Chuyện cổ tích người lớn

CHUYỆN CỔ TÍCH NGƯỜI LỚN
Hoàng Kim

Lời dặn lại của Đức Thánh Trần là “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”.Đọc lại thật sâu sắc! Tôn tử binh pháp thiên thứ nhất, trang đầu là “Tính toán”. Tôn Tử nói: Chiến tranh là việc lớn quốc gia, là việc sống chết của nhân dân, là sự mất còn của một nước, không thể không xem xét cẩn thận. Cho nên phải cân nhắc năm yếu tố, phải tính toán, so đo mà tìm hiểu thực tình của đôi bên: Thứ nhất là đạo nghĩa; thứ hai là thời trời; thứ ba là địa lợi; thứ tư là chủ tướng; thứ năm là pháp chế. Chỉ nói đến trí thức tinh hoa, tinh thần ái quốc và sức mạnh toàn dân thì chỉ mới tính toán so đo thứ nhất là đạo nghĩa. Chỉ nói đến tài năng và tôn vinh cụ thể một con người như Napoleon chẳng hạn thì chỉ mới tính toán so đo thứ tư là chủ tướng. Chính vì vãy Napoleon khi thua trận bị nhốt ngoài đảo mới thốt lên: Tiếc thay trước đây ta chưa đọc sách này (Tôn Tử binh pháp) và Cụ Hồ trước khi thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã nghiền ngẫm dịch Tôn Tử binh pháp, học lại thật kỹ Lịch sử Việt Nam và chọn nơi khởi binh ở làng Quốc Tuấn. .

Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mất ngày 20 tháng 8 âm lịch năm 1300. Người được dân Việt tôn kính gọi là Đức Thánh Trần và thường dâng lễ tạ ơn sớm từ 20 tháng 8 dương lịch đến ngày lễ chính. Vua Trần Anh Tông lúc Đức Thánh Trần sắp lâm chung có ân cần ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?”. Đức Thánh Trần  trả lời: “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”. Nguyên văn: “Ngày xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) dựng nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã (vườn không nhà trống), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê dùng người tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua nhà Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy” * (Đại Việt sử ký toàn thư tập 2 trang 76 -77).

Trần Hưng Đạo giành chiến thắng trước quân Nguyên trên sông Bạch Đằng, kết thúc chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt lần 3 vào ngày 9 tháng 4 năm 1288, tức 8 tháng 3 năm Mậu Tý. Sau ba lần thắng giặc, đất nước thanh bình, ông lui về Vạn Kiếp và mất ngày 20 tháng 8 năm 1300 tại vườn An Lạc. Đền Kiếp Bạc ( Hải Dương) là nơi đền thờ chính của đức Thánh Trần.

Chùa Thắng Nghiêm (Hà Nội) nơi Trần Hưng Đạo lúc nhỏ tu học, là nơi Người hiển thánh.

Đức Thánh Trần gương soi kim cổ

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là nhà chính trị, quân sự, nhà văn kiệt xuất thời nhà Trần. Chiến công kiệt xuất đánh bại quân đội nhà Nguyên năm 1285 và 1287 đã đưa Đức Thánh Trần thành đại danh tướng lừng lẫy nhất của thế giới và Việt Nam. “CHỌN TƯỚNG” là một chương trong Binh thư Yếu lược của Trần Quốc Tuấn, kiệt tác súc tích và sâu sắc lạ lùng.

“Người quân tử tiến thoái quả quyết, xem người thì thanh thản vui tươi, chí thì ở trừ tàn bạo, đó là khí độ của người tướng quốc. Thấy ác không giận, thấy lành không mừng, nhan sắc không thay đổi, đó là lượng của người thiên tử.

Được sự thắng nhỏ, gặp sự thua nhỏ, mà mừng lo hình ra nét mặt, hễ thấy động thì động, thấy tĩnh thì tĩnh, nhát mà không tính toán gì, cất chân thì thần sắc không định, mà hay lấy lời nói để thắng người, đó là tướng ngu vậy.

Bảy phép để biết người:

1. Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không
2. Lấy lời cật vấn đến kỳ cùng để xem cách ứng biến của họ.
3.  Cho gián điệp thử xem có trung thành không.
4. Hỏi rõ ràng tường tất để xem đức hạnh thế nào.
5. Lấy của mà thử để xem có thanh liêm không
6. Lấy sắc đẹp mà thử để xem có đứng đắn không.
7. Lấy việc khó khăn mà thử để xem có dũng cảm không.
8. Đem rượu cho họ uống say để xem có giữ được thái độ không.

Tướng ngu có tám điều tệ:

1. Lòng tham mà không chán
2. Ghen người hiền, ghét người tài
3. Tin lời dèm pha, thích lời nịnh hót
4. Xét người mà không xét mình
5. Do dự không quả quyết
6. Say đắm rượu và sắc đẹp
7. Thích xảo trá mà lòng nhút nhát
8. Nói lời viễn vông mà không giữ lễ

Gia Cát Lượng sách Tướng Uyển chỉ bảy phép biết người.

Biết tính tình của người, chẳng gì khó bằng xem xét, lành dữ tuy khác nhau, tính tình và vẻ mặt chẳng phải một: có kẻ thì ôn hoà, hiền lành nhưng làm việc trộm cắp;có kẻ bề ngoài thì cung kính nhưng trong bụng thì vô lễ, dối trá; có kẻ bề ngoài thì mạnh dạn nhưng trong bụng thì khiếp sợ;có kẻ làm việc tận lực nhưng bụng không trung thành;

Bảy phép sau đây để biết người

1. Hỏi việc phải trái để dò chí hướng;
2. Lấy lời cật vấn để biết ứng biến;
3. Đem mưu kế hỏi để lường kiến thức;
4. Giao chuyện hiểm nguy để soi dũng cảm;
5. Mời rượu cho uống say để xét tính tình;
6. Đưa lợi gái thử để rõ thanh liêm chính trực;
7. Đem việc cậy nhờ để xét sự trung thành, tin thật.

Tám hạng tướng và bậc đại tướng

Nhân tướng là người dùng đức để đem đường cho người, dùng lễ để xếp việc cho họ, hiểu thấu sự đói rét của người dưới, biết rõ khó nhọc của đồng sự, đó là nhân tướng.

Nghĩa tướng là người làm việc không cẩu thả, thấy lợi mà không tham, biết chết vinh hơn sống nhục.

Lễ tướng là người có địa vị cao quý mà không kiêu căng, công hơn người mà không cậy, tài năng mà biết hạ mình, cứng cỏi mà biết nhẫn nhịn.

Trí tướng là người gặp biến bất ngờ mà chí không đổi, ứng phó linh hoạt với việc khó khăn, có thể đổi họa thành phúc, gặp cơn nguy biến mà sắp đặt thành thắng thế.

Tín tướng là người thưởng phạt nghiêm minh công bằng, khen thưởng không chậm trễ và không bỏ sót, trừng phạt không buông tha cho kẻ cao quý.
Bộ tướng thủ hạ của đại tướng phải chọn người tay chân lẹ làng, võ nghệ tuyệt luân,  giỏi đánh gần, ứng biến di chuyển mau lẹ, để bảo vệ an toàn cao nhất cho chủ soái.
Kỵ tướng là người có thể vượt núi non cheo leo, từng trải việc nguy hiểm, cưỡi ngựa bắn tên mau lẹ như chim bay, tới thì đi trước, lui thì về sau.
Mãnh tướng là người khí thế vượt hẳn ba quân, dám coi thường địch mạnh, gặp đánh nhỏ vẫn luôn cẩn trọng, gặp đánh lớn thì can đảm quả quyết.

Bậc đại tướng là người bao trùm và vượt hẳn tám hạng tướng kể trên, gặp hiền tài thì tôn trọng lắng nghe, biết tỏ ý mình không theo kịp người, biết nghe lời can ngăn như thuận theo dòng nước, lòng rộng rãi nhưng chí cương quyết, giản dị và nhiều mưu kế.”

Ôi, đọc lại “Binh Thư Yếu lược” “Hịch Tướng Sĩ Văn” gương soi kim cổ, lắng nghe cuộc sống, để biết sửa mình; xem tiếp… https://hoangkimlong.wordpress.com/category/loi-dan-lai-cua-duc-thanh-tran/

Chuyện cổ tích người lớn
Đọc lại và suy ngẫm


CHƠI CỜ CỞ CAO CẦU
Hoàng Kim


Chấp chính chẳng căn cơ
Chợ cào cào châu chấu
Chơi cờ cỡ Cao Cầu
Cuối cùng chịu cám cảnh.

TAM SƯ
Phan Chi Thắng 14 8 2020

Một kỹ sư, một thiền sư và một võ sư rủ nhau lên núi so tài cao thấp. Họ chọn một tảng đá bên vách núi, thi xem ai đẩy được nó xuống vực.

Kỹ sư lấy giấy bút ra tính toán xem cần bao nhiêu thuốc nổ TNT, đặt vào đâu cho an toàn. Tính xong xuôi, đặt thuốc nổ nhưng bỏ quên dây cháy chậm ở nhà, đành chịu thua.

Thiền sư nhập định, dùng năng lượng vũ trụ đẩy được tảng đá dịch vài phân rồi ì ra đó, cũng chịu thua.

Võ sư xuống tấn, vận nội công, cơ bắp cuồn cuộn, hô to một tiếng, đẩy được hòn đá lung lay nhưng không rơi xuống vực. Coi như chưa thắng.

Một thằng bé kiếm củi đi ngang qua thấy vậy liền lấy cây gỗ làm đòn bẩy, tìm thế bẩy được hòn đá rơi xuống vực.

Ba ông sư, kỹ thiền và võ, vô cùng khâm phục, chắp tay hỏi ngài thuộc môn phái nào? Thằng bé không hiểu môn phái là gì, lắc đầu. Ba ông sư bèn hỏi ngài học cách đẩy hòn đá ở đâu, thằng bé bảo cháu thấy bố cháu làm thì cháu bắt chước thôi.

Ba ông sư nghĩ bố thằng bé đích thị là cao thủ, liền theo thằng bé về nhà xin diện kiến bố nó.

Đúng lúc đó bố mẹ thằng bé đi chợ về. Mẹ nó to béo dắt ngựa, trên lưng ngựa là bố nó gầy còm say mèm, nằm vắt ngang, hỏi gì cũng không nói vì còn mải ngật ngưỡng.

Ba ông sư kiên trì bám theo, chờ đến tối bố thằng bé tỉnh rượu để hỏi cho bằng được bí kíp đẩy đá. Ông kia bảo bí kíp gì đâu, các ông nhìn thấy vợ tôi rồi đấy, nó to thế thì phải dùng mẹo mới ấy nó được.

Ba ông tẽn tò ra về. Xe hơi đang đợi họ ở chân núi, bên hông xe có sơn dòng chữ: “Tổ tư vấn của Chính phủ”.

CHUYỆN CHƠI CỜ, CHỈ CÓ C...
Đinh Sỹ Hòa 6 Tháng 8 lúc 12:20

Cậu Cử Chinh con Cụ Cả Chiến có cái chứng chỉ chơi cờ “chại chức” (tại chức – chạy chức). Cậu còn có chứng chỉ cao cấp “chính chị”, chứng chỉ chơi chim, cá, cây cảnh…chi chi…chứa chật căng cứng cả cái cặp. Cậu có cái cơ chơi cờ cỡ Cao Cầu, còn chẳng có cái cục…”cơm cháy” chi. Cậu cậy có Cụ chinh chiến, cao cơ, Cậu cứ chơi cờ, chẳng cần có căn cơ, cần cù chi cả…Cậu còn chơi chim cảnh, cá cảnh, cá cược, cào, chắn…Cụ cũng chẳng can, chẳng cấm cản chi. Cụ chống chọi, che chắn, chịu chi cho Cậu, Cụ cũng có “chiếu chỉ” cho các chú, các con cháu, các con cô con cậu…cài cắm chằng chịt các cấp…cho Cậu cái chức cao cao. Cậu Chinh chỉ cần chơi cờ, cun cút…chẳng cần cầu cạnh chi. Cụ Cả Chiến cũng chơi cao cờ có cỡ…Cụ chạy chọt, chèo chống cho Cậu Cử các chứng chỉ cùng cấp chức cứng cựa, cáu cạnh…Con cháu chắt chút chít chịt của Cụ cũng cậy có Cụ, chúng chiếm chỗ, cơ cấu, cài cắm các cấp, các cơ “coan” có cả. Cha con Cụ chơi cuồng, chơi chướng, chẳng cần che chắn, cẩn cáo chi cả…Các cha chú chán chường, cau có chửi cha con Cậu cáo cầy, “cẩu coan” chán chê…Chửi chán, các cha chú chậc chậc: Cha chả, con cháu của chúng cả, con cha cháu cụ cả…cải cách cái chi chi? chống chạy chức, chạy chỗ, chống con cháu cái chi chi?…Chết chửa…CỤ CHỦ có cảm, có cứu, có cách chi chăng?…Cậu Cử Chinh chồm chỗm chấp chính chức “Cha” chưa chắc chân, chính chỗ, chưa cúng Cụ…Cấp cao cao cắc cớ cảnh cáo, chấn chỉnh, cắt chức Cậu cái cụp…cho cậu “chết”, cha con cậu có chừa chưa?…Cha con Cụ còn cuống cuồng chống chế, cay cú cãi cùn: “Cấp chức chính chủ, chứng chỉ cao, chuẩn, có chấm, có cử, có cơ cấu cả chứ…các cu cứ coi chừng cha con Cụ”…Cụ Cả Chiến chơi con cờ cậu Chinh cũng cùng cực, chua chát. Cắt chức “Cha” của Cậu, Cụ còn chèn cho Cậu cái chức cao cao…Công cụ câu cơm, câu cá, câu chỉ, câu cây…của Cụ có cơ cuốn cờ, chìm cả chì cả chài, chui cống cả…Cha con Cụ có cơ chết chùm…

Chợ cào cào, châu chấu…chốn “coan chường” cóc chết…Cám cảnh chưa…

Chuyện cổ tích người lớn
Đọc lại và suy ngẫm

KHỔNG TỬ BÁI KIẾN LÃO TỬ
ĐKN Theo NTDTV
Hải Sơn biên dịch


Lão Tử và Khổng Tử, hai bậc Thánh nhân trong lịch sử đã có lần tương ngộ. Và cuộc đàm đạo của các ngài đã để lại giai thoại ngàn năm. Sau khi bái kiến Lão Tử trở về, Khổng Tử trầm mặc suốt 3 ngày không nói. 

Một ngày vào năm 538 TCN, Khổng Tử nói với đệ tử là Nam Cung Kính Thúc rằng: “Lão Đam, người giữ chức Tàng thất sử của nhà Chu, bác cổ thông kim, biết cội nguồn của lễ nhạc, hiểu rõ mấu chốt của đạo đức. Nay ta muốn đến Chu xin thỉnh giáo, trò có muốn đi cùng không?”.

Nam Cung Kính Thúc vui mừng đồng ý, lập tức tâu lên vua nước Lỗ. Vua Lỗ đồng ý cho ông đi, đồng thời cấp cho ông một cỗ xe song mã, một đứa nhỏ hầu, một người đánh xe, và cử Nam Cung Kính Thúc hộ tống Khổng Tử lên đường.

Lão Tử thấy Khổng Tử xa xôi ngàn dặm đến, vô cùng vui mừng.

Lão Tử hỏi Khổng Tử: “Ông đã đắc Đạo rồi chứ?”.

Khổng Tử nói: “Học trò cầu Đạo đã 27 năm, vẫn chưa đắc được”.

Lão Tử nói: “Nếu Đạo là vật hữu hình, có thể lấy đem dâng cho người, thế thì mọi người tranh nhau lấy dâng cho quân vương. Nếu Đạo có thể tặng cho người, mọi người sẽ đem tặng cho người thân. Nếu Đạo có thể thuyết giảng rõ ràng, mọi người đều sẽ thuyết giảng cho anh em. Nếu Đạo có thể truyền cho người khác, thế thì mọi người đều sẽ tranh nhau truyền lại cho con cái. Nhưng những điều nói trên đều không thể được, nguyên nhân rất đơn giản, đó là khi cái tâm con người không nhận thức đúng đắn về Đạo, thì Đạo sẽ không bao giờ vào đến tâm người ấy”.

Khổng Tử nói: “Học trò nghiên cứu “Kinh thi”, “Kinh thư”, “Chu lễ”, “Chu nhạc”, “Kinh dịch” và “Kinh Xuân Thu”, thuyết giảng đạo trị quốc từ thời Tam Hoàng, hiểu rõ con đường công danh của Chu Công, Triệu Công, học trò đem dâng cho hơn 70 vị vua, nhưng không ai sử dụng. Xem ra con người khó thuyết phục quá!”.

Lão Tử nói: “Lục nghệ của ông đều là lịch sử cũ xưa của các đời vua xưa, ông thuyết giảng những cái đó có tác dụng gì? Những thứ ông đang tu luyện, đều là những tích xưa cũ. “Tích” chính là dấu tích vết giày người ta để lại, dấu chân với dấu chân, thì có gì khác nhau?”. 

Sau lần đối thoại ban đầu, Lão Tử lại dẫn Khổng Tử thăm Đại phu Trường Hoằng. Trường Hoằng cực kỳ tinh thâm nhạc lý, truyền thụ cho Khổng Tử nhạc luật, nhạc lý, đồng thời dẫn Khổng Tử đi quan sát các lễ tế Thần, khảo sát nơi truyền giáo, nghiên cứu các lễ nghi lễ đền, làm cho Khổng Tử cảm thán không ngớt, thọ ích rất nhiều.

(Sau này, khi Khổng Tử ở nước Tề có may mắn được thưởng thức nhạc vũ “Đại thiều”. Sau khi thưởng thức xong thì lòng khoan khoái ngây người ra, miệng không còn biết vị, ba tháng ròng ăn thịt không thấy mùi vị, thì cảm động than rằng: “Không ngờ nhạc lại có thể đạt đến cảnh giới cao siêu kỳ diệu như thế này!”. Đây chính là điển cố “Ba tháng không biết mùi vị thịt” được ghi chép trong “Luận ngữ”).

Khổng Tử lưu tại đây vài ngày rồi từ biệt Lão Tử. 

Lão Tử tiễn đưa ông ra ngoài công quán rồi nói:

Tôi nghe nói, kẻ phú quý tặng người của cải, kẻ nhân nghĩa tặng người lời nói. Tôi không phú cũng chẳng quý, không có của cải tặng ông, muốn tặng ông vài lời. Thời nay, kẻ thông minh mà sâu sắc, sở dĩ gặp nạn, thậm chí dẫn đến cái chết, là do hay chê cái sai của người; kẻ giỏi hùng biện lại thông hiểu sự việc, sở dĩ gặp họa liên miên, là do hay vạch ra cái xấu của người. Là bậc làm con, đừng cho mình là cao; là bậc bề tôi, đừng cho mình là hơn. Mong ông nhớ kỹ”.

Khổng Tử bái lạy nói: “Học trò nhất định ghi nhớ trong lòng!”.

Khi Khổng Tử đến bờ sông Hoàng Hà, thấy nước sông cuồn cuộn, sóng cuộn đục ngầu, khí thế như vạn ngựa đang phi, âm thanh như hổ gầm sấm động.

Khổng Tử đứng trên bờ rất lâu, bất giác nói thương cảm: “Cái đã qua là như thế này đây, ngày đêm không ngừng! Nước sông Hoàng Hà cuộn chảy không ngừng, tháng năm của con người qua đi chẳng dừng, nước sông chẳng biết chảy đi đâu, đời người chẳng biết đi về đâu?”.

Nghe thấy Khổng Tử nói mấy câu này, Lão Tử nói: “Con người sống ở giữa trời đất, nên cùng với trời đất là một thể. Trời đất vạn vật là tự nhiên vậy. Con người cũng là thuận theo tự nhiên. Người có thay đổi từ trẻ em, thiếu niên, tráng niên, và già, cũng giống như trời đất có xuân, hạ, thu, đông đổi thay, có gì buồn đâu? Sinh ra trong tự nhiên, chết trong tự nhiên, cứ để nó tự nhiên, thì bản tính không loạn. Không để nó theo tự nhiên, tất bật trong nhân nghĩa, thì bản tính bị trói buộc. Công danh còn trong tâm, thì cái tình lo nghĩ nảy sinh. Lợi dục giữ trong tâm, thì cái tình phiền não càng tăng thêm”.

Khổng Tử giải thích rằng: “Học trò lo đại Đạo không được thực hiện, nhân nghĩa không được thực thi, thì chiến loạn không ngừng, quốc loạn không yên, ví như cuộc đời ngắn ngủi, chẳng có công lao gì cho đời, không thể giúp gì cho dân, vậy thì tiếc lắm thay”.

Một lúc sau Lão Tử chỉ con sông Hoàng Hà mênh mông, nói với Khổng Tử: “Ông sao không học đức của nước?”

Khổng Tử nói: “Nước có đức gì?”. 

Lão Tử nói: “Cái thiện cao nhất như nước vậy: Nước thiện, có lợi cho vạn vật mà không tranh, ở nơi mà mọi người đều ghét, đó là đức khiêm nhường vậy. Sông biển sở dĩ có thể làm vua của trăm suối khe, là do nó giỏi ở chỗ thấp. Thiên hạ không có gì mềm mại yếu đuối hơn nước, mà những cái rắn chắc mạnh mẽ lại không cái nào có thể thắng được nước, đó là đức nhu vậy. Do đó nhu thắng cương (mềm thắng cứng), nhược thắng cường (yếu thắng mạnh). Vì nước không có hình thái cố định, nên có thể vào mà không bị ngăn cách, do vậy có thể thấy vô ngôn chi giáo (giáo hóa không cần nói), vô vi chi ích (lợi ích mà không cần phải làm)”.

Khổng Tử nghe xong, bỗng bừng tỉnh ngộ, nói: “Lời này của tiên sinh, khiến học trò bừng tỉnh: Mọi người ở trên cao, chỉ riêng nước ở dưới thấp; mọi người ở chỗ dễ chịu, riêng nước ở chỗ hiểm trở; mọi người ở chỗ sạch sẽ, riêng nước ở chỗ dơ bẩn. Chỗ nước ở toàn là chỗ mà mọi người ghét, thì ai còn tranh với nước đây? Đây chính là cái thiện cao nhất vậy”.

Lão Tử gật đầu nói: “Ông có thể dạy được! Ông phải nhớ kỹ: Không tranh với đời, thì thiên hạ không ai có thể tranh cùng, đó là học theo đức của nước vậy. Nước gần với Đạo. Đạo không nơi nào không có, nước không nơi nào không có lợi, tránh chỗ cao mà về chỗ thấp, chưa bao giờ trái ngược, là giỏi tìm chỗ đứng. Ở chỗ không, nên trong vắt tĩnh lặng, sâu không thể dò tìm, là giỏi làm vực sâu. Tổn mà không kiệt, làm mà không cầu báo, là giỏi làm việc nhân vậy. Tròn ắt sẽ xoay, vuông ắt sẽ gẫy, bịt ắt sẽ dừng, khơi ắt sẽ chảy, đó là giỏi giữ chữ tín. Gột rửa mọi dơ bẩn, đo chỉnh cao thấp, là giỏi xử lý mọi vật. Dùng để chở thì nổi, dùng để soi thì trong, dùng để công phá thì tất cả những gì kiên cố vững chắc cũng không thể địch nổi, đó là giỏi dùng khả năng. Ngày đêm không nghỉ, tràn đầy rồi mới tiến tiếp, là giỏi chờ thời vậy.

Do đó bậc thánh nhân tùy thời mà hành (hành sự tùy theo thời vận), bậc hiền giả ứng sự nhi biến (ứng biến tùy theo sự việc). Bậc trí giả vô vi nhi trị (vô vi mà trị vì cai quản), bậc đạt giả thuận thiên nhi sinh (thuận theo lẽ trời mà sinh ra).

Ông lần này đi rồi, nên bỏ cái ngạo khí trong lời nói và biểu cảm, xóa bỏ cái chí dục ở dung mạo. Nếu không, người chưa đến mà tiếng tăm đã đến, thân chưa tới mà gió đã động, hiển lộ phô trương, như hổ đi trên phố, ai dám dùng ông?”.

Khổng Tử nói: “Lời của tiên sinh, là từ đáy lòng tiên sinh mà vào tận tâm can học trò. Học trò thọ ích rất nhiều, cả đời không quên. Học trò sẽ tuân theo chẳng dám trễ nải, để tạ ân của tiên sinh”.

Nói xong, Khổng Tử từ biệt Lão Tử, lên xe cùng Nam Cung Kính Thúc, lưu luyến đi về hướng nước Lỗ.

Khổng Tử từ chỗ Lão Tử trở về, suốt 3 ngày im lặng không nói năng gì. Học trò Tử Cống lấy làm lạ bèn hỏi thầy làm sao. Khổng Tử lúc này mới đáp:

Nếu ta gặp người có suy nghĩ thoáng đạt như chim bay, ta có thể dùng luận điểm chính xác sắc bén như cung tên của ta bắn hạ chế phục họ. Nếu tư tưởng của người ta vun vút không trói buộc như hươu nai chạy, ta có thể dùng chó săn đuổi theo, nhất định khiến họ bị luận điểm của ta chế phục.

Nếu tư tưởng của họ như con cá bơi trong vực sâu của lý luận, ta có thể dùng lưỡi câu để bắt lên.

Nhưng nếu tư tưởng họ như con rồng, cưỡi mây đạp gió, ngao du nơi cảnh huyền ảo thái hư (vũ trụ mênh mông huyền bí), không ảnh không hình, không nắm bắt được, thì ta chẳng có cách nào đuổi theo bắt được họ cả.

Ta đã gặp Lão Tử, thấy cảnh giới tư tưởng ông như rồng ngao du trong thái hư huyền ảo, khiến ta cứ há miệng mãi mà không nói ra lời, lưỡi thè ra cũng không thu lại được, khiến cho ta tâm thần bất định, chẳng biết ông rốt cuộc là người hay là Thần nữa. Lão Đam, thực sự là Thầy của ta!”.

Và hàng ngàn năm sau, những tư tưởng sâu xa, thâm thúy của Lão Tử cho đến ngày nay vẫn là những lời dạy vô giá đối với hậu nhân.

Bài liên quan:

XỬ ÁN KIỂU THỔ NHĨ KỲ
Bùi Cách Tuyến


Chuyện xảy ra ở Vương quốc Aleppo, Thổ Nhĩ Kỳ vào thế kỷ 13. Viên Chỉ huy quân đội Nasir muốn hãm hại Vizier (quan chức hành chính cao nhất trong vương quốc) tên là Sahabettin Tugrul (là chú ruột của Sultan Giyaseldin El Aziz/vua của vương quốc Aleppo) vì ông đã biết rõ và cản trở y bắt tay với ngoại bang.

Nasir đã tuyển mộ một đội gái đẹp vào cung mua vui cho Sultan Giyaseldin El Aziz làm ông này mê muội. Nasir sàm tấu với Sultan rằng chính Sahabettin Tugrul đã và đang cấu kết với ngoại bang. Sau nhiều lần lập mưu gieo sự nghi ngờ, cuối cùng Nasir đã lấy được lệnh miệng của Sultan để bắt giam Sahabettin Tugrul, rêu rao trong vương quốc các tội danh và tuyên bố sẽ đem ông ra xử án công khai.

Để bảo đảm xử án thành công, Nasir dùng vàng mua chuộc Chánh án Efendi đồng thời hứa hẹn với Efendi rằng sẽ trình Sultan thăng chức Efendi lên làm quan cố vấn của Sultan. Efendi dù biết rõ tài đức của Sahabettin Tugrul và đã nói thẳng với Nasir rằng Sahabettin Tugrul vô tội nhưng vẫn nhận lời tuyên án tử hình Sahabettin Tugrul để được nhận tiền và chức tước.

Mặt khác, Nasir tìm 4 nhân chứng đểu để buộc tội Sahabettin Tugrul trước toà nhằm kết án tử hình ông (sau đó Nasir đã cho người giết các nhân chứng để bịt đầu mối), đồng thời Nasir mua chuộc một đám đông đến nơi chém đầu để hô vang khẩu hiệu lăng mạ Sahabettin Tugrul. May mà ông được một nhóm người cứu thoát.

PS: Té ra những thằng hung ác và kinh tởm nhất lại đi xử án những thằng đàng hoàng tử tế!

Chuyện cổ tích người lớn
XỬ ÁN KIỂU VUA GIA LONG
Hoàng Kim
Đọc lại và suy ngẫm. bài nghiên cứu lịch sử của Võ Hương An Mối thù của nhà Tây Sơn và vua Gia Long: chuyện đời vay trả đăng trên https://nghiencuulichsu.com/2014/10/02/ban-ve-tay-son-nguyen-anh-chuyen-doi-vay-tra/ Nghiên cứu lịch sử ngày 2 tháng 10 năm 2014.Chuyện cổ tích người lớn này nhiều thông tin về một sự kiện lớn đã được ghi vào chính sử triều Nguyễn, Quốc Sử Quán, Đại Nam Thực Lục, I, bản dịch của Nguyễn Ngọc Tỉnh, Viện Sử Học, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2002. xem thêm Những góc khuất của phong trào Tây Sơn nghiên cứu lịch sử của Đổng Thành Danh ..

Hiển Lâm Các

Mối thù của nhà Tây Sơn và vua Gia Long: chuyện đời vay trả
Võ Hương An

Lời người viết: Mùa Vu lan năm Canh dần 2010, tự nhiên tôi nhận được nhiều email của thân hữu gởi đến – có ngày nhận hai ba cái — kèm theo truyện ngắn “Một ngày lễ Vu lan sầu thảm” của Tịnh Thuỷ, viết về sự tàn ác và hèn hạ của vua Gia Long trong việc hành hình vợ chồng Trần Quang Diệu & Bùi Thị Xuân — hai dũng tướng của Tây Sơn — và gia đình (mẹ già và con gái). Nội dung của các điện thư hoặc có ý hỏi tôi sự thật có đúng như vậy không, hoặc tỏ ra đồng ý với tác giả, chê trách vua Gia Long tàn ác. Bài viết này xin xem như một câu trả lời, sự thật lịch sử là một kinh nghiệm chung ở đời…

Đôi nét lịch sử

Sau 25 năm chiến đấu kiên trì và gian khổ, ngày mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu (13/6/1801) Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô cũ Phú Xuân, đuổi vua tôi Cảnh Thịnh chạy dài ra Bắc. Một năm sau, ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1/6/1802), tuy chưa chính thức lên ngôi hoàng đế (1) nhưng theo lời đề nghị của bầy tôi,  vua ban hành niên hiệu Gia Long, mở ra một triều đại mới của nhà Nguyễn. Vào đầu thế kỷ XX, vua Khải Định đã chọn ngày này ( mồng 2 tháng Năm âm lịch) làm ngày quốc khánh của nước Đại Nam, đặt tên là ngày Hưng quốc khánh niệm. Những ai ở lứa tuổi trên 70 ở Trung kỳ, từng cắp sách đến trường có thể còn nhớ đôi chút về ngày này, nhất là ở Huế.  Đó là ngày mừng đất nước thống nhất. Niên hiệu Gia Long bao hàm trong ý nghĩa đó — vua muốn nói ông là người đã đi từ Gia Định thành tới Thăng Long thành để thống nhất đất nước. (Võ Hương-An, Thăng Long và Gia Long )

Ngay sau khi chiếm lại Phú Xuân và  trong khi vua Cảnh Thịnh của Tây Sơn đang còn làm chủ ở miền  Bắc thì Nguyễn Vương đã cho « Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây, bêu đầu ở chợ » (Thực lục I, tr.473).

Sau khi chiếm được Bắc hà, bắt được  trọn gói vua tôi, anh em vua Cảnh Thịnh,  hoàn thành cuộc thống nhất đất nước từ Nam chí Bắc, vua Gia Long khải hoàn về kinh. Ngày giáp tuất  tháng 11 năm Gia Long thứ 1 (7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802) vua đem tù binh ra làm lễ hiến phù ở Thái Miếu. Hiến phù là lễ trình diện tù binh trước bàn thờ tổ tiên, và Thái Miếu là nơi thờ 9 đời chúa Nguyễn. Sau lễ,
 
« Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh Túc trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Hình bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản [vua Cảnh Thịnh] và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì, cho 5 voi xé xác, đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ [bài vị] của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ Ngoại [Ngoại Đồ Gia, cơ quan chế tạo của triều đình, sau gọi là Võ Khố] (năm Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất cấm cố mãi mãi). Còn đồ đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử trị hết phép, bêu đầu cho mọi người biết. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài. » (Thực lục I, tr.531)

Trong chiếu bố cáo cho toàn dân được rõ về lễ hiến phù ngày 7 háng 11 Nhâm tuất, có câu mở đầu : « Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu … » và kết thúc bằng câu « Nhạc Huệ trời đã giết rồi, cũng đem phanh xác tan xương, để trả thù cho Miếu Xã, rửa hận cho thần nhân. » (Thực lục I, tr.532,533)

Theo tài liệu của Bissachère, trước khi nhận lãnh cái chết thảm khốc, anh em vua Cảnh Thịnh còn bị bắt phải chứng kiến cảnh lính tráng tiểu tiện vào sọt đựng hài cốt của cha (Nguyễn Huệ) và bác (Nguyện Nhạc) (theo hồi ký của Bissachère) trước khi hài cốt bị đem « giả nát rồi vất đi ».
 
Phẩm bình của lịch sử       

Tại miền Nam trước 1975, có hai bộ thông sử tiếng Việt thông dụng là Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim và Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn. Viết về vua Gia Long, cả hai bộ sử đều giống nhau ở một điểm: có phê phán sự hẹp lượng của vua Gia Long qua việc giết hại công thần (vụ án Nguyễn Văn Thành và vụ án Đặng Trần Thường), có kể rõ việc hành hình trả thù Tây Sơn nhưng hoàn toàn không bình luận, phê phán gì đến sự “quá tay” trong việc này. Tại sao?
 
Hoa Bằng, tác giả Quang Trung, Anh hùng dân tộc (Nxb Bốn Phương, Saigon, 1953) khi kết luận thiên biên khảo đầu tiên bằng tiếng Việt về đề tài này đã ngậm ngùi viết:

« Vậy mà Nã [Phá Luân, Napoléon I] được gởi nắm xương trong đền Invalides để cho người sau hoài niệm, viếng thăm ; còn Quang Trung : mả phải đào, xương phải tán, dòng dõi bị chu di, sự nghiệp liệt liệt oanh oanh gói tròn trong một chữ ‘Ngụy’ »

Nhà viết sử Trần Gia Phụng trong Nhà Tây Sơn (Nxb Non Nước, Toronto, 2005) cũng đã có lời bình phẩm nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc:

« Cuộc trả thù được vua Gia Long xem là ‘ nghĩa lớn Kinh Xuân Thu’ nhưng hành hạ di cốt địch thủ trước mắt con cái họ trái hẳn với đạo lý cổ truyền của dân tộc. » (tr.240)

Phê bình mạnh tay, mạnh mẽ hơn có Quách Giao :

Nhà Nguyễn đối với nhà Tây Sơn vô cùng khắc nghiệt. Quật mả Vua Thái Ðức, Vua Quang Trung, chém giết dòng họ, tướng tá nhà Tây Sơn đến thế, Nguyễn Phúc Ánh chưa cho là đủ, còn truyền đào mồ mả của cha ông hai nhà anh hùng áo vải và của những người đã theo nhà Tây Sơn và đã chết trước khi non sông đổi chủ.

Còn đối với Nhà Tây Sơn thì Nguyễn Phúc Ánh chém tất cả dòng họ, từ Vua Bửu Hưng [Cảnh Thịnh], cho tới một em bé mới sanh mà đã lọt vào ngục thất. Lại truyền đào mả Vua Thái Ðức và Vua Quang Trung, nghiền xương đổ xuống bể. Còn sọ thì đem xiềng nơi ngục thất trong Hoàng Cung để làm lọ đi tiểu.

Ðể nhổ cỏ cho sạch gốc, Nguyễn Phúc Ánh sức mọi nơi truy tầm những bà con gần xa của họ Nguyễn Tây Sơn, và những Tướng Tá của Tây Sơn còn trốn tránh nơi sơn dã.

Hai người con Vua Thái Ðức là Văn Ðức, Văn Lương và cháu nội, con Nguyễn Bảo, là Văn Ðẩu, nương náu nơi Mộ Ðiểu, Vùng An Khê. Vua tôi Nhà Nguyễn biết nhưng sợ người Thượng, không dám đến bắt. Mãi đến năm Minh Mạng thứ 12 (1832) thấy tình thế đã yên, ba chú cháu mới đem nhau về thăm quê cũ ở Kiên Mỹ. Bọn bất lương đi mật báo. Quân Nhà Nguyễn đến vây bắt giải về Phú Xuân giết chết.

…Ngót 150 năm, Nhà Nguyễn cố làm cho người người quên Nhà Tây Sơn. Những người yêu nước vẫn luôn nhớ đến Nhà Tây Sơn, ngọn bút yêu nước vẫn chép đi chép lại, vẫn tìm tòi trong nơi khuất tịch những tài liệu còn dấu cất, để viết về Nhà Tây Sơn.

Và tiếng Anh hùng Áo Vải, Anh Hùng Dân Tộc mãi còn vang, khi nhẹ nhàng, khi mạnh mẽ, trên đất nước Việt Nam, từ Nam chí Bắc.

Còn Nhà Nguyễn đã làm được gì?

Có người bảo rằng đã thống nhất Bắc Nam.

Ðó là quên rằng chính Nhà Tây Sơn đã thống nhất Bắc Nam, rồi Nguyễn Phúc Ánh đánh chiếm trên tay Ðông Ðịnh Vương và Cảnh Thịnh. Sau bao phen bể nổi dâu chìm Nhà Nguyễn còn để lại tiếng Rước voi, cõng rắn.

Trăm năm bia đá thời mòn
Nghìn năm bia miệng mãi còn trơ trơ.

(http://tuongvangvn.com/index.php?categoryid=50&p2_articleid=418)
 
Trong văn hóa phương Tây, đánh nhau là đánh nhau nhưng không có chuyện trả thù kẻ chiến bại một cách tàn nhẫn, nhất là đối với người đã chết, Do đó, khi bắt gặp hành động “dã man” này của vua Gia Long, Stanley Karnow, tác giả tiếng tăm bộ sử  VietNam, A History (Penguin Book, 1984) đã viết:
 
“Ông ta tỏ ra chẳng khoan dung chút nào đối với kẻ thù đã chiến bại, dù  đã chết hay còn sống. Binh sĩ của ông đã quật xương cốt của một cặp vợ chồng cầm đầu Tây Sơn đã chết [Nguyễn Huệ], tiểu tiện vào xương cốt đó trước sự chứng kiến của con cái họ và những người này sau đó tay chân bị trói vào 4 con voi và xé nát.” (p.65) (He showed no mercy to his beaten adversaries, dead or alive. His soldiers exhumed the bones of a deceased Tayson leader and his wife and urinated on them before the eyes of their son, whose limbs were then bound to four elephants and ripped apart.)
 
Nếu Nhà Tây Sơn không có Quang Trung Nguyễn Huệ với chiến thắng quân Thanh và quân Xiêm vang dội trong lịch sử thì hành động “vì 9 đời mà trả thù” của vua Gia Long chưa chắc đã bị búa rìu dư luận nhiều như đã xảy ra. Ngoài việc ghi chép khá rõ ràng của Quốc Sử Quán Nhà Nguyễn thì hồi ký sống động của giáo sĩ De la Bissachère về việc hành hình trả thù của vua Gia Long đối với anh em và vua tôi Cảnh Thịnh (2), đã gây tác động tâm lý không nhỏ trong giới sử học Đông Tây (Thực ra ông này không chứng kiến cuộc hành hình mà chỉ nghe ai đó kể lại). Thử đi vào mạng lưới toàn cầu, gõ mấy từ khóa như Gia Long, Tây Sơn, Nguyễn Huệ, thì tha hổ đọc công luận phẩm bình, đa số đều chê Gia Long về việc này. Điều này cũng dễ hiễu thôi vì hào quang chiến thắng quân Xiêm và quân Thanh của vua Quang Trung rực rỡ quá, đã che mất sự thật thê thảm ở bên trong. Thêm vào đó, với mấy chục năm lịch sử được viết dưới nhãn quan xã hội chủ nghĩa, triều Nguyễn do Gia Long khai sáng, đã bị miệt thị thậm tệ, đã ảnh hưởng không ít trên sự nhận thức của người đọc, nhất là giới trẻ. Mặc dầu ngày nay gió đã đổi chiều, đã bắt đầu có sự chuyển biến trong nhận thức về sự nghiệp của Nhà Nguyễn (3) nhưng không thiếu chi người vẫn tư duy trong nếp cũ.
 
Câu hỏi đặt ra

Các sách sử Việt Nam viết về hành vi “tàn ác” trả thù Tây Sơn của vua Gia Long đều lấy tài liệu từ các bộ chánh sử của Nhà Nguyễn (Đại Nam Thục lục đệ nhất kỷ, Đại Nam Liệt Truyện ), trước khi biết đến các chi tiết khác do nguồn sử liệu Tây phương cung cấp. Sử thần Nhà Nguyễn trong Quốc Sử Quán đã không giấu diếm gì cả, viết trắng chuyện này ra cho hậu thế cùng biết, người sau chỉ lặp lại, chỉ thêm lời bình phẩm nặng nể mà không có bớt.

Riêng người viết, trong niềm ngưỡng mộ chiến thắng oanh liệt hào hùng của vua Quang Trung trước quân Xiêm và quân Thanh xâm lăng, ban đầu thì cũng đồng ý với những bình phẩm chê trách hành động của vua Gia Long đối với Tây Sơn là thái quá, tàn nhẫn, nhưng sau đó, khi được biết những nguồn tin khác, không khỏi đắn đo tự hỏi và tìm lời giải đáp.
 
Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát (4)[1] .Ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?

Sau khi làm chủ Bắc hà, vua “Sai chọn người dòng dõi họ Trịnh để giữ việc thờ cúng họ Trịnh. Trước là khi đại giá Bắc phạt, người họ Trịnh ai ai cũng sợ bị giết. Vua thấu rõ tâm tình, xuống chiếu dụ rằng: ‘Tiên đế ta với họ Trịnh vốn là nghĩa thông gia. Trung gian Nam Bắc chia đôi, dần nên ngăn cách, đó là việc đã qua của người trước, không nên nói nữa. Ngày nay, trong ngoài một nhà, nghĩ lại mối tình thích thuộc bao đời, thương người còn sống, nhớ người đã mất, nên lấy tình hậu mà đối xử. Vậy nên cùng báo cho nhau, họp chọn lấy một người trưởng họ, giữ việc thờ cúng để giữ tình nghĩa đời đời.” (Thực lục I, tr.508) Vậy là Trịnh Tư được giao lo việc thờ cúng, họ Trịnh được cấp 500 mẫu ruộng để lấy huê lợi cúng tế hàng năm, 247 người họ Trịnh được xét tha thuế dinh và miễn binh dao (đi lính và chịu sưu dịch).

Ai cũng biết La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, được coi như một Gia Cát Lượng của vua Quang Trung, một cố vấn tối cao, được vua quan trên dưới đều kính nể (4 lần vua khẩn khoản mời ra giúp, cuối cùng nhận chức Viện trưởng Viện Sùng Chính năm 1790, giúp vua chấn chỉnh việc giáo dục, văn hóa, giúp vua chọn đất Nghệ An làm Phượng Hoàng trung đô…). Khi  Nguyễn Vương tái chiếm Phú Xuân, ông đang ở Huế giúp vua Cảnh Thịnh nhưng không chạy theo khi vua đào thoát (hay chạy theo không kịp?) và dường như không bị bị bắt mà chỉ quản thúc tại gia, dù phía Nguyễn Vương biết rõ lý lịch, sau đó Nguyễn Vương đã ra lệnh

“Thả xử sĩ ở Nghệ An là Nguyễn Thiếp về. Thiếp là người xã Nguyệt Áo huyện La Sơn, đậu Hương tiến đời Lê, làm quan huyện Thanh Chương, bỏ quan về nhà. Khi nhà Lê mất, theo lời mời của Nguyễn Quang Toản mà ở lại Phú Xuân. Tới nay vào yết kiến, xin trở về làng. Vua [Nguyễn Vương] dụ rằng ‘Khanh là người tuổi tác, đạo đức, rất được người ta trông cậy. Sau khi trở về núi nên khéo léo đào tạo lấy nhiều học trò để ra sức phò giúp thịnh triều, khỏi phụ tấm lòng rất mực mến lão kính hiền của ta.’ [người viết in đậm]. Bèn sai quan quân đưa về (Thực lục I, tr.445)

Lại năm 1803, phái đoàn do vua Cảnh Thịnh phái đi sứ Nhà Thanh (gồm Lê Đức Thận, Nguyễn Đăng Sở và Vũ Duy Nghi) bị trả về nước, bị quan Bắc thành bắt giải về Kinh, vua Gia Long tha hết cho về quê. Lại khi Bộ Hình tâu xin vua định đoạt số phận của người vợ lẻ Nguyễn Nhạc cùng 2 người em họ tên Đại và Vạn bị bắt thì vua nói: “Vợ lẻ Nhạc là một người đàn bà thôi. Bọn Đại tuy là thân đảng của giặc Nhạc mà không dự binh quyền, nay Nhạc chết rồi, giết đi thì có ích gì?” (Thực lục I, tr.544)

Những chứng dẫn nho nhỏ đó cho thấy vua Gia Long là con người phải chăng, tùy theo người, theo trường hợp mà có quyết định tha hay phạt , chứ không phải bạ đâu giết đó, thà giết lầm hơn bỏ sót. Vậy tại sao giết Tây Sơn chưa đủ, phải hành hạ mới hả, kể cả nắm xương khô. Thù chi mà dữ vậy?
 
Sự thật là đây

Về chuyện vua Gia Long trả thù Tây Sơn, nhà viết sử Trần Gia Phụng đã đi xa hơn các học giả đi trước khi lần đầu tiên ông phân tích chính xác rằng:
 
“Không kể cá nhân ông bị quân đội Tây Sơn truy đuổi nhiều lần suýt chết, vua Gia Long thâm thù nhà Tây Sơn vì ba việc chính: thứ nhất, năm 1777 Định Vương Nguyễn Phúc Thuần [chú ruột vua Gia Long], Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương [em chú bác ruột] và Nguyễn Phúc Đồng [anh ruột] bị quân Tây Sơn bắt giết ở Gia Định. Thứ nhì, hai người em [ruột] của Gia Long là Nguyễn Phúc Mân và Nguyễn Phúc Thiển bị chết về tay quân Tây Sơn năm 1783. Thứ ba, vua Quang Trung cho quật mộ của Nguyễn Phúc Côn (phụ thân của Gia Long), đem hài cốt đổ xuống sông năm 1790.” (Việt Sử Đại Cương, Tập 2, tr.445)
 
Chừng đó nợ máu nghe đã nặng (5 người cật ruột), nhất là món nợ thứ 3, nhẹ vật chất mà nặng tâm linh và đạo đức, ít người biết. Nhưng kể vậy cũng chưa đủ.

Khi đọc câu mở đầu của chiếu bố cáo  lễ hiến phù: “ Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…” * (Thực lục I, tr.532) tôi không khỏi mỉm cười một mình với ý nghĩ : thiệt mấy ông đời xưa văn chương lớn lối quá, cái chi cũng lôi điển tích với sách vở ra, tô vẻ cho long trọng. Nhưng sau đó, khi đọc kỹ Thực lục mới biết mấy chữ vì 9 đời mà trả thù mang một ý nghĩa rất thực, rất cụ thể, bên cạnh màu sắc điển tích văn chương tô điểm.

* “Xuân Thu, Công Dương truyện: Trang công năm thứ 4 chép: Tề Tướng công giết nước Kỷ, vì ông tổ xa đời là Ai công mà phục thù, đời gọi là mối thù 9 đời.” Chú thích của dịch giả Thực lục I, tr.532.
 
Ngày 13/6/1801, Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô Phú Xuân, nơi ông đã vội vã ra đi khi mới 13 tuổi (ta), và ròng rã 27 năm mơ ước được trở về. Tuy đã làm chủ được Phú Xuân  nhưng lực lượng hùng hậu của Tây Sơn Cảnh Thịnh vẫn còn ở bên kia lũy Trường Dục (Quảng Bình), vậy mà đến đầu tháng 8 năm đó đã lo sửa sang lăng mộ tổ tiên và cấp tốc hoàn tất ngay trong tháng. Sao việc này lại làm gấp rút còn hơn cả công tác sửa sang thành trì, xây đồn đắp luỹ để phòng chống Tây Sơn?  Xin đọc kỹ đoạn ghi chép của Thực lục sau đây, có thể thấy được lý do thúc đẩy (những chữ in đậm là do người viết, chữ ghi giữa hai ngoặc đứng [x] là chú giải của người viết):
 
“Tháng 9, ngày Ất hợi [ 9/8/1801], sửa lại sơn lăng.

“Trước kia giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ tham bạo vô lễ, nghe nói chỗ đất phía sau lăng Kim Ngọc (tức lăng Trường Mậu) [lăng của chúa Ninh Nguyễn Phúc Thái] rất tốt, định đem hài cốt vợ táng ở đó. Hôm đào huyệt, bỗng có hai con cọp ở bụi rậm nhảy ra, gầm thét vồ cắn, quân giặc sợ chạy. Huệ ghét, không muốn chôn nữa. Sau Huệ đánh trận hay thua, người ta đều nói các lăng liệt thánh [các chúa Nguyễn] khí tốt nghi ngút, nghiệp đế tất dấy. Huệ bực tức, sai đồ đảng đào các lăng, mở lấy hài cốt quăng xuống vực. Lăng  Hoàng Khảo ở Cư Hóa [lăng Cơ Thánh của Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long] Huệ cũng sai Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ đào vứt hài cốt xuống vực ở trước lăng. Nhà Ngũ ở xã Kim Long bỗng phát hỏa. Ngũ trông thấy ngọn lửa chạy về. Người xã Cư Hóa là Nguyễn Ngọc Huyên cùng với con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài ban đêm lặn xuống nước lấy vụng hài cốt ấy đem giấu một nơi. Đến nay, Huyên đem việc tâu lên. Vua thương xót vô cùng, thân đến xem chỗ ấy, thì vực đã bồi cát mấy chục trượng. Tức thì sai chọn ngày lành làm lễ cáo và an táng lại. Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Ngày Kỷ hợi [1/11/1801], vua thân đến tế cáo, nghẹn ngào sa lệ, bầy tôi đều khóc cả. Sai đổi xã Cư Hóa làm xã Cư Chính, cho dân miễn dao dịch làm hộ lăng. Cho Huyên làm Cai đội (năm Minh Mệnh thứ 11[1830] phong An Ninh bá, lập đền thờ ở núi Cư Chính) con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài tòng quân ở Bình Định cũng được gọi về hậu thưởng cho.” (Thực lục I, tr.466)
 
Gạt ra ngoài những chi tiết hoa lá cành như hai con cọp trong bụi rậm nhảy ra, đang đào mả thì nhà cháy, v.v., đoạn sử ngắn ngủi do Thực lục ghi lại tiết lộ hai điều quan trọng mà ít người biết đến hoặc biết mà vì một lý do nào đó đã lơ đi hoặc chỉ phớt nhẹ nói qua:
 
-Thứ nhất,  Quang Trung Nguyễn Huệ đã đào hết lăng tẩm của 8 đời chúa Nguyễn tại Thừa Thiên, lấy hài cốt ném xuống sông.

Việc này cọng với việc giết chết vị chúa thứ 9 là Định Vương Nguyễn Phúc Thuần tại Long Xuyên năm 1777 thì quả nhiên vua Gia Long tính sổ 9 đời không sai chậy chút nào. Vì vậy có thể nói được rằng chữ 9 đời có một ý nghĩa rất cụ thể.

Đây là 8 đời chúa Nguyễn:

1.Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613);
2.Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635);
3.Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648);

4.Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687)

 5.Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1687-1691);
6.Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725);
7.Chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ (1725-1738);
8.Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765);

Về ông tổ Nguyễn Kim, có lẽ vì không biết đích xác mộ phần nẳm ở đâu trong cái bát ngát của núi Triệu Tường ở Thanh Hóa, nên vua Quang Trung đành phải cho qua mà không tình sổ.

Tám đời chúa Nguyễn này không có hận thù gì với anh em Tây Sơn, đã có công rất lớn đối với dân tộc và đất nước khi kế tục nhau mở nước về phương Nam, đến tận Cà Mau, Châu Đốc, cống hiến cho tổ quốc non một nửa nước, trài dài  từ Phú Yên trở vào Nam, với đất đai trù phú, nguồn lợi dồi dào, rộng hơn lãnh thổ nam tiến của các triều Lý, Trần,  Hồ và Hậu Lê cọng lại. Không có sự nghiệp này thì hậu thế ngày nay lấy chi để khoe  với thế giới rằng “nước ta hình cong như chữ S” với “rừng vàng biển bạc”?!

-Thứ hai: Phần mộ của ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long cũng bị quật lên và hài cốt ném xuống sông.
Ông Nguyễn Phúc Côn là con thứ hai của Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, mất năm 1765, khi con là Nguyễn Phúc Ánh đang còn bé. Khi vua Gia Long lên ngôi Hoàng đế (1806) mới truy tôn cha làm Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế, chứ cho đến khi chết dưới tay quyền thần Trương Phúc Loan, ông chẳng làm vua làm chúa gì. Chỉ vì con ông là Nguyễn Phúc Ánh dám chống lại Tây Sơn mà ông đã không được ngủ yên, lâm vào cảnh con làm cha chịu!

Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả  cho biết thêm một chi tiết khác:

“Theo truyền thuyết, khi Tây Sơn khai quật hài cốt đức Hưng Tổ ném xuống sông thì một hôm Nguyễn Ngọc Huyên bỏ lưới bắt cá, sau ba lần đều thấy cái sọ nằm trong lưới. Huyên cho là sọ của một vị nào anh linh nên kiếm nơi an táng tử tế. Khi vua Gia Long lên ngôi, đi tìm lại hài cốt của thân phụ, nghe người làng tường thuật, ngài cho đòi Ngọc Huyên bảo chỉ chỗ. Khi đào được sọ lên, vua chích huyết ở tay mình cho giọt vào sọ, sọ liền hút những giọt huyết này (lối thử này cho biết mối liên hệ cốt nhục giữa hai người). (tr.193)

Thực lục có nói khi Nguyễn Ngọc Huyên chết thì được lập đền thờ và phong làm An Ninh bá. Ở thượng lưu sông Hương có một ngôi miếu, tục gọi là miếu Ông Chài, chính là miếu ông Huyên vậy.

Trong văn hóa Việt Nam, phận làm con cháu là phải lo gìn giữ mồ mả tiên tổ cha ông. Do đó chúng ta thông cảm với vua Gia Long chỉ trong 2 tháng sau khi tái chiếm Phú Xuân đã vội vã hoàn tất việc tu sửa lăng mộ bởi khi đã biết tình trạng lăng mộ bị phá tanh banh thê thảm như thế thì không một ai có thể chờ đợi được nữa.
 
Trong lịch sử Việt Nam, việc tranh giành quyền lực dẫn đến những hành động giết hại nhau tàn nhẫn không phải là hiếm. Điển hình, để cướp ngôi nhà Lý, Trần Thủ Độ không ngần ngại dồn Lý Huệ Tông vào chỗ chết, với ý đồ nhổ cỏ tận gốc, mặc dù Huệ Tông đã biết thân phận, bỏ ngai vàng, vào tu ở chùa Chân Giáo. Đã thế, Trần Thủ Độ còn bày mưu sập bẫy tôn thất Nhà Lý chôn sống trọn gói (may mà Hoàng tử Lý Long Tường nhanh chân thoát qua tị nạn ở Cao Ly, trở thành thuỷ tổ họ Lý của xứ Đại Hàn ngày nay). Nhưng có lẽ trong cuộc tranh chấp quyền lực chưa có ai trong lịch sử phải trả cái giá 5 mạng người ruột thịt và 9 ngôi mộ cha ông tiên tổ tanh banh với xương cốt không biết đâu tìm như trường hợp vua Gia Long trong khi đối đầu với Tây Sơn để phục hồi cơ nghiệp của ông cha đã tốn công xây dựng.

Ở đời, có vay thì có trả. Nợ nào cũng có tính lãi suất, chỉ có khác là nặng hay nhẹ, không hình thức này cũng hình thức khác. Nếu Quang Trung Nguyễn Huệ không tạo nhân ác thì có thể đã không gặp quả ác.  Hận thù luôn luôn vẫy gọi thù hận là chuyện thường của thế gian, huống chi lại có yếu tố tranh giành quyền lực trong đó, tham lam và sân hận hẳn phải bốc lên ngùn ngụt.

Phải chăng nên thử  tự đặt mình vào địa vị của  vua Gia Long để có nhiều thông cảm và có lời phẩm bình phải chăng hơn.
 
Một vài cảm nghĩ     

Là hậu thế, có lẽ không mấy ai vui khi biết sự thật của tấn thảm kịch Nguyễn Quang Trung và Nguyễn Gia Long. Cả hai, đối với chúng ta, đều có chỗ đáng tôn vinh lẫn chỗ bất cập. Riêng ngưởi viết, từ tấn thảm kịch lịch sử này, học hỏi được một đôi điều, xin gọi là chia sẻ.
 
1/Qua việc điện thư của bạn bè và thân hữu gởi đến tới tấp kèm chuyện “Một ngày lễ Vu lan sầu thảm” của Tịnh Thuỷ,tôi nhận ra rằng té ra loại “lịch sử tiểu thuyết” dễ đi vào lòng người hơn là chính sử khô khan. Đồng ý khi tiểu thuyết hóa lịch sử thì tha hồ cho trí tưởng tượng vẽ vời nhưng cái căn bản của nó xin đừng đổi trắng thay đen. Thực lục ghi rõ vụ hành hình vua tôi anh em Cảnh Thịnh diễn ra ngày giáp tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 tức ngày 7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802. Làm chi có ngày Vu Lan trong đó? Có lẽ tác giả muốn gây ấn tượng cho ngưởi đọc về sự tàn ác khó dung tha của vua Gia Long nên mới lựa một ngày như thế. Tội nghiệp cho vua! Vua chỉ dự lễ hiến phù, không dự cuộc hành hình, chỉ sai quan thi hành, nên cuộc đối thoại tay đôi giữa vua và bà Bùi Thị Xuân cũng chỉ là cơ hội bày ra để mạt sát thoải mái. Tội nghiệp.
 
2/Việc cải táng mộ ông Nguyễn Phúc Côn có thể hiểu được, vì tìm được hài cốt và hài cốt này đã được vua Gia Long xác tín rằng đó là di cốt của người đã sinh thành ra ông. Nhưng với 8 chúa thì sao? Sử nói Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Đồng ý là xây lên cao, làm cho to lớn đẹp đẽ hơn xưa, nhưng hài cốt không tìm thấy thì chôn cái gì trong đó? Chẳng lẽ chỉ là một ngôi mộ trống không? Một cái mả gió?

Trong một dịp về thăm Huế sau 7 năm “đi học làm người tốt” (!), tôi được biết sau năm 1975, do đói quá, người ta đã làm bậy. Việc đào trộm mồ mả lăng tẩm giới quyền quí đã xảy ra với ý đồ tìm vàng bạc châu báu tùy táng. Người bạn kể cho nghe (tôi chưa có cơ hội kiểm chứng) khi cụ Vương Hồng Sển, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng của Miền Nam,  biết được kẻ gian đã kiếm được nữ trang trong lăng Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức) và đem bán thì cụ đã kêu trời. Dưới cái nhìn cơm áo của kẻ trộm, đó là vàng, tính theo thời giá của chỉ và lượng. Dưới cái nhìn của cụ Vương, đó là đổ cổ vô giá của quốc gia! Nhưng đó không phải là chi tiết tôi quan tâm, vì bảo vật quốc gia người ta bán ra nước ngoài nhiều rồi. Chi tiết lý thú mà tôi nghe được đã giúp tôi hiểu biết thêm và lý giải thắc mắc nêu trên. Chi tiết đó là, bọn kẻ trộm, khi đào đến quan tài của một ông chúa nào đó đã không thấy hài cốt mà chỉ thấy hình người ta bằng gỗ! Điều này xác nhận giả thiết mà tôi đã nghĩ trong đầu nhưng không biết cách nào để kiểm chứng, ấy là tục chiêu hồn nạp táng.

“Chiêu hồn nạp táng là gì?

“Trong gia phả các họ rất chú trọng mục: Mộ táng ở đâu. Trong mục này có một số trường hợp ghi chú: “Chiêu hồn nạp táng”.

Đó là những ngôi mộ không có tử thi, hài cốt, mộ người chết trận, chết đuối hay do thú dữ vồ… không tìm được tử thi. Thân nhân làm hình nhân và làm lễ an táng theo như lễ an táng thông thường.

Được nghe các cụ kể lại rằng: chất liệu làm hình nhân, có địa phương dùng cây núc nác (còn gọi là sò đo thuyền, mộc hồ điệp, nam hoàng bá, bạch ngọc nhi). Núc nác là loại gỗ mềm và xốp, dễ tạo hình, chôn dưới đất lâu hoai, lại dễ kiếm vì mọc ở nhiều nơi. Có địa phương dùng bùn lấy ở giữa dòng sông, có địa phương dùng mùn đào ở giữa ngã tư đường cái.
Hình nhân được đẽo gọt hoặc nhào nặn thô sơ, có đầu mình chân tay là được (vì đa số không phải là nghệ nhân). Kích thước của hình nhân khoảng 30-40 cm chiều dài. Thi hài tượng trưng đó cũng được khâm liệm, đưa vào áo quan làm bằng gỗ vàng tâm, kích thước nhỏ bé, hoặc đưa vào tiểu sành. Trên hình nhân có phủ lên linh vị viết trên giấy kim tuyến, nội dung giống như linh vị đặt ở bàn thờ. Trước khi làm lễ an táng có mời thầy cúng làm bùa ấn phù phép để vong hồn nhập vào hình nhân.

Lễ an táng và các lễ các lễ khác cũng tiến hành như tang lễ thông thường.
 (http://www.kythu.net/Tang_le/Chieu-hon-nap-tang-la-gi/84.chtml)

2/ Hình như có một nhà tư tưởng nào đó đã nói: “Làm thầy thuốc lầm thì chết một người; làm thầy địa lý lầm thì giết một họ; làm chính trị lầm thì giết một nước, làm làm văn hóa lầm giết cả một đời.”

Dưới ảnh hưởng của môn phong thủy Trung Hoa, người Việt từ vua cho chí dân đều tin rằng âm phần tổ tiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh và tương lai của con cháu. Bởi vậy ai cũng mong muốn tìm cho được một huyệt mả tốt để được kết phát, để con cháu được hưởng phước vinh hoa phú quí dài lâu. Bởi vậy, để tận diệt kẻ thù không gì bằng triệt long mạch, phá huyệt mộ, đào mả cha ông nhà người ta lên. Làm thế thì chắc chắn con cháu không thể nào ngóc đầu lên được, lấy gì mà chống trả. Quang Trung Nguyễn Huệ, ngoài việc sử dụng binh lực đánh Nguyễn Vương chạy dài ra biển, trốn qua đến Xiêm La hai lần, vẫn không quên sữ dụng chiêu thức này để hỗ trợ. Và để cho chắc ăn, thà phá lầm hơn bỏ sót, đã không những quật mồ thân sinh vua Gia Long là huyết thống trực hệ mà còn quật mồ cả 8 đời chúa Nguyễn xa lắc. Thật là một sự tính toán chu đáo.
 
Tuy toan tính chu đáo như vậy nhưng Nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ chỉ tồn tại có 14 năm (1788-1802, 1788 là năm vua Quang Trung đăng quang trước khi ra Bắc phá quân Thanh), trong khi Nguyễn Vương, mặc dầu bị đánh trúng tử huyệt (theo quan niệm phong thủy) nhưng sau 25 năm bền bĩ chiến đấu nhọc nhằn, đã thống nhất đất nước, phục hưng được cơ nghiệp tổ tiên, lập ra triều đại mới, tồn tại 143 năm (1802-1945).

Vậy là thế nào? Chẳng lẽ phong thủy hoàn tòan là một thứ tin mê tín dị đoan? Không, không thể vì vậy mà kết luận phong thủy một cách hồ đổ như thế được. Cái nước Mỹ của khoa học kỹ thuật tiến bộ nhất thế giới này cũng đang chạy theo Feng Shui (Phong thủy) của nền văn minh cổ Trung Hoa, có thua chi Việt Nam xưa và nay đâu, có điều họ chú trọng đến dương cơ hơn âm phần. Như vậy phải có một yếu tố gì khác làm cho độc chiêu do vua Quang Trung phát ra đã không có hiệu quả. Tôi chợt nhớ đến chữ Đức trong câu ca dao

Người trồng cây hạnh người chơi,
Ta trồng cây đức để đời về sau

Trong 8 đời chúa Nguyễn, không thấy ông nào làm điều gì thất đức. Ông nào cũng lo làm cho dân giàu nước mạnh. Lịch sử cuộc nam tiến đi từ Phú Yên đến Cà Mau-Châu Đốc chứng minh điều đó. Hậu thế đã được thừa hưởng biết bao phúc lợi từ sự nghiệp nam tiến đó!

Có 3 ông chúa mang danh hiệu khác người: Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Ngãi. Nghe nôm na và thân tình biết mấy. Nếu cai trị mà không được dân thương mến và biết ơn  thì làm chi có những cách gọi kém vương giả nhưng giàu tình cảm như thế?
Có đến 4 ông chúa, ngoài tên và vương hiệu, lại tự xưng là đạo nhân, như Thiên Túng đạo nhân (chúa Minh Nguyễn Phúc Chu), Vân Tuyền đạo nhân (chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ) hay Từ Tế đạo nhân (Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), Khánh Phủ đạo nhân (Định Vương Nguyễn Phúc Thuần). Đó cũng là một nét đặc biệt.

Nhiều ông chúa xây chùa (chúa Tiên lập chùa Thiên Mụ, Long Hưng, Bảo Châu, Kính Thiên; chúa Hiền lập chùa Túy Vân) hay  trùng tu chùa, đúc chuông, thỉnh sư giảng Pháp (chúa Minh).  

 Có lẽ nhờ biết tu nhân tích đức mà Đức năng thắng số, Số bất cập đức nên  tai qua nạn khỏi, như câu tục ngữ mà ông bà xưa thường nói để dạy khôn cho con cháu: Trời hại mới lo, người hại như phấn nhồi. Đó là nói nôm na, cho có vẻ chính xác và minh triết hơn thì đấy chính là nhân quả nghiệp báo. Theo thiển ý, có lẽ hiểu theo cách này mới giải thích được chỗ bất cập của phong thuỷ.

Chú thích :

(1) Mãi đến mùa hạ năm 1806 (Bính dần) vua mới chánh thức làm lễ lên ngôi Hoàng đế tại điện Thái Hoà.
 
(2) Có thể xem: La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine, hồi ký của Bissachère viết năm 1807 do Charles B. Maybon biên tập và xuất bản năm 1920, từ trang 118 đến trang 120 tronghttp://www.archive.org/stream/larelationsurlet00labi#page/n1/mode/2up
 
(3) Ngày 18 và 19/10/2008 tại Thanh Hóa có một cuộc hội thảo « Đánh giá lại chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn » được phóng viên ghi nhận là « một hội thảo lịch sử », có lẽ vì phải chuẩn bị tài liệu đến 20 năm và tỉnh Thanh Hóa đã tài trợ gần một tỉ đồng VN để tổ chức, Có hai nhận xét quan trọng được ghi nhận :

« Theo GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, cần có nhận thức mới về nhà Nguyễn trong lịch sử dân tộc trên tinh thần “công minh lịch sử”.
…………………….
« Tổng kết hội thảo, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khẳng định: Cuộc hội thảo lần này đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi không chỉ của giới khoa học mà còn của dư luận xã hội, chứng tỏ những nhận thức trước đây về vai trò của chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử dân tộc theo hướng phê phán và phủ định đã không còn thỏa đáng nữa » (http://www.thethaovanhoa.vn/133N20081020034945468T0/danh-gia-lai-chua-nguyen-va-vuong-trieu-nguyen-mot-hoi-thao-lich-su.htm
 
Tài liệu tham khảo :
 
-Quốc Sử Quán , Đại Nam Thực Lục, I, bản dịch của Nguyễn Ngọc Tỉnh, Viện Sử Học, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2002
-Trần Gia Phụng, Nhà Tây Sơn, Nxb Non Nước, Toronto, Canada, 2005
-Stanley Karnow, VietNam, A History, Penguin Book, 1984
-Hoa Bằng, Quang Trung, Anh hùng dân tộc, Bốn Phương, Saigon, 1953
-Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phúc Tộc, Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả, Nxb Thuận Hòa, Huế, 1995
-Charls,B. Maybon, La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine,http://www.archive.org/stream/larelationsurlet00labi#page/n1/mode/2up.
-Chiêu hồn nạp táng là gì ? http://www.kythu.net/Tang_le/Chieu-hon-nap-tang-la-gi/84.chtml 

(4) Vua Gia Long có một thanh gươm mang tên Qui Y. Sử ghi rằng thanh gươm này có tính ưa giết người (hiếu sát), Tối hôm nào gươm tự động thóat ra khỏi vỏ thì hôm sau thế nào cũng có người phạm tội bị chém bằng thanh gươm đó. Vua Gia Long ghét tính hiếu sát của gươm bèn đem qui y cửa Phật và đặt tên là Qui Y (Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu)
 
[1] Vua Gia Long có một thanh gươm mang tên Qui Y. Sử ghi rằng thanh gươm này có tính ưa giết người (hiếu sát), Tối hôm nào gươm tự động thóat ra khỏi vỏ thì hôm sau thế nào cũng có người phạm tội bị chém bằng thanh gươm đó. Vua Gia Long ghét tính hiếu sát của gươm bèn đem qui y cửa Phật và đặt tên là Qui Y (Quốc Triếu Chánh Biên Toát Yếu)

Chuyện cổ tích người lớn
Thượng Đức thương nhìn lại

Chính ủy Bùi Văn Tùng, người thảo “Lời tuyên bố đầu hàng cho Tổng thống Ngụy” 30/ 4/ 1975 xứng đáng được phong Anh hùng!. Báo Điện tử Tầm nhìn ngày 24 tháng 4 năm 2020, tác giả Thu Hằng-Thùy Trang viết: Người thảo ra văn kiện lịch sử ngắn gọn, đanh thép, quan trọng cho việc chuyển giao chế độ như thế thực sự xứng đáng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang

Miền Nam được giải phóng, nước nhà được hoàn toàn độc lập đã 45 năm, nhiều người lính Giải phóng có công trong thời khắc lịch sử vô cùng quan trọng làm nên ngày 30/4/1975 chấn động địa cầu đã được phong Anh hùng LLVT, như Đại tá Bùi Quang Thận, Trung tướng Phạm Xuân Thệ. Nhưng Trung tá Chính ủy Lữ đoàn Tăng-Thiết giáp 203 Bùi Văn Tùng – người thảo Lời tuyên bố đầu hàng cho Tổng thống Ngụy Dương Văn Minh đọc cáo chung chế độ tay sai của xâm lược Mỹ, đến nay vẫn chưa được phong danh hiệu Anh hùng mà ông xứng đáng được nhận. Đó là trăn trở mà NSUT, Đạo diễn, nhà quay phim chiến trường Phạm Việt Tùng đau đáu muốn đề xuất đến Quân đội và Nhà nước.

Sự thật lịch sử ngày 30/4/1975 qua lăng kính của nhà quay phim chiến trường Phạm Việt Tùng

Đạo diễn, NSUT Phạm Việt Tùng thuộc thế hệ quay phim đầu tiên của Truyền hình Việt Nam, người cùng đoàn với nhà báo Huỳnh Văn Tiểng đã vinh dự có mặt tại Dinh Độc lập vào ngày đầu tiên ta giải phóng Sài Gòn, kết thúc cuộc chiến trường kỳ gian khổ, non sông thu về một mối. Hơn ai hết, là người quay phim đồng hành và chứng kiến nhiều mốc lịch sử quan trọng của dân tộc, Đạo diễn Việt Tùng thấm thía tầm quan trọng của sự thật lịch sử với việc giáo dục thế hệ trẻ nước nhà.

Thời điểm giữa những năm 2.000 xôn xao các hội thảo với mục đích khẳng định người thảo “Lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Ngụy” là Đại úy Phạm Xuân Thệ (thời điểm giữa những năm 2.000 các hội thảo tổ chức rùm beng thì ông Phạm Xuân Thệ đang là Trung tướng). Trong khi thực tế lịch sử mà các nhân chứng cả 2 bên (ta và Ngụy) có mặt tại Dinh Độc lập trưa 30/4/1975 đều khẳng định người làm nên lịch sử đó là Trung tá Bùi Văn Tùng – Chính ủy Lữ Đoàn Tăng-Thiết giáp 203 (đã nghỉ hưu với quân hàm Đại tá) và chính sử Việt Nam trong bộ sách “Nam bộ kháng chiến 1954-1975” đã xuất bản, được Đảng-Nhà nước phê duyệt cũng đã khẳng định người thảo “Bản tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Ngụy là Chính ủy Bùi Văn Tùng”.

Nhà báo Phạm Việt Tùng trăn trở lắm, tại sao lại có những người muốn thay đổi sự thật lịch sử như vậy? Làm sao để trả lại cho lịch sử tính chân thực của nó, cho thế hệ con cháu mai sau có niềm tin vào chính sử? Đó là lý do năm 2005 Phạm Việt Tùng quyết tâm làm bộ phim Tài liệu “Dinh Độc lập trưa 30/4/1975” (do Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh sản xuất). Bộ phim đã từng gây nhiều tranh cãi! Đằng sau đó là cả một câu chuyện dài về những ngày ông đi tìm tư liệu, quyết liệt đấu tranh cho sự thật lịch sử theo đúng những gì nó diễn ra…

Từ câu chuyện “4 chàng ngự lâm” – 4 người lính giải phóng trên chiếc xe tăng 390 anh dũng đã húc tung cánh cổng Dinh, đưa quân Giải phóng vào bắt sống nội các Ngụy, là những nhân chứng khẳng định Chính ủy của họ – Trung tá Bùi Văn Tùng đã thảo “Lời tuyên bố đầu hàng” cho Tổng thống Ngụy và ông cũng thảo luôn “Lời tiếp nhận đầu hàng” của Quân Giải phóng. Đạo diễn Việt Tùng đã đi tìm gặp hàng loạt nhân chứng lịch sử như: ông Nguyễn Hữu Thái – Chủ tịch Tổng Hội Sinh viên Sài Gòn 1975, người dẫn chương trình trong buổi phát thanh lịch sử trưa 30/4/1975.

“Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng” năm ấy; Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh – Phó Tổng Tham mưu trưởng Việt Nam cộng hòa; Nhà Sử học Nguyễn Nhã đưa ra cuộn băng ghi âm mà ông đã ghi lại toàn bộ sự kiện phát trên Đài vào trưa 30/4/1975, một bằng chứng vô cùng quan trọng; rồi nghe Đại tá Bùi Văn Tùng trực tiếp thuật lại sự việc ngày hôm đó. Và thật đáng mừng, lời kể của các nhân chứng trong cuộc hoàn toàn trùng khớp với nhau, trùng khớp với nội dung trong cuốn băng ghi âm chương trình phát thanh mà nhà Sử học Nguyễn Nhã cung cấp, đều khẳng định Chính ủy Bùi Văn Tùng là nhân vật đã làm nên lịch sử đó!

chinh uy bui van tung nguoi thao loi tuyen bo dau hang cho tong thong nguy 3041975 xung dang duoc phong anh hung
Đạo diễn Việt Tùng gặp gỡ Đại tá Bùi Văn Tùng và Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh để nghe lời kể của chính những người trong cuộc

Có được cuộn băng, Đạo diễn Việt Tùng mừng như bắt được vàng. Ông trăn trở suy nghĩ cả đêm, rồi bật dậy nghe lại đoạn băng và lấy quyển sách ông Phạm Xuân Thệ viết ra so sánh. Đây rồi! Đây mới là điểm mấu chốt! Trong đoạn băng là “Quân đội hạ vũ khí” chứ không phải là “Chính quyền hạ vũ khí” như ông Thệ nói. Vì Chính quyền thì lấy đâu ra vũ khí! Đó chính là sự khác nhau về ý thức chính trị của một người là Trung tá – Chính ủy, làm công tác Đảng!

Trong khi Đạo diễn Việt Tùng cùng với ekip đi tìm chứng cứ nhằm chứng minh tính chân thực của lịch sử, thì may mắn đã đến khi xuất hiện nữ nhà báo Gallassch Kelley – phóng viên truyền hình CHLB Đức (đóng chi nhánh tại Mỹ, bà cũng là người Mỹ), đến Việt Nam tìm gặp Chính ủy Bùi Tùng. Bà là vợ của nhà báo Borries Gallassch (PV báo Tấm gương-CHLB Đức, PV chiến trường, là 1 trong 2 nhà báo hiếm hoi có mặt tại Dinh Độc lập cùng với nội các Ngụy sáng 30/4/1975).

Borries Gallassch trở thành một nhân chứng quan trọng của lịch sử Việt Nam. Ngay sau ngày VN thống nhất, Borries Gallassch đã viết và tập hợp các bài phóng sự của các phóng viên nước ngoài khác viết về ngày giải phóng 30/4/1975 của VN thành cuốn sách “Thành phố Hồ Chí Minh – thời khắc số 0” xuất bản 9/1975 bằng tiếng Đức tại CHLB Đức. Trong cuốn sách này có in tấm ảnh Borries Gallassch ngồi cạnh Tổng thống Ngụy Dương Văn Minh ngay tại đài phát thanh, đó chính là lúc ông giúp ghi âm Tổng thống Minh đọc Tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Cuốn sách mà bà Gallasch Kelley mang tới đã trở thành một vật chứng vô cùng quan trọng.

chinh uy bui van tung nguoi thao loi tuyen bo dau hang cho tong thong nguy 3041975 xung dang duoc phong anh hung
Cuốn sách của nhà báo Gallassch trở thành chứng cứ quan trọng chứng minh người Thảo bản đầu hang cho Tổng thống Ngụy là ông Bùi Văn Tùng

Trong cuốn sách đó Gallassch có bài viết riêng về sự kiện này: “Cuối cùng mọi người đã sẵn sàng nhưng không ai trong số người này biết sử dụng máy ghi âm. Chính ủy Tùng hướng dẫn rõ ràng cho chúng tôi những việc tôi phải làm: Minh cần phải đọc lại bản tuyên bố đầu hàng vào máy ghi âm của tôi, việc này lặp đi lặp lại 3 lần. Lần đầu tiên Minh chần chừ bởi vì ông được yêu cầu phải đọc “Tôi, Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn”, nhưng ông ấy muốn nói: “Tôi Đại tướng Dương Văn Minh ra lệnh cho quân đội hạ vũ khí đầu hàng”.

Họ tranh luận qua lại và cuối cùng đi đến thỏa thuận, không nhượng bộ ông Minh. Ông Minh đã phải nói đúng như bản mà Chính ủy Tùng đã thảo”. Cũng theo nhà báo Gallassch: “Ông viết lên một tờ giấy màu xanh. Chính ủy Tùng đã rất khó viết. Ông ngồi bất động trong khi thảo ra được một vài từ rồi đến từ nữa, rồi lại thay thế bằng những từ khác. Sau 30 năm chiến đấu cho một mục đích, thật là khó để biết phải viết như thế nào”. Ông Nguyễn Hữu Thái cũng xác nhận “Phải sau 15-20 phút, ông Tùng mới thảo xong bản Tuyên bố đầu hàng cho Tướng Minh”.

Cuối cùng, sự thật luôn chiến thắng. Sự kiện Trung tá Bùi Văn Tùng – nguyên Chính ủy Lữ đoàn Tăng – Thiết giáp 203 mới chính là người thảo bản đầu hàng cho Dương Văn Minh đã chính thức được ghi vào Lịch sử Quân sự Việt Nam.

chinh uy bui van tung nguoi thao loi tuyen bo dau hang cho tong thong nguy 3041975 xung dang duoc phong anh hung
Đại tá Bùi Tùng (năm 2007) đến Đài Phát thanh, thuật lại toàn bộ sự việc trưa 30/4/1975
chinh uy bui van tung nguoi thao loi tuyen bo dau hang cho tong thong nguy 3041975 xung dang duoc phong anh hung
Nhà sử học Nguyễn Nhã nghe lại băng ghi âm 30/4/1975

“Đại tá Bùi Văn Tùng – người bộ đội Cụ Hồ chân chính”

Giờ phút toàn thắng của dân tộc cũng là giờ cáo chung chính quyền Ngụy tay sai đế quốc Mỹ xâm lược, Chính ủy Bùi Văn Tùng – người lính bộ đội Cụ Hồ kịp thời ra mệnh lệnh, tổ chức việc buộc người đứng đầu chính quyền Ngụy đầu hàng không điều kiện, chấm dứt cuộc chiến tranh đã tốn biết bao máu xương. Bằng trí tuệ và trực giác của một người có trình độ học vấn cao, làm chính trị và công tác Đảng trong lực lượng vũ trang cách mạng, trong giờ khắc cốt tử ấy, Chính ủy Bùi Tùng đã trở thành biểu trưng cho hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ, đã sống, chiến đấu và rèn luyện theo lời dạy của Bác Hồ kính yêu. Con người được đào tạo, có trình độ, rất thông minh, mẫn tiệp và hết sức khiêm tốn ấy, xứng đáng được tôn vinh.

Đạo diễn Việt Tùng chia sẻ: “Tôi rất cảm phục ông Bùi Tùng, ông là hiện thân của hình mẫu bộ đội Cụ Hồ chân chính. Những gì đẹp nhất đều hội tụ ở ông. Ông ấy không bao giờ nói về mình, lúc nào cũng “tôi có công gì đâu”, “đó là công lao của cả quân đội ta, của cả dân tộc ta”. Ông luôn một lòng theo Đảng. “Một lần sau ngày Giải phóng, trong cuộc họp quân chính có Chủ tịch Tôn Đức Thắng tham dự, ông Tùng rất khiêm tốn cho rằng mình cấp tá nên ngồi ở cuối cùng của hội trường. Khi được mời lên để Bác Tôn hôn, Bùi Tùng lúc này mới từ tít cuối hội trường đi lên, mọi người ai cũng ngạc nhiên. Ông luôn cho rằng mình là cán bộ chính trị, thảo bản đầu hàng là hoàn thành nhiệm vụ, chứ công lao là của biết bao anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống, là của cả dân tộc Việt Nam, ta thắng Mỹ bởi đó là cuộc chiến tranh nhân dân. Một con người có công lớn nhưng khiêm nhường như thế, thử hỏi làm sao chúng ta không yêu thương, quý trọng?”.

Phạm Việt Tùng luôn đau đáu mong muốn Đại tá Bùi Văn Tùng được phong một danh hiệu chính thức. Bởi đất nước ta luôn công bằng. Những người như ông Bùi Quang Thận, ông Phạm Xuân Thệ đều đã được phong danh hiệu Anh hùng, thì người thảo ra 2 văn kiện lịch sử ngắn gọn, đanh thép, quan trọng (văn kiện Tuyên bố đầu hàng của Tổng thống ngụy và văn kiện Quân Giải phóng tiếp nhận đầu hàng) cho việc chuyển giao chế độ, chấm dứt chiến tranh như thế, thực sự xứng đáng được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT! Đại tá Bùi Tùng giờ đây đã ngoài 90, người ngồi xe lăn, miệng nói không rõ, ăn phải bón. Dẫu biết ông chẳng ham muốn gì danh lợi, nhưng ông xứng đáng được phong danh hiệu cao quý. Có như vậy thì mỗi dịp kỷ niệm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả dân tộc hòa chung một niềm vui, chính con cháu ông, đồng đội của ông cũng thấy tự hào, và quan trọng là tạo niềm tin cho thế hệ trẻ.

Những người anh hùng như Đại tá Bùi Văn Tùng sẽ mãi lưu danh sử sách, được các thế hệ sau biết đến và ghi ơn!

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và học Cây Lương thực Dạy và HọcTình yêu cuộc sốngKim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Chuyện cổ tích người lớn

CỔ TÍCH CHO NGƯỜI LỚN
Hoàng Kim


Dọn vườn thời Covid19. Đọc Ngụ ngôn thời @ của anh Chiêm Lưu Huy vui thích bởi câu: “Biết cãi lý với cáo nữa cũng vô ích, may mà chưa mất mạng, vịt bèn từ từ bơi ra chỗ nước sâu và giữ khoảng cách an toàn. Cáo đứng trên bờ nuốt nước miếng, thèm nhỏ dãi”. CHUYỆN CỔ TÍCH NGƯỜI LỚN Đọc ngụ ngôn thời @ COVID19 NEWS Tại sao thế giới ngừng hoạt động vì COVID-19 mà không phải là Ebola, SARS hay cúm lợn? Những ảnh hưởng trên toàn thế giới của đại dịch COVID-19 hiện nay bao gồm: thiệt hại sinh mạng con người, sự bất ổn về kinh tế và xã hội,[34][35] tình trạng bài ngoại và phân biệt chủng tộc đối với người gốc Trung Quốc và Đông Á, việc truyền bá thông tin sai lệch trực tuyến và thuyết âm mưu về virus.[36][37] https://hoangkimlong.wordpress.com/category/covid19-news/

hoangkimvn
Đọc Ngụ ngôn thời @

CÁO VÀ VỊT
Lưu Huy Chiêm


1 – Mới chập choạng tối cáo đã rình mò bắt trộm vịt. Thấy động, vịt kịp nhảy ào xuồng hồ nước. Thoát chết, vịt vội kêu cứu và lớn tiếng tố cáo cáo ỷ mạnh hiếp yếu, vi phạm luật rừng.

2 – Cáo chẳng những không bẽ mặt mà còn trơ trẽn nói : Luật rừng là luật nào ?! Hổ, báo bắt heo, nai và cả cáo này thì cáo bắt thỏ, gà, vịt,… Ta mà biết bơi thì nhà ngươi hãy coi chừng.

3 – Biết cãi lý với cáo nữa cũng vô ích, may mà chưa mất mạng, vịt bèn từ từ bơi ra chỗ nước sâu và giữ khoảng cách an toàn. Cáo đứng trên bờ nuốt nước miếng, thèm nhỏ dãi.

COVID19 NEWS tích hợp và lưu trữ thông tin cập nhật https://hoangkimlong.wordpress.com/category/covid19-news/; Cập Nhật Chính Thức | COVID-19 tại Việt Nam | MOH.gov.vn; Đại dịch COVID-19 theo quốc gia và vùng lãnh thổ; https://moh.gov.vn/web/dich-benh/van-ban-chi-dao-dieu-hanh; CORONA: Tại sao số ca nhiễm ở Việt Nam  thấp? Phỏng vấn GS TS Nguyễn Sĩ Huyên; Thực hiện: Tôn Thất Thông.

Đại dịch COVID-19 theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thông tin cập nhật đến 17 tháng 4 năm 2020:

COVID-19 là một đại dịch bệnh truyền nhiễm với tác nhân là virus SARS-CoV-2, hiện đang ảnh hưởng và gây thiệt hại trên phạm vi toàn cầu.[9] Dịch bệnh này bắt đầu xuất hiện từ tháng 12 năm 2019,[b] với tâm dịch đầu tiên được ghi nhận là thành phố Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắcmiền Trung Trung Quốc, bắt nguồn từ một nhóm người bị mắc bệnh viêm phổi không rõ nguyên nhân, giới chức y tế địa phương xác nhận trước đó nhóm người này đã có tiếp xúc, chủ yếu là với những thương nhân buôn bán và làm việc tại chợ bán buôn hải sản Hoa Nam, nơi bày bán và giết mổ nhiều loài động vật hoang dã và được cho là địa điểm bùng phát dịch bệnh đầu tiên, tuy nhiên, kết luận này hiện vẫn đang còn gây nhiều tranh cãi. Các nhà khoa học Trung Quốc sau đó đã tiến hành nghiên cứu và phân lập được một chủng loại coronavirus mới, được Tổ chức Y tế Thế giới lúc đó tạm thời gọi là 2019-nCoV,[c]trình tự gen giống ít nhất 79,5% với SARS-CoV trước đây.[10][11][12] Sự lây nhiễm từ người sang người đã được xác nhận cùng với tỷ lệ bùng phát dịch tăng nhanh vào giữa tháng 1 năm 2020.[13]

Thời gian ủ bệnh từ 2 đến 14 ngày,[d][15] đã có bằng chứng cho rằng bệnh có thể truyền nhiễm trong khoảng thời gian này và vài ngày sau khi hồi phục. Triệu chứng phổ biến của bệnh bao gồm sốt, hokhó thở, có thể gây thiệt mạng trong trường hợp nghiêm trọng.[16] Các ca nghi ngờ đầu tiên được báo cáo vào ngày 31 tháng 12 năm 2019, với các triệu chứng đầu tiên xuất hiện khoảng hơn ba tuần trước đó, vào ngày 8 tháng 12 năm 2019. Chợ Hoa Nam đóng cửa vào ngày 1 tháng 1 năm 2020 và những bệnh nhân có triệu chứng được cách ly. Sau đó, những người tiếp xúc gần gũi với người bị nghi ngờ mắc bệnh đã được theo dõi. Ngày 9 tháng 1 năm 2020, ca tử vong do SARS-CoV-2 đầu tiên xảy ra ở Vũ Hán.[17][18][19]

Các ca nhiễm virus đầu tiên được xác nhận bên ngoài Trung Quốc bao gồm hai người phụ nữ ở Thái Lan và một người đàn ông ở Nhật Bản.[20][21][22] Có những mối lo ngại về việc dịch sẽ lây rộng hơn nữa trong mùa du lịch cao điểm của người Trung Quốc vào dịp Tết Nguyên Đán.[23]

Ngày 23 tháng 1 năm 2020, chính phủ Trung Quốc quyết định phong tỏa thành phố Vũ Hán, toàn bộ hệ thống giao thông công cộng và hoạt động xuất – nhập đều bị tạm ngưng.[24] Cho tới ngày 24 tháng 1 năm 2020, một số thành phố lân cận cũng bị cô lập để khống chế sự lây lan của dịch bệnh bao gồm Hoàng Cương, Ngạc Châu, Xích Bích, Kinh Châu, Chi Giang.

Ngày 11 tháng 2 năm 2020, Ủy ban Quốc tế về Phân loại Virus (ICTV) đã đặt tên chính thức cho chủng virus corona mới này là SARS-CoV-2.[25][26] Vào đêm ngày 11 tháng 3 năm 2020 theo giờ Việt Nam, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã ra tuyên bố chính thức, gọi “COVID-19” là “Đại dịch toàn cầu”.[7][8][27][28][29][30]

Tính đến ngày 15 tháng 4 năm 2020, đã có hơn 2 triệu ca nhiễm COVID-19 được xác nhận trên toàn cầu với trên hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ,[31] với hơn 127.000 ca tử vong. Trong đó, có hơn 491.000 ca đã phục hồi.[32]

Phản ứng đáp trả của chính phủ các quốc gia trên thế giới nhằm bảo vệ sức khỏe người dân cũng như các nhóm cộng đồng trên toàn cầu đã được nhanh chóng tiến hành, bao gồm: hạn chế đi lại, phong tỏa kiểm dịch, ban bố tình trạng khẩn cấp, sử dụng lệnh giới nghiêm, tiến hành cách ly xã hội, hủy bỏ các sự kiện đông người, đóng cửa trường học và những cơ sở dịch vụ, kinh doanh ít quan trọng, khuyến khích người dân tự nâng cao ý thức phòng bệnh, hạn chế ra ngoài, đồng thời chuyển đổi mô hình hoạt động kinh doanh, học tập, làm việc từ truyền thống sang trực tuyến. Một số ví dụ tiêu biểu có thể kể đến như: phong tỏa để kiểm dịch toàn bộ tại Ý và tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc; các biện pháp giới nghiêm khác nhau ở Trung Quốc và Hàn Quốc; phương pháp sàng lọc tại các sân bay và nhà ga; hạn chế hoặc hủy bỏ các hoạt động du lịch tới những khu vực, vùng, quốc gia có nguy cơ nhiễm dịch cao,… Ngoài ra, các trường học cũng đã phải đóng cửa trên toàn quốc hoặc ở một số vùng tại hơn 160 quốc gia, ảnh hưởng đến 87% học sinh, sinh viên trên toàn thế giới, tính đến ngày 28 tháng 3 năm 2020.[33]

Những ảnh hưởng trên toàn thế giới của đại dịch COVID-19 hiện nay bao gồm: thiệt hại sinh mạng con người, sự bất ổn về kinh tế và xã hội,[34][35] tình trạng bài ngoại và phân biệt chủng tộc đối với người gốc Trung Quốc và Đông Á, việc truyền bá thông tin sai lệch trực tuyến và thuyết âm mưu về virus.[36][37]

Đại dịch COVID-19 tại Việt Nam theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Tiếng Việt thông tin cập nhật đến 17 tháng 4 năm 2020:

COVID19 do virus SARS-CoV-2 gây ra được xác nhận lần đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 23 tháng 1 năm 2020.[1] Tính đến ngày 17 tháng 4, Việt Nam ghi nhận 268 ca nhiễm, trong đó có 198 bệnh nhân đã xuất viện và chưa ghi nhận trường hợp tử vong nào.[2]

Hai trường hợp xác nhận nhiễm bệnh đầu tiên đã nhập viện vào Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm một người đàn ông Trung Quốc 66 tuổi đi từ Vũ Hán và con trai 28 tuổi, người được cho là đã bị lây bệnh từ cha mình khi họ gặp gỡ tại Nha Trang.[3] Trường hợp truyền nhiễm nội địa đầu tiên được xác nhận vào ngày 1 tháng 2,[4] dẫn đến việc thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc công bố dịch tại Việt Nam.[5] Tối ngày 6 tháng 3, ca nhiễm thứ 17 đã chấm dứt chuỗi liên tiếp 22 ngày Việt Nam không có thêm ca nhiễm mới kể từ ngày 14 tháng 2.[6] Chiều ngày 20 tháng 3, Bộ Y tế công bố 2 BN Covid-19 thứ 86 và 87 là 2 nữ điều dưỡng Bệnh viện (BV) Bạch Mai (Hà Nội) với tiền sử dịch tễ không cho thấy nguồn lây khi cả 2 không có lịch sử tiếp xúc với các BN Covid-19. Từ 0 giờ ngày 1 tháng 4, Việt Nam thực hiện cách ly xã hội trong vòng 15 ngày, được xem là một biện pháp cao hơn để phòng chống dịch bệnh nhưng không phải là phong tỏa toàn quốc.[7] Cùng ngày, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc công bố dịch COVID-19 trên phạm vi cả nước, thay thế cho quyết định công bố dịch trước đó vào ngày 1 tháng 2 năm 2020.[8]

Việt Nam đã thực hiện các biện pháp cách ly, theo dõi và hạn chế người đến từ vùng có dịch, đóng cửa biên giới và triển khai việc thực hiện khai báo y tế. Nhiều hoạt động tập trung đông người tại các địa phương bị hạn chế, đồng thời nhiều nơi thực hiện các biện pháp như đo thân nhiệt, trang bị chất sát khuẩn, phát khẩu trang miễn phí ở các nơi công cộng, siết chặt kiểm soát. Việc đi lại, buôn bán trong nước cũng bị hạn chế.[9][10] Trước tình hình dịch bệnh, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm hỗ trợ người dân, giảm thiểu chi phí khám chữa bệnh và xét nghiệm virus. Cũng như hầu hết các quốc gia bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh trên thế giới, Việt Nam đã phải chịu tác động đáng kể lên kinh tế, xã hội.

CORONA: Tại sao số ca nhiễm ở Việt Nam thấp?
Phỏng vấn GS TS Nguyễn Sĩ Huyên
Thực hiện: Tôn Thất Thông


Trong lúc các nước phương Tây có hệ thống y tế vững mạnh, số ca lây nhiễm vẫn ở mức trên 100.000. Ở vài nước châu Á phát triển, số ca lây nhiễm cũng nhiều hơn 5.000. Trong lúc đó, Việt Nam với tiềm lực y tế rất hạn chế lại chỉ có trên 260 ca nhiễm và chưa có trường hợp tử vong. Tại sao? Có phải biện pháp cô lập vùng dịch địa phương trong ba tháng qua đã đóng vai trò quan trọng? Hay chúng ta có thể có cách cắt nghĩa khoa học hơn, dựa trên khía cạnh y học và xã hội?

Để thêm thông tin hòng trả lời câu hỏi nêu trên, DĐKH đã có vài buổi phỏng vấn, trao đổi với Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Huyên, một chuyên gia ngành y có tầm cỡ trong giới y khoa Đức (nơi làm việc và địa chỉ liên lạc xin xem ở cuối bài). Xin hân hạnh giới thiệu với quí độc giả nội dung các buổi phỏng vấn vô cùng lý thú và bổ ích này, hy vọng qua đó quí độc giả sẽ có một cách nhìn đầy đủ hơn, bổ sung vào diễn đàn trao đổi chung quanh vấn đề mọi người đang quan tâm hiện nay.

BS-Huyen-và-SVVN-tai-Braunschweig

GSTS Nguyễn Sĩ Huyên và SV đại học Phạm Ngọc Thạch đến Đức học y khoa năm cuối tại Braunschweig. BS Huyên ở hàng đầu, bên phải. Nguồn ảnh: Peter Sierigk, Städtisches Klinikum Braunschweig.

DĐKP: Xin kính chào GS Nguyễn Sĩ Huyên. Trước hết, thay mặt độc giả DĐKP xin cám ơn GS đã bỏ nhiều thì giờ thu thập tin tức và cho phép chúng tôi được phỏng vấn trực tiếp để chia sẻ với bạn đọc. Trước tiên, xin GS trình bày một cách khái quát tình hình hiện nay và diễn biến trận dịch Corona ở các nước phát triển như Mỹ và châu Âu.

GS Huyên: Đương nhiên, những trao đổi của chúng ta ngày hôm nay về COVID-19 hoàn toàn là lý thuyết dựa trên những sự kiện đã xảy ra, được ghi nhận và công bố chính thức từ các viện nghiên cứu và tổ chức y tế của nhiều quốc gia trên thế giới, ở Đức chủ yếu là những thông tin của Viện Robert Koch, Trung tâm kiểm tra và phòng ngừa bệnh tật của CHLB Đức, Bộ Y Tế CHLB Đức, các Viện Vi Trùng Học của các Đại Học Y Khoa CHLB Đức, Bộ Y Tế Việt Nam, Sở Y Tế Thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hòa và Huế-Thừa Thiên cũng như một số thông tin đại chúng tin cậy về số liệu dân số và thành phần dân số của các quốc gia được khảo sát.

Trở lại câu hỏi của DĐKP, thì những ai thường xuyên theo dõi phát triển của COVID-19 ở các nước Đức, Ý, Tây Ban Nha, Anh và Mỹ sẽ không khó để nhận ra rằng, dịch COVID-19 đã lây nhiễm rất nhanh ở những nước này. Con số tử vong cao hiện nay bởi dịch COVID-19 ở châu Âu và Mỹ được cập nhập hàng ngày qua Website của John Hopkins University. Tuy nhiên, nó không phản ảnh khả năng chuyên môn của những nước này, mà phản ảnh tình trạng bất lực khi bị quá tải về y tế, cho dù họ có nền khoa học cao. Tình trạng đó một phần là cũng do tự họ gây nên, đã chủ quan trong giai đoạn đầu. Trong trường hợp không quá tải, con số tử vong ở Đức tôi nghĩ là gần với thực tế. Dầu vậy, con số tử vong ở Đức và những nơi khác chỉ nói lên sự việc là những bệnh nhân này đã bị nhiễm Sars CoV-2, còn thật sự có chết vì vi-rút Corona hay không thì chưa rõ, bởi những bệnh nhân này thường có sẵn nhiều bệnh nền mãn tính về tim, phổi hay nguy cơ tim mạch đi kèm. Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào làm rõ chuyện này. Qua những biện pháp nghiêm ngặt được áp dụng gần đây, đặc biệt là hạn chế tiếp xúc xã hội trong đời sống cộng đồng, giữ khoảng cách tiếp xúc 1,5-2 mét, vệ sinh rửa tay thường xuyên đã góp phần rõ rệt vào việc làm giảm mức độ lây nhiễm của COVID-19 trong cộng đồng.

DĐKP: Xin Ông cho biết sơ lược diễn tiến Covid-19 trong tương lai. Bao giờ thì chúng ta có thể xem là trận dịch đã chấm dứt?

GS Huyên: Diễn tiến bệnh ở mỗi nước sẽ có sự khác biệt với những đỉnh cao của dịch tùy thuộc vào những biện pháp đã được áp dụng ở mỗi nước sớm hay muộn trong tiến trình ngăn cản lây nhiễm bệnh với những hệ lụy khác nhau về y tế và kinh tế chưa lường hết được. Riêng về mức độ lây nhiễm của COVID-19 nói chung, thì bao lâu chưa có thuốc chủng ngừa bệnh và miễn nhiễm cộng đồng chưa đạt đến 60-70% dân số, thì theo đánh giá của những nhà vi trùng học ở đây, bấy lâu vẫn còn tình trạng tiếp tục lây nhiễm lâu dài.

DĐKP: Mọi chuyên gia dịch tễ đều cho rằng, nạn dịch Covid-19 này còn tiếp tục kéo dài và trở lại theo từng chu kỳ cho đến lúc chúng ta kiếm được vắc-xin thực sự hiệu quả để có thể sử dụng đại trà. Theo Ông, bao giờ thì chúng ta có thể có được tin mừng đó?

GS Huyên: Hiện nay việc nghiên cứu vắc-xin chủng ngừa đang được tích cực tiến hành với một tốc độ nhanh chưa từng có, nhưng chúng ta phải biết rằng, sau khi nghiên cứu thành công, vắc-xin cũng phải được sản xuất công nghiệp, các nhà máy sản xuất cũng phải được trang bị đặc biệt và tất cả những chuyện này cũng cần thời gian. Theo dự đoán của GS Drosten, Viện trưởng Viện Vi Trùng Học của Bệnh viện Đại học Charité Berlin thì chúng ta có thể tính tới thời điểm có được thuốc chủng ngừa đầy đủ cho cộng đồng là khoảng mùa hè năm 2021.

DĐKP: Dù có vắc-xin hay chưa, chúng ta cũng phải tìm cách chữa trị các bệnh nhân đang dương tính. Mặc dù chưa có thuốc đặc trị cho Covid-19, nhưng một số thuốc có sẵn cũng có thể góp phần làm thuyên giảm tiến trình bệnh. Theo Ông, những loại thuốc nào đáng chú ý nhất?

GS Huyên: Trên thực tế đã có nhiều thuốc thử nghiệm điều trị COVID-19, thí dụ như Remdesivir, Chloroquine, Hydrochloroquine cho thấy trong ống nghiệm (vitro) hiệu ứng ức chế tăng sinh của Sars CoV-2 có hiệu quả, nhưng trên lâm sàng thì chưa chứng minh được hiệu quả của nó. Do dó, bao lâu chưa có chứng cớ y học thì tất cả mọi cuộc điều trị với những loại thuốc này đều là Off Label Use hay chỉ dùng trong nghiên cứu. Cho đến nay, chưa có khuyến cáo chính thức của giới Bác sĩ Đức cho sử dụng những loại thuốc này.

Gần đây có những nghiên cứu sử dụng vắc-xin lao BCG chống lại Covid-19 dựa trên những phát hiện nghiên cứu trước đây, rằng BCG làm giảm nồng độ vi-rút ở những bệnh nhân bị nhiễm vi-rút tương tự như SARS-CoV-2. Kết quả còn cần phải chờ đợi.

DĐKP: Ai là nhóm người có nguy cơ lây nhiễm, và diễn biến tiêu biểu của Covid-19 có thể kết luận được chưa?

GS Huyên: Trong 80% trường hợp bệnh được đánh giá là nhẹ, không cần điều trị chuyên biệt, trong 80% này bao nhiêu phần trăm có triệu chứng, bao nhiêu không có triệu chứng (tạm gọi là con số đen) thì không rõ. Theo GS Kim Woo-Ju, chuyên gia Hàn Quốc về các bệnh lây nhiễm thì con số đen chiếm khoảng 20% ở Hàn Quốc. Theo các chuyên gia Đức thì con số đen có thể nhiều hơn 40%. Ngoài 80% thuộc các trường hợp nhẹ đó, còn lại 15% là bệnh nhân cần theo dõi trên lâm sàng và 5% bệnh nặng cần chăm sóc đặc biệt. Cho đến nay, con số tử vong dao động giữa 0,2% và 12,9% không chính xác vì con số bệnh nhân bị nhiễm bệnh thực sự không xác định được. Những bệnh nhân ở tình trạng bệnh nặng, không cứu được, sẽ rơi vào tử vong trung bình khoảng 3 tuần sau khi phát hiện có triệu chứng.

Theo nhà dịch tể học GS Stefan Willich, ĐH Charité Berlin thì thống kê về con số tử vong bởi COVID-19 cho thấy khoảng 2/3 là người lớn tuổi trên 80, 30% ở lứa tuối 60-80 và chỉ có 5% là dưới 60 tuổi (thống kê ngày 1.4.2020 ở Đức). Như vậy, nhóm người trên 60 tuổi và đặc biệt là trên 80 tuổi cần được quan tâm tránh bị lây nhiễm COVID-19. Đương nhiên nhóm người có bệnh nền, nguy cơ tim mạch hay giảm sức đề kháng cũng thuộc về nhóm nguy cơ phải tính đến.

DĐKP: Ông đánh giá thế nào về mức độ trầm trọng của COVID-19?

GS Huyên: Nói đến mức độ trầm trọng của bệnh có nghĩa là phải quan tâm đến hai khía cạnh: tỷ lệ tử vong và di chứng của bệnh. Con số tử vong bởi dịch COVID-19 hiện nay quả thật là một điều đáng lo ngại, và tiếp tục đáng lo ngại, mặc dầu tình trạng tử vong cao trong lúc này chủ yếu xảy ra là do tình huống quá tải về y tế. Con số tử vong thật sự nếu không bị quá tải về y tế thì sao, không ai biết được trong lúc này vì cuộc chiến chống dịch chưa ngã ngũ. Nhưng ở Việt Nam thì bài toán lại hoàn toàn khác, khi ta có được một cái nhìn dưới một góc cạnh khác. Còn về di chứng bệnh, ở đây nghi ngờ có dấu hiệu xơ phổi sau khi bị viêm phổi với Sars CoV-2, nhưng thời gian theo dõi chưa đủ dài để khẳng định chuyện này.

DĐKP: Trong lúc các nước có nền y tế cao như Mỹ, châu Âu và cả châu Á đều ghi nhận số ca lây nhiễm rất cao. Trong lúc đó, Việt Nam với phương tiện y tế hạn chế, lại chỉ có trên 260 người nhiễm (hôm nay, 15.4). Ông cắt nghĩa điều này thế nào?

GS Huyên: Đối với tôi, việt Nam vẫn còn nhiều bí ẩn chưa lý giải hết đươc, nằm cạnh Trung Quốc, cửa biên giới không đóng, trong thời gian khởi đầu xuất phát bệnh ở Vũ Hán vẫn còn nhiều chuyến bay từ Vũ Hán, Nam Hàn và Nhật đến Việt Nam. Mặc dù Việt Nam đã có biện pháp kiểm tra nghiêm ngặt, nhưng làm sao có thể ngăn chận hết được? Đặc biệt là những con số đen thì chắc hẳn không ai xác định được.

Những gì xảy ra ở châu Âu cho thấy lây nhiễm COVID-19 lan rộng rất nhanh, ở Việt Nam trên lý thuyết không có lý do gì không lây nhiễm nhanh như thế, khi những điều kiện lây nhiễm nhìn về góc cạnh địa lý, thương mại, du lịch trong quan hệ xã hội Việt-Trung, thì khả năng lây nhiễm ở VN còn có chiều dễ dàng hơn. Như vậy, thì phải nghĩ đến giả thuyết là COVID-19 đã đến Việt Nam rất sớm, lây nhiễm qua giới trẻ nhưng không gây triệu chứng gì. So sánh với mức độ lây nhiễm ở Ý thì có thể cho phép phỏng đoán được rằng, từ tháng 11.2019 đến nay phải có hàng chục triệu người Việt Nam, phần lớn là giới trẻ đã có khả năng bị lây nhiễm và hồi phục, mang đến một tình trạng miễn nhiễm cộng đồng nhất định, và trong một chừng mực nào đó nó đã trở thành rào cản tự nhiên ngăn chặn sự lây nhiễm lan rộng của COVID-19.

DĐKP: Xin phép được ngắt lời. Chuyên gia dịch tể phỏng đoán lây nhiễm chỉ giảm khi 60-70% dân số đã miễn nhiễm. Với Việt Nam, điều đó có nghĩa là 50-60 triệu người. Điều này có thể đạt được trong vòng 5 tháng qua hay không?

GS Huyên: Trên lý thuyết, mức độ lây nhiễm nhanh của COVID-19 đang diễn ra tại châu Âu và Mỹ cho thấy là khả năng này không loại bỏ, đặc biệt là ở Việt Nam với một mật độ dân số cao và lối sống thích tụ tập của giới trẻ. Nhưng trên thực tế, ở Việt Nam chỉ cần đạt 30-40% dân số miễn nhiễm, và đây có lẽ là con số gần với thực tế, là ta đã làm giảm đi được khả năng lây nhiễm đáng kể cho người lớn tuổi, một thành phần hiện nay vẫn còn tương đối ít trong xã hội Việt Nam. Phần lớn người lớn tuổi sống với gia đình, ít tụ tập bên ngoài.

DĐKP: Không những ít ca lây nhiễm, mà số tử vong ở Việt Nam cũng bằng 0, là chuyện hiếm có trên thế giới. Ông cắt nghĩa thế nào?

GS Huyên: Câu trả lời lệ thuộc vào sự việc là ta nhìn dưới góc cạnh nào. Tôi muốn so sánh với Đức vì nước Đức có tổng diện tích đất và dân số không khác biệt với Việt Nam nhiều: Ở Đức cho đến ngày hôm nay, theo thông báo của Robert Koch Institut, Viện kiểm soát, theo dõi và phòng chống bệnh tật của Đức trong thời điểm này có 120.479 người nhiễm bệnh  và 2.673 người chết. Test xét nghiệm để xác định COVID-19 được Đức thực hiện cho khoảng 500.000 người mỗi tuần. Ở Việt Nam, tổng kết toàn bộ test xét nghiệm được làm cho đến nay là khoảng 120.000 người. Điều đó có nghĩa là Việt Nam làm quá ít test, cho nên khó xác định là, những người chết nhưng chưa hề được xét nghiệm Covid-19, họ chết do có bệnh nền hay yếu vì cao tuổi hay là gì khác. Nói cách khác, số người đã chết trong thời gian qua là chết tự nhiên hay có liên quan đến COVID-19 hay không, thì không ai biết. Ở Đức thì ngược lại, test dương tính ở nhiều người, nhưng câu hỏi là họ chết vì bệnh nền và nguy cơ tim mạch hay chết vì COVID-19, cũng không có thống kê.

Mặt khác, hai yếu tố quan trọng có thể mang đến sự khác biệt quyết định giữa con số tử vong của Đức hay châu Âu và Việt Nam là sự khác biệt của thành phần người lớn tuổi (trên 60) giữa hai nước và một điểm cũng rất đáng được lưu ý đó là sự khác biệt của thói quen thường ngày trong hành vi cư xử qua phong tục văn hóa xã hội giữa châu Âu và Việt Nam.

DĐKP: Ông là người am hiểu tình hình y tế và xã hội của hai nước Đức và Việt Nam. Ông có nhắc đến 2 yếu tố khác nhau giữa hai nước, trong đó có yếu tố phong tục văn hóa xã hội. Xin Ông cắt nghĩa rõ hơn cho độc giả?

GS Huyên: Nếu ta đã biết thành phần người lớn tuổi (trên 60) có nguy cơ nhiễm COVID-19 và có tỉ lệ tử vong cao như đã nói trên, và tiếp xúc xã hội là nguy cơ lây nhiễm, thì phải nói tình hình hiện nay ở Việt Nam có nhiều “thuận lợi tự nhiên” trong phòng chống COVID-19.

Yếu tố thứ nhất là thành phần người cao tuổi trên 60 ở Việt Nam chỉ chiếm khoảng 10% (báo trực tuyến danso.org thống kê những người trên 65 tuổi là 5,5%). Tỉ lệ đó rất thấp so với Đức là 23.37%. Tuổi trung bình của người Việt Nam là 30,9 tuổi, ở Đức 44,4 tuổi, tuổi thọ trung bình ở người Việt Nam 73.6 tuổi, ở Đức 80.9 tuổi .

Yếu tố thứ hai có lẽ có tính quyết định nhiều hơn cho việc giới hạn lây nhiễm trong xã hội Việt Nam và đặc biệt là cho người cao tuổi, đó là thói quen thường ngày trong hành vi cư xử qua phong tục văn hóa xã hội. Giữa châu Âu và Việt Nam có sự khác biệt rõ rệt. Ở châu Âu, chào hỏi nhau thường qua bắt tay, bạn bè thân hay người trong gia đình thì ôm nhau hôn trên má, già và trẻ nói chuyện với nhau rất gần gủi, ít ngăn cách, vì thế sự lây nhiểm từ người trẻ sang người già cũng dễ dàng. Ở Việt Nam, giáo dục gia đình phần đông chịu ảnh hưởng Khổng giáo, đặt trọng sự kính trọng người cao tuổi đặc biệt là bố mẹ, ông bà, cô chú trong gia đình tự nó đã tạo nên một ngăn cách xã hội nhất định tồn tại sẵn trong sinh hoạt gia đình và xã hội. Thêm vào đó, ngôn ngữ của người Việt Nam qua việc bắt buộc thường xuyên định vị cái tôi của mình, ví dụ là em, là con hay là cháu trong giao tiếp với người cao tuổi cũng tạo thêm một ngăn cách xã hội nhất định. Ngôn ngữ châu Âu không có rào cản tương tự như thế. Ở Việt Nam, ít khi có những cuộc thảo luận cởi mở giữa già và trẻ trong gia đình. Ngoài ra, người cao tuổi ở Việt Nam thường đã nghĩ hưu sau 60 tuổi, phần lớn họ lui về đời sống gia đình, ít tham gia sinh hoạt cộng đồng. Đó là những yếu tố làm cho nguy cơ lây nhiểm đến người già cũng giảm đáng kể.

DĐKP: Theo ý Ông, Việt Nam nên làm gì lúc này với tình hình Covid-19 ngày càng phức tạp?

GS Huyên: Việt Nam trong thời điển này đang ở trong tình trạng “cách ly xã hội hoàn toàn” từ ngày 1.4.20 – 15.4.20 theo nghị định của Thủ tướng chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Chắc chắn là việc làm này cùng với những biện pháp tầm soát, kiểm tra, theo dõi và cách ly có mục tiêu đã được thực hiện trước đây là những biện pháp cho thấy có hiệu quả trong việc ngăn chận sự lan rộng của COVID-19 không chỉ ở Việt Nam mà cũng ở nhiều nước khác. Cái khó trong lúc này cho nhiều quốc gia là làm sao ra khỏi tình trạng cách ly này, trở lại sinh hoạt bình thường để kinh tế phục hồi sớm mà vẫn tránh được tình trạng dịch không bộc phát nghiêm trọng trở lại.

Cho đến nay ở Việt Nam, chúng ta không biết rõ bao nhiêu người thật sự đã bị lây nhiễm (kể cả con số đen) và đã lành bệnh, đã có kháng thể. Thật dễ hiểu là, mọi bài tính dựa trên dự đoán về con số lây nhiễm thực sự sẽ không thể chính xác. Do đó, để làm rõ chuyện này, thì việc tiến hành lấy mẫu theo phương pháp thống kê ngẫu nhiên để làm test kháng thể, để cập nhập tình trạng miễn nhiễm Sars CoV-2, là một việc hết sức cần thiết, nó sẽ phản ảnh tốt hơn về tình trạng lây nhiễm. Test chẩn đoán phát hiện COVID-19 (thí dụ PCR) vẫn giữ một vai trò quan trọng trong việc xác định có bệnh để có biện pháp cách ly hiệu quả. Nhưng test kháng thể sẽ cung cấp cơ sở khoa học trong việc hoạch định biện pháp cho tương lai.

DĐKP: Thời gian này, người ta, nhất là Đức dường như muốn xét nghiệm kháng thể một cách đại trà. Xin Ông giải thích thêm về loại xét nghiệm này. Nó có ích lợi gì trước mắt cho việc chống dịch hay không?

GS Huyên: Trong điều kiện bình thường, trung bình 7-10 ngày sau khi bị nhiễm vi-rút Sars CoV-2, nếu không có biến chứng phức tạp, thì cơ thể được xem là miễn dịch vì đến thời điểm đó, cơ thể đã sản sinh đầy đủ kháng thể chống lại vi-rút. Người có test kháng thể dương tính có nghĩa là đã bị bệnh, đã lành bệnh và đã được miễn dịch. Để có một kế hoạch tối ưu, cân bằng giữa y tế và kinh tế xã hội, người hoạch định chính sách cần biết rõ hai tình huống:

  1. nếu tình trạng miễn nhiễm thấp: thì đó là sự cảnh báo cho việc lây nhiễm sẽ tái phát nếu những biện pháp hạn chế tiếp xúc xã hội không còn nghiêm ngặt nữa. Đây cũng là thời điểm mà chính phủ và chuyên gia về y tế cần phải có biện pháp cân nhắc lợi hại quân bình, bảo vệ sức khỏe người dân mà không để kinh tế rơi vào tình trạng suy sụp.
  2. nếu tình trạng miễn nhiễm cao: thì đây là một điều lý giải hợp lý cho những dự đoán mà chúng ta đã trao đổi trên: người Việt Nam nhiễm COVID-19 rất sớm, lan rộng ở giới trẻ rất nhanh và trung bình 7-10 ngày sau khi bị nhiễm bệnh thì miễn dịch. Sự miễn dịch tự nhiên ở nhiều người trẻ và ở người dân nói chung đã trở thành rào cản tự nhiên ngăn chận việc lây nhiễm lan rộng. Trong điều kiện này, thì ta có thể an tâm cho sự tái lập lại sinh hoạt xã hội bình thường. Nhưng như vậy, không có nghĩa là dứt lây nhiễm mà chỉ cho thấy là mức lây nhiễm giảm dần xuống và nằm trong vòng kiểm soát đươc. Do đó, những biện pháp hạn chế tiếp xúc xã hội vẫn cần phải được áp dụng nghiêm túc tiếp tục như:
  • Giữ khoảng cách tiếp xúc 1.5-2m (đặc biệt đối với người lớn tuổi).
  • Không nhất thiết phải đeo khẩu trang khi ra đường, chỉ đeo khi nào bản thân có những yếu tố nguy cơ cao (các bệnh tim phổi mãn tính, nói chung các bệnh có liên quan đến giảm sức đề kháng, hay đang nhiễm Virus…).
  • Giữ gìn vệ sinh rửa tay thường xuyên.

Theo dự đoán của nhà Vi trùng học Drosten thì test kháng thể sẽ có để khám mghiệm rộng rãi ở Đức trong vòng 6-8 tuần lễ đến. Một vấn đề có thể phải nghĩ đến là test có khả năng cho dương tính chéo với những bệnh Coronavirus đã xảy ra trước đó. Nhưng điều đó chỉ là vấn đề về tổ chức.

Nhân dịp này, tôi cũng muốn nói thêm trong lúc chờ đợi có vắt-xin chủng ngừa, ta nên nghiên cứu để có biện pháp chủng ngừa thụ động Sars CoV-2 trong những trường hợp cần thiết bằng cách tiêm chủng qua việc lấy kháng thể chống Sars CoV-2 từ người đã lành bệnh. Ở đây, chúng ta thấy thêm sự lợi ích của test kháng thể để xác định người nào đã nhiễm bệnh, đã lành và đã có kháng thể.

DĐKP: Trước khi chấm dứt, xin Ông phát biểu một kết luận ngắn chung quanh chủ đề này, và thông điệp nào mà Ông muốn gởi đến mọi người ở Việt Nam.

GS Huyên: Trước hết, tôi xin cám ơn DĐKP đã cho tôi có cơ hội trao đổi với DĐKP và bạn đọc về COVID-19. Theo tôi, COVID-19 ở Việt Nam là một bức tranh rất mới về COVID-19, mang một màu sắc lạc quan khác hơn ở châu Âu. Bức tranh COVID-19-Việt Nam là kết quả của những nổ lực của ngành y tế Việt Nam trong những điều kiện eo hẹp của mình, và đã may mắn vượt qua COVID-19 nhờ vào một “dân số trẻ trung” và “sự cứu rỗi tình cờ của thói quen thường ngày” qua “giãn cách xã hội tự nhiên” trong hành vi cư xử qua phong tục văn hóa xã hội của chính mình.

Một điểm cuối cùng mà tôi muốn nói đến, đó là trong tình trạng “cách ly xã hội hoàn toàn” hiện nay, người trẻ phải ở nhà thay vì sinh hoạt ngoài xã hội. Trong điều kiện và phong tục Việt Nam với đời sống đại gia đình, 3 thế hệ trong cùng một nhà, thì nguy cơ lây nhiễm trong gia đình, đặc biệt là cho người lớn tuổi là rất lớn. Trong thời gian qua, số người trẻ bị lây nhiễm không có triệu chứng ở một nước đông dân như Việt Nam chắc chắn là không ít. Trong tình trạng thường xuyên ở nhà hiện nay, họ sẽ là những nguồn lây nhiễm cho người trong gia đình mà nếu không may thì lây cho ông bà, cha mẹ họ, hay nói chung là người lớn tuổi trong gia đình. Do đó, việc giữ gìn vệ sinh, chủ yếu là rửa tay thường xuyên và giữ khoảng cách tiếp xúc (1.5-2 m) đặc biệt là với người lớn tuổi ngay trong đời sống sinh hoạt gia đình thường ngày là một chuyện hết sức cần thiết, cần được ý thức, nhắc nhở và lưu tâm thường xuyên trong gia đình.

DĐKP: Thay mặt độc giả, xin chân thành cám ơn Ông.

GS TS Nguyễn Sĩ Huyên:

  • Phó Chủ nhiệm Khoa Nội Tim Mạch, Hồi sức cấp cứu, Chủ nhiệm khoa Y học giấc ngủ tại Bệnh viện HELIOS St. Marienberg, Thành phố Helmstedt, Germany.
  • Phó Khoa Khoa Y Việt Đức, Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch HCMC, Đường Quang Trung 2, P12, Q.10, Ho Chi Minh City, Vietnam Website: www.pnt.edu.vn
  • Giáo sư danh dự của Đại Học Y Khoa Huế
  • Huy chương danh dự của Hội đồng Bác sĩ Tiểu Bang Niedersachsen
  • Huy chương danh dự của Thành phố Hồ Chí Minh
  • Chủ tịch Hội Tim Mạch Đức-Việt
    German-Office: Langer Kamp 6, D-38350 Helmstedt, Germany
    Tel.:+49 5351 141471, Mobil: +49 17682650366, Email: dvfk@gmx.de, w.dvfk.org

GS TS Nguyễn Sĩ Huyên hiện trong Ban điều hành phụ trách điều phối các hoạt động hợp tác đào tạo giữa đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch và đại học y khoa Mainz của Đức nhằm mục đích đào tạo sinh viên nghành y của Khoa Y Việt Đức (KYVĐ), phần đầu ở Việt Nam và năm cuối thực hành được đào tạo trực tiếp tại Đức. Sinh viên KYVĐ được đào tạo theo qui trình đào tạo y khoa của đại học y khoa Mainz và phải vượt qua mọi kỳ thi chuyển giai đoạn của viện khảo thí quốc gia Đức như sinh viên Đức. Đây là một chương trình đào tạo y khoa đầu tiên được Đức công nhận là tương đương.

(Xin xem thêm: Những bài về Corona đã đăng trên DĐKP)

DỰ ĐOÁN ĐỘNG HỌC LAN TRUYỀN SARS-CoV-2 QUA THỜI KỲ HẬU ĐẠI DỊCH
Projecting the transmission dynamics of SARS-CoV-2 through the postpandemic period

SCIENCE 14/4/2020

Các tác giả: Stephen M. Kissler, Christine Tedijanto, Edward Goldstein, Yonatan H. Grad, Marc Lipsitch
Khoa Miễn dịch học và Các bệnh truyền nhiễm & Khoa Dịch tễ học, Trường Sức khoẻ Cộng đồng T.H Chan, ĐH Harvard, Hoa Kỳ

Tạm dịch nhanh (Tóm tắt) từ tiếng Anh: Giáo sư Tiến sĩ Nông Văn Hải

TÓM TẮT

Vấn đề cấp thiết là tìm hiểu về tương lai của hội chứng hô hấp cấp nặng – sự lan truyền của coronavirus 2 (SARS-CoV-2). Chúng tôi đã sử dụng các ước tính về mùa vụ, sự miễn dịch và miễn dịch chéo đối với betacoronaviruses OC43 và HKU1 từ dữ liệu chuỗi thời gian ở Hoa Kỳ để thông báo về mô hình lan truyền SARS-CoV-2. Chúng tôi dự đoán rằng sự bùng phát tái phát vào mùa đông của SARS-CoV-2 có thể sẽ xảy ra sau đợt dịch đại dịch ban đầu, nghiêm trọng nhất. Khi không có sự can thiệp nào khác, chỉ số chính cho sự thành công của giãn cách xã hội là năng lực chăm sóc nguy cấp vượt ngưỡng hay không. Để tránh điều này, giãn cách xã hội kéo dài hoặc không liên tục có thể cần thiết vào năm 2022. Các biện pháp can thiệp bổ sung, bao gồm mở rộng năng lực chăm sóc nguy cấp và liệu pháp hiệu quả, sẽ cải thiện sự thành công của giãn cách không liên tục và đẩy nhanh tích luỹ miễn dịch cộng đồng. Các nghiên cứu huyết thanh học theo chiều dọc cần gấp để xác định mức độ và thời gian miễn dịch với SARS-CoV-2. Ngay cả trong trường hợp loại bỏ rõ ràng, việc giám sát SARS-CoV-2 cần được duy trì vì sự hồi sinh trong lây nhiễm có thể xảy ra vào cuối năm 2024. (Xem tiếp https://science.sciencemag.org/content/early/2020/04/14/science.abb5793?fbclid=IwAR0cUwdtgMTaRV31A_SyDAIizCJK1Ar5IMQ1IhSQ8wfuSd0gn2V6rk5gdYo)

Tại sao thế giới ngừng hoạt động vì COVID-19 mà không phải là Ebola, SARS hay cúm lợn?

SARS và MERS: Chết người, nhưng không dễ lây lan

Vũ Duy Mẫn (tổng hợp và chia sẻ)
(*) Anh Vũ Duy Mẫn Duy-Man Vu 8 giờ 18 4 2020 là chuyên gia về công nghệ IT hiện ở Mỹ

Cuối năm 2002, một mầm khuẩn mới có khả năng lây từ động vật bắt đầu gây ra bệnh hô hấp nghiêm trọng ở Trung Quốc. Trong nửa đầu năm 2003, hội chứng hô hấp cấp tính nặng coronavirus (SARS-CoV) đã lây lan qua 26 quốc gia, lây nhiễm ít nhất 8.098 người và giết chết ít nhất 774 người.

SARS là do một loại virus tương tự như virus gây ra COVID-19, SARS-CoV-2, nhưng đã không có tác hại tương tự, mặc dù có tỷ lệ tử vong tương đối cao là 9,6%, so với ước tính hiện tại cho COVID-19 là 1,4%.

Một bệnh về đường hô hấp khác do coronavirus, Hội chứng hô hấp Trung Đông, hay MERS, có tỷ lệ tử vong cao hơn 34%. Nhưng nó cũng dẫn đến số ca tử vong ít hơn so với những gì chúng ta đã thấy từ COVID-19: Tính đến tháng 1 năm 2020, đã có 2.519 trường hợp mắc MERS và 866 trường hợp tử vong.

SARS và MERS đã không gây ra mức độ tàn phá tương tự như COVID-19 phần lớn là do chúng khó lây lan. SARS và MERS lây lan qua sự tiếp xúc gần, giữa các thành viên gia đình hoặc nhân viên y tế và bệnh nhân (hoặc, trong trường hợp MERS, từ lạc đà trực tiếp sang người). Mặt khác người nhiễm khuẩn chỉ có khả năng truyền bệnh khi họ có triệu chứng. Khi có triệu chứng, người bệnh thường ở nhà hoặc nhập viện, do vậy virus khó lây lan.

Ngoại trừ một vài trường hợp lây truyền hàng loạt, hầu hết các lây truyền SARS đều nằm trong môi trường chăm sóc y tế, khi đặt trợ thở hoặc lọc máu cho bệnh nhân. Về cơ bản, có thể kiểm soát SARS bằng cách phòng ngừa nhiễm khuẩn trong bệnh viện.

Điều này khác biệt đáng kể so với COVID-19, có thể lây lan bởi những người không có triệu chứng (dù cuối cùng những người đó có phát triển triệu chứng hay hoàn toàn không có triệu chứng trong suốt quá trình nhiễm khuẩn). Nó cũng dễ dàng lây lan từ người này sang người khác. Kết hợp lại, điều đó có nghĩa là có những người đã nhiễm khuẩn nhưng không biết và những tương tác thông thường của họ đủ để lây lan virus sang người khác. Đây là lý do tại sao giãn cách xã hội đã trở thành một phần quan trọng trong chiến lược chống lại sự lây lan của COVID-19.

Cúm lợn: Dễ lây lan, nhưng không quá gây chết người

Vào mùa xuân năm 2009, một phiên bản mới của virus cúm H1N1 – virus gây ra đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918 – đã xuất hiện và bắt đầu lây lan nhanh chóng. Theo ước tính của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh, có thể đã lây nhiễm hơn 1 tỷ vào cuối năm 2010.

Cúm lợn lây lan dễ dàng từ người sang người, giống như COVID-19, và thậm chí có thể từ những người không có triệu chứng. R0 của nó, hay R-naught, một thước đo xem có bao nhiêu người mà một người nhiễm bệnh có thể lây nhiễm, nằm trong khoảng từ 1,4 đến 1,6. Con số này thấp hơn một chút so với COVID-19, mà các chuyên gia ước tính có R-naught trong khoảng từ 1,5 đến 3,5, nhưng điều đó vẫn có nghĩa là H1N1 là một loại virus rất dễ lây nhiễm.

Vậy tại sao cúm lợn lại không làm các hệ thống chăm sóc sức khỏe của chúng ta bị quá tải và không khiến nền kinh tế của chúng ta bị đình trệ? Sự khác biệt chính: nó là đã một bệnh nhiễm khuẩn nhẹ hơn và ít gây tử vong hơn. Có một loạt các tỷ lệ tử vong trong trường hợp ước tính đối với cúm lợn, nhưng ngay cả mức cao nhất, dưới 0,1%, thấp hơn nhiều so với ước tính hiện tại đối với COVID-19.

Tiến sĩ Anthony Fauci, giám đốc của Viện Dị ứng và Bệnh Truyền nhiễm Quốc gia và là thành viên của đội đặc nhiệm coronavirus của Nhà Trắng, cho biết, đại dịch cúm lợn năm 2009 lây lan rất mạnh, nhưng tỷ lệ tử vong khá thấp và đó là lý do tại sao nó không được coi là đại dịch đặc biệt nghiêm trọng.

Ngay cả với tỷ lệ tử vong thấp như vậy, cúm lợn vẫn có số tử vong cao do dễ lây lan. Với tỷ lệ tử vong cao hơn và tỷ lệ lây truyền cao hơn, COVID-19 phải cần các biện pháp quyết liệt hơn để ngăn chặn sự lây lan của nó.

Ebola: Rất nghiêm trọng, nhưng khó lây nhiễm

Ebola xuất hiện lần đầu vào năm 1976 và sau đó thế giới đã chứng kiến các đợt bùng phát lại tại nhiều thời điểm, bao gồm đợt ở Tây Phi từ 2014 đến 2016. Đó là một căn bệnh nghiêm trọng giết chết trung bình 50% số người mắc bệnh, theo Thế giới Tổ chức y tế. Tuy nhiên, chỉ có hơn 11 ngàn người chết trong đợt bùng phát 2014-2016, phần lớn bị cô lập trong khu vực bùng phát.

Tương tự như MERS và SARS, Ebola không dễ lây truyền. Những người bị nhiễm bệnh không lây truyền virus cho đến khi họ bắt đầu xuất hiện các triệu chứng và virus chỉ lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với chất dịch cơ thể của người bị nhiễm bệnh, như máu, mồ hôi và nước tiểu, thay vì qua loại hạt được tạo ra khi ai đó hắt hơi hoặc nói. Trừ khi phải điều dưỡng bệnh nhân (ở nhà hoặc ở bệnh viện) hoặc chăm sóc cơ thể sau khi họ chết, thì khó để có thể bị nhiễm khuẩn.

Ebola cũng có xu hướng gây ra các triệu chứng khá nghiêm trọng và có thể xác định được, chẳng hạn như sốt và mệt mỏi sau đó là nôn mửa và tiêu chảy. Những người nhiễm chỉ có thể lây lan virus khi họ bị bệnh, mà một khi bị bệnh, họ sẽ biết điều đó.

Sự khác biệt nổi bật của COVID-19 là nó có thể lây lan mà không có bất kỳ triệu chứng nào, và ngay cả khi bị bệnh, một số người có thể có các triệu chứng nhẹ đến mức họ không chắc chắn rằng họ có COVID-19.

COVID-19 là một cơn bão hoàn hảo. Nó có thể đủ nhẹ để một số người có nó mà không biết rằng họ có nó. Nó cũng dễ dàng lây lan, có thể được truyền đi bởi những người chưa có triệu chứng và đủ nghiêm trọng để giết chết một phần đáng kể những người mắc bệnh. Tất cả kết hợp lại, COVID-19 đã dẫn đến một bệnh dịch khó theo dõi và kiểm soát một cách bất thường, trở thành một đại dịch toàn cầu làm thế giới ngừng hoạt động. Sự dịch chuyển địa chấn trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta đang xảy ra là có lý do.

(https://fivethirtyeight.com/…/why-did-the-world-shut-down-…/)

Thông tin liên tục tại COVID19 NEWS tích hợp và lưu trữ thông tin cập nhật https://hoangkimlong.wordpress.com/category/covid19-news/

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Bài viết mới

Video yêu thích KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter


Chuyện cổ tích người lớn

CHUYỆN CỔ TÍCH NGƯỜI LỚN
Hoàng Kim

Bill Gates là một thế giới trí tuệ. Bill Gates là một người có tài, có tâm và có tầm nhìn. Gates Notes The blog of Bill Gates www.gatesnotes.com là trang vàng tri thức và nhân cách. Nơi đó tại Gates Notes, sự thật và những ý tưởng tốt đẹp luôn tỏa sáng. Xem Bill Gates thí dụ một ở đây https://www.gatesnotes.com/Health/We-Are-Not-Ready-for-the-Next-Epidemic.

Trên thế giới có những kiểu người như “chuyện Charles M. Lieber” là một nhà hóa học người Mỹ và là người tiên phong trong lĩnh vực khoa học và công nghệ nano. Ông có các thông tin không tin nổi. Lối nghĩ và cách làm thật khác Bill Gates. Charles M. Lieber dường bị cuốn vào ‘thuyết âm mưu’: Tôi không thích nhưng lưu lại để tìm về sự thật và hiểu biết .

Mời bạn đọc Gates Notes Bài học từ Ebola “Chúng tôi không sẵn sàng cho dịch bệnh tiếp theo” “Chúng tôi chưa sẵn sàng cho nó”. “Nhưng chúng ta có thể đến đó”. Bản gốc tiếng Anh ở đây https://www.gatesnotes.com/Health/We-Are-Not-Ready-for-the-Next-Epidemic

Tôi đang ở Vancouver tuần này tham dự hội nghị TED. Tôi vừa nói chuyện ngắn gọn về một chủ đề mà tôi đã học được rất nhiều về dịch bệnh gần đây.

Vụ dịch Ebola ở Tây Phi là một thảm kịch khi tôi viết điều này, hơn 10.000 người đã chết. Tôi đã nhận được cập nhật thường xuyên về số lượng trường hợp thông qua cùng một hệ thống chúng tôi sử dụng để theo dõi các trường hợp mới mắc bệnh bại liệt. Ngoài ra, tháng trước tôi đã may mắn có một cuộc thảo luận chuyên sâu với Tom Frieden và nhóm của anh ấy tại Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh ở Atlanta.

Những gì tôi đã học được là rất tỉnh táo. Kinh khủng như dịch bệnh này đã xảy ra, lần tiếp theo có thể tồi tệ hơn nhiều. Thế giới chỉ đơn giản là không chuẩn bị để đối phó với một căn bệnh mà bệnh cúm đặc biệt là bệnh cúm, ví dụ, bệnh này lây nhiễm rất nhiều người rất nhanh. Trong số tất cả những thứ có thể giết chết 10 triệu người trở lên, rất có thể là một bệnh dịch.

Nhưng tôi tin rằng chúng ta có thể ngăn chặn thảm họa như vậy bằng cách xây dựng một hệ thống cảnh báo và ứng phó toàn cầu đối với dịch bệnh. Nó sẽ áp dụng loại kế hoạch đi vào các hệ thống phòng thủ quốc gia cho việc tuyển dụng, đào tạo và trang bị cho nhân viên y tế; đầu tư vào các công cụ mới; v.v … Cho đến nỗ lực ngăn chặn và ngăn chặn dịch bệnh bùng phát.

Đây là những gì cuộc nói chuyện TED của tôi đã nói về. Bạn có thể xem nó ở đây:

Càng tìm hiểu về những gì cần thiết để đối phó với dịch bệnh, tôi càng ấn tượng với các nhân viên y tế, những người đã mạo hiểm mạng sống của họ để chăm sóc người bệnh. Chỉ cần mặc một bộ đồ bảo vệ là rất lớn. Một khi nó đã bắt đầu, nó rất khó nghe những gì người khác nói và bạn bắt đầu đổ mồ hôi chỉ sau vài phút.

Ở đây, một bài tiểu luận hình ảnh ngắn về một nỗ lực để giải quyết vấn đề này mà tôi đã tham gia.

Tại TED, chúng tôi cũng tổ chức một cuộc triển lãm nơi người tham dự có thể tự thử một bộ đồ:

Cuối cùng, nếu bạn thích tìm hiểu thêm, bạn có thể muốn xem bản op-ed này tôi đã viết cho tờ Thời báo New York. Và nếu bạn sẵn sàng đọc thêm một chút (được thôi, rất nhiều nữa), đây là một bài viết dài hơn tôi đã viết cho Tạp chí Y học New England.

Melinda và tôi vẫn cam kết cải thiện sức khỏe của 2 tỷ người nghèo nhất. Tin tốt là, nhiều bước cần thiết để cứu sống ở các quốc gia nghèo, chẳng hạn như tăng cường hệ thống y tế. Giúp cải thiện khả năng đối phó với dịch bệnh trên thế giới. Vì vậy, tôi lạc quan rằng chúng ta có thể giải quyết vấn đề này. Thực hiện các khoản đầu tư đúng đắn bây giờ có thể cứu hàng triệu người.

*

Còn đây là Chuyện Charles M. Lieber xẩy ra ngày 28 tháng 1 ngay trước Đại dịch COVID19

Charles M. Lieber là một nhà hóa học người Mỹ và là người tiên phong trong lĩnh vực khoa học và công nghệ nano. Năm 2011, Lieber được Thomson Reuters đặt tên là nhà hóa học hàng đầu trên thế giới trong thập kỷ 2000-2010 dựa trên tác động của các ấn phẩm khoa học của ông. (theo Wikipedia (tiếng Anh). Charles M. Lieber sinh ngày 9 tháng 4 năm 1959 tại Philadelphia, Pennsylvania, Hoa Kỳ. Học vấn: Đại học Stanford, Franklin & Marshall College Các sinh viên ưu tú: Hongjie Dai, Peidong Yang, Teri W. Odom, Philip Kim. Các lĩnh vực chuyên sâu: Công nghệ nano, Hóa học, Materials physics, Khoa học thần kinh Sách chuyên khảo nổi bật nhất của ông là: Nanowires: Building Blocks for Nanoscience and Nanotechnology (Nanowires: Cấu trúc Khoa học và Công nghệ Na No). Charles M. Lieber đã dính dáng trong hồ sơ Cảnh sát Toàn cầu, theo kiểm chứng từ nhiều ngườn thông tin. Vì sao? Ai là ai trong thế giới này? Ông Charles M. Lieber đã dính dáng và bị tội như thế nào? Đó là chuyện cổ tích cho người lớn. Chúng ta trầm tĩnh theo dõi để biết ứng xử thích hợp.

Theo Hồ sơ Interpol, Mỹ truy tố giáo sư Harvard vì nhận tài trợ nước ngoài, Báo Cảnh sát Toàn cầu www. cstc.cand.com.vn ngày 7 thg 2 năm 2020 đưa tin. Sáng sớm ngày 28 tháng 1 năm 2020, các đặc vụ FBI Hoa Kỳ đã đến hai trong số những góc được bảo vệ nhiều nhất của Trường đại học Harvard, đi qua một ngôi nhà ở ngoại ô Lexington và một tòa nhà gạch tân cổ điển ở Cambridge. Vào buổi chiều, một trong những nhà sáng chế khoa học của Harvard đã bị còng tay, buộc tội nói dối với chính quyền liên bang về mối quan hệ tài chính của ông với chính phủ nước ngoài, và đặc biệt là ông tham gia chương trình Nghìn lẻ tài năng, một chiến dịch nhằm thu hút các nhà khoa học nước ngoài đến Trung Quốc. Vụ bắt giữ Charles M. Lieber, Trưởng khoa Hóa và Hóa sinh của Đại học Harvard, đã báo hiệu một giai đoạn mới quyết liệt trong chiến dịch của Bộ Tư pháp Mỹ để tìm ra các nhà khoa học đang đánh cắp nghiên cứu từ các phòng thí nghiệm của Mỹ.

Trong nhiều tháng, tin tức đã được đưa ra về việc truy tố các nhà khoa học, chủ yếu là các sinh viên tốt nghiệp và các nhà nghiên cứu Trung Quốc làm việc trong các phòng thí nghiệm của Mỹ. Nhưng Tiến sĩ Lieber đại diện cho một loại mục tiêu khác, một nhà nghiên cứu ngôi sao, người đã vươn lên tầm cao nhất của hệ thống phân cấp học thuật Mỹ. Charles M. Lieber là nhà hóa học Mỹ cực kỳ nổi tiếng, hạng ứng viên giải Nobel với 400 bài báo và hơn 50 phát minh sáng chế.

Tiến sĩ Lieber, một nhà lãnh đạo trong lĩnh vực điện tử nano, không bị buộc tội chia sẻ thông tin nhạy cảm với các quan chức Trung Quốc, mà là che giấu với Đại học Harvard, Viện Y tế Quốc gia và Bộ Quốc phòng về số tiền mà các nhà tài trợ Trung Quốc đã trả cho ông.

“Đây là một nhà khoa học rất, rất được đánh giá cao đang làm việc tại Harvard, một tổ chức lớn của Mỹ, ở cấp bậc cao nhất mà một người có thể có. Thật ngạc nhiên khi với tất cả những thành công có thể có trong lĩnh vực này, tại sao ông ta vẫn muốn nhiều hơn?”, Tiến sĩ Ross McKinney Jr. , Giám đốc khoa học của Hiệp hội các trường cao đẳng y tế Mỹ, nói.

Tiến sĩ Lieber, 60 tuổi, bị buộc tội đưa ra tuyên bố sai lệch hoặc gây hiểu lầm, một tội có bản án tối đa là 5 năm tù. Đại học Harvard cho biết Tiến sĩ Lieber đã được nghỉ phép vô thời hạn. Tiến sĩ Lieber là một trong 3 nhà khoa học bị buộc tội vào ngày 28/1.

Theo các nhà chức trách, Zaosong Zheng, một nhà nghiên cứu ung thư trực thuộc Harvard đã bị bắt gặp rời khỏi Mỹ với 21 lọ tế bào bị đánh cắp từ phòng thí nghiệm tại Bệnh viện Deaconess của Israel ở Boston. Họ nói rằng ông này thừa nhận đã lên kế hoạch thúc đẩy sự nghiệp của mình bằng cách xuất bản nghiên cứu ở Trung Quốc dưới tên riêng của mình. Zaosong Zheng bị buộc tội buôn lậu hàng hóa từ Mỹ và khai báo sai sự thật, và đang bị giam giữ tại Massachusetts sau khi một thẩm phán xác định rằng ông có nguy cơ bay ra nước ngoài.

Người thứ ba là Yanqing Ye, người đã thực hiện nghiên cứu tại Khoa Vật lý, Hóa học và Kỹ thuật y sinh của Đại học Boston cho đến mùa xuân năm ngoái, khi cô trở về Trung Quốc. 

Các công tố viên cho biết Yanqing Ye che giấu sự thật rằng cô là một Trung úy trong Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, và tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ từ các sĩ quan quân đội Trung Quốc khi còn ở Đại học Boston. 

Cô Yanqing bị buộc tội gian lận visa, khai báo sai sự thật, hoạt động như một đại lý của một chính phủ nước ngoài và âm mưu. Yanqing Ye hiện đang ở Trung Quốc và không bị bắt.

Các công tố viên đã nói rõ rằng các cáo buộc được công bố vào 28-1 là một phần của cuộc bố ráp lớn hơn đối với các nhà nghiên cứu làm việc với Chính phủ Trung Quốc. Các tài liệu cáo buộc của tòa án mô tả các cam kết ngày càng tăng của Tiến sĩ Lieber tại Trung Quốc và những nỗ lực che giấu chúng khỏi cấp trên của ông ở Mỹ.

Năm 2011, các tài liệu cho biết, ông Lieber đã ký một thỏa thuận để trở thành một nhà khoa học chiến lược tại Đại học Công nghệ Vũ Hán ở Trung Quốc, với mức lương 50.000 đô la hàng tháng, 150.000 đô la chi phí sinh hoạt hàng năm và hơn 1,5 triệu đô la cho phòng thí nghiệm thứ hai ở Vũ Hán. 

Năm 2013, ông đã tổ chức lễ thành lập một phòng thí nghiệm chung, Phòng thí nghiệm Nano chung của Đại học Công nghệ Vũ Hán và Đại học Harvard. Và ông đã được thông báo vào năm 2012 rằng ông đã được chọn tham gia kế hoạch Ngàn Tài năng, chương trình do Chính phủ Trung Quốc phát động.

Năm 2015, Harvard phát hiện Tiến sĩ Lieber đang lãnh đạo một phòng thí nghiệm tại Đại học Vũ Hán và thông báo cho ông rằng việc sử dụng tên và logo của Harvard là vi phạm chính sách của trường đại học. Tiến sĩ Lieber sau đó xa lánh dự án, nhưng tiếp tục nhận được các khoản thanh toán từ Trung Quốc, các công tố viên cho biết.

Năm 2017, Tiến sĩ Lieber được vinh danh là giáo sư đại học, cấp bậc giảng viên cao nhất của Harvard, một trong 26 giáo sư giữ vị trí đó. Cùng năm, ông được Giải thưởng N.I.H. cho phát minh điện tử lưới tiêm có thể tích hợp với não. Các nhà điều tra từ Bộ Quốc phòng – nơi đã cấp 8 triệu đô la tài trợ cho Tiến sĩ Lieber – bắt đầu thẩm vấn ông vào năm 2018 về các nguồn thu nhập thứ cấp, các công tố viên cho biết.

Tiến sĩ Lieber nói với họ là ông biết về chương trình Ngàn Tài năng của Trung Quốc, nhưng chưa bao giờ được mời tham gia. Hai ngày sau cuộc trò chuyện đó, Tiến sĩ Lieber đã nhờ một cộng tác viên phòng thí nghiệm giúp ông xác định các trang web mà ông được gọi là người đứng đầu phòng thí nghiệm Trung Quốc.

Năm ngoái, Harvard đã được yêu cầu nộp báo cáo chi tiết về Tiến sĩ Lieber cho N.I.H., nơi đã cung cấp 10 triệu đô la tài trợ cho các dự án nghiên cứu của ông. Ông nói với các quan chức đại học rằng ông không có mối liên hệ chính thức nào với Đại học Công nghệ Vũ Hán, các công tố viên nói rằng ông không phải và chưa bao giờ là một người tham gia chương trình Ngàn Tài năng.

Chiến dịch xem xét kỹ lưỡng các nhà khoa học tài trợ nước ngoài là một hoạt động tương đối mới. Cuối năm 2018, Jeff Sessions, khi đó là Tổng chưởng lý, tuyên bố rằng Mỹ đang đứng trước những mối đe dọa có chủ ý, có hệ thống và có tính toán từ nước ngoài. Do đó, các nhà nghiên cứu đang chịu mức độ giám sát cao hơn về tài trợ nước ngoài so với trước đây, Derek Adams, cựu công tố viên liên bang chuyên về gian lận dân sự cho biết.

Theo một nguồn tin khác chưa được kiểm chứng : Chiều ngày 28/1/2020. Nhà ông Charles M. Lieber bị khám xét. Một quả bom khiến giới khoa học Mỹ sửng sốt. “Tuyên bố sai lệch, hư cấu và lừa đảo” là tội danh mà FBI thông báo để bắt ông này. Ông đã khai báo dối trá cho Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ và cho các nhà điều tra của Harvard về việc tham gia Chương trình Hàng ngàn Tài năng của Trung Quốc. Chương trình được tạo ra để lôi kéo các nhà khoa học và nhà nghiên cứu Mỹ cung cấp nghiên cứu của họ cho Trung Quốc. Và vụ việc có vẻ liên quan tới 2 người TQ vừa bị bắt tại Mỹ trong thời gian gần đây. Một người là Yanqing Ye, 29 tuổi, cô vào làm nghiên cứu sinh cho Boston University song thực chất là gian lận visa và là người của quân đội TQ. Người thứ 2 là nhà nghiên cứu ung thư, Zaosong Zheng, đã bị buộc tội vì đã cố gắng đem lậu 21 lọ vật liệu sinh học từ Mỹ sang Trung Quốc và nói dối với các nhà điều tra liên bang. Zaosong, 30 tuổi, đang nghiên cứu dưới sự tài trợ của Đại học Harvard đã giấu các lọ thuốc trong một chiếc tất trước khi lên máy bay. FBi cáo buộc rằng Lieber đã nói dối về mối quan hệ của mình với Đại học Công nghệ Vũ Hán (WUT) tại Trung Quốc và một hợp đồng mà anh ta có với một kế hoạch tuyển dụng nhân tài của Trung Quốc để thu hút các nhà khoa học cấp cao đến nước này. Ông này đã được trường đại học Trung Quốc trả 50.000 đô la mỗi tháng và được cho 1,5 triệu đô la để thành lập phòng thí nghiệm nghiên cứu khoa học nano tại WUT. Chính quyền liên bang nói với các phóng viên rằng các trường hợp nêu bật “mối đe dọa đang diễn ra” do Trung Quốc gây ra bằng cách sử dụng “các nhà sưu tập phi truyền thống” như các học giả và nhà nghiên cứu để đánh cắp nghiên cứu và công nghệ của Mỹ. Trong một tuyên bố, đại học Harvard gọi các cáo buộc là “cực kỳ nghiêm trọng”. “Harvard đang hợp tác với các cơ quan liên bang, bao gồm Viện Y tế Quốc gia, và đang tiến hành đánh giá riêng về hành vi sai trái bị cáo buộc”. Những sự vụ này liên quan tới 2 đại học hàng đầu của Mỹ là Boston và Harvard, thành ra rất nghiêm trọng. Trong cuộc cạnh tranh giữa 2 siêu cường, Mỹ nay phải hết sức thận trọng trước các chiêu trò ăn cắp bí mật công nghệ “

xem tiếp:
Chuyện cổ tích người lớn
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-co-tich-nguoi-lon/
Bill Gates học để làm
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bill-gates-hoc-de-lam/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
Tuyển Tập Hòa Tấu Saxophone Trữ Tình Hay Nhất
The Best of Classical Music – Mozart, Beethoven, Bach, Chopin…
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook Kim on Twitter

Chuyện cổ tích người lớn

Hồ Chí Minh với lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1961, ảnh tư liệu của PCT)

CỤ NGUYỂN ĐĂNG MẠNH VIẾT VỀ BÁC HỒ
Hoàng Kim

Cụ Mạnh viết về Bác Hồ ở Chương 7 “Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh” thật hay. Tôi thường đọc lại. Nghề văn sử thời nay, chép được đầy ắp tư liệu hay và thật như vậy, là thật giỏi và khéo lắm. https://hoangkimlong.wordpress.com/2020/02/09/cu-nguyen-dang-manh-viet-ve-bac-ho/

Cậu Cương ngọc trai bé của ông tôi trong Hoàng Gia Cương theo dòng thời gian cuối sách có ghi: “Văn muốn đạt tài hoa, tâm cần sáng, tứ cần sâu, năng gạn đục khơi trong văn mới tuyệt. Nghệ mong nên tuyệt tác, trí phải minh, công phải trọng, biết tầm sư học đạo nghệ càng tinh“; “CHÍ khí một hiền MINH, vạch lối, dẫn đường, gây nghiệp lớn hồi sinh đất nước. NGUYÊN  vẹn từng trụ GIÁP, xua Tây, trừ Mỹ, lập công đầu bảo vệ non sông”.

CỤ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH VIẾT VỀ BÁC HỒ
(Trích Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh, chương Bảy)

Tôi được tận mắt thấy Hồ Chí Minh hai lần.

Lần thứ nhất sau Cách mạng tháng Tám. Sau cuộc khởi nghĩa tháng tám năm 1945, bố tôi đưa cả gia đình từ Thái Bình về thị xã Bắc Ninh. Tôi tiếp tục học cấp 2 ở trường Hàn Thuyên.

Một hôm được tin Hồ chủ tịch về Bắc Ninh. Tôi và mấy bạn học được nhà trường cử đi đón. Mỗi đứa được phát một lá cờ nhỏ bằng giấy, hễ Hồ chủ tịch đến thì vẫy cờ và hô khẩu hiệu chào mừng.

Chúng tôi đứng xếp hàng trước cửa phòng thông tin xã, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh tới.

Ðợi một lúc thì có một chiếc xe ô tô con đỗ ngay mép đường, trước cửa phòng thông tin. Tôi thấy có hai anh cảnh vệ vọt ra trước, cầm lăm lăm tiểu liên, nhẩy lên đứng trên hai cái trụ của bức tường hoa thấp trước phòng thông tin. Hai anh lia mũi súng sang trái, sang phải, vẻ mặt căng thẳng.

Hồ Chí Minh bước ra sau. Quần áo Kaki. Giầy vải. Cầm batoong. Người gầy đen. Râu tóc cũng đen. Ông đứng lại ngay sát chúng tôi, nhưng không để ý gì đến bọn trẻ con này cả, tuy chúng tôi ra sức phất cờ và hô, “Hồ chủ tịch muôn năm !”

Ðứng lại một lát, liếc nhìn chung quanh một chút, mặt đầy cảnh giác, rồi ông đi rất nhanh vào phòng thông tin. Lưng rất thẳng, gầy nhưng cứng cáp, cử chỉ lanh lẹn – ấn tượng của tôi về Hồ chí Minh là như thế.

Hồi đó, ở Bắc Ninh, Việt Nam Quốc dân đảng hoạt đông khá mạnh. Ðã có những cuộc đụng độ vũ trang giữa lính Quốc dân đảng và Vệ quốc đoàn ở Thị Cầu. Chắc vì thế nên ông Hồ và các vệ sĩ của ông rất cảnh giác.

Lần thứ hai tôi được thấy Hồ chủ tịch là vào khoảng 1961, 1962 gì đó, hồi tôi công tác ở trường Ðại học sư phạm Vinh.

Ông Hồ vào Vinh. Người ta tổ chức cho ông gặp đồng bào ở một cái sân vận động của thị xã.

Họ dựng một cái kỳ đài bằng tre- có vẻ thô sơ thôi. Ông Hồ đứng trên đó với một số cán bộ tỉnh. Lúc hô khẩu hiệu, ông cùng vung tay hô như mọi người:

_ Ðảng Lao Ðộng Việt Nam muôn năm !

_ Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà muôn năm !

Ông Hồ vung tay rất cao.

Nhưng đến khẩu hiệu thứ ba:

_ Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm !

Ông Hồ cũng vung tay lên, nhưng chợt nhận ra họ hoan hô mình, vội rụt tay xuống.

Tôi theo dõi không bỏ sót một cử chỉ nào của ông cụ hôm ấy.

Ông Hồ bắt đầu nói chuyện với đồng bào.

Hồ Chí Minh không hề tỏ ra là người hùng biện. Nói chậm, ngắn, không lưu loát. Có chuyện lỡ miệng nói hớ, vội lảng sang ý khác. Tôi nhớ ông đang nói dở một câu tục ngữ, “Thanh cậy thế, Nghệ cậy..”thì vội ngừng lại và lảng sang ý khác. Có lẽ ông không muốn làm mất lòng người Nghệ Tĩnh chăng, vả lại, “cậy thần “là cậy thần nào, thần Hồ Chí Minh à? Tôi chắc ông nghĩ thế nên không nói tiếp câu ấy nữa.

Năm 1969, tôi chuyển ra công tác ở trường Ðại học Sư phạm Hà nội. Các anh Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Hoàng Dung thay nhau làm tổ trưởng tổ Văn học Việt Nam hiện đại. Các anh đều rất quan tâm đến việc nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh nên thường tổ chức cho chúng tôi gặp những người hiểu biết về Hồ Chí Minh như Hoàng Văn Hoan, Lê Quảng Ba, Họa sĩ Diệp Minh Châu, Vũ Kỳ. Nhờ gặp các vị này, tôi được biết nhiều chuyện cụ thể về ông Hồ, trước hết là chung quanh sự kiện ông Hồ bị bắt ở Quảng Tây, Trung Quốc và viết Nhật Ký Trong Tù.

Ông Hồ về Pắc Bó đầu năm 1941 ngày 28/1. Tháng 8/1942 ông trở lại Trung Quốc để vận động các cơ sở cách mạng bên ấy ủng hộ Việt Minh và mua vũ khí về cho Việt Minh.

Ông Lê Quảng Ba cùng đi với ông Hồ. Ðến một địa điểm nào đó thuộc Quảng Tây thì gặp núi lở, một tảng đá văng vào chân Lê Quảng Ba. Ba bị đau, cố đi một cách khó khăn. Ðể động viên người đồng hành với mình, ông Hồ vừa đi vừa kể Chinh Phụ Ngâm. Vừa kể vừa giảng. Té ra xa nước ba mươi năm Hồ Chí Minh vẫn thuộc lòng Chinh Phụ Ngâm.

Nhưng Lê Quảng Ba càng đi càng đau. Ðến Tĩnh Tây thì phải nghỉ lại tại một cơ sở cách mạng. Hôm sau, ông Hồ tiếp tục lên đường. Cùng đi với ông có một thanh niên Trung Quốc tên Dương Ðào- tất nhiên cũng là một cơ sở cách mạng. Ðến xã Túc Vinh, huyện Ðức Bảo, tỉnh Quảng Tây thì bị bọn Hương cảnh Trung Quốc bắt (Ngày 27- 8- 1942)

Không phải ông Hồ không có giấy tờ hợp lệ. Hồ Chí Minh không thể sơ xuất như thế được. Hồ Chí Minh bị bắt vì khám trong người, cảnh sát Tàu phát hiện có rất nhiều đôla. Nghe nói hồi ở Pắc Bó, có người đã thấy ông phơi đôla cho khỏi ẩm mốc. Bây giờ qua Trung Quốc, ông đem đôla đi để mua vũ khí cho Việt Minh.

Nhưng cảnh sát Tàu cho là Hán gian, là gián điệp của Nhật lúc bấy giờ đang đánh Trung Quốc. Chỉ có gián điệp mới có đôla thôi chứ, người dân Trung Quốc bình thường làm gì có lắm ngoại tệ thế ! Ðiều này tác giả Ngục Trung Nhật Ký cũng đã nói rõ trong thơ của mình:

Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng
Lại bị tình nghi là Hán gian
(Ðường đời hiểm trở)

Hôm nay xiềng xích thay dây trói
Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung
Tuy bị tình nghi là gián điệp
Mà như khanh tướng vẻ ung dung
(Ði Nam Ninh)

Các vị lãnh đạo Ðảng lúc bấy giờ ở Cao Bằng như Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt nghe tin cụ Hồ bị bắt, hoảng quá, cho người sang Tàu dò hỏi xem nó giam ở đâu, nhưng không tìm được. Qua mấy tháng bặt tin tức, các vị bèn quyết định lật bài ngửa: điện cho Mạc Tư Khoa và cho Tưởng Giới Thạch nói rõ đó là Nguyễn Ái Quốc, thủ lĩnh Việt Minh, đề nghị thả ra.

Biết không phải là Hán gian, các nhà chức trách Trung Hoa bèn chuyển Hồ Chí Minh sang chế độ nhà tù khác. Trong Nhật Ký Trong Tù, bài Bốn Tháng có thể coi là bản tổng kết giai đoạn đầu của thời gian 14 tháng ở tù vô cùng cực khổ của ông Hồ, “Sống khác loài người vừa bốn tháng. Tiều tụy còn hơn mười năm trời.”

Chuyển sang chế độ nhà tù mới, ông Hồ được tắm rửa, ăn uống khá hơn, thỉnh thoảng được đi dạo quanh nhà lao, đặc biệt được cung cấp rất nhiều sách báo. Tưởng Giới Thạch còn tặng ông một cuốn sách của mình. Ðiều này ông Trần Dân Tiên đã có nói nhưng không giải thích lý do vì sao. Ðiều đáng chú ý là, Nhật Ký Trong Tù có tất cả 113 bài tuyệt cú thì bài Bốn Tháng Rồi là bài thứ 103. Nghĩa là 10 tháng sau, tác giả chỉ làm thêm ba chục bài nữa thôi. Vì sao vậy? Vì Hồ Chí Minh chỉ làm văn chương khi tuyệt đối không có điều kiện làm chính trị, làm cách mạng. Mười tháng sau này, có điều kiện chuẩn bị cho cách mạng, lập tức ông dồn sức vào đấy: đọc sách báo, dịch tác phẩm “Tam dân chủ nghĩa “của Tôn Trung Sơn, đọc sách của Tưởng Giới Thạch tặng “Trung quốc đích mệnh vận”

Nguyên bản Nhật Ký Trong Tù đâu chỉ có thơ, ở cuối tập Nhật Ký còn có tới 20 trang ghi kín tin tức thời sự lấy từ các báo chí được cung cấp gọi là Ðộc báo lan.

Mới biết, viết bài Mở đầu (Khai Quyển) Nhật Ký Trong Tù, Hồ Chí Minh đã nói thật lòng mình:

Ngâm thơ ta vốn không ham
Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây
Vưà ngâm vừa đợi đến ngày tự do

Hồ Chí Minh được bọn Tàu Tưởng thả về nước không phải ngẫu nhiên, chắc ông phải khôn khéo thương lượng với chúng và với cánh Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam như thế nào đó, nó mới thả cho về nước.

Hôm tiễn cụ Hồ về nước, Hầu Chí Minh (Trong Nhật Ký Trong Tù, Hồ chí Minh gọi là Hầu chủ nhiệm (Chủ nhiệm cục chính trị đệ tứ chiến khu) cùng với Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam có tổ chức một cuộc liên hoan hẳn hoi (tháng 12- 1943). Trong liên hoan, họ có thử tài nhau bằng thách đối.

Nguyễn Hải Thần đưa ra một vế đối khá độc hiểm:

“Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, lưỡng vị đồng chí, chí giai minh “

Ông Hồ xin đối :

“Nhĩ cách mệnh, ngã cách mệnh, đại gia cách mệnh, mệnh tất cách “

Mọi người tán thưởng. Hầu Chí Minh ca ngợi “Ðối hay lắm “.Còn Nguyễn Hải Thần thì cung kính nói, “Hồ tiên sinh tài trí mẫn tiệp, bội phục, bội phục “

Trong cuộc liên hoan, ông Hồ còn góp vui một tiết mục rất đặc biệt: nhảy điêụ Nga-la-tư, một điệu vũ dân gian rất khoẻ của Nga.

Trong Nhật Ký Trong Tù và hồi ký Vưà Ði Ðường Vừa Kể Chuyện, ông Hồ có nói, khi mới ra tù, “chân mềm như bún “, đi không được, phải tập leo núi rất khó nhọc, phải bò, phải lết mãi mới đi được. Vậy sao lại có thể nhảy điệu Nga- la – tư?

Suy ra ta có thể hiểu như thế này: từ khi biết ông Hồ là ông Hồ, không phải Hán gian, nhà chức trách Trung quốc cho ông được hưởng chế độ quản thúc. Nghĩa là chỉ không được ra khỏi vùng quản thúc thôi, còn thì có thể ra ngoài nhà tù để leo núi, tập đi, tập luyện mắt. (Cho nên mới có chuyện ở Liễu Châu, ông Hồ đi tắm sông, gặp tướng Tàu Trương Phát Khuê. Khoảng giữa tháng 9- 1943, sau một thời gian tập luyện, cuối cùng ông Hồ chẳng những đi vững mà còn trèo được núi. Ông cao hứng làm một bài thơ chữ Hán:

Vân ủng trùng sơn sơn ủng vân
Giang tâm như kính tịnh vô trần
Bồi hồi độc lộ Tây phong lĩnh
Nam vọng trùng dương ức cố nhân
(Vừa đi đường, vừa kể chuyện)

Bài thơ này cụ Hồ đã bí mật gửi về cho các đồng chí của mình ở Cao Bằng (Viết lên mép trắng của một tờ Quảng Tây nhật báo). Võ Nguyên Giáp trong tập hồi ký Những Chặng Ðường Lịch Sử cho biết, “Bữa đó tôi về cơ quan hội báo tình hình thì thấy anh Ðồng, anh Vũ Anh và anh Lã đang xem xét quanh một tờ báo. Các anh chuyển tờ báo và hỏi tíu tít:

_ Anh xem có đúng là chữ của Bác không?

Ðó là một tờ báo ở Trung quốc mới gửi về, trên mép trắng có mấy hàng chữ Hán viết tay. Tôi nhận ra ngay đúng là chữ của Bác. Bác viết, “Chúc chư huynh ở nhà mạnh khoẻ và cố gắng công tác, ở bên này bình an.

Phiá dưới lại có một bài thơ “

Như thế bài thơ này đã được làm từ khá lâu (9- 1943) trước cuộc liên hoan tiễn chân nói trên 3 tháng (12- 1943)

Sau này, Tô Hoài còn cho biết, trong cuộc liên hoan tiễn cụ Hồ về nước, hôm ấy còn có mặt nhà thơ Quang Dũng nữa. Lúc này Quang Dũng đang đi theo Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần.

Về tập Nhật Ký Trong Tù, có người nói ông Hồ đánh mất ngay sau khi ra khỏi tù. Thực ra không phải.

Ngày 16- 9- 1943, ông Hồ được trả lại tự do, cuốn Nhật Ký Trong Tù vẫn được ông giữ cẩn thận.

Ngày 14 – 9 – 1955, ông đưa tác phẩm này cho ông Nguyễn Việt, trưởng ban tổ chức triển lãm cải cách ruộng đất tại phố Bích Câu. Ông Hồ nói, “Tôi có quyển sổ tay cách đây mười mấy năm còn giữ được đến bây giờ, các cô, các chú xem có triển lãm được thì dùng. “Nguyễn Việt đưa vào triển lãm, bày ở phòng “Ngọn đuốc soi đường của Ðảng Cộng sản Ðông Dương “.

Nhật Ký Trong Tù hiện được lưu trữ ở Bảo tàng cách mạng Việt Nam.

Vào năm 1970, 1971 gì đó, anh Huỳnh Lý được biết Họa sĩ Diệp Minh Châu từng sống với Hồ chủ tịch sáu tháng ở Việt Bắc thời kháng chiến chống Pháp, nên tổ chức cho chúng tôi gặp họa sĩ ở nhà riêng.

Hai vợ chồng cùng là họa sĩ và điêu khắc. Nhà cửa hết sức bề bộn, có thể nói là tanh bành. Ðất sét, thạch cao vung vãi. Nước đổ lênh láng trên nền nhà. Khắp nơi lăn lóc những đầu người: đầu Nguyên Hồng, đầu Nguyễn Tuân…bằng đất sét.

Cách trò chuyện của Diệp Minh Châu cũng vậy. Chuyện nọ xọ chuyện kia, có lúc lại tạt ngang giới thiệu tranh của vợ.

Ở đây tôi chỉ lọc ra những gì anh nói về Hồ Chí Minh.

Diệp Minh Châu ở với Hồ chủ tịch sáu tháng ở chiến khu Việt Bắc trước khi ra nước ngoài học tiếp về hội họa, điêu khắc. Hằng ngày, anh cùng ăn với Hồ chủ tịch.

Có một bữa, đến giờ ăn rồi mà mãi không thấy ông Hồ ra. Diệp Minh Châu ngồi đợi. Cuối cùng ông cũng ra, nhưng lại châm điếu thuốc hút, nghĩa là chưa ăn ngay. Thấy Châu ngồi đợi, ông bảo, “Chú cứ ăn trước đi “Tất nhiên Châu không dám, vẫn đợi. Một lát, ông Hồ nói thủng thẳng với họa sĩ, “Về sau chú làm nghề gì thì làm nhé, đừng làm chủ tịch nước, khổ lắm ! “

Diệp Minh Châu không bình luận gì. Tôi cho rằng, Hồ Chí Minh vừa qua một cuộc họp trung ương, chắc có điều gì không thuyết phục nổi các đồng chí của mình: người ta đang sùng bái Staline, Mao Trạch Ðông, không chịu nghe Hồ Chí Minh, chắc thế. (Staline vốn không coi Hồ Chí Minh là cộng sản chuyên chính. Ông Phạm Văn Ðồng có lần nói với anh Hoàng Tuệ (khi hai người cùng công tác ở Liên xô): năm 1950, Staline triệu Hồ Chí Minh sang gặp, ông ta không gọi Hồ Chí Minh là đồng chí (tavarich).

Ở rừng Việt Bắc vào những đêm trăng đẹp, ông Hồ thường rủ Diệp Minh Châu ra suối câu cá. Vưà câu vưà trò chuyện. Có lần ông nói về Nhật Ký Trong Tù : “Hồi ấy bị giam trong tù buồn quá, phải nghĩ ra cách gì để giải trí. Có ba cách: một là nằm ngửa đếm ngói trên mái nhà, đếm hết lại phân loại ngói lành, ngói vỡ. Hai là săn rệp ở những khe ván sàn xà lim. Ba là làm thơ “. Thì ra đối với ông Hồ, làm thơ cũng chỉ là một trò giải trí như đếm ngói và săn rệp vậy thôi. Thảo nào có ai hỏi ông về Nhật Ký Trong Tù như một tập thơ, ông đều từ chối không trả lời, vì coi đó chẳng phải thơ phú gì và bản thân ông cũng không phải nhà thơ. Chẳng qua ở tù buồn quá, không biết làm gì, thì ghép vần chơi, thế thôi (Trong cuốn sách Vừa đi đường vừa kể chuyện,ông đã nói như thế).

Năm 1965, Mỹ cho không quân ra đánh phá miền Bắc. Cầu Hàm Rồng, Thanh Hoá, là một trọng điểm oanh tạc của chúng. Anh chị em dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng, phối hợp cùng với pháo binh tải đạn và bắn máy bay giặc. Nổi lên có hai nữ dân quân được tuyên dương công trạng xuất sắc: Ngô Thị Tuyển và Nguyễn Thị Hằng.

Năm ấy, tôi phụ trách một đoàn sinh viên Ðại học Sư phạm Vinh ra thực tập ở trường Lam Sơn, Thanh Hoá, sơ tán ở ngoại ô thị xã. Tôi đưa mấy sinh viên Văn ra gặp Nguyễn Thị Hằng ở nhà riêng. Hằng là một cô gái quê mà rất trắng trẻo, cao ráo. Cô cho xem bức hình chụp mặc quân phục trông rất đẹp đẽ,oai phong. Cô khoe vưà được ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Lần đầu tiên ra Hà Nội, đi đâu cũng có một anh cảnh vệ hay công an đưa đi. Hành trình qua rất nhiều chặng. Ðến mỗi chặng, anh dẫn đường lại bảo, cô ngồi đây, Bác xuống bây giờ.

Một lát ông Hồ tới. Ông không vội hỏi han gì về thành tích chiến đấu của Hằng. Câu hỏi đầu tiên của vị chủ tịch nước là, “Cháu có buồn đi tiểu, Bác chỉ chỗ cho mà đi.”

Câu chuyện của Nguyễn Thị Hằng về Chủ tịch Hồ Chí Minh hôm đó, tôi nhớ nhất chi tiết này. Chi tiết rất nhỏ nhưng nói rất nhiều về con người Hồ Chí Minh.

Tôi nghĩ đến câu nói của một nhân vật của Dostoievsky trong cuốn “Anh em nhà Karamadôp “: “Tôi càng yêu nhân loại nói chung thì lại càng ít yêu con người nói riêng, tức tách bạch ra từng người riêng rẽ. Những lúc mơ ước, nhiều lúc tôi đã có dự định say mê phụng sự nhân loại (..) thế nhưng tôi lại không thể sống chung với bất kỳ ai trong một căn phòng.”. Ðó là loại người mà Dostoievsky gọi là chỉ có “tình yêu mơ mộng “chứ không có tình yêu thực sự.

Ông Hồ một mặt yêu nhân loại rộng lớn, mặt khác, quan tâm rất cụ thể thiết thực đến những con người cụ thể quanh mình.

Anh Trần Việt Phương có kể một câu chuyện khác cũng tương tự về ông Hồ. Trước căn nhà sàn của chủ tịch luôn có một anh bộ đội đứng gác. Thương anh lính trẻ đứng gác lâu chắc đói bụng, ông cụ đem một quả chuối xuống cho anh ta ăn. Anh lính không dám ăn, vì như thế là vi phạm luật nhà binh. Ông Hồ nói, “Vậy để bác gác cho cháu ăn, không sợ “.

Hồ Chí Minh có điều này cũng rất quý: trong cách ứng xử với mọi người, tỏ ra rất lịch sự, nghĩa là rất tôn trọng con người. Hồi kháng chiến chống Pháp, Họa sĩ Dương Bích Liên được cử đến ở với ông Hồ để vẽ. Sau một thời gian, Tố Hữu đến xem tranh, cho là không đạt. (Chắc là Duơng Bích Liên thích vẽ Hồ chí Minh trong sinh hoạt đời thường, không thể hiện được tư thế lãnh tụ chăng?). Tố Hữu quyết định cho Dương Bích Liên thôi việc và mời đi luôn. Khi ông Hồ biết chuyện này thì Duơng Bích Liên đã đi rồi. Hồ chí Minh không bằng lòng với cách đối xử như thế. Ông cho người đuổi theo mời họa sĩ trở lại để có lời với anh và đưa tiễn đàng hoàng.

Tôi nghĩ Hồ Chí Minh thực bụng, không hề coi mình là ông thánh, nghĩa là chỉ muốn được là người với những nhu cầu như của mọi người bình thường. Cũng có thể trong tư cách nhà chính trị lại khác. Vì nhu cầu chính trị, có khi Hồ chí Minh cũng phải “diễn “những điều trái với bản chất của mình. Vì thế tôi nói, thực bụng ông Hồ không thích làm thánh nhân chút nào. Thí dụ, mệt cũng muốn nghỉ. Tố Hữu có lần đi với ông, thấy một khẩu hiệu trên tường: “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm ! “, ông nói, “Hồ Chí Minh chỉ muốn nằm ! “

Ông Hồ cũng thích hút thuốc lá. Và chỉ quen hút thuốc lá ngoại, thuốc lá Mỹ. Ông đã bị chi bộ phê bình và bắt hút thuốc lá nội. Sau thấy ông ho quá, lại cho hút thuốc ngoại như cũ. Anh Hoàng Tuệ kể với tôi chuyện này: hồi kháng chiến chống Pháp, đi công tác ban đêm, tình cờ anh đi cùng với một đoàn người chở thuốc lá ngoại từ vùng tề cho cụ Hồ, có bộ đội đi kèm để bảo vệ.

Họa sĩ Dương Bích Liên, hồi cùng ở với ông Hồ ở Việt Bắc, thấy ông thường hút thuốc lá ngoại, uống rượu Tây và uống sữa tươi. (Người ta nuôi một con bò để lấy sưã cho ông.)

Theo Trần Đăng Ninh (Tô Hoài kể lại), ông Hồ ở phủ chủ tịch, thỉnh thoảng lại đóng bộ complet, cravate, chống ba toong đi dạo một lúc trong khuôn viên cho đỡ nhớ- hẳn là nhớ sinh hoạt hồi ở Paris.

Hà Huy Giáp : một hôm linh mục Phạm Bá Trực gặp ông Hồ, bảo ông là surnature (phi thường). Ông Hồ nói,”Chúng mình là contrenature (bất bình thường)”.

Hà Huy Giáp có một thời gian ở gần Hồ chủ tịch. Ông kể lại chuyện hồi năm 1950, ông mới lấy vợ được một năm thì bị điều ra công tác tại Việt Bắc và ở với cụ Hồ. Ông hỏi ông Hồ, “Sao Bác không lấy vợ mà chịu được?”Ông Hồ nói, “Mình cũng như các chú thôi, từ rốn trở xuống là 18 tuổi. Từ rốn đến cổ là 40 tuổi. Từ cổ đến đầu là 60 tuổi, Kinh nghiệm của dân ta là lao động suốt ngày, mệt thì ngủ luôn. Không có việc gì thì đổ trấu ra xay. Buồn ngủ hãy ngủ. Tỉnh ngủ, dậy liền, đừng có nằm mãi trong chăn. Ðừng mặc đồ láng, mềm, mỏng. Nên mặc quần aó vải. Có cán bộ lên công tác ở Việt Bắc, rỗi việc, ngồi tán gẫu. Bác bảo cởi lạt sàn nhà ra, sau đó lại bảo buộc lại. Ðể khỏi “nhàn cư vi bất thiện”.

Các anh Huỳnh Lý, Nguyễn Trác và Hoàng Dung còn tổ chức cho chúng tôi gặp ông Vũ Kỳ, thư ký riêng của cụ Hồ.

Cuộc gặp Vũ Kỳ không giúp tôi biết gì thêm về Hồ Chí Minh, ấn tượng để lại chỉ là hình ảnh của chính Vũ Kỳ. Ông bắt chước tác phong của cụ Hồ từ cách ăn mặc, cách nói năng. Có cái áo Tôn Trung Sơn khoác ngoài không mặc lại vắt lên vai. Ði guốc. Câu đầu tiên ông hỏi chúng tôi, “Các đồng chí có bao nhiêu nữ?”.

Anh Nguyễn Khải có lần gặp Vũ Kỳ cũng có nhận xét y như thế : để râu dài, áo cánh lụa. Ði guốc. Cầm quạt phe phẩy…

Tôi nghĩ bụng, đã là gia nhân thì bao giờ cũng là gia nhân. Gia nhân của người thường hay gia nhân của vua chúa thì cũng thế.

Về chuyện làm thơ của Hồ Chí Minh, tôi vẫn cho rằng ông Hồ có ý thức sáng tác hai loại : một là loại thơ tuyên truyền thường dùng lối ca vè, cốt minh họa đường lối chính trị. Những bài thơ chúc tết, mừng xuân cũng thuộc loại này. Thơ này không sáng tác theo quy luật nghệ thuật. Hai là loại thơ nghệ thuật diễn đạt tình cảm, cảm xúc thẩm mỹ. Loại này ông cốt làm để giải trí sau những giờ làm việc căng thẳng, hoặc ở trong nhà tù, khi hoàn toàn không có cách gì để làm việc cho cách mạng.

Nhiều thằng ngu hoặc cố tình không hiểu đã cố tình phê phán tôi về sự phân biệt này: thơ Bác Hồ, thơ nào chả là thơ nghệ thuật và thơ Bác là thơ cách mạng sao lại bảo là để giải trí.

Tôi cho rằng chính cụ Hồ có ý thức phân biệt như vậy.

Người ta thường kể chuyện này để ca ngợi đức tính giản dị, khiêm tốn của cụ Hồ khi làm những bài thơ tuyên truyền, cụ Hồ thường chuyển cho nhiều người xem, kể cả chú liên lạc, để nhờ góp ý sữa chữa cho thật dễ hiểu, dễ nhớ đối với mọi người. Thế là thơ tuyên truyền chứ còn gì nữa. Tuyên truyền thì cốt nhất là mọi người đều dễ hiểu, dễ nhớ, thế thôi. Nghệ thuật gì mà.

(đọc thêm BBCVietnamese.com: Xung quanh ‘Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh‘)

Cụ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH là Nhà văn, Nhà giáo Nhân dân , Giáo sư Việt Nam, sinh ngày 18/ 3/1931 tại xã Cự Khối, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội; Giảng viên Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại – Khoa Ngữ văn – ĐHSP Hà Nội; đã từ trần hồi 17 giờ 10′, ngày 9/2/2018, hưởng thọ 89 tuổi. Ông trọn đời là gương sáng, tiêu biểu của bản lĩnh kẻ sĩ, nhân cách trí thức và một nghệ sĩ tài hoa. Cụ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH thời tuổi trẻ từng học trường Bưởi (sau này là Trường Chu Văn An – Hà Nội). Năm 1960, sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ văn – trường ĐHSP Hà Nội (một trong những khóa đầu), thầy vào công tác tại Khoa Ngữ văn – ĐHSP Vinh, thời gian khoảng 5 năm; rồi sau đó chuyển ra làm việc và gắn bó suốt 40 năm (của cả quãng đời còn lại) tại Khoa Ngữ văn – ĐHSP Hà Nội.

GS Nguyễn Đăng Mạnh là một trong số những nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học hàng đầu trong lịch sử nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã góp phần đặt nền móng lý thuyết và thực hành phương pháp luận nghiên cứu tác gia văn học ở Việt Nam, góp phần phát hiện và làm nổi bật giá trị thẩm mỹ của nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh và nhiều tác gia văn học Việt Nam hiện đại trong đó có Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng… Với những công trình nghiên cứu khoa học: “Mấy vấn đề phương pháp tìm hiểu, phân tích thơ Hồ Chí Minh”; “Chân dung văn học tập I”; “Văn và dạy học văn”, “Nhà văn tư tưởng và phong cách”, “Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn”, “Văn học Việt Nam hiện đại Những gương mặt tiêu biểu”, “Nhà văn Việt Nam hiện đại Chân dung phong cách”…,

Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh cuộc đời và sự nghiệp gắn bó với giảng đường Khoa Ngữ văn – ĐHSP Vinh, Khoa Ngữ văn – ĐHSP Hà Nội. Những tập bài giảng, giáo trình Văn học Việt Nam thầy trực tiếp viết, tham gia, chủ trì biên soạn đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Nhiều thế hệ sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh dưới sự dìu dắt của thầy đã trở thành những nhà giáo, nhà nghiên cứu, nhà thơ, nhà văn nổi tiếng. Giáo sư NGUYỄN ĐĂNG MẠNH có cuốn Hồi ký nổi tiếng “Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh” <http://www.vinadia.org/hoi-ky-nguyen-dang-manh/> (Trích lời viếng của nhà giáo nhà báo Lê Quang Vinh nguyên là học trò học năm thứ ba của cụ Nguyễn Đăng Mạnh).

Video yêu thích

NHẠC THIỀN – TĨNH TÂM – AN NHIÊN TỰ TẠI
KimYouTube Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương NamThung dung Dạy và họcCây Lương thựcDạy và HọcTình yêu cuộc sống Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter hoangkim vietnam 

Chuyện cổ tích người lớn

CHUYỆN CỔ TÍCH NGƯỜI LỚN
Hoàng Kim

CNM365 Một góc nhìn sự thật CNM365 là sự tâm huyết. Cảm ơn nhà nghiên cứu lịch sử Thụy Khuê và nữ sĩ Chử Thu Hằng, người viết và người lưu giữ tư liệu “Tôi không đánh giá gì cả, bởi vì người viết sử chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là trình bầy sự kiện lịch sử. Việc đánh giá là của người đọc. Độc giả đọc một đoạn sử viết về một nhân vật hay một giai đoạn lịch sử, rồi tự rút ra những suy nghĩ hay đánh giá về nhân vật hay giai đoạn lịch sử ấy, và đánh giá luôn cách viết của người soạn sử. Vần đề quan trọng của chúng ta hiện nay, là lầm việc “viết sử” với việc “đánh giá”. Vì thế, trong các cuộc phỏng vấn, người ta không hỏi những nhà được mệnh danh là sử gia ông biết gì về nhân vật hay giai đoạn lịch sử này, mà thường hỏi ông “đánh giá” gì về nhân vật lịch sử này, về giai đoạn kia. Và vị “sử gia” được hỏi cứ thao thao bất tuyệt “đánh giá” về một vấn đề mà đôi khi ông ta không biết.”. CNM365 một góc nhìn sự thật . Tôi thích lưu lại tinh hoa tâm đắc và suy ngẫm của chính mình. Tôi thích góc nhìn “Khen và chê” của anh Phan Chí Thắng. Văn chương của mình và ảnh đẹp cần gạn lọc để lưu lại. Viết văn và chọn chơi ảnh là khó. Anh Ngô Minh “Quà tặng xứ mưa” “Hồn tôi đã hóa con đò ấy” đã kịp lưu lại cho đời những kỷ niệm đẹp. Đó là chuyện đáng suy ngẫm https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-co-tich-nguoi-lon/ http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-30-thang-9/

Tài liệu dẫn

KHEN VÀ CHÊ
Phan Chí Thắng

Nhiều khi ta phải khen (ca ngợi) hoặc chê (phê phán) một người, một ai đó.

Khen chê đòi hỏi kỹ năng và nhân cách.

Con người có hai phẩm chất chính là tài năng và nhân cách.
Ở mỗi người hai thứ này nhiều ít tỷ lệ khác nhau.

Với người có tài nhưng nhân cách kém ta chỉ ca ngợi tài năng, không nhắc gì đến nhân cách, âu cũng là một kiểu chê người ấy thiếu nhân cách vậy.

Tương tự, người tử tế tốt tính nhưng tài năng không bao nhiêu thì ta ca ngợi nhân cách người đó, không nhắc đến tài năng.

Với người có tài có đức thì:

1. Khen vì người ấy tốt với mình – mình là tiểu nhân.
2. Khen vì người ấy tốt với nhiều người – mình là trung nhân.
3. Khen vì người ấy có nhiều đóng góp cho xã hội, cho đất nước – mình mới là cao nhân.

Khen quá mức sẽ thành nịnh bợ, chê quá mức sẽ thành bôi xấu. Người quân tử không bao giờ làm vậy.

Chê cũng có 3 cấp độ:
1. Chê tật xấu của người khác – mình là người nhỏ nhen.
2. Chê những thất bại của người khác – mình quá tầm thường.
3. Chê những kẻ làm hại cho dân cho nước – mình là người biết điều.

Không khen không chê là mũ ni che tai, nhưng khen chê cũng phải trúng vì khi ta khen chê ai đó ta sẽ bộc lộ với mọi người ta là ai.

VIẾT SỬ” VÀ “ĐÁNH GIÁ

Nữ sĩ Chử Thu Hằng 27 tháng 9 lúc 11:46 viết: Quan niệm của nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử Thụy Khuê về hai từ “đánh giá” mà chúng ta đang dùng rất thông dụng. Chúng ta có quyền “đánh giá” lịch sử hay không? (Trích http://tacphammoi.net/…/Viet-cung-la-de-thoa-man-k…/d,detail)

“Tôi không đánh giá gì cả, bởi vì người viết sử chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là trình bầy sự kiện lịch sử. Việc đánh giá là của người đọc. Độc giả đọc một đoạn sử viết về một nhân vật hay một giai đoạn lịch sử, rồi tự rút ra những suy nghĩ hay đánh giá về nhân vật hay giai đoạn lịch sử ấy, và đánh giá luôn cách viết của người soạn sử. Vần đề quan trọng của chúng ta hiện nay, là lầm việc “viết sử” với việc “đánh giá”. Vì thế, trong các cuộc phỏng vấn, người ta không hỏi những nhà được mệnh danh là sử gia ông biết gì về nhân vật hay giai đoạn lịch sử này, mà thường hỏi ông “đánh giá” gì về nhân vật lịch sử này, về giai đoạn kia. Và vị “sử gia” được hỏi cứ thao thao bất tuyệt “đánh giá” về một vấn đề mà đôi khi ông ta không biết.

Triều đại cuối cùng nhà Nguyễn đã bị “đánh giá” hoàn toàn sai lạc từ khi “sử gia” Trần Huy Liệu viết những lời nhục mạ phũ phàng nhà Nguyễn.

Vần đề “đánh giá” không chỉ có trong điạ hạt lịch sử mà dàn trải trên toàn bộ các tác giả văn học, thí dụ người ta “đánh giá lại” Khái Hưng, Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng… như thể các ông Khái Hưng, Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng nằm dưới mộ, chờ đợi và hãnh diện được một ông chủ tịch hội này, hội kia cấp cho tấm giấy chứng nhận hạnh kiểm tốt. Các nhà văn lớn, mình đọc họ thì bổ ích cho mình, mình không đọc họ, họ chẳng mất gì, đời sau sẽ đọc họ. Họ có vĩnh cửu trước mắt, còn các ông lý trưởng, chánh tổng văn học chỉ có cái vắn vủi của một cuộc đời.

Khi vua Minh Mạng lập Quốc sử quán và lệnh cho các quan viết sử đi khắp các nơi trong nước để thu thập tài liệu, viết các bộ Đại Nam Thực Lục, Đại Nam Liệt Truyện… nhà vua đã tế nhị không đọc, tức là ông không kiểm duyệt bộ sử đồ sộ này. Vì thế mà ta thấy có những trang viết rất tự do, ghi cả những lời Minh Mạng “tâm sự” những lúc ông không tự tin ở mình, hoặc cho là mình đã quyết định sai lầm, hoặc cho là cách cai trị của mình quá nghiêm ngặt, đó là những điểm chứng tỏ sử quan có đủ tự do để cầm bút, cho nên phần viết về Minh Mạng của Thực Lục được các học giả đánh giá là trung thực nhất. Xin nói thêm điều nữa: các sử thần triều Nguyễn, không “đánh giá” cũng không tâng bốc vua và triệt hạ đối thủ, trừ vài chữ miệt thị như ngụy, giặc, họ chép lại trung thực những sự kiện đã xẩy ra, lời nói và hành động của vua cũng như của phe đối lập.

Lịch sử viết theo đúng quy luật như thế, tôi nghĩ rằng thời đại chúng ta còn kém xa thời đại Minh Mạng. Chúng ta chưa có tác phẩm lịch sử đúng nghĩa mà chỉ có sự “đánh giá” lịch sử, tức là người ta tuyên bố như thế này, thế kia về một nhân vật lịch sử: người ta “đánh giá lại Gia Long”, người ta đánh giá “Ngô Đình Diệm”. Tóm lại, người ta tự đứng trên lịch sử để phát biểu và không cần biết những sự thực xoay quanh những nhân vật lịch sử này như thế nào. Người ta không tìm hiểu, nghiên cứu, mà tùy hứng “đánh giá”: Người ta kết tội Phan Thanh Giản phản động rồi sau “đánh giá lại” là “yêu nước”.

Người đọc chờ đợi những cuốn sách nghiên cứu sâu sắc về Hiền Vương (Chúa Hiền Nguyễn Phước Tần), Gia Long, Minh Mạng, Võ Tánh, Ngô Tòng Châu, Lê Văn Duyệt … với những chứng cớ tỏ rõ các ông là người phản quốc, trước khi rút tên các ông khỏi những đường phố Sài Gòn…”

HỒN TÔI ĐÃ HÓA CON ĐÒ ẤY…

Nhà thơ Ngô Minh tên thật Ngô Minh Khôi, sinh 10/9/1949 – Kỷ Sửu, quê quán ở làng Thượng Luật, xã Ngư Thuỷ Trung, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình. Ông tốt nghiệp Đại học Thương nghiệp Hà Nội tháng 9/1972. Đi bộ đội, vào miền Đông Nam Bộ từ tháng 4/1973, Ban Chính trị Trung đoàn 141, Sư đoàn 7; làm bản tin Ba Vì của trung đoàn, quân hàm trung sĩ. Tháng 6/1976, ra quân, về Huế; làm Trưởng đại diện báo Thương Mại tại miền Trung. Nghỉ hưu ở tại Huế.

Tác phẩm đã xuất bản:

Thơ: Phía nắng lên (1985); Chiếc lá biết đi (thơ thiếu nhi, in chung, 1987); Chân dung tự hoạ (1989); Nước mắt của đá (1991); Chân sóng (1995); Quà tặng xứ mưa (1996); Đứa con của cát (1998); Nắng mặn (thơ thiếu nhi, 2001); Phù sa biển (2001); Huyền thoại Cửa Tùng (2004); Lệ Thuỷ mút mùa (2005); Thơ tặng (2007) Gọi lá (2008); Ký tự biển (2013)

Văn xuôi: Văn hoá kinh doanh thời đổi mới (2000); Chuyện làm ăn thời hội nhập (tập báo chí chọn lọc, 2002) ; Nhớ Phùng Quán (biên soạn, 2003); Chuyện làng thơ (tiểu luận – bút ký thơ, 2004); Ăn chơi xứ Huế (bút ký ẩm thực, 2002), Đất Thiêng (ghi chép, 2005);  Phùng Quán – Ba phút sự thật (tổ chức bản thảo, giới thiệu, 2006); Chuyện tử tù Lê Quang Vịnh (ký sự, NXB Văn nghệ, 2007, NXB Lao Động tái bản năm 2012); Phùng Quán còn đây (suu tầm, biên soan cùng Vũ Bội Trâm – vợ nhà văn Phùng Quán, 2007); Hồn quê trầm tích (2010); 100 ngày vượt Trường Sơn (2010);  Cổ tích tàu không số (2011)

Đặc biệt từ ba năm trước, nhà thơ Ngô Minh đã tự mình tuyển chọn và xuất bản bộ sách Ngô Minh tác phẩm, như là tổng kết cuộc đời cầm bút của ông. Bộ sách gồm 5 tập: thơ, chân dung văn nghệ sĩ, ký – phóng sự, tiểu luận – phê bình, các bài viết về Ngô Minh. Đó là tuyển những tác phẩm Ngô Minh đã viết trong hơn 40 năm cầm bút, với 14 tập thơ, hơn 14 tập bút ký – phóng sự, tiểu luận, phê bình, hàng chục giải thưởng văn chương và báo chí.

Ông cũng từng 2 lần nhận giải thưởng văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên vào năm 1982 và 1987, và 2 lần nhận giải thưởng của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam với tập thơ Chân sóng (1996) và Huyền thoại cửa Tùng (2004). Do bệnh nặng, Nhà thơ Ngô Minh đã từ trần lúc 17h ngày 3/12/2018 tại Huế, hưởng thọ 70 tuổi.

(trích tại http://baovannghe.com.vn/quothon-toi-da-hoa-con-do-ayquot-18541.html)

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Chuyện cổ tích người lớn

thuchoconcuatonvantuyen

THƯ CHO CON CỦA TÔN VẬN TUYỀN

Hoàng Kim

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Có những giá trị đích thực phải đọc đi đọc lại nhiều lần để thấm hiểu. Thư cho con của Tôn Vận Tuyền là một trong số đó. Trang DẠY VÀ HỌC năm 2013 đã viết: Lời cha mẹ căn dặn con cái thường sâu sắc, thân tình và giản dị. Đó là những lời mà họ đã chiêm nghiệm các bài học thất bại và thành công trao lại cho con. Tôn Vân Tuyền là nhà kinh tế chính trị danh tiếng của Đài Loan. Ông có công lớn trong việc chuyển đổi nền kinh tế chủ yếu nông nghiệp thành cường quốc xuất khẩu. Ông đã đúc kết chín lời khuyên dạy con. Tôi may mắn được đọc thư này khi đến thăm blog của thầy Nguyễn Lân Dũng, đúng lúc tôi đang nếm trãi cái rét cắt da khi cùng chuyên gia và đồng nghiệp đi tìm chọn điểm tạo giống sắn lai ở vùng núi cao phía Bắc và đang bùi ngùi Về Việt Bắc đêm lạnh nhớ Bác. Cám ơn thầy Lân Dũng đã tạo duyên may cho em được tuyển chọn lưu trữ những lời sâu sắc này.

MỘT LÁ THƯ ĐÁNG ĐỌC

Nguyễn Lân Dũng

Tôn Vận Tuyền (孫運璿, Sun Yun-Suan, 10/11/1913 – 15/2 /2006), một nhà kinh tế, một chính trị gia Đài Loan, xuất thân là kỹ sư, quê ở Bồng Lai, Sơn Tây (Trung Quốc). Ông tốt nghiệp ngành Công nghệ điện tại Đại học Công nghệ Harbin (Harbin Institute of Technology). Từ năm 1937 đến 1940 ông làm việc tại Hội đồng tài nguyên quốc gia (National Resources Commission). Ông được gửi đi tu nghiệp tại Tennessee Valley Authority (Hoa Kỳ) từ năm 1943 đến 1945. Ông làm Bộ trưởng gần 20 năm ở các Bộ Giao thông vận tải, Truyền thông và Kinh tế . Ông là Bộ trưởng Bộ Kinh tế từ năm 1969 đến 1978, sau đó được bầu làm Thủ tướng Đài Loan (Premier of the Republic of China ) từ năm 1978 đến 1984. Ông có công xây dựng Mười dự án siêu cấu trúc, trong đó có sân bay quốc tế Chiang Kai-shek International, Nhà máy Điện hạt nhân số 1, đường cao tốc Quốc gia Tôn Dật Tiên (Sun Yat-sen National Expressway) Viện nghiên cứu Công nghiệp Quốc gia (Industrial Technology Research Institute) và Công viên Công nghệ khoa học Tân Trúc (Hsinchu Science-based Industrial Park)… Nhờ những biến đổi có tính cách mạng này mà từ những năm 60 của thế kỷ trước, Đài Loan đã trở thành nơi xuất khẩu mạnh mẽ các loại hàng dệt may, giầy dép, đồ nhựa, nông sản phẩm, công nghệ hóa dầu, thiết bị cơ khí và đặc biệt là các linh kiện điện tử. Ông được coi là một trong những người tạo ra sự bứt phá về Công nghệ và Kinh tế ở Đài Loan .

Ngày 24 tháng hai năm 1984 ông bị đột quý do xuất huyết não và sau khi phục hồi chỉ có thể ngồi trên xe lăn. Tháng 2 năm 2006 do bị biến chứng, ông đã qua đời tại Đài Bắc, hưởng thọ 92 tuổi . Ngoài các trước tác về Kinh tế, Chính trị, tôi quan tâm đến một bức thư ông để lại cho các con của ông. Một bức thư giản dị nhưng thật chân tình và sâu sắc. Tôi xin phép được giới thiệu lại cùng các bạn bức thư này:

KIẾP SAU (NẾU CÓ) DÙ THƯƠNG HAY KHÔNG THƯƠNG,
CŨNG KHÔNG CÒN DỊP GẶP LẠI NHAU ĐÂU

“…. Tôn Vận Tuyền đã để lại những lời căn dặn như sau:

Các con thân mến,

Viết những điều căn dặn này, cha dựa trên ba nguyên tắc như sau :

1. Đời sống là vô thường, không ai biết trước mình sống được bao lâu, có những việc cần, nếu được nói ra sớm để hiểu thì hay hơn.

2. Cha là Cha của các con, nếu không nói ra thì chắc không ai nói rõ với các con những việc này đâu!

3. Những điều căn dặn để ghi nhớ này là kết quả của bao kinh nghiệm xương máu, thất bại đắng cay trong cuộc đời của chính bản thân mà Cha ghi nhận được, Nó sẽ giúp các con tránh những nhầm lẫn hoang phí trên con đường trưởng thành của các con.

Dưới đây là những điều nên ghi nhớ trong cuộc đời :

1. Nếu có người đối xử với con không tốt, đừng thèm để tâm cho mất thời giờ. Trong cuộc đời nầy, không ai có bổn phận phải đối xử tốt với con cả, ngoại trừ cha và mẹ của các con. Nếu có người đối xử tốt với con, ngoài việc các con phải biết ơn, trân quý, các con cũng nên thận trọng một chút, vì người đời thường làm việc gì cũng có mục đích của nó, chớ có vội vàng cho là bạn tốt của mình ngay.

2.Không có người nào mà không thể thay thế được cả; không có vật gì mà nhất thiết phải sở hữu, bám chặt lấy nó. Nếu hiểu rõ được nguyên lý nầy, thì sau nầy trong cuộc đời, lỡ người bạn đời không còn muốn cùng đi trọn cuộc đời, hay vì lý do gì con bị mất đi những gì trân quý nhất trong đời con, thì cũng nên hiểu: đó cũng không phải là chuyện trời sập.

3. Đời người ngắn ngủi, nếu hôm nay ta để lãng phí thời gian, mai đây hiểu được thì thấy rằng quãng đời đó đã vĩnh viễn mất rồi!. Cho nên, nếu ta càng biết trân quý sinh mạng của mình càng sớm thì ta được tận hưởng cuộc đời mình càng nhiều hơn. Trông mong được sống trường thọ, chi bằng mình cứ tận hưởng cuộc đời mình ngay từ bây giờ.

4.Trên đời nầy chẳng hề có chuyện yêu thương bất diệt. Ái tình chẳng qua là một cảm xúc nhất thời, cảm giác nầy tuyệt đối sẽ theo thời gian, hoàn cảnh mà biến thiên, thay đổi. Nếu người yêu bất diệt rời bỏ con rồi, hãy chịu khó nhẫn nại một chút, để thời gian dần dần trôi qua, để tâm tư mình từ từ lắng đọng, cái đau khổ cũng sẽ từ từ nhạt nhòa đi. Không nên cứ ôm ấp cái ảo ảnh yêu thương mãi, cũng không nên quá bi lụy vì thất tình.

5. Tuy có nhiều người trên thế giới này thành công, nổi tiếng mà chẳng có học hành nhiều, chẳng có bằng cấp cao, nhưng điều đó cũng không có nghĩa là không cần học hành nhiều sẽ thành công. Kiến thức đạt được do việc học hành, giáo dục là vũ khí trong tay của mình. Ta có thể lập nên sự nghiệp với bàn tay trắng, nhưng không thể trong tay không có tấc sắt. Nên nhớ kỷ điều nầy !

6. Cha không yêu cầu các con phải phụng dưỡng cha trong nửa quãng đời còn lại của cha sau nầy. Ngược lại, cha cũng không thể bao bọc nữa quãng đời sau này của các con. Lúc các con đã trưởng thành, độc lập, đó cũng là lúc cha đã làm tròn thiên chức của mình. Sau nầy các con có đi xe Bus công cộng hay đi Auto nhà, các con ăn soup vây cá hay ăn mi gói, đều là trách nhiệm của các con.

7. Các con có thể yêu cầu mình phải giữ chữ TÍN, nhưng không thể bắt người khác phải giữ chữ TÍN với mình. Các con có thể yêu cầu mình phải đối xử TỐT với người khác, nhưng không thể kỳ vọng người khác phải đối xử TỐT với mình. Mình đối xử người ta thế nào, không có nghiã là nguời ta sẽ đối xử lại mình như thế , nếu không hiểu rõ được điều nầy, sẽ tự chuốc lấy buồn phiền cho mình.

8.Trong mười mấy, hai mươi năm nay, có người tuần nào cũng mua vé số, nhưng vẫn nghèo trắng tay, điều nầy chứng minh: muốn phát đạt, phải siêng năng làm ăn mới khá được. Trên thế gian nầy không có cái gì là miễn phí cả.

9. Sum họp gia đình, thân thích đều là duyên phận, bất luận trong kiếp nầy chúng ta sống chung với nhau được bao lâu, như thế nào, nên trân qúy khoảng thời gian chúng ta được chung sống với nhau, kiếp sau (nếu có), dù ta có thương hay không thương, cũng không có dịp gặp lại nhau đâu.

Video yêu thích

Despre Iubire (About Love) – voce: Marcel Iures
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Chuyện cổ tích người lớn

chuyentutephimhoclamnguoi


CHUYỆN CỔ TÍCH NGƯỜI LỚN
Hoàng Kim

Ông Thủy chuyện tử tế kể về phim Hà Nội trong mắt ai và đạo diễn Trần Văn Thủy cùng với bài viết của Phạm Phú Minh Những gì thấy được‘Trong đống tro tàn’ của Trần Văn Thủy đăng trên Văn Việt “Con đường của lòng tử tế, của sự nhân ái. Con đường tình người rộng rãi thênh thang.Hình như trên đời này chẳng có mấy ai khi nhắm mắt xuôi tay lại không nuối tiếc việc nọ, việc kia. Phần tôi, tự xét mình là thường dân nhưng đã cố gắng trong mọi hoàn cảnh, mọi bổn phận. Sức của tôi có hạn, tôi chỉ thương xót cho bọn trẻ, con cháu tôi và con cháu chúng ta. Chúng thừa hưởng một gia tài quá bề bộn của tiền nhân để lại. Không dễ gì để chúng có được một cuộc sống hạnh phúc đúng nghĩa mà thế hệ chúng ta hằng mơ ước cho chúng. Dẫu sao, tôi xin chân thành cầu chúc cho mọi người được sống trong niềm vui, trong an bình và sự thanh thản của một xã hội lương thiện, tử tế hơn”.

tranvanthuy-trongdongtrotan

Trần Văn Thủy Trong đống tro tàn, cần đọc lại và suy ngẫm. Nên đọc chính văn để hiểu đúng tác giả.

Những gì thấy được ‘Trong đống tro tàn’ của Trần Văn Thủy
Phạm Phú Minh

Có chuyện gì vậy? Chuyện tử tế? Thì có gì lạ? Chẳng phải là từ khai thiên lập địa con người vẫn sống giữa cuộc tranh đấu giữa cái Thiện với cái Ác đó sao, một cuộc tranh đấu bất tận như tên của một cuốn phim Mỹ: From Here To Eternity -Từ đây cho đến mãi mãi về sau, được người Pháp chuyển dịch thành Tant qu’il y aura des hommes -Cho đến khi nào còn con người. Hai cái tên tiếng Anh và tiếng Pháp của cuốn phim nổi tiếng ấy đều cho thấy cuộc xung đột giữa cái tốt và cái xấu nó sẽ còn mãi mãi trong xã hội loài người, khiến người ta phải nghĩ một cách sâu xa hơn, là bản chất và mục tiêu đời sống của chúng ta chính là cố gắng đẩy lùi cái xấu để cái tốt được lên ngôi.

Nhưng nghĩ cũng lạ, cái trật tự tinh thần để phân biệt tốt xấu thì đã được con người xác định từ rất xa xưa, có lẽ ngay từ bản năng của sự sống: mạng sống là tốt, giết hại là xấu; thương yêu là tốt, thù hận là xấu; tự do thoải mái là tốt, gông cùm kiềm hãm là xấu; sáng kiến phát triển là tốt, hủ lậu trì trệ là xấu; no cơm ấm áo là tốt, đói rét là xấu… Những cặp tốt xấu như thế có thể kể ra vô tận, cho thấy thân phận của con người thật ra rất chênh vênh, nhưng kinh nghiệm sống và sự thăng hoa tinh thần của con người trong quá trình “thành người” của mình đã khẳng định phía nào nên theo, cái gì nên loại bỏ. Ý thức đó tạo nên ĐẠO LÝ chung cho cuộc sống của con người đông tây kim cổ.

Chuyện con người sống tử tế với con người và vạn vật chẳng qua cũng chỉ nằm trong Đạo Lý ấy mà thôi, nhưng sở dĩ có người như Trần Văn Thủy phải làm phim để đặt ra như một vấn nạn trước lương tâm con người, là vì cuộc sống trong cơ chế đang ngự trị trên đất nước Việt Nam xem ra thiếu vắng sự Tốt lành mà ngược lại, nghiêng về phía cái Ác. Đây không phải là chuyện tốt xấu trong một xã hội bình thường, mà là kết quả của một chế độ khác thường. Vì thế nguy cơ của cái Ác trở thành một khuynh hướng đè bẹp cái Thiện ngày càng rõ rệt, và đã trở thành một nguy cơ cho đất nước và dân tộc Việt Nam.

Phim Chuyện Tử Tế ra đời năm 1985, tính năm nay 2016 đã là 31 năm, vậy hành trình của nó và của tác giả làm nên nó, hiện đã tới đâu rồi? Câu chuyện nó vượt biên một cách bí mật để đến được Liên Hoan Phim Leipzig Đông Đức cuối năm 1988 có thể dựng thành một cuốn phim trinh thám nghẹt thở. Và sau khi nó chiếu và được nhiệt liệt hoan nghênh tại liên hoan này thì tới phiên tác giả của nó lập tức “vượt biên” sang Pháp ngay trong đêm đó, cũng nghẹt thở không kém. Khi đã đến Pháp, tác giả của nó mới biết Chuyện Tử Tế đã được giải thưởng Bồ Câu Bạc ở liên hoan phim Leipzig. Rồi nó được chiếu trong rạp hát và đài truyền hình Pháp. Rồi nhiều nước khác đã mua phim Chuyện Tử Tế…

Đạo diễn Trần Văn Thủy vào thời điểm tham dự liên hoan phim Chuyện Tử Tế đã đứng trước một đường ranh giới rất mong manh, hoặc nó đoạt được giải thì ông là người có công, được quay về Việt Nam an toàn, hoặc nó không gặt hái được gì cả thì ông bắt buộc phải chọn con đường lưu vong tại Tây Âu.

Nhưng sự tử tế đã mỉm cười với ông, và hôm nay đạo diễn Trần Văn Thủy, ở tuổi 76, và đã đúc kết mọi chuyện với cuốn sách Chuyện Nghề Của Thủy và cuốn Trong Đống Tro Tàn mà độc giả đang cầm trên tay. Hình ảnh “đống tro tàn” mà tác giả gợi ra nó như thế nào là tùy cách nhìn của người đọc, nhưng với tác giả, thì tôi đoán cái tên đó phần nào cũng là tổng kết cái hành trình mà ông đã đi suốt nửa thế kỷ qua, tròn 50 năm (1966-2016). Chưa hẳn nó có ý nghĩa tiêu cực như khi chúng ta đứng trước một căn nhà đã bị thiêu rụi, mọi thứ đã thành tro, mà chỉ là tổng kết thời gian gần cả đời người với nhiều nỗi truân chuyên gay cấn liên tục với một chủ đề gần như duy nhất: sự tử tế. Đống tro tàn chỉ là một cách nói, có thể là một ám chỉ rằng trong cái đám ngổn ngang đó vẫn còn sót lại một vài tàn lửa sẽ làm bùng lên ngọn lửa của cái Thiện.

Nhưng có một điều chắc chắn, trong đống mà tác giả gọi là tro tàn này chứa đựng một tấm lòng hừng hực nóng, qua các câu chuyện đời của tác giả. Có nhiều chuyện được kể lại, xem qua thì là những chuyện vui buồn, những kỷ niệm trong đời, nhưng tất cả hầu như chỉ một chủ đề, đó là sự thăng hoa tốt đẹp của bản chất con người, mà các tôn giáo lớn từ hàng ngàn năm trước đã nhìn ra và dẫn dắt nhân loại.

Đây có thể là tác phẩm văn học cuối cùng của ông, vì có cả lời trăng trối căn dặn mọi chuyện sau khi ông qua đời. Trong Mấy Lời Gửi Lại, xem như là Di Chúc của ông, sau những dặn dò cụ thể liên quan đến tang lễ và việc gia đình, gia tộc, ở phần cuối ông viết:

“Hình như trên đời này chẳng có mấy ai khi nhắm mắt xuôi tay lại không nuối tiếc việc nọ, việc kia. Phần tôi, tự xét mình là thường dân nhưng đã cố gắng trong mọi hoàn cảnh, mọi bổn phận. Sức của tôi có hạn, tôi chỉ thương xót cho bọn trẻ, con cháu tôi và con cháu chúng ta. Chúng thừa hưởng một gia tài quá bề bộn của tiền nhân để lại. Không dễ gì để chúng có được một cuộc sống hạnh phúc đúng nghĩa mà thế hệ chúng ta hằng mơ ước cho chúng.

Dẫu sao, tôi xin chân thành cầu chúc cho mọi người được sống trong niềm vui, trong an bình và sự thanh thản của một xã hội lương thiện, tử tế hơn”.

Điều ông nuối tiếc là ở chỗ lớp con cháu sẽ không được sống hạnh phúc đúng nghĩa mà thế hệ ông hằng mong ước, nghĩa là sống trong một “xã hội lương thiện, tử tế hơn”. Một chữ “hơn” đầy ý nghĩa, nói lên thực tại đáng buồn của xã hội Việt Nam trong hiện tại.

Chương 2, Cha Tôi, là một bài viết mà tôi cho quan trọng nhất trong tập sách này. Kể lại cuộc đời cha mình, ông đã ghi rõ “tưởng nhớ về Thầy – người Cha đẻ và là người Cha tinh thần của con” cho thấy cái nhìn đầy yêu mến và khâm phục của ông về thân phụ của mình, mà theo tôi, ông coi là một mẫu mực, một tấm gương cho suốt cuộc đời của ông.

Có một câu nói của thân phụ ông mà suốt đời ông không quên, đó là câu thân phụ ông thốt ra một cách bình tĩnh sau khi chứng kiến cảnh người bạn thân của mình (bác Phó Mâu) đã bị bắn chết trong cuộc đấu tố:

“Sau hôm về chợ Cồn để chôn cất bác Phó Mâu, Thầy tôi lên gác nằm. Một lát sau ông cho gọi tôi và Lai, người em sát tôi lên. Hai chúng tôi ngồi chờ bố bảo gì. Ông vẫn nằm vắt tay lên trán, im lặng. Không hiểu sao những lúc Thầy tôi im lặng như thế tôi rất sợ, tôi lên tiếng rất khẽ:

– Thầy bảo gì chúng con ạ?

Một lát sau ông mới thủng thẳng nói một câu rất ngắn: – Hỏng – hẳn – rồi – các – con ạ!

Tôi không hiểu. Lúc đó tôi hoàn toàn không hiểu. Tôi hỏi lại:

– Thầy bảo gì cơ ạ?

– Thầy và bác Phó Mâu đã giúp Việt Minh quá nhiều, bây giờ bác chết oan, Thầy không còn tin vào cái gì nữa!

Trong cuộc đời, tôi rất nhớ những điều Thầy tôi đã nói với tôi. Đây không phải là lúc kể ra tất cả, nhưng cái câu đau đớn, bất đắc chí: ” Hỏng – hẳn – rồi – các – con ạ”! Thì chắc chắn xuống mồ tôi cũng không thể nào quên được”.

Kể ra một người trong tuổi thiếu niên mà được nhận lãnh một câu nói như thế từ cha của mình trong một hoàn cảnh đặc biệt của đất nước thì cũng khó mà quên được. “Hỏng-hẳn-rồi-các-con-ạ” là một khẳng định khái quát cả một sự sụp đổ toàn diện trong tâm hồn người cha, truyền lại cho các con mình nhận thức về tương lai của cái chế độ mà họ đang sống trong đó với biết bao kỳ vọng chế độ đó sẽ mở ra một thời kỳ tốt đẹp cho đất nước. “Hỏng hẳn rồi” đã ghi một dấu ấn quan trọng nhất trong lòng tác giả khi mới lớn, để suốt đời ông luôn để tâm nhìn thấy nó hỏng ở chỗ nào, và định hướng các hành vi của ông để lên tiếng cảnh báo cho mọi người về cái nguy cơ vô cùng thảm khốc cho cả một dân tộc.

Trong cuốn sách mà có vẻ tác giả cho là cuối cùng này của mình, chúng tôi nghĩ chương Cha Tôi là nơi Trần Văn Thủy khẳng định điều tâm huyết nhất trong đời mình, đó là nét Đạo Lý mà cha ông đã truyền cho ông. Đạo Lý ấy cha ông đã tiếp nhận từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, nó cũng không khác với Đạo Lý chung của nhân loại đã có từ ngàn đời.

Trần Văn Thủy thì quan tâm và suy nghĩ rất nhiều về vấn đề nền tảng ấy trong các chương khác trong cuốn sách này. Ông vốn là người làm phim tài liệu, luôn luôn ghi nhận và viết xuống những đề tài mà ông cho là đáng làm phim trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của ông, nhưng tiếc thay không mấy dự định của ông đã được thực hiện. Chương “Những kịch bản không thành phim” ông ghi lại nội dung những đứa con điện ảnh không bao giờ được ra đời ấy, với những nhận xét có khi nhiều phẫn nộ.

Ví dụ từ năm 1980 ông đã có một kịch bản về Trịnh Công Sơn:

“Một kịch bản khác tôi tâm đắc vô cùng đó là khi tôi viết về Trịnh Công Sơn năm 1980. Có lẽ khi ấy vừa ở Nga về, vừa làm xong bộ phim “Phản bội” nổi tiếng (1979 – 1980), đang “hăng tiết vịt”, tôi đã viết về Trịnh Công Sơn. Tôi kể những ngày tháng nằm hầm ở chiến trường miền Nam (1966 – 1969), mở trộm đài Sài Gòn, nghe nhạc Trịnh mà nổi da gà. Những Đại bác đêm đêm vọng về thành phố/Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe/Những Người con gái Việt Nam da vàng… Con người miền Nam, hơi thở miền Nam, nhạc Trịnh ám ảnh tôi. Sao lại yêu thương đến thế! Sao lại da diết lay động đến thế! Vấn đề tôi đặt ra trong kịch bản đó không chỉ là những giai điệu, những ca từ hút hồn của nhạc Trịnh mà tôi tự vấn: Mảnh đất nào, văn hóa nào, phẩm hạnh nào đã nuôi dưỡng một tâm hồn trong sáng và chân thiện đến thế, đã sản sinh ra con người chân tình đến thế? Nếu như Karl Marx nói: “Con người là sản phẩm của tổng hòa mọi quan hệ xã hội” thì cái xã hội miền Nam đầy rẫy những “Tội ác và tàn dư của Mỹ Ngụy” ấy tại sao lại sản sinh ra Trịnh Công Sơn?”

Ba mươi năm sau khi làm phim Chuyện Tử Tế để kêu gọi lòng tử tế trong xã hội mình đang sống, đạo diễn Trần Văn Thủy cay đắng nhận ra mình vẫn sống trong xã hội ấy, nhưng:

“Ngày nay trong một chế độ nhân danh sự ưu việt, người ta lại thấy bao điều xót xa trong quan hệ giữa người với người. Tham nhũng, bè phái, cửa quyền. Đạo đức xuống cấp một cách khủng khiếp.” …

“Ai cũng biết rằng tòa án và pháp luật chỉ làm công việc giải quyết hậu quả của hành động. Còn muốn ngăn chặn cái mầm gây ra tội ác, làm nó triệt tiêu khi còn trong trứng, triệt tiêu ngay trong ý nghĩ của con người, thì không gì bằng tôn giáo” […] “tôn giáo nói chung, cái đạo chân chính nào cũng khuyên con người nghĩ thiện, làm thiện, tránh xa tội lỗi, xa điều độc ác. Và như vậy nó góp phần tích cực vào việc giữ gìn đạo đức, trật tự an ninh xã hội, làm cho đất nước lành mạnh”.

Mỗi một chương của cuốn sách này là một câu chuyện hay, có thể nói là hấp dẫn, nhưng luôn luôn ẩn nỗi cảm động, thấm thía và rất lôi cuốn người đọc. Tác giả quan sát rất tinh tế về các nhân vật mình quen biết, các sự kiện vui buồn xảy ra với mình, nhưng khi kể ra thì chuyện nào cũng đáng là một bài học cho người đọc, bài học về nhân cách, về thái độ sống ở đời với một chủ đề bất biến là tích cực nhấn mạnh về sự tử tế, lòng nhân ái.

Tác giả có sự quan hệ rất rộng rãi, đề tài viết có thể là về giới làm phim Nhật Bản, hoặc những người Mỹ hoạt động văn hóa và nhân đạo; về việc thực hiện một cuốn phim tài liệu về nhà thờ Phát Diệm với kiến trúc tôn giáo độc đáo; về một người thầy thuốc hiếm có về bệnh phong cùi, Bác sĩ Trần Hữu Ngoạn, mà khi đọc xong câu chuyện của ông, độc giả chỉ có thể thốt lên: đó là một bậc Thánh, hoặc là một Bồ Tát; về nhạc sĩ Phạm Duy là người ông rất hâm mộ từ thời còn rất trẻ…

Với con mắt quan sát tinh nhạy của một đạo diễn phim tài liệu cộng với một tấm lòng đề cao cái Thiện và chống lại cái Ác, và cộng thêm nữa sự sắc sảo tinh quái của một người sống trong sự kềm cặp mà lúc nào cũng khao khát xé rào để rao giảng những điều chẳng phù hợp chút nào với đường lối của xã hội đương thời, Trần Văn Thủy rất xứng đáng với câu nhận xét sau đây của Larry Berman, một nhà văn Mỹ:

“… on a war that ravaged so many, yet left us with survivors like Tran Van Thuy, war photographer, filmmaker and ultimately philosopher.”

“… về một cuộc chiến đã hủy hoại biết bao sinh mạng, nhưng đã để lại cho chúng ta những người sống sót như Trần Văn Thủy, một nhà quay phim thời chiến, một đạo diễn điện ảnh, và cuối cùng là một triết gia.”

[Trích từ lời Tựa trong bản dịch sang Anh ngữ cuốn tự truyện Trong Mắt Ai (In Whose Eyes) của Trần Văn Thủy]

Nhìn cuộc sống ở một xã hội mà ông phải sống và rút ra từ đấy những nhận xét, những phán đoán, thẩm định nhằm phá vỡ hàng rào dây thép gai ý thức hệ quái đản trong thời đại của chúng ta, thì ngoài vai trò nghề nghiệp, đúng Trần Văn Thủy còn là một triết gia, một triết gia dấn thân với những tác phẩm văn học nghệ thuật rất can đảm và hết sức sâu sắc của ông.

Chẳng hạn, nếu chúng ta được xem phim Chuyện Tử Tế, hoặc ít ra được xem kịch bản của phim do chính đạo diễn viết, chúng ta sẽ thấy lời bình trong phim quan hệ tới mức độ nào. Không có lời bình thì chỉ là một phim câm, cái đó đã hẳn, nhưng điều quan trọng, đó là lời bình do Trần Văn Thủy viết. Lời ấy là linh hồn của phim. Đó là những lời gãy gọn dễ hiểu nhưng mang khả năng khái quát rất cao – xem/nghe tới đâu thấm thía tới đó, và đặc biệt là nó có khả năng dẫn dắt người xem hiểu ra ngoài, vượt lên trên những gì đang xem. Như thế, lời bình đã chứa đựng triết lý của sự việc, sự vật, nâng chúng lên một tầng phổ quát.

Rất nhanh, thế giới đã bắt được các tín hiệu nhân bản mà TrầnVăn Thủy đã gửi gắm trong phim Chuyện Tử Tế. Vào cuối những năm 80 có tới hơn 10 đài Truyền hình lớn trên thế giới mua bản quyền Chuyện Tử Tế, và đạo diễn Mỹ John Gianvito đã đề cử ChuyệnTử Tế là một trong mười bộ phim Tài liệu hay nhất thế giới của mọi thời đại. Những chuyện như thế chưa từng xảy ra với Điện ảnh Việt Nam.

Cách đây hơn mười năm Trần Văn Thủy đã xuất bản cuốn sách có nhan đề Nếu Đi Hết Biển, nêu lên một thắc mắc vừa cụ thể vừa siêu hình: nếu đi hết biển thì sẽ tới đâu? Thoạt đầu với khái niệm trái đất tròn, tác giả cho rằng “nếu đi hết biển, qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi thì cuối cùng lại trở về quê mình, làng mình”. Nhưng nhiều năm sau, khi tác giả đã đi đến đất Mỹ thì mới thấy rằng người Việt xa xứ “qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi” mà cuối cùng không thể “trở về quê mình, làng mình” được.

Cuốn sách mới nhất Trong Đống Tro Tàn này cho chúng ta cảm tưởng tác giả không còn điều thắc mắc ấy nữa. Con đường địa lý của quả địa cầu dù trên mặt đất hay mặt biển thì rất rõ ràng, đi mãi thì có thể trở về nơi mình xuất phát. Nhưng con đường của lòng người, với bao nhiêu thứ hệ lụy của cuộc sống thì không thể vạch một lộ trình đơn giản nào. Tâm trạng và mục tiêu của người Việt Nam khi dong thuyền ra khơi để làm một chuyến vượt biên không lãng mạn tự hỏi đi hết biển thì sẽ đến đâu, mà là nhắm tới một bến bờ cụ thể nào đó mình có thể sống được một đời sống tự do, xứng đáng là của một con người. Nhưng một khi cuộc sống đã ổn định trên miền đất mới, thì chắc chắn con đường quay về quê cũ trong lòng họ vẫn còn, dưới rất nhiều dạng: chính trị, kinh tế, tình cảm… hoặc lắm khi chỉ là một giấc mơ về một đất nước tốt đẹp hơn, đáng sống hơn.

Nhưng đâu phải chỉ có con đường cụ thể với hai hướng đi và về nó ràng buộc chúng ta. Trong lòng bất cứ ai cũng có thể mở ra vô số con đường sẽ dẫn đến vô số nơi mà chính trong tác phẩm Trong Đống Tro Tàn tác giả luôn luôn đề cập tới: con đường của lòng tử tế, của sự nhân ái. Con đường tình người rộng rãi thênh thang…

Nhạc sĩ Phạm Duy khi viết câu kết cho trường ca Con Đường Cái Quan của ông, đã mô tả cảm nhận của người Việt Nam khi đã hoàn tất cuộc Nam Tiến của mình tại Mũi Cà Mau:

Đường đi đã tới! Lòng dân đã nối!
Người tạm dừng bước chân vui! Người ơi!
Người mơ ước tới: đường tan ranh giới
Để người được mãi
Đi trong một duyên tình dài.
Con đường thế giới xa xôi,
Trong lòng dân chúng nơi nơi.

Phải chăng khi viết những câu này vào năm 1960, Phạm Duy đã có tiên cảm về “con đường thế giới xa xôi” mà người Việt Nam sẽ dấn bước vào, và sau này đã gây thắc mắc về một bờ bến nơi Trần Văn Thủy? Nhưng Phạm Duy cũng thấy ra niềm vui trong “một duyên tình dài”, phải chăng đó là tình của nhân loại, của sự Tử Tế, của lòng Nhân Ái mà Trần Văn Thủy thao thức và vận động suốt đời ông để mong cho nó thắng cái xấu và cái ác?

Nam California ngày 01 tháng Mười Một, 2016.

Nguồn: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-co-tich-nguoi-lon/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau Music
Vietnam traditional music
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Chuyện cổ tích người lớn

Ho Chi Minh
Chuyện cổ tích người lớn
ÁO VẢI VÀ TƯỢNG ĐỒNG
Hoàng Kim

Triết thuyết nào thì cũng chỉ cứu cái tệ của thời ấy thôi. Thời ấy nếu cái tệ ấy đã tới cùng cực, triết thuyết ấy thành chủ thuyết cho sự dẫn lối, bồi đắp, tập hợp được dân chúng, có nhiều người tự nguyện tin theo, mà đến mấy thế hệ sau tư tưởng ấy còn lưu lại công đức bồi bổ nhân văn cho dân trí thì triết thuyết đó là minh triết. Người biết tin theo và biết khéo vận dụng thành công tích cho việc đặc thù mình làm ở nước mình cũng là người minh triết vậy. Tự do là cái nhìn sâu sắc vào sự cần thiết ! (Engels 1878. freedom is the insight into necessity. Anti-Dühring, pt. 1, ch. 11)

Engels

Engel là một trong những triết gia phương Tây lỗi lạc nhất của thế kỷ 20. Ông khiêm tốn, chân thành, có tình bạn vĩ đại và cảm động với Karl Marx. Ông trí tuệ, cẩn trọng, thông thạo 15 thứ tiếng, thường suy xét kỹ các thông tin nên các bài nghiên cứu của ông về đời sống, chính trị, xã hội, bình luận quân sự … không những được người đương thời coi trọng mà còn có giá trị học thuật sâu sắc. Trong những câu nói của Engels, có những lời thật tâm đắc: Lao động là nguồn gốc của tất cả sự giàu có,… (Labour is the source of all wealth,… The Part Played by Labour in the Transition from Ape to Man (1876); Hegel là người đầu tiên nêu một cách chính xác mối quan hệ giữa tự do và sự cần thiết. Đối với ông, tự do là cái nhìn sâu sắc vào sự cần thiết. (Hegel was the first to state correctly the relation between freedom and necessity. To him, freedom is the insight into necessity. Anti-Dühring, pt. 1, ch. 11 (1878);  Nền kinh tế hay khoa học làm giàu sinh ra ghen tị lẫn nhau và sự tham lam của các thương gia chính trị này, mang trên trán của nó là dấu hiệu của sự ích kỷ đáng ghét nhất. (This political economy or science of enrichment born of the merchants’ mutual envy and greed, bears on its brow the mark of the most detestable selfishness. Outlines of a Critique of Political Economy (1844). Chào ngày mới 5 tháng 8 lưu lại thông tin Friedrich Engels để đọc lại và suy ngẫm.

Friedrich Engels sinh ngày 28 tháng 11 năm 1820, mất ngày 5 tháng 8 năm 1895, là triết gia Đức thế kỷ 19, nhà tư tưởng và nhà khoa học, người đã cùng với Karl Marx sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản và là lãnh tụ của phong trào công nhân thế giới và Quốc tế Engels là đồng tác giả với Karl Marx của các tác phẩm Gia đình Thần thánh (1844) và  Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848). Ông biên tập và xuất bản quyển II, quyển III của bộ Tư bản sau khi Marx mất. Engels là tác giả của những tác phẩm chính: Lược thảo phê phán khoa kinh tế chính trị (1843); Tình cảnh của giai cấp công nhân Anh năm 1844 (1844) Lút-vích Phơ-bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức (1866); Tiểu luận về chiến tranh (1870 – 1871);  Chống Duhring (1878); Biện chứng của tự nhiên (1873 – 1882); Nguồn gốc của Gia đình, Sở hữu tư nhân, và Nhà nước (1884); Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức (1894). Engels cũng có  nhiều bài viết về tình cảnh nước Anh, chiến tranh Ý, Pháp, Áo, nội chiến Mỹ, công cuộc giải phóng dân tộc ở Ấn Độ, Trung Quốc, …

Vladimir Ilyich Lenin, lãnh tụ của phong trào cách mạng vô sản Nga, người phát triển học thuyết Marx, đã đánh giá về Engels : “Sau bạn ông là Karl Marx, Engels là nhà bác học và là người thầy lỗi lạc nhất của giai cấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh“. Tạp chí Cộng sản của Đảng cộng sản Việt Nam nhận định Engels là “Nhà lý luận lỗi lạc và chiến sĩ cách mạng vĩ đại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

Di sản Engels đồng hành khó tách biệt với Chủ nghĩa Marx. Engels là người đồng sáng lập hệ tư tưởng “chủ nghĩa xã hội khoa học” cùng với Karl Marx. Ông là “cây vĩ cầm thứ hai” thừa kế và phát triển Chủ nghĩa Marx, là trào lưu tư tưởng ảnh hưởng sâu rộng nhất  toàn cầu trong thế kỷ 20. Thế giới còn đổi thay, nhiều giá trị lịch sử thăng trầm, bất luận khen hay chê, những di sản chân thực cần được nghiên cứu kỹ để đánh giá đúng.

Chủ nghĩa Marx là một hệ thống học thuyết về triết học, lịch sử và kinh tế chính trị dựa trên các tác phẩm của Karl Marx (1818–1883) và Friedrich Engels (1820–1895), là một hệ tư tưởng định hướng thực tiễn và là một thế giới quan. Marx đã từng nói rằng ông thích dùng khái niệm “chủ nghĩa xã hội khoa học” là hạt nhân của học thuyết, chứ không muốn gắn với tên cá nhân ông. Đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng mà bất kì ai cũng sẽ bị lịch sử đào thải nhưng phép biện chứng duy vật vẫn mãi giữ được hạt nhân của nó.

Theo chủ nghĩa xã hội khoa học thì  mỗi hình thái ý thức xã hội, triều đại, chế độ đều không thể thoát khỏi quy luật sinh – hưng – thịnh – suy – vong – phế – diệt  như sinh – lão – bệnh – tử của đời người. Cách mạng xã hội là tìm ra nguồn gốc nội tại, động lực, chiều hướng và phương cách để chuyển hóa xã hội một cách khoa học. Đó là căn bản của học thuyết khoa học xã hội thời kỳ của Marx và Engels. Đến thời đại Lê Nin, sự vận dụng này  được chuyển hóa thành căn bản là học thuyết đấu tranh giai cấp giành và giữ chính quyền. Đến thời Stalin, đó là học thuyết chuyên chính vô sản. Phương cách vận dụng học thuyết là mưu lược của nhà cầm quyền.

Chuyện cổ tích người lớn, đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim

Video nhạc tuyển
Khí công Y đạo: Bài học tốt tự chăm sóc sức khỏe
Ban Mai
MAR AKRAM – Dancing with the wind♥
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

Chuyện cổ tích người lớn

CHUYỆN CỔ TÍCH NGƯỜI LỚN
Hoàng Kim

Thạch Lam mất lúc 32 tuổi ngày 27 (28?)  tháng 6 năm 1942 Thạch Lam ngọc đời nay ví ông tốt tính, biết vừa đủ (tường minh vừa phải) nói viết điều gì cũng lương thiện chừng mực nhưng tiếc đức tài mà đoản thọ . Ông là một nhà văn danh tiếng, nhân cách, gần gũi người dân nghèo khổ, nhưng tiếc là mất sớm. (Thạch Lam ảnh trên Văn chương ngày nay VanVN.net). Hạt ngọc và Quyển sách là hai quyển truyện viết cho thiếu nhi Nhà xuất bản Đời Nay ấn hành năm 1940. Những tác phẩm khác của Thạch Lam gồm có : Gió đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938), Ngày mới (1939),Theo giòng (1941), Sợi tóc (1942), Hà Nội băm sáu phố phường (1943).

Gia đình Nguyễn Tường, vinh quang và bi kịch là chuyện nên  biết: “Họ Nguyễn Tường, là một dòng dõi quan từ đời ông Nguyễn Tường Vân là Binh bộ Thượng thư của vua Gia Long. Chữ Tường là bởi vua Gia Long đi đến chân núi Phước Tường, Hội An thì hỏi mọi người núi này là núi gì, ông trả lời “Thưa Chúa đây là núi Phước Tường”. Vua Gia Long nói với ông Nguyễn Tường Vân đi bên cạnh là hầu cận rất thân “Phước là họ ta nhưng Tường thì ta ban cho nhà ngươi”. Từ đó trở đi thì mới là họ Nguyễn Tường, trước thì chỉ Nguyễn không thôi.”

Thạch Lam tâm niệm: “văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn”. Văn là người. Nhân cách, cuộc đời và di sản văn chương Thạch Lam là hạt ngọc đời nay về cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Kỷ niệm ngày mất của Thạch Lam xin sưu tầm và biên tập Thạch Lam cuộc đời và di sản, nhân cách và văn chương, hạt ngọc của đời nay. Hoàng Kim.

Theo các tư liệu thu thập chính trên Bách khoa toàn thư Mở  Wikipedia Tiếng Việt cập nhật thông tin đến 27 tháng 6 năm 2015 và các nguồn bổ sung khác ở chú thích và tài liệu tham khảo, Hoàng Kim tra cứu, đối chiếu, chỉnh lý và ghi chép lại (*)

Sống trên đời phúc hậu, học làm người tử tế.

Hoàng Kim

(*) Những việc như Mạc Cảnh Huống anh em kết nghĩa với chúa Nguyễn Hoàng, Mạc Thị Giai hoàng hậu của chúa Nguyễn Phúc Nguyên, nhiều chuyện đời chưa tường minh. Sống làm người tử tế, biết chừng mực, điều độ, phước tường mong thọ hơn chăng:(HK) ?

ThachLamNguyenTuongLan

Thạch Lam cuộc đời và di sản

Cuộc đời

Thạch Lam (1910[1]1942) là một nhà văn Việt Nam nổi tiếng thuộc nhóm Tự Lực văn đoàn. Ông cũng là em ruột của Nhất LinhHoàng Đạo là hai nhà văn nổi tiếng khác trong nhóm Tự Lực văn đoàn . Thạch Lam ngoài bút danh này còn có các bút danh Việt Sinh, Thiện Sỹ.

Thạch Lam tên thật là Nguyễn Tường Lân (sinh ngày 7 tháng 7 năm 1910 , mất ngày 27 tháng 6 năm 1942) nhà văn danh tiếng, nhân cách, gần gũi người dân nghèo khổ.  Ông là em ruột của Nhất LinhHoàng Đạo là hai nhà văn nổi tiếng khác cùng trong nhóm Tự Lực văn đoàn. Thạch Lam ngoài bút danh này còn có các bút danh Việt Sinh, Thiện Sỹ. Tên ban đầu của ông do cha mẹ đặt nguyên là Nguyễn Tường Sáu, vì ông là con thứ sáu trong nhà. Bố mẹ ông làm lại khai sinh là cho con là Nguyễn Tường Vinh khi ông bắt đầu đi học ở trường huyện Cẩm Giàng (Hải Dương). Thạch Lam đã làm lại khai sinh lần thứ ba, thành Nguyễn Tường Lân khi ông 15 tuổi, cần tăng tuổi để học “nhảy lớp”.[3] 

Thạch Lam sinh quán tại tỉnh Hải Dương, nhưng nguyên quán ở làng Cẩm Phô, nay thuộc thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Cha ông là Nguyễn Tường Nhu (18811918), thông thạo chữ Hán và chữ Pháp, làm Thông phán Tòa sứ nên thường được gọi là Phán Nhu. Mẹ là bà Lê Thị Sâm[2], con gái cả ông Lê Quang Thuật (tục gọi Quản Thuật), người gốc Huế đã ba đời ra Bắc, làm quan võ ở Cẩm Giàng cùng thời với ông nội của Thạch Lam là Huyện Giám.

Theo Gia phả họ Nguyễn Tường hiện đang lưu giữ ở Hội An[17], thì họ này khởi đầu từ ông Nguyễn Văn Vân, thi đỗ nhị trường, được bổ chức lễ sinh, làm việc bên chúa Nguyễn Phúc Ánh. Năm 1797, ông Vân theo chúa Nguyễn ra đánh Quảng Nam, lập công to, nên được ban họ Nguyễn Tường. Ông Vân có hai vợ. Người vợ thứ (Nguyễn Thị Khoa Nhàn) sinh ra bốn con trai, trong đó có người con thứ hai tên Nguyễn Tường Phổ. Nguyễn Tường Phổ (1807-1856), sinh ở Cẩm Phổ (Hội An) là người văn võ toàn tài. Năm 35 tuổi (1842), ông thi đỗ Tiến sĩ, lần lượt trải qua các chức: Hàn lâm viên biên tu nội các (Huế), Tri phủ Hoằng An (Bến Tre), Tri phủ Tân An (Gia Định)… Rồi cuối cùng là Đốc học tỉnh Hải Dương. Vậy là ông Phổ, người Quảng Nam, trở thành vị khai nguyên cho dòng Nguyễn Tường ở Cẩm Giàng.Ông Phổ có con hai là Nguyễn Tường Trấp (còn gọi là Tiếp) và Nguyễn Tường Chữ. Sau, ông Trấp làm Tri huyện Cẩm Giàng, được dân trong vùng gọi là Huyện Giám. Ông Trấp có ba vợ, nhưng chỉ có bốn người con, trong số này có Nguyễn Tường Nhu, tức cha Thạch Lam…

Thạch Lam là người con thứ 6 trong gia đình 7 người con (6 trai, 1 gái): Tường Thụy, Tường Cẩm, Tường Tam, Tường Long, Thị Thế, Tường Vinh và Tường Bách. Trừ người Anh cả Nguyễn Tường Thụy làm công chức, những người còn lại đều đã ít nhiều tham gia vào sự nghiệp văn chương, nổi bật trong số đó là  NguyễnTường Tam (Nhất Linh), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo) và Nguyễn Tường Vinh (Thạch Lam).

Ông Phán Nhu mất sớm, bà Phán Nhu phải một mình mua bán tảo tần nuôi một mẹ chồng và bảy người con…[4] Cẩm Giàng, Thạch Lam ở Cẩm Giàng, học tại trường Nam (tiểu học Hải Dương, nay là trường tiểu học Tô Hiệu). Đến khi người anh cả là Nguyễn Tường Thụy ra trường dạy học ở Tân Đệ (Thái Bình), mẹ ông đã đưa cả nhà đi theo người con cả, nên Thạch Lam đến học ở Tân Đệ. Nhưng ở đây được một năm, làm vẫn không đủ cho các miệng ăn, mẹ ông dẫn các con (trừ Nguyễn Tường Thụy) về Hà Nội ở nhà thuê, rồi cứ thế lúc thì ở Hà Nội, lúc thì ở Cẩm Giàng…

Thạch Lam muốn đi làm sớm đỡ đần cho mẹ, nên đã nhờ mẹ nói khéo với ông Lý trưởng cho đổi tên và khai tăng thêm tuổi để học ban thành chung. Tiếp theo, ông thi đỗ vào Cao đẳng Canh Nông ở Hà Nội, nhưng chỉ học một thời gian, rồi vào trường Trung học Albert Sarraut để học thi Tú tài.

Thạch Lam sau khi đỗ Tú tài phần thứ nhất đã thôi học để làm báo với hai anh. Buổi đầu, ông gia nhập Tự Lực văn đoàn do anh là Nguyễn Tường Tam sáng lập, rồi được phân công lo việc biên tập tuần báo Phong hóa và tờ Ngày nay của bút nhóm này. Đến tháng 2 năm 1935, thì ông được giao làm Chủ bút tờ Ngày nay.

Khoảng năm 1935, Thạch Lam lấy vợ và được người chị (Nguyễn Thị Thế) nhường lại căn nhà nhỏ tại đầu làng Yên Phụ, ven Hồ Tây (Hà Nội) cho vợ chồng ông ở. Tuy chỉ là một mái tranh vách đất, thế nhưng “nhà cây liễu”[5] là nơi thường lui tới của các văn nghệ sĩ. Ngoài các thành viên trong Tự Lực văn đoàn, còn có: Thế Lữ, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Tuân, Huyền Kiêu, Nguyễn Xuân Khoát

Một tuổi thơ nhọc nhằn cộng với cuộc sống lao lực vì miếng cơm manh áo đã làm Thạch Lam sớm mắc căn bệnh lao phổi, một căn bệnh nan y thời bấy giờ. Ông mất tại “nhà cây liễu” vào ngày 27 tháng 6 năm 1942[6], lúc mới 32 tuổi, khi đang còn trong độ tuổi rực rỡ trên văn đàn.

Thạch Lam có ba người con, hai trai một gái: Nguyễn Tường Nhung (sau này là vợ của trung tướng Ngô Quang Trưởng trong quân đội Việt Nam Cộng hòa trước đây), Nguyễn Tường Đằng, và trước vài ngày khi ông mất, vợ ông sinh thêm con trai mà sau này là nhà văn Nguyễn Tường Giang. Ông ra đi để lại người vợ trẻ cùng với ba đứa con thơ trong cảnh nghèo. Gia đình đã an táng ông nơi nghĩa trang Hợp Thiện, nay thuộc quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội. Theo nhà văn Băng Sơn thì sau khi Thạch Lam mất, vợ và các con ông có về sống ở Cẩm Giàng với bà Phán Nhu một thời gian rồi vào Nam [7].

Di sản

Tám tác phẩm của Thạch Lam hầu hết được đăng báo trước khi in thành sách:

  • Gió đầu mùa (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, (1937)
  • Nắng trong vườn (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, (1938)
  • Ngày mới (truyện dài, Nhà xuất bản Đời nay, (1939)
  • Hạt ngọc (sách viết cho thiếu nhi, Nhà xuất bản Đời Nay, (1940).
  • Quyển sách (sách viết cho thiếu nhi, Nhà xuất bản Đời Nay, (1940).
  • Theo giòng (bình luận văn học, Nhà xuất bản Đời nay, (1941).
  • Sợi tóc (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, (1942).
  • Hà Nội băm sáu phố phường (bút ký, Nhà xuất bản Đời nay, (1943).

Thạch Lam nhân cách và văn chương

Nhân cách

Nhà văn Thế Uyên (con trai bà Nguyễn Thị Thế, cháu gọi Thạch Lam là cậu), trong bài Tìm kiếm Thạch Lam, có đoạn: “Mẹ tôi bảo chú Thạch Lam mơ mộng, tế nhị, đa cảm, thì thủa nhỏ đã thế… Và chính ở đây (trại Cẩm Giàng) những người đàn ông ngồi uống trà, hút thuốc, nói chuyện tâm đắc… Có khi bàn chuyện văn chương, báo chí, có thể là chuyện cải cách dân tộc. Thường trong lúc ấy, Thạch Lam ngồi trong đám bạn văn thơ, bởi tính cách Thạch Lam chỉ có thế…”

Nhà văn Vũ Bằng kể lại: ” Thạch Lam yêu sự sống hơn bất kỳ ai. Anh quý từ cốc nước chè tươi nóng, trang trọng đưa lên miệng uống một cách gần như thành kính… như thể cảm ơn trời đất đã cho mình sống để thưởng thức ngon lành như vậy. Anh cẩn thận từng câu nói với cô bán hàng vì sợ lỡ lời…khiến người ta tủi thân mà buồn. Thạch Lam đi đứng nhẹ nhàng… Anh là một người độc đáo có tài lại khiêm nhường, người nhỏ mà nhân cách lớn…

Có lần Thạch Lam nói: Xét cho cùng, ở đời ai cũng khổ. Người khổ cách này, người cách khác. Bí quyết là biết tìm cái vui trong cái khổ. Vì chỉ sống thôi cũng đã quý lắm rồi. Người ta không bao giờ nên phí phạm cái sống, coi thường sự sống.

Một lần, Thạch Lam cho tiền một đứa trẻ bán lạc rang bị cướp mất tiền, tôi nhắc khéo là có thể bị đứa trẻ đánh lừa, Thạch Lam trả lời: Bị lừa hay không, cái đó không quan hệ lắm. Mình cần làm một việc xét ra phải làm, theo ý mình…

Tháng 2 năm 1935, Thạch Lam được giao quản trị báo Ngày nay. Một nhà thơ, vì cảnh nhà túng quẫn, cứ đến gặp ông xin tạm ứng tiền nhuận bút. Nhưng bạn vay 10 mà trả bài có 3. Có người nhắc ông sao không chặn lại, ông vẫn cho tạm ứng và bảo rằng: Chẳng ai muốn làm một việc như thế, người ta không còn con đường nào khác mới phải làm như vậy. Nếu không giúp đỡ, họ sống ra sao?

Và mặc dù là người nghèo nhất trong gia đình (nhà tranh vách đất, thậm chí cái mền không có tiền mua), Thạch Lam vẫn thường mời bạn văn đến chơi nhà và thiết đãi tận tình. Khúc Hà Linh cho biết:

Thạch Lam nghèo một phần vì sách của ông bán ế, nhưng không vì thế mà người vợ hiền thục kém mặn mà với khách của chồng. Những bữa rượu cứ tiếp diễn, và bao giờ Thạch Lam cũng mời mọc thịnh tình cho đến khi thực khách say mềm. Trong lúc chè chén, có khi sinh sự ồn ào, những lúc ấy Thạch Lam vẫn chỉ điềm nhiên nâng chén, không nói lớn, mà chỉ cười…[8]

Văn chương

Là thành viên của Tự Lực văn đoàn, nhưng khác với Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng… ngòi bút của Thạch Lam có khuynh hướng đi gần với cuộc sống của những người dân bình thường nghèo khổ.

Nhận xét khái quát về sự nghiệp văn chương của ông, Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam có đoạn viết: Thạch Lam là một cây bút thiên về tình cảm, hay ghi lại cảm xúc của mình trước số phận hẩm hiu của những người nghèo, nhất là những người phụ nữ trong xã hội cũ, sống vất vả, thầm lặng, chịu đựng, giàu lòng hi sinh (“Cô hàng xén”). Có truyện miêu tả với lòng cảm thông sâu sắc một gia đình đông con, sống cơ cực trong xóm chợ (“Nhà mẹ Lê”). Có truyện phân tích tỉ mỉ tâm lí phức tạp của con người (“Sợi tóc”). “Ngày mới” đi sâu vào nội tâm của một cặp vợ chồng trí thức nghèo. Chưa có truyện nào có ý nghĩa xã hội rõ nét như các tác phẩm của các nhà văn hiện thực phê phán. “Theo giòng” là một thiên tiểu luận viết kiểu tuỳ bút, ghi lại suy nghĩ của ông về nghệ thuật tiểu thuyết, có những ý kiến hay, nhưng chưa đi sâu vào khía cạnh nào. Cuốn “Hà Nội ba sáu phố phường” có phong vị đậm đà của quê hương xứ sở, lại rất gợi cảm. Văn Thạch Lam nhẹ nhàng, giàu chất thơ, sâu sắc, thâm trầm, thường để lại một ấn tượng ngậm ngùi, thương xót.[9]

Trong “Lời nhà xuất bản Văn học” (khi in lại tác phẩm “Gió đầu mùa” năm 1982) cũng có đoạn viết như sau: Giới thiệu tập truyện ngắn “Gió đầu mùa” xuất bản trước Cách mạng tháng Tám, Thạch Lam viết: “Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”.

Có thể coi đoạn văn ngắn nói trên như là “Tuyên ngôn văn học” của Thạch Lam. Và quả thật, trong toàn bộ gia tài sáng tạo của Thạch Lam, hầu như không một trang viết nào lại không thắm đượm tinh thần đó. Là thành viên của nhóm Tự Lực văn đoàn, song trước sau văn phong Thạch Lam vẫn chảy riêng biệt một dòng. Đề tài quen thuộc của nhóm Tự Lực văn đoàn là những cảnh sống được thi vị hóa, những mơ ước thoát ly mang màu sắc cải lương, là những phản kháng yếu ớt trước sự trói buộc của đạo đức phong kiến diễn ra trong các gia đình quyền quý. Thạch Lam, trái lại, đã hướng ngòi bút về phía lớp người lao động bần cùng trong xã hội đương thời. Khung cảnh thường thấy trong truyện ngắn Thạch Lam là những làng quê bùn lầy nước đọng, những phố chợ tồi tàn với một bầu trời ảm đạm của tiết đông mưa phùn gió bấc, những khu phố ngoại ô nghèo khổ, buồn, vắng… Trong khung cảnh ấy, các nhân vật cũng hiện lên với cái vẻ heo hút, thảm đạm của số kiếp lầm than – Đó là mẹ Lê, người đàn bà nghèo khổ, đông con, góa bụa ở phố chợ Đoàn Thôn, là bác Dư phu xe ở phố Hàng Bột, là Thanh, Nga với bà nội và cây hoàng lan trong một làng quê vùng ngoại ô, là cô Tâm hàng xén với lối đường quê quen thuộc trong buổi hoàng hôn…Tất cả những cảnh, những người ấy đều được mô tả bằng một số đường nét đơn sơ, thưa thoáng nhưng vẫn hết sức chân thực…

Tác phẩm của Thạch Lam vì thế có nhiều yếu tố hiện thực tuy nhân vật không dữ dội như Chí Phèo, lão Hạc của Nam Cao, hay bị đày đọa như chị Dậu của Ngô Tất Tố…Cái riêng, cái độc đáo, cái mạnh của Thạch Lam, chính là ở lòng nhân ái, và vẻ đẹp tâm hồn quán xuyến trong mọi tác phẩm của ông. Nhân vật Thạch Lam, bất luận ở hoàn cảnh nào, vẫn ánh lên trong tâm hồn cái chất nhân ái Việt Nam…Đọc truyện ngắn Thạch Lam rõ ràng ta thấy yêu con người, quý trọng con người hơn. Và cũng từ đó ta thương cảm, nâng niu, chắt gạn từng chút tốt đẹp trong mỗi một con người.

Nhà văn Nguyễn Tuân: Lời văn Thạch Lam nhiều hình ảnh, nhiều tìm tòi, có một cách điệu thanh thản, bình dị và sâu sắc…Văn Thạch Lam đọng nhiều suy nghiệm, nó là cái kết tinh của một tâm hồn nhạy cảm và tầng trải về sự đời. Thạch Lam có những nhận xét tinh tế về cuộc sống hàng ngày. Xúc cảm của Thạch lam thường bắt nguồn và nảy nở lên từ những chân cảm đối với tầng lớp dân nghèo thành thị và thôn quê. Thạch Lam là nhà văn quý mến cuộc sống, trang trọng trước cuộc sống của mọi người chung quanh. Ngày nay đọc lại Thạch lam, vẫn thấy đầy đủ cáo dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học…[10]

Nhà văn Vũ Ngọc Phan: Ngay trong tác phẩm đầu tay (Gió đầu mùa), người ta đã thấy Thạch Lam đứng vào một phái riêng…Ông có một ngòi bút lặng lẽ, điềm tĩnh vô cùng, ngòi bút chuyên tả tỷ mỷ những cái rất nhỏ và rất đẹp… Phải là người giàu tình cảm lắm mới viết được như vậy…’[11].

GS. Phạm Thế Ngũ: Thạch Lam là một nhà văn có khuynh hướng xã hội…Đối với ông, nhân vật thường là những người tầm thường trong xã hội: mẹ Lê trong xóm nghèo, cô hàng xén ở phố huyện, cậu học trò đi ở trọ, hai cô gái giang hồ trơ trọi…Và ông thường để ý vạch vẽ cuộc đời, tình cảm cùng ý nghĩ của họ, chớ không bận tâm lắm đến việc tuyên truyền tư tưởng cách mạng xã hội như trong các tác phẩm của Nhất Linh hay Hoàng Đạo…Ta thấy Thạch Lam, luôn hòa đồng trong cái xã hội nhỏ bé mà ông thương xót với tất cả tâm hồn đa cảm của ông…[12]

GS. Phong Lê: Thạch Lam có quan niệm dứt khoát về thiên chức của văn chương: “Đối với tôi, văn chương không phải một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn”.

Có lẽ cả hai phương diện, vừa tố cáo, vừa xây dựng, đều được Thạch Lam chú ý; và trong phần thành công của nó, các dấu ấn hiện thực và lãng mạn trong văn Thạch Lam đều tìm được sự gắn nối ở chính quan niệm này.

Ở tư cách nhà văn, Thạch Lam đòi hỏi rất cao phẩm chất trung thực của người nghệ sĩ. Ông viết: “Sự thành thực chưa đủ cho nghệ thuật. Có thể, nhưng một nhà văn không thành thực không bao giờ trở nên một nhà văn giá trị. Không phải cứ thành thực là trở nên một nghệ sĩ. Nhưng một nghệ sĩ không thành thực chỉ là một người thợ khéo tay thôi”[13].

PGS. Nguyễn Hoành Khung: …Tình cảm của Thạch Lam chân thành, tuy nhiên, ông chỉ mới băn khoăn, thương cảm đối với số phận người nghèo qua những câu chuyện mang một dư vị ngậm ngùi, tội nghiệp.

Về bút pháp, có thể nói Thạch Lam là nhà văn mở đầu cho một giọng điệu riêng: trữ tình hướng nội trong truyện ngắn. Ngòi bút của ông thường khơi sâu vào thế giới bên trong của cái “tôi”, với sự phân tích cảm giác tinh tế.

Sáng tác của Thạch Lam giàu chất thơ, và đọc ông, đời sống bên trong có phong phú hơn, tế nhị hơn; chúng “đem đến cho người đọc một cái gì nhẹ nhõm, thơm tho và mát dịu” (Nguyễn Tuân).

Ông là cây bút có biệt tài về truyện ngắn. Nhiều truyện ngắn của ông dường như không có cốt truyện, song vẫn có sức lôi cuốn riêng. Truyện dài “Ngày mới” của ông không có gì đặc sắc về tư tưởng và nghệ thuật[14].

Khúc Hà Linh (Hiệu trưởng Trường Văn hóa nghệ thuật Hải Dương): Thạch Lam có những tháng năm sống nơi thôn dã, nên trong tác phẩm ông chất chứa nhiều hình bóng con người và đời sống làng quê…Ông tả nội tâm nhân vật tài tình, nhuần nhị, tinh tế. Văn ông hài hòa giữa lãng mạn và chân thực, mà vẫn nồng nàn tình quê, nặng lòng với dân tộc.

Thạch Lam không chỉ nổi tiếng về truyện ngắn, ông còn thành công trong thể loại bút ký. “Hà Nội băm mươi sáu phố phường” gồm nhiều mẩu văn ngắn mà sinh động, thể hiện vốn sống phong phú và tài hoa của ông…[15].

Thạch Lam hạt ngọc của đời nay

Năm 1996, ở Cẩm Giàng có một con đường mang tên Thạch Lam. Đây là một việc làm mạnh dạn, là cách trân trọng văn chương hiếm thấy tại thời điểm lịch sử lúc bấy giờ[16]. Hiện nay, truyện ngắn “Hai đứa trẻ” (in trong tập truyện “Nắng trong vườn”) của ông đang được giảng dạy tại lớp 11 trong hệ thống giáo dục Việt Nam.

Chú thích và tài liệu tham khảo

Chú thích

  1. ^ Đa phần các sách (trong số đó có sách giáo khoa lớp 11) đều ghi Thạch Lam sinh năm 1910. Theo nhà văn Nguyễn Tuân và Lời nhà xuất bản Văn học (khi in lại tác phẩm “Gió đầu mùa” năm 1982) thì ông sinh năm 1909.
  2. ^ Bà Nhu (tức Lê Thị Sâm, sinh năm 1881? – ?) là một người mẹ Việt Nam mẫu mực. Chồng mất sớm, bà vẫn ở vậy để hôm sớm tảo tần lo cho 7 người con ăn học. Sau khi các con đều đã có gia đình, bà xuất gia đến tu ở Đào Xuyên, Bối Khê, Hà Nội. Khi biết tin Hoàng Đạo đột tử ở ga Thạch Long (Trung Quốc) năm 1948, bà đã làm lễ cầu siêu cho con, rồi vào Sài Gòn, tu ở chùa Xá Lợi cho đến năm 1960. Ít lâu sau bà viên tịch tại đó, trước ngày Nhất Linh quyên sinh (7 tháng 7 năm 1963 [1].
  3. ^ Những bất ngờ từ Thạch Lam.
  4. ^ Khi gồng mình lên gánh vác cơ nghiệp nhà Nguyễn Tường, bà Phán Nhu đã phải thay đổi chỗ ở nhiều lần, nhưng chỉ có cuộc sống nghèo khổ ở Cẩm Giàng là làm lay động nhiều đến trái tim và in đậm trong tâm hồn của các con bà để sau này trở thành những nhân vật, những chất liệu văn học trong các phẩm của họ, đặc biệt là ở Thạch Lam. Nhà văn Thế Uyên (cháu gọi Thạch Lam là cậu) viết: “Bà ngoại tôi buôn bán tảo tần nuôi bảy con ở cái phố huyện buồn thiu, cái không gian ấy sau này xuất hiện tràn đầy trong tác phẩm của Thạch Lam”. Ngày 9 tháng 5 năm 2008, một cuộc hội thảo mang tên “Bảo tồn và phát huy di sản Cố trạch của Tự Lực văn đoàn” đã được tổ chức tại thị trấn Cẩm Giàng, với sự tham dự của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu, như: Văn Tạo, Phong Lê, Nguyễn Huệ Chi, Bằng Việt, Lê Lựu, Văn Giá…Và tất cả đều đã đồng ý là nên xây dựng một nhà lưu niệm Tự lực văn đoàn trên mảnh đất xưa của ba gia đình ba nhà văn, đấy chính là sự ghi nhận công lao của họ đối với lịch sử văn học nước nhà. (Khúc Hà Linh, tr. 29 và 181).
  5. ^ Nhiều người vẫn gọi ngôi nhà ấy là nhà cây liễu, vì trong sân sát hồ có cây liễu lớn, thân nâu sần sùi nứt nẻ, bóng rũ thướt tha, do chính tay Thạch Lam trồng. Nhà thơ Huyền Kiêu ngày ấy đã có bài thơ chấm phá về ngôi nhà ấy như sau: Tây Hồ có danh sĩ/ Nhà thì ở mái tranh/ Cửa trúc cài phên gió/ Trước thềm bóng liễu xanh… Có bạn văn chương bào nhà cây liễu là ngôi nhà lịch sử, bởi nó chứng kiến vui buồn của những văn nghệ sĩ trong khoảng khắc giao thời (Khúc Hà Linh, tr. 94)
  6. ^ Ngày Thạch Lam mất, các sách ghi không thống nhất. Tuyển tập Thạch Lam ghi ngày 23. Từ điển Văn học (bộ mới) và Văn xuôi lãng mạn Việt Nam (1930-1945, tập 5) ghi ngày 28. Ở đây ghi theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt NamAnh em Nguyễn Tường Tam-Nhất Linh… của Khúc Hà Linh.
  7. ^ Theo Băng Sơn, Người đã khói sương. Nhà xuất bản Văn hoá – Thông tin, 2001.
  8. ^ Phần Đôi nét về nhân cách, trích trong sách của Khúc Hà Linh, tr. 92 và 154-155.
  9. ^ Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam , bản điện tử
  10. ^ Nguyễn Tuân, bài viết về Thạch Lam, in ở cuối sách Tuyển tập Thạch Lam, tr. 323.
  11. ^ Nhà văn hiện đại (tập 2), tr. 1060.
  12. ^ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (quyển 3), tr. 490.
  13. ^ Theo GS. Phong Lê, [2].
  14. ^ Từ điển Văn học (bộ mới), tr. 1621.
  15. ^ Khúc Hà Linh, tr. 83 và 85.
  16. ^ Khúc Hà Linh, tr. 177.
  17. ^ Nhà thờ tộc Nguyễn Tường nằm trên đường Phan Đình Phùng, ngay cạnh Khổng miếu, thuộc khu phố 4, phường Cẩm Phô, thị xã Hội An.

Tài liệu tham khảo

  • Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại (tập 2). Nhà xuất bản KHXH in lại năm 1989.
  • Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (quyển 3). Quốc học tùng thư xuất bản, 1965.
  • Thạch Lam, Gió đầu mùa. Nhà xuất bản Văn học, 1982.
  • Phong Lê, Tuyển tập Thạch Lam. Nhà xuất bản Văn học, 1988.
  • Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam . Nhà xuất bản KHXH, 1992.
  • Nhiều người soạn, Văn xuôi lãng mạn Việt Nam (1930-1945, tập 5). Nhà xuất bản KHXH. 1989.
  • Nhiều người soạn, Từ điển Văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
  • Nhiều người soạn, Ngữ văn lớp 11 (tập 1). Nhà xuất bản Giáo dục, 2008.
  • Khúc Hà Linh, Anh em Nguyễn Tường Tam-Nhất Linh: Ánh sáng và bóng tối. Nhà xuất bản Thanh Niên, 2008.
  • Quan hệ giữa Tường Lam và Vũ Bằng thời ấy. VanVN.Net – Nhà văn Triệu Xuân: Ngày 28-6-2011, kỷ niệm 69 năm ngày mất của nhà văn Thạch Lam. Tưởng nhớ Thạch Lam, nhà văn tài năng và nhân cách cao đẹp, Văn Chương Ngày Nay trích in một vài trang viết của cố nhà văn Vũ Bằng, viết tháng 12 năm 1971 tại Sài Gòn, thành tâm ân hận về những gì mình không phải với Thạch Lam, hết lời tôn vinh nhân cách Thạch Lam.

Liên kết ngoài

Thạch Lam hạt ngọc đời nay. Tôi lưu một điểm nhấn cũng là nén tâm hương tưởng nhớ ngày mất của ông để hàng năm quay về học nhân cách và tinh anh của một con người. Nhân cách ấy, con người ấy, văn chương ấy là không tầm thường ! Lịch sử công bằng sẽ gạn đục khơi trong, lưu lại tinh anh văn hóa.

Hoàng Kim

Bài viết mới

Video yêu thích

Cha con GS-TS Trần Văn Khê hòa đàn ngẫu hứng 2014

Lý Ngựa Ô liên khúc ba miền
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Chuyện cổ tích người lớn

baynhichuyencotichchonguoilon
CHUYỆN CỔ TÍCH NGƯỜI LỚN
Hoàng Kim.

Ông Nguyễn Minh Nhị, bên phải, cùng anh Ngô Vi Nghĩa với giống mì ngắn ngày trên ruộng tăng vụ  là chuyện cổ tích người lớn. Ông Nguyễn Minh Nhị, thường gọi là Bảy Nhị nguyên chủ tịch rồi bí thư của  tỉnh An Giang. Ông sống tử tế đã nghỉ hưu, Tôi lưu lại chuyện hay nhớ mãi.

ÔNG BẢY NHỊ AN GIANG

Bạn xuống An Giang hỏi ông Bảy Nhị chủ tịch ai cũng biết. Tôi gọi trõng tên ông biết là không phải nhưng với tôi thì ông tuy còn khỏe và đang sống sờ sờ nhưng ông đã là người lịch sử, tựa như Mạc Cữu, Mạc Thiên Tích xưa, oai chấn Hà Tiên, góp sức mộ dân mở cõi, làm phên dậu đất phương Nam của dân tộc Việt. Ông Bảy là nhân vật lịch sử trong lòng tôi.

Tôi có một kỷ niệm quí rất khó quên. Ông Bảy Nhị ba lần lên Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc tìm tôi khi đó làm Giám đốc Trung tâm. Ông tham khảo ý kiến chuyển đổi cơ cấu cây trồng, khai hoang phục hóa hiệu quả cho vùng đất phèn mặn ngập năn lác của hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên. Ông đồng tình với tôi việc ứng dụng canh tác giống lúa thơm Khao Dawk Mali 105 (KDM 105) nhưng trồng cây gì luân canh lúa hiệu quả trong các tháng mùa khô thì đó vẫn là bài toán khó?

Mờ sớm một ngày đầu tháng mười một. Trời se lạnh. Nhà tôi có chim về làm tổ. Buổi khuya, tôi mơ hồ nghe chim khách líu ríu lạ trên cây me góc vườn nên thức dậy. Tôi bước ra sân thì thấy một chiếc xe ô tô đậu và cậu lái xe đang ngủ nướng. Khi tôi ra, cậu lái xe thức dậy nói: “Chú Bảy Nhị, chủ tịch tỉnh An Giang lên thăm anh nhờ tuyển chọn giống mì ngắn ngày để giúp An Giang né lũ. Đợt trước chú đã đi cùng chú Tùng (là ông Lê Minh Tùng sau này làm Phó Chủ Tịch Tỉnh, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang) lên làm việc với anh rồi. Nay mì đã được năm tháng tuổi, chú muốn lên coi kỹ ở trên ruộng xem củ to bằng ngần nào. Chú Bảy giờ hành chính bận họp nên thăm sớm. Đến nhà anh, thấy sớm quá chú ngại nên ra thẳng ngoài đồng rồi, nhờ tui đón anh ra sau”.

Tôi giật mình nghĩ: “Cái ông này không thể xạo được. Mình nói là có giống mì bảy tháng. Năm tháng ông lên kiểm tra đồng ruộng nhổ thử, thiệt chu đáo. Ông thật biết cách kiểm tra sâu sát”. Chợt dưng tôi nhớ đến MỘT LỐI ĐI RIÊNG của Bác Hồ trong thơ Hải Như: “Chúng ta thích đón đưa/ Bác Hồ không thích/ Đến thăm chúng ta Bác Hồ thường “đột kích”/ Chữ “đột kích” vui này Người nói lại cùng ta/ Và đường quen thuộc/ Bác chẳng đi đâu/ Đường quen thuộc thường xa/ Bác hiện đến bằng lối tự tìm ra:/ Ngắn nhất/ Bác không muốn giẫm lên mọi đường mòn có sẵn/ Khi đích đã nhắm rồi/ Người luôn luôn tạo cho mình:/ Một lối đi riêng”. Sau này hiếm có đồng chí lãnh đạo nào học được cách làm như Bác. Họ đi đâu đều thường xếp lịch hành chính và đưa đón đàng hoàng, chẳng cần một lối đi riêng. Tôi thầm chợt cảm phục ông Bảy.

Ông Nguyễn Minh Nhị có mấy bài viết hay gửi ông Nguyễn Bá Thanh, tình cảm của họ thật chân thành và cảm động. Sự chân thành thân thiết theo tôi chẳng cần lời bình luận nào thêm mà chỉ cần ghi lại. Tôi trầm tư trước câu hỏi: Làm thế nào để tháo gỡ “những vật cản không dễ vượt qua”. Tôi tâm đắc với lời Bác Giáp suốt đời học Bác Hồ “dĩ công vi thượng” việc công trên hết. Câu trả lời thật rõ ràng là: Khi Nhân Dân, Tổ Quốc trên hết, thì bất cứ giải pháp nào có lợi cho Dân cho Nước cũng đều nghiên cứu vận dụng được cả, không từ một giải pháp nào. Thực chất đó là phép quyền biến “dĩ bất biến ứng vạn biến”.

Đó là trích đoạn tôi ghi chép về ông Bảy trong bài “Bảy Nhị kênh ông Kiệt và tôi

BẢY NHỊ, TÔI ĐÃ QUA

Ông Bảy là con người thực tiễn. Ông đã nghỉ hưu, nay viết hồi ký “Tôi đã qua”. Ông kể lại những mẫu chuyện thực của đời mình. Sách “TÔI ĐÃ QUA” gồm hai tập với 675 trang. Lối kể chuyện của ông là tôn trọng sự thật, sát thực tế và tâm huyết. Tôi háo hức đọc và chia sẻ đôi lời cảm nhận với bạn, để mong cùng bạn  từ trong chuyện đời thường rút tỉa được đôi điều về bài học cuộc sống.

Tôi bâng khuâng Nhớ Đào Duy Từ xưa mang tâm nguyện và chí hướng lớn lao như sự thổ lộ của vua Trần Thái Tông “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Di sản của vua Trần Thái Tông và Đào Duy Từ đều không phải ở trước tác mà là triều đại. Họ đều là những nhà thực tiễn sáng suốt, trọng thực tiễn hơn lý thuyết và có tầm nhìn sâu rộng lạ thường, ngay trong trước tác  cũng rất chú trọng gắn thực tiễn với lý luận. Họ đều đặc biệt chú trọng thực tiễn mà không theo lối khoa trương, hủ nho của người đương thời.

Ôn cũ nói mới để không phải so sánh những vĩ nhân lỗi lạc kia với ông Bảy mà là để thấm thía lời ông Bảy, cũng là một mẫu người rất coi trọng thực tiễn : “Người dân hỏi chính khách làm gì cho dân nhờ chớ không hỏi hàng ngày ông làm gì? Cụ Đồ Chiểu có cho Tiểu Đồng nói trong thơ Lục Vân Tiên rất hay: “Đồng rằng trong túi vắng hoe/ Bởi tin nên mắc bởi nghe nên lầm” ! Ông Bảy nói vậy vì con đường đi lên của nông nghiệp Việt Nam thật vất vả và nhọc nhằn quá !

Nông nghiệp nông dân nông thôn Việt Nam sau khoán 10, sau nghị quyết 100, sau đổi mới, sau liên kết nông nghiệp 10 năm, nay tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, … thực tế đời sống người nông dân đã tăng lên bao nhiêu? tăng nhiều hay tăng ít ? có ổn định bền vững không? đã thật sự công bằng chưa? Hỏi xem thu nhập thực tế của nông dân túi họ có bao nhiêu tiền thì biết. Làm gì để chất lượng cuộc sống nông thôn tốt hơn?

Ông Bảy làm Chủ tịch Tỉnh, sau đó làm Bí thư tỉnh ủy An Giang là một tỉnh nông nghiệp. Vất vả đi lên từ hột lúa, con cá, ông thấm thía thật nhiều về sự liên kết nông nghiệp, đưa hiện đại hóa, công nghiệp hóa vào nông nghiệp, nông thôn. Ông đã từng tìm tòi và trả giá cho những bứt phá đúng nhưng chưa hợp thời như chuyện “Hai dự án tranh cãi”. Dự án thứ nhất là trồng bắp thu trái non, trồng đậu nành rau và xây dựng nhà máy đông lạnh rau quả xuất khẩu. Dự án thứ hai là nhà máy tinh bột khoai mì.

Hơn 20 năm sau nhìn lại, ông viết: “Hai dự án đầy tranh cãi mà Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn, Chủ tịch Nước Trần Đức Lương,… từng đến thăm mấy lần và khen ghê lắm. Dự án thứ nhất nay lãi hằng năm cũng vài tỷ rồi cả vài chục tỷ đồng; có việc làm ổn định cho gần một ngàn công nhân (không kể lao động ngoài nhà máy). Dự án thứ hai, dù cho nhà máy bán đi nhưng An Giang được 9.000 ha đất từ Kiên Giang được Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh cho, từ hoang hoá và phèn nặng trở thành đất sản xuất 2-3 vụ/năm, lập thêm hai xã mới với gần một vạn dân. Đây là mồ hôi và cả nước mắt của hàng vạn con người. Nhưng không có ai tranh cãi. Chỉ có tôi và những người không đổ mồ hôi mới tranh cãi mà thôi.

Ông vui buồn trăn trở mà nói vậy thôi. An Giang nay đã vươn lên đứng đầu toàn quốc về sản lượng và xuất khẩu lúa, cá nhưng con đường nhọc nhằn của nghề nông, tâm huyết của một kẻ sĩ, luôn cánh cánh trong lòng câu hỏi: “Người dân hỏi chính khách làm gì cho dân nhờ chớ không hỏi hàng ngày ông làm gì?”. Tìm được câu trả lời vẹn toàn. Thật khó lắm thay!

Tôi kính trọng những người thực tiễn, tâm huyết, biết thao thức vận dụng học để làm trong thực tế cụ thể của chính mình, biến những điều học ở trường, học ở trong sách vở, học lẫn nhau và học ở dân để làm được điều gì đó thiết thực cụ thể cho dân, cho nước, cho cộng động xã hội gia đình, và cho chính bản thân mình.

Ông Bảy mail cho tôi những trang hồi ký chỉ để đọc giữa một ít người trong gia đình và thân quen. Ông vui khi đọc bài viết Kênh ông Kiệt giữa lòng dân và nhận xét: “HK viết lúc mình đã nghĩ hưu nên cả HK cũng không bị ai hiểu là “tâng kẻ có chức”. Tôi thì ám ảnh bởi những điều trong đời mình, chính đời mình mắt thấy tai nghe, nếu mà tôi không lưu lại, không kể lại được thì thật khó có thể trao truyền lại những bài học thực tiễn cho người thân và các bạn trẻ nên tôi lựa chọn để kể.

Hoàng Kim

LỜI TÁC GIẢ

( cho tập Hồi ký TÔI ĐÃ QUA)
Nguyễn Minh Nhị

Hôm nay, mồng 1 tháng 5 năm 2015, kỷ niệm 40 năm ngày tôi “Đến bờ mong đợi” tại Cây số 5 Long Sơn – Tân Châu và cũng là kỷ niệm ngày sanh cháu ngoại đầu lòng – Nguyễn Minh Tú Anh đã tròn 10 tuổi. Tôi vừa tự in xong tập hồi ký “TÔI ĐÃ QUA” gồm hai tập 675 trang như là câu chuyện về “nguồn cội” của hai họ Nguyễn – Đặng trên vùng đất khai hoang – mở cỏi và cũng là “lượt qua” cuộc đời tôi đã trãi.

Tôi đang vào tuổi 70 không tư duy, không suy nghĩ ra cái gì hay và không làm được việc gì mới. Nói như Nhà văn Nguyễn Trọng Tín năm tôi 60 tuổi về hưu: “Anh giờ như tằm chín chỉ còn ‘nhả ra’ chớ không còn ‘thâu vô’ được nữa”.

Đúng vậy! Mười năm qua, vợ chồng tôi chỉ tiếp tục lao động tạo ra của cải, giải quyết việc làm cho 60 lao động, lập ra trang trại làm lúa, nuôi cá, trồng rừng và lập cơ sở nuôi dạy trẻ… Những việc làm ấy tưởng như mới, nhưng thực ra cũng chỉ là tiếp tục cái vốn có của gia đình và bản thân thân tích lũy được. Nếu nói về cương vị xã hội thì vợ chồng tôi từ quan hệ “một chiều” là “người đày tớ”, hay “người lãnh đạo” tuy nhỏ nhưng là trách nhiệm tập thể, còn bây giờ thì chuyển sang quan hệ “hai chiều” nghĩa là vừa “làm chủ” vừa “làm thuê” cho dù quy mô không lớn nhưng phải tự chịu trách  nhiệm. Một khi con tầm còn tơ là còn phải nhả vậy thôi!

Mười năm làm những công việc ấy; đồng thời nhớ lại và suy nghĩ dài theo đường đời mà “Tôi đã qua” ngót 60 năm, từ khi tôi chập chững vào đời,. Ngoài những con người, sự việc đã ghi trong hồi ký, mấy hôm nay tôi lục bài vỡ, tư liệu cũ sắp xếp lại cho ngăn nấp…Tôi như sống lại một thời sôi động với những việc làm vẫn còn tên gọi mà nay chỉ còn là kỷ niệm! Tất cả đều đã cũ, tôi gom lại, hệ thống, phân loại và  in thành tập. Tôi đặt cho tập sách mới nầy cái tên “CÒN LÀ KỶ NIỆM”, hay Tập 3 của hồi ký “Tôi đã qua”.

“Còn là kỷ niệm” có mấy phần: Phần I – Những người tôi nhớ. Phần II – Những lời tôi nghe. Phần III – Những bài tôi viết trong 10 năm đầu nghĩ hưu. Và phần kết.

Nguyễn Minh Nhị
(đăng theo đúng bản gốc của email tác giả gửi)

Nguồn: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-co-tich-nguoi-lon/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau Music
Vietnam traditional music
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter