Đối thoại với Thiền sư

ĐỐI THOẠI VỚI THIỀN SƯ
Hoàng Kim

Kính Thầy Suối Trí Tuệ
Thừa Ân Giác Linh Ôn
Buu Minh Giác Tâm sáng
Hoa Lúa soi tâm hồn

Nam mô a di đà Phật
Bạch Ngọc kính Thầy
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoa-lua/

Lời dẫn:
1) Chùa Bửu Minh Gia Lai http://chuabuuminh.vn/ là ngôi chùa cổ gần Biển Hồ- Pleyku, Thầy Thích Giác Tâm tác giả ‘Con về còn trọn niềm tin‘ là sư trụ trì của chùa Bửu Minh.

2) Hòa thượng Thích Viên Quán, viện chủ chùa Thừa Ân, phường Yên Đỗ, Tp.Pleiku, tỉnh Gia Lai viên tịch vào lúc 13h30 ngày 16.9.2018.

3) ‘Ba trước của tôi’ bài của thầy Thích Giác Tâm

BA TRƯỚC CỦA TÔI
Thích Giác Tâm
(Hồi ức trong mùa Vu Lan Báo Hiếu).

Chuyện của một gia đình không danh gia vọng tộc, chỉ là một gia đình thường thượng bậc trung, thì có gì đáng nói để nói. Nhưng nếu không nói ra con cháu trong tộc họ không biết nguồn gốc của mình, người mà không biết đến nguồn gốc cội rễ của gia tộc là một thiếu sót lớn.

Mẹ tôi người huyện An Nhơn tỉnh Bình Định, có chồng cùng quê, là “ba trước” của tôi, (từ đây được gọi là “ba trước”, còn người sinh ra tôi được gọi là ba tôi, để dễ phân biệt và theo dõi câu chuyện không lẫn lộn) ông làm nghề thợ may, sinh ra được ba người con gái. Đặt tên May, Vá, Bảy. Cặm cụi ngồi may suốt ngày, nhiều năm nhiều tháng ông mắc bệnh phổi và mất khi tuổi chưa tới 40. Quê nhà làm ăn khó khăn, mẹ bồng bế ba con lên đồn điền chè Biển Hồ, tỉnh Pleiku lập nghiệp, thời gian đó vào năm 1945-1946. Mười hai năm sau mẹ gặp ba tôi họ Nguyễn tên Trợ và sinh ra hai anh em tôi.

Khi lên ở xã Biển Hồ, làm lại Tờ khai gia đình (hộ khẩu bây giờ), ba tôi hỏi mẹ tôi:” Mấy nhỏ họ gì ?” Mẹ tôi trả lời cục ngủn:”Họ Ma”. Ba tôi nói:” Họ gì họ Ma, họ ma quỷ thì còn làm ăn thế nào được. Đổi lại họ Mai đi, ở Bình Định có anh hùng Mai Xuân Thưởng chống Pháp, nên lấy theo họ Mai”. Ông quyết định đổi họ, và thế là các chị tôi từ họ Ma đổi thành họ Mai, cắt đứt gốc rễ tổ tiên ông bà họ Ma của mình.

Người Việt không có họ Ma, họ Ma là người Chăm. Trong gia phả của một số người Việt gốc Chăm tôi tìm hiểu được, thì người Chăm có 4 họ chính: “Ôn, Ma, Trà, Chế”. Bởi vậy tôi tin chắc chắn rằng “ba trước” tôi là gốc người Chăm (Chiêm Thành). Lịch sử để lại chúng ta biết rằng thành Đồ Bàn là thủ phủ của vương quốc Chiêm Thành) khu vực chùa Thập Tháp, tháp Cánh Tiên, thuộc xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định bây giờ là Kinh Đô Đồ Bàn xưa, của người Chiêm Thành (khoảng thế kỷ thứ 11-12).

Có lần trò chuyện với một người phụ nữ Chăm ở Phan Rang, bán hàng thổ cẩm ở hội chợ thành phố Pleiku, tôi hỏi:” Chị có biết về lịch sử tổ tiên ông bà chị không ?”. Chị trả lời:” Con có học có biết, nhưng câu chuyện lịch sử đã qua đi lâu quá rồi, hơn tám, chín trăm năm , bây giờ tụi con đã thành người Việt, nhắc, nhớ lại lịch sử vong quốc của mình chỉ thêm buồn”. Một câu trả lời vô cùng dễ thương, không khơi gợi, hoài niệm quá khứ để phát sinh thù hận, gây chết chóc điêu linh.

Trong Kinh tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân Đức Phật dạy:

“Điều thứ nhất là giác ngộ rằng cuộc đời là vô thường, cõi nước nào cũng mong manh dễ đổ vỡ, những cấu tạo của bốn đại đều trống rỗng và có tác dụng gây đau khổ, con người do tập hợp của năm ấm mà có, lại không có thực ngã, sinh diệt thay đổi không ngừng, hư ngụy và không có chủ quyền. Trong khi đó thì tâm ta lại là một nguồn suối phát sinh điều ác và thân ta thì là một nơi tích tụ của tội lỗi. Quán chiếu như trên thì dần dần thoát được cõi sinh tử”.

Thông điệp của Đức Phật luôn vang vọng trên khắp hành tinh này, từ 2600 năm qua: “Ngài dạy yêu thương, không hận thù, tất cả con người là quyến thuộc nhiều đời nhiều kiếp với nhau, là máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn như nhau. Hãy nương vào nhau mà sống, đừng bao giờ hủy diệt nhau. Rằng cuộc đời là vô thường, cõi nước nào cũng mong manh dễ đổ vỡ”. Vậy mà nhân loại con người, không ai nhớ đến làm chi, chúng ta nhân danh gia đình, xã hội, tôn giáo, tổ quốc mình đi rao truyền, cưỡng chiếm, và chân lý luôn thuộc về kẻ mạnh.

Ngày giỗ của “ba trước” tôi, là ngày 17 tháng 2 âm lịch. Con cháu có kẻ nhớ người quên, ông không còn một tấm ảnh nào để thờ.
Cứ mỗi lần có dịp đi du lịch các tỉnh thành, tôi đều tìm đến các tháp Chăm (có nơi gọi tháp Chàm) để thăm viếng, để học hỏi về lịch sử nam tiến, lịch sử ngoại giao của tổ tiên mình, về bài học nhân danh….để hủy diệt nhau, cho sự tồn sinh của dân tộc mình, tôn giáo mình.

Gia Lai, ngày 16.9.2016

Thích Giác Tâm

xem tiếp
HOA LÚA,
Hoàng Kim
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoa-lua/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Advertisements

Đối thoại với Thiền sư

SỚM XUÂN DỌN VƯỜN NGẮM MAI NỞ
Hoàng Kim

đối thoại với thiền sư, tôi lật trang sách Lev Tonstoy ‘suy niệm mỗi ngày’ lắng nghe Osho ‘những cuốn sách tôi yêu’, thưởng thức Vương Mông ‘triết lý nhân sinh của tôi’ và sung sướng ngẫm nghĩ khi sớm xuân dọn vườn ngắm mai nở. Thật thú vị khi ngắm ‘Đức Phật và cây’ của Lê Khải, lắng đọng lời bình của Nguyễn Đông A và đồng cảm ‘trắc ẩn chữ “không” trong thơ Lê Tuân’: ‘Oan khiên/ thôi/ đừng buồn nhé/ oan khiên/ cây/ trăm năm/ chẳng thiên nhiên nữa là/ đuổi ánh sáng ra khỏi nhà/ đuổi nhau ra khỏi thiên hà/ được không/ đêm qua/ sông chảy vào sông/ tôi lơ ngơ chảy vào không có gì/ nửa xanh giờ đã ra đi/ nửa tôi hái nhánh li bì tặng em’. Thơ và lời bình hay. Dẫu vậy, tôi chưa thật thích thơ Lê Tuân, tôi thích lạc quan chí thiện hơn. ‘Ngọc phương Nam/ hứng mật đời/ thành thơ/ việc nghìn năm hữu lý/ trạng trình/ đến trúc lâm/ đạt năm việc lớn hoàng thành/ đất trời xanh/ yên tử …

Xem thêm:

Nguyễn Đông A đã thêm 5 ảnh mới.

Cảm nhận thơ

Trắc ẩn chữ “không” trong thơ Lê Tuân

Tôi không quen biết Lê Tuân ngoài đời, chỉ kết bạn trên Facebook. Qua việc Hội Nhà văn Thành phố trao giải tập thơ “Nghi lễ của ánh sáng” cho anh có những tranh luận, kẻ khen người chê. Bỏ qua việc này, bởi có thể đây là chuyện “muôn niên”.

Do không có điều kiện tiếp cận với tập thơ, nhưng tò mò nên tôi vào trang riêng của anh, đọc vài bài, trong đó có OAN KHIÊN, cảm thấy là lạ.

“OAN KHIÊN

thôi
đừng buồn nhé
oan khiên

cây
trăm năm
chẳng thiên nhiên nữa là

đuổi ánh sáng ra khỏi nhà
đuổi nhau ra khỏi thiên hà
được không

đêm qua
sông chảy vào sông
tôi lơ ngơ chảy vào không có gì

nửa xanh giờ đã ra đi
nửa tôi hái nhánh li bì tặng em”
( Thơ Lê Tuân )

Thơ Lê Tuân mang tính gợi, một nỗi niềm khắc khoải mơ hồ, u ẩn, trầm luân của đời người gian trần.

Thủ pháp đặc sắc Lê Tuân dùng trong bài thơ OAN KHIÊN, tôi tạm gọi là “lục bát xẻ dòng”. Thủ pháp chẻ câu thơ lục bát truyền thống thành những dòng thơ ngắn mang hơi hướng hiện đại, thỉnh thoảng thấy các nhà thơ danh tiếng thể nghiệm sáng tạo, biến hóa.

“Xẻ dòng”, đó là những câu lục bát được chẻ ra thành nhiều dòng thơ ngắn, xuống hàng theo nhịp thơ, theo ý định thể hiện, hoặc theo dòng suy tưởng, cảm xúc người viết. Thực chất bài thơ “Oan khiên” chỉ gồm bốn câu lục bát cách điệu. “Xẻ dòng” trong bài còn có tác dụng nhấn mạnh, làm rõ ý.

Hai khổ thơ đầu qua việc dựng nhịp thơ, xẻ dòng, anh nói đến “cây”, mạch thơ êm êm, nhè nhẹ. Trách cứ như không, như so đo, ủi an người, tự ủi an mình, “nữa là!” ở cuối khổ thơ thứ hai là cụm từ hay. Ý tứ loáng thoáng liên tưởng đến việc đốn bỏ hàng cây “trăm năm” tuổi ở đô thị, là chuyện thời nay, chuyện đời chuyện người.

Tôi lại tiếp tục suy tưởng, len theo dòng cảm xúc tác giả, đọc thơ bằng tâm cảm.

Đến khổ thơ thứ ba, thì từ ngữ tưởng chừng như mông lung, xa xách, tận đâu đâu, chuyện “ánh sáng” và “thiên hà”, thực ra vẫn gắn với mạch thơ.

“Ánh sáng” và “thiên hà”, từ ngữ thường dùng mà đâu như xa xăm, trên cõi trần. Câu hỏi mà không hỏi, là đố, đuổi “được không?”. Đuổi cái tất có. “Ánh sáng” còn là từ tượng trưng cho niềm vui, hạnh phúc, cho sự lành, thánh thiện, là điều tốt đẹp, có thể tạo nên hào quang rực rỡ, lan tỏa. Là thực thể vốn dĩ hiện hữu, là cái cần, cái có trong tự nhiên, sẵn cho con người, sao mà đuổi nó “ra khỏi nhà”.

“Đuổi ánh sáng ra khỏi nhà” thì trong nhà chỉ còn bóng đêm bao phủ, tối đen, lạnh lẽo, có nhiều quỉ ma, điều xúi quẩy, sự xấu xa, tội ác. Con người thường sợ bóng đêm, những điều bóng đêm ẩn dấu, vô minh. Mà ai “đuổi”, “bóng đêm”, “thế lực bất lương” chăng? (liên tưởng xã hội).

“Ánh sáng” tồn tại, xuất phát từ hành tinh phát sáng hoặc hành tinh phản chiếu. “Thiên hà” gồm vô số tinh tú, trong đó có nhiều thiên thể tối, không sáng. “Đuổi” sao đây, khi mỗi thực thể nằm trong đó gắn với nhau bởi “lực hấp dẫn”. Trường hấp dẫn của “lỗ đen” vũ trụ đâu để thực thể nào thoát ra, cả “ánh sáng” cũng không thể xuyên qua được. Thử hỏi đuổi tất tật “ra khỏi thiên hà/được không”(liên tưởng vũ trụ).

Nỗi niềm trắc ẩn là đây.

Rồi anh trở lại với mình, viết về cái tôi. Có thể nói đây là khổ thơ hay nhất trong bài:
“đêm qua
sông chảy vào sông
tôi lơ ngơ chảy vào không có gì”

“Sông” theo luồng nước “chảy vào sông”, có thể là ra sông lớn hơn, nhưng anh thì lại “lơ ngơ”, có thể rồi cũng “chảy vào”, cuốn theo dòng chảy. “Sắc sắc không không”, cái có được và cái không có, mà anh thì “không có gì”. Cuộc đời cõi tạm có cần chi, khi nhắm mắt xuôi tay rồi, “có” lại về “không”. Dòng chảy của tự nhiên hay dòng xoáy xã hội? Thì đúng vậy thôi, anh là người “giời”, thực thể của “thiên hà”, người trên cõi thực, trong cõi của người ta ai biết anh, đâu có chỗ cho anh, để “lấp lánh”. Anh “không có gì”.

Thôi thì trở về với cõi riêng, cõi thơ cõi mộng. Ở khổ thơ cuối anh viết “nửa xanh” tôi “đã đi rồi”, tự biết mình không còn xuân nữa, “nửa tôi” giờ có thể tóc râm, dạng hình vàng võ, hằn thời gian. Nhưng lại phóng khoáng, hay hay về “nhánh li bì”. Làm gì có nhánh đó, như “lá diêu bông”, hoa “khiết bông”, không biết được, không có hoặc đâu có thật. Anh lấy cái không có để miêu tả tâm trạng “li bì”, mãi miết, miên man yêu thương bất tận, không dứt ra được. “Nhánh li bì” trở nên độc đáo, rất đắt.

Một câu lục bát xẻ dòng tưởng chừng như lạc mạch ý chủ, lại được tùy biến theo mạch cảm xúc thơ . Xét cho cùng thơ của anh không phải thơ thời sự, thơ chính trị mà là tiếng lòng, tiếng nói “cái tôi” riêng tư trong “cái ta”. “Cái tôi” vốn dĩ như là một đặc trưng muôn thuở trong thơ ca.

Chất liệu làm nên thơ của Lê Tuân là lấy từ thực. Ý thơ, ý tại ngôn ngoại mang sức gợi. Như “Oan khiên”, tác giả nhắc đến “cây” loáng thoáng liên quan đến chuyện “chặt cây”. Nhưng “Oan khiên” còn tùy vào người đọc, có thể khiến liên tưởng đến những vấn đề lớn hơn, thậm chí thời sự, như chuyện án oan, án không đáng, chuyện “củi lửa đốt lò”, liên tưởng đến thân phận, kiếp người.

Theo tôi, thơ Lê Tuân có phương thức biểu hiện được mô phỏng theo cách phát triển đa chiều của tư duy, không theo thứ tự phát triển tuyến tính trước sau. Ý tứ được xây dựng theo trường suy tưởng nhiều tầng, nhiều chiều nên thấy mơi mới, khang khác. Đây là sự sáng tạo, điều cần thiết trong văn chương, dù chỉ chút ít, dù thành công hay thất bại.

Bởi thế thơ Lê Tuân thấy là lạ mà quen quen. Thơ của anh không phải là thơ siêu thực, càng không phải lối viết kiểu “tân hình thức”. Thơ của anh xuất phát từ thực tế, pha trộn giữa đời và mộng, giữa chung và riêng, giữa tôi và ta, bằng liên tưởng phong phú, tạo sức gợi đa dạng đến người đọc.

Có thể đọc thêm vài bài thơ nữa của Lê Tuân để thấy rõ hơn:

Như bài “Thênh thang”:

“đò nào chở nổi thênh thang
thiên lương
dạ mị
cuốn ngàn năm bay

người qua đây
nhé
đừng lay
ta đang thần thoại bên cây phong trần

hội tan chưa nhỉ
phù vân
ngồi thêm một chút tình nhân rồi về.”

Hoặc bài “Chỗ khuất”:

“một vì vua
một tôi bộc
cùng ẩn nấp một nơi sao chưa nhận ra nhau

một chỗ khuất
một vết thương
mang mũi tên đi đâu mà đầu đường cuối nẻo

chiếc xe song mã
một con ngựa kéo
mảng trời xiêu vẹo chưa thấy ai thay

lửa cháy muôn nơi
ngựa hí vang trời
ai tìm ai mà ngàn bể với non khơi.”

Qua đó, một lần nữa có thể nói, thơ của Lê Tuân hàm súc, kiệm lời, hàm ẩn nhiều tầng nghĩa, khơi gợi, lưng lửng, không nói hết. Giọng thơ nhiều lúc ma mị, lãng đãng, hư ảo. Thơ của anh như có sự giằng co, bức bối nội tâm, trong cái tôi riêng có góc tối u ẩn, ẩn khuất của tâm trạng và rất đời.

Tôi không biết quan điểm mỹ học của tác giả, càng không biết Phật – Lão hoặc tôn giáo nào tác động đến thơ anh. Nhưng trong thơ anh rõ ràng có ý niệm thức tỉnh, hướng đến chân – thiện – mỹ. Đó là điều quí, đáng trân trọng.

Như đã nói, đặc điểm thơ của Lê Tuân là mô phỏng theo qui luật phát triển đa chiều của tư duy. Tất cả chất liệu sáng tác đều xuất phát từ thực tế của “cõi tạm”.

Anh như người làm xiếc hư ảo trên đôi chân hiện thực.

Maryland, tháng 01/2018
Nguyễn Đông A


CNM365. Chào ngày mới 21 tháng 1. ‘Đức Phật và cây’ chuyện cực ngắn Lê Khải.  Ngày này năm xưa. Ngày 21 tháng 1 năm 1968, Chiến tranh Việt Nam: Quân đội Nhân dân Việt Nam tấn công căn cứ Khe Sanh của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ ở Quảng Trị, khởi đầu Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh. Ngày 21 tháng 1 năm 1924, ngày mất Vladimir Ilyich Lenin, chính trị gia và lý luận gia người Nga (sinh năm 1870), lãnh tụ Đảng Cộng sản Liên Xô, phong trào cách mạng vô sản Nga, người thành lập nước Nga Xô Viết, và  phát triển học thuyết Marx Engels. Ông được tạp chí Time coi là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất đến lịch sử thế giới [1][2]. Ngày 21 tháng 1 năm 1949, Tưởng Giới Thạch tuyên bố từ bỏ chức vụ Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc, Lý Tông Nhân trở thành quyền tổng thống; Bài chọn lọc: Đức Phật và cây. Hoàng Kim dạo chơi cùng Lê Khải. Tiết Đại hàn và thơ OM, Những bạn tốt của nông dân trồng sắn châu Á; Chuyện tử tế phim học làm Người;  Xem tiếp… https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-21-thang-1/


ĐỨC PHẬT VÀ CÂY. Lê Khải chuyện cực ngắn. Cuộc đời Đức Phật luôn gắn liền với cây. Năm 624 trước Công nguyên, trong vườn Lumbini, dưới cành cây asoka, đấng giác ngộ ra đời. Năm lên tám tuổi, trong buổi lễ hạ điền, thái tử Siddhartha lần đầu tĩnh tọa dưới bóng mát cây hồng táo. Hai mươi bảy năm sau, bên bờ sông Ganga, dưới tán cây bồ đề xanh tốt, kẻ tầm đạo đã trở thành đấng giác ngộ, người tỉnh thức, bậc thiện thệ, kẻ hiểu thấu thế gian… Và vào năm tám mươi tuổi, tại thành Kushinagar, sa môn Gautama đã đi vào Niết Bàn dưới tán lá hai cây sala trổ hoa trắng muốt. xem bản gốc https://phaphoan.wordpress.com/2018/01/17/duc-phat-va-cay-truyen-cuc-ngan-le-khai/comment-page-1/#comment-145

HOÀNG KIM DẠO CHƠI LÊ KHẢI 21 tháng 1 tình cờ gặp Lê Khải, người quê vợ, tác giả truyện cực ngắn ‘Đức Phật và cây’. Chúng tôi lang thang đi vào vườn cổ tích. Tôi nhớ năm xưa ngồi dưới tán cây xanh của Norman Borlaug di sản niềm tin và nổ lực cùng ông trò chuyện về con dường xanh để có Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe. Mừng Khải đã theo dấu chân Bụt tìm thấy Người ‘Hai mươi bảy năm sau, bên bờ sông Ganga, dưới tán cây bồ đề xanh tốt, kẻ tầm đạo đã trở thành đấng giác ngộ, người tỉnh thức, bậc thiện thệ, kẻ hiểu thấu thế gian… Và vào năm tám mươi tuổi, tại thành Kushinagar, sa môn Gautama đã đi vào Niết Bàn dưới tán lá hai cây sala trổ hoa trắng muốt.”

TIẾT ĐẠI HÀN VÀ THƠ OM. Hoàng Kim. Em giữ nồng nàn ở trong ngực ấm. Để tiết đại hàn trời lạnh cắt da. Nhớ Ôm Em và Ôm Em Cưc Sướng.Thơ cho đời và nắng cho thơ. MAI SAU DÙ CÓ BAO GIỜ Thơ thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn, Lâm Cúc gửi chúng ta. Vần thơ có lửa.https://hoangkimlong.wordpress.com/2017/01/21/tiet-dai-han-va-tho-om/

NHỮNG BẠN TỐT CỦA NÔNG DÂN TRỒNG SẮN CHÂU Á. Hoàng Kim. Tiến sĩ Joe Tohme, tiến sĩ Reinhardt Howeler, tiến sĩ Chareinsuk Rojanaridpiched và tiến sĩ Claude Fauquet. Những bạn tốt của nông dân trồng sắn châu Á. (Ảnh:CIAT blog) Chúc mừng từ Việt Nam đến những bạn tốt của nông dân trồng sắn châu Á. Greetings from Vietnam to the good friend of cassava farmers in Asia. Danh dự cho những đóng góp lớn an ninh lương thực ở Đông Nam Á xem tiếp … https://cnm365.wordpress.com/2016/01/21/nhung-ban-tot-cua-nong-dan-trong-san-chau-a/

CHUYỆN TỬ TẾ PHIM HỌC LÀM NGƯỜI. Hoàng Kim. https://t.co/mHraLrjDZ0 https://t.co/xPt6CkSJCN. Chuyện tử tế (đạo diễn Trần Văn Thủy)  phim học làm người. http://hocmoingay.blogspot.com/2015/01/nguoi-tu-te-phim-hoc-lam-nguoi.html.

Hà Nội trong mắt ai, Chuyện tử tế phim học làm người của đạo  diễn Trần Văn Thủy và bài viết Những gì thấy được ‘Trong đống tro tàn’ của Trần Văn Thủy do Phạm Phú Minh đăng trên Văn Việt đã ám ảnh tôi: “Con đường của lòng tử tế, của sự nhân ái. Con đường tình người rộng rãi thênh thang…“. “Hình như trên đời này chẳng có mấy ai khi nhắm mắt xuôi tay lại không nuối tiếc việc nọ, việc kia. Phần tôi, tự xét mình là thường dân nhưng đã cố gắng trong mọi hoàn cảnh, mọi bổn phận. Sức của tôi có hạn, tôi chỉ thương xót cho bọn trẻ, con cháu tôi và con cháu chúng ta. Chúng thừa hưởng một gia tài quá bề bộn của tiền nhân để lại. Không dễ gì để chúng có được một cuộc sống hạnh phúc đúng nghĩa mà thế hệ chúng ta hằng mơ ước cho chúng. Dẫu sao, tôi xin chân thành cầu chúc cho mọi người được sống trong niềm vui, trong an bình và sự thanh thản của một xã hội lương thiện, tử tế hơn”. Trần Văn Thủy Trong đống tro tàn, cần đọc lại và suy ngẫm.

tranvanthuy-trongdongtrotan

Những gì thấy được ‘Trong đống tro tàn’ của Trần Văn Thủy

Phạm Phú Minh

Theo sự hiểu biết của tôi thì nhà văn, nhà đạo diễn điện ảnh Trần Văn Thủy là người đầu tiên sống trong xã hội Việt Nam đương thời đã đặt vấn đề Tử Tế bằng tác phẩm của mình. Cuốn phim tài liệu Chuyện Tử Tế của ông thực hiện năm 1985, được công bố ít năm sau đó, đã gây một chấn động trong lương tâm của con người, không những của người Việt Nam mà còn nhiều nơi trên thế giới.

Có chuyện gì vậy? Chuyện tử tế? Thì có gì lạ? Chẳng phải là từ khai thiên lập địa con người vẫn sống giữa cuộc tranh đấu giữa cái Thiện với cái Ác đó sao, một cuộc tranh đấu bất tận như tên của một cuốn phim Mỹ: From Here To Eternity -Từ đây cho đến mãi mãi về sau, được người Pháp chuyển dịch thành Tant qu’il y aura des hommes -Cho đến khi nào còn con người. Hai cái tên tiếng Anh và tiếng Pháp của cuốn phim nổi tiếng ấy đều cho thấy cuộc xung đột giữa cái tốt và cái xấu nó sẽ còn mãi mãi trong xã hội loài người, khiến người ta phải nghĩ một cách sâu xa hơn, là bản chất và mục tiêu đời sống của chúng ta chính là cố gắng đẩy lùi cái xấu để cái tốt được lên ngôi.

Nhưng nghĩ cũng lạ, cái trật tự tinh thần để phân biệt tốt xấu thì đã được con người xác định từ rất xa xưa, có lẽ ngay từ bản năng của sự sống: mạng sống là tốt, giết hại là xấu; thương yêu là tốt, thù hận là xấu; tự do thoải mái là tốt, gông cùm kiềm hãm là xấu; sáng kiến phát triển là tốt, hủ lậu trì trệ là xấu; no cơm ấm áo là tốt, đói rét là xấu… Những cặp tốt xấu như thế có thể kể ra vô tận, cho thấy thân phận của con người thật ra rất chênh vênh, nhưng kinh nghiệm sống và sự thăng hoa tinh thần của con người trong quá trình “thành người” của mình đã khẳng định phía nào nên theo, cái gì nên loại bỏ. Ý thức đó tạo nên ĐẠO LÝ chung cho cuộc sống của con người đông tây kim cổ.

Chuyện con người sống tử tế với con người và vạn vật chẳng qua cũng chỉ nằm trong Đạo Lý ấy mà thôi, nhưng sở dĩ có người như Trần Văn Thủy phải làm phim để đặt ra như một vấn nạn trước lương tâm con người, là vì cuộc sống trong cơ chế đang ngự trị trên đất nước Việt Nam xem ra thiếu vắng sự Tốt lành mà ngược lại, nghiêng về phía cái Ác. Đây không phải là chuyện tốt xấu trong một xã hội bình thường, mà là kết quả của một chế độ khác thường. Vì thế nguy cơ của cái Ác trở thành một khuynh hướng đè bẹp cái Thiện ngày càng rõ rệt, và đã trở thành một nguy cơ cho đất nước và dân tộc Việt Nam.

Phim Chuyện Tử Tế ra đời năm 1985, tính năm nay 2016 đã là 31 năm, vậy hành trình của nó và của tác giả làm nên nó, hiện đã tới đâu rồi? Câu chuyện nó vượt biên một cách bí mật để đến được Liên Hoan Phim Leipzig Đông Đức cuối năm 1988 có thể dựng thành một cuốn phim trinh thám nghẹt thở. Và sau khi nó chiếu và được nhiệt liệt hoan nghênh tại liên hoan này thì tới phiên tác giả của nó lập tức “vượt biên” sang Pháp ngay trong đêm đó, cũng nghẹt thở không kém. Khi đã đến Pháp, tác giả của nó mới biết Chuyện Tử Tế đã được giải thưởng Bồ Câu Bạc ở liên hoan phim Leipzig. Rồi nó được chiếu trong rạp hát và đài truyền hình Pháp. Rồi nhiều nước khác đã mua phim Chuyện Tử Tế…

Đạo diễn Trần Văn Thủy vào thời điểm tham dự liên hoan phim Chuyện Tử Tế đã đứng trước một đường ranh giới rất mong manh, hoặc nó đoạt được giải thì ông là người có công, được quay về Việt Nam an toàn, hoặc nó không gặt hái được gì cả thì ông bắt buộc phải chọn con đường lưu vong tại Tây Âu.

Nhưng sự tử tế đã mỉm cười với ông, và hôm nay đạo diễn Trần Văn Thủy, ở tuổi 76, và đã đúc kết mọi chuyện với cuốn sách Chuyện Nghề Của Thủy và cuốn Trong Đống Tro Tàn mà độc giả đang cầm trên tay. Hình ảnh “đống tro tàn” mà tác giả gợi ra nó như thế nào là tùy cách nhìn của người đọc, nhưng với tác giả, thì tôi đoán cái tên đó phần nào cũng là tổng kết cái hành trình mà ông đã đi suốt nửa thế kỷ qua, tròn 50 năm (1966-2016). Chưa hẳn nó có ý nghĩa tiêu cực như khi chúng ta đứng trước một căn nhà đã bị thiêu rụi, mọi thứ đã thành tro, mà chỉ là tổng kết thời gian gần cả đời người với nhiều nỗi truân chuyên gay cấn liên tục với một chủ đề gần như duy nhất: sự tử tế. Đống tro tàn chỉ là một cách nói, có thể là một ám chỉ rằng trong cái đám ngổn ngang đó vẫn còn sót lại một vài tàn lửa sẽ làm bùng lên ngọn lửa của cái Thiện.

Nhưng có một điều chắc chắn, trong đống mà tác giả gọi là tro tàn này chứa đựng một tấm lòng hừng hực nóng, qua các câu chuyện đời của tác giả. Có nhiều chuyện được kể lại, xem qua thì là những chuyện vui buồn, những kỷ niệm trong đời, nhưng tất cả hầu như chỉ một chủ đề, đó là sự thăng hoa tốt đẹp của bản chất con người, mà các tôn giáo lớn từ hàng ngàn năm trước đã nhìn ra và dẫn dắt nhân loại.

Đây có thể là tác phẩm văn học cuối cùng của ông, vì có cả lời trăng trối căn dặn mọi chuyện sau khi ông qua đời. Trong Mấy Lời Gửi Lại, xem như là Di Chúc của ông, sau những dặn dò cụ thể liên quan đến tang lễ và việc gia đình, gia tộc, ở phần cuối ông viết:

“Hình như trên đời này chẳng có mấy ai khi nhắm mắt xuôi tay lại không nuối tiếc việc nọ, việc kia. Phần tôi, tự xét mình là thường dân nhưng đã cố gắng trong mọi hoàn cảnh, mọi bổn phận. Sức của tôi có hạn, tôi chỉ thương xót cho bọn trẻ, con cháu tôi và con cháu chúng ta. Chúng thừa hưởng một gia tài quá bề bộn của tiền nhân để lại. Không dễ gì để chúng có được một cuộc sống hạnh phúc đúng nghĩa mà thế hệ chúng ta hằng mơ ước cho chúng.

Dẫu sao, tôi xin chân thành cầu chúc cho mọi người được sống trong niềm vui, trong an bình và sự thanh thản của một xã hội lương thiện, tử tế hơn”.

Điều ông nuối tiếc là ở chỗ lớp con cháu sẽ không được sống hạnh phúc đúng nghĩa mà thế hệ ông hằng mong ước, nghĩa là sống trong một “xã hội lương thiện, tử tế hơn”. Một chữ “hơn” đầy ý nghĩa, nói lên thực tại đáng buồn của xã hội Việt Nam trong hiện tại.

Chương 2, Cha Tôi, là một bài viết mà tôi cho quan trọng nhất trong tập sách này. Kể lại cuộc đời cha mình, ông đã ghi rõ “tưởng nhớ về Thầy – người Cha đẻ và là người Cha tinh thần của con” cho thấy cái nhìn đầy yêu mến và khâm phục của ông về thân phụ của mình, mà theo tôi, ông coi là một mẫu mực, một tấm gương cho suốt cuộc đời của ông.

Có một câu nói của thân phụ ông mà suốt đời ông không quên, đó là câu thân phụ ông thốt ra một cách bình tĩnh sau khi chứng kiến cảnh người bạn thân của mình (bác Phó Mâu) đã bị bắn chết trong cuộc đấu tố:

“Sau hôm về chợ Cồn để chôn cất bác Phó Mâu, Thầy tôi lên gác nằm. Một lát sau ông cho gọi tôi và Lai, người em sát tôi lên. Hai chúng tôi ngồi chờ bố bảo gì. Ông vẫn nằm vắt tay lên trán, im lặng. Không hiểu sao những lúc Thầy tôi im lặng như thế tôi rất sợ, tôi lên tiếng rất khẽ:

– Thầy bảo gì chúng con ạ?

Một lát sau ông mới thủng thẳng nói một câu rất ngắn: – Hỏng – hẳn – rồi – các – con ạ!

Tôi không hiểu. Lúc đó tôi hoàn toàn không hiểu. Tôi hỏi lại:

– Thầy bảo gì cơ ạ?

– Thầy và bác Phó Mâu đã giúp Việt Minh quá nhiều, bây giờ bác chết oan, Thầy không còn tin vào cái gì nữa!

Trong cuộc đời, tôi rất nhớ những điều Thầy tôi đã nói với tôi. Đây không phải là lúc kể ra tất cả, nhưng cái câu đau đớn, bất đắc chí: ” Hỏng – hẳn – rồi – các – con ạ”! Thì chắc chắn xuống mồ tôi cũng không thể nào quên được”.

Kể ra một người trong tuổi thiếu niên mà được nhận lãnh một câu nói như thế từ cha của mình trong một hoàn cảnh đặc biệt của đất nước thì cũng khó mà quên được. “Hỏng-hẳn-rồi-các-con-ạ” là một khẳng định khái quát cả một sự sụp đổ toàn diện trong tâm hồn người cha, truyền lại cho các con mình nhận thức về tương lai của cái chế độ mà họ đang sống trong đó với biết bao kỳ vọng chế độ đó sẽ mở ra một thời kỳ tốt đẹp cho đất nước. “Hỏng hẳn rồi” đã ghi một dấu ấn quan trọng nhất trong lòng tác giả khi mới lớn, để suốt đời ông luôn để tâm nhìn thấy nó hỏng ở chỗ nào, và định hướng các hành vi của ông để lên tiếng cảnh báo cho mọi người về cái nguy cơ vô cùng thảm khốc cho cả một dân tộc.

Trong cuốn sách mà có vẻ tác giả cho là cuối cùng này của mình, chúng tôi nghĩ chương Cha Tôi là nơi Trần Văn Thủy khẳng định điều tâm huyết nhất trong đời mình, đó là nét Đạo Lý mà cha ông đã truyền cho ông. Đạo Lý ấy cha ông đã tiếp nhận từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, nó cũng không khác với Đạo Lý chung của nhân loại đã có từ ngàn đời.

Trần Văn Thủy thì quan tâm và suy nghĩ rất nhiều về vấn đề nền tảng ấy trong các chương khác trong cuốn sách này. Ông vốn là người làm phim tài liệu, luôn luôn ghi nhận và viết xuống những đề tài mà ông cho là đáng làm phim trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của ông, nhưng tiếc thay không mấy dự định của ông đã được thực hiện. Chương “Những kịch bản không thành phim” ông ghi lại nội dung những đứa con điện ảnh không bao giờ được ra đời ấy, với những nhận xét có khi nhiều phẫn nộ.

Ví dụ từ năm 1980 ông đã có một kịch bản về Trịnh Công Sơn:

“Một kịch bản khác tôi tâm đắc vô cùng đó là khi tôi viết về Trịnh Công Sơn năm 1980. Có lẽ khi ấy vừa ở Nga về, vừa làm xong bộ phim “Phản bội” nổi tiếng (1979 – 1980), đang “hăng tiết vịt”, tôi đã viết về Trịnh Công Sơn. Tôi kể những ngày tháng nằm hầm ở chiến trường miền Nam (1966 – 1969), mở trộm đài Sài Gòn, nghe nhạc Trịnh mà nổi da gà. Những Đại bác đêm đêm vọng về thành phố/Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe/Những Người con gái Việt Nam da vàng… Con người miền Nam, hơi thở miền Nam, nhạc Trịnh ám ảnh tôi. Sao lại yêu thương đến thế! Sao lại da diết lay động đến thế! Vấn đề tôi đặt ra trong kịch bản đó không chỉ là những giai điệu, những ca từ hút hồn của nhạc Trịnh mà tôi tự vấn: Mảnh đất nào, văn hóa nào, phẩm hạnh nào đã nuôi dưỡng một tâm hồn trong sáng và chân thiện đến thế, đã sản sinh ra con người chân tình đến thế? Nếu như Karl Marx nói: “Con người là sản phẩm của tổng hòa mọi quan hệ xã hội” thì cái xã hội miền Nam đầy rẫy những “Tội ác và tàn dư của Mỹ Ngụy” ấy tại sao lại sản sinh ra Trịnh Công Sơn?”

Ba mươi năm sau khi làm phim Chuyện Tử Tế để kêu gọi lòng tử tế trong xã hội mình đang sống, đạo diễn Trần Văn Thủy cay đắng nhận ra mình vẫn sống trong xã hội ấy, nhưng:

“Ngày nay trong một chế độ nhân danh sự ưu việt, người ta lại thấy bao điều xót xa trong quan hệ giữa người với người. Tham nhũng, bè phái, cửa quyền. Đạo đức xuống cấp một cách khủng khiếp.” …

“Ai cũng biết rằng tòa án và pháp luật chỉ làm công việc giải quyết hậu quả của hành động. Còn muốn ngăn chặn cái mầm gây ra tội ác, làm nó triệt tiêu khi còn trong trứng, triệt tiêu ngay trong ý nghĩ của con người, thì không gì bằng tôn giáo” […] “tôn giáo nói chung, cái đạo chân chính nào cũng khuyên con người nghĩ thiện, làm thiện, tránh xa tội lỗi, xa điều độc ác. Và như vậy nó góp phần tích cực vào việc giữ gìn đạo đức, trật tự an ninh xã hội, làm cho đất nước lành mạnh”.

Mỗi một chương của cuốn sách này là một câu chuyện hay, có thể nói là hấp dẫn, nhưng luôn luôn ẩn nỗi cảm động, thấm thía và rất lôi cuốn người đọc. Tác giả quan sát rất tinh tế về các nhân vật mình quen biết, các sự kiện vui buồn xảy ra với mình, nhưng khi kể ra thì chuyện nào cũng đáng là một bài học cho người đọc, bài học về nhân cách, về thái độ sống ở đời với một chủ đề bất biến là tích cực nhấn mạnh về sự tử tế, lòng nhân ái.

Tác giả có sự quan hệ rất rộng rãi, đề tài viết có thể là về giới làm phim Nhật Bản, hoặc những người Mỹ hoạt động văn hóa và nhân đạo; về việc thực hiện một cuốn phim tài liệu về nhà thờ Phát Diệm với kiến trúc tôn giáo độc đáo; về một người thầy thuốc hiếm có về bệnh phong cùi, Bác sĩ Trần Hữu Ngoạn, mà khi đọc xong câu chuyện của ông, độc giả chỉ có thể thốt lên: đó là một bậc Thánh, hoặc là một Bồ Tát; về nhạc sĩ Phạm Duy là người ông rất hâm mộ từ thời còn rất trẻ…

Với con mắt quan sát tinh nhạy của một đạo diễn phim tài liệu cộng với một tấm lòng đề cao cái Thiện và chống lại cái Ác, và cộng thêm nữa sự sắc sảo tinh quái của một người sống trong sự kềm cặp mà lúc nào cũng khao khát xé rào để rao giảng những điều chẳng phù hợp chút nào với đường lối của xã hội đương thời, Trần Văn Thủy rất xứng đáng với câu nhận xét sau đây của Larry Berman, một nhà văn Mỹ:

“… on a war that ravaged so many, yet left us with survivors like Tran Van Thuy, war photographer, filmmaker and ultimately philosopher.”

“… về một cuộc chiến đã hủy hoại biết bao sinh mạng, nhưng đã để lại cho chúng ta những người sống sót như Trần Văn Thủy, một nhà quay phim thời chiến, một đạo diễn điện ảnh, và cuối cùng là một triết gia.”

[Trích từ lời Tựa trong bản dịch sang Anh ngữ cuốn tự truyện Trong Mắt Ai (In Whose Eyes) của Trần Văn Thủy]

Nhìn cuộc sống ở một xã hội mà ông phải sống và rút ra từ đấy những nhận xét, những phán đoán, thẩm định nhằm phá vỡ hàng rào dây thép gai ý thức hệ quái đản trong thời đại của chúng ta, thì ngoài vai trò nghề nghiệp, đúng Trần Văn Thủy còn là một triết gia, một triết gia dấn thân với những tác phẩm văn học nghệ thuật rất can đảm và hết sức sâu sắc của ông.

Chẳng hạn, nếu chúng ta được xem phim Chuyện Tử Tế, hoặc ít ra được xem kịch bản của phim do chính đạo diễn viết, chúng ta sẽ thấy lời bình trong phim quan hệ tới mức độ nào. Không có lời bình thì chỉ là một phim câm, cái đó đã hẳn, nhưng điều quan trọng, đó là lời bình do Trần Văn Thủy viết. Lời ấy là linh hồn của phim. Đó là những lời gãy gọn dễ hiểu nhưng mang khả năng khái quát rất cao – xem/nghe tới đâu thấm thía tới đó, và đặc biệt là nó có khả năng dẫn dắt người xem hiểu ra ngoài, vượt lên trên những gì đang xem. Như thế, lời bình đã chứa đựng triết lý của sự việc, sự vật, nâng chúng lên một tầng phổ quát.

Rất nhanh, thế giới đã bắt được các tín hiệu nhân bản mà TrầnVăn Thủy đã gửi gắm trong phim Chuyện Tử Tế. Vào cuối những năm 80 có tới hơn 10 đài Truyền hình lớn trên thế giới mua bản quyền Chuyện Tử Tế, và đạo diễn Mỹ John Gianvito đã đề cử ChuyệnTử Tế là một trong mười bộ phim Tài liệu hay nhất thế giới của mọi thời đại. Những chuyện như thế chưa từng xảy ra với Điện ảnh Việt Nam.

Cách đây hơn mười năm Trần Văn Thủy đã xuất bản cuốn sách có nhan đề Nếu Đi Hết Biển, nêu lên một thắc mắc vừa cụ thể vừa siêu hình: nếu đi hết biển thì sẽ tới đâu? Thoạt đầu với khái niệm trái đất tròn, tác giả cho rằng “nếu đi hết biển, qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi thì cuối cùng lại trở về quê mình, làng mình”. Nhưng nhiều năm sau, khi tác giả đã đi đến đất Mỹ thì mới thấy rằng người Việt xa xứ “qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi” mà cuối cùng không thể “trở về quê mình, làng mình” được.

Cuốn sách mới nhất Trong Đống Tro Tàn này cho chúng ta cảm tưởng tác giả không còn điều thắc mắc ấy nữa. Con đường địa lý của quả địa cầu dù trên mặt đất hay mặt biển thì rất rõ ràng, đi mãi thì có thể trở về nơi mình xuất phát. Nhưng con đường của lòng người, với bao nhiêu thứ hệ lụy của cuộc sống thì không thể vạch một lộ trình đơn giản nào. Tâm trạng và mục tiêu của người Việt Nam khi dong thuyền ra khơi để làm một chuyến vượt biên không lãng mạn tự hỏi đi hết biển thì sẽ đến đâu, mà là nhắm tới một bến bờ cụ thể nào đó mình có thể sống được một đời sống tự do, xứng đáng là của một con người. Nhưng một khi cuộc sống đã ổn định trên miền đất mới, thì chắc chắn con đường quay về quê cũ trong lòng họ vẫn còn, dưới rất nhiều dạng: chính trị, kinh tế, tình cảm… hoặc lắm khi chỉ là một giấc mơ về một đất nước tốt đẹp hơn, đáng sống hơn.

Nhưng đâu phải chỉ có con đường cụ thể với hai hướng đi và về nó ràng buộc chúng ta. Trong lòng bất cứ ai cũng có thể mở ra vô số con đường sẽ dẫn đến vô số nơi mà chính trong tác phẩm Trong Đống Tro Tàn tác giả luôn luôn đề cập tới: con đường của lòng tử tế, của sự nhân ái. Con đường tình người rộng rãi thênh thang…

Nhạc sĩ Phạm Duy khi viết câu kết cho trường ca Con Đường Cái Quan của ông, đã mô tả cảm nhận của người Việt Nam khi đã hoàn tất cuộc Nam Tiến của mình tại Mũi Cà Mau:

Đường đi đã tới! Lòng dân đã nối!
Người tạm dừng bước chân vui! Người ơi!
Người mơ ước tới: đường tan ranh giới
Để người được mãi
Đi trong một duyên tình dài.
Con đường thế giới xa xôi,
Trong lòng dân chúng nơi nơi.

Phải chăng khi viết những câu này vào năm 1960, Phạm Duy đã có tiên cảm về “con đường thế giới xa xôi” mà người Việt Nam sẽ dấn bước vào, và sau này đã gây thắc mắc về một bờ bến nơi Trần Văn Thủy? Nhưng Phạm Duy cũng thấy ra niềm vui trong “một duyên tình dài”, phải chăng đó là tình của nhân loại, của sự Tử Tế, của lòng Nhân Ái mà Trần Văn Thủy thao thức và vận động suốt đời ông để mong cho nó thắng cái xấu và cái ác?

Nam California ngày 01 tháng Mười Một, 2016.

NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim

Quên tên cây
làm thuyền
Tận cùng nỗi cô đơn
– độc mộc!

Khoét hết ruột
Chỉ để một lần ngược thác
bất chấp đời
lênh đênh…‘ (*)

 

hứng mật đời
thành thơ
việc nghìn năm hữu lý
trạng Trình

đến trúc lâm
đạt năm việc lớn hoàng thành
đất trời xanh
Yên Tử …

(*) thơ Trịnh Tuyên
Hoàng Kim họa đối
Nguồn: Nhớ Trịnh ngày Tình Yêu (Hoàng Kim)
Ngọc phương Nam (Hoàng Kim)

Video yêu thích

Đối thoại với Thiền sư

baihoccuocsong

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG CNM365  Đối thoại với Thiền sư. Hoàng Kim Lắng học lời hay tâm tư thanh thản Tỉnh thức ban mai nhớ đến bạn hiền. Nắng sớm chan hòa  trái tim nhẹ nhõm Kho báu chính mình phúc hậu an nhiên. Đến chốn thung dung, xem tiếp…https://hoangkimlong.wordpress.com/category/doi-thoai-voi-thien-su/

DinhTuyetSon

Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết Sơn, bài viết của Hoàng Kim, được chú ý trên trang Nghiên cứu lịch sử ngày 1.8. 2016. Những hé lộ về bí mật kho báu trên núi Tuyết đã giúp tư liệu đánh giá ba vấn đề lớn tồn nghi trong lịch sử: 1) Ngoại giao thời vua Càn Long với nhà Tây Sơn. 2) Lý Tự Thành và kho báu nhà Minh. 3) Vì sao Trung Quốc quyết không cho Tây Tạng tự trị?. xem tiếp… https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bi-mat-kho-bau-tren-dinh-tuyet-son/

108 Lời Dạy Thực Tiễn Đức Đạt Lai Lạt Ma (DaLai LaMa) lắng nghe và suy ngẫm. Tây Tạng Và Cuộc Đời Của Đức Đạt Lai Lạc Ma  tài liệu trên BBC do Trương Thanh Phong thông tin.

Đức Đạt Lai Lạt Ma nghĩ gì về Pháp Luân Công và vấn đề ở Tây Tạng giúp chúng ta một góc nhìn tham chiếu về thế giới ngày nay và thái độ ứng xử.

Video yêu thích

Đối thoại với Thiền sư

baihoccuocsong

CNM365 TÌNH YÊU CUỘC SỐNG Đối thoại với Thiền sư. Hoàng Trung Trực. Vững trụ đức tin đạo chí thành. Vô cầu, vô niệm bả công danh. Sớm hôm tu luyện rèn thân trí. Đạo cốt tình thương, đức mới thành.

Đối thoại với Thiền sư

Hoàng Trung Trực

Vất bỏ ngoài tai mọi chuyện đời
Lòng không vướng bận dạ an thôi
Ráng vun đạo đức tròn nhân nghĩa
Huệ trí bùng khai tỏa sáng ngời !

Lồng lộng đêm nghe tiếng mõ kinh
Bao nhiêu ham muốn bỗng yên bình
Tâm tư trãi rộng ngàn thương mến
Mong cả nhân loài giữ đức tin…

Thượng đế kỳ ba giáo độ đời
Vô minh cố chấp tại con người
Thành Tiên tùy hạnh tùy công đức
Ngôi vị thiêng liêng tạo bởi người…

Vững trụ đức tin đạo chí thành.
Vô cầu, vô niệm bả công danh.
Sớm hôm tu luyện rèn thân trí.
Đạo cốt tình thương đức mới thành.

Thangnamnholaivasuyngam8
(*) Hoàng Trung Trực sinh ngày 26 tháng 2 năm 1944 tại xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, là đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam thời chống Mỹ, thương binh bậc 2/4, nghĩ hưu tháng 11/1991 tại số nhà 28/8/25 đường Lương Thế Vinh, phường Tân Thới Hòa, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh. Bài đã đăng ở trang Dạy Và Học

Về nơi tịch lặng

Thích Giác Tâm (**)

Kính tặng quý thiện hữu cùng một trăn trở, ưu tư cho Đạo Pháp .

Ta rất muốn đi về trong tịch lặng.
Quẳng lại sau lưng nhân thế muộn phiền.
Lòng thao thức Đạo Đời luôn vướng nặng.
Mũ ni che tai, tâm lại hóa bình yên.

Đời chộn rộn sao còn theo chộn rộn?
Đạo hưng suy ta mất ngủ bao lần.
Đời giả huyễn thịnh suy luôn bề bộn.
Đạo mất còn ta cứ mãi trầm ngâm.

Vai này gánh  cho vai kia nhẹ bớt.
Tìm tri âm ta nặng bước âm thầm.
Sợi tóc bạc trên đầu còn non nớt.
Tháng năm nào ta thấy lại nguồn tâm ?

(**) Thích Giác Tâm:  Thầy Thích Giác Tâm là vị cao tăng trụ trì ở chùa Bửu Minh, Biển Hồ ‘mắt ngọc Tây Nguyên” Pleiku – Gia Lai, nơi điểm nhấn của dòng sông Sê San huyền thoại, một trong các chi lưu chính của sông Mekong bắt nguồn từ núi Ngọc Linh và Chư Yang Sin nổi tiếng Tây Nguyên, Việt Nam. Bửu Minh (www.chuabuuminh.vn) là ngôi chùa cổ, một trong những địa chỉ văn hóa gốc của Tây Nguyên. Về nơi tịch lặng trích dẫn từ nguồn “Đạo Phật ngày nayhttp://www.daophatngaynay.com/vn/van-hoc/tho/15739-ve-noi-tich-lang.html

Đến chốn thung dung

Hoàng Kim

Tặng thầy Thích Giác Tâm

Người rất muốn đi về trong tịch lặng
Quẳng lại sau lưng nhân thế muộn phiền
Ta đến chốn thung dung tìm hoa lúa
Rong chơi đường trần sống giữa thiên nhiên.

Tâm thanh thản buồn vui cùng nhân thế
Đời Đạo thịnh suy sương sớm đầu cành
Lòng hiền dịu và trái tim nhẹ nhõm
Kho báu chính mình phúc hậu an nhiên.

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Trăng rằm xuân lồng lộng bóng tri âm
Người tri kỷ cùng ta và năm tháng.
Giác Tâm: Ta về còn trọn niềm tin.

HoangKim

hoabinhminh

Hoa Bình Minh Như Nhiên.  NẮNG BAN MAI. Hoàng Kim. Sớm xuân cuối đêm lạnh. Tỉnh thức Hoa Bình Minh. Nắng Ban Mai ghé cửa Cười nụ nhớ Như Nhiên. Thích chia cùng thiền sư Giọt sương mai đầu nụ bạch ngọc thích tánh tuệ Trăng rằm thương mẹ hiền…

HOA BÌNH MINH

Thích Tánh Tuệ

Hãy bắt đầu ngày mới
Hồn nhiên một nụ cười!
Nụ cười thành hoa nắng
Gửi đất trời.. Muôn nơi..
 
– Đừng ước mơ thay đổi
Cả thế giới quanh mình
Đó chỉ là ảo tưởng
Hãy đổi thay cách nhìn.
 
– Nếu đời quăng trái chanh
Nhớ làm ly giải khát
Nhỡ gặp người tệ, ác
Biến rác thành bông hoa!
 
Đừng quan trọng thái quá
Mọi việc nơi trần gian
Chuyện chi rồi cũng vậy
Rủ nhau cùng.. mây tan!
 
Mấy mươi năm mở mắt
Rồi ngủ vùi đất sâu..
Sống một ngày Tỉnh Thức 
Ấy- đã là thiên thâu.
 
Niềm an vui vốn dĩ
Từ nội tâm yên bình
Khi lòng đầy hoan hỉ
Thế giới này đẹp xinh. 

Như Nhiên

Video yêu thích

Đối thoại với Thiền sư

DongXuan

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Đến chốn thung dung. Người rất muốn đi về trong tịch lặng Quẳng lại sau lưng nhân thế muộn phiền Ta đến chốn thung dung tìm hoa lúa Rong chơi đường trần sống giữa thiên nhiên … Hoàng Kim đối thoại với Thiền sư: Về nơi tịch lặng, thầyThích Giác Tâm; Về trong tỉnh thức, Tỷ phú thời gian, Trở về với tâm, thầy Thích Tánh Tuệ.

ĐẾN CHỐN THUNG DUNG

Hoàng Kim

Người rất muốn đi về trong tịch lặng
Quẳng lại sau lưng nhân thế muộn phiền
Ta đến chốn thung dung tìm hoa lúa
Rong chơi đường trần sống giữa thiên nhiên.

Tâm thanh thản buồn vui cùng nhân thế
Đời Đạo thịnh suy sương sớm đầu cành
Lòng hiền dịu và trái tim nhẹ nhõm
Kho báu chính mình phúc hậu an nhiên (*).

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt (**)
Trăng rằm xuân lồng lộng bóng tri âm
Người tri kỷ cùng ta và năm tháng.
Giác Tâm: Ta về còn trọn niềm tin.

(*) PHẬT BẢO ‘BUÔNG BỎ’ LÀ BUÔNG BỎ CÁI GÌ?

1. Buông bỏ việc tranh luận đúng sai.
2. Buông bỏ tâm thái muốn khống chế người khác.
3. Buông bỏ sự trách móc, hờn giận.
4. Buông bỏ cảm xúc dằn vặt bản thân mình.
5. Buông bỏ tự ti về hiểu biết hữu hạn của bản thân.
6. Buông bỏ tâm phàn nàn, xét nét.
7. Buông bỏ cái tâm thái phê bình người khác và sự việc khác.
8. Buông bỏ tâm cầu danh, hám danh.
9. Buông bỏ tính lười nhác, thiếu cố gắng.
10. Buông bỏ tâm thái tùy ý nhận định người khác.
11. Buông bỏ sự sợ hãi.
12. Buông bỏ tâm bao biện.
13. Buông bỏ quá khứ.
14. Buông bỏ tâm cố chấp.
15. Buông bỏ việc nhìn vào người khác, sống cuộc sống của chính mình.

(**) Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt : Nhạc Trịnh.

Hoàng Kim là nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ quê Quảng Bình

 

ChuaBuuMinh
VỀ NƠI TỊCH LẶNG

Thích Giác Tâm

Ta rất muốn đi về trong tịch lặng.
Quẳng lại sau lưng nhân thế muộn phiền.
Lòng thao thức Đạo Đời luôn vướng nặng.
Mũ ni che tai, tâm lại hóa bình yên.

Đời chộn rộn sao còn  theo chộn rộn?
Đạo hưng suy ta mất ngủ bao lần.
Đời giả huyễn thịnh suy luôn bề bộn.
Đạo mất còn ta cứ mãi trầm ngâm.

Vai này gánh  cho vai kia nhẹ bớt.
Tìm tri âm ta nặng bước âm thầm.
Sợi tóc bạc trên đầu còn non nớt.
Tháng năm nào ta thấy lại nguồn tâm ?

(Thích Giác Tâm là vị cao tăng trụ trì ở chùa Bửu Minh,  
Biển Hồ  Pleiku – Gia Lai

VỀ TRONG TỈNH THỨC

Thích Tánh Tuệ

Em đừng mãi loay hoay tìm chỗ đứng
Cần hỏi mình rằng: ” phải Sống làm sao? ”
Vẫn có đấy, những người trong thầm lặng
Cúi xuống tận cùng mà hồn lại thanh cao!

Đời lắm lúc, vui cũng làm ta khóc,
Mà buồn tênh.. vẫn khiến rộ môi cười?
Hạnh phúc đến từ những điều bình dị
Trong chập chùng mưa nắng, giữa buồn, vui..

Đời đau khổ vì biến thành nô lệ
Cho ”hồn ma bóng quế” những phù hư..
Người nghèo khó dẫu tiền rừng bạc bể
Còn ta giàu dù.. túi chẳng một xu.

Em đừng mãi đi xa tìm hạnh phúc
Hãy yên ngồi nhận diện ở chung quanh..
Có đôi lúc thiên đường và địa ngục
Chỉ cách nhau bằng một sợi tơ mành..

Đời bể khổ – ta có quyền không khổ
Thân buộc ràng, ai nhốt được hồn mây?
Lòng thanh thản niềm vui tìm bến đổ
Khổ vì ưa ước hẹn kiếp lưu đày.

Thôi đừng mãi băn khoăn tìm lẽ sống
Lý tưởng thường… tưởng có lý thôi em!
Sống Tỉnh Thức giữa chập chùng ảo mộng
Hạnh phúc theo hơi thở đến bên thềm…

TỶ PHÚ THỜI GIAN

Thích Tánh Tuệ

Ta là tỷ phú thời gian
Bước chân thong thả đi ngang cuộc đời
Một dòng tất bật ngược xuôi
Ta riêng ngồi lại với hơi thở mình.

Một dòng nhộn nhịp sắc thinh
Ta xin lắng đọng hòa mình thiên nhiên.
Sáng ra nhìn nụ hoa hiền
Chuyện cùng cây lá bình yên sau vườn

Hỏi thầm khe khẽ giọt sương
Này, em có biết vô thường sắc-không!
Chiều về bát ngát mênh mông
Trầm hương đốt nén, trải lòng nơi nơi.

Trăng non một mảnh ngang trời
Kinh đêm ta tụng là lời yêu thương.
– Trăm năm giấc mộng huỳnh lương
Rộn ràng chi lắm cố hương xa vời.

Có ai tỉnh thức giữa đời
Về đây ta sẽ chia đôi gia tài.
Cuộc đời đó, vốn không dài
Hãy cho hồn được… thoát thai mây ngàn

Ta là tỷ phú thời gian
Vì không nô lệ lòng tham chính mình.

TRỞ VỀ VỚI TÂM

Thích Tánh Tuệ

Nếu đánh mất đi Nhiệt-Tâm
Con người trở nên lạnh nhạt
Năm tháng trôi qua âm thầm
Một ngày, một đời không khác.

Nếu đánh mất đi Trọng-Tâm
Bước chân con người nghiêng ngã
Sống trong cõi đời thăng trầm
Thiếu chỗ tựa nương, buồn bả.

Nếu đánh mất đi Thành-Tâm
Con người dễ cùng giả dối
Đằng sau dáng vẻ ân cần
Thường đã ươm mầm phản bội.

Nếu đánh mất đi Nhân-Tâm
Con người sát bên tàn nhẫn
Từ đồng loại đến hạ cầm
Ra tay.. chẳng hề ân hận.

Nếu đánh mất đi Lương-Tâm
Con người vô cùng nguy hiểm
Đạp trên lẽ phải mà đi
Bỏ mặc lương tri, hạnh kiểm.

Nếu đánh mất đi Từ-Tâm
Con người biến thành vô cảm
Niềm đau, nỗi khổ tha nhân..
Một tia mắt nhìn lãnh đạm.

Nếu đánh mất đi Tín-Tâm
Con người hoài nghi, thất vọng
Đóng cửa, sống trong âm thầm
Cho thế nhân toàn hư, hỏng.

Nếu đánh mất đi Chuyên-Tâm
Con người sống không mục đích
Khi thế này, lúc thế kia
Khó thể là người hữu ích.

Nếu đánh mất đi Quyết-Tâm
Con người sống trong rũ rượi
Cứ lưỡng lự rồi phân vân
Không bước chân làm sao tới.

Nếu đánh mất đi Chân-Tâm
Con người u mê, điên đảo
Tự mình xây ngục giam cầm
Không biết đâu là lẽ đạo.

Mất tâm, đời liền chao đảo
Thiếu tâm, phiền não trùng vây
Biết tâm, trở về sống với
Bao nhiêu mầu nhiệm hiển bày ..,

Thích Tánh Tuệ là vị cao tăng Việt có trong thư viện Hoa Sen Thiền và Đời sống

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter