Nhớ thầy Nguyễn Quốc Toàn

anh Toàn và các mế

NHỚ THẦY NGUYỄN QUỐC TOÀN
Hoàng Kim


Tiếng Việt lung linh sáng
Đối thoại với Thiền sư
Lên Việt Bắc điểm hẹn
Quảng Bình nôi địa linh
Ngôn ngữ văn hóa Việt
Hoa Đất thương lời hiền

Tôi lưu lại sáu câu chuyện Thầy Nguyễn Quốc Toàn có những bài viết ngắn thật hay và sâu sắc mà tôi thích đọc lại, xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-thay-nguyen-quoc-toan/

TIẾNG VIỆT LUNG LINH SÁNG
Hoàng Kim


Giữ trong sáng tiếng Việt
Ca dao lọc tinh hoa
Dân ca truyền di sản
Đồng dao lời tháng năm

Mãn Giác thơ Hoa Mai
Trần Khánh Dư “Bán than”
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn
Đặng Dung thơ Cảm hoài

Ca dao Việt “Cày đồng”
Tiếng Việt lung linh sáng
Đầu tiên tới cuối cùng
Học ăn và học nói

Cụ Nguyễn Quốc Toàn “mọt sách đền văn học, Lão Quán Lục Vân Tiên”, ngày 5 tháng 4 lúc 14:59 có bài viết DỊCH HAY PHÓNG TÁC ?? nguyên văn như sau:

1- Trong số ca dao Việt Nam nói về nghề nông và giá trị hạt gạo thì bài: “Cày đồng đang buổi ban trưa. Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày. Ai ơi! bưng bát cơm đầy. Dẻo thơm một hột, đắng cay muôn phần” có mặt trong nhiều tuyển tập, như: • Tục ngữ ca dao dân ca VIỆT NAM của Vũ Ngọc Phan (1). • Tục ngữ ca dao VIỆT NAM của Hồng Khánh – Kỳ Anh sưu tầm biên soạn (2), • Ca dao VIỆT NAM do Bích Hằng tuyển chọn (3). Các tác giả của ba tập sách trên tuyệt nhiên không có chú thích gì về bài ca dao đó, làm người đọc đinh ninh là ca dao Việt Nam. Nhà phê bình danh tiếng Hoài Thanh cũng yên trí “đó là một trong những bài ca dao hay nhất của xứ ta từ trước” (4).***

2- Thực ra bài ca dao “Cày đồng đang buổi ban trưa…” là của Tàu, chưa rõ ai là tác giả. Một số bảo của Lí Thân, (李紳,772 – 846) người Vô Tích tỉnh Giang Tô, số khác cho là của Nhiếp Di Trung (聶夷中, 837 – 884) người Hà Đông. Có điều lạ, trong “Toàn Đường thi” (全唐詩) (5) bốn câu trên được xếp vào ngũ ngôn tứ tuyệt vừa để ở mục Nhiếp Di Trung vừa để ở mục Lí Thân. ***

3- Tui tìm thấy bản chữ Hán bài ca dao trên trong bộ “Đường thi tuyển dịch” của ông Lê Nguyễn Lưu gồm hai tập, kê cứu 1409 bài thơ của 173 nhà thơ Tàu. Lí Thân ở trang 1097, với hai bài thơ Cổ phong kỳ1 và Cổ phong kỳ kỳ 2. Dưới đây là bài Cổ phong kỳ 1 tui đang bàn tới 古風其一鋤禾日當午汗滴禾下土誰知 盤中餐粒粒 皆辛苦* Phiên âm Thơ Cổ phong Bài 1 Sừ hòa nhật đương ngọ Hãn trích hòa hạ thổ Thùy tri bàn trung xan Lạp lạp giai tân khổ *** Ông Lê Nguyễn Lưu dịch xuôi:Cày xới lúa đang lúc giữa trưa Mồ hôi giọt xuống đất dưới cây lúa Ai nghỉ đến bữa cơm dọn trong mâm Mỗi hột đều chứa nỗi đắng cay gian khổ Và ông Lưu dịch thơ:Cấy lúa giữa ban trưa Mồ hôi ngoài ruộng đổ Ai hay một bát cơm Hạt hạt đầy tân khổ*** Để thấy dịch giả Lê Nguyễn Lưu vừa lúng túng vừa tiền hậu bất nhất trong cách dịch của mình, tui phân tích hai chữ sừ (鋤) và hòa (禾) trong câu thứ nhất “sừ hòa nhật đương ngọ”.- Sừ (鋤) có hai trạng thái diễn đạt. Khi là danh từ, sừ (鋤) chỉ cái cuốc. Ví dụ Nguyễn Trãi nói với bạn là Hữu Nhân: 他年淽溪約, 短笠荷春鋤 : “Tha niên Nhị Khê ước, Đoản lạp hạ xuân sừ”, nghĩa là: Năm nào hẹn về Nhị Khê đội nón lá, vác cuốc đi làm vụ xuân”. Khi là động từ, sừ (鋤) chỉ sự cuốc, như cuốc đất cuốc cỏ.- Hòa (禾) là lúa chưa tuốt ra khỏi bông, chưa cắt ra khỏi rơm rạ. Kinh thi có câu: Thập nguyệt nạp hòa giá 十月納禾稼 Tháng mười thu vào thóc lúa.*** Nếu căn cứ vào tự dạng chữ Hán thì sừ hòa (鋤禾) phải dịch là cuốc lúa, nhưng cuốc lúa là sự vô lý nên ông Lưu thay cuốc bằng “cày” và thêm vào chữ “xới” thành ra “cày xới lúa đang lúc giữa trưa”. Ý dịch giả là người nông dân cày xới cỏ giữa những hàng lúa. Điều đó dẫn đến sự thậm vô lý khác. Là lúa (禾=hòa) đã chắc hạt, đợi tuốt ra khỏi bông cớ sao còn phải cày cỏ. Khi dịch ra thơ, học giả Lê Nguyên Lưu tùy tiện bỏ cuốc lúa,cày lúa, mà gọi là “cấy lúa giữa ban trưa” ***

Một nông dân Việt (hoặc một nhà thông thái Việt) nào đó thấy “sừ hòa nhật đương ngọ” có cái gì đó không ổn, nên dựa vào ý thơ để sáng tác thành một tác phẩm khác theo thể thơ lục bát truyền thống Việt, ai đọc vào cũng hiểu và thuộc nằm lòng ngay.

Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thảnh hót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.***

Tiếc là cho đến nay chưa thấy một học giả nào tìm ra thân thế người phóng tác thiên tài đó. Chỉ biết là bốn câu ca dao trên đã thuộc về tài sản dân ca Việt Nam trong các tuyển tập. —————————–
(1) Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 1971
(2) Nxb Đà Nẵng 2007
(3) Nxb Văn hóa Thông tin 2011
(4) http://www.thivien.net/viewwriting.php?ID=250
(5) huynhchuonghung.com
Bộ sách Đường thi tuyển dịch của Lê Nguyễn Lưu

Cụ Nguyễn Quốc Toàn còn nói thêm: Có một sự thực ta phải chấp nhận, hàng ngày ta nói và viết đã dùng đến 80% âm Hán Việt. May mắn là chúng ta vẫn là người Việt của nước Việt Nam.

Anh Ruc Hung có hai nhận xét thật tuyệt vời xin được chép lại :

1. Bài ca dao “Cày đồng…” từ lâu đã được nhiều học giả, nhiều tờ báo, trang Web…trong nước cùng xác định là có nguồn gốc từ bài thơ Đường “Mẫn nông (憫農)” của Trung Quốc rồi bác ạ. Trước sau đã có rất nhiều bản dịch bài “Mẫn nông” sang tiếng Việt và tất cả các bản dịch này đều gắn với tên dịch giả, chỉ duy nhất bản dịch “Cày đồng…” phiên bản ca dao mà bác NQT đang bàn là khuyết danh mà thôi. Tuy nhiên, điều lạ lùng là vượt lên tất cả, chính bản dịch khuyết danh phiên bản ca dao này mới là bản được nhiều thế hệ người Việt biết đến và ngưỡng mộ nhất, thậm chí còn đinh ninh đó là sản phẩm cổ phong bản địa và quyết không rời nó, dù sau này nhiều người đã biết nguyên tác có nguồn gốc ngoại lai! Tại sao vậy? Đó là một câu chuyện dài…Hình dung rằng, bản dịch thoạt đầu được TRUYỀN KHẨU bằng TIẾNG VIỆT trong dân gian, trải thời gian, được nhiều thế hệ tác giả vô danh kế tiếp chỉnh sửa, gọt dũa, đồng sáng tạo theo phong cách dân gian mà thành bản dịch hoàn chỉnh hơn, rất THOÁT, rất HAY, rất THUẦN VIỆT so với nguyên tác. Khi người Việt chưa có chữ viết, cũng như bao tác phẩm sáng tạo dân gian khác, bài “Cày đồng…” tồn tại trong ký ức cộng đồng và TRUYỀN KHẨU trong nhân gian cho đến khi các nhà sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian bắt gặp/nghe được, ghi chép lại, văn bản hoá vào công trình sưu tầm, nghiên cứu của mình và từ đó bài “Cày đồng…” trở thành một đơn vị trong dòng văn học dân gian (văn học trước khi có chữ viết) Việt Nam. Thế nên, không thể, thậm chí không cần đi tìm tác giả bản dịch bài “Cày đồng…” nữa, bởi bài thơ đã được sáng tạo lại, được dân gian hoá.

2. Vì lý do lịch sử, lý do tiếp xúc, tiếp biến văn hoá, không riêng gì bài ca dao “Cày đồng…” mà còn nhiều thể loại văn học dân gian Việt Nam khác cũng ảnh hưởng văn học Trung Quốc, nhưng không ai đặt vấn đề xem xét lại, hoặc gỡ bỏ khỏi kho tàng văn học dân gian nước nhà, bởi nó đã được Việt hoá cao độ và ăn sâu vào đời sống văn học, văn hoá, giao tiếp của người Việt. Chẳng hạn như trong hệ thống thành ngữ Việt Nam có không ít thành ngữ Trung Quốc được dịch và dân gian hoá (Việt hoá) để dùng (mà các nhà nghiên cứu cho là tương đồng):- Y cẩm dạ hành / Áo gấm đi đêm.- Cô thụ bất thành lâm / Một cây làm chẳng nên non.- Diệp lạc quy căn / Lá rụng về cội.- Gia miếu bất linh / Bụt chùa nhà không thiêng- Bão noãn tư dâm dật / No cơm ấm cật dậm dật khắp nơi- Bất cộng đái thiên / Không đội trời chung-….

Hoàng Kim có một câu hỏi nghi vấn: “Sáng tác Việt hay dịch?” Ví như “Tết Việt và Tết Trung” là xuất phát từ “Tiết Lập Xuân” hướng chính Đông của Việt Thường La Bàn Việt.

ĐỐI THOẠI VỚI THIỀN SƯ

Đại lão Hòa thượng Pháp chủ Thích Phổ Tuệ ấn chứng bạch ngọc (hạt gạo trắng ngần) cho người có tâm nguyện theo nghề nông . Pháp chủ nay 99 tuổi, trước đây đã từng phát biểu : “…Sống ở trên đời này được bao nhiêu năm, theo tôi, không phải là thước đo giá trị của đời người Con rùa nó sống hàng ngàn năm thì đã sao? Vấn đề là sống để thực hiện sứ mệnh gì, mang lại lợi ích gì cho Đời, cho Đạo, ngài Trần Nhân Tông chỉ ở đời có 51 năm, Ngài Pháp Loa có 47 năm mà công nghiệm thì bất khả tư nghì. Tôi trụ thế đến nay đã 104 năm, ở chùa 98 năm, thụ Đại giới được 84 năm, nghiệp là tu hành, nuôi thân thể chủ yếu bằng nghề làm ruộng, chưa từng dám lạm dụng một bát gạo, một đồng tiền của tín thí thập phương, khi nào chư Phật, chư Tổ cho gọi thì về thôi…” . Đại sư Thích Phổ Tuệ là người đóng góp lớn trong nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn, dịch thuật về Phật học như: Đại từ điển Phật học, Đại Luật, Đại tạng kinh Việt Nam, Đề cương Kinh Pháp Hoa, Kinh Bách Dụ, Phật Tổ Tam Kinh, Phật học là tuệ học. Người giữ ngôi vị Thiền gia Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay. chùm ảnh chọn lọc của HK, xem tiếp phước lành năm xưa.

Thầy Nguyễn Quốc Toàn ngày ấy đã nói Nếu thầy Thích Phổ Tuệ ấn chứng bạch ngọc (hạt gạo trắng ngần) thì cứ để nguyên vậy. Thiển nghỉ của Toàn thì có khác chút xíu. Bạch Ngọc là ngọc trắng thì chưa nói chi đến hạt gạo cả.Thực ra hạt gạo không trắng thậm chí gạo lứt thì dinh dưỡng nhiều hơn gạo trắng. Toàn được biết người Mỹ chế ra máy xát gạo trắng sau đó thấy là sai lầm bèn chế ra một thứ bột cho vào gạo để bù lại phần cám đã mất đi. Nhưng khi nấu cơm người ta vo gạo thì bột đó lại mất đi.Dân gian nói hạt gạo là ngọc trời cho, trong trường hợp này là MỄ NGỌC.Đấy cũng là nói cho vui.

HoangKim, NgocphuongNam ngày ấy đã trả lời Thưa cụ Toàn, Em đã thật xúc động được Thầy Thích Phổ Tuệ ấn chứng bạch ngọc (ngọc trắng, mễ ngọc, hạt gạo trắng ngần, ngọc trời cho, ngọc phương Nam). Đối với em được một người Thầy mẫu mực thiện tâm ấn chứng điều tốt đẹp này đã là một suối nguồn hạnh phúc. Em sẽ học thái độ của nước để đi như một dòng sông, học hoa lúa, hạt gạo để làm những việc có ích cho đời.Đấy cũng là nói cho vui. Kính anh chị vui khỏe ngày mới.

CHÙA GIÁNG GIỮA ĐỒNG XUÂN
Hoàng Kim


Nơi cổ tự mây lành che xóm vắng
Viên Minh xưa chùa Giáng ở đây rồi
Bụt thư thái chim rừng nghe giảng đạo
Trời trong lành gió núi lắng xôn xao.

Nhớ Pháp Chủ người hiền Thích Phổ Tuệ
Viên ngọc lành tính sáng gửi tin yêu:
“Mưa thuận gió hòa chăm bón đúng
Nhân tươi quả tốt được thu nhiều”

Thương hạt ngọc trắng ngần vui Bạch Ngọc
Phước nhân duyên thơm thảo học làm người
“Thơm hương lúa ngậm đòng chăm bón đúng
Mưa thuận gió hòa nhân quả tốt tươi”

Ngát hương sen lồng lộng bóng trúc mai
Đồng xuân đất lành trời xanh bát ngát
Hoa Đất, Hoa Người tổ tiên phước đức
Con biết ơn Người hiếu thảo ghi ơn …

NHỚ VIÊN MINH
Hoàng Kim

Tay men bệ đá sân đình
Tổ tiên cha mẹ lặng thinh chốn này
Đình làng chốn cũ nơi đây
Nuôi đêm phúc ấm dưỡng ngày nhân sinh.

Mình về với đức Viên Minh
Thơm hương Hoa Lúa ân tình nước non
Đêm Yên Tử sáng trăng rằm
Ban mai ngày mới an nhiên cuộc đời.

Thung dung bước tới thảnh thơi
Hiền lành phúc hậu lánh nơi bụi trần
Thiên nhiên là thú bình an
Người thân bạn quý thanh nhàn sống vui.

Tay men bệ đá sân chùa
Tổ tiên cha mẹ đều xưa chốn này
Đình làng chùa cũ nơi đây
Nuôi đêm phúc ấm dưỡng ngày nhân sinh

Mình về với đức Viên Minh
Thơm hương Hoa Lúa nặng tình nước non
Đêm Yên Tử sáng trăng rằm
Ban mai ngày mới an nhiên cuộc đời

Thung dung bước tới thảnh thơi
Hiền lành phúc hậu lánh nơi bụi trần
Thiên nhiên là thú bình an
Người thân bạn quý thanh nhàn sống vui.

HOA LÚA
Hoàng Kim

Bao năm Trường Viện là nhà
Sắn khoai ngô lúa đều là thịt xương
Một đời người một rừng cây
Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng…

Con theo Người nguyện làm Hoa Lúa
Bưng bát cơm đầy quý giọt mồ hôi
Trọn đời vì Dân mến thương hạt gạo
Hoa quê hương hạt ngọc trắng ngần.

Con thăm Thầy lên non thiêng Yên Tử
Về đất lành chùa Giáng (*) giữa đồng xuân
Thơm hương lúa ngậm đòng chăm bón đúng
Ngát gương sen lồng lộng bóng trúc mai

Lẫn với cỏ không tranh đua hương vị
Không màng ngôi ngự trị các loài hoa
Hoa Lúa đượm hồn quê dung dị
Quên sắc hương để lộng lẫy Hoa Người ! ” (**)

Con nguyện ước nối đời theo hạt gạo
Chén cơm ngon thơm bếp lửa gia đình
Thầy Trò cùng chung tay làm việc thiện
Sống trọn tình với giấc mơ xanh.

(**) Thơ Dương Phượng Toại

nuidoiquanba

LÊN VIỆT BẮC ĐIỂM HẸN
Hoàng Kim

Anh lên Tây Bắc chào các mế
Trời suối gần thêm giấc mơ lành
Mây trắng đường xưa thênh thênh bước
Tản mạn cây xanh thăm thẳm anh.

QUẢNG BÌNH NÔI ĐỊA LINH

Quảng Bình nôi địa linh,có nhiều người con trung hiếu, có nhiều người rất ý thức bảo tồn di sản, Một chuyện hay tôi chọn lưu lại là trao đổi thường ngày của thầy Cao Xuân Thiện gửi cụ Nguyễn Quốc Toàn như sau

Kính gửi: Bác Nguyễn Quốc Toàn Em có một anh bạn cùng đơn vị, quê ở phường Quảng Phong (trước đây là làng Lũ Đăng thuộc huyện Quảng Trạch) thị xã Ba Đồn có nhờ em dịch nghĩa đôi câu đối (đã phiên âm Hán Việt, không có ảnh chữ Hán), như sau: “Hướng tốn Linh Giang sản vật công thương ưu Quảng địa / Tọa càn lãnh thổ cư dân canh mục hảo Phong điền” Em cũng thử đoán và tạm dịch như sau: – Theo hướng Đông Nam sông Gianh sản vật nghề thợ thuyền buôn bán chăm lo cho đất Quảng – Lãnh thổ nằm ở hướng Tây Bắc dân cư cày cấy chăn nuôi làm tốt tươi đồng ruộng xứ Phong”. Anh bạn em nói rằng như thế là không hợp với làng quê anh ấy, vì xã Quảng Phong mới có sau năm 1954. Còn địa danh Phong Điền thuộc Thừa Thiên Huế cơ. (Chép thêm: Phần dịch của anh Bản (Lũ Phong):- Hướng Đông Nam là Sông Gianh. Đất đai rộng lớn, có ưu thế và điều kiện phát triển nghề cá và buôn bán sản vật.- Hướng Tây Bắc là làng xã. Ruộng đồng trù phú, tươi tốt, người dân chủ yếu làm làm ruộng, làm vườn, chăn nuôi gia súc, gia cầm.) Em kính mong bác và các bạn của bác chỉ giáo. Em và anh bạn của em chân thành cảm ơn các bác.

Cụ Nguyễn Quốc Toàn trả lời: I- Nếu xem câu đối là chuẩn mực thì lời dịch của thầy tuy chưa hàm súc lắm nhưng cũng xem là được.II- Ngoài ra, tui có đôi điều suy nghĩ về văn bản câu đối xin trình bày như sau 1- Linh Giang là tên một con sông cụ thể thì ở vế đối cũng phải là một địa danh cụ thể nào đó chẳng hạn như: Pháp Kệ, Tượng Sơn… chớ không thể dùng từ “lãnh thổ” chung chung được. 2- Câu đối có dùng đến hai thuật ngữ trong bát quái là “tốn” và “càn”. Để đỡ rắc rối ta quy ước dùng hậu thiên bát quái (của Văn Vương) để bàn tiếp. Theo hậu thiên thì “tốn” và “càn” nằm ở hai mút của một đoạn thẳng. Tốn ở phía đông nam, càn ở phía tây bắc. Xem trên bản đồ thì Linh Giang chảy theo hướng tây tây bắc về phía đông đông nam. Vậy nói Linh Giang hướng tốn là mù mờ không chính xác. Nói làng Lũ Phong (Lũ Đăng) tọa càn càng không chính xác. Nếu quy làng về một điểm thì điểm đó phải được xác định bởi hai toạ độ (x và y) nếu chỉ nói toạ càn thì cái “lãnh thổ” kia không thể định vị được. Thêm nữa, “hướng” (向) là danh từ chỉ một trong những phía của không gian không thể đối với “tọa” (坐) là động từ ngồi. 3- Làng Lũ Phong cùng với làng Tân Phong họp thành xã Quảng Phong. Riêng Lũ Phong thời Lê Quý Đôn viết Phủ Biên tạp lục (1776) gọi là Lũ Đăng. Đến năm Thành Thái thứ 17 (1905) gọi là Lũ Phong. Tên Quảng Phong có thể xuất hiện sau năm 1954. 4- Không hiểu sao người bạn thầy Thiện đưa ra câu đối trong đó có vế “tọa càn lãnh thổ cư dân canh mục hảo phong điền” lại bảo như vậy là “không hợp với làng quê anh ấy. vì xã Quảng Phong mới có sau năm 1954 còn địa danh Phong Điền thuộc Thừa Thên Huế”. Tức là anh ấy không tán thành vế thứ hai của câu đối ?? Nên nhớ là phong điền (豐田) là ruộng tốt. Bất cứ ai cũng có thể dùng từ phong điền đặt cho làng quê mình chớ nó không phải là độc quyền của người Thừa Thiên. Làng Lộc Điền quê nội tui ở bờ bắc sông Gianh.

Cao Xuân Thiện Thưa bác Nguyễn Quốc Toàn, anh Bản Trọng, đã bổ sung như sau: Trong bát vận “tọa” là phía sau, “tốn” là phía trước. Như vậy hướng tốn, tọa càn nói về trước mặt và sau lưng đình Lũ Phong. Đúng ra phải hiểu đình là điểm định vị chính tâm bát vận để xác lập vị trí Linh Giang ở phía trước theo hướng Đông Nam và làng xã (lãnh thổ) ở phía sau theo hướng Tây Bắc. Làng Lũ Đăng đổi thành Lũ Phong vì kỵ húy vua Kiến Phúc (1883- 1884). Vua Kiến Phúc có tự Ưng Đăng.

Nguyễn Hữu Trường Nên cân nhắc thêm : Linh Giang còn là tên gọi khác của con sông Hương, các bác ạ! Đại Linh Giang là tên gọi của Sông Gianh …( theo Lê Quý Đôn toàn tập). Tham khảo để mở thêm hướng cảm nhận nội dung câu đối chăng? Xin chúc bác Toàn khỏe.. Phục bác về sự tìm tòi trong vốn cổ…

Nguyễn Quốc Toàn 1- Cảm ơn bạn Trường đã nêu ý kiến sông Hương một thời có tên Linh Giang. Hồi còn Bình Trị Thiên tui đã đọc một bài của Phan Thuận An cũng nói về vấn đề này. Mới đây ông Trần Ngọc Hùng ở Đồng Hới có nhắc lại. 2- Tui hay ông Thuận An, ông Trần Hùng, đều dựa vào sách người xưa để lập luận. Cụ Đào Duy Anh có viết trong sách “Đất nước Việt Nam qua các đời” một câu như thế này: “Tấn thư Châu quận chí nói rằng năm Thái Khang thứ 10 chia quận Tây Quyển mà lập huyện Thọ Linh, sông Thọ Linh là sông Linh Giang (sông Gianh ngày nay)…”. Thái Khang thứ 10 là năm 289 đời vua Vũ Đế Tây Tấn. Sau này ông Lê Quý Đôn (1726-1784) viết Phủ Biên Tạp lục cũng dựa vào các sách Thủy Kinh chú sớ, Hán thư, Tấn thư… 3- Chữ Linh trong Linh Giang chính là chữ Linh trong tên huyện Thọ Linh, xuất hiện cách nay 1733 năm tồn tại cho đến ngày nay. Còn chữ Linh trong Linh Giang của sông Hương không biết bắt nguồn từ đâu. Tui không nhớ các học giả nọ dẫn giải như thế nào nữa.4- Bạn của ông bạn tui quê ở Lũ Phong đã dẫn ra câu đối này để tưởng nhớ quê hương mình thì “Linh Giang hướng tốn” chính là sông Gianh ở Quảng Trạch. Chắc chắn là đôi bờ sông Hương không có địa danh nào là Lũ Đăng hay Lũ Phong cả. (…) Sông Hương không chảy qua hai huyện Quảng Điền và Phong Điền của Thừa Thiên Huế1- Phong Điền giáp giới Quảng Trị còn khá xa sông Hương2- Quảng Điền có Phá Tam Giang, có sông Bồ chảy men theo vùng đất Thanh Hà, Tộc Cao Xá sau đó đổ vào sông Hương ở gần đình Thủy Phú. Đoạn cuối sông Hương gần đất Quảng Điền chứ không chảy qua Quảng Điền

Kim Hoàng Cảm ơn Thầy Nguyễn Quốc Toàn tuyệt vời lời bình luận! Linh Giang Đình Minh Lệ là hai địa danh nổi tiếng vùng Minh Linh quê em. Linh Giang thông đại hải, hướng Đình Minh Lệ nhìn thẳng ra Biển Đông chứ không nhìn ra hướng rào Nan nguồn Son. Vùng quê này phát tích nhiều huyền thoại, trong đó em có lưu chùm bài “Linh Giang Đình Minh Lệ”/ “Nguồn Son nối Phong Nha”/ “Bến Lội Đền Bốn Miếu”/ “Đá Đứng chốn sông thiêng”. Có ông già mù người Cao Lao Hạ thuở xưa nói với che em “Đá Đứng chốn sông thiêng Cầu Minh Lệ Rào Nan Bến Lội Đền Bốn Miếu là nơi rất rất hiểm. Ông già lại xuống giọng thầm thì. Ngã ba sông Chợ Mới là hiểm địa. Đá Đứng chốn sông thiêng là rất rất hiểm địa. Ông có biết vì sao đối diện Bến Lội Đền Bốn Miếu là động Ma Ca không? Thiêng lắm đấy, vì có quá nhiều người chết. Đây là nơi chính phân tranh từ nhiều đời. Thời Cao Vương lập đá Đứng bỏ bút thần. Thời Núi Đá Bia ngón tay minh sư thệ trời xanh bước qua lời nguyền chia cắt đấy. Giá máu xương cao lắm ! Chỗ cao giá hiểm nguy. Cụ già lặp lại. Cụ già quay sang em (lúc ấy khoảng 7-9 tuổi) , bắt em nhắc di nhắc lại mấy lời khẩu quyết: “Cao cát Mạc sơn / Sơn Hà Cảnh Thổ / Văn Võ Cổ Kim / Linh Giang thông đại hải / Ngũ Lĩnh tiếp Cao Sơn / Đình Bảng Cao Lao Hạ / Miếu cổ thủy sơn thần./ ….” Mắt Cụ rất thành khẩn. Hốc mắt Cụ dường như có nước mắt. Người Cụ khoan thai thần bí và trầm tĩnh lạ lùng”. … Chuyện rất lạ thuở nhỏ . Nay anh nhắc điều này, nên xin được chép về.

Nguyễn Quốc Toàn Đính chính ngay với Hoàng Kim, quê nội tui là làng Lộc Điền thượng phường chớ không phải là làng Lũ Phong.

ĐÔI LỜI VỚI ĐÌNH LÀNG LỘC ĐIỀN.
Nguyễn Quốc Toàn (10.10.2021)


I- Đình làng Lộc Điền (Tân An) được xây dựng từ cuối thế kỷ 17, ban đầu chỉ là tranh tre gỗ nứa. Phải đến lần tôn tạo cuối cùng năm 1938 mới thực sự hoàn chỉnh (1). Hai cột nanh trước đình cao 5 mét, trên đỉnh có nghê chầu, đế cột hình vuông 0.8m x 0.8 m, các mặt bên đắp hình rồng chầu hổ phục giữa những hoa văn tinh tế. Đình có 3 hoành phi 4 câu đối, do các nhà nho danh tiếng của làng soạn thảo.

II- Sự phục dựng đình làng Lộc Điền trong năm 2003-2004.Trong chiến tranh phá hoại, đình làng bị giặc Mỹ oanh tạc. Trụ biểu (cột nanh) bên phải (nhìn từ sông Gianh vào) bị gảy đổ. Các ngôi đình mái ngói bị tàn phá chỉ còn trơ lại nền. Đã có nhà dân lấn chiếm làm nhà ở trên nền đình, do vậy ban tu tạo không thể làm đình mới trên nền cũ như ngày xưa mà làm lệch đi, dẫn đến phải phá hai trụ biểu (cột nanh) cũ để làm lại mới. Các chữ trên hoành phi câu đối được sao chép lại từ đình cũ nhưng có nhiều sai biệt. Để người viết dễ diễn đạt và người đọc tiện theo dõi, bu tui nói về câu đối trước sau đó nói đến hoành phi.

A- NHẬN XÉT VỀ CÂU ĐỐI
Câu đối 1


• Vế (a1) trên trụ biểu bên phải (cột nanh) nhìn từ sông vào:
四面山河得壹以靈凝正氣
(Tứ diện sơn hà đắc nhất dĩ linh ngưng chính khí)
Dịch: Bốn mặt núi sông chỉ nơi đây linh thiêng ngưng tụ chính khí.
Vế này không có gì sai nhưng chữ dĩ 以 nguyên là chữ khải phồn thể, viết thành một thứ chữ ngoài quy chuẩn của thảo, hành, lệ, triện, lạc lỏng với 10 chữ còn lại (có ảnh minh hóa, cuối bài)

• Vế (a2) trên trụ biểu bên trái:
兩間天地立中不倚屹高標
(Lưỡng gian thiên địa lập trung bất ỷ ngật cao tiêu)
Dịch:Trong khoảng trời đất, tự mình đứng vững vươn thẳng, vút tầm cao
Vế này sai hai chữ. Lưỡng gian thiên địa 兩間天地 là trong khoảng trời đất, viết thành lưỡng giang thiên địa 兩江天地 là hai con sông trong trời đất.

Trước làng Lộc Điền chỉ có một đoạn sông Gianh chảy qua không có hai con sông. Chữ tiêu 標 cuối câu, viết thành chữ gì chưa đọc được (có ảnh minh họa ở cuối bài).Các câu đối ở đình trung

Câu đối 2
Vế (a2)
形和氣和天地之和應
(Hình hòa khí hòa thiện địa chi hòa ứng) Chữ hình 形 là hính dáng, hình thể, viết thành chữ hình 刑 là hình luật hình sự

Vế (b2)
言正行正左右皆正人
(Ngôn chính hành chính tả hữu giai chính nhân) Chữ hành 行 là làm, gồm bộ sách 彳và chữ xúc亍viết thành bộ sách 彳 đi với chữ vu 于 không thành ra chữ gì cả.

Câu đối 3
Vế (a3)
謳歌鼓舞樂在人和
(Âu ca cổ vũ lạc tại nhân hòa)
Vế này có 8 chữ, sai mất bốn: Âu 謳 là ca hát viết thành tiệp 疌 là mau lẹ, cổ 鼓 là cái trống viết thành cổ 詁 là giải thích chuyện cũ, vũ 舞 là múa viết thành vũ 偊 là lủi thủi một một mình.

Ý của vế này là “hát múa ngợi ca bởi lòng dân thuận hòa”

Vế (b3)
禮樂威儀敬如神在
(Lễ nhạc uy nghi kính như thần tại)
Vế này sai 3 chữ. Chữ nhạc 樂 là âm nhạc viết thành chữ nhạc 岳 trong nhạc trượng 岳丈là bố vợ. Chữ uy 威 là oai phong viết thành chữ uy 倭 trong uy trì 倭遲 là xa thăm thẳm. Chữ nghi 儀 là trang nghiêm viết thành chữ nghi 倭 trong nghi thất nghi gia 宜室宜家 là nên vợ nên chồng.

Câu đối 4
Vế (a4)
功高護國萬年長
(Công cao hộ quốc vạn niên trường)
Vế này sai một chữ. Hộ 護 là che chở bảo vệ. Viết thành một chữ gồm bộ thủ 扌và chữ hộ 戶 là cửa một cánh. Tổ hợp 扌+戶 không thành ra chữ gì cả

Vế (b4)
德大安民千古盛
(Đức đại yên dân thiên cổ thịnh)
Vế này sai một chữ. Yên 安 là bình yên viết thành yên 嫣 là say đắm quyến rũ

B- NHẬN XÉT VỀ HOÀNH PHI

Hoành phi 1 (chữ Hán đọc từ phải qua trái, chữ quốc ngữ đọc ngược lại)
靈英古萬
(Vạn cổ anh linh)
Hoành phi 1 không có chữ nào nào sai

Hoành phi 2
大正明光
(quang minh chính đại)
Câu này sai 1 chữ. Quang 光 viết thành chữ cao 高

Hoành phi 3
同逾福萬
(vạn phúc du đồng)
Câu này sai 1 chữ. Du 逾 là vượt quá, hơn, viết thành chữ thu 秋 là mùa thu thành ra vô nghĩa

III- Lời cuối

Phần gạch đá, gỗ ngói, sắt thép, của đình chỉ là phần xác, kẻ địch hoặc người xấu có thể phá hoại. Nhưng chữ nghĩa ngoài đình trong đình là phần hồn của làng. Tính nhân văn của nó còn lại mãi mãi. Tôn tạo lại đúng như cách nay một thể kỷ là tôn trọng quá khứ, tôn trọng công sức và trí tuệ ông cha. Kính mong các nhà chức sắc làng Lộc Điền (Tân An) khắc phục ngay những gì còn sai sót
——
(1) Theo thư riêng của PGS tiến sĩ Nguyễn Quốc Cừ đề ngày 24.11.2002 gửi cho người viết bài này

(2) Một số trao đổi trên FB:

Dũng Nobita Thật đáng buồn!

Nguyễn Quốc Toàn Buồn và xấu hổ nữa

Le Thanh Binh 你真是一個知識淵博、充滿好奇心的人!

Nguyễn Quốc Toàn Cảm ơn nhà thơ có lời khen

Nguyễn Quốc Toàn Còn hơn bu tui không học được ngày nào, chỉ mua sách về tự học, mà chỉ học chữ phồn thể, đụng phải chữ giản thế là phải tra cứu rất mất thì giờ

Le Thanh Binh @ Nguyễn Quốc Toàn Dạ. Em học online, cũng tiếng Trung phồn thể. Thực ra giản thể cũng không khác nhiều lắm anh hè!

Phúc Trương Hay lắm bác! Giữ lại văn hóa là giữ lại sự sống cho làng! Rất mừng là làng còn được người uyên thâm như bác! Ở làng Mỹ Lợi em là quê ngoại vua Bảo Đại mà sau 75 họ đập bỏ hai trụ biểu cũ to lớn có những câu đối cẩn mẻ xưa rất đẹp! Giờ họ làm lại một nhà cấp 4 thế là xong! Di sản phong kiến mà ai dám nói !!!

Lê Thị Huyền Thanh Em nghĩ bác nên gửi thẳng cho những người chức trách của làng tộc không thì uổng công sức các cụ tiền bối.

Nguyễn Quốc Toàn Năm 2006 bác đã in lên tạp chí Nhật Lệ và gửi tặng làng, xã …Bác cũng gợi ý đứng ra sửa chữa cùng chuyên gia Hán Nôm nhưng họ im lặng. Nay bác ở cách làng cả ngàn cây số thì đành chịu vậy. Thanh đọc bác trả lời bên dưới để hiểu thêm sự tình…

Lê Thị Huyền Thanh Buồn quá bác nhỉ

Nguyễn Quốc Toàn Buồn và xấu hổ nữa Thanh à

Khiêm Phan Nguyễn Nhầm lẫn lung tung, chắc do không am hiểu mà tra google. Bác đã góp ý thì phải giám sát đế thúc đẩy họ sửa sai mới trọn vẹn ạ.

Nguyễn Quốc Toàn Làng tui đã từng có 2 tiến sĩ và 3 cữ nhân Hán học, nhưng nay con cháu mù tịt. Năm 2003 người ta thuê anh thợ máy tính viết chữ. Gõ chữ Hình quốc ngữ ra 11 chữ hình chữ Hán. Người thuê và người gõ đều mù tịt nên họ chọn đại lấy 1 trong 11 chữ. Tức là chữ hình bộ đao 刑 thay vì chữ hình bộ sam 形. Cách làm như vậy thì chữ nào cũng sai. Trước năm 2006 bu tui đã in bài viết này trên tạp chí NHẬT LỆ gửi về xã Quảng Thanh và chức sắc làng Lộc Điền, lại gợi ý đứng ra cùng chuyên gia Hán Nôm sửa chữa lại nhưng không thấy làng xã động tĩnh gì. Năm 2011 bu tui vô Nam, đã 18 năm nay, (chữ trên đình làng Lộc Điền) sai cứ hoàn sai. Gần đây có thằng cháu bảo người Lộc Điền (Tân An) yêu quê hương nên viết một cái gì đó… Thế là bu tui viết lại chuyện cũ mà cứ như mới vậy.

Khiêm Phan Nguyễn @ Nguyễn Quốc Toàn Họ không thấy xấu hổ mà mình xấu hổ bác ạ.

Nguyễn Quốc Toàn Khiêm nói quá đúng và quá hay.

Vỹ Ngô Dạ cháu xin share bài vào nhóm fb “Làng Tân An …” Chú nhé. Để rồi mọi người cùng đọc cùng ngẫm khi có cơ hội, có người dám đứng ra mà tổ chức sửa lại được thì tốt.

Nguyễn Quốc Toàn Cháu biết đấy, chú rất ít khi về làng. Chi tiết có nhà dân lần chiếm, cột đình bên phải (nhìn từ sông vào) bị đạn bom làm đổ gảy mất một nữa chú không dám chắc đúng vì chỉ nghe nói lại. Riêng số chữ sai chú viết là có căn cứ vì chính chú ghi chép lại trong đình từ năm 2006. Thỉnh thoảng về làng cháu tìm hiểu và ghi chép thêm thông báo lại cho chú nhé. Chữ bằng vữa xi măng đục đi làm lại không mất nhiều công của. chỉ cần có một người giỏi chữ Hán làm chuyên gia

Hoàng Trung Anh thật tâm huyết với làng Lộc Điền (Tân An).

Phan Hồng Anh của tui giỏi quá ,thiệt tự hào về anh. Chúc gia đình anh chị mãi mãi mạnh khỏe, hạnh phúc và bình an nhé.

Nguyễn Quốc Toàn Em Hồng cũng giỏi lắm

Nguyễn Bá Sinh Kính phục sự am hiểu SÂU SẮC tôi có đi vào nghiên cứu lĩnh vực này , nhưng khó lắm và tốn công phu.

Nguyễn Quốc Toàn Do bu tui có tính tò mò và ham hiểu biết bác Sinh à

Nguyễn Bá Sinh Người giỏi chữ Hán cũng phải tra cứu (từ điển) vi nó phức tạp lắm

Nguyễn Quốc Toàn Học mà không dùng thì quên ngay bá à

Ha Ngo Chú Lê Quang Vinh là con mệ Chắt Khiêm (Chị của ông Chân) phải không cậu Vỹ. Chú Toàn có bài viết về đình làng hay quá cậu hè.

Vỹ Ngô @ Ha Ngo dạ đúng chị

Nguyễn Quốc Toàn Mệ Chắt Kiêm chớ không phải Khiêm. Người bà con cùng họ Ngô với cháu đấy

Lê Quang Vinh @ Nguyễn Quốc Toàn:
THÂN GỬI CỤ NGUYỄN QUỐC TOÀN

Bài viết của cụ rất tâm huyết. Vô cùng quý. Nhưng chú em vẫn buồn là sao sau hàng chục năm làm xong đình mới, cụ mới lên tiếng? Thời gian xây lại đình, cụ vẫn ở Đồng Hới, chẳng lẽ không về thăm làng lần nào, còn phải xủi mả hằng năm nữa chứ?Tuy vậy, những phát hiện rõ ràng thế này, làng ta dứt khoát cần phải sửa cho đúng với ngữ nghĩa của câu đối cũng như hoành phi mà tiền nhân khi xưa đã làm. Kinh phí khắc phục không phải quá tốn kém, nên không thể không làm được.Một chi tiết cụ nhầm: hai cột nanh cũ chẳng có cột nào bị đổ gãy hết. Chỉ có cột phía Đông hơi bị nghiêng chút ít nhưng vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt” nửa thế kỷ sau khi ngôi đình bị máy bay Mỹ ném bom. Đây là hai dấu tích còn lại duy nhất để Sở Văn hoá Quảng Bình công nhận “Di tích Lịch sử Văn hóa” cấp tỉnh cho ngôi đình. Còn các hộ dân sống trên đất đình, là do địa phương cấp đất từ trước khi làm lại đình cũng trên 40 năm (ngay sau khi chiến tranh kết thúc 30/4/1975). Không một ai cả gan đến đây lấn chiếm đất công hết. Họ đều được Nhà nước cấp sổ đỏ. Nhiều địa phương có tình trạng đất đai các di tích lịch sử như làng Lộc Điền, họ đều hoán đổi đất ở khác thế cho người dân, để lấy lại nguyên thổ của di tích như đình làng Hòa Ninh, đình làng Lũ Phong… cùng trong huyện nhà cả đó thôi. (Cách làm này là phổ biến. Hiện Thành phố.Huế đang di dời cả ngàn hộ dân ra khỏi thành nội, để trả lại mặt bằng cho các công trình sắp được khôi phục trong mấy năm tới). Nếu chuyện hoán đổi đất không thực hiện được, cũng nên bảo tồn hai cột nanh bằng biện pháp di dời, để giữ lại di tích gốc, chứ không nên hóa giải như đã xẩy ra.Từ xưa tới nay ở nước ta cũng như các nước trên thế giới, bất luận một di tích lịch sử văn hóa nào, người ta luôn bằng mọi cách gìn giữ, bảo tồn từng mảnh ngói, viên gạch. Như Hoàng thành Thăng Long, khi tới đây tham quan, ta thấy từng viên ngói viên gạch cùng bao nhiêu mảnh sành sứ khác, được moi lên từ trong lòng đất đang được sắp xếp, bộc lộ cẩn thận, thuận lợi cho khách chiêm ngưỡng. Hoặc các di tích về triều đại nhà Trần ở Đông Triều, người ta khai quật từng táng nhà, gạch ngói, đồ gốm sứ nằm ẩn mình dưới lòng đất trên 7 thế kỷ. Tất cả cũng đang được trưng bày bên các công trình mới được phục hồi-trùng tu như chùa Quỳnh Lâm hoặc đền Sùng Ân (thái miếu 7 vua Trần), ở khu vực xã Tràng An, Đông Triều… Trong khi đó làng Lộc Điền ta lại làm điều ngược lại: đập tan tành hai cột nanh còn khá vững chãi, mọi thứ gần như vẫn nguyên vẹn, lấp xuống bờ sông. Đó là một nghịch lý quá đau lòng… (Trong ảnh: Hai cột nanh cũ của đình làng Lộc Điền tồn tại cho đến ngày hội đình lần đầu được khôi phục cách nay cỡ 12 năm. Ảnh do LQV chụp). Hà Nội, 14 giờ 22’ ngày 11/10/2021 LQV.

Vỹ Ngô @ Lê Quang Vinh Đúng rồi a, thật quá đau lòng vì sự kém hiểu biết của sơ các cụ trực tiếp tham gia việc khôi phục đình làng. Tui con út sơ ông N.P Yến lúc đó cậu tui già rồi không tham gia vào việc này nhưng tui còn nhớ nhũng cụ chủ chốt trong việc này họ mất cả rồi không nhắc làm gì. Năm đó vào tầm tháng 3 âm lịch đứa con thứ 2 của tui tròn 3 tháng 10 ngày tui đưa về nội rồi lên ngoại ở chòm một. Tôi dựng tóc gáy khi thấy cột đình làng cái gốc tích còn lại của đình, nơi duy nhất để tụ của thần linh làng nằm chỏng chơ thành 3 khúc dưới bờ sông, không biết những người trực tiếp đập phá bây giờ ra sao? Chiều đó tui về chòm 3 nơi cụ có học vấn cao nhất trong các cụ mà tôi nghỉ là người chủ chốt trong quyết định việc này, vừa lúc gặp luôn các cụ có liên quan trong ban trùng tu đang ngồi hóng mát trước s6ng có cả ông Sáng, ông Xưa, ông Gi, ông Khếu (chú ruột tui)…, thì tui thắc mắc: 1- Đình được công nhận di tích cấp tỉnh là nhờ 2 cột đình; Nếu các cụ làm vậy thì có nguy cơ bị rút bằng công nhận. 2- Về kỷ thuật trùng tu liệu thợ ngày nay có phục chế lại được sự đọc đáo (nét cổ kính của hoa văn) và ít nhất là giống hoặc hơn như cũ được không. 3- Về tâm linh, đập cột đình gốc thì các linh thần tụ vào đâu, các cụ bỏ đi hoặc phạt lại, con cháu phải chịu rồi sẽ khó có người học hành đổ đạt… các ông có suy nghỉ như vậy không. Thế là tui được một bữa đánh hội đồng của các cụ (bằng lời), các cụ bảo làm lại cho mới cho đẹp hơn…. nhưng tui lúc đó mới 36 tuổi thời đang xung tui cũng không thua, cuối cùng tui chốt lại một câu các ông cứ chờ xem rồi chuyện gì sẽ xảy ra, ít nhất bị thu hồi công nhận di tích. Sở dĩ tui nói thế là vì quá trình làm thủ tục công nhận di tích tui có biết và đã nắm nguyên tắc công nhận và tui có theo dỏi qua thằng em (con ông anh bạn của anh rể tui) nó ở sở văn hóa trực tiếp làm thủ tục công nhận di tích cho đình làng mình, khi được công nhận, nó báo cho tui biết trước mà. Trước khi bị rút chứng nhận công nhận di tích nó cũng gọi báo cho tui nói hỏng rồi anh ơi làng ta trùng tu đình là di tích lịch sử mà đập cái căn cứ di tích đi thì còn gì nữa sắp tới khả năng họ thu hồi, em vừa ra khảo sát thực tế về, tui cũng buồn và nói anh biết rồi…, Thực ra khi biết tui không dám nói với nó sợ họ thu hồi giấy chứng nhận, tui cứ nghỉ chắc là chẳng ai ra lại đó nữa mà biết hoặc để thế được thêm năm nào được năm nấy. Còn Ông Toàn thì nên thông cảm cho ông, tui có nói với ông nhưng ông bảo tao sợ về nói họ không nghe mô, sau đó thời gian khi sửa đình đã xong ông có nói vơi tui chuyện sai chữ một lần rồi, thực ra ông ít về quê vì nhiều lý do…nếu còn nhà từ đường chẳng hạn thì khác, mà ở quê là thế ít về thì tình cảm, uy thế, tiếng nói…nó cũng khác đi. Bây giờ có kỳ mạng xã hội giúp chúng ta kết nối thế này, mọi người mới có cơ hội giải bày cái này cái nọ…cũng như anh mới biết điều đó vậy. Thực ra do tui đang muốn thu thập mọi thứ liên quan đến làng ta như về đình làng, lịch sử làng Tân An…qua những người cao niên, có học vấn như chú Toàn, như Anh (Lê Quang Vinh) để cho người dân làng ta, lớp như bọn em nâng tầm hiểu biết, và có thể biên tập lại thành tài liệu có ích về lịch sử làng cho con cháu mai sau. Mong Anh tham gia nhiệt tình và đóng góp cùng nhóm nhé. Cảm ơn Anh đã tham gia nhóm!

Nguyễn Quốc Toàn Chú Vinh 1- Đâu khoảng 2002-2003 làng Lộc Điền làm lại đình mới. Bác Toàn và bác Cừ không được làng thông báo cho biết. Đến như làng Hướng Phương lấy cớ đào mương thủy lợi để phá lăng cụ thượng Hoan lấy đá xây sân hợp tác và tìm vàng bạc, bác Cừ và bác Toàn không hề hay biết. Mạ anh ở ngay làng cũng không được thông báo. Bà còn bị sở Văn hóa quy tội đào mộ cổ, di tích văn hóa…mà không cho sở Văn hóa biết… Hài cốt cụ thượng Hoan để ở sân nhà cúng bái làm thủ tục mai táng bị một (người bà con) bảo làm nhanh, đưa đi ngay, ông này là đại phong kiến, thượng thư, đại thần nhà Nguyễn. Nhưng cũng tên tuổi ông này bây giờ ngày việc làng được người ta nhắc đến với lòng tự hào rằng dân làng ta xưa kia có người đỗ đạt làm quan… 2- Bác đây được ty GTVT cho làm hồ sơ đi nghiên cứu sinh ở Đức, ông trưởng công an xã người Lộc Điền ghi gia đình anh này đế quốc, phong kiến, có thái độ buôn bán… không thể cho ra nước ngoài.3- Nói vậy để biết người Lộc Điền một thời không mấy thiện chí với dòng dõi nhà bác. Bản thân bác cũng ít quảng giao, cộng dồn lại cho đến tuổi 80 bác chỉ ở làng nhiều lắm là 4 tháng. 4- Bác không chắc những gì bác viết về sự gãy đổ cột đình bên phải, có người lấn chiếm nền đình là đúng vì chỉ nghe người ta nói lại. Riêng những chữ sai trong đình thì chính bác ghi chép lại từ năm 2006. Bác đã viết một bài khá dài in trên tạp chí Nhật Lệ gửi ra tặng xã tặng Làng. Lại còn hứa sẽ bỏ công sức sử chữa lại, nhưng làng xã không nói gì. Mới đây thằng cháu Ngô Vỹ gợi ý chú nên viết một cái gì đó về quê hương thì bác viết lại vắn tắt hơn. Sự thể như vậy chú Vinh à

Lê Quang Vinh @ Nguyễn Quốc Toàn: Thưa anh, đình làng ta làm lại có lẽ năm 2008 hoặc 2009. Bởi 2004, chú về tổ chức Lễ tưởng niệm cụ Ngô Nhật Tuyên 50 năm ly biệt quê hương gia đinh, tù đày; rồi ngày 29 tháng 9 năm 2006: Lễ tưởng niệm 100 năm ngày sinh cụ Ngô Thị Kiêm (mự chú Vinh, ngay nhà ông Chân-nơi sinh hạ Cụ) thì ngôi đình cũ là nhà kho của HTX vẫn còn. Vài năm sau vẫn là đình cũ, thì Hội đình làng Lộc Điền lần đầu được tổ chức lại sau hơn nửa thế kỷ bị lãng quên. Chú Vinh về dự, hăm hở mua 1 chiếc bù rù (chiêng) nặng 12 cân đồng, về cúng. Chiếc bù rù này vẫn còn. Chiếc khác do họ Hà cúng thì ngay sau đó bị mất trộm…Anh nói xã phê lý lịch xấu, nên không được đi nước ngoài; sao anh Cừ lại được đi, anh Toàn lý lịch thế sao vào Đảng được mà anh vẫn vào? Không vào, ai cho anh làm “Viện trưởng Viện Thiết kế giao thông Quảng Bình”?! Thôi bỏ qua chuyện cũ. Chỉ nói chuyện đình thôi. Chú về gặp ban bệ làm đình của làng, lại gặp 2 anh Ngô Cư và anh Luận (Bí thư và phó bí thư huyện Quảng Trạch), gặp Trưởng phòng Văn hoá … đề nghị không phá cột nanh. Tất cả nhất trí. Cuối cùng làng vẫn phá, tấp xuống bờ sông Gianh Đoạn kết bài viết của anh là một thông điệp xuất sắc, không chỉ với thế hệ hiện tại, mà cho các thế hệ tương lai của làng Lộc Điền. Có điều, bài viết sai nhiều lỗi chính tả đấy nhé Chúc bác thật khỏe ! (Ảnh chụp sau lễ cúng ông ngoại chú Vinh, ngày 12/4/ năm Giáp Thân – 2004).

Vỹ Ngô @ Lê Quang Vinh chính xác là khởi công đầu năm 2008, đập hạ cột đình vào tháng 3 năm 2008 âm lịch Anh ạ.

Nguyễn Quốc Toàn Chú Vinh 1- Năm 2006 bác về làng, chú Thiệt cho bác vào đình coi chữ nghĩa. Bác bảo sai nhiều quá chú ơi. Chú Thiệt bảo mi viết cho chú cái thư, nói sai trật như răng để chú còn nói với ban tu tạo. Cũng để họ biết chú có thằng cháu hiểu biết chớ không phải dốt nát chi. Bác viết ngay thư gửi chú Thiệt đề ngày 01.4.2006 bản lưu bác đang giữ đây. (hình như thư này chú Thiệt có đưa Vinh đọc thư đề 01.4.2006 chắc chắn chú Thiệt còn lưu trữ).

Lê Quang Vinh @ Nguyễn Quốc Toàn: Có lẽ ông Cậu vớ được thứ quý thế này là tung ra ngay, chuyển luôn cho làng; nên sợ trong tập tài liệu của ông Cậu hiện đang lưu, chẳng còn bức thư này nữa đâu. Anh đăng bức thư viết cho ông Thiệt lên FB, là một câu chuyện hay, rất có ích cho làng ta anh ạ.

Nguyễn Quốc Toàn

22 tháng 9 năm 2021 lúc 16:32  · ĐỌC ĐÌNH LÀNG LỘC ĐIỀN ĐIỂM NGUYỆN ƯỚC CỦA KẺ SĨ -“Đình làng Lộc Điền điểm nguyện ước của kẻ sĩ” là một tiểu mục trong sách “Những nét đẹp về văn hóa cổ truyền Quảng Bình” 790 trang, của tác giả Nguyễn Tú do nxb Thuận Hóa ấn hành năm 2007.1- Để viết được tiểu mục này chắc hẳn tác giả đã đến tận làng Lộc Điền (Tân An), gặp gỡ người già, nghe các cụ kể về lịch tích làng mình. Tuy nhiên, tác giả chưa “tiêu hóa” hết những gì nghe thấy, thậm chí đôi khi còn vỏ đoán thể hiện trong các trang sách. Ở Lộc Điền từ giữa thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 chỉ có 5 môn sinh nho học .- Ông Ngô Khắc Kiệm đỗ cử nhân 1840, đỗ tiến sĩ 1842- Ông Nguyễn Quốc Hoan đỗ cử nhân 1821- Ông Nguyễn Quốc Thành đỗ cử nhân 1846, đỗ tiến sĩ 1851- Ông Nguyễn Quốc Uyển đỗ cử nhân 1846- Ông Ngô Gia Hữu đỗ cử nhân 1846 Trừ ông Nguyễn Quốc Thành và ông Nguyễn Quốc Uẩn (anh em sinh đôi) cùng đỗ cử nhân năm 1846. Số còn lại, người nọ xuất hiện cách người kia vài chục năm, họ không thành một tầng lớp kẻ sĩ để nguyện ước rằng không thi đỗ không về làng. Ông Ngô Khắc Kiệm sau khi đỗ tiến sĩ 1842 thì đi khỏi làng. Sách “Khoa cử và các nhà khoa bảng Triều Nguyễn” viết về ông chỉ một câu: “không rõ hành trạng, chỉ biết từng làm quan Án sát” (trang 483). Ông Nguyễn Quốc Thành sau khi đỗ cử nhân 1846 ở nhà tự ôn tập, và cùng anh Nguyễn Quốc Uẩn phụng dưỡng bà nội. Ông không hề “theo gương cụ Ngô Khắc Kiệm ở lại kinh đô Huế học thêm” như tác giả Nguyễn Tú mô tả. 2- Khái niệm “Đình làng Lộc Điền điểm nguyện ước của kẻ sĩ” hình thành trong tư duy tác giả từ giai thoại khí khái nhà nho giữa ông Tiến sĩ Ngô Khắc Kiệm và ông Tổng đốc Định An Nguyễn Quốc Hoan. Số là, sau khi đỗ tiến sĩ năm 1842, ông Ngô Khắc Kiệm về quê dự “việc làng”. Làng đi cho ông một lọng xanh nhưng đi cho ông Nguyễn Quốc Hoan một lọng xanh thêm một lọng vàng. Ông Kiệm tỏ ra không vui, gọi lý trưởng Lộc Điền đến cật vấn về việc phân biệt đối xử. Viên lý trưởng lễ phép: “bẩm, ngài có bằng tiến sĩ nhưng chưa giữ chức gì nên làng chỉ đi lọng xanh, còn cụ Quốc Hoan tuy chỉ mới đỗ Hương cống (cử nhân) nhưng là quan Tổng đốc Định An, đại thần triều đình, hàm chánh nhị phẩm, làng đi lọng xanh thêm một lọng vàng. Ông Quốc Hoan nghe lọt câu chuyện này nhưng ngài vẫn vui vẻ với quan khách. Khi về nhà, ông gọi hai con trai là Quốc Uẩn và Quốc Thành lại, kể chuyện vừa xẩy ra ở Đình làng. Hai con quỳ xuống vòng tay nói : “Thưa cha, hai con sẽ dùi mài kinh sử để rửa mối nhục này cho dòng họ”. Khoa bính ngọ (1846) hai ông đều đỗ cử nhân. Sau đó ông Quốc Uẩn phải phụng dưỡng bà nội ốm, không thi tiếp. Riêng ông Quốc Thành trước khi trẩy kinh thi đình đã khắc vào cột đình làng Lộc Điền câu chữ Hán: 不得綠袍花笏不到庭中 “bất đắc lục bào hoa hốt , bất đáo đình trung” (không chiếm được áo bào (màu lục), thẻ ngà (chạm hoa của nhà vua) không đến đình này). Quả nhiên khoa thi đình năm tân hợi 1851 ông Nguyễn Quốc Thành đỗ tiến sĩ. Vậy là, từ lời nguyện ước của ông Quốc Thành tác giả Nguyễn Tú nâng lên thành lời nguyện ước của giới kẻ sĩ Lộc Điền.3- Ở trang 593 sách “Những nét đẹp về văn hóa cổ truyền Quảng Bình” tác giả Nguyễn Tú mô tả sự hình thành làng Lộc Điền và nghề kiếm sống của họ: “Nơi đây, thuở những người mang gươm đi mở cõi từ thời Lý Trần vốn gốc ngoài bắc, làm nghề “ngư ông nơi biển phố”(2), ngày đêm theo đuôi con cá với chài, với lưới, với một chiếc thuyền câu đủng đỉnh quanh năm trôi nổi theo nước xuống triều lên…”. Đoạn văn đậm chất hướng dẫn du lịch này không phản ánh đúng những gì về làng Lộc Điền. Cư Dân Lộc điền tuyệt nhiên không có họ nào di cư từ bắc vào trong thời Lý Trần. Theo pgs tiến sĩ Nguyễn Quốc Cừ trong quyển “Lược sử dòng họ Nguyễn Quốc” thì dân Lộc Điền gốc gác người Nghệ Tĩnh theo chân Nguyễn Hoàng vượt Hoành Sơn trong hai giai đoạn:• Giai đoạn 1: Từ năm 1558 lúc Nguyễn Hoàng cùng tùy tùng và binh lính thoát khỏi sự kìm kẹp của chúa Trịnh lần thứ nhất• Giai đoạn 2: Từ năm 1600 lúc Nguyễn Hoàng cùng đám cận thần thoát khỏi ách chúa Trịnh lần thứ 2.Cụ thể hơn, trong “Lược sử dòng họ Nguyễn Quốc”, ông Cừ cho hay đời thứ II (khoảng năm 1700) của dòng họ ông đã có người “trở ra làm ăn sinh sống ở Nghệ An không quay về) ” (trg 10). Những người chấp bút quyển “Ngô gia Tộc phổ” ghi rõ gia phả của họ “chép từ Trảo Nha Hà Tĩnh”(trg 3).4- Làng Lộc Điền còn có tên làng Phường. Phường đây là phường buôn chứ không phải phường chài như cách hiểu của ông Nguyễn Tú. Những người làm nghề chài lưới ở nơi cửa sông hoặc bãi ngang tập hợp thành vạn, vạn chài. Nếu người Lộc Điền đánh cá theo kiểu: “với một chiếc thuyền câu đủng đỉnh quanh năm trôi nổi theo nước xuống triều lên…” thì làm sao họ xây dựng làng Phường vào loại đẹp nhất tỉnh Quảng Bình được. Chợ Điền của làng phường xuất hiện từ trước 1875 (3). Với khoản thu thuế chợ, làng xây được con kè cao gần 3 mét, dài cả ngàn mét. Mặt kè phía sông được ốp đá hộc chống xói lở. Các nhà buôn làng Phường thu mua hải sản khô và mắm muối ở Mỹ Hòa, Quảng Khê (vùng cửa Gianh). Lại thu mua cau khô, lâm thổ sản vùng núi rừng Tuyên Hóa. Tất cả chở ra bắc bằng thuyền buồm. Hàng về của họ là đồ gốm sứ, đồ sành, nồi bù (4) vải lụa…Các nhà giàu Lộc Điền góp công góp của xây dựng ngôi đình to nhất huyện, quy mô như đình Bảng ngoài bắc. Đọc “Đình làng Lộc Điền điểm nguyện ước của kẻ sĩ” của ông Nguyễn Tú thấy làng quê mình hoàn toàn xa lạ với ngôi làng mình đã được sinh ra, được sống, được biết.———(1) Kẻ sĩ: Người có học thức và nghĩa khí (2) Tác giả Nguyễn Tú viết nhầm câu thơ “chiều hôm nhớ nhà” của bà Huyện Thanh Quan: “gác mái ngư ông về viễn phố”, chớ không phải về “biển phố” (3) Theo Đại Nam nhất thống chí tập 2 đời Tự Đức (4) Ngày xưa chưa có soong nồi nhôm, người ta nấu nướng mọi thứ bằng nồi đất, gọi chung là “nồi bù”—————Làng Lộc Điền (Tân An)

thayoi

QỦA TỐT BỞI NHÂN LÀNH
Hoàng Kim


Mục đích sau cùng của DẠY VÀ HỌC là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và LÀM được việc Lời Thầy dặn thung dung: Minh triết sống phúc hậu, Quả tốt bởi nhân lành, Làm điều lành việc tốt, Vui tự tại an nhiên. Tin sâu luật nhân quả, Sống đức độ thung dung, An nhàn nguyên khí vững, Tâm sáng lộc hạnh gần. Thiện nghiệp duyên biến cải, Ngày mới ngọc tri âm, Hiếu trung nhân nghĩa lễ, Trí tín cần kiệm liêm. Thanh nhàn suối nguồn sạch, Trân trọng ngọc riêng mình, Sức khỏe và điều độ, Mai sớm thành rừng thôi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/qua-tot-boi-nhan-lanh

Nhớ thầy Nguyễn Quốc Toàn. Hoàng Kim cảm khái đọc lại 5 bài Nhớ thầy Nguyễn Quốc Toàn Nguyễn Du trăng huyền thoại Quả tốt bởi nhân lành Ngôn ngữ văn hóa Việt cùng với Chuyện thầy Nguyễn Mộng Giác chương 65. https://nguyenmonggiac.com/song-con-mua-lu/phan-5-vuot-deo-hai-van/153-chuong-065.htmlhttps://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-thay-nguyen-quoc-toan/

Di sản thế giới tại Việt Nam 2 Cố đô Huế, ảnh tư liệu nguồn BQLDT Cố đô Huế, (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2018)

NGÔN NGỮ VĂN HÓA VIỆT
(trích https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ngon-ngu-van-hoa-viet/)

May mà …
Lê Đình Cánh

May mà Huế ở Thừa Thiên
Kinh kỳ thuở trước còn nguyên cổ thành
Tháp xưa còn tiếng chuông lành
Tường rêu còn nhuộm sứ sành sắc lam.

May mà Huế ở trời Nam
Còn câu đối cũ dựng am sách nghèo
Nhà vườn còn gác trăng treo
Còn diều khuê các bơi chèo gió xanh.

Nếu mà Huế ở xứ Thanh
Lầu son ngói nát, Cổ thành gạch tan
Hán Nôm nghìn tuổi thành than
Nền xưa dấu cũ hoang tàn nắng mưa.

Lời bình của Nguyễn Quốc Toàn:

Lê Đình Cánh là một trong những nhà thơ mà tôi yêu thich. Trong khi lục bát Đồng Đức Bốn xuất thần, bạo liệt, có lúc bụi bặm… Lục bát Nguyễn Duy tài hoa, hóm hỉnh, thì lục bát Lê Đình Cánh cứ rỉ rả mà thâm trầm sâu cay. Xứ Thanh là quê ông,”May mà” là bài thơ ông nói về quê mình. Ở đó có Lam Kinh, một khu di tích rộng khoảng 30 ha ở xã Xuân Lam. Lam Kinh có đến 14 công trình di tích như Ngọ môn, Sân rồng, Chính điện Lam Kinh, Khu thái miếu triều Lê sơ, Lăng mộ các vua và hoàng hậu , Bia Vĩnh Lăng, Hựu Lăng, Chiêu Lăng, Dụ Lăng, Kinh Lăng, Khu đền thờ Lê Lợi, Khu đền thờ Lê Lai, Đền thờ Bố Vệ…

Nhà nước đã bỏ ra vô số công sức và tiền của để tôn tạo phục chế lại Lam Kinh nhưng rồi không hiểu sao vong linh các vua chúa cứ hỏi nhau nơi đây là đâu nhỉ? Có phải là Lam Kinh vàng son trên đất Thọ Xuân Thanh Hóa không? Lê Đình Cánh làm thơ chứ không làm vua nên ông không hỏi thế. Mà hỏi ai? và ai trả lời? ông thảng thốt kêu lên “may mà” nghe sao mà ai oán.

May mà Huế ở Thừa Thiên
Kinh kỳ thuở trước còn nguyên cổ thành

Nhà thơ vẫn rỉ rả nói về Huế, thì Huế vẫn còn đó nguyên vẹn, cho nên Unesco mới phong tặng danh hiệu Di sản Văn hoá của nhân loại chứ sao.

May mà Huế ở trời Nam
Còn câu đối cũ dựng am sách nghèo

Thế rồi đột ngột như cầu thủ nhà nghề phạt trực tiếp 11 mét. Tác giả cho bóng vào gôn đối phương

Nếu mà Huế ở xứ Thanh
Lầu son ngói nát cổ thành gạch tan

Lê Đình Cánh tuyệt nhiên không nói đến Lam Kinh, vì sao vậy? Đấy là kiểu chơi trốn tìm, buộc người đọc phải tò mò tìm kiếm, sau đó mới “ngộ” ra. A, đúng rồi đấy là Lam Kinh, Thọ Xuân Thanh Hóa. Ai mà chẳng biết xứ Thanh là phát tích nhiều triều đại vua chúa từ Lê sơ, hậu Lê, cho đến nhà Nguyễn. Vong linh các vị không còn lăng tẩm xưa cũ mà về, vì hậu duệ thời a còng (@) đang làm cái việc được dán nhãn “duy tu và tôn tạo” các di tích lịch sử và văn hoá nước nhà !

HOA ĐẤT THƯƠNG LỜI HIỀN
Hoàng Kim

Ta vui đếm nhịp thời gian
Thung dung nhàn giữa gian nan đời thường.

Đình Minh Lệ quê tôi
Hoàng Kim

Đất nặng ân tình đất nhớ thương
Ta làm hoa đất của quê hương
Để mai mưa nắng con đi học
Lưu dấu chân trần với nước non.

Minh Lễ hay Minh Lệ
Cụ Hoàng Thúc Cảnh

Văn Nghệ Quảng Minh số 16. Hoàng Minh Đức (chủ biên). Mở đầu xin giới thiệu bài viết đầu tiên của cụ Hoàng Thúc Cảnh, một cán bộ lão thành cách mạng, nguyên thư ký riêng của Chủ tịch Liên khu 4 Hồ Tùng Mậu trong những năm chống Pháp. Cụ đã từng có 38 năm công tác ở Phủ Chủ tịch, người đã từng ở chiến khu Việt Bắc với Bác Hồ. Nhân dịp mừng thọ 100 tuổi và 75 năm tuổi Đảng cụ gửi về một chùm thơ và bài viết về tên làng của cụ. Sau đây xin giới thiệu cùng bạn đọc:Trao đổi ý kiến về tên thôn Minh Lễ hay Minh Lệ?

Tôi nhớ trong tập Văn nghệ Quảng Minh số 15 có nêu lại vấn đề tên làng Minh Lệ hay Minh Lễ?. Hai ý kiến đối lập nhau. Phần tôi nhận thấy cả 2 tên đều là chính thống nhưng sử dụng theo hoàn cảnh lịch sử (chữ viết) và tập quán nhân dân (tiếng nói).

Theo hoàn cảnh lịch sử: Phải công nhận tên thôn mới có từ thời Lê Hồng Đức – Lê Thánh Tôn lên làm vua và chỉnh đốn việc cai trị trong nước. Dưới đơn vị xã là thôn thuộc xã (đã có từ trước). Năm 1470, Trà Toàn, vua Chiêm Thành, cầu viện quân Tàu định sang đánh nước ta. Vua Lê Thánh Tôn biết vậy, huy động đại quân đánh Chiêm Thành, mở mang bờ cõi đến tận Bình Định, Khánh Hòa ngày nay. Chắc rằng trong lúc huy động quân, vua Lê Thánh Tôn huy động cả tướng quân Trương Hy Trọng tham gia và sau khi hồi kinh, trên đường về, Ngài đã cử tướng quân Trương Hy Trọng ở lại quản miền Bắc Bố chính. Thời bấy giờ chắc vùng Bắc quê ta còn hoang vu, nhân dân còn thưa thớt và quân Chiêm Thành thường xuyên quấy nhiễu. Do vậy lúc về nhiệm sở, tướng quân phải huy động nhân dân ở Hoan Châu (Nghệ An – Hà Tĩnh ngày nay) và cả ở quê Hải Dương đến khai khẩn lập nên làng xóm. Và khi đã khẩn được một vùng thì phải quy hoạch vùng đó thành từng thôn xã để thuận tiện cho việc cai trị và từ đó mỗi đơn vị đều có tên riêng. Công lao đánh giặc, xây dựng làng xã của tướng quân được ghi trên mộ Ngài “Bình Lồi Thiết xã”. Tôi tin rằng tên thôn ta là do Ngài đặt. Trong thời kỳ phong kiến cho đến thời Pháp đô hộ tất cả công văn giấy tờ của nhà nước và của nhân dân đều dùng chữ Hán.

Tên Minh Lễ: Tôi chắc rằng Tướng quân khi đặt tên cho thôn ta theo chữ Hán là 明 禮. Và 2 chữ đó được dùng mãi cho đến thời kỳ có chữ Quốc ngữ mới thôi.

Cha tôi trong thời kỳ làm việc cho chính quyền thôn, mỗi lần làm công văn giấy tờ gửi lên trên hoặc giúp cho nhân dân làm giấy tờ mua bán nhà đất, lúc viết tên thôn thì cha tôi viết 明 禮. Tôi đã nhờ tra cứu trong từ điển Hán Việt thì hai chữ này phiên âm là Minh Lễ. Vì vậy, đây là tên chính thức trong văn bản giấy tờ của thôn ta. (Trước đây tôi cũng có học chữ Hán nên hai chữ trên tôi không quên được).

Tên Minh Lệ: Ai cũng biết mỗi vùng có một giọng nói hoặc phát âm khác nhau. Cùng một ý nhưng nơi này phát âm thế này, nơi kia phát âm thế khác. Thí dụ: Ở miền Bắc gọi bố mẹ còn ở miền Nam ba má, ở miền Bắc gọi anh còn miền Nam gọi ảnh, yêng hoặc eng, ở miền Bắc gọi cảnh còn ở miền Nam gọi kiểng v.v… và v.v…..

Ở vùng ta cũng vậy nhưng phiên âm theo chữ quốc ngữ có dấu ngã thì khi đọc khi nói thường thành dấu nặng. Thí dụ: Tỉnh Hà Tĩnh đọc thành Hà Tịnh. Lễ nghĩa đọc thành lệ nghịa. Con muỗi đọc thành con mọi. Văn võ đọc thành văn vọ. v.v… và v.v….

Theo đó nguyên văn chữ Hán “Minh Lễ”, nhân dân ta đọc thành “Minh Lệ” (hơn nữa phát âm Minh Lệ nhẹ nhàng hơn Minh Lễ). Nó thông dụng từ đời này qua đời khác, đã trải qua hàng trăm năm nên đã trở thành một tên quen thuộc sử dụng trong đời sống hàng ngày của nhân dân. Như vậy danh từ Minh Lệ do nhân dân ta đặt ra, đã thành danh từ chính thức khi viết chữ quốc ngữ từ thời Pháp thuộc. Các văn bản viết bằng chữ quốc ngữ đều viết là Minh Lệ: ga Minh Lệ, cầu Minh Lệ, …và đến ngày nay thành chính thức trong văn bản của Đảng và chính quyền là Minh Lệ.

Chúng ta tự hào thôn ta có 2 tên, một tên là lịch sử và một tên là nhân dân. Ý nghĩa của hai danh từ trên tạp chí đã nói rõ. Mong nhân dân và con cháu chúng ta phát huy ý nghĩa tốt đẹp của hai danh từ đó, xứng đáng là con cháu của Đức Thành hoàng.

Hoàng Thúc Cảnh

Kim Hoàng@Trương Minh Đức; Nguyễn Quốc Toàn; Mạnh Đẩu Nguyễn: Cố nhà giáo Hoàng Hữu Xứng là người rất uyên bác ngôn ngữ tiếng Trung. Thầy là người có bài thơ Việt Hán & Hán Việt tặng đại tướng Võ Nguyên Giáp, cũng là người dịch các câu đối Hán Việt “Linh Giang Đình Minh Lệ”(xem bài CẦU MINH LỆ RÀO NAN)

MỪNG THỌ ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
Hoàng Hữu Xứng, 1919
Nhà giáo lão thành ĐHSP Hà Nội Địa chỉ: A 3, Đông Xa, Mai Dịch, Hà Nội

Đặt tên thân phụ gửi niềm riêng
Nguyên Giáp: tài hoa văn võ liền
Quân sự, Bác tin giao thống lĩnh
Trí năng, Dân qúy chọn tay truyền
Điện Biên một trận vang trời đất
Đế quốc hai tên bại đảo điên
Anh quốc chọn ghi mười tướng giỏi
Việt Nam hai vị được danh tuyên.

KHÁNH CHÚC ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP CỬU TUẦN ĐẠI THỌ
(Thơ chữ Hán)
Phiên âm:
Nghiêm đường hữu ý mệnh danh NGUYÊN
GIÁP bảng văn khôi võ kiệt liên
Hồ bá anh minh quân vụ uỷ:
Nhân dân ái kính thế năng truyền
ĐIỆN BIÊN nhất thắng oanh thiên địa
Pháp Mỹ song cường bại đảo điên
Anh quốc tượng thư kim cổ tướng
Việt Nam vinh đắc lưỡng danh tuyên.
1999

Dịch nghĩa:
Nghiêm đường dự cảm tương lai của con
Giỏi cả văn lẫn võ nên đặt tên là Nguyên Giáp
Bác Hồ anh minh giao cho việc quân
Nhân dân yêu mến truyền cho sức mạnh
Một trận thắng Điện Biên vang trời đất
Hai đế quốc Pháp Mỹ thất bại đảo điên
Nước Anh đúc tượng, ghi tên các tướng tài xưa nay
Việt Nam vinh dự có hai tướng được đúc tượng, ghi tên
(là Trần Hưng Đạo và Võ Nguyên Giáp)

Nguồn: Trần Thân Mộc, Nguyễn Nghĩa Dân, Hồ Cơ, Cao Đức Tiến (Sưu tầm, Tuyển chọn), 2001. Tấm lòng nhà giáo. Tập Hai, Thơ nhiều tác giả. Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 460 trang. Sđd. tr. 44 – 45

Nguyễn Quốc Toàn Toàn tui được học sử với thầy Hoàng Hữu Xứng hồi còn giặc Pháp oanh tạc. Hai thầy trò ngồi đợi đò chợ Gát lâu quá, tui chui vào bụi ngủ mê mệt. Đến khi đò đến thầy lay hoài tui không dậy nỗi. Thầy gần như phải bế xốc tui lên đò. Cách nay mấy mươi năm tui được gặp lại thầy cô về hội trường Phan Bội Châu ở Minh Cầm Trang Tuyên Hóa… Và ngay giờ đây lại được đọc thơ chữ Hán rất hay của Thầy. Cảm ơn Hoàng Kim

Kim Hoàng kính anh Nguyễn Quốc Toàn kính mến. Theo cố nhà giáo Hoàng Hữu Sam tại bài viết “Qua một ngôi đình suy nghĩ về người xưa” đăng trên Tạp chí Nhật Lệ năm 2001 (tài liệu dẫn Làng Minh Lệ quê tôi kèm theo) thì tại ngôi đình Làng Minh Lệ ngày nay từ thời xa xưa đã có những đôi câu đối cổ (hiện nay vẫn còn ở lưu tại đình làng) đó là: Minh Lễ chương danh đình dĩ cố / Thiệp tân tích sử thủy trường thanh;. Sơn cao thủy tú phong quang vô hạn hảo / Địa linh nhân kiệt hoằng thạc xuất nhân trung; Cách trí lương phương thiên khái văn minh tân vận hội / Trác thành để trụ được chung linh khí cửu Giang Sơn. Cố nhà giáo Hoàng Hữu Xứng là người làng đã diễn dịch ý tứ của những câu này sang tiếng Việt để hổ trợ cho người em trai là cố nhà giáo Hoàng Hữu Sam cùng những người làng tâm huyết tận tâm xin thủ tục công nhận và tu bổ lại đình làng. Những câu diễn dịch ý Thầy như sau Minh Lễ là một mảnh đất vô cùng đẹp đẽ, Địa linh sản sinh ra những người con kiệt xuất cho đất nước và quê hương; Phong cảnh núi sông cao đẹp vô cùng/ Đất linh thiêng sinh ra những con người hào kiệt, thật là vĩ đại xứng trời mây; Mở rộng tầm hiểu biết, trời mở vận hội mới là vận hội văn minh / Gọt dũa cho thành công, đất hun đúc nên khí thiêng của giang sơn cũ. Cố nhà giáo Hoàng Hữu Xứng giảng dạy ở Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội – ĐHQGHN Trường ULIS (University of Languages and International Studies) là một trong những trường đại học uy tín hàng đầu tại Việt Nam cũng như trong khu vực Đông Nam Á. Hệ thống cơ sở vật chất khang trang, đội ngũ giảng viên chuyên môn cao, chương trình đào tạo tiên tiến.

Cong Dinh Truong : Anh Hoàng Kim! Anh có bài anh Quốc Toàn bình về câu đối ở đình làng Lũ Phong cho em xem ké với.

Hoàng Kim @ Cong Dinh Truong mời đọc Thầy bạn trong đời tôi Chuyện anh Nguyễn Quốc Toàn https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-anh-nguyen-quoc-toan

xem tiếp Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim
soi vào bạn quý là tìm lại bài học chính mình . Ngày giỗ Tổ Hủng Vương Việt Nam trùng ngày khởi đầu của kỷ nguyên Phật Giáo và giữa trung tuần tháng Tư trong tiết Thanh Minh Hôm nay cũng là ngày vui Phụng Hoàng bạn quý. Tôi tìm về bài “Có một ngày như thế” và “Lời Thầy dặn” để tìm lại ảnh và tư liệu không nỡ quên. Ngày Hạnh Phúc đọc lại kinh Dịch và lời khuyên của Trạng Trình: “Căn bản của học Dịch là phải biết tùy thời, hướng thiện và lạc quan. Tùy thời thì an nhàn, trái thời thì vất vả. Tùy thời mà vẫn giữ được trung chính.” Lắng đọng hình ảnh ký ức không quên Thầy bạn trong đời tôi. xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/.

DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
ngày mới nhất bấm vào đâycập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Bài ca thời gian
Run away with me.
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

Thầy bạn trong đời tôi

Thầy bạn trong đời tôi
TỪ HIẾU VỚI NGƯỜI HIỀN.
Hoàng Kim kính anh Phan Chi

“Cà phê ở Huế thơm ngon lắm. Mười bốn ngàn thôi uống suốt ngày. Ngắm em tóc gió bay bay nắng. Nghe bạn tâm tình hơn rượu say” (PC)

“Về quê lần trước ghé thăm đây. Đất hiếu cầu thương níu bạn bầy. Thơ thiền Nhất Hạnh tìm gốc cũ. Mặt trời từng hạt chính nơi này” (HK).

Em ra Huế Nguyen Hien là hậu duệ của vua Duy Tân có giới thiệu em với gia đình để giúp hướng dẫn thăm ít nơi cổ tích. Ước muốn của em là đến thắp hương viếng thăm vị chân chúa Nguyễn Hoàng ở lăng Trường Cơ, tọa lạc tại xã La Khê, huyện Hương Trà, nay là làng La Khê, xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Kế đó là đi Thiên Thụ Sơn thăm vùng cây trên 2000 ha mà triều Nguyễn dày công mang kỳ hoa dị thảo cả nước mà nguồn cây trái chính yếu là đặc sản đất phương Nam về trồng ở chốn kinh kỳ để lưu dấu những hoài niệm bôn tẩu trọn đời để quy giang sơn về một mối. Lạ lùng thay, em được may mắn uống trà ban mai tĩnh lặng ở Từ Hiếu và được lắng nghe cổ vật và các trang sách uyên áo của các vị thiền sư trò chuyện. Em chợt ngộ ra rằng vị chân chúa nhà Nguyễn không ở Trường Cơ mà ở chính nơi đây, gần Nam Giao và phía sau của chính điện Từ Hiếu, cội nguồn của hiếu sinh https://hoangkimlong.wordpress.com/…/doi-thoai-voi-thien-su/

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim
với Trần Ngọc Ngoạn, Van Quyen Mai, Hieu Nguyenminh, Mai Trúc Nguyễn Thị tại Vĩ Dạ Xưa đêm thiêng tháng Bảy mưa ngâu giấc mơ hạnh phúc. Tháng Bảy năm 2017 có điều kỳ diệu 5 ngày thứ Bảy, 5 ngày Chủ nhật và 5 ngày Thứ Hai mà theo Lịch Vạn Niên thì 823 năm mới lặp lại một lần. Đây là “nhóm ngày may mắn” để hành thiện những việc đặc biệt tốt đẹp đầy đặn yêu thương. Thầy bạn trong đời tôi là chùm hình ảnh và bài viết chuyện đời tự kể https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Ngày 14 &15 tháng 7 là ngày đặc biệt. Hồi tưởng lại còn có hai câu chuyện khác. Đó là ngày Nhớ cụ Nguyễn Ngọc TrìuThầy bạn trong đời tôi của thời điểm này tại năm 1987.

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một danh nhân (Cụ mất ngày 9/7/2016, đưa tang ngày 14/7/2016) Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một nhân cách lớn như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét: “Trìu làm lãnh đạo nhưng trước hết là một Con Người”. Hình trên là Bộ Trưởng Nguyễn Ngọc Trìu đến Trung tâm Hưng Lộc năm 1987 thăm thành tựu tiến bộ kỹ thuật “trồng ngô lai xen đậu ở vùng Đông Nam Bộ” và mô hình “nghiên cứu phát triển đậu rồng ở các tỉnh phía Nam”. Hai công trình này do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam giới thiệu, đã được Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp và được phát triển rộng rãi trong sản xuất, vang bóng một thời..

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một chính khách lớn, có cuộc đời và sự nghiệp dường như là cụ Nguyễn Công Trứ của thời đại Hồ Chí Minh. Mọi người khi nhắc đến Cụ đều nhớ ngay đến vị Chủ tịch tỉnh Thái Bình sinh ở Tây Giang, Tiền Hải đã làm rạng ngời “quê hương 5 tấn”, nhớ ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp trí tuệ, xông xáo và rất biết lắng nghe, sau này làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách mảng Nông Lâm Ngư nghiệp và Đặc phái viên của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đối với vùng Nam Bộ. Cụ Trìu cũng là Chủ tịch Hội những người làm vườn Việt Nam, nơi tâm nguyện của ông được bạn thơ Thợ Rèn mến tặng’ “Danh vọng hão huyền như mây khói . Làm vườn cây trái để ngàn năm” .Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một nhân cách lớn như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét: “Trìu làm lãnh đạo nhưng trước hết là một Con Người”.

(*) Chuyện vui chép trong ghi chú: Nhớ kỷ niệm một thời là hôm trước Viện trưởng Trần Thế Thông đưa Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Trìu lên thăm Hưng Lộc thì. ngay hôm sau, Pham Sy Tan và Đặng Kim Sơn lại cùng thầy Quyen Mai Van và ông Carangal lên Trung tâm Hưng Lộc trao đổi và bàn chuyện hợp tác phát triển Chương trình Hệ thống Canh tác Việt Nam. (Hình trên là GSTS V. R. Carangal IRRI, người áo đỏ, bìa trái, đang trao đổi trên đồng ruộng với GSTS Mai Văn Quyền IAS, thứ hai phải qua,, TS. Đặng Kim Sơn CLRRI & IPSARD, TS. Phạm Sĩ Tân, CLRRI và TS Hoàng Kim cùng bàn về sự hợp tác IRRI và Việt Nam trong chương trình liên kết nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác). Tôi khi đó đã kể lại câu chuyện về ‘xếp’ Thông và cụ Trìu vừa lên thăm hôm qua, và trả lời Sơn, kể chuyện “Ấn tượng Borlaug và Hemingway” với sự đồng cảm thật sâu sắc. “Norman Borlaug nhà khoa học xanh”, “Lời Thầy dặn” thật thấm thía “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”. Nhớ kỷ niệm một thời không thể nào quên. Đặng Kim Sơn hỏi : Cậu ấn tượng nhất chuyên gì trong chuyến đi học CIMMYT mới đây? Tôi cười nói :”Ấn tượng Borlaug và Hemingway” “Năm tháng ở CIMMYT” . Chuyện “Norman Borlaug nhà khoa học xanh” thầy tới thăm tôi ở nhà riêng là không thể quên. Tôi đọc bốn câu thơ cho thầy Quyen Mai Van, với các bạn Đặng Kim Sơn, Pham Sy Tan cùng nghe và, bất ngờ giáo sư V R Carangal rút bút ra ghi và nói lời đồng cảm.

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu cũng có đến thăm bạn học của tôi là Đinh Thế Lữ (Hoàng Kim với Pham Sy Tan học chung một lớp Trồng trọt 4, chung giường tầng giường dưới giường trên. Tôi học chung lớp Đinh Thế Lữ lớp Trồng trọt 10 sau khi bộ đội sáu năm và cùng chung lớp tiến sĩ với Đặng Kim Sơn, Mai Thành Phụng….Hình ảnh 3 từ trái qua phải: ô Nguyễn Quốc Tuấn PCT nguyên Viên trưởng Cây lương thực. Ô Ngô Thế Dân CT nguyên Thứ trưởng TT Bộ NN & PTNT, Bà Thanh, Ô Nguyễn Ngọc Trìu nguyên Bộ trưởng NN. PCT Hội đồng Bộ Trưởng (Phó Thủ Tướng CP). Ô Lữ. O Bùi Sỹ Tiếu PCT TT nguyên Bí thư TƯ Thái Bình Phó Trưởng Ban TW Đảng) Cụ Nguyễn Ngọc Trìu trước là Chủ tịch Hội Làm Vườn, sau mới đến GS Ngô Thế Dân. Nguồn: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-cu-nguyen-ngoc-triu/

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim

“Thung dung cùng với cỏ hoa. Thỏa thuê đèn sách, nhẩn nha dọn vườn”. Cám ơn Trung Trung đã sửa lại câu thơ trên hay hơn và sâu sắc hơn “Thỏa thuê cùng với cỏ hoa.Thung dung đèn sách nhẫn nha dọn vườn”, mình đã sửa lại. Đó là triết lý nhân sinh “Ta về sống giữa thiên nhiên” của một đội ngũ các nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ đã chấp nhận trọn đời sống với ruộng đồng và chén cơm ngon của người dân. Tình yêu cuộc sống thể hiện trong ý tứ ‘thung dung’ đứng đầu câu thơ, lựa chọn cỏ hoa, thiên nhiên, chân quê làm khởi nghiệp. Sự nghiệp ấy gắn liền với cả một đời, một nghề, để sau này nhìn lại. “Xuân đi trăm hoa rụng, Xuân đến trăm hoa cười” ẩn chứa triết lý sâu sắc hơn là “Xuân đến trăm hoa cười, xuân đi trăm hoa rụng”. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585) “Thanh nhàn vô sự là tiên” trong bài thơ nôm “Chín mươi” có câu: “Chín mươi thì kể xuân đà muộn Xuân ấy qua thì xuân khác còn”. Tăng Quốc Phiên chống quân Thái Bình Thiên Quốc “càng đánh càng thua” nhưng trong bản tấu chương gửi vua thì ông đã quyết ý đổi lại là “càng thua càng đánh”. Việc “đánh thua” thì vẫn vậy nhưng ý tứ của câu sau mạnh hơn hẵn câu trước. Cám ơn bạn về ý THUNG DUNG, mình đưa ý này lên đầu dòng nhé. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

TA VỀ VỚI ĐỒNG XUÂN
Hoàng Kim

Người khôn về chốn đông người
Cái nhìn thì mỏng, cái cười thì nông
Ta vui ở lại ruộng đồng
Để gieo tục ngữ để trồng dân ca.

Thung dung cùng với cỏ hoa
Thỏa thuê đèn sách, nhẩn nha dọn vườn
Mặc ai tính thiệt so hơn
Bát cơm gạo mới vẫn thơm láng giềng

Thiên nhiên là thú thần tiên
Chân quê là chốn bình yên đời mình
Bạn hiền bia miệng anh linh
Thảnh thơi hưởng trọn ân tình thế gian

Nước trong ngập ánh trăng vàng
Ta ra cởi bỏ nhọc nhằn âu lo
Lợi danh một thực mười hư
Trăm điều ước vọng chỉ phù du thôi

Ung dung thanh thản cuộc đời
Tình quê bồi đắp về nơi sâu đằm
Ta về sống giữa thiên nhiên
Chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao.

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Bài viết này liên quan tới thời điểm của các hình ảnh (1987-1991) Nhớ cụ Nguyễn Ngọc Trìu https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-cu-nguyen-ngoc-triu/ ; Nhớ kỷ niệm một thời xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là NLU.jpg

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây  cập nhật mỗi ngày


Video yêu thích

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim


Thầy bạn trong đời tôi.
Chén vàng lưu đũa ngọc
Nhớ Người cùng Chung sức
Thoáng chốc đời trăm năm

Thầy bạn là lộc xuân, Thầy bạn trong đời tôi; Cuộc đời hơn trang văn. Tôi neo lại ít hình ảnh tư liệu để nhớ. Trường tôi nôi yêu thương Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh; Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc, Trường Đại học Nông Lâm Huế, Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc, Trường Quảng Trạch (là THPT Lương Thế Vinh thị xã Ba Đồn ngày nay) Chương trình Sắn Việt Nam, Gia đình Nông nghiệp, Năm lớp bạn học đại học Trồng trọt 4, Trồng trọt 10, Trồng trọt 2C, Trồng trọt 2B, Trồng trọt 2A Những lớp bạn học tuổi thơ; Những người thân và thầy bạn trong ngoài nước. Ngắm hình ảnh thân thương lắng đọng ấm áp, lòng tôi bồi hồi xúc động. Ai cũng có câu chuyện của riêng mình. Thầy bạn đã lưu lại sự ảnh hưởng sâu sắc trong đời chúng ta. “Dù chúng ta đang ở đâu, chính thầy bạn đã tạo nên thế giới”.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là 1-mot-niem-tin-thap-lua-1a.jpg

LỜI THƯƠNG
Ta đi về chốn trong ngần
Để thương sỏi đá cũng cần có nhau

Tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn thầy bạn dưới mái trường Nông Lâm thân thương và làm món quà nhỏ thân tặng cho các em sinh viên nghèo hiếu học, Trường tôi nôi yêu thương, Một niềm tin thắp lửa; Thầy bạn trong đời tôi; Hoa Đất lời Thầy dặn. Về Trường để nhớ thương. Thầy bạn là lộc xuân, đời tôi nếu thiếu sự động viên giúp đỡ này thì tôi không thể có được ngày hôm nay:“Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin” Ngày Hạnh Phúc là ngày luôn ấm áp tình thầy bạn. Lời thương sâu sắc lắng đọng

thaybanlalocxuancuocdoi

TRƯỜNG TÔI NÔI YÊU THƯƠNG

Đại học Nông Lâm thật thích
Bạn thầy vui thật là vui
Sân Trường giảng đường ấm áp
Đường xuân phơi phới tuyệt vời

Hình như mọi người trẻ lại
Hình như người ấy đẹp hơn
Hình như tre già măng mọc
Nắng mai soi giữa tâm hồn.

Thầy bạn trong ngoài thiện nguyện
Về Trường chia sẻ động viên
Trang sách trang đời lắng đọng
Yêu thương bao cuộc đời hiền.

Thầy ơi hôm nay chưa gặp
Lời thương mong ước bình an
Tình khúc Nông Lâm ngày mới
Sức xuân Tự nguyện Lên đàng.

Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh nôi yêu thương đào tạo nguồn lực khoa học nông nghiệp. Trường tôi có lịch sử hình thành từ Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục BLao (Bảo Lộc) thành lập ngày 19 tháng 11 năm 1955. Khóa 1 và khóa 2 chúng tôi năm 1975 là lớp sinh viên đầu tiên của mái trường này sau ngày Việt Nam thống nhất. Lịch sử của Trường trãi qua ba giai đoạn (1955-1975, 1975-2000, 2000- đến nay).Tòa nhà chính Phượng Vĩ biểu tượng Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hôm nay là khối nhà chữ U do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ khôi nguyên La Mã xây dựng, được đưa vào sử dụng năm 1974. Tại tòa nhà chính lộng lộng trên cao kia là dòng chữ nổi bật tên Trường, nơi ẩn ngữ “KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO” lời Chủ tịch Hồ Chí Minh; Trường tôi thấm sâu bài học lịch sử: “Trận chiến hôm qua bạn góp máu hồng. Lớp học hôm nay bạn không trở lại. Trách nhiệm trong mình nhân lên gấp bội. Đồng đội ơi, tôi học cả phần anh”. Nơi đây lắng đọng những trang vàng truyền thống: Thầy Hiếu Đêm Giáng Sinh kể lại; Chuyện thầy Tôn Thất Trình; Chuyện thầy Dương Thanh Liêm; Chuyện thầy Ngô Kế Sương; Thầy Quyền thâm canh lúa; Thầy bạn là lộc xuân; Thầy bạn trong đời tôi; Chung sức; Về Trường để nhớ thương; Việt Nam con đường xanh; …Biết bao ký ức và gương sáng về Trường tỏa sáng tình yêu thương.

MỘT NIỀM TIN THẮP LỬA

Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ.
Chợt thấy lòng rưng rưng.
Công việc nghề nông cực mà hạnh phúc.
Cố lên em nổ lực không ngừng !

Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo
Câu ca ông bà theo suốt tháng năm
Thêm bữa cơm ngon cho người lao động
Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng.

Em ơi hãy học làm ruộng giỏi
Nghề nông thời nào cũng quý kỹ năng
Người dân khá hơn là niềm ao ước
Công việc này giao lại cho em.

Có một mùa xuân hạnh phúc
Ơn mẹ cha lam lũ sớm hôm
Thương con vạc gọi sao mai dậy sớm
Một niềm tin thắp lửa giữa tâm hồn.

Bước tiếp bước giữa trường đời gian khó
Học làm người lao động siêng năng
Rèn nhân cách vượt lên bao cám dỗ
Đức và Tài tử tế giữa Nhân Dân.

Hình ảnh và bài viết Trường tôi nôi yêu thương đã đăng trên Kỷ yếu 65 năm Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh trang 146

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI

Ai cũng có ước nguyện về trường. Tôi thấu hiểu vì sao Thầy Đặng Quan Điện, Thầy Dương Thanh Liêm là một trong những người thầy Hiệu Trưởng mẫu mực của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đều có nguyện vọng được ghé thăm Trường trước lúc đi về chốn vĩnh hằng. Chuyện thầy Tôn Thất Trình, người Hiệu trưởng thứ hai của Trường trên 80 tuổi vẫn viết blog The Gift như một quà tặng trao lại cho lớp trẻ và viết hai  bài hột lúa, con cá cho ngày Nhà giáo Việt Nam. Thầy Lưu Trọng Hiếu với tình yêu thương gửi lại , chuyện cảm động Thầy Hiếu Đêm Giáng Sinh, đã hiến tặng toàn bộ tiền phúng viếng của Thầy cùng với số tiền gia đình góp thêm để làm quỷ học bổng cho Trường tặng những em sinh viên nghèo hiếu học. Nhớ thầy Phan Hoàng Đồng “Bùi ngùi giờ thiên thu/ Thăm thẳm trời li biệt/ Vườn Quốc gia Việt Nam / Rừng sinh thái nhiệt đới /Trường xưa thương một thời /Thầy về chia cơ hội / Quê mình trò nghèo khó / Thơm thảo tình yêu thương / Chung lòng thắp ngọn lửa / Thầy và em về Trường / Vườn Quốc gia Việt Nam/ Về Trường để nhớ thương” .Ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng tặng học bổng cho sinh viên Đại học Nông Lâm gặp khó khăn học giỏi vì tuổi thơ của anh nhọc nhằn không có cơ hội đến trường, khi thành đạt anh muốn chia sẻ để chắp cánh cho những ước mơ.

Tôi cũng là người học trò nghèo năm xưa với ba lần ra vào trường đại học, cựu sinh viên của năm lớp, nay tỏ lòng biết ơn bằng cách trở lại Trường góp chút công sức đào tạo và vinh danh những người Thầy người Bạn đã cống hiến không mệt mỏi, thầm lặng và yêu thương góp công cho sự nghiệp trồng người. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa đủ mang lại niềm vui cho bữa ăn người nghèo thì chừng đó chúng ta vẫn còn phải dạy và học. Cái gốc của sự học là học làm người. Bài học quý về tình thầy bạn mong rằng sẽ có ích cho các em sinh viên đang nổ lực khởi nghiệp.

Quê tôi ở miền Trung nghèo khó “Nhà mình gần ngã ba sông/ Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình,/ Linh Giang sông núi hữu tình / Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con/ Chèo thuyền cho khuất bến Son/ Để con khỏi chộ (thấy) nước non thêm buồn/ Câu thơ quặn thắt đời con/ Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ”. Mẹ tôi mất sớm, cha bị bom Mỹ giết hại, tôi và chị gái đã được anh Hoàng Ngọc Dộ nuôi dạy cơm ngày một bữa suốt năm năm trời. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng vận động thầy cô, bạn hữu chia sớt khoai sắn giúp đỡ. Tôi cũng dạy năm lớp vở lòng, ba lớp bổ túc văn hóa để vượt khó vươn lên. Thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết những lời xúc động trong trường ca tình thầy trò: Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng” Những gương mặt thầy bạn đã trở thành máu thịt trong đời tôi.

Tôi thi đậu vào Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc năm 1970, và học Trồng trọt 4 cùng khóa với các bạn Trần Văn Minh, Đỗ Thị Minh Huệ, Phan Thanh Kiếm, Đỗ Khắc Thịnh, Vũ Mạnh Hải, Phạm Sĩ Tân, Phạm Huy Trung, Lê Xuân Đính, Nguyễn Hữu Bình, Lê Huy Bá, Nguyễn Văn Toàn, Lâm Quang Hinh, Nguyễn An Tiêm, …(mời xem Video Kỷ niệm 50 năm Trường Đại học Nông Lâm Huế) cho đến ngày 02 tháng 9 năm 1971 thì tôi gia nhập quân đội cùng lứa với Nguyễn Văn Thạc. Đợt tuyển quân sinh viên trong ngày độc lập đã nói lên sự quyết liệt sinh tử và ý nghĩa thiêng liêng của ngày cầm súng. Chiến trường đánh lớn. Đơn vị chúng tôi chỉ huấn luyện rất ngắn rồi vào trận ngay với 81 đại đội vượt sông Thạch Hãn. Chiến dịch Quảng Trị năm 1972 sau này đã đi vào huyền thoại: “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm” Tổ chúng tôi bốn người thì Xuân và Chương hi sinh, chỉ Trung và tôi trở về trường sau ngày đất nước thống nhất.  Những vần thơ viết dưới đây là xúc động sâu xa của tôi khi nghĩ về bạn học đồng đội đã khuất: “Trận chiến hôm qua bạn góp máu hồng. Lớp học hôm nay bạn không trở lại. Trách nhiệm trong mình nhân lên gấp bội. Đồng đội ơi, tôi học cả phần anh

Tôi về học tiếp năm thứ hai tại Trồng trọt 10 của Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc. Những khuôn mặt thân thương trên bức ảnh này là hình ảnh bạn hữu gặp lại nhau nơi ngôi trường Đại học Nông nghiệp Bắc Giang và Đại học Nông Lâm Huế với những lần lớp Trồng trọt 10 chúng tôi cùng đi chơi chung với nhau.

Tôi chuyển trường vào học tiếp năm thứ hai Trồng trọt 2 của Trường Đại học Nông nghiệp 4, tiền thân Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Thuở đó khối Trồng trọt 2 là khóa tuyển sinh đầu tiên sau ngày Việt Nam thống nhất Khóa 1 là khóa tuyển sinh trước giải phóng. Trồng trọt 2 chúng tôi là chung một lớp, học chung khoa học đại cương và khoa học cơ sở, đến khi học chuyên khoa thì mới tách ra ba lớp 2A, 2B, 2C. nhưng bất cứ việc gì chúng tôi cũng đều học chung, làm chung, chơi chung với nhau, cho mãi đến tận sau này vẫn vậy. Tôi làm Chủ tịch Hội Sinh viên thay cho anh Nguyễn Anh Tuấn khoa thủy sản, ra trường về dạy Đại học Cần Thơ. Chị Tuyết và anh Tuân làm Bí thư và Phó bí Thư Đoàn Trường, anh Trần Ngọc Quyền làm Bí thư Đoàn Khoa. Tình thầy bạn ấm áp trong lòng tôi.

Thay ban trong doi toi 1b

Trồng trọt khóa hai chúng tôi thuở đó được học với các thầy cô: Nguyễn Đăng Long, Tô Phúc Tường, Nguyễn Tâm Đài, Trịnh Xuân Vũ, Lê Văn Thượng, Ngô Kế Sương, Trần Thạnh, Lê Minh Triết, Phạm Kiến Nghiệp, Nguyễn Bá Khương, Nguyễn Tâm Thu, Nguyễn Bích Liễu, Trần Như Nguyện, Trần Nữ Thanh, Vũ Mỹ Liên, Từ Bích Thủy, Huỳnh Thị Lệ Nguyên, Trần Thị Kiếm, Vũ Thị Chỉnh, Ngô Thị Sáu, Huỳnh Trung Phu, Phan Gia Tân, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Kế, … Ngoài ra còn có thầy thỉnh giảng Nguyễn Văn Uyển, Nguyễn Văn Thắng, … với nhiều thầy cô hướng dẫn thực hành, thực tập, kỹ thuật phòng thí nghiệm, chủ nhiệm lớp như Bùi Cách Tuyến, Nguyễn Văn Kịp, Lê Quang Hưng, Trương Đình Khôi, Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Gia Quốc, Nguyễn Văn Biền, Lê Huy Bá, Hoàng Quý Châu, Phạm Lệ Hòa, Đinh Ngọc Loan, Chung Anh Tú và cô Thảo (sau này là cô Dung) làm thư ký văn phòng Khoa. Cô Nguyễn Thị Chắt ở Nga về dạy sau một chút.

Bác Năm Quỳnh là Bí thư Đảng ủy đầu tiên của Trường sau đó là thầy Kiên và cô Bạch Trà. Thầy Nguyễn Phan là Hiệu trưởng kiêm Trưởng Trại Thực nghiệm. Thầy Dương Thanh Liêm, Nguyễn Ngọc Tuân, Võ Thị Tuyết, Ngô Văn Mận, Bùi Xuân An … ở khoa Chăn nuôi Thú y, thầy Nguyển Yên Khâu, Nguyễn Quang Lộc … ở khoa Cơ khí, cô Nguyễn Thị Sâm ở Phòng Tổ chức, cô Văn Thị Bạch Mai dạy tiếng Anh, thầy Đặng, thầy Tuyển, thầy Châu ở Kinh tế Mác Lê … Thầy Trần Thạnh, anh Quang, anh Đính, anh Đống ở trại Trường là những người đã gần gũi và giúp đỡ nhiều các lớp nông học. Thuở đó đời sống thầy cô và sinh viên thật thiếu thốn. Các lớp Trồng trọt khóa 1, khóa 2, khóa 3 chúng tôi thường hoạt động chung như: thực hành sản xuất ở trại lúa Cát Lái, giúp dân phòng trừ rầy nâu, điều tra nông nghiệp, trồng cây dầu che mát sân trường, rèn nghề ở trại thực nghiệm, huấn luyện quốc phòng toàn dân, tập thể dục sáng, hội diễn văn nghệ, thi đấu bóng chuyền, bóng đá tạo nên sự thân tình gắn bó.

tt2-1

Những sinh viên các khóa đầu tiên được đào tạo ở Khoa Nông học sau ngày Việt Nam thống nhất hiện đang công tác tại trường có các thầy cô như Huỳnh Hồng, Phan Văn Tự, Cao Xuân Tài, Từ Thị Mỹ Thuận, Lê Văn Dũ, …Tháng 5 năm 1981, nhóm sinh viên của khoa Nông học đã bảo vệ thành công đề tài thu thập và tuyển chọn giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt được Bộ Nông nghiệp công nhận giống ở Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Toàn Quốc Lần thứ Nhất tổ chức tại Thành phố Hố Chí Minh. Đây là một trong những kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đầu tiên của Trường giới thiệu cho sản xuất. Thầy Cô Khoa Nông học và hai lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 cũng đã làm họ trai họ gái tác thành đám cưới cho vợ chồng tôi. Sau này, chúng tôi lấy tên khoai Hoàng Long để đặt cho con và thầm hứa việc tiếp nối sự nghiệp nghiên cứu khoa học và giảng dạy, một nghề nghiệp cao quý và lương thiện. “Biết ơn thầy cô giáo dịu hiền. Bằng khích lệ động viên lòng vượt khó. Trăm gian nan buổi ban đầu bở ngỡ. Có bạn thầy càng bền chí vươn lên. Trước mỗi khó khăn tập thể luôn bên. Chia ngọt xẻ bùi động viên tiếp sức. Thân thiết yêu thương như là ruột thịt. Ta tự nhủ lòng cần cố gắng hơn. Bạn học chúng tôi vẫn thỉnh thoảng họp mặt, có Danh sách các lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 số điện thoại và địa chỉ liên lạc. Một số hình ảnh của các lớp ngày ấy và bây giờ.

BÀI HỌC QUÝ TỪ THẦY

Nhiều Thầy Bạn đã hun đúc nên nhân cách, niềm tin, nghị lực và trang bị kiến thức vào đời cho tôi, xin ghi lại một số người Thầy ảnh hưởng lớn đối với tôi và bài học:

thaybanlalocxuancuocdoi1

Thầy Mai Văn Quyền sống phúc hậu, tận tâm hướng dẫn khoa học sát thực tiễn. Công việc làm người hướng dẫn khoa học trong điều kiện Việt Nam phải dành nhiều thời gian, chu đáo và nhiệt tình. Thầy Quyền là chuyên gia về kỹ thuật thâm canh lúa và hệ thống canh tác đã hướng nghiệp vào đời cho tôi. Những dòng thơ tôi viết trên trang cảm ơn của luận án tiến sĩ đã nói lên tình cảm của tôi đối với thầy cô: Ơn Thầy Cha ngày xưa nuôi con đi học. Một nắng hai sương trên những luống cày. Trán tư lự, cha thường suy nghĩ. Phải dạy con mình như thế nào đây? Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất. Cái chết giằng cha ra khỏi tay con. Mắt cha lắng bao niềm ao ước. Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng. Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy. Tương lai con đi, sự nghiệp con làm. Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ. Cha ngã xuống rồi trao lại tay con. Trên luống cày này, đường cày con vững. Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa. Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ. Thôi thúc tim con học tập phút giờ …”. Thầy Mai Văn Quyền, Trịnh Xuân Vũ, … hiện đã trên 87 tuổi, vẫn đang đào tạo trên đại học cho Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và nhiều Viện Trường khác. Tấm gương phúc hậu và tận tụy của Thầy luôn nhắc nhở tôi.

thaybanlalocxuancuocdoi9

Thầy Norman Borlaug sống nhân đạo, làm nhà khoa học xanh nêu gương tốt. Thầy là nhà nhân đạo, nhà nông học Mỹ cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và Tổng thống Mỹ trao tặng huân chương cao quý nhất của nước Mỹ, thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói. Thầy đã suốt đời nghiên cứu giảng dạy về chọn tạo và phát triển cây lương thực, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho hàng trăm triệu nông dân nghèo ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Thầy là người sáng lập Giải thưởng Lương thực Thế giới và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực thắp sáng niềm tin yêu cuộc sống. Tôi được Thầy ghé thăm gần trọn buổi chiều tại phòng riêng ở CIMMYT, Mexico ngày 29.8.1988. Thầy đã một mình ghé thăm người trò nhỏ duy nhất của châu Á trong lớp học “Quản lý Trung tâm/ Trạm trại Nông nghiệp”. Khi Thầy đến, tôi đang thắp nến trên giá sách trong phòng đề tưởng nhớ ngày cha mất. Biết cha tôi bị bom Mỹ giết hại tại làng nhỏ ở Quảng Bình của buổi chiều này hai mươi năm trước (1968) lúc tôi còn là học sinh trung học của Trường cấp Ba Bắc Quảng Trạch, Thầy bối rối xin lỗi và thật bất ngờ tôi đã có được một buổi chiều vô giá riêng tư bên Thầy. Lời Thầy dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

tonthattrinh5

Thầy Tôn Thất Trình sống nhân cách, dạy từ xa và chăm viết sách. Giáo sư Tôn Thất Trình sinh ngày 27 tháng 9 năm 1931 ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (Huế), thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn Phước, hiện hưu trí tại Irvine, California, Hoa Kỳ đã có nhiều đóng góp thiết thưc, hiệu quả cho nông nghiệp, giáo dục, kinh tế Việt Nam. Thầy làm giám đốc Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn theo bổ nhiệm của GS. Phạm Hoàng Hộ, tổng trưởng giáo dục đương thời chỉ sau bác sỹ Đặng Quan Điện vài tháng. Giáo sư Tôn Thất Trình đã hai lần làm Tổng Trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa năm 1967 và 1973, nguyên chánh chuyên viên,  tổng thư ký Ủy Ban Lúa Gạo Quốc Tế của FAO (Rome). Thành tựu nổi bật của giáo sư trên lĩnh vực nông nghiệp bao gồm việc chỉ đạo phát triển đại trà năm 1967-1973 lúa Thần Nông (IR8…) nguồn gốc IRRI mang lại chuyển biến mới cho nghề lúa Việt Nam; Giáo sư trong những năm làm việc ở FAO đã giúp đỡ Bộ Nông nghiệp Việt Nam phát triển các giống lúa thuần thấp cây, ngắn ngày nguồn gốc IRRI cho các tỉnh phìa Bắc; giúp phát triển  lúa lai, đẩy mạnh các chưong trình cao su tiểu điền, mía, bông vải, đay, đậu phộng , dừa, chuối, nuôi cá bè ở Châu Đốc An Giang, nuôi tôm ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, nuôi cá măng ở Bình Định, nuôi tôm càng xanh ở ruộng nước ngọt, trồng phi lao chống cát bay, trồng bạch đàn xen cây họ đậu phủ xanh đất trống đồi trọc, trồng lại thông hai lá, ba lá ở Huế và ở Đà Lạt,  nuôi heo lai ba dòng nhiều nạc,  nuôi dê sữa , bò sữa, trồng rau, hoa, cây cảnh. Trong lĩnh vực giáo dục, giáo sư đã trực tiếp giảng dạy, đào tạo nhiều khóa học viên cao đẳng, đại học, biên soạn nhiều sách.  Giáo sư có nhiều kinh nghiệm và  đóng góp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và quan hệ quốc tế với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Pháp…Tôi học gián tiếp Thầy qua sách báo và internet. Giáo trình nông học sau ngàyViệt Nam thống nhất thật thiếu thốn. Những sách Sinh lý Thực vật, Nông học Đại cương, Di truyền học, Khoa học Bệnh cây , Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam … do tập thể hoặc chuyên gia đầu ngành phía Bắc biên soạn thời đó hiếm và quý như vàng. Cái khó khác cho thầy trò chúng tôi là thiếu kinh nghiệm thực tiễn của đồng ruộng phương Nam. Những bộ sách của thầy Trình như Cải Thiện Trồng Lúa 1965-66 (hai lần tái bản), Nông Học Đại Cương 1967 (ba lần tái bản), Mía Đường 1972 (hai lần tái bản), Cây Ăn Trái Có Triển Vọng 1995 (ba lần tái bản), Cây Ăn Trái Cho Vùng Cao 2004, … cùng với sách của các thầy Nguyễn Hiến Lê, Trần Văn Giàu, Phạm Hoàng Hộ, Lương Định Của, Lê Văn Căn, Vũ Công Hậu, Vũ Tuyên Hoàng, Đường Hồng Dật, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Mai Văn Quyền, Thái Công Tụng, Chu Phạm Ngọc Sơn, Phạm Thành Hổ … đã bổ khuyết rất nhiều cho sự học hỏi và thực tế đồng ruộng của chúng tôi. Sau này khi đã ra nước ngoài, thầy Trình cũng viết rất nhiều những bài báo khoa học kỹ thuật, khuyến học trên các báo nước ngoài, báo Việt Nam và blog The Gift. Điều tôi thầm phục Thầy là nhân cách kẻ sĩ vượt lên cái khó của hoàn cảnh để phụng sự đất nước. Lúa Thần Nông áp dụng ở miền Nam sớm hơn miền Bắc gần một thập kỷ. Sự giúp đỡ liên tục và hiệu quả của FAO sau ngày Việt Nam thống nhất có công lớn của thầy Trình và anh Nguyễn Văn Đạt làm chánh chuyên gia của FAO. Blog The Gift là nơi lưu trữ những “tâm tình” của gíáo sư dành cho Việt Nam, đăng các bài chọn lọc của Thầy từ năm 2005 sau khi về hưu. Đa số các bài viết trên blog của giáo sư về Phát triển Nông nghiệp, Kinh Tế Việt Nam, Khoa học và Đời sống  trong chiều hướng khuyến khích sự hiếu học của lớp trẻ. Nhân cách và tầm nhìn của Thầy đối với tương lai và vận mệnh của đất nước đã đưa đến những đóng góp hiệu quả của Thầy kết nối quá khứ và hiện tại, tạo niềm tin tương lai, hòa giải và hòa hợp dân tộc.

1 Truongtoi
thaybanlalocxuancuocdoi

THẦY BẠN LÀ LỘC XUÂN

Bill Clinton trong tác phẩm ‘Đời tôi’ đã xác định năm việc chính quan trọng nhất của đời mình là muốn làm người tốt, có gia đình êm ấm, có bạn tốt, thành đạt trong cuộc sống và viết được một cuốn sách để đời. Ông đã giữ trên 30 năm cuốn sách mỏng “Làm thế nào để kiểm soát thời gian và cuộc sống của bạn” và nhớ rõ năm việc chính mà ông ước mơ từ lúc còn trẻ. Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời. Tôi biết ơn mái trường thân yêu mà từ đó tôi đã vào đời để có được những cơ hội học và làm những điều hay lẽ phải.

thaybanlalocxuancuocdoi7b

Anh Bùi Chí Bửu tâm sự với tôi: Anh Bổng (Bùi Bá Bổng) và mình đều rất thích bài thơ này của Sơn Nam: “Trong khói sóng mênh mông/ Có bóng người vô danh/ Từ bên này sông Tiền/ Qua bên kia sông Hậu / Tay ôm đàn độc huyền/ Điệu thơ Lục Vân Tiên / Với câu chữ/ Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả / Từ Cà Mau Rạch Giá / Dựng chòi đốt lửa giữa rừng thiêng/ Muỗi vắt nhiều hơn cỏ/ Chướng khí mờ như sương/ Thân chưa là lính thú / Sao không về cố hương?” Anh Mai Thành Phụng vừa lo xong diễn đàn khuyến nông Sản xuất lúa theo GAP tại Tiền Giang lại lặn lội đi Sóc Trăng ngay để kịp Hội thi và trình diễn máy thu hoạch lúa. Anh Lê Hùng Lân trăn trở cho giống lúa mới Nàng Hoa 9 và thương hiệu gạo Việt xuất khẩu. Anh Trần Văn Đạt vừa giúp ý kiến “Xây dựng thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam” lại hổ trợ ngay bài viết mới.

thaybanlalocxuancuocdoi8a

Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh kỷ niệm 65 năm ngày thành lập (1955- 2020). Dưới mái trường thân yêu này, kết nối Gia đình Nông nghiệp Việt Nam, có biết bao nhà khoa học xanh, nhà giáo nghề nông vô danh đã thầm lặng gắn bó đời mình với nhà nông, sinh viên, ruộng đồng, giảng đường và phòng thí nghiệm. Thật xúc động và tự hào được góp phần giới thiệu một góc nhìn về sự dấn thân và kinh nghiệm của họ.

VỀ TRƯỜNG ĐỂ NHỚ THƯƠNG
Kỷ yếu Khoa Nông Học 65 năm thành lập Khoa; Kỷ yếu 65 năm Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim


Tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn thầy bạn dưới mái trường Nông Lâm thân thương và làm món quà nhỏ thân tặng cho các em sinh viên nghèo hiếu học.Thầy, bạn là lộc xuân mà nếu thiếu sự động viên, giúp đỡ này thì không thể có được hôm nay:“Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tinThầy bạn trong đời tôi giúp ta khoảng lặng thời gian trở lại chính mình, https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Bạn tốt khó tìm, khó bỏ lại, và không thể quên lãng (Good friends are hard to find, harder to leave, and impossible to forget). Sắn Việt Nam và Kazuo Kawano và Reinhardt Howeler là chuyện nhiều năm còn kể. Chuyện của họ là chuyện thực đời thường về tình bạn quý  

Kazuo Kawano và phim NHK

Gíáo sư Kazuo Kawano là chuyên gia chọn giống sắn rất nổi tiếng. Ông biên soạn 11 sách, 157 bài báo khoa học và đoạt nhiều giải thưởng lớn quốc tế, trong đó có huy chương hữu nghị năm 1997 của chính phủ Việt Nam.

Giáo sư Kazuo Kawano đúc kết phóng sự ảnh “Sắn và Việt Nam: bây giờ và sau đó” (Cassava and Vietnam: Now and Then) là dẫn đề của bộ phim cùng tên của hãng phim NHK Nhật Bản công chiếu năm 2009. Chuyện sắn của giáo sư Kazuo Kawano là góc nhìn của sự bảo tồn và phát triển sắn Việt Nam. Ba trãi nghiệm CIAT với sắn Việt Nam lắng đọng sâu sắc nhất trong tôi là 1) Sắn Việt Nam : bây giờ và sau đó (Cassava and Vietnam: Now and Then), 2) Sắn Việt Nam câu chuyện thành công (Cassava in Vietnam: a successful story), 3) “Khai thác các cây nhiên liệu sinh học chịu hạn để tăng cơ hội thu nhập cho các nông hội sản xuất nhỏ ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh” (Harnessing water -use efficient bio- energy crops for enhancing livelihood opportunities ) trong đó có việc sử dụng sắn làm nhiên liệu sinh học tại Việt Nam (Cassava for Biofuel in Vietnam).

Sự kiện làm việc với nông dân là điều mà giáo sư Kazuo Kawano tâm đắc nhất khi ông kể lại qua phóng sự ảnh “ Cassava and Vietnam: Now and Then “. Ông nói: “Một điều nổi bật trong sự hợp tác của chúng tôi với các đồng nghiệp Việt Nam là sự sẵn sàng cấp bách của họ để làm việc chặt chẽ với nông dân. Điều này trái ngược với trải nghiệm Mỹ Latinh của tôi. Ngoạn chủ trì một cuộc họp thôn ở Phổ Yên năm 1996. Thu hoạch thử nghiệm sắn trên thực địa ở Bắc Thái; một hỗn hợp kỳ lạ của Ngoạn (nay đã là giáo sư), với sinh viên, nông dân, một bà già và một em bé” (READINESS FOR WORKING WITH FARMERS. Kazuo Kawano. One thing outstanding in our collaboration with the Vietnamese colleagues is their acute readiness for working closely with farmers. This is in good contrast to my Latin American experience. Ngoan presiding a village meeting in Pho Yen in 1996. Harvest of a field trial in Bac Thai in 1996; a curious mixture of Ngoan (Professor to be), students, farmers, an old woman and a baby)

Gặp những người bạn cũ ở Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Hưng Lộc . Nay Hoàng Kim là giảng viên chính ở Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và Nguyễn Hữu Hỷ là giám đốc của Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Hưng Lộc (Meeting old friends at Hung Loc Agricultural Research CenterNow, Hoang Kim is Senior Lecturer at Nong Lam University in Ho Chi Minh city and Nguyen Huu Hy is Director of Hung Loc Agricultural Research Center) Đoàn tụ với người nông dân tiên tiến ông Hồ Sáu với Hoàng Kim và sinh viên ở Trảng Bom, Đồng Nai (Reunion with advanced farmer Mr. Ho Sau with Hoang Kim and students in Trang Bom, Dong Nai)

“Kazuo Kawano và Hoàng Kim trên cánh đồng KM419 tháng 12 năm 2009. KM-94 vẫn là tốt nhất cho sắn trồng thuần ở Tây Ninh, ông Thanh đồng ý. Nhưng anh ấy đang trồng rộng rãi KM98-5 (tai xanh) và KM419 (tai đỏ) trên cánh đồng của mình, có lẽ vì là giống mới.KM98-5 và KM419 vẫn mang lại cơ hội tốt để trồng bán cây giống”. Giáo sư Kazuo Kawano kể lại. (KK and Kim in Tay Ninh at KM 419 field in Dec 2009. KM-94 is still the best for mono-culture cassava in Tay Ninh, Mr. Thanh agrees. But he is planting KM98-5 (tai xanh) and KM419 (tai do) extensively in his field, probably because being a new variety, KM98-5 and KM419 still offers good opportunities for planting stake sale).

Bạn tốt khó tìm, khó bỏ lại, và không thể quên lãng (Good friends are hard to find, harder to leave, and impossible to forget). Sắn Việt Nam là chuyện nhiều năm còn kể. Câu chuyện của họ là câu chuyện đời thực của gia đình sắn Việt Nam.

Sắn Việt Nam câu chuyện thành công

Tiến sĩ Reinhardt Howeler là người biên soạn rất nhiều sách sắn chuyên khảo với tác phẩm mới “Quản lý bền vững sắn châu Á từ nghiên cứu đến thực hành” Howeler R.H. and T. M. Aye 2015 (Nguyên tác: Sustainable Management of Cassava in Asia – From Research to Practice, CIAT, Cali,  Colombia, 147 p). Người dịch: Hoàng Kim, Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai 2015; Quản lý bền vững sắn châu Á : Từ nghiên cứu đến thực hành. Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Nhà Xuất bản Thông tấn, Hà Nội, Việt Nam, 148 trang. Tác phẩm này được đánh giá cao “Thay cho những lời khuyên tốt nhất hiện có về kỹ thuật canh tác sắn sau hơn 50 năm kinh nghiệm thực tiễn kết hợp nghiên cứu và làm việc với nông dân để thấu hiểu những thách thức thực tế cuộc sống và cơ hội mà họ phải đối mặt” (The work summarized in this manual represents the best available advice from more than 50 years of combined research experience and work with farmers to understand their real-life challenges and opportunities. – Clair Hershey, CIAT Cassava program). Reinhardt Howeler là chuyên gia sắn nổi tiếng thế giới, người bạn lớn của nông dân trồng sắn châu Á có 23 năm kinh nghiệm làm việc vời nông dân châu Á và Việt Nam.  Ông đã được chính phủ Việt Nam trao tăng huy chương hữu nghị vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp Việt Nam năm 1997 đồng thời với tiến sĩ Kazuo Kawano.

GiadinhNN
Congviecnaytraolaichoem3
XuanKy1
XuanKy2

 

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim

Chúc mừng em Nguyễn Thi Trúc Mai Ngày Hạnh Phúc.

Thầy bạn là lộc xuân.

Có một ngày như thế.


Thầy bạn trong đời tôi


HOA ĐẤT
Hoàng Kim

Bao năm Trường Viện là nhà
Sắn khoai ngô lúa đều là thịt xương
Một đời người một rừng cây
Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng…

Hoàng Kim thật yêu thích những lời khai thị vàng ngọc “HÃY SỐNG TRONG THẾ GIỚI BIẾT ƠN” của Tịnh Không Pháp Sư do Lương y AHLĐ Dương Văn Sinh chép lại

Hãy biết ơn những người khiển trách ta
VÌ HỌ GIÚP TA TĂNG TRƯỞNG ĐỊNH TUỆ
Hãy biết ơn những người làm ta vấp ngã
VÌ HỌ KHIẾN NĂNG LỰC CỦA TA MẠNH MẼ HƠN
Hãy biết ơn những người bỏ rơi ta
VÌ HỌ ĐÃ DẠY CHO TA BIẾT TỰ LẬP
Hãy biết ơn những người đánh đập ta
VÌ HỌ ĐÃ TIÊU TRỪ NGHIỆP CHƯỚNG CHO TA
Hãy biết ơn những người lừa gạt ta
VÌ HỌ TĂNG TIẾN KIẾN THỨC CHO TA
Hãy biết ơn những người làm hại ta
VÌ HỌ ĐÃ TÔI LUYỆN TÂM TRÍ CỦA TA
Hãy biết ơn tất cả những người khiến ta
được kiên định thành tựu

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là thay-ban-trong-doi-toi-le1bb9divc3a0ngbie1babftc6a1n1.jpg



THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim


Anh Nguyễn Quốc Toàn vừa giải nghĩa từ “quan tái” “Quan là cửa ải. Tái là thành lũy nơi biên giới” anh dẫn thơ Nguyễn Bính ở ải Nam Quan xứ Lạng “Chiều nay…thương nhớ nhất chiều nay/ Thoáng bóng em trong cốc rượu đầy/ Tôi uống cả em và uống cả/ Một trời quan tái mấy cho say.” với những lời bình sâu sắc hiếm thấy và ảnh thật đẹp thích hợp. Văn chương tinh hoa đúng là có ma lực Xin được chép về để thỉnh thoảng đọc lại “Lên Việt Bắc điểm hẹn” “Trở về nơi điểm hẹn” “Thầy bạn trong đời tôi

ĐỪNG BAO GIỜ NGỪNG CỐ GẮNG
Hoàng Kim

Cám ơn Dac San Go Cong đã đồng cảm, niềm vui tìm lại. “Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI”. Đừng bao giờ ngừng cố gắng.

Bài viết cùng chủ đề
Lời dặn của Thánh Trần
Lời khuyên thói quen tốt
Lời thề trên sông Hóa
Lời Thầy luôn theo em
Lời Thầy dặn thung dung
Lời thương


TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày


PDF và Video yêu thích
Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao) -Thanh Thúy
Kỷ yếu Khoa Nông Học 65 năm thành lập Khoa
Video Kỷ niệm 50 năm Trường Đại học Nông Lâm Huế
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim

‘Thanh nhàn vô sự là tiên’ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết vậy trong dòng đầu của Sấm Ký. Norman Borlaug lời Thầy dặn thật thấm thía:“Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”. “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; Thầy bạn trong đời tôi là một điểm nhấn cần đọc lại và suy ngẫm. Hoàng Kim thật tâm đắc khi tự đáy lòng viết lên những lời: “Em đã học nhiều gương sáng danh nhân Hãy biết nhục biết hèn mà rèn chí Thắp đèn lên đi em ngọn đèn dầu bền bỉ Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin”. Bạn tốt khó tìm, khó bỏ lại, và không thể quên lãng. (Good friends are hard to find, harder to leave, and impossible to forget.) Hoàng Kim cám ơn Mai Thành Phụng, Nguyễn Đức Thuận và các bạn … THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI là thông tin và một số hình ảnh chọn lọc lưu lại để dạy và học Tình yêu cuộc sống https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Congviecnaytraolaichoem

MỘT NIỀM TIN THẮP LỬA
Hoàng Kim

Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ.
Chợt thấy lòng rưng rưng.
Công việc nghề nông cực mà hạnh phúc.
Cố lên em nổ lực không ngừng !

Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo
Câu ca ông bà theo suốt tháng năm
Thêm bữa cơm ngon cho người lao động
Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng.

Em ơi hãy học làm ruộng giỏi
Nghề nông thời nào cũng quý kỹ năng
Người dân khá hơn là niềm ao ước
Công việc này giao lại cho em.

Có một mùa xuân hạnh phúc
Ơn mẹ cha lam lũ sớm hôm
Thương con vạc gọi sao mai dậy sớm
Một niềm tin thắp lửa giữa tâm hồn.

Bước tiếp bước giữa trường đời gian khó
Học làm người lao động siêng năng
Rèn nhân cách vượt lên bao cám dỗ
Đức và Tài tử tế giữa Nhân Dân.

HuynhHuong Vo Minh Luan
Congviecnaytraolaichoem
Congviecnaytraolaichoem1
Congviecnaytraolaichoem4
GiadinhNN
IAS 20 11 2015aa
IAS 20 11 2015a
IAS 20 11 2015aaa

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

CHÀO NGÀY MỚI 27 THÁNG 5
Hoàng Kim


CNM365 Phan Huy Chú thầy bách khoa thư. Truyện Pie Đại đế; .Thầy bạn trong đời tôi;  Một niềm tin thắp lửa; Học không bao giờ muộn; Ngày 27 tháng 5 năm 1703, Sa hoàng Pie Đại Đế Pyotr I của Nga cho thành lập thành phố Sankt-Peterburg thủ đô phương Bắc cố đô của Đế quốc Nga là thành phố lớn thứ hai ở Nga trên lãnh thổ mới chiếm được từ Thụy Điển. Sankt-Peterburg nằm trên một loạt đảo nhỏ trong châu thổ sông Neva; con sông này thông với Vịnh Phần Lan, tạo vị thế hải cảng cho Sankt-Peterburg. Ngày 27 tháng 5 năm 1964 ngày mất của Jawaharlal Nehru, thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ (sinh năm 1889).Jawaharlal Nehru là một trong những nhân vật trung tâm của chính trị Ấn Độ trong phần lớn thế kỷ 20, là lãnh đạo tối cao của phong trào độc lập Ấn Độ dưới sự giám hộ của Mahatma Gandhi. Ông đã điều hành Ấn Độ từ khi thành lập quốc gia độc lập vào năm 1947 cho đến khi ông qua đời năm 1964. Nehru là chính trị gia, kiến trúc sư của nhà nước hiện đại Ấn Độ, vừa là nhà văn, là sử gia không chuyên, tộc trưởng của gia tộc Nehru-Gandhi là dòng họ chính trị nổi tiếng nhất ở Ấn Độ. Con gái ông, Indira Gandhi cũng là một thủ tướng Ấn Độ. Ngày 27 tháng 5 năm 1994, bắt đầu vận hành Đường dây 500 kV Bắc – Nam tại Việt Nam, góp phần chấm dứt tình trạng thiếu điện trầm trọng ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Bài chọn lọc ngày 27 tháng 5: Phan Huy Chú thầy bách khoa thư. Truyện Pie Đại đế; .Thầy bạn trong đời tôi;  Một niềm tin thắp lửa; Học không bao giờ muộn; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-27-thang-5/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

BẠN TUI GÓC KHUẤT ĐỨC LINH https://hoangkimlong.wordpress.com/category/gap-ban-o-que-nha/
Nguyên Hùng thơ tịt mất à?
Like mà không nói Chi là Lão Hâm?
Gặp bạn ở quê nhà https://hoangkimlong.wordpress.com/category/gap-ban-o-que-nha/
Chúc mừng anh Phạm Xuân Tùng sinh nhật 29 tháng 5 anh Vũ Đình Hòa, vợ chồng anh chị Peter vui khỏe hạnh phúc. Thầy bạn trong đời tôi. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày
 
Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim


Bạn tốt khó tìm, khó bỏ lại, và không thể quên lãng. Good friends are hard to find, harder to leave, and impossible to forget. Lưu ảnh một số thầy bạn quý ngày này năm xưa và trang thơ HOÀNG NGỌC DỘ KHÁT VỌNG. Có những di sản tỉnh thức cùng lương tâm không thể nào quên: Dặn con cháu khiêm nhu cần kiệm; Cảnh mãi đeo người được đâu em Hết khổ, hết cay, hết vận hèn Nghiệp sáng đèn giời đang chỉ rõ Rồi đây cay đắng chẳng buồn chen; Không vì danh lợi đua chen. Thù nhà nợ nước quyết rèn bản thân; Soi mặt mình trong gương không bằng soi mặt mình trong lòng người

HOÀNG NGỌC DỘ KHÁT VỌNG
Thơ anh Hai của Hoàng Kim:

ÁNH SAO
Hoàng Ngọc Dộ

Bóng đêm trùm kín cả không trung
Lấp lánh phương Đông sáng một vừng
Mây bủa, mây giăng còn chẳng ngại
Hướng nhìn trần thế bạn văn chương.

LỜI NGUYỀN
Hoàng Ngọc Dộ

Không vì danh lợi đua chen
Thù nhà, nợ nước, quyết rèn bản thân!

Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên.

MẠ ƠI
Hoàng Ngọc Dộ

Chẵn tháng

Đã chẵn tháng rồi, ôi Mạ ôi!
Tuần trăng tròn khuyết đã hết rồi
Mà con không thấy đâu bóng Mạ
Thấy trăng vắng Mạ dạ bùi ngùi.

Năm mươi ngày

Năm mươi ngày chẵn thấm thoắt trôi
Mạ về cỏi hạc để con côi
Vầng trăng tròn trặn vừa hai lượt
Vắng Mạ, lòng con luống ngậm ngùi.

Đọc sách

Con đọc sách khuya không nghe tiếng Mạ
Nỗi tâm tư con nghĩ miên man
Lúc Mạ còn, con bận việc riêng con
Không đọc được để Mạ nghe cho thỏa dạ.

Nay con đọc, vắng nghe tiếng Mạ
Nỗi bùi ngùi lòng dạ con đau
Sách mua về đọc Mạ chẵng nghe đâu
Xót ruôt trẻ lòng sầu như cắt.

Mạ ơi Mạ, xin Mạ hãy nghe lời con đọc.

Buồn

Buồn khi rão bước đồng quê
Buồn khi chợp mắt Mạ về đâu đâu
Buồn khi vắng Mạ dạ sầu
Buồn khi mưa nắng giải dầu thân Cha
Buồn khi sớm tối vào ra
Ngó không thấy Mạ, xót xa lòng buồn.

CHIA TAY BẠN QUÝ
Hoàng Ngọc Dộ

Đêm ngày chẳng quản đói no
Thức khuya dậy sớm lo cho hai người
Chăm lo văn sách dùi mài
Thông kim bác cổ, giúp đời cứu dân

Ngày đêm chẵng quản nhọc nhằn
Tối khuyên, khuya dục, dạy răn hai người
Mặc ai quyền quý đua bơi
Nghèo hèn vẫn giữ trọn đời thủy chung

Vận nghèo giúp kẻ anh hùng
Vận cùng giúp kẻ lạnh lùng vô danh
Mặc ai biết đến ta đành
Dăm câu ca ngợi tạc thành lời thơ

Hôm nay xa vắng đồng hồ
Bởi chưng hết gạo, tớ cho thay mày
Mày tuy gặp chủ tốt thay
Nhớ chăng hôm sớm có người tri ân.

THỨC EM DẬY
Hoàng Ngọc Dộ

Đã bốn giờ sáng
Ta phải dậy rồi
Sao mai chơi vơi
Khoe hào quang sáng

Ta kêu Kim dậy
Nó đã cựa mình
Vớ vẫn van xin
Cho thêm chút nữa.

Thức, lôi, kéo, đỡ
Nó vẫn nằm ỳ
Giấc ngủ say lỳ
Biết đâu trời đất

Tiếc giấc ngủ mật
Chẳng chịu học hành
Tuổi trẻ không chăm
Làm sao nên được

Đêm ni, đêm trước
Biết bao là đêm
Lấy hết chăn mền
Nó say sưa ngủ

Ta không nhắc nhủ
Nó ra sao đây
Khuyên em đã dày
Nó nghe chẳng lọt

Giờ đây ta quyết
Thực hiện nếp này
Kêu phải dậy ngay
Lay phải trở dậy

Quyết tâm ta phải
Cố gắng dạy răn
Để nó cố chăm
Ngày đêm đèn sách

Ta không chê trách
Vì nó tuổi thơ
Ta không giận ngờ
Vì nó tham ngủ

Quyết tâm nhắc nhủ
Nhắc nhủ, nhắc nhủ …

NẤU ĂN
Hoàng Ngọc Dộ

Ngày một bữa đỏ lửa
Ngày một bữa luốc lem
Ngày một bữa thổi nhen
Ngày một bữa lường gạo
Ngày một bữa tần tảo
Ngày một bữa nấu ăn.

(*) 5 năm cơm ngày một bữa

NỖI LÒNG
Hoàng Ngọc Dộ

Nhá củ lòng anh nhớ các em
Đang cơn lửa tắt khó thắp đèn
Cảnh cũ chưa lìa đeo cảnh mới
Vơi ăn, vơi ngủ, với vơi tiền

Cảnh mãi đeo người được đâu em
Hết khổ, hết cay, hết vận hèn
Nghiệp sáng đèn giời đang chỉ rõ
Rồi đây cay đắng chẳng buồn chen.

DỰ LIÊN HOAN
Hoàng Ngọc Dộ

Hôm nay anh được chén cơm ngon
Cửa miệng anh ăn, nuốt chả trơn
Bởi lẽ ngày dài em lam lũ
Mà sao chỉ có bữa cơm tròn.

NHỚ NGƯỜI XƯA
Hoàng Ngọc Dộ

Ông Trình, ông Trãi, ông Du ơi
Chí cả ngày xưa Cụ trả rồi
Có biết giờ đây ai khắc khoải
Năm canh nguyệt giãi gợi lòng tôi

Bó gối mười năm ở nội thành
Thầy xưa đã rạng tiết thanh danh
Tớ nay vương nợ mười năm lẽ
Sự nghiệp Thầy ơi rạng sử xanh.

EM ỐM
Hoàng Ngọc Dộ

Bồn chồn khi được tin nhà
Rằng người xương thịt nay đà bị đau
Nghĩ mình là kẻ đỡ đầu
Mà sao phải chịu lao đao chốn này.

ĐÊM RÉT THƯƠNG EM
Hoàng Ngọc Dộ

Đêm này trời rét, rét ghê
Ta thương chiến sĩ dầm dề gió sương
Thương em lặn lội chiến trường
Chăn không, áo mỏng, gió sương dạn dày.

EM VỀ
Hoàng Ngọc Dộ

Em về anh biết nấu chi
Ba lần khoai sắn, kể chi cá gà
Thương em lặn lội đường xa
Về nhà khoai sắn, dưa cà cùng anh

Bao giờ giặc Mỹ sạch sanh
Em về anh thết cơm canh cá gà
Mùng vui kể chuyện nước nhà
Gia đình đoàn tụ thật là đượm vui.

LÀM ĐỒNG
Hoàng Ngọc Dộ

Làm đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót, say sưa với đồng
Chung tay liềm hái cuốc chòng
Ngày nay nhỏ giọt, mai lòng sướng vui.

Làm đồng nắng sém, da hui
Ai ơi xin chớ tham hời của dân
Khổ cay nắng sém da hồng
Xuân xanh già dặn với đồng, ai ơi!

NGẮM TRĂNG
Hoàng Ngọc Dộ

Nằm ngữa trong nhà ngắm Hằng Nga
Hợp cảnh, hợp tình, Hằng ngắm lại
Hợp nhà, hợp cửa, ả rọi hoa
Từng đám vòng tròn nằm giữa chiếu
Chiếu thế mà ra lại chiếu hoa
Hậu Nghệ thuở xưa sao chị ghét
Ngày nay mới biết ả yêu ta.

NHÀ DỘT
Hoàng Ngọc Dộ

Lã chã đêm đông giọt mưa phùn
Lách qua tranh rạ nhỏ lung tung
Chiếu giường ướt đẫm, thân đâu thoát
Nghĩ cảnh nhà hoa thật não nùng.

QUA ĐÈO NGANG
Hoàng Ngọc Dộ

Qua đèo Ngang, qua đèo Ngang
Rừng thẳm Hoành Sơn giống bức màn
Tường thành hai dãy nhiều lũy nhỏ
Gió chiều lướt thổi nhẹ hơi hương
Cổng dinh phân định đà hai tỉnh
Cheo leo tầng đá, giá hơi sương
Người qua kẻ lại đều tức cảnh
Ta ngẫm thơ hay của Xuân Hương (1)

(1) Thơ Xuân Hương:
“Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo …”

CUỐC ĐẤT ĐÊM
Hoàng Ngọc Dộ

Mười lăm trăng qủa thật tròn
Anh hùng thời vận hãy còn gian nan
Đêm trăng nhát cuốc xới vàng
Trăng dòm, ta hẹn, trăng càng dòm thêm
Đất vàng, vàng ánh trăng đêm
Đêm khuya, ta với nàng quên nhọc nhằn.

Hoàng Ngọc Dộ (1937-1994) là nhà giáo. Ông quê ở xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch (nay là thị xã Ba Đồn), tỉnh Quảng Bình. Mẹ mất sớm. Nhà nghèo. Cha bị bom Mỹ giết hại. Ông đã nổ lực nuôi dạy các em vượt qua gian khổ, nghèo đói và chiến tranh để vươn lên trở thành những gia đình thành đạt và hạnh phúc. Gương nghị lực vượt khó hiếm thấy, ăn ngày một bữa suốt năm năm, nuôi hai em vào đại học với sự cưu mang của thầy bạn và xã hội đã một thời lay động sâu xa tình cảm thầy trò Trường Cấp Ba Bắc Quảng trạch (Quảng Bình). Ông mất sớm, hiện còn lưu lại gần 100 bài thơ. Lời thơ trong sáng, xúc động, ám ảnh, có giá trị khích lệ những em học sinh nhà nghèo, hiếu học. Hoàng Kim Hoang Long đã chọn lưu lại trên Thi Viện một số bài tiêu biểu cách đây 15 năm. Nay nhân lưu ảnh giáo sư Đào Thế Tuấn (thân phụ PGS The Anh Dao) thăm Trung tâm Hưng Lộc và nhà Kim Hoàng , cùng với hình ảnh GS Võ Tòng Xuân và anh Nguyễn Gia Quốc ở Huế, GS Peter Vanderzaag GS Vũ Đình Hòa và TS Pham Xuan Tung ở CIP vùng 7 Philippines, GS Vũ Công Hậu, với chuyên gia Viện Vavilop Nga và Phạm Huy Trung ở Hưng Lộc; nhóm bạn học Mai Thành Phụng, Nguyễn Đăng Nghĩa, Đặng Kim Sơn, Phan Kiếm, Hoàng Kim … gợi lưu lại một số kỷ niệm quý Câu chuyện ảnh tháng Tư: Thầy bạn trong đời tôi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim
chia sẻ với quý thầy bạn và các em sinh viên bài viết cảm động ‘Con đường dẫn tôi đến làm Thầy’ của PGS.TS Phan Thanh Kiếm (Phan Kiếm). Thầy Kiếm là một người thầy tận tâm chuyên dạy Di truyền Thực vật, Chọn giống Cây trồng và Công nghệ Hạt giống ở Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, đã hướng dẫn thành công nhiều sinh viên và học viên sau đại học, biên soạn 5 sách giáo trình và chuyên khảo cẩm nang nghề nông được nhiều người đọc. Thầy Kiếm thật sâu sắc trong tổng kết thực tiễn với lời văn khoa học giản dị mạch lạc và chính xác. Tôi nói với anh Hinh Lâm Quang ” Mình trích dẫn trong bài viết “Nguyễn Khải ngọc cho đời”: “Trên cuộc đời không có bước đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải vượt qua được những ranh giới ấy”.“Tôi viết vậy thì tôi tồn tại! Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn”. Anh Phan Kiếm có năng khiếu trao lại những di sản tử tế ấy. Tôi sẽ chép lại bài viết xuất sắc tâm huyết này của anh
Phan Kiếm trong ngày mới hôm nay 16 tháng 4 .

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim


Bạn tốt khó tìm, khó bỏ lại, và không thể quên lãng. Good friends are hard to find, harder to leave, and impossible to forget. Lưu ảnh một số thầy bạn quý ngày này năm xưa và trang thơ HOÀNG NGỌC DỘ KHÁT VỌNG. Có những di sản tỉnh thức cùng lương tâm không thể nào quên: Dặn con cháu khiêm nhu cần kiệm; Cảnh mãi đeo người được đâu em Hết khổ, hết cay, hết vận hèn Nghiệp sáng đèn giời đang chỉ rõ Rồi đây cay đắng chẳng buồn chen; Không vì danh lợi đua chen. Thù nhà nợ nước quyết rèn bản thân; Soi mặt mình trong gương không bằng soi mặt mình trong lòng người https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

CON ĐƯỜNG DẪN TÔI ĐẾN LÀM THẦY
“Trên con đường ấy, tôi đã nhận được sự giúp đỡ sẻ chia của nhiều người”
Phan Thanh Kiếm

Hồi còn học Đại học, có thầy lãnh đạo Khoa có nhã ý muốn giữ tôi lại trường để làm cán bộ giảng dạy. Tôi cảm ơn thầy và từ chối với lý do “chất giọng miền Trung mà lại quá đặc biệt” của tôi sẽ không thể giúp tôi làm tốt vai trò ấy. Sau khi tốt nghiệp (1975), tôi về công tác tại Viện Nghiên cứu cây công nghiệp, cây ăn quả và cây làm thuốc thuộc Bộ Nông nghiệp đóng tại Phú Thọ và được phân công về Bộ môn nghiên cứu mía. Mấy tháng sau tôi được điều động vào làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam Trung bộ đóng tại Ninh Thuận (nay là Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố).

Sau vài năm công tác, Trung tâm có mở một Trường bổ túc văn hóa ban đêm để dạy cho cán bộ công nhân viên và bà con lân cận. Tôi được phân công chủ nhiệm lớp 12, dạy môn toán cho các lớp 11, 12 và nhận phụ đạo môn toán cho vài ba người đã tốt nghiệp cấp 3, có nguyện vọng đi dự thi Đại học. Tuy giảng dạy không lương nhưng tôi cảm thấy vui vì học viên thường xuyên đến lớp đầy đủ, không khí học tập nghiêm túc, có sổ điểm danh, có bài kiểm tra 15 – 20 phút và thi hết môn học đàng hoàng. Tôi còn nhớ, có một buổi, Giám đốc Trung tâm đột nhiên đến “dự giờ”. Gọi là dự giờ chứ thực ra giám đốc đi kiểm tra tình hình học tập và trước khi về phòng làm việc ông ghé vào đứng nghe tôi giảng. Nghe một lúc lâu, ông nói: “giảng thế mà thi không đậu thì tại học trò dốt thôi”. Nói rồi ông lặng lẽ bước ra. Chỉ một câu nói ấy, nó không chỉ thúc giục học viên phải tích cực học tập mà còn động viên tôi rất nhiều. Và, theo thời khóa biểu, với chiếc xe đạp cọc cạch tôi vẫn lên lớp đều đặn. Tôi đã trở thành “thầy nghiệp dư” từ hồi đó.

Trải qua những năm tháng học tập và công tác, tôi đã học được nhiều điều. Chẳng hạn, đi thi nghiên cứu sinh đương nhiên là phải học kiến thức để thi cho đậu. Vì nếu không làm được điều đó thì ngoài việc tốn kém tiền bạc bản thân, hổ mặt với bạn bè thì vấn đề tiến thân lại lâm vào khốn khó. Vì những lẽ đó mà buộc phải học. Nhưng đằng sau cái học kiến thức ấy, có một cái học khác mà tôi “ngấm ngầm”để ý để học ở các thầy, đó là học cách truyền đạt. Tôi rất ấn tượng với phương pháp dạy toán của thầy Nguyễn Đình Hiền, cách dạy môn sinh lý thực vật của thầy Nguyễn Quang Thạch, Đại học nông nghiệp I, Hà Nội. Sau đó, tôi đã bắt chước thầy Hiền để “truyền đạt” môn xác suất thống kê cho một vài bạn chuẩn bị đi thi nghiên cứu sinh và thường tổ chức các buổi “dạy” toán thống kê và phương pháp thí nghiệm cho cán bộ nghiên cứu của Trung tâm. Tuy nhiên cho mãi tới bây giờ bài học về phương pháp giảng dạy ấy tôi vẫn còn học và sẽ phải còn học mãi.

Trong thời gian nghiên cứu sinh ở Liên Xô, tôi đã được thầy hướng dẫn cho đến dự giờ giảng của thầy, sau đó phải tập thuyết trình cho thầy xem. Rồi thầy giao cho tôi phụ trách công việc nghiên cứu và đóng góp ý kiến cho báo cáo đề tài của hai nghiên cứu sinh. Những công việc mà thầy tôi đã tập cho tôi là những bài học lớn giúp tôi rất nhiều sau này, đặc biệt là tình thương của thầy đối với học trò.

Trong thời gian làm công tác quản lý doanh nghiệp tại Công ty bông Việt Nam, nhờ sự tài trợ của FAO, công ty đã tổ chức được mấy khóa dạy về quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) cho bông theo phương pháp mới: phương pháp học kết hợp với hành, phương pháp suy luận, phương pháp hoạt động theo nhóm. Mỗi khóa học kéo dài trong suốt vụ bông. Với trách nhiệm là người quản lý, rất may mắn, tôi đã có dịp để học tập.

Đầu những năm 2000, nhiều người khuyên tôi nên tham gia “thỉnh giảng” ở một số trường. Khi đó chưa “thoáng” như bây giờ, một mặt do cấp trên không cho phép, vả lại tôi rất sợ mang tiếng “chân trong, chân ngoài” nên mặc dù rất muốn thử sức nhưng không thể thực hiện được. Thế rồi, khi Nhà nước có chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp, các đơn vị thành viên của công ty bông Việt Nam lần lượt ra “ăn riêng”, tôi mới nảy ra ý định muốn chuyển hẳn về trường nào đó để dạy học. Tôi được giáo sư Nguyễn Thơ “đặt vấn đề” với thầy hiệu trưởng Bùi Cách Tuyến để “xin việc”. Vì đã luống tuổi, vào tuổi 53, tôi rất ngại sẽ làm khó cho thầy Tuyến, nhưng tôi đã may mắn: nguyện vọng của tôi đã được chấp nhận khá nhanh chóng.

Tôi còn nhớ như in cái “ngày nói dối”, ngày 1 tháng 4 năm 2005, ngày mà tôi đến trường với công việc mới. Tất cả đều còn xa lạ đối với tôi. Hình ảnh các “cháu” sinh viên ngồi học rải rác ở bậc cầu thang lên xuống để lại cho tôi ấn tượng mạnh nhất. Sau này tôi mới biết các em đang ôn lại bài trước giờ thi. Tôi hết sức xúc động không phải vì tôi nhớ lại hình ảnh hơn 30 năm trước của mình. Hồi đó là thời chiến, nhà chúng tôi học là nhà nền đất, vách trát đất, làm sao có được hình ảnh giống như bây giờ để mà nhớ. Tôi xúc động vì trên những khuôn mặt chăm chú ấy chứa đầy nghị lực và cả những âu lo. Tôi thầm hỏi: trong số các em ngồi ở đây có bao nhiêu em gia đình có đủ điều kiện chăm lo sức khỏe để các em có sức mà học. Chắc chắn là không nhiều. Đa số các em, bố mẹ còn rất vất vã, số tiền bố mẹ cho, các em phải chi cho cho nhiều việc nên ăn uống chắc chắn là còn kham khổ, lấy sức đâu để học. Nghĩ thế, rồi tôi nhìn các em, có gì đó trào dâng trong tôi.

Ngày mới về trường, tôi biết có nhiều người để ý. Có một số người đến hỏi thăm, giúp đỡ, nhưng tôi nghĩ, chắc là có nhiều người đặt câu hỏi: Ông ấy già thế, từ doanh nghiệp về, chẳng biết trình độ thế nào, có dạy được không?. Nghĩ thế nên tôi càng phải cố gắng. Tôi được thầy Trưởng khoa Lê Quang Hưng tin tưởng, động viên và giúp đỡ rất nhiều. Thầy đã phân công cho tôi dạy môn Chọn giống cây trồng đúng theo chuyên ngành của tôi và phụ trách bộ môn Di truyền – Giống. Cuối năm đó (2005) tôi có quyết định chính thức bổ nhiệm Trưởng bộ môn của Hiệu trưởng. Lúc tôi về, năm học 2004-2005 chuẩn bị kết thúc, 4 tháng nữa (giữa tháng 8) là bắt đầu học kỳ I năm học mới 2005-2006 nên tôi phải chuẩn bị ngay bài giảng và phải trình giảng trước khoa trước khi lên lớp cho sinh viên. Thực sự tôi không lo về vốn kiến thức, chỉ lo “diễn xuất” thế nào cho ra tư thế người thầy, cách trình bày thế nào cho sinh viên dễ hiểu.

Thế rồi sau một thời gian ngắn tôi đã soạn xong bài giảng và bắt tay viết lại giáo trình. Thầy trưởng khoa cho biết tôi sẽ trình giảng vào chiều ngày 29/8 tại phòng làm việc của Bộ môn, có sự tham dự của Chủ tịch công đoàn Khoa, các giảng viên trong khoa. Trước đó mấy ngày, tôi nhờ cô Trần Thị Thiên An, giảng viên Bộ môn bảo vệ thực vật đóng hai vai: vừa làm hội đồng, vừa làm “sinh viên” cho tôi giảng thử. Tôi chọn bài: “Mô hình toán di truyền” vừa mới lại vừa khó đối với sinh viên để trình bày. Nghe xong, cô An “phán”: Tốt đấy. Tôi mừng nhưng vẫn nghi đó là lời nhận xét “chiếu cố” nên tôi kiểm tra lại sự tiếp nhận kiến thức của cô “sinh viên bất đắc dĩ” này và tôi đã nhận được sự khích lệ khi cô “sinh viên” đó đã nắm được nội dung bài giảng của tôi. Vì chưa an tâm, nhân dịp cô Từ Bích Thủy – Trưởng bộ môn của tôi đã nghĩ hưu đến thăm Khoa, tôi tranh thủ giảng thử cho cô nghe và cũng được cô “duyệt”. Sau buổi trình giảng trước khoa, trong biên bản được ký bởi Trưởng khoa, Chủ tịch công đoàn và Thư ký, hội đồng thống nhất kết luận: “Đạt yêu cầu cao, đủ sức giảng dạy cho Đại học và Cao học”. Tôi biết trong lời nhận xét ấy có phần động viên khích lệ nhưng nó đã giúp tôi tự tin khi bước vào “trận mới”. Đến giờ tôi vẫn còn lưu giữ biên bản ấy như là một lời nhắc nhở: hãy làm cho tốt để không phụ lòng của mọi người.

Đầu tháng 9/2005, tôi đã thực sự đứng trên bục giảng với tư cách người thầy và sau đó tham gia giảng dạy Cao học ở một vài trường. DH03NH (khóa 29) là lớp đầu tiên mà tôi đứng lớp. Em Hảo, người Tây Ninh, sinh năm 1982 làm lớp trưởng, em Liên, người Thái Bình, sinh năm 1982 làm lớp phó, em Ngà, người Bình Thuận, sinh năm 1985 làm bí thư Đoàn. Tôi điểm mặt và nhớ tên hầu hết các em: em Thuận, em Thành, 3 em Như, em Linh, em Truyền, 3 em Thảo, em Hằng, em Hồng, em Yến và nhiều em nữa. Tất cả các em đều tích cực học tâp, nhiều em học khá giỏi và gây ấn tượng rất tốt đối với tôi. Tất cả các em đã tạo dựng niềm tin đầu tiên, tiếp bước cho tôi tiếp tục sự nghiệp của mình. Lớp này tôi được phân công hướng dẫn các em: Nguyễn Thị Liên, Dương Thị Hồng, Trần Thành và Nguyễn Quốc Thịnh làm đề tài tốt nghiệp. Trong số các em tốt nghiệp năm ấy (2007), tôi biết có một số đã hoàn thành chương trình cao học, một số đang học, một số đã chuyển ngành và trong số đó có em đã lấy được bằng cao học ngành khác, vài em đã trở thành đồng nghiệp và dạy chuyên ngành của tôi ở trường khác. Nhiều em còn liên hệ với tôi, trong đó một số em tôi được may mắn tiếp tục hướng dẫn làm đề tài Cao học. Không biết có bao nhiêu em lớp ấy còn nhớ đến những ngày lên lớp của tôi, nhưng tôi, tôi nhớ các em nhiều lắm.

Thế rồi, theo thời gian, có bao nhiêu chuyện vui buồn đã đến rồi đi, nhưng tôi tự xác định cho mình rằng, bất luận trong hoàn cảnh nào, khi đứng trên bục giảng tôi phải làm tốt 3 vai trò: Làm thầy của học trò, làm bạn của học trò và còn phải làm cha chú của học trò nữa. Để làm tốt 3 vai trò ấy tôi tâm niệm phải thực hiện thật tốt 6 chữ: “Tận tụy”(để làm thầy), “cởi mở”(để làm bạn), “động viên” (để làm cha chú). Tôi đã từng chung vui với thành quả của học trò, đã từng chia buồn với học trò khi thành quả “xuất sắc” kia lẽ ra đáng có mà đã không đến do “xui xẻo”. Lúc đó, ít nhiều tôi thấy mình có lỗi. Tôi nghĩ rằng ai cũng có những ưu điểm và cả những khuyết điểm, được khen ngợi và bị chê trách. Với tôi khen chê đều là những bài học. Tôi rất thích câu nói của Tuân Tử: “Người chê ta mà chê phải là thầy ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta”.

Bây giờ, nhìn lại con đường dẫn tôi tới làm thầy, tuy có chậm, những thành quả mà tôi “gặt hái” được còn ít so với nhiều người nhưng tôi trân trọng những thành quả đó. Đi trên con đường ấy, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, động viên và sẻ chia của nhiều người. Nhân ngày 20/11, tôi nhớ đến họ và thầm cảm ơn họ.

Tháng 11/2010
P.T.K

Cảm tưởng

Thầy ơi, vậy là thầy đứng lớp của chúng em là lớp đầu tiên hả thầy? Thầy là một người thầy rất đặc biệt trong tâm trí của em và chắc chắn là của các thế hệ học trò sau này nữa. Có một điều mà em biết chắc đó là sau 4 năm đã ra trường không có bạn nào NH29 có thể quên được thầy. Thầy mãi mãi ở trong lòng chúng em và tất cả các thế hệ học trò đã may mắn được học. Em chúc thầy thành công hơn nữa trong sự nghiệp của mình. Em chào thầy ạ!
Dương Thị Hồng — với Phan Kiếm tại Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM.

xem tiếp THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI chuỗi bài viết cập nhật https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Bài viết mới

Video nhạc tuyển
Du lịch Nha Trang
Chuyện cổ Andersen
Những bài hát hay nhất của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (25 bài)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim


Cao hơn trang văn là cuộc đời. Đó là thầy bạn trong đời tôi. Tôi neo lại ít hình ảnh tư liệu để nhớ. Ngắm những thầy bạn, lòng tôi bồi hồi xúc động và nhớ lại. Ai cũng có câu chuyện của riêng mình. Thầy bạn đã ảnh hưởng và lưu lại những dấu ấn sâu sắc trong đời chúng ta. “Dù chúng ta đang ở đâu, chính bạn hữu đã tạo nên thế giới”.

Tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn thầy bạn dưới mái trường Nông Lâm thân thương và làm món quà nhỏ thân tặng cho các em sinh viên nghèo hiếu học, Trường tôi nôi yêu thương, Một niềm tin thắp lửa; Thầy bạn trong đời tôi; Hoa Đất lời Thầy dặn. Về Trường để nhớ thương. Thầy bạn là lộc xuân, đời tôi nếu thiếu sự động viên giúp đỡ này thì tôi không thể có được ngày hôm nay:“Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin” Ngày Hạnh Phúc là ngày luôn ấm áp tình thầy bạn.

thaybanlalocxuancuocdoi

Trường tôi nôi yêu thương  

Ai cũng có ước nguyện về trường. Tôi thấu hiểu vì sao thầy Đặng Quan Điện, thầy Dương Thanh Liêm là một trong những người thầy Hiệu Trưởng mẫu mực của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đều có nguyện vọng được ghé thăm Trường trước lúc đi trước khi về chốn vĩnh hằng Thầy Tôn Thất Trình, người Hiệu trưởng thứ hai của Trường trên 80 tuổi vẫn viết blog The Gift như một quà tặng trao lại cho lớp trẻ và viết hai  bài hột lúa, con cá cho ngày Nhà giáo Việt Nam. Thầy Lưu Trọng Hiếu với tình yêu thương gửi lại đã hiến tặng toàn bộ tiền phúng viếng của Thầy cùng với số tiền gia đình góp thêm để làm quỷ học bổng cho Trường tặng những em sinh viên nghèo hiếu học. Ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng tặng học bổng cho sinh viên Đại học Nông Lâm gặp khó khăn học giỏi vì tuổi thơ của anh nhọc nhằn không có cơ hội đến trường, khi thành đạt anh muốn chia sẻ để chắp cánh cho những ước mơ.

Tôi cũng là người học trò nghèo năm xưa với ba lần ra vào trường đại học, cựu sinh viên của năm lớp, nay tỏ lòng biết ơn bằng cách trở lại Trường góp chút công sức đào tạo và vinh danh những người Thầy người Bạn đã cống hiến không mệt mỏi, thầm lặng và yêu thương góp công cho sự nghiệp trồng người. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa đủ mang lại niềm vui cho bữa ăn người nghèo thì chừng đó chúng ta vẫn còn phải dạy và học. Cái gốc của sự học là học làm người. Bài học quý về tình thầy bạn mong rằng sẽ có ích cho các em sinh viên đang nổ lực khởi nghiệp.

Quê tôi ở miền Trung nghèo khó “Nhà mình gần ngã ba sông/ Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình,/ Linh Giang sông núi hữu tình / Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con/ Chèo thuyền cho khuất bến Son/ Để con khỏi chộ (thấy) nước non thêm buồn/ Câu thơ quặn thắt đời con/ Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ”. Mẹ tôi mất sớm, cha bị bom Mỹ giết hại, tôi và chị gái đã được anh Hoàng Ngọc Dộ nuôi dạy cơm ngày một bữa suốt năm năm trời. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng vận động thầy cô, bạn hữu chia sớt khoai sắn giúp đỡ. Tôi cũng dạy năm lớp vở lòng, ba lớp bổ túc văn hóa để vượt khó vươn lên. Thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết những lời xúc động trong trường ca tình thầy trò: Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng” Những gương mặt thầy bạn đã trở thành máu thịt trong đời tôi.

Tôi thi đậu vào Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc năm 1970, và học Trồng trọt 4 cùng khóa với các bạn Trần Văn Minh, Đỗ Thị Minh Huệ, Phan Thanh Kiếm, Đỗ Khắc Thịnh, Vũ Mạnh Hải, Phạm Sĩ Tân, Phạm Huy Trung, Lê Xuân Đính, Nguyễn Hữu Bình, Lê Huy Bá, Nguyễn Văn Toàn, Lâm Quang Hinh, Nguyễn An Tiêm, … cho đến ngày 02 tháng 9 năm 1971 thì tôi gia nhập quân đội cùng lứa với Nguyễn Văn Thạc. Đợt tuyển quân sinh viên trong ngày độc lập đã nói lên sự quyết liệt sinh tử và ý nghĩa thiêng liêng của ngày cầm súng. Chiến trường đánh lớn. Đơn vị chúng tôi chỉ huấn luyện rất ngắn rồi vào trận ngay với 81 đại đội vượt sông Thạch Hãn. Chiến dịch Quảng Trị năm 1972 sau này đã đi vào huyền thoại: “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm” Tổ chúng tôi bốn người thì Xuân và Chương hi sinh, chỉ Trung và tôi trở về trường sau ngày đất nước thống nhất.  Những vần thơ viết dưới đây là xúc động sâu xa của tôi khi nghĩ về bạn học đồng đội đã khuất: “Trận chiến hôm qua bạn góp máu hồng. Lớp học hôm nay bạn không trở lại. Trách nhiệm trong mình nhân lên gấp bội. Đồng đội ơi, tôi học cả phần anh

Tôi về học tiếp năm thứ hai tại Trồng trọt 10 của Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc. Những khuôn mặt thân thương trên bức ảnh này là hình ảnh bạn hữu gặp lại nhau nơi ngôi trường Đại học Nông nghiệp Bắc Giang và Đại học Nông Lâm Huế với những lần lớp Trồng trọt 10 chúng tôi cùng đi chơi chung với nhau. Tôi đến cuối năm 1977 thì chuyển trường vào Đại học Nông nghiệp 4, tiền thân Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Khối lớp Trồng trọt 2 thuở đó là khóa đầu tiên tuyển sinh sau ngày Việt Nam thống nhất (Khóa 1 là khóa tuyển sinh trước giải phóng) Trồng trọt 2 chúng tôi là một lớp chung, mãi cho đến cuối khóa học mới tách ra ba lớp 2A, 2B, 2C. nhưng bất cứ việc gì chúng tôi cũng học chung, làm chung, chơi chung với nhau, cho mãi đến tận sau này vẫn vậy. Tôi làm Chủ tịch Hội Sinh viên thay cho anh Nguyễn Anh Tuấn khoa thủy sản ra trường về dạy Đại học Cần Thơ. Chị Tuyết và anh Tuân làm Bí thư và Phó bí Thư Đoàn Trường, anh Trần Ngọc Quyền làm Bí thư Đoàn Khoa. Tình thầy bạn thật ấm áp trong lòng tôi.

Thay ban trong doi toi 1b

Trồng trọt khóa hai chúng tôi thuở đó được học với các thầy cô: Nguyễn Đăng Long, Tô Phúc Tường, Nguyễn Tâm Đài, Trịnh Xuân Vũ, Lê Văn Thượng, Ngô Kế Sương, Trần Thạnh, Lê Minh Triết, Phạm Kiến Nghiệp, Nguyễn Bá Khương, Nguyễn Tâm Thu, Nguyễn Bích Liễu, Trần Như Nguyện, Trần Nữ Thanh, Vũ Mỹ Liên, Từ Bích Thủy, Huỳnh Thị Lệ Nguyên, Trần Thị Kiếm, Vũ Thị Chỉnh, Ngô Thị Sáu, Huỳnh Trung Phu, Phan Gia Tân, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Kế, … Ngoài ra còn có thỉnh giảng Ngô Kế Sương, Nguyễn Văn Uyển, Nguyễn Va7n Thắng, … với nhiều thầy cô hướng dẫn thực hành, thực tập, kỹ thuật phòng thí nghiệm, chủ nhiệm lớp như Bùi Cách Tuyến, Nguyễn Văn Kịp, Lê Quang Hưng, Trương Đình Khôi, Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Gia Quốc, Nguyễn Văn Biền, Lê Huy Bá, Hoàng Quý Châu, Phạm Lệ Hòa, Đinh Ngọc Loan, Chung Anh Tú và cô Thảo làm thư ký văn phòng Khoa. Bác Năm Quỳnh là Bí thư Đảng ủy đầu tiên của Trường sau đó là thầy Kiên và cô Bạch Trà. Thầy Nguyễn Phan là Hiệu trưởng kiêm Trưởng Trại Thực nghiệm. Thầy Dương Thanh Liêm, Nguyễn Ngọc Tuân, Võ Thị Tuyết, Ngô Văn Mận, Bùi Xuân An … ở khoa Chăn nuôi Thú y, thầy Nguyển Yên Khâu, Nguyễn Quang Lộc … ở khoa Cơ khí, cô Nguyễn Thị Sâm ở Phòng Tổ chức, cô Văn Thị Bạch Mai dạy tiếng Anh, thầy Đặng, thầy Tuyển, thầy Châu ở Kinh tế Mác Lê … Thầy Trần Thạnh, anh Quang, anh Đính, anh Đống ở trại Trường là những người đã gần gũi và giúp đỡ nhiều các lớp nông học. Thuở đó đời sống thầy cô và sinh viên thật thiếu thốn. Các lớp Trồng trọt khóa 1, khóa 2, khóa 3 chúng tôi thường hoạt động chung như: thực hành sản xuất ở trại lúa Cát Lái, giúp dân phòng trừ rầy nâu, điều tra nông nghiệp, trồng cây dầu che mát sân trường, rèn nghề ở trại thực nghiệm, huấn luyện quốc phòng toàn dân, tập thể dục sáng, hội diễn văn nghệ, thi đấu bóng chuyền, bóng đá tạo nên sự thân tình gắn bó.

tt2-1

Những sinh viên các khóa đầu tiên được đào tạo ở Khoa Nông học sau ngày Việt Nam thống nhất hiện đang công tác tại trường có các thầy cô như Huỳnh Hồng, Phan Văn Tự, Cao Xuân Tài, Từ Thị Mỹ Thuận, Lê Văn Dũ, …Tháng 5 năm 1981, nhóm sinh viên của khoa Nông học đã bảo vệ thành công đề tài thu thập và tuyển chọn giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt được Bộ Nông nghiệp công nhận giống ở Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Toàn Quốc Lần thứ Nhất tổ chức tại Thành phố Hố Chí Minh. Đây là một trong những kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đầu tiên của Trường giới thiệu cho sản xuất. Thầy Cô Khoa Nông học và hai lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 cũng đã làm họ trai họ gái tác thành đám cưới cho vợ chồng tôi. Sau này, chúng tôi lấy tên khoai Hoàng Long để đặt cho con và thầm hứa việc tiếp nối sự nghiệp nghiên cứu khoa học và giảng dạy, một nghề nghiệp cao quý và lương thiện. “Biết ơn thầy cô giáo dịu hiền. Bằng khích lệ động viên lòng vượt khó. Trăm gian nan buổi ban đầu bở ngỡ. Có bạn thầy càng bền chí vươn lên. Trước mỗi khó khăn tập thể luôn bên. Chia ngọt xẻ bùi động viên tiếp sức. Thân thiết yêu thương như là ruột thịt. Ta tự nhủ lòng cần cố gắng hơn. Bạn học chúng tôi vẫn thỉnh thoảng họp mặt, có Danh sách các lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 số điện thoại và địa chỉ liên lạc. Một số hình ảnh của các lớp ngày ấy và bây giờ.

Bài học quý từ Thầy

Nhiều Thầy Bạn đã hun đúc nên nhân cách, niềm tin, nghị lực và trang bị kiến thức vào đời cho tôi, xin ghi lại một số người Thầy ảnh hưởng lớn đối với tôi và bài học:

thaybanlalocxuancuocdoi1

Thầy Mai Văn Quyền sống phúc hậu, tận tâm hướng dẫn khoa học sát thực tiễn. Công việc làm người hướng dẫn khoa học trong điều kiện Việt Nam phải dành nhiều thời gian, chu đáo và nhiệt tình. Thầy Quyền là chuyên gia về kỹ thuật thâm canh lúa và hệ thống canh tác đã hướng nghiệp vào đời cho tôi. Những dòng thơ tôi viết trên trang cảm ơn của luận án tiến sĩ đã nói lên tình cảm của tôi đối với thầy cô: Ơn Thầy Cha ngày xưa nuôi con đi học. Một nắng hai sương trên những luống cày. Trán tư lự, cha thường suy nghĩ. Phải dạy con mình như thế nào đây? Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất. Cái chết giằng cha ra khỏi tay con. Mắt cha lắng bao niềm ao ước. Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng. Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy. Tương lai con đi, sự nghiệp con làm. Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ. Cha ngã xuống rồi trao lại tay con. Trên luống cày này, đường cày con vững. Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa. Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ. Thôi thúc tim con học tập phút giờ …”. Thầy Mai Văn Quyền, Trịnh Xuân Vũ, … hiện đã trên 85 tuổi, vẫn đang đào tạo trên đại học cho Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và nhiều Viện Trường khác. Tấm gương phúc hậu và tận tụy của Thầy luôn nhắc nhở tôi.

thaybanlalocxuancuocdoi9

Thầy Norman Borlaug sống nhân đạo, làm nhà khoa học xanh nêu gương tốt. Thầy là nhà nhân đạo, nhà nông học Mỹ cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và Tổng thống Mỹ trao tặng huân chương cao quý nhất của nước Mỹ, thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói. Thầy đã suốt đời nghiên cứu giảng dạy về chọn tạo và phát triển cây lương thực, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho hàng trăm triệu nông dân nghèo ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Thầy là người sáng lập Giải thưởng Lương thực Thế giới và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực thắp sáng niềm tin yêu cuộc sống. Tôi được Thầy ghé thăm gần trọn buổi chiều tại phòng riêng ở CIMMYT, Mexico ngày 29.8.1988. Thầy đã một mình ghé thăm người trò nhỏ duy nhất của châu Á trong lớp học “Quản lý Trung tâm/ Trạm trại Nông nghiệp”. Khi Thầy đến, tôi đang thắp nến trên giá sách trong phòng đề tưởng nhớ ngày cha mất. Biết cha tôi bị bom Mỹ giết hại tại làng nhỏ ở Quảng Bình của buổi chiều này hai mươi năm trước (1968) lúc tôi còn là học sinh trung học của Trường cấp Ba Bắc Quảng Trạch, Thầy bối rối xin lỗi và thật bất ngờ tôi đã có được một buổi chiều vô giá riêng tư bên Thầy. Lời Thầy dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

tonthattrinh5

Thầy Tôn Thất Trình sống nhân cách, dạy từ xa và chăm viết sách. Giáo sư Tôn Thất Trình sinh ngày 27 tháng 9 năm 1931 ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (Huế), thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn Phước, hiện hưu trí tại Irvine, California, Hoa Kỳ đã có nhiều đóng góp thiết thưc, hiệu quả cho nông nghiệp, giáo dục, kinh tế Việt Nam. Thầy làm giám đốc Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn theo bổ nhiệm của GS. Phạm Hoàng Hộ, tổng trưởng giáo dục đương thời chỉ sau bác sỹ Đặng Quan Điện vài tháng. Giáo sư Tôn Thất Trình đã hai lần làm Tổng Trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa năm 1967 và 1973, nguyên chánh chuyên viên,  tổng thư ký Ủy Ban Lúa Gạo Quốc Tế của FAO (Rome). Thành tựu nổi bật của giáo sư trên lĩnh vực nông nghiệp bao gồm việc chỉ đạo phát triển đại trà năm 1967-1973 lúa Thần Nông (IR8…) nguồn gốc IRRI mang lại chuyển biến mới cho nghề lúa Việt Nam; Giáo sư trong những năm làm việc ở FAO đã giúp đỡ Bộ Nông nghiệp Việt Nam phát triển các giống lúa thuần thấp cây, ngắn ngày nguồn gốc IRRI cho các tỉnh phìa Bắc; giúp phát triển  lúa lai, đẩy mạnh các chưong trình cao su tiểu điền, mía, bông vải, đay, đậu phộng , dừa, chuối, nuôi cá bè ở Châu Đốc An Giang, nuôi tôm ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, nuôi cá măng ở Bình Định, nuôi tôm càng xanh ở ruộng nước ngọt, trồng phi lao chống cát bay, trồng bạch đàn xen cây họ đậu phủ xanh đất trống đồi trọc, trồng lại thông hai lá, ba lá ở Huế và ở Đà Lạt,  nuôi heo lai ba dòng nhiều nạc,  nuôi dê sữa , bò sữa, trồng rau, hoa, cây cảnh. Trong lĩnh vực giáo dục, giáo sư đã trực tiếp giảng dạy, đào tạo nhiều khóa học viên cao đẳng, đại học, biên soạn nhiều sách.  Giáo sư có nhiều kinh nghiệm và  đóng góp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và quan hệ quốc tế với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Pháp…Tôi học gián tiếp Thầy qua sách báo và internet. Giáo trình nông học sau ngàyViệt Nam thống nhất thật thiếu thốn. Những sách Sinh lý Thực vật, Nông học Đại cương, Di truyền học, Khoa học Bệnh cây , Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam … do tập thể hoặc chuyên gia đầu ngành phía Bắc biên soạn thời đó hiếm và quý như vàng. Cái khó khác cho thầy trò chúng tôi là thiếu kinh nghiệm thực tiễn của đồng ruộng phương Nam. Những bộ sách của thầy Trình như Cải Thiện Trồng Lúa 1965-66 (hai lần tái bản), Nông Học Đại Cương 1967 (ba lần tái bản), Mía Đường 1972 (hai lần tái bản), Cây Ăn Trái Có Triển Vọng 1995 (ba lần tái bản), Cây Ăn Trái Cho Vùng Cao 2004, … cùng với sách của các thầy Nguyễn Hiến Lê, Trần Văn Giàu, Phạm Hoàng Hộ, Lương Định Của, Lê Văn Căn, Vũ Công Hậu, Vũ Tuyên Hoàng, Đường Hồng Dật, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Mai Văn Quyền, Thái Công Tụng, Chu Phạm Ngọc Sơn, Phạm Thành Hổ … đã bổ khuyết rất nhiều cho sự học hỏi và thực tế đồng ruộng của chúng tôi. Sau này khi đã ra nước ngoài, thầy Trình cũng viết rất nhiều những bài báo khoa học kỹ thuật, khuyến học trên các báo nước ngoài, báo Việt Nam và blog The Gift. Điều tôi thầm phục Thầy là nhân cách kẻ sĩ vượt lên cái khó của hoàn cảnh để phụng sự đất nước. Lúa Thần Nông áp dụng ở miền Nam sớm hơn miền Bắc gần một thập kỷ. Sự giúp đỡ liên tục và hiệu quả của FAO sau ngày Việt Nam thống nhất có công lớn của thầy Trình và anh Nguyễn Văn Đạt làm chánh chuyên gia của FAO. Blog The Gift là nơi lưu trữ những “tâm tình” của gíáo sư dành cho Việt Nam, đăng các bài chọn lọc của Thầy từ năm 2005 sau khi về hưu. Đa số các bài viết trên blog của giáo sư về Phát triển Nông nghiệp, Kinh Tế Việt Nam, Khoa học và Đời sống  trong chiều hướng khuyến khích sự hiếu học của lớp trẻ. Nhân cách và tầm nhìn của Thầy đối với tương lai và vận mệnh của đất nước đã đưa đến những đóng góp hiệu quả của Thầy kết nối quá khứ và hiện tại, tạo niềm tin tương lai, hòa giải và hòa hợp dân tộc.

1 Truongtoi
thaybanlalocxuancuocdoi

Thầy bạn là lộc xuân

Bill Clinton trong tác phẩm ‘Đời tôi’ đã xác định năm việc chính quan trọng nhất của đời mình là muốn làm người tốt, có gia đình êm ấm, có bạn tốt, thành đạt trong cuộc sống và viết được một cuốn sách để đời. Ông đã giữ trên 30 năm cuốn sách mỏng “Làm thế nào để kiểm soát thời gian và cuộc sống của bạn” và nhớ rõ năm việc chính mà ông ước mơ từ lúc còn trẻ. Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời. Tôi biết ơn mái trường thân yêu mà từ đó tôi đã vào đời để có được những cơ hội học và làm những điều hay lẽ phải.

thaybanlalocxuancuocdoi7b

Anh Bùi Chí Bửu tâm sự với tôi: Anh Bổng (Bùi Bá Bổng) và mình đều rất thích bài thơ này của Sơn Nam : Trong khói sóng mênh mông/ Có bóng người vô danh/ Từ bên này sông Tiền/ Qua bên kia sông Hậu / Tay ôm đàn độc huyền/ Điệu thơ Lục Vân Tiên / Với câu chữ
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả / Từ Cà Mau Rạch Giá / Dựng chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ/ Chướng khí mờ như sương/ Thân chưa là lính thú / Sao không về cố hương? Anh Mai Thành Phụng vừa lo xong diễn đàn khuyến nông Sản xuất lúa theo GAP tại Tiền Giang lại lặn lội đi Sóc Trăng ngay để kịp Hội thi và trình diễn máy thu hoạch lúa. Anh Lê Hùng Lân trăn trở cho giống lúa mới Nàng Hoa 9 và thương hiệu gạo Việt xuất khẩu. Anh Trần Văn Đạt vừa giúp ý kiến “Xây dựng thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam” lại hổ trợ ngay bài viết mới.

thaybanlalocxuancuocdoi8a

Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh chuẩn bị kỷ niệm 65 năm ngày thành lập (1955- 2020). Dưới mái trường thân yêu này, kết nối Gia đình Nông nghiệp Việt Nam, có biết bao nhà khoa học xanh, nhà giáo nghề nông vô danh đã thầm lặng gắn bó đời mình với nhà nông, sinh viên, ruộng đồng, giảng đường và phòng thí nghiệm. Thật xúc động và tự hào được góp phần giới thiệu một góc nhìn về sự dấn thân và kinh nghiệm của họ.

Hoàng Kim
(Bài đã đăng trên kỷ yếu 60 năm Khoa Nông học Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, có hiệu đính, bổ sung, bảo tồn và phát triển thông tin, nhân kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Trường và Khoa (19/11/1955- 19/11/2020)

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Chaongaymoi

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau Music
Vietnam traditional music
KimYouTube


Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Tháng Ba hoa hồng trắng

THÁNG BA HOA HỒNG TRẮNG
Hoàng Kim


Tháng ba hoa hồng trắng
Thầy bạn trong đời tôi

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Bài viết mới

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi| Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên Hoàng Long Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook   KimTwitter


Thầy bạn trong đời tôi

NHỚ THẦY PHAN HOÀNG ĐỒNG
Hoàng Kim thành kính tiễn đưa

Sáng tiễn Thầy đi xa
Chiều em về Phan Thiết
Bùi ngùi giờ thiên thu
Thăm thẳm trời li biệt

Vườn Quốc gia Việt Nam
Rừng sinh thái nhiệt đới
Trường xưa thương một thời
Thầy về chia cơ hội

Quê mình trò nghèo khó
Thơm thảo tình yêu thương
Chung lòng thắp ngọn lửa
Thầy và em về Trường

Về Trường để nhớ để thương
Vườn Quốc gia ở Việt Nam
https://hoangkimlong.wordpress.com/…/vuon-quoc-gia-o-viet-…/

Cám ơn thầy Phạm Ngọc Nam, Viên Ngọc Nam, …, những thầy bạn quý đã thật chu đáo, thật trân quý, Di sản sâu sắc lắng đọng.Thầy bạn trong đời tôi; Nhớ thầy Phan Hoàng Đồng. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

ĐIẾU VĂN THẦY PHAN HOÀNG ĐỒNG

Trưởng ban Tổ chức lễ tang PGS TS Phạm Ngọc Nam, Trưởng Khoa Lâm Nghiệp , Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh thay mặt Ban tổ chức lễ tang và gia đình đã đọc điếu văn tiễn biệt nói lên thân thế sự nghiệp của Thầy GS TS Phan Hoàng Đồng qua các thời kỳ, công lao đào tạo các thế hệ sinh viên, sự đóng góp của Thầy qua các chương trình từ thiện và quỹ học bổng cho các SVHS

Kính thưa đại diện các cơ quan, đoàn thể, chính quyền, quý vị thân hữu, bạn bè, đồng nghiệp, Thưa gia quyến Thầy TS. Phan Hoàng Đồng,

Hôm nay chúng ta tập trung ở đây để tiễn đưa Thầy TS. Phan Hoàng Đồng về nơi an nghỉ cuối cùng! Vẫn biết đời là vô thường, nhưng trong giây phút buồn đau này, chúng ta đều cảm thấy nhói lòng vì TS. Phan Hoàng Đồng – một người chồng, người em, người cha thân yêu trong gia đình, là một đồng nghiệp được quý trọng trong Khoa Lâm nghiệp, và là một người Thầy được nhiều thế hệ sinh viên cảm mến, đã từ giã chúng ta hồi 16 giờ 46 phút ngày 16 tháng 01 năm 2020! Tôi xin phép được nhắc đôi dòng về TS. Phan Hoàng Đồng và những kỷ niệm không thể phai mờ giữa Thầy với các đồng nghiệp và sinh viên khoa Lâm nghiệp, Đại học Nông Lâm.

TS. Phan Hoàng Đồng sinh ngày 31/5/1944 ở làng Đông Thái, xã Tùng Anh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tỉnh, nhưng trãi qua tuổi thơ ở Phan Thiết. Lên bậc trung học, Thầy vào Sài Gòn học ở Trường Petrus Ký. Năm 1963, hoàn thành chương trình tú tài 2 và được học bổng của cơ quan trao đổi Hàn lâm Đức (DAAD), Thầy bắt đầu đi du học ngành Lâm nghiệp ở CHLB Đức. Sau khi tốt nghiệp học vị Tiến sĩ ở Đại học Gottingen và trải qua một thời gian làm nghiên cứu về rừng, Thầy về nước năm 1973. Đây là khoảng thời gian mà ngành Lâm khoa đang quy tụ nguồn lực chất xám từ nhiều nước để chuẩn bị cho sự ra đời của Đại học Bách khoa Thủ Đức. Có thể nói chặng đường mười năm thứ nhất của Thầy Phan Hoàng Đồng ở CHLB Đức (1963 – 1973) là khoảng thời gian tích lũy kiến thức và kinh nghiệm quý báu từ cái nôi của nền Khoa học Lâm nghiệp thế giới để phục vụ đất nước.

Trong chặng đường mười năm thứ hai (1973 – 1983), TS. Phan Hoàng Đồng trở thành Giảng sư của ngành Lâm khoa từ năm 1973. Sau năm 1975, TS. Phan Hoàng Đồng là Phụ trách khoa, Trưởng Bộ môn Điều Chế Rừng – Khoa Lâm nghiệp, đảm nhận các môn học: Thống kê Ứng dụng và Đo cây Đo rừng. Là một chuyên gia được đào tạo bài bản về thống kê sinh học, TS. Phan Hoàng Đồng đã thiết kế lại môn học này và đem áp dụng đầu tiên cho khóa 16 ĐHNL cũng như cho Chương trình Sinh thái rừng của Đại học Tổng hợp và cho hai trường đại học tư. Các bài giảng này thể hiện sự cân bằng giữa cơ sở toán học và tính ứng dụng thực tế, đặc biệt là phần thống kê phi tham số (trong giáo trình thống kê) và các phương pháp ước lượng nhanh (như phương pháp 6 cây được TS. Phan Hoàng Đồng đem khảo nghiệm ở Đà Lạt). Trong thời gian này, TS. Phan Hoàng Đồng đã xây dựng một rừng thực nghiệm trồng Bạch đàn, so sánh các xuất xứ và các điều kiện đất đai khác nhau ở Thủ Đức.

Sẽ là sự thiếu sót rất lớn nếu không nhắc đến tình thương cảm của Thầy Phan Hoàng Đồng dành cho các em sinh viên và ngược lại, tình cảm trân quý của các em sinh viên trong thời gian này. Ngay chiều ngày 16/01/2020, sau khi nghe tin Thầy mất, có em đã viết “… Thương thầy, như thầy thương chúng em … Bìa rừng bên kia xôn xao lá cành, Thầy đi về lại chốn xưa nào đây ???” [Sơn Đặng, Học trò cũ (Lâm 2B)]. Thầy Hoàng Hữu Cải đã giải thích rằng: tình cảm ấy nẩy sinh từ sự gian nan vất vả, được nuôi dưỡng nhờ các dịp đi thực tập xa và khá dài ngày, nhưng các yếu tố đó không đủ, trên tất cả là sự thực tâm của Thầy trong đối nhân xử thế. TS. Phan Hoàng Đồng ân cần thăm hỏi không chỉ các đồng nghiệp mà cả các cán bộ phục vụ. Thầy sẳn sàng chia sẻ khoản tiền lương ít ỏi và cả nhu yếu phẩm vốn cũng khá ít ỏi cho các cán bộ phục vụ cấp thấp có hoàn cảnh khó khăn.

Năm 1983, TS. Phan Hoàng Đồng được bảo lãnh đi CHLB Đức lần thứ hai để trở thành Nhà nghiên cứu Lâm nghiệp cao cấp của Viện Lâm nghiệp bang Rhinneland-Pfalz đến năm 1993. Tâm sự với Thầy, Thầy nói: Đây là khoảng thời gian 10 năm ở Đức lần thứ nhất là của một chàng thanh niên nhìn trời xanh bao la với biết bao hoài bão, còn khoảng thời gian ở Đức lần thứ hai là khoảng thời gian nặng trĩu như tâm trạng của nàng Kiều.

Với tấm lòng hướng về quê nhà và tha thiết muốn cống hiến. Năm 1993, Thầy về lại hợp tác với Trường ĐHNL Tp.HCM và thu hút nhiều đồng nghiệp khác của Viện Lâm nghiệp bang Rhinneland-Pfalz cùng giảng dạy chương trình Cao học Sinh thái rừng nhiệt đới. Thầy là một trong những người nối kết sự hợp tác của TP. Hồ Chí Minh với bang Rhinneland-Pfalz của CHLB Đức. Thầy mong muốn được về Việt Nam nhiều hơn, được ở lâu hơn để giúp cho các cán bộ giảng dạy và các nghiên cứu trẻ. Thầy đã liên hệ với một số tổ chức của Đức, đặc biệt là tổ chức DAAD để tranh thủ sự hỗ trợ của họ trong việc cấp học bổng. Thầy dành hết tiền lương để cấp học bổng cho sinh viên. Thầy là người khởi xướng, đóng góp, và vận động bạn bè cũng thường xuyên tổ chức nhiều chương trình thiện nguyện đến vùng đặc biệt khó khăn, đặc biệt là chương trình học bổng cho trẻ em tiểu học; hỗ trợ vốn cho phụ nữ nghèo phát triển ngành nghề truyền thống (2010); ở chương trình Nha Học Đường (2015), giúp khám chữa răng cho trẻ em ở Đức Hòa tỉnh Long An. Nhiều hoạt động này đến nay vẫn còn được tiếp tục.

Trong suốt cả cuộc đời, TS Phan Hoàng Đồng là một người trí thức giàu tâm huyết, đóng góp trí tuệ cho sự phát triển của đất nước. Các hoạt động của Thầy đã được ghi nhận với bằng khen của UBND TP HCM “về những đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của TP HCM”; bằng khen của UBND tỉnh Long An về việc thực hiện công tác xã hội ở huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Thầy cũng nhận được các kỷ niệm chương và bằng khen của CHLB Đức về “những đóng góp cho ngành lâm nghiệp CHLB Đức” và những “hoạt động thúc đẩy sự hợp tác phát triển Đức-Việt Nam”.

Từ cuối tháng 8 năm 2019, bệnh tình của Thầy Đồng bắt đầu trở nặng, gia đình Thầy cố gắng tìm bệnh viện tốt nhất điều trị, các bác sĩ giỏi đã tận tình tìm phương cứu chữa, nhưng sau hơn hai tháng nằm bệnh viện, bệnh tình không thuyên giảm. Ngày 9 tháng 1 2020 Thầy được đưa về nhà và phút ngày 16 tháng 1 năm 2020 hồi 16 giờ 46, một trái tim hồng đã ngừng đập.

Kính thưa quí vị! Kính thưa tang quyến!

TS. Phan Hoàng Đồng ra đi đã để lại một khoảng trống cho gia đình, họ tộc, bạn bè, đồng nghiệp. Thầy đã đi xa, nhưng cuộc đời, sự nghiệp, đức độ, thanh danh của Thầy vẫn còn mãi trong nỗi tiếc thương vô hạn của gia đình, của bạn bè, họ hàng gần xa và của tất cả những ai dù chỉ biết Thầy qua các trang sách, bài báo.

Với tất cả tình cảm chân thành thân thương, thay mặt Ban Tổ chức tang lễ, xin kính cẩn vĩnh biệt Thầy. Chúng tôi thành tâm cầu nguyện hương linh TS. Phan Hoàng Đồng được yên nghỉ trong cõi vĩnh hằng. Xin chân thành và thống thiết chia buồn cùng bà quả phụ, các con, các cháu và họ tộc của TS. Phan Hoàng Đồng. Chúng tôi mong tang quyến cố gắng giữ gìn sức khỏe, cầu chúc quý vị được thân tâm an lạc.

Sau đây, xin tất cả dành một phút mặc niệm TS. Phan Hoàng Đồng!

Trần Văn Hảo
19 tháng 1 lúc 16:58

VĨNH BIỆT THẦY PHAN HOÀNG ĐỒNG

Tại nhà tang lễ thành phố, 11 giờ trưa ngày 19.01.2020, Ban tổ chức lễ tang cùng gia đình đã làm lễ di quan cho Thầy về Phúc An Viên

Rất đông thầy cô giáo của trường Đại học Nông Lâm nhất là khoa Lâm nghiệp và học trò của Thầy đã đến dự và cùng đưa Thầy ra Phúc An Viên

Trưởng khoa Lâm nghiệp TS Phạm Ngọc Nam thay mặt Ban tổ chức lễ tang đã đọc điếu văn tiễn biệt nói lên thân thế sự nghiệp của Thầy qua các thời kỳ, công lao đào tạo các thế hệ sinh viên, sự đóng góp của Thầy qua các chương trình từ thiện và quỹ học bổng cho các SVHS

Đại diện gia đình, thầy Phan Hoàng Quý (anh ruột của thầy Đồng) đã cảm ơn Ban tổ chức lễ tang, quý Thầy cô, bạn hữu, học trò đã đến thăm viếng, động viên gia đình và cùng đưa tiễn người em của Thầy ra Phúc An Viên

Sau đó mọi người cùng nhau tiễn Thầy ra khỏi nhà tang lễ để về Phúc An Viên và đặt các nhánh hoa tươi tiễn biệt Thầy trước khi vào hỏa táng

Vĩnh biệt thầy Phan Hoàng Đồng, người thầy kính yêu của mọi thế hệ sinh viên

Kính mong hương linh Thầy sớm siêu thoát.


Nhớ thầy Phan Hoàng Đồng
(một số hình ảnh không quên)

https://www.facebook.com/groups/116240288833267/permalink/878988092558479/

Tang A Pau cùng với Gebhard Schueler.

16 tháng 1 lúc 20:06 ·

Một cây đại thụ khoa học Thủy Lâm nữa vừa ra đi. Cầu cho linh hồn thầy Phan Hòang Đồng sớm siêu thoát.
Thầy tốt nghiệp Tiến sĩ tại West Germany trước 1975 và dạy học tại Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp Sài Gòn số 45, Cường Để.
Sau 1985 thầy trở qua Tây Đức dạy học tiếp và là thầy của nhiều thế hệ sinh viên khoa Thủy Lâm của Sài Gòn và thế giới.
Thương thầy vì thầy luôn hòa đồng và luôn xem học trò như bạn.
Vĩnh biệt Thầy,

Trần Văn Hảo cùng với Tang A PauĐoàn Nhật Châu,(ảnh 6 tháng 1 lúc 07:45·) là những người bạn Thủy Lâm mà tôi (HK) rất quý trọng. Thầy Trịnh Trường Giang nói với thầy Trần Đình Lý, Nguyễn Lê Hưng và tôi: “Anh Tang A Pau là chuyên gia ảnh chim thật tuyệt vời”. Tôi trả lời: “Anh Tang A Pau và anh Võ Công Hậu thật sự là Chuyên gia kể chuyện qua hình ảnh. Lớp Nông học khóa 13 (1971-1977) là tương đương Nông học khóa 4 Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc (1971-1976). Tôi thuộc Lớp sinh viên ‘xếp bút nghiên lên đường chiến đấu’ từ năm 1970 đến 1972, hơn 10.000 sinh viên các trường đại học ở Hà Nội lên đường nhập ngũ, trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ. Hơn một nửa đã hy sinh tại các mặt trận, nhưng nhiều nhất là trong chiến dịch bảo vệ thành cổ Quảng Trị. Tôi đã kể chuyện này ở Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời; anh Võ Công Hậu cũng đã lưu ảnh của Lớp Nông học khóa 13 (1971-1977). Tôi về trường lớp Nông học khóa 10 Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc (1977-1981) và chuyển trường vào lớp Nông học khóa 2 (gồm 2A, 2B. 2c) của Trường Đại học Nông nghiệp 4 Hồ Chí Minh (1977-1981). Thầy Phan Hoàng Đồng có những cảnh ngộ riêng thật đồng cảm.”

Ảnh năm 1974, trước VP trường Canh nông. Hàng đứng (từ trái): DK Tần, VC Hậu, LQ Trung, cô Trần Kiều Nga, ĐN Long, HB Liên, TH Khương, TTThu Liễu, LM Châu, NT Anh, BB Bổng, LH Điệp, NH Hồng, NT Đức, LK Hỷ, ĐT Lộc. Hàng ngồi: DV Chín, BC Bửu, TV Hết, HN Điền, PV Vinh (mất), TD Long (mất), TT Cường (mất), NP Quang. Thật ngẫu nhiên, 3 bạn đã mất ngồi cạnh nhau. (Võ Công HậuCựu SV Nông Nghiệp ( Đại Gia Đình NÔNG LÂM MỤC SÚC ) Chuyên gia kể chuyện qua hình ảnh · 5 tháng 8, 2019 ·

Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh ngày 19 11 là ngày truyền thống thành lập của hai khoa song sinh Nông Lâm là Khoa Nông học & Khoa Lâm Nghiệp (tiền thân là Khoa Thủy Lâm, trước ngày Việt Nam thống nhất)

xem tiếp Vườn Quốc gia ở Việt Nam https://hoangkimlong.wordpress.com/category/vuon-quoc-gia-o-viet-nam/

CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam 

Thầy bạn trong đời tôi

Việt Nam Tổ Quốc tôi
THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim


Hoa Lúa và Hoa Đất
Đầy đặn niềm tin yêu
Đáy đại dương là Ngọc
Người nói ít làm nhiều

Bùi Bá Bổng và Hồ Quang Cua

(*) Trích: Thầy bạn trong đời tôi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Kỉ yếu Nong Lam University
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim


Thầy bạn mỗi người một tính
Giống nhau thích ở chữ hiền
Tận tâm siêng năng công việc
Suốt đời thanh thản an nhiên

Tu khoái vui chơi săn ảnh
Tuyến ham lan với bệnh cây
Hồng thích học thiền luyện trí
Kim vui dạy học mỗi ngày

Hiền cứ hiền như vạn thuở
làm việc lớn như chơi
Quốc mà việc nhà quá giỏi
Chat xinh và giỏi ngời ngời.

… Về trường để nhớ để thương
https://hoangkimlong.wordpress.com/2019/11/22/ve-truong-de-nho-de-thuong/

Thầy cứ ung dung sống khỏe
Bạn thì thương mến tinh anh
Hình như tre già măng mọc
Đất lành gốc vững cây xanh

đọc tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/…/thay-ban-trong-doi-toi/

Kỉ yếu Nong Lam University
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam