Thầy ơi


THẦY ƠI. Tưởng nhớ Thầy Nguyễn Khoa Tịnh  Hoàng Kim Thầy ơi, em nặng lòng với Huế Mừng duyên lành con em xe về miền Trung Nơi Lộc Khê Hầu nguyên vẹn công nghìn năm mở cõi  Với dòng sông Hương soi bóng núi Ngự Bình. Bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên“ của thầy Nguyễn Khoa Tịnh và bài thơ “Lời của Thầy theo mãi bước em đi” lâu nay tôi vẫn giữ riêng mình. Con gái đầu lòng của gia đình tôi khi yêu thương gả về xứ Huế thăm thẳm trong tôi là lời “Thầy ơi”. Hôm nay nhà giáo nhà báo Lê Quang Vinh và nhà giáo nhà thơ Ma Thi Len đã thức tỉnh tôi viết tiếp về Thầy. 

Tôi chưa hề gặp chị Ma Thi Len ngoài đời mà chỉ biết tiếng và hiểu chị qua mạch văn. Chị chép bài thơ thầy Tịnh và bài thơ của tôi về trang nhà. Tôi đọc lời cảm nhận và lặng lẽ ghé sang đọc trang chị rồi bất chợt bắt gặp một bài viết mới đây của chị về câu chuyện thơ nghe thật thấm thía. Tôi bần thần tự hỏi: “Có khi nào một người làm thơ gặp một người bình thơ mà bài bình thơ đã ám ảnh người làm thơ suốt đời, nâng bước và thay đổi chính số phận của người đó như câu chuyện này hay chưa?. Thầy Tịnh đã làm được chuyện đó. Thơ của thầy là thể loại ‘thơ truyền thống’ thật đặc biệt và lối bình thơ đặc biệt. Xin đối chiếu với câu chuyện chị kể. Chị viết:

Sáng nay , 15/11/2017 , các thành viên ” Hoa giữa Đại ngàn ” nghe nhà thơ gạo cội Vũ Quần Phương nói về thơ ” Cách tân ” và thơ ” Truyền thống ” . Ông cũng đã phân tích thơ Tố Hữu và thơ Hồ Chí Minh. Đây là hai nhà thơ không chuyên . Vì yêu thơ nên trong khi hoạt động Cách mạng đã “xuất khẩu” thành thơ. Tố Hữu tự nhận mình là nhà thơ nghiệp dư nhưng là nhà Cách mạng chuyên nghiệp . Thơ là để hỗ trợ, phục vụ tuyên truyền cho Cách mạng dễ thấm, dễ hiểu, dễ đi vào lòng người. Còn Bác Hồ, thơ đã giúp cho Bác lạc quan, yêu đời trong đấu tranh Cách mạng. Vũ Quần Phương phân tích về bốn câu thơ của Bác khi Bác bị bắt tại Trung Quốc giam chung cùng các phạm nhân hình sự rằng: khi dẫn Nguyễn Ái Quốc vào phòng giam thì đã chật ních người không còn chỗ ngồi. Chỉ còn một chỗ, đó là cái hố vệ sinh có đậy nắp. Người buộc phải ngồi lên đó và làm thơ, nghĩ về những gì sẽ diễn ra sắp tới . Đó là ngày mai và cũng là tương lai của cuộc Cách mạng nước nhà sắp tới sẽ thế nào . Người viết :

Đi bộ
Năm mươi ba cây số một ngày
Mũ áo dầm mưa rách hết giày
Lại khổ thâu đêm không chỗ ngủ
Ngồi trên hố xí đợi ngày mai!
Đó. Chúng ta hãy học tư tưởng, tác phong, đạo đức, cách sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh!

Vũ Quần Phương còn nói về tình bạn giữa Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi . Khi nói về tình bạn thì dù có vướng mắc gì, một trong hai người hãy xuống nước, chủ động bắt chuyện ,bày tỏ với người kia. Tình bạn giống như cái cây bị héo, nếu ta chăm tưới tắm cho nó thì nó sẽ tốt tươi, phát triển .

Thơ “Cách tân ” hay thơ mới hiện nay có tạp thơ của Hoàng Xuân Tuyền ra mắt dịp kỹ niệm 1005 năm Thăng Long – Hà Nội ( 2015 ) , viết phản ảnh đời sống thực tại hiện thời .

Ngày nay, người người làm thơ, nhà nhà làm thơ, cả nước làm thơ . Việt Nam ta là một đất nước của thơ ca. Đó cũng là truyền thống của Ông Bà, Cha Mẹ chúng ta nên mới có nhiều Ca dao, Dân ca như thế . Nhưng thơ là tiếng lòng, thơ là cuộc sống. Phải viết sao cho sống động và thật nhằm phục vụ cuộc sống con người .

Ông cũng nói về vấn đề Tự do. Tự do là quyền lợi, quyền sống của con người . Nhưng Tự do để làm gì? Mục đích của Tự do là gì? Và phải làm gì để Tự do có mục đích và ý nghĩa Chứ không phải đòi Tự do rồi chẳng làm gì cả, chẳng giúp ích gì cho ai cả . Thì cái Tự do đí chẳng có ý nghĩa gì !

Bài nói chuyện khá bổ ích cho những người làm thơ nghiệp dư chúng tôi! Xin cảm ơn !”

Tôi chép lại đoạn văn trên và muốn trò chuyện với chị: “Thưa chị Ma Thị Len và anh Lê Quang Vinh. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh dạy sử không dạy văn. Thuở đó thầy Phạm Ngọc Căng và thầy Hồ Ngọc Diệp dạy văn. Nhưng đôi khi thầy Tịnh dạy văn khi thầy văn ốm. Anh Lê Quang Vinh đã nhớ đúng”.

Tôi cũng chưa nghe cô Vinh và các con thầy nói về thơ của thầy nhưng bài thơ “Bài ca Trường Quảng Trạch” của thầy Trần Đình Côn và bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên” cùng những lon gạo nghĩa tình mà thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng, đọc và vận động thầy bạn chia sẻ cho người học trò nghèo mồ côi, mãi mãi là bài thơ ấn tượng và sâu sắc nhất cuộc đời tôi.

Cám ơn anh Lê Quang Vinh và chị Ma Thị Len về sự đồng cảm này.
Xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/2016/11/25/thay-oi/

Advertisements

Thầy ơi

nguyenkhoatinh

THẦY ƠI

Tưởng nhớ Thầy Nguyễn Khoa Tịnh

Hoàng Kim

Thầy ơi, em nặng lòng với Huế
Mừng duyên lành con em xe về miền Trung
Nơi LỘC Khê Hầu NGUYÊN vẹn công nghìn năm mở cõi
Với dòng sông Hương soi bóng núi Ngự Bình.

nguyenkhoatinh7
BÀI CA TRƯỜNG QUẢNG TRẠCH  là bài thơ nổi tiếng của Thầy Trần Đình Côn, Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Quảng Trạch “Hồi tưởng lại một mùa thu ấy Mấy thu rồi biết mấy đổi thay Khởi công ròng rã tháng ngày Dốc lòng, dốc sức dựng xây trường mình Vùng các trắng biến thành ao cá  Rừng dương xanh lộng gió vi vu Giếng thơi trong suốt ngọt ngào Cổng trường cao rộng đón chào anh em…” và hình ảnh thầy trò Trường Quảng Trạch (ảnh Lê Quang Vinh), là ấn tượng mãi không bao giờ quên trong trái tim tôi.

BÀI CA TRƯỜNG QUẢNG TRẠCH

Trần Đình Côn
Hiệu trưởng đầu tiên của Trường

Hồi tưởng lại một mùa thu ấy
Mấy thu rồi biết mấy đổi thay
Khởi công ròng rã tháng ngày
Dốc lòng , dốc sức dựng xây trường mình

Vùng cát trắng biến thành ao cá
Rừng dương xanh lộng gió vi vu
Giếng thơi trong suốt ngọt ngào
Cổng trường cao rộng đón chào anh em

Trường Quảng Trạch trên miền Quảng Thọ
Tên trượng ta chữ đỏ vàng son
Tên Tổ Quốc, tên yêu thương
Thơm dòng sữa mẹ quê hương xa gần

Phòng học mớii cửa xanh, ngói đỏ
Lá cờ sao trước gió tung bay
Tình em, tình bạn, tình thầy
Mỗi ngày thêm nặng, mỗi ngày thêm sâu.

Lòng những tưởng khởi đầu vất vả
Để năm sau tất cả tiến lên
Ai ngờ giặc Mỹ đê hèn
Tường vôi tan nát, khói hoen mặt người.

Cuộc sống đã sáng ngời lửa thép
Đạn bom nào uy hiếp được ta
Cổng trường, mái ngói, tường hoa
Đã thành gạch vụn xót xa hận thù

Đã đến lúc thầy trò sơ tán
Xa thị thành vể tận xóm thôn
Bầu Mây, Phù Hợp, Đồng Dương
Trắng trong cồn cát mái trường thêm xinh

Phá trường ngói trường tranh ta dựng
Đắp luỹ dày, hầm vững, hào sâu
Khiêng bàn, vác gỗ đêm thâu
Lưng trời đạn xé, ngang đầu bom rơi.

Nơi Hầm Cối 3 xa vời em đến
Qua Khe Sâu 4 đá nghiến nát chân
Nhớ khi bụng đói lạc đường
Càng căm giặc Mỹ, càng thương chúng mình.

Chí đã quyết hi sinh chẳng quản
Lòng đã tin vào Đảng , vào Dân
Kết liền lực lượng Công Nông
Ghi sâu tình bạn Hải quân anh hùng

Sông Gianh đó vẫy vùng một cõi
Thép hạm tàu chói lọi chiến công
Đôi ta chiến đấu hợp đồng 5
Vít đầu giặc Mỹ xuôi dòng nước xanh.

Ngày thêm nặng mối tình kết nghĩa
Nơi “vườn đào” đất mẹ Phù Lưu 6
Cùng nhau chung một chiến hào
Trao quà chiến thắng vui nào vui hơn

Từ ấy đã nghìn đêm có lẽ
Có phút nào giặc Mỹ để yên
Chất chồng tội ác ngày đêm
Lửa thù rực cháy đốt tim muôn người

Ôi những cảnh rụng rời thê thảm
Mái nhà tranh giáo án thành tro
Mẹ già, anh chị, em thơ
Xương bay, thịt nát, cửa nhà tan hoang

Lớp học đó chiến trường em đó
Nín đi em hãy cố học chăm
Giành điểm bốn, giành điểm năm
Ấy là diệt Mỹ chiến công hàng ngày.

Đã có bạn có thầy giúp đỡ
Khó khăn nào lại khó vượt qua
Miếng khi đói gói khi no
Lưng cơm hạt muối giúp cho bạn nghèo

Thương em cảnh gieo neo mẹ mất
Lại cha già giặc giết hôm qua
Tình thầy tình bạn tình cha
Ấy là tình Đảng thiết tha mặn nồng.

Có những lúc đêm đông giá rét
Thầy bên em ai biết ai hay
Hầm luỹ thép, ngọn đèn khuya
Mùa đông sưởi ấm, mùa hè mát sao.

Nào Văn học lại nào Toán Lý
Giảng cho em nhớ kỹ từng lời
Cho em học một biết mười
Cho em học chóng nên người tài cao

Dắt em tận năm châu bốn biển
Mắt nhìn xa nghĩ đến mai sau
Đây Lạng Sơn đó Cà Mau
Giang sơn hùng vĩ, địa cầu lừng danh

Đưa em lên sao Kim sao Hoả
Để em nhìn cho rõ nước ta
Hiểu ngày nay, hiểu ngày xưa
Hùng Vương, Nguyễn Trãi gần là Quang Trung

Em càng hiểu anh hùng thời đại
Có Bác Hồ chỉ lố ta đi
Dù địch phá, dù gian nguy
Trường ta vững lái cứ đi cứ về

Tuổi thanh niên sơ gì việc khó
Khó khăn nhiều tiến bộ càng nhanh
Đã nuôi chí lớn ắt thành
Có thầy, có bạn, có mình, có ta.

Thiếu phấn  viết làm ra phấn viết
Sách giáo khoa ta chép thâu đêm
Sản xuất kết hợp học  hành
Như chim đủ cánh cất mình bay cao.

Ruộng tăng sản bèo dâu xanh biếc
Cấy thẳng hàng buốt thịt xương đau
Độ pH cách trừ sâu
Chiêm mùa sau trước trước sau khác gì.

Sổ tay đó em ghi phân bón
Ước mơ sao năm tấn thành công
Bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông
Bức tranh tuyệt đẹp ruộng đồng bao la

Những đêm sáng trăng ngà trong suốt
Vút lên cao thánh thót lời ca
“Hoa Pơ lang” 7 ấy bông hoa
Tây Nguyên đẹp nhấtt thiết tha gửi lời
“Nổ trống lên rừng núi ơi” 8
“Bài ca may áo” 9 “Mặc người dèm pha” 10

Thân múa dẻo kết “Hoa Sen” 11 trắng
Giữa hội trường rực sáng đèn xanh
Tưởng chừng lạc đến cảnh tiên
Tưởng chừng thiếu nữ ở miền Thiên Thai.

Ai biết đó con người nghèo khổ
Con Công Nông bỗng hoá thành tiên
Rũ bùn em bước đi lên
Bùn tanh mà đã lọc nên hương trời.

Trường ta đó ấy nơi rèn luyện
Mấy năm qua bao chuyện anh hùng
Ngày xưa Phù Đổng Thiên Vương
Ta nay lớn mạnh phi thường lạ chưa?

Trong chiến đấu xông pha diệt Mỹ
Lập công đầu dũng sĩ tiền phương
Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan
Châu Âu châu Á từ trường mà ra

Dù ở tận Cu Ba châu Mỹ
Vẫn ngày đêm suy nghĩ về ta
Dù cho ở lại quê nhà
Xóm thôn xã vắng vẫn lo sớm chiều

Lo nước đủ phân nhiều lúa tốt
Cảnh ruộng đồng hợp tác vui thay
Mỗi khi bưng bát cơm đầy
Dẽo thơm một hạt nhớ thầy năm xưa

Ôi có những phút giờ sung sướng
Là những khi cờ Đảng trao tay 12
Anh em bè bạn sum vầy
Tiếng cười xen tiếng vỗ tay kéo dài

Có những lúc nghe đài Hà Nội
Vang truyền đi thế giới gần xa
Tin trường ta, tin chúng ta
Hả lòng, hả dạ ước mơ nào bằng

Có những lúc báo Đoàn báo Đảng
Đăng tin trường khai giảng thành công
Tin một năm, tin ba năm
Như luồng gió mới lửa hồng bùng lên

Trên màn bạc giữa nền ánh điện
Phim trường ta chiếu rạng khắp mơi  13
Châu Âu châu Mỹ xa xôi
Năm câu bốn biển rõ mười tin vui

Hay biết mấy xem người trong ảnh
Ta xem ta xem cảnh trường ta
Này hầm, này luỹ, này nhà
Kìa thầy kìa bạn kìa là xã viên

Phù Lưu đó ruộng liền thẳng cánh
Bầu Mây đây đúng cảnh trong phim
Sáng bừng như mặt trời lên
Chói ngời như một niềm tin tuyệt trần.

Chào 68 mùa xuân tuyệt đẹp
Cả trường đang vang nhịp tiến công
Đón xuân với cả tấm lòng
Đầy trời lửa đạn súng giòn chào ta

Duyên thiên lý một nhà sum họp
Người tuy đông mà một lòng son
Nào khách quý nào tri âm
Bốn phương quy tụ xa gần về đây

Thời gian hỡi dừng ngay cánh lại
Giờ vui ơi xin hãy khoan thai
Rượu nồng chưa uống mà say
Bữa ăn quên đói, chuyện dài thâu canh

Vui gặp chị gặp anh thân thiết
Chuyện xa gần khôn xiết nói sao
Yêu nhau xin nhớ lời nhau
Thù chung đã nặng càng sâu thù nhà

Con khôn lớn mẹ cha đẹp mặt
Trường vững vàng Đảng ắt mừng vui
Cờ hồng bạn lại trao tay 14
Phất cao cho đến tầng mây xa vời

Sức ta ước chọc trời khuấy nước
Khó khăn nào chặn bước ta đi
Mỗi năm xuân đến một thì
Xuân này hơn hẵn mấy kỳ xuân qua.

Có nghe chăng Bác Hồ ra lệnh
“Tiến lên toàn thắng ắt về ta”
Tiến lên giành lấy tự do
Tiến lên giành lấy thời cơ diệt thù

Hồi tưởng lại những mùa thu ấy
Bao ngày qua biết mấy buồn vui
“Đắng cay nay mới ngọt bùi
Đường đi muôn dặm đã ngời mai sau”

Lời Bác dạy ghi sâu trong dạ
Ngọn đèn pha chiếu toả muôn nơi
Trang sách rộng nghĩa đường đời
Học hành kết hợp nên người tài ba

Nay sum họp mai đà li biệt
Tiễn người đi lại tiếp người vào
Kể sao vui sướng dạt dào
Người sao vương vấn ra vào băn khoăn

Đã vì Đảng vì Dân vì Nước
Tiến lên đi nhanh bước tiến lên
Lòng thầy luôn ở bên em
Đường lên sao Hoả, sao Kim xa gì?

Đi đâu cũng hướng về Quảng Trạch
Cũng có ngày gặp mặt các em
Nhắc bao kỷ niệm êm đềm
Báo công ghi tiếp nên thiên sử vàng …

7.11.1968

TĐC

1) Xã trường đóng từ 9/1962- 6/1965
2) Những tên đất, tên làng trường sơ tán từ 1965 đến 1968
3) Tên rú nơi các em đi lấy gỗ
4) Tên khe nơi các em đi qua
5) Trận chiến đấu hợp đồng giữa Trường và đơn vị kết nghĩa Hải quân sông Gianh
6)  Nơi làm lễ kết nghĩa giữa ba đơn vị 11/1965
7, 8, 9, 10) Tên các ca khúc mà các em thường hát
11) Điệu múa truyền thống của Trường
12) Lễ tiếp nhận lần thứ nhất Cờ  Lao động XHCN của Hội đồng Chính phủ trao tại Cao Mại ngày 30/8/1967
13) Bộ phim Trường Quảng Trạch do nhà quay phim Ma Văn Cường dựng 5/12/1965
14) Lễ treo tặng lần thứ nhất Cờ Lao động XHCN của Hội đồng Chính phủ và Bằng Khen của Tổng Công Đoàn tại Phù Lưu ngày 4/1/1968

“Bài ca Trường Quảng Trạch”, tôi đã dành trọn chiều và suốt đêm 2.4.2012 tại phòng đợi máy bay để đưa thơ này lên mạng. Bốn mươi bốn năm trước, Thầy Trần Đình Côn đã khóc đưa chiếc áo máu cha tôi bị bom Mỹ giết hại vào phòng truyền thống của Trường và viết nên những câu thơ cháy lòng:  “Thương em cảnh gieo neo mẹ mất / Lại cha già giặc giết hôm qua/ Tình thầy, tình bạn, tình cha/ Ấy là tình nghĩa thiết tha mặn nồng”.

nguyenkhoatinh1

Thầy Nguyễn Khoa Tịnh thông xanh núi Huế là người thầy dạy nhân cách và lịch sử, khai sáng thế hệ chúng tôi. Tôi đã viết bài ‘Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời‘ để tỏ lòng tri ân sâu nặng đối với người Thầy lớn và những thầy bạn mà tôi không thể có được ngày hôm nay nếu thiếu sự động viên, giúp đỡ này: “Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin”.

Thầy Nguyễn Khoa Tịnh sinh ngày 21 tháng 7 năm 1935 tuổi Ất Hợi, mất ngày 5 tháng 12 năm 1993 nhằm ngày 21/10 năm Quý Dậu. Thầy mất lúc 58 tuổi khi chưa nghỉ hưu (Giỗ Thầy lần thứ 23 là ngày 21/10 Bính Thân trùng ngày 20 tháng 11 năm 2016 NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM). Thân phụ của Thầy là cụ Nguyễn Khoa Hoan, thân mẫu là cụ Tôn Nữ Thị Yến. Nhà riêng của Thầy nay vợ con Thầy thừa tự ở số 10, kiệt 42, đường Nguyễn Công Trứ, phường Phú Hội, Thành phố Huế …

Thầy Nguyễn Khoa Tịnh lúc sinh thời nổi tiếng là thầy dạy sử và văn học sử đặc biệt thông tuệ. Thầy là “hình ảnh mẫu mực về đạo đức, thẩm mĩ cao khiết khai sáng đầy lãng mạn góp phần tạo nên hoài bão, ước mơ và nhân cách sống trong khoảng đầu đời vô cùng quan trọng của học trò” như lời tự hào của bao thế hệ học trò của Thầy và được đúc kết tại bài viết “Thầy cô tôi thời ấy…” của nhà báo Lê Quang Vinh đăng trên báo “Quảng Bình cuối tuần”, số 107 (8061), ngày 14/5/2015 và Kỷ yếu “50 năm mái ấm Trường Quảng Trạch”.

Tự học và học để làm (Learning by Doing), học không biết mỏi, dạy không biết mệt là suối nguồn tươi trẻ hạnh phúc của tôi. ‘Học ở trường, học ở trong sách vở, học lẫn nhau và học ở dân’. ‘Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời‘. Tổ ấm gia đình và thầy quý bạn hiền là sinh khí và tinh lực đời ta. Cuộc sống có nhiều thầy bạn trong nhiều lĩnh vực nhưng thật may mắn cho ai khi gặp được bậc thầy minh triết phúc hậu khai tâm và thành ‘đôi tri kỹ’. Phạm Bình Trọng nhớ về ‘Thầy Hiến'(*) còn tôi thì ‘Ơn Thầy‘ nghề nghiệp và chẳng bao giờ quên được ‘Thầy ơi!’.

Mời bạn đọc bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên!” bài thơ khai tâm của thầy Nguyễn Khoa Tịnh đối với tôi để thấu hiểu. Tôi luôn coi đây là một áng văn chương vô giá, là một viên ngọc quý, chưa bao giờ và chưa lúc nào mà tôi tìm thấy một áng văn thắp lên ngọn lửa nghị lực trong lòng tôi sâu sắc đến vậy. Từ cậu bé chân đất làng Minh Lệ – Báo Quảng Bình điện tử có kể về tuổi thơ tôi và câu chuyện của những người Thầy. Thật xúc động biết bao khi Thầy “đãi cát tìm vàng” xâu chuỗi lại tuổi thơ và những vần thơ  em viết lúc còn nhỏ với sự trân quý và xúc động đặc biệt sâu xa giúp luyện nên nhân cách một CON NGƯỜI .

Thầy ơi ! các Thầy Cô và bạn bè đã giúp em nghị lực vượt lên mồ côi, đói nghèo để biết sống phúc hậu, nghị lực và làm người có ích. Em nay chép lại thơ thầy, đọc lại thơ Thầy mà rưng rưng nước mắt, biết ơn KÝ ỨC THỜI GIAN. “Hồi tưởng lại những mùa thu ấy/ Bao ngày qua biết mấy buồn vui / Đắng cay nay mới ngọt bùi / Đường đi muôn dặm đã ngời mai sau”.

Thầy đã hóa thân vào Huế, vào bóng núi, mạch nước,  gốc thông, khai sáng cho em, lồng lộng như trời Nam, khuyến khích em trọn đời tiếp bước.

Lời của thầy theo mãi bước em đi.

Hoàng Kim

 

thayoi

EM ƠI EM CAN ĐẢM BƯỚC CHÂN LÊN !

“Thương mến tặng em Hoàng Kim.
Thầy ước mong em noi gương Quốc Tuấn”

Nguyễn Khoa Tịnh

Đọc thơ em, tim tôi thắt lại
Lòng nghẹn ngào, nước mắt chảy rưng rưng
Nửa xót xa nhưng nửa lại vui mừng
Xót xa vì đời em còn thơ dại
Mới tuổi thơ mà cuộc đời đầy khổ ải
Mới biết cười đã phải sống mồ côi
Như chiếc thuyền giữa biển tự trôi
Như chiếc lá bay về nơi vô định
Bụng đói” viết ra thơ em vịnh:

Cơm ngày một bữa sắn trộn khoai
Có biết lòng ta bấy hỡi ai?
Vơi vơi lòng dạ, cồn cào bụng
Kể chi no đói, mặc ngày dài”

Phải!
Kể chi no đói mặc ngày dài
Rất tự hào là thơ em sung sức
Rất tự hào là em tôi đầy nghị lực
Đã hiển lộ mình qua “Cái chảo rang

“Trung dũng ai bằng cái chảo rang
Lửa to mới biết sáp hay vàng
Xào nấu chiên kho đều vẹn cả
Chua cay mặn ngọt giữ an toàn
Ném tung chẳng vỡ như nồi đất
Quăng bừa xó bếp vẫn nằm ngang
Tốt đẹp đâu cần danh tiếng hão
Bạn cùng lửa đỏ, nóng chang chang

Phải!
Lửa to mới biết sáp hay vàng!
Em hãy là vàng,
Mặc ai chọn sáp!
Tôi vui sướng cùng em
Yêu giấc “Ngủ đồng
Hiên ngang khí phách:

Sách truyền sướng nhất chức Quận công
Ta sướng khi ra ngủ giữa đồng
Lồng lộng trời hè muôn làn gió
Đêm thanh sao sang mát thu không
Nằm ngữa ung dung như khanh tướng
Lấy mấy vần thơ tỏ nỗi lòng
Tinh tú bao quanh hồn thời đại
Ngủ đồng khoan khoái ngắm gương trong

Tôi biết chí em khi “Qua đèo Ngang
Ung dung xướng họa với người anh hùng
Đã làm quân thù khiếp sợ:

Ta đi qua đèo Ngang
Cũng gặp Người trèo qua núi hiểm
Đỉnh dốc chênh vênh
Xe mù bụi cuốn
Có lẽ thiên nhiên đã định bao giờ
Một dãy Hoành Sơn bát ngát trận đồ
Điệp điệp núi cao
Trùng trùng rừng thẳm.
Người thấy
Súng gác trời xanh
Gió lùa biển lớn
Nông dân rộn rịp đường vui
Thanh Quan nàng nhẽ có hay
Cảnh mới đã thay cảnh cũ.
Ta hay
Máu chồng đất đỏ
Mây cuốn dặm khơi
Nhân công giọt giọt mồ hôi
Hưng Đạo thầy ơi có biết
Người nay nối chí người xưa

Tới đây
Nước biếc non xanh
Biển rộng gió đùa khuấy nước
Đi nữa
Đèo sâu vực thẳm
Núi cao mây giỡn chọc trời

Nhớ thù nhà, luống thẹn làm trai
Thương dân nước, thà sinh phận gái
“Hoành Sơn cổ lũy”
Hỏi đâu dấu tích phân tranh?
Chỉ thấy non sông
Lốc cuốn, bốn phương sấm động.

Người vì việc nước ra đi
Ta muốn cứu dân nên thăm trận thế
Điều không hẹn mà xui gặp mặt
Vô danh lại gặp hữu danh
Cuộc đời dài ắt còn sẽ gặp nhau
Nay hội ngộ giữa đỉnh cao trời đất
Anh em ta ngự trên xe đạp
Còn Người thì lại đáp com măng
Đường xuyên sơn
Anh hùng gặp anh hùng
Nhìn sóng biển Đông
Như ao trời dưới núi.

Xin kính chào
Bậc anh hùng tiền bối
Ta ngưỡng mộ Người
Và tỏ chí với non sông
Mẹ hiền ơi!
Tổ Quốc ơi!
Xin tiếp bước anh hùng!

Hãy cố lên em!
Noi gương danh nhân mà lập chí
Ta với em
Mình hãy kết thành đôi tri kỷ!
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Tôi tự hào bài “Tỏ chí” của em:

Quốc Tuấn ngày xưa chí vững bền
Thù nhà, nợ nước chẳng hề quên
Đến bữa quên ăn, đêm quên ngủ
Thương dân, yêu nước quyết báo đền
Văn hay thu phục muôn người Việt
Võ giỏi kinh hồn lũ tướng Nguyên
Mươi năm sau nữa ơi ông Tuấn
Nối chí ông, nay cháu tiến lên!

Tôi thương mến em
Đã chịu khó luyện rèn
Biết HỌC LÀM NGƯỜI !
Học làm con hiếu thảo.
Mười lăm tuổi đã “Tập làm thầy giáo

Vui gì hơn buổi đầu làm thầy giáo
Của lớp vở lòng đất mẹ yêu thương
Trưa nắng luyến các em cùng đến lớp
Giọng líu lo như chim hót ven đường.

Đứng trước các em tuổi nhỏ đáng yêu
Mà đã tưởng tới bao nhiêu người lớn
Nghe em đọc giọng thanh thanh dễ mến
Mà đã nghe đất nước xuyến xao mình!

Tổ Quốc đang chờ em phía trước.
Em ơi em, can đảm bước chân lên!

1970

nguyenkhoatinh4a

LỜI CỦA THẦY THEO MÃI BƯỚC EM ĐI

Đúc gan sắt để dời non lấp bể. Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ“. Trước tượng Phan Bội Châu, nhớ thầy Nguyễn Khoa Tịnh và bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên“.

Hoàng Kim

Thầy thung dung bước lên bục giảng
Buổi học cuối cùng “Tổng kết sử Việt Nam”
Tiếng Thầy ấm trong từng lời nói
Như muốn truyền cho các em
Tất cả những niềm tin.

Đôi mắt sáng lướt nhìn toàn bộ lớp
Thầy có dừng trên khuôn mặt nào không ?
Thầy có tin trong lớp còn ngồi học
Có những em nung nấu chí anh hùng ?

Các em hiểu những gì
Trong tim óc người Thầy
Mái tóc đà điểm bạc
Em biết Thầy tâm huyết rất nhiều
Trên mười năm dạy học
Vẫn canh cánh trong lòng
Luôn tìm kiếm những người
Có chí lớn
và tấm lòng yêu nước
thương dân.

Mười năm
Thức đo thời gian
Dài như cả nỗi đau chia cắt
Sương bạc thời gian phôi pha mái tóc
Câu chuyện mười năm Đông Quan dạy học
Hẳn nhiều đêm rồi
Thầy nhớ Ức Trai xưa?

Mười năm
Trang lòng, trang thơ
Nhớ tráng sĩ Đặng Dung đêm thanh mài kiếm
Ôi câu thơ năm nào
giữa lòng Thầy xao xuyến
Anh hùng lỡ vận ngẫm càng cay

Mười năm
Dằng dặc thời gian
Đo lòng Thầy nhớ miền Nam tha thiết
Em tin trong lòng Thầy
Luôn âm ỉ cháy lửa lòng yêu nước
Thầy có tin rằng trong lớp
Có người trò nghèo
Chí Quốc Tuấn Ức Trai.

Dẫu đất này khi thịnh khi suy
Song hào kiệt đời nào cũng có

Thầy giảng Bình Ngô Đại Cáo
Chuyện chân chúa Nguyễn Hoàng
Âm thầm tìm kiếm Đào Duy Từ …
Chuyện “Tam cố thảo lư”
Anh em Lưu Bị
vượt núi thẳm, mưa tuyết, đường xa
ba lần đến Long Trung
tìm kiếm Khổng Minh Gia Cát
tuổi chỉ đáng bằng tuổi con mình
nhưng trọng dụng kỳ tài
tôn làm quân sư cùng lo việc nước…

Thầy kể chuyện Đào Duy Từ
Khai quốc công thần nhà Nguyễn
dựng nghiệp nhọc nhằn, người hiền lắm nạn
cha mẹ chết oan, chiếc lá giữa dòng
Đào Duy Từ còn mãi với non sông
Kỳ tài nước Nam chẳng kém Ngọa Long
Định Bắc thu Nam công đầu Nam tiến.
Chế thắng chiều sâu, ba tầng thủ hiểm
Hoành Sơn, Linh Giang, Lũy Thầy
Sừng sững mưu cao.
Người lập nên định chế đàng Trong
Một chính quyền rất được lòng dân
Minh chúa, dân mến, tướng tài.
Người viết kiệt tác Hổ trướng khu cơ,
Nhã nhạc cung đình và tuồng Sơn Hậu,
Trí tuệ bậc Thầy, danh thơm vạn thuở
Minh triết ông cha học mãi không cùng …

Bài học lịch sử Việt Nam
Biết bao người con trung hiếu
Tận tụy quên mình vì dân vì nước
Nhiệt huyết lời Thầy cháy bỏng khát khao …

Tổ Quốc Việt Nam rất đổi tự hào
Vượng khí non sông khí thiêng hun đúc
Lòng dân cơ trời chuyển xoay vận nước
Đất Quảng Trạch mình đâu kém Nam Dương?

Có nông phu ham học, chăm làm
Mà thao lược chuyển xoay thời vận.
Ôi sử sách cổ kim bao nhiêu gương sáng
Học sử ai người biết sử để noi?

“Lịch sử dân tộc mình
Những năm bảy mươi
Các em sẽ là người viết tiếp
Điểm theo thời gian
Truyền thống ông cha xưa
Oanh liệt vô cùng”

Tiếng Thầy thiết tha
Truyền nguồn cảm xúc
Các em uống từng lời
Lắng nghe từng chữ
Lời tâm huyết thấm sâu vào lòng em:
“Nung gan sắt để dời non lấp bể
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”
Em đã tìm được trong Thầy
Một người anh
Một người đồng chí
Em vững tin trong sự nghiệp cứu dân
Hẳn có lòng Thầy luôn ở bên em!

Thầy nói nhiều về Việt Nam thân yêu
Dựng nước gian nan, người dân còn khổ
Mắt Thầy thiết tha quá chừng
Làm em mãi nhớ
Thầy truyền cho chúng em niềm tin
Đạo làm người, lòng yêu nước
Em càng thấm thía vô cùng
Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa
Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Thiếp, Phan Châu Trinh, …
Đều yêu nghề dạy học.

Tổ Quốc cần, gọi em về phía trước
“Em ơi em, can đảm bước chân lên!” (1)
Em sẽ khắc trong lòng
Những lời dạy đầu tiên!

Lời của Thầy theo mãi bước em đi !
nguyenkhoatinh9

Hình ảnh thăm gia đình Thầy và bữa cơm họp mặt tại nhà hàng Huế xưa.

Hoàng Kim học để làm ở Ấn Độ
Hoàng Kim
Rút trong tập THƠ CHO CON
(1)  bài thơ của thầy Nguyễn Khoa Tịnh
EM ƠI EM CAN ĐẢM BƯỚC CHÂN LÊN (ở trên hoặc tại đây)

Mai Em Về – Tân Nhàn (Album Thương)

Tài liệu trích dẫn

(1)  Nếp nhà và nét đẹp văn hóa  Hoàng Kim có trích dẫn bài viết “Nên thợ nên thầy” “No ăn no mặc”của  nhà văn Hoàng Ngọc Hiến. Dưới đây xin chép bài “Thầy Hiến” của nhà văn  Phạm Bình Trọng để cung cấp thêm một góc nhìn về vai trò người Thầy trong đời sống: “Trường đại học viết văn Nguyễn Du không đào tạo ra nhà văn. Trường chỉ có tham vọng bồi đắp cho nhà văn nền tảng văn hóa về con người và nền tảng tư tưởng triết học của loài người. Không còn nhà văn đến học, trường đã kết thúc vai trò lịch sử sau sáu khóa tồn tại. Trường viết văn Nguyễn Du của thầy Hoàng Ngọc Hiến không còn nữa nhưng tinh thần Hoàng Ngọc Hiến, linh hồn Hoàng Ngọc Hiến vẫn còn mãi trong những nhà văn đã từng đèn sách ở ngôi trường mang bóng dáng lừng lững người thầy Hoàng Ngọc Hiến” (Phạm Bình Trọng).

hoangngochienTHẦY HIẾN

Phạm Bình Trọng

Chúng tôi vẫn gọi trường viết văn mà chúng tôi là những người học khóa đầu tiên là “Trường Viết Văn Nguyễn Du Của Thầy Hoàng Ngọc Hiến”. Phải gọi vậy để phân biệt với trường viết văn cũng mang tên Nguyễn Du của Hội Nhà Văn Việt Nam đã có từ giữa thế kỉ trước và hiện nay vẫn đang tồn tại đã liên tiếp mở những khóa bồi dưỡng viết văn ngắn hạn để những nhà văn đã thành danh khai tâm truyền nghề cho những người mới cầm bút.

Nhìn những lớp người trẻ có vốn sống dày dặn của một thời lịch sử khốc liệt, có hồn văn chương thấp thoáng trên những trang tác phẩm đã xuất bản nhưng vì chiến tranh và vì một nền giáo dục nông cạn, hời hợt, nhồi nhét thô thiển và méo mó, bị chính trị hóa nặng nề làm cho những hồn văn chương đó thiếu hụt quá lớn nền tảng văn hóa về con người và nền tảng tư tưởng triết học của loài người. Thiếu hụt hai tầng quan trọng của nền tảng văn hóa đó, những trang viết của họ khó tiếp cận được với giá trị nhân văn, chỉ còn là thứ văn chương minh họa, cổ động cho chính trị, thứ văn chương công cụ của chính trị, núp bóng chính trị. Văn chương núp bóng. Con người bầy đàn. Không có cá nhân, không có con người tự do thì không thể có nhân cách văn hóa. Với tâm trạng đó, nhà nghiên cứu văn học Hoàng Ngọc Hiến, người thầy Hoàng Ngọc Hiến dạy ngữ văn ở nhiều trường đại học sư phạm đã dành nhiều tâm sức, thời gian xây dựng đề án tổ chức, xây dựng nội dung giảng dạy của một trường viết văn theo hệ đại học, chính qui, dài hạn cho những hồn văn chương đó.

Với đề án trong tay, với nỗi băn khoăn về sự thiếu hụt nền tảng văn hóa đích thực ở những nhà văn tương lai của nền văn học nước nhà, ông đến gặp những quan chức nhà nước đứng đầu ngành văn hóa và ngành giáo dục đại học, vận động để có một trường viết văn hệ đại học.

Giữa năm 1979 trường đại học viết văn Nguyễn Du chính thức ra đời và chiêu sinh khóa 1. Trường do một tiến sĩ văn chương có lí lịch được tin cậy về chính trị làm hiệu trưởng. Thầy Hoàng Ngọc Hiến chỉ là chủ nhiệm khoa nhưng chúng tôi đều nhận ra bóng thầy Hoàng Ngọc Hiến lừng lững trên ngôi trường đơn sơ chỉ là một dãy nhà tranh mái lá vách liếp trên đất trường Đại học Văn hóa và song song với những dãy nhà vách liếp mái lá là nhà nội trú của sinh viên trường Đại học Văn hóa, 103 Đê La Thành, Hà Nội. Chúng tôi vẫn thấy tinh thần Hoàng Ngọc Hiến, linh hồn Hoàng Ngọc Hiến trong từng tiết học, ở từng con người, người dạy và người học, trong những tiết học đó.

Tinh thần Hoàng Ngọc Hiến ở người dạy và người học hiển hiện rõ nhất ớ khóa 1 trường đại học viết văn Nguyễn Du. Không thể đào tạo ra nhà văn, với nhận thức đó trường chỉ nhận những người đã có tác phẩm văn chương được xuất bản, đã là nhà văn và có nền học vấn đã tốt nghiệp trung học phổ thông. Có người bước ra từ cuộc chơi trò trốn tìm với cái chết suốt mười năm ở mặt trận phía Nam. Trong tay chỉ có mảnh giấy chứng nhận thương binh. Mảnh bằng tốt nghiệp trung học phổ thông bị thất lạc không còn nữa thì phải dự cuộc kiểm tra kiến thức môn văn và môn sử do trường Đại học Văn hóa ra đề và chấm bài. Một chuyện bi hài đã xảy ra. Nhà văn Thái Bá Lợi, tác giả truyện vừa Hai người trở lại trung đoàn đang có tiếng vang đã bị điểm 1, điểm thấp nhất bài kiểm tra môn Văn!

45 sinh viên khóa 1 là lứa nhà văn dân sự và nhà văn quân đội chắt ra từ cuộc chiến tranh thảm khốc hàng triệu người lính từ hai phía bỏ xác ngoài mặt trận, hàng triệu người dân trên khắp đất nước chết thảm vì bom đạn từ trên trời rơi xuống, chết thảm vì những khối thuốc nổ gài vào cuộc sống bình yên. Chết trên cánh đồng ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Chết trong xưởng máy ở Hải Phòng. Chết trên giường ngủ êm ấm giữa trung tâm Sài Gòn. 22 nhà văn mặc áo lính và 23 nhà văn dân sự với những cái tên đã được dư luận quan tâm như Dương Thu Hương, Lâm Thị Mỹ Dạ, Vương Anh, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khắc Trường, Chu Lai, Thái Bá Lợi…

Đã đi qua suốt cuộc chiến tranh mười năm, người học không còn trẻ nữa. Còn người dạy là những nhà văn hóa hàng đầu Việt Nam ở các trường đại học và các viện nghiên cứu được thầy Hiến chọn lọc và đến gặp trực tiếp từng người đặt hàng họ giảng về những đề tài mà họ chuyên sâu và đã có những thành tựu khoa học được ghi nhận. Trò có bề dày cuộc sống thì thầy cũng có bề dày chữ nghĩa nên cũng không có thầy nào còn trẻ.

Nhà khoa học đích thực đều có tâm hồn nghệ sĩ, hồn nhiên và trẻ trung. Giáo sư tâm lí học Hồ Ngọc Đại mái tóc muối tiêu mà phần muối đã lấn lướt phần tiêu với chiếc áo blouson của lính phi công Nga và chiếc xe đạp đua Sputnik ông mang về từ nước Nga Xô viết, nơi ông lấy bằng tiến sĩ tâm lí học. Áo bay và xe đua Sputnik đang là mốt của thanh niên Hà Nội lúc đó. Trước những đôi mắt chăm chú của người học nhìn lên, đôi mắt ông cũng sáng lấp lánh như đôi mắt cô gái đang yêu. Giọng sang sảng và say sưa, ông dẫn Marx vanh vách nhưng ông lại hồn nhiên nói: Cách mạng tháng Tám thành công là do dân trí thấp!

Giảng đường là hai gian đầu của dãy nhà lá tuềnh toàng nhưng những giờ lên lớp về ngôn ngữ của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, lên lớp về lịch sử văn hóa Việt Nam của giáo sư Trần Quốc Vượng, lên lớp về lịch sử văn hóa thế giới của giáo sư Nguyễn Hồng Phong… đã thu hút cả những cán bộ ở các cơ quan văn hóa, sinh viên khoa văn các trường Đại học Sư phạm, Đại học Tổng hợp đến nghe, ngồi chật trong phòng học, ngồi tràn cả ra ngoài cửa.

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi ở Viện Văn học được dành khá nhiều giờ để diễn giải về lịch sử thể kí sự. Be rượu nhỏ để trước mặt, nhà văn Nguyễn Tuân thủng thẳng nói về việc nhặt nhạnh, tích cóp từ ngữ trong dân gian, học lời ăn tiếng nói của người lam lũ làm ra hạt gạo, củ khoai cũng là người sáng tạo ra ngôn ngữ dung dị mà gợi cảm. Học ngôn từ của cuộc sống, học cả cách nhìn, cách cảm nhận cuộc sống. Nguyễn Tuân nói về những chuyến đi theo cách của Nguyễn Tuân để có những bài kí mang phong cách Nguyễn Tuân. Nhìn con người lịch lãm trong đời, lịch lãm trong văn chúng tôi hình dung ra con người văn hóa Nguyễn Tuân và con người văn hóa đó đã làm nên sức hấp dẫn của trang sách Nguyễn Tuân và sức hấp dẫn của lời nói Nguyễn Tuân.

Mang tinh thần Hoàng Ngọc Hiến là mang những giá trị văn hóa mới mẻ đến cho chúng tôi, được chúng tôi háo hức đón nhận. Không mang tinh thần đó, một tên tuổi lớn, một nhà thơ có tài viết về tình yêu say đắm nhưng mãi mãi khắc khoải không bao giờ đến được: Phải duyên phải lứa thì thương / Để chi đêm thẳm ngày trường hỡi em. Tình yêu luôn khắc khoải trong xa cách. Dù có sát bên nhau vẫn xa vời vợi: Có một bận em ngồi xa anh quá / Anh bảo em ngồi xích lại gần hơn / Xích lại gần hơn chút nữa, anh hờn / Em đứng dậy mỉm cười vội vã / Đến bên anh và mơn trớn: Em đây / Anh vui liền nhưng lại buồn ngay / Vì anh thấy vẫn còn xa nhau quá! Người viết về tình yêu say đắm và khắc khoải như vậy, không phải chỉ chúng tôi chờ đợi mà cả những người trẻ làm công việc chữ nghĩa ở các báo, các nhà xuất bản, các viện khoa học xã hội cũng đến để được nghe tiếng nói của một tình yêu khôn cùng. Nhưng nhà thơ tình yêu lại nói những điều rất chính trị mà ông đã nói hàng chục, hàng trăm lần với các trường học, các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị quân đội, nơi ông được mời đến nói chuyện thơ với quần chúng công nông binh trong nhiều năm qua bây giờ nhà thơ lớn lại rỉ rả nói ở trường viết văn Nguyễn Du. Người nghe cứ lặng lẽ biến mất. Phòng học trống vắng đến nỗi nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ phải đưa cả hai con gái nhỏ, bé Lim và bé Líp, vào phòng học, ngồi lấp bớt đi những chiếc ghế trống để nhà thơ lớn khỏi buồn.

Giữa năm 1981, khóa 1 trường đại học viết văn Nguyễn Du đi thực tế để viết tác phẩm tốt nghiệp. Tôi, Nguyễn Trí Huân, Lâm Thị Mỹ Dạ được ở cùng đoàn đi Lâm Đồng với thầy Hoàng Ngọc Hiến. Chúng tôi đã ngồi thuyền độc mộc ngược dòng sông Đồng Nai đến buôn Go, Cát Tiên, mảnh đất heo hút của tỉnh Lâm Đồng giáp Đắc Nông, gặp những nông dân đói đất từ Nam Định, đồng bằng Bắc Bộ vào khai khẩn vùng đất màu mỡ còn hoang vu Cát Tiên để nhà văn Nguyễn Trí Huân có bút kí Bát ngát Đồng Nai Thượng. Chúng tôi đã đến nghĩa trang liệt sĩ ở thành phố Đà Lạt đứng lặng trước san sát những nấm mồ liệt sĩ vô danh để nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ có bài thơ hay với câu kết rưng rưng: Người vô danh, cỏ cũng vô danh / Nhưng tôi thấy suốt đời tôi mắc nợ. Trong một đêm ở nhà khách tỉnh ủy Lâm Đồng, đường Duy Tân, Đà Lạt, tôi viết xong truyện ngắn Giai điệu Đà Lạt. Truyện ngắn này sau đó đăng ở tạp chí Văn nghệ Quân đội và in trong nhiều tập sách khác, được chọn in trong tập truyện ngắn xuất bản bằng tiếng Anh, The Dalat Melody, của nhà xuất bản Ngoại Văn, năm 1983.

clip_image004

Thầy Hoàng Ngọc Hiến (bìa phải), tác giả và nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

Đến Lâm Đồng chúng tôi được gặp một tấm lòng hồn hậu, thân thiết, một tỉnh ủy viên, trưởng ban Tuyên giáo tỉnh ủy Lâm Đồng Hồ Phú Diên. Tấm lòng đó đã đưa chúng tôi đi nhiều ngả đường Lâm Đồng, đã mở lòng với chúng tôi về cuộc đời ở rừng gian nan của ông. Quê ông ở miệt biển Bình Thuận nhưng trong suốt cuộc chiến tranh vừa qua ông sống chui lủi trong những cánh rừng cao nguyên Đà Lạt. Trong một bữa nhậu vui vẻ, tôi ngồi bên phải và Hồ Phú Diên ngồi bên trái Hoàng Ngọc Hiến. Được nghe câu chuyện của Hồ Phú Diên và Hoàng Ngọc Hiến, tôi mới chợt nhận ra ông thầy Hoàng Ngọc Hiến của mình. Hồ Phú Diên than phiền rằng làm tuyên giáo nhưng ông thiệt thòi là không được học lí luận dài hạn, bài bản ở trường đảng Nguyễn Ái Quốc. Hoàng Ngọc Hiến liền nhỏ giọng, nói: Anh không được học là may. Học cái sai thì càng học càng ngu. Đất nước mình khốn khổ như hiện nay là vì cái ngu đó. Tôi nhìn Hồ Phú Diên. Ông cũng bất ngờ như tôi nhưng sau đó tôi nhận ra ông càng thân tình, quí mến, nể trọng Hoàng Ngọc Hiến hơn.

Đó là giữa năm 1981. Mười năm sau, cái sai mà Hoàng Ngọc Hiến nói đến mới bộc lộ ra ở sự sụp đổ cả hệ thống cộng sản Đông Âu.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.