Những câu thơ lưu lạc

NHỮNG CÂU THƠ LƯU LẠC
Hoàng Kim

Ai viết cho ai những câu thơ lưu lạc.
Giữa trần gian thầm lặng tháng năm dài ?
“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm.
Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”.

Mười năm lưu lạc tìm gươm báu
Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai. (1)
“Nghêu ngao vui thú yên hà.
Mai là bạn cũ, hạc là người quen”. (2)

Trống lủng” (3) nghe tục giảng thanh
Cận nhân tình, như không như có.
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” (4)
Như khói mây, giọt sương buổi sớm.

Cao vọi “Thướng sơn”“Tầm hữu vị ngộ
Núi cõng đường mòn, cha cõng con”.
Thăm thẳm những câu thơ lưu lạc
Biển là ao lớn, thuyền là con bò”. (5)

Dưỡng sinh thi“, “Sấm Trạng Trình“,
Chí thiện“, “An nhàn vô sự là tiên“. (6)
Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu.
Sách Nhàn đọc giấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim“. (7)

Nuôi con ai chẳng muốn thông minh
Ai ngỡ thông minh mãi hại mình
Chỉ muốn con ta thành nghê Việt
An toàn mà hưởng lộc công khanh! ” (8)

Nước trong như mắt người thanh lịch
Cỏ mướt như lưng gái dậy thì...” (9)

——
Ghi chú

(1) “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm / Nhất sinh đê thủ bái hoa mai” (Mười năm lưu lạc tìm gươm báu / Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai)  là hai câu thơ của Nguyễn Du. Trước đó, người đời cho là của Chu Thần Cao Bá Quát nhưng thực tế trong đời Cao Bá Quát không có mười năm lưu lạc “thập tải luân giao”. Theo “Như Thanh nhật ký của Nguyễn Tử Giản thì năm Mậu Thìn (1868) phó chánh sứ Nguyễn Tử Giản được tri phủ Hán Dương là Ngải Tuấn Mỹ đón tiếp và tặng đôi câu đối trên. Hai câu thơ này không phải là do Ngãi Tuấn Mễ sáng tác mà có trên gốm sứ Hoa Bắc “Trăng” Mai Hạc do Nguyễn Du lưu lại khi ông đóng vai nhà sư lưu lạc mười năm ở Trung Quốc. Ông cùng Hà Mỗ Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến lên Yên Kinh (Bắc Kinh) và cung Nhiệt Hà gặp Càn Long để chuyển hóa thời vận.  Nguyễn Du tính tình khoan hòa, điềm tĩnh, trọng “quân đức, dân tâm, học pháp”, có những câu thơ “thập tải luân giao”, ông chỉ bái lạy bậc hiền minh như cúi lạy trước hoa mai, “mai cốt cách, tuyết tinh thần”.

(2) “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen” trên đĩa “Trăng” Mai Hạc, sản phẩm gốm sứ Quảng Tây, truyền là của Nguyễn Du khi ông ở Trung Quốc.

(3) “Trống lủng“, “Vịnh Đồ Sơn“, “Núi Kẽm Trống” là những kiệt tác thơ Hồ Xuân Hương cận nhân tình, đa ngữ nghĩa, như có như không, như khói mây, sương sớm.

(4) “Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” thơ Mãn Giác thiền sư (tài liệu đã dẫn)

(5) “Núi cõng con đường mòn. Cha thì cõng theo con” “Biển là ao lớn. Thuyền là con bò” là thơ đồng dao của Nguyễn Sinh Cung (Nguyễn Tất Thành, tên thuở nhỏ của Hồ Chí Minh) lúc 5 tuổi, tại đèo Ngang, trong chuyện kể “Tất Đạt tự ngôn” được nhà văn Sơn Tùng ghi lại.  Ngày 19 tháng 5 thành lập mặt trận Việt Minh trùng ngày khai sinh đường Hồ Chí Minh và cũng trùng ngày sinh Hồ Chí Minh.  Lời đồng dao “Biển là ao lớn, Thuyền là con bò” “Em nhìn thấy trước, Anh trông thấy sau” của cậu bé Nguyễn Sinh Cung “nói” năm 1895 mà  Sơn Tùng đã ghi lại và in trên báo Cứu Quốc lần đầu năm 1950 trùng với “đường lưỡi bò” hiện nay. Câu chuyện trẻ con đan xen những ẩn khuất lịch sử chưa được giải mã đầy đủ về Quốc Cộng hợp tác, tầm nhìn Hoàng Sa, Trường Sa của Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1424-1427, lúc mà Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Lý Thụy làm phiên dịch cho Borodin trưởng đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô tới Quảng Châu giúp chính phủ Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch.

(6) “Dưỡng sinh thi“, “Sấm Trạng Trình” ,”Chí thiện“. “An nhàn vô sự là tiên …” là kiệt tác thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, xem  Ngày xuân đọc Trạng Trình.

(7) “Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu. Sách Nhàn đọc giấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim“. Trích trong “Cư trần lạc đạo phú” thơ Trần Nhân Tông, xem Lên non thiêng Yên Tử.

(8) Thơ Tô Đông Pha, giáo sư Nguyễn Khắc Phê dịch, “Nuôi con ai chẳng muốn thông minh / Ai ngỡ thông minh mãi hại mình / Chỉ muốn con ta ngu lẫn ngốc/ An toàn mà hưởng lộc công khanh! ” Nguyên tác: Tẩy nhi hí tác/ Nhân giai dưỡng tử vọng thông minh./ Ngã bị thông minh ngộ nhất sinh. / Duy nguyện hài nhi ngu thả lỗ,/ Vô tai vô nạn đáo công khanh. Trích dẫn tại “Bulukhin với bác Phạm Vũ Chánh”.

Bác Bulukhin bình: “Bác Chánh à . Xin nói trước, bu tui rất dốt thơ, nếu “bình loạn” có chỗ trật trệu thì mong bác Vũ Phạm Chánh thông cảm cho nhé.
1- Không hiểu sao Gs Nguyễn Khắc Phi và ông Trương Việt Linh chỉ dịch thơ chớ không dịch tựa đề: “Tẩy nhi hí tác”, (洗兒戲作). Ông Hung Trandang thì dịch là “Thơ vui nhân con đầy tháng” bài bác gửi bu lại ghi “Quan tâm đến đứa con”. Thực ra tẩy nhi (洗兒) là tắm cho trẻ con, hí tác (戲作)là làm cho vui. Có thể dịch thoát là “thơ vui khi tắm cho con”. Trong bốn chữ của tựa đề không có chữ nào đề cập đến con đầy tháng cả.
2- Muốn thơ vui (hí tác) thì ý tứ phải khác lạ, đôi khi nói ngược lại sự bình thường. Dân ca Việt Nam có bài nói ngược độc đáo: “Bao giờ cho đến tháng ba, ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng, hùm nằm cho lơn liếm lông, một chục quả hồng nuốt lão tám mươi, nắm xôi nuốt bé lên mười, con gà be rượu nuốt người lao đao”. Nhà thơ Tô Đông Pha cũng nói ngược nhưng không chỉ để cười … “Ai ngỡ thông minh mãi hại mình” là câu tổng kết cuộc đời 64 năm của ông. Sách Bát đại gia Đường Tống (1) kể lại năm 21 tuổi ông lên Biện Kinh thi tiến sỹ. Âu Dương Tu quan chánh chủ khảo khi đọc bài “Hình thưởng trung hậu chi chí luận” (2) của ông phải lấy làm kinh ngạc về tài năng của cậu học trò. Đến “Ký điện thí”(3) Âu tiên sinh nói với mọi người “Đọc văn chương của Tô Thức (tức Tô Đông Pha) ta bất giác toát cả mồ hôi! Thật là sảng khoái! Ta phải tránh né ông ta để ông ta vượt lên trên người khác”.Thông minh đến thế là tột đỉnh siêu việt. Nhưng khi ra làm một viên quan làng nhàng ông bị giáng chức hết lần này đến lần khác. Tô Đông Pha biết chắc cuộc Tân pháp của tể tướng Vương An Thạch sẽ thất bại thảm hại (4) và lên tiếng phản đối. Bọn ngự sử Hà Chính Thần, Lý Định, Thư Đảm đưa bài thơ Hàng Châu kí sự của ông cho Vương An Thạch đọc và xuyên tạc thêm: Tô Đông Pha giễu cợt triều đình xem thường hoàng thượng. Vua Tống Thần tông nhốt Tô Đông Pha vào ngục, bọn sai nha đánh đập ông tàn tệ. Sau này nghĩ lại vua tha chết nhưng đày ông đi Hoàng Châu (huyện Hoàng Cương tỉnh Hồ Bắc) làm anh dân thường. Không cửa nhà, không lương bổng, ăn không đủ no mặc không đủ ấm, đành ở nhờ trong một ngôi miếu. May mà gặp bạn tốt xin cho mười mẫu ruộng hoang ông phải tự mình cày cấy, gặt hái. Có lúc đói quá nhà thơ phải ăn cả hoa cúc tươi. Hoàn cảnh Tô Đông Phá đúng như Nguyễn Du nói trong truyền Kiều “Chữ tài liền với chữ tai một vần”
3- “Chỉ muốn con ta ngu lẫn ngốc, an toàn mà hưởng lộc công khanh”. Đọc hai câu này ta thấy ông nói ngược nhưng lại là sự thực của xã hội Bắc Tống. Chưa nói đám quan quyền dưới vua mà ngay cả một loạt vua bắc Tống từ Chân tôn, Nhân tôn… trở đi là những ông vua bạc nhược và ngu ngốc. Có lẽ trên thế giới này không có quốc gia nào triều cống ngược như nhà Tống bên Tàu. Biên giới Tống ở phía Tây bị rợ Liêu quấy nhiễu. VuaTống nghĩ điều quân đến đánh thì tốn người hao của chi bằng cứ cho người Liêu mỗi năm 10 vạn lạng bạc và 20 vạn tấm lụa…nhưng rợ Liêu được đằng chân lân đằng đầu dần dà số bạc và số lụa gia tăng đến nỗi vua Tống chịu hết nỗi. Với rợ Tây Hạ tình trạng triều cống ngược cũng xẩy ra tương tự. Nền kinh tế nhà Tống bấy giờ suy sụp, Quốc khố rỗng không trong quyển sử Trung Quốc ( trang 316, 317) học giả Nguyễn Hiến Lê cho hay “bọn con buôn được dịp giàu thêm, chỉ có triều đình nghèo mạt. Nghèo tới nỗi vua Nhân Tôn (1023 – 1063), con vua Chân Tôn, phải cần kiệm từng chút . Một đêm đói, thèm món thịt dê mà phải nhịn “đỡ được một món tổn hao”. Có kẻ dâng ông 18 con hến bể tính cả phí tổn chuyên chở thì mỗi con giá một ngàn đồng (đồng tiền thời đó chắc đã phá giá) ông lắc đầu “Gắp một con mà hao một ngàn đồng ta chẳng kham nỗi” Hởi ôi, làm thiên tử (con trời) mà nghèo đến thế thì Tô Đông Pha có bảo ông là vua ngốc cũng đáng lắm. (1): Có hai quyển Bát đại gia Đường Tống. Quyển bu tui đang có, của Hà Minh Phương biên soạn nxb Đồng Nai 1996. Quyển khác của Nguyễn Hiến Lê; (2) Dịch nghĩa: Luận về sự trung hậu trong phép thưởng phạt. (3) Kỳ thi cuối cùng ở trong kinh do vua chủ trì (4) Tân Pháp của Vương An Thạch bị thất bại thảm hại như tiên đoán của Tô Đông Pha, Vương bị cách chức Tể tướng. .Bu tui (áo trắng Bulukhin Nguyễn Quốc Toàn) và anh bạn (Vũ Phạm Chánh. đã từng du học ở Tàu) bên tượng Tô Đông Pha ở Hàng Châu.(ảnh tư liệu của tác giả)
; “

Hoàng Kim có lời bình: Bản dịch thơ tiếng Việt của giáo sư Nguyễn Khắc Phi đối với kiệt tác thơ chữ Hán của Tô Đông Pha, tôi thật tâm đắc. Tôi chỉ muốn dùng chữ “thành Nghê Việt” có từ thời Trần có trong Đêm Yên Tử để sửa lại câu ba: “Nuôi con ai chẳng muốn thông minh / Ai ngỡ thông minh mãi hại mình / Chỉ muốn con ta thành nghê Việt / An toàn mà hưởng lộc công khanh! “.Nghê Việt là biểu tượng rồng ẩn, một trong những sáng tạo đỉnh cao của văn hóa Việt. “Sách Nhàn đọc dấu câu có câu không” ẩn hiện như tiềm long, một trong chín đứa con của rồng (long sinh cửu tử) theo thời mà biến hóa. Nghê (ngô nghê, ngây ngô) là linh vật rồng ẩn thuần Việt trong “chín đứa con của rồng” (Long sinh cửu tử) và được phổ biến rộng trong dân gian thời Trần và được đúc kết bởi tác phẩm ““Tiềm Xác Loại Thư” của Trần Nhân Tích. Toan Nghê là linh vật có sức mạnh phi thường giống như sư tử, như mèo thần, thích nghỉ ngơi, điềm tĩnh, chăm chú chọn cơ hội, nhưng khi ra tay thì cực kỳ mau lẹ, dũng mãnh và hiệu quả. Kim Nghê là linh vật giống như kỳ lân, trâu ngựa thần, có tài nuốt lửa nhả khói, nội lực thâm hậu, nhanh mạnh lạ lùng, dùng để cưỡi đưa chủ nhanh đến đích. Nghê Dân Gian là linh vật gác cổng giữ nhà hiền lành, tin cẩn như chó nhà và hung dữ, nguy hiểm, tinh khôn như chó sói. Nghê Thường là linh vật ngây dại như trẻ thơ, nhởn nhơ như nai rừng, tin yêu như thục nữ nhưng vô cùng quý hiếm.

(9) Cao Bá Quát vịnh Hồ Tây Hà Nội: “Nước trong như mắt người thanh lịch/ Cỏ mướt như lưng gái dậy thì...”… Trích dẫn tại “Bulukhin với bác Phạm Vũ Chánh”. (18.5.2019)

Bác Bulukhin bình: “Bác Phạm Vũ Chánh đề nghị Bu tui bình hai câu thơ của Cao Bá Quát vịnh Hồ Tây Hà Nội: “Nước trong như mắt người thanh lịch Cỏ mướt như lưng gái dậy thì…” Bác ơi 1- Thơ thất ngôn tứ tuyệt luật Đường gồm có 4 câu . Câu một: phá, câu hai: thực, câu ba: luận, câu bốn: kết. Nhưng bác chỉ đưa có hai câu : “nước trong như mắt người thanh lịch/ cỏ mướt như lưng gái dậy thì” làm bu không biết “bình loạn” thế nào cho bác ưng ý. Có thể nó là câu “luận” và câu “kết” của một bài tứ tuyệt nào đó mà bác chưa tìm được câu “phá” và câu “thực”chăng ?
2- Xem ra bác Chánh có vẻ tâm đắc với hai câu thơ này lắm? Bu tui cũng giống bác cho nên mới ngồi gõ STT này gửi bác và bạn bè đọc, biết đâu có người đồng cảm.
3- Nhà thơ thiên tài Cao Bá Quát có đến 8 bài “Du Tây Hồ bát tuyệt” kì 1 cho đến kì 8. Đáng chú ý nhất trong 8 bài ấy là bài kì 2. Bu tui nói thêm chút xíu về bài này để xem hai câu bác đưa ra có lọt vào đây không.
遊西湖八絕其二
顚倒春心不自持,
西湖真個似西施。
盈盈翠黛波平後,
曲曲群腰草綠時。
Phiên âm
Du Tây Hồ bát tuyệt kỳ nhị
Điên đảo xuân tâm bất tự trì,
Tây Hồ chân cá tự Tây Thi.
Doanh doanh thuý đại ba bình hậu,
Khúc khúc quần yêu thảo lục thì.
Dịch xuôi:
Lòng xuân nghiêng ngả, không tự cầm giữ nổi
Tây Hồ quả thực là một nàng Tây Thi
Vẻ mày nở nang là khi lớp sóng mới lặng
Dây lưng uốn éo là lúc ngọn cỏ đương xanh
Dịch thơ
Lòng xuân ghìm giữ khôn đang
Hồ Tây kia đúng một nàng Tây Thi
Sóng êm, đầy đặn nét mi
Giải là bay: cỏ đang thì mướt xanh
(Ngô linh Ngọc)
Nghiêng ngã lòng xuân khó giữ thay
Tây Hồ quả thật đáng Tây Thi
Sóng yên mơn mởn mày ai nở
Giải thắm lượn lờ cỏ biếc lay
(Trương Việt Linh)
Phơi phới lòng xuân khó chủ trì
Tây Hồ xinh đẹp tựa Tây Thi
Sóng êm cỏ biếc cùng chung vẻ
Má phấn lưng ong gái đến thì
(Ngô Lập Chi)
4- Trong ba bản dịch trên (và nhiều bản dịch khác mà bu đã đọc) không có hai câu bác gửi cho bu.
Người nào đó dựa vào hai câu cuối của bản dịch Ngô Lập Chi có các chữ “lưng”, “gái”, “thì”, mà phóng tác ra thành:
“Nước trong như mắt người thanh lịch
Cỏ mướt như lưng gái dậy thì…”
5- Lâu nay dân Việt ta cứ cho là người Tràng An thanh lịch. Hóa ra tiêu chuẩn người thanh lịch còn phải có đôi mắt trong, kể cũng có lý. Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn. Tâm hồn có nhạy cảm, trong sáng, thùy mị, thanh tao, lịch thiệp, thì đôi mắt mới trong. Còn các người đẹp chân dài ngàn đô bán thân làm giàu, đôi mắt bốc lửa nhục dục sẽ không còn trong nữa. Lại các cô bán phở mắng, cháo chửi, mắt vằn lên tia lửa giận thì làm sao mà trong cho được.
6- “Cỏ mướt như lưng gái dậy thì” là một câu thơ lạ và độc đáo. Tự cổ chí kim anh con trai quan sát một cô gái bắt đầu từ khuôn mặt, thứ đến “cặp tuyết lê”, rồi vòng 1, vòng 2, vòng 3…chứ không ai quan sát tấm lưng trần. Bu tui không có trải nghiệm về vụ này. Nhưng “cỏ mướt như lưng gái dậy thì” làm cỏ như có linh hồn và sống động thêm lên. Lưng gái dậy thì giống cỏ Tây Hồ mà thành người Tràng An thanh lịch chăng ?? Hay thiệt bác ạ !!!


Hoàng Kim bàn thêm: Em nghe nói “Du Tây Hồ” của Cao Bá Quát sánh “Mưa Tây Hồ” của Tô Đông Pha, đều là kiệt tác. Nguyễn Hàm Ninh với hai câu khuyên đỏ Việt ngữ “Nước trong như mắt người thanh lịch/ Cỏ mướt như lưng gái dậy thì...” đã thâu tóm cái thần tinh hoa của bốn câu thơ chữ Hán tuyệt phẩm của Cao Bá Quát Điều này em đã chép lại trong truyện NGUYỄN HÀM NINH VÀ CAO BÁ QUÁT. gIai thoại cho rằng đó là thơ Nguyễn Hàm Ninh giản lược thơ Cao Bá Quát để đừa bạn. Cao Bá Quát kiệt tác thơ chữ Hán Du Tây Hồ nhu sau: Du Tây Hồ bát tuyệt kỳ nhị/ Điên đảo xuân tâm bất tự trì / Tây Hồ chân cá tự Tây Thi / Doanh doanh thuý đại ba bình hậu / Khúc khúc quần yêu thảo lục thì. (Dịch nghĩa: Lòng xuân nghiêng ngả, không tự cầm giữ nổi / Tây Hồ quả thực là một nàng Tây Thi / Vẻ mày nở nang là khi lớp sóng mới lặng /Dây lưng lã lơi là lúc ngọn cỏ xuân thì). Nguyễn Hàm Ninh người thầy của vua danh sĩ tinh hoa trầm tĩnh có khí phách cứng cỏi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nguyen-ham-ninh-nguoi-thay-cua-vua/ . Cao Bá Quát viết về ứng xử của Tô Đông Pha trong nghịch cảnh “Chàng Tô tả tơi rồi” ta cần đọc kỹ “Lên núi Hoành Sơn” và “Hoành Sơn Quan” tại “Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ” mới thấu hiểu

NGUYỄN HÀM NINH VÀ CAO BÁ QUÁT

Giai thoai kết bạn. Năm Tân Mão (1831) Cao Bá Quát đỗ Á nguyên trường thi Hà Nội. Năm sau (1832) ông vào kinh đô Huế thi Hội.

Một thầy một trò quảy níp vào Kinh. Đường về xứ Nghệ quanh quanh, đường về xứ Huế như tranh họa đồ… Khi đi gần đến sông Gianh (Linh Giang), ông Quát sực nhớ vùng này có danh sĩ Nguyễn Hàm Ninh ( người làng Trung Ái, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình) mới đỗ Giải nguyên trường Thừa Thiên khoa mới rồi. Ông có ý muốn gặp mặt nói chuyện cho biết sức học của nhà danh sĩ ấy đối với mình hơn kém thế nào. Trong lúc đó, chợt thấy một chàng thanh niên trạc độ 24, 25 tuổi cũng đang đi trên đường, ông bèn hỏi thăm:

– Xin hỏi nhờ bác, bác có biết làng ông thủ khoa Nguyễn Hàm Ninh cách đây bao xa không?

Người thanh niên nhìn ông Quát có vẻ dò xét rồi nói:

– Tôi biết, nhưng bác hỏi thăm làng ông ấy để làm gì?

– Vì tôi nghe ông ấy là danh sĩ – Ông Quát đáp – muốn được gặp mặt để xem có quả thật là danh sĩ không?

Người kia lại nhìn ông Quát hỏi:

– Bác hẳn là một vị tân khoa trên đường vào Kinh thi Hội?

– Chính thế – Ông Quát đáp một cách tự tin – tôi trông bác cũng có vẻ nho nhã, hẳn bác đã biết danh sĩ Bắc Hà là Cao Bá Quát, vừa đỗ Á nguyên trường Hà Nội mới rồi chứ?

– Mà danh sĩ ấy tức là người đang nói chuyện với tôi đây?

Ông Quát cười ha hả mà nói:

– Phải rồi đấy!

Người kia cũng cười mà nói:

– Rứa là hay quá. Ta cùng vào Kinh luôn thể. Bác muốn gặp ông Ninh không cần tìm đến nhà nữa mà cứ đi trên đường này, đi nhanh chân lên rồi sẽ gặp ông ta, vì ông ta cũng vào thi Kinh.

Ông Quát bèn đi nhanh chân, mong để gặp được người muốn gặp. Nhưng đi đã khá lâu, vẫn chẳng thấy ai là Nguyễn Hàm Ninh cả, ông Quát chợt hỏi người kia:

– À, tôi quên hỏi bác với Thủ khoa Ninh, có là chỗ quen biết gì không?

– Sao lại không! Ông Thủ khoa Ninh là thầy học của tôi!

– Thế à? Vậy chắc là bác có biết những thơ văn của ông Thủ khoa. Bác làm ơn thử đọc cho tôi nghe mấy bài!

– Thơ văn của thầy tôi nhiều lắm, nhưng xin thú thật, tôi chẳng nhớ được bài nào hết.

Ông Quát buồn bực:

– Lạ chưa! Học trò mà lại chẳng thuộc được một bài thơ nào của thầy!

– Thật đó mà! Vì tôi vô tâm. Bây giờ trên quảng đường xa, nếu chúng ta muốn lấy thơ văn làm vui bác nên ra đầu bài để cho tôi làm, rồi xin nhờ bác sửa chữa lại hộ.

Ông Quát liền ra đề thơ để người kia làm thì người kia làm rất nhanh và thơ rất xuất sắc khiến ônh Quát hết sức kinh ngạc. Ông thầm nghĩ: học trò đã giỏi nhu thế thì chắc chắn Nguyễn Hàm Ninh là người có thực tài. Từ đó hai người cùng làm thơ xướng họa quên cả những nhọc mệt qua truông nhà Hồ, qua đại trường sa của đường vô Kinh.

Vào đến Kinh cũng không thấy ông Ninh. Lúc cáo biệt ông Quát hỏi ông Ninh đâu, người kia bảo ông Quát chiều hôm sau đến phố ấy, nhà ấy sẽ gặp cả mình và cả tôn sư Nguyễn Hàm Ninh, vì nơi ấy là nơi mỗi lần vào Kinh ông Ninh đều đến ở trọ.

Đúng hẹn chiếu hôm sau tìm đến nơi hẹn thì mới vỡ lẽ rằng ông Thủ khoa Nguyễn Hàm Ninh chính là người bạn đồng hành của mình đã xướng họa với nhau suốt mấy hôm nay.

Hai ông ôm nhau cười rũ rượi và từ đó kết nên một đôi bạn thân.

Giai thoại xướng họa (Như đã nêu trên)

Giai thoại cắn phải lưỡi. Một hôm, vua Tự Đức mở tiệc chiêu đãi. Lúc nhà vua đang ăn thì bỗng kêu lên: “Trẫm cắn phải lưỡi đau quá! Các khanh hãy làm thơ vịnh về sự cố này nhưng cấm không được nhắc đến hai từ lưỡi và răng. Ai làm hay trẫm sẽ ban thưởng”. Nghe nhà vua nói vậy, các quan văn võ có mặt trong bữa tiệc đều vắt óc suy nghĩ… Nguyễn Hàm Ninh lát sau đã đứng dậy, xin phép  đọc bài thơ ông vừa viết xong:

Sinh ngã chi sơ, nhĩ vị sinh;
Nhĩ sinh vi hậu, ngã vi huynh.
Đồng thời cộng hưởng trân cam vị;
Hà nhẫn tương vong cốt nhục tình.

Dịch thơ:

Ta ra đời trước, chú chưa sinh;
Chú phận làm em, ta làm anh.
Ngọt bùi chẳng nghĩ cùng chung hưởng;
Cốt nhục mà sao nỡ dứt tình.

Vua Tự Đức sau khi nghe Nguyễn Hàm Ninh đọc xong đã tấm tắc khen hay và phán:   “Thơ rất hay, trẫm thưởng cho nhà ngươi mỗi câu một lạng vàng. Nhưng ý thơ rất ác nên nhà ngươi phải chịu phạt, mỗi câu một roi!”. Mẩu giai thoại này phần nào đã thể hiện tài năng, khí phách của Nguyễn Hàm Ninh. Ông đã ngầm ám chỉ việc vua Tự Đức ra lệnh giết chết thái tử Hồng Bảo là anh cùng cha khác mẹ, dám chạm đến chỗ “húy” của nhà vua trước mặt bá quan văn võ.

Miên Thẫm là Đỗ Phủ thơ Việt “Văn như Siêu Quát vô tiền Hán; Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường” Vua Tự Đức ông vua nổi tiếng hay chữ thời Nguyễn trong lịch sử Việt Nam đã viết như vậy. Vua Tự Đức  trước mộ Tùng Thiện Vương cũng cảm khái đề thơ: Nhất Đại Thi Ông thệ bất hoàn! (Sao Nhất Đại Thi Ông nỡ không trở lại !). Sổ xích tân phần tỳ mẫu mộ Kỷ thiên cựu vịnh bá nhân hoàn (Vài thước đất vun gần mộ mẹ Mấy bài thơ rãi khắp bầu trời.) Tôi theo chân Lê Ngọc Trác tìm về Tùng Thiện Vương, lần theo lời đánh giá này để tìm về cội nguồn hiểu rõ thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Có hiểu và thấu suốt Nguyễn Hàm Ninh, Cao Bá Quát, Thương Sơn Công Miên Thẩm, Mai An, Hồ Phi Mai (Hồ Xuân Hương), Nguyễn Du thí ta mới có thể hiểu sâu hơn những câu thơ lưu lạc thời ấy https://hoangkimlong.wordpress.com/category/mien-tham-la-do-phu-tho-viet/

Xem tiếp …

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Bài liên quan

Praha Goethe và lâu đài cổ
500 năm nông nghiệp Brazil
Ngày xuân đọc Trạng Trình

Nguyễn Du 250 năm nhìn lại
Tô Đông Pha vầng trăng cổ tích
Trúc Lâm thăm thẳm một góc nhìn
Video yêu thích

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter



Advertisements