xuất bản Nature6. Để phân tích tìm ra các điểm phát sinh, nhóm của ông đã giải trình tự hệ gene ty thể người Việt Nam ở trên và đối chiếu cùng với 2133 trình tự khác từ các dân tộc khác đang sinh sống ở lục địa Đông Nam Á (bao gồm: Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanmar, Tây Malaysia, Nam Trung Quốc) và Đài Loan, từ đó phát hiện được 111 dòng nhánh mới của DNA ty thể của người Việt Nam. Theo ước tính Bayesian về thời gian kết tụ (coalescence time) với 95% mật độ hậu nghiệm cao nhất (Highest Posterior Density, HPD), nhóm đã xác định được biểu hiện gene ghi dấu sự xuất hiện của người hiện đại trong hệ gene ty thể người Việt Nam vào khoảng 50 nghìn năm trước. Kết quả này đã khẳng định các giả thiết khảo cổ học về mốc xuất hiện của con người trên lục địa Đông Nam Á vào khoảng thời gian này.

GS Nông Văn Hải (trái) và GS Mark Stoneking trong Hội thảo quốc tế do Viện Nghiên cứu hệ gene tổ chức năm 2017. Ảnh: NVCC.


Đặc biệt, nhóm nghiên cứu đã phát hiện được đỉnh cao tập trung sự đa dạng DNA ty thể vào khoảng thời gian trùng với nền Văn hóa Đông Sơn, “có một sự tập trung gene cổ vào vùng đồng bằng sông Hồng khoảng 2.500-3.000 năm về trước”. Như vậy, không phải chỉ tổ tiên của người Kinh tập trung ở đồng bằng sông Hồng mà tổ tiên của các tộc người thuộc 5 nhóm ngữ hệ ngày nay đều có dấu vết tập trung dân cư đông đúc ở đây vào thời Đông Sơn. Nghĩa là nền văn hóa Đông Sơn là chung của các dân tộc này trong quá khứ. Đây là bằng chứng khoa học mới, đầu tiên trên thế giới về di truyền phân tử người cho thấy sự đa dạng di truyền liên quan đến khoảng thời gian ra đời của văn hóa Đông Sơn. Và điều này có thể đem lại một phần lời giải cho khẳng định của các nhà nghiên cứu khảo cổ học tiền sơ sử như TS Nguyễn Việt về các cư dân thời Đông Sơn và tiền Đông Sơn là một khối Bách Việt.

Nhưng trên hết, GS Nông Văn Hải nhắc đi nhắc lại rằng những gì mà ông và các đồng nghiệp trong nước và quốc tế làm mới chỉ là các nghiên cứu bước đầu. Các câu trả lời cho các giả thiết về đa dạng di truyền, nguồn gốc các tộc người hay các vấn đề cụ thể về bệnh học tộc người sẽ ngày càng đầy đủ lên khi các nhà nghiên cứu bổ sung thêm các mẫu ở các tộc người khác nhau, với cỡ mẫu lớn hơn. Đây là lý do mà nhiều nước trên thế giới đã xây dựng những bộ dữ liệu hệ gene người rất đồ sộ, thậm chí đã xuất hiện các “câu lạc bộ” các nước mà chính phủ đã đầu tư nghiên cứu giải trình tự hàng trăm ngàn đến cả triệu hệ gene người.

Nguồn: Báo Tin Sáng 27 5 2020 https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/Nghien-cuu-da-dang-di-truyen-he-gene-nguoi-Viet-Nam-Nhung-vien-gach-dau-tien/

Tài liệu tham khảo

1 The search for ancient DNA heads east, Science, 2018: Vol. 361, Issue 6397, pp. 31-32. DOI: 10.1126/science.aat8662

2 Mark Lipson et al, Ancient genomes document multiple waves of migration in Southeast Asian prehistory, Science  06 Jul 2018: Vol. 361, Issue 6397, pp. 92-95 DOI: 10.1126/science.aat3188 link online: https://science.sciencemag.org/content/361/6397/92

3 Hugh McColl et al, The prehistoric peopling of Southeast Asia. Science  06 Jul 2018: Vol. 361, Issue 6397, pp. 88-92 DOI: 10.1126/science.aat3628 link online: https://science.sciencemag.org/content/361/6397/88.full

4 Đề tài mã số ĐTĐL.CN-05/15, do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý.

5 Dang Liu, Nguyen Thuy Duong, Nguyen Dang Ton, Nguyen Van Phong, Brigitte Pakendorf, Nong Van Hai, Mark Stoneking, Extensive ethnolinguistic diversity in Vietnam reflects multiple sources of genetic diversity, Molecular Biology and Evolution, msaa099, https://doi.org/10.1093/molbev/msaa099  (Nong Van Hai, Mark Stoneking là tác giả liên hệ)

6 Duong, N.T., Macholdt, E., Ton, N.D. et al. Complete human mtDNA genome sequences from Vietnam and the phylogeography of Mainland Southeast Asia. Sci Rep 8, 11651 (2018). https://doi.org/10.1038/s41598-018-29989-0 (Nong Van Hai, Mark Stoneking là tác giả liên hệ).

TẾT NGUYÊN ĐÁN VIỆT TRUNG: TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
Trần Vũ Đồng và Hoàng Tố Nguyên

(* Tác giả Trần Vũ Đồng 陈雨桐 là học viên chuyên ngành song ngữ Anh Việt và tiến sĩ Hoàng Tố Nguyên là giảng viên khoa Ngữ văn Trung Quốc, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh).

Tết Nguyên Đán là lễ hội truyền thống quan trọng nhất của Việt Nam và Trung Quốc. Việc so sánh nguồn gốc phong tục đặc điểm giống và khác nhau giữa Tết Nguyên Đán của hai nước và tìm hiểu tư tưởng, quan niệm tín ngưỡng giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn về nền văn hóa, lịch sử của hai dân tộc, thúc đẩy mối quan hệ giao lưu thân thiện giữa hai quốc gia. Tết Nguyên Đán Việt Trung bất luận là tên gọi, thời gian, nguồn gốc hay phong tục đều có nhiều điểm giống nhau, nhưng không gian văn hóa và theo thời gian, mỗi nước đều tự tạo ra cho mình những nét đặc sắc riêng.

Tết Nguyên Đán Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng trong cùng một không gian văn hóa Tết cổ truyền của Trung Quốc Việt Nam, Triều Tiên, Hàn Quốc và Nhật Bản Sự giao thoa Tết văn hóa và văn hóa Tết Việt Nam và Trung Hoa là gần gũi ‘đồng văn” tới mức trước đây và thậm chí gần đây, giới Đông phương học phương Tây thường xếp Việt Nam vào “Thế giới văn minh Trung Hoa” hay “Thế giới Hoa hóa” (như M.Gernet Le monde chinois, Paris, 1980, L. Vandermeersch Le monde Sinise PUF, Paris, 1986). Đối với Đông Nam Á, một khái niệm mới xuất hiện ở cuối thế chiến II, thì người ta xếp Việt Nam vào “các quốc gia Ấn hóa hay Hindou hóa” để đối sánh Việt Nam với các quốc gia Đông Nam Á khác. Người ta mệnh danh Việt Nam là bộ phận tiền đồn của văn minh Trung Hoa chọc xuống vùng Đông Nam Á.

Tết Nguyên Đán Việt Nam và Trung Quốc khác biệt năm điểm chính: 1) Lịch sử văn hóa Trung Quốc thuộc nền văn minh Trung Hoa Context Đông Á (Đàm Gia Kiện chủ biên 1993). Bản sắc lịch sử văn hóa Việt Nam thuộc nền văn minh lúa nước Hòa Bình Context Động Nam Á Nước Việt, Dân Việt trên diễn trình lịch sử lâu dài tuy nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa chính trị Trung Hoa Đông Á nhưng vẫn luôn luôn duy trì nền tảng văn hóa môi cảnh địa nhân văn Đông Nam Á của chính mình (Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam tìm tòi và cảm nhận, Nhà Xuất bản Văn hóa Hà Nội, năm 2003); 2) Tết Nguyên Đán trước hết là Tết của người Việt. Tết nguyên nghĩa là “tiết”. Văn hóa Việt thuộc văn minh Nông nghiệp lúa nước, do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khí khác nhau, và ứng với mỗi tiết khí này lại có một thời khắc “giao thời”. Tết Nguyên Đán nghĩa là “Tết đầu năm mới”. Chữ Tết là âm “đọc trạch” theo lối dân gian của chữ “Tiết” Hán Việt. Tiết âm Hán Việt có nghĩa là Đoạn, Khúc, Đốt. Trên dòng thời gian liên tục của một năm theo lịch cổ truyền thì Tết Nguyên Đán nương theo Tiết Lập Xuân. Tiết Nguyên Đán là Tiết Lập Xuân của người Việt trong lịch cổ Việt Thường la bàn (hướng chính Đông). 3) Nguồn của Tết Nguyên Đán thuộc không gian văn hóa Hòa Bình và nền văn hóa Đông Sơn Trống đồng.là chốn tổ nền văn minh lúa nước. Tết Nguyên Đán là một lễ hội mùa nông nghiệp. Các chuyên khảo của giáo sư Trần Quốc Vượng 2003 đã cũng cố luận điểm này “Lịch ta và nền văn hóa lúa nước cổ truyền (trang 324-331), Con trâu và nền văn hóa Việt Nam (trang 332-337) “Biểu tượng Ngưa và năm con ngựa 338-341) “Năm Giáp Tuất kể chuyện lịch ta và chú cẩu” (trang 342-347); Nhân xuân Ất Hợi 1995 chuyện vãn về con lợn trong văn hóa Việt Nam (trang 348-352). 4) Diễn trình lịch sử văn hóa Việt Nam thể hiện phong tục là khác nhau “Núi sông bờ cõi đã chia / Phong tục Bắc Nam cũng khác” , “trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ” đó là tác phẩm Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi soạn thảo vào mùa xuân năm 1428. Theo Lịch sử Việt Nam diễn trình từ lúc có mặt con người sinh sống thì đã có hàng vạn năm trước Công nguyên, còn tính từ khi cơ cấu nhà nước được hình thành thì mới khoảng từ năm 2879 TCN. Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa qua thông tin các di tích chứng minh loài người đã từng sống tại Việt Nam từ thời đại đồ đá cũ thuộc nền văn hóa Tràng An, Ngườm, Sơn Vi và Soi Nhụ. Vào thời kỳ đồ đá mới, nền văn hóa Hòa Bình Bắc Sơn tại vùng này đã phát triển về chăn nuôi và nông nghiệp, đặc biệt là kỹ thuật trồng lúa nước. Di chỉ khảo cổ tại Trống Đồng Ngọc Lũ Đông Sơn, và nhiều minh chứng khác. 5) “Nghiên cứu đa dạng di truyền hệ gene ngưởi Việt Nam: Những viên gạch đầu tiên” thông tin của Giáo sư Nông Văn Hải Viện Nghiên cứu hệ gene (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) tại Nguồn: Báo Tin Sáng 27 5 2020 https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/Nghien-cuu-da-dang-di-truyen-he-gene-nguoi-Viet-Nam-Nhung-vien-gach-dau-tien/ với nhiều thư mục dẫn liệu kèm theo, có thể hé mở một phần câu trả lời. “đỉnh cao tập trung sự đa dạng DNA ty thể vào khoảng thời gian trùng với nền Văn hóa Đông Sơn, “có một sự tập trung gene cổ vào vùng đồng bằng sông Hồng khoảng 2.500-3.000 năm về trước”. Như vậy, không phải chỉ tổ tiên của người Kinh tập trung ở đồng bằng sông Hồng mà tổ tiên của các tộc người thuộc 5 nhóm ngữ hệ ngày nay đều có dấu vết tập trung dân cư đông đúc ở đây vào thời Đông Sơn. Nghĩa là nền văn hóa Đông Sơn là chung của các dân tộc này trong quá khứ. Đây là bằng chứng khoa học mới, đầu tiên trên thế giới về di truyền phân tử người cho thấy sự đa dạng di truyền liên quan đến khoảng thời gian ra đời của văn hóa Đông Sơn. Và điều này có thể đem lại một phần lời giải cho khẳng định của các nhà nghiên cứu khảo cổ học tiền sơ sử như TS Nguyễn Việt về các cư dân thời Đông Sơn và tiền Đông Sơn là một khối Bách Việt

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày
Bài viết mới

Video yêu thích
Quê Hương saxophone hay nhất của Trần Mạnh Tuấn
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter