Nguyễn Công Trứ thông reo ngàn Hống

nguyencongtru

365 chuyện kể mỗi ngày.

NGUYỄN CÔNG TRỨ THÔNG REO NGÀN HỐNG.

Hoàng Kim.

Ngồi buồn mà trách ông xanh. Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười. Kiếp sau xin chớ làm người. Làm cây thông đứng giữa trời mà reo. Giữa trời vách đá cheo leo. Ai mà chịu rét thì trèo với thông“. Bài thơ “Cây thông” của Nguyễn Công Trứ là mẫu mực thơ lục bát  Việt Nam, thể hiện ngôn chí của ông. Nguyễn Công Trứ  (1778-1858) tên tục là Củng, tự là Tồn Chất, hiệu là Ngộ Trai, biệt hiệu là Hy Văn là một nhà quân sự, nhà kinh tế và nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam cận đại. Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Du là hai danh nhân lỗi lạc cùng thời của trời đất Hồng Lam có công lớn làm tỏa sáng di sản tinh hoa văn hóa Ví dặm và Ca trù. Tôi có cô em Ví dặm Ân tình nói thật như đùa: “Nếu Nguyễn Công Trứ mà còn sống, được làm lẽ ông ấy em cũng cam“.

Cụ Nguyễn Công Trứ làm chúng ta vui theo cái vui, cái buồn, cái bợn cợt của Cụ, và điều này làm cho sự tiếp nhận và đàm luận về tác phẩm”Thông reo ngàn Hống” của nhà giáo nhà văn Nguyễn Thế Quang viết về Cụ Nguyễn Công Trứ  càng thú vị hơn. Thầy giáo Nguyễn Thế Quang viết: “Hoàng Kim thân quý. Những ngày kỷ niệm đầy ý nghĩ này, rất mừng khi gặp Hoàng Kim. Rất xúc động khi đọc được những vần thơ chân thành đầy tình yêu thương chung thủy của bạn với Miền Đông. Rất vui khi bạn đã nói được với con những tâm tình, truyền cho con những điều tốt đẹp qua những lời thơ và những tấm ảnh. Rất mừng khi cùng được gặp gỡ những người bạn của Hoàng Kim – những người mà nhìn qua ảnh, mình cảm nhận được đó là những con người trung hậu mà phóng khoáng với một đời sống tình cảm phong phú mà đẹp. Có được những người bạn tâm giao như vậy là quý lắm. THÔNG REO NGÀN HỐNG có nhiều điều thú vị. Cảm ơn cụ Hy Văn có một cuộc đời quá phong phú, hào hoa mà lỗi lạc để cho mình có thể có những trang viết đẹp. Mong Hoàng Kim và bạn bè đọc và đồng cảm, cùng chia sẻ nhé. Có gì Email cho mình: thequangcuc.na@gmail.com Nguyễn Thế Quang”

Tôi cũng viết lại: GỬI CÔ QUẾ HẰNG VÀ ANH HAI THẾ QUANG. Cám ơn thầy giáo, nhà văn Thế Quang đã cảm nhận rất nhanh bài viết này ngay sau khi “Nguyễn Công Trứ, thông reo ngàn Hống” vừa lên trang TÌNH YÊU CUỘC SỐNG , DẠY VÀ HỌC. THÔNG REO NGÀN HỐNG, riêng tên tác phẩm đã khơi đúng thần của cụ Hy Văn. Cô em Ví dặm ân tình, Quế Hằng và anh ba Nguyễn Vạn An đã trao đổi rất hay về “VỊNH MÙA ĐÔNG” của Nguyễn Công Trứ. Cô em Quế Hằng có cái thân thiết, ngang tàng, dám “cãi” cụ Nguyễn Công Trứ, anh ba Vạn An đã chỉ ra khí phách và nét đẹp tính cách của cụ Hy Văn và cô Quế Hằng (Riêng ý tưởng trăng soi từ thềm Quế cung Hằng đối với cụ Hy Văn thì thật là tuyệt diệu). Riêng cô Ví thì sâu sắc dịch lý bỡn cợt theo lối công chúa Liễu Hạnh ghẹo trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, nếu có anh hai Thế Quang vào đây để cảm nhận “vịnh mùa Đông” của cụ Hy Văn mượn mùa đông để nói lão Tùng “thông reo ngàn Hống” thì mới tỏ được hết cái hay của bài thơ cụ Trứ.

VỊNH MÙA ĐÔNG

Nguyễn Công Trứ

Nghĩ lại thì trời vốn cũng sòng,
Chẳng vì rét mướt bỏ mùa đông.
Mây về ngàn Hống đen như mực,
Gió lọt rèm thưa lạnh tựa đồng.
Cảo mực hơi may ngòi bút rít,
Phím loan cưỡi nhuộm sợi tơ chùng.
Bốn mùa ví những xuân đi cả,
Góc núi ai hay sức lão tùng.

“CÃI” CỤ NGUYỄN CÔNG TRỨ

Quế Hằng http://quehang.blogtiengviet.net

Lão trời thực chất cũng không sòng
Chốn ấm như hè chốn giá đông
Mạn bắc tê lòng cây trắng núi
Phương nam mát mặt cỏ xanh đồng
Kẻ cày khô họng còn quần lửng
Người ngủ ấm lưng lại áo chùng
Được cái om mầm nên nõn lá
Qua sương đâu chỉ có riêng tùng

CỤ VÀ CÔ !
Nguyễn Vạn An
http://ngvanan.blogtiengviet.net/

Cô Hằng, cụ Trứ cũng một sòng,
Xướng họa rù rì giữa lạnh đông
Người xưa sang sảng ra thơ ngọc
Kẻ hậu chăm chiu rót chén đồng
Vung thơ Cụ nhúng ngòi mực cạn
Nâng đàn Cô vặn sợi giây chùng
Bốn mùa cứ tưởng là xuân cả
Sao dám trăng son họa lão tùng?

“CÃI” CỤ TRỨ VÀ CÔ HẰNG

Ph Lan Hoa
http://vigiamantinh.blogtiengviet.net

Vô – Hữu ở đời ai thấu chăng?
Mẹ hiền đau đẻ rõ ràng rang
Cớ sao lại bảo trời sinh phận
Người bảo công bằng, kẻ vãn than.
Vũ trụ bao la luôn dịch chuyển
Luân hồi mưa nắng đủ quanh năm
Sang hèn tính cách gieo nên cả
Muốn tới mùa xuân tự bước chân.

“Luận mãi làm chi cái Phẳng-Sòng”
Đạo trời nói mấy cũng không xong
Nhan Hồi tự giải oan trò Khổng
Vô sự, vô vi tự đáy lòng.

THUNG DUNG TẬN HƯỞNG MÙA ĐÔNG

Hoàng Kim

Xuân, Hạ, Thu, Đông vốn phẳng sòng,
Bốn mùa chẳng thể thiếu mùa đông.
Tam Đảo non xanh, hai cánh rộng,
Cửu Long nước biếc, một chữ đồng.
Trẻ ham tâm đức nên cố gắng,
Già mong phúc hậu phải biết chùng.
Thung dung tận hưởng mùa đông tới,
Sông núi, trúc mai với lão tùng.

Hoàng Kim có đôi lời thưa thêm với cô Quế Hằng Ví Dặm Ân Tình và bạn đọc: Tôi chép bài Vịnh Mùa Đông của Cụ Hy Văn cùng các bài họa của các quý Cụ, quý Cô về đọc và đều rất tâm đắc với ý tứ trong các bài thơ họa. Dẫu vậy, có những điều tâm sự của cụ Nguyễn Công Trứ ít được một số bài họa bàn luận sâu sắc mà chỉ họa vui vẽ cùng cụ Trứ theo Đường luật và ý nghĩa thông thường dễ nhận thấy của bài VỊNH MÙA ĐÔNG.

Thật ra, theo ý tôi cảm nhận được thì VỊNH MÙA ĐÔNG, CÂY THÔNG là hai bài thơ NGÔN CHÍ đặc sắc của cụ Hy Văn. Đó là ý tứ thâm hậu của cụ Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ “ra tướng võ, vào tướng văn” tỏ ý với vua Minh Mệnh và các vị quan cao cấp cùng thời Hà Tôn Quyền, Trương Đăng Quế, Nguyên Văn Siêu, Nguyễn Quý Tân,…

Nguyễn Công Trứ viết “Nghĩ lại thì trời vốn cũng sòng/ Chẳng vì giá rét bỏ mùa đông” là lời giải thích vì sao ông được vua Minh Mệnh tin dùng. Triều Nguyễn thời đó đang như mùa đông lạnh giá, vua Gia Long mới lập quốc, lòng người chưa quy về một mối, triều chính chưa ổn định, lòng người ly tán, số quan lại mới trổi dậy ham vơ vét, người công chính như Nguyễn Du thì không muốn hợp tác vì không được thực lòng tin dùng. Vua Gia Long mất, vua Minh Mệnh nối ngôi, việc thiết lập nhà nước kỷ cương cần những mẫu người kiêu dũng, dấn thân như Nguyễn Công Trứ.

Toàn cảnh đất nước trong buổi đầu gian nan được Nguyễn Công Trứ tóm tắt trong bốn câu: “Mây về ngàn Hống đen như mực,/ Gió lọt rèm thưa lạnh tựa đồng./Cảo mực hơi may ngòi bút rít,/ Phím loan cửi nhuộm sợi tơ chùng.” Trong điều kiện ấy, Nguyễn Công Trứ đã đánh giá vua Minh Mệnh “Nghĩ lại thì trời vốn cũng sòng,… Bốn mùa ví những xuân đi cả,/Góc núi ai hay sức lão tùng.” không như là trường hợp “Thánh nhân bất đắc dĩ dụng QUYỀN”. “Vịnh mùa đông” “Cây thông” là những bài thơ ngôn chí đặc sắc nhất của ông.

Nay có tiểu thuyết “Thông reo ngàn hống” 600 trang của nhà giáo nhà văn cẩn trọng, tài hoa, sâu sắc Nguyễn Thế Quang, chúng ta sẽ có thêm một góc nhìn để hiểu cụ Nguyễn và thích thú đón nhận những chia sẻ rất hay đời thường của nhiều quý Cụ, quý Cô, anh chị em và bạn đọc.

NGUYỄN CÔNG TRỨ CUỘC ĐỜI VÀ HUYỀN THOẠI

Nguyễn Công Trứ là con quan Đức Ngạn hầu Nguyễn Công Tấn, quê ở làng Uy Viễn, nay là xã Xuân Giang huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông Nguyễn Công Tấn, đậu cử nhân năm hai mươi bốn tuổi, làm giáo thụ phủ Anh Sơn, Nghệ An, sau thăng làm tri huyện Quỳnh Côi, rồi tri phủ Tiên Hưng, Thái Bình. Mẹ Nguyễn Công Trứ là con gái quan quản Nội thị Cảnh Nhạc bá, họ Nguyễn, người xã Phụng Dực, huyện Thượng Phúc, tỉnh Sơn Nam (nay thuộc Hà Nội).

Nguyễn Công Tấn năm khi quân đội Tây Sơn ra Bắc chiếm Thăng Long, ông đã cùng các cựu thần nhà Lê hưởng ứng chiếu cần vương chống lại, việc không thành, ông đưa gia đình về quê mở trường dạy học. Nguyễn Huệ mấy lần mời ra làm quan, ông đều từ chối.

Gia đình Nguyễn Công Trứ có sáu anh em, ba trai, ba gái, có một bà rất thông minh, giỏi thơ văn, người đương thời gọi là Năng văn nữ sĩ. Năm mười chín tuổi, chồng chết, bà nhất định không chịu tái giá, mà đi tu, bà được vua Minh Mệnh ban danh hiệu “Trinh tiết khả phong”.

Nguyễn Công Trứ do biến loạn thời cuộc nêu trên nên từ nhỏ đã sống trong cảnh nghèo khổ nhưng từ thuở còn hàn vi ông đã nuôi chí lớn lập công danh, sự nghiệp giúp đời cứu dân:

Làm trai đứng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông.

Giai thoại kể rằng thuở nhỏ Nguyễn Công Trứ tục gọi là Cũng học với thầy dạy là bạn thân của cha. Lúc Cũng 10 tuổi, một hôm thầy học sang thăm Đức Ngạn Hầu, Cũng đứng hầu hai người lớn đàm đạo. Hai cụ rít thuốc lào và hỏi về sự học, Cũng ứng khẩu:

Nín hơn biển động ba tầng sóng
Há miệng rồng bay chín khúc mây
Ba tầng sóng dội vang trời bể
Năm sắc mây bay thấp thoáng trời.

Một giai thoại khác về Nguyễn Công Trứ là trong một lần hành binh của vua Gia Long ra Bắc, Nguyễn Công Trứ  đã ngủ ở tại một đụn rơm ven đường, quân lính đến, ông vẫn điềm nhiên ngủ mà không hề tỏ ra sợ hãi. Khi Lê Văn Duyệt hỏi vì sao không sợ quan thì Nguyễn Công Trứ đáp rằng: “Tiểu sinh là học trò, nghe rằng quân của Tả quân là đội quân nhân nghĩa, kỷ luật nghiêm minh nên không sợ. Tiểu sinh vì đi đường bị mệt nên ngủ quên”.  Khi bắt ông vịnh ổ rơm thì ông ứng khẩu: Ba vạn anh hùng đè xuống dưới/ Chín lần thiên tử đội lên trên.

Nhà Nguyễn sau khi diệt nhà Tây Sơn đã tổ chức thi cử để chọn quan lại. Nguyễn Công Trứ hăm hở đi học đi thi. Năm 1819, ông thi đậu Giải nguyên và được bổ đi làm quan, lúc đó ông đã bốn mươi mốt tuổi.

Năm 1820 Nguyễn Công Trứ giữ chức Hành tẩu ở Quốc sử quán. Sau đó ông liên tiếp giữ các chức Tri huyện Đường Hào, Hải Dương (1823), Tư nghiệp Quốc tử Giám (năm 1824), Phủ thừa phủ Thừa Thiên (1825), Tham tán quân vụ, rồi thăng Thị lang Bộ hình (năm 1826). Năm 1828, ông được thăng Hữu tham tri Bộ hình, sung chức Dinh điền sứ, chuyên coi việc khai khẩn đất hoang. Năm 1832, ông được bổ chức Bố Chánh sứ Hải Dương, cùng năm thăng Tham tri Bộ binh, giữ chức Tổng đốc tỉnh Hải An… Sau nhiều thăng giáng, năm 1845 Nguyễn Công Trứ làm Chủ sự Bộ Hình, năm sau làm quyền Án sát Quảng Ngãi, rồi đổi ra làm Phủ thừa Phủ Thừa thiên. Năm 1847 ông thăng làm Phủ doãn Phủ Thừa thiên lúc tròn bảy mươi tuổi.  Nguyễn Công Trứ xin về hưu, nhưng Thiệu Trị không cho. Năm 1848, Tự Đức nguyên niên, ông được  nghỉ hưu. Nguyễn Công Trứ tự tổng kết đời mình qua bài thơ sau:

“Cũng may thay công đăng hoả có là bao, theo đòi nhờ phận lại nhờ duyên, quan trong năm bảy thứ, quan ngoài tám chín phen, nào cờ nào quạt, nào mão nào đai, nào hèo hoa gươm bạc, nào võng tía dù xanh, mặt tài tình trong hội kiếm cung, khắp trời Nam bể Bắc cũng tung hoành, mùi thế trải qua ngần ấy đủ; Thôi quyết hẳn cuộc phong trần chi nữa tá, ngất ngưởng chẳng tiên mà chẳng tục, hầu gái một vài cô, hầu trai năm bảy cậu, này cờ này kiệu, này rượu này thơ, này đàn ngọt hát hay, này chè chuyên chén mẫu, tay thao lược ngoài vòng cương toả, lấy gió mát trăng trong làm tri thức, tuổi trời ít nữa ấy là hơn”.

Nguyễn Công Trứ mất năm 1858 tại quê hương ông lúc 82 tuổ. Ông  là nhân vật Việt Nam kiệt xuất thời cận đại, là một vị quan văn võ song toàn đã đóng góp nhiều công lao cho đất nước,  Vị quan lớn được dân lập đền “thờ sống”,  đặc biệt có nhiều giai thoại .

VUA MINH MỆNH, NGUYỄN CÔNG TRỨ, NGUYỄN DU

Lịch sử Việt Nam trãi bốn ngàn năm, thời vua Minh Mệnh đổi tên nước Đại Nam là có lãnh thổ rộng hơn cả. Ba nhân chứng lịch sử trọng yếu để soi thấu những uẩn khúc và giá trị nhân văn nổi bật nhất của thời kỳ nước Đại Nam là Minh Mệnh – Nguyễn Công Trứ – Nguyễn Du. Minh Mệnh là vị vua năng động và quyết đoán lập nên thế cục của thời ấy. Bất luận khen hay chê, ông là vị vua thời thịnh trị nhất nhà Nguyễn. Nguyễn Công Trứ là danh sĩ kỳ tài thời Minh Mệnh. Nguyễn Du là danh sĩ tinh hoa,  là vầng trăng cổ tích soi thấu từ thời Nguyễn Ánh – Nguyễn Huệ – Lê Chiêu Thống đến thời Minh Mệnh.

Tôi đồng tình với kết luận của Trịnh Văn Định trong bài nghiên cứu Cặp đôi trác dị Minh Mệnh Nguyễn Công Trứ, đăng trên trang Văn hóa Nghệ An “John Stuart Mill trong On Liberty  có viết: “Giá trị của một quốc gia, về lâu dài, chính là giá trị của những cá nhân tạo nên quốc gia đó”. Nguyễn Công Trứ và cả Minh Mệnh đều xứng đáng là những giá trị của quốc gia vì họ tạo nên quốc gia đó về lâu dài. Ngày nay, chúng ta cần nhiều hơn nữa những Nguyễn Công Trứ và cần thiết hơn là phải đi tiếp những khía cạnh mà Nguyễn Công Trứ chưa đi vì chưa có điều kiện đi hoặc vì những lý do chủ quan và khác quan khác và cần thiết hơn nữa là những vị đứng đầu với nhiều khía cạnh sáng suốt như Minh Mệnh: chuyển trọng tâm từ cái nhìn hệ thống sang trọng tâm cái nhìn về con người!

Minh Mệnh và Nguyễn Công Trứ có vua ấy, có tôi ấy đã làm nên những điều kỳ tích trong lịch sử. Thời Minh Mệnh mới lên cầm quyền, đất nước chưa yên giặc giã nổi dậy ở nhiều nơi, nổi bật và nguy cấp là: Giặc Phan Bá Vành nổi lên ở Nam Định, giặc Quảng Yên ở các đảo ven biển và giặc Nông Văn Vân ở miền núi phía Bắc. Đây là những kẻ cầm đầu lợi hại, giỏi võ nghệ thế lực mạnh, hoành hành rộng lớn làm triều đình nhà Nguyễn khó đối phó. Vua Minh Mệnh đã khéo dùng trí tướng Nguyễn Công Trứ một trí tướng đa mưu giảo hoạt linh lợi để chế thắng. Vua Minh Mệnh cũng trong dụng Nguyễn Công Trứ khai hoang ở Kim Sơn và Tiền Hải, mở rộng lãnh thổ, thu thuế và ổn định lưu dân đang thất nghiệp ở khắp nơi về lập làng lập ấp. Nguyễn Công Trứ đã tạo ra mối lợi vĩnh viễn: “tỏ sức ở chiến trường, nhiều lần lập được công chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức Doanh điền, sửa sang mới có trong một năm mà các việc đều có đầu mối, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn”. Cặp đôi trác dị Minh Mệnh Nguyễn Công Trứ đúng là cá tính và phẩm chất cá nhân kỳ tài soi sáng và lưu dấu một chặng đường dân tộc Việt.

Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ là hai danh nhân cùng thời.  Nguyễn Du (1765 -1820) là nhà thơ lỗi lạc, nhà ngoại giao xuất chúng. Ông cũng là một võ quan có chí lớn, nhà lãnh đạo đặc biệt tài năng đã từng đương đầu với Nguyễn Huệ, đối thoại với Gia Long, hiểu rõ  Nguyễn Văn Thành, thân thiết với Nguyễn Nễ, Vũ Trinh, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức. Ông hiểu sâu Lý số, thông tỏ Phong Thủy, rất vững Thiền học, thành thạo biến Dịch, đã đọc trên nghìn lần bộ kinh Kim Cương, với tâm sự gửi gắm Truyện Kiều và câu thơ kỳ bí: “Ba trăm năm nữa chốc mòng/ Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như”.

Nguyễn Công Trứ (1778-1858) kém Nguyễn Du 13 tuổi và cùng đồng hương Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Ông là một vị tướng văn võ song toàn, phong lưu đa tình, gian thần đời loạn, năng thần đời trị.  Nguyễn Công Trứ có công với triều Nguyễn trong cai trị, dẹp loạn . Ông  cùng chủ kiến với Gia Long,  Minh Mệnh ra tay trước (tiên phát chế nhân) để chặn bước những người xuất chúng và các thế lực tiềm tàng ngấp nghé ngai vàng.

Nguyễn Du 250 năm nhìn lại;  Nguyễn Du cuộc đời và thời thế đã soi thấu nhiều điều trong câu chuyện Nguyễn Ánh – Nguyễn Huệ – Lê Chiêu Thống. Dẫu vậy đến thời Minh Mệnh phải thấu hiểu Nguyễn Công Trứ và Minh Mệnh mới hiểu được tư tương và hành trạng Nguyễn Du. Sâu sắc thay Nguyễn Du với Truyện Kiều và các ứng xử tuyệt vời thông tuệ của ông để tránh những thăng giáng tám lần như Nguyễn Công Trứ và kết cục thảm khốc của Nguyễn Văn Thành, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Văn Duyệt !

Vua Minh Mệnh, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ là ba nhân chứng lịch sử trọng yếu của thời kỳ nước Đại Nam giai đoạn vàng son nhất của nhà Nguyễn. Sự cần thiết nên đọc lại và suy ngẫm một cách thật kỹ lưỡng bài học lịch sử để soi thấu những uẩn khúc và giá trị nhân văn nổi bật nhất của những con người ấy và thời ấy.

Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa an nhiên, thung dung, tự tại, sáng như trăng rằm cổ tích.  Minh Mệnh Nguyễn Công Trứ kỳ tích lừng lẫy một thời, có vua ấy có thần ấy đều là kỳ tài. Nguyễn Công Trứ thông reo ngàn Hống, kỳ vĩ danh thần con người miền Trung “đã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông. Ngồi buồn mà trách ông xanh” …

Hoàng Kim

(*) Ghi thêm:  Năm 1841, Minh Mạng lâm bệnh nặng.[2] Lúc lâm chung, ông gọi quan đại thần Trương Đăng Quế[35] đến bên giường dụ rằng:” Hoàng tử Trường Khánh công lấy về ngôi thứ là hàng trưởng, lấy về đức, về tuổi nên nối ngôi lớn. Ngươi nên hết lòng giúp sức rập, hễ việc gì chưa hợp lẽ, ngươi nên lấy lời nói của ta mà can gián. Ngươi trông mặt ta, nên ghi nhớ lấy.“- Minh Mạng. Sau đó, ông cầm tay con trưởng là Trường Khánh Công Nguyễn Phúc Miên Tông trối trăng:Trương Đăng Quế thờ ta đến 21 năm, trọn đạo làm tôi, một lòng công trung, bày mưu dưới trướng, ra sức giúp việc ngoài biên, thực là một người công thần kỳ cựu của triều đình. Ngươi nên đãi ngộ một cách ưu hậu, hễ nói thì phải nghe, bày mưu kế gì thì phải theo, ngày sau có thể được thờ vào nhà thế thất.”
“Hà Tôn Quyền giỏi mưu kế, Hoàng Tế Mỹ giỏi văn chương, Nguyễn Công Trứ giỏi chiến trận, trong triều không nên để vắng ba người ấy”.

Xem thêm:

NguyenCongTruthongreonganHong

Danh nhân Nguyễn Công Trứ đã được thầy giáo nhà văn Nguyễn Thế Quang khắc họa chân dung trong tiểu thuyết Thông reo ngàn Hống do Nhà Xuất bản Trẻ ấn hành tháng 3 năm 2015. Nhà văn Nguyễn Khắc Phê giới thiệu: “Qua Thông reo ngàn Hống, nhà văn  Nguyễn Thế Quang  bằng nghệ thuật ngôn từ, đã làm sống dậy một  kẻ sĩ, một trí thức với những công tích lớn lao, mà cũng tài hoa rất mực với cốt  cách cứng cỏi, tâm trạng phong phú, phức tạp khác người, hơn người của Nguyễn Công Trứ. …“. Niềm vui đọc sách quý về một danh nhân Việt được viết bởi một người thầy, người bạn tâm giao, tài năng  cẩn trọng, tâm huyết thật thú vị biết bao!.

CẶP ĐÔI TRÁC DỊ MINH MỆNH NGUYỄN CÔNG TRỨ

Nguyễn Văn Định

VHNA 26 9 2016

Còn một câu hỏi treo lên trong giới nghiên cứu là tại sao trong điều kiện đại thiết chế chuyên chế đang đi vào giai đoạn phát triển đỉnh cao của nó, lại xuất hiện kiểu phong lưu danh sĩ, tự do cá nhân và cá tính Nguyễn Công Trứ nở rộ như vậy ở ngoài lăng miếu. Đương nhiên, khía cạnh tài hoa, tài tử của Nguyễn Công Trứ là điều kiện không thế thiếu, nhưng nếu chỉ có yếu tố tài tử của ông thì chưa đủ, phải chăng, nó còn cần đến một điều kiện khác mở từ phía khác nữa, đó là vai trò, đặc biệt là vai trò của người đứng đầu thiết chế đối với sự ra đời tự do cá nhân, văn hóa cá tính[1]xuất hiện.Chúng tôi sẽ chứng minh rằng, sự xuất hiện của trường hợp đặc biệt Nguyễn Công Trứ không thể thiếu được sự “dung túng” của người đứng đầu nhà Nguyễn, người quan trọng nhất tạo ra trường hợp Nguyễn Công Trứ không ai khác chính là hoàng đế Minh Mệnh. Chính Minh Mệnh và cái nhìn độc đáo của ông đối với hạn chế của hệ thống khoa cử và từ đó thiết lập chế độ biệt nhưỡng người trác dị là tiền đề xuất hiện những kiểu ngườitrác dị, cá tính như Nguyễn Công Trứ. Và đương nhiên, phải có những cá nhân xuất chúng như Nguyễn Công Trứ có thể chia sẻ, tương tác và nắm bắt được thời cơ đặc biệt này để thể hiện tự do cá nhân và khẳng định cá tính trong lịch sử. Họ hình thành cặp đôi đặc biệt, chúng tôi định danh là cặp đôi trác dị[2].

1.       Minh Mệnh và lịch sử đánh giá Minh Mênh trong ứng xử với Nguyễn Công Trứ

Theo Việt Nam sử lược Trần Trọng Kim, “Tháng giêng năm Canh thìn (1820) hoàng thái tử húy là Đảm lên ngôi, đặt niên hiệu là Minh Mệnh.

Vua Tháng tổ là một ông vua có tư chất minh mẫn, có tính hiếu đọc và lại hay làm; phàm có việc gì, ngài cũng xem xét đến, và có châu phê rồi mới được thi hành”[3]

Trước nay, trong mối quan hệ giữa Minh Mệnh và Nguyễn Công Trứ, có xu hướng chung đánh giá Minh Mệnh là ông vua chuyên chế hà khắc, xuống tay nhiều tình huống khá nặng với Nguyễn Công Trứ. Tuy nhiên, cũng có cái nhìn mang tính trung dung hơn và khách quan hơn. Trong số nhiều đánh giá về mối quan hệ này, điển hình cho cái nhìn thứ nhất là Phạm Thế Ngũ và nhà Nghiên cứu Lê Thước. Điển hình cho cái nhìn thứ hai là tác giả Việt Nam sử lược,Trần Trọng Kim.

Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 2, phần về Nguyễn Công Trứ, Phạm Thế Ngũ nhật xét về quan hệ Minh Mệnh với Nguyễn Công Trứ như sau: “Tư cách của một ông vua biết thủ đoạn dùng người, đánh, vuốt, thăng, giáng, lung lạc tinh thần người ta bằng đủ phương cách. Đối với Nguyễn Công Trứ, khi tín cẩn trọng dụng, cho tiền, cho quà, săn sóc, rỉ tai, khi nghiêm khắc trừng phạt, truất giáng đáo để”.[4]

Nhà Nghiên cứu Lê Thước cũng có nhận xét tương tự: “Tuy nhiên ấy là một cái thủ đoạn điên đảo hào kiệt, chứ kì thực thì nhà vua thấy cụ có tài cao đức trọng, ai cũng kính phục, không muốn để cái thanh thế cụ lớn lên quá, sợ khó giá ngự về sau; vì thế cho nên đã lấy ân mà cất lên, lại phải dùng oai mà ức xuống. Nhưng ân thì thường chỉ là ân mọn, mà oai thì toàn là oai lớn”.[5]

Nhà nghiên cứu Lê Thước còn kể: “Tháng 10 năm Minh Mệnh 7, bổ tham hiệp Thanh Hóa. Đi đến Hải Lăng (Quảng Trị) thì bị bệnh. Vua được tin xuống chỉ rằng: “Nay nghe Nguyễn Công Trứ đi đường chẳng may bị bệnh, chẳng hay đã lành chưa, lòng trẫm luống những bất an. Đặc phái một tên thị vệ đem theo viên ngự y, lập tức bắt trảm đi tới nơi điều trị, vụ được lành. Còn Nguyễn Công Trứ thì cứ an tâm mà uống thuốc bất kỳ một hai tháng, khi nào trong mình được thập phần khang kiện mới được ra đi chớ nên kíp vội, giờ mùa đông lạnh lẽo, nếu đau yếu lại, ấy là phụ các lòng quyến cố của Trẫm. Khâm thử[6]. Theo Phạm Thế Ngũ, nó là thủ đoạn rỉ tai mà thôi.

Người có đánh giá tương đối khách quan hơn cả là Trần Trọng Kim, trong Việt Nam sử lược ông viết: “Vua Thánh Tổ là một ông vua chuyên chế, tất thế nào cũng có nhiều điều sai lầm và có nhiều điều tàn ác, nhưng xét cho kỹ, thì thật ngài cũng có lòng vì nước lắm. Trong lo sửa sang mọi việc, làm thành ra nền nếp chỉnh tề, ngoài , đánh Xiêm dẹp Lào, làm cho nước không đến nỗi kém hèn.

Vậy cứ bình tĩnh mà xét, thì dẫu ngài không được là ông anh quân nữa thì cũng không phải là ông vua tầm thường; cứ xem công việc của ngài làm thì hiểu rõ”.[7]

Như vậy, cả ba nhà nghiên cứu đều nhận xét Minh Mệnh là ông vua chuyên chế hà khắc, đối xử với Nguyễn Công Trứ ân mọn oai lớn, sợ Nguyễn Công Trứ uy danh vang dội nên một mặt bổ dùng nhưng một mặt phải ra oai để kìm kẹp. Nói chung, tất cả những nhận xét trên đây đều không sai nhưng có lẽ nó chưa đủ. Tôi rất thích một nhận xét của Trần Trọng Kim, “dẫu ngài không được là ông anh quân nữa thì cũng không phải là ông vua tầm thường”. Chúng tôi cho rằng, vượt lên trên cả hà khắc và tầm vóc, Minh Mệnh là một ông vuatrác dị một từ mà ông rất thích dùng để nói về những người đặc biệt xuất chúng. Chúng tôi sẽ chứng minh tính chất trác dị của Minh Mệnh qua việc ứng xử với Nguyễn Công Trứ. Tức là chúng tôi sẽ không đọc Nguyễn Công Trứ và Minh Mệnh như các tiền bối đã làm, chúng tôi thử áp dụng những tiêu chí của ông vua trác dị (đặc biệt xuất sắc, lạ thường) để soi chiếu vào ứng xử của Minh Mệnh với Nguyễn Công Trứ và cũng nhìn ngược lại Nguyễn Công Trứ đã hô ứng với ông vua trác dị này như thế nào. Sự hô ứng của ông vua trác dị và một phong lưu danh sĩ trác dị, kết thành cặp đôi trác dị lừng danh trong lịch sử. Và chính tính chất trác dị của Minh Mệnh, đặc biệt là trác dị trong việc tìm kiếm, đào tạo và tưởng thưởng cho người trác dị, Minh Mệnh đã đóng vai trò là người mở đường chongườikiểu Trứxuất hiện và phát tiết thời Nguyễn, mà ở đó Nguyễn Công Trứ là trường hợp tiêu biểu nhất.

2.       Tư tưởng của Minh Mệnh về khoa cử, về tìm kiếm người trác dị và chế độ tưởng thưởng người trác dị và đặc biệt là tư tưởng về việc tìm kiếm, đào tạo, phát hiện người tài bằng con đường phi khoa cử – cơ chế mở đường người trác dị, những cá tính xuất hiện, đăng đàn và phát tiết.

Chính cái nhìn khác biệt của Minh Mệnh là cơ sở để cho những nhóm người được tuyển chọn chính thống hoặc cả nhóm phi chính thống có cơ hội được xuất hiện và phát triển. Những người có cá tính, khát vọng tự do cá nhân kiểu Trứ có cơ hội phát triển và thăng hoa. Theo chúng tôi, nó là yếu tố quan trọng nhất giúp Minh Mệnh có thể tuyển chọn được nhiều cá tính độc đáo. Cùng với đó là một cơ chế tưởng thưởng, khuyến khích đặc biệt, cả những ứng xử đặc biệt và đầy ngẫu hứng xuất hiện. Trong đó, sử dụng, tưởng thưởng và cả giáng cách với Nguyễn Công Trứ là sự ảnh xạ rõ nét nhất của tư tưởng khác thường của Minh Mệnh.

Một cái nhìn sắc sảo vào hạn chế của hệ thống khoa cử

Là người mang trọng trách kiện toàn thiết chế trong nước và mở rộng bờ cõi, Minh Mệnh quan tâm đặc biệt đến khía cạnh làm sao và bằng cách nào tìm kiếm được người tài năng, đặc biệt là tìm kiếm được người trác dị. Từ cái nhìn như vậy, ông đã nhìn trúng hạn chế cốt tử của hệ thống khoa cử: không những không tìm kiếm được người tài mà còn làm cho nhân tài mỗi ngày kém đi: “Lâu nay khoa cử làm cho người ta sai lầm. Trẫm nghĩ văn chương vốn không có quy củ nhất định, mà nay những văn cử nghiệp chỉ câu nệ cái hủ sáo, khoe khoang lẫn với nhau, biệt lập mỗi nhà một lối,  nhân phẩm cao hay thấp tự đó, khoa tràng lấy hay bỏ cũng do tự đó. Học như thế thì trách nào nhân tài chẳng mỗi ngày mỗi kém đi. Song tập tục đã quen rồi, khó đổi ngay được, về sau nên dần dần đổi lại”.[8]

Có thể Minh Mệnh không thật thiện cảm với khoa cử và có thể hiểu ông cũng không có cái nhìn ưu ái với những người thành đạt từ khoa cử. Vậy, tập tục đã quen, sau dần đổi lại, Minh Mệnh đã hướng trọng tâm tìm kiếm người tài của mình theo một hướng phi chính thống, tìm kiếm người tài không thông qua con đường khoa cử và đây là trọng tâm trong tìm kiếm người tài của ông.Phải chăng như chính Mênh Mệnh nói: Quốc gia ta xây dựng nền tảng ở Phương Nam[9] là cội nguồn của một sự thoát ra khỏi văn chương khoa cử trong đào tạo người tài như vậy.

Tìm kiếm người tài phi khoa cử

Lật giở Minh Mệnh chính yếu thiên cầu hiềnkiến quan, chúng ta sẽ bắt gặp dày đặc những chỉ dụ của Minh Mệnh về cách thức tìm kiếm người không qua con đường khoa cử. Năm Minh Mệnh thứ mười sáu, quyển 4, Minh Mệnh chính yếu, “Vua xuống dụ rằng:“Cầu cho nước trị bình thì lấy nhân tài làm trước tiên. Nay trẫm ra lệnh phải đề cử người mình biết, là muốn mở rộng đường lối cử người hiền tài. Nếu biết đích người ấy quả thực có tiếng hiền tài, có chính trị giỏi, hoặc là nhân phẩm ngay thẳng đứng đắn, là có thể cho ra ứng cử, có phải trẫm bắt phải quen biết mật thiết mới am hiểu cái tài cái nết của con người đâu, sao mà trịnh trọng quá như vậy. Phương chi quan có kẻ cao người thấp, mà phận sự làm bầy tôi như nhau, hà tất phải chậm chạp đề cử sau người ta. Nay chuẩn cho phải lựa chọn mà cử cho nhanh, hoặc hai ba người cử một người cũng được.”[10]

Rõ ràng, thái độ ông rất quyết liệt và yêu cầu phải làm gấp. Không chỉ dừng lại ở đó, ông còn luôn đau đáu, lo lắng những người tài đi ở ẩn không chịu ra giúp triều đình. Minh Mệnh năm thứ mười sau, “vua xuống dụ cho thị thần rằng: “Trong nước có người hiền tại thì công trị bình được rực rỡ, cũng như núi sông có ngọc châu thì mới có ánh sáng, nhưng người hiền tài sinh ra chỉ muốn gặp được vua. Có kẻ dấu tên ẩn kín là tự vua không biết dùng thôi. Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, hạ chiếu cầu hiền đến hai ba lần, tất là kẻ sĩ có tài đức không còn đi ẩn nữa, nếu được người hiền tài mà dùng thì đường lối trị bình trong nước mới có được[11].

Đặc biệt, Minh Mệnh còn nghĩ đến cả những người tài vì không quen với sự bó buộc của trường quy mà thi không đỗ, hoặc vì hạn ngạch mà không tuyển được bằng con đường khoa cử…Tức là Minh Mệnh đã nghĩ đến những trường hơp đặc biệt, những trường hợp này vì tự do, vì cá tính mà không theo quy củ nên không thi hoặc thi không đỗ. Ông đã xót xa và nghĩ đến họ: “Vua xuống dụ cho Nội các rằng: “hiện nay trong nước thái bình là đường chính của sĩ tử khoa mục, đã mở khoa tuyển chọn rồi, ngoài ra lại có cống hiến người hằng năm, bổ làm giám sinh và tú tài để sung vào giáo chức. Sự trừ súc lấy nhân tài làm trước nên lại nghĩ đến kẻ ở cửa sài nhà tranh, có người vốn theo nghề học muốn do khoa cử tiến thân, lại vì trường quy bó buộc, không khỏi lao đao nơi trường thi. Cũng có kẻ học tập biết viết, biết tính, muốn vào các nhà làm, thì lại bị lệ ngạch hạn chế, rồi đến phải chìm đắm nơi đồng ruộng, hạng người này không phải ít[12].

Ông nhìn ra những loại người tài mà không đi bằng hoặc không qua con đường khoa cử rất nhiều. Sự nhấn mạnh nhiều lần loại người này chứng tỏ ông có sự lưu tâm, đặc biệt chú trọng và coi trọng loại người này, nó như là một sự ám ảnh thường trực nơi ông.

Ông luôn đau đáu tìm cách có được người tài, nhưng ông cũng luôn băn khoăn suy nghĩ làm thế nào để có thể tìm kiếm được người tài thông qua tiến cử một cách thực chất, vì ông lo vàng thau lẫn lộn: “Trẫm muốn gấp dùng người tài, mà vẫn lo khó biết người, khoa đạo thường chầu ở hai bên, tiến cử cũng đã khả quan nhưng người hiền tài hay không chưa hay biết tường tận được. Muốn thử bằng lời nói, thì kẻ khéo biện luận thường nói quá sự thực, mà kẻ thành thực chất phác thường lại vụng lời nói, bằng vào đấy mà dùng hay bỏ, liệu không sai được chăng? Ngươi nên xét ai có thể dùng được thì đề cử lên”.[13]

“Người làm việc quan là do năng lực của anh ta”

Minh Mệnh nói rất rõ rằng, làm quan được xuất phát từ chính năng lực của anh ta. “Vua xuống dụ rằng:“Lập thành chính trị cần được người giỏi, mà sự cầu nhân tài không chỉ một cách nào. Kinh Thư nói: “Cử người làm được việc quan là do năng lực của anh”, đó là nói tiến người hiền lên vua dùng là chức vụ của kẻ đại thần vậy. Trẫm từ khi lên chấp chính đến nay, bên văn thì thi cử, bên võ thì tuyển chọn, lần lượt cử hành, đường lối cất nhắc nhân tài không phải là không mở rộng.Nhưng lại nghĩ đến người có tài năng hoặc còn chìm đắm ở những chức bên dưới, mà chưa xuất hiện được”. Bèn hạ lệnh ở kinh, bên văn thì thượng thư cử người khả kham làm hiệp trấn, tham tri cử người khả kham làm tham hiệp, thị lang cử người khả kham làm tri phủ, lang trung cử người khả kham làm tri huyện, huyện thừa. Bên võ thì chưởng doanh cử người khả kham làm vệ úy, đô thống thống chế cử người khả kham làm phó vệ úy quản cơ, thân binh, cấm binh, quản vệ cử người khả kham làm phó quản cơ, thành thủ úy, mỗi hạng một người. Người được cử không kể bị can phạt, giáng chức về việc công, cử khả kham làm được việc là chuẩn cho đề cử. Giám sinh (học trò nhà Giám) có học thức cũng cho phép giám thần (quan trong nhà Giám) xét cử lên”.[14]

Thưởng và phạt

Về việc thưởng phạt Minh Mệnh cũng rất rõ ràng và sòng phẳng: “Trẫm cũng muốn làm như thế, nhưng lại nghĩ giữ quyền quốc gia chỉ có thưởng với phạt; nay kẻ bị cách chức vừa mới có tội phải truất bỏ, mà lại đem ra dùng thi chúng lại lên mặt mà bảo nhau rằng: người có tư cách đời nay tuy bị bãi chức rồi lại được làm, rồi đến chỗ chúng bắt trước nhau, sợ không có cách nào dẹp được[15].

Tìm kiếm và tưởng thưởng người trác dị

Minh Mệnh không chỉ khát khao ngày đêm tìm kiếm người có năng lực làm việc quan, ông còn khát khao tìm kiếm và tưởng thưởng người trác dị, từ này do chính ông dùng, được Quốc sử quán chép lại trongMinh Mệnh chính yếu. Trác dị, theo như giải thích của Quốc sử quán nhà Nguyễn là “đặc biệt hơn người”. Minh Mệnh năm thứ tám, quyển 4, “Định ra lệ trác dị cấp kỷ. Vua xuống dụ rằng: “Sự gia cấp kỷ lục (ghi chép) là để tưởng thưởng khuyến khích người có công, trước nay lệ gia cấp bậc và ghi công đặc biệt, chưa từng bàn đến. Khi giao cho đình thần bàn định thêm thì đều cho là người trác dị (đặc biệt hơn người) tất phải có công nghiệp hành chính đối với dân xuất sắc hơn, người ấy chưa dễ thường có. Duy có người làm chính công bằng, xử kiện đúng lý, giữ không có trộm cướp, dân được yên ổn, làm quan có tiếng tốt, thì nên thưởng để khuyên người có công, là việc không thể thiếu được[16].

Như vậy, Minh Mệnh song song với tìm kiếm người tài bằng hình thức khoa cử, ông đặc biệt chú trọng và dành một sự ứu ái đặc biệt đối với những người được tiến cứ, tức không qua khoa cử. Ông hiểu rất rõ những cái hạn chế của chế độ khoa cử, ông thấu hiểu những người ở ẩn và không tiến thân bằng con đường khoa cử, ở một ý nghĩa nào đó ông trân trọng và chia sẻ với những người ưu tích tự do, không thích bó buộc và cả những người cá tính. Trong đó, ông mong ngóng và khát vọng ghi công đặc biệt cho những người trác dị. Hẳn phải là ông vua trác dị mới khát vọng tìm kiếm những người đồng điệu trác dị. Nhưng như chính ông nói, người trác dị chưa dễ thường có.

Điểm đặc biệt đáng chú ý là, Minh Mệnh đã không đặt niềm tin vào hệ thống (tức hệ thống khoa cử) mà ông chuyển hướng đặt niềm tin vào con người. Một sự chuyển hướng trọng yếu, không chỉ tạo ra sự khác biệt giữa Minh Mệnh với các hoàng đế khác mà còn là cơ sở trọng yếu tạo ra những người trác dịkiểu Nguyễn Công Trứ xuất hiện.

3.       Ứng xử của Minh Mệnh với Nguyễn Công Trứ nhìn từ tiêu chí của ông vua trác dị ứng xử với Nguyễn Công Trứ trác dị.

Người trác dị dùng người trác dị vào những việc đặc biệt, công việc hệ trọng, những việc mà người thường không làm được nhưng người trác dị làm được. Minh Mệnh đã đặc biệt thành công trong việc dùng Nguyễn Công Trứ vào những công việc kiểu như vậy.

Dùng người trác dị vào việc dẹp loạn.

Trong giai đoạn Minh Mệnh chấp chính, do đất nước mới thống nhất nên giặc giã nổi lên ở nhiều nơi trên khắp cả nước, trong đó nổi bật và nguy cấp là: Giặc Phan Bá Vành, giặc Quảng Yên và giặc Nông Văn Vân. Giặc Phan Bá Vành ở  Nam Định. Giặc Quảng Yên ở các đảo ven biển và giặc Nông Văn Vân ở miền núi phía Bắc. Đây cũng là những tên giặc đầu sỏ, hoành hành làm cho Minh Mệnh đau đầu, ăn ngủ không yên. Thú vị là, Minh Mệnh biết rõ Nguyễn Công Trứ là văn quan nhưng lại dùng ông với vai trò võ tướng dẫn đầu hoặc cùng dẫn đầu tiêu diệt nhưng giặc đảng nguy hiểm, khó đánh bắt được. Việc dùng văn quan cùng với vàdẫn đầu võ tướng là một cái nhìn đặc dị và cách dùng người đặc dị, có lẽ của những người trác dị, và vì thế Minh Mệnh cũng thành công đặc biệt và Nguyễn Công Trứ cũng tỏ ra là người trác dị, khi mà ông gạt bỏ được mối lo của Minh Mệnh, tạo ra môi trường ổn định, thống nhất trong  nước. Vì công lao trác dị này, Minh Mệnh đã triệu Nguyễn Công Trứ về triều và có những hành động ban thưởng cũng hết sức trác dị, chúng ta hãy theo dõi sử quan nhà Nguyễn chép: “Đạo Tuyên Quang dùng kế hỏa công, Vân bị chết cháy. Tin thắng trận tâu lên. Vua hạ lệnh cho quân ba đạo hát khúc thắng trận về kinh. Trứ vào trước thềm ra mắt vua. Vua thân rót rượu ban cho để tỏ lòng yêu quý đáp công. Lại thường cho các đồ chơi quý báu; ấm thự cho một người con Trứ làm Hiệu úy cẩm y[17].

Hành động rót rượu là một kiểu ứng xử đặc biệt dành cho Trứ, tưởng thưởng cho các đồ chơi quý báu (thuộc về chức năng chơi, biểu trưng hơn là giá trị vật chất) cũng là những kiểu đồ chơi không bình thường, đặc biệt. Và trác dị hơn nữa, là Minh Mệnh ấm thự cho người con Nguyễn Công Trứ. Một kiểu ứng xử tưởng thưởng cũng trác dị mà Minh Mệnh dành cho ông khi lập đại công.

Dùng người trác dị vào việc khẩn hoang

Minh Mệnh không chỉ thành công trong dùng Nguyễn Công Trứ với tư ách văn quan dẹp loạn ở vùng biên viễn, ông còn trác dị thể hiện ở việc dùng Nguyễn Công Trứ khai hoang, mở rộng lãnh thổ, thu thuế và ổn định lưu dân cho đế chế.Không chỉ thành công trong khai hoang ở Kim Sơn và Tiền Hải, quan trọng hơn nữa Nguyễn Công Trứ còn quy tụ và thu phục được lưa dân, lưu tán đang thất nghiệp ở khắp nơi về lập làng lập ấp. Không chỉ ổn định, tránh bạo loạn từ đám lưu dân này, khi lưu dân ổn định, đế chế còn nguồn lợi khác là thu thuế cho đế chế. Đánh giá về công lao của Nguyễn Công Trứ, Quốc sử quán nhà Nguyễn ghi nhận công lao của Nguyễn CôngTrứ một cách xác đáng: tạo ra mối lợi vĩnh viễn: “tỏ sức ở chiến trường, nhiều lần lập được công chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức Doanh điền, sửa sang mới có trong một năm mà các việc đều có đầu mối, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn”.[18]

Như vậy, mối lợi vĩnh viễn mà Trứ tạo ra cho đế chế gồm rất nhiều việc ông đã làm nhưng nổi bật là hai việc dẹp loạn và khẩn hoang. Bởi dẹp loạn nó tạo ra sự ổn định, bảo vệ tính quyền uy duy nhất của nhà Nguyễn mà Minh Mệnh là Hoàng đế và khai hoang không những mở rộng đất cho đế chế, còn thu thuế và đặc biệt ổn định lưu dân, giúp chống nổi loạn. Tất cả những việc làm này, hoàn toàn phù hợp thậm chí vượt qua tiêu chí của người trác dị mà minh mệnh hằng tìm kiếm.

Trác dị trong thưởng phạt, thăng giáng, luân chuyển

Nhìnvào diễn biến quan nghiệp của Nguyễn Công Trứ, dễ dàng phát hiện vô số khía cạnh bất thường, khác thường. Qua đó, có thể thấy tính bất thường trong ứng xử của Minh Mệnh đối với Nguyễn Công Trứ. Trước hết, tính bất thường trong thăng giáng.Nếu sơ đồ hóa nó như là hình lướt sóng, tức kiểu hình sin cứ lên lại xuống, cứ xuống lại lên. Tính bất thường của nó là nó không lên thượng đỉnh hẳn, cũng không lên một chiều, nó cũng không xuống đến đáy, tất nhiên có lúc cũng xuống đến cấp bậc thấp như Tri huyện Kinh. Nhưng sau đó lại thăng.Tính chất hình sin là đặc điểm nổi bật trong ứng xử của Minh Mệnh dành cho Nguyễn Công Trứ. Đặc điểm của hình sin này là: giữ thăng bằng trong khuông khổ và nằm trong tầm kiểm soát và không ở vị trí nào quá lâu, không bị giáng chức ở lâu vị trí nào mà thường giáng là thăng ngay. Tính ý đồ trong thăng giáng là hết sức rõ ràng.Giữ cho Nguyễn Công Trứ không theo một đường thẳng, hoặc không lên quá cao, hoặc không xuống quá thấp, tức không cực đoan hóa theo một định hướng nào phải chăng là dụng ý sâu xa trong ứng xử của Nguyễn Công Trứ với Minh Mệnh. Làm như vậy, Nguyễn Công Trứ vẫn vừa cống hiến cho nhà Nguyễn, nhưng lại giúp Minh Mệnh an toàn khi Nguyễn Công Trứ không đủ thời gian và tầm ảnh hướng để có thể quy tụ được một lực lượng đủ lớn để tạo thế đối trọng (nếu có), đồng thời, làm cho tính chất ổn định của Nguyễn Công Trứ luôn thay đổi.

Tính chất bất thường còn thể hiện ở việc ông liên tục được Thự (kiêm nhiệm) và luân chuyển qua nhiều vị trí khác nhau với công việc không giống nhau và ở những vùng miền khác nhau. Mặt khác, trong thưởng phạt cũng chứa nhiều điều không bình thường, phạt cũng có lúc rất nặng, nhưng như sử quán nhà Nguyễn chép, giáng lại thăng ngay và nhiều lúc thăng sửquán không biết lý do Minh Mệnh thăng là gì? Nó như là một kiểu dạng thức ứng xử riêng với người trác dị, tức nó theo lô gic của những người trác dĩ, duy họ mới hiểu ứng xử của nhau, nó ra ngoài khuôn khổ và người thường không hiểu được căn nguyên sâu xa của nó. Những món quà, mang tính đồ chơi cũng là một sự lạ, cả việc cho tiền, rỉ tai, cho bác sĩ riêng….cũng là những điểm không bình thường của Minh Mệnh dành cho Nguyễn Công Trứ, có lẽ chỉ có họ, hai người trác dị mới hiểu ý nghĩa và mới cảm được chiều sâu và sự khế ước ngầm trong ứng xử của cặp đôi trác dị này.

4.       Những ứng xử trác dị Nguyễn Công Trứ dành cho Minh Mệnh

Tạo ra “mối lợi vĩnh viễn” cho Minh Mệnh

Ứng xử khác thường tức là những ứng xử vượt trội, đặc biệt đột biến hoặc đặc biệt xuất sắc mà người khác không làm thế hoặc không ứng xử được, được hiểu là ứng xửtrác dị. Điều dễ nhận ra nhất mà chính Quốc sử quán nhà Nguyễn đã tổng kết, ứng xử trác dị lớn nhất, lừng danh nhất của Nguyễn Công Trức dành cho Minh Mệnh là đã tạo ra mối lợi vĩnh viễn cho Minh Mệnh và đế chế Nguyễn dựa trên hai nền tảng và thành tựu cơ bản của ông là dẹp giặc loạn: Phan Bá Vành, giặc Quảng Yên và đặc biệt là Nông Văn Vân và thứ hai là khẩn hoang và ổn định lưu dân, khẩn hoang ở Kim Sơn và Tiền Hải. So với các tiêu chí về người trác dị Minh Mệnh nêu ra thì những thành tựu mà Nguyễn Công Trứ đã làm được vượt xa tiêu chí của người trác dị mà Minh Mệnh hằng mong mỏi.

Không oán thán, không làm phản là ứng xử trác dị thứ hai Nguyễn Công Trứ dành cho Minh Mệnh

Mặc dù mang lại mối lợi vĩnh viễn cho đế chế nhưng Nguyễn Công Trứ nhận được ứng xử cũng hết sức “trác dị” mà Minh Mệnh dành cho ông. Liên tục thăng, lại giáng, giáng lại thăng, có lúc đang ở đỉnh cao quyền lực giáng Tri huyện Kinh. Hay nói như nhà nghiên cứu Lê Thước ân mọn oai lớn. Nhưng ứng xử của Nguyễn Công Trứ cũng hết sức khác thường. Ông vẫn một lòng cống hiến phục vụ Minh Mệnh và đế chế đúng nghĩa đến hơi thở cuối cùng, khi đã già còn xin Tự Đức cho đi đánh Pháp. Không những thế, bị giáng liên tục, thậm chí bị giáng nặng hơn so với những sai lầm, nhưng ít thấy ở ông một sự phẫn uất, bất mãn (ít nhiều có). Đặc biệt, nó không đẩy Nguyễn Công Trứ cực đoan theo hướng về ở ẩn hoặc theo hướng trở thành lực lượng đối lập.Hẳn đó cũng là ứng xử khác thường mà Nguyễn Công Trứ dành cho Minh Mệnh.

5.       Tổng luận về sự tương tác giữa Minh Mệnh và Nguyễn Công Trứ với tư cách là một cặp đôi trác dị.

Minh Mệnh – người “mở đường” cho Nguyễn Công Trứ đến với tự do cá nhân và phát triển cá tính

Như phần trên chúng tôi đã chỉ ra và nhiều nhà nghiên cứu đã đồng thuận, đến Nguyễn công Trứ đã hình thành tự do cá nhânvà dần hình thành một kiểu văn hóa cá tính[19]. Văn chương và ứng cử của phong lưu danh sĩ Nguyễn Công Trứ là minh chứng sinh động của một kiểu tự do trong lòng thiết chế chuyên chế.

Cần thiết nhắc lại rằng, về lý thuyết và cả trong thực tế không có sự xuất hiện tự do cá nhân trong lòng thiết chế chuyên chế, bởi thiết chế chuyên chế về một khía cạnh bản chất là phi tự do John Stuart Mill viết: “Ngay cả chế độ chuyên chế cũng không gây ra những ảnh hưởng tồi tệ nhất của nó miễn là tính cá biệt vẫn tồn tại dưới chế độ đó; và bất cứ cái gì bóp chết tính cá biệt đều là chuyên chế, dù cho nó được gọi là tên gì[20]. Nếu có tự do và đứng bên trên mọi luật pháp, quy tắc ứng xử, một cách tương đối đó là một nhân vật duy nhất là Hoàng đế. Đồng thời, với tư cách là cái lõi của tự do cá nhân, cá tính một mặt là phẩm chất cá nhân, một mặt là kết tinh của tự do cá nhân. Cũng có nghĩa là không có cơ hội xuất hiện và phát triển trong lòng thiết chế chuyên chế. Vậy tại sao đến Nguyễn Công Trứ tự do cá nhân và cá tính Nguyễn Công Trứ được thể hiện ở ở thời đại đại chuyên chế nhà Nguyễn với ông vua hà khắc Minh Mệnh.

Câu trở lời cho sự bất thường này ngoài lý do chủ quan là tài năng, khát vọng và cá tính Nguyễn Công Trứ thì một điều kiện không thể thiếu đó là cơ chế, hay một cái ô bảo trợ cho sự xuất hiện đó là gì? Thời đại chuyên chế Nguyễn không hoặc chưa đủ điều kiện cho tự do cá nhân và văn hóa cá tính xuất hiện.Vì thế, Nguyễn Công Trứ là trường hợp đặc biệt, mang tính cá biệt, không mang tính đồng loạt. Như vậy, đế chế và người đứng đầu của nó, chỉ tạo điều kiện cho một trường hợp cá biệt trác dị Nguyễn Công Trứ có cơ hội phát triển cá tính và tự do cá nhân.

Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng đặc dị này, như chúng tôi đã chỉ ra ở trên, chính là Minh Mệnh – người mở đường cho tự do cá nhân và cá tính Nguyễn Công Trứ xuất hiện và phát triển. Cụ thể hơn có nghĩa, chính định hướng quyết liệt tìm kiếm người ngoài khoa cử, tức không qua thi cử (đương nhiên Nguyễn Công Trú qua thi Hương đỗ thủ khoa), thông qua tiến cử và đặc biệt là chính sách tưởng thường và ưu đại đặc biệt dành cho người “trác dị” là đường hướng mở đường cho những kiểu người như Nguyễn Công Trứ có cơ hội phát triển tự do và cá tính phát triển. Theo chúng tôi, đó là cội nguồn về cơ chế, môi trường văn hóa và môi trường chính trị cho phép kiểu ứng xử và kiểu văn chương tự do đầy màu sắc cá tính, chơi cười, giễu, bỡn, say của Nguyễn Công Trứ được xuất hiện và phát triển.

Nguyễn Công Trứ – người “nhận đường” đến với tự do cá nhân và phát triển cá tính.

Thông qua những phân tích ở trên, có thể nhận thấy Nguyễn Công trứ đã đặc biệt hiểu, chia sẻ và tương tác với Minh Mệnh. Bằng chứng của sự tương tác này là ông đạt được thành tựu đặc biệt xuất sắc như mong muốn của Minh Mệnh về người trác dị, tạo mối lợi vĩnh viễn cho Minh Mệnh và đế chế. Hẳn Nguyễn Công Trứ cũng thấu hiểu những lần bị giáng cách nhưng ngay sau đó là thăng, và ông cũng rất hiểu nhiều lần một Minh Mệnh tuân theo phép tắc lại thăng ông không có lý do, và hình thức tưởng thưởng: thưởng tiền đột xuất, cho đồ chơi, ấm thự cho con của Nguyễn Công Trứ… Đặc biệt, tính chất hô ứng nhận đường, nhận tín hiệu từ Minh Mệnh của Nguyễn Công Trú thể hiện rất rõ quan hai mảng văn chương trong và ngoài lăng miếu[21]. Mảng văn chương trong lăng miếu mang thể dạng của đại thần mực thước, tuân thủ và chỉnh chu. Nhưng bộ phận văn chương ngoài lăng miếu lại đối lập hoàn toàn với bộ phân văn chương trong lăng miếu. Thông hiểu này rõ ràng được Nguyễn Công Trứ ý thức rõ ràng, phận sự đại thần và phục vụ đế chế Nguyễn Công Trứ vẫn luôn hoàn thành và hoàn thành đặc biệt xuất sắc, đương nhiên Minh Mệnh đặc biệt hài lòng. Khi đã hoàn thành phận sự đại thần, đóng góp đặc biệt cho đế chế, Minh Mệnh đã mở ra một con đường để Nguyễn Công Trứ đến với tự do cá nhân và phát triển cá tính. Nguyễn Công Trứ đã rất hô ứng với điều này, dấu hiệu giải thích cho sự hô ứng này rất hợp lý là ông đã rất chuyên biệt trong tư cách đại thần ở trong triều và đã rất phi đại thần trở thành hình ảnh phong lưu danh sĩ khi ngoài lăng miếu, đặc biệt thú vị là, văn chương trong lăng miếu hình ảnh Minh Mệnh mang đậm tính ngợi ca thì trong văn chương ngoài lăng miếu vắng bóng hình ảnh Minh Mệnh. Nhưng có lẽ đặc biệt nhất và thú vị nhất là, sở dĩ Minh Mệnh mở ra và không thổi còi đối với Nguyễn Công Trứ ở ngoài lăng miếu và Nguyễn Công Trứ ý thức triệt để việc đó là tự do cá nhân và cá tính Nguyễn Công Trứ không trực tiếp công phá và làm ảnh hưởng, tổn hại đến hình ảnh hoàng đế Minh Mệnh và đế chế. Nguyễn Công Trứ có giễu nhưng cao nhất là giễu quan đại thần, mà không dám trực tiếp giễu, bỡn Hoàng đế. Cả Minh Mệnh và Nguyễn Công Trứ đều khế ước với nhau và đó là bí mật của sự xuất hiện trường hợp tự do cá nhân và đặc thù cá tính với tư cách là trường hợp cá biệt xuất hiện, phát triển và thăng hoa ở thời Nguyễn Minh Mệnh.

KẾT LUẬN

Như vậy, tư tưởng về người trác dị, tìm kiếm người phi khoa cử và đánh giá thấp vai trò của khoa cử, và kiến tạo một cơ chế đặc dị cho người trác dị là đặc sắc, ghi dấu tầm vóc của Minh Mệnh. Vậy tại sao ông lại nghĩ khác các vị vua các triều đại trước, cội nguồn sâu xa của nó là gì? Có lẽ, để trả lời cần có một sự khảo luận kỹ càng nhưng có lẽ hợp lý nhất là, Minh Mệnh đặc biệt ý thức về tính chất địa chính trị và địa văn hóa của việc kiến tạo quốc gia mình, ông đã nói trước văn võ bá quan rằng: Quốc gia ta xây dựng nền tảng ở phương Nam[22], phải chăng, chính cái nền tảng Phương Nam đó khiến ông có cái nhìn mang tính Phương Nam, tức khai mở, khai phóng hơn về cách thức tìm kiếm và sử dụng người tài. Và thú vị hơn nữa là, một giai xứ Nghễ  ngồn ngộn phẩm chất lại được tung hoành ở một nền tảng quốc gia phương Nam Nguyễn Công Trứ, tức tính chất khai phong, khai mở của tinh thần Phương Nam không chỉ là cơ sở nền tảng giúp Nguyễn Công Trứ thể hiện và xúc tác cho cá tính của ông thăng hoa, mà nhiều dấn ấn của phương Nam khai mở kết tinh trong cả ứng xử và văn chương nơi ông.

Để kết luận cho bài viết này, tôi xin dẫn lại câu nói của John Stuart Mill trong On Liberty: “Giá trị của một quốc gia, về lâu dài, chính là giá trị của những cá nhân tạo nên quốc gia đó”. Nguyễn Công Trứ và cả Minh Mệnh đều xứng đáng là những giá trị của quốc gia vì họ tạo nên quốc gia đó về lâu dài. Ngày nay, chúng ta cần nhiều hơn nữa những Nguyễn Công Trứ và cần thiết hơn là phải đi tiếp những khía cạnh mà Nguyễn Công Trứ chưa đi vì chưa có điều kiện đi hoặc vì những lý do chủ quan và khác quan khác và cần thiết hơn nữa là những vị đứng đầu với nhiều khía cạnh sáng suốt như Minh Mệnh: chuyển trọng tâm từ cái nhìn hệ thống sang trọng tâm cái nhìn về con người!


[1] Chữ dùng của giáo sư Trần Đình Sử

[2]Trác dị là chữ của Minh Mệnh dùng chỉ những người đặc biệt xuất sắc.

[3]Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim, Nxb Văn học, 2016, tr. 342.

[4] Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 2, Nxb Đồng Tháp, 1997, tr. 498-499

[5] Dẫn theo, Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử, Đoàn Tử Huyến chủ biên, Nxb Nghệ An, 2008, tr. 472

[6] Dẫn theo Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 2, Nxb Đồng Tháp, 1997, tr. 498-499

[7]Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb Văn học, 2016,, tr. 343.

[8]Dẫn theo Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb Văn học, 2016, tr. 348-349

[9] Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, quyển 4, Nxb Thuận Hóa, Huế, năm 1994, Tr. 183.

[10]  Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, tập 1, Nxb Thuận Hóa Huế 1994, tr. 161.

[11]Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, quyển 4, Nxb Thuận Hóa, Huế, năm 1994, Tr 161.

[12]Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, quyển 4, Nxb Thuận Hóa, Huế, năm 1994, Tr. 163

[13]Việt Nam sử lược,  Sđd, tr. 159-160

[14]Việt Nam sử lược , Sđd, tr. 157-158

[15]Việt Nam sử lược,Sđd, Tr. 157

[16]Việt Nam sử lược,  Sđd, Tr. 174

[17]Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, Nxb Thuận Hóa, 2014,tr. 290.

[18]Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, Nxb Thuận Hóa, 2014, tr. 457

[19] Đã dẫn chữ dùng của giáo sư Trần Đình Sử

[20] On Liberty, Bàn về tự do, chương 3.

[21] Trong lăng miếu là văn chương trong triều đình, thuộc về triều đình. Văn chương ngoải lăng miếu là văn chương của Nguyễn Công Trứ ngoài triều đình, sáng tác tự do theo xúc cảm cá nhân.

[22]S đ d, Tr.

VỀ SỰ ĐÁNH GIÁ NGUYỄN DU CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ QUA NHÂN VẬT THÚY KIỀU

Yến Nhi

Dưới góc nhìn văn hóa , Nguyễn Du (1765-1820) là nhà thơ lớn của dân tộc, tuy nhiên qua cuộc đời và sự nghiệp, dưới góc nhìn lịch sử, ta còn thấy nhiều nét nổi bật nữa ở con người Nguyễn, một thiên tài có nhiều tâm trạng, một con người “ba mươi tuổi đầu đã bạc”, hơn nửa thế kỷ trong cõi đời rất hiếm khi vui, đến lúc về nơi chín suối vẫn mang một tâm sự cô hoài! Là một nhà thơ lỗi lạc, ông còn là một võ quan nhiều mưu đồ đại nghiệp, một vị văn quan rất biết cách “chăn dân”, cũng là một nhà ngoại giao xuất chúng. Nhận xét tổng thể về Nguyễn Du ,thấy rõ những tài năng đa dạng  và công lao của ông, các cụ đời sau  đã  thể hiện rất sâu sắc qua các bài văn truy điệu, văn bia trong các dịp tưởng  niệm.

… Khi trưởng thành Ất bảng chen tên, tài thư  kiếm vang lừng hai vế
Những muốn hùng binh mấy vạn rắp phen Trương Tử phục Hàn gia .
… Khi thủ hiến Tiên châu, khi Thần kinh lĩnh doãn, đức thanh cần thấm thía đến muôn dân…
Lúc Bắc hành chánh sứ, lúc Nam khuyết á khanh tài thao lược vang lừng trong hai nước…(1)

Một nhân cách, một sự nghiệp như vậy, nhưng tại sao một người cùng thời cũng tài năng sự nghiệp không kém lại là đồng hương, hạ một lời phê từng làm băn khoăn bao thế hệ. Nguyễn Công Trứ nhận xét Kiều thực ra là nhận xét Nguyễn Du Bán mình trong bấy nhiêu năm, Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai (2) ( Vịnh Thuý Kiều).

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) kém Nguyễn Du 13 tuổi (1765-1820), mất sau Nguyễn Du 40 năm, quê làng Uy Viễn, nay là xã Xuân Giang đồng hương huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông làm quan dưới các triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, đến chức phủ doãn Thừa Thiên thì nghỉ hưu.. Trong 28 năm quan trường, thăng tiến và giáng chức đến 8 lần. Ông nhiều lần cầm quân đi đánh giặc (dẹp một số cuộc khởi nghĩa của nông dân) lập nhiều công lớn với triều đình. Đặc biệt vào những năm cuối thập niên 1820, ông có sáng kiến chiêu mộ dân nghèo, đắp đê lấn biển, lập ấp, khai sinh các huyện Kim Sơn, Tiền Hải (thuộc hai tỉnh Thái Bình, Ninh Bình ngày nay), kiếm công ăn việc làm cho nhiều người xóa bỏ nạn trộm cướp, lập nhà học, hội buôn (xã thương) ở nông thôn nâng cao dân trí, thông thương hàng hóa. Những hoạt động của ông trong lĩnh vực khẩn hoang được nhân dân các vùng ghi nhớ, lập đền thờ ngay khi ông đang còn sống. Là một nhà quản trị giàu năng lực, một vị tướng tài, ông còn là một nhà thơ, một nghệ sĩ lớn. Ông để lại nhiều sáng tác thơ Nôm theo thể thơ đường luật và ca trù. Nội dung thơ phong phú, đa dạng, từ than cảnh nghèo, vạch trần nhân tình thế thái, đề cao chí nam nhi, đến ca ngợi thú cầm kì thi tửu. Trên phương diện tư tưởng và tâm lý Nguyễn Công Trứ là một khối mâu thuẫn lớn! Sinh thời ông vượt qua những lề thói bảo thủ, giả dối, tỏ một thái độ “phóng dật” bất cần trong lối sống, thách thức công nhiên dư luận, nhưng ông không vượt khỏi cái quỹ đạo tư tưởng Nho giáo mà đôi khi còn tỏ ra chịu chi phối nặng nề (đạo vua – tôi, nam trọng – nữ khi). Nguyễn Công Trứ có một nhân sinh quan tuy có nhiều khía cạnh tích cực đổi mới vượt ra khỏi những chuẩn tắc thời bấy giờ nhưng căn bản vẫn nằm trong phép xuất xử Nho gia. Hiểu được tính hai mặt này trong tính cách của Nguyễn Công Trứ là một điều cần thiết để đánh giá con người cũng như ngôn thuật của ông. Cho mãi đến nay có hai điều người ta vẫn băn khoăn khi giải thích về tư tưởng và tình cảm của Nguyễn Công Trứ:
1.Tuy giúp ích cho nông dân trong công cuộc khai khẩn điền địa ở Thái Bình nhưng ông cũng lại tiến hành nhiều cuộc đàn áp khốc liệt nông dân khởi nghĩa .

2. Sống hành lạc phóng lãng rất gần gũi với giới ca nhi, nhưng đánh giá rất khe khắt với Thuý Kiều, một siêu kỳ nữ – nhân vật mang nhiều tâm sự Nguyễn Du.

Vấn đề thứ nhất, mối quan hệ với nông dân, nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích. Chúng tôi, sau đây, thử  lý giải vấn đề thứ hai: quan hệ với nhân vật Thuý Kiều.

Bán mình trong bấy nhiêu năm, Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai .

Nguyễn Công Trứ  đánh giá Thuý Kiều  có lẽ là khe khắt nhất trong số các nhà nho thời bấy giờ. Ông cho Kiều bán mình đi làm “vợ” khắp người ta là tính cách “tà dâm” không đánh lừa được người đời dù biện bạch bằng các lý do này khác. Việc “đoạn trường” là “đáng kiếp”!  Tại sao lại có những nhận xé , đánh giá đó khi Nguyễn Công Trứ từng là một khách chơi phóng lãng, một quan gia thăng giáng thất thường? Con người từng bất chấp tất cả mà lại không thể vượt qua được thành kiến hẹp hòi với một ca nhi hay có gì ẩn khuất đằng sau?

Sự khác biệt về đối tượng và tình cảm thẩm mỹ

Phải chăng trong cách nhìn của Nguyễn Công Trứ:  Kiều chỉ là kỹ nữ, dẫu tài năng nhan sắc bao nhiêu cũng chỉ là một khách chơi , cái hồng nhan mà sinh thời ông rất coi thường, ông luôn là kẻ đứng trên là cha thằng xích tử. Đời ông trai kép lúc trẻ, lúc tham gia trận mạc, lúc về già, khi chùa chiền, khi vãn cảnh đều có dăm ba nàng áo đỏ, áo xanh theo hầu, bảy mươi tuổi còn đèo bòng thiếp trẻ, luôn luôn mải mê với cái cảnh “hoa lê áp hải đường”… Tất cả chỉ là thú chơi, “chơi hoa cho biết mùi hoa, cầm cân cho biết cân già hay non” thế thôi. Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một bài viết cho rằng Nguyễn Công Trứ ngoài “một bản lĩnh hành động” còn là “một tay chơi cuồng phóng”, gọi ông là “tay chơi” là có cái lý của nó vì chính Nguyễn cũng tự nhận “sống để mà chơi”(3). Tân nhân, mỹ nữ, ca nương, khách hồng quần… đều là đối tượng của cái thú “phong nguyệt tình hoài”, trong cái thú này thì “trăng hoa” là mục tiêu, xướng ca là phương tiện, không có chỗ cho những Hiếu, Trung cao đạo. Nguyễn Công Trứ hiểu sai và đánh giá thấp Kiều cũng nằm trong cái quỹ đạo suy nghĩ đó. Trong toàn bộ thi tập ca trù-hát nói của ông để lại, người phụ nữ không bao giờ xuất hiện như một đối tượng trữ tình mà cùng với ngón đàn điệu hát  chỉ xuất hiện như những “khách chơi”, biết múa hát đong đưa nhưng không có tâm trạng, như những hình nhân trong bộ sưu tập…

Các nữ nhân trong thơ Nguyễn Công Trứ  đa phần là ca nhi nhưng ngón cầm ca của họ khác xa với Kiều hoặc các cô Hồ, cô Cầm ở đấtt Thăng long và cái cách thưởng thức của Tố Như và Uy Viễn cũng với những tâm trạng khác nhau. Với Nguyễn Du các nữ nhân mà ông  thường nhắc đến  như cô bạn hái sen, cô lái đò thời trẻ, cô Cầm người đẹp Long Thành, cô ca nữ ở nhà em trai, cô Hồ  bạn văn chương, hoặc như cô Tiểu Thanh, cô Thuý Kiều…trước hết đó là những con người cốt cách tao nhã, gần gũi, chịu nhiều oan khuất (phong vận kỳ oan), ông gửi gắm nơi họ những tình cảm tri âm, tri kỷ xem họ là những khách đồng điệu. Nguyễn Du thương cảm và đánh giá cao Kiều cũng như nhiều khách má hồng khác, họ không là “khách chơi” như Nguyễn Công Trứ quan niệm, mà là những kẻ “liên tài, liên tình”, những kẻ “tài thì đáng trọng, tình thì nên thương” .  Nói đến các đào nương ,“một hạng người thường bị rẻ rúng đương thời,  Ông không hạ mình xuống để thương vay mà thật sự tìm thấy mình trong họ”. Khóc cho những con người ấy là “khóc cho cuộc đời phong trần lận đận của chính mình và khóc cho cả những tài hoa Thăng Long bị vùi dập(4). Những con người đó không chỉ là những kẻ “phong vận kỳ oan”mà còn  là những “biểu tượng tài hoa của Thăng Long”, môi trường văn hoá đã ảnh hưởng  sâu sắc trong tâm hồn Nguyễn Du ngay từ thời niên thiếu . Ta biết trong thiên tài của Nguyễn Du, ông đã thừa hưởng được cái tính dịu dàng và hào hoa của xứ Kinh Bắc nhờ ảnh hưởng đằng mẹ, đã hưởng được hào khí của đất Hồng Lam, hùng tâm của người xứ Nghệ, cùng là lòng tiết nghĩa, khiếu văn chương, do gia phong truyền lại trải bao nhiêu đời nhờ ảnh hưởng đằng nội. Thân sinh, quan đại tư đồ Nguyễn Nghiễm mất năm  Nguyễn Du mười tuổi,  mười ba tuổi mồ côi mẹ, suốt thời niên thiếu ở với anh tại Thăng Long.  Anh cả Nguyễn Du là Nguyễn Khản, một đại quan rất được chuá Trịnh Sâm sủng ái cũng là một người say mê và am tường nghệ thuật, văn chương. Nguyễn Du có một người em là Nguyễn Ức kém ông hai tuổi, thời Lê là một quan to, thời Nguyễn được phong tước hầu. Khi chưa loạn lạc, trong dinh quan Nguyễn Ức ở Thăng Long, thường có những ca kỹ, “ những người mặc áo hồng hát ca uyển chuyển” phục vụ mua vui cho các quan, có người tài sắc trở thành nàng hầu . Dấu vết đài các hoa lệ , không khí nghệ thuật cao nhã của kinh đô cùng với những tao nhân mặc khách, văn nhân, kỳ nữ thường lui tới để lại nhiều ấn tượng trong ký ức Nguyễn  không phải chỉ  là đề tài cho những thi phẩm sau này mà nó trở thành  một “nhân tố văn hóa Thăng Long” trong phong cách sống cũng như phong cách nghệ thuật của ông mà nhiều nhà nghiên cứu đã từng  nhắc đến .

Nói kỹ những điều này chúng tôi muốn lưu ý rằng trong đời sống cũng như trong  nghệ thuật của Nguyễn Du, nhân tố “văn hoá Thăng Long” trầm tích trong nhiều tác phẩm đặc biệt là ở mối quan hệ với các nhân vật nữ tạo nên cái nét riêng mà Thuý Kiều “ tài hoa mà phận bạc, đài các mà truân chuyên” là một điểm nhấn quan trọng  bộc lộ rõ quan điểm và tình cảm  thẩm mỹ của Nguyễn Du khác xa Nguyễn Công Trứ .Nếu bỏ qua điều này thì những lý giải khác sẽ trở nên hời hợt.Cũng chính bởi vậy mà sự phê phán của Nguyễn Công Trứ  đối với Kiều có phần vừa khe khắt lại vừa hời hợt, phê phán mà không thấu hiểu.

Sự khác biệt về quan điểm lập thân. Nguyễn Du và nỗi buồn thời đại.

Như trên ta đã nói , nhận xét Kiều nhưng chính thực là nhằm vào Nguyễn Du,  không hiểu Kiều , Nguyễn Công Trứ cũng không hiểu tâm trạng Nguyễn Du, nếu không nói là xa lạ . Lời nhận xét thật nặng nề , ông cho việc làm quan dưới triều Nguyễn của Nguyễn Du là tầm thường, xu phụ thời cuộc, nỗi buồn của Nguyễn Du là  giả dối !

So với Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ  có nhiều cái khác vềxuất thân cũng như hành trạng. Nguyễn Du con người hai triều đại , gia đình đại quí tộc của triều đại cũ, chịu nhiều áp lực của thời cuộc,  triều Lê suy vi , nông dân Tây Sơn khởi nghĩa không hợp tác , triều Nguyễn khôi phục cơ đồ, bất đắc dĩ ra làm quan “thờ” chúa mới.Nguyễn Công Trứ  là sản phẩm của triều đại mới không có cái băn khoăn “trung thần bất sự nhị quân” như Nguyễn Du. Gia tộc Nguyễn Du là đại quí tộc, Nguyễn Công Trứ hàn nho vào đời bằng tài năng là chính , thời trẻ trải nghiệm cuộc sống bình dân, về căn bản gắn với triều Nguyễn một cách lý tưởng , ông thuộc thế hệ hãnh tiến  hăng hái xốc tới không có cái mặc cảm đại quý tộc trước “một phen thay đổi sơn hà” của Nguyễn Du. Nguyễn Công Trứ về quê thì cười cợt “ thuyền quyên ứ hự, anh hùng biết chăng”,không có cái bâng khuâng khi nhớ  đến khúc sông ngày xưa “thuyền cha ta cờ xírợp trời” như Nguyễn Du. Ghé Thăng Long, Nguyễn Công Trứ ngoài công vụ, tìm cái thú giang hồ  “phong nguyệt kho vô tận” , còn Nguyễn Du thì day dứt , bẽ bàng “thành mới trăng xưa bóng lững lờ”. Nguyễn Công Trứ thấy khinh cái cảnh quan lại tham những đục khoét nhưng tôn sùng vua, nhận bổng lộc vua ban một cách ngưỡng vọng, ông không trải cái cảnh  anh em, bạn hữu bị lâm nạn, bị bức tử , bởi gian thần để nhận lộc vua ban mà thầm đau xót và lo lắng như Nguyễn Du. Việc ra làm quan của Nguyễn Du dưới triều Nguyễn là tình cảnh bất đắc dĩ, là bất khả kháng để bảo vệ mình và gia tộc chứ không phải vì mộng công hầu hoặc mưu tài lợi như thói thường. Hai nhân sinh quan , hai triết lý nghiệm sinh khác nhau nên không đồng cảm.

Nguyễn Du luôn mang một nỗi buồn lớn , cảm thấy bế tắc khó làm thay đổi cuộc đời  . Nguyễn Công Trứ thấy mình cải tạo được cuộc sống dân nghèo, còn Nguyễn Du đi khắp gầm trời kể cả sang Trung Hoa – nơi lýtưởng trong cách nhìn nho gia thời bấy giờ, cũng thấy đầy rẩy bất công, tàn bạo.

56 năm trong cuộc đời của Nguyễn Du, vui có, buồn có nhưng tổng thể là một cuộc đời thành đạt, làm quan đến bực á khanh, vua trọng vọng, triều thần vị nể, người đời yêu mến . Dẫu vậy, việc sống buồn bã, tâm sự u uất luôn “rụt rè sợ hãi, chỉ vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện thôi” là một điều có thật trong cuộc đời Nguyễn Du. Đối chiếu  hành trạng của Nguyễn, cần có cái nhìn toàn diện để hiểu và giải thích rõ cái tâm sự u hoài tại sao đeo đẳng ông mãi thế, dẫu có khi làm đến bậc Á khanh,được hoàng đế Gia Long trọng dụng. Khi mắc bệnh nặng ông nhất định không chịu uống thuốc, chỉ chờ chết cho xong.(5) Ông đã đem theo xuống mồ cái tâm sự u uất, khó hiểu,  người đời chỉ ức đoán qua câu thơ Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hà hà nhân khấp Tố Như ? Đây là cái điều mà xưa nay ai cũng quan tâm nhưng lý giải thì mỗi người một cách. Có người  cho là  Nguyễn Du  buồn vì tuy là quan nhưng  là người cựu triều nên không ít kẻ ghen ghét, kẻ thì nghĩ rằng Nguyễn  ở tân triều mà lòng khôn quên chúa cũ , như là đã ngược lại dòng tộc, chẳng là dòng họ này bao đời được người đời nể trọng vì truyền thống  trung nghĩa. Đi xa hơn, Nguyễn Công Trứ lại xem nỗi buồn của Nguyễn Du là giả dối ,muốn che lấp sự đàm tiếu của thiên hạ về việc “phản bội” lại Nhà Lê đã từng mưa ân tưới phúc cho gia đình.

Theo chúng tôi nghĩ , nỗi buồn của Nguyễn Du không dừng lại ở cái nguyên nhân bé nhỏ là vì đồng sự ghen ghét hay mặc cảm về cái sự  “tôi trung không thờ hai chúa”như có người nhận xét , mà ở cái nỗi niềm lớn lao hơn. Đó là tấm lòng  yêu thương con người, là phẩm cách của  một tâm hồn  cao thượng , cảm thấy những nghịch lý, những nghịch cảnh tồn tại ở mọi thời , mọi nơi, như là một định mệnh không tài nào thay đổi được .Ở quê hương  cũng như ở xứ người đều đầy rẫy những bất công, đau khổ. Tấm lòng nhân mênh mông pha mùi thiền, mùi đạo ở ông luôn cảm thấy bất lực, đó mới chính là cái điều sâu kín tạo nên nỗi u hoài khôn nguôi trong đời sống và là hồn cốt trong các sáng tác của Nguyễn. Nỗi u hoài, nỗi đau đáu của Nguyễn chúng ta từng gặp trên con đường thi ca một thuở trong nỗi sầu không thể nào vơi của tâm sự Lý Bạch : Cầm dao chặt nước nước cứ trôi, cất chén tiêu sầu, sầu không vơi (Trừu đao đoạn thuỷ thuỷ cánh lưu/Cử bôi tiêu sầu sầu cánh sầu- Tiễn biệt quan Hiệu thư Thúc Vân), cũng như cái cô đơn vô tiền khoáng hậu của Trần Tử Ngang: Trước không thấy người đi, Sau không thấy kẻ đến, Nghĩ trời đất phiêu du, Chỉ mình ta lệ chảy  (Tiền bất kiến cố nhân/ Hậu bất kiến lai giả/ Niệm thiên địa chi du du/ Độc sảng nhiên nhi lệ hạ – Đăng U châu đài ca ).   Dãi dầu mười mấy năm quan trường ,Nguyễn Du trước hoàn cảnh thường có một “tâm trạng kép” vừa mừng  vừa sợ , sợ cho mình và cả họ tộc bị bức hại , mừng vì tai qua nạn khỏi, phủ định  nhưng vẫn phải làm tròn chức phận không thể thoái thác. Nguyễn chủ động trong tư duy nhưng có lúc thụ động trong hành động. Tâm trạng thể hiện trong câu thơ tự thán “hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên”. Phải chăng vì trạng thái nước đôi đó mà sau này Nguyễn Công Trứ đã “phê” Nguyễn thông qua lời nhận xét khắt khe về Thuý Kiều, nhân vật mà Nguyễn Du có nhiều kýthác .

*

Chúng ta với nhãn quan hiện đại thấy rõ sự khác biệt ở hai ông ,suy cho cùng vẫn không ra ngoài cái ngưỡng triết lý dân gian “ở bầu thì tròn ở ống thì dài”. Nguyễn Công Trứ tuy có tài kinh bang tế thế nhưng là một vị quan gia đánh giá Kiều cực đoan cũng như ông vua Tự Đức xét đoán Từ Hải . Cụ Thượng Trứ sẽ chẳng bao giờ thông cảm với tâm trạng Nguyễn Du qua Thúy Kiều cũng như hoàng đế Tự Đức chẳng thể nào hiểu được ước mơ của Nguyễn Du qua Từ Hải ! Chỉ có nhà thơ Tố Như người của những nỗi đau thân phận mới xem Kiều là tri âm, Từ Hải là giấc mộng . Và chính nỗi cộng cảm nhân sinh lớn lao đó đã khiến  Nguyễn Du hơn thế kỷ sau trở thành một điểm sáng trong bầu trời văn hoá nhân loại mặc dầu đương thời không khoả lấp được nỗi nghi ngờ ở một sốngười , trong đó Nguyễn Công Trứ là một ./.

Tháng 4 – 2008/7-2010

(1)  Đào Tử Minh –Văn truy điệu Nguyễn Du  – Hội Tri Tân, ngày 10/8 Giáp thân 1944

(2) Có bản chép : Đố  đem chữ Hiếu mà lầm được ai?(3 )Hoàng Phủ Ngọc Tường- Tay chơi http://chutluulai.net/forums/showthread.php?p=32161

(4)  Nguyễn Huệ Chi – Biểu tượng đa nghĩa của Thăng Long trong thơ Nguyễn Du– Bài tham gia Hội thảo Gia tộc Nguyễn Du & Thăng long – 2010.Bà Trần Thị Tần , thân mẫu Nguyễn Du xuất thân cũng là một ca nương.

(5)  Theo Đại Nam liệt truyện: “đến khi đau nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ thưa đã lạnh cả rồi. Ông nói “được” rồi mất; không trối lại điều gì”.

NGUYỄN DU VỀ LẠI THĂNG LONG  

Phạm Xuân Nguyên

Nỗi hoài niệm, ưu tư của Nguyễn Du trước Thăng Long lên đến đỉnh điểm khi gặp lại người con gái gảy đàn ở Long thành. Ông làm một bài thơ dài kể chuyện và giãi bày. Hơn thế, ông còn đề lời “tiểu dẫn” để nói cho rõ ngọn ngành. Cả Thăng Long trong mắt Nguyễn bấy giờ dồn lại ở “người gảy đàn không rõ họ tên là gì” ấy.

Nguyễn Du sinh tại phường Bích Câu năm 1765. Ông có cha và anh là quan đại thần dưới triều vua Lê chúa Trịnh, nhất là người anh Nguyễn Khản rất được chúa Trịnh Sâm tin dùng, thường vào ra phủ chúa hàng ngày, có lần còn viết giấy cho người nhà cầm sang xin chúa lạng chè về uống. Thuở thiếu thời và thanh niên, cậu chiêu Bảy (tên gọi ở nhà của Nguyễn Du) đã có những ngày tháng vui vẻ, thanh nhàn ở Thăng Long, dự những cuộc vui nghiêng ngả ở nhà anh, mắt thấy tai nghe mọi cảnh phố phường kinh đô. Thế rồi nhà Tây Sơn nổi lên, vua tàn chúa lụi, Thăng Long thành bãi chiến trường, Nguyễn từ đó xa đất đế đô, bươn chải mười năm gió bụi, tấm thân còn sống là may. Lịch sử thăng trầm dâu bể, hưng đó mà vong đó, nhà Nguyễn diệt Tây Sơn lập triều mới, thống nhất giang sơn, chuyển đô về Phú Xuân. Thăng Long từ 1802 thành cố đô, và từ 1831 đổi thành Hà Nội. Nhưng khi Nguyễn Du trở lại chốn kinh đô xưa trên đường đi sứ sang Trung Quốc (1813), vùng đất này vẫn đang là Thăng Long. Mười năm xa cách không phải là dài, nhưng những biến thiên đảo lộn trong khoảng thời gian ấy đối với Nguyễn thật ghê gớm. Trong mấy đêm nghỉ lại Thăng Long trên hành trình của sứ đoàn, ông Chánh sứ Nguyễn Du đã trằn trọc, thao thức trước cảnh vật biến thiên và đời người thay đổi. Nguyễn đã có bốn bài thơ chữ Hán làm nhân dịp này, hai bài về cảnh, hai bài về người.

Bài Thăng Long thứ nhất.

Tản lĩnh Lô giang tuế tuế đồng
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long
Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung
Tương thức mỹ nhân khan bão tử
Ðồng du hiệp thiếu tẫn thành ông
Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy
Ðoản địch thanh thanh minh nguyệt trung

Nguyễn trải lưu lạc mười năm “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, tâm trạng đã nặng nề. Về lại chốn cũ, gặp lại người xưa, lòng càng buồn. Núi Tản sông Lô (tên gọi khúc sông Hồng chảy qua Thăng Long hồi ấy) thì muôn đời vẫn thế, năm lại năm chẳng di dịch đi đâu. Nhưng dạo một vòng thành xưa, cảnh đã khác. Những ngôi nhà to có nghìn năm tuổi đã bị dỡ đi để làm đường lớn. Khu hoàng thành nhà Lê đã bị phá bỏ, thay vào đó là một tòa thành mới. (Việc này tiến hành vào năm Gia Long thứ tư, 1805). Ðường sá, nhà cửa làm mới, còn người thì già đi. Những cô gái đẹp xinh từng quen biết hồi trước giờ đã tay bồng tay mang. Những gã bạn cùng nhau chơi ngông một thuở nay đã nên ông cả.(Câu thơ dịch thoát sang lục bát Gái xinh giờ đã con bồng, Bạn quen giờ đã thành ông cả rồi nghe đậm ngậm ngùi). Nguyễn cũng đã đầu bạc, may còn được thấy Thăng Long. Thật ra năm đó Nguyễn chưa đến năm mươi, nhưng cái tuổi xấp xỉ ngũ tuần xưa đã tính là già, vả mái tóc bạc Nguyễn có từ sớm, hậu quả của những suy tư dằn vặt ngay từ hồi trẻ. Người như ông với những ấn tượng bời bời như thế trong ngày trở lại đế đô ngủ sao được. Nghe tiếng sáo thoảng đâu đây dưới ánh trăng sáng lòng càng dấy lên bao nỗi vấn vương u hoài. Nguyễn phải tự an ủi mình.

Bài Thăng Long thứ hai

Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
Do thị Thăng Long cựu đế kinh
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
Thiên niên phú quý cung tranh đoạt
Tảo tuế thân bằng bán tử sinh
Thế sự thăng trầm hưu thán tức
Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh

Thôi hãy tự nhủ lòng Thăng Long đây vẫn là chốn đế đô xưa, bởi còn đây vầng trăng ngày xưa, dẫu thành đã là thành mới. Ðường phố, ngõ phố mở mang bốn phía làm lạc dấu vết cũ. Tiếng đàn sáo nghe ra đã xen nhiều âm thanh mới. Giàu sang nghìn đời rồi ra chỉ là cái mồi cho sự tranh cướp. Bà con, bạn bè hồi trẻ giờ đã kẻ mất người còn. Hãy hình dung Nguyễn suốt đêm không ngủ, một mình chong mắt nhìn ánh trăng, chỉ còn trăng là bạn cũ không phôi pha, tâm tư cứ giăng mắc chuyện trước chuyện nay. Và ông như buông tiếng thở dài sờ tay lên tóc mình: việc đời chìm nổi thôi đừng than thở nữa, đầu ta cũng đã bạc phơ phơ rồi. Ðêm ấy Thăng Long như cũng chùng lòng một mái đầu bạc dãi ánh trăng thâu.

Nguyễn Du có một người em cùng mẹ là Nguyễn Ức kém ông hai tuổi, thời Lê là một quan to, thời Nguyễn được phong tước hầu. Khi chưa loạn lạc, trong dinh quan Nguyễn Ức, cũng như các dinh quan khác, thường có những nàng hầu kiêm ca kỹ phục vụ mua vui cho các quan, họ ở địa vị như những người vợ lẽ. Xảy lúc binh đao, nhà quan tan đàn xẻ nghé, các nàng hầu cũng thất tán. Lần về lại Thăng Long này, Nguyễn gặp lại một nàng hầu cũ như vậy của em mình.

Bài Ngộ gia đệ cựu ca cơ

Phồn hoa nhân vật loạn lai phi
Huyền hạc quy lai kỷ cá tri
Hồng tụ tằng văn ca uyển chuyển
Bạch đầu tương kiến khốc lưu ly
Phúc bồn dĩ hĩ nan thu thủy
Ðoạn ngẫu thương tai vị tuyệt ti
Kiến thuyết giá nhân dĩ tam tử
Khả liên do trước khứ thời y

Nguyễn đang đường đường một vai Chánh sứ, vậy mà ví mình như một ẩn sĩ chốn rừng xanh ra. Hình ảnh chim hạc đen (huyền hạc) là nói cái ý ấy. Giữa chốn quen thuộc mà như người lạ, mấy ai người biết mình đã về lại nơi này. Mấy ngày dừng chân Thăng Long là khoảng thời gian Nguyễn sống phân thân giữa quá khứ và hiện tại. Mỗi câu thơ đều song trùng thời gian. Nàng mặc áo hồng hồi trước hát ca uyển chuyển, giờ gặp lại ta đầu bạc, khóc nỗi lưu ly. Cái mất thì đã mất, như chậu nước đổ rồi không thu lại được nữa. Nhưng cái tình thì còn lưu luyến, như ngó sen gãy đường tơ vẫn dính. Mà sao nàng, nghe nói đã lấy người khác được ba con, vẫn còn mặc chiếc áo ngày ra đi. Nhìn chiếc áo, Nguyễn ái ngại, xót thương. Thăng Long, số phận một kinh thành, có trả lời được Nguyễn trước một màu áo không đổi của một nàng ca kỹ?

Nỗi hoài niệm, ưu tư của Nguyễn Du trước Thăng Long lên đến đỉnh điểm khi gặp lại người con gái gảy đàn ở Long thành. Ông làm một bài thơ dài kể chuyện và giãi bày. Hơn thế, ông còn đề lời “tiểu dẫn” để nói cho rõ ngọn ngành. Cả Thăng Long trong mắt Nguyễn bấy giờ dồn lại ở “người gảy đàn không rõ họ tên là gì” ấy. “Thuở nhỏ nàng theo học đàn Nguyễn trong bộ nữ nhạc cung vua Lê. Tây Sơn dấy binh, đội nhạc cũ chết chóc, tản mát. Nàng lưu lạc nơi đầu chợ, ôm đàn hát rong. Những bài nàng đàn đều là những khúc gảy hầu nhà vua, người ngoài không ai được nghe, cho nên nàng được khen là “tuyệt kỹ” của một thời. Tôi, hồi trẻ đến kinh đô thăm anh tôi, đêm trọ ở quán bên hồ Giám. Cạnh đấy các quan Tây Sơn tụ hội bọn con hát; con hát nổi tiếng không dưới vài chục người. Nàng riêng thạo đàn Nguyễn, hát cũng hay, lại khéo pha trò. Người xem đều mê mẩn, nhiều lần thưởng cho nàng những chén rượu lớn, nàng tức thì uống cạn, tiền lụa thưởng nhiều vô số kể, chất đầy mặt đất”. Chàng Nguyễn ngày trước đã thành ông Nguyễn, một ông quan, còn cô gái đàn hay, hát giỏi khi xưa đã thành ra sao, sau mười năm biến thiên đảo lộn? Hãy nghe Nguyễn kể tiếp: “Mùa xuân năm nay, tôi phụng mệnh sang sứ phương Bắc, trên đường qua Thăng Long, các quan có đặt tiệc tiễn tôi ở dinh Tuyên phủ nên cho gọi hết nữ nhạc trong thành, con hát trẻ đến mấy chục người, tôi đều không biết mặt biết tên. Họ thay nhau ca múa. Rồi nghe vút lên một khúc đàn Cầm trong trẻo, nghe khác hẳn các khúc nhạc đương thời. Tôi lấy làm lạ nhìn người đàn, thì thấy người gầy võ, thần sắc khô khan, mặt đen, xấu như quỷ, quần áo toàn bằng vải thô, bạc phếch, vá nhiều mảnh trắng, ngồi lặng lẽ ở cuối chiếu, không nói không cười, hình dáng khó coi quá. Tôi không biết là ai, duy nghe tiếng đàn thì dường như đã từng quen biết nên động lòng trắc ẩn. Tiệc tan, hỏi đến người chơi đàn thì ra chính người gảy đàn ngày xưa ấy. Than ôi, người ấy sao đến nỗi này! Tôi bồi hồi ngẩng lên cúi xuống, khôn xiết cảm thương cho sự đổi thay xưa và nay. Ðời người trăm năm, vinh nhục buồn vui khó có thể nào lường được”. Bài thơ Long thành cầm giả ca của Nguyễn Du là khúc bi tráng cho Thăng Long. Mảnh đất kinh đô đẫm huyền thoại, dày sử tích, nhiều dấu ấn các triều vua, giờ có thêm bóng dáng một người con gái đàn ca trải hai triều đại phủ lên các thành quách, dinh thự.

Khúc xưa giọng mới lệ thầm rơi
Ta lắng nghe lòng đau xót
Chợt nhớ lại việc hai mươi năm trước
Từng gặp nàng trong tiệc bên hồ Giám
Thành quách đổi dời, việc người đã khác
Biết bao nơi ruộng dâu đã biến thành biển xanh
Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan hết cả rồi
Chỉ còn sót lại một người ca múa
Trăm năm như chớp mắt có là bao
Ðau lòng việc cũ lệ thấm áo
Tôi từ Nam Hà trở về đầu bạc trắng hết
Chẳng trách nhan sắc người đẹp tàn phai
Ðôi mắt mở trừng trừng luống tưởng chuyện ngày xưa
Thương thay giáp mặt nhau mà chẳng nhận ra nhau

Năm 1813 khi Nguyễn Du trên đường đi sứ ghé qua Thăng Long, đế đô cũ vừa qua tuổi tròn 800 năm. Nhà Nguyễn đang sắp đặt dấu ấn mình lên vùng đất nay đã thành cựu đế đô. Nguyễn Du nhìn cái mới buồn nhớ cái cũ. Những vần thơ ông để lại chứng tích cho ta một Thăng Long thuở ấy với những xáo động tâm trạng ông. Thêm gần hai trăm năm nữa qua, Thăng Long sắp 1000 năm tuổi, người nay cũng đang tìm lại dấu xưa, đọc lại thơ ông, thấy như Nguyễn đang về “song nhãn trừng trừng không tưởng tượng”.

Phạm Xuân Nguyên
Nhà phê bình Văn học
[Bản tin ĐHQG Hà Nội sô 215]

Xem thêm:
http://hoangkimlong.blogspot.com/2010/10/nguyen-du-va-nguyen-cong-tru.html
www.foodcrops.vn
http://foodcrops.vn/en/van-hoa-giao-duc/day-va-hoc/433-nguyn-du-va-nguyn-cong-tr.html

Video yêu thích
 KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  CNM365 Tình yêu cuộc sống Cây Lương thực  Dạy và Học  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

Nguyễn Công Trứ thông reo ngàn Hống

NguyenCongTruthongreonganHong
Ngồi buồn mà trách ông xanh. Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười. Kiếp sau xin chớ làm người. Làm cây thông đứng giữa trời mà reo. Giữa trời vách đá cheo leo. Ai mà chịu rét thì trèo với thông“. Bài thơ “Cây thông” của Nguyễn Công Trứ là mẫu mực thơ lục bát  Việt Nam, thể hiện ngôn chí  của ông.

Tôi có cô em Ví dặm Ân tình nói thật như đùa: “Nếu Nguyễn Công Trứ mà còn sống, được làm lẽ ông ấy em cũng cam“. Đó là chuyện hay về Nho tướng Nguyễn Công Trứ: “Sự nghiệp kinh luân thiên hạ hữu/ Phong lưu đáo lão thế gian vô” (Sự nghiệp giúp đời thiên hạ có/ Ăn chơi tới lão thế gian không) nhưng với dị bản và giai thoại vui hơn do anh Thạch Hầu kể. Đọc kỹ “Em xin làm lẽ Nguyễn Công Trứ” và xem ảnh do Ví Dặm Ân Tình ngưỡng mộ càng thấy hay đào để và thấu tình đạt lý lắm. Tôi chỉ tiếc là nàng chưa thật hiểu Nguyễn Du đấy thôi. Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ là câu chuyện dài. Tôi đối vui với nàng Ví Dặm Ân Tình để cầu thân kết bạn: Vô nhà đã thấy THƯƠNG, Ví Dặm Ân TÌNH, thuyền quyên ứ hự VUI làm thiếp. Ra ngõ rồi thêm NHỚ, Linh Giang Ơn NGHĨA, anh hùng khấp khởi SƯỚNG gặp em.

Nguyễn Công Trứ, con người “tài ba, tài tình, tài tử “đó (chữ nhà văn Ngô Minh) đã được thầy giáo- nhà văn Nguyễn Thế Quang khắc họa chân dung trong tiểu thuyết Thông reo ngàn Hống do Nhà Xuất bản Trẻ ấn hành đầu xuân 2015 và thông tin trên trang  Thừa Thiên- Huế Online. (ảnh minh họa). Nhà văn Nguyễn Khắc Phê viết Lời giới thiệu: “Qua Thông reo ngàn Hống, nhà văn Nguyễn Thế Quang – bằng nghệ thuật ngôn từ, đã làm sống dậy một  kẻ sĩ, một trí thức với những công tích lớn lao, mà cũng tài hoa rất mực với cốt  cách cứng cỏi, tâm trạng phong phú, phức tạp khác người, hơn người của Nguyễn Công Trứ. …“.

Tôi đang phác thảo đề cương bài viết “Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ mà vẫn thẹn là tư liệu tản mạn chưa hiểu hết tâm sự thăm thẳm của bậc anh hùng. Nay vui được thông tin tổng hợp để mở rộng tầm mắt.

Niềm vui đọc sách quý về một danh nhân Việt được viết bởi một người thầy , người bạn tâm giao, cẩn trọng, tâm huyết, tài năng  trong ngày Quốc tế Lao động thật thú vị biết bao!.

Hoàng Kim

Hoàng Kim thân quý. Những ngày kỷ niệm đầy ý nghĩ này, rất mừng khi gặp Hoàng Kim. Rất xúc động khi đọc được những vần thơ chân thành đầy tình yêu thương chung thủy của bạn với Miền Đông. Rất vui khi bạn đã nói được với con những tâm tình, truyền cho con những điều tốt đẹp qua những lời thơ và những tấm ảnh. Rất mừng khi cùng được gặp gỡ những người bạn của Hoàng Kim – những người mà nhìn qua ảnh, mình cảm nhận được đó là những con người trung hậu mà phóng khoáng với một đời sống tình cảm phong phú mà đẹp. Có được những người bạn tâm giao như vậy là quý lắm. THÔNG REO NGÀN HỐNG có nhiều điều thú vị. Cảm ơn cụ Hy Văn có một cuộc đời quá phong phú, hào hoa mà lỗi lạc để cho mình có thể có những trang viết đẹp. Mong Hoàng Kim và bạn bè đọc và đồng cảm, cùng chia sẻ nhé. Có gì Email cho mình: thequangcuc.na@gmail.com

Nguyễn Thế Quang

GỬI CÔ QUẾ HẰNG VÀ ANH HAI THẾ QUANG

Cám ơn thầy giáo, nhà văn Thế Quang đã cảm nhận rất nhanh bài viết này ngay sau khi “Nguyễn Công Trứ, thông reo ngàn Hống” vừa lên trang TÌNH YÊU CUỘC SỐNG , DẠY VÀ HỌC

THÔNG REO NGÀN HỐNG, riêng tên tác phẩm đã khơi đúng thần của cụ Hy Văn. Cô em Ví dặm ân tình, Quế Hằng và anh ba Nguyễn Vạn An đã trao đổi rất hay về “VỊNH MÙA ĐÔNG” của Nguyễn Công Trứ. Cô em Quế Hằng có cái thân thiết, ngang tàng, dám “cãi” cụ Nguyễn Công Trứ, anh ba Vạn An đã chỉ ra khí phách và nét đẹp tính cách của cụ Hy Văn và cô Quế Hằng (Riêng ý tưởng trăng soi từ thềm Quế cung Hằng đối với cụ Hy Văn thì thật là tuyệt diệu). Riêng cô Ví thì sâu sắc dịch lý bỡn cợt theo lối công chúa Liễu Hạnh ghẹo trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, nếu có anh hai Thế Quang vào đây để cảm nhận “vịnh mùa Đông” của cụ Hy Văn mượn mùa đông để nói lão Tùng “thông reo ngàn Hống” thì mới tỏ được hết cái hay của bài thơ cụ Trứ.

VỊNH MÙA ĐÔNG

Nguyễn Công Trứ

Nghĩ lại thì trời vốn cũng sòng,
Chẳng vì rét mướt bỏ mùa đông.
Mây về ngàn Hống đen như mực,
Gió lọt rèm thưa lạnh tựa đồng.
Cảo mực hơi may ngòi bút rít,
Phím loan cưỡi nhuộm sợi tơ chùng.
Bốn mùa ví những xuân đi cả,
Góc núi ai hay sức lão tùng.

“CÃI” CỤ NGUYỄN CÔNG TRỨ

Quế Hằng http://quehang.blogtiengviet.net

Lão trời thực chất cũng không sòng
Chốn ấm như hè chốn giá đông
Mạn bắc tê lòng cây trắng núi
Phương nam mát mặt cỏ xanh đồng
Kẻ cày khô họng còn quần lửng
Người ngủ ấm lưng lại áo chùng
Được cái om mầm nên nõn lá
Qua sương đâu chỉ có riêng tùng

CỤ VÀ CÔ !
Nguyễn Vạn An
http://ngvanan.blogtiengviet.net/

Cô Hằng, cụ Trứ cũng một sòng,
Xướng họa rù rì giữa lạnh đông
Người xưa sang sảng ra thơ ngọc
Kẻ hậu chăm chiu rót chén đồng
Vung thơ Cụ nhúng ngòi mực cạn
Nâng đàn Cô vặn sợi giây chùng
Bốn mùa cứ tưởng là xuân cả
Sao dám trăng son họa lão tùng?

“CÃI” CỤ TRỨ VÀ CÔ HẰNG

Ph Lan Hoa
http://vigiamantinh.blogtiengviet.net

Vô – Hữu ở đời ai thấu chăng?
Mẹ hiền đau đẻ rõ ràng rang
Cớ sao lại bảo trời sinh phận
Người bảo công bằng, kẻ vãn than.
Vũ trụ bao la luôn dịch chuyển
Luân hồi mưa nắng đủ quanh năm
Sang hèn tính cách gieo nên cả
Muốn tới mùa xuân tự bước chân.

“Luận mãi làm chi cái Phẳng-Sòng”
Đạo trời nói mấy cũng không xong
Nhan Hồi tự giải oan trò Khổng
Vô sự, vô vi tự đáy lòng.

THUNG DUNG TẬN HƯỞNG MÙA ĐÔNG

Hoàng Kim

Xuân, Hạ, Thu, Đông vốn phẳng sòng,
Bốn mùa chẳng thể thiếu mùa đông.
Tam Đảo non xanh, hai cánh rộng,
Cửu Long nước biếc, một chữ đồng.
Trẻ ham tâm đức nên cố gắng,
Già mong phúc hậu phải biết chùng.
Thung dung tận hưởng mùa đông tới,
Sông núi, trúc mai với lão tùng.

HOÀNG KIM ĐÔI LỜI THƯA THÊM CÙNG CÔ QUẾ HẰNG
VÍ DẶM ÂN TÌNH VÀ BẠN ĐỌC

Tôi chép bài Vịnh Mùa Đông của Cụ Hy Văn cùng các bài họa của các quý Cụ, quý Cô về đọc và đều rất tâm đắc với ý tứ trong các bài thơ họa.

Dẫu vậy, có những điều tâm sự của cụ Nguyễn Công Trứ ít được một số bài họa bàn luận sâu sắc mà chỉ họa vui vẽ cùng cụ Trứ theo Đường luật và ý nghĩa thông thường dễ nhận thấy của bài VỊNH MÙA ĐÔNG.

Thật ra, theo ý tôi cảm nhận được thì VỊNH MÙA ĐÔNG, CÂY THÔNG là hai bài thơ NGÔN CHÍ đặc sắc của cụ Hy Văn. Đó là ý tứ thâm hậu của cụ Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ “ra tướng võ, vào tướng văn” tỏ ý với vua Minh Mệnh và các vị quan cao cấp cùng thời Hà Tôn Quyền, Trương Đăng Quế, Nguyên Văn Siêu, Nguyễn Quý Tân,…

Nguyễn Công Trứ viết “Nghĩ lại thì trời vốn cũng sòng/ Chẳng vì giá rét bỏ mùa đông” là lời giải thích vì sao ông được vua Minh Mệnh tin dùng. Triều Nguyễn thời đó đang như mùa đông lạnh giá, vua Gia Long mới lập quốc, lòng người chưa quy về một mối, triều chính chưa ổn định, lòng người ly tán, số quan lại mới trổi dậy ham vơ vét, người công chính như Nguyễn Du thì không muốn hợp tác vì không được thực lòng tin dùng. Vua Gia Long mất, vua Minh Mệnh nối ngôi, việc thiết lập nhà nước kỷ cương cần những mẫu người kiêu dũng, dấn thân như Nguyễn Công Trứ.

Toàn cảnh đất nước trong buổi đầu gian nan được Nguyễn Công Trứ tóm tắt trong bốn câu: “Mây về ngàn Hống đen như mực,/ Gió lọt rèm thưa lạnh tựa đồng./Cảo mực hơi may ngòi bút rít,/ Phím loan cửi nhuộm sợi tơ chùng.” Trong điều kiện ấy, Nguyễn Công Trứ đã đánh giá vua Minh Mệnh “Nghĩ lại thì trời vốn cũng sòng,… Bốn mùa ví những xuân đi cả,/Góc núi ai hay sức lão tùng.” không như là trường hợp “Thánh nhân bất đắc dĩ dụng QUYỀN”. “Vịnh mùa đông” “Cây thông” là những bài thơ ngôn chí đặc sắc nhất của ông.

Nay có tiểu thuyết “Thông reo ngàn hống” 600 trang của nhà giáo nhà văn cẩn trọng, tài hoa, sâu sắc Nguyễn Thế Quang, chúng ta sẽ có thêm một góc nhìn để hiểu cụ Nguyễn và thích thú đón nhận những chia sẻ rất hay đời thường của nhiều quý Cụ, quý Cô, anh chị em và bạn đọc.

Hoàng Kim
NGUYỄN THẾ QUANG VÀ THÔNG REO NGÀN HỐNG

Nhà văn Nguyễn Thế Quang là giáo viên trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, thành phố Vinh, nghỉ hưu đã hơn 10 năm. Sau tiểu thuyết Nguyễn Du in năm 2010, NXB TRẻ vừa công bố tiểu thuyết lịch sử Thông reo Ngàn Hống viết về cụ Nguyễn Công Trứ của ông. Theo tác giả, tiểu thuyết không chỉ tái hiện các sự thật, mà còn phơi mở các khả năng phong phú của thời đại đã bỏ phí. Nhà văn thể hiện cách hiểu, cách nhìn riêng của mình vào từng nhân vật lịch sử với thái độ phản biện.Nhà nghiên cứu văn học Trần Đình Sử nhận định: “Về nhân vật Nguyễn Công Trứ, tác giả không chỉ khẳng định công lao nhiều mặt của nhân vật lịch sử, mà còn tái hiện một nhân cách cao thượng, trong sáng, tài năng lỗi lạc. Dù trải qua nhiều cảnh ngộ khó khăn, oan trái, ông vẫn một lòng trung quân, ái quốc, an dân. Nguyễn không chỉ là một ông quan giỏi, một nhà thơ tài hoa, mà còn một tài tử có tầm văn hóa lớn. Thông reo ngàn Hống là một cách tiếp cận nghệ thuật mới mẻ, độc đáo, táo bạo của Nguyễn Thế Quang, một đóng góp đáng kể vào dòng chảy của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại”.

Trích tiểu thuyết
Chương 6 của phần IV1

Trống Hoàng thành điểm giờ chính ngọ, của ngày 1 tháng 10 năm Kỷ Dậu, Tự Đức năm thứ 2/1849, Phủ doãn phủ Thừa Thiên Nguyễn Công Trứ thong thả đi từ Điện Thái Hòa bước ra cửa Ngọ Môn.

– Ta đã được Hoàng thượng cho nghỉ hưu. Trước khi về, ta muốn lên lầu Ngũ Phụng ngắm lại Hoàng thành lần cuối.

Nhìn gương mặt dãi dầu sương gió và giọng nói đầy vẻ xúc động của ngài Nguyễn Công Trứ – người chỉ huy cũ của mình từ hồi ở An Giang nay về Thự phủ doãn Thừa Thiên, viên đội trưởng gác cửa Ngọ Môn vội vàng đưa Nguyễn bước qua những bậc đá lên lầu Ngũ Phụng. Đi qua những lính gác nghiêm chỉnh đứng im như tượng, quan sát xung quanh, viên đội trưởng đưa Nguyễn lên tầng 2, đến một khoảng trống phía tả dễ dàng ngắm toàn cảnh Hoàng cung, cúi đầu chào Nguyễn rồi lui gót. Nguyễn mỉm cười gật đầu, rồi ngước nhìn lên phía trên: đó là chỗ ngự toạ của nhà vua khi có tổ chức sự kiện gì ở sân rộng phía ngoài, thầm nghĩ: “Ở đâu, Hoàng thượng cũng trên đầu của mình”.

Nguyễn đưa mắt nhìn theo con đường qua cầu Trung đạo bắc trên hồ Thái Dịch dẫn đến sân chầu rộng. Nguyễn và bao người nỗ lực cả đời mình để được đến quỳ ở đó phụng sự thiên tử và rồi cũng từ đó ra đi. Có người ra đi lập công để rồi tên ghi vào bia đá như Lê Văn Đức, có người đi ra không về như Phạm Văn Điển, có người ra đi rồi chết tức tưởi đau đớn như Trương Minh Giảng, cũng có người vào đó có công lớn nhưng bị vu oan không được giãi chết trong đêm tối ngục tù như Nguyễn Văn Thành… Có người vào đó rồi cũng bỏ về như Phạm Đình Hổ, Nguyễn Quý Tân. Có người cũng hăng hái vào đó, biết khéo chiều nịnh hót quân vương, được trọng dụng nhưng bị đánh chết vất xác dưới đáy hồ, rời kinh thành bằng quan tài rỗng như Hà Tôn Quyền. Thế nhưng có người vào đó nhờ khôn khéo mà ngất nghểu chót vót đỉnh cao danh vọng như Trương Đăng Quế… Mỗi người mỗi vẻ, mỗi số phận, mỗi kết cục nhưng họ đều có cái chung là nói theo ý của đấng cửu trùng, nghĩ và làm và chịu kết cục theo ý của quân vương. Còn Nguyễn, Nguyễn cũng hăm hở vào đó, hăm hở thực hành ý của quân vương nhưng Nguyễn vẫn cố thực hiện được cả sở nguyện của mình, và điều thú vị nhất là Nguyễn vẫn vừa làm quan hết mình mà vẫn vừa chơi hết mình: trăng thanh gió mát hay giông bão cuồng phong, chót vót thượng thư hay cùng đáy lính thú, Nguyễn vẫn bầu rượu, túi thơ, cây đàn và mỹ nhân nghiêng ngả đất trời. Nguyễn vẫn là Nguyễn. Nguyễn ngoảnh nhìn về phía Bắc nơi cửa Đại Cung – cửa chính của Tử Cấm Thành như thấy lại mười bốn năm về trước, nơi đây lọng vàng rực sáng, vua Minh Mệnh tươi cười ra tận đó đón các tướng lĩnh đánh tan phản nghịch Nông Văn Vân trở về. Các đại tướng công đầu Phạm Văn Điển, Tạ Quang Cự, Lê Văn Đức được tặng ngựa vàng, hươu vàng, lạc đà vàng lộc nước treo vào cổ rồi gối quỳ, tay ôm gối vua như trẻ nhỏ cùng cha lớn, còn Nguyễn được nhận thưởng một bộ đồ chơi bằng ngọc trắng và may mắn không được nhận ân sủng ôm gối người. Giờ thì Phạm Văn Điển đã để lại xác mình ở Thất Sơn (An Giang), Lê Văn Đức dù mang bệnh vẫn cảm ân vua đi Kinh lý Nam Kỳ rồi chết ở dọc đường lúc vừa bốn chín tuổi, Tạ Quang Cự giờ đã ở tuổi 80 vẫn cung cúc quỳ tại sân chầu làm đẹp lòng ông vua trẻ Tự Đức. Còn Nguyễn 71 tuổi, sức vóc vẫn cường tráng, rũ sạch nợ quân thần, thoát vòng cương toả, thong dong trở về Ngàn Hống vui cùng nước biếc non xanh. Nguyễn mỉm cười tự bằng lòng với mình, ngoảnh lại nhìn điện Thái Hòa uy nghi trong nắng chiều đông, lặng nghĩ bao nhiêu năm cuộc đời ta đã gắn chặt nơi này với bao nỗi vui ít buồn nhiều. Sáng nay, bữa chầu cuối cùng… Vui vì nhận được chỉ dụ cho về hưu, mà lòng buồn ngao ngán vì được chứng kiến một buổi chầu mà từ trước đến nay chưa bao giờ gặp cảnh tượng đó. Lúc này đạo An-Tĩnh khuyết tổng đốc, Gia Định, Quảng Nam, Lạng Sơn thiếu án sát, Tự Đức giao cho đình thần chọn cử. Trương Đăng Quế cử Nguyễn Đăng Giai. Mọi người lấy làm lạ. Giai vừa được Tự Đức điều về triều, thăng Thự Hiệp biện Đại học sĩ làm Thượng thư bộ Hình kiêm Tổng tài Quốc sử quán. Giai vừa nhận chức, dâng 10 điều hay về xét việc hình, việc duyệt đinh, việc khẩn hoang, việc đúc tiền. Vua khen. Giờ nếu đi làm Tổng đốc An-Tĩnh, khác gì bị hạ cấp. Giai biết rõ Quế ghét mình và sợ mình nên đẩy mình đi, bèn không nhận. Nguyễn Tri Phương cùng hùa với Quế bảo rằng “Giai không được chối”. Hoàng Thụ người quý Giai ghét Quế, cử Lâm Duy Thiếp, cánh tay của Quế vì “Thiếp đánh bạc giỏi” hoặc Phan Thanh Giản vì “Không thích chơi gì có thể chuyên tâm việc dân.” Giản chối. Còn chỗ việc khuyết án sát, Quế cử Lang trung bộ lại Ngô Bá Hy (tú tài). Tri Phương cũng khen Bá Hi. Các bậc Á khanh trở xuống lại không muốn… cãi nhau om sòm. Vua Tự Đức ngồi trên ngai vàng hết nghe người này lại nhìn kẻ khác, chưa biết xử lý ra sao. Bực quá, ngài đập tay, nói:

– Năm ngoái, bọn Lâm Duy Thiếp, Nguyễn Đăng Giai đã xảy ra chuyện bất hòa, cãi nhau ở chốn triều đường, trẫm đã quở trách hai ba lần. Nay lại nhân việc chọn cử, này sinh ra bất hòa, bới móc, nói xấu lẫn nhau, thảo nào gần đây khí trời không hòa, nhân dân thường gặp thiên tai dịch tệ vậy.

Phó đô ngự sử viện Đô sát là Bùi Quỹ quỳ tâu, tố Trương Đăng Quế chuyên quyền, tư tình tự tiện làm càn, chuyện nhà công chúa An Mỹ (con dâu Quế – vợ Trương Đăng Trụ) mất trộm, phủ Thừa Thiên đã chỉ rõ kẻ gian, bộ Hình cho rằng chứng cớ chưa rõ, phái người bắt được kẻ gian mới tra xét. Thế mà Quế tự tâu đề nghị cách chức Nguyễn Tấn và Lê Huy Mậu, Đăng Giai nóng nảy lúc tranh cãi, Hoàng Thu ở giữa triều mà ăn nói đùa bỡn ngầm đả kích nhau… Bùi Quỹ tâu xong, Tự Đức khen thẳng thắn, không hề sợ kẻ quyền quý, rồi nói:

– Đăng Quế là Cố mệnh lương thần của hai triều, Nguyễn Đăng Giai là thế thần đời đời được ân sủng, thế mà vì việc công mà kẻ cử, kẻ chối, nói năng va chạm, quần thần nghe phải sợ hãi, đã không phải việc nước mà đồng lòng cùng nhau, lại dường như đi đến chỗ chia dựng phe cánh.

Ngài bèn giáng Trương Đăng Quế hai cấp, Nguyễn Đăng Giai ba cấp lưu lại làm việc, còn Hoàng Thụ ăn nói đùa giỡn, phạt cắt lương 9 tháng.

Nghĩ đến đây, lòng Nguyễn trĩu buồn. Cảnh triều đình bàn chuyện đại sự của quốc gia mà ồn ào, lộn xộn như buổi chợ. Các quan đại thần đứng trước mặt vua và quần thần thô lỗ như kẻ vô học, bàn định việc lớn cử người chăn dắt dân chúng các tỉnh mà coi như việc tư thù, chỉ lăm đạt ý riêng của mình, mặc cho muôn dân sống chết thế nào không cần hay biết. Cảnh bè phái này rồi sẽ dẫn đến đâu? Giang sơn Đại Nam sẽ tan nát đến đâu? Nguyễn thấy lòng xót xa, thất vọng! Nguyễn lại nhìn về điện Thái Hòa uy nghi, nơi tập trung quyền lực của triều đình, lặng lẽ lắc đầu nhớ đến ngày xưa… thời Thánh tổ Minh Mệnh không bao giờ có cảnh ấy. Ngày ấy, ngài ngồi ở đó mà thấy việc của muôn nơi, hiểu chuyện đã qua, thấu hết chuyện đời nay mà nghĩ đến cả chuyện mai sau, sắp đặt chuyện cai trị ở các tỉnh thành, lo việc nông tang cho dân đỡ khổ, nghiêm khắc với kẻ tham nhũng, ra sức xây dựng lực lượng quân sự nhất là hải quân. Những buổi thiết triều trăm quan không dám lộn xộn, ngài giải quyết công việc nhanh chóng mà quyết đoán. Còn nay, quan lại thì chia rẽ, thiết triều vua chỉ bàn chuyện học theo người xưa, lo khen thưởng tiết nghĩa mà không trừng trị được kẻ tham tàn, nắng hạn thì chỉ biết cầu trời mà không nghĩ đến việc đào sông mang nước cho ruộng đồng. Trương Đăng Quế cầm đầu quan lại mà độc đoán chuyên quyền, đẩy người tài giỏi ra khỏi triều đình, dựng lên một ông vua hiền lành mà không biết lo đại sự, trước sau chỉ lăm lăm đi tìm sự yên ổn… Nghĩ đến đây, Nguyễn chợt giật mình: Quế được vậy chính là từ… đức Minh Mệnh. Chính ngài, trước khi lâm chung đã giao cho Quế quyền lực lớn, dặn Thiệu Trị: Quế “nói gì phải nghe, bày mưu kế gì phải theo” cơ mà. Chao ôi! Chính người: đặt toàn bộ niềm tin vào một con người. Con người đó cũng chỉ biết trung thành theo vua trước, theo người xưa, tập trung quyền lực, không nghe một ai, không cho ai nói trái ý mình, luôn tự cho mình “bách vô nhất nhất” (không hề sai sót) bắt mọi việc, mọi người “bách y bách thuận” (phục tùng tuyệt đối). Nguyễn cay đắng: tất cả bắt nguồn từ lời dặn, từ sự ủy thác của vua Minh Mệnh. Ôi! vị hoàng đế sắc sảo, tài giỏi hơn cả, suốt đời lo cho nước Đại Nam, cho dòng họ Nguyễn Phúc lại chính là người bắt đầu tạo nên sự suy yếu của Đại Nam. Sự đời thật oái ăm và khó hiểu! Nhớ đến sự kém cỏi bất lực của vua Tự Đức, Nguyễn chợt nhận ra: đâu phải do ngài mà do người ta buộc vào cho ngài. Hiền lành, tốt bụng, chuộng đạo lý, đáng là một thi nhân nhàn nhã, người ta đã biến ngài thành một kẻ yếu đuối phải è cổ gánh những gánh nặng của giang sơn mà cha mình, ông mình để lại. Suy cho cùng thì Tự Đức cũng chỉ là nạn nhân mà thôi.

Nắng nhạt dần, trời se lanh, Nguyễn buông một tiếng thở dài rồi rời tay khỏi bậc đá của Ngọ Môn, phủi sạch bụi, phủi sạch mọi sự kiềm tỏa của danh vọng và quyền lực, ngậm ngùi đưa mắt nhìn khắp bốn phía Hoàng thành, thong thả quay người, bước xuống mặt đất, trở về phủ Thừa Thiên. Phải bàn giao công việc để trở về quê nhà với Ngàn Hống xanh tươi, hùng vĩ thôi.

*

Tân Phủ doãn Thừa Thiên Võ Trọng Bình đang chăm chú đọc các hồ sơ mà Thự Phủ doãn Nguyễn Công Trứ mới bàn giao bỗng dừng lại, nhìn ra cổng: một đoàn ngựa xe lại đến. Ba hôm nay ngày nào, buổi nào cũng có người đến chào, tiễn Nguyễn tiên sinh về nghỉ hưu. Bình vội ra cổng. Từ trên hai cỗ xe song mã: Thái tử Thiếu bảo Hiệp biện Đại học sĩ ở viện cơ mật Hà Duy Phiên, Hữu Tham tri Bộ Binh Hoàng Tế Mỹ, Hữu Tham tri Bộ Lại Phạm Thế Trung, Tả tham tri Bộ Lại Nguyễn Đức Chính, Hữu Tham tri Bộ Lễ Đỗ Quang thong thả bước vào, sau lưng có hai người lính người tay bưng bình rượu, người hai tay bê hộp vuông sơn màu đỏ, có hoa văn đẹp. Mọi người vui vẻ bước tới, Bình chấp tay, cúi chào và mời mọi người vào công đường. Hà Duy Phiên nhìn Bình ngạc nhiên. Hiểu ý, Bình nói:

– Hạ quan làm việc ở phòng bên. Phòng này vẫn để dành cho Tiên sinh Hy Văn tiếp khách, hàn huyên vậy. Tướng công đi đâu từ chiều qua đến nay chưa thấy về.

Mọi người vào phòng. Trên tường treo nhiều đôi câu đối, thơ mừng Nguyễn Công Trứ về hưu, Thái tử Thiếu bảo Đại học sĩ Hà Duy Phiên chú ý đến đôi câu đối của triều thần đồng kính tiễn:

Lam Giang Hồng Lĩnh gia sinh Phật
Thiết khoán đan thư quốc trọng thần.

Phạm Thế Trung đọc bài thơ mừng của Võ Duy Tân:

Trịch bãi thiên kim mãi nhất nhàn,
Nụy trì trượng lí khẩu môn hoàn,
Giang Đình phong nguyệt thu như tẩy,
Hoạn hải ba đào mộng bất quan.
Vạn cổ từ bi sang kiếm hậu
Bách niên tâm sự cúc tùng gian,
Quy lai nhược kí tôn tiền thoại,
Bất nhật Tăng cuồng quá Cảm san

Dịch thơ:

Nghìn vàng quẳng hết để mua nhàn,
Khấp khểnh về nhà một lão quan.
Gió mát Giang Đình như tẩy sạch,
Sóng dồn bể hoạn vẫn bình an.
Cửa thiền sau lúc gươm dao giũa,
Khóm cúc mừng nay bạn hữu bàn.
Chén rượu không quên câu chuyện cũ,
Tăng cuồng rồi sẽ viếng Nài San
(Hồng Liên Lê Xuân Giáo dịch)

Thầm nghĩ: ý có chỗ khá nhưng có nhiều chỗ khuôn sáo quá. Đỗ Quang thì rất thích câu đối của Trương Quốc Dụng:

Lục địa thần tiên, danh trọng Hồng Sơn, Lam Thủy
Vạn gia sinh Phật, công cao Tiền Hải, Kim Sơn.

Chợt có tiếng ồn ào ở phía cổng, mọi người cùng nhìn ra. Họ không tin ở mắt mình: Nguyễn Công Trứ áo dài khăn đóng, đang ngất nghểu ngồi trên mình một con… bò, lông vàng khươm, đủng đỉnh bước vào. Theo sau là mấy chú bé, vài người đứng tuổi đi theo. Hà Duy Phiên dụi mắt, khi biết chắc là Nguyễn Công Trứ vội ra chào. Nguyễn xuống bò, nắm hai tay dơ lên chào mọi người:

– Xin chào các vị đại quan. Ta vừa vào triều nạp trả các bằng sắc cho triều đình nên về muộn. Mời vào.

Mọi người xúm lại quanh con bò.

Đỗ Quang hỏi ngay:

– Sao tiên sinh không đi ngựa mà lại đi bò.

– À. Ngựa xe là vua ban đi làm công vụ, nay nghỉ rồi thì cưỡi bò thôi.

Nhìn thấy sát sau thân bò có tấm mo cau treo vào đuôi, Tế Mỹ hỏi:

– Sao huynh lại che cái chỗ này lại?

Nguyễn hóm hỉnh:

– Để che miệng thế gian.

Hà Duy Phiên nhìn Nguyễn rồi nhìn Mỹ như thầm nói: “ông này ghê thật.” Nguyễn mời mọi người vào phòng.

Khi mọi người an toạ, Võ Trọng Bình sai lính rót rượu, bưng một chén đến trước mặt Nguyễn Công Trứ. Đại học sĩ Hà Duy Phiên đứng dậy nói:

– Kính thưa quan Kinh Doãn, mấy anh em chúng tôi, những người đã cùng Tiên sinh vào sinh ra tử nơi trận mạc, gánh vác công việc trong triều ngoài trấn, tuổi tác khác nhau, công việc khác nhau, nhưng cùng chung sự ngưỡng mộ cốt cách cứng cỏi, công đức lớn lao của Tiên sinh. Nhân dịp ngài được Hoàng thượng cho trí sĩ, chúng tôi có mấy lời nôm na cúi mừng, bái phục.

Nói rồi, Phiên mở hộp gỗ sơn đỏ, lấy ra một bức trướng lụa gấm đỏ, thêu chữ màu xanh, xung quanh là hình tám vị tiên ông. Phạm Thế Trung giọng tốt, thong thả đọc:

“Quan Kinh Doãn hiệu Hy Văn về hưu là người khí tiết lỗi lạc, phong lưu hơn người. Gặp gỡ buổi thịnh triều, ngất nghểu trên đầu núi, rẽ sóng đuổi gió, ra vào trong hội Tôn Ngô, giỏi văn giỏi võ, tài tướng quân xuất tự thư sinh, ở quận ở triều, già trẻ đều hay tên tuổi. Chức tước ba triều từng trải, gió sương bảy chục đã thừa. Vàng càng luyện càng thêm bền, tùng về già càng thêm xanh, mong mỏi phúc nhàn trời ban tuổi thọ. Ước ao trí sĩ vua chuẩn lời xin. Đang bị đau được mừng khỏe mạnh, lúc cáo quan được tăng phẩm hàm. Làng xóm mừng ông lừng danh, quan thân khen ông dày phúc…(*)”.

Phạm Thế Trung càng đọc càng xúc động. Hoàng Tế Mỹ chú ý nhìn: gương mặt Nguyễn vẫn bình thản, chỉ trong đôi mắt ánh lên chút ánh sáng hóm hỉnh không biết bằng lòng hay chê trách. Phạm đọc xong, Hà Duy Phiên từ từ gấp bức trướng bỏ vào hộp rồi hai tay nâng tráp lên ngang mày Nguyễn dơ hai tay đỡ lấy, miệng nói:

– Đa tạ. Đa tạ. Các quan bác quá khen.

Khi Nguyễn đặt tráp xuống, Hà Duy Phiên và mọi người cùng nâng chén chúc mừng. Ngồi cạnh Nguyễn, Hoàng Tế Mỹ hỏi:

– Bao giờ huynh về quê?

– Cũng chưa định được. Có khi cũng phải ở lại mươi ngày, đi chơi một vài nơi, đưa chú bò này dạo khắp kinh thành trước khi đưa chú ấy về Xứ Nghệ.

Đúng vậy, Nguyễn Công Trứ thong dong cưỡi bò đi khắp kinh thành thăm bạn bè, ngắm cảnh. Mọi người từ thứ dân đến các người có học bàn tán. Người thì bảo: “Ngài Phủ Doãn khác người, không ngồi xe, không cưỡi ngựa mà lại cưỡi bò.” Người khác nói: “Ngựa là của vua ban đi làm công vụ, bò là tiền của mình. Ngài cưỡi bò, nghĩa là ngài chán chức tước, chán công danh rồi.” Người thì hỏi: “Hay là ngài không có tiền. Xưa Mã Viện về quê ngựa thồ hàng bì vàng bạc. Quan lại triều này quanh ta của cũng nứt đố đổ vách.” Có người nói: “Quan Trứ hai mươi năm trước làm Phủ Doãn cũng không lấy của kho, không lấy của dân đồng nào. Nay cũng thế. Cần ngựa làm gì.” Có người nhìn sang mấy nhà cao của quan lại nói với nhau: “Ông già người Nghệ thâm thúy thật. Cưỡi bò giữa kinh kỳ nhung nhúc quan lại giàu sang là để tát vào mặt quan tham: “Ta cóc cần thứ chúng mày cần. Ta không như lũ chúng mày.” Một người thợ kim hoàn rất phục quan Phủ Doãn, thức suốt đêm, làm xong chùm đục đạc (có nơi gọi lục lạc) đồng gồm ba chiếc kích cỡ khác nhau, dày mỏng khác nhau, đón đường quỳ tặng Nguyễn Công Trứ. Ngài mừng lắm “ta còn thiếu cái này đây,” bèn đeo vào cổ bò. Bò đi, âm thanh ở ba cái đục đạc vang lên đa dạng mà ríu rít, rộn rã. Nguyễn Công Trứ cười vui, lấy bầu rượu bên hông, uống một hớp, cùng cười với mọi người,

Thủng thẳng giục bò đi. Dân chúng vỗ tay nhìn theo thích chí, thán phục. Mấy khuôn mặt béo nhẫy của quan lại trên lầu cao, nghe tiếng lục lạc, tưởng ngựa ai đến, vội mở của sổ nhìn xuống. Khi thấy Nguyễn cưỡi bò thảnh thơi cười, họ cau có, đóng cửa lại. Dân chúng thấy vậy cùng nhìn nhau cười khoái trá. Gió đông phong hây hẩy thổi qua kinh thành. Lá vàng rụng rì rào cùng đuổi theo tiếng lục lạc bò vàng leng keng, loong coong rộn rã. Nguyễn cất tiếng đọc:

Xuống ngựa lên xe chẳng được nhàn
Lợm mùi giáng chức, với thăng quan.
Ta nay đủng đỉnh lưng bò cái,
Đem tấm mo, che miệng thế gian.

Nguyễn đi xa dần. Dân chúng hai bên đường xúm nhau lại hồ hởi bàn tán. Người thì cho rằng: Quan Nguyễn khác đời, người thì cho rằng, ngài coi thường cả thiên hạ. Có người bảo: “Thôi, chúng ta đừng nói chuyện ngài nữa, ngài chẳng đã muốn che miệng chúng ta là gì”! Một cụ già tóc bạc, có cặp mắt sáng, tủm tỉm nói:

– Bà con nói vậy, e không hiểu ý sâu xa của ngài.

Mọi người nhìn cụ, lắng nghe.

– Ở câu trên, nói chuyện “giáng chức, thăng quan.” Ai làm được chuyện đó? Chỉ có các quan nhất là các vị đại thần hoặc các ngài ở Cơ mật viện mới được nói, được bàn chuyện đó. Đời ngài phải lên voi, bị xuống chó nhiều lần oan ức, bất công, ngài mới chán ghét nên nói “lợm mùi”. Ngài “che miệng thế gian” là che những cái miệng…

Mọi người ớ ra. Một người trạc tuổi năm mươi, nhìn cụ già, nói nhỏ:

– Thế có nghĩa là: miệng các vị tai to mặt lớn, quyền cao chức trọng như… cái ấy của con bò.

Cụ già tóc bạc không trả lời. Một người khác nói:

– Xưa nay, chỉ nghe nói “miệng quan, trôn trẻ”, chẳng hay ho gì nhưng dẫu sao cũng còn được là người, chứ chưa ai ví “miệng quan” với “cái ấy” của bò cả. Chao ơi! Ngài Phủ Doãn của ta ghê gớm làm sao. Hay thiệt!

Có người lại nói thêm:

– Còn ngài thì lại ung dung cưỡi lên lưng bò, bỏ mặc sau lưng miệng thế khen, chê. Xưa nay, chưa có ai dám bày trò giễu đời như Cụ già Xứ Nghệ này cả.

Cứ thế, những lời bàn tán về cụ Trứ, về các vị tai to mặt lớn, về đạc ngựa, bò vàng và cái mo cau che đít bò, cứ râm ran nổi lên khắp kinh thành cùng những bước đi đủng đỉnh của Cụ, rồi lan cả ra những vùng mà Cụ chưa đến.

– Đệ bị tống khỏi Kinh thành rồi!

Vừa nâng chén rượu lên kề miệng, nghe Cao Bá Quát nói vậy, Nguyễn Công Trứ vội đặt xuống ván, cựa mình. Con thuyền nhỏ trên Hương Giang chòng chành.

– Thế đệ đi đâu? Làm gì?

– Đệ lùi về Quốc Oai làm đốc học!

À ra thế! Thảo nào mà trưa nay, đệ ấy đến tìm, bảo Nguyễn đi chơi. Thấy nét mặt Cao có chiều căng thẳng, Nguyễn nghĩ là có gì hệ trọng nên bỏ ý định rong chơi rồi cùng đi với Cao. Một con thuyền đã đợi sẵn. Ngoài ông già chống đò râu tóc bạc phơ, Nguyễn không thấy ai khác. Lạ thật!

Cao rót thêm một chén rượu, nâng chén kia lên đặt vào tay Trứ:

– Huynh cạn chén đi. Biết bao giờ gặp lại. Và biết có gặp lại.

Hai người cạn chén. Cao nhìn ra: mặt sông óng ánh nắng trời, giọng trầm xuống:

– Được cha mẹ sinh ra, được các thầy dạy dỗ, bụng đầy mấy bồ chữ, ôm hoài bão “tiên ưu hậu lạc”, nguyện làm một tôi trung phò quân vương, mười bảy năm dấn thân vào chốn kinh kỳ mong giành đại khoa mà làm nên đại nghiệp, nào ngờ lại trở thành đồ thừa, sống vô nghĩa, thành miếng giẻ rách, bị quẳng trở lại với đồng chua nước mặn. Chu Thần ơi là Chu Thần ôi!

Nói rồi, Cao quay lại nhìn Trứ:

– Huynh thế mà vẫn còn sướng, còn có những năm tháng được làm điều mình muốn…

Nguyễn trả lời:

– Đệ nói đúng. Đó chính là điều may mắn lớn của ta. Thời đó, đức Thánh tổ (Minh Mệnh) là vị Hoàng đế đầy tài năng, biết nhìn xa trông rộng, biết lo việc nay và cả việc mai sau, biết sở trường sở đoản của từng thuộc hạ mà dùng cho đại sự, rất nghiêm khắc mà cũng rất độ lượng, làm lòng ta phấn chấn mà lo hết sức cho việc của giang sơn.

– Còn hiện nay?

Nguyễn lắc đầu:

– Buồn lắm. Mọi sự mỗi ngày mỗi khác mà Hoàng thượng chỉ biết làm theo lời vua cha, dân chúng ngày càng nghèo đói, quan lại ngày càng thối nát, càng bất lực mà cứ tưởng ngày càng thịnh vượng… Còn dùng người…

Nguyễn lắc đầu, nhấp một chút rượu, buồn bã:

– Ai khéo nịnh, biết cúi đầu nghe, thì được dùng, được thăng, được giao quyền dù không làm được việc. Người có thực tài, nhưng nghĩ khác Quế, nghĩ khác Hoàng thượng, biết làm, dám làm điều tốt cho giang sơn, thì bị loại bỏ, thậm chí còn bị hại. Nhìn thấy dân tình khốn khổ, quan lại ngày càng thối nát lúc nào lòng ta cũng không an. Không làm sao mà an được!

Cao nói ngay:

– Nhưng giờ thì huynh thoát khỏi mọi vòng cương tỏa, đạc ngựa bò vàng ngất nghểu rồi.

– Đệ tưởng ta vui lắm đấy chăng. Ta làm thế là để tát vào mặt bọn quan tham bất tài, để cho chúng biết ta là ta chứ không phải chúng nó, ta không thèm sống như chúng nó.

Nguyễn dừng lại một lát, nhìn ra ngoài. Sông Hương lấp lánh nắng vàng, giọng Nguyễn như chùng xuống:

– Thế nhưng đó cũng là sự bất lực của ta. Đau và buồn lắm đệ ạ. Sáng nay, cưỡi bò qua Ngọ Môn, nhìn về điện Thái Hòa, lòng ta vừa ngao ngán, vừa xót xa.

– Thế huynh có biết sáng nay Hoàng thượng làm gì không?

– Hôm nay là ngày 12, Hoàng thượng đến điện Kinh Diên nghe giảng, còn giảng gì thì làm sao ta biết được.

– Sáng nay ngài nghe giảng “Binh thư yếu lược” của Hưng Đạo vương

– Thật thế ư?

– Đúng vậy. Hoàng Tế Mỹ nói với đệ mà. Đó là yêu cầu của Hoàng thượng. Ngày 08 nghe Trương Đăng Quế giảng Hội điển sự lệ của nhà Thanh, ngài bảo giảng quan Phan Thanh Giản “Trẫm xưa nay chỉ quen thơ phú mà ít hiểu về binh pháp. Nghe nói Binh thư yếu lược của Hưng Đạo vương hay lắm, các khanh giảng cho trẫm nghe”. Giản tuân chỉ, giao cho Hoàng Tế Mỹ việc này. Sáng qua, Hoàng vừa giảng cho ngài nghe xong, ngài thích lắm cứ khen ngợi mãi và truyền đem cho chỉ huy các vệ quân trong thành học.

Giọng nói của Cao càng lúc càng bộc lộ sự mai mỉa;

– Quân vương cao kiến thật. Thiên hạ có tàu hơi nước, có đại bác bắn xa hàng chục dặm mà mình quay lại học cách đánh gươm giáo. Thế này thì chỉ nay mai Đại Việt rơi vào bọn Tây dương mất thôi.

Uống sạch một chén rượu, Cao lại nói giọng vừa xót xa, cay đắng vừa bực dọc:

– Huynh nói đi. Đất trời Đại Nam mênh mông, văn hiến rực rỡ, hào kiệt tự ngàn xưa dồi dào, mà sao nay dân tình ngày càng khốn khổ, quan lại ngày càng dốt nát, tham tàn, những kẻ sĩ có tài muốn làm điều ích quốc lợi dân thì không chốn dung thân?

Nguyễn nhìn Cao đầy thông cảm. Tuy tuổi nhiều hơn Cao, làm quan đến Thượng thư bộ Binh còn Cao chỉ là chân Hành tẩu bộ Lễ nhưng Nguyễn rất quý Cao, nể Cao và phục sự hiểu biết của Cao. Từ sau khi đi Giang Lưu Gia Ba về, Nguyễn lại càng phục Cao, coi như bậc thầy. Nghĩ đến việc nước, Nguyễn vẫn ước ao: giá như Cao được làm phụ chính cho nhà vua thì phúc cho nước nhà biết bao. Thế nhưng, từ khi gặp nhau dưới chân đỉnh Vân Phong (Quảng Ngãi) biết lý do Cao bị đẩy đi, Nguyễn càng lo. Rõ ràng, Trương Đăng Quế rất không thích Cao, sợ sự hiểu biết cũng như tính cách bất phục tùng của Cao có thể làm rối loạn quan triều, nên chỉ giao cho Cao một công việc đọc, ghi chép sử sách tài liệu không đụng đến chính sự. Nguyễn đã vài lần nhắc Cao thu mình lại mà Cao vẫn không nghe. Gặp thời Tự Đức lên ngôi – một ông vua trẻ thích văn thơ, Cao được gọi vào. Khôn ngoan biết giấu mình như con rồng tạm ngủ yên dưới đáy sâu, nhưng Cao lại hiếu thắng muốn phô trương và coi thường cả thiên hạ, đến mức muốn trổ tài mình át cả quân vương. Cứ sống kiểu này, có ngày đệ ấy bị hại mất.

Đúng là hôm nay đệ ấy bị đẩy về Quốc Oai – có nghĩa là bị loại khỏi chốn triều đường. Con chim đại bàng giang đôi cánh rộng “tếch mái rừng Nhan Khổng” “toan vượt bể Trình Chu” “chí xông pha nào quản chông gai” “tài bay nhảy ngại chi gian khổ” giờ đã bị trói cánh quẳng về rừng già. Xót xa thay, qua bao tai hoạ hiểm nguy, con người ấy đã hiểu được bao điều mới, học được bao điều hay có lợi cho đất nước mà không được dùng. Oái oăm thay mà cũng nghiệt ngã thay! Thế nhưng, sao đệ ấy bị loại nhanh thế? Có điều gì nghiêm trọng khác ư? Nhớ lại những chuyện vừa qua, Nguyễn nói:

– Họ không chỉ coi đệ là người thừa mà còn coi đệ là cái gai nhọn cần phải nhổ. Thế nhưng gần đây, đệ có đi lại hoặc gặp gỡ ai không?

– Không. Đệ vẫn ngày ngày vào bộ làm việc. Thỉnh thoảng gặp Nguyễn Văn Siêu và huynh.

– Từ ngày Đào Trí Phú bị cách chức đến nay đệ có gặp không?

– Không! À – mà có. Cách đây năm hôm, Đào về Kinh, đệ cùng Đào đến vấn an sức khỏe Hồng Bảo.

Nguyễn đập tay xuống sạp gỗ, hai chén rượu nảy lên:

– Thôi! Chết rồi. Chính chuyện đó rồi!

Lúc này, Cao mới sững người ra. Hơn một năm nay từ ngày Hồng Nhậm lên ngôi, triều đình chia thành hai phe rõ rệt, phe ủng hộ Hồng Bảo vô cùng căm ghét phe ủng hộ Hồng Nhậm do Trương Đăng Quế đứng đầu. Vì vậy vào triều, luôn ngầm chống đối nhau. Thế nhưng, phe cầm quyền rất mạnh, Trương Đăng Quế nắm quyền lực cao nhất, tìm cách đẩy người thân của Hồng Bảo ra xa, không cho liên kết với nhau. Sau khi cùng Trí Phú đi Giang Lưu Ba về, Cao bị coi là có tư tưởng phản nghịch, chống lại triều đình, bị lưu đày Quảng Nam. Sau vụ chính biến, Cao càng bị theo dõi. Còn Đào Trí Phú đang làm Bố Chính Quảng Nam, bị vu tội, phải cách chức. Thế mà Cao lại dám đi cùng Phú đến gặp Hồng Bảo.

Nguyễn nhìn Cao:

– Đệ là người thông tuệ hơn người, thế mà lại không hiểu một điều hiển nhiên: dưới gầm trời Đại Nam này: nghĩ khác cái nghĩ của quân vương là phạm tội đại nghịch rồi. Thế là người cầm quyền không chỉ coi đệ là cái gai mà còn coi đệ là kẻ phản nghịch, là thùng thuốc nổ nguy hiểm phải loại khỏi chốn kinh thành.

Nguyễn dừng lại một lát rồi nói thêm với Cao:

– Đệ về quê cũng cần bảo trọng. Tai mắt của Trương có mặt khắp nơi.

Cao đã trở lại bình tĩnh, nghe Nguyễn nói vậy bèn trả lời:

– Thế là Đại Nam mênh mông mà Quát này không chốn dung thân. Nguyễn Quý Tân bỏ đây mà về. Huynh thì cố xin trí sĩ mà bò vàng đủng đỉnh… Chỉ còn Phương Đình (Nguyễn Văn Siêu) thì cúc cung tận tụy nơi lầu son gác tía chật chội. Những ngày tới sẽ thế nào đây?

Trời đã chiều, gió nam Lào lồng lộng, thuyền nhích từng thước một. Cao cúi đầu ra khỏi khoang rồi đứng lên phía mũi thuyền, ngước nhìn bầu trời bát ngát. Nguyễn ngồi yên, nhìn theo lòng băn khoăn tự hỏi: chàng trai có chí lớn rời Kinh thành Phú Xuân về Thăng Long cố đô, sẽ sống thế nào đây? Nơi ấy, Nguyễn biết có biết bao nhân tài. Nơi ấy có bao nhiêu bậc khí phách không chịu tuân theo sự trói buộc của nhà Nguyễn này. Nhớ lại giọng nói vừa có tính chế diễu vừa bực dọc xót xa của Cao khi nói về triều đình, Nguyễn chợt nhớ đến lời người xưa “Quân hữu đại quá tắc gián, phản phúc chi nhi bất thính, tắc dịch vị” – vua đối với ta thiếu lễ độ thì nên bỏ đi ngay, nhất định đệ ấy sẽ đi. Còn về đó có làm được gì và sẽ làm gì, Nguyễn thấy lo lo. Ở đó có bao người chống đối nhà Nguyễn này. Đệ ấy có tài nhưng cao ngạo mà cũng dễ tin người, liệu có chịu yên. Hai chữ Quân – Thần (vua – tôi) liệu đệ ấy có giữ được. Đang miên man nghĩ vậy, chợt Cao gọi:

– Nguyễn huynh, ra ngoài này.

Nguyễn bước ra, đứng lên: mặt trời xuống gần đỉnh núi, đỏ rực. Bầu trời thu mênh mang màu đỏ ối trùm lên những đỉnh núi xanh chập chùng. Dòng Hương Giang vừa chứa màu thẩm xanh của rừng, vừa rực lên màu đỏ của lửa, đẹp một cách hùng vĩ. Cao vừa chỉ về phía thượng nguồn, vừa nói:

– Sông Hương đẹp quá, như thanh kiếm dựng lên giữa trời vậy!

Nguyễn ngạc nhiên trước cách ví táo bạo ấy, miệng lẩm bẩm “đẹp thật!”. Còn Cao nhìn đắm đuối, trong mắt hình như có lửa: lửa từ bầu trời đỏ cháy hay từ sóng nước hắt lên hay lửa trong lòng bừng lên cũng không biết nữa. Nguyễn nghe giọng Cao âm vang: Trường Giang như kiếm lập thanh thiên – con sông dài như lưỡi gươm dựng giữa trời xanh. Nguyễn rùng mình! Cái gì đã bùng lên trong lòng người bạn trẻ tài ba bị rẻ rúng này. Cao là con chim đại bàng bị vặt hết lông cánh bị ném vào rừng sâu hay con hổ lớn được trở về với đại ngàn, Nguyễn cũng không biết nữa. Nguyễn chợt nhớ lời nói của Mạnh Tử: “Quân thị thần như thổ giới/ Thần thị quân như khấu cừu” (vua coi tôi như cỏ rác, tôi coi vua như kẻ thù), đệ ấy định chống lại triều đình ư? Có lẽ nào! Đạo quân – thần lẽ nào đệ ấy dám đơn sai. Nguyễn ngoảnh sang phía trái ngoái nhìn phía Thành Nội đang sẫm đi trong bóng chiều, thấy mình bây giờ cũng là người thừa ở chốn kinh kỳ xám xịt này. Nguyễn thèm trở về với non Hồng xanh biếc mênh mông, gác đầu lên đá mà ngủ. Thế nhưng Nguyễn cũng hiểu Kinh thành Phú Xuân cùng với Thăng Long là nơi hội tụ bao nhiêu giá trị tinh hoa mà Nguyễn cũng lớn lên từ đó, Nguyễn đã ba mươi năm sống cùng nó, vì nó. Giờ ra đi, Nguyễn không muốn để lại chỉ một tiếng cười…

Nguyễn hỏi Cao:

– Bao giờ đệ rời khỏi đây?

– Ngày kia.

– Đệ có thể nán lại vài hôm được không?

– Để làm gì?

– Tối rằm này, ta muốn làm một đêm hát ca trù từ biệt kinh thành.

Cao nhìn Nguyễn: thật là một ý hay. Huynh ấy bao giờ cũng khác người, hơn người, bèn vui vẻ nói:

– Hay quá! Làm sao mà đệ có thể vắng mặt trong một đêm hát ca trù đầy ý vị như thế.

Trăng rằm vừa mới nhô lên sau rặng tre ngà thì ở sân dinh Phủ Doãn Thừa Thiên hàng chục đèn lồng màu đỏ đã được treo quanh sân, dọi ánh hồng xuống hàng chục chiếu hoa cạp đỏ đã trải khắp mặt sân. Hơn chục đào nương, nhạc công, tay phách, tay đàn, tay trống đã có mặt, vừa ăn trầu, vừa dùng trà, chuyện cười rôm rả. Ánh sáng từ những chiếc đèn lồng tỏa ra làm tăng thêm sắc hồng trên mặt mỹ nhân, làm lung linh thêm những bộ quần áo màu hồng, màu tía. Cả một góc sân như hoa, như ảnh. Dinh Phủ Doãn Thừa Thiên chưa có đêm nào rực rỡ như đêm nay. Trong phòng khách, ngài Nguyễn Công Trứ đang chuyện trò cùng các quan khách bầu bạn và văn nhân tài tử đất kinh kỳ. Thỉnh thoảng, Nguyễn lại nhìn ra ngoài trời như đợi ai đó. Chợt một bóng đèn lồng xuất hiện, một chiếc xe song mã của Hoàng tộc đi tới, Võ Trọng Bình vội ra đón: Tùng Quốc Công Miên Thẩm, Tuy Lý vương Miên Trinh vừa xuống xe. Cao Bá Quát cũng bước xuống sau cùng. Nguyễn Công Trứ cũng vội bước ra đón. Mọi người cùng đứng dậy chào. Khi mọi người đã an vị, Nguyễn áo dài đen, khăn đóng, quần trắng, guốc mộc đứng dậy chắp tay chào mọi người rồi nói:

– Thưa các vị: ba mươi năm trước khi tóc còn xanh Trứ đặt chân đến Phú Xuân. Nay đầu đã bạc, được hoàng thượng ban ân, Trứ được về với non Hồng. Ba chục năm qua, Trứ chịu nhiều ân sủng của triều đình và ân tình của dân chúng và bạn bè nơi đây. Giờ ra về không có gì để lại, Trứ chỉ có đêm hát ca trù, hát những bài Trứ làm từ lúc hàn vi cho đến hôm nay, xin gửi lại kinh thành cuộc đời của Nguyễn, tấm lòng của Nguyễn. Xin kính mời quý vị.

Mọi người đứng dậy, ra sân. Các đào nương và nhạc công đứng dậy cúi chào. Nguyễn mời Miên Thẩm và Miên Trinh ngồi vào chiếu giữa. Miên Thẩm đưa mắt nhìn quanh: dưới ánh đèn lồng mặt người và trang phục hồng lên mờ ảo chẳng khác gì trong Duyệt Thị Đường. Bỗng Nguyễn Công Trứ đứng dậy:

– Kính thưa các vị. Đêm nay, phủ đường có các tao nhân mặc khách, có đàn, có hát, có mỹ nhân, tưởng cũng là quý lắm rồi. Thế nhưng, thiếu vẻ đẹp của tự nhiên, niềm vui như mất đi một nửa. Ông trời cũng quý chúng ta, đêm nay ban cho chúng ta trăng vàng rười rượi, xin cho tắt những chiếc đèn lồng kia để chúng ta được hòa cùng non nước.

Những chiếc đèn lồng vụt tắt và mọi người như sững lại: ai cũng cảm thấy như trăng vàng bây giờ mới ùa xuống, sân dinh trở nên trong trẻo và khuôn mặt mọi người rạng rỡ thuần khiết. Họ ngẩng đầu lên: vòm trời cao rộng mênh mông, mở ra khoảng không gian vô tận. Muôn ngàn ngôi sao lấp lánh như cùng chứng giám, cùng vui với họ, vẫy gọi mọi người hướng tới sự khoáng đạt khôn cùng. Khí trời lành lạnh, Miên Thẩm hít căng lồng ngực, nhìn bầu trời lồng lộng, không hiểu sao mà mình chưa bao giờ có cảm giác sảng khoái như lúc này. Kìa! Trống đã vang lên ba tiếng, và tiếng đàn đáy cũng rành rõ vang lên. Tiếng phách trong tay một đào nương trẻ cũng ríu ran gõ nhịp. Từ đôi môi xinh những âm thanh trong trẻo vang lên:

Vòng… trời… đất i…i…i… dọc i i ngang ngang… dọc.

Thẩm như bị cuốn hút vào những lời thơ mạnh mẽ, hào hứng, nói lên chí làm trai của Nguyễn Công Trứ.

Chí làm trai Nam Bắc Đông Tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể

Nhìn Nguyễn Công Trứ đang ung dung ngồi nghe, dưới mái tóc bạc, khuôn mặt dãi dầu mưa nắng vẫn bình thản, Miên Thẩm lòng đầy cảm phục, thầm nghĩ: huynh ấy đã làm được điều huynh ấy muốn, thật là một đấng anh hào. Tiếng đàn, tiếng phách, tiếng hát hòa quyện vào nhau không dồn dập mà thong thả thấm vào lòng người, Miên Thẩm nhìn Miên Trinh gật gù. Hết bài chí “Chí Nam nhi” rồi chuyển sang bài “Có chí thì nên” mà hai anh em vẫn như cuốn theo tiếng hát tiếng đàn. Khi ca nương dừng hát, buông phách đứng dậy cúi chào, tiếng vỗ tay rào rào, Miên Thẩm như bừng tỉnh. Thấy nhiều người đặt tiền thưởng, vội sai gia nhân đặt một đồng tiền lớn xuống mặt chiếu.

Một phường hát khác bước ra chào. Thoáng nhìn Miên Thẩm nhận ra ngay ngài Bùi Đính – nhạc công cũ của hoàng cung và Hoàng Lan, con gái của ngài. Giáo phường này mà hát thì tuyệt vời. Giọng Hoàng Lan đã trong trẻo cất lên:

– Dạ kính thưa ngài Tùng quốc công và ngài Tuy Lý vương cùng các vị quan khách. Với Nguyễn tướng công, sống không chỉ lo làm nên công nghiệp mà còn phải biết nhiều thú ăn chơi, tiện nhi xin hát một bài “Chơi cho phỉ chí”.

Mọi người vỗ tay. Hoàng Lan ngồi xuống cầm phách. Bùi công thử tiếng đàn. Nguyễn Công Trứ vội đến cạnh người đánh trống chầu. Đã biết tài của ngài Phủ Doãn, anh ta vội trao roi chầu cho Nguyễn. Nguyễn ngồi xếp tròn, đĩnh đạc gõ vào trống ba tiếng, cây đàn trong tay Bùi công ngân lên. Bàn tay ngọc ngà của Hoàng Lan giơ lên hạ xuống, tiếng phách vang lên giòn giã:

Cầm… kỳ… thi… tửu khách
Đường… ăn chơi… mỗi… cách… mỗi hay

Giọng ngâm của Hoàng Lan trong trẻo hòa cùng tiếng đàn như hút lấy hồn người. Miên Thẩm nhìn Nguyễn: dưới ánh trăng, gương mặt như trẻ lại, tươi tỉnh hơn. Đôi tay thỉnh thoảng lại gõ vào mặt, vào tang trống, như khen ngợi, như giục giã, nhưng mắt Nguyễn lại luôn nhìn vào gương mặt thanh tú đượm buồn của Hoàng Lan một cách trìu mến. Trai anh hùng gái thuyền quyên này biết nhau từ lâu rồi chăng? Vừa chợt nghĩ đến điều đó thì Miên Thẩm vội gạt đi, tâm trí đuổi theo tiếng hát:

Chơi cho lịch mới là chơi
Chơi cho đài các cho người biết tay.

Nhìn thấy Nguyễn vừa nghe, vừa ngắm, vừa gõ trống, vừa gật gù, Miên Thẩm chợt nhận ra: thú hát ả đào quả là lôi cuốn và hoàn hảo: có mỹ nhân, có muôn cung bậc âm thanh hòa điệu cùng trăng vàng và gió mát, nỗi lòng thi nhân như hòa điệu cùng vũ trụ thì có niềm sung sướng nào bằng. Quả thật, Nguyễn Công Trứ biết ăn chơi hơn người. Trăng đã đứng ở đỉnh đầu, phường hát của Bùi Công đã sang chiếu bên, nhường chỗ cho phường hát khác. Một đào nương mặc chiếc áo lụa nhung màu huyết dụ, đầu vấn vành khăn nhung đen tròn trịa, mái tóc mượt mà rẽ sang hai bên làm rạng ngời gương mặt hoa sen với đôi môi hồng xinh xắn, tay cầm phách ngồi vào chiếu. Nguyễn Công Trứ bước ra:

– Thưa quý vị. Trứ ngày nay được vua cho về nghỉ thỏa lòng mong ước bấy nay, có làm bài hát nói để tỏ lòng mình, xin được mời đào nương Bích Tiên hát hộ, mời Cao đệ cầm chầu, còn Trứ tôi xin được hòa đàn. Xin được coi bài hát này là lời chào tiễn biệt.

Nhận cây đàn từ tay nhạc công, Nguyễn ngồi xuống, dạo thử mấy cung, Cao Bá Quát gõ ba tiếng vào mặt trống, bàn tay ngọc ngà của Bích Tiên cầm đôi phách đen bóng khẽ đưa lên hạ xuống, âm thanh vang giòn giã cùng tiếng hát mượt mà vút lên:

Chen… chúc… lợi danh… đà… chán… ngắt
Cúc tùng… phong… nguyệt… mới vui… sao.

Giọng của người hát trong trẻo, thong thả mà tròn vành rõ chữ. Tiếng đàn trong tay Nguyễn cũng nhịp nhàng hòa theo, trống chầu thỉnh thoảng điểm. Miên Thẩm và mọi người lắng nghe, tiếng hát không kéo dài quá như Nam ai Nam bình mà vừa trầm vừa thong thả đỡ cho tiếng hát và ý tứ từ từ thấm vào lòng người, khiến cho người nghe vừa chiêm nghiệm vừa hòa cùng tâm trạng của người viết. Ca Trù quả là thú chơi hội đủ những điều cần thiết mà trọn vẹn cho cả tài tử và giai nhân.…Mặc xa mã thị thành không dám biết
Thú yên hà trời đất để riêng ta…

Tai nghe giọng hát thanh thoát mà ngọt ngào, nhìn Công Trứ vừa thong thả vừa gật gù đắc ý, Miên Thẩm thầm phục cốt cách lão thực của con người độc đáo này. Khi đào nương ngân nga:

Nào ai… ai… biết… chăng là

Cũng là lúc tiếng đàn tiếng phách khoan thai đỡ cho tiếng hát liền mạch.


Video yêu thích

Khatkhaoxanh3

Violin tuyệt hay Lindsey Stirling 
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook