Hồ Xuân Hương góc khuất

hoxuanhuong

HỒ XUÂN HƯƠNG GÓC KHUẤT
Hoàng Kim


Một sự nghiệp lớn và cấp thiết là bảo tồn phát triển tinh hoa văn hóa Việt. Nghiên cứu văn sử Việt ngày nay cấp thiết phải tìm tòi giải quyết tốt các góc khuất để tôn vinh sự cao quý của các danh nhân văn hóa Việt vào sâu trong lòng nhân dân tổ quốc mình và ra thế giới. Việc làm cần thiết và cấp bách là bảo tồn tỏa sáng tinh hoa Việt và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới. Nguyễn Du Hồ Xuân Hương là một trong những điểm nhấn trọng yếu ấy vì cuộc đời và văn chương họ đã vượt xa biên giới quốc gia. Hiểu biết đúng sự thật chân thiện mỹ là cách tốt nhất để lan tỏa gía trị Việt.

Truyện Kiều Lưu Hương Ký là “cặp song kiếm hợp bích” tinh hoa văn hóa Việt.”Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”; ” Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”; “Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao”; “Chọc trời khuấy nước mặc dầu/ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”; “Khen cho con mắt tinh đời/ Anh hùng đoán giữa trần ai mới già/ Một lời đã biết đến ta/ Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau” (Truyện Kiều Nguyễn Du)”. “Thân em thời trắng, phận em tròn/ Bảy nổi ba chìm mấy nước non / Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn / Nhưng em vẫn giữ tấm lòng son” (Bánh trôi nước, thơ Hồ Xuân Hương); “Anh đồng lòng/ Em đồng lòng /Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm/ Thơ cùng ngâm/ Rượu và trăng/ Thăm thẳm buồn ly biệt/ Vầng trăng chia hai nữa/ Cung đàn ly khúc oán tri âm,.Thôi đành bặt tiếng hồ cầm/ Núi cao biển sâu đằng đẳng/ Xin chớ tủi buồn mà than cổ kim.(Hồ Xuân Hương góc khuất; “Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” là bài thơ ‘Tỏ ý’ của Hồ Xuân Hương đối với Nguyễn Du) “Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung/ Mượn ai tới đấy gửi cho cùng/ Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,/ Giấc mộng rồi ra nửa khắc không./Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,/ Phấn son càng tủi phận long đong./ Biết còn mảy chút sương siu mấy,/ Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.(Hồ Xuân Hương góc khuấ:; Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu, Nhớ chuyện cũ viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu).

Truyện Kiều cho đến ngày nay vẫn bị nhiều người lầm lẫn cho là sách Nguyễn Du dịch vì Nguyễn Du mượn thời thế, địa danh và cốt truyện thuộc triều đại, đất và người của nước ngoài, Thúy Kiều ẩn ngữ Việt Nam còn thiếu các minh chứng thuyết phục về góc khuất: cuộc đời và thời thế; giá trị tác phẩm gốc; gia đình và dòng họ; gia tộc và di chỉ, điển cố, điển tích; sự tôn vinh của xã hội; tầm ảnh hưởng các hồ sơ danh nhân Việt trong visa toàn cầu, là căn bản hồ sơ nhân vật chí cần được sáng tỏ.

Hồ Xuân Hương đời thơ; Hồ Xuân Hương góc khuất được nghiên cứu liên ngành và hệ thống trong bối cảnh lịch sử, kết nối với Nguyễn Du trăng huyền thoại, Nguyễn Du niên biểu luận, Nguyễn Du Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du tiếng tri âm. Đó là tiếng thơ nhân đạo, khát khao tình yêu cuộc sống và giải phóng con người (Mời đọc kỹ các đường link của các khảo luận này trước khi tiếp tục bài mới để theo dõi có hệ thống và tài liệu không tiện lặp lại. Cảm ơn quý bạn đọc. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ho-xuan-huong-goc-khuat/ Bài nghiên cứu lịch sử văn hóa này góp phần làm sáng tỏ sáu vấn đề: 1) Hồ Xuân Hương Lưu Hương Ký tác phẩm gốc có đặc trưng gì? 2) Hồ Xuân Hương “tỏ ý” là thơ kiệt tác hát nói ví giặm Nghệ Tĩnh di sản thế giới phi vật thể; 3) Hồ Xuân Hương tiếng tri âm “Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu” là lời tri kỹ bền vững, chuyện tình vượt thời gian; 4) “Độ Hoa Phong” là bài thơ vịnh Hạ Long tuyệt bút yêu thiên nhiên; 5) Miếu Sầm thái thú (Đề đền Sầm Nghi Đống) là bài thơ cao vọi khí phách đảm lược của một kỳ tài, tầm tư tưởng nhân hậu, tôn vinh phụ nữ và sự bình đẳng giới, khát vọng tự do, giải phóng con người; 6) Hồ Xuân Hương “Hồ Môn”; Hồ Xuân Hương hành trạng: Lưu Hương Ký “Khóc Tổng Cóc“, “Khấp Vĩnh Tường quan” (khóc ông phủ Vĩnh Tường), Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ là chuyên đời Xuân Hương, với Thơ Nôm truyền tụng Bánh trôi nước; Núi Ba Đèo; Núi Kẽm Trống; Đánh cờ; Cái quạt; … thơ đặc sắc có một không hai, thanh tục giữa đời thường, như có như không.của kiệt tác thơ Xuân Hương

1

Hồ Xuân Hương Lưu Hương Ký

Hồ Xuân Hương Lưu Hương Ký có ba đặc trưng nổi bật không thể nhầm lẫn: 1) Đặc trưng nổi bật nhất là tập thơ Lưu Hương Ký gồm 52 bài thơ với 24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm do chính Hồ Xuân Hương tuyển chọn DUY NHẤT nhờ Tốn Phong viết lời tựa: “Đây là tất cả thơ văn trong đời tôi từ trước đến nay, nhờ anh làm cho bài Tựa”. Tập thơ Lưu Hương Ký VÌ LÝ DO đích thân Hồ Xuân Hương trực tiếp tuyển chọn, nên đã thể hiện thực chất con người của Hồ Xuân Hương. Tập sách bản gốc ấy không có dị bản, khảo dị như Hồ Xuân Hương thơ Nôm truyền tụng, mà vì lẽ nào đó tác giả đã không tự nhận một số bài là đứa con tinh thần của mình hoặc là do người khác chép lẫn vào và cố tình gắn cho bà. 2) Đặc trưng nổi bật thứ hai trong thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương tại tập thơ Lưu Hương ký là nghệ thuật thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương đặc biệt điêu luyện, sánh ngang những kiệt tác thơ Trung Hoa thời Thịnh Đường, rất đặc sắc và rất khó lẫn với thơ người khác.Thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương hàm súc sâu sắc hiếm thấy, trong thơ có nhạc, chuyển tải sử thi văn hóa giáo dục tài tình và khiêm nhu hiền lành rất mực. 3) Đặc trưng nổi bật thứ ba của Lưu Hương Ký là cần được nghiên cứu liên ngành, đọc trong sự giãi mã và kết hợp rất chặt chẽ với Truyện Thúy Kiều của Nguyễn Du thành “cặp song kiếm hợp bích” tuyệt phẩm văn chương tinh hoa đặc sắc Việt Nam, biểu tượng văn hóa, anh hùng mỹ nhân, tuyệt kỹ ngôn ngữ tiếng Việt Hán Nôm. Thúy Kiều & Lưu Hương Ký là hai kiệt tác văn chương bền vững với thời gian mà ngành văn sử Việt, tiếc rằng cho đến nay, vẫn chưa khai thác hết giá trị tinh hoa vốn cổ, bối cảnh thời thế con người, điển tích và câu chuyện lịch sử văn hóa. Thật đồng tình với đánh giá khoa học của tiến sĩ Phạm Trọng Chánh “Thơ Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương ký hay và hay tuyệt vời, mỗi bài thơ như một viên bích ngọc hoàn hảo không thể đổi một chữ,.Lưu Hương ký do Tổ Hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ ra đời năm 2012, là một công trình, đáng hoan nghênh. Nhưng nếu độc giả đọc thơ Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương ký không thấy hay thì nên tìm trên internet các bản dịch, và phiên âm trong các bài viết khác để so sánh

2

Hồ Xuân Hương “tỏ ý”

Truyện Thúy Kiều Nguyễn Du, viết về ngón hồ cầm tuyệt diệu ca trù hát nói Kiều gẩy đàn cho Kim Trọng nghe “Trong như tiếng hạc bay qua. Đục như nước suối vừa sa nửa vời. Tiếng khoan như gió thoảng ngoài. Tiếu mau sầm sập như trời đổ mưa. Ngọn đèn khi tỏ khi mờ. Khiến người ngồi đấy cũng ngơ ngẫn sầu. Khi tựa gối khi cúi đầu. Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày” (Truyện Kiều, Nguyễn Du).

“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm.Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”. Mười năm lưu lạc tìm gươm báu Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai. (1) “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen” (2) chính là Những câu thơ lưu lạc của Mai Sơn Phủ Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc viết cho Hồ Phi Mai Hồ Xuân Hương

“Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” là bài thơ ‘Tỏ ý’ của Hồ Xuân Hương đối với Nguyễn Du . Bài thơ tình xuân thiết tha, lời thơ là lời hát nói có nhạc bên trong nên câu thơ hay hiếm thấy. Bài thơ “Tỏ ý” này rút trong tập thơ “Lưu Hương Ký” thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương. Con người tác giả và tác phẩm này là nguyên mẫu người và thơ để Nguyễn Du đưa nhân vật, sự kiện và thời thế vào trong kiệt tác Truyện Kiều.

TỎ Ý
Hồ Xuân Hương
tặng Mai Sơn Phủ (Nguyễn Du)
(Bản dịch của Hoàng Kim)


Hoa rung rinh,
Cây rung rinh,
Giấc mộng cô đơn nhớ hương tình,
Đêm xuân bao cảm khái.

Hươu nơi nao
Nhạn nơi nao
Mình ước trong nhau ban mai nào
Lòng em thương nhớ ai thấu sao!

Sông mênh mông
Nước dạt dào
Lòng hai chúng mình đều ao ước
Nước mắt thầm rơi mặn chát.

Thơ thương thương,
Lòng vương vương,
Ấm lạnh lòng ai thấu tỏ tường,
Bút người tả xiết chăng?

Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Đâu là gác Đằng Vương ?

Mây vương vương
Nước sương sương
Mây nước chung nhau chỉ một đường
Dặm trường cách trở thương càng thương.

Ngày thênh thênh,
Đêm thênh thênh,
Đêm ngày khắc khoải nhớ thương anh,
Người ơi đừng lỡ hẹn sai tình.

Gió bay bayMưa bay bay
Mưa gió giục em viết thơ này
Bút xuân gửi đến người thương nhớ

Anh đồng lòng
Em đồng lòng
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm (*)

Thơ cùng ngâm
Rượu và trăng
Thăm thẳm buồn ly biệt
Vầng trăng chia hai nữa
Cung đàn ly khúc oán tri âm (**),
Thôi đành bặt tiếng hồ cầm
Núi cao biển sâu đằng đẳng
Xin chớ tủi buồn mà than cổ kim.

Chàng hẹn gì
Ta hẹn gì
Hai ta đều muộn, nói năng chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Lời và chữ còn đó
Ai là kẻ tình si
Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì
Hãy nên trao gửi mối duyên đi
Lòng son ai nỡ phụ

.

Nguyên tác


鹿呦呦
嗷嗷









































:述意兼呈友人枚山甫花飄飄,木蕭蕭,我夢鄉情各寂寥,可感是春宵。鹿呦呦,鴈嗷嗷,歡草相期在一朝,不盡我心描。江潑潑,水活活,我思君懷相契闊,淚痕沾夏葛。詩屑屑,心切切,濃淡寸情須兩達,也憑君筆發。風昂昂,月茫茫,風月令空客斷腸,何處是騰王?雲蒼蒼,水泱泱,雲水那堪望一場,一場遙望觸懷忙。日祈祈,夜遲遲,日夜偏懷旅思悲,思悲應莫誤佳期。風扉扉,雨霏霏,風雨頻催彩筆揮,筆揮都是付情兒。君有心,我有心,夢魂相戀柳花陰。詩同吟,月同斟,一字愁分離,何人煖半衾。莫彈離曲怨知音,直須棄置此瑤琴。高山流水晚相尋,應不恨吟歎古今。君何期,我何期,施亭來得兩栖遲。茗頻披,筆頻揮,一場都筆舌,何處是情兒?好憑心上各相知,也應交錯此緣綈,芳心誓不負佳期。Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ Hoa phiêu phiêu, Mộc tiêu tiêu, Ngã mộng hương tình các tịch liêu, Khả cảm thị xuân tiêu. Lộc ao ao, Nhạn ngao ngao, Hoan thảo tương kỳ tại nhất triêu, Bất tận ngã tâm miêu. Giang bát bát, Thủy hoạt hoạt, Ngã tứ quân hoài tương khế khoát, Lệ ngân chiêm hạ cát.Thi tiết tiết,Tâm thiết thiết, Nồng đạm thốn tình tu lưỡng đạt, Dã bằng quân bút phát. Phong ngang ngang, Nguyệt mang mang, Phong nguyệt linh không khách đoạn tràng, Hà xứ thị Đằng Vương? Vân thương thương, Thuỷ ương ương, Vân thuỷ na kham vọng nhất trường, Nhất trường dao vọng xúc hoài mang. Nhật kỳ kỳ, Dạ trì trì, Nhật dạ thiên hoài lữ tứ bi,Tứ bi ưng mạc ngộ giai kỳ. Phong phi phi,Vũ phi phi, Phong vũ tần thôi thái bút huy,Bút huy đô thị phó tình nhi.Quân hữu tâm,Ngã hữu tâm,Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm.Thi đồng ngâm,Nguyệt đồng châm.Nhất tự sầu phân ly,Hà nhân noãn bán khâm.Mạc đàn ly khúc oán tri âm,Trực tu khí trí thử dao cầm. Cao sơn lưu thuỷ vãn tương tầm, Ưng bất hận ngâm thán cổ câm.Quân hà kì,Ngã hà kì,Lữ đình lai đắc lưỡng thê trì. Dánh tần phi,Bút tần huy,Nhất trường đô bút thiệt,Hà xứ thị tình nhi? Hảo tư tâm thượng các tương tri,Dã ưng giao thác thử duyên đề,Phương tâm thệ bất phụ giai kỳ.Bài từ theo điệu Ức Giang Nam.Kể ý mình và trình bạn là Mai Sơn Phủ Hoa xiêu xiêu Cây xiêu xiêu Giấc mộng tình quê thảy tịch liêu Đêm xuân cảm khái nhiều.Hươu ao ao Nhạn ngao ngao Vui sướng hẹn nhau một sớm nào Tả hết được tình sao! Sông bát ngát Nước ào ạt Ý thiếp lòng chàng cũng vu khoát Lệ rơi thêm mặn chát.Thơ da diết Lòng thê thiết Đậm nhạt tấc lòng ai thấu hết Liệu bút chàng tả xiết? Mây lang thang Trăng mênh mang Trăng gió xui ai luống đoạn tràng Đâu là gác Đằng Vương? Mây tơ vương Nước như sương Mây nước trôi đâu chỉ một đường Một đường xa khuất rộn lòng thương Ngày chậm rì Đêm chậm rì Sáng tối chạnh buồn lữ khách si Nhớ thương đừng lỡ hẹn, sai kì.Mưa trôi đi Gió trôi đi Mưa gió giục hoài cất bút thi (thơ) Viết thi gửi tới khách “tình si” Chàng có tâm Thiếp có tâm Mồng hồn lưu luyến bóng hoa râm Thơ cùng ngâm Rượu cùng trăng Tự lúc buồn chia biệt Ai người ấm nửa chăng? Chớ đàn li khúc oán tri âm,Đành xem như hết tiếng dao cầm Hẹn nhau nơi non nước muộn mằn! Chớ buồn mà than thở cổ câm (kim).Chàng hẹn gì Ta hẹn gì Hai ta đều muộn, nói mà chi Trà mà chi Bút mà chi Cũng là thiên lí cả Ai là kẻ tình nhi Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì Hãy nên trao gửi mối duyên đi Lòng son ai nỡ phụ giai kì.(Bản dịch của Đào Thái Tôn) Bản sao từ bản chép tay của Nguyễn Văn Hoàn, do Nguyễn Xuân Diện cung cấp

Kiều – Nguyễn Du Ca trù hát nói Việt Nam Non xanh xanh Nước xanh xanh Sớm tình tình sớm, trưa tình tình trưa Áy ai tháng đợi năm chờ Mà người ngày ấy bây giờ là đây…Hồng Hồng Tuyết Tuyết ca trù hát nói tinh hoa cổ văn chương Việt) NS Quách Thị Hồ)

THƯƠNG KIỀU NGUYỄN DU
Hoàng Kim


Ôi
tâm phúc tương tri
Bốn biển không nhà
Kiều Nguyễn biệt ly
Bởi Nguyễn thương Kiều
Sợ theo thêm bận.
Thương Kiều Nguyễn Du
Sao chẳng đi cùng
Để việc trăm năm
Nghìn năm di hận?
Truyện Kiều Nguyễn Du
Bài học muôn đời.

Lưu Hương Ký và Truyện Thúy Kiều là hai kiệt tác văn chương Việt chứa đựng chuyện tình đặc biệt và cao đẹp hiếm thấy. Nguyễn Du và Xuân Hương là anh hùng và mỹ nhân. Nguyễn Du là đại thi hào danh nhân văn hóa thế giới nhưng tầm vóc anh hùng danh sỹ tinh hoa chỉ mới được Xuân Hương soi thấu. Hồ Xuân Hương là “bà chúa thơ Nôm” nhưng kiệt tác thơ Hán Nôm Hồ Xuân Hương, tình yêu đôi lứa và thân phận con người thì nay vẫn còn bị che khuất. Điều này cũng đã từng xẩy ra với kiệt tác “Chiến tranh và Hòa bình” của Lev Tonstoy, bao nhiêu năm qua chỉ mới được đề cao là đỉnh cao văn chương nước Nga và thế giới mà chưa thấy hết tầm vóc tư tưởng cao vọi của một vĩ nhân đại văn hào. Sa Hoàng Nhicolai và toàn bộ gia đình bị quân khởi nghĩa Cách mạng tháng Mười giết nhưng ngày nay ông đang được vinh danh là vĩ nhân lỗi lạc thứ ba ảnh hưởng lớn nhất đến lịch sử nước Nga tương đương Lê Nin. Lev Tonstoy là “thánh sư” gần gũi Sa Hoàng. Truyện Thúy Kiều và Lưu Hương Ký cũng ví như kiệt tác “Hồng Lâu Mộng” của Tào Tuyết Cần, một kỳ thư nổi tiếng bậc nhất của văn chương Trung Hoa và thế giới nhưng người đời chưa hiểu hết thân phận và mối quan hệ của Tào Tỵ, Tào Dần và Tào Tuyết Cần với các vị vua Khang Hy, Ung Chính và Càn Long. Sau này kiệt tác Lộc Đỉnh Ký ra đời, người đời mới hiểu hết dụng tâm của Kim Dung viết về Khang Hy một trong những vị minh quân xuất sắc nhất trong lịch sử Trung Quốc. Lộc Đỉnh Ký là sách viết về mưu lược trị loạn của Khang Hy.

3.

Hồ Xuân Hương tiếng tri âm

Hồ Xuân Hương với kiệt tác Lưu Hương Ký có một bài thơ khác đã xác nhận thơ bà viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn hầu chính là Nguyễn Du.

NHỚ CHUYỆN CŨ
Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu 感舊兼呈勤政學士阮侯
Nhớ chuyện cũ viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu (*).
Hồ Xuân Hương

Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
Phấn son càng tủi phận long đong.
Biết còn mảy chút sương siu mấy,
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.

(*) Sau đầu đề trên, tác giả có chú: “Hầu, Nghi Xuân, Tiên Điền nhân” 侯宜春仙田人 (Hầu người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân). Như vậy, ở đây Nguyễn Hầu đúng là Nguyễn Du tiên sinh. Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền ghi rõ mùa hè năm Kỉ Tỵ (1809), Nguyễn Du được bổ làm cai bạ Quảng Bình. Tháng 2 năm Quý Dậu (1813) ông được phong Cần chánh điện học sĩ, rồi được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc tuế cống.

4.

Bài thơ vịnh Hạ Long

Bài thơ Vịnh Hà Long của Hồ Xuân Hương là một tuyệt phẩm. Di sản văn hóa thế giới Hạ Long cho đến nay có lẽ chưa có tác phẩm văn chương nào viết về vịnh Hạ Long của Việt Nam và thế giới ngời sáng hơn bài thơ này:  

VỊNH HẠ LONG
Hồ Xuân Hương

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duyềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?

(Bản dịch thơ của Hoàng Xuân Hãn)








Độ Hoa Phong

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thủy trung.
Thủy thế mỗi tùy sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo thủy môn thông.
Ngư long tạp xử thu yên bạc,
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thùy thị Thủy Tinh cung.

Dịch nghĩa

Lá buồm không vội vượt qua vũng Hoa Phong,
Vách đá đứng, sườn núi đỏ, giữa nước chỏi dựng lên.
Thế nước tuỳ chỗ theo mặt núi mà biến chuyển.
Hình núi nghiêng mình, nép tựa cửa lạch để nước thông qua.
Cá rồng lẫn lộn, tăm khuất dưới từng hơi nước mỏng mùa thu.
Âu cò cùng ban trong ánh đỏ mặt trời chiều.
Cõi Tiên có ba trăm sáu động ngọc và phòng mây,
Đây không biết chốn nào là cung Thủy Tinh.

5

Ví đây đổi phận làm trai được

Hồ Xuân Hương có bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống mà học sinh người Việt hầu như ai cũng biết và rất nhiều người thuộc:

ĐỀ ĐỀN SẦM NGHI ĐỐNG
Hồ Xuân Hương


Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo
Kìa đền Thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu

Bài thơ Miếu Sầm Thái Thú  ở bản khắc 1922 chữ “lên” khác với chữ “ngang” ở các bản khắc sau, cũng là một câu chuyện sử thi thú vị.

MIẾU SẦM THÁI THÚ
Hồ Xuân Hương

Ghé mắt trông lên thấy bảng treo
Kìa đền thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu.

(Bản khắc 1922) chữ “lên” khác với chữ “ngang” ở các bản khắc sau.

Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008. Bản khắc trước tôi coi là gần nguyên tác hơn > Đó là bài thơ cao vọi khí phách đảm lược của một kỳ tài, tầm tư tưởng nhân hậu, tôn vinh phụ nữ và sự bình đẳng giới, khát vọng tự do, giải phóng con người

Sầm Nghi Đống là Thái thú Điền Châu cùng với Tôn Sĩ Nghị Tổng Đốc Lưỡng Quảng và Ô Đại Kinh Đề Đốc Vân Nam và Quý Châu, ba vị Thái thú tương đương với An Nam quốc vương, đã chia ba đường cùng kéo quân vào xâm lược Đại Việt trong cuộc chiến tranh Thanh Việt năm Kỷ Dậu 1789.

Nhà Thanh với lực lượng đông đảo lại mượn tiếng là giúp triều Lê Trung hưng khôi phục ngai vàng, diệt Nguyễn Huệ có mưu đồ đoạt ngôi, để lung lạc lòng dân Việt vốn yêu nước, yêu tự do và căm ghép kẻ phản quốc. Nhà Thanh với kế sách khôn ngoan và thâm hiểm của vị vua xuất chúng “Thập toàn  đại công” Càn Long: “…việc quân nên từ đồ, không nên hấp tấp. Hãy nên đưa hịch truyền thanh thế đi trước, và cho các quan nhà Lê về nước cũ hợp nghĩa binh, tìm Tự quân nhà Lê đem ra đứng đầu để đối địch với Nguyễn Huệ thử xem sự thể thế nào. Nếu lòng người nước Nam còn nhớ nhà Lê, có quân ta kéo đến ai chẳng gắng sức. Nguyễn Huệ tất phải tháo lui. Ta nhân dịp ấy mà sai Tự quân đuổi theo rồi đại binh của ta theo sau, như thế không khó nhọc mấy mà nên được công to. Đó là mẹo hay hơn cả. Ví bằng suốt người trong nước nửa theo đằng nọ, nửa theo đằng kia, thì Nguyễn Huệ tất không chịu lui. Vậy ta hãy đưa thư sang bảo đường họa phúc, xem nó đối đáp làm sao. Đợi khi nào thủy quân ở Mân (Phúc Kiến), Quảng đi đường bể sang Thuận Hóa và Quảng Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau thụ địch thế tất phải chịu. Bấy giờ ta sẽ nhân mà làm ơn cho cả hai bên: Tự đất Thuận Hóa, Quảng Nam trở vào Nam thì cho Nguyễn Huệ; tự châu Hoan, châu Ái trở ra Bắc thì phong cho Tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh lại để kiềm chế cả hai bên, rồi sẽ có xử trí về sau.”“.

Quang Trung đã đại phá quân Thanh. Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy, Ô Đại Kinh một cánh quân mạnh phải tháo lui, Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử, Hứa Thế Hanh danh tướng cầm quân cùng toàn bộ lực lượng quân Thanh tinh nhuệ ở đồn Ngọc Hồi bị tiêu diệt, Lê Chiêu Thống không còn cơ may hồi phục, Kế hoạch chiếm Đại Việt của nhà Thanh bị phá sản và ý chí xâm lược bị dập tắt. Điểm nhấn sâu đậm nhất của Chiến thắng Kỷ Dậu 1789 là gò Đống Đa tại biểu tượng đền thờ Sầm Nghi Đống.

Nơi ấy, Sầm Nghi Đống khi đã bị quân Tây Sơn vây chặt, đánh bí thế phải thắt cổ tự tử. Quang Trung khi bang giao với nhà Thanh đã cho người Hoa lập đền thờ Sầm Nghi Đống tại ngõ Sầm Công, gò Đống Đa ngày nay.

Hồ Xuân Hương “ghé mắt trông ngang thấy bảng treo” cố tình chọn một góc nhìn coi thường đối với “Kìa đền Thái thú đứng cheo leo” và bất ngờ hạ hai câu thơ tuyệt bút: “Ví đây đổi phận làm trai được/ Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu !” . “Đổi phận làm trai” là sự diễn đạt ngắn nhất và sâu sắc nhất về thân phận người phụ nữ trong xã hội trọng nam khinh nữ.  Câu kết “há bấy nhiêu” tỏ sự coi thường vị nam nhi Thái thú. Đó là một lời dè bỉu một sự đánh giá thấp. Hồ Xuân Hương tự cho mình có thể làm hơn thế.

Thơ Hồ Xuân Hương đề đền Sầm Nghi Đống là bia miệng.

Giai thoại Trí Tản chỉ là một trong nhiều giai thoại về Hồ Xuân Hương nhưng khỏa lấp sau tiếng cười để hiểu hết ý tứ thâm trầm của bài thơ là không dễ. Chuyện kể rằng một lần Xuân Hương về thăm làng Quỳnh Đôi, các tài tử văn nhân của làng, của vùng nghe tiếng nàng một cô gái tuyệt sắc và thơ hay lại đáo để nên đã kéo tới rất đông để … xem mặt. Làng Quỳnh Đôi xưa nay nổi tiếng là làng khoa bảng, người chữ nghĩa có nhiều, trong đó có ông đồ Dương Trí Tản vốn tự phụ tài “xuất thơ thành thơ” đã sang xem mặt “người đẹp” và thách đấu thơ văn.Trí Tản ung dung rít điếu thuốc lào rồi đọc một bài thơ “ứng khẩu” đã chuẩn bị sẵn:

Eo lưng thắt đáy thật là xinh
Điếu ai hơn được điếu cô mình
Thoắt châm thoắt bén duyên hương lửa
Càng núc, càng say tính với tình.

Hồ Xuân Hương trả lời luôn:

Giương oai giễu võ thật là kinh
Danh tiếng bao lăm đã tận rồi
Thoáng ngửi thoáng ghê hơi hương lửa
Tài trí ra sao hỏi tính tình.

Bia miệng truyền tụng rất nhanh, nhưng có ẩn ngữ Xuân Hương ngầm nhắn, ít người để ý: Bậc Quân tử mà nàng coi trọng thì không chỉ là “tài trí ra sao” mà quan trọng hơn hết là “tính tình”.

Vị nam nhi Thái thú của bài thơ Miếu Sầm Thái Thú đó là ai? Hiển nhiên đó là Sầm Nghi Đống. Nhưng ngoài Sầm Nghi Đống ra còn có ai khác nữa? Hóa ra “ý tại ngôn ngoại” khi Lưu Hương ký và Truyện Thúy Kiều hé lộ bức màn bí mật Từ Hải và nàng Kiều, Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương.


6

Hồ Xuân Hương
Hồ Môn

Hồ Xuân HươngTrâm anh nhất thổ Quỳnh Đôi trụ, Hương hoả thiên thu Cổ Nguyệt đường” theo cụ Hồ Sĩ Tạo tại di chỉ, huyền tịch còn lưu đôi câu đối ở nhà thờ họ Hồ Quỳnh Đôi (1) Hồ Phi Mai 胡丕梅 là nguyên danh, Xuân Hương 春香 là biểu tự và Cổ Nguyệt đường 古月堂 là bút hiệu.lời khẳng định của học giả tiến sĩ Phạm Trọng Chánh (2) dựa vào tục xướng danh cổ điển và câu tựa “Phi mai xuân sắc nhất kinh thành” 丕梅春色一京成 của Tốn Phong Hồ Xuân Hương không được chính danh phận trong Hồ Quỳnh gia phả vì bà Hà là vợ lẽ không phải là vợ chính thức trong gia tộc họ Hồ. Lòng ta luống thẹn biệt Hồ môn, trích dẫn trong Hồ Xuân Hương đời thơ nghiên cứu lịch sử văn hóa của Hoàng Kim mục tổng luận
là lời Hồ Xuân Hương có trong tập thơ Lưu Hương Ký.

Hồ Xuân Hương cuộc đời, bài thơ Dữ Sơn Nam Hạ Hiệp Trấn Quan Trần Hầu. Bài hoạ của Hồ Xuân Hương nguyên vận Quan Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh, như sau:

Gặp gỡ bèo mây dưới nguyệt tròn,
Ngỗn ngang sầu vọng nói gì hơn.
Phượng Cầu ai gảy đàn đưa ý,
Chim Khách kêu chi ngõ vắng buồn.
Ai chuộc tiếng kèn về Hán khuyết,
Lòng ta luống thẹn biệt Hồ môn.
Chia tay giữa tiệc tình lưu luyến,
Ngây ngát hồn tan mộng Sảnh Nương.

Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương Nhất Uyên dịch thơ).

Hồ Phi Mai là tác giả thơ Hồ Xuân Hương được truyền tụng rất rộng rãi trong dân gian, bà là nhà thơ nữ người Việt nổi tiếng được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm”, tác giả của Lưu Hương Ký kiệt tác thơ Hán Nôm .Hồ Phi Mai (1772-1822) là con gái Hương cống Hồ Sĩ Danh (1706– 1783) là em cùng cha khác mẹ với Hoàng giáp Hồ Sĩ Đống (1739-1785) có tước hiệu Kinh Dương hầu là đại quan, nhà thơ nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam.
Hồ Sĩ Đống tự Long Phủ hiệu Dao Đình, sau đổi tên là Hồ Sĩ Đồng, tự Thông Phủ, hiệu Trúc Hiên. Hương cống Hồ Sĩ Danh (biểu tự là Phi Diễn?) đỗ tú tài năm 24 tuổi, ra Bắc dạy học,dan díu với bà họ Hà quê Hưng Yên rồi sinh được một con gái. Sau này Hồ Phi Mai.là nữ sĩ dạy học tại phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận,  Bắc thành Thăng Long,

Cổ Nguyệt Đường địa chỉ ngày nay khoảng gần vườn hoa Bách Thảo và trụ sở chính của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại số 2 Ngọc Hà, quận Ba Đình, gần hồ Tây của phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, thủ đô Hà Nội..Gia phả họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nghệ An (Hồ Quỳnh gia phả) phả hệ không có tên Hồ Phi Mai (là Hồ Xuân Hương) con của ông Hương cống Hồ Sĩ Danh (1704- 1783) vì sau khi ông Hồ Sĩ Danh đỗ Hương cống không ra làm quan, và cũng không đi đâu xa khỏi làng, nhưng hiện nay vẫn chưa xác minh được cụ Hồ Sĩ Danh khi là tú tài (sinh đồ) có ra Thăng Long dạy học không? Hồ Sĩ Đống là anh em cùng cha khác mẹ với Hồ Xuân Hương, là chứng cứ.gia tộc của Hồ Xuân Hương góc khuất

Đại gia tộc họ Hồ Quỳnh Lưu theo trang thông tin điện tử xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An, có nhiều người đỗ đạt cao, làm quan to như Trạng nguyên Hồ Hưng Dật (胡興逸, 907 -?) là thái thú Diễn Châu đời Hậu Hán, Trạng nguyên Hồ Tông Thốc (hàn lâm học sĩ, sử gia đời Trần, nguồn khác cho rằng ông ở xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An), Thiếu bảo duệ quận công Hồ Sĩ Dương (1621 – 1681) là danh thần văn võ song toàn, từng trải tả thị lang binh bộ thượng tướng quân, tham tụng, thượng thư bộ công, bộ lễ, bộ hình, giám tu quốc sử kiêm đông các đại học sĩ. Hồ Phi Tích không thua kém gì họ Nguyễn Tiên Điền, Nguyễn Trường Lưu, Phan Thu Hoạch, hay Ngô Tả Thanh Oai. Thời nhà Lê họ Hồ Quỳnh Lưu Hồ Bỉnh Quý là tiến sĩ đệ nhị giáp 1577; Hồ Sĩ Dương, tiến sĩ đệ tam giáp 1652; Hồ Phi Tích, tiến sĩ đệ nhị giáp 1700; Hồ Sĩ Tân, tiến sĩ đệ tam giáp 1721.quan Hoàng giáp Hồ Sĩ Đống (1739 – 1785). Danh sĩ Hồ Sĩ Đống (1739 – 1785) là con ông Hồ Sĩ Danh (1704 – 1783) đỗ Giám sinh, có 5 anh em trai: Hồ Sĩ Dược, con trưởng đỗ Tứ trường thi Hương; Hồ Sĩ Đống; Hồ Sĩ Thích, đỗ Tam trường; Hồ Sĩ Trù, sinh đồ; Hồ Sĩ Hữu, đỗ khoa Liệu sử khả, đời Gia Long, được bổ làm Tri huyện,

Theo Nguyễn Du niên biểu luận dẫn theo sách Đại Nam liệt truyện, quyển XXX, trang 24a : Năm Đinh Mùi (1787) Nguyễn Du 22 tuổi. Nhà Tây Sơn Nguyễn Nhạc từ Thăng Long trở về, phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương trấn thủ Phú Xuân, còn mình thì dẫn tùy tùng về Quy Nhơn, tự xưng làm Trung Ương Hoàng Đế, phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương ở đất Gia Định, phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương ở đất Thuận Hóa, lấy Hải Vân làm giới hạn. Theo gia phả Hồ Phi Hội, Thư viện Hoàng Xuân Hãn, Paris: Nguyễn Huệ (1753 – 1792) có tên thuở nhỏ là Hồ Thơm, sau đổi theo họ mẹ, lấy tên là Nguyễn Huệ, hoặc Nguyễn Quang Bình, với nữ sĩ Hồ Xuân Hương (1772 – 1822) và tú tài Hồ Phi Hội (1802 – 1875), đều cùng đời thứ 12 của đại gia tộc họ Hồ có cùng một ông tổ đời thứ 8 là Hồ Sĩ Anh . Ông tổ ba đời Nguyễn Huệ là Hồ Thế Viêm, con Hồ Sĩ Anh, sinh Hồ Phi Khang, Hồ Phi Khang sinh Hồ Phi Phúc, di dân vào ấp Tây Sơn, Bình Định, đổi họ Nguyễn và sinh ba anh em Nguyễn  Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ.

Hồ Sĩ Đống (1739-1785) là đại quan thời Hậu Lê, đỗ Hội nguyên khoa Nhâm Thìn (1772) đời vua Lê Hiển Tông. Khoa này không có Trạng nguyên, người đỗ đầu là Hoàng giáp, nên còn gọi là Song nguyên Hoàng giáp. Năm Giáp Ngọ (1774), ông được bổ làm Bố chính Kinh Bắc và sau đó được chúa Thịnh Vương Trịnh Sâm bổ làm án sát Hải Dương. Cuối năm 1777, ông được nhà chúa triệu hồi về Thăng Long, cử làm phó sứ nội quan (một chức giám quan bên cạnh chánh sứ) cùng với chánh sứ là Võ Trần Thiệu (tên khác là Võ Khâm Tự hoặc Võ Trần Tự. 1736 -1778) đi sứ nhà Thanh với quan phó sứ thứ hai là Nguyễn Trọng Đang. Sứ đoàn khởi hành đầu tháng giêng năm Mậu Tuất 1778, mùa thu tháng 8 tới Yên Kinh, và mùa Đông lên đường trở về nước. Nhưng khi đến hồ Động Đình ở Hồ Nam, thì Chánh sứ Vũ Trần Thiệu cho mời hai thành viên trong đoàn là Hồ Sĩ Đống và Nguyễn Trọng Đang tới tiết lộ việc chúa Trịnh Sâm có làm tờ biểu riêng xin vua nhà Thanh sắc phong tước vương cho họ Trịnh. Tờ mật chiếu tấu trình vua Thanh rằng con cháu nhà Lê không có ai đáng làm vua nữa. Viên Chánh sứ đã tự hủy bản mật chiếu và giao lại chức chánh sứ cho Hồ Sĩ Đống rồi uống thuốc độc tự tử. Vũ Trần Thiệu đã đọc bài thơ tự than về nỗi chết oan của trạng nguyên Nguyễn Quang Bật thời Lê Uy Mục (3).

Nội quan phó sứ Hồ Sĩ Đống thương tiếc người bạn trung nghĩa (với nhà Lê) ấy, ông có làm bài thơ viếng rằng:

Hoàng hoa lưỡng độ phú tư luân,
Uyên đức kỳ niên cánh kỷ nhân.
Cộng tiễn bang giao nhân ngọc bạch,
Thùy tri tiên cốt lịch phong trần.
Sinh sô lệ sái đồng chu khách,
Tái bút danh qui tuẫn quốc thần [10]
Trù tướng thái hồ thu nguyệt sắc,
Dạ lai do chiếu ốc lương tần.

Dịch:

Mấy độ hoàng hoa sứ nước người,
Tuổi cao đức tốt ấy kìa ai?
Bang giao những tưởng ngọc nhà đẹp,
Tiên cốt nào hay gió bụi đầy.
Giọt lệ đồng châu đưa một lễ,
Tấm thân tuẫn quốc tiếng muôn đời.
Trăng thu mơ tưởng trên hồ nọ,
Thấp thoáng đầu nhà bóng lẩn soi [11

Phạm Đình Hổ sau này đã chép lại trong quyển Vũ trung tùy búttrang 185-186 “Đấng tiên đại cửu ta là Thượng thư công…Khi ấy (1777), ông đã ngoài 60, làm quan trong triều đã hơn 40 năm, cứ theo lệ cũ thì không phải đến lượt đi sứ nữa. Vậy mà trong triều không biết duyên cớ làm sao, chợt Trịnh Thịnh Vương (tức Trịnh Sâm) đòi ông vào Trung Hòa đường, mật đưa cho ông một tờ biểu sai sang sứ Trung Hoa cầu phong làm Phó quốc vương. Ông biết ý chúa Trịnh đã quyết nên không dám chối từ. Tháng 6 (1778), thuyền qua hồ Động Đình, ông chợt mắc bệnh, bèn mời Phó sứ là Hồ Sĩ Đống và Nguyễn Trọng Đang tới dặn bảo mọi công việc…Ông lại đưa tờ mật biểu ra đốt trước mặt hai sứ thần, và ngày mồng mười thì mất ở trên thuyền. Hồ công (Hồ Sĩ Đống) có thơ viếng :

Hồ Sĩ Đống sau khi đi sứ về năm 1778, được thăng Tả Thị lang bộ Hộ. tước Dao Đình hầu. Tháng 9 năm Nhâm Dần 1782 chúa Trịnh Sâm mất. Kiêu binh giết Việp Quận công Hoàng Đình Bảo, phế chúa Trịnh Cán, đưa con cả Trịnh Tông lên nối ngôi.Trịnh Tông phong Hồ Sĩ Đống làm Bồi tụng, Hữu thị lang bộ Hộ. Hồ Sĩ Đống được cử đi phủ dụ kiêu binh có hiệu quả, quân lính nghe lời ông, nhân dân tin cậy ông. Năm 1783, ông xin thôi chức về thọ tang cha Hồ Sĩ Danh (1706 – 1783). Tháng 10 năm 1783, Hồ Sĩ Đống đang có tang được triệu gấp về kinh, để đối phó tình hình, được chuyển sang quan võ, nhậm chức Đô Chỉ huy sứ, kiêm Bồi tụng phủ sự (Phó Thủ tướng) cùng Hành Tham tụng Bùi Huy Bích xử trí mọi việc Hồ Sĩ Đống được ban chức Tham Đốc kiêm Ngự Sử đài, Đô Ngự sử Bồi tụng tước Ban Quận công. Ông được cử đi Phú Xuân cai quản Tả Uy Cơ, Án sát Quảng Nam, Đốc thị Thuận Hóa . Lần đi kinh lí Quảng Nam ấy, Hồ Sĩ  Đống rất lo lắng về địa thế ở đấy, tâu xin rút tướng Phạm Ngô Cầu về, thay tướng khác tài giỏi hơn để trấn an vùng núi. Nhưng vua, chúa không chấp thuận, nên về sau việc biến cũng phát động cũng từ đó.Hồ Sĩ Đống bệnh và mất ngày 10 tháng 10 năm Ất Tỵ (1785) hưởng dương 47 tuổi, được truy tặng Hình bộ Thượng thư. Chúa ban cho 2 tấm đoạn, 13 nén bạc, truyền cho ba đạo thủy binh Sơn Nam, Thanh Hóa, Nghệ An hộ tống quan tài về an táng ở quê nhà Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Bùi Huy Bích, quan Hành tụng soạn văn tế.

Hồ Sĩ Đống về thơ, được danh sĩ thời Nguyễn là Phan Huy Chú khen là “hồn hậu, phong nhã, có khí khái” và đã giới thiệu hai bài trong bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí, đó là Đăng Nhạc Dương lâu (Lên lầu Nhạc Dương) và Đăng Hoàng Hạc lâu (Lên lầu Hoàng Hạc).Hồ Sĩ Đống được Phạm Đình Hổ trong Vũ Trung tùy bút, kể tên cùng Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh là ba bậc thầy phục hưng thi ca. Nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân trong Từ điển văn học gần đây nhận xét: Hồ Sĩ Đống là người cẩn trọng, bình tĩnh, giản dị, có tài văn chương.Sáng tác của ông thường là đề vịnh di tích, nhân vật lịch sử, đền miếu, phong cảnh… trên dọc đường đi sứ. Nhìn chung, chúng đều có những nét tươi đẹp, uyển chuyển, do khả năng đổi mới của cảm xúc và cách thể hiện độc đáo của nhà thơ.Cùng thơ đi sứ của Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Kiều, Nguyễn Tông Quai, Lê Quý Đôn…, thơ Hồ Sĩ Đống góp phần tạo nên thể cách trầm hùng, nhuần nhã của thơ đi sứ thời Lê Trung hưng.

*
“HỒ MÔN” LỜI HÁT NÓI

Non xanh xanh, nước xanh xanh
Ai đưa người ngọc tới Nam Kinh
Kìa hồn Liễu Nghị nào đâu tá
Sao chẳng theo ta tới Động Đình

(1) Nguyễn Du tiếng tri âm, dẫn theo thông tin Wikipedia Tiếng Việt, mục từ Hồ Sĩ Tạo (cử nhân) và tư liệu gia tộc họ Hồ Quỳnh. .
(2) Hồ Xuân Hương góc khuất, dẫn theo Đọc “Lưu Hương ký” của Hồ Xuân Hương do Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích phiên âm & chú thích,bài của TS Phạm Trọng Chánh Tiến Sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V Sorbonne, đăng trên VHNA và đăng lại bởi tôn tiền tử trên trang Thi Viện Đào Trung Kiên, mục từ trang thơ Hồ Xuân Hương
(3) Nghệ thuật Ca trù – Nghệ nhân một thời – Nghệ nhân Quách Thị Hồ; Hồng Hồng Tuyết Tuyết (Ca Trù); https://www.youtube.com/embed/u6w7MmwEtIM?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=vi&autohide=2&wmode=transparent

6 notes

Hồ Xuân Hương hành trạng

(còn tiếp….)

Bài trước có liên quan:

HỒ XUÂN HƯƠNG ĐỜI THƠ
Hoàng Kim


Nghiên cứu lịch sử văn hóa này nhằm tìm hiểu 5 ý chính : 1) Hồ Xuân Hương cuộc đời: 2) Hồ Phi Mai hành trạng, những góc khuất và sự thật lịch sử khiến nhiều học giả còn tranh cãi 3) Hồ Xuân Hương tác phẩm: tìm hiểu Lưu Hương Ký do Hồ Xuân Hương tuyển chọn và lưu(theo lời bài Tựa) với Hồ Xuân Hương thơ Nôm truyền tụng một số bài tuyển chọn đặc sắc nhất; 4) Hồ Xuân Hương góc khuất, liên hệ với Kiều 15 năm lưu lạc 5) Lưu Hương Ký Truyện Kiều “Cặp song kiếm hợp bích” là tiếng thơ nhân đạo, khát khao tình yêu cuộc sống và giải phóng con người. Hồ Xuân Hương đời thơ được nghiên cứu liên ngành, hệ thống và so sánh lịch sử, kết nối với Nguyễn Du trăng huyền thoại, Nguyễn Du niên biểu luận, Nguyễn Du Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du tiếng tri âm.

Hồ Xuân Hương (1772- 1822) ‘bà chúa thơ Nôm’ là nhà thơ nữ cổ điển Việt Nam.Thơ Hồ Xuân Hương có chất lượng đặc sắc, với giá trị nhân đạo mạnh mẽ đấu tranh nữ quyền và thức tỉnh con người. Thơ bà được biết nhiều không chỉ ở Việt Nam mà còn được dịch và giới thiệu ra hơn 10 quốc gia trên thế giới. Đại gia tộc họ Hồ đã thành lập Ban vận động UNESCO vinh danh nữ sĩ. Ngày 25/4/2016, Ban vận động UNESCO vinh danh Hồ Xuân Hương, đã có văn bản gửi ông Chủ tịch, ông Tổng Thư kí Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam, đề xuất việc giới thiệu nữ sĩ là ứng viên trình UNESCO vinh danh nhân dịp kỉ niệm 250 năm ngày sinh (1773-2022) và 200 năm ngày mất (1822-2022) của Bà.

Nghiên cứu này góp phần tổng luận thông tin và tìm hiểu sáng tỏ các chứng cứ sự thật lịch sử. Tài liệu gồm bảy chuyên mục, xin lần lượt trích đăng thành ba bài để thuận tiện sự góp ý

1

HỒ XUÂN HƯƠNG CUỘC ĐỜI


Wikipedia Tiếng Việt (1), Tiếng Anh (2), Tiếng Pháp (3), Tiếng Trung (4) Tiếng Nga (5) đều đã có giới thiệu tóm tắt Hồ Xuân Hương, qua thông tin Bách Khoa Toàn Thư Mở, đúc kết cập nhật tới ngày 23 tháng 6 năm 2021. Trang thơ Hồ Xuân Hương (6) Thi Viện Đào Trung Kiên tổng luận Hồ Xuân Hương được coi là sự nhận diện phổ biến nhất về bà cho tới thời điểm đã cập nhật: :

“Hồ Xuân Hương 胡春香 (1772-1822) là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà hành trạng hiện vẫn khiến nhiều học giả tranh cãi. Di tác của bà hoàn toàn là thơ, trong đó mảng Nôm có nhiều phẩm chất tốt cần sự khảo cứu lâu, nhưng thi sĩ Xuân Diệu đã tôn Hồ Xuân Hương làm Bà chúa thơ Nôm. Hầu hết thi ca Hồ Xuân Hương theo dòng chảy chung đã thoát được các quan niệm sáng tác cố hữu vốn đề cao niêm luật chặt chẽ để bộc lộ được tiếng nói của thời đại mình, có nhiều người cho rằng đặc sắc của thơ bà là “thanh thanh tục tục”.

Về hành trạng, không có bất cứ tư liệu cổ điển nào chép về lai lịch và hành trạng của Hồ Xuân Hương, bà chỉ thực sự được hậu thế biết đến qua sách Giai nhân dị mặc 佳人遺墨 của học giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, ấn hành tại Hà Nội năm 1916. Cũng vì cớ đó, việc có hay không một nhân vật tên Hồ Xuân Hương hiện còn là câu hỏi ngỏ. Học giới nhất quán rằng Hồ Xuân Hương sinh vào năm 1772 ở phường Khán Xuân (nay thuộc địa phận công viên Bách Thảo, Hà Nội). Cũng theo Giai nhân dị mặc, bà là ái nữ của sinh đồ Hồ Phi Diễn 胡丕演 (1703-1786), người hương Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An. Còn theo học giả Trần Thanh Mại, thân phụ của Hồ Xuân Hương là ông Hồ Sĩ Danh 胡士名 (1706-1783) cũng người Quỳnh Đôi, là em cùng cha khác mẹ của Kinh Dương hầu Hồ Sĩ Ðống 胡士棟 (1739- 1785). Thân mẫu của Hồ Xuân Hương là bà lẽ Hà thị 何氏 (?-1814) người trấn Hải Dương. Học giả Phạm Trọng Chánh dựa vào tục xướng danh cổ điển và câu tựa “Phi mai xuân sắc nhất kinh thành” 丕梅春色一京成 của Tốn Phong Phan Huy Huân để khẳng định: Hồ Phi Mai 胡丕梅 là nguyên danh, Xuân Hương 春香 là biểu tự và Cổ Nguyệt đường 古月堂 là bút hiệu.

Trong thế cuộc xoay vần đầy nhiễu nhương cuối thế kỷ XVIII, Hồ Xuân Hương vẫn được hưởng những năm tháng ấu thơ êm đềm ở một dinh thự lớn tên Cổ Nguyệt đường ven hồ Tây, bấy giờ là chốn phồn hoa đô hội bậc nhất xứ Đàng Ngoài. Sau khi mãn tang cha, mẹ bà tái hôn với người khác. Dù ít phải ràng buộc trong gia giáo nghiêm khắc như mọi nữ lưu cùng thời, Hồ Xuân Hương vẫn hội tụ được tư chất thông minh và hiếu học. Hồ Xuân Hương cũng được cưới gả từ rất sớm như mọi con cái trâm anh thế phiệt bấy giờ, nhưng dẫu qua hai lần đò đều không viên mãn. Ban sơ, bà làm lẽ của một hào phú có biệt hiệu Tổng Cóc. Tổng Cóc vốn là biệt hiệu mà người quen biết đặt cho Chánh tổng Nguyễn Bình Kình, tự Công Hoà. Nguyên quán của ông ở làng Gáp, xã Tứ (nay thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Ông là cháu của quan nghè Nguyễn Quang Thành, bản thân cũng một lần đi thi Hương nhưng không đỗ đạt. Sau Tổng Cóc đăng trình, lên đến chức cai cơ nên thường được gọi là Đội Kình. Tuy chỉ là cai lính nhưng Tổng Cóc vốn thuộc dòng dõi văn nhân, ông rất chuộng ca ngâm và mến luôn cái tài làm thơ của người vợ lẽ. Để chiều lòng bà, Tổng Cóc đã cất một thuỷ tạ rất lớn cho Hồ Xuân Hương ở, vừa tránh phiền lụy với vợ cả vừa thỏa thưởng thi phú. Chung sống với Tổng Cóc được một thời gian khá lâu thì Hồ Xuân Hương dứt áo ra đi với một cái thai. Có thuyết cho rằng, bà bỏ đi sau khi Tổng Cóc đã đột ngột từ trần; nhưng cũng có thuyết cho rằng bà không chịu được điều tiếng dị nghị của vợ con Tổng Cóc và người làng; lại có thuyết nói bản tính phóng đãng khiến Hồ Xuân Hương khó ngồi yên một chỗ, bà trốn đi cùng tình quân là Phạm Viết Ngạn.

Kết quả của hôn sự này được cho là một đứa trẻ vắn số. Vào ngày Hồ Xuân Hương trở dạ, Tổng Cóc đến đòi đón con về, nhưng người nhà họ Phạm nói lại là đứa bé đã mất khi vừa lọt lòng. Trong hôn sự lần này, Hồ Xuân Hương làm lẽ của Tú tài Phạm Viết Ngạn, bấy giờ tại nhiệm tri phủ Vĩnh Tường. Nhưng duyên phận chỉ được 27 tháng thì ông phủ Vĩnh Tường tạ thế. Có nhiều thuyết về quãng đời sau đó của Hồ Xuân Hương, như việc bà cưới thêm vài người chồng nữa, việc bà hỏi mượn tiền thi hữu để mở hàng bán giấy bút mực, hoặc giai thoại về các mối tình trăng hoa và văn chương, nhưng mức độ khả tín chưa được xác định rõ ràng. Hồ Xuân Hương được cho là mất vào năm 1822.

Còn theo Phạm gia tộc phả và Triệu tông phả, ông phủ Vĩnh Tường tức là Tú tài Phạm Viết Ngạn (khi thăng chức Đồng tri phủ Phân phủ Vĩnh Tường thì cải thành Viết Lập), tên cúng cơm là Đại, tự Thành Phủ. Nguyên quán của ông ở hương Trà Lũ, xã Xuân Trung, phủ Xuân Trường, trấn Sơn Nam Hạ. Các tư liệu này cũng cho biết, Hồ Xuân Hương sinh cho ông một người con tên Phạm Viết Thiệu. Ngoài ra, có nhiều giai thoại truyền khẩu về lối sống phong lưu của nữ sĩ họ Hồ, như việc bà là một hoa nương thanh sắc vẹn toàn, và những mối tình bên thơ rượu với Phạm Đình Hổ, Phạm Thái, Nguyễn Du, Phạm Quý Thích, Nguyễn Hầu, Trần Ngọc Quán, Trần Quang Tĩnh, Phan Huy Huân, Mai Sơn Phủ, Thạch Đình, Cự Đình, Thanh Liên...

Văn bản được nhận diện cổ nhất có chép thơ Hồ Xuân Hương là Quốc văn tùng ký 國文話記 do Hải Châu Tử Nguyễn Văn San 阮文珊 (1808-1883) soạn năm Minh Mệnh thứ 14 (1933), nhưng chỉ vài bài. Hầu hết di tác của nữ sĩ họ Hồ được gom trong cuốn Xuân Hương thi tập 春香詩集, Phúc Văn đường tàng bản ấn hành tại Hà Nội năm 1930. Trong sách có khoảng 60 bài nhưng lẫn cả thơ của nhiều tác giả khác, nay chưa truy nguyên được tất cả. Tuy nhiên, văn bản đáng chú ý nhất là Lưu hương ký 琉香記 với bài tựa của Phan Huy Huân, được học giả Trần Thanh Mại phát hiện và công bố trên thi đàn vào năm 1964. Trước đó không lâu, năm 1962, đã có học giả Trần Văn Giáp đăng trên báo Văn nghệ (Hà Nội) 5 thi phẩm chữ Hán được cho là của Hồ Xuân Hương. Nhưng mãi đến năm 1984, học giả Hoàng Xuân Hãn mới dịch nghĩa và đăng trên tập san Khoa học xã hội (Paris), lại đặt nhan đề lần lượt là Độ hoa phong, Hải ốc trù, Nhãn phóng thanh, Trạo ca thanh, Thuỷ vân hương.

Thơ Hồ Xuân Hương luôn được trình bày theo phong cách thất ngôn bát cú hoặc thất ngôn tứ tuyệt, bút pháp được nhận định là điêu luyện nhưng phần chữ Nôm nhiều phần đặc sắc hơn chữ Hán. Ý tưởng trong thơ cũng rất táo bạo, dù là điều cấm kị đối với lễ giáo đương thời. Cho nên, Hồ Xuân Hương được xem như hiện tượng kỳ thú của dòng thi ca cổ điển Việt Nam khi tích cực đưa ra cái nhìn đối lập với truyền thống đạo đức, nhưng không vì thế mà tự trở nên suy đồi. Tựu trung, các di tác phần nào cho phép hậu thế thấy thực trạng tang thương ở thời đại bà sống và cả quá trình mục rữa của nhiều lề lối cũ.”

Các nhà nghiên cứu Hồ Xuân Hương và những nhà thơ văn Việt Nam và Quốc tế khi dịch và giới thiệu thơ Hồ Xuân Hương ra tiếng nước ngoài phần lớn đều thống nhất với nhận định này (Hoàng Kim nghiên cứu lịch sử văn hóa, đã đối chiếu và đúc kết khảo luận)::

Hồ Xuân Hương (胡春香; 1772–1822) là một nhà thơ Việt Nam sinh vào cuối thời Lê. Bà lớn lên trong một thời đại hỗn loạn về chính trị và xã hội,  thời Tây Sơn khởi nghĩa và cuộc nội chiến kéo dài ba thập kỷ dẫn đến việc Nguyễn Ánh lên ngôi làm Hoàng đế Gia Long và bắt đầu triều Nguyễn. Bà làm thơ bằng chữ Nôm, là chữ của người Việt trước khi có chữ Quốc ngữ, phỏng theo chữ Hán, để viết tiếng Việt. Bà được coi là một trong những nhà thơ cổ điển vĩ đại nhất của Việt Nam. Xuân Diệu, một nhà thơ hiện đại lỗi lạc, đã tôn vinh bà là “Bà chúa thơ Nôm”. Nguyễn Thị Ngọc 1996 tại nghiên cứu chuyên sâu “Hồ Xuân Hương và nền văn hóa dân gian Việt Nam”, luận án phó tiến sĩ khoa học ngữ văn, GS Lê Trí Viễn hướng dẫn khoa học, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, đã tổng thuật khá rõ về thơ Nôm Hồ Xuân Hương và nền văn hóa dân gian Việt Nam Sự thật về cuộc đời của bà rất khó xác minh, nhưng điều này được chứng minh rõ ràng: bà sinh ra ở tỉnh Nghệ An gần cuối thời chúa Trịnh, và chuyển đến Hà Nội khi còn là một đứa trẻ. Người ta đoán chắc rằng bà là con gái út của Hồ Phi Diễn. Theo các nhà nghiên cứu đầu tiên về Hồ Xuân Hương như Nguyễn Hữu Tiến, Dương Quảng Hàm thì bà là con gái Hồ Phi Diễn (sinh năm 1704) ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Hồ Phi Diễn đỗ tú tài năm 24 tuổi, dưới triều Lê Bảo Thái. Gia đình nghèo khó, Hồ Phi Diễn phải đi làm gia sư ở Hải Hưng và Hà Bắc để kiếm tiền. Tại nơi đó, ông sống chung với một cô gái quê Bắc Ninh, là người vợ lẽ của ông. Hồ Xuân Hương đã ra đời là kết quả của mối tình đó. Tuy nhiên, theo Trần Thanh Mại trong một bài báo đăng trên Tạp chí Văn học số 10, Hà Nội, năm 1964, cho rằng quê quán của Hồ Xuân Hương giống như đã nói ở trên, nhưng bà là con gái của Hồ Sĩ Danh (1706–1783) là em cùng cha khác mẹ của Kinh Dương hầu Hồ Sĩ Đống tự Long Phủ hiệu Dao Đình, sau đổi tên là Hồ Sĩ Đồng, tự Thông Phủ. Hiệu Trúc Hiên là nhà thơ và đại quan nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam. Hồ Xuân Hương trở nên nổi tiếng ở địa phương với việc tạo ra những bài thơ tinh tế và dí dỏm. Người ta tin rằng bà là “hồng nhan đa truân” đã kết hôn ít nhất ba lần vì có ba bài thơ của bà đề cập đến ba người chồng khác nhau: Người chồng thứ nhất là Tống Cóc, chánh tổng Nguyễn Bình Kình, tự Công Hòa, nguyên quán tại làng Gáp, xã Tứ, nay thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, là cháu của quan nghè Nguyễn Quang Thành. Bà là vợ ba của Tống Cốc, theo cách gọi của người phương Tây, là một người vợ lẽ, có một vai trò mà bà rõ ràng là không hài lòng (“như người hầu gái / nhưng không được trả công” “Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng/ Chém cha cái kiếp lấy chồng chung / Năm chừng mười hoạ hay chăng chớ,/Một tháng đôi lần có cũng không./ Cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng,/Cầm bằng làm mướn mướn không công./Nỗi này ví biết dường này nhỉ,Thời trước thôi đành ở vậy xong ” ).Cuộc hôn nhân này kéo dài không lâu khi Tông Cốc qua đời hoặc Hồ Xuân Hương bỏ đi,với đứa con chết yểu và bài thơ Khóc Tổng Cóc “Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi/ Thiếp bén duyên chàng có thế thôi/ Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé/ Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi!” Bí ẩn ngôi nhà cổ của Tổng Cóc và bà chúa thơ Nôm, ngày nay trên bức vách bằng lõi mít, phía bên phải phòng chính ngôi nhà cổ vẫn còn những dòng chữ được cho là của bà Hồ Xuân Hương đã ngẫu hứng “mài mực, đề thơ”. Nội dung dòng chữ: “Thảo lai băng ngọc kính/ Xuân tận hóa công hương”; và “Độc bằng đan quế thượng/ Hảo phóng bích hoa hương”. Cụ Dương Văn Thâm dịch nghĩa bốn câu này như sau: “Tấm gương trong trắng ví như người con gái trong trắng/ Nhưng hết tuổi xuân sắc rồi thì thợ trời cũng chịu (không níu giữ được)/ Chỉ còn biết dựa vào phúc đức, con cháu/ (Thì khi ấy) hương thơm sẽ tỏa đi khắp muôn nơi”. Người chồng thứ hai là Tri phủ Vĩnh Tường “Dân làng Sơn Dương vẫn còn kể chuyện rằng, ông phủ Vĩnh Tường đã đưa cả ngựa xe võng lọng đến đón Hồ Xuân Hương đi” Hồ Xuân Hương làm lẽ của Tú tài Phạm Viết Ngạn, bấy giờ tại nhiệm tri phủ Vĩnh Tường, nhưng duyên phận chỉ được 27 tháng thì ông phủ Vĩnh Tường tạ thế. Ông Phạm Viết Ngạn có tiếng thanh liêm, giản dị. Nhà thơ Hồ Xuân Hương là thiếp của ông. Khi Phạm Viết Ngạn mất tại lỵ sở Vĩnh Tường, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã khóc ông bằng bài thơ thống thiết: Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi. Cái nợ ba sinh có thế thôi Chôn chặt văn chương ba tấc đất Ném tung hồ thỉ bốn phương trời Nắm xương dưới đất chau mày khóc Hòn máu trên tay nhoẻn miệng cười Đã thế thì thôi cho mát mẻ Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi! Người chồng thứ ba (mức độ khả tín chưa được xác định rõ ràng, theo nghiên cứu của TS Phạm Trọng Chánh)là Trần Phúc Hiển, chồng Hồ Xuân Hương, Tham Hiệp trấn Yên Quảng, bị Án Thủ Dung xui dân tố cáo tham nhũng 700 quan tiền, bị tử hình” Mối tình Hồ Xuân Hương và Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh” “Trong Lưu Hương Ký có một bài thơ chữ Hán tuyệt bút của Hồ Xuân Hương, đó là bài thơ Dữ Sơn Nam Hạ Hiệp Trấn Quan Trần Hầu. Bài hoạ của Hồ Xuân Hương nguyên vận Quan Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh. “Gặp gỡ bèo mây dưới nguyệt tròn, Ngỗn ngang sầu vọng nói gì hơn. Phượng Cầu ai gảy đàn đưa ý, Chim Khách kêu chi ngõ vắng buồn. Ai chuộc tiếng kèn về Hán khuyết, Lòng ta luống thẹn biệt Hồ môn. Chia tay giữa tiệc tình lưu luyến, Ngây ngát hồn tan mộng Sảnh Nương. Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương Nhất Uyên dịch thơ” Bài thơ dùng điễn tích lạ và tài tình, chỉ dùng ít chữ mà tả được những tâm sự, tình ý uẩn khúc của nàng, đúng như lời khen của Cư Đình: ” Học rộng mà thuần thục, dùng chữ ít mà đầy đủ, từ mới lạ mà đẹp đẽ, thơ đúng phép mà văn hoa, thật là một bậc tài nữ.” Theo Đại Nam Thực Lục kỷ 1 quyển 31 trang 3b.: Trần Quang Tĩnh nguyên làm quan Hiệp Trấn, trấn Bình Định, tháng giêng năm Đinh Hợi (1807), được bổ làm Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ vùng Nam Định và Thái Bình ngày nay. Quang Tĩnh ở trấn được hai năm bốn tháng. Tháng 4 năm Kỷ Tỵ (1809), ông cáo bệnh và xin về nghỉ. Có thể rằng ông lên Thăng Long cáo từ quan Tổng Trấn Bắc Thành và nhân đó đến từ biệt Xuân Hương“. Hồ Xuân Hương sống phần còn lại của cuộc đời mình trong một ngôi nhà nhỏ ven Hồ Tây, Hà Nội. Hồ Xuân Hương có những người đến thăm, thường là các bạn thơ, trong đó có hai người được nêu tên cụ thể: Học giả Tôn Phong Thi và một người chỉ được xưng là “Hoàng Tể họ Nguyễn.” Hồ Xuân Hương đã kiếm sống bằng nghề giáo và đã có thể đi du lịch từ khi Hồ Xuân Hương sáng tác những bài thơ về một số địa danh ở miền Bắc Việt Nam. Hồ Xuân Hương là một phụ nữ độc thân trong xã hội theo đạo Khổng, các tác phẩm của Hồ Xuân Hương cho thấy Hồ Xuân Hương có tư duy độc lập và chống lại các chuẩn mực xã hội, thể hiện qua các bài bình luận chính trị xã hội với cách diễn đạt hài hước thẳng thắn về tình dục của Hồ Xuân Hương là “Tất cả những gì cô ấy muốn” (All she wants) theo David Cevet nhà dịch thơ Hồ Xuân Hương nổi tiếng người Anh”
2

HỒ PHI MAI HÀNH TRẠNG

Hồ Xuân Hương tên thật là Hồ Phi Mai (1772 – 1822) là nhà thơ nữ người Việt nổi tiếng được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm”, tác giả của Lưu Hương Ký kiệt tác thơ Hán Nôm và bà cũng được coi là tác giả thơ Hồ Xuân Hương được truyền tụng rất rộng rãi trong dân gian. Hồ Phi Mai là con gái của Hương cống Hồ Sĩ Danh (1706–1783) người là em cùng cha khác mẹ của Hoàng giáp Hồ Sĩ Đống có tước hiệu Kinh Dương hầu là đại quan và nhà thơ của nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam. Hồ Sĩ Đống tự Long Phủ hiệu Dao Đình, sau đổi tên là Hồ Sĩ Đồng, tự Thông Phủ, hiệu Trúc Hiên. Hương cống Hồ Sĩ Danh (biểu tự là Phi Diễn?) đỗ tú tài năm 24 tuổi, ra Bắc dạy học,dan díu với bà họ Hà quê Hưng Yên rồi sinh được một con gái là Hồ Phi Mai, sau này là nữ sĩ dạy học tại phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận,  Bắc thành Thăng Long, (ngày nay gần vườn Bách Thảo và trụ sở chính của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại số 2 Ngọc Hà, quận Ba Đình, gần hồ Tây của phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, thủ đô Hà Nội). Hồ Quỳnh gia phả (gia phả họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nghệ An) phả hệ không thừa nhận Hồ Xuân Hương là con ông Hương cống Hồ Sĩ Danh (1706- 1783) vì sau khi ông đỗ Hương cống không ra làm quan, cũng không đi đâu xa khỏi làng nhưng hiện vẫn chưa xác minh được cụ Hồ Sĩ Danh khi là tú tài (sinh đồ) có ra Thăng Long dạy học hay không?.Mặt khác, nữ sĩ Hồ Phi Mai là con ngoài giá thú, và bà Hà không là vợ chính thức trong gia tộc họ Hồ nên hiển nhiên nữ sĩ Hồ Phi Mai không chính danh phận trong gia phả họ Hồ

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương và Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ tức Hồ Thơm là anh em họ đời thứ 12 cùng có chung họ Hồ Quỳnh Đôi là ông tổ 5 đời, và cùng đời thứ 27 của Đức Nguyên tổ Hồ Hưng Dật là dẫn liệu khác có trong tài liệu Hồ Quỳnh gia phả nêu trên Gia phả họ Hồ Quỳnh Đôi chưa chứng minh được nhà Tây Sơn sự xuất thân từ dòng họ trạng nguyên Hồ Hưng Dật vì gia phả dòng họ bị cách quãng 11 đời nhưng rõ ràng Nguyễn Huệ và Hồ Xuân Hương đều đúng là “đồng hương”  họ Hồ Quỳnh Đôi. Cụ Hồ Sĩ Tạo (1841-1907), tự là Tiểu Khê, là một nho sĩ Nghệ An thế kỷ 19 quê làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu đã từng cùng em họ là Cử nhân Hồ Sĩ Tuấn đi tìm họ Hồ, có đến thăm nhà thờ họ Hồ ở Quỳnh Đôi và lưu lại ở đây đôi câu đối: Trâm anh nhất thổ Quỳnh Đôi trụ, Hương hoả thiên thu Cổ Nguyệt đường.

Trung chi II họ Hồ Quỳnh Đôi chép rằng: “Theo sử cũ, ông tổ đầu tiên của họ Hồ ở Việt Nam là trạng nguyên Hồ Hưng Dật sống vào thế kỷ thứ 10. Tộc phả bị thất truyền 11 đời (khoảng 300 năm). Đến đời 12 (ông Hồ Liêm) dời ra Thanh Hóa và đời 13 (ông Hồ Kha) ở Nghệ An, tộc phả mới liên tục. Năm 1314, ông Hồ Kha từ Quỳ Trạch (Yên Thành) về Quỳnh Đôi xem địa thế và giao cho con cả là Hồ Hồng ở lại cùng 2 người họ Nguyễn, họ Hoàng khai cơ lập nên làng Quỳnh Đôi còn mình trở lại Quỳ Trạch. Sau này ông Hồ Hồng cùng với 2 ông thủy tổ họ Nguyễn, họ Hoàng được dân suy tôn là Thành Hoàng, rước vào thờ ở đền làng. Ông Hồ Kha và ông Hồ Hồng được coi là thủy tổ họ Hồ ở Quỳnh Đôi, thờ ở nhà thờ lớn họ Hồ. Thế thứ (còn gọi là đời, vai) trong họ được tính từ ông Hồ Hân (con ông Hồ Hồng) trở đi, nghĩa là: ông Hồ Hân là đời thứ nhất. Nếu tính từ đời ông Hồ Hưng Dật thì phải cộng thêm 14 đời nữa. Ông tổ trung chi II là Hồ Khắc Kiệm (đời 3) con Hồ Ước Lễ, cháu Hồ Hân. Cháu đời 8 là Hồ Sĩ Anh (còn gọi là Hồ Thế Anh) sinh năm 1618, mất năm 1684, thi hội trúng tam trường, làm tri huyện Hà Hoa (vùng Kỳ Anh, Hà Tĩnh) tước Diễn Trạch hầu. Hồ Thế Anh sinh Hồ Thế Viêm (đậu Sinh đồ), Hồ Phi Cơ (thi hội đậu tam trường), Hồ Danh Lưu, Hồ Phi Tích (đậu Hoàng giáp, tước quận công), Hồ Phi Đoan. Hồ Thế Viêm sinh Hồ Phi Khang (đời 10). Phi Khang sinh 5 con trai: Hồ Phi Phú, Hồ Phi Thọ, Hồ Phi Trù, Hồ Phi Phúc, Hồ Phi Huống. Hồ Phi Phúc sinh 3 con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ (đời 12). Nguyễn Nhạc (1743-1793) sinh các con trong đó có Nguyễn Bảo, con Bảo là Nguyễn Đâu. Nguyễn Huệ (1753-1792) sinh các con trai trong đó có Quang Thiệu (Khang công tiết chế); Quang Bàn (Tuyên công, đốc trấn Thanh Hóa); Quang Toản (vua Cảnh Thịnh 1783-1802). Hồ Phi Cơ (đời 9) sinh Hồ Phi Gia (thi hội đậu tam trường). Hồ Phi Gia sinh Hồ Phi Diễn (đậu sinh đồ) và Hồ Phi Lãng (cũng đậu sinh đồ). Hồ Phi Diễn (1703-1786) sinh Hồ Xuân Hương (đời 12, 1772-1822).

Theo “Hồ Tông thế phả”: “Trong lịch sử Việt Nam có hai triều đại phong kiến Việt Nam được hình thành từ người mang họ Hồ gốc ở Quỳnh Đôi là: Triều đại nhà Hồ (1400– 1407): với nhân vật Hồ Quý Ly. Triều đại nhà Tây Sơn với Nguyễn Nhạc; Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ.” Bên dưới tài liệu có ghi chú:  Con của Phi Khang là Phi Phú, Phi Thọ, Phi Trù, Phi Phúc, Phi Huống từ Quỳnh Đôi di cư lên Nhân Lý (Nhân Sơn, Quỳnh Hồng ngày nay) rồi một chi chuyển cư vào Thái Lão – Hưng Nguyên, tiếp theo một chi vào trại Tây Sơn – Quy Nhơn.

Tại “Bia tưởng niệm Nguyên tổ họ Hồ ở Việt Nam” tại làng Bảo Đội huyện Quỳnh Đôi năm 2005 viết: “Nguyên tổ họ Hồ ở Việt Nam là ngài Hồ Hưng Dật thuộc dòng Bách Việt, sinh tại Vũ Lâm tỉnh Chiết Giang, đậu Trạng nguyên đời Hán An Đế. Ngài sang làm thái thú Châu Diễn, sau đó  từ quan, về làm chủ trại hương Bảo Đột huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An, Ngài đức trọng tài cao giàu lòng nhân nghĩa, để lại cho muôn đời con cháu di huấn: Vạn đại vi dân… Trãi hơn ngàn năm, chừng 40 đời con cháu rãi khắp từ Bắc chí Nam, họ Hồ đã góp sức bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam được quốc sử ghi nhận như: Vua Hồ Quý Ly nhà cải cách lỗi lạc, như vua Quang Trung (Hồ Thơm) thiên tài quân sự, như trạng nguyên Hồ Tông Thốc nhà sử học lớn, như nữ sĩ Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm…”

Theo Trung chi II họ Hồ Quỳnh Đôi thì thời Trịnh Nguyễn phân tranh họ Hồ nhà Tây Sơn đời Hồ Phi Phúc đã vào Bình Định khoảng năm 1655 theo quân của chúa Nguyễn  thời vua Lê Thần Tông. Ông cố (cụ nội) của Nguyễn Huệ tên là Hồ Phi Long (vào giúp việc cho nhà họ Đinh ở thôn Bằng Châu, huyện Tuy Viễn, tức An Nhơn) cưới vợ họ Đinh và sinh được một trai tên là Hồ Phi Tiễn. Hồ Phi Tiễn không theo việc nông mà bỏ đi buôn trầu ở ấp Tây Sơn, cưới vợ và định cư tại đó. Vợ của Hồ Phi Tiễn là Nguyễn Thị Đồng, con gái duy nhất của một phú thương đất Phú Lạc, do đó họ đổi họ của con cái mình từ họ Hồ sang họ Nguyễn của mẹ. Người con là Nguyễn Phi Phúc cũng chuyên nghề buôn trầu và làm ăn phát đạt. Cũng có tài liệu cho rằng họ Hồ đã đổi theo họ chúa Nguyễn ngay từ khi mới vào Nam.Nguyễn Phi Phúc có 8 người con, trong đó có ba người con trai: Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn Lữ và Nguyễn Văn Huệ. Nguyễn Nhạc thuở đi buôn trầu nên gọi anh Hai Trầu. Nguyễn Huệ sinh năm 1753. Ông còn có tên là Quang Bình, Văn Huệ hay Hồ Thơm. Sau này, người dân địa phương thường gọi ông là Đức ông Bình hoặc Đức ông Tám. Nguyễn Lữ được gọi là Đức Ông Bảy.

3

HỒ XUÂN HƯƠNG TÁC PHẨM

Ho-Xuân-Hương (1772-1822) trong visa toàn cầu hiện có tất cả 10 thư mục gốc tác giả: 1) Thơ Hồ Xuân Hương 2014, Nhà Xuất Bản (NXB) Văn học Hà Nội, 115 trang; 2) Lưu hương ký 2011,  NXB Arlington (Va.), Tổ hợp xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ, Annotateur: Ngọc Bích Nguyễn, Note : Bibliogr. p. 170-176. – Contient également des textes en caractères chinois. – En tête de la page de titre figure : “Hoan-trung Cổ-nguyệt-đường Xuân Hương nữ-sử tập”; 3) Poèmes de Hồ Xuân Hương 2009, NXB Paris,  Éd. Édilivre Aparis, Éditeur scientifique: Vân Hòa, disponible en Haut de Jardin  Note : Texte vietnamien et trad. française en regard, 192 p.; 4) Spring essence, 2000,  (Tinh hoa mùa xuân, trích dịch thơ của Ho-Xuân-Hương 1772-1822), NXB Port Townsend, Copper Canyon press, Traducteur : John Balaban, Note : Poèmes en sino-vietnamien avec en regard leurs traductions en vietnamien et en anglais. – Bibliogr. p. 132-133;  5) All she wants (1987), (Tất cả những gì cô ấy muốn, trích dịch thơ của Ho-Xuân-Hương 1772-1822), NXB London,  Tuba press, Traducteur : David Cevet, disponible en Haut de Jardin, 57 p.; 6) Thơ Hồ Xuân Hương, 1982, NXB Văn học Hà Nội, biên tập và giới thiệu Nguyễn Lộc, 90 trang; 7) L’Œuvre de la poétesse vietnamienne Hồ-Xuân-Hương (1968), (Tác phẩm của nhà thơ Việt Nam Hồ-Xuân-Hương), NXB Paris,  École française d’Extrême-Orient , Traducteur : Maurice Durand (1914-1966), disponible en Haut de Jardin, 193p.; 8) Thơ Xuân Hương. – [1] (1929) (một phần của Kim Vân Kiều), NXB Nhà in Mạc Ðình Tích, Hà Nội, Note : 1929 d’après le dépôt légal Contient de nombreuses publicités de la pharmacie Tù ̛Ngọc Liên, 174p.; 9) Hồ Xuân Huơn̛g thi tập [Fasc. 1] (1925), NXB Văn Minh Ân tụ quán, Hà Nội, Traducteur : Lan Xuân, Abstract : Poèmes de Hồ Xuân Huơn̛g, 24p.; 10) Thi tập, “transcrit en quốc ngữ et publié” … “5e édition” (1923), NXB Văn Minh Ân tụ quán, Hà Nội, Contributeur:  Xuân Lan. Éditeur scientifique https://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k4228676h

Trang thơ Hồ Xuân Hương trên Thi Viện Đào Trung Kiên, có tổng số (* tất cả) 154 bài, với nhiều bài rất hay: 1) “Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” là kiệt tác thơ tình yêu của Hồ  Xuân Hương, dạng ca trù hát nói theo làn điệu dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh di sản thế giới phi vật thể; 2) “Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu” là thơ tri âm tri kỹ sâu nặng nghĩa tình bền vững; 3) “Độ Hoa Phong” là bài thơ vịnh Hạ Long tuyệt bút yêu thiên nhiên; 4) Miếu Sầm thái thú (Đề đền Sầm Nghi Đống) là bài thơ cao vọi khí phách đảm lược của một kỳ tài, tầm tư tưởng nhân hậu, tôn vinh phụ nữ và sự bình đẳng giới, khát vọng tự do, giải phóng con người; 5)Thơ Nôm truyền tụng và Lưu Hương Ký với chùm bài “Khóc Tổng Cóc“, “Khấp Vĩnh Tường quan” (khóc ông phủ Vĩnh Tường), Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ là câu chuyên ‘hồng nhan đa truân’ thương tâm của chính Xuân Hương, giải mã ẩn ngữ cuộc đời nữ sĩ; 6) Hồ Xuân Hương Thơ Nôm truyền tụng với Bánh trôi nước; Đánh cờ; Núi Ba Đèo; Núi Kẽm Trống; Cái quạt; thanh tục giữa đời thường, như có như không.

Hồ Xuân Hương thư mục cần lưu ý so sánh đối chiếu
(*) Theo Thi Viện Trang thơ Hồ Xuân Hương tổng số 154 bài

Đề vịnh Hạ Long

  1. Độ Hoa Phong
  2. Hải ốc trù
  3. Nhãn phóng thanh
  4. Nhập An Bang
  5. Thuỷ vân hương
  6. Trạo ca thanh

Đồ Sơn bát vịnh

  1. Đông Sơn thừa lương
  2. Long tỉnh quá trạc
  3. Phật động thâm u
  4. Đăng Đông Sơn tự kiến ký kỳ 1
  5. Đăng Đông Sơn tự kiến ký kỳ 2
  6. Tháp sơn hoài cổ
  7. Thạch phố quan ngư
  8. Bộ Khánh Minh tự cảm hứng
  9. Cốc tự tham thiền

Hương đình cổ nguyệt thi tập – 香亭古月詩集

  1. Quá Khinh Dao từ hoài cổ
  2. Bán chẩm thư hoài
  3. Đề Trấn Quốc tự
  4. Tái ngoại văn châm
  5. Thu vũ
  6. Cố kinh thu nhật
  7. Giang Nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân
  8. Vịnh thạch phu phụ
  9. Thu nhật tức sự

Lưu hương ký – 瑠香記

  1. Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ
  2. Thiếu niên du điệu
  3. Xuân đình lan điệu
  4. Thu dạ hữu hoài
  5. Thu phong ca
  6. Nguyệt dạ ca kỳ 1
  7. Nguyệt dạ ca kỳ 2
  8. Ngư ông khúc hành
  9. Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu
  10. Hoài cựu
  11. Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ ký
  12. Cảm cựu tống tân xuân chi tác kỳ 1
  13. Cảm cựu tống tân xuân chi tác kỳ 2
  14. Ngụ ý Tốn Phong ký nhị thủ kỳ 1
  15. Ngụ ý Tốn Phong ký nhị thủ kỳ 2
  16. Hoạ nhân
  17. Tặng Tốn Phong tử
  18. Thạch Đình tặng
  19. Ký Sơn Nam Thượng trấn Hiệp trấn Trần Hầu kỳ 1
  20. Ký Sơn Nam Thượng trấn Hiệp trấn Trần Hầu kỳ 2
  21. Hoạ Sơn Phủ chi tác
  22. Tốn Phong đắc mộng chí dữ ngã khán nhân thuật ngâm, tịnh ký
  23. Hoạ Tốn Phong nguyên vận
  24. Hoàng giang ngộ hữu hỉ phú
  25. Thệ viết hữu cảm
  26. Tự thán kỳ 1
  27. Tự thán kỳ 2
  28. Lưu biệt thời tại An Quảng, An Hưng ngụ thứ
  29. Bạch Đằng giang tặng biệt
  30. Chí Hiên tặng kỳ 1
  31. Chí Hiên tặng kỳ 2
  32. Hoạ Thanh Liên nguyên vận
  33. Nhân tặng
  34. Tưởng đáo nhân tình minh nhiên há lệ nhân nhi tẩu bút phụng trình
  35. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 1
  36. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 2
  37. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 4
  38. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 5
  39. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 6
  40. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 7
  41. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 8
  42. Xuân Hương tặng hiệp quận

Thơ truyền tụng

  1. Bánh trôi nước
  2. Bùn bắn lên đồ
  3. Cái giếng
  4. Cái quạt
  5. Canh khuya
  6. Cảnh thu
  7. Câu đối Tết: Tối ba mươi – Sáng mồng một
  8. Chế sư
  9. Chi chi chuyện ấy
  10. Chơi hoa
  11. Chơi Khán Đài
  12. Chùa Hương Tích
  13. Chùa Sài Sơn
  14. Con cua
  15. Dệt cửi đêm
  16. Du cổ tự
  17. Duyên kỳ ngộ
  18. Dữ Phạm tế tửu xướng hoạ, kỳ nhị
  19. Đá chẹt thi
  20. Đá Ông Chồng, Bà Chồng
  21. Đàn gảy
  22. Đánh cờ
  23. Đánh đu
  24. Đề nhị mỹ nhân đồ
  25. Đi đái bùn nẩy
  26. Đọc cho Chiêu Hổ hoạ
  27. Đồng tiền hoẻn
  28. Đưa đò
  29. Già kén kẹn hom
  30. Hạ nhật tầm phu (Ngày hè tìm chồng)
  31. Hang Cắc Cớ
  32. Hàng ư Thanh (Quán hàng ở xứ Thanh)
  33. Hỏi cô hàng sách
  34. Hỏi trăng
  35. Hữu cảm
  36. Khấp Vĩnh Tường quan
  37. Khóc chồng làm thuốc
  38. Khóc Tổng Cóc
  39. Không chồng mà chửa
  40. Ký tao nương Mộng Lan (Gửi nữ sĩ Mộng Lan)
  41. Lấy chồng chung
  42. Lỡm học trò
  43. Miếu Sầm thái thú [Đề đền Sầm Nghi Đống]
  44. Mời ăn trầu
  45. Mời khách ăn trầu
  46. Ngại ngùng
  47. Nguyệt hỡi đê mê
  48. Nhĩ Hà tức cảnh
  49. Núi Ba Đèo
  50. Núi Kẽm Trống
  51. Nước Đằng
  52. Ốc nhồi
  53. Phiếm chu ngoạn nguyệt (Giong thuyền chơi trăng)
  54. Quả mít
  55. Quá Nghệ An hoài giai nhân, hựu thể
  56. Quan Hậu sợ vợ
  57. Quán Sứ tự
  58. Sài Sơn thiên thị (Chợ trời núi Thầy)
  59. Sư hoạnh dâm
  60. Tát nước
  61. Tặng tình nhân
  62. Thân phận người đàn bà
  63. Thị Đểu thi
  64. Thơ tự tình
  65. Thương
  66. Thương ôi phận gái
  67. Thương thay phận gái
  68. Tiễn người làm thơ
  69. Tình có theo ai
  70. Trách Chiêu Hổ
  71. Trào tăng
  72. Trúc Bạch hồ
  73. Tức sự
  74. Vấn nguyệt
  75. Vịnh bách chu – tức sương nữ
  76. Vịnh cái quạt
  77. Vịnh chung
  78. Vịnh dạy con trẻ
  79. Vịnh đời người
  80. Vịnh Hằng Nga
  81. Vịnh hoa cúc
  82. Vịnh nằm ngủ
  83. Vịnh ni sư
  84. Vịnh ông cắng đánh nhau
  85. Vịnh Thăng Long hoài cổ
  86. Vịnh xuyên cổ (Vịnh trống thủng)
  87. Vọng Tây Hồ hoài hữu
  88. Vô âm nữ

(**) Lưu Hương Ký, thơ do chính Hồ Xuân Hương tự tuyển chọn, lưu (theo lời bài Tựa)

Một tập thơ chép 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài chữ Nôm (nhưng đề tựa đều bằng chữ Hán) được cho là của Hồ Xuân Hương, được Trần Thanh Mại phát hiện năm 1964; và lưu toàn văn tại visa toàn cầu (tài liệu gốc mục 2) Lưu hương ký 2011,  NXB Arlington (Va.), Tổ hợp xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ, Annotateur: Ngọc Bích Nguyễn, Note: Bibliogr. p. 170-176 Contient également des textes en caractères chinois. -En tête de la page de titre figure: “Hoan-trung Cổ-nguyệt-đường Xuân Hương nữ-sử tập”;

  1. Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ
  2. Thiếu niên du điệu
  3. Xuân đình lan điệu
  4. Thu dạ hữu hoài
  5. Thu phong ca
  6. Nguyệt dạ ca kỳ 1
  7. Nguyệt dạ ca kỳ 2
  8. Ngư ông khúc hành
  9. Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu
  10. Hoài cựu
  11. Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ ký
  12. Cảm cựu tống tân xuân chi tác kỳ 1
  13. Cảm cựu tống tân xuân chi tác kỳ 2
  14. Ngụ ý Tốn Phong ký nhị thủ kỳ 1
  15. Ngụ ý Tốn Phong ký nhị thủ kỳ 2
  16. Hoạ nhân
  17. Tặng Tốn Phong tử
  18. Thạch Đình tặng
  19. Ký Sơn Nam Thượng trấn Hiệp trấn Trần Hầu kỳ 1
  20. Ký Sơn Nam Thượng trấn Hiệp trấn Trần Hầu kỳ 2
  21. Hoạ Sơn Phủ chi tác
  22. Tốn Phong đắc mộng chí dữ ngã khán nhân thuật ngâm, tịnh ký
  23. Hoạ Tốn Phong nguyên vận
  24. Hoàng giang ngộ hữu hỉ phú
  25. Thệ viết hữu cảm
  26. Tự thán kỳ 1
  27. Tự thán kỳ 2
  28. Lưu biệt thời tại An Quảng, An Hưng ngụ thứ
  29. Bạch Đằng giang tặng biệt
  30. Chí Hiên tặng kỳ 1
  31. Chí Hiên tặng kỳ 2
  32. Hoạ Thanh Liên nguyên vận
  33. Nhân tặng
  34. Tưởng đáo nhân tình minh nhiên há lệ nhân nhi tẩu bút phụng trình
  35. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 1
  36. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 2
  37. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 4
  38. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 56
  39. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 65
  40. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 76
  41. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 85
  42. Xuân Hương tặng hiệp quận

(***) Đọc “Lưu Hương ký” của Hồ Xuân Hương do Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích phiên âm & chú thích, bài của TS Phạm Trọng Chánh Tiến Sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V Sorbonne, đăng trên VHNA và đăng lại bởi tôn tiền tử trên trang Thi Viện vào 04/01/2015 22:16

“Giữa thời điểm các nhà sách hải ngoại thi nhau đóng cửa, người đọc tiếng Việt ngày càng thưa thớt, tác giả gửi sách đi cho các nhà sách, không hy vọng gì tiền gửi trả về. Tại Paris, nhà sách tiếng Việt hiếm hoi Khai Trí chỉ sống nhờ bán bánh mì thịt nguội. In ấn một quyển sách đẹp là một hy sinh to lớn, nhất là của các tác giả tuổi đã về hưu. Trong nước, quyển Hồ Xuân Hương của bà Hoàng Bích Ngọc chỉ in 300 quyển, nhiều sách giá trị chỉ in 500, 1000 quyển cho một dân tộc 90 triệu dân trong nước và 4 triệu người tại hải ngoại, có ký giả đi 3 tuần lễ trong thành phố mới tìm thấy một người cầm sách đọc, thì thảm trạng đọc sách người Việt Nam đã xuống tới mức độ nào?

Cầm quyển Lưu Hương ký trong tay, và xem hình ảnh trường thuật buổi ra mắt Lưu Hương ký tại quận Cam, California, Hoa Kỳ với 40 người phần lớn ông cụ bà cụ, có cả người từng là học trò cụ Cử Nguyễn Văn Tú, tôi thật cảm động. Hai trăm năm Hồ Xuân Hương, nằm dưới mộ trong lòng nước Hồ Tây chắc cũng mỉm cười. Nhất là GS Hoàng Xuân Hãn, người khao khát được đọc chữ Nôm, chữ Hán trong Lưu Hương ký và giải mã những ẩn số quan trọng cuộc đời thi hào hàng đầu của dân tộc, hẵn vui lòng. Mừng một bảo vật quốc gia mọi người được chiêm ngưỡng rộng rãi, được in kèm theo trong sách.

Viết bài này, tôi không dám gọi là phê bình, vì tôi biết bao công lao khổ cực hy sinh để làm ra quyển sách. Viết không khéo làm đau lòng tác giả, làm tàn rụi những ý chí nghiên cứu khảo cứu hiếm hoi, chẳng được lợi gì về vật chất. Sự ra đời một quyển sách, dù có nhiều sai lầm cũng là nguyên nhân thúc đẩy người khác viết hay hơn, sửa chữa những lầm lỗi khiến cho việc nghiên cứu ngày càng tiến bộ như thuyết tương sinh nhà Phật: “Cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt”. Tôi rất trân trọng công việc làm của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, tạo ra một cơ hội cho mọi người từ bốn phương trời tiếp cận được di sản quý báo của dân tộc. Nó không còn cái độc quyền của riêng của ông Đào Thái Tôn cất dấu suốt hơn 40 năm. Sự độc quyền ấy chỉ làm chậm trể bước tiến của mọi công việc nghiên cứu. Tôi chỉ dám mong bổ túc những ý kiến để cho công trình nghiên cứu được hoàn hảo. Phần tôi, tôi sẽ hoàn thành Hồ Xuân Hương toàn tập trong một ngày gần đây. Tôi không dám mong cầu toàn, nhưng nếu nó có hay hơn cũng nhờ công lao những người đi trước, nhất là ước nguyện của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã trao cho tôi.

Bây giờ tôi xin góp với Giáo Sư vài ý kiến về quyển sách Lưu Hương ký: So với các thơ Lưu Hương ký tôi góp nhặt được từ sách ông Bùi Hạnh Cẩn, ông Đào Thái Tôn, ông Nguyễn Lộc thì chỉ thiếu bài số 36 là chưa thấy công bố, chứ không phải ¾ chưa công bố như Giáo Sư nói. Bài này tôi cho rằng Hồ Xuân Hương viết năm 1794 tả lòng mình lúc Nguyễn Du giả từ về Hồng Lĩnh vì có câu: “Ả Hằng biết có soi chăng nhé?” Hai người thường hẹn hò dưới trăng nên bài Nhân tặng.. Hồ Xuân Hương gửi Nguyễn Du có câu: “Cậy có vầng xanh tỏ tấm lòng”. Bài Ký hữu (Gửi bạn), trong Thanh Hiên thi tập Nguyễn Du trả lời có câu: “Nhất thiên minh nguyệt giao tình tại” (Một vầng trăng sáng tình ta đó). Hẹn dưới trăng, thề thốt dưới trăng chỉ có nơi hai tình nhân, chứ không ở hai người bạn trai.

Nói chung ngoài những bài đã được học giả Trần Thanh Mại dịch và Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn đã sửa chữa, các bài còn lại trong Lưu Hương ký mới xuất bản, hoặc chép lại của ông Đào Thái Tôn, đọc và dịch, câu đọc chưa thông suốt, đôi khi chối tai, âm thanh, vần điệu cũng như niêm luật thơ Đường. Có thể làm người đọc hiểu lầm tài năng thi ca của Hồ Xuân Hương. Xuân Hương làm thơ “tầm thường và dở” đến mức này chăng?

– Trang 19: “Ông Bùi Hạnh Cẩn còn được thấy trong tủ sách gia đình ông Trần Văn Hảo một tài liệu mang tên Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập, ông cũng cho là của Hồ Xuân Hương trong đó có 9 bài thơ chữ Hán”. Tôi xin bổ túc cùng Giáo Sư:

Tạp chí Văn học tháng 3 năm 1974, ông Trần Tường trong quá trình đi tìm thơ văn Hồ Xuân Hương tại Nam Định ba tập thơ trong tủ sách cụ Trần Xuân Hảo, xã Hải Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Hà ba tập thơ: – Quốc âm thi tuyển khắc in năm Kỷ Dậu 1909 chủ yếu là Xuân Hương di cảo. (Văn bản này trước văn bản Nguyễn Ngọc Xuân in năm 1913) – Một tập thơ nôm khác mất tờ bìa và tờ đầu nhưng có nhiều bài thơ Hồ Xuân Hương hơn tập trước. Một tập thơ chữ Hán chép tay nhan đề Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập mất phần cuối chỉ còn 9 bài thơ Đường Luật và một bài thơ dài theo thể song thất lục bát. Ngoài ra ông còn tìm lại được bài văn Xuân Đường đàm thoại của Mai Nham, Tam Nguyên Vị Xuyên Trần Bích San viết năm 1869, và các tài liệu liên quan đến Phạm Viết Đại tri phủ Vĩnh Tường quê ở Trà Lũ.

Tin tức khám phá này rất quan trọng vì tôi cho rằng Hồ Xuân Hương những năm sống ở Yên Quảng (1816-1819) có tập hợp thơ mình thành một tập thơ thứ hai, gồm 9 bài thơ Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập, 8 bài thơ Vịnh Hạ Long (nay còn 5 bài), 9 bài thơ Vịnh Cảnh Đồ Sơn, và những bài thơ khác vịnh cảnh quanh vùng Yên Quảng, như Vịnh Bãi Bình Than… Tập thơ vịnh cảnh này truyền đến kinh đô Phú Xuân cho nên tại Kinh đô các nhà thơ đương thời như Trương Đăng Quế, Tùng Thiện Vương, các nhà nho Trung Quốc như Trương Bỉnh Thuyên, Hoàng Diệu Khuê so sánh nữ sĩ Mai Am (tức Lại Đức công chúa tên Trinh Thận, tự Thúc Khanh, con gái thứ 28 của vua Minh Mạng, em cùng mẹ với Tùng Thiện Vương Miên Thẩm) với Hồ Xuân Hương và Phạm Lam Anh. Không ai đem so sánh công chúa với một nhà thơ dâm tục được.

– Trang 20. 31 bài thơ đi với bài tựa Lưu Hương ký, tôi dịch và xét kỷ, tất cả đều là thơ Tốn Phong viết tặng Hồ Xuân Hương, và đều ca tụng tài sắc Xuân Hương, chẳng lẽ Xuân Hương lại làm thơ tự ca tụng tài sắc mình?, không có bài nào ý tứ do Xuân Hương viết.. (xin xem bài Chân dung Hồ Xuân Hương qua 31 bài thơ tình Tốn Phong đăng trên, Khoahocnet, vanhoanghean, langhue và được đang lại trên nhiều site khác)

– Trang 29-36. Bài 1. Thuật ý kiêm trình giản hữu nhân Mai Sơn Phủ. Giáo sư sử dụng lại bản dịch ông Đào Thái Tôn. Bản dịch có nhiều câu thật ngớ ngẩn và buồn cười:

+ “Lộc ao ao, nhạn ngao ngao” (Nai xôn xao, nhạn lao chao) dịch thành: “Hươu ao ao, Nhạn ngao ngao”. Con hươu và chim én sao kêu giống mèo thế!

+ “Giang bát bát, Thuỷ hoạt hoạt, Ngã tư quân hoài tương khế khoát, Lệ ngân chiêm hạ sát” (Sông bát ngát, nước chảy xiết. Lòng ta cùng lòng chàng khắn khít, Lệ rơi trên áo thấm ướt) dịch thành: “Sông bát ngát, nước ào ạt, Ý thiếp lòng chàng cùng vu khoát. Lệ rơi thêm mặn chát”. Chao ôi, có ông Cao Bá Quát ở đây chắc ông sẽ bịt mũi: “câu thơ thi xã con thuyền Nghệ An”, mắm Nghệ An còn thơm, chỉ có mắm làm dỡ hôi thối mới mặn chát, chớ nước mắt làm gì mặn chát.

+ “Minh tần phi, Bút tần huy. Nhất trường đô bút thiệt: Hà xứ thị tình nhi?” (Trà thường pha, bút nở hoa. Đâu chẳng ngâm chẳng uống, Mà chàng ở đâu xa?) dịch thành: “Trà mà chi? Bút mà chi? Cũng là thiên lý cả. Ai là kẻ tình nhi?” Đoạn trên Hồ Xuân Hương mời Mai Sơn Phủ: Dã ưng quân bút phát (chàng ơi cất bút viết) thế mà đoạn dưới lại bảo chàng: “Viết mà chi?” Đến hai câu: “Cũng là thiên lý cả. Ai là kẻ tình nhi?” thì thật là ngớ ngẫn, chẳng hiểu thiên lý ở đâu ra. Viết thơ cho chàng mà còn hỏi: “Ai là kẻ tình nhi?” thì chàng chắc ghen mà nổi trận tam bành chàng lên.

Dịch như thế mà ông Đào Thái Tôn giữ Lưu Hương ký làm con tin hơn 40 năm, đòi nhà nước trả tiền cho 300 triệu thì thật là quá đáng. Chắc là ông phải chỉa súng Hội đồng Xét duyệt mới cấp tiền cho ông!

– Trang 39, 40 bài 3. Giáo sư sử dụng lại bản dịch ông Đào Thái Tôn: “Nhất viên hồng hạnh bích thanh song, Phồn hoa tích dĩ không. Kim triêu hựu kiến sổ chi hồng. Oanh nhi mạc đái xuân phong khứ, Chỉ khủng đào yêu vô lực tiếu đông phong”.(Một vườn hồng hạnh biếc xanh xanh, Mơ hoa tỉnh giấc nồng. Oanh ơi đừng rủ xuân đi nhé. Ta sợ đào hoa không đủ sức cười với gió đông!) Những câu thơ tuyệt tác hay vô cùng thế mà qua tay ông Đào Thái Tôn: “Một vườn hồng hạnh biếc xanh thông. Phồn hoa tưởng đã không. Sớm nay bỗng nở mấy nhành hồng. Chim quyên chớ quyến xuân đi nhé. Ta sợ “đào hoa vô lực tiếu đông phong”. Cây thông ở đâu vào, hồng hạnh mà trồng chung với thông, lá thông có chất át xít, rụng đầy thì hồng hạnh chẳng sống nỗi. Chim quyên ở đâu vào?, người ta thường lầm chim uyên với chim cuốc (uyên là vịt Nhật bản con trống đủ màu thường đi với con mái tên là chim ương) cuốc gọi mùa hè, mà rũ mùa xuân đi sao?. Các câu chữ “phồn hoa”, “đào hoa vô lực tiếu đông phong” ông dịch mà để nguyên đọc nghe như ăn cơm gặp viên sỏi lớn, gảy răng!

– Trang 43 bài 4 Thu dạ hữu hoài. “Dạ thâm nhân tỉnh độc trù trừ. Vân lâu tửu lãnh ngân hoàn bán. Thuỷ khoát, phong trường ngọc lậu cô. Hoa hoa nguyệt nguyệt chủ nhân ngô. Xuân tịch tịch. Xuân hứng bất đa hồ? Nhạn ảnh hà quy vân tự trụ, Trùng thanh như khóc thuỷ không lưu. Tuế án tu liên.(Đêm tàn người thức lòng ngơ ngẫn. Rượu lạnh lầu mây bạc ánh tà. Nước chảy gió đùa trơ giọt ngọc. Hoa hoa nguyệt nguyệt nỗi lòng ta. Xuân vắng vẻ. Xuân hứng chẳng nhiều ư? Bóng nhạn về đâu mây ở lại. Dế trùng như khóc nước trôi hoài. Năm tàn thêm lo!)

Giáo sư NNB dịch thành: “Đêm khuya người lặng, mình bơ thờ; Lầu mây rượu lạnh nửa vầng thơ. Nước rộng, gió dài, đồng hồ tịch; Hoa hoa, nguyệt nguyệt chủ nhân cô!. Xuân tịch lặng, lòng xuân chan chứa! Bóng nhạn về đâu? Mây đứng yên! Bọ lúa như kêu nước mãi trôi. Năm muộn than ôi!” Lưu ý giáo sư: “ngân hoàn bán” là ánh sáng trăng nửa đêm đã bạc, thời Hồ Xuân Hương chưa có nhập cảng đồng hồ quả lắc của Thuỵ Sĩ, theo Lê Quý Đôn thì cả nước có ông Nguyễn Văn Tú qua Hoà Lan học nghề và chế được một cái đồng hồ quả lắc, nhưng dân chúng nhà khá giả thì dùng hồ đồng là hồ bằng đồng nước nhỏ giọt ở giữa, có một cây sắt khắc từ 1 đến 100, đầu hôm người ta đổ nước đầy cho nước giọt xuống, tuỳ mức nước người ta đoán giờ. Thời gian như nước chảy gió đùa chỉ nghe tiếng nước hồ đồng như giọt ngọc rơi đều. Chủ nhân ngô là cõi lòng ta, chứ không phải là chủ nhân cô hay cô chủ nhân. Trùng thanh là tiếng côn trùng, dế trùng, tiếng dế, tiếng ểnh ương, còn con bọ lúa là con gì, có ai thấy nó bao giờ đâu?. Bài thơ này Xuân Hương làm gửi Nguyễn Du. Chàng là chim hồng nhạn bay đi, em là mây ở lại, nghe tiếng dế trùng than khóc trong ngày tháng như nước trôi. Trong bài Thu dạ I, Nguyễn Du đã đáp lại: Anh cũng thấy đêm bạc màu sương, tiếng dế lạnh than khóc nơi tường đông. Vạn dậm (chim hồng bay) chỉ nghe tiếng thu rung lá rụng. Vì mây ở lại bên em nên trời Hồng Lĩnh chỉ có khí lạnh không một vầng mây.. Cuối năm anh nằm bệnh bên bờ sông Quế Giang (sông Lam).

– Trang 44 bài Thu tứ ca. Bài này theo tôi là của Mai Sơn Phủ, vì Hồ Xuân Hương là người đẹp rồi, thì có thể nào “Hoài giai nhân hề bất năng vương” (Nhớ người đẹp chừ lòng không quên) GS dùng lại bản dịch ông Bùi Hạnh Cẩn: Nhớ người đẹp chừ không sao “guơn”. Guơn nghĩa là gì tôi tra tự điển không thấy, có lẽ vì túng vận ông Cẩn đặt ra! Mai Sơn Phủ dùng lại bốn câu thơ nổi tiếng của vua Hán Vũ Đế Lưu Triệt (156 trước CN-87 sau CN). Thường trong Hát Nói người ta hay hát hai câu nổi tiếng của một tác giả cổ điển để làm đề tài hay lấy đà nói tiếp, chẳng cần trích dẫn là của ai, Mai Sơn Phủ ăn gian, lấy đà hát đến 4 câu rồi nói, xổ nho thay vì tiếng nôm để trả lời bài Kể ý mình trình bạn Mai Sơn Phủ của Hồ Xuân Hương: “Thơ cùng ngâm, rượu cùng châm. Tự lúc buồn ly biệt. Nửa lòng ai ấm chăn? Chớ đàn ly khúc oán tri âm”. Mai Sơn Phủ nói: “Ta có rượu chừ không bạn uống, Ta có đàn chừ không tri âm. Không chuốc rượu chừ không gảy đàn, mà chỉ uống chè xanh thôi để nhớ nàng”.

– Trang 47, 48 bài Nguyệt dạ ca. Bài I là của Mai Sơn Phủ đi về Vinh và viết thơ về, vì có câu: Uyển cố nhân hề thiên nhai,(Người yêu dịu dàng ơi giờ nơi phương trời). Hồ Xuân Hương không thể gọi Mai Sơn Phủ là Uyển cố nhân được. Bài II là bài trả lời của Hồ Xuân Hương. “Câu thúc vãng lai hề chiếu dư hoài”(Sáng lấp lánh chừ chiếu lòng ta) ông Đào Thái Tôn dịch: “Vụt qua lại chừ soi chiếu lòng ta”, thì ngây ngô chẳng thành thơ tí nào! Câu: Tình chi sở chung (Nơi nào gặp lại) thật đơn giản ông dịch thành: “Nơi tình hội tụ”, tiếng Việt chẳng ai nói thế bao giờ!

– Trang 51 bài 8 Ngư ông khúc hành. Câu: “Dã ông đạm bạc diệc phồn hoa, Thác nhận đào yên thị hệ la” (GS đọc nhầm đào yêu thị tệ la) có nghĩa là: Ông già quê xa lánh chốn phồn hoa, tự nhận mình cùng họ hàng (họ Ngư) với anh chài đánh cá Vũ Lăng đã đi đến chốn đào nguyên, trong Đào Nguyên Ký của Đào Tiềm. GS dịch thành “Ông dù đạm bạc vẫn phồn hoa, Lầm tưởng đào non giăng lưới ra”, thì ngược ngạo chẳng ai hiểu gì cả?. Người nào vừa đạm bạc vừa phồn hoa? ông giăng lưới đánh cá để hái đào non chăng? Câu “Hàn sơn thảo sắc thong thong, Tô giang ký đáo thanh phong tự nhàn.” (Non hàn mái cỏ tranh buông, Sông Tô đến đấy thong dong gió nhàn) dịch thành: “Cỏ bời núi lạnh xanh xanh. Sông Tô hằng đến hưởng thanh phong nhàn”. Về mái nhà tranh, câu cá nơi sông Tô mới thong dong hưởng gió mát nhàn hạ chứ nơi “cỏ bời núi lạnh” thì hưởng thanh phong nhàn nỗi gì?

– Trang 55 bài số 10 Hoài cựu theo tôi là bài thơ là bài thơ Hồ Xuân Hương làm sau khi gặp Nguyễn Du làm Chánh Sứ năm 1813 tại Thạch Đình bên sông Vị Hoàng, nàng không gặp được mà chỉ nhìn Nguyễn Du từ xa vì quan trên trông xuống, người ta dòm vào, lính lệ chặn đường quan khắp nơi (không có chuyện quan lớn đi bắt tay từng người dân như ngày nay). Sau cuộc gặp gỡ này Hồ Xuân Hương viết hai bài: Hoàng Giang ngộ hỷ phú (Mừng gặp bạn trên sông Vị Hoàng) và bài Hoài Cựu.

Bài này có vài chữ cần đọc lại cho đúng: Câu 3, chữ “con”, đọc là “còn”, câu 5 chữ “chuộc” đọc thành “trả”. Vay trả câu thơ nhẹ nhàng hơn vay chuộc. Chữ “đưa đẩy” thì thật là hay. Nàng đến nơi sông Hoàng Giang nhớ lại kỷ niệm, ngày xưa từng giả từ Nguyễn Du, nhìn phong cảnh nàng có vui đâu vì nơi này gửi tâm sự cả nàng rất nhiều, (cả tiễn đưa Mai Sơn Phủ cũng nơi này!). Nàng đón người yêu xưa Nguyễn Du, nhưng bị lính lệ đẩy ra dẹp đường cho quan Chánh Sứ đi, thế mới biết ông Trời (tay đại tạo) đã sắp xếp cho mình như thế nào, mình chỉ là cánh hoa trôi theo nước thuỷ triều lên xuống, nàng bị đám đông chen lấn đẩy nàng ra xa. Các cụ ngày xưa đọc hai câu này chắc vỗ đùi khoái khẩu. Tóm lại bài Hoài cựu:

Chữ tình ngang ngữa biết bao nhiêu,
Một chút duyên xưa dở lắm điều.
Bèo lạc không kinh còn trẻ lại,
Hoa trăng thêm tủi cái già theo.
Tài tình nợ ấy vay nên trả,
Phong cảnh vui đâu gửi đã nhiều.
Đưa đẩy biết tường tay đại tạo,
Cánh hoa trên nước thấm tin triều.

– Trang 59 bài 12 Cảm cựu tống tân xuân chi tác. Đây là hai bài thơ Đường Luật rõ ràng vì có từng cặp 3,4 và 5,6 đối nhau. Bài II, câu đầu có thể vận trắc chữ “ngọt”, là bình thường trong thơ Đường, chỉ cần “nhị tứ lục phân minh”, chữ 2,4,6 đúng niêm luật. Nên chia lại làm hai bài. 16 câu mà gọi là trường thi thì không đúng. Như thế thì giải quyết được một bài đếm thiếu của ông Trần Thanh Mại. Câu 3: chữ “Cửa động” thay vì chữ “Cửa đông”. Chú thích: Xuân phải hiểu là “đông quân” là mùa xuân vừa người yêu. “Tân Xuân” phải hiểu là “người yêu mới” thì chẳng hiểu gì cả về bài này.

Hai bài thơ này có điểm lạ là người ta thường nói “Tống cựu nghinh tân”, tiễn năm cũ mừng năm mới, ở đây “nhớ chuyện cũ, tiễn xuân mới”. Tại sao như thế?

Theo tôi Hồ Xuân Hương viết năm 1814, trước khi gặp Tốn Phong để đưa chàng viết tựa: thời điểm năm 1804 với ý nghĩa như sau:

Bài I. Hết cơn bỉ cực đến hồn thái lai, mùa xuân này không còn như những mùa xuân xưa, mười năm lận đận, nhìn những ngày khổ cực, nàng chua chát cho những mối tình đến muộn màng, lúc này Xuân Hương đã trải qua nhìều kinh nghiệm nhân sinh, nhất là về tình ái, trước mắt nàng là bình hương nguội, tựa như lòng đã tưởng không còn yêu ai được nữa, đã lạnh với phong lưu. Gặp một người đúng như mình mơ ước thật khó, đời như chiếc gối mơ (tích Du tiên chẩm). Ở tuổi tưởng như đã muộn màng bổng dưng treo giá ngàn vàng, nhiều mối duyên quá khiến cho nàng ngơ ngẩn.

Bài II. Cuộc đời suy nghiệm nàng thấy: có vị chua lẫn vị ngọt, như trời đất có nắng thì có mưa. Dù chưa phải là tri âm hoàn toàn như mình mong muốn. Những lời chê bai tiếng thì thầm nay đã thưa dần. Nàng đã tìm ra người tâm đầu ý hợp, quan Tham Hiệp Yên Quảng, như vụ “mía tháng ba ngọt ra đầu ngọn”. So với ngày xưa đời vắng lặng soi gương lạnh ngắt một mình. Còn mối tình nào hơn thế nữa, nàng tự hỏi từ nay đã phải như thế chưa.

– Trang 65 bài 15 Hoạ nhân không phải là Hoạ bài người khác. Nhân có người vào Hồng Lĩnh, Hồ Xuân Hương gửi thơ cho Nguyễn Du khoảng năm 1796 báo tin: Vài hàng viết gửi thơ thăm anh mà nước mắt rơi lai láng. Nghĩ tưởng rằng em có thể chờ đợi được anh lâu. Lá đã nhuộm màu sương lam, lòng em càng thêm thẹn. Nhìn sương pha màu khói biếc mà rộn thêm cơn sầu. (Mẹ đã nhận trầu cau ăn hỏi, gia đình anh Lang xóm Tây làng Nghi Tàm, nhà cửa đang sửa soạn chưng diện.) Em thẩn thơ trước nhà đang sửa soạn “khoe với gió”. Bên tai em (những lời tán tỉnh anh Lang) như tiếng địch thổi chói tai. Muốn hỏi với trăng già sao khe khắc với tình duyên ta, trêu nhau chi mà xe những mối tơ không trọn vẹn để đôi ta khổ sở với nhau.

– Trang 67 bài 16 Tặng Tốn Phong tử. Có câu thơ 7, 8, 9, 10 quan trọng: Tấm lòng tôi ngay thẳng tỏ rõ với chàng. Ông tơ bà nguyệt có thể xe được ba mối: chàng, vợ chàng và tôi vào một. Chàng là khách đa tình có hay rằng (tôi đã có kinh nghiệm làm lẽ với Tổng Cóc) nên năm canh nghĩ đến rất sợ hải tình như thế này. Do đó chữ bơ bải có nghĩa là hơ hải hay bơ phờ, bải hoải. Tóm lại bốn câu này đã nói ngược lại sáu câu trước là từ chối lời cầu hôn của chàng.

Xuân Hương cám ơn Tốn Phong lâu nay đã thường đến chơi. Xa nhau nhớ viết thơ cho nhau. Lòng tôi dám đâu như mưa gió mà ăn nói như trở bàn tay. Những lời đàm tiếu của người đời như sóng nước. Rồi đây anh về Nghệ Tĩnh, Nam Bắc xa nhau bao dậm. Tưởng là những thề non hẹn biển để lại cho đời sau… nhưng mà: nói thẳng với chàng, ông tơ bà nguyệt có thể nào xe được ba mối tơ, chàng là khách đa tình có biết rằng tôi sợ lắm. Nhưng thật ra Xuân Hương từ chối Tốn Phong vì làm lẽ một anh đồ nghèo, chẳng danh phận, chạy ra Bắc vào Nam dạy học kiếm ăn. Giàu như Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà nàng còn khổ sở với bà lớn. Nhưng Xuân Hương nhận lời quan Tham Hiệp Yên Quảng vì bà lớn thường ở lại cai quản gia trang tại quê quán, chỉ có bà bé theo chồng nơi trấn nhậm.

– Trang 69 bài 17 Thạch Đình tặng. Bài này ông Trần Thanh Mại, Đào Thái Tôn đều lầm tưởng của một người tên là Thạch Đình như Cư Đình, Thực Đình người đương thời. Nhưng không phải, thạch đình chỉ là cái đình đá, nơi bến sông Vị Hoàng, Nam Định vì đó là bến cảng lớn của ngày xưa, vì cạnh biển, mưa gió, bão táp nên đình được xây kiên cố bằng đá. Từ đây đi vào Nghệ Tĩnh, Phú Xuân tiện lợi nhanh chóng vì không leo núi đèo Tam Điệp hay truông nhà Hồ, phá Tam giang. Làng Tiên Điền có Giang Đình là cái đình bên sông, một trong tám thắng cảnh Hồng Lĩnh. Hồ Xuân Hương tiễn Nguyễn Du năm 1794, tiễn Mai Sơn Phủ năm 1801 và đón quan Chánh Sứ Nguyễn Du năm 1813 nơi này.

Bài này theo tôi là của Nguyễn Du. Bài này GS đọc chữ nôm có nhiều chữ không ổn: câu 1, chữ “vẽ vời “thay vì “vả vê” (chữ Nôm, chữ quốc ngữ không thấy có chữ vả vê, ngày xưa chữ Nôm vần ời, ề,i là thông vận không bị xem là thất vận). Câu 2: chữ “luống” thay vì chữ “lúc”. Câu 3: chữ “Cung Hoàng” thay vì “Cung vàng”. Là khúc Phượng Cầu Kỳ Hoàng của Tư Mã Tương Như. Chữ “đường” đọc là “dường”. Câu 4 “Đường nguyệt” thay vì “Điếm nguyệt” nhà Xuân Hương là Cổ Nguyệt Đường, là một ngôi nhà lớn Tốn Phong gọi là đình, Mai đình, hay viện. là một học đường, không phải là ngôi nhà nhỏ, tạm bợ như điếm canh hay lữ điếm. Câu 6 chữ “quyến” thay vì chữ “thấy”. Câu 7 chữ “phụ” thay vì chữ “rất”. Câu 8, chữ “Tròn trặn” thay vì “Tròn trăng”, bị thất niêm, chữ “gương tình” thay vì “gương tạnh”. Bài thơ không ổn nên đọc không hiểu gì cả.

i thơ Nguyễn Du tặng (Hồ Xuân Hương) nơi Thạch Đình:

Đường nghĩa bấy nay trót vẽ vời,
Nước non sầu nặng luống đi về.
Cung Hoàng dịu vợi dường khôn lọt,
Đường Nguyệt mơ màng giấc hãy mê.
Đã chắc hương đâu cho lửa bén,
Lệ mà hoa lại quyến xuân đi.
Xanh vàng chẳng phụ lòng ân ái,
Tròn trặn gương tình cũng có khi.

Bài thơ ý nói: Bấy lâu nay ta quen biết nhau, nay nặng lòng vì nước non anh phải về quê (để xây dựng lại từ đường họ Nguyễn Tiên Điền) Khúc Phượng Cầu Kỳ Hoàng, lời tỏ tình anh chưa nói cùng em, nơi Cổ Nguyệt Đường em hãy còn mơ màng giấc chiêm bao. Chúng ta có thật yêu nhau không cho lửa tình cháy bén, hay em chỉ khóc vì hoa rụng quyến theo mùa xuân đi. Trời xanh, trăng vàng nếu chẳng phụ lòng ân ái, thì có khi chúng ta sẽ thành vợ chồng với nhau.

Bài thơ này chứng tỏ Nguyễn Du còn rất lừng khừng trong tình yêu với Hồ Xuân Hương vì chàng chưa có công danh, không muốn ra làm quan với Tây Sơn như anh Nguyễn Nể, như Đoàn Nguyễn Tuấn. Nguyễn Du phục Nguyễn Quýnh khởi nghĩa chống Tây Sơn nhưng không thể lập lại như Nguyễn Quýnh vì làng Tiên Điền sau trận làm cỏ của tướng Tây Sơn Lê Văn Dụ, người sống sót chẳng còn ai theo và Nguyễn Du đã có ý muốn vào Nam theo Nguyễn Ánh. Tương lai không rõ ràng, nên không cưới Hồ Xuân Hương để đem nàng về Tiên Điền, vì làng chỉ còn một bãi chiến trường nhà cháy, đồng ruộng hoang phế và vì Nguyễn Du còn sẽ ra đi, Nguyễn Du cũng không ở lại Thăng Long vì chỗ dựa là anh Nguyễn Nể phải về Phú Xuân được phong chức Đông Các bên cạnh Vua Cảnh Thịnh, khi Vua Quang Trung mất năm 1892 mới lên 10. Anh Nguyễn Nể giao tiền bạc cho hai em cùng cha cùng mẹ là Nguyễn Du và Nguyễn Ức nhiệm vụ xây dựng lại từ đường và làng Tiên Điền. Nguyễn Nể không thể trực tiếp trông coi và cũng không thể giao ai khác.

– Trang 71 bài 18 là thơ Hồ Xuân Hương gửi Hiệp Trấn Trần Ngọc Quán, để báo cáo tình hình mời các danh sĩ Hoan châu tham gia tao đàn Cổ Nguyệt Đường, và mách: có người đặt cho nàng là thèo đảnh (lắm chuyện, tào lao). Bài 19 là thơ Trần Ngọc Quán gửi Hồ Xuân Hương trêu chọc và tỏ tình với nàng. Nàng đã khoe tài lạ trước, thì tôi như Lưu Nguyễn theo lối quen xưa mà vào chốn đào nguyên. Bao nhiêu tài tử giai nhân đó, riêng tôi có nợ bình sinh phải trả cho nàng.

– Trang 75 bài 20 Hoạ Mai Sơn phủ chi tác. Bài thơ này trả lời bài Thu Tứ ca của Mai Sơn Phủ. Mai Sơn Phủ thề thốt không uống rượu, không gảy đàn vì thiếu nàng là tri âm. Thề chỉ uống trà xanh thôi để chung tình với nàng. Hồ Xuân Hương nhắc lại: chúng ta là kẻ chung tình biết với nhau và nhắc lại kỷ niệm.Tiễn nhau đi ba bước đã nên câu thơ. Nàng chờ đợi thơ nên cứ mở thơ cũ ra đọc, đọc xong khép lại, rồi lại mở ra đọc.. Ngày tháng đi về nhanh như vó câu, ban ngày đi trên lối cũ nước mắt ướt cả hoa, đêm ngủ thao thức nhớ mùi hương chàng trên nệm. Vắng nhau mới biết rõ tình nhau. Chỉ hai ta là kẻ chung tình biết với nhau. Bài thơ này là một bài thơ tình tuyệt tác của thi ca Việt Nam thế kỷ 18, 19.

– Trang 76 bài 21 Tốn Phong đắc mộng. Tốn Phong nằm mơ thấy mộng: Sông Tô tuy hẹp ấy Ngân Hà. Mộng thấy qua cầu giấc tối qua (Thơ Tốn Phong bài 16). Tốn Phong muốn cưới nàng để đôi bên không còn là Ngưu Lang, Chức Nữ. Trái với lời bàn trang 76. Bài này Xuân Hương đã từ chối khéo léo: “Tâm sự em đây, nói ra chàng có hiểu chăng? Chúng ta đồng tâm sự hợp nhau lắm, nhưng chúng ta bạn với nhau thế này là đủ, cưới nhau vì nhục dục (hoa liễu) có vui đâu, chàng còn phải lo học hành thi cử để lập công danh trả nợ với non sông. Tình ái lâu ngày nồng nàn sẽ nhạt. Lời thề dù nặng biết đâu rồi sẽ phai. Còn em xin chịu duyên phận hẩm hiu số kiếp đã định. Sau này có nhớ nhau xin nghĩ đến chuyện Xương Giang: Xương Giang một giải nông sờ, bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia”.

– Trang 81 bài 23. Mừng gặp bạn trên sông Hoàng Giang. Bài này Hồ Xuân Hương đón và gặp Nguyễn Du trên đường đi sứ tháng hai năm Quý Dậu (1813). Từ Phú Xuân, đoàn cống sứ gồm 27 người, đi thuyền đến Thạch Đình, bến sông Vị Hoàng. Từ Vị Hoàng được Tổng Trấn Nguyễn Huỳnh Đức tiếp đón đưa về Nha Tuyên Vũ (Chùa Quán Sứ) nghỉ ngơi. Sau đó đi đường bộ, mỗi địa phương đều có quan Tri huyện, quan Hiệp Trấn đón rước lên đến tận Lạng Sơn. Từ ải Nam Quan các quan địa phương Trung Quốc tiếp rước chu cấp cho sứ đoàn đến Bắc Kinh. Bài thơ có ý như sau: Từ lúc em biết yêu lần đầu, thời gian tình nghĩa yêu đương em xem trọng như mấy cân vàng. Một lần hẹn nhau em nhớ cả kiếp, tình cảm nặng nề em không quên dù có đến trăm thân. Cạn dòng sông Tô Lịch vẫn còn duyên nợ đôi ta. Đầy sông Hoàng Giang những giọt nước mắt ái ân em tiễn chàng. Hai câu cuối: “Nồng nhạt mặc dù đâu nhẽ dám; Tấc son này vẫn thắm mười phân”. Dù chàng có nồng nàn hay lạnh nhạt em đâu dám gặp chàng, vì chàng đường đường là một vị Chánh Sứ, quan trên trông xuống, muôn cặp mắt lính tráng, dân chúng nhìn vào. Riêng lòng son em vẫn yêu chàng trọn vẹn như ngày nào.

– Trang 83 bài 24 Thệ viết hữu cảm. Bài này Hồ Xuân Hương làm năm 1801, sau khi thề với Mai Sơn Phủ. Từ lúc yêu Nguyễn Du năm 1790 đến năm 1801, mười mấy năm sau Hồ Xuân Hương mới biết có người tỏ tình với nàng. Duyên tơ này có lẽ ông tơ bà nguyệt đã sắp sẳn. Buổi lễ ăn thề thường cử hành lúc canh khuya có ba sao giữa trời chứng giám, lấy tích trong Kinh Thi thuộc Đường phong có câu Tam tinh tại thiên (Sam Sung, công ty Đại Hàn lấy tích này) ba sao giữa trời, ý nói vợ chồng gặp nhau lúc canh khuya. Mỗi người cắt một đoạn tóc, (đàn ông ngày xưa tóc dài búi tóc) trộn vào nhau, sau đó lấy dao cắt làm hai chia mỗi người phân nửa (Tóc mây một mái dao vàng chia đôi. Kiều) Lấy kim trích máu từ ngón tay hoà trong hai chén chung rượu, một chén tử và một chén sinh. Sau đó hai người cùng đọc lời thề: (Có chép mẫu trong nguyên tác Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân do Tô Nam Nguyễn Đình Diệm dịch; Sàigon 1957. Phạm Đan Quế. Truyện Kiều đối chiếu. nxb Hà Nội 1991 tr 100): Chúng tôi hai kẻ đồng tâm là Mai Sơn Phủ và Xuân Hương Hồ Phi Mai. Mai Sơn sinh năm.. tháng… ngày… giờ… Phi Mai sanh năm… tháng… ngày… giờ… Nay kính cần đốt nén hương lòng, dâng ly rượu tịnh, thề trước hoàng thiên hậu thổ linh thiêng. Chúng tôi trộm nghĩ: Vợ chồng trọng nghĩa, nghĩa phải thuỷ chung không rời. Nhi nữ đa tình, tình dẫu tử sinh không phụ. Trước đây Phi Mai muốn lấy chồng. Mai Sơn mong có vợ, thương mộ tài sắc đã nguyền đôi chữ đồng tâm. Ngày nay Mai Sơn lo buổi mới Phi Mai sợ về sau, tạc dạ ghi lòng, cùng thề đến khi mãn kiếp. Sau giờ minh thệ, ví thử chẳng may gặp cảnh bất thường, quyết không thay đổi. Ai mà phản bội lời ước “sẽ bị dao búa phanh thây xẻ thịt”.? Cứu xin thần thánh xét soi. Sau đó hai người quỳ lạy thiên địa quay vào chén thù chén tạc… và động phòng. Có lẽ Mai Sơn Phủ đã bội bạc nên chết trong chiến tranh, “bị dao búa phanh thây xẻ thịt”, không thấy chàng trở về.

– Trang 85 hai bài Tự Thán số 25, 26. Hồ Xuân Hương viết năm 1801 sau khi Mai Sơn Phủ đi về Vinh. Câu “Nghĩ cùng thế sự lòng như đốt” cho ta thấy tâm sự Hồ Xuân Hương trước tình trạng khẩn trương của chiến tranh. Từ tháng ba năm 1801 Nguyễn Ánh đánh chiếm doanh Quảng Nam, sau đó thừa thắng đánh Đà Nẵng. Tháng 5 năm Nhâm Tuất lại đánh Phú Xuân, Vua Quang Toản bỏ chạy ra Bắc. Nguyễn Ánh Lên ngôi xưng danh hiệu Gia Long, và tiến quân ra Bắc, trận chiến tiếp diễn. Có nguy cơ Thăng Long và làng Nghi Tàm sẽ trở thành nơi đóng quân và bãi chiến trường đẩm máu. Người người thúc dục nhau tản cư. Câu 2 bài II “Vi đâu đeo đẳng với nơi này? (chữ “này” thay vì chữ “vầy”). Hồ Xuân Hương vẫn ở lại để đợi tin Mai Sơn Phủ, nhưng vẫn bặt tin, miệng lưỡi người trong làng nói ra nói vào những tiếng chua cay, nàng không nói được với ai. Nàng uống trà tiêu khát để nghe mình còn giọng nói không, uống chén rưọu mừng xuân đã thấy say. Tình cảm chàng phải chăng chỉ là một sự lường gạt của người thích sắc dục. Càng nghĩ càng thương chính mình. Tại sao nợ hay duyên mà ra thế này?

– Trang 93 bài 29 – 30 hai bài Chí Hiên tặng. Theo tôi Chí Hiên là một bút hiệu khác của Nguyễn Du sử dụng từ năm 1786 đến 1896, do sự kiện sau khi nhà Trịnh sụp đổ Nguyễn Du chạy sang Vân Nam cùng với Nguyễn Đại Lang tức Cai Gia và Nguyễn Sĩ Hữu tức Nguyễn Quýnh vì Nguyễn Khản làm Thượng Thư Bộ Lại kiêm cả binh quyền Thái Nguyên, Hưng Yên, Sơn Tây. (Hưng Yên do con rễ Nguyễn Huy Tự làm Trấn Thủ cùng hai em Nguyễn Trứ và Nguyễn Nghi. Sơn Tây Nguyễn Điều làm Trấn Thủ, Nguyễn Nể phụ tá). Tại Thái Nguyên, Nguyễn Du nắm giữ đội quân hùng hậu nhất,: Chánh Thủ Hiệu quân Hùng hậu hiệu, Nguyễn Quýnh, chức Trấn Tả Đội với sự cố vấn quân sư của Cai Gia, là một tay giặc già Trung Quốc, phản Thanh phục Minh, sang đầu quân dưới trướng Nguyễn Khản, Nguyễn Du có kết nghĩa sinh tử với Cai Gia nên gọi là anh cả. Trong thơ chữ Hán Thanh Hiên thi tập ông cho biết ông ở vùng núi có tuyết, dân cư trưởng giả ăn mặc theo nhà Hán, và không theo lịch nhà Tần. Đến Vân Nam ông bị bệnh ba tháng nên chia tay cùng Nguyễn Đại Lang hẹn gặp lại ba năm sau ở Hàng Châu, chia tay với Nguyễn Sĩ Hữu trở về làm chủ Hồng Lĩnh khởi nghĩa chống Tây Sơn. Hết bệnh Nguyễn Du không đến Nam Ninh với Vua Lê Chiêu Thống mà đi chu du lên Trường An, và xuống Hàng Châu (Nguyễn Du có các bài thơ làm năm 1787-1790 Dương Quý Phi cố lý, Bùi Tấn Công mộ, Phân Kinh thạch đài và 5 bài thơ bên miếu Nhạc Phi không nằm trên đường đi sứ năm 1813) “Giang Bắc Giang Nam cái túi không”, không tiền nhưng muốn theo gương Lý Bạch, tuổi trẻ đi chu du khắp Trung Quốc.

Nguyễn Du đã trở thành một nhà sư đội mũ vàng “Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế” (đi bộ khoảng 5000 km). Nguyễn Du đi giang hồ trong 3 năm, (thơ Nguyễn Hành có nhắc chuyện này) bằng cách tụng kinh Kim Cương làm công quả tại các chùa trên đường đi để kiếm ăn. “Tôi đọc kinh Kim Cương nghìn lượt”, (365 ngày X 3,tức ba năm, bài Phân Kinh Thạch Đài). Hành trang bên mình Nguyễn Du là quyển “Kinh Kim Cương chú giải” của Lê Quý Đôn, một quyển sách yêu chuộng của giới trí thức Bắc Hà thời bấy giờ. Nguyễn Du xưng danh hiệu là Chí Hiên. Chí lấy từ danh Chí Thiện Thiền Sư, chưởng môn danh tiếng phái Thiếu Lâm thời Vua Càn Long trở thành đề tài nhiều bộ sách, và Hiên của gia đình, cha là Nghị Hiên, anh là Quế Hiên. Đến Hàng Châu điểm hẹn với Nguyễn Đại Lang là miếu Nhạc Phi, nơi đây Nguyễn Du dừng khá lâu nên làm 5 bài thơ về Nhạc Phi, Tần Cối và Vương Thị và ở gần đó, ngôi chùa Hổ Pháo nơi Từ Hải từng tu hành, nơi đây Nguyễn Du tiếp xúc với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân đang bán và nổi tiếng tại Hàng Châu, và từ đó trở thành quyển sách bên mình Nguyễn Du. Sau đó nhờ Cai Gia chu cấp Nguyễn Du đi xe song mã lên Yên Kinh và trở về đến Hoàng Châu (Hà Bắc) thì gặp Đoàn Nguyễn Tuấn và anh Nguyễn Nể trong sứ đoàn Tây Sơn. Đoàn Nguyễn Tuấn có hai bài thơ bàn luận sôi nổi với văn nhân họ Nguyễn tại Hoàng Châu, và viết bài về Hồng nhan đa truân trên đường đi sứ (Hải Ông thi tập). Sau đó Nguyễn Du trở về Long Châu, Nam Đài chờ đợi và về Thăng Long mùa xuân năm 1790 cùng sứ đoàn của anh.(Xem Phạm Trọng Chánh. Nguyễn Du, mười năm gió bụi. Khuê Văn Paris xb 2011)

Bài thơ Chí Hiên tặng, Nguyễn Du viết năm 1796 sau khi Hồ Xuân Hương bị mẹ ép gả cho Thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Nguyễn Du sau khi ra khỏi tù ở Hà Tĩnh, ban đêm trốn ra Thăng Long. Viết bài Chí Hiên tặng

Bài I. Bài thơ có nhiều chổ đọc sai, nên ý tứ không thông. Xin sửa lại. Đã giao du nguyền ước đã mấy năm tròn (Chữ giao nguyền với mấy năm tròn) Buổi sơ giao làm lễ kết nghĩa có lời thề xe nón: Người cỡi xe người đội nón, khi gặp nhau người sẽ xuống xe vái chào nhau (Xe nón tình kia mãi mãi còn). Tôi chẳng biết dạ nàng tệ bạc (Chẳng biết dạ người đen tựa mực) Lòng tôi vẫn yêu nàng (Sao hay lòng khách đỏ như son) Tai tôi chưa quên lời hứa hẹn của nàng (Tai còn chửa lãng lời vàng ngọc) Nàng có mắt nàng hãy xem tôi làm nên sự nghiệp với nước non (Có mắt càng xem mặt nước non) Chớ bảo rằng nàng chờ đợi tuổi xuân đã mỏi mệt (Chớ trách chúa xuân lòng mỏi mệt). Tình nàng sớm mận tối đào như thế có xứng đáng với dòng dõi con nhà không? (Mận đào được thế tiếng công môn).

Bài II. Rủi may nào xá gì, theo Kinh Dịch cùng tắc thông (Rủi may nào sá nghĩ cùng thông) Chưa dễ tri âm có thể biết nỗi lòng (Chưa dễ tri âm tỏ nỗi lòng). Ra Bắc phen này mong làm được việc (Ra Bắc phen này mong nổi việc) Vào Nam lúc trước, tính tìm cứ địa, tìm bạn cùng chí hướng ở Hà Tỉnh không ai hưởng ứng, muốn vào Nam theo Nguyễn Ánh cũng bị bắt tù (Vào Nam ngẫm trước cũng hoài công) Đến nhà bạn thơ, cuối năm cũng chỉ đãi mâm trà pha nhạt.(Bạn tao năm hết mâm trà nhạt) Ở quán khách chờ đêm chóng qua vì lạnh áo quá mong manh (Quán khách canh chày mảnh áo mong). Trông ra chỉ thấy mịt mù khói biển (Gớm nhẽ trông ra mù khói bể) Người yêu trong sáng nơi Cổ Nguyệt Đường nào thấy (Nguyệt Đường bao nả thấy gương trong)

Trang 95 bài 31 Hoạ Thanh Liên nguyên vận. Bài này Hồ Xuân Hương hoạ bài Thạch Đình tặng của Nguyễn Du. Câu 1 Chữ “dạy” thay chữ “đây”. Câu 2 chữ “chi” thay chữ “gì”. Câu 3 chữ “xem” thay chữ “hay”. Câu 5 chữ “Thử” thay chữ “Thức”, chữ “tầng” hay “từng” thay chữ “tăng”. Câu 7 chữ “thắm” thay chữ “đỏ”. Tuy nhiên Thanh Liên là bút hiệu thi hào Lý Bạch. Có thể nào có người lấy bút hiệu Lý Bạch làm bút hiệu mình chăng?. Tôi cho rằng đây là một lầm lẫn. Có thể là Chí Hiên hay Thanh Hiên. Bài thơ chữa lại như sau:

Hồ Xuân Hương có học đàn Nguyệt cầm với Nguyễn Du, một cây đàn được yêu chuộng thời bấy giờ (Thơ Tốn Phong, thơ Phạm Đình Hổ có nói đến nàng gảy đàn), nàng chờ Nguyễn Du dạy khúc Phượng Cầu Kỳ Hoàng, lời tỏ tình của Tư Mã Tương Như với Trác Văn Quân. Chàng như cánh chim phượng hoàng đường công danh như mây thênh thang, đã vội chi. Chua xót đọc lời thơ Thạch Đình chàng tặng em. Vì sao chàng hững hờ với duyên em mà nỡ ra đi. Đá thử vàng, lòng em treo giá ngọc đợi anh. Hoa dù đẹp như phong gấm hoa còn nở có thì. Lòng đôi ta còn nhiều niềm vui như đào đang nở sắc thắm, mận còn xanh, chàng ơi, sao chàng nỡ dứt ra đi. Bài này cho ta thấy cái tài tình đối đáp xướng hoạ của Hồ Xuân Hương. Bài thơ tuyệt tác, sai một chữ là mất hay ngay.

– Trang 96 bài 32 Nhân tặng. Bài này có lẽ có một tựa đề dài dòng: “Nhân có ông.. về Hồng Lĩnh gửi tặng Nguyễn Tiên Điền bài thơ” bài này theo tôi được Hồ Xuân Hương viết khoảng năm 1795 lúc Nguyễn Du đã về Hồng Lĩnh. Nguyễn Du đã trả lời lại bài thơ này bằng bài Ký Hữu (gửi bạn) trong Thanh Hiên thi tập. Hồ Xuân Hương viết: “Cậy đã vầng xanh tỏ tấm lòng”. Nguyễn Du đáp lại: “Một vầng trăng sáng tình ta đó” (Nhất thiên minh nguyệt giao tình tại)

– Trang 99 bài 33 Tưởng đáo nhân tình minh nhiên hạ lệ nhân nhi tẩu bút phụng trình (Nghĩ tới tình đời sũt sùi rơi lệ, nhân đó cầm bút viết thư gửi trình.) Theo tôi bài thơ Hồ Xuân Hương viết năm 1793, khi nghe tin Nguyễn Du sửa soạn về Hồng Lĩnh để xây dựng lại từ đường, nhiệm vụ do anh Nguyễn Nể giao phó và trao tiền bạc, Nguyễn Nể cũng về Phú Xuân nhận chức vụ mới Đông Các học sĩ, thầy dạy bên cạnh Vua Quang Toản. Bài thơ có chép chữ Tốn Phong tác bút không đúng. Vì đối với Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương có thái độ rất kính cẩn: chờ dạy, phụng trình, kiêm trình. Đối với Tốn Phong thì nàng nghi ngờ: không biết là duyên hay nợ, Xuân Hương có cảm tình, nhưng nhìn với nửa con mắt. Bài thơ có nhiều chữ sai: Câu 2 chữ “ngỡ”thay chữ “khéo”. Câu 5 Chữ “chuông chắn” thay chữ “buông chặn”. Theo tôi chuông chắn là một chữ cổ thời Lê Trịnh, câu thơ có nghĩa lời nguyền không gì có thể ngăn cản được. Vần chắn câu thơ thích hợp hơn.

– Trang 100 bài 34 Theo tôi đây là bức thơ mời các bạn tham gia tao đàn Cổ Nguyệt Đường.

– Trang 100 bài 35. Theo tôi bài này Hồ Xuân Hương ghi lại tình cảm mình sau khi gặp Tri Phủ Tam Đái Trần Phúc Hiển khoảng năm 1811. Trần Phúc Hiển trấn nhậm tại Tam Đái (tên cũ phủ Vĩnh Tường) trong ba năm. Đến tháng 12 năm Gia Long thứ 12 (1813) mới được thăng chức Tham Hiệp Trấn Yên Quảng. Bài thơ có hai địa danh Sông Bắc và Lầu Nam. Sông Bắc là Tam Đái giang, phía Bắc Thăng Long. Lầu Nam, phố Nam thành Thăng Long, lúc này Hồ Xuân Hương còn ở hiệu sách phố Nam thành Thăng Long. Thời gian này Hồ Xuân Hương “mẹ già, nhà túng” nên đi buôn khắp nơi, nghề buôn bán sách, giấy, bút là nghề của vợ và con gái các ông đồ; thường họ mở kế bên một trường học, Hồ Xuân Hương mở ở phố Nam, kế bên trường ông Nghè Phạm Quý Thích gần đền Lý Quốc Sư, có khi đem sách, bút, giấy đi bán cho các hội làng, cho các phú hộ, các quan các nơi, nhân đó mà quen biết với Trần Phúc Hiển, Trần Quang Tĩnh.

– Trang 103 bài 37. Bài này Xuân Hương trả lời cho bài 19 của Trần Ngọc Quán (trang 71) Trận bút xông pha quyết giật cờ. Đáp lời tán tỉnh Trần Ngọc Quán, Hồ Xuân Hương cho biết nàng đã nhận lễ hỏi Quan Tham Hiệp Yên Quảng sẽ về Vịnh Hạ Long (Non cao bể rộng vâng lời cả). Còn việc xướng hoạ sinh hoạt hội tao đàn vẫn tiếp tục như xưa (Nước chảy hoa trôi vẫn ý xưa).

– Trang 104 bài 38. Bài này của Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển. Bài này cho thấy Trần Phúc Hiển đến rước Hồ Xuân Hương vào tháng 12 năm 1813 tại Cổ Nguyệt Đường (Người đẹp nhà hoa lại gặp cùng). Nhà Xuân Hương trồng rất nhiều mai, bóng mai lạnh đã nở buổi đầu đông dịp tết (Non mai bóng lạnh buổi đầu đông) Xưa chưa từng gặp mặt nghe tiếng danh nàng làm thơ đã mến mộ.(Chưa từng gặp mặt lòng đà mến) Há phải xướng hoạ thơ cùng nhau ý mới nồng nàn (Há phải trao thơ ý mới nồng) Hồ Xuân Hương đã bày tiệc xuân ăn hỏi nơi Cổ Nguyệt Đường với láng giềng và một buổi lễ nơi bàn thờ Phật để trình với mẹ lễ hỏi cưới. Nàng khóc có lẽ vì thương mẹ già, cảnh một mẹ một con nay phải xa mẹ sẽ đi lấy chồng (Chưa khỏi tiệc xuân đôi mắt lệ. Ai khua đài Phật tiếng chuông rung). Và Xuân Hương sẽ tiễn Trần Phúc Hiển đến sông Lục Giang và sẽ về vì phải chờ sau khi chàng thu xếp việc trấn nhậm xong mới làm lễ cưới rước nàng về Vịnh Hạ Long. (Ân cần lưu lại trăng trời biển. Một biệt non tây lại vạn trùng.) Nhưng sau đó vì mẹ mất, Xuân Hương phải cư tang nên đầu năm 1816 mới về Hạ Long. Bản dịch trên của ông Bùi Hạnh Cẩn rất chỉnh và rất hay từng chữ, từng câu rất chính xác.

– Trang 104 bài 39. Bài này đối đáp với bài 38 của Hồ Xuân Hương. Bấy lâu ngưỡng mộ nay tương phùng với nhau. Được tiếp dung nghi chàng đường đường chính chính như mặt trời mọc hướng chính đông.(Bấy lâu ngưỡng mộ nay tương phùng, Được tiếp dung nghi: nhật chính đông) dịch là: “Lại tiếp dung nghi lúc rạng đông”, tôi cho là không đúng, vì từ Tam Đái đi đến Cổ Nguyệt Đường đi bằng thuyền. Trần Phúc Hiển phải đi ban đêm thì mới đến Thăng Long lúc rạng đông. Ngày xưa quan đi trấn nhậm thì ngày đi, đêm dừng thuyền nghỉ. Vả lại gặp nhau lúc rạng đông thì có gì để nói do đó nhật chính đông có nghĩa là mặt chàng đường đường chính chính như mặt trời mới mọc, chứng tỏ Hồ Xuân Hương rất trân trọng người bạn tình của mình. Bài này tôi dịch như sau:

Bấy lâu ngưỡng mộ nay tương phùng,
Được tiếp dung nghi: nhật chính đông.
Nhã ý biết nhau lòng đạm bạc,
Chén tình vừa nhấp đã say nồng.
Châu ta thanh khí cùng tương đắc,
Chung đúc tài tình một chữ đồng,
Tay nắm nói đi, chàng chớ ngại,
Lục giang một biệt cách ngàn trùng
.

– Trang 105 bài 40. Bài này là bài hoạ của Hồ Xuân Hương hoạ lại bài 41 của Trần Quang Tĩnh. Bài 41 Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh trấn nhậm tại Nam Định từ tháng giêng năm Đinh Mão (1807) đến tháng 4 năm Kỷ Tỵ (1809) được hai năm bốn tháng, ông bị bệnh xin về nghỉ. Ông lên Thăng Long cáo từ quan Tổng Trấn Bắc Thành nhân đó ông đến từ biệt Xuân Hương. Xuân Hương bày tiệc dưới trăng tiễn đưa. Hai câu 5, 6 bài 41.” Ta thẹn không tài thơ Bạch Tuyết, Khen bạn duyên cao sinh Cửa Son”. Điển tích Bạch Tuyết (tuyết trắng) và Dương Xuân là hai khúc hát do Sư Khoáng thời Xuân Thu Chiến Quốc làm ra Tống Ngọc viết: khi hai khúc hát này hát ra cả nước chỉ năm ba người hoạ theo được. Ý nói Xuân Hương có tài làm những bài thơ hay vần điệu ít người hoạ được. và khen bạn có duyên cao sinh cửa nhà quyền quý dòng dõi quan Hoàng Giáp Hồ Sĩ Đống, nhiều đời làm quan to. Bài 40 là bài thơ hay nhất thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương, dùng những điển tích: Phượng Cầu, Hán Khuyết, Hồ Môn, Sảnh Nữ thật tài tình. Nhất là hình ảnh Sảnh Nữ thoát xác đi theo chồng. Trần Quang Tĩnh đã quyến dụ nàng như Tư Mã Tương Như gảy khúc Phượng Cầu Kỳ hoàng, Xuân Hương chờ đợi chim Khách báo tin, nhưng chàng không tới? Vì sao chàng không như Tào Tháo chuộc tiếng kèn nàng Thái Diệm về đất Hán. Lòng thiếp tự thẹn đã vượt ra ngoài khuôn mẫu vọng tộc họ Hồ. Chia tay nhau hôm nay lòng thiếp lưu luyến. Hồn ngất ngây muốn thoát xác như nàng Sảnh Nương để đi theo cùng chàng (về Gia Định).

– Trang 109 bài 42. Thổ phượng tài cao nhất thế kinh. Bài thơ này của Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán làm khi mới tới gặp Hồ Xuân Hương. Từ kinh đô Phú Xuân mới đến Thăng Long, nghe nàng tiếng danh vang như chuông (thính huyền linh) nay mới được gặp. Bài 43 Hồ Xuân Hương sử dụng chữ “quán nhĩ linh” có nghĩa là ăn trộm bịt tai đi trộm chuông thật là dí dõm, khiêm nhường và tài tình. Tài tôi thẹn kém có ai kinh đâu. Mười năm qua, chẳng qua tôi lận đận trong gió bụi phong trần như ăn trộm bịt tai đi trộm chuông. Mười năm gió bụi lận đận của Hồ Xuân Hương là năm nào? Tôi cho rằng đó là thời điểm từ 1801 đến 1811. Từ lúc chia tay với Mai Sơn Phủ, có lẽ đã chết trong chiến tranh lúc nhà Tây Sơn sụp đổ. Hồ Xuân Hương tản cư lên Vĩnh Phú, làm lẽ Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà. Sau khi nhận được bài thơ Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du năm 1804, nàng dứt khoát không buồn khổ và chết như nàng Tiểu Thanh. Xuân Hương bỏ Tổng Cóc, “dù anh có cho tôi ngàn vàng tôi cũng như cóc bị bôi vôi không bao giờ về lại với anh” (Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi). Xuân Hương về lại Tây Hồ viết bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn trả lời bài Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du. Xuân Hương có mang 6 tháng, sinh con, con chết.

Xuân Hương mở hiệu sách ở Nam phố gần trường ông Nghè Phạm Quý Thích và chùa Lý Quốc Sư, hiệu sách ế ẩm, nàng lại gia nhập vào tầng lớp thương gia phụ nữ đem sách vở, giấy, lụa, lĩnh đen làng Nghi Tàm bán cho các hội làng, các phú hộ các nơi. Xuân Hương đi rất nhiều, trên đường đi đùa vui với bạn bè đã để lại những bài thơ đùa bỡn. Những bài thơ được truyền tụng rộng rãi vì thế Xuân Hương gọi mình là “ăn trộm bịt tai đi trộm chuông” (quán nhĩ linh) làm gì ai cũng nghe cũng biết. Năm 1811 tình hình vùng Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ bất an vì có cuộc khởi loạn của Đặng Trần Siêu, Võ Đình Lục (1810-1822) thường chận đường cướp của các thương nhân. Cũng là năm Tử Minh mất, người bạn gia đình thân nhất, (không ruột nhưng mà thương quá ruột) đã để lại lớp học, làng Nghi Tàm lại mời Xuân Hương dạy học, danh tiếng Xuân Hương lại lên vì có những quan lớn, những danh sĩ đến thăm cầu duyên: (Nguyễn Du, Trần Quang Tĩnh, Tốn Phong, Trần Phúc Hiển, Trần Ngọc Quán…) Thơ truyền tụng có những bài Xuân Hương làm lúc thanh xuân như: Con cua, bánh trôi, thiếu nữ ngủ ngày, giếng nước… Phần lớn những bài đặc sắc làm trong mười năm lận đận: Lấy chồng chung, Già kén kẹn hom, Dệt vải tát nước, Cô hàng sách, Tranh Tố nữ, Cái quạt, Quán Khánh, Qua sông phụ sóng, Chửa hoang, Kẽm Trống, Đá Ông Chồng Bà Chồng, Vịnh Chùa Hương Tích, Đèo Ba Dội.. Và những bài viết vào cuối đời mang tâm sự người goá bụa: Thả thuyền chơi trăng, Chiếc bách, Tự tình, Khóc Phúc Hiển..

– Trang 112 bài 44 “Ma diệt thông minh giảm kiến linh” là bài thơ Hồ Xuân Hương tâm sự cùng Hiệp Trấn Trần Ngọc Quán, nàng xem người đồng hương như anh, vì nàng đã có nơi, sẽ về Yên Quảng.

Về phần phụ lục có vài điểm cần lưu ý:

– Trang 119, Minh Thanh là bút hiệu một nữ bác sĩ, và là một nhà thơ có xuất bản thơ bằng Pháp ngữ sinh sống tại Paris. Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn trong Tình sử Hồ Xuân Hương. Tạp Chí Khoa Học Xã Hội Paris 1983 trang 127 có ghi rõ: Tình bạn Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du vào khoảng 1790-1793, do đó bài Mộng đắc thái liên, trong Nam Trung tạp ngâm, Nguyễn Du làm khoảng năm 1805 ở Phú Xuân, nhìn hồ sen hồ Tịnh Tâm mà nhớ đến những kỷ niệm đi hái sen với Hồ Xuân Hương ở Nghi Tàm, chứ không phải là mối tình khoảng năm 1804-1813.

– Trang 136, Trần Phúc Hiển không phải là người chồng đầu của Hồ Xuân Hương mà là người chồng thứ ba (1816-1819). Hai người chồng đầu là Thầy lang xóm Tây làng Nghi Tàm, bài Bà Lang khóc chồng khoảng năm 1796, thầy Lang mất sớm. Và người thứ hai là Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà ở Vĩnh Yên khoảng năm 1802-1804.

* * *

Tóm lại Lưu Hương ký do Tổ Hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ ra đời năm 2012, là một công trình, đáng hoan nghênh. Nhưng nếu độc giả đọc thơ Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương ký không thấy hay thì nên tìm trên internet các bản dịch, và phiên âm trong các bài viết khác để so sánh. Ví dụ: câu: “Thức vàng đá nọ treo tăng giá” của GS Nguyễn Ngọc Bích đọc lên nghe như thơ của Mã Giám Sinh, “cò kè bớt một thêm hai” đối đáp với bà mối. Thơ Lưu Hương ký của Hồ Xuân Hương đọc nghe trang trọng “Thử vàng đá nọ treo tầng giá”. Thơ Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương ký hay và hay tuyệt vời, mỗi bài thơ như một viên bích ngọc hoàn hảo không thể đổi một chữ, nếu bạn đọc thấy dỡ là lỗi tại GS Nguyễn Ngọc Bích và ông Đào Thái Tôn. Tác giả bài này cũng xin lỗi GS Bích, bất đắc dĩ phải làm công việc nhặt sạn trong một quyển sách, xin GS tha thứ và xem đây cũng là một “ngâm dỡn khúc”.

TS Phạm Trọng Chánh
Tiến Sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V Sorbonne

4

HỒ XUÂN HƯƠNG GÓC KHUẤT


Lại nói về Hồ Xuân Hương góc khuất; Hồ Xuân Hương đời thơ. Nguyễn Du Hồ Xuân Hương là tri âm tri kỷ, là tiếng nói yêu thương khát vọng của con người. Chuyên luận này tiếp nối Nguyễn Du trăng huyền thoại; Nguyễn Du niên biểu luận; Nguyễn Du tiếng tri âm; Nguyễn Du thời Tây Sơn; Nguyễn Du thơ chữ Hán; Nguyễn Du tư liệu quý Tôi tập dịch bài thơ của Hồ Xuân Hương gửi Mai Sơn Phủ mà thấm thía sâu sắc câu chuyện tình cảm động bền vững với thời gian. (Tiến sĩ Phạm Trọng Chánh khuyên rằng ” Nhưng nếu độc giả đọc thơ Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương ký không thấy hay thì nên tìm trên internet các bản dịch, và phiên âm trong các bài viết khác để so sánh“, nên tôi cũng mạnh dạn lưu theo bản dịch thơ của riêng mình chọn để bài viết đỡ dài, mong bạn đọc thông cảm) https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ho-xuan-huong-goc-khuat/

HOA SEN DÂM BỤT TRẮNG
Hoàng Kim


Trắng muốt thật tươi mừng Thầy ạ
Bụp hay Dâm Bụt, ý nào hay ?
Xuân Hương sen nở trong bùn ngấu
Sen trắng Tịnh Tâm Huế đẹp hoài.

Hồ Xuân Hương đời thơ nghiên cứu này góp phần tổng luận thông tin và tìm hiểu sáng tỏ các chứng cứ sự thật lịch sử. Tài liệu gồm nhiều chuyên mục, xin lần lượt trích đăng thành ba bài để thuận tiện sự góp ý, xem tiếp Hồ Xuân Hương đời thơ http://hoangkimlong.wordpress.com/category/ho-xuan-huong-doi-tho/

Bài viết mới trên DẠY VÀ HỌC
https://hoangkimvn.wordpress.com bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
Quà tặng cuộc sống yêu thích
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

.

.