Trận Vũ Hán bài học lịch sử

WuHan1
Trận Vũ Hán Chiến tranh Trung-Nhật là một trong những trận đánh lớn nhất, lâu nhất và dữ dội nhất, bắt đầu vào ngày 11 tháng 6 năm 1938 và kết thúc vào 4 tháng sau. Lực lượng tham chiến là 1,1 triệu quân Quân đội Cách mạng Dân quốc của Trung Hoa Dân quốc dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch với sự hổ trợ của Không quân Liên Xô, đối trận là 35 vạn quân Lục quân Đế quốc Nhật Bản dưới sự chỉ huy của Đại tướng Hata Shunroku.  Chiến thắng thuộc về phía lục quân đế quốc Nhật Bản nhưng nỗ lực của quân Nhật đánh đòn kết liễu quân Trung Quốc đã không thành công. Quân Nhật sau trận này chỉ còn đủ sức đánh  lớn Chiến dịch Ichi-Go (hay trận Đại Lục liên thông kết nối tuyến hậu cần chiến lược Bắc Kinh –  Hà Nam– Vũ HánHồ Nam – Quảng Tây nối Đông Dương) và chịu thất bại chung cuộc của phe Trục theo chủ nghĩa phát xít  trước lực lượng Đồng Minh  trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
TranVuHan1

Tóm tắt diễn biến Trận Vũ Hán.

Đến đầu năm 1938, Đế quốc Nhật Bản đã mở rộng vùng lãnh thổ rộng lớn toàn vùng Đông Nam Á và châu Đại Dương (hình) . Nhật quyết định đánh trận Vũ Hán để kết thúc trận chiến Trung Nhật. Trận Vũ Hán là đòn quyết định.
TranVuHan2

Vũ Hán là thủ phủ của tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, nằm ở ngã ba sông Dương Tử (Trường Giang)  và sông Hán (Hán Thủy), nơi địa danh lịch sử với trận Xích Bích năm  208 thời Tam Quốc danh chấn Hoa Hạ. Vũ Hán là thành phố cổ kính và hiện đại, Vũ Hán là trung tâm nghệ thuật và học thuật với Hoàng Hạc lâu  xây dựng từ năm 223 được nhà thơ nổi tiếng Thôi Hiệu đời Đường  đề thơ.  Hán Khẩu của Vũ Hán thời nhà Nguyên  là một trong 4 thương cảng sầm uất nhất Trung Hoa. Vũ Hán trong thập niên 1920, là thủ đô của chính phủ cực tả do Uông Tinh Vệ lãnh đạo ,  thời Chiến tranh Trung-Nhật từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1938 Vũ Hán là thủ đô kháng chiến của Tưởng Giới Thạch. Ngày nay Vũ Hán xếp thứ 3 ở Trung Quốc về sức mạnh khoa học và công nghệ, là thành phố đông dân nhất ở miền Trung Trung Quốc, với dân số năm 2007 là  9,7 người, cao hơn một ít so dân số thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 gần 8,6 triệu người.
WuHan2
Từ điển Bách khoa Mở Wikipedia tiếng Việt đúc kết sử liệu đến tháng 6 năm 2015 Trận Vũ Hán:

Đầu tháng 7 năm 1937, Lục quân Nhật Bản xuất phát từ phía Bắc Trung Quốc bắt đầu tiến công quy mô lớn. Chưa đầy một tháng sau, họ chiếm được Bắc Kinh và Thiên Tân. Tháng 8, quân Nhật chiếm được Sa Cáp Nhĩ và Tuy Viễn. Sau đó, họ đánh dọc theo tuyến đường sắt Bắc Bình-Hán Khẩu và Thiên Tân-Phổ Khẩu xuống vùng bình nguyên Hoa Bắc (khu vực sông Hoàng Hà). Đầu tháng 9, quân Nhật chiếm được Thái Nguyên và khai thác các mỏ than ở đây để cung cấp nhiên liệu cho mình. Từ Thái Nguyên, quân Nhật đánh sang Hân Khẩu, đánh bại cả liên quân Dân quốc, Cộng sản và quân phiệt địa phương Sơn Tây của Trung Quốc. Giữa tháng 12, quân Nhật chiếm được Thượng Hải. Từ Thượng Hải, quân Nhật dễ dàng chiếm được thủ đô Nam Kinh và gây ra một cuộc thảm sát tàn bạo ở đây. Tháng 5 năm 1938, quân Nhật chiếm được Từ ChâuGiang Tô.

Trước sự tiến công nhanh và mạnh của quân Nhật, Tưởng Giới Thạch quyết định rút lui về phía Tây Nam và tạm rời thủ đô kháng chiến về Vũ Hán. Vũ Hán là thành phố lớn thứ hai ở châu thổ sông Dương Tử xét về dân số và về kinh tế. Quân Nhật cho rằng chiếm được Vũ Hán và bắt bộ tư lệnh quân đội Trung Quốc ở đây sẽ là đòn quyết định để kết thúc chiến tranh. Phía Trung Quốc thì quyết tâm bảo vệ Vũ Hán, cầm chân đối phương ở đây để đánh bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Nhật và có thời gian cho trung ương di chuyển về Trùng Khánh.

Để chống lại quân Nhật tấn công Vũ Hán, Tưởng Giới Thạch bố trí tới 120 sư đoàn tinh nhuệ nhất của mình ở lại Vũ Hán cùng các chỉ huy ưu tú nhất của Quân đội Cách mạng Dân quốc như Trần Thành, Tiết Nhạc, Ngô Kỳ Vỹ, Trương Phát Khuê, Vương Kính Cửu, Âu Chấn, Lý Tông Nhân, Tôn Liên Trọng. Đặc biệt, lần này phía Trung Quốc nhận được sự chi viện của Liên Xô bao gồm cả một phi đội máy bay chiến đấu.

Phía quân Nhật là Phương diện quân Trung Chi Na do đại tướng Hata Shunroku chỉ huy. Phương diện quân này có 2 quân đoàn. Quân đoàn số 11 do trung tướng Okamura Yasuji chỉ huy gồm 6 sư đoàn. Quân đoàn số 2 do hoàng thân, trung tướng Higashikuni Naruhiko chỉ huy gồm 4 sư đoàn.

Ngày 28 tháng 2 năm 1938, không quân Nhật Bản đã đến ném bom xuống Vũ Hán. Tuy nhiên, quân Trung Quốc đã đẩy lui được.[3][4] Ngày 29 tháng 4, máy bay Nhật lại đến ném bom Vũ Hán để kỷ niệm ngày sinh của Thiên hoàng Chiêu Hòa.[5] Quân Trung Quốc đã dự đoán được điều này và chuẩn bị kỹ lực lượng để giáng trả. Một trong những cuộc không chiến dữ dội nhất trong chiến tranh Trung-Nhật đã diễn ra. Không quân Trung Quốc đã bắn hạ 21 máy bay của quân Nhật và bản thân mất 12 máy bay.[6]

Cố gắng để có thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc giao tranh ở Vũ Hán, quân Trung Quốc đã mở khẩu đê sông Hoàng Hà chỗ chảy qua Hoa Viên Khẩu gây ngập lụt trên diện rộng buộc quân Nhật phải hoãn tấn công. Trận lụt này được gọi là Lụt Hoàng Hà 1938. Tuy nhiên, nó đã cướp đi 50 vạn sinh mạng thường dân Trung Quốc.[7]

Ở phía Nam sông Dương Tử, ngày 13 tháng 6, quân đoàn 11 của Nhật đổ bộ và chiếm được An Khánh, mở màn trận Vũ Hán. Quân Nhật tiến dọc theo bờ Nam sông Dương Tử đánh nhanh từ Đông sang Tây rồi quay lại về phía Đông. Lần lượt các thị trấn An Khánh, Cửu Giang, Thụy Xương, Nhược Hy, Tân Đàm Phố, Mã Đương, Phú Kim Sơn, Dương Tân, Đạt Chi, Kỳ Tha Thành bị quân Nhật chiếm. Ngày 1 tháng 10, sư đoàn số 106 quân đoàn 11 của quân Nhật do thiếu tướng Matsuura Junrokuro chỉ huy được lệnh đi vòng sau lưng quân Trung Quốc ở Nam Tầm tới vùng Vạn Gia Lĩnh để chia cắt quân Trung Quốc ở Nam Tấm với lực lượng phía sau. Tuy nhiên, ý đồ này bị quân Trung Quốc phát hiện. Khoảng 10 vạn quân Trung Quốc thuộc biên chế của 3 quân đoàn tăng cường thêm 8 sư đoàn và 1 trung đoàn nữa đã bao vây sư đoàn số 106 của quân Nhật. Tướng Nhật Okamura điều sư đoàn 27 đến giải vây cho sư đoàn 106 nhưng không thành công. Phần lớn sư đoàn 106 của Nhật, khoảng 10.000 người, đã bị tiêu diệt, chỉ có khoảng 1.700 người thoát được. Đây là lần đầu tiên trong chiến tranh Trung-Nhật, 1 sư đoàn của Nhật bị tiêu diệt. Tuy nhiên, phía quân Trung Quốc cũng bị thương vong tới 40.000 người.[8][9]

Đến ngày 29 tháng 10 (tức là sau 3 tháng rưỡi), quân Nhật đến được Vũ Xương sát thành phố Vũ Hán.

Ở phía Bắc sông Dương Tử, ngày 24 tháng 7, sư đoàn 6 quân đoàn 11 của Nhật từ An Huy đánh sang Thái Hồ. Quân Nhật đã chọc thủng phòng tuyến của quân Trung Quốc và đến ngày 3 tháng 8 đã chiếm được các huyện Thái Hồ, Túc TùngHoàng Mai (Hồ Bắc). Tuy nhiên, đến cuối tháng 8, quân Trung Quốc giành lại được Thái Hồ và Túc Tùng. Quân Trung Quốc nhân đà đó tiến hành phản công, song thất bại và phải rút về Quảng Tế để củng cố lực lượng. Sau đó, họ cố gắng đánh vào sườn quân Nhật ở Hoàng Mai để kìm bước tiến của địch, song không thành công. Quảng Tế và Vũ Khuyết rơi vào tay quân Nhật. Các nỗ lực chặn địch của quân Trung Quốc đều thất bại vì quân Nhật có ưu thế hỏa lực và kinh nghiệm tác chiến vượt trội. Quân Nhật chiếm được Thiên Gia trấn vào ngày 29 tháng 9, Hoàng Pha vào ngày 24 tháng 10, áp sát Hán Khẩu.

Đại Biệt Sơn là một dãy núi lớn giữa 2 tỉnh Hồ Bắc và An Huy, chạy dài theo hướng Tây Bắc-Đông Nam từ sông Hoài tới sông Dương Tử. Vùng này thuộc phạm vi của quân khu 5 của Trung Hoa Dân quốc. Quân đoàn 2 của Nhật bắt đầu tiến công vào Đại Biệt Sơn từ cuối tháng 8 theo 2 hướng. Sư đoàn 13 tấn công ở phía Nam. Sư đoàn 10 và sư đoàn 3 tấn công ở phía Bắc.

Ngày 12 tháng 10, cánh quân phía Bắc của quân đoàn 2 Nhật đánh đến Tín Dương và di chuyển về hướng Nam hỗ trợ cánh quân phía Nam. Ngày 24 tháng 10, quân đoàn 2 đánh đến Ma Thành, sau đó tiếp tục di chuyển xuống phía Nam cùng quân đoàn 11 hợp vây thành phố Vũ Hán. Quân Trung Quốc rút lui khỏi thành phố Vũ Hán để bảo toàn lực lượng. Ngày 26 tháng 10, Vũ Xương và Hán Khẩu thất thủ. Ngày 27, Hán Dương thất thủ.

Theo Yoshiaki Yoshimi và Seiya Matsuno, Thiên hoàng Chiêu Hòa đã cho phép quân Nhật sử dụng vũ khí hóa học để đánh quân Trung Quốc.[10] Trong tận Vũ Hán, Hoàng thân Kan’in đã truyền lệnh của Thiên hoàng dùng hơi độc 375 lần, từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1938,[11] bắt chấp Điều 23 của Công ước Hague (1899 và 1907), Điều 171 của Hòa ước Versailles, Điều V của Hiệp ước hữu quan về sử dụng tàu ngầm và hơi độc trong chiến tranh[1] và một giải pháp đã được Hội Quốc Liên thông qua ngày 14 tháng 5 ngăn chặn Lục quân Đế quốc Nhật Bản sử dụng hơi độc.[12]

Sau 4 tháng kịch chiến, về cơ bản Hải quân và Không quân Trung Quốc đã bị Quân đội Nhật quét sạch. Vũ Hán rơi vào tay Quân đội Nhật Bản. Tuy nhiên, trận thắng tại Vũ Hán là một chiến thắng kiểu Pyrros của Quân đội Nhật Bản:[13] trong khi Quân đội Nhật yếu đi vì thương vong, thì lực lượng Quân đội Trung Quốc sống sót vẫn còn khá đông. Nỗ lực của quân Nhật đánh đòn kết liễu quân Trung Quốc đã không thành công.[13] Sau trận này, quân Nhật không còn sức đánh trận lớn nào nữa cho đến tận Chiến dịch Ichi-Go

Trận Vũ Hán bài học lịch sử

Chiến tranh Trung Nhật cận hiện đại, trận Vũ Hán được nhiều chiến lược gia và sử gia nghiên cứu. Lục quân Đế quốc Nhật Bản làm chủ thế trận với ưu thế hỏa lực và kinh nghiệm tác chiến vượt trội đã chiếm được Vũ Hán, về cơ bản đã đánh thắng 120 sư đoàn thuộc loại thiện chiến nhất, quét sạch Hải quân và Không quân Quân đội Cách mạng Dân quốc của Trung Hoa Dân quốc do đích thân tổng thống, tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch là tướng lĩnh lão luyện, mưu lược chỉ huy, có sự hổ trợ của Không quân Liên Xô.

Nhật chịu thất bại chung cuộc tại Trung Quốc do “chiến lược bảo tồn sinh lực đánh lâu dài chịu mất đất đai” “chiến thuật biển người” sẵn sàng đánh đổi “thí quân” với tỷ lệ áp đảo chịu mất mát cao hơn thiệt hai nhiều hơn, “sách lược vũ trang dân chúng kháng Nhật” chịu sự thảm sát Thượng Hải, “tự mở khẩu đê sông Hoàng Hà” gây Lụt Hoàng Hà 1938 cướp đi 50 vạn sinh mạng thường dân Trung Quốc nhằm cản bước tiến quân Nhật; với nhiều bài học khác…

Trận Vũ Hán đã được chiến lược gia Mao Trạch Đông đúc kết bài học lịch sử trong đại kế TRUNG NAM HẢI. Mao Trạch Đông từ tổng kết kinh nghiệm của trận Vũ Hán và các trận đánh lớn trong lịch sử, từ giả thuyết chiến lược Chiến tranh thế giới thứ ba có thể xẩy ra với các hướng tấn công từ phía Bắc, phía Nam, phía Đông và phía Tây. Mao Trạch Đông đưa ra phương lược “tam tuyến” hướng xử lý khi có chiến tranh lớn, tại Hội nghị Trung Ương từ ngày 18 tháng 9 đến ngày 12 tháng 10 năm 1965. Ông nói:

Trung Quốc không sợ bom nguyên tử vì bất kỳ một ngọn núi nào cũng có thể ngăn chặn bức xạ hạt nhân. Dụ địch vào sâu nội địa tới bờ bắc Hoàng Hà và bờ nam Trường Giang, dùng kế “đóng cửa đánh chó” lấy chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích, vận động chiến, đánh lâu dài níu chân địch, tận dụng thiên thời địa lợi nhân hòa, thời tiết mưa gió lầy lội, phá tan kế hoạch tốc chiến tốc thắng của địch. Bắc Kinh, Trùng Khánh, Thượng Hải, Thiên Tân là bốn thành phố trực thuộc Trung Ương, chuyển hóa công năng để phát huy hiệu lực bảo tồn và phát triển. Trùng Khánh là thủ đô kháng chiến lúc đất nước Trung Hoa động loạn”…

Trận Vũ Hán bài học lịch sử, đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim

Trở về đầu trang
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

 

Advertisements

6 thoughts on “Trận Vũ Hán bài học lịch sử

  1. Pingback: Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình | Tình yêu cuộc sống

  3. CHIẾN TRANH TRUNG NHẬT BÀI HỌC LỊCH SỬ

    “Tọa sơn quan hổ đấu”. Ngồi trên núi xem hổ đánh nhau. Lợi dụng tình thế chiến tranh Trung Nhật để phát triển lực lượng. Đó là quyết sách và phương châm của Mao Trạch Đông. Giải mật lịch sử: “Một câu nói của Tống Mỹ Linh khiến Mao Trạch Đông “không còn đất dung thân” đăng trên Việt Đại Kỷ Nguyên, đọc lại và suy ngẫm: “Sau khi cuộc kháng chiến chống Nhật bắt đầu, Mao Trạch Đông đã có chỉ thị phương châm đối với nội bộ ĐCSTQ như thế này: “Một phần kháng Nhật, hai phần đối phó (đối phó với Quốc dân Đảng và lời phê bình của Liên Xô), bảy phần phát triển (phát triển căn cứ và quân đội)”, yêu cầu tất cả các cấp phải nghiêm khắc tuân thủ không được làm trái. Những sách lược du kích chiến của Lâm Bưu, hay “bách đoàn đại chiến” của Bành Đức Hoài đều bị Mao Trạch Đông phê bình nghiêm khắc”.

    Giải mật lịch sử: Một câu nói của Tống Mỹ Linh khiến Mao Trạch Đông “không còn đất dung thân”
    Nguồn: http://vietdaikynguyen.com/v3/75333-giai-mat-lich-su-mot-cau-noi-cua-tong-my-linh-khien-mao-trach-dong-khong-con-dat-dung-than/

    Tác giả: Cổ Xuân Thu, Đại Kỷ Nguyên Hoa ngữ | Dịch giả: Daniel Nguyen

    Ngày 8 tháng 8, trong cuộc hội kiến với Goring – mật sứ chiêu hàng của Hitler, Tống Mỹ Linh đã biểu thị thái độ cứng cỏi, quyết không đầu hàng quân Nhật. Ảnh chụp bà Tống Mỹ Linh đang phát biểu trong một buổi diễn thuyết (Ảnh mạng)

    Ông Trương Tử Cát – người từng là thư ký cơ yếu bên cạnh bà Tống Mỹ Linh trong suốt 9 năm – vào tháng 3 năm 1994 đã hoàn thành cuốn sách “Những ngày bên cạnh Tống Mỹ Linh”, trong đó có một đoạn kể về việc bà Tống Mỹ Linh đối diện với Goring – mật sứ chiêu hàng của Hitler, thái độ quyết không cúi đầu trước quân Nhật của bà khiến cho người khác không khỏi cảm phục. So với việc Hán gian Mao Trạch Đông kết đồng minh bí mật với quân Nhật, bán rẻ quốc gia mà nói, bà Tống Mỹ Linh đã thể hiện được sự kiên cường khí khái của con dân xứ Trung Hoa.

    Tống Mỹ Linh đối diện với mật sứ của Hitler

    Ngày 8 tháng 8 năm 1939, đáp ứng lời thỉnh cầu từ Goring – mật sứ chiêu hàng của Hitler, bà Tống Mỹ Linh và ông Tưởng Giới Thạch đã đồng ý gặp mặt.

    Goring đã thay Hitler đưa ra điều kiện dụ hàng nói rằng: cục diện thất bại của Trung Hoa đã được quyết định, họ đang đứng trước thời khắc diệt vong, Hitler có thể làm trung gian cho Nhật Bản, hai nước giảng hòa, kết thúc chiến tranh.

    Tống Mỹ Linh đã nói trước mặt Goring rằng: “Đầu tiên tôi xin nói trước thế này, tôi không phải là quan chức ngoại giao, không biết cũng không quen sử dụng những câu từ ngoại giao. Lời thật nói thẳng, nếu có thất lễ xin bỏ quá cho. Nhưng tôi cũng không hi vọng là lúc ông về bẩm lại với nguyên thủ Hitler lại đem lời tôi trau chuốt, tô vẽ thêm”.

    Bà nói với giọng sang sảng: “Lãnh tụ của tệ quốc Tưởng Trung Chính, bản thân tôi, và toàn thể quan chức chính phủ, toàn thể tướng quân, sĩ quan, binh sĩ cho đến quốc dân cả nước, vạn người như một, thề sẽ chiến đấu tới cùng với quân xâm lược Nhật Bản, nhất định sẽ đuổi toàn bộ quân xâm lược Nhật Bản ra khỏi lãnh thổ của Trung Quốc. Hiện tại, tương lai, đều tuyệt không giảng hòa với quân cường đạo Nhật Bản. Nếu như quân Nhật đánh không nổi nữa, muốn yêu cầu kết thúc chiến tranh, tất phải rút về toàn bộ quân đội xâm lược của họ. Tướng Uông Tinh Vệ, hoàng đế của triều đình ngụy Mãn Châu, các Hán gian lớn nhỏ, nhất tề đều phải dẫn độ về cho chúng tôi để nhận sự phán xét của chính phủ quốc dân…”.

    Goring chỉ đành nén giận, sử dụng một giọng điệu mềm mỏng hồi đáp lại: “Vâng, phu nhân! Tôi nghĩ Quốc trưởng vĩ đại của chúng tôi nhất định sẽ ngạc nhiên vô cùng: Không ngờ rằng quý quốc hôm nay dẫu lâm vào hoàn cảnh khó khăn như thế nhưng vẫn có được một thái độ cứng cỏi như vậy!”.

    Tống Mỹ Linh cũng không vừa tiếp lời ông ta: “Quốc trưởng Hitler nếu như có kinh ngạc cũng là điều khó trách. Bởi vì người lãnh đạo ba nước thuộc phe Trục vẫn chưa biết gì về khí khái bất khuất của dân tộc Trung Hoa”.

    Tấm ảnh chụp gương “mặt mộc” của Mao Trạch Đông được Tân Hoa Xã đăng vào ngày 13 tháng 1. Đây là một bức ảnh được công chúng đề cử trong loạt ảnh mang tên “vài tấm ảnh cũ ‘không chỉnh sửa’ của Mao Trạch Đông”. Bức ảnh này hoàn toàn khác với hình tượng “thần thánh” mà ĐCSTQ tô vẽ ra. (Ảnh mạng)

    Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) là Hán gian lớn nhất, Mao Trạch Đông ký kết hiệp ước với quân Nhật

    Sau khi cuộc kháng chiến chống Nhật bắt đầu, Mao Trạch Đông đã có chỉ thị phương châm đối với nội bộ ĐCSTQ như thế này: “Một phần kháng Nhật, hai phần đối phó (đối phó với Quốc dân Đảng và lời phê bình của Liên Xô), bảy phần phát triển (phát triển căn cứ và quân đội)”, yêu cầu tất cả các cấp phải nghiêm khắc tuân thủ không được làm trái. Những sách lược du kích chiến của Lâm Bưu, hay “bách đoàn đại chiến” của Bành Đức Hoài đều bị Mao Trạch Đông phê bình nghiêm khắc.

    Đối với cái nhìn của Mao Trạch Đông, kháng Nhật là có tội, ông ta từng nói với tướng lĩnh của quân đội ĐCSTQ rằng: kháng Nhật không phải là yêu nước, đó là yêu đất nước của Tưởng Giới Thạch, đất nước của ĐCSTQ là Liên Xô.

    Mao Trạch Đông đã chủ động phái người đi đàm phán với quân Nhật. Theo cuốn “Hồi ký” của một nhà lãnh đạo ĐCSTQ là Vương Minh có viết: “Mao Trạch Đông không cần thông qua sự đồng ý của ủy viên Bộ Chính trị chúng tôi, là do Quân ủy dùng điện đài bí mật điện trực tiếp cho Chính ủy Tân Tứ quân Rao Shushi, yêu cầu ông ta phái người đại diện đàm phán hiệp ước Nhật Uông để tính chuyện chống Tưởng Giới Thạch, đồng thời chấm dứt những hành động quân sự của Nhật nhắm vào Nhật Uông”. Peter Vladimriov trong cuốn “Nhật ký Kiến An” cũng có chép về đoạn lịch sử này.

    Rao Shushi sau khi nhận được chỉ lệnh này của Mao Trạch Đông, liền giao nhiệm vụ hợp tác chống Tưởng ở Nhật Uông cho Cục trưởng Cục Tình báo Tân Tứ Quân Phan Hán Niên. Phan tìm người bạn thân Viên Thù ở Thượng Hải (Đảng viên ĐCS ở Nhật, vì tham gia hoạt động tình báo của Quốc tế Cộng sản mà bị Quốc dân đảng bắt giữ, sau đó trở thành đặc vụ cho phía Quốc dân Đảng, cuối cùng thì trở thành đặc vụ của Nhật, đương thời là người phụ trách cơ quan đặc vụ “ Sở Eiichi”), cả hai tức tốc đi gặp người đứng đầu cơ quan tình báo của Ngoại vụ Nhật Bản tại Trung Quốc là Eiichi Iwai.

    Eiichi Iwai thấy họ Phan là đặc sứ của Mao Trạch Đông liền nhất mực trọng thị, tiếp đón linh đình, đồng thời cấp cho Phan “Giấy thông hành đặc biệt” (được thông hành khắp nơi), để cho ông ta sử dụng điện đài của Sở Eiichi thông báo cho Tân Tứ quân ở Kiến An, còn thuê cho ông ta một căn phòng vô cùng tráng lệ ở một khách sạn hạng sang tại Thượng Hải. Ngoài ra Phan còn được lãnh một lượng phí hoạt động lớn tại Hội quán Eiichi hàng tháng …

    Cuối cùng, ĐCSTQ đã cùng với quân đội Nhật ký kết “Bản thảo văn bản hòa bình và cục bộ”, thỏa thuận hai bên sẽ chấm dứt những hành động quân sự, cùng nhau đối phó với quân đội của Tưởng Giới Thạch, Mỹ và Anh; đồng thời cam kết sẽ giữ bí mật những chi tiết liên quan đến cuộc tiếp xúc như cấp bậc, phương thức, địa điểm, thời gian để tiến tới công tác chuẩn bị cho cuộc đàm phán.

    ĐCSTQ đã nắm chắc thời cơ khi quân đội Quốc dân đảng bị hao tổn lực lượng trong suốt 8 năm kháng chiến với Nhật, trong vòng 3 năm nội chiến, ĐCSTQ đã giành được chính quyền. Nhằm che đậy tội bán nước, họ đã tiến hành bắt giữ, diệt khẩu đối với những nhân viên đặc vụ từng tham gia vào các hoạt động bán nước của chính họ. Đầu tiên là Cao Cương, người chẳng hề có chút can hệ gì đến Rao Shushi, lại bị gán cho cái tội danh là liên minh với Rao để chống đảng, bị giam cầm rồi chết trong ngục, Phan Hán Niên cũng bị tù chung thân.

    Mao Trạch Đông cảm tạ Nhật Bản lúc xâm lược Trung Quốc đã “giúp một việc lớn”

    Người Nhật Bản lúc xâm lược Trung Quốc đã giúp cho ĐCSTQ một việc lớn, nhờ đó mà ĐCSTQ mới có cơ hội đoạt quyền, do vậy Mao Trạch Đông đã có lời cảm tạ đến Nhật Bản.

    Năm 1950, Mao Trạch Đông lúc tiếp đoàn khách Nhật Bản đến thăm Trung Quốc đã nói, quân đội Nhật đến đây xâm lược, đối với ĐCSTQ đã có sự giúp đỡ rất lớn. Đầu tiên, quân Nhật đã làm suy yếu lực lượng của Tưởng Giới Thạch; thứ hai, nhân đó ĐCSTQ mới có cơ may khuếch trương lực lượng, trước cuộc kháng chiến, ĐCSTQ chỉ có được hơn 2 vạn quân, trong 8 năm kháng chiến, đã phát triển lên tới 120 vạn. Mao còn đắc ý nói: “Không phải Nhật Bản đã giúp chúng tôi sao?”.

    Sử gia trứ danh Tân Hạo Niên đã chỉ ra, Quốc dân đảng trong suốt thời gian 8 năm kháng chiến đã không tiếc máu xương, đã giữ chân quân 1,5 triệu quân Nhật tại chiến trường châu Á, góp phần xoay chuyển cục diện chiến tranh chống Fascis trong Thế chiến II, đã bỏ ra những cống hiến to lớn. Những trận chiến với quân số trên 10 vạn có 22 trận, 206 tướng lĩnh hi sinh tại chiến trường. Lực lượng lục quân hi sinh 3,21 triệu người, không quân hi sinh 4.321 người, hải quân hi sinh toàn bộ. Trong 4 tháng đầu kháng chiến, trong số 250.000 sĩ quan được đào tạo ở trường Quân sự Hoàng Phố đã hi sinh đến hơn 100.000 người.

    Trong thời gian này, ĐCSTQ đã có sự cấu kết mờ ám với quân Nhật, trồng nha phiến ở Kiến An để đầu độc quốc dân, chiêu binh mãi mã, phát triển địa bàn và lực lượng, chính ĐSCTQ là một tên Hán gian lật lọng lớn nhất.

    5 Tháng Chín , 2015

  4. Pingback: Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình | Nghiên cứu lịch sử

  5. Pingback: Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình | CÓP NHẶT

  6. Pingback: Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình | Biến động chính trị - quân sự trên Thế giới

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s