Đọc lại và suy ngẫm Vận nước


VẬN NƯỚC

Hoàng Kim

Cứ đem lòng dân mà đo vận nước
, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đặt vấn đề “Nếu tình hình tham nhũng và suy thoái không được loại trừ, Đảng này, chế độ này, đất nước này sẽ đi về đâu?”. Báo Tuổi trẻ đăng tin. “Khẩu chiến tổng kết vụ Thăng – Thanh”. Bài viết của luật sư Nguyễn Duy Bình (Văn phòng LS Duy Trinh-TP HCM) khá khách quan, có cái nhìn vừa tổng quát vừa sâu sắc với tư duy của một luật sư thực sự: vì luật pháp, vì nhân dân: Hằng Thanh nhận xét. Đọc lại và suy ngẫm Vận nước.

Mấy năm trước tôi viết chuyên mục “Đọc lại và suy ngẫm” có bức ảnh “Bình minh Đại Lãnh” trò chuyện vận nước thịnh suy các triều đại và người chép sử.  “Nỗi niềm tác phẩm đỉnh cao” là tham luận của nhà văn Hoàng Quốc Hải tại Đại hội 7 Hội Nhà văn Việt Nam năm 2005, in trong sách KẺ SĨ TRƯỚC THỜI CUỘC xuất bản năm 2014, được nhà văn Ngô Minh giới thiệu trên “Quà tặng xứ mưa“.  Nhà văn Hoàng Quốc Hải là tác giả của hai bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ “Tám triều vua Lý“ và ““Bão táp triều Trần“ nổi tiếng với 6.442 trang sách, viết về nhà Lý từ khi khởi nghiệp đến khi kết thúc (1009– 1225) trải dài 216 năm, và nhà Trần từ khi ra đời cho đến khi kết thúc sứ mệnh lịch sử (1226-1400) trải dài 175 năm tồn tại trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Tôi đồng tình với nhà văn Hoàng Quốc Hải tác phẩm văn chương đỉnh cao đòi hỏi nhà văn phải có phải có tâm huyết và tài năng lớn, trí tuệ siêu việt, nhân cách cao thượng .tầm tư tưởng phải vượt thoát khỏi sự cám dỗ đời thường. Tôi thích Tự bạch của củ Nguyễn Hiến Lê học và viết “Xã hội bao giờ cũng có người tốt và kẻ xấu. Như Kinh Dịch nói, lúc thì âm (xấu) thắng, lúc thì dương (tốt) thắng; mà việc đời sau khi giải quyết xong việc này thì lại sinh ra việc khác liền; sau quẻ Ký tế (đã xong) tiếp ngay quẻ Vị tế (chưa xong). Mình cứ làm hết sức mình thôi, còn thì để lại cho các thế hệ sau.Hồi trẻ, quan niệm của tôi về hạnh phúc là được tự do, độc lập, làm một công việc hữu ích mà mình thích, gia đình êm ấm, con cái học được, phong lưu một chút chứ đừng giàu quá. Nhưng hồi năm mươi tuổi tôi thấy bấy nhiêu chưa đủ, cần thêm điều kiện này nữa: sống trong một xã hội lành mạnh, ổn định và tương đối thịnh vượng”

‘Bình minh Đại Lãnh’ là câu chuyện Ngọc phương Nam với Nam Tiến của người Việt. Tôi thường đọc lại và suy ngẫm những bài học lịch sử về lòng dân và vận nước để an nhiên thung dung giữa đời thường.

Hoàng Kim

 

 


CỨ ĐEM LÒNG DÂN MÀ ĐO VẬN NƯỚC
Trương Tấn Sang

Trải qua mấy nghìn năm dựng và giữ nước, dân tộc ta đã viết nên những trang sử hào hùng. Nhưng cũng trên chặng đường dài hàng chục thế kỷ ấy, dân tộc ta cũng từng nếm trải biết bao nỗi cay đắng, gian truân.

Lịch sử không chỉ là những cái đã qua, mà còn là người thầy dạy cho chúng ta hiểu hiện tại và giúp chúng ta dự báo cả tương lai. Những bài học từ lịch sử còn giúp chúng ta tự nhận thức chính mình…

Ngẫm nghĩ về đất nước thịnh, suy

Nhiều năm công tác tại đất Thăng Long ngàn năm văn hiến, tôi thường đi ngang qua Hoàng thành, qua Hồ Tây, khi sáng sớm tinh sương hay lúc chiều nắng tắt. Có lúc tôi dừng lại bên những dấu tích của thời đại vàng son Lý – Trần, hoặc ngắm nhìn Hồ Tây sương khói, ngẫm nghĩ về những thời kỳ thịnh, suy của đất nước, về những lẽ hưng vong của thời cuộc.

Cứ mỗi lần như vậy, trong đầu tôi lại thoáng hiện lên câu thơ “Người lính già đầu bạc, kể mãi chuyện Nguyên Phong” (Bạch đầu quân sĩ tại, vãng vãng thuyết Nguyên Phong) trong bài thơ Xuân nhật yết Chiêu Lăng (Ngày xuân thăm Chiêu Lăng) của vua Trần Nhân Tông.

Câu chuyện thời Nguyên Phong phá giặc Mông Cổ, trận đánh của người Việt làm kinh động thế giới, vẫn luôn được các lão chiến binh kể lại cho con cháu và trở thành điểm tựa sức mạnh để quân dân Đại Việt tiếp tục thắng cường địch Nguyên – Mông lần hai, lần ba.

Lịch sử luôn có một sức mạnh như thế! Những giây phút thả mình vào lịch sử cũng đã hình thành trong tôi nhiều suy nghĩ và hành động.

Vừa may, khi có anh bạn vong niên tặng bộ tiểu thuyết lịch sử Bão táp triều Trần của nhà văn Hoàng Quốc Hải, tôi đọc và thấy nhiều điều tâm đắc. Tiểu thuyết là sáng tạo của nhà văn, nhưng nó phản ánh thực tại đời sống và mang lại những chiêm nghiệm quý giá.

Nhân vật Hoàng tiên sinh trong Bão táp triều Trần nói với Đức ông Trần Thủ Độ: trì quốc chứ không phải trị quốc; trì quốc khó hơn nhiều, làm được điều đó mới đảm bảo được sự lâu bền, mới là sáng nghiệp tổ tông. Giữ nước là công việc của trăm họ, của muôn dân, còn trị nước chỉ là công việc của một số ít người.

Triều đình nào cũng thế, vua nào cũng vậy, lập thân, lập quốc bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng khi đã nắm quyền tất thảy đều phải xây dựng tính Chính Danh: khi nhà Trần soán ngôi nhà Lý ấy là bởi nhà Lý lúc ấy đã mạt, không còn điều khiển, kiến thiết được quốc gia, giặc giã nổi lên khắp nơi, ngoại bang nhòm ngó.

Nhà Trần lên ngôi định đoạt, cơ đồ vững như bàn thạch ấy là bởi xã hội lấy lại được thế quân bình, dân chúng an cư, lạc nghiệp, triều đình tựa được vào lòng dân. Cứ đem lòng dân mà đo vận nước thì luôn chính xác.

Không đan xen tình riêng vào việc công

Năm 1258, sau hơn 30 năm xác lập vương triều, Trần Thái Tông, hoàng đế đầu tiên của nhà Trần, đã cùng với tôn thất vực dậy được một dân tộc vốn ốm yếu, loạn lạc giai đoạn cuối đời Lý Huệ Tông, trở thành một cường quốc được lân bang nể trọng, đủ sức lãnh đạo toàn dân đánh bại đạo quân Mông Cổ hùng mạnh.

Kỳ tích đánh bại đế quốc Nguyên – Mông dưới triều Trần không dừng lại ở đó. Năm 1285 và 1288, đội quân bách chiến bách thắng, vó ngựa giẫm nát khắp Á – Âu Nguyên – Mông đã phải dừng lại và thảm bại trước quân và dân nhà Trần.

Thắng lợi của Đại Việt trước đại quân của một đế chế hùng mạnh vào bậc nhất thế giới thời bấy giờ đã cho thấy sức mạnh vô địch của nhân dân ta và chỉ ra một chân lý của lịch sử dân tộc là một khi đã trên dưới đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức (lời Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn) thì không kẻ thù nào có thể khuất phục được dân tộc ta.

Dù là nhân vật lịch sử đem đến nhiều tranh cãi, nhưng Trần Thủ Độ cũng nổi tiếng đức độ, công tư phân minh, biết nghe lời phải trái, cương trực. Khi là thái sư thống quốc, trụ cột triều đình, ông đã lệnh chặt ngón chân để phân biệt cháu của vợ mình là Linh Từ Quốc mẫu với những tiểu quan nhỏ khác, vì kẻ này nhờ Quốc mẫu xin một chân Câu đương, một chức dịch nhỏ ở làng xã, khiến kẻ này kêu van mãi mới được tha.

Đây là người đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, không đan xen tình riêng vào việc công. Cũng vẫn nhân vật Hoàng tiên sinh trong Bão táp triều Trần đã khuyên Trần Thủ Độ trước khi chia tay rằng việc tối kỵ là chỉ san định những điều có lợi riêng cho các người cầm quyền, mà thiệt hại cho dân chúng, đấy sẽ là đầu mối của sự loạn.

Tránh được việc tối kỵ đó đã giúp cho nhà Trần kéo dài 175 năm, nhưng hỡi ôi, cũng vì không làm được điều răn dạy đó mà Trần triều rốt cục cũng bị sụp đổ… Âu cũng là bài học cho hậu thế.

Hơn 100 năm kể từ vị hoàng đế đầu tiên của Trần triều, vào buổi sáng sớm cái ngày mà quan Tư nghiệp Quốc Tử giám Chu An (Chu Văn An), bậc quốc sư dạy dỗ cho hai hoàng đế Hiến Tông và Dụ Tông, phải chấm tay áo gạt nước mắt, treo mũ ở cửa Huyền Vũ rồi về quê dạy học, kinh thành Thăng Long vẫn vắng lặng.

Tờ sớ mà ông liều thân xin chém đầu 7 tên gian thần đầu triều vẫn nằm im đâu đó trong mật viện hay trên long án… Đó cũng là cái ngày báo hiệu cho sự lung lay và sụp đổ của vương triều Trần từng một thời rực rỡ.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: Dụ Tông ham chơi bời, lười chính sự, quyền thần nhiều kẻ làm trái phép nước, An khuyên can Dụ Tông không nghe, bèn dâng sớ xin chém 7 tên nịnh thần, đều là những kẻ quyền thế được vua yêu. Người bấy giờ gọi là Thất trảm sớ. Sớ dâng lên nhưng không được trả lời, ông liền treo mũ về quê.

Đại Việt sử ký cũng ghi nhận dù không làm quan nữa nhưng Chu Văn An vẫn nặng lòng với vận nước, mỗi khi có triều hội lớn ông lại về kinh sư; những dịp ấy vua thường muốn trao cho ông tham gia chính sự, song ông nhất quyết không nhận, vật phẩm ban tặng thì thường đem cho lại người khác.

Tiên nhân đã dạy qua câu đối Tết: Tri túc tâm thường lạc, vô cầu phẩm tự cao (biết là đủ, không tham lam thì tâm lúc nào cũng tĩnh tại, không xin xỏ thì phẩm giá tự nó đã cao trọng) là vậy.

Đền Thái Vi ở cố đô Hoa Lư, Ninh Bình, gắn liền với lịch sử triều đại nhà Trần – Ảnh: HUỲNH THU DUNG

Nguyên nhân suy vong

Cơ đồ mà thái sư Trần Thủ Độ dày công khai môn dựng nghiệp, trải các đời vua Trần thống lĩnh toàn dân đoàn kết ba lần đánh bại Nguyên – Mông, tiếc thay, lại rơi vào tay Dụ Tông, bậc quân vương hoang dâm xa xỉ.

Dẫu cho tôi có làm đúng phận tôi trung, nhưng vua không còn thực hiện phận làm vua sáng, ghét bỏ người hiền, không ưa lời nói thẳng, trọng dụng kẻ bất tài, để gian thần lộng hành, tham nhũng tràn lan… thì cái Danh đã không còn Chính nữa. Mạt lộ không còn xa.

Nhìn lại lịch sử, các triều đại trị quốc tuy có khác nhau nhưng sự suy vong nói như Chu An, đều có nguyên nhân giống nhau như khuôn đúc, từ chỗ “không ưa lời nói thẳng, ghét người hiền, bỏ người tài, khinh dân, nghi ngờ kẻ sĩ, trọng dụng kẻ bất tài, vô đạo”.

Dụ Tông chết (1369) để lại di họa, nhà Trần tồn tại thêm 31 năm với 5 đời vua, đến năm 1400 mất vào tay nhà Hồ. Nhà Hồ sau khi giành ngôi báu làm được không ít việc, nhưng được Nước mà không được Dân nên cũng chẳng giữ được bao lâu, chỉ vỏn vẹn 7 năm rồi lại để đất nước rơi vào tay giặc Minh.

Ở giai đoạn lịch sử đất nước tiếp theo, không giống với nhà Trần và nhà Hồ, nhà Lê bước lên vũ đài chính trị trên cơ sở thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống quân Minh xâm lược. Các lãnh tụ nghĩa quân được xem như những vị cứu tinh đưa dân tộc thoát khỏi họa làm nô lệ cho ngoại bang.

Như một lẽ đương nhiên, triều đại do những người anh hùng lập ra được nhân dân tôn thờ như những giá trị thiêng liêng. Triều Lê với những vị hoàng đế anh minh như Lê Thánh Tông, người lệnh cho danh sĩ Thân Nhân Trung soạn văn bia với câu “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, đã dựa vào các nhân tài để tạo dựng hàng loạt những giá trị văn hiến truyền lại cho đời sau, đưa Đại Việt lên hàng cường quốc trong khu vực.

Vậy nhưng chính triều đại ấy rồi cũng sụp đổ hoàn toàn vào cuối thế kỷ XVIII. Con đường đi tới quyền lực và đưa đất nước lên tới đỉnh cao hưng thịnh của các triều đại rất khác nhau, nhưng nguyên nhân suy vong thì chẳng khác nhau là mấy. Đó là do tài năng yếu kém và đạo đức suy đồi của những người cầm quyền.

Tiếp tục phanh phui, gột rửa nhem nhuốc, tiêu cực

Hôm nay chúng ta bước sang một năm mới với một tâm trạng tươi tắn, niềm tin trong nhân dân đã trở lại, sức khỏe nền kinh tế có phần hồi phục, vị thế đất nước được lan tỏa rộng rãi. Nhìn lại năm ngoái, phải khẳng định một điều, những gì Đảng ta đã làm trong công tác cán bộ và xây dựng Đảng là đúng với mong muốn và nguyện vọng của toàn dân.

Cũng cần khẳng định rằng việc phanh phui, gột rửa những nhem nhuốc, tiêu cực sẽ không dừng lại, mà từ đây, với niềm tin đã được xốc dậy, cả đất nước sẽ đồng lòng, chung sức diệt trừ giặc nội xâm.

Chẳng phải trong nhân dân, trong mỗi đảng viên đã luôn bất bình và phẫn nộ trước nạn tham nhũng, suy thoái? Chẳng phải chúng ta đã chứng kiến những kẻ có lòng tham vô đáy lợi dụng kẽ hở của chính sách, lạm dụng quyền lực để móc túi nhân dân, rồi chính những kẻ đó và bè cánh lại tìm mọi cách để “chui sâu, leo cao” hơn nhằm bảo đảm cho khối tài sản ăn cắp đó tiếp tục sinh sôi, nảy nở?

Nếu tình hình tham nhũng và suy thoái không được loại trừ, Đảng này, chế độ này, đất nước này sẽ đi về đâu? Người chép sử không bao giờ viết chữ “nếu”. Chính vì vậy mà ngay lúc này, Đảng và những người nắm giữ vai trò chèo lái đất nước phải kiên quyết hành động.

Nhân dân luôn đứng bên cạnh Đảng, đồng lòng đi theo Đảng bằng cả lý trí và trái tim để thực hiện đến cùng cuộc đấu tranh này. Mỗi chúng ta rồi đây đều phải đứng trước sự phán xét công bằng của lịch sử, của dân tộc.

Với niềm tin đó, chúng ta cùng phấn khởi bước sang năm Mậu Tuất 2018.

5 nguy cơ dẫn đến quốc gia suy vong

Vào thời Lê Trung Hưng, nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) có tổng kết 5 nguy cơ dẫn đến quốc gia suy vong là: Trẻ không kính già, trò không trọng thầỵ, binh kiêu tướng thoái, tham nhũng tràn lan, sĩ phu ngoảnh mặt.

Cả 5 điều ấy đều là những yếu tố bên trong. Dân tộc Việt Nam không bao giờ sợ giặc ngoại xâm, chỉ sợ những người cầm quyền không đủ dũng khí để tự sửa mình, để thực hành nghiêm khắc nội bộ.

Tìm hiểu lịch sử là con đường đưa chúng ta đến với kho tàng những kinh nghiệm vô giá mà cha ông ta đã đúc kết bằng cả mồ hôi và xương máu.

KHẨU CHIẾN TỔNG KẾT VỤ THĂNG THANH
Nguyễn Duy Bình

Mấy ngày qua tôi không có thời gian lập luận, tuy nhiên thấy thiên hạ tung hê, ngụy biện, bắt bẻ … nhiều quá nên cuối cùng cũng phải có mấy lời:

Thứ nhất, Vu Hai Tran không nên cho rằng xử tội “cố ý làm trái” là trái nguyên tắc. Anh nên nhớ Quốc Hội là nơi đại diện cho toàn dân và có toàn quyền quy định xử lý kẻ vi phạm. Mặt khác, luật không quy định nguyên tắc hồi tố, đó là nguyên tắc chung nhưng để xử lý các quan hệ cụ thể, rất cần thiết có nghị quyết điều chỉnh (luật, nghị quyết đều do quốc hội ban hành – có giá trị pháp lý như nhau). Thời kỳ quá độ, chuyển tiếp cần áp dụng nghị quyết để xử lý, tránh bỏ lọt, bao che tội phạm làm nhân dân phẫn uất, cụt hứng. Mặt khác, hiến pháp quy định mọi công dân đều có quyền bình đẳng, phải được hưởng quyền như nhau, phải được xử lý như nhau. Họ vi phạm thì họ phải bị xử lý và không xử tội này theo luật cũ thì cũng phải bị xử tội khác theo luật mới nên chẳng có gì gọi là bất bình đẳng. Chẳng lẽ để cho bọn chúng thoát lưới trời ?!

Thứ hai, thiên hạ hãy an tâm về mức án. Hiện khung hình mênh mang, quan tham rộng bước; tòa, viện đã thấm nhuần tư tưởng xử lý của đảng nên xử 1 lần hay 2 lần thì cũng chỉ giơ cao, đánh khẻ nhằm giáo dục, răn đe, kìm chế, tránh gây hận thù giữa các phái, bảo toàn lực lượng … và tránh vỡ bình. Thiên hạ hãy an tâm, giả sử xử 2 lần và tổng hợp thành 30 năm tù thì cũng chưa xứng với hậu quả do tội phạm gây ra.

Thứ ba, thưa các vị luật sư bào chữa ! hàng ngày chúng ta đồng lòng chống giặc nội xâm, căm thù bọn bán nước, hại dân, vơ vét cho riêng mình; chính vì vậy, mỗi khi bắt được những kẻ đó chúng ta nên đứng về phía nhân dân cầu mong cho cơ quan tố tụng vạch rõ những vi phạm của chúng. Tôi biết thiên chức của nghề bào chữa là gỡ tội nhưng đứng trước thời cuộc loạn lạc này các vị nên vì pháp luật, vì nhân dân vì đó là lý do, lý tưởng, mục đích cao cả nhất và lúc đó một là từ chối, hai là cãi những gì có dấu hiệu oan sai. Các vị không nên bắt bẻ những thủ tục thiếu sót, không nên bám vào những lập luận còn khập khiểng, không nên đỗ lỗi cơ chế, không nên ngụy biện theo hướng có tội thành có công … chỉ nên đề nghị CQTHTT khắc phục để chứng minh rõ tội phạm và đề nghị xử đúng người, đúng tội.

Thứ tư, các vị luật sư bào chữa hoàn toàn không nên đề nghị miễn TNHS cho lũ tội phạm này vì bọn chúng mới đích thực là kẻ bán nước, hại dân, cầu vinh cho bản thân, dòng họ. Chính bọn chúng là những kẻ đã phá tan hoang các tập đoàn cha chung, chia sẻ lợi ích, ăn cướp cả mồ hôi, công sức, nước mắt của toàn thể nhân dân và cả máu của hàng triệu liệt sỹ trên hai chiến tuyến. Các luật sư cũng không nên cho rằng trong số bọn chúng có kẻ không tham. Tôi thử hỏi nếu chúng không tham thì làm sao sống vương giả được vậy? Dù lập luận, chứng cứ của phía buộc tội có phần nào đó thiếu thuyết phục nhưng trong thâm tâm nhân dân Việt ai chẳng biết, chẳng hiểu bọn chúng đã từng tham lam, vơ vét. Tôi mà là điều tra viên, KSV tôi sẽ không để cho các luật sư có nhiều đất tranh luận vậy đâu. Mặt khác, nếu được miễn TNHS thì nhân dân còn tin vào đâu nữa ?! Đề nghị phải có lý, có tình, còn đề nghị để gây sốc, để thiên hạ cười, để cho vui thì hoàn toàn không nên đề nghị.

Thứ năm, không nên đỗ lỗi cho cơ chế, không nên đổ tội cho cấp trên mà những ai vi phạm đều phải bị xử lý (kẻ trước, người sau, kẻ bị bỏ sót, ta ráng chịu đau). Nếu đỗ lỗi cho cơ chế, cho cấp trên chứng tỏ họ thiếu chí khí hoặc bất tài, vô dụng hoặc cố ý đổ tội cho người khác, trốn tránh trách nhiệm của mình. Trong vụ này, Bộ chính trị ra chủ trương chung, Chính phủ ra quyết sách triển khai và các Tập đoàn có nhiệm vụ xây dựng đề án, tham mưu, góp ý triển khai các dự án. Ông Thăng, ông Thanh và đám cận thần là những cán bộ cấp cao, bằng cấp đầy đủ, mang nhiệm vụ của tập đoàn, ăn lương bổng nhà nước – được dân trả công thì các ông ấy phải có phương án khả thi, phải biết phản biện, phải biết tuân thủ phát luật, nguyên tắc làm việc và triển khai phương án kinh doanh. Nếu biết chủ trương mù mờ, chung chung, quyết sách chưa hợp lý thì phải phản biện, phải đề nghị sửa đổi phương pháp, chiến lược, phải xây dựng phương án kinh doanh khoa học; còn nếu các ông này lợi dụng nó để tự tung, tự tác, nhắm mắt làm bừa, để vun vén cá nhân thì trước hết họ phải tự chịu trách nhiệm, không nên đổ lỗi cho ai. Dân bầu, đảng cử, được trả lương thì họ phải có trách nhiệm; họ không phải là vật vô tri, làm bù nhìn, làm tranh vẽ hoặc chỉ là đầu sai nên họ không thể đổ thừa hoặc san sẻ tội trạng.

Thứ sáu, không thể lấy chút công sức trong quá khứ để bao biện, che lấp tội trạng. Nên nhớ rằng họ đã được dân trả lương thì họ phải làm việc và tôi tin rằng trên đất nước này hàng triệu người làm được việc như họ chứ không riêng gì họ. Làm việc thì ít ra cũng phải có kết quả mới tồn tại; làm việc có kết quả tốt thì mới có chút cơ hội được thăng quan tiến chức, trèo cao, hưởng lộc và mới được tăng lương; nếu làm không được, làm bậy thì họ đã bị sa thải từ lâu chứ không để đến tận bây giờ. Có thể ngày trước ông Thăng xông xáo, làm được một số việc và đạt được một số kết quả nhưng suy cho cùng đó là việc một cán bộ, công chức phải làm, một kết quả bình thường mà rất nhiều người nếu được trao cơ hội họ sẽ làm được. Mặt khác, khi xét công là phải xét toàn diện, đừng vì một chút kết quả ban đầu mà cho rằng công ngang tội hoặc lớn hơn tội. Kết quả cuối cùng là các tập đoàn tan nát, nợ nần chồng chất, nền kinh tế lụn bại phải không các vị ? Vậy thì chút công của họ đáng để tâng bốc, ngụy tội hay không?

Thứ bảy, nhiều kẻ giết người hàng loạt khi bị tù, bị xử tử còn hối hận, còn nhớ gia quyến và khóc nức nở đó là vì trong họ vẫn còn chút nhân tâm và nó cũng như lũ quan tham khi vướng tù đày thì chút nhân tâm còn lại sẽ trỗi dậy. Tôi cho rằng đó là giọt nước mắt bình thường của một con người, chỉ đáng để ghi nhận, không đáng để tung hô, thần thánh hóa kẻ khóc lên tận mây xanh. Có những luật sư đã cho rằng 95% những người tham dự phiên tòa đã khóc và lấy con số đó đó để tung hô, thần thánh hóa và đánh lừa dư luận. Xin thưa! tôi không rõ nhân dân tiến bộ có được tham dự hay không nhưng tôi nghĩ rằng 95% đó đại đa số là cán bộ, công chức và người thân quen của bị cáo. Nếu vậy, họ khóc là đúng rồi vì họ cùng một phía và phía đó chỉ là nhóm thiểu số quá ít, không phải là đại đa số quần chúng nhân dân đã bị bọn chúng cướp bóc, hà hiếp, đè đầu suốt mấy chục năm nay. Chính vì vậy, tôi nghĩ rằng nếu những giọt nước mắt đó dành cho dan oan, dân nghèo và tất cả những ai đã bị cướp mồ hôi, xương máu thì mới đáng nể trọng chút lương tri còn lại. Những giọt nước mắt của anh em ông Vươn, Ông Chấn, ông Hiến … của những liệt sỹ trước lúc nhắm mắt mới đáng để thương, để trân trọng và để lưu truyền.
Tôi cũng rất tiếc vì trong thiên hạ sau đó cũng có một số người khóc không đúng chổ.

Thứ tám, ông Thăng có nhận trách nhiệm về mình cũng là điều nên làm vì ông ấy và thủ tướng là kẻ đầu tàu và để chìm tàu, chúng ta không nên khen ngợi với giọng điệu tâng bốc vù một đứa trẻ ít học còn biết nhận lỗi.

Thứ chín, gia cảnh cha bệnh mẹ đau, con nhỏ, trách nhiệm của phu, phụ thì ai mà chẳng gặp trong đời và tất nhiên sẽ được tòa xem xét; mặt khác, đừng vì lời trình bày gia cảnh mà chúng ta tâng bốc ông ấy vì xét cho cùng nếu thương cha, mẹ, vợ, con ông ấy đã không sa vào con đường tội lỗi.

Thứ mười, ông Thăng nhận ra được “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” khi đã quá muộn và xét cho cùng đó là giá phải trả cho lòng tham vô đáy của một con người. Chúng ta không nên vẽ hươu, vẽ vượn vì câu nói này.

Trên đây là một vài ý kiến viết vội nên cũng có thể có những câu chữ, ý, tứ chưa chuẩn xác, mong bạn đọc thông cảm.”

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Advertisements

Đọc lại và suy ngẫm

;

Dương Văn Minh và Ngô Đình Diệm là những nhân vật lịch sử cần được xem xét kỹ khi nghiên cứu Chiến tranh Việt NamChiến tranh Đông Dương. Tướng chỉ huy đảo chính Dương Văn Minh lên nắm quyền lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa sau cuộc đảo chính lịch sử ngày 1 tháng 11 năm 1963 với sự hành quyết Ngô Đình DiệmNgô Đình Nhu. Những ân oán, mâu thuẫn nào của bản thân và đại cục giữa Dương Văn Minh và Ngô Đình Diệm dẫn đến các quyết sách ảnh hưởng dòng chảy của lịch sử?

Trong vô số những khen chê của người đương thời và hậu thế đối với Dương Văn Minh, tôi để ý nhất lời của con trai của ông, Dương Minh Đức, trong một buổi phỏng vấn đã nói về cha mình[3]: “Ông là người không thích làm chính trị, mục tiêu suốt đời của ông là hòa giải, hòa bình dân tộc, nước Việt Nam phải do người Việt Nam làm chủ, vì vậy ngừng chiến là phương cách tốt nhất, bất cứ chính quyền phía nào nắm quyền cũng được, cũng là điều tốt nếu chính quyền đó biết lo cho dân”. “Ông cho rằng: nếu một chiến thắng mà phải đánh đổi bằng hàng triệu sinh mạng đồng bào thì đó không phải là một chiến thắng”. “Ông yêu hòa bình, ông đã nhiệt liệt hoan nghênh sự thành công của Chính phủ Cách mạng trong công cuộc vãn hồi hòa bình cho đất nước vào ngày 2 tháng 5 năm 1975 tại buổi lễ trả tự do cho các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa trong nội các”. “Ông có nguyện vọng được trở về quê hương lúc cuối đời và sống như một người dân Việt Nam bình thường trong dinh thự Hoa Lan vẫn còn nguyên vẹn cùng bạn bè cũ “.

Sự thật lịch sử chỉ có một và lịch sử chỉ có thể xảy ra duy nhất một lần nhưng nghiên cứu lịch sử thì có thể viết đi, viết lại nhiều lần tùy theo góc nhìn của mỗi người và thời đại. Chịu khó lật đi lật lại nghiên cứu lịch sử. Đôi khi có những góc khuất đời người có thể giúp ta hiểu chân thực hơn những sự kiện và nhân vật. Thông tin về Dương Văn Minh và  Ngô Đình Diệm trên đây là tôi đang tra cứu tại các đường link trên Từ điển Bách Khoa Toàn thư Mở Wikipedia Tiếng Việt, dẫn liệu cập nhật đến ngày 6 tháng 11 năm 2015.

Chợt dưng tôi nhớ đến câu thơ ngộ nghĩnh vui vui  như câu đồng dao trẻ con của anh Văn Thanh mà các anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Trọng Tạo và Nguyễn Quang Lập đều thích, dù câu chuyện của tướng Dương không ăn nhập gì với “con chuồn ớt” :

Con chuồn ớt đậu trên cành ớt
Dẫu đỏ hết mình cũng chẳng thể nào cay.

(Nguyễn Trọng Tạo-  Văn Thanh một đường thơ)

Hoàng Kim

CNM365. Chào ngày mới 6 tháng 11 Ngày này năm xưa. Năm 1860, Abraham Lincoln trở thành ứng cử viên đầu tiên của Đảng Cộng hòa giành chiến thắng trong một cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ. Ông là “Người giải phóng vĩ đại”, Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ từ tháng 3 năm 1861 cho đến khi bị ám sát vào tháng 4 năm 1865. Lincoln thành công trong nỗ lực lãnh đạo đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng hiến pháp, quân sự, và đạo đức – cuộc Nội chiến Mỹ – duy trì chính quyền Liên bang, đồng thời chấm dứt chế độ nô lệ, và hiện đại hóa nền kinh tế, tài chính của đất nước. Năm 1962 Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua Nghị quyết 1761 chỉ trích chính sách kỳ thị chủng tộc Apartheid của Nam Phi và kêu gọi toàn bộ các thành viên Liên Hiệp Quốc ngưng các quan hệ quân sự và kinh tế với quốc gia này.  Năm 1963, Chiến tranh Việt Nam: tướng chỉ huy đảo chính Dương Văn Minh lên nắm quyền lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa sau vụ đảo chính ngày 1 tháng 11 và hành quyết Ngô Đình Diệmxem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-2-thang-11 và bài viết chọn lọc: Dương Văn Minh và Ngô Đình Diệm; Nguyễn Du cuộc đời và thời thế. https://t.co/jcdwj3v6od https://t.co/2vsFrok8AJ

CNM365. Chào ngày mới 2 tháng 11. Ngày này năm xưa. Năm 1802, ngày mất Vũ Văn Dũng, danh tướng triều Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam bị xử tử. Năm  1963, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm và người em trai, cố vấn Ngô Đình Nhu bị sát hại trong cuộc đảo chính; xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-2-thang-11 và bài viết chọn lọc: Trung Nga ‘vành đai và con đường’;  Ngô Đình Diệm đọc lại và suy ngẫm; Nguyễn Du đi săn ở núi Hồng.

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Tướng Giáp đọc lại và suy ngẫm

TuongGiapansoChinhTrungTướng Giáp là ẩn số Chính Trung. Cách mạng là sửa lại cho đúng để hợp thời thế. Chí Thiện là Chính Trung dĩ bất biến ứng vạn biến. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491– 1585) trong Trung Tân quán bi ký, viết năm 1543 có nói: Vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê… Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện (xem thêm: Ngày xuân đọc Trạng Trình). Tướng Giáp biết nhiều, tâm đắc với “dĩ công vi thượng”. Tướng Giáp hiểu rõ Chính Trung là Chí Thiện của Hồ Chí Minh.

Tướng Giáp ba lần kiến nghị không nên khai thác bauxite Tây Nguyên. Thư thứ nhất kính gửi đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/1/2009; Thư thứ hai là điện thư gửi Hội thảo bauxite Tây Nguyên. Bức điện thư này được Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đọc tại hội thảo ngày 9/4/2009; Thư thứ ba kính gửi Ban chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, đồng kính gửi Quốc hội và Chính phủ ngày 20/5/2009. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết thư gửi đúng nơi, đúng lúc, viết đúng chính kiến và lương tâm của mình, với văn phong chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc.Tư liệu này hiện đã thuộc về sự thật lịch sử, lưu để đọc lại và suy ngẫm.

Tướng Giáp hồng phúc dân tộc Việt.

Hoàng Kim

(*) chùm ảnh tư liệu về đại tướng Võ Nguyên Giáp.

VoNguyenGiapthu1bauxiteTayNguyen

“Hà Nội ngày 5 tháng 1 năm 2009

Kính gửi: Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ

Thời gian vừa qua báo chí đăng nhiều bài và ý kiến của các nhà khoa học và hoạt động xã hội cảnh báo nguy cơ nghiêm trọng đối với môi trường tự nhiên và xã hội của các dự án khai thác bô-xít trên Tây Nguyên.

Đầu tháng 11-2008 một số nhà khoa học và quản lý có tên tuổi đã gửi kiến nghị đến lãnh đạo Đảng và Nhà nước đề nghị cho dừng các dự án này để nghiên cứu, xem xét lại, cân nhắc lợi hại một cách toàn diện.

Tuy nhiên, các dự án này vẫn đang được triển khai, trong tháng 12-2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường (dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài nghìn tại một dự án).

Cần nhắc lại rằng, đầu những năm 1980 Chính phủ đã đưa chương trình khảo sát khai thác bô-xít trên Tây Nguyên vào chương trình hợp tác đa biên với khối COMECON. Tôi được phân công trực tiếp theo dõi chỉ đạo chương trình này. Sau khảo sát đánh giá hiệu quả tổng hợp của các chuyên gia Liên Xô, khối COMECON đã khuyến nghị Chính phủ ta không nên khai thác bô-xít trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư chẳng những tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bô-xít mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè…) trên Tây Nguyên.

Ý kiến phản biện của các nhà khoa học nước ta vừa qua phân tích trên nhiều phương diện, trong các điều kiện kinh tế kỹ thuật hiện nay cũng đi tới kết luận như các nhà khoa học Liên Xô cách đây 20 năm. Với những cảnh báo nghiêm trọng như vậy, chúng ta cần xem xét các dự án này một cách khách quan – cần đánh giá lại quy hoạch khai thác bô-xít trên Tây Nguyên đến 2025.

Về quy mô, quy hoạch khai thác bô-xít Tây Nguyên từ nay đến 2025 là một kế hoạch lớn, giá trị ước tới gần 20 tỷ đô-la Mỹ, sẽ tác động sâu sắc nhiều mặt còn hơn cả các công trình kinh tế lớn đã có ở nước ta.

Vì vậy nên mời thêm các tư vấn chuyên ngành quốc tế có nhiều kinh nghiệm phối hợp với các nhà khoa học và nhà quản lý của nước ta cùng thẩm định cho khách quan, sau đó báo cáo Bộ Chính trị và Quốc hội xem xét, cân nhắc kỹ càng, không thể chỉ đưa vào đề xuất của các Bộ hay tập đoàn kinh tế.

Vừa qua đồng chí Thủ tướng đã quyết định bác dự án nhà máy thép lớn của Hàn Quốc tại vịnh Vân Phong, khẳng định quyết tâm của Chính phủ phát triển kinh tế bền vững, được đông đảo nhân dân và các nhà khoa học đồng tình, ủng hộ.

Việc xác định một chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng. Tôi đề nghị Thủ tướng cho dừng triển khai các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên và báo cáo Bộ chính trị chỉ đạo tiến hành các nghiên cứu vĩ mô cần thiết làm căn cứ cho mọi quyết định.

Chúc đồng chí mạnh khỏe,

Võ Nguyên Giáp

VoNguyenGiapthu2bauxiteTayNguyen

“Tôi được biết, hôm nay có cuộc Hội thảo về vấn đề bô-xít ở Tây Nguyên do đồng chí Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì.

Tôi cho đây là một vấn đề cực kỳ hệ trọng. Vấn đề này trước đây tôi đã từng nghiên cứu, tôi đã có thư gửi đồng chí Thủ tướng nhưng chưa được trả lời.

Tại cuộc Hội thảo quan trọng này, tôi mong các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà hoạt động xã hội hãy nêu cao trách nhiệm trước dân tộc thảo luận một cách khoa học, nghiêm túc, thẳng thắn để kiến nghị với Đảng và Nhà nước một chủ trương đúng đắn về vấn đề bô-xít Tây Nguyên mà tôi cho là không nên khai thác.

Vì đứng về lợi ích toàn cục và sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước, khai thác sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội, về an ninh quốc phòng.

Xin chúc các đồng chí mạnh khoẻ.

Hà Nội, ngày 09 tháng 4 năm 2009

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

 

VoNguyenGiapthu3abauxiteTayNguyen

VoNguyenGiapthu3bbauxiteTayNguyen

Kính gửi : Ban chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị,

Đồng kính gửi : Quốc hội và Chính phủ

Thời gian qua, tôi đã có thư gửi đồng chí Thủ tướng và điện gửi cuộc Hội thảo khoa học về vấn đề khai thác bô xít ở Tây Nguyên. Vừa rồi, Văn phòng Trung ương theo chỉ đạo của đồng chí Thường trực Ban bí thư đã gửi cho tôi thông báo kết luận của Bộ Chính trị. Tôi đã đọc kỹ bản kết luận, xin có kiến nghị tiếp với Bộ Chính trị và lần này kiến nghị đến Ban Chấp hành Trung ương, đến Quốc hội và Chính phủ :

1. Tôi hoan nghênh Bộ Chính trị đã lắng nghe ý kiến của các đồng chí nguyên lãnh đạo cấp cao của Đảng và các nhà khoa học, đã chủ trương rà soát, điều chỉnh quy hoạch, nêu lên một số yêu cầu quan trọng như : Bảo đảm hiệu quả kinh tế, xã hội, sử dụng thiết bị và công nghệ hiện đại của thế giới, giải quyết nguồn điện, nguồn nước ; đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh quốc phòng cả trước mắt và lâu dài, đến môi trường sinh thái, môi trường văn hoá, chưa chủ trương bán cổ phần cho tập thể và cá nhân người nước ngoài v.v… Và Bộ Chính trị đã thấy tầm quan trọng của chủ trương khai thác bô xít ở Tây Nguyên nên quyết định báo cáo Trung ương và Quốc hội.

2. Tuy nhiên kết luận của Bộ Chính trị nói chung là vẫn tiếp tục tiến hành khai thác bô xít ở Tây Nguyên. Trước mắt làm thí điểm ở Tân Rai – Lâm Đồng, xem xét đánh giá lại Dự án Nhân Cơ Đắc Nông, rồi từng bước triển khai theo quy hoạch.

Vì vậy, tôi xin kiến nghị cụ thể như sau :

Chủ trương khai thác chế biến bô xít ở Tây Nguyên là một vấn đề hết sức hệ trọng sẽ có tác động lớn đến môi trường sinh thái, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đến phát triển ổn định, bền vững của đất nước. Nhiều vấn đề mà Bộ Chính trị nêu lên cho đến nay chưa được nghiên cứu phân tích đánh giá toàn diện đầy đủ và chưa có phương án giải quyết rõ ràng, còn nhiều vấn đề bất cập. Do đó, tôi đề nghị dừng các dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên, kể cả khai thác thí điểm. Nên giao cho Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tập hợp những cán bộ khoa học có liên quan tiến hành một chương trình khoa học nghiên cứu phát triển tổng thể kinh tế – xã hội ở Tây Nguyên, có tính đến quan hệ với vùng Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, trong đó tập trung nghiên cứu vấn đề bô xít Tây Nguyên một cách đầy đủ, toàn diện những vấn đề mà Bộ Chính trị đã nêu lên. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu ấy, Trung ương, Quốc hội mới cân nhắc có nên khai thác hay không nên khai thác. Tôi thiên về chủ trương hiện nay không nên khai thác, chờ khi khoa học phát triển, có công nghệ mới hiện đại hơn sẽ tiết kiệm tài nguyên, hiệu quả cao hơn, an toàn hơn. Hiện nay chưa khai thác bô xít ở Tây Nguyên, dành tài nguyên đó cho thế hệ mai sau và không khai thác bô xít thì chúng ta vẫn tiến hành được công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Tôi đề nghị Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội hãy nêu cao trách nhiệm to lớn của toàn Đảng, toàn dân thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo một cách dân chủ, khoa học. Chỉ quyết định khi đã biết được kết quả nghiên cứu phân tích đầy đủ, toàn diện các vấn đề đặt ra, lắng nghe ý kiến rộng rãi của đông đảo các nhà khoa học, của cán bộ và nhân dân hơn nữa. Làm như vậy là để tránh được quyết định sai lầm, gây nên tai hoạ lớn cho đất nước.

Mong Trung ương và Quốc hội phát huy dân chủ, bàn bạc kỹ lưỡng, có quyết định đúng đắn.

Xin chúc các đồng chí mạnh khoẻ.

Chào thân ái,

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2009

Võ Nguyên Giáp

 

Ghi thêm

GSTranTheThong1ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. Hoàng Kim cám ơn anh Khai Vutrong và xin chia sẻ bài viết TÔI ĐÃ TỪNG LÀ VẬT CÁ ĐỘ nhân ngày luật sư Việt Nam 10 tháng 10. Đây là tư liệu quý về Tư pháp Việt Nam và chuyện liên quan về cụ Vũ Trọng Khánh, người Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tướng Giáp ẩn số Chính Trung thuở làm Phó Thủ tướng phụ trách Khoa học kỹ thuật kiêm kế hoạch hóa gia đình thường đi miền Tây nhiều lần cùng giáo sư Trần Thế Thông và PGS Vũ Trọng Khải. Tướng Giáp có tặng cho Giáo sư Trần Thế Thông tài liệu “Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ sống mãi”. Tướng Giáp hẵn thấu hiểu Hiến pháp Việt Nam năm 1946 và những biến đổi theo chiều hướng nào sau này và vì sao cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh chấp nhận làm biểu tượng giai đoạn cuối để thuận theo xu thế thời cuộc, còn đó bài học cuộc sống thật đáng đọc lại và suy ngẫm. 

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Đọc lại và suy ngẫm

Bình minh Đại Lãnh
BÌNH MINH ĐẠI LÃNH
Hoàng Kim

“Nỗi niềm tác phẩm đỉnh cao” là tham luận của nhà văn Hoàng Quốc Hải tại Đại hội 7 Hội Nhà văn Việt Nam năm 2005, in trong sách KẺ SĨ TRƯỚC THỜI CUỘC xuất bản năm 2014, được nhà văn Ngô Minh giới thiệu trên “Quà tặng xứ mưa“. (Bình minh Đại Lãnh, ảnh Hoàng Kim). Nhà văn Hoàng Quốc Hải là tác giả của hai bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ Tám triều vua Lý và “Bão táp triều Trần nổi tiếng với 6.442 trang sách, viết về nhà Lý từ khi khởi nghiệp đến khi kết thúc (1009–1225) trải dài 216 năm, và nhà Trần từ khi ra đời cho đến khi kết thúc sứ mệnh lịch sử (1226-1400) trải dài 175 năm tồn tại trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Tại sao văn học Việt Nam hiện nay không có tác phẩm đỉnh cao? Tác giả nêu câu hỏi và cuối bài kết luận: “Điều hiển nhiên, tác phẩm văn học đỉnh cao không phải là thứ cầu được, ước thấy. Nó đòi hỏi nhà văn phải có tài năng lớn, trí tuệ siêu việt, nhân cách cao thượng. Hơn nữa, tầm tư tưởng phải vượt thoát ra khỏi sự cám dỗ của đời thường. Nhà văn cỡ này phải có tâm huyết tới mức tử vì đạo. Những phẩm chất trên, các nhà văn Việt Nam đều có cả, nhưng thượng đế ban cho họ hơi ít “.

‘Bình minh Đại Lãnh’ là câu chuyện Ngọc phương Nam với Nam Tiến của người Việt. Tôi thường đọc lại và suy ngẫm về lòng dân và vận nước, những bài học lịch sử

Tình yêu cuộc sống tuyển chọn và giới thiệu để mọi người cùng đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim

NỖi NIỀM TÁC PHẨM ĐỈNH CAO

Nhà văn Hoàng Quốc Hải (*)

TNc: Tham luận này nhà văn Hoàng Quốc Hải đọc tại Đại hội VII Hội Nhà văn Việt Nam. Mười năm trôi qua vẫn còn nguyên “nỗi niềm” ấy. Nhân ĐH IX sắp họp, trang nhà xin giới thiệu cùng bạn đọc ý kiến của tác giả Vương triều sụp đổ….Tại sao văn học Việt Nam hiện nay không có tác phẩm đỉnh cao? Câu hỏi ấy đã bao hàm câu trả lời rồi. Thật ra trên thế giới không phải đã có nhiều quốc gia có nền văn học đỉnh cao. Và cũng không phải thời nào cũng có tác phẩm đỉnh cao.

 

Châu Âu suốt ba thế kỷ ( XVII – XVIII – XIX ), nền văn học xuất hiện nhiều trường phái, đạt nhiều đỉnh cao chói lọi. Nhưng sang thế kỷ XX các đỉnh cao cứ thưa vắng dần, và chỉ còn lại những bình nguyên văn học.

Nước ta không phải không có văn học đỉnh cao. Nhưng người mình thường có tư tưởng vọng ngoại. Cái gì của nước ngoài cũng xem trọng, của ta thì xem thường. Đã thế, người trong nghề lại không chịu thừa nhận ai, ngoài mình. Đó là đầu óc thiếu tự tin, nhưng lại nặng về vị kỷ. Lọai tư duy này làm con người trở nên bé mọn, và thường không được khách quan, sáng suốt.

Mười năm (1932 – 1942) của Tự lực văn đoàn làm nảy sinh các trường phái văn học:

– Lãng mạn.

– Hiện thực phê phán.

– Suy đồi. …

Các trường phái này cọ sát nhau nảy sinh khá nhiều đỉnh cao văn học. Thế nhưng sự đánh giá của cả đương đại và hậu thế khá dè dặt, thậm chí không thừa nhận.

Trong giai đoạn này ta dễ nhận thấy có một nhà văn, nếu ông sinh ở nước khác, và với những cống hiến ấy, đời phải tôn ông là bậc thiên tài. Đó là Vũ Trọng Phụng.

Vũ Trọng Phụng sống và chết trong nghèo khổ. Sinh thời, ông chỉ ao ước: “ Nếu như ở đời có được cơm mà ăn no nhỉ?”. Năm 27 tuổi, ông qua đời vì bệnh lao phổi, để lại một người con và một đống tác phẩm. Không ít trong số mấy chục tác phẩm của ông đạt tầm cao thế giới.

Vậy mà những tác phẩm ấy bị vùi lấp trên nửa thế kỷ, không một lần được tái bản. Bởi một thời gian dài người ta vu cho ông là phần tử Trốt- kít( Trosky ). Tới khi tác phẩm của ông được tái bản, chị Vũ Mỹ Hằng, con gái ông đã ngoài 50 tuổi, chỉ dán mắt nhìn các tác phẩm của cha mình là tài sản chung của xã hội, theo “Luật bản quyền” vừa mới ban hành.

Chị Hằng và chồng đưa phần mộ của cha mình về ngôi vườn tại quê hương, nơi làng Mọc. Ngôi mộ được xây cất đàng hoàng, ốp đá cẩm thạch mà không có bất kỳ một tài trợ nào từ nhà nước và các hội đoàn. Sự thờ ơ đến bội bạc của đương thời và hậu thế khiến nhiều nhà văn thấy nản lòng.

Lại mười năm nữa ( 1986- 1995 ) thường gọi là “văn học thời đổi mới”. Giai đoạn này, các nhà văn Việt Nam bằng văn chương của mình, đã khuấy động toàn xã hội; đem lại cho mọi người một không khí sinh hoạt dân chủ. Công chúng độc giả trong cả nước như bị lên đồng, và họ “ngốn” tác phẩm của nhà văn như người khát trên sa mạc. Báo Văn nghệ in trên 100.000 rồi 200. 000 bản cho mỗi số, vẫn không đủ bán. Tiểu thuyết tirage thấp nhất là 10.000 bản, cao nhất tới gần 100.000 bản cho mỗi đầu sách. Thơ cũng in từ 5000 đến 10.000 bản. Thử hỏi văn chương đó ai viết ? Phần lớn các tác giả của những tác phẩm ấy vẫn còn tồn tại, và một phần không nhỏ có mặt trong Đại hội này.

Thời đó, cái 10 năm vàng son ấy, tuyệt nhiên không có công chúng nào đòi chúng ta phải có tác phẩm đỉnh cao.

Liệu có phải những gì chúng ta viết thời đó đều đã ở đỉnh cao, hay bởi giai đoạn đó văn học đã đề cập một cách thỏa đáng khát vọng của công chúng. Có lẽ vậy. Vấn đề là khát vọng của số đông được thỏa mãn.

Và 10 năm lại đây ( 1996-2005 ), số lượng tác phẩm của các nhà văn phát hành không phải là ít, nhưng không khuấy động được công chúng. Không khí văn học bình lặng như mặt nước ao thu. Khá nhiều tác phẩm rất đáng đọc. Nó tốt cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Nhưng công chúng bạn đọc vẫn cứ thờ ơ, và đòi nền văn học đương đại phải có tác phẩm đỉnh cao. Đòi hỏi đó là nỗi bức xúc của công chúng trước hiện thực xã hội. Bởi soi vào tác phẩm văn học, họ cảm thấy hẫng hụt.

Thật ra, cái nền hiện thực xã hội trong 10 năm gần đây, dư thừa chất liệu cho các nhà văn Việt Nam làm nên tác phẩm đỉnh cao. Đây là cơ hội, dù là cơ hội đem lại nhiều bất hạnh cho số đông, nhưng nếu bỏ qua là một tiếc nuối, một ân hận. Bức tranh xã hội đủ màu sắc. Vui có, buồn có, bi thương có, âm mưu thủ đoạn có, tham nhũng hối lộ có, lừa đảo có, đểu cáng có, bất hiếu bất mục , bất nhân bất nghĩa… không thiếu một loại nào. Đặc biệt lũ cơ hội xuất hiện nhan nhản. Đó là những kẻ tiếm dụng quyền hành để tước đoạt trắng trợn tài sản quốc gia, hối hả tích lũy vốn liếng để mau chân chạy sang hàng ngũ tư bản. và bây giờ chúng đang âm mưu rửa tiền để hợp thức hóa và công khai khối tài sản khổng lồ mà chúng chiếm được bằng các thủ đoạn bất lương. Từ bức tranh xã hội này, công chúng đòi hỏi nhà văn bằng ngòi bút và lương tâm của mình, vạch mặt bọn chúng, “ không cho chúng nó thoát!”. Phải cho tái xuất các gương mặt kiểu “Nghị Quế “, “Nghị Hách”, “Xuân tóc đỏ”, “Bà phó Đoan”, “Bá Kiến”, “Chí Phèo” … thời hiện đại.

Bức tranh hiện thực xã hội phong phú là vậy mà không được phản chiếu trong tác phẩm, vì thế công chúng mới chối bỏ. Và đó là điều tệ hại nhất đối với nhà văn. Đó còn là dấu hiệu báo trước một nền văn học đang vững chắc bước vào giai đoạn suy thoái. Có người đặt vấn đề, hay là nhà nước không đầu tư tiền bạc thỏa đáng cho nhà văn sáng tác?

Không phải vậy. Tiền bạc là cần thiết nhưng không phải là nhân tố cấp bách với nhà văn.

Ta chẳng từng thấy Ngô Tất Tố phải bán non tác phẩm cho nhà xuất bản Mai Lĩnh, để lấy tiền sống đó sao? Lại chẳng thấy Nam Cao, Vũ Trọng Phụng sống trong khốn khó, mà các ông vẫn để lại cho đời những tác phẩm đỉnh cao đó sao?

Thật ra muốn có tác phẩm đỉnh cao, ngoài yếu tố tài năng của nhà văn, còn đòi hỏi xã hội phải chuẩn bị cho nó.

Thời Vũ Trọng Phụng, Nam Cao các mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn dân tộc và đế quốc đã phát triển tới đỉnh điểm. Các trào lưu văn học đua nhau nảy nở thành trường phái mà không có sự gò ép, cấm đoán. Chính quyền thực dân chỉ khống chế các đoàn thể chính trị, cách mạng. Các nhà văn như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Xuân Sanh… tiêu biểu cho các trường phái đều có những tác phẩm đỉnh cao.

Muốn nói gì thì nói, 10 năm đó ( 1932-1942 ), các trường phái văn chương đua nhau nảy nở, đã là chất xúc tác cho các nhà văn sáng tạo. Bản thân mỗi nhà văn đều có lòng yêu ghét rõ ràng, và được viết tất cả những gì mình viết, mà không sợ chính quyền thực dân cản trở.

Tình hình hiện nay, phải thừa nhận điểm yếu của văn chương Việt Nam là đơn điệu quá. Trên nửa thế kỷ qua tất cả chỉ nói theo một giọng điệu, viết theo một thi pháp. Bản thân nghệ thuật là khám phá, là luôn luôn tìm tòi đổi mới. Vậy mà 60 năm qua chỉ đi mỗi một con đường để cùng đến một mục tiêu làm gì chẳng cũ kỹ, sáo mòn. Lẽ ra phải tạo điều kiện để có nhiều con đường khác nhau, cùng đến chung một đích; đó là dân tộc, là Tổ quốc, là chủ nghĩa yêu nước.

Vậy cái gì cản trở nhà văn? Phải chăng quyền tự do sáng tác, tự do công bố tác phẩm của nhà văn bị hạn chế? Nó còn là sự tự kỷ ám thị, lâu năm trở thành nỗi sợ hãi, tới mức không dám viết về những điều mình nghĩ. Bởi chế tài những sai sót của nhà văn không được minh bạch, không có luật mà phụ thuộc vào định hướng chung chung. Và rồi ai cũng có quyền phá hỏng cả một sáng tác phẩm nghiêm túc của nhà văn, thậm chí phá nát cả sự nghiệp và cuộc đời nhà văn bằng nhận thức thấp kém của chính một người quyền uy nào đấy. Tình trạng đó tới nay vẫn chưa chấm dứt. Thỉnh thoảng vẫn thấy những tác phẩm bị đình chỉ phát hành, bị thu hồi nhưng không công bố công khai, khiến tác giả và công chúng cũng không biết vì sao nữa.

Để chấm dứt tình trạng mù mờ đó cần phải xây dựng một xã hội đối thoại, xã hội dân chủ. Vì vậy, mọi thứ phải được minh bạch trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Tôi đề nghị nhà nước hãy trả lại cho văn chương báo chí quyền tự do sáng tác, mà nhà nước đã trưng dụng trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm vừa qua. Đó không chỉ là quyền tự do sáng tác của nhà văn, nhà báo mà còn là quyền được thông tin khách quan của công chúng. Chiến tranh đã chấm dứt 30 năm rồi mà văn chương báo chí vẫn sống trong cảnh mù mờ. Cả nước có tới gần 1000 tờ báo và tạp chí, nhưng quy về chỉ có mỗi một Tổng biên tập, tránh sao khỏi sự đơn điệu và sáo mòn.

Tròn 60 năm kể từ ngày văn chương báo chí đi theo cách mạng, tỉ lệ mắc sai lầm về tư tưởng, về chính trị, kinh tế trong đội ngũ văn chương báo chí là thấp nhất so với bất cứ một ngành nghề nào. Thế mà độ tin cậy của Nhà nước đối với nhà văn lúc nào cũng ở mức thấp nhất.

Nhân loại đang bước mạnh vào kỷ nguyên hội nhập. Những ngành có tính chất sống còn của một quốc gia, từ xưa nhà nước vẫn độc quyền nắm giữ như thông tin viễn thông, điện lực, tài chính ngân hàng, nhà nước còn mở cửa mời gọi tư bản đến hùn hạp tỉ lệ đến 30%. Nhiều phương diện được thúc đẩy cổ phần hóa, tư nhân hóa. Vậy mà chỉ một tờ báo, một nhà xuất bản tư nhân lại không thể chấp nhận. Tiếc thay, những quyền đó đã được ghi liên tục trong hiến pháp từ ngày mở nước tới nay. Tôi đề nghị Nhà nước nên thành lập một cơ quan kiểm duyệt. Ví dụ đó là Cục kiểm duyệt chẳng hạn. Đặt nó trong Bộ nào, Ngành nào tùy Nhà nước.

Công cụ để giám sát, chế tài là “luật báo chí”, “luật xuất bản”, “luật sở hữu trí tuệ”; đồng thời tham chiếu cả “luật dân sự”, “luật hình sự”.

Mọi công dân Việt Nam đều phải tuân thủ luật pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều đó có nghĩa rằng, công dân nhà văn Việt Nam không được phép viết ra, cũng như không được phép công bố những điều mà luật pháp ngăn cấm.Ví dụ tuyên truyền cho bạo lực, dâm ô, kích động các phần tử phản động chống lại nhà nước …Trái lại, công dân nhà văn Việt Nam có quyền được viết,được công bố những sáng tác phẩm của mình trên các phương tiện thông tin và in ấn,với những nội dung mà luật pháp không cấm.

Đương nhiên, đây là quyền công dân, lẽ ra phải được tôn trọng,được bảo hộ song hành với việc ban bố các đạo luật trên.

Chúng ta đang sống trong một xã hội công dân, đòi hỏi mọi sự phải được giải quyết minh bạch. Vì vậy, những tác phẩm bị kiểm duyệt toàn bộ hoặc kiểm duyệt một phần, cần được công bố công khai. Và nói rõ tác giả đã vi phạm những điều nào, điều nào theo luật định. Nếu tác giả không chấp nhận, họ có quyền khiếu nại việc đó ra tòa dân sự.

Một khi mọi việc đã minh bạch, mà nhà văn không đem lại được điều gì mới mẻ vào văn chương, thì đúng là họ bất tài. Mọi trách cứ, mọi lên án của công chúng bạn đọc đều trở nên có lý.

Điều hiển nhiên, tác phẩm văn học đỉnh cao không phải là thứ cầu được, ước thấy. Nó đòi hỏi nhà văn phải có tài năng lớn, rí tuệ siêu việt, nhân cách cao thượng. Hơn nữa, tầm tư tưởng phải vượt thoát ra khỏi sự cám dỗ của đời thường. Nhà văn cỡ này phải có tâm huyết tới mức tử vì đạo. Những phẩm chất trên, các nhà văn Việt Nam đều có cả, nhưng thượng đế ban cho họ hơi ít.

Láng Thựợng ngày 21 tháng 4 năm 2005

HoangQuocHai
(*) Nhà văn Hoàng Quốc Hải

(1) Tham luận đọc tại Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VII.
(Rút trong tập KẺ SĨ TRƯỚC THỜI CUỘC xuất bản 2014)
Nguồn: Quà tặng xứ mưa theo trannhuong.com

Bài viết mới

Video yêu thích

BanMai2
Ban Mai
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Phạm Hoàng Quân, đọc lại và suy ngẫm

PhamHoangQuan
Phạm Hoàng Quân là một nhà nghiên cứu độc lập về biển Đông với tác phẩm nổi bật “Hoàng Sa, Trường Sa nghiên cứu từ sử liệu Trung Quốc. Tác giả vừa được nhận giải nghiên cứu của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh lần thứ IX năm 2015. Lễ trao giải vừa được tổ chức tối 24.3 tại thành phố Hồ Chí Minh.  (Bà Nguyễn Thị Bình, chủ tịch Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh trao giải cho nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân. Ảnh: Trâm Anh). Diễn từ của anh thật đáng suy ngẫm.

Phạm Hoàng Quân là người sinh ra trong một gia đình không có truyền thống nghiên cứu sử học, không được đào tạo chính quy, lại là nhà nghiên cứu độc lập nhưng anh đã đạt được những thành quả nghiên cứu thật đáng khâm phục nhờ mầy mò tự học với niềm đam mê và một phương pháp luận đúng đắn. Anh viết những câu thật thấm thía: “dù cá nhân hay tập thể, muốn có thành tựu nghiên cứu tốt phải hội đủ 3 yếu tố là: sách, khả năng, và tinh thần khoa học, hay nói cách khác, sách cùng với tài liệu là vốn liếng cơ bản, khả năng là tay nghề là trình độ và tinh thần khách quan khoa học là không thiên về cảm tính hoặc bị chi phối bởi tinh thần dân tộc.”

Anh Phạm Hoàng Quân viết rất hay về những điều lợi của một nhà nghiên cứu độc lập và những khó khăn trở ngại mà họ phải đối mặt và những kinh nghiệm riêng của anh để vượt qua:

“Có 3 điều rất hay. Đầu tiên là tôi không phải dự các buổi họp, không phải giao tiếp lễ lạt, có nghĩa là dành được hết thì giờ cho việc đọc sách, giữ được mạch suy nghĩ không bị gián đoạn. Kế đến là luôn được làm việc trong trạng thái không bị áp lực, không bị khống chế bởi thời gian, tôi được chủ động điều độ thời gian trong việc làm của mình. Điều hay thứ ba là tôi được chọn lĩnh vực hoặc đề tài mà mình thích nhất, và trong đề tài ấy tôi lại được tự xác định việc nào cần phải làm trước. Ba điều đơn giản vậy thôi nhưng tôi cảm thấy thật là hạnh phúc khi giữ được chúng.

Cũng có nhiều trở ngại. Nghiên cứu độc lập phải đương đầu với không ít khó khăn, thứ nhất là chuyện giải quyết nhu cầu cuộc sống cơ bản, giải quyết được vấn đề này thì kế đến là tài liệu sách vở, tư liệu không phong phú dồi dào thì kiến thức hạn hẹp, làm sao nghiên cứu sâu. Mua sách thì tốn kém vô biên, hoàn cảnh của tôi nhiều lúc khát sách tợ như doanh nghiệp khát vốn, tuy nhiên lần hồi tích góp, bè bạn yểm trợ và cộng thêm sự hào phóng của nhiều thư viện điện tử quốc tế, vụ này cũng tạm ổn. Trở ngại vừa lớn vừa khó là việc tìm tài liệu ở thư viện công, nước ta trước giờ nói chung là khắt khe đối với những người không thuộc cơ quan nghiên cứu công, nên đã một thời gian dài tôi không được tham khảo nguồn này, gần đây tuy có được vài ngoại lệ, nhưng tiếc là những ngoại lệ này đến chậm. Những trở ngại ấy tuy không thể làm nản lòng, nhưng có điều đáng tiếc là một số công trình phải chịu mất nhiều thời gian hơn dự tính.”

Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân đã nêu ra “những khiếm khuyết đáng lo ngại”, “tình trạng thiếu hụt kiến thức nền đến mức báo động” của tài liệu nghiên cứu sử học ở Việt Nam đối với vấn đề nghiên cứu “Hoàng Sa – Trường Sa” rất cần được lưu tâm:

Chúng ta chưa có một tổng tập bản dịch và chú giải tư liệu lịch sử Trung Quốc, nhằm để nắm rõ thực hư ý nghĩa của sử liệu;

Chưa dịch công trình nghiên cứu tiêu biểu nào của học giới Trung Quốc hiện nay, nhằm để coi họ sử dụng, dẫn dụng tư liệu sử có đúng hay không, tài năng khả năng của họ đã tới chừng mức nào,phương pháp nghiên cứu của họ mới hay cũ, họ tiếp thu nghiên cứu bên ngoài tới đâu, họ đánh giá và nhận định ra sao về nguồn sử liệu Việt Nam, cách thức và lập luận của họ trong phản biện các nghiên cứu mới ở Việt Nam; Lại cũng chưa dịch hoặc dịch quá ít ỏi các bài viết, các sách nghiên cứu về quan hệ Trung Quốc với Việt Nam, Trung Quốc với Đông Nam Á và phương Tây của các tác giả bên ngoài, kể từ thời Học viện Viễn Đông bác cổ đến nay, trong khi các nghiên cứu này chứa đựng rất nhiều chi tiết liên quan đã được phân tích,v.v;

 Chưa dịch các sách công cụ cơ bản phục vụ cho nghiên cứu, cụ thể là các sách thư mục, từ điển địa danh, từ điển lịch sử, từ điển địa lý, v.v.. do người Trung Quốc soạn, và mặt khác, cũng chưa thấy dịch hoặc giới thiệu, phổ biến những sách công cụ đồng dạng nói trên bằng Anh ngữ do học giới phương Tây biên soạn.

Sự thiếu hụt kiến thức bên ngoài đã dẫn đến tình trạng giới sử học cứ mãi nói chuyện trong nhà. Trong khi ở Trung Quốc hiện nay, học giới đã tiến đến hình thành nhóm chuyên gia “dịch bình”, quy tụ những người vừa có nghiệp vụ nghiên cứu vừa rất giỏi ngoại ngữ, chuyên lo chuyện đọc và phê bình các bản dịch sách nghiên cứu sau xuất bản. Họ muốn những công trình nghiên cứu tầm cỡ bên ngoài phải đến tay học giới trong nước bằng một bản dịch thật chuẩn xác thật hoàn hảo. Trong khi ở Campuchia hiện nay, ở nhà sách ngoại văn số 1 đường Norodom tại Phnom Penh, sách nghiên cứu sử nổi bật trong nhiều loại sách nghiên cứu khác, nhẩm tính số lượng nhiều hơn ở Sài Gòn gấp 7 hoặc 8 lần.”

“… nhìn kỹ lại hoạt động học thuật sử học trong bối cảnh hiện nay, trình độ nghiên cứu lịch sử nói chung hoặc nghiên cứu chuyên sâu các đề tài lịch sử liên quan đến biển Đông nói riêng, chúng ta còn thua khá xa các nước …

Đọc lại và suy ngẫm,  tôi (Hoàng Kim) cho rằng không chỉ riêng sử học mà các lĩnh vực học thuật khác của Việt Nam hiện cũng có những khiếm khuyết tương tự thật đáng lo ngại về sách chuyên khảo. Để chấn hưng giáo dục và khoa học của đất nước  sự cấp thiết phải có một đội ngũ các nhà giáo và nhà nghiên cứu có tâm đức, thiết tha với nghề, có trình độ chuyên môn cao và kỹ năng dạy và học tốt, cần có chương trình, kế hoạch khắc phục những khiếm khuyết này có hệ thống và liên tục, cần liên kết học thuật, nâng đỡ các tác phẩm tốt, nâng mức sống,  trọng đãi nhân tài, khuyến khích nghiên cứu và giảng dạy.

Mời bạn đọc trực tiếp diễn từ của Phạm Hoàng Quân tại đây

Hoàng Kim

Video yêu thích
Casava in Vietnam: Save and Grow, PhuYen
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook