Đến với bài thơ hay

Đến với bài thơ hay
EM NÀO CÓ HỮNG HỜ
Mai Khoa Thu Hà Nội

Em nào có hững hờ
Lá vẫn xanh màu diệp lục
Nắng vẫn trong vàng hong sắc nắng
Tơ trời dệt mấy vần thơ …

Anh đi đâu, gác bếp buồn râu ngô
Phất phơ nhện giăng trần bám bụi
Gió đi hoang lạc lối
Mạng nhện trói buộc tả tơi

Nỗi nhớ tháng năm, xa vợi tháng mười
Thóc chín oằn vai mùa gặt
Em lo cho bồ đầy thóc
Tháng mười nếp mới cơm thơm

Em ở bên anh mấy nỗi dặm trường
Mà ngơ ngẩn tìm đâu hoài viễn vọng
Xuân qua, hè tới, thu sang, đông bãng lãng
Mình đây, sao chưa nhìn thấy nhau.

Nhà thơ Phạm Thị Mai Khoa (Mai Khoa Thu Hà Nội), là Hội viên Hội nhà văn TP.HCM, tác giả của bốn tập thơ Thu Hà Nội, NXB Thanh Niên, 2010, Sóng pha lê, NXB Văn hóa Văn nghệ, 2011; Thương về một miền quê, NXB Hội Nhà Văn, 2013; Ánh nhìn nơi ấy ,NXB Hội Nhà Văn, 2018. Đến với bài thơ hay “Em nào có hững hờ” Hoàng Kim ngẫu hứng đối họa bài “Vui đi dưới mặt trờihttps://hoangkimlong.wordpress.com/category/vui-di-duoi-mat-troi/

Mai Khoa với Hoài Vân, Thanh Chung, Kim Oanh trong buổi ra mắt tập thơ “Bay qua giấc mơ”. Thông tin tại Tứ Cô Nương bay qua giấc mơ https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tu-co-nuong-bay-qua-giac-mo/

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là hoangkim1.jpg

VUI ĐI DƯỚI MẶT TRỜI
Hoàng Kim

Vui đi dưới mặt trời
Nắng dát vàng trên đồng xuân
Mưa ướt vệt bóng mây, tím sắc trời cuối hạ
Đất ước, cây trông, lòng nhớ …

Em trốn tìm đâu trong giấc mơ tâm tưởng
Ngôi nhà con hạnh phúc trăm năm
Bếp lửa ngọn đèn khuya
Vận mệnh cuộc đời cố gắng

Tình yêu là người thầy tốt hơn trách nhiệm
Đồng lòng đất cảm trời thương
Phúc hậu minh triết tận tâm
Cố gắng làm người có ích

Tháng năm tròn đầy vườn thiêng cổ tích
Mừng ban mai mỗi ngày tỉnh thức bình an
Chào ngày mới CNM365 Tình yêu cuộc sống
Thảnh thơi vui cõi phúc được thanh nhàn.

VUI ĐI DƯỚI MẶT TRỜI
Hoàng Kim


Hãy lên đường đi em
Ban mai vừa mới rạng
Vui đi dưới mặt trời
Một niềm tin thắp lửa

Ta như ong làm mật
Cuộc đời đầy hương hoa
Thời an nhiên vẫy gọi
Vui đời khỏe cho ta.

tại ICRISAT.
Nguồn:https://hoangkimlong.wordpress.com/categoy/vui-di-duoi-mat-troi/

NĂNG LƯỢNG
Hoàng Kim

Mình thích những người tử tế
Sống đời thanh thản bình yên
Trời đất người là năng lượng
Cây xanh muôn thuở vững bền.

(ảnh minh họa Trịnh Thế Hoan)

ANH ĐI VỀ PHÍA VÙNG TÂM BÃO
Hoàng Kim

Anh đi về phía vùng tâm bão
Chân bước thung dung chẳng ngại ngần
Biển thẳm sóng im như giấy phẳng
Trời quang gió vắng chỉ còn trăng.

Dưới đáy đại dương kia là ngọc
Sóng bắt đầu từ gió sóng ơi
Ấm lạnh cuộn hai đầu thăm thẳm
Trãi bão dông mới hiểu cuộc đời

Gửi chút niềm riêng chưa ngõ hết
Mà thôi đón bão nói chi nhiều
An nhiên kiên định đi vào trận
Bão không quật ngã bởi trời theo

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là 2-nhatoi.jpg

ĐỢI NẮNG
Hoàng Kim


Em đã yêu và tôi đã yêu
Mình nối dài vần thơ có lửa
Ta đã là máu thịt trong nhau
Khắc khoải niềm thương nỗi nhớ …

Người vợ nhớ chồng hóa đá Vọng Phu
Người yêu nhớ người yêu thành hòn Trống Mái
Núi Nhạn ngàn năm tháp Nhạn én bay về
Đá Bia muôn đời trời xanh chỉ lối.

Yên Tử non thiêng thăm thẳm một tầm nhìn
Hải Vân ơi Người ở đừng về mà hóa đá
Sông Hương ngập ngừng sông Hương nghẹn chảy
Năm tháng qua rồi chỉ tình yêu ở lại mà thôi.

Đợi nắng mùa đông
Sưởi ấm tổ ấm Tình Thiên thu
Tình yêu cao hơn sinh tử biệt li
Tôi đã yêu và em đã yêu
Em đã yêu và tôi đã yêu

PhanChiThang

MÙA THU HÔN TÔI
Phan Chí Thắng


Mùa thu ôm tôi
Chặt hơn một người từng ôm người khác
Bàn tay heo may luồn trong man mác
Trên từng da thịt thấm đẫm hồn thu

Người tình trăm năm mang bóng dáng mùa
Mùa thu hôn tôi
Nếp tháng năm hằn buồn theo khoé miệng
Đuôi mắt kéo dài hồ thu lúng liếng
Đang còn ngọn lửa bỏng cháy trưa hè

Băng giá mùa đông đâu đó chưa về
Mùa thu yêu tôi
Bằng những cúc vàng không cần rực rỡ
Lá níu cành sợ không xanh được nữa
Làn sương phảng phất run tiếng chuông chùa

Cuộc tình trăm năm ngất ngây giấc mơ thật đùa
Tôi trong mùa thu
Người đàn bà yêu đắm say tha thiết
Mùa của dịu dàng mùa thu hôn tôi
Tôi đã yêu và em đã yêu
Em đã yêu và tôi đã yêu.

VUI ĐI DƯỚI MẶT TRỜI
Hoàng Kim.

Hãy lên đường đi em
Ban mai vừa mới rạng
Vui đi dưới mặt trời
Một niềm tin thắp lửa

Ta như ong làm mật
Cuộc đời đầy hương hoa
Thời an nhiên vẫy gọi
Vui đời khỏe cho ta.

HoangKim2017a

BẢY BƯỚC TỚI  HẠNH PHÚC
Bảy điều hạnh phúc của chính bạn
Hoàng Kim


Biết mình mong muốn gì
An nhiên thung dung sống
Kiên trì bám mục tiêu
Biết dựa vào chính mình
Khéo nắm bắt cơ hội
Đừng phiền chuyện sau lưng
Luôn miệt mài tiến bước.

Học tư duy tích cực của Helen Kenler người mù điếc huyền thoại
Hãy quay về hướng mặt trời, và bạn sẽ không thấy bóng tối.
Keep your face to the sunshine and you cannot see a shadow.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook; Kim on Twitter

Đến với bài thơ hay

ĐÔI LỜI VỚI SÔNG ĐỒNG NAI
Nguyễn Hoài Nhơn


Nói gì với sông Đồng Nai
Mà lòng thắc thỏm giữa hai đợt triều
Nói gì cho thỏa thương yêu
Để cù lao Phố mỗi chiều đứng trông

Vắng em, tôi nhớ tôi mong
Lục bình pha mực giữa dòng lơ mơ
Ngày tôi chưa biết làm thơ
Tóc em đã bím chấm bờ vai thon

Biên Hòa hương bưởi ngát thơm
Níu chân tôi ở cuối vườn sớm mai
Bồn chồn con sóng Đồng Nai
Vỗ vào giấc ngủ tôi hòai chưa tan

Vệt phù sa cháy nồng nàn
Hay là ruột đất bazan đượm màu
Trái cây chín đỏ cù lao
Đợi người về hái mời nhau thực lòng

Gặp em ở cuối dòng sông
Câu thơ tôi hóa cánh đồng vàng mơ
Thương nhau tháng đợi năm chờ
Câu thơ kết mật bây giờ…vấn vương

Nói gì cho thỏa yêu thương
Mắt em in dáng quê hương đậm đà
Đồng Nai ơi – mãi thiết tha
Tôi xin làm hạt phù sa dâng người.

Đến với bài thơ hay

ĐẾN VỚI BÁI THƠ HAY
Hoàng Kim


“Uống rượu ở quán Hàm Hanh” là bài thơ hay của nhà thơ Trần Quang Đạo. Nhà báo Lê Quang Vinh bình thật tuyêt vời “Hồn vía của thơ và thể phách của văn xuôi’. Tôi đọc “Uống rượu ở quán Hàm Hanh” nhớ về “Đãi trăng” “Hát vu vơ” “Không hẹn hò đời hóa hoang vu” thơ rất hay của Lâm Cúc và tự tâm đắc “Ta hẹn em uống rượu ngắm trăng” của chính mình. Lại nhớ về “Trần Tử Ngang đêm thiêng đọc lại” Thơ bạn là thực hay. Thơ mình là chính tâm trạng .Lựa chọn chép lại đôi điều không nỡ quên. (HK)

UỐNG RƯỢU Ở QUÁN HÀM HANH
Trần Quang Đạo

Nằm mơ cũng không có được
mà chiều nay tôi đang ở Hàm Hanh
nâng chén rượu nghĩ về người xưa cũ
hồn đã lâng châng mây trắng mơ màng.

Như mới đây thôi Lỗ Tấn vừa đi
một hình tượng lóe lên Người về bắt giữ
những con chữ nối nhau như bước chân Khổng Ất Kỷ
đi vào trí tưởng của triệu triệu con người.

Như mới đây thôi Khổng Ất Kỷ vừa ngồi
những hạt đỗ xanh còn vãi vương trên đất
chiếc mũ ông để quên ai đó treo lên vách
ông sẽ trở lại thôi và tôi đã ngồi chờ.

Men rượu thơm lan tỏa tận hồng cầu
người xưa ơi cho tôi cúi đầu xin chạm chén
những anh tài mỹ nhân vạn thuở đầy chinh chiến
Hàm Hanh rượu ngon chỉ lối hẹn hò.

Thi Thánh của Trung Hoa. Đại Vũ vị vua tài
Tây Thi thôn Trữ La bên suối ngồi giặt lụa…
ôi Thiệu Hưng tôi không còn mơ nữa
và Hàm Hanh có thực với tôi rồi.

Say ở Hàm Hanh là lãi với cuộc đời
Hồng Nữ Nhi thơm vào chiều mê đắm
nâng chén rượu, ô kìa đêm xuống!
trăng như mắt người xưa sóng sánh cốc thơm lừng…

Hàm Hanh (Triết Giang, Trung Quốc) Thu 1998

(*) Lời dẫn của tác giả: FB “Xóm Mơ Hồ
24 Tháng 3 – 2018, lúc 15:04
Lâu không vào sâu nội địa Trung Quốc. Chiều nay bỗng dưng lại nhớ cái lần về Triết Giang, quê hương của Tây Thi, Đại Vũ Đế, Lỗ Tấn… Ở đó cũng có loại rượu Hồng nữ nhi ngon nổi tiếng. Tôi đã đến uống loại rượu đó tại quán Hàm Hanh, có trên 150 năm tuổi. Nơi này ngày xưa cụ Lỗ Tấn hay ra ngồi uống. Cụ lấy nguyên mẫu một bạn rượu để viết cái truyện Khổng Ất Kỷ… Tôi đưa bài này lên cho ai thèm loại rượu trên thì… liếm mép

(**) Chú giải về Lỗ Tấn và Khổng Ất Kỷ:

Lỗ Tấn là bút hiệu của một văn sĩ Trung Hoa. Ông sinh ngày 25 tháng 9, 1881, tại Thiệu Hưng, Trung Quốc mất ngày 19 tháng 10, 1936, tại Thượng Hải, Trung Quốc Tên đầy đủ là Chu Chương Thọ Lỗ Tấn có vợ là Zhu An (kết hôn 1906–1936) và Hứa Quảng Bình (kết hôn ?–1936) . Các tác phẩm chính Nhật kí người điên 1918; Khổng Ất Kỷ 1921; Cố hương 1921; AQ chính truyện 1922; Call to Arms1922; Dawn Blossoms Plucked at Dusk 1928; A Brief History of Chinese Fiction 1930; 1959; Selected Stories of Lu Hsun 1960; Lỗ Tấn được Chủ tịch Mao Trạch Đông rất tôn trọng xem Lỗ Tấn là “bậc vĩ nhân của cách mạng văn hóa Trung Quốc“, lại nói “Lỗ Tấn là thánh nhân của vô sản cũng như Khổng Tử là thánh nhân của phong kiến“. Lỗ Tấn học tiếng Nhật, năm 1904, ông chính thức vào học ngành y ở trường Đại học Tiên Đài. Năm 1906, ông thôi học và bắt đầu hoạt động văn hóa bằng việc dịch và viết một số tiểu luận giới thiệu các tác phẩm văn học châu Âu như thơ Puskin, tiểu thuyết khoa học viễn tưởng Jules Verne. Năm 1909, vì hoàn cảnh gia đình, Lỗ Tấn trở về Trung Quốc. Ông dạy ở trường trung học Thiệu Hưng và có làm hiệu trưởng trường sư phạm Thiệu Hưng một thời gian.Từ 1920 đến 1925, Lỗ Tấn làm việc tại các trường Đại học Bắc Kinh, Cao đẳng Sư phạm Bắc Kinh và Đại học nữ Sư phạm Bắc Kinh. Năm 1926, ông tới Hạ Môn (tỉnh Phúc Kiến) và làm việc tại trường Đại học Hạ Môn. Đầu năm 1927, Lỗ Tấn đến Quảng Châu, làm trưởng phòng giáo vụ kiêm chủ nhiệm khoa văn của trường Đại học Trung Sơn. Tháng 10 năm 1927, ông rời Quảng Châu tới Thượng Hải. Ông mất ngày 19 tháng 10 năm 1936. Mặc dù là nhà văn cánh tả, Lỗ Tấn chưa bao giờ tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Truyện “Khổng Ất Kỷ” của Lỗ Tấn được viết năm 1921: Khổng Ất Kỷ là tên tác phẩm cũng là tên nhân vật chính của truyện.Tác phẩm in lần đầu năm 1919 trên báo, in sách 1921, in lại trong tập “Gào thét” năm 1922.Câu chuyện mô tả về những việc diễn ra trong và ngoài một quán rượu tại Lỗ trấn, nơi nhân vật “tôi” làm phụ việc. Quán rượu tên là Hàm Hanh, phục vụ đủ loại khách; khách bình dân lao động thường ngồi ở ngoài, còn phía bên trong thường là những người có vẻ đứng đắn, kiểu cách. Trong các khách của quán, có một người mà nhân vật “tôi” chú ý đó là ông Khổng Ất Kỷ. Ông Khổng ăn mặc theo lối có học song chỉ đứng uống rượu ở ngoài. Ông là một nhà nho lỗi thời, lập dị, dơ bẩn, nghèo nàn, song lúc nào cũng tỏ ra nghiêm nghị, đến mức sự nghiêm nghị đó biến thành trò cười của bọn bình dân ngồi ở ngoài. Khổng Ất Kỷ là khách quen của quán, ông thường mua thiếu và luôn trả đúng hẹn. Ông rất mê đọc sách, nhiều khi đến quán với những vết thương trên người, người ta hiểu là ông bị đánh do ăn cắp sách, song ông không bao giờ thừa nhận chuyện đó và luôn bịa ra một lý do để thoát hai chữ “ăn cắp”.Một thời gian rất dài, Khổng Ất Kỷ không tới quán. Người ta nhớ tới ông vì những trận cười và vì món nợ lâu ngày không ai thanh toán. Một người khách đến kể rằng Khổng Ất Kỷ đã bị đánh què chân vì ăn cắp sách, cho ông ta đã chết. Nhưng đến một buổi chiều nọ, Khổng Ất Kỷ lại trở về. Ông ta bị què hai chân, phải lết bằng tay rất thê thảm, song vẫn giữ kiểu cách như xưa: vẫn tỏ ra khó chịu khi người ta nói mình ăn cắp sách. Uống xong bát rượu, ông lết đi ngay, để lại sau lưng là những tiếng cười. Kể từ sau lần đó không còn thấy Khổng Ất Kỷ nữa.

Vài nét về Trần Quang Đạo
Sinh năm 1957, nơi sinh Lệ Thuỷ, Quảng Bình
Các tác phẩm:
Mối tình chưa hôn lễ (tiểu thuyết , 1990)
Luân khúc (thơ, 1991)
Đêm ảo ảnh (tiểu thuyết, 1993)
Những đứa con của trời (truyện vừa, 1997)
Vòng tay cỏ (thơ, 1998)
Ngọn cỏ thời yêu nhau (thơ, 2001)
Khúc biến tấu xương rồng (thơ, 2004)
Giải thưởng văn chương:
Giải C cuộc thi thơ 1983-1984 của tạp chí Văn nghệ quân đội.
Giải khuyến khích thi thơ năm 1993-1994 của tạp chí Văn nghệ quân đội.
Tặng thưởng thơ hay năm 1995 của tạp chí Văn nghệ quân đội.
Giải nhì cuộc thi truyện nhà xuất bản Kim đồng năm 1997 (với tác phẩm Những đứa con của trời).


Ảnh lưu niệm Đức Linh: Đinh Đình Chiến, Phan Chí Thắng, Nguyễn Lâm Cúc. Chùm thơ Lâm Cúc: Đãi Trăng, Hát vu vơ, Không hẹn hò đời hóa hoang vu. Lâm Cúc nhà thơ nỗi đau, tản văn của Phan Chí Thắng.

ĐÃI TRĂNG
Nguyễn Lâm Cúc

Hôm nay nhàn ta mở tiệc mời trăng
Để thỏa thích bưng dòng sông ra uống
Bày lên mâm là dạt dào cảm hứng
Bạn tri âm, bạn có vui cùng?

Này trăng, trăng chớ ngại ngần
Cạn ly nhé. Sông có vơi cũng mặc.
Say thì say nhưng đừng khóc!
Trần gian…cứ mặc kệ trần gian.

HÁT VU VƠ
Nguyễn Lâm Cúc

Trần gian một chuyến rong chơi
Thấy trăng giữa chợ, đông người vỗ tay
Mua vui một cuộc rõ hài
Gọi trăng, trăng khẽ chau mày rồi thôi…

Gõ sênh, vỗ phách, tôi cười
Nghêu ngao cất giọng hát lời bốn phương

Đó đường, đây đường, kia đường
Mà sao phải cứ đoạn trường bước đi
Buốt làm sao câu trở về
Có bằng ngồi tạm vĩa hè…mà chơi

Tình ơi! Nghĩa ơi! Thương ơi!
Bao lần ngoảnh lại gọi người khản khô
Tưởng sông rồi lại tưởng đò
Những lất phất ấy…chỉ bờ lau thưa

KHÔNG HẸN HÒ ĐỜI HÓA HOANG VU
Nguyễn Lâm Cúc

Hôm nay buồn lại bày tiệc gọi trăng
Lại mời rượu
Lại bưng sông ra uống
Đặt lên mâm những quả tình nẫu chín
Hái từ vườn ấp ủ trăm năm

Nào,
Cạn ly nhé trăng!
Chớ có chau mày mà xôn xao vằng vặc
Mây bạc đầu còn lang thang như hành khách
Dưới vòm trời nơi nao chẳng cô đơn?

Chốn ồn ào chắc gì đã vui luôn?
Nói nhiều, cười nhiều. Mấy câu là thật
Đâu hay gì khi khoe sầu chất ngất
Nhưng ít ra đó là nỗi lòng ta

Nào,
Nghiêng sông, rót nữa trăng ha!
Muôn thuở tràn trên chén đầy dâu bể
Trăng ơi!
Ta có một tình yêu lặng lẽ
Không hẹn hò đời hóa hoang vu.

Tahenemuongruoungamtrang

Hoàng Kim

Ta hẹn em uống rượu ngắm trăng
Mấy khi đời có một người tri kỷ?
Nâng chén nhé!
Trăng vàng như giọt lệ
Buồn ư em?
Trăng vằng vặc trên đầu!

Ta nhớ Anh ta xưa mưa nắng dãi dầu
Khi biệt thế gian chọn trăng làm bạn
“Trăng tán trời mưa, trăng quầng trời hạn”
Dâu bể cuộc đời đâu chỉ trăm năm?

Mười lăm trăng qủa thật tròn
Anh hùng thời vận hãy còn gian nan
Đêm trăng nhát cuốc xới vàng
Trăng dòm, ta hẹn, trăng càng dòm thêm
Đất vàng, vàng ánh trăng đêm
Đêm khuya, ta với nàng quên nhọc nhằn.

Ta mời em uống rượu ngắm trăng
Mấy khi đời có một người tri kỷ?
Nâng chén nhé!
Trăng vàng như giọt lệ
Vui ư em?
Trăng lồng lộng trên đầu!

Ta nhớ Bạn ta vào tận vùng sâu
Để kiếm tìm ta, người thanh xứ núi
Cởi bỏ cân đai xênh xang áo mũ
Rượu đế, thưởng trăng, chân đất, đũa tre.

Hoa mận chờ trăng nhạt bóng đêm
Trăng lên vời vợi vẫn êm đềm
Trăng qua vườn mận, trăng thêm sáng
Mận đón trăng về, hoa trắng thêm

Ta cùng em uống rượu ngắm trăng
Ta có một tình yêu lặng lẽ
Hãy uống đi em!
Mặc đời dâu bể.
Trăng khuyết lại tròn
Mấy kẻ tri âm?

Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm

Nguồn:https://khatkhaoxanh.wordpress.com/2013/06/17/ta-hen-em-uong-ruou-ngam-trang/


TRẦN TỬ NGANG ĐÊM THIÊNG ĐỌC LẠI
Hoàng Kim

“Ngưòi trước chẳng thấy ai. Người sau thì chưa thấy. Gẫm trời đất thật vô cùng. Riêng lòng đau mà lệ chảy”. “Bài ca lên đài U Châu” thơ Trần Tử Ngang, người dịch Tương Như là tác phẩm văn chương của bậc kỳ tài.  Trong văn chương Việt, khi đọc bài kệ “Cáo tật thị chúng” của thiền sư Mãn Giác, “Mài kiếm dưới trăng” của tráng sĩ Đặng Dung và đọc thơ Nguyễn Du, ta đều cảm nhận thấy sự ung dung, an nhiên tự tại, thấu suốt lẽ sinh tử… và đều có nỗi buồn man mác. Đấy có thể là điều để hiểu thơ Trần Tử Ngang chăng?

trantungang1

Trần Tử Ngang cuộc đời và sự nghiệp

Trần Tử Ngang( 661 – 702) là nhà thơ có địa vị trọng yếu trên thi đàn thời Sơ Đường. Ảnh hưởng của ông rất lớn đối với thi ca thời Thịnh Ðường cũng như phong trào vận động cổ văn thời Trung Ðường. Ông có tên tự là Bá Ngọc, người đất Xạ Hồng, phủ Từ Châu (hiện là tỉnh Tứ Xuyên ). Ông đậu tiến sĩ lúc 24 tuổi năm 684 (đời Đường Trung Tông) làm đại quan trong triều Võ Tắc Thiên với chức Lan đài chính tự sau đó đổi làm chức Tả thập di.

trantungang2

Phong cách thơ của ông xuất chúng, ngụ ý sâu xa. Trần Tử Ngang thời niên thiếu gia đình tương đối giàu có, coi nhẹ tiền bạc, khẳng khái. Sau khi trưởng thành, ông quyết tâm học, giỏi viết văn; đồng thời quan tâm quốc sự , quyết lập công tích về chính trị. Ông thường dâng sớ điều trần về đại kế quốc gia nhưng không được Vũ hậu nghe theo. Vũ hậu là người mưu lược, cương nghị, quyền biến, tâm cơ. Bà không từ một thủ đoạn nào để mua chuộc, lôi kéo hoặc thẳng tay triệt hạ những người tài giỏi thuộc vây cánh của đối phương nhằm thâu tóm quyền lực, Dưới thời của bà những người tài không thuộc bè phái thường bị nguy hiểm.

trantungang3

Giai thoại đập đàn của Trần Tử Ngang

Trần Tử Ngang có giai thoại nổi tiếng về việc đập đàn. Lần đầu tiên đến Trường An, ông không được một ai biết đến. Ông liền bỏ ra một ngàn quan tiền, mua một cây đàn hồ cầm rất quí, rồi mời mọi người đến dự tiệc, nghe nhạc.

Khi moi người tề tựu đông đủ và háo hức chờ nghe nhạc. Ông đứng lên nói: “Tôi là Trần Tử Ngang người đất Thục, có trăm quyển văn, rong ruổi kinh sư, mà địa vị vẫn tầm thường giữa nơi bụi bậm, không ai biết đến. Nhạc này là của kẻ thơ hèn đâu đáng lưu tâm?

trantungang4

Nói đoạn, ông đập tan cây đàn hồ cầm rất quý trước sự sững sờ, kinh ngạc của nhiều người. Kế đó, ông đem các cuốn văn ra tặng cho cử tọa. Trong một ngà,y danh tiếng của ông chấn động khắp kinh thành, mọi người ai ai cũng đều biết tiếng.

Năm 24 tuổi, Trần Tử Ngang với văn tài xuất chúng đã thi đậu tiến sĩ và được Võ hậu hết sức nể phục tài năng. Luận về thơ, ông nói: “Làm thơ là để gởi tấm lòng vào thiên cổ chứ đâu phải để lưu danh nhất thời”.

Quả nhiên, những tuyệt phẩm thơ của Trần Tủ Ngang mười ba thế kỷ sau, đến nay vẫn còn tốn hao không biết bao nhiêu giấy mực của nhiều người. Trung Quốc hiện có nhiều địa chỉ web về Trần Tử Ngang , bạn có thể tìm trên Google tại từ khóa 陳子昂 (Trần Tử Ngang).

trantungang5

Trần Tử Ngang thơ ngoài ngàn năm

Bài ca lên đài U Châu
Trần Tử Ngang thơ ngoài ngàn năm “ Ngưòi trước chẳng thấy ai / Người sau thì chưa thấy / Gẫm trời đất thật vô cùng / Riêng lòng đau mà lệ chảy ”. Tương Như dịch

Đăng U Châu Đài Ca

Tiền bất kiến cổ nhân,
Hậu bất kiến lai giả.
Niệm thiên địa chi du du,
Ðộc sảng nhiên nhi thế hạ.

Trần Tử Ngang
* U châu : nay là Bắc Kinh

trantungang6

Dịch nghĩa :

Bài ca lên đài U Châu

Trông lại trước không thấy người xưa ;
nhìn về sau, không thấy kẽ mới đến.
Nghĩ nổi trời đất lâu dài man mác,
một mình bùi ngùi rơi lệ.

Bài ca lên đài U Châu

Ngoảnh lại trước, người xưa vắng vẻ
Trông về sau, quạnh quẽ người sau
Ngẫm hay trời đất dài lâu
Mình ta rơi hạt lệ sầu chứa chan.

Trần Trọng San dịch

trantungang7

Trước chẳng thấy người xưa,
Sau chẳng thấy ai cả.
Ngẫm trời đất thăm thẳm sao!
Riêng xót xa lệ lã chã.

Trần Trọng Kim dịch

trantungang8

Bài ca lên đài U Châu

Trước không gặp được người xưa
Sau không gặp được kẻ chưa ra đời
Mênh mang ngẫm lẽ đất trời
Một mình để giọt lệ rơi bùi ngùi

Cao Nguyên dịch

Suy ngẫm về thơ Trần Tử Ngang

Lên núi cao ngắm biển trời để thấu hiểu sự mênh mang vô cùng của trời đất, lẽ huyền vi của tạo hóa, sự thịnh suy được mất của các triều đại, sự biến dịch của nhân quả, sự ngắn ngủi hữu hạn của kiếp người. Điều đó đã được nhiều người trãi nghiệm…

Chúng ta đọc thêm hai bài thơ nữa của Trần Tử Ngang để hiểu rõ hơn về ông:

Kế khâu lãm cổ

Nam đăng Kệ Thạch quán,
Dao vọng Hoàng Kim đài.
Khâu lăng tận kiều mộc
Chiêu Vương an tại tai
Bá đồ trướng dĩ hĩ,
Khu mã phục quy lai.

Gò Kế xem cảnh năm xưa

Trèo lên Kệ Thạch quán nam,
Xa xa trông ngóng Hoàng Kim có đài.
Cây cao phủ hết quanh đồi.
Vua Chiêu ngày trước nay thời nơi nao?
Cơ đồ bá chủ còn đâu!
Nhớ ai đánh ngựa ta âu lại về.

Tản Đà dịch

Nhị cú tam niên đắc
Nhất ngâm song lệ lưu
Tri âm bất tương thức
Quy ngọa cố sơn thu
(Trần Tử Ngang)

Ba năm làm được hai câu
Ngâm lên một bận dòng châu tuôn trào
Tri âm chẳng hiểu lòng nhau
Xin về núi cũ nằm khào nhớ thu
(Vũ Đức Sao Biển dịch)

Hai câu thơ ba năm làm mới được
Ngâm lên rồi bất giác lệ tuôn rơi
Hỡi tri âm, lòng nhau sao không hiểu
Chốn non xưa về ngắm mây trời.
(gamai dịch lại)

trantungang9

Tôi duyên may năm 17 tuổi được Lên đỉnh đèo Ngang ngắm biển ; Thăm đèo Ngang gặp bác Xuân Thủy; Qua đèo chợt gặp mai đầu suối; sớm tiếp xúc với Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ. Nơi cổng Trời “Hoành sơn cổ lũy” đèo Ngang gánh hai đầu đất nước, tôi đã từng trầm tư cảm khái về “Bài ca lên đài U Châu” của Trần Tử Ngang và bài thơ thần của Hồ Chí Minh viết lúc 5 tuổi (mà sau này linh ứng với “vũng Chùa, biển Đông, đường lưỡi bò”):”Biển là ao lớn/ Thuyền là con bò/ Bò ăn gió no/ Lội trên mặt nước/ Em nhìn thấy trước/ Anh trông thấy sau/ Ta lớn mau mau/ Vượt qua ao lớn.” Chợt dưng, tôi thấu hiểu sự ứng xử thung dung, sâu sắc của Võ Đại tướng “Chốn non xưa về ngắm mây trời“, là trí tuệ bậc Thầy.

Minh triết sống thung dung phúc hậu, yêu thương,  an nhiên tự tại, thấu suốt lẽ sinh tử là cốt lõi tỉnh thức để hiểu sử thi, thơ ngoài ngàn năm và giác ngộ.

Trần Tử Ngang đêm thiêng đọc lại.

Hoàng Kim
Những hình Trần Tử Ngang và thư pháp trong bài này dẫn theo www.hudong.com

Video yêu thích

Kỉ yếu Nong Lam University
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Đến với bài thơ hay

Đến với bài thơ hay
NGỒI BUỒN NHỚ MẸ TA XƯA
Nguyễn Duy

Bần thần hương huệ thơm đêm
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
chân nhang lấm láp tro tàn
xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

Mẹ ta không có yếm đào
nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa

Cái cò… sung chát đào chua…
câu ca mẹ hát gió đưa về trời
ta đi trọn kiếp con người
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Bao giờ cho tới mùa thu
trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
bao giờ cho tới tháng năm
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao
quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm…
bờ ao đom đóm chập chờn
trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ… mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ chăng

Nhìn về quê mẹ xa xăm
lòng ta – chỗ ướt mẹ nằm đêm xưa
ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương…

Saigon, mùa thu 1986
Nguồn: Nguyễn Duy, Mẹ và Em, Nxb Thanh Hóa, 1987

xem thêm: Nguyễn Duy từ cát trắng đến bụi

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook; Kim on Twitter

Đến với bài thơ hay

Đến với bài thơ hay
HƯƠNG LÚA (*)

Bước chân theo ngọn gió đồng
Vàng thơm lúa trải nghiêng bông một chiều
Thăm đồng cùng với người yêu
Nắng ghen đổ lửa hơn nhiều ngày qua

Khỏa chân cho nước vỡ òa
Bóng em lẫn với bóng ta lưng trời
Đưa tay níu lấy mây trôi
Che nơi em đứng em cười với anh

Lúa mùa đã chẳng còn xanh
Tình quê hương lúa mà thành lứa đôi

Giữa đồng lúa sắp chín rồi
Anh ôm trọn cả nét cười mắt em.

Cám ơn Minh Thùy, Hường Hoàng bài thơ thật hay
Những năm tháng không thể quên, Thầy vui lưu lại
(*) Minh Thùy‎ đến Hoàng Kim
31 Tháng 10 2012 lúc 15:38
Minh Thùy Hoàng Hường cấy lúa siêu xanh ở Trại Giống Lúa Long Phú Sóc Trăng

Đến với bài thơ hay

Đến với bài thơ hay
BAO GIỜ CHO TỚI THÁNG MƯỜI
(Ảnh internet, thơ Chiêm Lưu Huy)

*
Bao giờ cho tới tháng mười,
Cái tháng có nắng hanh vàng…
Quê tôi bừng bừng mùa gặt?
Không phải là cái tháng mười dương lịch,
Giữa Sài gòn nắng gắt mưa dai!

Đêm tháng mười,
Tôi mơ tiếng chim gáy đồng ngoài.
Mẹ tôi cười, mừng được mùa.
Chị hai tôi gánh lúa về, mồ hôi ướt vai.
Sân nhà tôi đầy hương thơm lúa mới.

(SG, 4.10.2018)

GÌA !

Tóc cứ chen nhau … bạc
Răng lại đua nhau … rơi
Ca hoài bài … xương cốt
Cũng chẳng thấu đất trời !

Năm tháng lặng lờ trôi
Chân chim hằn khóe mắt
Miệng méo cả lúc cười
Không khom lưng cũng … gập !

Cuộc đời luôn thử thách
Theo gió bụi thời gian
Phải qua nhiều ngõ ngách
Phải vượt lắm thăng trầm …

Đã đi qua mùa xuân
Đã băng qua mùa hạ
Qua mùa thu rực rỡ
Nay trải nghiệm mùa đông !

Lửa bớt cháy trong lòng
Đá dường như thêm cứng
Trời dường như bớt nắng
Đời lại là sắc – không !

10/2006 — cùng với Loc Cao

HOÀNG GIA CƯƠNG THEO DÒNG THỜI GIAN
Hoàng Kim

Nhà thơ Hoàng Gia Cương có các tác phẩm chính: Thơ 1) Lặng lẽ thời gian, Nxb Thanh Niên 1997, 2) Lắng đọng Nxb Hội nhà văn, 2001, 3) Trong cõi vô biên Nxb Hội nhà văn 2005, 4) Trãi nghiệm với thời gian Nxb Hội nhà văn 2010, 5) Theo dòng thời gian Nxb Văn Học 2013; Truyện ký  6) Cổ tích cho mai sau Nxb QĐND 2006. Tác phẩm thơ văn của Hoàng Gia Cương có mặt trên 30 tuyển tập, tập thơ văn in chung. Tôi không phải là người bình thơ, chỉ xin lưu đôi điều tâm đắc.

THỜI GIAN LẮNG ĐỌNG NGƯỜI HIỀN

Cậu Cương ngọc trai bé của ông tôi,
cảm nhận thơ cậu, tôi có lời tâm đắc

Hay từ bài tuyển đầu tiên,
Ánh Trăng khuya rọi khắp miền thế gian,
Lạ thay thi tứ nồng nàn,
Tình yêu cuộc sống muôn vàn yêu thương.

Câu thơ lắng đọng đời thường,
Mạ ơi xúc động lời thương dặn dò,
Cha tôi là một nhà Nho,
Tìm về nguồn cội, Chớm thu … tuyệt vời !

Cội nguồn Lũng Động, Cổ Trai,
Khí thiêng cõi Bắc nhớ nơi sinh thành,
Vua Thái tổ Mạc Đăng Dung,
Hoàng chi dòng đích lưu cùng nước non.

Phố Cụt, Phố nối, Phố cong,
Đi trong phố nhỏ một vòng nhân gian
Rùa ơi tôn bậc trí nhân
Để nền Văn hiến ngàn năm không nhòa.

Sáu mươi năm Mạ đi xa,
Mạ ơi tiếng vọng không là niềm riêng.

Thời gian lắng đọng người hiền.
Trăng khuya xế bóng, bình mình rạng ngời.

Hoàng Kim

(*) Những chữ in đậm là tuyển chọn các bài tôi thích nhất trong tập thơ Theo dòng thời gian của nhà thơ Hoàng Gia Cương
xem tiếp bài đầy đủ ở đây

hoanggiacuongtheodongthoigian

Bác Võ Nguyên Giáp tự trong sâu thẳm cậu Hoàng Gia Cương cũng có một bài thơ xúc động, ám ảnh:

Mãi mãi là Anh

Kính tặng anh Văn – Đại tướng Võ Nguyên Giáp-

Anh đã là Anh – mãi mãi Anh
Người Anh của lớp lớp hùng binh
Song toàn văn võ, thông kim cổ
Vững chí bền gan đạp thác ghềnh !

Tôi có lần hỏi cậu : Cháu thấy dường như chữ “vượt thác ghềnh” hợp hơn. Cậu cười: Không ! chữ ‘đạp thác ghềnh” hợp hơn.

Năm nay, qua tuổi 80 cậu viết bài thơ ‘Già” với lời kết:

Lửa bớt cháy trong lòng
Đá dường như thêm cứng
Trời dường như bớt nắng
Đời lại là sắc – không !

Hoàng Gia Cương theo dòng thời gian

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoang-gia-cuong-theo-dong-thoi-gian/
Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/categ…/chao-ngay-moi-5-thang-10

Nước mắt chảy vào trong

Ta về với Linh Giang

TA VỀ VỚI LINH GIANG
Hoàng Kim


Ta về với Linh Giang
Nhớ quay quắt những người thân thiết
Linh Giang ơi Linh Giang
Lời thề trên sông Hóa

Ta khóc lúc ra đi
Và khóc lúc trở về …

Cầu này nơi phà Gianh năm xưa
Nối con đường Bắc Nam sinh tử
Hoành Sơn, Linh Giang, Lũy Thầy
Tuyến công thủ ba tầng hiểm trở

Cuối một dòng sông là cửa biển
Thanh Khê nối đôi bờ hội tụ
Rào Nậy Rào Nan Nguồn Son
Bài ca Trường Quảng Trạch, Ba Đồn.

Linh Giang dòng sông quê hương

 linh-giang-dong-song-que-huong

LINH GIANG DÒNG SÔNG QUÊ HƯƠNG
Hoàng Kim
Hãy học thái độ của nước mà đi như dòng sông

Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con

“Chèo thuyền cho khuất bến Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn “

Câu ru quặn thắt đời con
Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ

Ra đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam.


HOME RIVER

Learning the attitude of water that goes like the river

My house is near a confluence
Rao Nan, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh River charming Mountain River
The place where I was born.

“Rowing far away the SON wharf
Not to see our village that makes me sadder “
Lullaby makes me heart- rending
My parents died early when I was a baby.

Leaving our village since then
Diving in smog from the wharf of our river
Keeping full oath in Spring days
When the country unify, we’ll live together in the South

English translation
by NgocphuongNam



LINH RIVER

Hoang Kim
Learning the attitude of water that goes like the river

By confluence sited is my home
Rao Nam, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh river of charming
That is place releasing a person

Rowing out of the Son
Let is the upset not involved in my mind
Such a sad lunlaby
Parents is dead left five child barren

Leaving home since then
Smog of wharf is driven my life
When Vietnam unified
The South chosen the homeland to live.

English translation
by Vu Manh Hai

LỜI THỀ TRÊN SÔNG HÓA 1288
Hoàng Kim


Sông Hóa ơi Bạch Đằng Giang
Ta đến nơi đây chẳng một lần
Lời thề sông núi trời đất hiểu (*)
Lời dặn lại của Đức Thánh Trần

Sông Hóa ơi hời ơi Linh Giang
Quê hương liền dải tụ trời Nam
Minh Lệ, Hưng Long hai bầu sữa
Hoàng Gia trung chính một con đường.

Rào Nan Đá Dựng chốn sông thiêng
Nguồn Son Chợ Mới đẹp ân tình
Minh Lệ đình xưa thương làng cũ
Nguyện làm hoa đất của quê hương.

Đất nặng ân tình đất nhớ thương
Ta làm hoa đất của quê hương
Để mai mưa nắng con đi học
Lưu dấu chân trần với nước non.

(*) Trương Hán Siêu “Phú sông Bạch Đằng” đã thuật lại cuộc chiến sông Bạch Đằng nơi voi chiến sa lầy rơi nước mắt và lời thề trên sông Hóa 1288 của Hưng Đạo Vương Lời thơ hào hùng bi tráng: “Thuyền bè muôn đội, tinh kỳ phấp phới/ Hùng dũng sáu quân, giáo gươm sáng chói/[…]/ Trận đánh được thua chửa phân/ Chiến lũy bắc nam đối chọi/[…]/ Tất Liệt thế cường, Lưu Cung chước dối/ Những tưởng gieo roi một lần/ Quét sạch Nam bang bốn cõi/[…]/Trời cũng chiều người/ Hung đồ hết lối!” Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải viết: ‘Thái bình tu nổ lực/ Vạn cổ thử giang san”.
— cùng với Tình yêu cuộc sống, Kim Hoàng, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Thị ThủyHoang Long.

LỜI DẶN LẠI CỦA ĐỨC THÁNH TRẦN
Hoàng Kim
Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mất ngày 20 tháng 8 âm lịch năm 1300. Người được dân Việt tôn kính gọi là Đức Thánh Trần. Vua Trần Anh Tông lúc Đức Thánh Trần sắp lâm chung có ân cần ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?”. Đức Thánh Trần  trả lời: “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”. Nguyên văn: “Ngày xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) dựng nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã (vườn không nhà trống), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê dùng người tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua nhà Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy” * (Đại Việt sử ký toàn thư tập 2 trang 76 -77).

Trần Hưng Đạo giành chiến thắng trước quân Nguyên trên sông Bạch Đằng, kết thúc chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt lần 3 vào ngày 9 tháng 4 năm 1288, tức 8 tháng 3 năm Mậu Tý. Sau ba lần thắng giặc, đất nước thanh bình, ông lui về Vạn Kiếp và mất ngày 20 tháng 8 năm 1300 tại vườn An Lạc. Đền Kiếp Bạc ( Hải Dương) là nơi đền thờ chính của đức Thánh Trần.

Chùa Thắng Nghiêm (Hà Nội) nơi Trần Hưng Đạo lúc nhỏ tu học, là nơi Người hiển thánh.

Đức Thánh Trần gương soi kim cổ

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là nhà chính trị, quân sự, nhà văn kiệt xuất thời nhà Trần. Chiến công kiệt xuất đánh bại quân đội nhà Nguyên năm 1285 và 1287 đã đưa Đức Thánh Trần thành đại danh tướng lừng lẫy nhất của thế giới và Việt Nam. “CHỌN TƯỚNG” là một chương trong Binh thư Yếu lược của Trần Quốc Tuấn, kiệt tác súc tích và sâu sắc lạ lùng.

“Người quân tử tiến thoái quả quyết, xem người thì thanh thản vui tươi, chí thì ở trừ tàn bạo, đó là khí độ của người tướng quốc. Thấy ác không giận, thấy lành không mừng, nhan sắc không thay đổi, đó là lượng của người thiên tử.

Được sự thắng nhỏ, gặp sự thua nhỏ, mà mừng lo hình ra nét mặt, hễ thấy động thì động, thấy tĩnh thì tĩnh, nhát mà không tính toán gì, cất chân thì thần sắc không định, mà hay lấy lời nói để thắng người, đó là tướng ngu vậy.

Bảy phép để biết người:

1. Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không
2. Lấy lời cật vấn đến kỳ cùng để xem cách ứng biến của họ.
3.  Cho gián điệp thử xem có trung thành không.
4. Hỏi rõ ràng tường tất để xem đức hạnh thế nào.
5. Lấy của mà thử để xem có thanh liêm không
6. Lấy sắc đẹp mà thử để xem có đứng đắn không.
7. Lấy việc khó khăn mà thử để xem có dũng cảm không.
8. Đem rượu cho họ uống say để xem có giữ được thái độ không.

Tướng ngu có tám điều tệ:

1. Lòng tham mà không chán
2. Ghen người hiền, ghét người tài
3. Tin lời dèm pha, thích lời nịnh hót
4. Xét người mà không xét mình
5. Do dự không quả quyết
6. Say đắm rượu và sắc đẹp
7. Thích xảo trá mà lòng nhút nhát
8. Nói lời viễn vông mà không giữ lễ

Gia Cát Lượng sách Tướng Uyển chỉ bảy phép biết người.

Biết tính tình của người, chẳng gì khó bằng xem xét, lành dữ tuy khác nhau, tính tình và vẻ mặt chẳng phải một: có kẻ thì ôn hoà, hiền lành nhưng làm việc trộm cắp;có kẻ bề ngoài thì cung kính nhưng trong bụng thì vô lễ, dối trá; có kẻ bề ngoài thì mạnh dạn nhưng trong bụng thì khiếp sợ;có kẻ làm việc tận lực nhưng bụng không trung thành;

Bảy phép sau đây để biết người

1. Hỏi việc phải trái để dò chí hướng;
2. Lấy lời cật vấn để biết ứng biến;
3. Đem mưu kế hỏi để lường kiến thức;
4. Giao chuyện hiểm nguy để soi dũng cảm;
5. Mời rượu cho uống say để xét tính tình;
6. Đưa lợi gái thử để rõ thanh liêm chính trực;
7. Đem việc cậy nhờ để xét sự trung thành, tin thật.

Tám hạng tướng và bậc đại tướng

Nhân tướng là người dùng đức để đem đường cho người, dùng lễ để xếp việc cho họ, hiểu thấu sự đói rét của người dưới, biết rõ khó nhọc của đồng sự, đó là nhân tướng.

Nghĩa tướng là người làm việc không cẩu thả, thấy lợi mà không tham, biết chết vinh hơn sống nhục.

Lễ tướng là người có địa vị cao quý mà không kiêu căng, công hơn người mà không cậy, tài năng mà biết hạ mình, cứng cỏi mà biết nhẫn nhịn.

Trí tướng là người gặp biến bất ngờ mà chí không đổi, ứng phó linh hoạt với việc khó khăn, có thể đổi họa thành phúc, gặp cơn nguy biến mà sắp đặt thành thắng thế.

Tín tướng là người thưởng phạt nghiêm minh công bằng, khen thưởng không chậm trễ và không bỏ sót, trừng phạt không buông tha cho kẻ cao quý.
Bộ tướng thủ hạ của đại tướng phải chọn người tay chân lẹ làng, võ nghệ tuyệt luân,  giỏi đánh gần, ứng biến di chuyển mau lẹ, để bảo vệ an toàn cao nhất cho chủ soái.
Kỵ tướng là người có thể vượt núi non cheo leo, từng trải việc nguy hiểm, cưỡi ngựa bắn tên mau lẹ như chim bay, tới thì đi trước, lui thì về sau.
Mãnh tướng là người khí thế vượt hẳn ba quân, dám coi thường địch mạnh, gặp đánh nhỏ vẫn luôn cẩn trọng, gặp đánh lớn thì can đảm quả quyết.

Bậc đại tướng là người bao trùm và vượt hẳn tám hạng tướng kể trên, gặp hiền tài thì tôn trọng lắng nghe, biết tỏ ý mình không theo kịp người, biết nghe lời can ngăn như thuận theo dòng nước, lòng rộng rãi nhưng chí cương quyết, giản dị và nhiều mưu kế.”

Ôi, đọc lại “Binh Thư Yếu lược” “Hịch Tướng Sĩ Văn” gương soi kim cổ, lắng nghe cuộc sống, để biết sửa mình; xem tiếp… https://hoangkimlong.wordpress.com/category/loi-dan-lai-cua-duc-thanh-tran/

Ta về với Linh Giang

VỀ VỚI LINH GIANG
Nguyễn Quóc Toàn (Bulukhin)
23.9.2019


Về hưu nhớ nghề lục lộ, nhớ cây cầu, đoạn đường, dòng sông… Mới rồi nhắc đến sông Bạch Đằng, sông Lô, nay về với Linh Giang quê cha đất tổ. Đăng bài viết cách nay 20 năm cho đỡ nhớ…

*

Bóc tờ lịch ngày 27 tháng 11 năm 1999 tôi chợt nhớ ra cây cầu bắc qua sông Gianh đến hôm nay vừa tròn một tuổi (1) Ở tuổi “thôi nôi” nó đủ sức mạnh của Phù Đổng Thiên Vương. Trên lưng “cậu bé” một tuổi ấy đã có ngót nửa triệu xe ô tô lăn bánh. Vòng cung ánh điện nối hai bờ cứ làm tôi liên tưởng một câu trong kinh Chandogya Upanishad: “Cây cầu là cái bản nhiên nối liền các thế giới không cho chúng phân tán. Khi qua cầu đêm sẽ sáng lên như ban ngày vì thế giới vô biên chỉ là ánh sáng”. Hành trình đến thế giới vô biên lại bắt đầu từ hữu hạn ngày 27 tháng 11 năm 1998. Hôm đó mưa gió đầy trời, nước sông Gianh lên cao chảy xiết, xe cộ ùn lại hai bờ vì phà buộc phải ngừng hoạt động. Bộ giao thông vận tải quyết định làm lễ khánh thành cầu sớm hơn dự kiến. Từ rất sớm, dân chúng đã đông nghịt đứng chen chúc trên 9 nhịp cầu. Bao nhiêu già trẻ gái trai là bấy nhiêu kiểu che mưa chắn gió: tơi chằm, nón lá, áo bạt, áo mưa, vài nhựa… có người liều ướt, rét run cầm cập nhưng nét mặt vẫn rạng rỡ hân hoan. Tôi lần xuống gầm cầu phía bắc tìm tấm bảng đồng khắc tên cầu nhưng không thấy. Trong bụng mừng thầm “cầu Gianh” chỉ là gọi tạm để đọc diễn văn khánh thành chứ chưa phải tên chính thức.

Tên chính thức phải là cầu Linh Giang. Trước mố cầu là một nắm hương cháy lập loè, toả khói thơm phức. Lư hương là những viên đá hộc được ghép lại. Chắc chắn lễ dâng hương này không nằm trong chương trình khánh thành cầu. Người nào đây muốn thỉnh linh hồn những ai vì đại nghĩa mà bỏ mình trên dòng sông và cáo yết thần sông rằng cây cầu đã được khai sinh? Người Việt từ xa xưa vẫn tâm niệm thần sông thiêng lắm. Có chuyện kể: “Đô phủ thành hoàng thần quân” là thần sông Tô Lịch đã hoá phép phá tan nghìn cân đồng của Tiết độ sứ Cao Biền dùng yểm long mạch (2), Biền chuốc lấy hoạ, cứ xây thành Đại La lên lại đổ. Cách nay 1200 năm, nhà thơ Hésiod người Hy Lạp khuyến cáo những người qua sông rằng: “Đừng bao giờ qua những con sông với dòng chảy vĩnh hằng mà trước đó chưa đọc lời cầu nguyện, đừng mãi mê ngắm những dòng chảy tráng lệ của chúng mà trước đó chưa rút hai tay khỏi những điều ác vấy bẩn, chúng sẽ kéo cơn cuồng nộ của các thần linh trút xuống đầu mình, sẽ phải chịu những đòn trừng phạt khủng khiếp” (3).

Vậy thì thay tên đổi họ một dòng sông đã chính danh cách nay hơn 17 thế kỷ không hiểu người ta có cầu nguyện gì không? Lạ thay, các bậc “Trị quốc bình thiên hạ” thuở xưa lưu lại hậu thế trước tác chất đầy lầu tàng thư, nhưng không thấy một dòng nào nói nguyên do đổi tên Linh Giang thành sông Gianh. Chỉ thấy sách “Tấn thư châu quận ký” nói rằng: “Năm Thái Khang thứ 10 chia quận Tây Quyển mà lập huyện Thọ Linh, sông chảy qua Thọ Linh là Linh Giang” (4). Thái Khang thứ 10 là năm 290. Năm 1875 vua Tự Đức sai Quốc sử quán soạn sách “Đại Nam nhất thống chí”, trong mục “hình thế” tỉnh Quảng Bình có ghi: ” … Phía bắc liền với Hoan Châu, núi cao thì có núi Đâu Mâu, và núi Thần Đinh, sông lớn thì có sông Linh Giang (Gianh) (5) và sông Nhật Lệ”. Như vậy tính đến năm 1875 thì tên sông Linh Giang đã được dân gian gọi trong suốt 1586 năm, gần 16 thế kỷ. Mãi đến năm 1876 sử gia Đặng Xuân Bảng soạn sách “Sử học bị khảo” lại chép: “Quảng Bình có sông Gianh phát nguồn từ Thanh Lãng..”

Tính cho đến năm 1998 thì tên sông Gianh mới xuất hiện 123 năm. Cũng ở thời điểm 1998 tên Linh Giang đã có 1708 tuổi gấp gần 14 lần tuổi của sông Gianh. Người ta đã luận bàn khá nhiều về từ Gianh chưa rõ lai lịch và ngữ nghĩa này. Một giáo sư sử học danh tiếng phỏng đoán: Gianh có lẽ là Ranh trong ranh giới (Trịnh Nguyễn phân tranh) đọc theo tiếng Bắc. Nếu phỏng đoán này đúng thì có nên dùng nỗi đau chia cắt âý để đặt tên cho chiếc cầu không?. Người khác cho rằng Gianh là đọc “trại” của từ Giang (trong Linh Giang) mà ra. Chẳng hạn người ta đã đọc “trại” Minh Lễ thành Minh Lệ, Lũng Quýt thành Dung Quất, Betulông (Baitoulon) thành Bái Tử Long v.v…Nhưng hai từ Linh Giang không thể đọc “trại” thành một từ Gianh được.

Linh Giang có nghĩa là sông thiêng liêng, huyền bí, còn Gianh không có trong từ điển Hán Việt, cũng không phải tiếng Việt phổ thông mà chỉ là phương ngữ (miền Bắc) chỉ cây cỏ tranh lợp nhà. Có lẽ ngoài câu thành ngữ của người miền Bắc nói về sự nghèo túng: “Nhà gianh vách đất” thì từ gianh không thấy xuất hiện ở đâu nữa.

Đấy là ngược nguồn lịch sử để tìm tên sông, ngõ hầu góp một tiếng nói với các nhà Địa – Văn hoá khi làm sách địa chí, chứ người viết không định đề nghị đổi tên sông Gianh trở lại Linh Giang. Bởi tên sông Gianh dẫu sao cũng là một phần máu thịt của khúc ruột miền Trung từ 123 năm nay. Nhưng cây cầu hiện đại đầu tiên qua sông Gianh có nhất thiết phải mang tên “Cầu Gianh” không? Nếu sông Gianh còn thêm nhiều cầu, chẳng nhẽ phải gọi chúng là cầu Gianh 1, cầu Gianh 2, cầu Gianh 3 … như điểm danh binh sĩ trong quân ngũ. Ngày 20.9.1997 Bộ Giao thông vận tải có quyết định 2468 đổi tên Quốc lộ 29 thành Quốc lộ 12 (từ Quảng Trạch sang Lào) thì Bộ và Lãnh đạo tỉnh Quảng Bình có thêm quyết định đặt tên cầu qua sông Gianh là cầu Linh Giang cũng phải lẽ.

Cho đến nay, tôi cũng như nhiều người hằng ước mong cây cầu qua sông Gianh mang chính cái tên khởi thuỷ của dòng sông cách nay 1708 năm. Ví dầu những giọt nước Linh Giang xa xưa đã trôi về miền cổ tích thì dòng sông vẫn luôn luôn là chính nó. CẦU LINH GIANG bắc qua sông Gianh là hình ảnh liên tục của quá khứ và hiện tại. Tên gọi ấy chính là âm thanh hình thành bởi tác động của những sức mạnh tạo nên nó, vì hai từ Linh Giang giàu sức gợi cảm, phù hợp với tâm linh người Việt, chuẩn xác về tu từ, làm nhớ lại cội nguồn một vùng đất miền Trung với vô vàn biến cố lịch sử. Sự phong phú về tên gọi những cây cầu trên một dòng sông và sức hàm chứa nội lực văn hoá của mỗi tên gọi ấy làm sang trọng thêm cho một vùng đất. Có lẽ vì thế chăng mà trên sông Hương của cố đô Huế có các tên cầu Tràng Tiền, Phú Xuân, Bạch Hổ, trên sông Hồng của thủ đô Hà Nội có những cầu Chương Dương, cầu Long Biên, cầu Thăng Long…

Qua sông phải dọn mình là cách nói của nhà thơ. Dâng hương cầu nguyện là thành tâm của người tin có thần sông và linh hồn tồn tại. Tôi làm nghề thợ cầu, nên mỗi lần qua sông lại vơ vẩn nghĩ về tên sông tên cầu – những “định hình” có vẻ như không còn gì để mà nghĩ ngợi nữa. Nhưng xem ra cũng chưa hẳn thế. Xưa kia hoàng đế La Mã là Pontifex nay là danh hiệu của Giáo hoàng có nghĩa là người bắc cầu. Pontifex vừa là người bắc cầu vừa chính là chiếc cầu ấy (3). Vị thiền sư người Nhật ở thế kỷ 13 là Nichiren nói về đức Phật rằng: “Đối với chúng sinh ngài là chiếc cầu lớn, giúp chúng vượt qua ngả chéo 6 con đường” (3) thì ra khối vật chất bê – tông cốt thép khi đã thành cây cầu, nó nghiễm nhiên đi vào biểu tượng văn hoá nhân loại như một sự tất yếu.

Vậy tìm đặt một cái tên xứng đáng cho cây cầu qua sông Gianh mới hết tuổi “thôi nôi” đã có sức mạnh Phù Đổng kia cũng đáng để chúng ta suy nghĩ lắm thay.


*

Ghi chú của anh Bulukhin:
(1) Bài “Về với Linh Giang” này viết ngày 27.11.1999 sau thông xe cầu Gianh một năm
(2) Lịch sử Việt Nam tập I, NXB KHXH 1976
(3) Từ điển Biểu tượng Văn hóa Thế giới NXB Đà Nẵng và Trường viết văn Nguyễn Du 1976
(4) Đất nước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh
(5) Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn
Cầu Gianh (ảnh Bu Lu Khin Nguyễn Quốc Toàn)

Hoàng Kim cám ơn anh Bu Lu Khin, bài viết của anh thật hay, ảnh đẹp, xin trích dẫn và có ba bài thơ cảm tác chép được lưu chung vào phần đầu trang bài chuyên khảo này https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ta -ve-voi-linh-giang/

Thông tin tại https://hoangkimlong.wordpress.com/category/den-voi-bai-tho-hay/
http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-5-thang-10/

Video yêu thích
Ban Mai
KimYouTube
Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook KimTwitter



https://hoangkimlong.wordpress.com/category/den-voi-bai-tho-hay/

Đến với bài thơ hay

ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY
Hoàng Kim
cám ơn Lương y Phan Toàn bài thơ có lửa, xin được lưu về “Đến với bài thơ hay” Tuyệt vời một ngày mới vui khỏe bạn lương y ạ https://hoangkimlong.wordpress.com/cat…/den-voi-bai-tho-hay/

NGẤT NGÂY ƠI…
Lương Y Phan Toàn

Ngất ngây ơi…
mới đó đã xa rồi
Chiều đê vắng
triền sông vàng hoa cải
Ta run rẩy
trước những điều vụng dại
Để một đời
hoang hoải nhớ mênh mang…

Có tình em
theo dọc những cánh rừng
Bom đạn nổ
cả hai mùa mưa – nắng
Ta đã sống
tinh khôi màu áo trắng
Mực tím, khăn quàng
duyên dáng …Ngất ngây ơi…

Ta tìm em
trong ánh mắt môi cười
Lời dịu ngọt
vàng như mơ…Hoa Cúc
Đi tìm em
ta trở về ký ức
Bỗng hóa trẻ trung
thơ dại …Ngất ngây ơi!

Bài thơ hay cuốn hút tôi tìm lại bài thơ hay “Phố thị” trước đây của anh và bài thơ “Ở đâu” của anh Phan Chí Thắng đã tỉnh thức giúp tôi bài thơ “Một trời thương nhớ”

cropped-linhgiang.jpg

MỘT TRỜI THƯƠNG NHỚ
Hoàng Kim

“Hãy học thái độ của nước mà đi như dòng sông!”

“Trong lòng ta có một dòng sông quê hương thao thiết chảy.”

Ở đâu bàng hoàng Phố Thị
Ngẫn ngơ suốt cả buổi chiều
Đêm nhảy xe đò về ruộng
Mưa dầm bóng Mẹ liêu xiêu.

Con lên giảng đường học chữ
Lời nào Thầy dạy đầu tiên
Biết ơn nhọc nhằn Cha Mẹ
Lấm lem con chữ ưu phiền

Phố Thị ngày càng đông đúc
Đồng Xuân xa lại càng thưa
Vui với việc hiền ở phố
Bâng khuâng thương nhớ chiêm mùa…

Nhớ ai vừng đông vừa rạng
Ước dòng tin nhắn đầu tiên
Hương đất thơm mùa ruộng cấy
Phương xa vời vợi bạn hiền.

Ở đâu lung linh Kiếp Bạc
Sao Khuê mờ tỏ Côn Sơn
Ở đâu một trời thương nhớ
Cho ta khoảng lặng tâm hồn.

Ở ĐÂU?
Phan Chí Thắng

Ở đâu có một ngôi nhà bé
Cửa sổ đèn khuya bóng em ngồi
Giai điệu dân ca ngân nhè nhẹ
Tự tình dạ khúc gửi xa xôi

Ở đâu có một khuôn vườn lặng
Em nở dùm tôi những nụ hồng
Chim hót chào reo bình minh nắng
Sương mòn xao xuyến như mắt mong

Ở đâu có một trời thương nhớ
Em thấu dùm tôi nỗi cháy lòng

Ở đâu có một con thuyền nhỏ
Chở những vần thơ tôi sang sông

Phan Chí Thắng
trích dẫn trong tập
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

PHỐ THỊ
Phan Đào Toàn

Phố thị người xe mắc cửi
Vỉa hè sóng sánh bia hơi
Chân trần miên man diệu vợi
Chói đèn cao áp – Trăng ơi…

Biết không mãi nhờ được bạn
Toàn dân buôn mận bán mơ
Hết đời trả chưa xong nợ
Nắng mưa gội trắng chiêm mùa…

Thương con chiều ra Phố thị
Đáy bồ, mầm chữ lơ thơ
Đem tuổi xanh ra tỉ thí
Vốn khởi đầu là: Ước mơ…

CHIỀU THƯƠNG
Phan Đào Toàn


Thương chiều…
nhuộm tóc cho nhau
Nhẩn nha
đếm
những vàng – thau cuộc đời
Thuyền tình
buổi ấy dong khơi
Lênh đênh
chìm nổi
đầy vơi nỗi niềm
Em như hoa nở về đêm
Mỏng tang tuyết trắng
hương mềm qua song
Nẻo người
ngàn vạn tía, hồng
Cũng không qua nổi
xoay vòng trắng – đen
Cuộc tình
đã gọi thành tên
Những buồn vui
rũ bóng rèm xuân xanh
Vòng tay
rối sợi mong manh
Nhuộm đen đời bạc
cho thành…
Chiều thương!
Đ.P.T

LỜI BÌNH của anh Nguyễn Vương Quốc Hoa

Một bài thơ rất hay, đầy ắp những thang bậc của cảm xúc tài hoa. Ảnh minh họa không thể phù hợp hơn. Hai người BẠN ĐỜI đã rất già – rất “chiều thương” ngồi nhuộm tóc cho nhau, rồi:”Nhẩn nha đếm những vàng – thau cuộc đời”. Họ đang hoài niệm về một mối chung tình còn đẹp hơn cả chuyện cổ tích – Bức tranh xưa hiển hiện, cuộc tình xưa hồi sinh…Và:”Vòng tay rối sợi mong manh”- Tại sao lại “rối”: Vì tóc rối, vì tay run hay vì cảm xúc dâng trào, bối rối…Có lẽ vì tất cả. Để rồi bài thơ kết lại lắng đọng ở câu kết thật sâu sắc, với nhiều triết lý sâu xa: “Nhuộm đen đời bạc cho thành… Chiều thương!”. Ước vọng nhuộm đen Đời bạc, tóc bạc…bằng một thứ tình yêu – tình thương chân thành cao quý thật là độc đáo! Thanhks Phan Toàn vì những vần thơ tuyệt đẹp.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Bài viết mới

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau MusicVietnam traditional music
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter hoangkim



Đến với bài thơ hay


TÌM LẠI CHỐN QUÊ
Đỗ Hoàng Phong

Xế chiều nhớ lại tuổi thơ
Về quê tìm cái dại khờ đánh rơi
Ngây thơ để lại đây rồi
Ghé nghiêng vành nón tiếng cười trong veo.

Lênh đênh trôi dạt thân bèo
Theo dòng nước chảy hắt hiu chiều tà
Ngày xuân hờ hững trôi qua
Ngân vang tiếng hát thiết tha ngọt ngào.

Sông chờ, đò đợi ngày nào
Cầu cong ai đã bắc vào bến quê
Chắt truyền mòn vẹt bờ đê
Thảm xanh đệm cỏ nằm kề nên thân.

Lũy tre đứng lặng tần ngần
Ve đu cành phượng ca ngân trưa hè
Nắng vào trải khắp nương khê
Đón n gió thỏa nghe khe khẽ buồn

Mái đình nhuộm tím hoàng hôn
Lưng trời lấp lánh trăng non lưỡi liềm
Sáo diều dìu dặt êm êm
Sương thu đã ghép bên thềm thăm ai.

ĐHP

CHÚC MỪNG CỤ ĐỖ HOÀNG PHONG

Chiều xuân’ đến với thơ hay
‘Tình quê’ ‘đối tửu’ càng say lòng người.
Vắt ngang thế kỷ tuyệt vời
Cụ Hoàng Phong trọn một đời đức tâm.

Chúc mừng cụ Đỗ Hoàng Phong (*) với bài thơ lục bát “TÌM LẠI CHỐN QUÊ” thật hay và hình ảnh cũng thật đẹp. Cháu xin chép về trang nhà, hợp chung với bài ‘ĐỐI TỬU’ HỌA VẦN CỤ TỐ NHƯ (**). Kính mời Cụ khai xuân cho cả hai vần thơ Hán Nôm và Tiếng Việt. Nhà thơ lính Hoahuyen Đào Ngọc là bạn của con trai Cụ đã dịch thơ Cụ Tố Như. Cháu Hoàng Kim chỉ mới dè dặt họa vần “Đối tửu” chữ Hán nhưng chưa thật thuận vần. Kính mong Cụ chỉ điểm để cháu được lưu đầu xuân.

(*) Cu Đỗ Hoàng Phong sinh ngày 26 tháng 6 năm 1926, cán bộ tiền khởi nghĩa, 70 năm tuổi Đảng, tác giả Chiều xuân, Tình quê (ba tập) Nghĩa Hưng kháng chiến và nhiều tập thơ in chung, danh gia Đường thi trong Câu lạc bộ thơ Đường nhà giáo tỉnh Hải Dương, tác giả của hai câu thơ khắc trên bia mộ tặng cụ Nguyễn Đức Hà (1922- 2017) “Vắt ngang thế kỷ trồng cây đức. Xẻ dọc biên niên dệt chữ tâm”

(**) Hoàng Kim xin chép lại bài thơ ‘Đối tửu’ của cụ Tố Như, bản dịch và ảnh thư pháp của Hoahuyen Đào Ngọc với 8 bài thơ họa vần. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Đối tửu (Nguyễn Du – 阮攸, Việt Nam)

對酒

趺坐閒窗醉眼開,
落花無數下蒼苔。
生前不盡樽中酒,
死後誰澆墓上杯。
春色霑遷黄鳥去,
年光暗逐白頭來。
百期但得終朝醉,
世事浮雲眞可哀。

Đối tửu

Phu toạ nhàn song tuý nhãn khai,
Lạc hoa vô số há thương đài.
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu,
Tử hậu thuỳ kiêu mộ thượng bôi ?
Xuân sắc niệm thiên hoàng điểu khứ,
Niên quang ám trục bạch đầu lai.
Bách kỳ đãn đắc chung triêu tuý,
Thế sự phù vân chân khả ai.

Dịch nghĩa

Ngồi xếp bằng tròn trước cửa sổ, rượu vào hơi say mắt lim dim,
Vô số cánh hoa rơi trên thảm rêu xanh.
Lúc sống không uống cạn chén rượu,
Chết rồi, ai rưới trên mồ cho ?
Sắc xuân thay đổi dần, chim hoàng oanh bay đi,
Năm tháng ngầm thôi thúc đầu bạc.
Cuộc đời trăm năm, chỉ mong say suốt ngày.
Thế sự như đám mây nổi, thật đáng buồn.

Trước ly rượu
Bản dịch của: Lão Nông
(Hoahuyen)

Bên cửa xếp bằng ngất ngưởng say
Cánh hoa rơi phủ thảm rêu đầy
Sống chưa vơi nửa lưng ly rượu
Chết hỏi rằng ai tưới mộ đây?
Xuân đã xa dần oanh bỏ tổ
Tháng năm bàng bạc tóc màu mây
Trăm năm chỉ ước say mềm mãi
Thế sự bèo mây… ngẫm đắng cay

Hoàng Kim Bài họa 8
Đối tửu họa vần cụ Tố Như

Ba trăm năm nữa chốc mòng
Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như (*)

Xuân sớm trời quang vạn sự khai,
Thung dung lướt web lắng nghe đài.
Đêm thiêng nhớ Cụ lòng không ngủ,
Ngày mới thương Kiều ước giao bôi (**).
Danh sĩ tinh hoa phước Nam Hải,
Người hiền tâm sáng đức Như Lai.
Nước biếc mai vàng vui chí thiện,
Hoa Người Hoa Đất nhớ thương ai.

(*) Hoàng Kim họa vần theo nguyên vận thơ cụ Tố Như

Đón đọc thơ cụ Đỗ Hoàng Phong và các bài họa tiếp nối …


Kiều – Nguyễn Du
Ca trù hát nói Việt Nam

Non xanh xanh

Nước xanh xanh
Sớm tình tình sớm, trưa tình tình trưa
Áy ai tháng đợi năm chờ
Mà người ngày ấy bây giờ là đây…

Hồng Hồng Tuyết Tuyết ca trù hát nói tinh hoa cổ văn chương Việt) NS Quách Thị Hồ

 

Bài viết mới

Đến với bài thơ hay

NhoMeCha

NGỒI BUỒN NHỚ MẸ CHA XƯA

Hoàng Kim

Con hát ru trẻ thơ bài hát về Người
Liên khúc Tình yêu suốt đời con nhớ mãi
Cha Mẹ kính yêu ơi trên chín từng trời
Ngày của Mẹ có nghe lời con gọi.

Anh Hai con viết chùm thơ về Mạ
Khi con ấu thơ tuổi mới chín mười
Thơ tiếng nấc trong lòng con nghẹn chảy
Đi suốt cuộc đời nhớ mãi không nguôi.

(1) CHẴN THÁNG

(thơ Hoàng Ngọc Dộ)

“Đã chẵn tháng rồi, ôi Mạ ôi!
Tuần trăng tròn khuyết đã hết rồi
Mà con không thấy đâu bóng Mạ
Thấy trăng vắng Mạ dạ bùi ngùi.

(2) NĂM MƯƠI NGÀY

(thơ Hoàng Ngọc Dộ)

Năm mươi ngày chẵn thấm thoắt trôi
Mạ về cỏi hạc để con côi
Vầng trăng tròn trặn vừa hai lượt
Vắng Mạ, lòng con luống ngậm ngùi.

(3) ĐỌC SÁCH

(thơ Hoàng Ngọc Dộ)

Con đọc sách khuya không nghe tiếng Mạ
Nỗi tâm tư con nghĩ miên man
Lúc Mạ còn, con bận việc riêng con
Không đọc được để Mạ nghe cho thỏa dạ.

Nay con đọc, vắng nghe tiếng Mạ
Nỗi bùi ngùi lòng dạ con đau
Sách mua về đọc Mạ chẵng nghe đâu
Xót ruôt trẻ lòng sầu như cắt.

Mạ ơi Mạ, xin Mạ hãy nghe lời con đọc.

(4) BUỒN

(thơ Hoàng Ngọc Dộ)

Buồn khi rão bước đồng quê

Buồn khi chợp mắt Mạ về đâu đâu
Buồn khi vắng Mạ dạ sầu
Buồn khi mưa nắng giải dầu thân Cha
Buồn khi sớm tối vào ra
Ngó không thấy Mạ, xót xa lòng buồn.

Con năm năm mỗi ngày cơm một bữa
Thương về Cha ngực nát bởi bom thù
Tấm áo máu suốt đời con nhớ mãi
‘Lời Nguyền’ này khắc khoải giữa lòng con.

Thang nam nho lai va suy ngam 7(5) LỜI NGUYỀN

(Lời nguyền 5 anh em Hoàng Gia)

Không vì danh lợi đua chen
Thù nhà nợ nước quyết rèn bản thân

 

 

 

 

VIẾNG MỘ CHA MẸ

(thơ Hoàng Trung Trực).

“Dưới lớp đất này là mẹ là cha
/Là khởi phát  đời con từ  bé bỏng
Là lời mẹ ru dịu dàng cánh võng
Là binh nghiệp cha một thuở đau đời.

Hành trang cho con đi bốn phương trời
Là nghĩa khí của cha, là nhân từ của mẹ
Vẫn bầu sữa tinh thần không ngừng không nghỉ 
Để hành trang cho con đi tiếp cuộc đời

Cuộc đời con bươn chải bốn phương trời
Nay về lại nơi cội nguồn sinh trưởng
Dâng nén hương mà lòng hồi hồi tưởng
Thuở thiếu thời trong lồng cánh mẹ cha

“Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà  đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên”

Con nhớ mãi Mẹ xưa khi sắp mất,
Cha nước mắt lưng tròng thương các con thơ
Mẹ quằn quại không thể nào nhắm mắt.
Cha vuốt mắt Người tiếng nấc … quặn trong mơ.

Mồ của Mẹ hoa tươi nhiều năm tháng
Cha quấn quýt Người đến lúc giặc giết Cha
Dòng sông quê hương Rào Nan, Chợ Mới …
Mẹ Cha theo con thao thiết suốt đời.

Con nhớ cánh tay chị Năm thay mẹ
Thương nhớ anh Hai nâng giấc cho con.
Tình yêu thương như dòng sông chảy mãi.

Thầy bạn lộc xuân của cuộc đời con

Hoàng Kim

Nơi trầm lắng đời con tại vùng thiêng ký ức
Hoàng Thị Huyền (Thỉu con) sinh buổi sớm 13
tháng 3
năm Mèo, mặt trời lên ngọn trúc.
Hoàng Minh Kim sinh gần giữa đêm rằm
xuân Gíáp Ngọ, trăng qua đọt cau hơn hai sào”.(1)

“Con Kim. Cụ khi mô cũng nhớ ’em’ cả.
Con học với thầy phải kính thầy để thầy thương.
Con chơi với bạn phải nhường bạn để bạn mến.
Con sống với người phải tử tế, phúc đức để họ trọng.
Làm gì cũng phải tự ý cẩn thận, đừng nghe người ta xui”. (2)

“Cụ biết mạ con bệnh hiểm nghèo không qua khỏi
nhưng cụ quyết bán hết tài sản ‘còn nước còn tát ‘
vì không thể thấy mạ con chết mà không cứu?”.(3)
Con nhớ tờ giấy ố vàng lưu bút của Cha ghi bằng hai loại mực.
Phần trên ghi năm sinh của hai chị em con (1).
Phần dưới ghi thêm lời cha dặn (2).

Con đã mang theo tờ giấy này khi rời Nam Quảng Trạch sang bờ Bắc rào Nậy đến Pháp Kệ, Phù Lưu, Đồng Dương để theo anh Hoàng Ngọc Dộ xin thầy Trần Đình Côn, hiệu trưởng trường cấp ba Bắc Quảng Trạch cho con được học. Con đã cất tờ giấy này giữa hai tờ bọc vở của cuốn sổ. Tờ giấy thứ hai là tờ giấy chứng nhận cha là lính Vệ quốc đoàn thuộc tiểu đoàn 174, Trung đoàn 18 “Chiến khu thư Tư” của đơn vị bác Lê Văn Tri (sau này là Trung tướng Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Phó Tư Lệnh Quân chủng Phòng Không Không Quân Việt Nam). Tờ thứ ba ghi hai bài thơ của con

CHIẾC KHĂN TAY

Con cầm về chiếc khăn tay
Của trường, của lớp, của thầy tặng con
Cầm khăn cụ vui vô cùng
Hai hòn nước mắt tưng bừng tuôn rơi

Gì từng ấy hỡi cụ ơi
So bằng công cụ như trời như non
Nuôi con biết mấy năm tròn
Gom từng hột sạu, bòn từng lá rau.

Công ơn của cụ thẳm sâu
Món quà con đó so đâu công này?

ÔNG ƠI

Cho tui sang với ông ơi
Cho tui sang với kẽo chờ đò lâu.
Bấy lâu nay dạ những sầu
Bây giờ được học, ruột rầu hóa vui …

Theo lời cha thì con sinh gần nửa đêm rằm tháng Giêng xuân Gíáp Ngọ, trăng qua ngọn cau hơn hai sào với tên khai sinh là Hoàng Minh Kim. Thế nhưng cuối năm lớp 7, con đã phải đổi ngày sinh do tuổi nhỏ hơn so với quy định nên không thể vào học lớp 8 (cấp 3) mặc dù có thành tích học tập giỏi liện tục nhiều năm. Thầy Côn hiệu trưởng thương tình nên đã bày cho anh con về xã chứng lại giấy tờ, sửa lại tuổi là ngày 27. 12.  1953 để được nhập học.

Nhà mình thuở ấy nghèo quá, đói đến nỗi gần tắt bữa.  Mẹ ốm và chết trẻ do bệnh gan và hậu sản sau khi em con mất. Trước khi mẹ chết vào sáng mồng ba Tết “Giáp Thìn bốn chín mẹ quy tiên”, cha đã bán hết tài sản,  bò, căn nhà để cứu mẹ nhưng không được. Gia sản còn lại sau mạ mất là chái tranh một mái gác xiên trên tường đất cũ. Nền nhà thì cao hơn một mét, kiềng đá hộc chắc chắn để tránh lụt vô nhà. Nền này, anh Trực đã  đã nhiều đêm cùng cha đào gánh đất đắp nền trước khi anh tình nguyện đi bộ đội lúc 17 tuổi để cha được miễn dân công hỏa tuyến ở nhà nuôi vợ ốm và hai con nhỏ.

Mẹ chết lúc con lên 9 và chị Huyền con tuổi 12. Anh Dộ con dạy cấp 1 ở xa, chị Huyên con đã lấy chồng đều về chịu tang. Mẹ chết, hầu như cả làng đi đưa. Đám tang rất đông vì sinh thời mẹ ăn ở đức độ, phúc hậu và mẹ đẹp người, đẹp nết, chết trẻ bệnh hiểm nghèo nên ai cũng thương …

Mười lăm trăng quả thật tròn

“Mười lăm trăng quả thật tròn / Anh hùng thời vận hãy còn gian nan / Đêm trăng nhát cuốc xới vàng / Trăng dòm, ta hẹn trăng càng dòm thêm / Đất vàng, vàng ánh trăng đêm / Đêm khuya ta với nàng quên nhọc nhằn” (Cuốc đất đêm, thơ Hoàng Ngọc Dộ); Đêm Tình Yêu 14 tháng 2 năm 2014 trùng hợp Rằm tháng Giêng Giáp Ngọ và cũng tròn 20 năm rằm xuân anh Hai mất lúc gần nửa đêm, với lời anh “dặn con cháu khiêm nhu cần kiệm” khắc trên bia mộ, cũng là tròn 60 năm tôi sinh lúc gần nửa đêm rằm xuân Giáp Ngọ 1954.


Gốc mai vàng trước ngõ

“Anh trồng gốc mai này cho em!” Anh cả của tôi trước khi mất đã trồng tặng cho tôi một gốc mai trước ngõ vào hôm sinh nhật Hoàng Long, con tôi, sinh đêm trước Noel, Hoàng Minh Hải, con trai anh, sinh ngày 26.12 và tôi sinh ngày 27.12, còn anh thì mất đúng đêm trăng rằm tháng giêng. Anh trò chuyện với anh Cao Xuân Tài bạn tôi, trong khi tôi cùng vài anh em đào huyệt và xây kim tỉnh cho anh. Nhìn anh bình thản chơi với các cháu, tôi nao lòng rưng rưng.

Chưa bao giờ và chưa khi nào tôi thấm thía những bài thơ về hoa mai cuối mùa đông tàn bằng lúc đó. Anh ra đi đêm rằm xuân 1994 do căn bệnh ung thư hiểm nghèo khi các con anh còn thơ dại.

Hai mươi năm sau, các con và cháu anh đều đã trưởng thành, nay về quây quần ôn chuyện cũ. Gốc mai vàng trước ngõ trở thành chuyện nhiều năm còn kể, noi ước nguyện của người anh cả mong các em và con cháu gìn giữ nếp nhà “khiêm nhu cần kiệm” như cốt cách của hoa mai.


Sân trước một cành mai

Bài kệ “Cáo tật thị chúng” (Cáo bệnh với đệ tử) của thiền sư Mãn Giác (1052 – 1096) trong Thiền Uyển Tập Anh và lời bình của anh về nhân cách người hiền, cốt cách hoa mai đã đi thẳng vào lòng tôi:

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mặt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.

(Bản dịch của Ngô Tất Tố)

Khi Lâm Cúc và anh Đình Quang trao đổi về chủ đề hoa mai, mạch ngầm tâm thức trong tôi đã được khơi dậy như suối nguồn tuôn chảy.

Thiền sư Mãn Giác viết bài kệ “Cáo tật thị chúng” khi Người 45 tuổi, sau đó Người đã an nhiên kiết già thị tịch. Bài thơ kiệt tác vỏn vẹn chỉ có sáu câu, ba mươi tư chữ, bền vững trãi nghìn năm. Đối diện với cái chết, thiền sư ung dung, tự tại, thấu suốt lẽ sinh tử: Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết / Đêm qua sân trước một cành mai.

Lời thơ thanh thoát, giản dị một cách lạ lùng! Thực tế cuộc sống đã được hiểu đầy đủ và rõ ràng. Bản tính cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và luôn vô thường. Xuân đi trăm hoa rụng/ xuân đến trăm hoa cười/ trước mặt việc đi mãi/ trên đầu già đến rồi. Đó là qui luật muôn đời, hoa có tàn có nở, người có diệt có sinh. Hạnh phúc cuộc sống là phong thái luôn vui vẻ và sung sướng, thanh thản và thung dung, không lo âu, không phiền muộn. Sống với một tinh thần dịu hiền và một trái tim nhẹ nhõm.

Tình yêu cuộc sống thể hiện trong ý xuân và trật tự các câu thơ.“Xuân đi trăm hoa rụng/ xuân đến trăm hoa cười” ẩn chứa triết lý sâu sắc hơn là “Xuân đến trăm hoa cười, xuân đi trăm hoa rụng ”. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) trong bài thơ nôm “Chín mươi” có câu: “Chín mươi thì kể xuân đà muộn/ Xuân ấy qua thì xuân khác còn”. Tăng Quốc Phiên chống quân Thái Bình Thiên Quốc “càng đánh càng thua” nhưng trong bản tấu chương gửi vua thì ông đã quyết ý đổi lại là “càng thua càng đánh”. Việc “đánh thua” thì vẫn vậy nhưng ý tứ của câu sau mạnh hơn hẳn câu trước.

“Nghìn dặm tìm anh chẳng gặp anh. Đường về vó ngựa dẫm mây xanh. Qua đèo chợt gặp mai đầu suối . Đóa đóa vàng tươi xuân thắm cành” (Hồ Chí Minh 1890-1969); “Đêm qua sân trước một nhành mai” (Mãn Giác 1052-1096) “Lâm râm mưa bụi gội cành mai” (Trần Quang Khải 1241-1294); Ngự sử mai hai hàng chầu chắp/ Trượng phu tùng mấy rặng phò quanh” (Huyền Quang 1254-1334); Quét trúc bước qua lòng suối/ Thưởng mai về đạp bóng trăng” (Nguyễn Trãi 1380-1442); “Cốt cách mai rừng nguyên chẳng tục” (Nguyễn Trung Ngạn 1289-1370); “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” (Nguyễn Du 1765- 1820) “Nhờ chúa xuân ưu ái/ Xếp đứng đầu trăm hoa/ Chỉ vì lòng khiêm tốn/ Nên hẵng nở tà tà” (Phan Bội Châu 1867-1940); “Mộng mai đình” (Trịnh Hoài Đức 1725-1825) ; “Non mai rồi gửi xương mai nhé/ Ước mộng hồn ta hóa đóa mai” (Đào Tấn 1845-1907); “Một đời chỉ biết cúi đầu vái trước hoa mai” (Cao Bá Quát 1809-1855) “Hững hờ mai thoảng gió đưa hương” (Hàn Mặc Tử 1912-1940) “Tìm em tôi tìm/ Mình hạc xương mai”(Trịnh Công Sơn 1939-2001),…

Mai vàng là xuân của Tết Việt. Hoa mai, hoa đào, bánh chưng là hình ảnh Tết cổ truyền của dân tộc Việt. Hoa mai, hoa đào, hoa lê, hoa mận có nhiều loài với vùng phân bố rộng lớn ở nhiều nước châu Á nhưng chỉ riêng mai vàng là đặc sản của Việt Nam. Hoa mai là một trong bốn loài hoa kiểng quý nhất (mai, lan, cúc, trúc) của Việt Nam đặc trưng cho bốn mùa. Hoa mai gắn liền với văn hóa, đời sống, tâm linh, triết lý sống, nghệ thuật ứng xử, thơ văn, nhạc họa. Hoa mai là biểu tượng của mùa xuân, của sự may mắn, vui tươi và trường thọ. Cành mai ẩn tàng thông điệp của mùa xuân. Hoa mai vừa có cốt cách, vừa đẹp thanh nhã, vừa có hương thơm và nở sớm nhất trong các loại hoa xuân. Vì vậy, hoa mai đã được chọn để biểu hiện cho cốt cách thanh cao của người hiền.

Gốc mai vàng trước ngõ. Rằm xuân lại nhớ anh. Cành mai sương mai đọng. Xuân sang lộc biếc cành.

 

Đi như dòng sông quê

“Nhà mình gần ngã ba sông/ Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình,/ Linh Giang sông núi hữu tình / Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con/ Chèo thuyền cho khuất bến Son/ Để con khỏi chộ nước non thêm buồn/ Câu thơ quặn thắt đời con/ Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ ”…

Mẹ tôi mất sớm, cha bị bom Mỹ giết hại, tôi và chị gái đã được anh Hoàng Ngọc Dộ nuôi dạy cơm ngày một bữa suốt năm năm trời. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng vận động thầy cô, bạn hữu chia sớt khoai sắn giúp đỡ. Tôi cũng dạy năm lớp vở lòng, ba lớp bổ túc văn hóa để vượt khó vươn lên.

Thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết những lời xúc động trong Bài ca Trường Quảng Trạch: “Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng” Những gương mặt thầy bạn đã trở thành máu thịt trong đời tôi.

Gia đình chúng tôi đã đi như dòng sông quê…

Đó là câu chuyện dài, mãi bây giờ mới kể …

Em ơi em, can đảm bước chân lên

Thầy ước mong em
noi gương Quốc Tuấn

Nguyễn Khoa Tịnh


Đọc thơ em, tim tôi thắt lại
Lòng nghẹn ngào, nước mắt chảy rưng rưng
Nửa xót xa nhưng nửa lại vui mừng
Xót xa vì đời em còn thơ dại
Mới tuổi thơ mà cuộc đời đầy khổ ải
Mới biết cười đã phải sống mồ côi
Như chiếc thuyền giữa biển tự trôi
Như chiếc lá bay về nơi vô định
“Bụng đói” viết ra thơ em vịnh:

“Cơm ngày một bữa sắn trộn khoai
Có biết lòng ta bấy hỡi ai?
Vơi vơi lòng dạ, cồn cào bụng
Kể chi no đói, mặc ngày dài” 
Phải!
Kể chi no đói mặc ngày dài
Rất tự hào là thơ em sung sức
Rất tự hào là em tôi đầy nghị lực
Đã hiển lộ mình qua “Cái chảo rang

“Trung dũng ai bằng cái chảo rang
Lửa to mới biết sáp hay vàng
Xào nấu chiên kho đều vẹn cả
Chua cay mặn ngọt giữ an toàn
Ném tung chẳng vỡ như nồi đất
Quăng bừa xó bếp vẫn nằm ngang
Tốt đẹp đâu cần danh tiếng hão
Bạn cùng lửa đỏ, nóng chang chang”

Phải!
Lửa to mới biết sáp hay vàng!
Em hãy là vàng,
Mặc ai chọn sáp!
Tôi vui sướng cùng em
Yêu giấc “Ngủ đồng
Hiên ngang khí phách:

“Sách truyền sướng nhất chức Quận công
Ta sướng khi ra ngủ giữa đồng
Lồng lộng trời hè muôn làn gió
Đêm thanh sao sang mát thu không
Nằm ngữa ung dung như khanh tướng
Lấy mấy vần thơ tỏ nỗi lòng
Tinh tú bao quanh hồn thời đại
Ngủ đồng khoan khoái ngắm gương trong” 

Tôi biết chí em khi “Qua đèo Ngang
Ung dung xướng họa với người anh hùng
Đã làm quân thù khiếp sợ:

“Ta đi qua đèo Ngang
Cũng gặp Người trèo qua núi hiểm
Đỉnh dốc chênh vênh
Xe mù bụi cuốn
Có lẽ thiên nhiên đã định bao giờ
Một dãy Hoành Sơn bát ngát trận đồ
Điệp điệp núi cao
Trùng trùng rừng thẳm.
Người thấy
Súng gác trời xanh
Gió lùa biển lớn
Nông dân rộn rịp đường vui
Thanh Quan nàng nhẽ có hay
Cảnh mới đã thay cảnh cũ.
Ta hay
Máu chồng đất đỏ
Mây cuốn dặm khơi
Nhân công giọt giọt mồ hôi
Hưng Đạo thầy ơi có biết
Người nay nối chí người xưa

Tới đây
Nước biếc non xanh
Biển rộng gió đùa khuấy nước
Đi nữa
Đèo sâu vực thẳm
Núi cao mây giỡn chọc trời

Nhớ thù nhà, luống thẹn làm trai
Thương dân nước, thà sinh phận gái
“Hoành Sơn cổ lũy”
Hỏi đâu dấu tích phân tranh?
Chỉ thấy non sông
Lốc cuốn, bốn phương sấm động.

Người vì việc nước ra đi
Ta muốn cứu dân nên thăm trận thế
Điều không hẹn mà xui gặp mặt
Vô danh lại gặp hữu danh
Cuộc đời dài ắt còn sẽ gặp nhau
Nay hội ngộ giữa đỉnh cao trời đất
Anh em ta ngự trên xe đạp
Còn Người thì lại đáp com măng
Đường xuyên sơn
Anh hùng gặp anh hùng
Nhìn sóng biển Đông
Như ao trời dưới núi.

Xin kính chào
Bậc anh hùng tiền bối
Ta ngưỡng mộ Người
Và tỏ chí với non sông
Mẹ hiền ơi!
Tổ Quốc ơi!
Xin tiếp bước anh hùng!”

Hãy cố lên em!
Noi gương danh nhân mà lập chí
Ta với em
Mình hãy kết thành đôi tri kỷ!
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Tôi tự hào bài “Tỏ chí” của em:

“Quốc Tuấn ngày xưa chí vững bền
Thù nhà, nợ nước chẳng hề quên
Đến bữa quên ăn, đêm quên ngủ
Thương dân, yêu nước quyết báo đền
Văn hay thu phục muôn người Việt
Võ giỏi kinh hồn lũ tướng Nguyên
Mươi năm sau nữa ơi ông Tuấn
Nối chí ông, nay cháu tiến lên!” 

Tôi thương mến em
Đã chịu khó luyện rèn
Biết HỌC LÀM NGƯỜI !
Học làm con hiếu thảo.
Mười lăm tuổi đã “Tập làm thầy giáo

Vui gì hơn buổi đầu làm thầy giáo
Của lớp vở lòng đất mẹ yêu thương
Trưa nắng luyến các em cùng đến lớp
Giọng líu lo như chim hót ven đường.

Đứng trước các em tuổi nhỏ đáng yêu
Mà đã tưởng tới bao nhiêu người lớn
Nghe em đọc giọng thanh thanh dễ mến
Mà đã nghe đất nước xuyến xao mình!

Tổ Quốc đang chờ em phía trước.
Em ơi em, can đảm bước chân lên!

1970

 

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

 

Đến với bài thơ hay

Đến với bài thơ hay

MAY MÀ …
Lê Đình Cánh

May mà Huế ở Thừa Thiên
Kinh kỳ thuở trước còn nguyên cổ thành
Tháp xưa còn tiếng chuông lành
Tường rêu còn nhuộm sứ sành sắc lam.

May mà Huế ở trời Nam
Còn câu đối cũ dựng am sách nghèo
Nhà vườn còn gác trăng treo
Còn diều khuê các bơi chèo gió xanh.

Nếu mà Huế ở xứ Thanh
Lầu son ngói nát, Cổ thành gạch tan
Hán Nôm nghìn tuổi thành than
Nền xưa dấu cũ hoang tàn nắng mưa.

Lời bình của Bulukhin:

Lê Đình Cánh là một trong những nhà thơ mà tôi yêu thich. Trong khi lục bát Đồng Đức Bốn xuất thần, bạo liệt, có lúc bụi bặm… Lục bát Nguyễn Duy tài hoa, hóm hỉnh, thì lục bát Lê Đình Cánh cứ rỉ rả mà thâm trầm sâu cay. Xứ Thanh là quê ông,”May mà” là bài thơ ông nói về quê mình. Ở đó có Lam Kinh, một khu di tích rộng khoảng 30 ha ở xã Xuân Lam. Lam Kinh có đến 14 công trình di tích như Ngọ môn, Sân rồng, Chính điện Lam Kinh, Khu thái miếu triều Lê sơ, Lăng mộ các vua và hoàng hậu , Bia Vĩnh Lăng, Hựu Lăng, Chiêu Lăng, Dụ Lăng, Kinh Lăng, Khu đền thờ Lê Lợi, Khu đền thờ Lê Lai, Đền thờ Bố Vệ…

Nhà nước đã bỏ ra vô số công sức và tiền của để tôn tạo phục chế lại Lam Kinh nhưng rồi không hiểu sao vong linh các vua chúa cứ hỏi nhau nơi đây là đâu nhỉ? Có phải là Lam Kinh vàng son trên đất Thọ Xuân Thanh Hóa không? Lê Đình Cánh làm thơ chứ không làm vua nên ông không hỏi thế. Mà hỏi ai? và ai trả lời? ông thảng thốt kêu lên “may mà” nghe sao mà ai oán.

May mà Huế ở Thừa Thiên
Kinh kỳ thuở trước còn nguyên cổ thành 

Nhà thơ vẫn rỉ rả nói về Huế, thì Huế vẫn còn đó nguyên vẹn, cho nên Unesco mới phong tặng danh hiệu Di sản Văn hoá của nhân loại chứ sao.
May mà Huế ở trời Nam
Còn câu đối cũ dựng am sách nghèo

Thế rồi đột ngột như cầu thủ nhà nghề phạt trực tiếp 11 mét. Tác giả cho bóng vào gôn đối phương

Nếu mà Huế ở xứ Thanh
Lầu son ngói nát cổ thành gạch tan

Lê Đình Cánh tuyệt nhiên không nói đến Lam Kinh, vì sao vậy? Đấy là kiểu chơi trốn tìm, buộc người đọc phải tò mò tìm kiếm, sau đó mới “ngộ” ra. A, đúng rồi đấy là Lam Kinh, Thọ Xuân Thanh Hóa. Ai mà chẳng biết  xứ Thanh là phát tích nhiều triều đại vua chúa từ Lê sơ, hậu Lê, cho đến nhà Nguyễn. Vong linh các vị không còn lăng tẩm xưa cũ mà về, vì hậu duệ thời a còng (@) đang làm cái việc được dán nhãn “duy tu và tôn tạo” các di tích lịch sử và văn hoá nước nhà !!