Nguyễn Du tâm hồn Việt

NGUYỄN DU TÂM HỒN VIỆT
Hoàng Kim

Hành trạng cụ Nguyễn Du và nguồn gốc truyện Kiều ngày nay còn nhiều bàn luận. Bài viết này chỉ đưa chứng cứ mà không luận bàn, điều này thuộc về lịch sử và công luận. Nguyễn Du tâm hồn Việt là bài viết nhằm soi tỏ bình sinh và hành trạng của cụ Nguyễn Du thời Tây Sơn; xem tiếp http://hoangkimlong.wordpress.com/category/nguyen-du-tam-hon-viet/

Niên biểu cuộc đời Nguyễn Du chia làm hai thời: Nguyễn Du thời Tây Sơn (1765-1802), với Nguyễn Du thời nhà Nguyễn (1797- 1820), Trong Nguyễn Du thời Tây Sơn chia làm hai kỳ Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ (1765- 1780),  Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781- 1796). Giai đoạn mười lăm năm lưu lạc của Nguyễn Du có “Năm năm hùng cứ một phương hải tần”, “Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà”, “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” (1781- 1786),

Chữ dùng trong Truyện Kiều và gia tộc Nguyễn Du thực chất thế lực thời ký ấy, cha anh kế tiếp nhau đứng đầu của triều đình thời hậu Lê Trịnh, và người thân cùng học trò hùng cứ khắp nơi)

Nguyễn Du mười năm gió bụi (1787- 1796) có năm năm Nguyễn Du làm Nam Hải Điếu Đồ (1792-1796) “Khen cho con mắt tinh đời. Anh hùng đoán giữa trần ai mới già” và “Năm năm Hồng Sơn Liệp Hộ” (1796-1802) “Bạc đầu tráng sĩ ngẩng trời than / Dựng nghiệp, mưu sinh thảy lỡ làng”. Nguyễn Du đã có mười lăm năm lưu lạc khớp đúng với truyện Kiều và khớp đúng mười lăm năm “bảy nổi ba chìm với nước non” như thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương .Nguyễn Du thời nhà Nguyễn (1797- 1820) có mười tám năm làm quan, ông đã đạt chính tích thật rõ ràng, được chính sử triều Nguyễn với Truyện Kiều và Bắc Hành lưu dấu “Thiện căn cốt ở lòng ta. Chữ tâm lia mới bằng ba chữ tài”; “Có tài mà cậy chi tài. Chữ tài liền với chữ tai một vần”;”Bắt phong trần phải phong trần Cho thanh cao mới được phần thanh cao”.

Hành trạng cụ Nguyễn Du, được soi tỏ qua chùm chuyên luận: Nguyễn Du thơ chữ Hán; Nguyễn Du tư liệu quý; Nguyễn Du niên biểu luận; Nguyễn Du Hồ Xuân Hương; Nguyễn Du Nguyễn Công Trứ; Nguyễn Du thời Tây Sơn;’ Nguyễn Du làm Ngư Tiều; Nguyễn Du thời nhà Nguyễn; Nguyễn Du tiếng tri âm; Nguyễn Du trăng huyền thoại; Nguyễn Du không chỉ là nhà thơ lớn, danh nhân văn hóa thế giới mà thật sự là danh sĩ tinh hoa, minh sư, hiền tài lỗi lạc, vượt lên vinh nhục bản thân giữa thời nhiễu loạn, vàng lầm trong cát để trao lại ngọc cho đời. “Nguyễn Du là người rất mực nhân đạo trong một thời đại ít nhân đạo” nhà văn Pháp Joocjo Budaren đã nói như

vậy. Nguyễn Du chí thiện, nhân đạo, minh triết, mẫu hình con người văn hóa tương lai. Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thấm sâu vào hồn Việt và lan tỏa khắp thế giới. Kiều Nguyễn Du là bài học tâm tình hồn Việt. Nguyễn Du với chứng cứ là sách “Bắc hành” và “Truyện Thúy Kiều” đã được minh chứng trong chính sử Đại Nam chính biên liệt truyện, mục Nguyễn Du Quyển 20, tập 2, trang 400/716 trang, với bằng chứng thứ hai là Minh Mệnh ngự phê tổng thuyết “Truyện Thúy Kiều” năm 1830, đủ bằng cớ không thể chối cãi ông là tác giả của HAI SÁCH NGOẠI GIAO LỊCH SỬ VĂN HÓA NÀY. Nguyễn Du trăng huyền thoại Đi săn ở núi Hồng Thời Hồng Sơn Liệp Hộ ẩn ngữ giữa đời thường là một phần trong chuyên khảo đó.

Linh Nhạc Phật Ý thiền sư tại Tổ Đình ngôi chùa cổ ở Thủ Đức, người đã cứu thoát Nguyễn Vương trong giấc mơ lạ “Nguyễn Du nửa đêm đọc lại”. Cụ đã khuyên tôi phải dành thời gian soát xét rất kỹ lập hồ sơ “Nguyễn Du niên biểu luận” cuộc đời và thời thế Nguyễn Du theo từng năm , trước khi đi sâu tìm hiểu và bàn luận bất cứ điều gì về Nguyễn Du. Theo lý giải của Cụ, là có lần tìm theo đúng dấu vết hàng năm của Nguyễn Du, theo đúng thời thế đã xảy ra và chi phối những sự kiện trọng yếu ấy, thì mới có thể hiểu đúng sự thật và huyền thoại về bình sinh và hành trạng Nguyễn Du. Khi xác minh được những sự kiện chính tại đàng Trong, đàng Ngoài và các nước liên quan trong mối quan hệ của gia tộc Nguyễn Du với phép quy chiếu lấy chính Nguyễn Du làm trung tâm thì thông tin ấy sẽ thực sự có ích để bổ sung các dẫn liệu về lịch sử, văn hóa, con người cho bối cảnh hình thành kiệt tác Truyện Kiều, giúp thấu hiểu ẩn ngữ “300 năm nữa chốc mòng biết ai thiên ha khóc cùng Tố Như”.

Thông tin Nguyễn Du trăng huyền thoại tại https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nguyen-du-trang-huyen-thoai/ Tác phẩm này bao gồm chín bài, mục lục như sau: 1 Nguyễn Du thơ chữ Hán Kiếm bút thấu tim Người, Đấng danh sĩ tinh hoa, Nguyễn Du khinh Thành Tổ, Bậc thánh viếng đức Hòa 2 Nguyễn Du tư liệu quý Linh Nhạc thương người hiền, Trung Liệt đền thờ cổ, “Bang giao tập” Việt Trung, Nguyễn Du niên biểu luận 3 Nguyễn Du Hồ Xuân Hương “Đối tửu” thơ bi tráng, “Tỏ ý” lệ vương đầy, Ba trăm năm thoáng chốc, Mại hạc vầng trăng soi. 4 Nguyễn Du Nguyễn Công Trứ Uy Viễn “Vịnh Thúy Kiều”, Tố Như “Đọc Tiểu Thanh”, Bến Giang Đình ẩn ngữ, Thời biến nhớ người xưa. 5 Nguyễn Du thời Tây Sơn Mười lăm năm tuổi thơ, Mười lăm năm lưu lạc, Thời Hồng Sơn Liệp Hộ, Tình hiếu thật phân minh 6 Nguyễn Du làm Ngư Tiều Câu cá và đi săn, Ẩn ngữ giữa đời thường, Nguyễn Du ức gia huynh, Hành Lạc Từ bi tráng 7 Nguyễn Du thời nhà Nguyễn Mười tám năm làm quan, Chính sử và Bài tựa, Gia phả với luận bàn. Bắc hành và Truyện Kiều 8 Nguyễn Du tiếng tri âm Hồ Xuân Hương là ai, Kiều Nguyễn luận anh hùng, Thời Nam Hải Điếu Đồ, Thời Hồng Sơn Liệp Hộ 9 Nguyễn Du trăng huyền thoại Đi thuyền trên Trường Giang,Tâm tình và Hồn Việt, Tấm gương soi thời đại. Mai Hạc vầng trăng soi,

Mục từ NGUYỄN DU trong Bách Khoa Thư Việt Nam (BKTVN) ngày nay do Phó Thủ Tướng Vũ Đức Đam và Hội đồng biên tập BKTVN chủ trì biên soạn. Wikipedia Tiếng Việt là Từ Điển Bách Khoa Mở cũng đều chủ trương có 3-5 câu Tổng thuyết ngắn về mỗi nhân vật lịch sử cần viết, để tiếp tục làm sáng tỏ cho sự đánh giá tiếp theo và giúp bạn đọc dễ theo dõi không làm mất thì giờ. Phó giáo sư Đào Thế Anh và giáo sư Nguyễn Tử Siêm là tân và cựu Trưởng ban của BKTVN tập 9 Nông nghiệp và Thủy lợi hẳn đồng tình với cách nghĩ như vậy chứ ạ. Bởi nghiên cứu địa lý học lịch sử và danh nhân văn hóa thì phương pháp tiếp cận cũng là phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành. Hoàng Kim đồng tình với o Phan Lan Hoa là “Chỉ khi đúc kết rồi viết cảm tưởng sau chưa muộn ạ” nhưng tôi phải nêu trước những ý này để tránh lan man dài dòng và tránh sự hiểu lầm cho tác giả bài viết là tôi tuyệt nhiên không muốn tranh cãi với ai cả, mà chỉ duy nhất quan tâm soi thấu sự thật lịch sử mà thôi.

Phan Lan Hoa bạn tiếp tục viết đi, người đọc kỹ, soi kỹ như bạn là thật quý hiếm lắm đấy. Thầy giáo Nhà văn Nguyễn Thế Quang người viết sách tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Du ngày 1 tháng 11 năm 2020 đã viết bài ” Một số vấn đề tồn tại của văn bản Truyện Kiều” đã chỉ ra thực trạng “Những người quan tâm đến điều này trước đây đã tìm được câu trả lời trong Đại Nam chính biên liệt truyện do Quốc Sử quán Triều Nguyễn biên soạn, ở quyển 20 (truyện các quan mục XVII), phần Nguyễn Du ghi rõ: “Du trường ư thi, vưu thiện quốc âm, Thanh sứ hoàn dĩ Bắc hành thi tập cập Thúy Kiều hành thế” (Du rất giỏi về thơ và thơ quốc âm rất hay, khi sang sứ nước Thanh về có tập thơ Bắc hành và truyện Thúy Kiều ra đời). Rõ ràng đây là sự khẳng định của tổ chức quản lý nhà nước cao nhất của Nguyễn Du. Nhiều người tin vào điều đó. Thế nhưng từ năm 1943, học giả Đào Duy Anh bắt đầu đặt lại vấn đề Nguyễn Du viết Đoạn trường tân thanh vào lúc nào đăng trên tạp chí Tri Tân số 96, ngày 20/5/1943. Từ đó đến nay có nhiều người tìm các dấu hiệu từ văn bản Truyện Kiều nêu lên nhiều giả thuyết dự đoán Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều ở những thời điểm khác nhau mà ngày càng không thống nhất, càng rối thêm. Hoàng Kim thì tin rằng cụ Đào Duy Anh là rất cẩn trọng khoa học nhưng khối thông tin Nhà Nguyễn đang giải mã với sự thật lịch sử ngày một rõ hơn giúp chúng ta xác nhận rõ hơn các chứng cứ sự thật mà thời trước chưa thể sáng tỏ. Và, PGS TS Nguyễn Hữu Sơn, Viện Văn học cũng có bài viết “Tiếp nhận Truyện Kiều thời Đổi mới” khuyến khích một góc nhìn đa chiều, tiếp tục khai thác sâu hơn các chứng cứ sự thật http://tuyengiao.vn/van-hoa-xa-hoi/van-hoa/tiep-nhan-truyen-kieu-thoi-doi-moi…

Phan Lan Hoa đọc bài HÀNH LẠC TỪ NGUYỄN DU mà thấu hiểu cái cô đơn ngược lường của nữ sĩ. Bạn đừng buồn . Người đọc nhiều người biết lắng nghe và nhận biết. Mình dường như thấy rằng trong tứ thơ này Nguyễn Du có đối thoại với Ngô Thì Nhậm. Thời điểm này Ngô Thì Nhậm đã rời bỏ Nhà Tây Sơn để tu Phật. Mời bạn đọc bình luận của mình với Ngô Thì Nhậm ở góc nhìn Nguyễn Du niên biểu luận (dưới ý này) HÀNH LẠC TỪ Nguyễn Du Trên núi có hoa đào tươi đẹp như tấm lụa đỏ,sáng sớm còn đùa giỡn với màu xuân đẹp,chiều tối đã nằm giữa bùn lầy.Hoa đẹp không được trăm ngày, người sống lâu mấy ai trăm tuổi, chuyện đời lắm đổi thay, kiếp phù sinh nên cứ vui chơi.Trên tiệc có gái đẹp như hoa, trong vò có rượu quý như nổi sóng vàng, tiếng thúy quản, tiếng ngọc tiêu (tiếng kèn, tiếng sáo) khi mau khi chậm,được dịp hát to cứ hát to.Người không thấy ông Vương Nhung cầm thẻ ngà, ngày nào cũng tính toán mà trong bụng vẫn thấy chưa đủ. Đài Tam công cũng đổ, cây mận ngon cũng chết, bạc vàng tiêu tan cho người khác hưởng.Lại không thấy ông Phùng Đạo lúc về già phú quý xiết bao, trải mấy triều vua không rời gối khanh tướng, thế mà miếng đỉnh chung rốt cuộc vẫn không, nghìn năm chỉ lưu lại bài Trường Lạc Tự. Phú quý trước mắt không khác gì phù vân, người nay chỉ biết cười người xưa,người chết mồ mả đã ngổn ngang, người sau vẫn bôn tẩu rộn ràng? Xưa nay kẻ hiền người ngu cũng chỉ trơ lại một nấm đất, không ai vượt qua cửa ải sống chết, khuyên anh nên uống rượu rồi vui chơi, kìa trong cửa sổ phía tây, bóng mặt trời đã xế. Chú thích: Vương Nhung: một trong Trúc Lâm thất hiền đời Tấn, nhà giàu ruộng vườn khắp các châu, nhưng lại là tay biển lận, ngày nào cũng cầm bàn tính, thẻ ngà trong tay để tính toán, trong nhà có cây mận rất ngon, bán quả sợ người ta được giống, nền dùi nát hột đi rồi mới bán. Phùng Đạo, người đời Ngũ Đạo, tính chất phác văn chương hay, làm khanh tướng dưới bốn triều Đường, Tấn.. tự đặt hiệu là Trường Lạc lão có làm bài Trường Lão lạc tứ tự kể chuyện mình thờ bốn họ, sáu ông vua. Đọc bài thơ Hành Lạc Từ của Nguyễn Du chúng ta tìm lại được cái an vui thanh thản triết lý Á Đông của nhà nho ngày xưa.

Phan Lan Hoa đọc vụ án năm Canh Thìn 1780 và bài Ngắm dấu chân thời gian của Hoàng Kim với nhận định : “Ngô Thì Nhậm thời Tây Sơn là nhân vật lịch sử gây ra nhiều tranh luận, nhưng cho dù khen hay chê thì Ngô Thì Nhậm dấu chân thời gian vẫn bền vững là một mưu thần lỗi lạc và nhà ngoại giao xuất chúng của Nguyễn Huệ. Ngô Thì Nhậm có công lớn trong việc tổ chức cai trị Bắc Hà và ngoại giao thời Tây Sơn đã đánh lui và chế thắng nhà Thanh dòm ngó, chia rẽ, lợi dụng tranh đoạt nước Đại Việt lúc ấy. Ngô Thì Nhậm tự Hi Doãn, hiệu Ðạt Hiên, pháp danh Hải Lượng thiền sư, sinh ngày 25 tháng 10 năm 1746, nhằm ngày 11 tháng 9 năm Bính Dần, người làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội. Ngô Thì Nhậm sinh trưởng trong một gia đình đại trí thức ở chốn Bắc Hà, cha của ông là Ngô Thì Sĩ. Hai cha con của ông đều là quan đại thần giữ trọng trách lớn được tin dùng đặc biệt của chúa Trịnh Sâm và nhà Hậu Lê. Do sự tranh đoạt không đội trời chung giữa chúa Trịnh Sâm và thái tử Lê Duy Vĩ gây nên sự chia rẽ và nội loạn đặc biệt sâu sắc của triều đình Lê Trịnh mà sau vụ án Canh Tý 1780, Nguyễn Khắc Tuân, Nguyễn Phương Ðỉnh, Chu Xuân Hán bị khép án tử hình, Nguyễn Khản (anh Nguyễn Du) cũng bị khép trọng tội.Nghi án lớn nhất của Ngô Thì Nhậm liên quan trực tiếp đến vụ án năm Canh Tý 1780. Trịnh Tông là con trai trưởng của Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm âm mưu đảo chính diệt trừ phe Ðặng Thị Huệ và Quận Huy, lúc Trịnh Sâm bị bệnh nặng. Trịnh Tông biết rõ cha định phế trưởng lập thứ là Trịnh Cán con trai Ðặng Thị Huệ lên ngôi chúa nên đã liên kết với thầy học là Nguyễn Khản trấn thủ Sơn Tây, Nguyễn Khắc Tuân trấn thủ Kinh Bắc, và một số quan lại khác tại triều như Nguyễn Phương Ðỉnh, Chu Xuân Hán… xuất tiền mua vũ khí, chiêu mộ binh mã, chờ Trịnh Sâm chết là khởi sự. Bất ngờ Trịnh Sâm khỏi bệnh và âm mưu bị bại lộ. Sâm đích thân đàn áp những người tham dự vào âm mưu đảo chính. Sau vụ đàn áp đẫm máu này, Ngô Thì Nhậm được thăng chức làm Công bộ Hữu thị lang.Vụ án năm Canh Tý 1780 khiến giới sĩ phu Bắc Hà cho rằng Ngô Thì Nhậm cùng Nguyễn Huy Bá tố cáo âm mưu đảo chính cho Trịnh Sâm biết, nhờ thế sau khi đàn áp, Sâm thưởng công cho Ngô Thì Nhậm bằng chức tước cao trọng. Sách ”Việt sử thông giám cương mục” của triều Nguyễn viết: “Ngô Thì Sĩ bị nhục nhã vì đứa con bất hiếu nên đã uống thuốc độc tự tử. Ngô Thì Nhậm “sát tứ phụ nhi thị lang” (giết bốn cha để được chức Thị lang). Bốn cha là chỉ Ngô Thì Sĩ tự tử và ba người bạn vong niên của cha là Nguyễn Khản, Nguyễn Phương Ðĩnh và Nguyễn Khắc Tuân bị giết.Sách Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch cũng khẳng định như vậy. Sách “Hoàng Lê Nhất Thống Chí” và “Ngô gia thế phả” của dòng họ Ngô Thì biên soạn thì Ngô Thì Nhậm hoàn toàn không liên can vào vụ án, Cha ông là Ngô Thì Sĩ không hề buồn phiền về ông mà trái lại rất tự hào về ông. Ngô Thì Nhậm sở dĩ được chúa Trịnh Sâm thăng chức chỉ vì Ngô Thì Nhậm bị Quận Huy ganh ghét, nên đã sàm tấu làm ông phải mắc oan tai tiếng với đời.

Theo nghiên cứu và trích dẫn của Nguyễn Mộng Giác thì những tài liệu lịch sử khác, độc lập hơn, như “Hậu Lê Thời Sự Kỷ Lược”, “Lịch Triều Tạp Kỷ” tuy ghi nhận dư luận đương thời nhưng cũng không hề nói Ngô Thì Nhậm có liên quan tố cáo vụ đảo chính. Cũng theo Nguyễn Mộng Giác thì có hay không, cho đến ngày nay tuy còn là một nghi vấn, nhưng việc xét công tội của Ngô Thì Nhậm thì không là vấn đề quan trọng nữa. Ngô Thì Nhậm tham dự vào trò chơi chính trị thì phải gánh lấy những hậu quả của các âm mưu tranh giành quyền bính. Oan hay ưng, không thành vấn đề. Sau loạn kiêu binh, ông đã phải trả giá cho trò chơi quyền bính này, phải trốn nấp suốt sáu năm trong nhục nhã, khổ cực.”Ngô Thì Nhậm từ quan quy ẩn về quê vợ Thái Bình cho đến năm 1778, đến lúc Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai giết Vũ Văn Nhậm và xuống chiếu tìm quan lại cũ của cựu triều Hậu Lê để giao trọng trách cai trị Bắc Hà. Ngô Thì Nhậm chấp nhận ra phò tá Nguyễn Huệ. Cựu thần nhà Lê phân hóa cao độ, kẻ theo vua Lê, kẻ theo Nguyễn Ánh, người theo Tây Sơn. Nguyễn Du không ra làm quan mà mười lăm năm lưu lạc và sau về làm “Nam Hải điếu đồ”.(Người câu cá ở biển Nam). Ngô Thì Nhậm lập công đầu cho nhà Tây Sơn trong việc cai trị Bắc Hà và ngoại giao với nhà Thanh. Vua Càn Long và Phúc Khang An có kế sách tinh vi, sâu sắc. Ngoại giao thời Tây Sơn với nhà Thanh được giải mã một phần qua các chuyên luận Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết Sơn và Nguyễn Du 255 năm nhìn lại của Hoàng Kim.Ngô Thì Nhậm cuối năm Mậu Thân 1788 khi 29 vạn quân Thanh kéo sang Đại Việt, do mẹ vua Lê Chiêu Thống cầu viện, ông đã đề ra kế sách cho quân Tây Sơn phòng thủ Bắc Hà là bỏ thành Thăng Long lui binh về giữ phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn (Ninh Bình) để nuôi khí kiêu của địch, dụ địch vào sâu giúp Nguyễn Huệ ra quân thần tốc xuất kỳ bất ý dụng binh thiên tài làm nên chiến thắng xuân Kỷ Dậu năm 1790 của nhà Tây Sơn. Ngô Thì Nhậm sau chiến thắng vang dội này đã được vua Quang Trung giao cho trọng trách Binh bộ Thượng thư chủ trì các chính sách ngoại giao với nhà Thanh. Ông cũng là người đứng đầu một trong những sứ bộ ngoại giao sang Trung Hoa. Từ năm 1792, sau khi vua Quang Trung bị mất đột ngột, ông không còn được tin dùng nữa, đã cáo quan quay về nghiên cứu Phật học.Năm 1802 vua Gia Long tiêu diệt nhà Tây Sơn. Năm 1803, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch và một số sĩ phu Bắc Hà vốn ăn lộc nhà Lê nhưng theo triều Tây Sơn đã bị bắt điệu tới Văn Miếu nọc đánh bằng roi. Đặng Trần Thường là Binh bộ Bắc thành, sau là Binh bộ Thượng thư của triều Nguyễn, do có tư thù với Ngô Thì Nhậm nên đã cho người tẩm thuốc độc vào roi để đánh đòn. Đặng Trần Thường cũng ra một vế câu đối hiễm hóc và kiêu hãnh: “Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai”. Ngô Thì Nhậm khẳng khái đáp: “Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế”.Vế ra của câu đối thật hiểm hóc vì có 5 chữ ai nói lên sự xuất chúng kiêu hãnh của bậc hào kiệt thành công và có chữ trần, tên đệm của Đặng Trần Thường. Vế đối của người trả lời cũng thật tài tình vì có 5 chữ thế, nói lên hoàn cảnh và khí phách của người anh hùng thất thế vẫn hiên ngang khí tiết và có chữ thời, tên đệm của Ngô Thời Nhiệm. Lạ thay và hay thay thời biến từ Thì sang Thời.Ngô Thì Nhậm cũng đọc bốn câu thơ dự báo: “Ai tai Đặng Trần Thường – Chân như yến xử đường – Vi Ương cung cố sự – Diệc nhĩ thị thu trường”. (Thương thay Đặng Trần Thường, Tổ yến nhà xử đường, Vị Ương cung chuyện cũ, Tránh sao kiếp tai ương). Ngô Thì Nhậm khi về nhà bị hộc máu mà chết, Bia đá Văn Miếu từng vinh danh tiến sĩ tên ông năm Cảnh Hưng 36 (1775) cũng bị đục bỏ với tội danh bất trung, bất hiếu. Đặng Trần Thường sau cũng chết thảm vì triều Nguyền hành tội ông dám lưu danh công thần Viêm Quận Công Hoàng Ngũ Phúc danh tướng chúa Trịnh nhưng tử thù với nhà Nguyễn, triều Nguyễn đúng như tiên đoán tài tình của Ngô Thì Nhậm.Ngô Thì Nhậm dấu chân thời gian cũng như Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết Sơn và Nguyễn Du 255 năm nhìn lại, lưu giấu một chặng đường lịch sử và văn chương Việt.

Lê Quýnh và 23 trung thần thời Hậu Lê được Nguyễn Du và em trai trân trọng lập đền thờ tại Trung Liệt Hà Nội ở 124 Thụy Khuê là một chỉ dấu địa lý quan trọng về nhận thức luận đối với Nguyễn Du. Tiến sĩ Phạm Quý Thích rõ dấu hiệu của người nghiên cứu, bàn luận Truyện Kiều đầu tiên. Đó là những chứng cứ lịch sử văn hóa “chứng minh đường vòng” cho nguồn gốc Truyện Kiều sách chữ Hán Nôm và quốc âm đều là của Nguyễn Du., Chất liệu sáng tác với tỷ lệ lớn là đất Việt, người Việt nhưng tỷ lệ ít hơn về bối cảnh và một ít nhân vật từ bên ngoài là không phủ nhận (phải mượn danh nghĩa đó để thuận tình thuận lý và lập luận chặt chẽ, không bị trả thù).

Đề tựa bản Truyện Thúy Kiều của cụ Bùi Kỷ trong sách “Truyện Thúy Kiều” do Bùi Kỷ Trần Trọng Kim hiệu khảo là một chỉ dấu quan trọng thứ ba , về bình sinh hành trạng Nguyễn Du (chứng cứ quan trọng thứ 3 này là sau 2 văn bản chính thức của chính sử Nhà nước Nhà Nguyễn về 2 sách Nguyễn Du với Minh Mệnh tổng thuyết, do Quốc sử Quán Nhà Nguyễn biên soạn). Vì giá trị học thuật quan trọng của Bài tựa của cụ Bùi Kỷ mà HK chép nguyên văn để mọi người cùng đọc. Cụ Bùi Kỷ viết: Quyển truyện Thúy Kiều này là một quyển sách kiệt-tác làm bằng quốc-âm ta. Người trong nước từ kẻ ngu-phu ngu-phụ cho chí người có văn-học, ai cũng biết, ai cũng đọc, mà ai cũng chịu là hay. Một quyển sách có giá-trị như thế, mà chỉ hiềm vì các bản in ra, có nhiều bản không giống nhau, rồi có người lại tự ý mình đem chữa đi, chữa lại, thành ra càng ngày càng sai-lầm nhiều thêm ra. Mới đây những bản in bằng quốc-ngữ, tuy có dễ đọc và dễ xem hơn trước, nhưng chưa thấy có bản in nào thật chính đáng, những điều sai lầm vẫn còn như các bản chữ Nôm cũ, mà chữ Quốc ngữ viết lại không được đúng, và những lời giải-thích cũng không kỹ càng lắm. Chúng tôi thấy vậy, mới nhặt nhạnh các bản cũ, rồi so sánh với các bản mới để hiệu chính lại cho gần được nguyên văn. Chúng tôi lại hết sức tìm tòi đủ các điển tích mà giải thích cho rõ ràng, để ai xem cũng hiểu, không phải ngờ điều gì nữa.Hiện nay tập nguyên văn của tác giả làm ra thì không tìm thấy nữa, chỉ có hai bản khác nhau ít nhiều, là bản Phường, in ở phố hàng Gai, Hà Nội, và bản Kinh của vua Dực Tông bản Triều đã chữa lại.Bản Phường là bản của ông Phạm Quí Thích đem khắc in ra trước hết cả. Ông hiệu là Lập Trai, người làng Huê Đường (nay đổi là làng Lương Đường) phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, đỗ tiến sĩ về cuối đời Lê, cùng với tác-giả là bạn đồng thanh đồng khí, cho nên khi quyển truyện này làm xong thì tác giả đưa cho ông xem. Chắc cũng có sửa-đổi lại một vài câu, nhưng xem lời văn thì chỗ nào cũng một giọng cả. Vậy nên chúng tôi thiết tưởng rằng lấy bản Phường làm cốt, thì có lẽ không sai lầm là mấy. Còn những chỗ mà bản Kinh đổi khác đi, hoặc những câu mà về sau người ta sửa lại, thì chúng tôi phụ lục cả ở dưới, để độc giả có thể xem mà cân nhắc hơn kém. Lại có một vài chữ người ta muốn đổi đi, nhưng không đúng với các bản Nôm cũ, thì chúng tôi cũng thích xuống dưới, chứ không tự tiện mà đổi nguyên-văn đi. Chủ-ý của chúng tôi là muốn giữ cho đúng như các bản cũ, chứ không muốn làm cho hay hơn.Truyện Thúy Kiều này nguyên lúc đầu tác giả nhan đề là “ĐOẠN-TRƯỜNG TÂN-THANH” 斷腸新聲. Sau nghe đâu ông Phạm Quí Thích đổi lại là “KIM VÂN KIỀU TÂN-TRUYỆN “金雲翹新傳. Nhưng vì trong truyện chỉ có Thúy Kiều là vai chính, còn Kim Trọng và Thúy Vân là vai phụ cả. Nếu đề như vậy, thì e không hợp lẽ. Vả chăng tục thường gọi là Truyện Kiều, thì chi bằng ta cứ theo thói thường mà nhan đề là Truyện Thúy Kiều, rồi ở dưới đề thêm tên cũ ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH”, gọi là để tỏ cái ý tồn cổ. Song đấy là nói về phần hình-thức ở bề ngoài, còn về phần tinh thần văn chương trong truyện Thúy Kiều, thì sau này chúng tôi sẽ đem ý kiến riêng mà bày tỏ ra đây, họa may có bổ ích được điều gì chăng. Vậy trước hết xin lược thuật cái tiểu sử của tác giả để độc giả hiểu rõ tác giả là người thế nào.

Tác-giả húy là Du 攸, tự là Tố-Như 素如, hiệu là Thanh-Hiên 清軒, biệt hiệu là Hồng-Sơn Liệp-hộ 鴻山獵戶, quán tại làng Tiên-Điền, huyện Nghi-Xuân, tỉnh Hà-Tĩnh, con thứ bảy ông Hoàng-giáp Xuân-Quận-công Nguyễn Nghiễm, làm thủ-tướng Lê-triều. Bác ruột là ông Nguyễn Huệ cùng anh là ông Nguyễn Khản đều đỗ tiến-sĩ, làm quan đồng thời. Ông Nguyễn Khản làm đến Lại-bộ Thượng-thư, sung chức Tham-tụng. Còn người anh thứ hai là Điều-nhạc-hầu, húy là Điều, làm Trấn-thủ Sơn-Tây. Cả nhà, cha con, chú bác, anh em, đều là người khoa-giáp, làm quan to đời nhà Lê. Tố-Như tiên-sinh là con bà trắc-thất, người huyện Đông-Ngạn, tỉnh Bắc-Ninh, tên là Thấn 殯. Bà sinh được bốn người con trai tên là Trụ 伷, Nệ 儞, Du 攸 (tức là tiên-sinh) và Ức 億. Tiên-sinh sinh vào ngày nào, thì nay ta không rõ, chỉ biết vào năm ất-dậu là năm Cảnh-Hưng thứ 26 (1765), nghĩa là vào đời Lê-mạt.Xem gia-thế nhà tiên sinh, thì tiên sinh là dòng dõi một nhà thế phiệt trâm anh đệ nhất trong nước lúc bấy giờ. Không rõ tiên sinh thụ nghiệp ai, có lẽ là học tập phụ huynh trong nhà. Tiên sinh thuở còn trẻ thiên tư dĩnh ngộ, năm 19 tuổi đã đỗ ba trường, tức là đỗ tú tài. Tiên sinh là người có khí tiết, gặp khi trong nước có biến, nhà Nguyễn Tây Sơn dấy lên, nhà Lê bại vong, tiên sinh đã nhiều phen lo toan sự khôi phục, nhưng vì sự không thành, bỏ về quê ở, lấy sự chơi bời săn bắn làm vui thú. Trong vùng chín mươi chín ngọn núi Hồng Lĩnh không có chỗ nào là chỗ tiên sinh không đi đến. Phải thời quốc phá gia vong, tiên-sinh đã toan bỏ việc đời ra ngoài tai, đem cái thân thế mà vui với non sông. Ấy là cái chí của tiên sinh đã định như thế, nhưng đến khi vua Thế Tổ Cao Hoàng bản Triều đã thống-nhất được giang sơn, có ý muốn thu phục lòng người miền Bắc, xuống chiếu trưng triệu những nhà dòng dõi cựu thần nhà Lê ra lục dụng. Tiên sinh phải triệu ra làm quan, hai ba lần từ chối không được. Năm Gia Long nguyên-niên (1802), tiên sinh phải ra làm tri huyện huyện Phù Dực, (nay thuộc tỉnh Thái-Bình). Được ít lâu bổ đi Tri phủ Thường Tín. Sau tiên-sinh cáo bệnh xin về. Đến năm Gia Long thứ năm (1806) lại phải triệu vào Kinh thụ chức Đông các học sĩ. Năm thứ tám (1809) bổ ra làm Cai Bạ (tức là Bố chính) Quảng-Bình. Năm thứ 12 (1813) thăng lên làm Cần chính điện học sĩ, sung chức chánh sứ sang cống Tàu. Đến khi về, được thăng Lễ bộ Hữu tham tri. Năm Minh Mệnh nguyên niên (1820) lại có chỉ sai tiên sinh đi sứ Tàu lần nữa, nhưng chưa kịp đi thì phải bệnh mất. (HK hết trích dẫn). Những dẫn liệu NGUYỄN DU NIÊN BIỂU LUẬN là căn cứ trên 3 tài liệu chính này với sự phối kiểm thông tin ở 13 TƯ LIỆU QUÝ. Lối viết “kể chuyện lịch sử của HK là học theo cách viết của Lê Quý Đôn tinh hoa, khi ông đúc kết để viết các sách của ông như Đại Việt thông sử (còn gọi là “Lê triều thông sử”) Kiến văn tiểu lục (12 quyển), Phủ biên tạp lục, Vân đài loại ngữ (gồm 9 quyển), Toàn Việt thi lục, Quế Đường thi tập, (gồm 4 quyển) là đều dựa chắc vào chính sử, Có những điều còn mơ hồ thì ông lưu vào giai thoại để tiếp tục truy tìm. Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ đều là những danh nhân văn hóa của “Ví Dặm Hát Nói Nghệ Tĩnh” mà Phan Lan Hoa dồi dào thông tin nên đủ tin cậy cho lập luận và chất vấn đó, nên mình sẽ đọc kỹ từng mục và trao đổi với bạn sau để cùng học hỏi.

Kim Hoàng NGUYỄN DU NIÊN BIỂU LUẬN Đối với Nguyễn Du cũng “phải thật công khai, thật công phu, thật công bằng và thật công tâm khi nghiên cứu và bàn luận” . Chúng ta đồng tình với cách nói của thượng tướng Trần Văn Trà khi ông đề xuất nghiên cứu đánh giá về đại tướng Võ Nguyên Giáp vị tướng của lòng dân. Và chúng ta thiết nghĩ cũng phải làm như vậy đối với Nguyễn Du đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới,

Nữ sĩ Phan Lan Hoa tác giả chuyên luận ví dặm đò đưa https://vidamdodua.com/ đã có bài nghiên cứu HÀNH TRẠNG NGUYỄN DU QUA GHI CHÉP CỦA CHÍNH SỬ Phan Lan Hoa, FB 31/10/2020, trong đó tác giả ghi rõ: Có bốn Nguyễn Du được đề cập qua các văn bản ghi chép của chính sử, mà nếu không nghiên cứu kỹ lưỡng thì rất dễ bị nhầm lẫn và dẫn liệu không chính xác. Trước hết, có ông Nguyễn Du khác, với gốc ở Thanh Oai, đề cập ở sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục (hình) là cộng tác với nhà Tây Sơn.

“Tháng 5, Nguyễn Văn Huệ triệu tập các cựu thần văn võ nhà Lê ép bảo họ khuyên mời Văn Huệ lên ngôi vua. Tham tri chính sự Nguyễn Huy Trạc tử tiết. Văn Huệ liền sai Sùng Nhượng Công Lê Duy Cận đứng Giám quốc, rồi kéo quân về Nam. Văn Huệ sai người lùng hết các bầy tôi văn võ , cưỡng ép họ đến cửa cung khuyết, để cùng đứng tên vào tờ biểu khuyên mời Văn Huệ lên ngôi vua. Huy Trạc bị bắt đến Ngự sử đài, không chịu ký tên vào tờ biểu ấy, đêm đến, uống thuốc độc tự tử. Việc này do đó cũng đình chỉ. Văn Huệ ở lại vài ngày, bèn sai Duy Cẩn đứng Giám quốc, giữ việc thờ cúng [tôn miếu nhà Lê] còn mình thì rút quân về Nam. Văn Huệ dùng Ngô [Thì] Nhậm làm Lại bộ tả thị lang (Cương mục vì kiêng tên Tự Đức chép là Ngô Nhậm), Phan Huy Ích làm hình bộ tả thị lang, lại dùng Nguyễn Thế Lịch, Ninh Tốn, Nguyễn Du (Nguyễn Du này là người Văn Xá, huyện Thanh Oai, Hà Đông, khác với Nguyễn Du tác giả Truyện Kiều); và Nguyễn Bá Lan làm Hàn lâm trực học sĩ , để ở lại cùng làm việc với Ngô Văn Sở. Bọn Nguyễn Hoàn và Phan Lê Phiên ra thú, được Văn Huệ cho giữ nguyên quan hàm đã có mà về điền viên. Chỉ có mấy người này đi ẩn không chịu ra: Phạm Trọng Huyến đồng xu mật viện sự; Phạm Quý Thích thiêm sai tri Công phiên; Nguyễn Đình Tứ đô cấp sự trung; Nguyễn Đăng Vận giám sát ngự sử; Lê Trọng Dĩnh cấp sự trung; Đỗ Lệnh Thiện tiến sĩ.”

Xin mời xem tiếp Bài viết chọn lọc ngày 3 tháng 11: (…) Nguyễn Du trăng huyền thoại Nguyễn Du niên biểu luận Nguyễn Du thời Tây Sơn Nguyễn Du làm Ngư Tiều Nguyễn Du Hồ Xuân Hương Nguyễn Du Nguyễn Công Trứ Nguyễn Du thời nhà Nguyễn Nguyễn Du thơ chữ Hán Nguyễn Du tiếng tri âm Nguyễn Du tư liệu quý với nguồn thông tin Việt Nam dư địa chí Nghệ An ký (Bùi Dương Lịch ) trang 643-909 sách Tổng tập Dư địa chí Việt Nam / Dương Văn An, Trịnh Hoài Đức, Lê Quý Đôn…..Bùi Văn Vượng chủ biên, Cao Giang hiệu đính, Nhà Xuất Bản Thanh Niên 2011 Tập 3 Dư địa chí địa phương (Phương chí) 1344 trang, Thông tin tích hợp tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-3-thang-11/

CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thich
Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao) -Thanh Thúy
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống ; Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter