Đối thoại với Thiền sư

ĐỐI THOẠI VỚI THIỀN SƯ
Hoàng Kim


Hạnh phúc khi già đi
là biết sống tốt hơn
yêu thương hiền lành hơn
chọn tinh hoa lưu lại .

Đối thoại với Thiền sư https://hoangkimlong.wordpress.com/category/doi-thoai-voi-thien-su/

Tôi đồng tình với Anle20’s Blog theo Phụ Nữ News người già ít lo lắng hơn người trẻ vì

Sống tốt
Khi già đi, người ta sẽ thường nhìn nhận một sự việc từ những yếu tố tích cực của nó.
Khi già đi, người ta thường biết hài lòng với kinh tế của chính mình.
Khi già đi, người ta sẽ biết để ý tới thực phẩm sạch, biết ăn uống điều độ, từ bỏ thói quen xấu như bia rượu, thuốc lá.
Khi già đi, người ta thường cảm thấy vui vì những việc nhỏ, như một cốc cafe với bạn đời, hay một cuộc đi dạo với chú cún cưng.
Khi già đi, người ta biết tin tưởng, bớt đa nghi lo lắng.

Yêu thương
Người già biết lắng nghe người khác và đưa ra lời khuyên thích hợp.
Người già biết cách xử lý đúng mực mà không làm tổn thương ai.
Người già dễ thông cảm với những điểm không tốt của người khác.
Người già biết kiềm chế cảm xúc, nhẫn nhịn và bao dung.
Người già biết mừng rỡ cho thành quả của người khác.
Người già biết dành thời gian cho những người mình yêu quý.

Tinh hoa
Khi già đi, người ta không còn chạy theo tiền bạc và của cải
Khi già đi, người ta biết từ bỏ lòng ham muốn.
Khi già đi, người ta không tìm kiếm những thứ mới lạ và kích động.
Khi già đi, người ta biết từ bỏ những cảm xúc tiêu cực.
Khi già đi, người ta không còn tranh giành với người khác.
Khi già đi, người ta biết hy sinh bản thân mình.
Khi già đi, người ta hạnh phúc và ngây thơ như một trẻ nhỏ.

Advertisements

Đối thoại với Thiền sư

ĐỐI THOẠI VỚI THIỀN SƯ
Từ một chữ Thích
Như Nhiên Thích Tánh Tuệ

Cũng là chữ Thích đi đầu
Mà đằng sau có muôn màu khổ vui

Thích tiền đời mãi ngược xuôi
Hạnh phúc quanh quẩn lui hui với tiền
Chán rồi thì lại thích Tiên
Gặp Tiên bảo bỏ dấu huyền mới thương

Thích Danh lồng lộng bốn phương
Đời còn đánh đổi phong sương kiếp trần 
Thích phiêu bồng cuộc ái ân
Tử sinh lũy kiếp bội phần xuống lên.

Thích nhớ mà chẳng thích quên
Tự mình giam ngục triền miên sống sầu
Thích ngũ dục thích truy cầu
Tìm vui trong khổ nghiệp sâu chất chồng
 
Thích hưởng thụ thích đèo bồng
Một ngày phước tận, đời trong úa tàn
Thích làm ác thích làm càn
Lưới trời bủa xuống oán than giận mình

Thích vơ vét tận tâm tình
Trắng tay đối diện vạn nghìn khổ đau
Cũng là chữ Thích đi đầu
Thích bao đạo lý nhiệm mầu xa xưa.

Thích hành thiện thích đi chùa
Thích san sẻ thích ngăn ngừa ác nhân
Thích cười hơn thích giận sân
Đời bao bất thiện dần dần nhạt phai

Thích giúp người lúc chẳng may
Về sau khổ nạn bỗng tay ai chìa
Thích đơn giản thích quay về
Cõi lòng thanh tịnh Bồ Đề không xa. 

Chuyện gì cũng thích cho qua
Ngàn hoa chẳng đẹp bằng hoa nụ cười.
Mỗi ngày biết “Tạ ơn đời “
Sống tùy duyên hạnh thảnh thơi khoan từ

Bỏ dấu cộng thích dấu trừ
Thuyền tâm một sớm tạ từ bến mê
Nẻo luân hồi dứt lê thê
Thích và không thích đưa về một phương

Sống không hỷ xả vui buồn
Mê thay áo Ngộ cội nguồn bao la

Thung dung
Hoàng Kim

Người rất muốn đi về trong tịch lặng
Quẳng lại sau lưng nhân thế muộn phiền
Ta đến chốn thung dung tìm hoa lúa
Rong chơi đường trần sống giữa thiên nhiên.

Tâm thanh thản buồn vui cùng nhân thế
Đời Đạo thịnh suy sương sớm đầu cành
Lòng hiền dịu và trái tim nhẹ nhõm
Kho báu chính mình phúc hậu an nhiên (*).

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt (**)
Trăng rằm xuân lồng lộng bóng tri âm
Người tri kỷ cùng ta và năm tháng.
Giác Tâm: Ta về còn trọn niềm tin.

(*) PHẬT BẢO ‘BUÔNG BỎ’ LÀ BUÔNG BỎ CÁI GÌ?

1. Buông bỏ việc tranh luận đúng sai.
2. Buông bỏ tâm thái muốn khống chế người khác.
3. Buông bỏ sự trách móc, hờn giận.
4. Buông bỏ cảm xúc dằn vặt bản thân mình.
5. Buông bỏ tự ti về hiểu biết hữu hạn của bản thân.
6. Buông bỏ tâm phàn nàn, xét nét.
7. Buông bỏ cái tâm thái phê bình người khác và sự việc khác.
8. Buông bỏ tâm cầu danh, hám danh.
9. Buông bỏ tính lười nhác, thiếu cố gắng.
10. Buông bỏ tâm thái tùy ý nhận định người khác.
11. Buông bỏ sự sợ hãi.
12. Buông bỏ tâm bao biện.
13. Buông bỏ quá khứ.
14. Buông bỏ tâm cố chấp.
15. Buông bỏ việc nhìn vào người khác, sống cuộc sống của chính mình.

(*) Thích Tánh Tuệ, Thích Giác Tâm là cao tăng Đạo Phật ngày nay
Hoàng Kim là người thầy khoa học xanh chiến sĩ quê ở Quảng Bình

(**) Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt : Nhạc Trịnh.

Đối thoại với Thiền sư

ĐỐI THOẠI VỚI THIỀN SƯ
Hoàng Kim

Sớm mai dọn vườn ngắm mai nở
Nhớ Lev Tonstoy ‘suy niệm mỗi ngày’
Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Thung dung Ngày xuân đọc Trạng Trình.

Vui ngây ngất thơ ‘Đêm luân lưu’
Nhớ thầy Luật lúa OM và OMCS
Thích sắn KM là ‘KIM không I
Hoa Lúa (HL) Hoa Người Hoa Đất

Nhớ OM OMCS thơ vui đời thường
‘Em giữ nồng nàn ở trong ngực ấm
Để tiết đại hàn trời lạnh cắt da
Thơ cho đời và nắng cho thơ’

Sớm mai dọn vườn ngắm mai nở
Đức Phật trong cây vườn cổ tích
Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe
Tỉnh thức con đường xanh Norman Borlaug.

Ngọc phương Nam hứng mật đời thành thơ
việc nghìn năm hữu lý Trạng Trình
đến Trúc Lâm đạt năm việc lớn hoàng thành
đất trời xanh Yên Tử

Đối thoại với Thiền sư

ĐỐI THOẠI VỚI THIỀN SƯ
Hoàng Kim

Thăm Thiền sư đời thường
Lắng chiều sâu Phật pháp
Thung dung con đường xanh
Hoàng Gia an viên sáng.

anh Bu Lu Khin viết

CÂY PHẬT GIÁO
(13.1.2019)
1- Nếu bạn cho rằng Phật giáo Đại thừa (còn gọi là Phật giáo Pháp môn, hay Phật giáo Phát triển) đã đi quá xa các nguyên lý của đạo Phật nguyên chất, thì nên chăng tham khảo ý kiến của Đại lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ khi ngài dịch bộ ba “Phật giáo tư tưởng luận” của tác giả Kimura Taiken. Trong Lời tựa ở quyển (I) Đại lão Hòa thượng viết: “Phật giáo cũng như cái cây có ba phần. Phần gốc, phần thân, và phần ngọn bao gồm nhiều cành lá. Phần gốc là Căn bản Phật giáo, phần thân là Tiểu thừa Phật giáo, phần ngọn và cành lá là Đại thừa Phật giáo. Người ta không thể nào tưởng tượng được sự tồn tại của một cái cây mà không có gốc. Nhưng nếu chỉ có gốc không thôi thì cây ấy không còn sức sống, hoặc giả có gốc có thân mà không có cành lá thì cây ấy cũng như cây trong mùa đông, không khỏi gây cho người ta cái ấn tượng trơ trụi tiêu điều. Nếu phần gốc và thân cây giữ cho cái cây đứng vững thì phần cành lá sum suê xanh tốt sẽ biểu dương cho sức sống mãnh liệt của toàn bộ cây. Hơn nữa tán cây tươi thắm tỏa ra che rợp khoảng không gian đủ sức mang lại cho người lữ hành trên con đường dài mệt mỏi những phút giây êm mát giữa buổi trưa hè oi bức”
2- Albert Einstein (14.3.1879 – 18.4.1955). Nhà bác học vĩ đại nhất mọi thời đại. Người rất quan tâm và phát biểu khá nhiều về đạo Phật. Câu nói đáng suy ngẫm nhất của ông: “Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu vượt lên trên mọi Thần linh giáo điều và Thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể, gồm mọi lỉnh vực trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa nhất. Phật giáo đáp ứng tất cả các điều kiện đó”
3- Vậy là, bác học Albert Einstein từ rất lâu đã nhìn thấy cái cây Phật giáo vững chãi vươn cao đâm chồi nẩy lộc hoa lá sum suê che mát chúng sinh đang vật vả đi trên con đường mưu cầu hạnh phúc và giải thoát.

———–
Ba tập “Phật giáo tư tưởng luận” của Kimura Tai ken do Đại Lão Hòa thượng Thích Quàng Độ dich.



Đối thoại với Thiền sư

ĐỐI THOẠI VỚI THIỀN SƯ
Hoàng Kim

Kính Thầy Suối Trí Tuệ
Thừa Ân Giác Linh Ôn
Buu Minh Giác Tâm sáng
Hoa Lúa soi tâm hồn

Lời dẫn:
1) Chùa Bửu Minh Gia Lai http://chuabuuminh.vn/ là ngôi chùa cổ gần Biển Hồ- Pleyku, Thầy Thích Giác Tâm tác giả ‘Con về còn trọn niềm tin‘ là sư trụ trì của chùa Bửu Minh.

2) Hòa thượng Thích Viên Quán, viện chủ chùa Thừa Ân, phường Yên Đỗ, Tp.Pleiku, tỉnh Gia Lai viên tịch vào lúc 13h30 ngày 16.9.2018.

3) ‘Ba trước của tôi’ bài của thầy Thích Giác Tâm

BA TRƯỚC CỦA TÔI
Thích Giác Tâm
(Hồi ức trong mùa Vu Lan Báo Hiếu).

Chuyện của một gia đình không danh gia vọng tộc, chỉ là một gia đình thường thượng bậc trung, thì có gì đáng nói để nói. Nhưng nếu không nói ra con cháu trong tộc họ không biết nguồn gốc của mình, người mà không biết đến nguồn gốc cội rễ của gia tộc là một thiếu sót lớn.

Mẹ tôi người huyện An Nhơn tỉnh Bình Định, có chồng cùng quê, là “ba trước” của tôi, (từ đây được gọi là “ba trước”, còn người sinh ra tôi được gọi là ba tôi, để dễ phân biệt và theo dõi câu chuyện không lẫn lộn) ông làm nghề thợ may, sinh ra được ba người con gái. Đặt tên May, Vá, Bảy. Cặm cụi ngồi may suốt ngày, nhiều năm nhiều tháng ông mắc bệnh phổi và mất khi tuổi chưa tới 40. Quê nhà làm ăn khó khăn, mẹ bồng bế ba con lên đồn điền chè Biển Hồ, tỉnh Pleiku lập nghiệp, thời gian đó vào năm 1945-1946. Mười hai năm sau mẹ gặp ba tôi họ Nguyễn tên Trợ và sinh ra hai anh em tôi.

Khi lên ở xã Biển Hồ, làm lại Tờ khai gia đình (hộ khẩu bây giờ), ba tôi hỏi mẹ tôi:” Mấy nhỏ họ gì ?” Mẹ tôi trả lời cục ngủn:”Họ Ma”. Ba tôi nói:” Họ gì họ Ma, họ ma quỷ thì còn làm ăn thế nào được. Đổi lại họ Mai đi, ở Bình Định có anh hùng Mai Xuân Thưởng chống Pháp, nên lấy theo họ Mai”. Ông quyết định đổi họ, và thế là các chị tôi từ họ Ma đổi thành họ Mai, cắt đứt gốc rễ tổ tiên ông bà họ Ma của mình.

Người Việt không có họ Ma, họ Ma là người Chăm. Trong gia phả của một số người Việt gốc Chăm tôi tìm hiểu được, thì người Chăm có 4 họ chính: “Ôn, Ma, Trà, Chế”. Bởi vậy tôi tin chắc chắn rằng “ba trước” tôi là gốc người Chăm (Chiêm Thành). Lịch sử để lại chúng ta biết rằng thành Đồ Bàn là thủ phủ của vương quốc Chiêm Thành) khu vực chùa Thập Tháp, tháp Cánh Tiên, thuộc xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định bây giờ là Kinh Đô Đồ Bàn xưa, của người Chiêm Thành (khoảng thế kỷ thứ 11-12).

Có lần trò chuyện với một người phụ nữ Chăm ở Phan Rang, bán hàng thổ cẩm ở hội chợ thành phố Pleiku, tôi hỏi:” Chị có biết về lịch sử tổ tiên ông bà chị không ?”. Chị trả lời:” Con có học có biết, nhưng câu chuyện lịch sử đã qua đi lâu quá rồi, hơn tám, chín trăm năm , bây giờ tụi con đã thành người Việt, nhắc, nhớ lại lịch sử vong quốc của mình chỉ thêm buồn”. Một câu trả lời vô cùng dễ thương, không khơi gợi, hoài niệm quá khứ để phát sinh thù hận, gây chết chóc điêu linh.

Trong Kinh tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân Đức Phật dạy:

“Điều thứ nhất là giác ngộ rằng cuộc đời là vô thường, cõi nước nào cũng mong manh dễ đổ vỡ, những cấu tạo của bốn đại đều trống rỗng và có tác dụng gây đau khổ, con người do tập hợp của năm ấm mà có, lại không có thực ngã, sinh diệt thay đổi không ngừng, hư ngụy và không có chủ quyền. Trong khi đó thì tâm ta lại là một nguồn suối phát sinh điều ác và thân ta thì là một nơi tích tụ của tội lỗi. Quán chiếu như trên thì dần dần thoát được cõi sinh tử”.

Thông điệp của Đức Phật luôn vang vọng trên khắp hành tinh này, từ 2600 năm qua: “Ngài dạy yêu thương, không hận thù, tất cả con người là quyến thuộc nhiều đời nhiều kiếp với nhau, là máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn như nhau. Hãy nương vào nhau mà sống, đừng bao giờ hủy diệt nhau. Rằng cuộc đời là vô thường, cõi nước nào cũng mong manh dễ đổ vỡ”. Vậy mà nhân loại con người, không ai nhớ đến làm chi, chúng ta nhân danh gia đình, xã hội, tôn giáo, tổ quốc mình đi rao truyền, cưỡng chiếm, và chân lý luôn thuộc về kẻ mạnh.

Ngày giỗ của “ba trước” tôi, là ngày 17 tháng 2 âm lịch. Con cháu có kẻ nhớ người quên, ông không còn một tấm ảnh nào để thờ.
Cứ mỗi lần có dịp đi du lịch các tỉnh thành, tôi đều tìm đến các tháp Chăm (có nơi gọi tháp Chàm) để thăm viếng, để học hỏi về lịch sử nam tiến, lịch sử ngoại giao của tổ tiên mình, về bài học nhân danh….để hủy diệt nhau, cho sự tồn sinh của dân tộc mình, tôn giáo mình.

Gia Lai, ngày 16.9.2016

Thích Giác Tâm

xem tiếp
HOA LÚA,
Hoàng Kim
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoa-lua/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Đối thoại với Thiền sư

ĐỐI THOẠI VỚI THIỀN SƯ
Hoàng Kim

Sớm mai dọn vườn ngắm mai nở
Nhớ Lev Tonstoy ‘suy niệm mỗi ngày’
Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Thung dung Ngày xuân đọc Trạng Trình.

Vui ngây ngất chuyện đêm luân lưu
Nhớ thầy Luật lúa OM và OMCS
Thích KM là ‘KIM không tôi ‘
HL là Hoa Lúa Hoa Người Hoa Đất

‘Em giữ nồng nàn ở trong ngực ấm
Để tiết đại hàn trời lạnh cắt da
Nhớ Ôm Em và Ôm Em Cưc Sướng
Thơ cho đời và nắng cho thơ’

Sớm mai dọn vườn ngắm mai nở
Đức Phật và cây trong vườn cổ tích
Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe
Tỉnh thức con đường xanh Norman Borlaug.

Ngọc phương Nam hứng mật đời thành thơ
việc nghìn năm hữu lý Trạng Trình
đến Trúc Lâm đạt năm việc lớn hoàng thành
đất trời xanh Yên Tử

Đối thoại với Thiền sư

baihoccuocsong

Đối thoại với Thiền sư
SUỐI NGUỒN HẠNH PHÚC TRÍ HUỆ
Hoàng Kim
Lắng học lời hay tâm tư thanh thản Tỉnh thức ban mai nhớ đến bạn hiền. Nắng sớm chan hòa  trái tim nhẹ nhõm Kho báu chính mình phúc hậu an nhiên. Đến chốn thung dung,

Sớm thu trong lành, tôi vui đọc BẢY ĐIỀU LÀNH HẠNH PHÚC MÀ TA HAY LÃNG QUÊN và Ý NGHĨA CỦA HẠNH PHÚC được cho là của Đạt Lai Lat Ma.

HanhPhuc

7 ĐIỀU HẠNH PHÚC MÀ TA HAY LÃNG QUÊN.

Hạnh phúc là khi ta có hay khi nghĩ tới một trong bảy điều sau đây:
1. Ta đang còn sống
2. Ta có sức khỏe
3 Ta có đủ sáu căn
4. Ta có tự do
5. Ta có tiện nghi vật chất
6. Ta có tình thương
7. Ta có sự hiểu biết
Nếu bạn có tất cả bảy điều trên, bạn là người rất hạnh phúc.

CHIẾC VA Li CỦA THƯỢNG ĐẾ

Một người đàn ông đang đi vào cõi chết, thấy Thượng Đế đang đến gần, tay cầm một cái va-li và bảo:
– Này con, đã đến lúc đi rồi.
Người đàn ông hỏi: “Ngay bây giờ sao?, mau quá vậy ?. Con còn nhiều dự định…”.
– Rất tiếc, nhưng đã đến giờ đi rồi. Thượng Đế trả lời.
– Ngài có gì trong cái va-li đó vậy ?
– Những gì thuộc về nhà ngươi.
– Những gì thuộc về con ư ?. Đồ đạc, áo quần, hay tiền bạc ?
– Những cái đó đã không phải của nhà người; chúng thuộc về Trần gian.
– Có phải nó là ký ức của con?
– Không. Những cái đó đã không bao giờ thuộc về nhà ngươi; chúng thuộc về Thời gian.
– Vậy chắc là tài năng của con ?
– Không. Những thứ đó đã không bao giờ là của nhà ngươi; chúng tuỳ thuộc vào những tình huống.
– Hay là bạn bè và gia đình ?
– Cùng không. Chúng đã không bao giờ là của nhà ngươi; họ thuộc về con đường mà nhà người đã đi qua.
– Có phải là vợ con của con ?
– Họ đã không bao giờ là của nhà ngươi; họ thuộc vào trái tim của nhà ngươi.
– Có phải là thân xác con ?
– Càng không. Cái đó đã không bao giờ là của nhà ngươi; nó thuộc về Hành tinh cát bụi.
– Vậy phải là linh hồn của con?
– Càng không phải. Cái đó là của ta.

Tay run run, người đàn ông nhận cái va-li có ghi ngày sinh của ông. Mở ra và chỉ thấy nó trống trơn. Một giọt nước mắt lăn xuống, người đàn ông thốt lên:
– Thế con chẳng có gì cả sao ?.
– Có chứ, trong ấy đựng những giờ phút mà con đã sống. Đó là của riêng con.

Lời bình:
Cuộc đời rất ngắn ngủi.
Một thời gian thoáng chốc thuộc về bạn.
Đừng bao giờ nghĩ rằng bạn làm chủ mọi thứ.
Hãy sống bây giờ !
Sống đời của bạn !
Sống hạnh phúc; đó mới là điều đáng quan tâm.
Mọi cái vật chất, của nả, danh vị,… và những thứ khác giành được, đều ở lại trần gian. Lìa cõi này, bạn không thể mang theo bất cứ thứ gì.
Nếu đã biết, thì sao cứ giành dật ?

Ý NGHĨA CỦA HẠNH PHÚC

Đạt Lai Lạt Ma

Chúng sinh có giác cảm thì nhiều vô kể như không gian bao la vô tận, mà tất cả đều mong muốn tránh khỏi khổ đau và mưu cầu hạnh phúc.

Hãy luôn ghi khắc trong tâm một điều là niềm hạnh phúc và định mệnh của vô tận chúng sinh là những gì hết sức quan trọng và cần thiết vô cùng.

Nếu chủ đích của hành động là mang lại sự thích thú thì thiền định chắc chắn sẽ thành công trong mục đích đó.

Lòng ước mong cao cả giúp đỡ người khác mang tính cách thật tích cực. Đấy là nguồn gốc mang lại hạnh phúc, lòng can đảm và sự thành công cho chính mình.

Những gì mang lại kết quả tích cực đồng thời cũng có thể hàm chứa khả năng tạo ra hậu quả tiêu cực.

Biết sử dụng trí thông minh con người để phán đoán là những gì thật hệ trọng, phải cân nhắc cẩn thận giữa cái lợi của hạnh phúc lâu dài và cái hại của niềm vui trước mắt.

Ước mong với chủ đích chân thật là điều thật tích cực, trái lại nếu hướng vào những gì không ngay thật thì đấy chỉ là những ước mong tiêu cực rồi sẽ mang lại khó khăn.

Ước mong chân chính là động cơ thúc đẩy quan trọng nhất giúp mang lại hạnh phúc cho mình trong hiện tại và cả trong tương lai.

Vui lòng với những gì mình có là yếu tố quan trọng hơn cả để giúp ta tìm thấy hạnh phúc.

Thật vậy, tuy sức khoẻ, của cải và tình thân hữu là ba yếu tố cần thiết giúp ta đi đến mục đích đó, thế nhưng biết vui lòng với những gì mình có lại là chiếc chìa khóa mở ra cho ta cánh cửa mang lại niềm hạnh phúc phát sinh từ ba yếu tố ấy.

Không một nguyên nhân sẵn có nào có thể mang lại hạnh phúc cho mình một cách vô cớ.

Thật thế, hạnh phúc lệ thuộc vào rất nhiều nguyên nhân. Điều đó có nghĩa là nếu ta muốn có một cuộc sống hạnh phúc hơn trong tương lai thì giờ phút này phải hết lòng chăm lo cho những người chung quanh.

Người tu tập Đạo Pháp một cách đúng đắn phải luôn nhớ rằng sự giận dữ là nguồn gốc đưa đến vô số hậu quả tai hại và lòng từ bi sẽ mang lại các kết quả tích cực.

Ta phải nghĩ đến cảnh huống của người làm đối tượng cho cơn giận dữ của ta, người ấy nào có khác gì ta : họ cũng ước mong tìm được hạnh phúc và loại bỏ khổ đau như ta mà thôi!

Hiểu được như vậy thì ta sẽ không thế nào tự bào chữa cho hành vi của mình khi cố tình làm cho người ấy tổn thương.

Để đạt được hạnh phúc và tự giải thoát cho mình khỏi cảnh khốn cùng từ kiếp này sang kiếp khác, tôi phải luôn luôn xem ba thứ nọc độc – tức những thứ xúc cảm bấn loạn phát sinh từ dục vọng, hận thù và vô minh – là kẻ thù của tôi.

Kiến tạo hạnh phúc, vượt qua cảnh khốn cùng thật ra cũng không khác gì với các công việc khác. Muốn làm được những việc này ta phải tạo ra những yếu tố thuận lợi và đồng thời phải tìm cách loại bỏ các chướng ngại.

Chuyện ấy nào có khác gì khi ta muốn đạt được một địa vị xã hội hay tìm kiếm danh vọng và giàu sang vì khi ấy ta cũng phải tạo ra một số yếu tố thuận lợi nào đó.

Nhất thiết chúng ta đều là những sinh vật sống thành đàn, phải lệ thuộc vào nhau để sinh tồn. Chúng ta chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc, sự phồn vinh và thăng tiến nhờ vào sự tương liên chặt chẽ trong xã hội.

Sự thân thiện và giúp đỡ người khác sẽ mang lại cho mình hạnh phúc, giống như một tâm thức Giác ngộ sẽ mang lại trí tuệ cho chính mình.

Chúng sinh có giác cảm thật đông đảo và phức tạp.

Một số giúp đỡ ta, một số khác làm ta bị tổn thương, thế nhưng tất cả đều giống nhau ở một điểm là đều mong cầu hạnh phúc và e sợ khổ đau, vì thế tất cả đều ngang hàng với nhau.

Tất cả chúng sinh đều như nhau, đều ước mong được hạnh phúc và tránh khỏi khổ đau, thế nhưng họ lại không tìm thấy hạnh phúc.

Với tất cả sự thành tâm phát lộ từ đáy tim mình hãy hiến dâng cho chúng sinh tất cả những phẩm tính tích cực phát sinh từ thân xác, tâm thức và ngôn từ của mình, kể cả tài sản và những gì mình có hầu giúp chúng sinh tìm thấy hạnh phúc và những gì mà họ ước mong.

Hạnh phúc và sự toại nguyện của con người rốt lại đều phát sinh từ nội tâm của mỗi người.

Nếu đơn giản chỉ biết sử dụng của cải và các phát minh kỹ thuật [tức là những điều kiện bên ngoài] như một phương tiện mang lại hạnh phúc tối hậu cho mình thì đó là một sự sai lầm lớn lao.

Sự tương giao dựa trên lòng từ bi và tình thương yêu giữa con người với nhau là những gì thật quan trọng và tối cần thiết để góp phần mang lại hạnh phúc cho con người.

Điều quan trọng nhất trong cuộc sống là tình thương giữa con người. Thiếu yếu tố đó, con người sẽ không thể tìm thấy hạnh phúc thực sự.

Để cho một cuộc sống cá nhân được hạnh phúc hơn, một gia đình hạnh phúc hơn, xóm giềng hạnh phúc hơn và một quốc gia hạnh phúc hơn, thì chìa khóa của sự thành công chính là những phẩm tính thuộc nội tâm của chính mình.

Chỉ khi nào kiến tạo được một thể dạng tinh thần tích cực cho mình, thì khi đó dù có rơi vào cảnh huống bị hận thù bủa vây ta vẫn sẽ không đánh mất sự an bình trong tâm thức.

Ngược lại nếu chỉ biết khăng khăng giữ một thái độ tiêu cực, chi phối bởi sợ hãi, nghi ngờ, tự cảm thấy bất lực, chán ghét chính mình, thì dù bạn bè có tốt, bối cảnh có êm ái, các điều kiện môi trường có thuận lợi mấy đi nữa, ta sẽ vẫn không cảm thấy hạnh phúc.

Vì thế thái độ tâm thần thật quan trọng : chính nó sẽ xác định mức độ hạnh phúc mà ta cảm nhận được.

Biết sống một cuộc đời bình dị thì hạnh phúc sẽ đến với ta.

Ít tham vọng, vừa lòng với những gì mình có, đấy là những gì thật chủ yếu, thật vậy ta chỉ cần đủ ăn, có một ít quần áo, một mái nhà che thân là cũng đủ.

Tiếp theo đó, sau khi đã loại bỏ được các thể dạng tâm thần tiêu cực ta sẽ tìm thấy một niềm hân hoan sâu xa để phát huy một tâm thức vô cùng thanh thoát nhờ vào phép thiền định.

Kẻ thù đích thực của mình chính là các thứ xúc cảm rất thông thường của con người, đấy là hận thù, ganh tị và kiêu căng, chúng là những kẻ thù sẵn sàng hủy hoại tương lai và hạnh phúc của chính mình.

Nếu không tìm được những biện pháp chống trả thích nghi thì khó lòng mà khống trị được chúng. Một trong các biện pháp hữu hiệu là cách giữ gìn kỷ cương đạo đức, tuy nhiên điều này không dễ thực hiện khi ta còn đang trong tình trạng phải đương đầu với mọi thứ xúc cảm tiêu cực.

Thường thì ta chỉ biết sống lây lất trong chờ đợi và hy vọng rồi đây sẽ tìm thấy hạnh phúc.

Thật thế trong số chúng ta nào có ai lại mong muốn khổ đau, và mục đích đời mình chẳng phải là đạt được hạnh phúc hay sao ? Trên thực tế niềm hạnh phúc đó có thể đạt được, nó phát sinh trên thân xác và cả trong tâm thức của mình. Đối với khổ đau cũng thế, ta cũng có thể làm cho nó giảm đi.

Dù chỉ biết miệt mài quan tâm đến hạnh phúc cá nhân và sự an vui thu hẹp trong phạm vi của riêng mình, thế nhưng có một lúc nào đó biết đâu ta bỗng ý thức được cuộc sống cá nhân của mình thật ra lệ thuộc chặt chẽ vào tất cả những gì đang bao quanh chúng ta. Khi ấy ta mới nhìn thấy một tương lai thật rộng lớn mở ra trước mắt để đưa ta đến gần hơn với hiện thực.

Nắm vững được bối cảnh tương lai bao quát ấy thì ta mới có thể tạo ra một cuộc sống hài hòa cho chính mình và cho người khác.

Cảm nhận được hiện tượng tương liên (lý duyên khởi) sẽ giúp ta mở rộng tâm thức của mình hơn.

Nói chung, thay vì hiểu được cảnh huống mà ta cảm nhận được là kết quả phát sinh từ sự kết nối chằng chịt của vô số nguyên nhân, thì ta lại đổ thừa cho hạnh phúc hay khổ đau chẳng hạn là những gì mang nguồn gốc cá nhân [nói một cách khác hạnh phúc và khổ đau của mình liên hệ đến sự kết nối chằng chịt của vô số nghiệp và cơ duyên kể cả toàn thể chúng sinh và môi trường chung quanh].

Nếu đúng như thế [tức đơn giản chỉ mang nguồn gốc cá nhân] thì khi nhận biết một hiện tượng nào đó mà ta cho là tốt thì tất nhiên ta phải cảm nhận được hạnh phúc chứ, hoặc ngược lại khi nhận biết một cái gì xấu nhất định ta phải cảm thấy khổ đau [sự cảm nhận một hiện tượng – dù bên trong hay bên ngoài – đều quá đơn giản để giải thích niềm hạnh phúc hay nỗi khổ đau của mình, vì đó là kết quả phát sinh từ vô số nguyên nhân và cơ duyên kết nối chằng chịt với nhau, hiểu được như thế sẽ mở rộng tâm thức mình giúp mình chấp nhận dễ dàng hơn các thể dạng hạnh phúc hay khổ đau đang phát sinh trong tâm thức của chính mình].

(* Đức ĐẠT-LAI LẠT-MA 14 nói về ý nghĩa của Hạnh Phúc. Bài chưa có chú thích nguồn gốc để có thể kiểm chứng thông tin. Mời bạn bổ sung chú thích từ các nguồn đáng tin cậy để giúp cải thiện bài viết.

Đạt-lai Lạt-ma

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (đổi hướng từ Đạt Lai Lạt Ma)

Đạt-lai Lạt-ma
Gendun Drup, 1st Dalai Lama
Triều đại1391–1474
Tibetanཏཱ་ལའི་བླ་མ་
Wylie transliterationtaa la’i bla ma
Pronunciation[taːlɛː lama]
Conventional RomanisationDalai Lama
Hoàng tộcDalai Lama
Phật giáo Tây Tạng

Đạt-lại Lạt-ma (tiếng Tây Tạng: ཏཱ་ལའི་བླ་མ་) hay Đạt-lai Lạt-ma hay Đa Lai La Ma là danh hiệu của một nhà lãnh đạo tinh thần của Phật giáo Tây Tạng thuộc trường phái Cách-lỗ.

Tên gọi và lịch sử

Đạt-lại Lạt-ma là phiên âm Hán Việt từ chữ Hán 達賴喇嘛. Trên thực tế, sách báo tiếng Việt sử dụng thường xuyên Đạt Lai Lạt Ma. “Đạt-lại” có gốc từ tiếng Mông Cổ nghĩa là “biển cả” còn “Lạt-ma” là từ tiếng Tây Tạng được dịch từ tiếng Phạn guru गुरू là từ xưng hô dành cho các vị Đạo sư. “Đạt-lại Lạt-ma” có nghĩa là “Đạo sư với trí huệ như biển cả”. Trong lối dùng hàng ngày nhiều người còn dùng Phật sống để chỉ Đạt-lại Lạt-ma.

Theo truyền thống của người Tây Tạng, Đạt-lại Lạt-ma là hiện thân lòng từ của chư Phật và Bồ Tát, người chọn con đường tái sinh trở lại kiếp người để cứu giúp chúng sanh. Danh hiệu Đạt-lại Lạt-ma cũng được hiểu là Hộ Tín, “Người bảo vệ đức tin”, Huệ Hải, “Biển lớn của trí tuệ”, Pháp vương, “Vua của Chánh Pháp”, Như ý châu, “Viên bảo châu như ý”…

Danh hiệu Đạt-lại Lạt-ma được vua Mông Cổ Altan Khan phong cho phương trượng của trường phái Cách-lỗ (bo. དགེ་ལུགས་པ་, hay Hoàng giáo) vào năm 1578. Kể từ 1617, Đạt-lại Lạt-ma thứ 5 trở thành người lãnh đạo chính trị và tinh thần của Tây Tạng. Kể từ đó, người Tây Tạng xem Đạt-lại Lạt-ma là hiện thân của Quán Thế ÂmBan-thiền Lạt-ma là người phụ chính. Mỗi một Đạt-lại Lạt-ma được xem là tái sinh của vị trước. Vị Đạt-lại Lạt-ma thứ 6 có trình độ học thuật rất cao thâm và cũng là một nhà thơ.

Trái với quan điểm thông thường, Đạt-lại Lạt-ma không phải là người lãnh đạo tinh thần cao nhất của trường phái Cách-lỗ, địa vị này có tên là Ganden Tripa.

Vị Đạt-lại Lạt-ma hiện nay là vị thứ 14, sống lưu vong tại Ấn Độ từ 1959 đến nay. Sư được trao giải Nobel Hòa bình năm 1989, đồng thời là người đại diện Phật giáo xuất sắc hiện nay trên thế giới. Các tác phẩm Sư viết trình bày Phật giáo Tây Tạng và Phật pháp nói chung được rất nhiều người đọc kể cả người trong các nước Tây phương.

Danh sách các vị Đạt-lại Lạt-ma

  1. Căn-đôn Châu-ba (Gendun Drub, དགེ་འདུན་གྲུབ་པ་, 13911474)
  2. Căn-đôn Gia-mục-thố (Gendun Gyatso, དགེ་འདུན་རྒྱ་མཚོ་, 14751542)
  3. Toả-lãng Gia-mục-thố (Sonam Gyatso, བསོད་ནམས་རྒྱ་མཚོ་, 15431588)
  4. Vinh-đan Gia-mục-thố (Yonten Gyatso, ཡོན་ཏན་རྒྱ་མཚོ་, 15891616)
  5. La-bốc-tạng Gia-mục-thố (Losang Gyatso, ངག་དབང་བློ་བཟང་རྒྱ་མཚོ་, 16171682)
  6. Thương-ương Gia-mục-thố (Jamyang Gyatso, ཚངས་དབྱངས་རྒྱ་མཚོ་, 16831706)
  7. Cách-tang Gia-mục-thố (Kelsang Gyatso, བསྐལ་བཟང་རྒྱ་མཚོ་, 17081757)
  8. Khương-bạch Gia-mục-thố (Jampel Gyatso, འཇམ་དཔལ་རྒྱ་མཚོ་, 17581804)
  9. Long-đa Gia-mục-thố (Lungtog Gyatso, ལུང་རྟོགས་རྒྱ་མཚོ་, 18061815)
  10. Sở-xưng Gia-mục-thố (Tsultrim Gyatso, ཚུལ་ཁྲིམས་རྒྱ་མཚོ་, 18161837)
  11. Khải-châu Gia-mục-thố (Kedrub Gyatso, མཁས་གྲུབ་རྒྱ་མཚོ་, 18381856)
  12. Xưng-lặc Gia-mục-thố (Trinle Gyatso, འཕྲིན་ལས་རྒྱ་མཚོ་, 18561875)
  13. Thổ-đan Gia-mục-thố (Tubten Gyatso, ཐུབ་བསྟན་རྒྱ་མཚོ་, 18761933)
  14. Đăng-châu Gia-mục-thố (Tenzin Gyatso, བསྟན་འཛིན་རྒྱ་མཚོ་, 1933-nay)

Xem thêm

Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán
Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và phương tiện truyền tải về Đạt-lai Lạt-ma

Thể loại:

Tenzin Gyatso

(Đạt-lại Lạt-ma 14)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (đổi hướng từ Đăng-châu Gia-mục-thố)

Tenzin Gyatso
Dalai Lama thứ 14
Cai trị17 tháng 11, 1950 – hiện tại
Tiền vịThubten Gyatso
Prime Ministers See list[hiện]
Tiếng Tạngབསྟན་འཛིན་རྒྱ་མཚོ་
Wyliebstan ‘dzin rgya mtsho
Phát âm[tɛ̃ ́tsĩ càtsʰo]
THDLTenzin Gyatso
Bính âmDānzēng Jiācuò
Phụ thânChoekyong Tsering
Mẫu thânDiki Tsering
Ngày sinh6 tháng 7, 1935 (80 tuổi)
Taktser, Amdo, Tibet[1]
Chữ ký

Đăng-châu Gia-mục-thố (tiếng Tạng: Tenzin Gyatso, བསྟན་འཛིན་རྒྱ་མཚོ་; sinh ngày 6 tháng 7 năm 1935) là tên của Đạt-lại Lạt-ma thứ 14, là nhà lãnh đạo thế quyền và giáo quyền của nhân dân Tây Tạng. Theo công trình nghiên cứu cá nhân vừa qua của giáo sư Eric Sharp thuộc Đại học Sydney, Úc thì trong số những thánh nhân của thế kỷ thứ 20 này, có ba thánh nhân người châu Á, đó là cố thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore (18611941), Mahātma Gandhi (18691948) và chính vị Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 này.

Mục lục

Nguyên quán và cơ duyên

Sư chào đời tại làng Taktser, vùng Đông Bắc Tây Tạng vào ngày 6 tháng 7 năm 1935 trong một gia đình nông dân.[2] Tên trước khi được thừa nhận trở thành vị Đạt-Lai Lạt ma thứ 14 là “Lhamo Dhondup”. Sư được thừa nhận là Đạt-lại Lạt-ma vào năm 2 tuổi theo truyền thống Tây Tạng như là Hóa thân của Đạt-lại Lạt-ma thứ 13, cũng là hiện thân của Bồ Tát Quán Thế Âm, hiện thân của lòng từ bi.

Theo truyền thống của người Tây Tạng, Đạt-lại Lạt-ma là hiện thân lòng từ của chư Phật và Bồ Tát, người chọn con đường tái sinh trở lại kiếp người để cứu giúp chúng sanh. Danh hiệu Đạt-lại Lạt-ma cũng được hiểu là Hộ Tín, “Người bảo vệ đức tin”, Huệ Hải, “Biển lớn của trí tuệ”, Pháp vương, “Vua của Chánh Pháp”, Như ý châu, “Viên bảo châu như ý”…

Đạt-lại Lạt-ma được tấn phong tước vị vào ngày 22 tháng 2 năm 1940 tại Lhasa, thủ đô của Tây Tạng, chính thức là người lãnh đạo chính trị và tôn giáo cho 6 triệu người.

Quá trình tìm kiếm Đạt-lại Lạt-ma

Đạt-lại Lạt-ma, 2007

Khi Đạt-lại Lạt-ma thứ 13 viên tịch vào năm 1933, chính phủ Tây Tạng gặp khủng hoảng trong việc tìm kiếm một người thừa kế. Năm 1935, vị nhiếp chính đi đến hồ thiêng Lhamo Lhatso ở Chokhorgyal, khoảng 90 dặm từ thủ đô Lhasa. Theo truyền thống của Tây Tạng, người ta có thể nhìn thấy mọi việc ở tương lai từ hồ linh thiêng này. Lúc bấy giờ vị nhiếp chính thấy ba chữ Tây Tạng Ah, KaMa hiện lên giữa mặt nước trong vắt của hồ thiêng, theo sau ba mẫu tự này là bức tranh của một ngôi chùa ba tầng với mái ngói màu xanh lục và một căn nhà có chiếc máng xối kỳ lạ.

Năm 1937, chính phủ Tây Tạng đã gởi những hình ảnh thiêng liêng ấy từ hồ thiêng đến các tỉnh thành của Tây Tạng để tìm kiếm nơi tái sinh của Đạt-lại Lạt-ma. Một phái đoàn tìm kiếm tái sanh được thành lập và đi về hướng Đông Bắc Tây Tạng, vị trưởng phái đoàn là Lạt-ma Kewtsang Rinpoche, Tu viện trưởng Tu viện Sera. Khi phái đoàn đến làng Amdo, họ thấy quang cảnh nơi này giống y như hình ảnh đã thấy dưới hồ thiêng. Lobsang Tsewang cải trang thành người trưởng đoàn, và Lạt-ma Kewtsang cải trang thành người thị giả và họ vào thăm một căn nhà với chiếc máng xối kỳ lạ. Bấy giờ Lạt-ma Kewtsang có mang một xâu tràng hạt (rosary) của Đạt-lại Lạt-ma thứ 13 và chú bé trong căn nhà ấy đã nhận ra nó và yêu cầu được cầm xem. Lạt-ma Kewtsang hứa sẽ cho nếu chú đoán được ngài là ai. Và chú bé liền trả lời ngay bằng một loại tiếng lóng của địa phương là “Sera aga”, nghĩa là “Lạt-ma ở tu viện Sera”. Tiếp đó, sư hỏi chú bé vị trưởng đoàn là ai và chú bé đã trả lời đúng, và chú cũng cho biết tên chính xác của người thị giả. Theo sau đó là một loạt trắc nghiệm khác để chú bé chọn lựa những đồ dùng thường ngày của Đạt-lại Lạt-ma thứ 13 và chú bé cũng nhận ra tất cả và nói: “của tôi, của tôi”. Chú bé ấy chính là Đạt-lại Lạt-ma hiện nay.

Từ những kết quả của cuộc kiểm tra này giúp họ đoán chắc rằng họ đã tìm ra hóa thân mới và niềm tin của họ càng được vững mạnh thêm bởi những ý nghĩa từ ba mẫu tự Tây Tạng đã từng thấy dưới hồ thiêng: Ah là hàm nghĩa cho tỉnh lmdo, nơi chú bé chào đời, Ka là chỉ cho Tu viện Kumbum, một ngôi Tu viện lớn nhất với ba tầng gần nhà của chú bé và Ma là ám chỉ cho ngôi tu viện Karma Rolpai Dorje ở trên ngọn núi của ngôi làng gần bên. Cuối cùng phái đoàn quyết định chú bé ấy là hậu thân của vị Đạt-lại Lạt-ma thứ 13.

Quá trình tu học tại Tây Tạng

Phật giáo Tây Tạng
Tông phái Kim cương thừa Ninh-mã phái Cách-lỗ phái Tát-ca phái Ca-nhĩ-cư phái Cam-đam phái Giáo lí & Khái niệm Đại cứu cánh Đại thủ ấn Đạo quả luận Tử thư Na-lạc lục pháp Thần thể Thành tựu pháp Không hành nữ Hữu luân Hoá thân Cận tử nghiệp Chỉ Bồ-đề đạo thứ đệ Bồ-đề đạo đăng luận Trung hữu Lạt-ma Nhân vật Đại thành tựu Mật-lặc Nhật-ba Mã-nhĩ-ba La-bốc-tạng Gia-mục-thố Liên Hoa Sinh Lũng-cần Nhiêu-ráng-ba Na-lạc-ba Ngật-lật-song Đề-tán Đạt-lại Lạt-ma Đạt-bảo Cáp-giải Đăng-châu Gia-mục-thố Tịch Hộ A-đề-sa Ban-thiền Lạt-ma

Đạt-lại Lạt-ma bắt đầu sự nghiệp học vấn của mình vào năm 6 tuổi và hoàn tất học vị cao nhất của Phật giáo Tây Tạng là Geshe Lharampa, tương đương với Tiến sĩ triết học Phật giáo (Doctorate of Buddhist Philosophy) ở tuổi 25 vào năm 1959. Năm 24 tuổi, Sư đã tham dự kỳ thi đầu tiên tại các đại học Phật giáo Drepung, Sera và Ganden. Kỳ thi cuối cùng được tổ chức tại Jokhang, thủ đô Lhasa trong thời gian lễ hội Monlam, tháng giêng theo lịch Tây Tạng.

Trước đó Sư phải học tất cả các môn học chính như Luận lý (logic) văn hóa và nghệ thuật Tây Tạng (Culture & Tibetan Art), Phạn ngữ (sanskrit), Y học (medicine), Triết học Phật giáo (Buddhist philosophy). Riêng môn Phật học này là khó nhất, được chia ra làm năm phần là Bát-nhã-ba-la-mật-đa (sa. prajñāpāramitā), Trung quán (sa. mādhyamika), Giới luật (sa. vinaya), A-tì-đạt-ma và Lượng học (sa. pramāṇa) . Và các môn học phụ khác là: biện luận (dialetics), thi ca (poetry), âm nhạc (music) và kịch nghệ (drama), thiên văn (astrology), văn phạm (metre and phrasing).

Vai trò và trách nhiệm lãnh đạo

Vào ngày 17 tháng 11 năm 1950, Đạt-lại Lạt-ma 14 đã khoác lên mình một trọng trách là người lãnh đạo thế quyền của người dân Tây Tạng (head of the State and Government) sau khi có khoảng 80.000 quân lính của Trung Quốc tấn công vào Tây Tạng.

Năm 1954, Sư đã đến Bắc Kinh để thương thuyết hòa bình với chủ tịch Mao Trạch Đông và những nhà lãnh đạo Trung Hoa khác, gồm Chu Ân LaiĐặng Tiểu Bình. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán trong chuyến đi này không mang lại kết quả, cuối cùng Sư đã quyết định muốn cứu vãn cho Tây Tạng, đành phải ra nước ngoài.

Đào thoát khỏi Tây Tạng

Nỗ lực mang lại một giải pháp hòa bình của Sư cho người dân Tây Tạng. Cũng trong lúc đó, tại miền Đông Tây Tạng, dân chúng đã đứng lên kháng cự mạnh mẽ chống đối sự đàn áp của Trung Hoa. Sự kháng cự này đã lan ra trên nhiều tỉnh thành của Tây Tạng. Vào ngày 10 tháng 3 năm 1959, một cuộc biểu tình lớn nhất trong lịch sử của Tây Tạng tại thủ đô Lhasa để kêu gọi binh lính Trung Quốc phải rút khỏi Tây Tạng và tái xác định rằng Tây Tạng là một quốc gia độc lập. Cuộc biểu tình ôn hòa này đã bị quân đội Trung Quốc trấn áp quyết liệt. Trong thời kì Đại nhảy vọt, đã có khoảng 200.000 đến 1 triệu người Tây Tạng chết và khoảng 6 nghìn chùa chiền bị phá hủy tại đất nước này. Để tìm con đường giải phóng nỗi khổ đau ấy, 80.000 người dân Tây Tạng cùng với Đạt-lại Lạt-ma 14 vượt qua dãy Hy Mã Lạp Sơn để đến tị nạn tại miền bắc Ấn Độ vào năm 1959.

Câu chuyện đau lòng trước sự đàn áp của Trung Quốc

Những thập niên 50, Mao Trạch Đông xua quân vào Tây Tạng giết sư, đốt chùa và gây ra hằng hà sa số tội ác với 1 dân tộc Tây Tạng hiền lành chịu đựng. Năm 1959 Đức Dalai Lama phải cùng dân tộc của Ngài từ bỏ quê hương lên đường tỵ nạn. TQ lúc bấy giờ như con hổ đói, họ dùng đủ mọi cách để truy lùng Ngài. Khoảng thời gian đó trên thế giới ít người biết và để ý đến tình hình xảy ra ở Tây Tạng, và cũng chẳng ai biết gì về 1 thanh niên với nụ cười thật nhân hậu đang dìu dắt dân tộc mình lánh nạn trước mũi súng bạo tàn của Mao Trạch Đông. Ấn Độ luôn có đụng độ với TQ về vấn đề biên giới, vi vậy họ không muốn làm tình hình căng thẳng thêm, nên cũng chẳng tha thiết giúp đỡ đoàn người tỵ nạn đến từ Tây Tạng. Tin tức về tình hình bi đát từ Tây Tạng chẳng được loan truyền, lại bị TQ cô lập thông tin toàn diện, nên thế giới chẳng ai biết đến mà quan tâm. Đoàn người tỵ nạn vì vậy thiếu thốn cơ cực đủ điều, tình hình lúc bấy giờ thật nghiệt ngã.

Chính phủ lưu vong tại Dharamsala, Bắc Ấn Độ

Ngày nay, với hơn 120.000 người Tây Tạng lưu trú tại vùng đất Dharamsala, Ấn Độ, được biết như là một “Lhasa nhỏ”, lập thành một chính quyền lưu vong Tây Tạng với một Hội đồng Dân cử Tây Tạng vào năm 1960.

Trong những năm đầu lưu vong, Đạt-lại Lạt-ma đã kêu gọi Hoa Kỳ lên tiếng về vấn đề của Tây Tạng, kết quả ba quyết nghị đã được thông qua tại Hội đồng Lập Pháp của Hoa Kỳ vào năm 1959, 19611965, kêu gọi nhà cầm quyền Bắc Kinh phải tôn trọng nhân quyền của người Tây Tạng và ước muốn tự trị của họ. Với việc thành lập một chính phủ lưu vong Tây Tạng, Đạt-lại Lạt-ma thấy rằng công việc khẩn cấp phải làm là cứu nguy dân tị nạn và nền văn hóa của Tây Tạng. Các lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế, văn hóa, giáo dục đã dần được tái hoạt động tại Ấn Độ. Trẻ em Tây Tạng được đi học và một Đại học Tây Tạng được thành lập tại Ấn Độ. Có khoảng 200 tu viện Tây Tạng được xây dựng tại Ấn Độ để tăng chúng tu học, duy trì và bảo vệ văn hóa và tôn giáo của Tây Tạng.

Năm 1963, Đạt-lại Lạt-ma đã ban hành một hiến pháp dân chủ (democratic constitution) hoàn toàn dựa trên giới luật của nhà Phật và bản Hiến chương Nhân quyền của Liên hiệp quốc để biên soạn và chuẩn bị cho một mô hình đất nước Tây Tạng tự do ở tương lai.

Năm 1965, Sư đến tham dự đại lễ Phật Đản Phật lịch 2500 tại Ấn Độ, đã gặp được Thủ tướng Ấn Độ là ông Jawaharlal Nehru, và ông Chu Ân Lai, đàm phán về vấn đề của Tây Tạng.

Ngày nay, thành viên của quốc hội Tây Tạng sẽ được bầu cử bởi dân chúng. Hội đồng nội các được bầu cử bởi quốc hội. Đạt-lại Lạt-ma nhấn mạnh rằng nhiệm vụ chính của chính quyền Tây Tạng là chăm lo cho đời sống người dân và Sư cũng nói thêm, khi Tây Tạng giành lại nền độc lập, Sư sẽ không còn ngồi ở văn phòng chính phủ nữa.

Năm 1987, Đạt-lại Lạt-ma tham dự một hội nghị nhân quyền tại thủ đô Washington, Hoa Kỳ. Sư đề xuất một Chương trình Hòa bình Năm điểm bao gồm:

  1. Biến Tây Tạng thành một khu vực hòa bình;
  2. Chấm dứt việc di dân Trung Hoa đang de dọa sự tồn tại của dân tộc Tây Tạng;
  3. Tôn trọng các quyền dân chủ, tự do và quyền làm người của dân Tây Tạng;
  4. Phục hồi và bảo vệ môi sinh của Tây Tạng và chấm dứt việc sử dụng đất Tây Tạng để sản xuất vũ khí nguyên tử và bỏ đồ phế thải nguyên tử;
  5. Khởi sự thương thảo ngay về quy chế tương lai của Tây Tạng và bang giao giữa Tây Tạng với Trung Hoa.

Ngày 15 tháng 6 năm 1988, tại Strasbourg, Pháp, Sư nhắc lại Chương trình Hòa bình Năm điểm và yêu cầu nhà cầm quyền Bắc Kinh trao trả lại nền độc lập cho Tây Tạng. Ngày 9 tháng 10 năm 1991, trong khi phát biểu tại Đại học Yale, Hoa Kỳ, Sư bày tỏ ý định muốn trở về thăm Tây Tạng để đích thân đánh giá tình hình chính trị nơi ấy. Sư nói: Tôi thật sự lo lắng vì tình cảnh bạo động có lẽ sẽ bùng nổ. Tôi muốn làm cái gì đó để chặn đứng lại… chuyến viếng thăm của tôi sẽ là một cơ hội mới để làm tăng thêm sự cảm thông và tạo ra một nền tảng để giải quyết.

Chính trị

Người Tây Tạng bầu giới lãnh đạo

Ðạt Lai Lạt Ma khuyến khích người Tây Tạng lưu vong hãy đi theo hệ thống dân chủ để bầu lên một nhà lãnh đạo, nói rằng đó là điều thiết yếu để theo kịp thế giới rộng lớn hơn và để bảo đảm sự liên tục của chính phủ của họ.

Trong một đoạn phim được chiếu cho hàng trăm nhà sư, ni cô và người thường tại thành phố Dharamsala núi non ở phía Bắc Ấn Ðộ vào chiều tối thứ Bảy, 20 tháng 6, 2009 nhà lãnh đạo nói hiện giờ không còn cần thiết phải đè nặng vai trò lãnh đạo tinh thần và chính trị lên một người.

“Các vị Ðạt Lai Lạt Ma đã giữ vai trò lãnh đạo thế tục và tinh thần từ 400 năm đến 500 năm qua. Ðiều đó có thể hầu như hữu ích. Nhưng thời kỳ đó đã qua,” Ðạt Lai Lạt Ma nói trong đoạn phim, theo một biên bản đã được dịch cho giới báo chí. “Ngày nay, đối với toàn thể thế giới, rõ ràng nền dân chủ là hệ thống tốt nhất mặc dù có những khiếm khuyết nhỏ. Ðó là lý do tại sao người Tây Tạng cũng phải chuyển động cùng với cộng đồng thế giới rộng lớn hơn,” ngài nói.

Trước đây Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã đề nghị tùy người Tây Tạng quyết định về việc muốn duy trì định chế tinh thần sau khi ngài chết hay không, và có thể tổ chức một cuộc bầu cử trong số những người Tây Tạng ở nước ngoài. Ðức Ðạt Lai Lạt Ma cũng có thể tự mình lựa chọn một người kế nghiệp từ các thành viên của chính phủ lưu vong của ngài, hoặc một hội đồng các lạt ma cao cấp sẽ chọn một người nào đó trong hàng ngũ của họ, loại bỏ sự thần bí của tiến trình lựa chọn truyền thống.

“Khi chúng ta đặt hết trách nhiệm vào con người của vị Ðạt Lai Lạt Ma, đó là điều nguy hiểm. Nên có một nhà lãnh đạo được bầu lên một cách dân chủ để cầm đầu một phong trào của dân chúng,” ngài nói. “Trong thực tế, một sự thay đổi đang diễn ra về trách nhiệm của vị Ðạt Lai Lạt Ma trong tư cách một lãnh tụ thế tục và tinh thần. Theo tôi, điều này rất tốt. Một nhà lãnh đạo tôn giáo phải đảm nhận cả vai trò lãnh đạo chính trị, thời kỳ đó đã qua rồi,” ngài nói.

Việc kế nghiệp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma là một vấn đề tế nhị khi ngài ngày càng lớn tuổi và sức khỏe suy giảm. Nhiều người Tây Tạng sợ rằng cái chết của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, người đã sống lưu vong tại Ấn Ðộ kể từ khi trốn thoát một cuộc nổi dậy bất thành chống chế độ Trung Quốc vào năm 1959, có thể tạo ra một khoảng trống lãnh đạo mà Bắc Kinh có thể lợi dụng để siết chặt nắm tay của họ. Người Tây Tạng lưu vong đã bầu vị thủ tướng đầu tiên của họ vào năm 2001.

Vị thủ tướng lúc này, ông Samdhong Rinpoche, một nhà sư Tây Tạng và là một học giả Phật Giáo, đã phục vụ hai nhiệm kỳ, và Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thường nói ngài ở trong tình trạng “nửa về hưu” trong tư cách một lãnh tụ tinh thần, khi yêu cầu ông Rinpoche cầm đầu trong việc giao tiếp với người Tây Tạng. “Với cuộc bầu cử diễn ra mỗi năm năm, bất kể vị Ðạt Lai Lạt Ma có đó hay không, hệ thống chính trị lưu vong sẽ vẫn an toàn, ổn định và có thể tồn tại lâu dài,” ngài nói trong đoạn phim được phát ngày 20/6.

Hợp tác toàn cầu trong cuộc khủng hoảng kinh tế

Ngày 2 tháng 8, 2009, Đạt-lại Lạt-ma kêu gọi có sự hợp tác toàn cầu để chống lại các hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế và tuyên bố rằng cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cho thấy rằng “trái đất của chúng ta quả thật là nhỏ” và kêu gọi các nước hãy có hành động kết hợp. Tuyên bố trước một hội nghị về khủng hoảng kinh tế được tổ chức tại Frankfurt, thường được mô tả là thủ đô tài chánh của nước Ðức, Ðức Đạt-lại Lạt-ma nhấn mạnh tiếp, “Chúng ta cần phải suy nghĩ chung cho toàn cầu.” Ông cũng tiếp thêm rằng chúng ta cần các biện pháp khẩn cấp để đối phó với tình trạng ấm toàn cầu và xóa sự cách biệt giữa người giàu và kẻ nghèo. Lên tiếng trước một cử tọa đông đến nhiều ngàn người tập trung tại một sân bóng tròn, Ðức Đạt-lại Lạt-ma nhấn mạnh rằng, “Chúng ta không cần chỉ nói hay, mà trái lại chúng ta cần phải có hành động.” Từ khi bỏ quê hương chạy đi lánh nạn năm 1959, vị lãnh đạo tinh thần này đã tham gia vào hội nghị về cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu này do một số nhóm đứng ra tổ chức, trong đó có hội Phật giáo Ðức.

Chuyến đi đến Arunachal Pradesh

Ngày 5 tháng 11, 2009, Ấn Ðộ ban hành một lệnh có hiệu quả cấm các nhà báo ngoại quốc tường thuật chuyến đi hiếm hoi của Đạt-lại Lạt-ma 14 tới một chủng viện Phật giáo sát với Tây Tạng, trong một nỗ lực có vẻ nhằm xoa dịu sự giận dữ của Trung Quốc bằng cách giảm bớt việc tường thuật của báo chí về chuyến đi này. Cuộc viếng thăm theo dự tính của Sư vào ngày Chủ Nhật, 8 tháng 11, tới tiểu bang Arunachal Pradesh ở vùng Ðông Bắc Ấn Ðộ – trọng tâm của một cuộc tranh chấp biên giới từ lâu nay giữa Trung Quốc và Ấn Ðộ – làm gia tăng những căng thẳng vốn đã gay gắt giữa hai cường quốc châu Á.[3]

Người ngoại quốc di chuyển tới tiểu bang núi non hẻo lánh này cần giấy phép đặc biệt của chính phủ Ấn Ðộ. Hầu hết các nhà báo ngoại quốc đã không nhận được giấy phép để tường thuật chuyến viếng thăm của Đạt-lại Lạt-ma. Ngày 5 tháng 11, 2009, bốn nhà báo được cấp phép – kể cả hai nhân viên của thông tấn xã AP – bị thu hồi giấy phép. Một điện thư gởi tới các nhà báo nói chính quyền tiểu bang đã bãi bỏ các giấy phép theo lời yêu cầu của Bộ Ngoại giao. “Chúng tôi kinh ngạc và bất mãn khi biết rằng các giấy phép của các phóng viên để tới Arunachal Pradesh bị hủy bỏ trước khi có cuộc viếng thăm của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma,” theo lời chủ tịch Câu lạc bộ Báo chí Ngoại quốc ở Tân Delhi, Heather Timmons. Các nhà báo Ấn Ðộ được phép tường thuật chuyến đi.[4]

Trung Quốc chống đối phần lớn các hoạt động của Đạt-lại Lạt-ma. Bắc Kinh cáo buộc ngài là tranh đấu để Tây Tạng thoát khỏi nền cai trị của Trung Quốc, mặc dù ngài phủ nhận điều đó. Mặc dù các quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Ðộ đã cải thiện trong những năm cuối thập niên 2000, những căng thẳng gần đây lại bùng lên vì những kình chống về kinh tế, vụ tranh chấp biên giới vẫn còn âm ỉ và tình trạng bất ổn tại Tây Tạng – vùng Himalaya do Trung Quốc kiểm soát, nằm trên biên giới với Ấn Ðộ.[5]

Vào đầu tháng 11, 2009, Trung Quốc mạnh mẽ chống đối các kế hoạch của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma nhằm trải qua năm ngày tại một chủng viện Phật giáo ở thành phố Tawang gần đường biên giới bị tranh chấp. Trước đó, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma nói Trung Quốc đang chính trị hóa quá đáng những chuyến đi của ngài, và nói thêm rằng những quyết định của ngài về những nơi viếng thăm có tính cách tinh thần, không phải chính trị.[6]

Các tín đồ Phật giáo ngày 8 tháng 11, 2009, vui mừng đón tiếp Sư quay trở lại thị trấn ở rặng núi Himalaya nơi ngài lần đầu tiên đặt chân tới năm thập niên trước khi trốn chạy chế độ cộng sản Trung Quốc thống trị Tây Tạng – một cuộc viếng thăm hiếm thấy gần nơi quê nhà khiến Bắc Kinh vô cùng giận dữ. Sự hiện diện của đức Ðạt Lai Lạt Ma hơn đây cũng tạo thêm sự chú ý về cuộc tranh chấp biên giới giữa Ấn Ðộ và Trung Quốc, cho thấy sự nhạy cảm của Bắc Kinh về vấn đề Tây Tạng và nêu lên câu hỏi là ai sẽ thay thế Ðạt Lai Lạt Ma trong vị trí lãnh đạo tinh thần sau này.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Mã Triều Húc nói chuyến đi này “một lần nữa cho thấy con người thật của ông ta là chống Trung Quốc.” Tuy nhiên, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma nói rằng lời cáo buộc này là vô căn cứ” và ngài chỉ tìm cách khuyến khích các giá trị tôn giáo, hòa bình và hòa hợp. “Cuộc viếng thăm của tôi nơi đây không có tính cách chính trị,” ngài nói sau khi vừa đến nơi vào sáng 8 tháng 11.

Ðối với dân chúng ở Tawang, cuộc viếng thăm này có vẻ hoàn toàn có tính cách tôn giáo. Hai bên đường trong thị trấn rợp cờ và biểu ngữ chào mừng Ðạt Lai Lạt Ma và hàng ngàn người đứng ngoài bầu trời lạnh lẽo gió mạnh để tham gia vào các buổi cầu nguyện và thuyết giảng Phật Giáo của ngài. Người hành hương lũ lượt kéo đến nơi này bằng đủ mọi cách, chen chúc nhau trên các xe vận tải hay đi bộ mất mấy ngày trên đường mòn ngoằn ngoèo ở dãy Hymalaya để được nghe tiếng nói của người mà họ cung kính coi là Phật sống. Chính quyền địa phương, có khoảng 25.000 người hiện diện, dựng lên một khu lều cho người hành hương, trong khi các khách khác vào ở nhờ trong các tu viện và nhà khách.

Tawang là nơi sinh sống của bộ lạc Monpa, vốn có mối liên hệ chặt chẽ với thủ phủ Lhasa ở Tây Tạng. Vị Đạt-lại Lạt-ma đời thứ sáu đến từ nơi này hồi thế kỷ 17 và Trung Quốc lo ngại rằng nếu vị Đạt-lại Lạt-ma kế tiếp xuất hiện ở khu vực này thì sẽ ra ngoài sự kiểm soát của Bắc Kinh.

Chuyến đi tới Liên bang Nga

Năm 1971, ngài đã làm nên chuyến đi lịch sư tới Liên Xô, và được giới chức trách Liên Xô chào đón. Nhưng ngài cũng không phải là người được lòng lúc đó do tư tưởng cộng sản ở Nga thời kì đó. Nhưng vì chia rẽ Trung-Xô thời gian đó rất căng thẳng, nên Lạt Ma tin rằng Nga sẽ đứng ra che chở cho Tây Tạng.

Khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, Sư đã đến Nga một năm sau đó. Tại đây, ngài đã được Tổng thống Boris Yeltsin chào đón nồng hậu ở vùng Kavkaz. Tại đây, Đạt Lai Lạt Ma đã yêu cầu Nga “bảo vệ truyền thống Phật giáo” ở Kalmykia, TuvaBuryatia, đặc biệt sư rất nhấn mạnh đến Kalmykia, khi nhà nước Phật giáo thuộc Nga này lại giáp biên giới hoặc rất gần với các quốc gia Hồi giáo rất cực đoan như Dagestan hoặc Chechnya. Vào năm 2004 và năm 2012, Tổng thống Vladimir Putin đã mời Sư tới Kalmykia, và Sư đã được Tổng thống Putin chăm sóc chu đáo tại đây. Nó đã vấp phải sự phản đối của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, khi Trung Quốc vẫn cáo buộc Sư là “phần tử khủng bố và ly khai” ở Khu tự trị Tây Tạng.

Các giải thưởng

Từ chuyến viếng thăm phương Tây đầu tiên của Sư vào năm 1973, một số trường đại học và viện nghiên cứu đã trao tặng Sư những Giải thưởng về Hòa bình và bằng Tiến sĩ danh dự (Honorary Doctorate Degree) để tuyên dương những tác phẩm xuất sắc của Sư viết về triết học Phật giáo, giải pháp cho những xung đột của quốc tế, vấn đề nhân quyền và môi sinh toàn cầu. Trong lần trao giải thưởng cho Đạt-lại Lạt-ma tại Ủy hội Nhân quyền Raoul Wallenberg, dân biểu Mỹ Tom Lantos đã nói: “sự đấu tranh dũng cảm của Đức Đạt-lại Lạt-ma đã tạo ra một sự chú ý đặc biệt về nhân quyền và hòa bình thế giới. Sự kiên trì đấu tranh của Sư để chấm dứt khổ đau cho dân tộc Tây Tạng qua những cuộc đàm phán hòa bình và hòa giải”.

Giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 1989

Ủy ban Hòa bình Na Uy quyết định trao tặng Giải thưởng Nobel Hòa bình cho Sư vào năm 1989 sau khi được cả thế giới tán dương và tán thành, ngoại trừ Trung Hoa. Trong quyết định ấy có đoạn viết: “Ủy ban muốn nhấn mạnh rằng Đức Đạt-lại Lạt-ma với sự đấu tranh cho tự do cho Tây Tạng vẫn kiên quyết không sử dụng bạo lực. Sư đã ủng hộ giải pháp hòa bình dựa trên tinh thần khoan dung và tôn trọng lẫn nhau để bảo vệ lịch sử và tài sản văn hóa của con người.

Vào ngày 10 tháng 12 năm 1989, Đạt-lại Lạt-ma đã tiếp nhận giải thưởng hòa bình trên tinh thần nhân danh những người bị đàn áp ở khắp mọi nơi, tất cả những ai đấu tranh cho tự do và hòa bình thế giới và đặc biệt là nhân dân Tây Tạng. Trong lời phát biểu tại buổi lễ nhận giải, Sư đã nói:Giải thưởng đã tái xác nhận một lần nữa lòng quyết tâm của chúng tôi rằng chân lý, lòng dũng cảm và quyết tâm của chúng tôi như là những vũ khí, Tây Tạng sẽ được tự do. Cuộc đấu tranh của chúng tôi vẫn phải theo đuổi đường hướng bất bạo động và loại bỏ hận thù (The prize reaffirms our conviction that with truth, courage and determination as our weapons, Tibet will be liberated. Our struggle must remain nonviolent and free of hatred).

Tiếp xúc Đông Tây

Đạt-lại Lạt-ma đàm luận với tổng thống Bush, 23.05.2001

Từ năm 1967, Đạt-lại Lạt-ma đã khởi hàng loạt chuyến viếng thăm, đến nay đã được 46 quốc gia. Vào mùa thu năm 1991, Sư đến thăm vùng Baltic khi nhận được lời mời của Tổng thống Litva, ông Vytautas Landsbergis, và Sư đã trở thành vị khách ngoại quốc đầu tiên đọc diễn văn tại quốc hội của Liva. Sư đã gặp Giáo hoàng Paul VI tại Vatican vào năm 1973 và Giáo hoàng John Paul II vào năm 1980 tại Roma và các năm khác là 1980, 1982, 1986, 1988 và 1990. Khi viếng thăm một ngôi trường ở Nam Đầu đã bị đất chuồi tiêu hủy trong cơn bão Morakot đầu tháng 8/2009, Tổng thống Ðài Loan Mã Anh Cửu bất ngờ công bố chính phủ ông đồng ý cho Ðức Ðạt Lai Lạt Ma viếng thăm nạn nhân bão, mặc dù điều này có thể khiến Trung Hoa lục địa nổi giận. Bão Morakot làm thiệt mạng 670 người ở Ðài Loan. Các viên chức địa phương đã mời Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đến viếng thăm. Hành động này của Ðài Loan đã diễn ra trong lúc mối quan hệ giữa Ðài Loan và Trung Quốc đang thân thiện hơn.

Một tu sĩ Phật Giáo bình thường

Đạt-lại Lạt-ma 14 thường nói rằng: Tôi chỉ là một tu sĩ Phật giáo bình thường, không hơn, không kém (I am just a simple Buddhist monk – no more, no less). Sống trong một tịnh thất nhỏ ở Dharamsala, Sư thức dậy vào lúc 4 giờ sáng, ngồi thiền, rồi tiếp tục làm việc theo thời khóa biểu của văn phòng chính phủ, tiếp khách và diễn giảng giáo lý cho các khóa tu hoặc chứng minh các đại lễ.

Trước tác (tóm lược)

Mặc dù bận rộn với nhiều công tác của chính phủ và hoằng Pháp, nhưng Đức Đạt-lại Lạt-ma cũng dành những thời gian nhất định để viết những tác phẩm Phật học, lịch sử, tự truyện… để phổ biến những tinh túy trong giáo lý của Phật Đà. Khởi viết cuốn Đất nước tôi và Nhân dân tôi (My Land and My People) vào năm 1964 sau khi Sư đến tị nạn tại Ấn Độ, tính đến nay đã có trên 50 tác phẩm các loại, do chính ngài tự tay viết hoặc do đệ tử ghi chép những bài giảng của Sư hoặc họ viết về ngài. Đáng chú ý trong số tác phẩm này là:

  1. Mở Huệ Nhãn (The opening of the Wisdom eye, xuất bản năm 1972);
  2. Phật giáo Tây Tạng (The Buddhism of Tibet, xb năm 1975);
  3. Biển của Trí Huệ (Ocean of Wisdom, xb tháng 2 năm 1990);
  4. Dalai Lama: Chính sách của Lòng Từ (The Dalai Lama: A Policy of Kindness, xb năm 1990);
  5. Tự do nơi lưu đày (Free in Exile, xb năm 1991);
  6. Ý nghĩa của cuộc sống (The meaning of Life, xb năm 1992);
  7. Tia sáng trong bóng đêm (Flash of Lightning in the Dark of Night, xb năm 1994);
  8. Cuộc đối thoại về trách nhiệm chung và giáo dục (Dialogues on Universal Responsibility and Education, xb năm 1995);
  9. Sức mạnh của lòng từ bi (The power of compassion, xb năm 1995);
  10. Con đường giác ngộ (The Path of Enlightenment, xb năm 1995);
  11. Bạo lực và Lòng từ bi-Sức mạnh của Phật giáo (Violence and Compassion/ Power of Buddhism, xb năm 1995);
  12. Chữa lành cơn thịnh nộ: Sức mạnh của sự kiên nhẫn từ cách nhìn của Phật tử (Healing Anger: The Power of Patience from a Buddhist Perspective, xb tháng 3 năm 1997);
  13. Tứ Diệu Đế (The Four Noble Truths, xb năm 1998);
  14. Nghệ thuật hạnh phúc (The art of Happiness, xb năm 1998);
  15. Thời luân Đát-đặc-la (KALACHAKRA TANTRA, Xb 1999);
  16. Ý Nghĩa cuộc cuộc sống (THE MEANING OF LIFE, Xb 1999);
  17. Khoa học Tâm Linh, Cuộc đối thoại Đông-Tây (MIND SCIENCE, An East-West Dialogue, xb 1999);
  18. Ngủ, mơ và chết, một cuộc khám phá của Tâm thức (SLEEPING, DREAMING, AND DYING, An Exploration of Consciousness, Xb 1999);
  19. Thế giới Phật giáo Tây Tạng, khái quát về triết lý và thực hành (THE WORLD OF TIBETAN BUDDHISM, An Overview of Its Philosophy and Practice, Xb 1999);
  20. Đạo Đức Thiên Niên Ki Mới (Ethics for the new millennium, xb tháng 8 năm 1999);
  21. Nghệ Thuật của Hạnh Phúc: Sổ tay cho cuộc sống (The Art of Happiness: A Handbook for Living, xb tháng 9 năm 1999);
  22. Trí Huệ Luận (The Dalai Lama’s Book of Wisdom, xb tháng 4 năm 2000);
  23. Biến đổi Tâm (Transforming the Mind, xb tháng 5 năm 2000);
  24. Các Giai Đoạn của Thiền Định (Stages of Meditation, xb tháng 3 năm 2001);
  25. Con Đường dẫn tới cuộc sống đầy ý nghiã (How to Practice: The Way to a Meaningful Life, xb tháng 5 năm 2001)
  26. Tâm hồn rộng mở: Thực Hành Từ bi trong cuộc sống hàng ngày (An Open Heart: Practicing Compassion in Everyday Life, xb tháng 9 năm 2001);
  27. Luận về Từ Bi và Bác Ái (The Dalai Lama’s Book of Love and Compassion, xb tháng 10 năm 2001);
  28. Những lời Khuyên của Thích-Ca-Mâu-Ni (Advice from Buddha Shakyamuni, xb tháng 7 năm 2002);
  29. Cốt Tủy của Hạnh Phúc: Sách Hướng Dẫn cho Cách Sống (The Essence of Happiness: A Guidebook for Living xb tháng 7 năm 2002);
  30. Đường Dẫn tới sư Yên Tĩnh: Trí huệ hàng ngày (The Path to Tranquility: Daily Wisdom , xb tháng 8 năm 2002);
  31. Tỉnh Thức Luận (The Dalai Lama’s Book of Awakening, xb tháng 2 năm 2003);
  32. Nghệ Thuật của Hạnh Phúc trong Công Việc (The Art of Happiness at Work, xb tháng 8 năm 2005);
  33. Vũ Trụ Trong Một Nguyên Tử: Sự Hội Tụ của Khoa Học và Tâm Linh (The Universe in a Single Atom: The Convergence of Science and Spirituality, xb tháng 9 năm 2005);
  34. Để Thấy được Thực Sự Chính Mình (How to See Yourself As You Really Are, xb tháng 12 năm 2006);

Kết luận

Như sự miêu tả của giáo sư Eric Sharpe thánh nhân là người suốt đời chú trọng đến việc mang lại an lạc cho con người và cuộc đời. Trong khi theo đuổi lý tưởng ấy, họ thường phải hứng chịu những trở ngại, đau đớn hoặc nguy hiểm đến sinh mạng. Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 đã hiện thân cho những gì đã được miêu tả ấy. Tuy nhiên, theo các nhà phân tích, sự xuất hiện của ngài như là một định mệnh, đã thừa kế tước vị Đạt-lại Lạt-ma ở trong một giai đoạn bấp bênh nhất trong toàn bộ lịch sử cao quý này. Hiện nay, vẫn trong thân phận người tị nạn lưu vong, tuy nhiên, Sư rất lạc quan và hy vọng cho tương lai độc lập và tự do cho thế giới và xứ sở của Sư như lời Sư đã nhắc tới trong bức Thông Điệp 2000: “Thế kỷ 20 đầy xung đột và chiến tranh. Từng bước, chúng ta bảo đảm thế kỷ tới sẽ có đặc tính bất bạo động và đối thoại, là điều kiện tiên quyết để cùng hiện hữu bên nhau trong hòa bình”. “Xã hội nào cũng có những khác biệt và xung đột. Tuy vậy, chúng ta cần phát triển niềm tin tưởng rằng: đối thoại và tình bạn là một đường lối chính chắn để tránh bạo động. Trước thiên kỷ mới, điều mọi người cần thực hiện là tăng cường tinh thần trách nhiệm đối với quốc tế”.

Tổng hợp theo các tài liệu

  • Mary Craig (1997): Kundun, A biography of the Family of the Dalai Lama, Harper Collins Publishers, London.
  • Roger Hicks & Ngakpa Chogyam (1984): Great Ocean, An Authories Biography of the Buddhist Monk Tenzin Gyatso His Holiness The 14th Dalai Lama, Element Books, Great Britain.
  • Tenzin Gyatso Dalai Lama (1998): Freedom in Exile, Snow Lion Publications, New York.
  • Thich Nguyen Tang: Phật Giáo Khắp Thế Giới, http://www.quangduc.com/quocte/01pgkhaptg3-datlailatma.html

Những Châm ngôn từ Đạt-lại Lạt-ma

  • Nếu một khó khăn có thể sửa chữa được, nếu một tình huống mà bạn có thể làm cái gì đó cho nó, thì không cần thiết để lo lắng. (nhưng) Nếu nó không còn sửa chữa được, thì cũng không lợi chi trong việc lo lắng.
  • Theo quan điểm Phật giáo thì quan hệ giữa nam với nam, giữa nữ với nữ là những hành vi tình dục sai trái. Còn theo quan điểm của xã hội, quan hệ đồng giới mà có sự đồng tình của cả hai người thì có thể có lợi, mang đến niềm vui cho nhau, và vô hại.
  • Hạnh phúc không phải là thứ có sẵn, nó đến từ chính hành động của bạn.
  • Nếu bạn có khả năng, hãy giúp đỡ kẻ khác. Nếu không làm được vậy thì ít nhất đừng hại họ.
  • Tín ngưỡng của tôi rất đơn giản, tín ngưỡng của tôi là lòng tốt.
  • Không cần có các chùa chiền, không cần các triết lý cao siêu. Tim và óc của tôi là các chùa chiền; triết lý của tôi là lòng tốt.

Chú thích

  1. ^ “Tibet timeline”. BBC.
  2. ^ Vào lúc Tenzin Gyatso sinh, Taktser là một thành phố thuộc tỉnh Thanh Hải và do [[Mã Lân (quân phiệt)|]], một quân phiệt liên minh với Tưởng Giới Thạch và được Quốc dân đảng bổ nhiệm là người lánh đạo Thanh Hải. Xem Thomas Laird, The Story of Tibet. Conversations with the Dalai Lama, Grove Press: New York, 2006 ; Li, T.T. “Historical Status of Tibet“, Columbia University Press, p. 179; Bell, Charles, “Portrait of the Dalai Lama“, p. 399; Goldstein, Melvyn C. Goldstein, A history of modern Tibet, pp. 315–317
  3. ^ News | The Office of His Holiness The Dalai Lama
  4. ^ Dalai Lama visits Arunachal Pradesh | Reuters
  5. ^ Dalai Lama’s visit to Arunachal nostalgic: Top aide – Thaindian News
  6. ^ Don’t politicise my Arunachal visit, Dalai tells China – Times Of India

Liên kết ngoài

Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và phương tiện truyền tải về Tenzin Gyatso
Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán
Hóa thân của các vị Đạt-lại Lạt-ma Căn-đôn Châu-ba | Căn-đôn Gia-mục-thố | Toả-lãng Gia-mục-thố | Vinh-đan Gia-mục-thố | La-bốc-tạng Gia-mục-thố | Thương-ương Gia-mục-thố | Cách-tang Gia-mục-thố | Khương-bạch Gia-mục-thố | Long-đa Gia-mục-thố | Sở-xưng Gia-mục-thố | Khải-châu Gia-mục-thố | Xưng-lặc Gia-mục-thố | Thổ-đan Gia-mục-thố | Đăng-châu Gia-mục-thố

Thể loại:

xem tiếp…https://hoangkimlong.wordpress.com/category/doi-thoai-voi-thien-su/

DinhTuyetSon

Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết Sơn, bài viết của Hoàng Kim, được chú ý trên trang Nghiên cứu lịch sử ngày 1.8. 2016. Những hé lộ về bí mật kho báu trên núi Tuyết đã giúp tư liệu đánh giá ba vấn đề lớn tồn nghi trong lịch sử: 1) Ngoại giao thời vua Càn Long với nhà Tây Sơn. 2) Lý Tự Thành và kho báu nhà Minh. 3) Vì sao Trung Quốc quyết không cho Tây Tạng tự trị?. xem tiếp… https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bi-mat-kho-bau-tren-dinh-tuyet-son/

108 Lời Dạy Thực Tiễn Đức Đạt Lai Lạt Ma (DaLai LaMa) lắng nghe và suy ngẫm. Tây Tạng Và Cuộc Đời Của Đức Đạt Lai Lạc Ma  tài liệu trên BBC do Trương Thanh Phong thông tin.

Đức Đạt Lai Lạt Ma nghĩ gì về Pháp Luân Công và vấn đề ở Tây Tạng giúp chúng ta một góc nhìn tham chiếu về thế giới ngày nay và thái độ ứng xử.

Video yêu thích