Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình

TuMaoTrachDongdenTapCanBinh
Từ Mao Trạch Động đến Tập Cận Bình, là nghiên cứu lịch sử của Hoàng Kim, góp phần tìm hiểu bình sinh Mao Trạch Đông và bình sinh Tập Cận Bình. Bài viết đã được cập nhật tư liệu mới  tại đây

Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông là một nhân vật hiếm có trong lịch sử, nghìn năm công tội. Thời gian và sự khen chê không thể xóa nhòa những dấu ấn nổi bật của Mao. Di sản của Mao Trạch Đông không chỉ là bốn bộ trước tác nổi tiếng “Luận về thực tiễn”, “Luận về mâu thuẫn”, “Bàn về đánh lâu dài” “Bàn về Chủ nghĩa Dân chủ mới” mà chủ yếu là triều đại, thực tiễn và tư tưởng. Chức vụ tối cao của Mao Trạch Đông  được trao truyền qua các thế hệ lãnh đạo của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa lần lượt  từ Mao Trạch Đông, tiếp nối là  Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, đến Tập Cận Bình, nay vừa tròn 70 năm.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình là con người bí ẩn với hai cuốn sách lớn “Làm việc với những thứ thật, bước đi ở vị trí hàng đầu” và Những Suy tư từ sông Dương Tử góp phần giúp ông giành thắng lợi trong cuộc bầu cử khó khăn chọn ra người đứng đầu chính phủ cùa một quốc gia hơn 1, 34 tỷ người, dẫn đến việc chuyển giao quyền lực năm 2012. Cách hành xử của vị lãnh tụ này thật cẩn trọng, quyết đoán và khó lường. Các chuyên gia chiến lược thế giới suy đoán về tư tưởng và đường lối chính trị của ông là “theo Mao và mãi mãi theo Mao” nhưng đó cũng chỉ là sự suy luận thông qua việc làm và dư luận.

TuMaoTrachDong

Ông chọn theo Mao là chọn theo đường lối thực tiễn “có lý, có lợi, đúng lúc”. (Một bức tượng của Mao Trạch Đông tại Thẩm Dương, ngày 7 tháng 5 năm 2013. Ảnh Reuters).

{{{caption}}}
BÌNH SINH MAO TRẠCH ĐÔNG

Ngày 19 tháng 6 năm 1945, Mao Trạch Đông được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông liên tục giữ chức vụ này cho đến khi từ trần. Ngày 19  tháng 6 năm 1944, trước đó một năm so ngày Mao đượcbầu , cũng là ngày khởi đầu  trận hải chiến bằng hàng không mẫu hạm lớn nhất trong lịch sử thế giới giữa hải quân Đế quốc Nhật Bản và hải quân Mỹ tại quần đảo Mariana, thuộc  chiến tranh thế giới lần thứ hai, kết quả hải quân Mỹ thắng.

sinh ngày 26 tháng 12 năm 1893, mất  ngày 9 tháng 9 năm 1976, ông tên tự Nhuận Chi, bút danh là Tử Nhậm, làm Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1943 đến khi qua đời. Dưới sự lãnh đạo của ông, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã giành thắng lợi trong cuộc nội chiến với Quốc Dân Đảng, lập nên nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949 và trở thành đảng cầm quyền ở Trung Quốc.

Chủ tịch Mao Trạch Đông đã tạo ra một chủ nghĩa Mác-Lênin được Trung Quốc hóa có tên là chủ nghĩa Mao mà ngày nay ban lãnh đạo Trung Quốc gọi là tư tưởng Mao Trạch Đông. Những người theo chủ nghĩa này gọi là những người Mao-ít (Maoist), tương tự như Marxist, Leninist.

Chủ tịch Mao Trạch Đông là người có công trong việc gần như thống nhất được Trung Quốc, đưa Trung Quốc thoát khỏi ách áp bức của ngoại quốc kể từ cuộc Chiến tranh Nha phiến cuối thế kỷ 19, nhưng cũng bị phê phán về trách nhiệm của ông trong nạn đói 1959 – 1961 và những tai họa của Cách mạng văn hóa. Dưới thời ông, nông nghiệp Trung Quốc được tập thể hóa dưới hình thức công xã nhân dân. Chính sách Đại nhảy vọt) trong kinh tế đã để lại những hậu quả tai hại. Mao Trạch Đông cũng là người phát động Đại Cách mạng văn hóa vô sản, thường gọi là Cách mạng văn hóa. Theo một số liệu thống kê, Mao Trạch Đông là nhà lãnh đạo đã trực tiếp hay gián tiếp gây ra cái chết cho khoảng 1 triệu người.

Chủ tịch Mao Trạch Đông thường được gọi một cách tôn kính tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là Mao Chủ tịch. Vào thời đỉnh cao của sự sùng bái cá nhân, ông được tôn là người có bốn cái “vĩ đại”: Người thầy vĩ đại, Lãnh tụ vĩ đại, Thống soái vĩ đại, Người cầm lái vĩ đại.

Chủ tịch Mao Trạch Đông nắm chức vụ tối cao của thế hệ thứ nhất ngày 19 tháng 6 năm 1945 và chức vụ này được trao truyền qua các thế hệ lãnh đạo của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa lần lượt  từ Mao Trạch Đông, tiếp nối là  Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, đến Tập Cận Bình. Từ đó cho đến ngày 19 tháng 6 năm 2015 là vừa tròn 70 năm. Theo quy định về tuổi tác và nhiệm kỳ thì Tập Cận Bình sẽ phải về hưu sau đại hội năm 2022, và sau đại hội năm 2017 thì 5 trên 7 ủy viên thường vụ hiện nay sẽ phải về hưu nhường chỗ cho các gương mặt mới cũng như đại diện của thế hệ thứ sáu. Đường lối của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hiện nay, theo đánh giá của Peter Martin và David Cohen, là “theo Mao và mãi mãi theo Mao” (Mao and Forever).

Mao Trạch Đông gia đình và dòng họ

Chủ tịch Mao Trạch Đông sinh giờ Thìn ngày 19 tháng 11 năm Quý Tị (năm Quang Tự thứ 19) theo âm lịch, tức 26 tháng 12 năm 1893 tại làng Thiều Sơn, huyện Tương Đàm, tỉnh Hồ Nam. Ông là con  út trong một gia đình trung nông.

Mao Trạch Đông có bố là Mao Di Xương, tên tự là Mao Thuận Sinh, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1870, mất ngày  23 tháng 1 năm 1920. Mẹ của Mao Trạch Đông là Văn Thất Muội sinh ngày 12 tháng 2 năm 1867 mất ngày 5 tháng 10 năm 1919, lấy chồng năm 1885. ông nội là Mao Ân Phổ; cố nội là Mao Tổ Nhân. Dòng tộc của ông vào thời nhà Minh đã di cư từ tỉnh Giang Tây đến đây và nhiều đời làm nghề nông.

Mao Trạch Đông có bảy anh chị em gồm 5 trai và 2 gái. Hai anh trai và chị gái Mao Trạch Đông đều chết sớm. Hai em trai Mao Trạch Dân, Mao Trạch Đàm cùng Dương Khai Tuệ vợ Mao Trạch Đông và chị họ Mao Trạch Kiến (còn gọi là Mao Trạch Hồng) đều bị Quốc dân Đảng giết trong thời kỳ nội chiến.

Mao Trạch Đông lần lượt kết hôn với bốn người. Khi 14 tuổi, bố ông đã sắp xếp cho ông lấy một cô gái cùng làng là La thị (1889–1910), kết hôn năm 1907, nhưng Mao không công nhận cuộc hôn nhân ép buộc này và hai người chưa hề ăn ở với nhau và không có con. Ông kết hôn năm 1921 với Dương Khai Tuệ (1901–1930) ở Trường Sa, sống với nhau đến năm 1927. Bà bị Quốc dân Đảng hành quyết năm 1930. Bà sinh được 3 người con trai. Ông kết hôn với  Hạ Tử Trân (1910 – 1984) người Vĩnh Tân, tỉnh Giang Tây. Hai người chung sống  từ tháng 5 năm 1928, đến năm 1937 thì bà sang Liên Xô chữa bệnh. Bà sinh nở 6 lần nhưng 5 con chết non hoặc mất tích và chỉ có Lý Mẫn trưởng thành. Ông kết hôn với Giang Thanh từ năm 1938 đến lúc Mao mất và có một con gái là Lý Nạp.

Mao Trạch Đông có bốn người con trưởng thành (chưa tính những người chết lúc còn quá nhỏ): Con cả của ông với bà Dương Khai Tuệ là Mao Ngạn Long (1921- 1931?) mất tích. (*) Có người cho rằng đó là Tô Chú, biệt danh là Hoa Quốc Phong, là người tham gia cuộc kháng chiến chống Nhật, sau khi thực hiện cuộc Vạn lý trường chinh năm 1936, gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1938, tham gia chiến đấu trong Bát Lộ Quân 12 năm dưới sự chỉ huy của tướng Chu Đức, phụ trách Uỷ ban tuyên truyền cấp tỉnh của Đảng hồi giữa thập niên 1940, được bầu vào Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản năm 1969, trở thành bộ trưởng Bộ Công an năm 1972, sau khi người tiền nhiệm là Tạ Phú Trị qua đời, vào Bộ Chính trị năm 1973, trở thành Phó Thủ tướng năm 1975, quyền Thủ tướng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau khi Chu Ân Lai mất tháng 1 năm 1976, trở thành Thủ tướng và phó Chủ tịch thứ nhất của Đảng tháng 4 năm 1976, và Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc khi Mao chết, tháng 9 năm 1976, được chỉ định kế tục Mao Trạch Đông trở thành lãnh tụ tối cao Đảng Cộng sản Trung Quốc và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, vài năm sau, ông bị Đặng Tiểu Bình lật đổ và buộc phải về hưu sớm); Con trai thứ hai của Mao Trạch Đông với bà Dương Khai Tuệ là Mao Ngạn Anh (1922-1950), trước học ở Liên Xô, sau chết trong kháng Mỹ viện Triều, kết hôn với Lưu Tư Tề, tên khai sinh là Lưu Tùng Lâm; Con trai thứ ba của ông với bà Dương Khai Tuệ là Mao Ngạn Thanh (1923-2007), kết hôn với Thiệu Hoa, em gái Lưu Tư Tề, sinh ra con trai là Mao Tân Vũ hiện là tướng lĩnh trong quân đội Trung Quốc;  Con gái của  Mao Trạch Đông với Hạ Tử Trân là Lý Mẫn, sinh năm 1936), kết hôn với Khổng Lệnh Hoa, sinh ra con trai là Khổng Kế Ninh, con gái là Khổng Đông Mai. Mao từng có biệt danh là Lý Đức Thắng, nên có lẽ vì vậy mà Lý Mẫn lấy họ này;  Con gái của Mao Trạch Đông với Giang Thanh là Lý Nạp,  sinh năm 1940, kết hôn với Vương Cảnh Thanh, sinh ra con trai là Vương Hiệu Chi. Lý là họ gốc của Giang Thanh. Lưu ý là tên đệm trong từng thế hệ gia đình Mao là giống nhau, tuần tự các đời là Tổ-Ân-Di-Trạch-Ngạn. Các con của Mao Trạch Dân và Mao Trạch Đàm có tên đệm là Viễn. Mao Viễn Tân là một nhận vật quan trọng thời cách mạng văn hóa. Người Trung Nam Hải xì xào, Mao có đại phúc tướng nhưng chỉ có diễm phúc mà thiếu thê phúc. Quan hệ vợ con ngoài hôn thú của Mao Trạch Đông hiện vẫn còn là điều bí ẩn.

Mao Trạch Đông cuộc đời và sự nghiệp

Mao Trạch Đông lúc còn là một học sinh 18 tuổi thì Cách mạng Tân Hợi (1911) bùng nổ, triều nhà Thanh bị lật đổ, những người lãnh đạo Cách mạng Trung Quốc tuyên bố thành lập chế độ cộng hòa nhưng không thành lập được một chính phủ thống nhất và vững vàng, dẫn đến cuộc nội chiến trong một thời gian dài. Mao Trạch Đông phục vụ trong quân đội tỉnh Hồ Nam, sau đó trở về trường học. Sau khi tốt nghiệp Trường Sư phạm số 1 tỉnh Hồ Nam vào năm 1918, Mao cùng với giáo sư Dương Xương Tế, người thầy học và là cha vợ tương lai, lên Bắc Kinh. Giáo sư Dương nhận một chân giảng dạy tại Đại học Bắc Kinh và giới thiệu Mao Trạch Đông làm nhân viên thư viện của trường đại học (thư viện do Lý Đại Chiêu phụ trách). Đồng thời Mao học tại chức tại Đại học Bắc Kinh, nghe nhiều học giả hàng đầu như Trần Độc Tú, Hồ Thích và Tiền Huyền Đồng giảng bài. Sau này Mao kết hôn với Dương Khai Tuệ, con gái giáo sư Dương và cũng là sinh viên Đại học Bắc Kinh. Sau phong trào Ngũ Tứ, ngày 4 tháng 5 năm 1919, Mao về Hồ Nam tổ chức đoàn thanh niên, ra hai tờ báo tuyên truyền cách mạng là Tương Giang bình luậnTân Hồ Nam. Hai tờ báo này bị đóng cửa và Mao bị trục xuất khỏi Hồ Nam. Năm 1920, Mao đã tham gia tiểu tổ cộng sản ở Hồ Nam.

Mao Trạch Đông đã tham gia Đại hội lần thứ nhất thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Thượng Hải ngày 23 tháng 7 năm 1921. Hai năm sau, tại Đại hội lần thứ ba (1923), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gồm 5 người. Tháng 1 năm 1924, theo chủ trương Quốc – Cộng hợp tác, Mao Trạch Đông tham dự Đại hội lần thứ nhất Quốc dân Đảng họp ở Quảng Châu và được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng. Sau đó ông lên đường đi Thượng Hải làm việc tại cơ quan Ban chấp hành Quốc dân Đảng, rồi sang năm sau lại về Quảng Châu làm quyền trưởng Ban tuyên truyền của Quốc dân Đảng, rồi kiêm thêm một chân trong Ủy ban vận động nông dân của đảng này. Lúc này ông đã bị Trần Độc Tú đẩy ra khỏi Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản tại Đại hội 4 họp vắng mặt ông vào tháng 1 năm 1925. Tại Đại hội lần thứ hai Quốc dân Đảng (tháng 1 năm 1926), ông lại được bầu làm ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng và làm quyền Trưởng ban Tuyên truyền đến tháng 5 năm 1926.

Mao Trạch Đông chủ trương đấu tranh vũ trang với Tưởng Giới Thạch sau khi Tưởng quay sang đàn áp Đảng Cộng sản, nhưng ông không được Trần Độc Tú chấp nhận và Mao Trạch Đông bị thất sủng. Ông bèn lui về quê ở Hồ Nam cho ra đời Báo cáo khảo sát phong trào nông dân Hồ Nam, tác phẩm quan trọng đầu tiên của chủ nghĩa Mao.

Mao thoát được bạch sắc khủng bố vào năm 1927 và lãnh đạo Cuộc khởi nghĩa Vụ gặt Mùa thu ở Trường Sa, Hồ Nam nhưng thất bại. Ông thu thập tàn quân du kích chưa đầy 1.000 người tìm nơi ẩn náu ở vùng núi Tỉnh Cương Sơn, nơi giáp giới giữa hai tỉnh Hồ Nam và Giang Tây. Năm 1928 đội quân này hợp nhất với quân của Chu Đức, lập ra Quân đoàn 4 công nông, do Chu Đức làm Quân đoàn trưởng. Mao đã góp phần xây dựng căn cứ, chính quyền và một quân đội tiến hành chiến tranh du kích có hiệu quả, thực hiện cải cách ruộng đất. Chính tại nơi đây từ 1931 đến 1934, nhà nước Cộng hòa Xô-viết Trung Hoa được lập ra và Mao được bầu làm Chủ tịch Chính phủ Trung ương lâm thời. Vào thời kỳ này, Mao kết hôn với Hạ Tử Trân, sau khi Dương Khai Tuệ bị lực lượng Quốc dân Đảng giết chết.

Ban Lãnh đạo Đảng Cộng sản chạy trốn sự khủng bố bởi các chiến dịch bao vây càn quét của Tưởng Giới Thạch ở các thành phố lớn, chủ yếu là Thượng Hải nên chạy dạt về trú ngụ ở khu Xô-viết. Nội bộ Ban Lãnh đạo Đảng Cộng sản diễn ra cuộc tranh giành quyền lực, đấu tranh về đường lối và chiến thuật. Phe theo đường lối chính thống của Moskva, mà đại diện là nhóm 28 người Bolshevik, đã thắng thế và Mao dần dần bị gạt ra khỏi các chức vụ quan trọng.

Tưởng Giới Thạch với quyết tâm tiêu diệt bằng được những người cộng sản, tháng 10 năm 1934, đã trực tiếp chỉ huy 50 vạn quân bao vây tấn công khu Xô-viết trung ương, buộc Hồng quân phải mở đường máu rời bỏ nơi đây, tiến hành cuộc Vạn lý trường chinh cực kỳ gian khổ, vượt 9.600 km trong suốt một năm trời để đến tỉnh Thiểm Tây xây dựng căn cứ mới.

Mao Trạch Đông trên đường trường chinh đã bước lên nắm quyền lãnh đạo từ Hội nghị Tuân Nghĩa họp vào tháng 1 năm 1935. Tại hội nghị này, Chu Ân Lai ngả về phía Mao, Tổng Bí thư Bác Cổ và cố vấn quân sự Otto Braun (tên Trung Quốc là Lý Đức) bị hạ bệ, Mao vào Ban thường vụ Bộ Chính trị, nắm thực quyền và năm 1943 được bầu làm Chủ tịch Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Mao Trạch Đông từ căn cứ mới ở Diên An, đã lãnh đạo những người cộng sản tiến hành cuộc kháng chiến chống Nhật (1937–1945) thông qua hợp tác Quốc–Cộng lần thứ hai. Tại đây, Mao đã củng cố quyền lực trong Đảng Cộng sản bằng cách mở cuộc vận động chỉnh phong. Tại Đại hội lần thứ 7 của Đảng Cộng sản Trung Quốc họp tại Diên An tháng 6 năm 1945, Mao được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng. Cũng tại Diên An, Mao ly thân với Hạ Tử Trân và lấy Lam Bình, một diễn viên mới tới Diên An mà sau này khuynh đảo chính trường Trung Quốc với tên gọi là Giang Thanh.

Ngay sau khi Chiến tranh Trung-Nhật kết thúc, nội chiến đã diễn ra giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản, kết thúc bằng thắng lợi của Đảng Cộng sản vào năm 1949.

Mao Trạch Đông thuộc phái tả kiên định, năm 1920, Mao trở thành người Mác xít. Năm 1921, là một trong 21 người sáng lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng mãi đến năm 1935, Mao mới trở thành người lãnh đạo của Đảng. Đảng Cộng sản Trung Quốc sau hai lần thất bại vào năm 1927 và 1934, nhưng cuối cùng cũng vượt qua được nhờ Mao Trạch Đông lên nắm quyền lãnh đạo Đảng, lực lượng của Đảng dần được củng cố mạnh lên. Đến năm 1947, Mao Trạch Đông đã phát động cuộc tấn công toàn diện vào Chính phủ Quốc Dân Đảng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu. Qua hai năm rưỡi đánh nhau, bằng ba đại chiến dịch “Liêu Thẩm” “Bình Tân” và “Hoài Hải”, Mao Trạch Đông đã lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc giành chính quyền năm 1949 và giải phóng toàn bộ đại lục Trung Quốc; Mao Trạch Đông làm Chủ tịch chính phủ nhân dân trung ương , Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Chu Ân Lai làm Phó Chủ tịch, trong đó Chu Ân Lai kiêm nhiệm Thủ tướng Quốc vụ viện.

Mao Trạch Đông từ năm 1949 đến 1976, trong suốt 27 năm, ông luôn là nhân vật quan trọng nhất trong Chính quyền Trung ương Trung Quốc, đã kiên trì thực hiện công cuộc cải cách vĩ đại mang ý nghĩa sâu xa trên toàn đất nước, nhưng ông đồng thời cũng bắt nhân dân phải trả giá đau đớn. Mao phải chịu trách nhiệm chính về phong trào “trăm hoa đua nở” năm 1957 bắt hữu phái, tát cạn trí thức tinh anh;  phong trào “giương cao ba ngọn cờ hồng” năm 1958 “đường lối chung, đại nhảy vọt, công xã nhân dân” điển hình là “Đại nhảy vọt kinh tế”: ” toàn dân xây dựng công xã nhân dân, xây dựng nhà ăn công cộng” “toàn dân luyện gang thép” thiệt hại lớn, đất nước lâm vào đói kém, do “ba phần thiên tai, bảy phần nhân họa” mà không chỉ là “chính sách sai lệch, Liên Xô đòi nợ, thiên tai hoành hành”. Năm 1959, tại Lư Sơn, ông giương cao cờ chống hữu, đấu thắng Bành Đức Hoài, tẩy sạch những ai dám nói. Diệu kế của Mao là khi cảm nhận được ba ngọn cờ hồng sẽ gây ra tai họa, ông nhường bớt quyền bính giao tuyến 1 cho Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình đảm nhận với cương vị là Chủ tịch Nước và Tổng Bí thư Đảng xử lý công việc thường nhật. Ông lui về tuyến 2 chuyên công tác nghiên cứu lý luận Mác Lê Nin, thông qua Lâm Bưu làm Phó Chủ tịch Đảng sau này là Bộ trưởng Quốc phòng (thay thế Bành Đức Hoài) phát động phong trào học tập “Mao tuyển” trên toàn quốc.

Tiếp đó, Mao ủng hộ “Đại Cách mạng văn hóa vô sản” vào những năm 60 của thế kỷ XX. Mao tự đánh giá “”Đại Cách mạng văn hóa” là một trong hai đại sự lớn nhất đời Mao . Có điều đặc biệt là khi phát động “Đại nhảy vọt”, Mao Trạch Đông đã hơn 60 tuổi; còn “Đại Cách mạng văn hóa” diễn ra lúc ông gần 70 tuổi; và khi quyết định thiết lập ngoại giao với Hoa Kỳ thì Mao đã gần 80 tuổi.

Mao Trạch Đông qua đời ngày 9 tháng 9 năm 1976, 10 phút sau nửa đêm ở thủ đô Bắc Kinh. Ông chết vì bệnh xơ cứng teo cơ (tên khoa học amyotrophic lateral sclerosis), ở Hoa Kỳ bệnh này thường được gọi là Lou Gehrig’s hoặc Motor Neurone, cùng một căn bệnh với Stephen Hawking. Sức khỏe của Mao Trạch Đông đã rất kém trong nhiều năm và suy giảm rất rõ rệt trong thời gian vài tháng trước khi chết. Thi hài ông được an táng tại Đại lễ đường nhân dân. Lễ tưởng niệm ông cử hành vào ngày 18 tháng 9 năm 1976 tại quảng trường Thiên An Môn. Trong lễ tưởng niệm có 3 phút mặc niệm. Sau đó thi hài ông được đặt trong Lăng Mao Trạch Đông, mặc dù ông muốn được hỏa táng và là nhà lãnh đạo cấp cao đầu tiên ký văn bản chính thức vào tháng 11 năm 1956 quy định tất cả những người lãnh đạo cấp trung ương sau khi chết sẽ được an táng theo nghi thức hỏa táng.

Mao Trạch Đông di sản và đánh giá

Sách “Giang Thanh toàn truyện”, nguyên tác Diệp Vĩnh Liệt. Người dịch Vũ Kim Thoa, Chương 21 Màn cuối cùng. Trong bệnh nặng, Mao Trạch Đông dặn dò hậu sự. Khi xẩy ra sự kiện Thiên An Môn,  Mao Trạch Đông ốm nặng… Ông tự biết những ngày còn lại không bao nhiêu, sợ bệnh tim bột phát; vào lúc cảm thấy tinh thần còn sáng suốt, ngày 15 tháng 6 năm 1976, Mao Trạch Đông triệu tập Hoa Quốc Phong, Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Giang Thanh, Diêu Văn Nguyên, Vương Hải Dung … để nói chuyện như thể dặn dó lúc lâm chung. Mao Trạch Đông nói rất vất vả, tốn sức lực, tuy nhiên còn chưa đến nổi lắm. Mao Trạch Đông nói:

“Nhân sinh thất thập cổ lai hy” tôi đã ngoài 80, người gia bao giờ cũng nghĩ đến hậu sự. Trung Quốc có câu cổ thoại, ý nói: “đậy nắp quan tài định luận. Tôi tuy chưa đậy nắp quan tài nhưng cũng sắp đến lúc rồi, có thể định luận được rồi.

Trong đời tôi đã làm hai việc, một là đấu tranh với Tưởng Giới Thạch mấy chục năm, đuổi hắn chạy ra ngoài đảo xa. Rồi kháng chiến tám năm, đã mời được người Nhật Bản trở về nhà họ.  Với sự việc này không có mấy ai dị nghị , chỉ có năm ba người xì xào đến tai tôi, đó là muốn tôi sớm thu hồi mấy hòn đảo kia về. Một sự việc khác, các đồng chí đều biết, đó là việc phát động đại Cách mạng Văn hóa. Về việc này người ủng hộ không nhiều, người phản đối không ít.

Hai việc này đều chưa xong. Di sản này phải giao lại cho đời sau. Giao như thế nào? Giao một cách hòa bình không được thì phải giao trong sự lộn xộn . Làm không nên có khi còn đổ máu. Vì thế, các đồng chí làm như thế nào, chỉ có trời biết”.

Trong cuộc đời Mao Trạch Đông, lần nói chuyện này chính là một cuộc tổng kết. Di sản của Mao Trạch Đông không chỉ là bốn bộ trước tác nổi tiếng “Luận về thực tiễn”, “Luận về mâu thuẫn”, “Bàn về đánh lâu dài” “Bàn về Chủ nghĩa Dân chủ mới” mà chủ yếu là triều đại, thực tiễn và tư tưởng. Những câu nói nổi tiếng: “Súng đẻ ra chính quyền” “Nông thôn bao vây thành thị” “trí thức không bằng cục phân” “Dụ địch vào sâu” ” tự cũng cố và trầm tĩnh theo dõi, ngồi trên núi xem hổ đánh nhau”  “Chính trị là chiến tranh không có đổ máu, chiến tranh là chính trị có đổ máu” “có lý, có lợi, đúng lúc“,…

Mao Trạch Đông khởi xướng chính sách được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lịch sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe đế quốc Tây phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau thế chiến lần thứ nhất, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc.”

Mao Trạch Đông đưa ra phương lược “tam tuyến” hướng xử lý khi có chiến tranh lớn, tại Hội nghị Trung Ương từ ngày 18 tháng 9 đến ngày 12 tháng 10 năm 1965. Ông nói:

Trung Quốc không sợ bom nguyên tử vì bất kỳ một ngọn núi nào cũng có thể ngăn chặn bức xạ hạt nhân. Dụ địch vào sâu nội địa tới bờ bắc Hoàng Hà và bờ nam Trường Giang, dùng kế “đóng cửa đánh chó” lấy chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích, vận động chiến, đánh lâu dài níu chân địch, tận dụng thiên thời địa lợi nhân hòa, thời tiết mưa gió lầy lội, phá tan kế hoạch tốc chiến tốc thắng của địch. Bắc Kinh, Trùng Khánh, Thượng Hải, Thiên Tân là bốn thành phố trực thuộc Trung Ương, chuyển hóa công năng để phát huy hiệu lực bảo tồn và phát triển. Trùng Khánh là thủ đô kháng chiến lúc đất nước Trung Hoa động loạn”… (xem thêm: Trân Vũ Hán bài học lịch sửTừ Trường Giang Tam Hiệp đến Mekong)

Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia nhận xét:

Đánh giá một nhà chính trị thời kỳ cận đại là rất khó khăn; Có thể so sánh Mao Trạch Đông với Tần Thủy Hoàng; vì họ đều là người Trung Quốc, đều là các nhà cải cách. Nếu so sánh Mao Trạch Đông với Lê Nin cũng là xác đáng, họ đều sống ở thế kỷ 20, Mao Trạch Đông là người kiến tạo Chủ nghĩa Marx ở Trung Quốc, cũng như Lê Nin là người đặt nền móng cho Chủ nghĩa Marx ở nước Nga. Mới nhìn ta thấy Mao Trạch Đông gần như nổi bật hơn Lê Nin vì Trung Quốc có số dân gấp ba lần Liên Xô, nhưng Lê Nin có trước và đã là một tấm gương cho Mao Trạch Đông, có ảnh hưởng đối với Mao Trạch Đông.

TapCanBinh
BÌNH SINH TẬP CẬN BÌNH

Chủ tịch Tập Cận Bình là nhà lãnh đạo quốc gia tối cao, thuộc thế hệ lãnh đạo thứ 5 của nước Trung Quốc mới đang trỗi dậy. Trung Quốc sau bốn thập kỷ tăng trưởng liên tục, đến thời Chủ tịch Tập Cận Bình, đã vượt lên nổi nhục bị tám đế quốc xâu xé cuối thời Mãn Thanh, sự nội chiến Quốc Cộng hơn 20 năm, sự xâm lược và chiếm đóng của Nhật Bản, sự xáo động dữ dội của thời kỳ “đại loạn” đại cách mạng văn hóa, sự hiểm họa cực kỳ do tham nhũng, tranh chấp quyền lực, lũng đoạn kinh tế, suy thoái môi trường , phân hóa giàu nghèo và phát triển nóng. Đến nay, tuy nguy cơ này vẫn rất cao nhưng có vẻ như đang từng bước vượt qua.

Tập Cận Bình tiểu sử tóm tắt

Chủ tịch Tập Cận Bình hiện là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 18, Chủ tịch Quân Ủy Trung ương, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và là nhân vật số một trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, cơ quan thực quyền cao nhất Trung Quốc. Chủ tịch Tập Cận Bình  và Thủ tướng Lý Khắc Cường là thế hệ tiếp nối ngay sau thế hệ thứ tư là Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo.

Chủ tịch Tập Cận Bình, sinh ngày 1 tháng 6 năm 1953 tại Bắc Kinh, là con trai cựu Phó Thủ tướng Trung Quốc Tập Trọng Huân, gia đình gốc ở Phú Bình, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Khi ông  10 tuổi, cha ông bị thanh trừng và gởi đi làm việc tại một hãng xưởng ở Lạc Dương, Hà Nam.  Vào năm 1968 khi ông được 15 tuổi thì cha ông bị giam tù trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa. Tháng 1 năm 1969, ông tham gia đại đội Lương Gia Hà, xã Văn An Dịch, huyện Diên Xuyên, tỉnh Thiểm Tây.  Tháng 1 năm 1974, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, sau đó làm Bí thư Chi bộ Đảng của nhóm sản xuất (1969-1975).

Từ năm 1975 đến 1979, ông là sinh viên học tập tại Trường Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh. Từ năm 1979 đến 1982, làm Thư ký Văn phòng Quốc vụ viện và Thư ký Văn phòng Quân ủy Trung ương. Năm 1982-1983, Phó Bí thư Huyện ủy huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc. Từ năm 1983 đến năm 2007, ông đã trải qua các chức vụ như: Bí thư Huyện ủy huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc (1983-1985); Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến (1985-1988); Bí thư Thị ủy Ninh Đức, tỉnh Phúc Kiến (1988-1990); Thường vụ Thành ủy thành phố Phúc Châu, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến (1990-1993); Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Phúc Kiến, Bí thư thành phố Phúc Châu, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Phúc Châu (1993- 1995); Phó Bí thư Tỉnh ủy Phúc Kiến, Bí thư thành phố Phúc Châu, Chủ tịch HĐND Thành phố Phúc Châu (1995-1996); Phó Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Phúc Kiến (1996-1999); Phó Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Phúc Kiến, Chủ tịch lâm thời tỉnh Phúc Kiến (1999-2000); Phó Bí thư Tỉnh ủy, Tỉnh trưởng Phúc Kiến (2000- 2002); Phó Bí thư Tỉnh ủy, Tỉnh trưởng Triết Giang (2002- 2003); Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh Triết Giang (2003-2007); Bí thư Thành phố Thượng Hải (2007). Năm 1998-2002, tiếp tục học tại Đại học Thanh Hoa và lấy bằng Tiến sỹ Luật.

Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 15, Ủy viên Chính thức Trung ương Đảng các khoá 16, 17. Tháng 10 năm 2007, tại Đại hội 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc, được bầu làm Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư Trung ương; được phân công kiêm nhiệm Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương.

Ngày 15 tháng 3 năm 2008, được Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc bầu làm Phó Chủ tịch Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ông được phân công làm Tổng Chỉ huy công tác tổ chức Olympic Bắc Kinh khai mạc lúc 8 giờ 8 phút tối ngày 8 tháng 8 năm 2008. (Beijing 2008 *)

Ngày 18 tháng 10 năm 2010, Hội nghị Toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5, khóa 17, Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Bắc Kinh đã bầu Tập Cận Bình giữ chức Phó Chủ tịch Quân Ủy Trung ương – đây là cơ quan chỉ đạo và quyết định mọi hướng đi của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Ngày 15 tháng 11 năm 2012, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 18 đã tiến hành phiên họp đầu tiên sau đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 18 và quyết định bầu ông làm Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc.

Ngày 14 tháng 3 năm 2013, ông được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, kết thúc quá trình chuyển giao quyền lực ở quốc gia đông dân nhất thế giới.

Tập Cận Bình những chính sách lớn

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang quyết tâm cao độ theo đuổi chủ thuyết Trung Nam Hải “nắm vững Trung, hướng về Nam, mở rộng Hải” của Chủ tịch Mao Trạch Đông trên cơ sở thuyết “biển lịch sử” từ thời đế quốc La Mã tuyên ngôn cách đây 2000 năm nhằm đưa ra phương lược mưu chiếm trọn 80% hải phận của vùng Đông Nam Á (theo đường Lưỡi Bò), khôi phục vị thế và địa giới lịch sử Trung Quốc thời kỳ rộng nhất, huy hoàng nhất. Trung Quốc không còn chấp nhận vai trò của Mĩ như một cảnh sát khu vực để duy trì hòa bình và giữ cho các tuyến đường biển thông suốt.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vạch chiến lược “3 mũi nhọn” thâu tóm châu Á và đã tuyên bố tại Thượng Hải “chính người Châu Á phải điều hành công việc của Châu Á, giải quyết các vấn đề của khu vực Châu Á và duy trì an ninh của Châu Á”. Ông ráo riết thực hiện chiến lược “không đánh mà thắng” với một loạt kế sách liên hoàn trên biển Đông thông qua sức mạnh kinh tế và tiến bộ công nghệ:  xây dựng đảo trong quần đảo Trường Sa; điều giàn khoan thăm dò dầu khí chập chờn ở các điểm nóng; ký hợp tác Trung Nga nhận mua khí đốt và năng lượng dài hạn từ Nga giải tỏa giúp Nga sự căng thẳng suy thoái kinh tế do sức ép giá dầu lửa xuống thấp do sự can thiệp của Tây Âu và Mỹ; Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngồi cạnh Tổng Thống Nga Putin trong đại lễ 70 năm kỷ niệm Ngày Chiến thắng Chủ nghĩa Phát xít khi Tổng thống Mỹ Obama cùng nguyên thủ nhiều nước châu Âu và thế giới theo phe Mỹ không tham dự, Trung Quốc tỏ rõ lập trường ủng hộ Nga chống li khai để giữ vững đường hằng hải sống còn của Nga thông ra biển lớn mà Pie Đại Đế nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga quyết tâm sắt đá tranh đoạt bằng được Sankt-Peterburg  dù mọi giá  thể hiện qua chính sách là có thể nhượng bộ Thụy Điển bất cứ điều gì ngoại trừ trả lại Sankt-Peterburg. Trung Quốc thực hành chiến lược “Nam Nam” mở rộng ảnh hưởng nước lớn tại Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Trung Quốc hiện là tâm điểm của cuộc khủng hoảng địa chính trị, kinh tế, khoa học công nghệ hiện đang ngày một gia tăng tại châu Á và Thế giới (xem thêm: Biển Đông vạn dặm, Biển Đông và sông Mekong).

Chủ tịch Tập Cận Bình trước và ngay sau ngày 14 tháng 3 năm 2013 (ông được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) đã nhanh chóng ra tay chiến dịch “đả hổ, diệt ruồi, săn sói, quét muỗi”. Các con hổ lớn Bạc Hi Lai (2012), Từ Tài Hậu (2012), Chu Vĩnh Khang (2013) và mới đây là Quách Bá Hùng (2015) lần lượt bị sa lưới. Chiến dịch này hiện đang ở vào hồi kết thúc của giai đoạn ” đả hổ, diệt ruồi” giành thắng lợi quyết định ở cấp lãnh đạo thượng tầng, quân đội, công an, tài chính kinh tế và truyền thông tại các thành phố lớn, nay đang chuyển sang giai đoạn “săn sói, quét muỗi”  càn quét cường hào tham nhũng ừa và nhỏ ở vùng nông thôn và những nguy cơ tiềm ẩn ở các lĩnh vực khác.

Chủ tịch Tập Cận Bình “chống tham nhũng không màng sống chết cá nhân”. Ông đề ra khẩu hiệu “Tứ Toàn” (Bốn toàn diện):  “Xây dựng kinh tế xã hội thịnh vượng toàn diện; Cải tổ xã hội sâu sắc toàn diện; Thực hiện Nhà nước pháp quyền toàn diện;Thực thi kỷ cương Đảng toàn diện”. Đây là một cuộc chiến sinh tử, một cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc, rộng lớn và triệt để về kinh tế,  xã hội, nhà nước và đảng cầm quyền. Trong cuộc chiến này, quan điểm của ông Tập là vạch trần mọi tật xấu, sai lầm, khuyết điểm, không được che dấu đảng viên và nhân dân điều gì, không có nhân vật nào bất khả xâm phạm, không một lãnh vực nào bị cấm, dù là lãnh tụ tối cao.

Chủ tịch Tập Cận Bình thực hiện mưu lược ”dương đông kích tây” lợi dụng mâu thuẫn Mỹ – Nga và cuộc bầu cử tổng thống Mỹ để hướng dư luận ra bên ngoài, rãnh tay dẹp yên trong, trực tiếp nắm lại quân đội. Hôm 25/7, Tòa án quân sự Trung Quốc đã tuyên phạt cựu Phó chủ tịch Quân ủy Quách Bá Hùng tù chung thân, tước quyền chính trị suốt đời, tước quân hàm Thượng tướng và tịch thu toàn bộ tài sản. Nga – Trung chuẩn bị tập trận trên Biển Đông vào tháng 9 tới. Ông cũng thực hành mưu lược “an dân” nhằm tháo ngòi nổ phẩn uất trong lòng của một lực lượng đông đảo nạn nhân, đối lập và bất bình đã làm chia rẽ xã hội Trung Quốc.Theo tạp chí chính trị Zhengming ở Hồng Kông.  Nhà tưởng niệm Mao sẽ biến mất khỏi Bắc Kinh. Quyết định bí mật này đã được giới lãnh đạo Trung Quốc đưa ra.  Xác ướp của Mao sẽ được chuyển đến thành phố quê hương của ông ta. Cấp dưới của cựu phụ tá lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc bị thất sủng tiếp tục ngã ngựa.  Lệnh Kế Hoạch, 59 tuổi, từng là Chánh văn phòng Trung ương Đảng và phụ tá cho cựu lãnh đạo Đảng Hồ Cẩm Đào. Ông ta bị bắt vào ngày 20 tháng 7 năm 2015, và bị buộc tội tham nhũng và lĩnh án tù chung thân vào 4 tháng 7 năm 2016. Gần đây, hai cấp phó của Lệnh là Triệu Thắng Hiên và Hà Dũng cũng đã bị âm thầm đưa ra khỏi vị trí lãnh đạo. Hà Dũng là người  đã bị Tổ chức Thế giới Điều tra Cuộc đàn áp Pháp Luân Công (WOIPFG) nhận dạng đóng vai trò tích cực trong việc bức hại Pháp Luân Công, do cựu lãnh đạo Đảng Giang Trạch Dân phát động ngày 20 tháng 7 năm 1999 lúc Pháp Luân Công có trên 70 triệu người Trung Quốc tập luyện.

Suy ngẫm từ núi xanh Bắc Kinh

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có hai cuốn sách lớn “Làm việc với những thứ thật, bước đi ở vị trí hàng đầu” và Những Suy tư từ sông Dương Tử góp phần giúp ông giành thắng lợi trong cuộc bầu cử khó khăn chọn ra người đứng đầu chính phủ cùa một quốc gia hơn 1, 34 tỷ người, dẫn đến việc chuyển giao quyền lực năm 2012. Tư tưởng và đường lối chính trị của vị lãnh tụ này hiện còn là điều bí ẩn. Thế giới chỉ có thể suy đoán và hiểu người qua việc làm và dư luận.

Peter Martin và David Cohen có bài viết : “ Mao and Forever: Xi Jinping’s Authoritarian Reforms” (Những cải cách độc đoán của Tập Cận Bình: theo Mao và mãi mãi theo Mao), người dịch Huỳnh Phan. Bài nghiên cứu giúp chúng ta một góc nhìn đối thoại. Mao Trạch Đông là một nhân vật hiếm có trong lịch sử, nghìn năm công tội. Thời gian và sự khen chê không thể xóa nhòa những dấu ấn nổi bật của Mao. Chọn theo Mao là chọn theo đường lối thực tiễn “có lý, có lợi, đúng lúc”.


Hoang Kim: Reflections from the Green Mount, Beijing

Tôi dạo chơi Thiên An Môn, Cố Cung, Di Hòa Viên, Thiên Đàn trong ngày Quốc tế Lao động, ngắm những nơi lưu dấu các di sản của những triều đại hiển hách nhất Trung Hoa, lắng nghe đất trời và các cổ vật kể chuyện. Tôi ngắm nhìn người nghệ sĩ nhân gian, vui cùng ông và đùa cùng trẻ thơ. Ngày trước đó, tôi vinh hạnh được làm việc với giáo sư Zhikang Li, trưởng dự án Siêu Lúa Xanh  (Green Super Rice) chương trình nghiên cứu lúa nổi tiếng của CAAS & IRRI và có cơ hội tiếp cận với các nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc.

Suy ngẫm từ núi Xanh (景山, Jǐngshān, Cảnh Sơn, Green Mount), ngọn núi địa linh của đế đô Bắc Kinh, tôi tâm đắc lời nhắn gửi sâu xa của bậc hiền minh lỗi lạc Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: Muốn bình sao chẳng lấy nhân / Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình”  “Biển Đông vạn dặm giang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình)  (Vạn lý Đông minh quy bá ác/ Ức niên Nam cực điện long bình). Suy ngẫm về cuộc cách mạng Xanh và đỉnh cao Hòa Bình.

Lời giáo sư Norman Borlaug văng vẳng bên tai tôi: “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó.” Sự hiền minh lỗi lạc của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, và di sản vô giá của giáo sư Norman Borlaug cùng với các bậc Thầy về cách mạng xanh mãi mãi là niềm tin và nổ lực của chúng ta !

Hoàng Kim

Những bài viết có liên quan
Biển Đông vạn dặm
Qua Trường Giang nhớ Mekong
Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết Sơn
Trận Vũ Hán bài học lịch sử
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Minh triết sống thung dung phúc hậu

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Advertisements

77 thoughts on “Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình

  1. Pingback: Lê Phụng Hiểu truyện hay nhớ mãi | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Henry Ford và Thượng Đế | Tình yêu cuộc sống

  3. Pingback: Rằm Xuân Hà Nội | Tình yêu cuộc sống

  4. Pingback: Khổng Tử đọc lại và suy ngẫm | Tình yêu cuộc sống

  5. ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM

    “Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình”… Chủ tịch Tập Cận Bình trước và ngay sau ngày 14 tháng 3 năm 2013 (ông được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) đã nhanh chóng ra tay chiến dịch “diệt hổ, đập ruồi, săn cáo”. Các con hổ lớn Bạc Hi Lai (2012), Từ Tài Hậu (2012), Chu Vĩnh Khang (2013) và mới đây là Quách Bá Hùng (2015) lần lượt bị sa lưới. Chiến dịch này hiện đang ở vào hồi kết thúc. “Khi cây cổ thụ bị trốc rễ” thì tên gọi của chính Đảng cầm quyền Trung Quốc có thể đổi, mà cũng có thể không đổi, chỉ cần “thề trung thành với Hiến pháp” sau màn “giết gà dọa khỉ” là đủ.
    (Việc giật tít “Trung Quốc, có số dân đông nhất thế giới, đang bước vào thời kỳ cáo chung, thời kỳ rẫy chết, không có gì có thể cứu vãn khỏi số Trời đã định vậy” là lầm lẫn khái niệm đất nước Trung Hoa với chính Đảng CSTQ cầm quyền đương thời).

    KHI CÂY CỔ THỤ BỊ TRỐC RỄ

    VOA

    Bùi Tín

    09-08-2015

    Cây cổ thụ lớn nhất thế giới, Trung Quốc, có số dân đông nhất thế giới, đang bước vào thời kỳ cáo chung, thời kỳ rẫy chết, không có gì có thể cứu vãn khỏi số Trời đã định vậy.

    Số Trời đây là quy luật đào thải của mọi sự vật trên đời, quy luật sinh – lão – bệnh – tử của mỗi đời người; quy luật sinh – hưng – thịnh – suy – vong – phế – diệt của mỗi chế độ, mỗi triều đại ngự trị trong xã hội loài người, không một con người nào, một chế độ chính trị nào thoát khỏi cái định mệnh khắc nghiệt cay đắng ấy.

    Đây là một loạt quan điểm, nhận định, bình luận chính trị gần đây nhất của nhiều mạng thông tin có cơ sở ở Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Hoa Kỳ, của nhiều nhà bình luận chính trị Trung Quốc ở hải ngoại, của các mạng Minh Huei, Bo Xun (tiếng Hoa), cũng như của nhà báo – nhà bình luận Trung Quốc Gordan G. Chan, tác giả cuốn sách The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc), được tái bản nhiều lần.

    Cũng mới đây mạng Đại Kỷ Nguyên, cơ quan ngôn luận của Pháp Luân Công Đạo Pháp do Đạo sư Lý Hồng Chí sáng lập, đã đi đầu trong phong trào Tam Thoát – Thoát Đảng, Thoát Đoàn, thoát Đội và Thoát mọi loại tổ chức khác của Đảng CS Trung Quốc mà Ông cho là tà giáo man rợ, là tội ác chống nhân loại.

    Hiện con số người tuyên bố công khai Tam Thoát đã lên đến 221.000.000 người, làm biến đổi sâu sắc so sánh lực lượng giữa đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và đại khối nhận dân Trung Quốc lương thiện.Trên Đại Kỷ Nguyên hiện đang đăng bài “Đảng CS Trung Quốc vong » cho rằng ĐCSTQ không thể cưỡng lại số phận đã được định đoạt là giải thể, tiêu vong trong thời gian không xa. Chiến dịch “diệt hổ đập ruồi, săn cáo» đang ở hồi kết thúc, không thể nào xuống lưng hổ vì “kỵ hổ nan hạ» (cưỡi hổ thì khó xuống).

    Màn chót ngay trước mắt là triệt con hổ Thượng tướng Quách Bá Hùng và con trai là tướng Quách Chính Cương, vì Quách từng là Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự TƯ, cánh tay phải của Giang Trạch Dân, bị tống giam khi đang cải trang làm phụ nữ để tìm cách thoát sang Hồng Kông.

    Mạng Minh Huei còn nhận định rằng sau cuộc họp Bộ Chính trị ở Bắc Đới Hà mùa hè này, Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Nước Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn sẽ gạt Trương Cao Lệ, Lưu Vân Sơn và Trương Đức Giang, cả 3 hiện nằm trong Ủy ban Thường Vụ Bộ Chính trị gồm 7 ủy viên ở chóp bu quyền lực, là thế lực cuối cùng phò Giang Trạch Dân, để ngay sau đó diệt chính Giang, coi là đòn ân huệ để giải thể luôn ĐCSTQ, chuyển sang mang một tên mới – “Đảng Xã hội Dân chủ” hoặc “Đảng Dân tộc Trung Hoa”, như trước đây Lý Thụy Hoàn, một ủy viên kỳ cựu của Bộ Chính trị đã gợi ý, sau khi đảng CS Liên Xô bị giải thể hồi cuối năm 1991. Hiện nay, Tập Cận Bình đang kết chặt với Vương Kỳ Sơn và Thủ tướng Lý Khắc Cường trong Thường vụ Bộ Chính trị, và với 2 Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự TƯ là 2 Thượng tướng Phạm Tường Long và Hứa Kỳ Lương, thay thế Từ Tài Hậu đã chết và Quách Bá Hùng vừa sa lưới.

    Một bản tiểu sử dài của Giang Trạch Dân được phổ biến rộng rãi trong 6 tháng qua, chỉ rõ Giang xuất thân từ một gia đình đại Hán gian từng phục vụ phát xít Nhật thời Uông Tinh Vệ, đã tự nhận là con nuôi liệt sỹ, gia đình cách mạng CS nòi để leo lên đỉnh cao quyền lực và phá nát Đảng CS không có cách gì cứu vãn nổi.

    Đại Kỷ Nguyên còn cho biết trong tháng 7/2015 Tập Cận Bình quy định tất cả các cán bộ đảng viên CS phải làm lễ tuyên thệ “trung thành với Hiến pháp”, từ bỏ lệ tuyên thệ trung thành với Đảng CS và học thuyết CS, từ đó đưa đảng vào “lãnh cung», tử vong vĩnh viễn.

    Không phải ngẫu nhiên mà từ hơn một năm nay các Tòa án Trung Quốc tiếp nhận đơn của mọi công dân kiện cáo về việc người thân của họ trong Đạo Pháp Luân Công bị sát hại trong lao tù, các bộ phận cơ thể được rao bán khắp mọi nơi. Hiện nay đã có 80 vạn lá đơn kiện đích danh ông Giang Trạch Dân về tội ác này do chính Giang đề xướng và thực hiện qua bộ máy 610 – được thành lập ngày 10 tháng 6 năm 1999 – trên tinh thần Đảng CS theo Duy Vật chống mọi tà giáo Duy Tâm.

    Tuy không phải từ những nguồn tin chính thức được tin cậy hoàn toàn, tôi vẫn thu thập, ghi chép, bình luận các thông tin trên đây với tất cả sự thận trọng dè dặt cần thiết, để các bạn đọc của VOA rộng đường tham khảo và theo dõi thêm.

    Nếu như ĐCSTQ thật sự tiêu vong trong thời gian tới, khi cây cổ thụ Trung Quốc bị đổ trốc rễ, như số phận Đảng CS Liên Xô hồi cuối năm 1991, thì không ai có thể hình dung rõ sau đó hậu quả đối với tình hình Đông Nam Á và toàn thế giới sẽ ra sao.

    Trung Quốc sẽ vẫn còn là một thực thể hay sẽ vỡ ra thành các mảnh lớn nhỏ khi nó có đến hàng trăm dân tộc với tiếng nói, nguồn gốc, tôn giáo khác nhau?

    Chắc chắn sẽ là tin tốt lành cho nhân dân Việt Nam khi cái họa bành trướng tệ hại sẽ có cơ chấm dứt để nhân dân ta có thể sống hoàn toàn độc lập tự do, hòa hiếu, hợp tác và cùng phát triển với mọi nước xa gần.

    Nước cờ Thoát Trung, gắn bó với các bạn bè dân chủ xa gần, bẻ lái chiến lược lúc này thật đúng lúc, đúng thời cơ, là cao kiến, hợp lòng dân, đúng theo vận nước vậy.

    Nguồn: VOA http://www.voatiengviet.com/content/khi-cay-co-thu-bi-troc-re/2908699.html

  6. DI SẢN ENGELS

    Tình yêu cuộc sống

    Hoàng Kim

    6-8-2015

    Di sản Engels đồng hành khó tách biệt với Chủ nghĩa Marx. Engels là người đồng sáng lập hệ tư tưởng “chủ nghĩa xã hội khoa học” cùng với Karl Marx. Ông là “cây vĩ cầm thứ hai” thừa kế và phát triển Chủ nghĩa Marx, là trào lưu tư tưởng ảnh hưởng sâu rộng nhất toàn cầu trong thế kỷ 20. Thế giới còn đổi thay, nhiều giá trị lịch sử thăng trầm, bất luận khen hay chê, những di sản chân thực cần được nghiên cứu kỹ để đánh giá đúng.

    Chủ nghĩa Marx là một hệ thống học thuyết về triết học, lịch sử và kinh tế chính trị dựa trên các tác phẩm của Karl Marx (1818–1883) và Friedrich Engels (1820–1895), là một hệ tư tưởng định hướng thực tiễn và là một thế giới quan. Marx đã từng nói rằng ông thích dùng khái niệm “chủ nghĩa xã hội khoa học” là hạt nhân của học thuyết, chứ không muốn gắn với tên cá nhân ông. Đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng mà bất kì ai cũng sẽ bị lịch sử đào thải nhưng phép biện chứng duy vật vẫn mãi giữ được hạt nhân của nó.

    Theo chủ nghĩa xã hội khoa học thì mỗi hình thái ý thức xã hội, triều đại, chế độ đều không thể thoát khỏi quy luật sinh – hưng – thịnh – suy – vong – phế – diệt như sinh – lão – bệnh – tử của đời người. Cách mạng xã hội là tìm ra nguồn gốc nội tại, động lực, chiều hướng và phương cách để chuyển hóa xã hội một cách khoa học. Đó là căn bản của học thuyết khoa học xã hội thời kỳ của Marx và Engels. Đến thời đại Lê Nin, sự vận dụng này được chuyển hóa thành căn bản là học thuyết đấu tranh giai cấp giành và giữ chính quyền. Đến thời Stalin, đó là học thuyết chuyên chính vô sản. Phương cách vận dụng học thuyết là mưu lược của nhà cầm quyền. … (trích)

    (Nguồn: Di sản Engels https://hoangkimlong.wordpress.com/2015/08/06/di-san-engels/)

  7. QUAN TÂM SÂU SẮC VÀ CHĂM CHÚ THEO DÕI

    BÊN TRONG TRUNG NAM HẢI

    Bể bơi của các nhà lãnh đạo tối cao http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tu-lieu/be-boi-cua-cac-nha-lanh-dao-toi-cao-2861491.html

    ‘Đường hầm bí mật’ giữa trung tâm Bắc Kinh http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tu-lieu/duong-ham-bi-mat-giua-trung-tam-bac-kinh-2860749.html

    Những quyết định bên ngoài Trung Nam Hải http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tu-lieu/nhung-quyet-dinh-ben-ngoai-trung-nam-hai-2859130.html

    Trong phòng họp của giới quyền lực nhất Trung Quốc http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tu-lieu/trong-phong-hop-cua-gioi-quyen-luc-nhat-trung-quoc-2857930.html

    Bên trong cơ quan quyền lực tối cao Trung Quốc http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tu-lieu/ben-trong-co-quan-quyen-luc-toi-cao-trung-quoc-2857595.html

    BÍ HIỂM TRONG TRUNG NAM HẢI

    Blog VOA. Bí hiểm trong Trung Nam Hải. Bùi Tín. 09-08-2015

    Tại Bắc Đới Hà, một thành phố nghỉ mát ở bờ biển tỉnh Hà Bắc, đã thành lệ, từ hơn 20 năm nay, cứ đến đầu tháng 8 dương lịch là diễn ra cuộc họp bao gồm 7 ủy viên Ủy ban Thường Vụ Bộ Chính trị Đảng CS Trung Quốc, mở rộng cho một số lãnh đạo địa phương có uy tín nhất. Năm nay cuộc họp tuyệt mật này sẽ định ra quốc sách mới cho nhiệm kỳ gần 2 năm còn lại của Đại hội Đảng khóa XVIII, khởi đầu năm 2012, của ông Tập Cận Bình.

    Năm nay một màn sương mù bí hiểm dày đặc bao phủ Bắc Đới Hà. Không có nhà bình luận ngoại quốc nào có thể đoán được những gì sẽ diễn ra tại cuộc họp này.

    Có tin chiến dịch chống tham nhũng «diệt hổ – đập ruồi» đang chuyển sang chiến dịch «trị muỗi» nghĩa là càn quét cường hào tham nhũng cỡ vừa và nhỏ ở vùng nông thôn, để tránh gây chấn động ghê gớm trong giới lãnh đạo cao cấp của Đảng CS và quân đội như trong 2 năm vừa qua.

    Các phán đoán đều dựa trên nhận định về con người, nhân cách, ý chí, cá tính của ông Tập Cận Bình, một nhân vật hiện vẫn còn có nhiều phần bí ẩn đối với công luận Trung Quốc và thế giới. Cho đến nay, dư luận Trung Quốc cho rằng ông Tập là con người có ý chí thành đạt lớn, có mong muốn trở thành người khai sáng một kỷ nguyên mới, dám nhìn thẳng vào sự thật, không giấu giếm những ưu khuyết điểm lớn của các lãnh tụ tiền nhiệm, từ Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, đến Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào.

    Tập Cận Bình đề ra khẩu hiệu Tứ Toàn – Bốn Toàn Diện – khá dài dòng:

    -Xây dựng kinh tế – xã hội thịnh vượng toàn diện;

    -Cải tổ xã hội Sâu sắc toàn diện;

    -Thực hiện Nhà nước pháp quyền toàn diện;

    -Thực thi kỷ cương Đảng toàn diện.

    Đây có thể là nội dung của cả một cuộc cách mạng toàn diện, về kinh tế – xã hội, Nhà nước, Đảng CS với tham vọng cực kỳ rộng lớn, triệt để.

    Trong cuộc chiến chống tham nhũng “đả hổ diệt ruồi, săn sói, quét muỗi», quan điểm của ông Tập là vạch trần mọi tật xấu, sai lầm, khuyết điểm, không được che dấu đảng viên và nhân dân điều gì, không có nhân vật nào bất khả xâm phạm, không một lãnh vực nào bị cấm, dù là lãnh tụ tối cao.

    Do đó hình ảnh hơn 10 xe tải chở chưa hết những thùng tiền đô la, nhân dân tệ, euro, bảng Anh, đồ cổ, vật liệu trang sức quý hiếm của Thượng tướng Từ Tài Hậu, được Giang Trạch Dân sủng ái giao chức Phó bí thư Quân ủy TƯ, cũng như chuyện Thượng tướng Quách Bá Hùng cũng từng là một Phó Bí thư Quân Ủy TƯ của Giang Trạch Dân, định chuồn ra nước ngòai bằng cách cải trang thành một bà già và bị tóm ngay ở sân bay. Theo lệnh ông Tập Cận Bình và ông Vương Kỳ Sơn, cánh tay phải của ông Tập trong cuộc săn hổ dữ này, mọi tài liệu của cuộc sống bê tha bệ rạc của Lệnh Kế Hoạch, Chánh Văn phòng TƯ Đảng trong hơn 16 năm, có 27 cô nhân tình, 7 bà vợ hờ, có 5 con riêng cũng được mô tả và bình luận rộng rãi, phơi bày cho toàn dân thiên hạ biết rõ về cuộc sống không giống ai của giai cấp Tư sản Đỏ.

    Gần đây nhất, đã có vài sự kiện mới mẻ, bất ngờ rất cần được giải mã. Đó là ngày 1/7/2015, nhân lễ kỷ niệm 94 năm thành lập Đảng CS Trung Quốc (1/7/1921 – 1/7/2015), ông Tập đã quy định từ nay cán bộ các cấp chỉ phải tuyên thệ trung thành tuyệt đối với Bản Hiến pháp của đất nuớc, không cần tuyên thệ trung thành với bất kỳ điều gì khác.

    Các mạng Đa chiều, Tiền Tiêu, Cai Xin ở Đài Loan, Hồng Kông thuật lại theo Ta Kung Pao (Đại Công Báo) ở Bắc Kinh (ngày 2/7) rằng ông Tập Cận Bình đã nhân dịp này yêu cầu toàn đảng CS «phải dũng cảm đối mặt, tiếp thu sự thật tha hóa – vong đảng», «phải dũng cảm tiếp thu quá trình Sinh – Hưng – Thịnh – Suy – Nguy – Vong của Đảng CS và Chế độ CS như một quá trình tất yếu theo quy luật tự nhiên và xã hội».

    Cũng không phải ngẫu nhiên ngày 3/7 các mạng tự do ở Đài Loan và Hồng Kông loan tin Chiến sỹ dân chủ Thiên An Môn nổi bật nhất là ông Ngụy Kinh Sinh đã lên tiếng bênh vực các nạn nhân Pháp Luân Công và yêu cầu các tòa án Trung Quốc cần xét xử công minh tội ác chồng chất man rợ này.

    Nhiều nhà bình luận Trung Quốc nói đến yếu tố tâm lý của ông Tập Cận Bình, là con trai nhà cách mạng CS lão thành Tập Trọng Huân, được ca tụng như một mẫu mực CS tiền bối trong sạch nghiêm túc khắc khổ trong cuộc sống, do đó bị những kẻ theo Mao đả kích là lập dị, cứng đầu, cả gia đình bị đấu tố điêu đứng trong Cách mạng văn hóa cùng lúc với cặp vợ chồng Lưu Thiếu Kỳ – Vương Quang Mỹ, bản thân ông Tập Cận Bình bị đưa về nông thôn, tự lao động sinh sống trong đói nghèo thê thảm từ tuổi thiếu niên. Đây là mối thù hận lớn có dấu ấn sâu đậm trong cuộc đời ông Tập, từ nhỏ đã nhận ra điều trớ trêu đau lòng là một chế độ tự nhận là ưu việt lại đầy ải những gia đình cách mạng xuống tận cùng lao khổ, ô nhục.

    Đây là yếu tố tâm lý ông Tập chia sẻ với Thượng tướng Lưu Nguyên, con trai ông Lưu Thiếu Kỳ, khi ông dự định đưa ông Lưu Nguyên vào vị trí Phó Bí thư Quân ủy TƯ, khi ông Lưu Nguyên ở tuổi trẻ đã nhìn thấy cảnh đau lòng bố mình đường đường là Chủ tịch nước đông dân nhất toàn cầu bị Mao cho đội mũ lừa quỳ gối trước bọn Hồng Vệ Binh láo xược ở ngay giữa thủ đô Bắc Kinh.

    Phải chăng chính yếu tố tâm lý thù hận cuộc đời ngang trái dưới chế độ CS toàn trị đã tạo nên tâm lý hận đảng, dẫn đến trào lưu Tam Thoát – thoát Đảng, thoát Đoàn, thoát Đội – do đạo sư Lý Hồng Chí đề xướng, đi đầu thực hiện và được hưởng ứng mạnh mẽ trong cả nước. Không phải ngẫu nhiên trong hàng ngũ giai cấp tư sản Đỏ quyền quý có không ít Con Ông Cháu Cha cho rằng đảng CS đã suy thoái, thối rữa ô nhục như thế, hoang dâm vô độ hơn cả thời phong kiến cổ hủ xưa kia thì nên giáng cho nó một đòn ân huệ, kết liễu cuộc đời nó trong sự phán quyết lịch sử nghiêm minh của toàn dân, mở ra Kỷ nguyên mới: Dân Chủ, Pháp quyền, Bình đẳng, Công bằng trong Xã hội Trung Quốc rộng lớn.

    Mạng Minh Pao đầu tháng 7 cho biết Trần Vỹ Lợi, con gái của Trần Vân, một lão quốc công thần CS; Hồ Thẩm Anh, con gái nhà lý luận kỳ cựu Hồ Kiều Mộc; và Diệp Đại Thanh, con gái nuôi của Nguyên soái Diệp Kiếm Anh, đều tuyên bố ủng hộ hết lòng mọi chủ trương của ông Tập Cận Bình.

    Đây là dòng suy nghĩ rất sâu đậm của cả một tầng lớp tinh hoa dân tộc trong Đảng CS Trung Quốc , tiêu biểu là Hồ Diệu Bang, rồi Triệu Tử Dương, Lý Thụy Hoàn, Kiều Thạch…, và nay chính Tập Cận Bình, Lưu Nguyên, Lưu Á Châu … đã tiếp thu một cách sâu sắc và quả đoán. Đây là một sự phán đoán có cơ sở, khi cả một thế hệ trí thức mới vẫn lạc quan tin ở bản chất thiện lương của con người, để dân tộc Nga vĩ đại cuối cùng tạo nên một Gorbachov chôn vùi Đảng CS Liên Xô thối rữa do tranh dành quyền lực, để nay dân tộc Trung Hoa vĩ đại cuối cùng đã tạo nên một nhóm Anh hùng cứu tinh dân tộc, chôn vùi đảng CS Trung quốc đã trở thành tổ chức phản động chống nhân dân và dân tộc, cản trở dân tộc Trung Hoa hòa nhập với thời đại văn minh.

    Cũng không phải ngẫu nhiên mà gần đây tổ chức Các bà mẹ Thiên An Môn lên tiếng đòi công minh cho con cái mình, đòi phải coi hàng ngàn nam nữ thanh niên nát thây dưới xích xe tăng CS là những liệt sỹ phải được vinh danh, rửa nhục, gia đình phải được nhà nước CS bồi thường xứng đáng, cũng như đòi trả tự do cho hàng ngàn chiến sỹ dân chủ, phần lớn là nhà báo, luật sư, nghệ sỹ và hàng trăm ngàn nam nữ tín đồ Pháp Luân Công hiện đang còn rên xiết trong hệ thống nhà tù CS.

    Các báo Trung Quốc, như tạp chí Minh Huei (Minh Huệ – Net) ở Hồng Kông ngày 4/7cho biết cuộc «ác chiến tài chính» cuối cùng giữa Nhà Nước Tập Cận Bình – Vương Kỳ Sơn với phe cánh «Giang bang» đã khởi đầu quyết liệt, với trò phá đám của phe “Giang bang” cho tay chân tung vào thị trường Thượng Hải, Thẩm Quyến, Quảng Châu trong một lúc hàng trăm nghìn tỷ cổ phiếu và «cổ phần thối» đã mất hết giá trị, theo kiểu không ăn thì đạp đổ, hòng đẩy nền kinh tế – tài chính vào bế tắc triệt để, làm cho 100 triệu gia đình trung lưu trắng tay trong có vài ngày.

    Cũng theo tin này, nhóm Tập Cận Bình đã soạn xong hồ sơ để xét xử cuộc Chính biến phản cách mạng do nhóm «Giang bang» chuẩn bị vào ngày 19/3/2012, một cuộc đảo chính nhằm triệt hạ «Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường, Hồ Cẩm Đào», đưa Bạc Hy Lai , Chu Vĩnh Khang lên tiếm quyền. Đây sẽ là vụ án chính trị kinh thiên động địa của Thế kỷ XXI … (hết trích dẫn. HK)

    Nguồn: http://www.voatiengviet.com/content/bi-hiem-trong-trung-nam-hai/2908704.html

  8. Pingback: Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình | Tình yêu cuộc sống

  9. Pingback: Sáng sớm ở vườn bạn | Khát khao xanh

  10. Pingback: HOÀNG KIM LONG : GS TRẦN VĂN KHÊ , NGƯỜI THẦY NHẠC VIỆT | TRẦN VĂN KHÊ / MUSIC & LIFE/ ÂM NHẠC & ĐỜI SỐNG/ MUSIQUE & VIE

  11. Tập Cận Bình gợi ý thay đổi lập trường của chính quyền Trung Quốc đối với Pháp Luân Công

    Tác giả: Larry Ong, Epoch Times và Xie Dongyan, Epoch Times | Dịch giả: Phạm Duy 10 Tháng Năm , 2016
    Lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh vào ngày 25 tháng 3, năm 2016. (LINTAO ZHANG / AFP / Getty Images)

    Nguồn: http://vietdaikynguyen.com/v3/99226-tap-can-binh-goi-y-thay-doi-lap-truong-cua-chinh-quyen-trung-quoc-doi-voi-phap-luan-cong/

    Phân tích tin tức

    Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) có một danh sách dài những ngày “nhạy cảm” hoặc những ngày của những sự kiện mà chính quyền cho rằng là đe dọa chính trị. Vào những ngày nhạy cảm này và những ngày sát lúc sự kiện diễn ra, bộ máy an ninh của ĐCSTQ trở nên thận trọng một cách bất thường, và thường xuyên tiến hành các cuộc vây bắt đàn áp những người liên quan với các các sự kiện.

    Hai lễ kỷ niệm nhạy cảm là ngày 4 tháng 6 và ngày 25 tháng 4. Ngày 4 tháng 6 là kỷ niệm vụ thảm sát Thiên An Môn, khi xe tăng nghiền nát những nhà hoạt động là sinh viên ở Bắc Kinh vào năm 1989. Và ngày 25 tháng 4 năm 1999 là ngày mà các học viên Pháp Luân công thực hiện một cuộc thỉnh nguyện hòa bình lên ban lãnh đạo đảng. Tuy nhiên, vào ngày 25 tháng 4 năm nay, ngày kỷ niệm 17 năm sự kiện thỉnh nguyện ôn hòa của [các học viên] Pháp Luân Công ở Bắc Kinh, Tập Cận Bình, lãnh đạo của Đảng, đã không đi theo kịch bản đó.

    Thông qua một số động thái chính trị bất thường, ông Tập Cận Bình dường như đưa ra các dấu hiệu cho thấy ông đang dần rời bỏ chính sách của người tiền nhiệm đàn áp [các học viên] Pháp Luân Công, một môn tu luyện tinh thần, một nhóm rất nhiều người đã bị [ĐCSTQ] nhắm là mục tiêu loại bỏ trong năm 1999 ngay sau khi các học viên tiến hành việc thỉnh nguyện [ôn hòa] lên chính quyền trung ương [Bắc Kinh].

    Quảng cáo

    Những hành động gần đây của ông Tập Cận Bình, bao gồm những phát biểu có chừng mực về cách xử lý những người thỉnh nguyện ôn hòa, thanh trừng một số quan chức an ninh đặc biệt tàn bạo, yêu cầu rằng các lực lượng an ninh phải giữ tác phong ngay thẳng, chính trực, ngoài ra còn có những phát biểu mang tính hòa giải về vấn đề tôn giáo ở Trung Quốc – trong khi [ông Tập] khôn khéo ngụ ý một sự thay đổi tiềm tàng về lập trường và trọng tâm của ĐCSTQ đối với những chính sách giữ nguyên hiện trạng [hiện hành], [liên quan đến] chuỗi những hành động [của lực lượng an ninh] và thời điểm xung quanh việc kỷ niệm nhạy cảm như thế này.

    Bắc Kinh năm 1999
    Ngày 23 tháng 4 năm 1999, 45 học viên Pháp Luân Công đã bị hành hung và bắt giữ bởi công an ở Thiên Tân, một thành phố cách Bắc Kinh khoảng 90 dặm, khi các học viên tham gia vào một cuộc biểu tình ôn hòa tại trường Đại học Sư phạm Thiên Tân. Các học viên đã yêu cầu viện sĩ hàn lâm Hà Tộ Hưu rút lại một bài báo bôi nhọ Pháp Luân Công – một môn tu luyện tự hoàn thiện mình, bao gồm các bài tập chậm rãi và những lời dạy về Chân, Thiện và Nhẫn.

    Hà Tộ Hưu, một nhân vật đã phạm tội ác gây thù địch chống lại Pháp Luân Công vào thời điểm đó, là em rể của La Cán, người sau đó đứng đầu lực lượng công an, nhân vật đã nhiều năm tìm cách nhắm mục tiêu [đàn áp các học viên] Pháp Luân Công. Môn tu luyện này đã lan truyền một cách tự do ở Trung Quốc trong những năm 1990, mà phần lớn thời gian với sự hỗ trợ ngầm hay công khai của các cơ quan nhà nước [Trung Quốc] khác nhau; rất nhiều các đảng viên ĐCSTQ đều tự coi mình là những học viên, và họ rất phấn khởi với sự hồi sinh của những truyền thống cổ xưa ở [một nước] Trung Quốc hiện đại.

    Tất cả điều này đã bị một số người bảo thủ, mà La Cán là nhân vật nội bật trong số họ, xem như là một mối đe dọa đối với an ninh chính trị và tư tưởng của chính quyền [Trung Quốc].

    Sau khi tin tức về vụ bắt giữ ngày 23 tháng 4 được lan rộng, một số lượng lớn các học viên đã quyết định thỉnh nguyện lên các cơ quan trung ương ở Bắc Kinh, tại Văn phòng Kháng cáo Hội đồng Nhà nước, nằm tiếp giáp với khu vực lãnh đạo ĐCSTQ ở Trung Nam Hải. Ngày 25 tháng 4, công an Bắc Kinh đã phong tỏa con đường đến Văn phòng Kháng cáo, và bố trí vị trí cho hơn 10.000 học viên tới tham gia thỉnh nguyện – vây quanh Trung Nam Hải, khu vực văn phòng và dinh thự chính thức của các quan chức lãnh đạo hàng đầu ĐCSTQ, và là một vị trí nhạy cảm ở Bắc Kinh.

    Vào đầu giờ chiều [hôm đó], Thủ tướng Chu Dung Cơ đã xuất hiện và đồng ý nói chuyện với các đại diện [của học viên Pháp Luân Công]. Các vấn đề dường như được giải quyết sau khi trời sẩm tối.

    Tuy nhiên người đứng đầu ĐCSTQ Giang Trạch Dân đã rất tức giận, và chẳng bao lâu đã tuyên bố rằng việc thỉnh nguyện này là “sự cố chính trị nghiêm trọng nhất kể từ sự kiện 4 tháng 6”.

    Trong một bức thư gửi cho [các ủy viên] Bộ Chính trị tối hôm đó, Giang Trạch Dân đã tuyên bố: “Lẽ nào người cộng sản chúng ta vốn có sẵn lý luận chủ nghĩa Mác, tin tưởng thuyết duy vật, thuyết vô thần, lại không chiến thắng nổi mấy thứ ‘Pháp Luân Công’ hay sao? Nếu quả thực là thế, thì chẳng phải đây là chuyện đáng cười nhất trên trái đất này?”.

    Mùa hè năm đó, vào ngày 20 tháng 7, Giang Trạch Dân đã ra lệnh cho bộ máy an ninh và pháp luật của chế độ [Trung Quốc] đàn áp [các học viên] Pháp Luân Công. “Bôi nhọ thanh danh, vắt kiệt tài chính và hủy hoại thân thể” đó là mệnh lệnh được đưa ra cho công an, theo lời kể của các học viên Pháp Luân Công, những người nói rằng công an đã nói điều này với họ.

    Theo Minghui.org, một trung tâm thu thập, sàng lọc, duy trì và cung cấp thông tin về cuộc đàn áp Pháp Luân Công, hơn 3.900 học viên đã bị bức hại đến chết, và hàng trăm ngàn người khác đang mòn mỏi trong trại giam kể từ ngày 20 tháng 7 năm 1999, khi bắt đầu chính thức chiến dịch chống lại Pháp Luân Công. Các nhà nghiên cứu ước tính rằng hàng trăm ngàn học viên đã bị sát hại để lấy nội tạng của họ như là một phần của một ngành công nghiệp cấy ghép nội tạng hết sức ghê rợn do nhà nước [Trung Quốc] quản lý.

    Kể từ năm 1999, vào những ngày 25 tháng 4 và ngày 20 tháng 7 kỷ niệm hàng năm, người ta thường thấy công an trên toàn nước Trung Quốc đột nhập vào nhà ở của các học viên [Pháp Luân Công] và tiến hành các vụ bắt giữ.

    Thỉnh nguyện và hệ thống an ninh
    Dưới đây là lượt lại những biểu hiện nhằm củng cố tầm quan trọng trong các động thái mà ông Tập Cận Bình đã tiến hành gần đây.

    Thỉnh nguyện – đó là nộp những đơn khiếu nại lên cấp cao hơn của chính quyền [Trung Quốc] – nhanh chóng được các học viên Pháp Luân Công sử dụng để truyền tải nguyện vọng của mình lên chính quyền [Trung Quốc]. Một khi nó [một vụ việc thỉnh nguyện] đã trở nên rõ ràng, phương pháp này có thể sẽ phải đối mặt với sự trả thù bạo lực. Những người thỉnh nguyện hiện nay vẫn là một số lượng lớn những người Trung Quốc đã bị tước quyền công dân và bị lực lượng an ninh của ĐCSTQ thường xuyên đối xử theo cách bất chấp luật pháp.

    Vào ngày 21 tháng 4, ông Tập Cận Bình nói rằng lợi ích của chính quyền Trung Quốc là phải “giải quyết ổn thỏa các nguyện vọng hợp pháp và chính đáng của dân chúng”, những người nộp đơn thỉnh nguyện, theo một tuyên bố được đưa ra bởi cơ quan ngôn luận của nhà nước Tân Hoa Xã. Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường nói thêm rằng chính quyền nên “cố gắng giải quyết các mâu thuẫn và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp” của những người thỉnh nguyện.

    Gần sát ngày kỷ niệm 25 tháng 4, ông Tập Cận Bình đã [triển khai các hoạt động] nhắm vào bộ máy an ninh của chính quyền [Trung Quốc].

    Dưới trướng của trùm an ninh La Cán, Ủy ban Chính trị và Pháp luật (PLAC) – một cơ quan nhỏ nhưng quyền lực lớn của ĐCSTQ, kiểm soát hệ thống công an, tòa án và nhà tù – đã đóng một vai trò quan trọng trong việc dàn dựng cái gọi là “bao vây Trung Nam Hải” và cuộc đàn áp [các học viên] Pháp Luân Công. Công an Bắc Kinh đã chủ tâm chỉ dẫn các học viên Pháp Luân Công đến những con phố xung quanh Trung Nam Hải, và Phòng 610, một tổ chức ngoài vòng pháp luật được thành lập cho mục đích riêng là để giám sát cuộc đàn áp, cũng nằm trong tầm ảnh hưởng của PLAC.

    Vào đêm trước ngày 25 tháng 4 này, 4 quan chức an ninh hàng đầu, bao gồm cả bí thư PLAC tỉnh Hà Bắc Trương Việt, đã bị thanh trừng. Ông Trương bị coi là chịu trách nhiệm đối với việc tra tấn học viên Pháp Luân Công Lưu Vĩnh Vượng (Liu Yongwang), người đã bị trói vào một tấm bảng, bị quất bằng roi da và gây sốc bằng dùi cui điện. Vào ngày tiếp theo, Mạnh Kiến Trụ (Meng Jianzhu) bí thư PLAC đương nhiệm đã nói với người đứng đầu ngành công an, tư pháp, viện kiểm sát và các thành viên an ninh khác được triệu tập tại một cuộc họp cấp quốc gia, rằng ông Tập Cận Bình một lần nữa yêu cầu bộ máy an ninh phải duy trì bộ mặt chuyên nghiệp và kỷ luật – một sự trái ngược hoàn toàn với sự tham nhũng trong guồng máy liên quan đến đối thủ chính trị của ông Tập.

    Tôn giáo
    Động thái rõ ràng nhất của ông Tập có lẽ chính là việc ông Tập chủ trì một hội nghị về tôn giáo vào ngày 22 và 23 tháng 4, một cuộc họp cấp cao đầu tiên bàn về chủ đề này sau 15 năm – và vào ngày kỷ niệm vụ bắt giữ những học viên Pháp Luân Công lần đầu tiên trên qui mô lớn.

    Các lãnh đạo Đảng thường triển khai các cuộc họp quan trọng để thiết lập hoặc thay đổi những chỉ đạo liên quan đến chính sách. Thông điệp chính thường được ẩn giấu trong các câu chữ nhấn mạnh, và mệnh lệnh của Đảng phải được rút ra thông qua việc phân tích ngôn ngữ và ngữ điệu được sử dụng.

    Trong buổi chủ trì hội thảo tôn giáo vào năm 2001, Giang Trạch Dân tuyên bố rằng chính quyền phải khống chế hoàn toàn các giáo phái cho thấy mối đe dọa sống còn đối với sự “ổn định” quyền thống trị của ĐCSTQ. Ông Giang nói thêm rằng “các tôn giáo lệch lạc” phải bị đàn áp, một kết luận phù hợp với những nỗ lực của ông ta hồi đầu năm đó khi cho liên kết 5 tôn giáo được công nhận tại Trung Quốc, [đồng loạt] chống lại Pháp Luân Công, và dàn dựng vở kịch tự thiêu tại quản trường Thiên An Môn để phỉ báng, lăng mạ môn tu luyện tinh thần [Pháp Luân Công].

    Một số nhận xét của ông Tập tại hội nghị đã được xem như là không có gì là mới. Ví dụ như câu nói “cương quyết ngăn ngừa việc thế lực ngoại bang dùng phương tiện tôn giáo để xâm nhập” Trung Quốc, được nhấn mạnh như một trong những câu nói tuyên bố lập trường cứng rắn của ông. Tuy nhiên, những câu nói như thế này là những câu nói sáo mòn, rập khuôn thông thường trong tu từ học của ĐCSTQ. Ngay cả trong các phê phán, chỉ trích vô thần của hệ tư tưởng chính thống của Đảng, một độ sai khác nào đó [về quan điểm] là có thể.

    Trong cuộc họp gần đây về các vấn đề tôn giáo, ông Tập Cận Bình nói rằng các bài giảng về tôn giáo cần được làm “phong phú” và “hài hoà” với văn hóa Trung Quốc. Ông Tập nói thêm rằng ĐCSTQ cần chủ động “định hướng” các nhóm tôn giáo, và rằng việc quản lý các công tác tôn giáo cần phải được thực hiện theo quy định của pháp luật. Bài phát biểu của ông Tập không nhắc đến “các tà giáo”. Ngữ điệu của ông Tập cho thấy sự hòa giải trái ngược với lập trường hiếu chiến của ông Giang Trạch Dân.

    Bài viết về cuộc họp công tác tôn giáo của ông Tập đã chiếm đến ba phần tư trang bìa tờ Nhân dân Nhật báo do Nhà nước quản lý, trong khi đó bài viết tương tự liên quan đến phát biểu của ông Giang chỉ chiếm 1/3 trang này vào năm 2001. Điều này cho thấy ông Tập mong đợi những nhận xét của mình sẽ được thực hiện nghiêm túc.

    Những tiêu đề của Tờ Nhân dân Nhật báo và tờ Tân Hoa Xã đã viết: “cải thiện toàn diện các tiêu chuẩn công tác tôn giáo trong những điều kiện mới”.

    Một gợi ý về sự thay đổi?
    Kể từ khi nhậm chức vào năm 2012, một loạt các hành động mà ông Tập Cận Bình thực hiện, cho dù có chủ định hay không, đã có hiệu quả giảm bớt gánh nặng của cuộc đàn áp mà các học viên Pháp Luân Công phải gánh chịu.

    Là nhóm tù nhân lương tâm đông đảo nhất tại Trung Quốc, và là nhóm người duy nhất bị cơ quan mật vụ cấp cao chuyên trách nhắm để trừ khử, các học viên Pháp Luân Công là những tù nhân chiếm số lượng đông nhất trong các trại lao động qua nhiều năm. Họ cũng là đối tượng được ghi nhận về số lượng bị tra tấn nhiều nhất, theo Thống kê về Tra tấn của chuyên gia Liên Hợp Quốc (UN Special Rapporteur on Torture).

    Nhưng trong tháng 12 năm 2013, hệ thống trại lao động, đàn áp và tra tấn [các học viên] Pháp Luân Công trong một thời gian dài, đã chính thức bị xóa bỏ. Tất nhiên, thay thế nó là “những trung tâm giáo dục pháp luật” (thường được biết đến như là trung tâm tẩy não) – những trung tâm thậm chí còn được quy định ít hơn [trong các văn bản pháp luật của Trung Quốc]. Tuy nhiên, dù sao thì một trong những công cụ chủ yếu để đàn áp [các học viên] Pháp Luân Công cũng đã bị dẹp bỏ.

    Ông Tập cũng đã giám sát việc thúc đẩy những cải cách pháp lý, làm cho các tòa án Trung Quốc có trách nhiệm hơn đối với việc xử lý [các học viên] Pháp Luân Công và các trường hợp khác, và các học viên Pháp Luân Công khắp Trung Quốc đã có thể nộp đơn kiện hình sự đối với Giang Trạch Dân mà không gặp phải bạo lực trực tiếp và có hệ thống. Thực tế, vẫn có nhiều người khiếu kiện bị bắt giữ và ngược đãi, nhưng cũng có những trường hợp khác hoàn toàn được tự do. Điều này hoàn toàn trái ngược với trước đây 1 thập kỷ, thời điểm mà bất kỳ ai khởi kiện Giang Trạch Dân cũng sẽ phải nhận cái chết thê thảm.

    Chiến dịch chống tham nhũng của ông Tập Cận Bình cũng đã chứng kiến rất nhiều quan chức cấp cao của ĐCSTQ, những người vốn được thăng quan tiến chức nhờ vào việc đàn áp [các học viên] Pháp Luân Công, bị cách chức và bị tống giam. Thậm chí ngay cả những tay cộm cán ‘bất khả xâm phạm’ như cựu trùm an ninh Chu Vĩnh Khang , giám đốc Phòng 610 Lý Đông Sinh, lãnh đạo Trùng Khánh đầy tham vọng Bạc Hy Lai – tất cả những người này đều có dính lứu đến cuộc đàn áp [các học viên] Pháp Luân Công, và đều đã bị thanh trừng.

    Cuộc đàn áp [các học viên] Pháp Luân Công đã phải trả giá rất đắt cho hình ảnh của ĐCSTQ – các nguồn lực được dốc vào để đàn áp pháp môn này, khiến cuộc sông tự do của hàng chục triệu công dân Trung Quốc bị tước bỏ vì kiên quyết không từ bỏ đức tin của mình và yêu cầu phải được minh oan. Theo đó, với số lượng đông đảo thành viên tham gia, Pháp Luân Công trở thành dòng chảy xã hội có tính chất quyết định, tác động không nhỏ đến các quan chức và người hoạch định chính sách. [Ngoài ra] cũng có cộng đồng học viên Pháp Luân Công Trung Quốc tại hải ngoại. Họ là những người có tri thức và giáo dục, đang không ngừng làm rõ cuộc bức hại này. Thông qua thư tín và điện thoại, họ trực tiếp tác động đến các quan chức ĐCSTQ, những người đang thực hiện chiến dịch đàn áp tại Trung Quốc.

    Dẫu cho ông Tập Cận Bình chưa bao giờ đưa ra ý kiến công khai về Pháp Luân Công, nhưng yếu tố Pháp Luân Công hiện diện trong tất cả các động thái chính trị mà ông Tập đã thực hiện từ khi lên nắm quyền đến nay, là điều không thể bỏ qua. Hầu hết các động thái gần đây [của ông Tập], tất cả đều diễn ra xung quanh ngày 25 tháng 4, để lại một khoảng không gian lớn để lý giải thông điệp mà ông Tập Cận Bình đang gửi đi. Tuy nhiên, thông điệp này chính xác là gì, sẽ dẫn đến đâu, tất cả đều chưa rõ ràng [và đang chờ đợi ở phía trước].

  12. TỪ MAO TRẠCH ĐÔNG ĐẾN TẬP CẬN BÌNH. Tư liệu mới cập nhật. Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông khởi xướng chính sách được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lịch sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe đế quốc Tây phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau thế chiến lần thứ nhất, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc.”… Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vạch chiến lược “3 mũi nhọn” thâu tóm châu Á và đã tuyên bố tại Thượng Hải “chính người Châu Á phải điều hành công việc của Châu Á, giải quyết các vấn đề của khu vực Châu Á và duy trì an ninh của Châu Á”. Ông ráo riết thực hiện chiến lược “không đánh mà thắng” với một loạt kế sách liên hoàn trên biển Đông thông qua sức mạnh kinh tế và tiến bộ công nghệ. Mưu lược”dương đông kích tây” lợi dụng mâu thuẫn Mỹ Nga và bầu cử tổng thống Mỹ để hướng dư luận ra bên ngoài, rãnh tay dẹp yên trong, trực tiếp nắm lại quân đội. Hôm 25/7, Tòa án quân sự Trung Quốc đã tuyên phạt cựu Phó chủ tịch Quân ủy Quách Bá Hùng tù chung thân, tước quyền chính trị suốt đời, tước quân hàm Thượng tướng và tịch thu toàn bộ tài sản. Nga – Trung chuẩn bị tập trận trên Biển Đông vào tháng 9 tới. Việt Nam tự cũng cố và trầm tĩnh theo dõi. http://vietnamnet.vn/vn/the-gioi/318157/nga-trung-chuan-bi-tap-tran-tren-bien-dong.html

  13. Pingback: Chiến tranh mạng đọc lại và suy ngẫm | Tình yêu cuộc sống

  14. Cấp dưới của cựu phụ tá lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc bị thất sủng tiếp tục ngã ngựa

    http://vietdaikynguyen.com/v3/107307-cap-duoi-cua-cuu-phu-ta-lanh-dao-dang-cong-san-trung-quoc-bi-that-sung-tiep-tuc-nga-ngua/

    Tác giả: Frank Fang, Epoch Times | Dịch giả: Hoàng Anh
    3 Tháng Tám , 2016

    Lệnh Kế Hoạch, phụ tá hàng đầu cho lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Bắc Kinh ngày 8 tháng 3, 2013. (Lintao Zhang/Getty Images)

    Các cấp dưới của quan chức hàng đầu đã bị thanh trừng của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) Lệnh Kế Hoạch tiếp tục bị cách chức trong một nỗ lực để dọn sạch những ảnh hưởng còn sót lại của Lệnh đối với chế độ.

    Lệnh Kế Hoạch, 59 tuổi, từng là Chánh văn phòng Trung ương Đảng và phụ tá cho cựu lãnh đạo Đảng Hồ Cẩm Đào. Ông ta bị bắt vào ngày 20 tháng 7 năm 2015, và bị buộc tội tham nhũng và lĩnh án tù chung thân vào 4 tháng 7 năm nay.

    Gần đây, hai cấp phó của Lệnh đã âm thầm bị đưa ra khỏi vị trí của mình.

    Triệu Thắng Hiên. (cjn.cn)

    Triệu Thắng Hiên, phó Giám đốc Viện khoa học xã hội Trung Quốc, đã bị trục xuất khỏi nhiệm sở vì vi phạm kỷ luật Đảng, theo một thông báo chính thức vào tháng 6.

    Tuy nhiên, một thông báo vào tháng 2 cho thấy Triệu, người khi đó là phó Giám đốc cao nhất trong số 4 phó Giám đốc của Học viện, đã từ chức. Tiểu sử chính thức của Triệu dường như được gỡ bỏ khỏi website của Học viên theo sau thông báo về sự từ chức của ông ta.

    Trong lúc đó, hãng thông tấn nhà nước Tân Hoa Xã tường thuật vào ngày 20 tháng 7 về việc Hạ Dũng (Xia Yong), phó Chánh văn phòng pháp chế Quốc vụ viện (Chính phủ) Trung Quốc, đã “không còn tại nhiệm”. Không có lý do được đưa ra đối với việc rời bỏ vị trí của Hạ, và cũng không có bất cứ thông báo nào về việc ông ta tiếp nhận một công việc khác – một động thái cho thấy Hạ đã bị cho ra rìa.

    Vẫn chưa biết chắc liệu một ngày nào đó Hạ Dũng có bị buộc tội tham nhũng bởi Chính quyền Trung Quốc hay không, tuy nhiên gần đây ông ta đã bị liệt vào danh sách của một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Hoa Kỳ vì dính líu đến một trong những cuộc đàn áp tàn bạo nhất tại Trung Quốc.

    Hạ Dũng. (Tân Hoa Xã)

    Vào năm 2005, Tổ chức Thế giới Điều tra Cuộc đàn áp Pháp Luân Công (WOIPFG) đã nhận dạng Hạ đóng vai trò tích cực trong việc bức hại Pháp Luân Công.

    Pháp Luân Công hay Pháp Luân Đại Pháp, là một môn tu tập tinh thần truyền thống Trung Hoa bao gồm các bài tập thiền định an hòa và các bài giảng dựa trên Chân – Thiện – Nhẫn. Cảm thấy bị đe dọa bởi sự phổ biến của môn tu tập (theo một cuộc điều tra chính thức cho thấy 70 triệu người Trung Quốc đang tập luyện Pháp Luân Công vào năm 1999), cựu lãnh đạo Đảng Giang Trạch Dân đã phát động một chiến dịch đàn áp vào ngày 20 tháng 7 năm đó.

    Khoảng một tuần sau khi cuộc bức hại được ban bố, Hạ Dũng và các học giả khác từ Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc đã lăng mạ công khai Pháp Luân Công bằng việc sử dụng học thuyết Marxist, theo WOIPFG. Hạ sau đó trở thành giám đốc điều hành sáng lập của Hiệp hội chống giáo phái Trung Quốc, một cơ quan điều khiển bởi chế độ dùng cho việc phát tán tuyên truyền chống lại Pháp Luân Công và cung cấp “hướng dẫn” cho việc chuyển hóa tư tưởng một cách ép buộc đối với các học viên tại các trại tạm giam, trại lao động, và các trung tâm tẩy não.

  15. Nhà tưởng niệm Mao sẽ biến mất khỏi Bắc Kinh: quyết định bí mật?
    http://vietdaikynguyen.com/v3/107909-nha-tuong-niem-mao-se-bien-mat-khoi-bac-kinh-quyet-dinh-bi-mat/
    Tác giả: Epoch Times | Dịch giả: Kim Xuân
    8 Tháng Tám , 2016

    Nhà tưởng niệm Mao sẽ biến mất khỏi Bắc Kinh. Quyết định bí mật này đã được giới lãnh đạo Trung Quốc đưa ra, theo tạp chí chính trị Zhengming ở Hồng Kông. Xác ướp của Mao sẽ được chuyển đến thành phố quê hương của ông ta.
    Tượng của Mao, bị phá hủy tại thành phố Văn Xương, tỉnh Hải Nam, năm 2011. (Ảnh: chụp màn hình Weibo – Epoch Times Đức)

    Tượng của Mao, bị phá hủy tại thành phố Văn Xương, tỉnh Hải Nam, năm 2011. (Ảnh: chụp màn hình Weibo – Epoch Times Đức)

    Mới đây, vào cuối tháng 6 năm 2016, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản đã quyết định chuyển Nhà tưởng niệm Mao ra khỏi Bắc Kinh tới thành phố quê hương của ông ta, theo tạp chí chính trị “Zhengming” tại Hồng Kông, ấn bản tháng 8 năm 2016.

    Lăng mộ, nơi có thể nhìn xác ướp của Mao để trong chiếc quan tài thủy tinh, đặt ở Quảng trường Thiên An Môn. Xác ướp của Mao sẽ được chuyển đến Thiều Sơn, tỉnh Hồ Nam.

    Không có tiếng nói chống đối
    Quảng cáo

    Đề nghị di chuyển nhà tưởng niệm do Vương Kỳ Sơn đưa ra, đây là người đứng đầu “Ủy ban Kiểm tra kỷ luật”. Những người ủng hộ đề xuất này còn có Giám đốc nhân sự của Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản và Phó Chủ tịch nước. Kết quả bỏ phiếu là 23 phiếu tán thành, 2 phiếu trắng, có nghĩa là không có bất kỳ phiếu chống nào.

    Quyết định sẽ được thực thi ngay sau Hội nghị toàn thể của Đảng Cộng sản vào mùa thu năm 2017, khi đó sẽ bầu Bộ Chính trị mới.

    Nhà tưởng niệm Mao- một hòn đá tảng

    Sau khi quyết định được thông qua, Tập Cận Bình đã có lời phát biểu, theo tin của tạp chí chính trị ở Hồng Kông.

    Vấn đề “Nhà tưởng niệm Mao” sớm hay muộn cũng phải được giải quyết, ông Tập phát biểu, không còn hợp lý để tồn tại tòa nhà này, với bất cứ lý do nào. Ông dẫn lời Đặng Tiểu Bình, người đã nói tại thời đó, rằng việc dựng lăng là một quyết định chính trị sai lầm.

    Quyết định xây Nhà tưởng niệm đã được đưa ra nhanh chóng, sau khi Mao chết vào ngày 9 tháng 9 năm 1976. Ngày 24 tháng 11 trong cùng năm, viên gạch đầu tiên được đặt, còn ngày 24 tháng 5 năm sau đó là ngày làm lễ khánh thành. Hàng ngày, hàng nghìn người đứng xếp hàng để vào viếng xác của “vị chủ tịch vĩ đại”.

    Đề nghị di chuyển nhà tưởng niệm đã được đưa ra nhiều lần, cho đến cuối năm 2015, 21 đại diện của nhân dân đã ký một bản yêu cầu để di chuyển lăng của Mao.

    Trong 5 năm qua tại Trung Quốc đã gia tăng các trường hợp người dân đập phá tượng Mao. Những chính sách của Mao đã lấy đi hàng chục triệu sinh mạng.

    Mao, qua đời năm 1976, vẫn còn là một nhân vật gây tranh cãi. Nhà lãnh đạo đáng kính của những người Cộng sản, được coi là kẻ giết người hàng loạt lớn nhất trong lịch sử, chịu trách nhiệm trực tiếp hay gián tiếp về cái chết của 80 triệu người Trung Quốc – theo một số tính toán. Một nửa trong số này đã chết trong nạn đói do chính sách hoang tưởng của cuộc Đại Nhảy Vọt gây ra. Bảy triệu người khác bị sát hại dã man trong cuộc Cách mạng Văn hóa, số còn lại là nạn nhân của các làn sóng thanh trừng, tra tấn và tù đày liên tiếp diễn ra để khủng bố nhân dân Trung Quốc.

    Thông tin thêm về nạn nhân của Cộng sản Trung Quốc, vui lòng đọc “Cửu Bình“.

  16. Pingback: Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình tư liệu mới | Tình yêu cuộc sống

  17. ÔNG VƯƠNG NGHỊ BỊ QUỞ TRÁCH VÌ NGOẠI GIAO THẤT SÁCH?

    CNM365. Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình, thông tin mới ÔNG VƯƠNG NGHỊ BỊ QUỞ TRÁCH VÌ NGOẠI GIAO THẤT SÁCH? Trang tin Trần Đại Quang thứ ba, 23/08/2016, 14:00 (GMT+7) http://trandaiquang.org/ong-vuong-nghi-bi-quo-trach-vi-ngoai-giao-that-sach.html dẫn nguồn Giáo dục Việt Nam mục tin Thế giới, cho hay: Văn phòng ông Tập Cận Bình ở Trung Nam Hải vang lên những cơn thịnh nộ, mà kẻ chịu trận không ai khác là Ngoại trưởng Vương Nghị. Lời bình luận có các chi tiết đáng chú ý: Trước mắt, mục tiêu của Trung Nam Hải là tổ chức tốt G-20, muốn giải quyết bài toán kinh tế chuyển hướng mô hình tăng trưởng (từ chữ V) sang chữ L thì Bắc Kinh cần duy trì môi trường hòa bình và ổn định ở châu Á. Vì vậy chính sách đối ngoại của Trung Quốc tới đây cũng phải hết sức thận trọng, tỉnh táo, đầu tiên là kiểm soát xu hướng chủ nghĩa dân tộc (cực đoan), những tiếng nói chỉ trích sẽ ít đi, ngay cả Thời báo Hoàn Cầu cũng không được quá đà, quá trớn. Chính sách đối ngoại hiện hành của Trung Quốc thất bại vì đứng trên pháp luật. Có chuyện Ngoại trưởng Vương Nghị bị ông Tập Cận Bình quở trách hay không, Trung Nam Hải có nhận thấy những thất bại trong chính sách ngoại giao của mình gần đây hay không, người viết không thể kiểm chứng.”

    Tuần san Tài Tấn, Đài Loan số 509 đăng bài bình luận của tác giả Cao Đạt Mỹ về những thất bại trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc gần đây.

    Cao Đạt Mỹ nhận định: “Bắc từ Hàn Quốc, Nam đến Việt Nam, một chuỗi đảo mới vây Trung Quốc đang dần xuất hiện, mà kẻ đứng sau đạo diễn là Hoa Kỳ.

    Chiến lược đối ngoại của Tập Cận Bình ra quân thất bại, đối nội thì càng gỡ càng rối, nếu không nghĩ cách giải vây thì “CEO” thất bại sẽ bị buộc phải từ chức.”

    Thất bại của ngoại giao Trung Quốc

    Cao Đạt Mỹ liệt kê một số sự kiện được tác giả nhận định là thất bại của ngoại giao Trung Quốc dưới thời ông Tập Cận Bình.

    Thứ nhất là vụ Mỹ – Hàn tuyên bố hôm 8/7 rằng sẽ lắp đặt hệ thống phòng thủ tên lửa THAAD tại Hàn Quốc. Bán kính quan trắc hệ thống ra đa của THAAD khoảng 1500 km, bao trùm toàn bộ Đông Bắc Trung Quốc.Nói cách khác là các hoạt động quân sự của Bắc Kinh ở khu vực Đông Bắc nằm trong tầm ngắm của ra đa Mỹ – Hàn.

    Trong khi đó chỉ mới đây thôi, ngày 3/9 năm ngoái, Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye là nhà lãnh đạo “duy nhất từ các nước phát triển” sang Thiên An Môn dự cuộc duyệt binh hoành tráng, làm ông Tập Cận Bình được “nở mày nở mặt”.

    Tiếp đến, ngày 12/7 vừa qua Hội đồng Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII, UNCLOS 1982 ra phán quyết vụ kiện Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc, hủy bỏ đường lưỡi bò cũng như hiệu lực pháp lý của các đảo nhân tạo Trung Quốc bồi lấp (bất hợp pháp) ở Trường Sa (Khánh Hòa, Việt Nam).

    Trước đó tại Đài Loan, Tiến sĩ Thái Anh Văn lên nắm quyền và theo đuổi đường lối thân Mỹ – Nhật, giữ khoảng cách với Bắc Kinh. Còn chính quyền Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe sửa đổi Hiến pháp hòa bình để đối phó với mối uy hiếp từ Trung Quốc.

    Ngoại giao thất sách, Vương Nghị bị quở trách

    Tác giả Cao Đạt Mỹ nhận định, sau khi lên nắm quyền, ông Tập Cận Bình ra sức thúc đẩy chính sách “ngoại giao nước lớn”, nhưng không ngờ lại sớm thất bại.

    Tạp chí Foreign Policy, Hoa Kỳ cho rằng, sự thất bại của Trung Quốc trong vụ kiện trọng tài Biển Đông là một đòn thất bại tiếp theo giáng vào chính sách đối ngoại của Trung Quốc, tạo cơ hội để Mỹ quay trở lại châu Á.

    Một vị giáo sư về quan hệ quốc tế thuộc Đại học Nhân Dân Trung Quốc giấu tên cho biết, những thất bại liên tiếp là do Bắc Kinh liên tục mắc sai lầm khi nhận định tình hình.

    Ngành ngoại giao Trung Quốc đầu năm nay còn trình lên Tập Cận Bình báo cáo nhận định như đinh đóng cột, quan hệ đối tác chiến lược Trung – Hàn đang ở đỉnh cao, Park Geun-hye không thể chỉ một đêm lại ngả theo Mỹ.

    Chỉ nửa năm sau, tình báo Hoa Nam nắm được thông tin Mỹ – Hàn chuẩn bị bố trí THAAD tại Hàn Quốc. Văn phòng ông Tập Cận Bình ở Trung Nam Hải vang lên những cơn thịnh nộ, mà kẻ chịu trận không ai khác là Ngoại trưởng Vương Nghị.

    Ông Nghị là người thứ 2 bị Tập Cận Bình quở trách, sau Trương Chí Quân – Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề Đài Loan do dự đoán tình hình eo biển không chuẩn xác.

    Còn trong vụ kiện Biển Đông, ông Tập Cận Bình hoàn toàn tin tưởng, yên tâm vào báo cáo của cấp dưới về việc, năm 1996 khi phê chuẩn UNCLOS 1982 Trung Quốc đã bảo lưu quyền miễn trừ giải quyết tranh chấp lãnh thổ và phân định biển thông qua cơ chế tài phán, nên ông chẳng thèm quan tâm tới vụ kiện của Philippines.

    Ai ngờ Manila thuê được đội ngũ luật sư “trong mơ” về UNCLOS 1982, tìm ra khe hẹp kiện Trung Quốc về áp dụng, giải thích UNCLOS 1982 mà không liên quan gì đến tranh chấp lãnh thổ hay phân định biển.

    Tháng 11 năm ngoái (thực tế là 25/10/2015), Hội đồng Trọng tài ra phán quyết có đủ thẩm quyền xem xét, thụ lý vụ kiện của Philippines (7/15 nội dung, 8 nội dung còn lại sẽ xem xét trong quá trình xét xử), giới học giả pháp lý quốc tế và các cơ quan ngoại vụ Trung Quốc đã kiến nghị với ông Tập Cận Bình rằng, Trung Quốc nên tham gia vụ kiện.

    Tuy nhiên ông Tập Cận Bình quyết theo đuổi chính sách “3 Không”: Không tham gia, không chấp nhận, không thừa nhận vụ kiện.

    Sự vắng mặt của Trung Quốc đã trao quyền cho Chủ tịch Tòa án Quốc tế về Luật Biển Shunji Yanai người Nhật quyền bổ nhiệm 4 thành viên còn lại của Hội đồng Trọng tài 5 thành viên xét xử vụ kiện, đó là nguyên nhân dẫn đến thất bại.

    Trung Nam Hải quay sang lôi kéo Tokyo, Trung Quốc cần hòa bình nếu muốn phát triển kinh tế

    Cao Đạt Mỹ dẫn lời một vị giáo sư từ Đại học Bắc Kinh cho biết: giai đoạn trước và sau phán quyết trọng tài, các chuyến bay từ Trung Quốc qua Mỹ thường xuyên có các quan chức và học giả Trung Quốc sang tìm cách thỏa hiệp với Washington về biện pháp kiểm soát rủi ro trên Biển Đông.

    Cho dù về mặt ngoại giao, Bắc Kinh vẫn răn đe Nhật Bản không được can thiệp vào Biển Đông, nhưng bên lề hội nghị thượng đỉnh Á – Âu tại Mông Cổ, Lý Khắc Cường vẫn gặp Shinzo Abe.

    Thông tin mới nhất cho biết, bên lề hội nghị thượng đỉnh G-20 đầu tháng Chín này tại Hàng Châu, Tập Cận Bình có khả năng cũng sẽ hội đàm với Shinzo Abe để đổi lấy sự hạ nhiệt của Tokyo trong vấn đề Biển Đông.

    Trong thời gian diễn ra hội nghị Bắc Đới Hà, tại Bắc Kinh xuất hiện tin đồn, ông Tập Cận Bình đã rút lại ý định thăm dò khả năng bãi bỏ chế độ Thường vụ Bộ chính trị, mà đợi đến Đại hội 19 sang năm.

    Trước mắt, mục tiêu của Trung Nam Hải là tổ chức tốt G-20, muốn giải quyết bài toán kinh tế chuyển hướng mô hình tăng trưởng (từ chữ V) sang chữ L thì Bắc Kinh cần duy trì môi trường hòa bình và ổn định ở châu Á.

    Vì vậy chính sách đối ngoại của Trung Quốc tới đây cũng phải hết sức thận trọng, tỉnh táo, đầu tiên là kiểm soát xu hướng chủ nghĩa dân tộc (cực đoan), những tiếng nói chỉ trích sẽ ít đi, ngay cả Thời báo Hoàn Cầu cũng không được quá đà, quá trớn.

    Chính sách đối ngoại hiện hành của Trung Quốc thất bại vì đứng trên pháp luật

    Có chuyện Ngoại trưởng Vương Nghị bị ông Tập Cận Bình quở trách hay không, Trung Nam Hải có nhận thấy những thất bại trong chính sách ngoại giao của mình gần đây hay không, người viết không thể kiểm chứng.

    Bài viết của tác giả Cao Đạt Mỹ có ý phê phán chính sách đối ngoại của Trung Quốc, nhưng lại dùng nhãn quan, lăng kính chính trị của Bắc Kinh để mổ xẻ vấn đề, nên khó tránh khỏi việc lập luận thiếu tính thuyết phục.

    Người viết không bình luận về nhận xét của nhà nghiên cứu Cao Đạt Mỹ rằng, chính sách đối ngoại hiện hành của Trung Quốc đã thất bại, bởi lẽ mục đích của Trung Nam Hải trong các hoạt động đối ngoại, trong các sự kiện này là gì còn chưa được làm rõ.

    Nhưng có một thực tế rất rõ là các hành xử của Trung Quốc trên Biển Đông đang làm xấu đi hình ảnh của nước này.

    Một số nhận xét của tác giả Cao Đạt Mỹ còn mang tính chất tìm cách biện bạch cho cái tác giả gọi là sự thất bại của Trung Quốc. Nguyên nhân tác giả chỉ ra không thuyết phục được người viết. Xin chia sẻ cụ thể:

    Thứ nhất, việc Mỹ – Hàn tuyên bố sẽ đàm phán việc lắp đặt hệ thống phòng thủ tên lửa THAAD tại Hàn Quốc không phải Seoul “phản bội” Bắc Kinh, mà chính là hiệu ứng gậy ông đập lưng ông do chính sách của Trung Quốc luôn dùng Triều Tiên như con bài chính trị.

    Thiện chí và nhu cầu phát triển quan hệ Trung – Hàn từ Seoul là có thật, không chỉ bởi thị trường 1,3 tỉ dân cũng như nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào của Trung Quốc, mà còn bởi ảnh hưởng của Bắc Kinh đến các hành vi của Bình Nhưỡng.

    Chính quyền Tổng thống Park Geun-hye đã rất kỳ vọng vào ông chủ mới của Trung Nam Hải có thể kiểm soát các hành vi đe dọa từ Bình Nhưỡng, nhưng càng về sau Bắc Kinh càng làm Seoul thất vọng.

    Để đảm bảo an ninh, Seoul phải quay về với đồng minh truyền thống – Hoa Kỳ.

    Thứ hai, Trung Quốc leo thang quân sự hóa Biển Đông, kéo tên lửa phòng không HQ-9, tên lửa chống hạm YJ-63 và chiến đấu cơ JH-7, J-11 ra bố trí bất hợp pháp ở Hoàng Sa (Đà Nẵng, Việt Nam), trực tiếp đe dọa an ninh các nước ven Biển Đông trong khi lại chỉ trích, phản đối Mỹ – Hàn lắp THAAD trên lãnh thổ Hàn Quốc.

    Đó là kiểu hành xử tiêu chuẩn kép, cái gì có lợi cho mình thì vơ vào mà không quan tâm đến lợi ích hợp pháp hay nhu cầu chính đáng của các nước láng giềng.

    Gốc rễ các vấn đề đối ngoại mà Trung Quốc đang gặp phải hiện nay đến từ tư duy Đại Hán, muốn xưng hùng xưng bá trong thiên hạ thay vì trỗi dậy hòa bình như đã tuyên bố.

    Thay vì thượng tôn pháp luật, Trung Quốc lại đang thể hiện mình là quốc gia đứng trên pháp luật, ngoài vòng pháp luật.

    Chỉ khi nào nhận thức này thay đổi và được thể hiện bằng hành động có trách nhiệm với việc bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực, hợp tác cùng có lợi trên cơ sở luật pháp quốc tế, Trung Quốc mới có thể có chỗ đứng trong lòng người.

    (Theo Giáo Dục Việt Nam)

  18. Pingback: Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình tư liệu mới | Tình yêu cuộc sống

  19. Mao Trạch Đông và Biến cố Thiên An Môn 1976. Nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2016/09/28/mao-trach-dong-bien-co-thien-an-mon-1976/. Tác giả: Lưu Á Châu | Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành

    Mao Trạch Đông phát động cuộc Đại Cách mạng Văn hóa, thả lũ ma quỷ ra khỏi chiếc bình của ông nhưng sau đấy không thể nào thu hồi lại chúng. Dân tộc [Trung Hoa] cổ xưa này nhiễm phải một cơn sốt điên cuồng chẳng khác ông già rơi vào lưới tình. Hỡi các bạn trẻ, hãy nghĩ tới tình cảnh bạn bị một bà lão điên cuồng theo đuổi mình. Hãy nhớ lấy đôi mắt cháy bỏng và cặp vú khô đét ấy. Đó là cuộc Đại Cách mạng Văn hóa.

    Thời gian biểu ban đầu của Mao Trạch Đông là: sau một đến hai năm thì Đại Cách mạng Văn hóa kết thúc thắng lợi, Lưu Thiếu Kỳ trở thành tù binh, Mao Trạch Đông dẫn toàn Đảng tiếp tục lên đường. Ông tuyệt nhiên không ngờ rằng cuộc cách mạng ấy như con ngựa hoang phi nước đại, ông hoàn toàn chẳng thể điều khiển được nó. Sự phản bội của Lâm Bưu là một cú đánh đẹp giáng vào ông. Mao Trạch Đông tín nhiệm Lâm Bưu đến mức cái gì có thể cho hắn thì đã cho hết, nhưng Lâm Bưu vẫn chưa thỏa mãn. Hiển nhiên hắn còn muốn một thứ quý giá hơn: tính mạng Mao Trạch Đông.

    Đúng là cuối cùng Lâm Bưu hoảng hốt bỏ trốn. Nhưng trước khi hắn trốn đi, chẳng phải Mao Trạch Đông cũng hốt hoảng lo hết hồn đấy ư? Trên đường đi thị sát miền Nam trở về, để tránh bị Lâm Bưu phục kích, Mao Trạch Đông thoắt đi thoắt dừng, mỗi ngày mấy lần thay đổi kế hoạch đi đường, khiến mọi người chẳng biết thế nào. Sau khi đến địa phận Bắc Kinh, ông lặng lẽ xuống tàu tại ga Phong Đài. Nhà thống trị mà lại hành động lén lút như vậy trên địa bàn mình thống trị thì quả thật là bi đát.

    Sau vụ Lâm Bưu, nhân dân cả nước kinh ngạc chú ý tới một hiện tượng: Mao Trạch Đông già sọm đi một cách không thể nào cưỡng lại. Đem so sánh ảnh chụp tuần này tiếp khách nước ngoài với ảnh chụp tiếp khách tuần trước, nhất định thấy khác nhau. Trên ý nghĩa ấy mà nói thì Lâm Bưu không hoàn toàn thua: rốt cuộc hắn đã làm Chủ tịch Mao tổn thọ. Cú đánh này quả là nặng nề nhưng chưa phải nặng nhất.

    Cú đánh nặng nhất đến từ QUẢNG TRƯỜNG THIÊN AN MÔN. Tôi muốn nói về SỰ KIỆN THIÊN AN MÔN NGÀY 5 THÁNG TƯ (năm 1976).

    Trung Quốc năm 1976 là Trung Quốc chơi trò thâm trầm.[1] Nhân dân đang suy nghĩ. Mấy chục năm sau phong trào Ngũ Tứ [cuộc nổi dậy ngày 4 tháng 5 năm 1919 của học sinh Bắc Kinh tại Quảng trường Thiên An Môn chống chính phủ phản động và bị chúng đàn áp đẫm máu], dân Trung Quốc không được phép suy nghĩ. Lãnh tụ thay họ nghĩ xong cả rồi.

    Nô lệ có suy nghĩ là nô lệ nguy hiểm. Nhìn tổng thể, họ không thích suy nghĩ. Năm 1976, một bộ phận nhân dân hơi động não suy nghĩ một chút, thế là tòi ra “Sự kiện Thiên An Môn ngày 5 tháng Tư”. Sau đấy, khi Hoa Quốc Phong đập tan “Bè Lũ Bốn Tên” thì nhân dân lại không suy nghĩ nữa.

    Cách mạng Văn hóa là con hổ giấy, chưa cần nói nó không chịu nổi một cú chọc phá mà nó thậm chí không chịu nổi sự suy nghĩ. Khi [nhân dân] vừa bắt đầu suy nghĩ thì nó đã tan vỡ. Mọi người phát hiện thấy Cách mạng Văn hóa là trò không tưởng. Ê kíp nhà thiết kế đầu tiên trò không tưởng này là những người có tâm. Nhưng hiện nay những người chống không tưởng mới là người có tâm. Tiếp tục tiến hành Cách mạng Văn hóa là điều không thể được – rốt cuộc trò diễn thì vẫn là trò diễn. Nhân dân phản đối Cách mạng Văn hóa, mà phản đối Cách mạng Văn hóa tức là phản đối Mao Trạch Đông.

    Đây là linh hồn của “Sự kiện Thiên An Môn ngày 5 tháng Tư”. Thương tiếc Chu Ân Lai là một phát súng giả vờ tấn công, thực ra là để rút lui….. Mọi người đang tìm điểm bùng nổ. Sự qua đời của Chu Ân Lai đến vừa đúng lúc, cuối cùng ông đã đem lại cơ hội cho nhân dân.

    Con người ấy chết có chút bi thảm. Chu Ân Lai phối hợp cực kỳ hoàn hảo với Mao Trạch Đông. Đó là do Chu vô cùng thận trọng. Ông thận trọng đến mức thế này: trong lần dự tiệc chiêu đãi Khrushchev thăm Trung Quốc, khi vị khách ấy nâng cốc muốn chạm cốc với Chu Ân Lai, nhưng vì thấy Mao Trạch Đông không nâng cốc nên Chu cũng nhất quyết không nâng cốc.

    Nếu Nhà nước làm quốc tang cho Chu Ân Lai, nếu Mao Trạch Đông đến viếng hoặc dự lễ truy điệu Chu Ân Lai thì sẽ chẳng xảy ra chuyện gì sất. Sau khi Chu Ân Lai qua đời, Uông Đông Hưng, Trương Diệu Từ đã điều tra thăm dò xong tuyến đường từ Trung Nam Hải đến Bệnh viện Bắc Kinh, tưởng rằng Mao Trạch Đông sẽ đi [viếng Chu Ân Lai], nhưng rốt cuộc ông không đi. Vì thế mà Uông Đông Hưng có cằn nhằn hai câu. Trương Ngọc Phượng cũng ứa nước mắt khuyên Mao đi, nhưng ông từ chối.

    Nói cho công bằng thì Mao Trạch Đông chẳng còn hơi sức đâu mà đi, ông đang ốm sắp chết. Nên phải nói là trong mấy hôm ấy ông chẳng làm sai điều gì. Trừ chuyện đốt pháo khiến người ta có chút khó hiểu ra thì về cơ bản Mao Trạch Đông không có gì phải hổ thẹn.

    Chu Ân Lai chết [ngày 8/1/1976] được mấy hôm thì đến Tết Nguyên đán. Đêm giao thừa, cả nước không có một tiếng pháo nào. Tôi dám đánh cuộc là không. Nhưng Mao Trạch Đông lại dặn bọn Trương Ngọc Phượng đi kiếm pháo về rồi đem đốt thả cửa trước cổng bể bơi [về cuối đời, Mao sống ở khu nhà có bể bơi trong Trung Nam Hải]. Lúc ấy Mao đã yếu lắm, phải có người dìu để ông chơi trò đốt pháo nổ hai lần [lần nổ đầu, quả pháo phọt lên cao chừng mươi mét rồi lại nổ lần nữa]. Trước đây ông chưa bao giờ tự mình đốt pháo, thế mà hôm nay ông đã châm lửa đốt pháo. Khuôn mặt sắp chết của ông nở nụ cười thanh thản. Tối hôm ấy Chủ tịch Mao và tốp nhân viên phục vụ ông đốt rất nhiều pháo. Sáng hôm sau, người ta dùng xe tải 301 chở xác pháo đi.

    Tóm lại, nhân dân không thể nào chịu đựng được nữa, dù là người biết sự thật hay không biết. Tháng Tư, cuộc chiến đấu quyết tử bắt đầu. Một lần nữa, quảng trường Thiên An Môn lại trở thành ngôi sao sáng. Dường như người dân toàn Trung Quốc đều đã kéo tới quảng trường này. Tại đây, những người ông của họ từng kịch chiến chặn đoàn ngựa của bọn quân phiệt. Những người cha của họ từng tới đây vui mừng chào đón ngày thành lập nước cộng hòa. Bản thân họ từng đến quảng trường này, khóc sướt mướt thề trung thành với Cách mạng Văn hóa. Nhưng bây giờ họ chống lại cuộc cách mạng ấy.

    Mấy hôm đó, Mao Trạch Đông chăm chú theo dõi tình hình Quảng trường Thiên An Môn. Ông cùng nhịp thở, chung số phận với Quảng trường. Cho dù ông đã gần đất xa trời nhưng điều đó không ngăn cản ông nắm tình hình Quảng trường. Sau này Hoa Quốc Phong có nói gì đây, rằng Giang Thanh, Mao Viễn Tân che giấu lừa dối Chủ tịch Mao. Hoa Quốc Phong nói thế là có ý đồ riêng mà thôi. Chẳng ai có thể che giấu lừa dối nổi Chủ tịch, trừ Lâm Bưu.

    Hồi ấy Mao Trạch Đông có tâm trạng rất nặng nề. Trước đây Quảng trường thuộc về ông. Bây giờ nó không thuộc về ông nữa. Mao buồn bã hiểu được rằng tuần trăng mật của mình với Quảng trường đã chấm dứt, ông không còn là người trong Quảng trường Thiên An Môn. Ông cố sức ở lại, nhưng Quảng trường không còn thu nhận ông nữa. Nó vứt bỏ ông rồi.

    Hôm ấy, khi Mao Viễn Tân đọc cho Mao Trạch Đông nghe bài thơ bị Bộ Công an xác định là bài thơ phản cách mạng số 001, mặt ông tái nhợt.

    Dục bi văn quỷ khiếu,

    Ngã khóc tài lang tiếu,

    Sái lệ tế hùng kiệt,

    Dương mi kiếm xuất sáo.

    Tạm dịch ý: “Muốn buồn nghe quỷ kêu/ Ta khóc, lang sói cười/ Rơi lệ tế hùng kiệt/ Ngước mắt tuốt gươm ra”.[2]

    Mao Viễn Tân vừa đọc vừa liếc nhìn ông chú mình, chỉ sợ ông lên cơn thịnh nộ. Nhưng ông không nổi giận mà nặng nề thở một hơi dài rồi gục đầu xuống. Mấy sợi tóc bạc lơ thơ không che nổi cái đầu đã hói nhẵn. Có đến mấy chục phút ông gục đầu như thế không nói một lời. Mao Viễn Tân tưởng chú mình đã ngủ bèn khẽ quay người định đi ra, ai ngờ ông chú bỗng dưng mở miệng: “Rơi lệ hay là rơi máu?” “Rơi lệ.”

    Khi viết “Giản báo” [Báo cáo ngắn], Diêu Văn Nguyên [một thành viên trong Bè Lũ Bốn Tên] lập tức sửa câu đó thành “ Rơi máu tế hùng kiệt”.

    Đêm khuya ngày 5 tháng Tư, đại binh xuất quân, một trận quét sạch Quảng trường Thiên An Môn. Lại một lần nữa Quảng trường ngập máu tươi. Vương Hồng Văn ngồi trong Đại lễ đường nhân dân chỉ huy cuộc tàn sát này.

    Sau khi dọn dẹp xong chiến trường, Vương hớn hở đến Trung Nam Hải gặp Mao Trạch Đông. Chủ tịch mặc quần áo ngủ đang nằm trên giường đọc “Hồng Lâu Mộng”.

    Vương Hồng Văn nói: “Thưa Chủ tịch, chúng ta thắng rồi!”

    Trái ngược với thần sắc mừng rỡ của Vương Hồng Văn, khuôn mặt Mao Trạch Đông đầy vẻ sầu muộn. Ông đang đọc đến đoạn Bảo Ngọc thành hôn với Bảo Thoa. Lâm Đại Ngọc một mình nằm trên giường lắng nghe tiếng đàn sáo tưng bừng từ phía xa vẳng lại, chắc hẳn cô cũng tưởng tượng ra cảnh tình nhân của mình giờ này đang làm tình với kẻ khác, nghĩ đến chuyện ấy, lòng cô đau như cắt. Vốn là người mềm yếu thấy hoa rụng cũng khóc, thế mà lúc này mắt Đại Ngọc lại ráo hoảnh, cô nói: “Bảo Ngọc, ní hảo……”. Không có đoạn viết tiếp.

    Vương Hồng Văn oang oang kể lại trận kịch chiến trên Quảng trường Thiên An Môn, miệng bắn nước bọt tung tóe. Mao Trạch Đông vẫn nằm như cũ, không ngẩng đầu lên. Vương Hồng Văn báo cáo xong, chờ đợi vị Thầy dẫn đường của mình khen ngợi. Chẳng ngờ Mao Trạch Đông nói: “Đại Ngọc nói: ‘Bảo Ngọc, ní hảo [chào anh]……’, hảo cái gì thế? Đây thật là bí ẩn muôn đời. Ní hảo cái lòng lang dạ thú ư? Ní hảo hao [anh gắng mà] chiều Bảo Thoa ư? Anh không trông nom việc nhà ư?……”

    Vương Hồng Văn tiu nghỉu. Mao Trạch Đông hoàn toàn chẳng nhìn Vương Hồng Văn, mà tiếp tục lúng búng trong miệng: “Ní hảo hao [anh gắng mà] ngủ ư? Ní hảo [anh thật] khổ ư? Anh thật khổ…… Anh thật khổ? À, đúng rồi, là câu: Anh thật khổ. ……”

    Ngày mồng 6 tháng Tư, Bộ Chính trị họp, xác định sự kiện Thiên An Môn là bạo loạn phản cách mạng. Mao Trạch Đông tay run rẩy viết lời phê duyệt: “Sĩ khí hăng hái lớn, tốt! Tốt! Tốt! Một Thủ đô, hai Thiên An Môn, ba đốt đánh, tính chất đã thay đổi rồi.”[3]

    Tối hôm ấy ông ốm. Sốt. Ho, đờm có máu. Ông bảo mọi người sĩ khí hăng hái lớn mà sĩ khí của ông thì không gượng dậy nổi. Hôm ấy do tâm trạng chán chường, ông nói nhiều nhất đến cái chết. Vương Hồng Văn đến thăm ông, ông hỏi người kế vị trẻ tuổi này: “Sau khi tôi chết rồi, Trung Quốc sẽ xảy ra chuyện gì?”

    Trước đây một năm, ông từng hỏi Vương Hồng Văn và Đặng Tiểu Bình cùng một vấn đề như vậy. Vương trả lời: “Toàn Đảng sẽ tự giác thi hành đường lối cách mạng của Chủ tịch Mao, tiến hành cách mạng đến cùng.” Đặng ồm ồm nói: “Quân phiệt hỗn chiến.” Mao Trạch Đông tán thưởng câu nói của Đặng.

    Lúc này Vương Hồng Văn ngớ người ra một lúc, rồi chớp lấy cái khôn lỏi của Đặng Tiểu Bình, Vương khẽ trả lời: “Quân phiệt hỗn chiến”.

    Mao Trạch Đông lườm Vương một cái: “Nói bậy nào.”

    Trương Ngọc Phượng cho ông uống thuốc. Ông vuốt ve tay cô: “Bác kể cho cháu nghe câu chuyện này. Hôm ấy ở Diên An trời mưa có sấm sét. Ông Chủ tịch huyện bị sét đánh chết. Bà con bảo nhau, sét đánh không chết Mao Trạch Đông. Bác rút ra một kết luận: sét đánh bác không chết nhưng bệnh tật thì có thể đánh chết bác.” Trương Ngọc Phượng đưa thìa thuốc vào miệng ông. Miệng ông run lập cập, thuốc rớt ra ngoài.

    Tối hôm ấy Mao Trạch Đông muốn xem phim. Trương Ngọc Phượng lấy từ Văn phòng Trung ương về một bộ phim mới “Cuộc chiến đấu khó quên”. Hôm nay Mao Trạch Đông ốm, cho nên người ngồi bên cạnh ông là cô Y tá trưởng của Phòng khám bệnh Trung Nam Hải. Đoạn mở đầu phim có cảnh Giải phóng quân giải phóng được một thành phố, quân đội xếp hàng tiến vào. Dân chúng tay cầm những lá cờ nhỏ đứng hai bên đường chào đón. Bỗng dưng Y tá trưởng cảm thấy có một luồng hơi ẩm thoảng qua. Cô nhìn Mao Trạch Đông và giật mình. Hai dòng nước mắt lóng lánh hiện lên trên khuôn mặt ông. Mao Chủ tịch khóc rồi! Y tá trưởng để ý thấy nước mắt ông tiếp tục trào ra. “Chủ tịch sao thế ạ?” – cô hỏi.

    Trên màn ảnh hiện lên cảnh một đám học trò đem những bọc cơm nhỏ tặng các chiến sĩ Giải phóng quân. Mao Trạch Đông chỉ lên màn ảnh hỏi Y tá trưởng: “Cháu có mặt trong đám học trò này không đấy?” Ông biết rằng hồi mới giải phóng, Y tá trưởng là học sinh Thượng Hải. Đúng là năm ấy cô cũng đứng trong đoàn người ra đường hoan nghênh bộ đội ta. Mao Trạch Đông hỏi thế làm Y tá trưởng bỗng dưng chẳng biết vì sao cảm thấy trong lòng xót xa, nước mắt vỡ òa ứa ra. Cô gật gật đầu: “Thưa vâng, cháu có ở đấy ạ.”

    Mao Trạch Đông cũng gật gật đầu. Hơi ẩm từ khuôn mặt ông tỏa ra càng nhiều hơn. Xa một chút vẳng lên tiếng thút thít, đó là Trương Ngọc Phượng. Các nhân viên phục vụ khác cùng khóc theo. Những giọt nước mắt của Mao Trạch Đông đã truyền cảm cho mọi người. Ngược lại, tiếng khóc của họ lại truyền cảm cho ông.

    Mao Trạch Đông, bàn tay sắt thống trị Trung Quốc mấy chục năm nay, khi vợ con chết ông đều chưa hề nhỏ một giọt nước mắt, thế mà bây giờ lại thút thít khóc thành tiếng. Mỗi lúc càng không thể kiềm chế mình, ông lấy tay bưng mặt, nước mắt chảy qua kẽ tay rơi xuống. Tiếng khóc vang lên khắp gian phòng. Buổi chiếu phim không thể tiếp tục được nữa. Trương Ngọc Phượng và Y tá trưởng dìu Mao Trạch Đông đi ra…..

    Thượng Đế dùng một chữ “sinh” để trưng bày tác phẩm của mình, sau đó dùng một chữ “Tử” thu về tất cả. Nửa năm sau sự kiện Thiên An Môn, Mao Trạch Đông từ giã cõi đời.

    Lưu Á Châu sinh 1952, hội viên Hội Nhà văn Trung Quốc, Ủy viên Trung ương ĐCSTQ khóa XVIII, Thượng tướng, Chính ủy Đại học Quốc phòng Trung Quốc, con rể cựu chủ tịch nước Trung Quốc Lý Tiên Niệm, có quan điểm phê phán Khổng Tử và Mao Trạch Đông.

    Hình: Người dân tưởng niệm Chu Ân Lai trên Quảng trường Thiên An Môn năm 1976.

    Nguồn: Ba bài viết của Thượng tướng Lưu Á Châu làm rúng động lòng người Trung Quốc: Phác họa chân dung Mao, Lưu, Chu. Bài một: “Chứng nhân của quảng trường”. 刘亚洲上将令人震撼的三篇文章:写意毛刘周 – 《广场的见证》

    —————

    [1] Từ Hán-Việt là ngoạn thâm trầm; từ này không có trong từ điển. Tạm hiểu là đùa cợt với sự thâm trầm. Người thâm trầm là người sắc sảo, rất hiểu biết nhưng kín đáo. Kẻ chơi trò thâm trầm là kẻ tư tưởng nông cạn nhưng lại tỏ ra sâu sắc, kém hiểu biết nhưng lại tỏ ra rất hiểu biết. Có học giả Trung Quốc nói thâm trầm là một trong 4 đặc trưng lớn của dân tộc Trung Quốc. Năm 1966, Mao Trạch Đông phát động Cách mạng Văn hóa, tưởng rằng đó là hành động có ý nghĩa thâm sâu, nhưng thực ra là nông nổi, ấu trĩ, ngạo mạn khinh đời.

    [2] Dịp tiết Thanh minh 1976, mỗi ngày cả triệu dân kéo đến Quảng trường Thiên An Môn dâng hoa, đọc thơ, dán báo chữ lớn tỏ lòng thương tiếc Chu Ân Lai và chửi rủa chính quyền trong tay “Bè Lũ Bốn Tên” chống Chu Ân Lai. Ngày 5/4/1976, thanh niên Vương Lập Sơn đọc rồi dán thơ này lên Đài Liệt sĩ, dân chúng chép truyền tay nhau. Đại ý: Nhân dân đang đau buồn thương tiếc Thủ Tướng, bỗng nghe thấy “lời ma quỷ kêu” (tức tiếng loa phóng thanh yêu cầu giải tán biểu tình). Dân khóc thương, bọn lang sói Bè Lũ Bốn Tên thì hả hê cười. Dân rơi lệ tưởng niệm người anh hùng hào kiệt Chu Ân Lai. Hãy đứng lên đánh đổ chính quyền này. Câu thơ bị Bè Lũ Bốn Tên dựng thành “Vụ án phản cách mạng số 001”, đưa lên báo Nhân Dân và đài phát thanh, ra lệnh truy nã tác giả. Vương Lập Sơn trốn đi. Sau khi Bè Lũ Bốn Tên bị lật đổ, Vường Lập Sơn được nêu tên là Thanh niên gương mẫu. Năm 2010 báo Trung Quốc có đăng bài phỏng vấn Vương Lập Sơn.

    [3] Liên lạc viên Mao Viễn Tân (cháu ruột Mao Trạch Đông) mang Lời phê do Mao viết đưa cho Bộ Chính trị và giải thích: Chủ tịch Mao chỉ thị: Thủ đô, quảng trường Thiên An Môn đã xảy ra tình trạng [dân chúng biểu tình] đốt phá, đánh [đánh lại lực lượng đàn áp], các hoạt động ở đây đã có tính chất phản cách mạng. Trong bài này Lưu Á Châu muốn nói Mao đồng ý vụ đàn áp đẫm máu này, trái với quan điểm chính thống ở Trung Quốc (tránh phê bình Mao, mọi sai lầm của Cách mạng Văn hóa và vụ đàn áp 5/4/1976 đều đổ tội lên đầu Bè Lũ Bốn Tên).
    – See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/09/28/mao-trach-dong-bien-co-thien-an-mon-1976/#sthash.msSFWy0v.dpuf

  20. Đánh giá cuộc đời chính trị Mao Trạch Đông (P1)
    nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2016/03/27/danh-gia-cuoc-doi-chinh-tri-mao-trach-dong-p1/
    Biên dịch: Vũ Huy Quang

    Lời nói đầu

    Bài phỏng vấn “An Appraisal of the political life of Mao Tse-Tung”, đăng trongThe Chinese Communist Party in Power, tr. 380-415, do Rose Connolly thực hiện, tháng Ba, 1977 (đã được Bành Thuật Chi trả lời rồi nhuận sắc trước khi đăng trên Intercontinental Press vào tháng Mười, 1977) chúng tôi dịch ra 28 câu đối đáp sau đây, là một bài hiếm có. Nội dung gồm những phân tích bề trái của những biến cố lớn trong lịch sử Trung Quốc cận đại, và chỉ ra được sức mạnh của sự sùng bái lãnh tụ – vũ khí chính của Mao Trạch Đông – điều khó ngờ tới.

    Trong chính trị, đặc biệt là chính trị kiểu Stalin, sự sùng bái lãnh tụ chỉ để đặt quyền lực cá nhân lên trên cùng, rồi che giấu sự thật, đã tiêu diệt cả thù lẫn bạn, cả Tả lẫn Hữu… đưa đến kết quả đã tốn hao bao xương máu, uổng phí cả một cuộc cách mạng tranh đấu cho Dân chủ.

    Bành Thuật Chi (1896-1983) đồng thế hệ, hoạt động cách mạng đồng thời với Mao Trạch Đông, là lý thuyết gia của 1 trong 4 nhóm Trotskyist Trung Quốc, từng vào tù (1932-37) tại Giang Tô với Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Trung Quốc, là Trần Độc Tú, vì bị Quốc Dân Đảng bắt được.

    Bành Thuật Chi trả lời những câu hỏi về cuộc đời chính trị Mao Trạch Đông – người từng được coi là nhà lãnh tụ vĩ đại trong phong trào Cộng sản. Nhưng, nói về Mao trạch Đông, dù đã có rất nhiều xưng tụng đủ cách đủ kiểu về sự vĩ đại của Mao, thì phải chăng, đối với lịch sử, cứ hễ được xưng tụng là lãnh tụ vĩ đại… thì hẳn không thể sai lầm? Thật vậy không?

    Nếu lãnh tụ không sai lầm bao giờ (lúc nào cũng tài tình), trước sau cũng sẽ “bổ túc” cho những “thiếu hụt” của Chủ nghĩa Mác-Lê, nên phải cộng với tư tưởng của mình, để khi thực hiện “Chủ nghĩa Mác-Lê trong một xứ”, thành ra cái riêng biệt chỉ địa phương mình có: Như “Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông” tại Trung Quốc… chẳng hạn.

    Nhưng ở Trung Quốc, khi thêm tư tưởng Mao, thì chủ nghĩa Mác-Lê lại trở thành cái bóng mờ, hoặc làm bung xung, vì sẽ thành “chủ nghĩa xã hội trong một xứ” – như Mao đã rập theo Stalin làm ở Liên Xô – rồi áp dụng tại Trung Quốc. Trong một nước như thế, sẽ tàn sát đối lập, sẽ đến tình trạng Nước độc Đảng, và Đảng độc Khối. Và đầy những xoắn vặn cùng trá mạo lịch sử. Duy trì những điều ấy, hậu quả sẽ dẫn đến quan niệm là, “Dân chủ từ trên xuống”.

    Nếu chỉ từ “Trên” mới ban được cho cái quyền cực kỳ quan trọng là Dân chủ, thì bất cứ gì khác, cũng chỉ xuất phát từ đường lối chính trị cuả cá nhân lãnh tụ, không quan điểm chính trị nào khác chen vào được. Khi sự sùng bái ”tư tưởng lãnh tụ” trở thành quốc sách, thì mọi sáng kiến phải bị tiêu diệt, giai cấp quan liêu tức khắc thành hình, Vô sản trở thành giai cấp ngu si. Nếu lãnh tụ qua đời, giới quan liêu ký sinh càng đồng loã trong sự sùng bái để củng cố quyền lực: Chế độ “Cách mạng” sẽ thành một chế độ độc đảng, sẽ tiếp tục có những quyết định độc đoán, vừa mị dân, vừa coi thường quyền sống của những người bên “Dưới” – là thành phần lam lũ thuộc giai cấp bị trị.

    Điều như thế, đã tạo ra những trả giá khủng khiếp bằng bao nhiêu sinh mạng trong lịch sử Trung Quốc cận đại, mà bài phỏng vấn sau đây chứng minh về “tư tưởng Mao Trạch Đông”.

    ————————–

    1.

    Hỏi: Từ khi Mao chết ngày 9 tháng Chín vừa qua, chính trị gia khắp thế giới đều xưng tụng Mao là nhà lãnh tụ vĩ đại và ưa chuộng hoà bình. Ý ông thế nào về các nhận định trên?

    Đáp: Để phân tích sự nghiệp của Mao, điều cần làm là vạch ra tư tưởng và hành động anh ta đã thể hiện trong suốt đời. Chúng ta phải “Gọi đúng tên sự việc”, như Trotsky từng nói.

    Mao gia nhập phong trào Cộng sản cuối 1920, có mặt trong hội nghị khởi thủy của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tháng Bảy 1921. Anh ta được cử đi làm Bí thư Hồ Nam. Trong 2 năm ở Hồ Nam, Mao là một lãnh tụ địa phương tích cực, có công trong sinh hoạt sinh viên và tổ chức phong trào công nhân. Tuy nhiên, anh ta phải chịu trách nhiệm trong việc thúc ép 2 đồng chí lãnh đạo, Ho Ming-fan và Lý Đạt đã phải ra Đảng. Điều đó chứng tỏ, anh ta đã chứa tính độc đoán và đầy thiên hướng quan liêu.

    2.

    Hỏi: Vai trò của Mao trong cách mạng 1927 là gì?

    Đáp: Khi Stalin, qua Quốc tế Cộng sản, ra lệnh cho Đảng Cộng sản Trung Quốc phải gia nhập Quốc dân Đảng vào đầu 1923, không những Mao tán thành chính sách cơ hội ấy, mà còn lý luận để bênh vực nữa. Trong một bài, chính Mao viết, nhan đề, “Cuộc đảo chính Bắc Kinh và giới nhà buôn”, Mao nhận định, “Vấn đề chính trị đương thời tại Trung Quốc nay không gì khác hơn là chuyện cách mạng quốc gia… Cuộc cách mạng là chuyện chung cả nước…Tuy nhiên, giới tư sản mại bản, mới là giới ý thức được sự thiệt thòi nghiệt ngã nhất.”[1]

    Mao thêm:

    “Giới nhà buôn tại Thượng Hải đã nổi dậy, chung sức hành động. Chúng ta cũng mong là các nhà buôn ngoài Thượng Hải sẽ nổi dậy như thế… Các tổ chức thương nhân càng lớn rộng, ngày càng thêm thế lực, sẽ gia tăng khả năng hướng dẫn quần chúng cả nước, tiến nhanh tới thành quả cách mạng.”[2]

    Mao đem lý thuyết của Menxơvích ra thi hành! Và đã nỗ lực nhiều năm để ủng hộ đảng Tư sản, tức là, Quốc dân Đảng Trung Quốc.

    Mao được bầu vào ban Trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong Đại hội 3 vào tháng Sáu 1923, giữ chức Bí thư Tổ chức, nhưng lơ là công việc, chỉ tập trung vào công tác của Quốc dân Đảng ở Thượng Hải. Mùa thu 1924, Mao bỏ nhiệm vụ của Đảng Cộng sản, đi Hồ Nam để phát động phong trào khởi nghĩa nông dân, đưa đến thất bại. Rồi anh ta đi Quảng Đông, trở thành Bí thư Tuyên huấn của Quốc dân Đảng, dưới quyền Uông Tinh Vệ, và làm biên tập viên cho tờ Chính trị tuần báo. Qua các bài viết trong đó, Mao rất tán tụng chủ thuyết Tam Dân của Tôn Dật Tiên.

    Tháng Ba 1926 dưới áp lực của nhiều cán bộ Đảng, Mao viết bài, “Phân tích về tính giai cấp tại Trung Quốc”, nội dung chỉnh lại thái độ thiên Hữu của mình. Anh ta nhận định, “Vô sản kỹ nghệ là lực lượng tiên phong của cách mạng”, nhưng giai cấp tư sản vẫn có Tả, có Hữu, nên “cánh Tả có thể thành bạn hữu chúng ta…”[3]. “Vì thế”, anh ta kết luận, “chính sách hợp tác của Quốc dân Đảng – Cộng sản có thể duy trì mãi mãi.”

    Ngay sau khi bài viết tung ra trên Nông dân Nguyệt san, đầu tháng Ba 1926, cánh Tả của Tư sản, do Tưởng Giới Thạch chỉ huy, phát động cuộc đảo chính 20 tháng Ba, trục xuất toàn thể cán bộ Cộng sản, kể cả Mao, ra khỏi các cơ quan lãnh đạo Quốc dân Đảng. Mao phải đi Thượng Hải, và được Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ định làm nhiệm vụ phát động phong trào Nông dân.

    Sau đó anh ta đi Hồ Nam để thu thập dữ kiện, rồi thảo “Bản tường trình về sự điều nghiên phong trào nông dân Hồ Nam.” Bản này được những người theo Mao (Mao-ít) coi là “tài liệu ưu mỹ” của Đảng Cộng sản Trung Quốc, vì, “đã hướng dẫn nông dân tranh đấu”[4]. Vài học giả ngoại quốc, như Benjamin Schwartz, ca ngợi bài này là dấu mốc cho sự thăng tiến của Mao về sau.[5]

    Bản báo cáo ấy không hề nhắc đến những giải pháp, như việc tổ chức lãnh đạo phong trào nông dân, việc trưng thu và tái phân phối ruộng đất, mà chỉ mô tả những hành động của nông dân, ngỏ ý bênh vực nông dân trước những sự bóc lột. Đề nghị độc nhất của Mao là, “Những nhà trách nhiệm làm cách mạng phải sửa chữa sai lầm trong phong trào nông dân,” mà “Những nhà có trách nhiệm làm cách mạng” lúc ấy, lại là Tưởng Giới Thạch, Uông Tinh Vệ, và Đường Sinh Trí.

    Sau khi rời Hồ Nam, Mao đến Vũ Hán tham gia ban cải cách ruộng đất do Quốc dân Đảng chủ xướng. Anh ta cũng là thành viên trong “Hiệp hội Nông dân Lâm thời Toàn quốc”, nhưng không hề có đề nghị nào về việc cải cách ruộng đất cho Hiệp hội ấy, cũng như cho Đảng Cộng sản… bao giờ cả. Ngược lại, Mao chỉ chấp hành đường lối cơ hội chủ nghĩa của Stalin, trong khi tình hình tại Vũ Hán ngày càng tệ hại.

    Tại Liên bang Nga Xô, Trotsky đề nghị chính sách hợp tác Quốc dân Đảng – Cộng sản phải lập tức bãi bỏ, Đảng Cộng sản Trung Quốc phải lãnh đạo cuộc tranh đấu độc lập cho công nhân, nông dân, chiến binh, phải hướng dẫn họ thành lập những Xô viết, và phải chiếm quyền chỉ huy. Stalin chủ trương ngược lại, đưa đến chuyện “những nhà có trách nhiệm cách mạng” ở Vũ Hán, do Uông Tinh Vệ cầm đầu, đã “trục xuất hết thảy cán bộ Cộng sản ra khỏi Quốc dân Đảng, giải giới toàn thể các tổ chức quần chúng, kể cả Hiệp hội Lâm thời Nông dân toàn quốc”.

    Cho đến 15 tháng Bảy 1927, cuộc cách mạng Trung Quốc thứ Nhì (25-27) chìm trong thất bại.

    3.

    Hỏi: Nếu Mao đã ngập sâu trong Quốc dân Đảng trong suốt quãng thời gian này, thì khi nào ông ta mới rõ ra là người Cộng sản?

    Đáp: Sau thất bại của cách mạng 1927, Stalin đổi chính sách, từ “Cơ hội chủ nghĩa cực độ” sang “Phiêu lưu chủ nghĩa cực Tả”, ra lệnh cho Đảng Cộng sản Trung Quốc phải phát động cuộc nổi dậy võ trang. Để chấp hành đường lối mới của Quốc Tế Ba, Đảng Cộng sản Trung Quốc dưới quyền Cù Thu Bạch, triệu tập cuộc họp khẩn ngày 7 tháng Tám 1927. Buổi hội công bố Thư Ngỏ tới toàn thể đảng viên, để xóa các điều sai lầm từ những chỉ thị trước của Stalin, trút hết lên Trần Độc Tú. Mao hoàn toàn hưởng ứng những lí luận bịp bợm này.[6]

    Cuộc hội chấp nhận giải pháp phát động “cuộc nổi dậy mùa gặt” ở Hồ Nam-Hồ Bắc. Mao được gửi tới Hồ Nam để lãnh đạo lực lượng nổi dậy, gồm 3,000 người, diễn ra ngày 8-17 tháng Chín 1927. Kết quả, là hàng trăm người chết và bị thương bởi lính tráng Quốc dân Đảng. Hoàn toàn thất bại, Mao tẩu thoát cùng một số đến Tỉnh Cương Sơn tháng Mười 1927.

    Mao và những người cùng nhóm bị cô lập hoàn toàn, trong khi đợi chỉ thị mới của Đảng. Thời gian này, có hai nhóm cướp địa phương nhập bọn. Các thủ lãnh cướp, Viên Văn Tài và Vương Tạc, cam kết sẽ chiến đấu với Mao. Tuy nhiên, khi Mao rời Tỉnh Cương Sơn, bọn cướp trở về sào huyệt, cướp bóc như cũ. Sau chúng bị nông dân giết sạch.

    Cùng lúc, là cuộc nổi dậy gồm 30,000 người tại Nam Xương, thủ phủ Quảng Tây, dưới sự lãnh đạo của Hạ Long, Diệp Đĩnh và Chu Đức, dưới quyền điều động của Cù Thu Bạch. Cuộc nổi dậy này cũng thất bại, làm Hạ, Diệp, Chu phải rút về Sán Đầu thuộc Quảng Đông.

    Tháng Chạp 1927, một cuộc nổi dậy của Đảng Cộng sản ở Quảng Đông cũng bị tận diệt, tổn thất 5 ngàn sinh mạng. Chính sách Stalin đòi nổi dậy võ trang tại Trung Quốc chứng tỏ bằng máu, là hoàn toàn phá sản.

    Đại hội Cộng sản Quốc tế Ba tại Moscow tháng Tám 1928, đã đặt vấn đề về chuyện này. Nhưng thay vì rút được kinh nghiệm học hỏi quá khứ, vẫn chỉ đưa ra biện pháp, là phải tiếp tục con đường vũ trang nổi dậy:

    “…tại thời điểm này, Đảng phải tuyên truyền mọi nơi mọi chốn cho quần chúng biết khái niệm về Xô viết, khái niệm về chuyên chính “Vô sản và Nông dân”, cùng sự không tránh khỏi việc phải vũ trang nổi dậy… Phải bền bỉ không khoan nhượng, bám sát cuộc cách mạng quần chúng võ trang, tiến tới việc nắm chính quyền. Tổ chức các Xô viết phải trở thành những bộ phận chính cho cuộc nổi dậy…”[7]

    “Tại Trung Quốc, sự lớn mạnh tương lai của cách mạng sẽ đặt trước Đảng, như một nhiệm vụ để sửa soạn chuyện tiến tới cuộc nổi dậy như một con đường duy nhất, hầu hoàn tất cuộc cách mạng Dân chủ Tư sản, rồi sẽ đánh đổ Quốc Dân Đảng.”[8]

    Giải pháp như trên chuyển tới cho Mao, tại Tỉnh Cương Sơn vào mùa thu 1928. Rồi Chu Đức đã đem quân từ Sán Đầu đến, phối hợp với quân của Bành Đức Hoài, thành đội quân nổi dậy cốt lõi để đương đầu với Quốc dân Đảng. Các cánh quân này, sau hợp nhất thành Hồng quân.

    Tân Hồng quân từ Sán Đầu thành hình vào chớm 1929, đã bành trướng lãnh thổ cho Đảng Cộng sản Trung Quốc. Họ chiếm các quận phía nam Giang Tây, đông nam Hồ Nam, lập các Xô viết, tăng bồi quân số, thi hành cải cách ruộng đất tại những địa phương chiếm đóng. Tháng Chạp 1930, Đảng Cộng sản Trung Quốc triệu tập Đại hội Xô viết ở Giang Tây, lập Chính phủ Xô viết, trong đó Mao được bầu làm Chủ tịch. Chu Đức là Tổng Tư lệnh Hồng quân.

    Để đối phó với sự lớn mạnh của Hồng quân, Tưởng mở nhiều cuộc tấn công vào các vùng Xô viết năm 1931, Quốc dân Đảng đã tổn thất hàng ngàn binh lính, mất nhiều vũ khí vào tay Hồng quân. Tháng Tư 1933, Tưởng lại mở cuộc tấn công lần thứ tư vào Hồng quân. Lần này còn thất bại nặng hơn. Anh ta mất 2 sư đoàn lính, các sĩ quan chỉ huy bị bắt sống làm tù binh.

    Đại diện Quốc Tế Cộng Sản từ Moscow đến Thượng Hải, tháng Giêng 1931 để tổ chức lại Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Lý Lập Tam bị thay chức lãnh đạo, Vương Minh thay thế. Thời gian này, nhiều cán bộ Đảng bị bắt khắp nơi, những ai không đầu hàng đều bị giết. Để bảo đảm sự an toàn, bộ chỉ huy của Vương Minh chuyển về vùng Xô viết, đầu 1933. Mọi quyền lực của Mao và các cán bộ chóp bu bị tước đoạt, vào tay Phó Chủ tịch Hạng Anh. Mao chỉ còn giữ chức Chủ tịch trên danh hiệu trong chính phủ Xô viết. Một đòn nặng đối với Mao.

    Toàn thể Xô viết Giang Tây, Phúc Kiến bị 1 triệu quân Tưởng xiết chặt gọng kìm bao vây toàn bộ khu vực. Cho nên, tháng Mười 1934, Mao cùng Chu Đức khởi cuộc Vạn lý Trường chinh chạy đi hướng đông bắc Trung Quốc, đến Diên An. Khi thoát chạy, họ đã để lại trên 1 triệu nông dân, sau này, những người đó đã bị tàn sát, hoặc chết đói.[9]

    Trong cuộc Trường chinh, Mao họp Chính trị Bộ tại Tuân Nghĩa, tỉnh Quý Châu, nơi anh ta được bầu vào chức Chủ tịch Đảng kiêm lãnh tụ Hồng quân.

    Khi Hồng quân tới bắc Thiểm Tây, tháng Mười 1935, quân số từ 300,000 còn 30,000[10]. Thêm vào đó, khi phát động chiến dịch quân sự, Tưởng cũng tàn sát Cộng sản tại các tỉnh lớn như Thượng Hải, Vũ Hán, Bắc Kinh, Thiên Tân. Trên mười ngàn cán bộ, thành viên, cơ sở thanh niên Cộng sản bị bắt, bị giết, hoặc bị ép đầu thú, đi tù. Các cơ sở công nhân bị tan vỡ. Stalin đề ra phát động tranh đấu vũ trang – mà phe Mao ủng hộ – đã đem lại thất bại toàn diện. Cái trả giá cho chính sách này, là sự chết chóc khủng khiếp bằng chính mạng sống của bao nhiêu người.

    Khi Hồng Quân tập trung đầy đủ ở Thiểm Tây, Mao kêu gọi mọi phe, mọi nhóm, kể cả Quốc Dân Đảng, cùng đứng chung trong “Mặt trận quốc gia thống nhất chống đế quốc Nhật”, theo khuôn mẫu “Mặt trận Bình dân chống Phát xít”, là đường lối của Đệ Tam Quốc tế đề xuất.

    Tưởng bác đề nghị Mao, rồi cử Trương Học Lương đem quân đến Thiểm Tây, bao vây Diên An, cốt diệt Hồng quân. Tưởng đích thân giám sát cuộc hành quân, nhưng lại bị nhóm tay chân của Trương Học Lương – những người có tư thù với Tưởng, vì Tưởng đã thông đồng với Nhật, làm quân Nhật chiếm Mãn Châu, là căn cứ của họ – bắt giữ.

    Nhóm Trương Học Lương muốn giết Tưởng. Nhưng Stalin gửi điện cho Đảng Cộng sản Trung Quốc bảo phải thương lượng với Tưởng. Mao phái Chu Ân Lai đi thuyết phục Tưởng, là để Tưởng sẽ lãnh đạo cuộc chiến kháng Nhật. Tưởng đồng ý. Rồi, Đảng Cộng sản Trung Quốc bỏ rơi các Xô viết, bãi chương trình cải cách ruộng đất, chương trình tái tổ chức Hồng quân… để gia nhập quân đội Quốc gia, đặt hết lực lượng dưới quyền chỉ huy của Tưởng. Thế là, hợp tác Quốc dân Đảng – Cộng sản thành hình lần thứ nhì, mà chính Mao là người hỗ trợ mạnh mẽ.

    4.

    Hỏi: Cái-gọi-là thương thuyết với Tưởng, chỉ là cộng tác giai cấp, và là sự nhượng bộ toàn diện của Mao?

    Đáp: Đúng thế. Sau 10 năm tranh đấu, Đảng Cộng sản Trung Quốc rõ là đầu hàng Quốc dân Đảng. Những nhượng bước ghi trong thoả thuận giữa Đảng Cộng sản và Quốc dân Đảng trong bản tuyên cáo, in ngày 15, 1937 của Đảng Cộng sản, như sau:

    (1) Chủ nghĩa Tam Dân do Tôn Dật Tiên đề ra là cốt lõi của Trung Quốc thời đại này. Đảng ta sẵn sàng thực hiện nhu cầu ấy.

    (2) (Đảng ta) từ bỏ đường lối đánh đổ Quốc dân Đảng bằng vũ lực cùng sự thực hiện các công xã Xô viết, từ bỏ chương trình tịch thu đất các địa chủ trong chương cải cách ruộng đất.

    (3) (Đảng ta) hủy bỏ chính quyền Xô viết cùng mọi chương trình dân chủ căn cứ trên quyền lợi quần chúng lúc trước, hầu thống nhất với sức mạnh chính trị Quốc gia.

    (4) (Đảng ta) hủy bỏ vai trò Hồng quân, tái phối trí với Quân đội cách mạng quốc gia, đặt dưới quyền điều động của Ủy ban Quân quản quốc gia trong chính phủ Quốc gia, đợi lệnh điều hành để sát cánh trong trách nhiệm chống Nhật nơi tiền tuyến.[11]

    Tưởng lúc ấy đang bị chửi rủa khắp nơi vì không muốn chống Nhật, ngay trong quân Tưởng cũng đã có mầm mống nổi loạn. Ấn bản tuyên cáo của Đảng Cộng sản thành ra cứu Tưởng, cũng thành sự hoang mang tột độ ngay trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc.

    5.

    Hỏi: Có sự chống đối trong Đảng không?

    Đáp: Người hiểu chuyện thì hết sức phẫn nộ. Mao phải viết một loạt bài nữa để bảo vệ cho chính sách cơ hội mới này. Trong bài, “Nhiệm vụ khẩn cấp tiếp theo cho nền tảng hợp tác Quốc dân Đảng – Cộng sản”, Mao giải thích:

    “Nay mặt trận mới lập giữa 2 đảng đang dẫn tới giai đoạn mới của cách mạng Trung Quốc. Vẫn còn những người không hiểu vai trò lịch sử của mặt trận thống nhất cùng sự vĩ đại của nó, chỉ nhìn thấy tính tạm thời do thời cuộc đưa đẩy của hoàn cảnh, tuy nhiên, qua mặt trận thống nhất, bánh xe lịch sử sẽ dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Trung Quốc, tiến tới giai đoạn mới.”[12]

    Còn nữa:

    “Nhiệm vụ hiện nay là duy trì tinh thần cách mạng của chủ nghĩa Tam Dân của Bác sĩ Tôn suốt trên toàn quốc…”[13]

    Ảo tưởng của Mao về Quốc dân Đảng hiển nhiên nhất, trong trích dẫn của anh ta ở bài “Về giai đoạn mới”:

    “…Quốc dân Đảng cùng Cộng sản Đảng đều là nền móng cho mặt trận Kháng Nhật, nhưng giữa hai đảng, thì Quốc dân Đảng là nền móng trước nhất. Không có Quốc dân Đảng thì không có thể có cuộc kháng Nhật, không đeo đuổi được cuộc kháng Nhật. Theo lịch sử vinh quang của Đảng, thì Quốc dân Đảng đã lật được nhà Thanh, lập nền Cộng hòa, chống Viên Thế Khải, lập chủ thuyết Tam Dân, liên kết với Nga, với Đảng Cộng sản Trung Quốc, và với công nhân cùng nông dân, làm thành cách mạng 1926-27. Ngày nay Quốc dân Đảng lại lần nữa gánh vác trách nhiệm lãnh đạo cuộc đại kháng chiến chống Nhật. Như thế rõ là vinh quang của Tam Dân chủ nghĩa; và đã được hai nhà lãnh đạo vĩ đại kế tiếp nhau – các đại nhân Tôn Dật Tiên và Tưởng Giới Thạch; cùng đông đảo những nhà ái quốc kiên trung. Như vậy chúng ta không được xem nhẹ những nhà ái quốc này, phải cùng nhau chung sức tiến đến giai đoạn phát triển của lịch sử Trung Quốc.

    Để tham gia chiến tranh chống Nhật, để tổ chức mặt trận thống nhất, Quốc dân Đảng sẽ giữ vai trò lãnh đạo và tổ chức… Dưới điều kiện duy nhất như thế, người ta có thể thấy sự chiến thắng chói lọi trong tương lai của Quốc dân Đảng…

    Nhiệm vụ toàn thể quốc gia là cùng nhau hợp tác chân thành, với Tưởng là nhà lãnh đạo, cũng như phải hỗ trợ chính phủ Quốc gia, và hỗ trợ sự hợp tác Quốc dân Đảng – Cộng sản.

    Để đạt mục đích này, chúng ta phải nâng cao uy tín của Tưởng và chính phủ Quốc gia, hầu tránh ảnh hưởng xấu cùng tăng gia tình hợp tác chặt chẽ giữa Quốc dân Đảng và Cộng sản. Tình hợp tác ấy sẽ bền lâu – không chỉ trong cuộc chiến mà còn cho đến khi hết cuộc chiến, khi điều kiện Quốc gia và Quốc tế ngày càng làm thuận lợi thêm cho sự hợp tác.”[14]

    Lý thuyết quan trọng nhất của Mao, Về Tân Dân chủ, đã xuất hiện từ Đại Hội 7 họp năm 1945, và được áp dụng trong chương trình hành động của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau chiến thắng 1949. Theo văn kiện này, Mao giải thích, sau Cách mạng tháng Mười tại Nga, Cách mạng quốc gia-dân chủ trong các xứ thuộc-địa và bán-thuộc-địa đã là cuộc “cách mạng Tân dân chủ-tư sản”, trong đó giai cấp tư sản quốc gia cũng có tính cách mạng. Cho nên cần thiết là thực hiện “Mặt trận thống nhất” gồm Công nhân, Nông dân, Tiểu tư sản, và Tư sản – khối cộng tác 4 giai cấp – để cùng chống Đế quốc và lực lượng Phong kiến, để rồi thành lập nền “Cộng hoà Tân Dân chủ”.

    Tức là, Mao biện minh cho sự thành lập một chính phủ hợp tác với Tư sản.

    Anh ta cũng biện minh cho “Tân Dân chủ”, tức là,

    “Chỉ quốc hữu hóa Đại ngân hàng cùng những Đại kỹ nghệ và cơ sở thương mại lớn. Chế độ cộng hoà không tịch biên tài sản các nhà tư bản nói chung, cũng như không cấm sự phát triển sản xuất của tư bản, miễn là nó không khống chế sinh hoạt nhân dân, vì kinh tế Trung Quốc còn rất lạc hậu … Nền kinh tế Phú nông vẫn được phép tại thôn quê.”[15]

    Mao giải thích về lý thuyết thực hiện Cách mạng Giai đoạn như sau,

    “Nhiệm vụ cách mạng Trung Quốc hiện nay là chống đế quốc và phong kiến, còn xã hội chủ nghĩa chưa nói tới vội, cho đến khi nhiệm vụ trên hoàn tất, Cách mạng Trung Quốc không thể tránh được việc đi bước đi hai bước, bước thứ nhất là Tân Dân chủ rồi mới tới bước thứ hai là bước Xã hội chủ nghĩa. Thêm nữa, là bước thứ nhất cần một thời gian dài và không thể hoàn tất trong chớp mắt được.”[16]

    Rồi để chứng minh chính sách này, Mao và Đảng Cộng sản Trung Quốc phát động phong trào đàn áp tàn bạo Trotskyist, tổ chức duy nhất trong phong trào công nhân có tiếng nói Đối lập. Trong bài viết “Nhiệm vụ của Đảng trong thời kỳ kháng Nhật”, Mao luận định:

    “Kẻ thù chúng ta – đế quốc Nhật, bọn Trung Quốc cộng tác, bọn ủng hộ Nhật và bọn Trotskyist – đã hết sức phá hủy nỗ lực hoà bình, tinh thần đoàn kết, dân chủ và tự do, chống lại cuộc vũ trang chống Nhật… Nay chúng ta phải tự lao vào, không chỉ trong lãnh vực tuyên truyền, khích động cùng phê bình đám thủ cựu Quốc dân Đảng và những phần tử chậm tiến trong quần chúng, mà còn phải đương đầu bằng mọi cách, chiến đấu chống lại những mưu mô của bọn đế quốc Nhật cùng lũ chó săn của chúng, bọn theo Nhật và bọn Trotskyist, đã xâm lăng Trung Quốc.”[17]

    Những người Trotskyist, như Trần Độc Tú và Bành Thuật Chi, bị gọi là “lũ phản bội” trên khắp sách báo do Đảng Cộng sản Trung Quốc kiểm soát, mặc dù họ cam kết ủng hộ kế hoạch quân sự của Tưởng, là chống đế quốc Nhật. Chiến dịch chống Trotskyist cuồng tín đến hung tợn, chỉ vì người Trotskyist đòi giữ quyền phê bình đối với Tưởng và chính phủ Quốc dân Đảng. Những người này kêu gọi võ trang cho quần chúng, đề nghị chương trình đấu tranh phải đặt trên quyền tự do phát biểu, trên báo chí, trên mọi Nghị hội, Hiệp hội, thực thi chương trình làm việc 8 tiếng một ngày, và quyền đình công. Đối với chính quyền Quốc dân Đảng, họ đưa ra khẩu hiệu “Triệu tập nghị hội toàn quốc có toàn quyền, được bầu cử tự do, bình đẳng, trực tiếp và kín.”

    Nhưng đối với Tưởng, thì dù Mao có ca tụng đến đâu, Tưởng vẫn ra sức triệt hạ lực lượng Cộng sản. Tháng Giêng 1941, Tưởng tấn công, phá vỡ Tân Tứ quân của Cộng sản ở An Huy, bắt Tư lệnh Diệp Đĩnh, giết chính ủy Hạng Anh. Cùng lúc, quân lực Quốc dân Đảng do Hồ Tông Nam bao vây Diên An. Những thất bại của Đảng Cộng sản này báo trước cho những điềm gở sắp đến.

    6.

    Hỏi: Lúc đó, liên hệ của Mao đối với Stalin thế nào?

    Đáp: Dịp sinh nhật 60 của Stalin, tháng Chạp 1939, Mao đọc diễn văn, có đoạn:

    “Mừng Stalin nghĩa là ủng hộ ý kiến ông, ủng hộ chiến thắng xã hội chủ nghĩa, ủng hộ bước tiến của loài người mà ông đã chỉ, tức là chúng ta ủng hộ người bạn thân thiết nhất của chúng ta. Đối với đại đa số nhân loại còn bị đau khổ, đám nhân loại ấy chỉ có thể tìm thấy tự do bằng con đường Stalin đã chỉ, với sự giúp đỡ của Stalin.”[18]

    Năm 1941, tại trường Đảng ở Diên An, Mao đọc diễn văn, bài “Sửa đổi học tập”, như sau:

    “Thêm nữa, học Mác xít-Lêninít, chúng ta nên dùng cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản của Liên bang Xô viết (Bolsheviks), cuốn Tóm Lược, làm tài liệu chính. Đó là những cuốn tổng hợp, toát yếu đầy đủ về các chuyển cơ Cộng sản từ trăm năm nay, một mẫu mực tổng hợp về lý thuyết cùng hành động…”[19]

    Thực ra, cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ là cuốn về lý thuyết Stalinist: Nào “Cách mạng giai đoạn”, nào “Xã hội chủ nghĩa trong một xứ”. Cuốn ấy chỉ nói về chính sách phiêu lưu của Stalin về tập thể hóa, kỹ nghệ hoá, chính sách đối ngoại trong cái gọi là “thời kỳ thứ ba”, và là cái Tổng kết tóm gọn của thuyết “Mác-xít xét lại” – từ đó mà có thanh trừng suốt những thập niên 1930, mở cuộc tàn sát lừng danh, thanh trừng hết các Bônxơvích cựu trào cùng các nhà cách mạng khác, rồi trơ trẽn thành lập cái chính sách sùng bái Stalin, cùng làm nền móng cho chính sách chuyên chính cá nhân.

    7.

    Hỏi: Mao giải thích thế nào về thất bại cách mạng 1927, cùng những thất bại về sau?

    Đáp: Khi bàn đến các giải pháp chính trị trong Đại hội 5 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tháng Tư 1927, Mao đổ trách nhiệm thất bại của cách mạng thứ nhì 1927 lên Trần Độc Tú, và trách nhiệm thất bại quân sự cùng tổ chức Xô viết 1927-37 cho Cù Thu Bạch, Lí Lập Tam và Vương Minh. Kết luận, là chỉ mình Mao đúng trong mọi phong trào Cộng sản. Kết luận ấy thế này:

    “…Sự thực hiện cách mạng Trung Quốc đã minh xác, là trong hai mươi bốn năm qua và còn tiếp tục cho đến nay, xác định rằng đường lối tranh đấu của Đảng ta cùng quảng đại quần chúng, là đường lối mà đồng chí Mao Trạch Đông vạch ra là hoàn toàn đúng đắn… Ngày nay, toàn Đảng nhận chân sự đúng đắn trong đường lối của đồng chí Mao Trạch Đông với sự nhất trí trong Đảng chưa từng có và sẽ đoàn kết dưới khẩu hiệu của đồng chí với sự cảnh giác hoàn toàn…”[20]

    Nghị quyết không một chữ nào nói đến chính sách cực-cơ-hội do Stalin áp đặt trong cuộc cách mạng lần 2, và chính sách cực-phiêu lưu sau cách mạng ấy đã thảm hại thế nào. Ngược lại, Mao trích dẫn những câu của Stalin, chỉ để chứng minh Stalin lúc nào cũng đúng.

    Sau Đại hội vào tháng Tư, Mao đọc báo cáo nhan đề “Về chính phủ hợp tác”, trong đó anh ta nhấn mạnh đến sự cần thiết tuyệt đối là phải cộng tác Quốc Dân Đảng, Đảng Cộng sản cùng các khuynh hướng khác, tức là thành một khối bốn giai cấp. Quốc dân Đảng tuyệt không tỏ một đáp ứng nào.

    Đại hội thông qua chính sách mới, trong câu sau:

    “Đảng Cộng sản lấy chủ nghĩa Mác-Lê và phối hợp với nguyên tắc thực tiễn của cách mạng Trung Quốc – tư tưởng Mao Trạch Đông – là nguyên tắc hướng dẫn trong mọi hành động…”[21]

    Rồi, sự sùng bái cá nhân Mao, rập khuôn Stalin, chính thức thành lập tại Đại hội này. Từ đó, Mao được nhắc đến như một “Lãnh tụ vĩ đại duy nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc”, “Một Stalin Trung Quốc”, “Một mặt trời phương Đông”, “Cứu tinh nhân dân”.

    Có bài hát phổ biến khắp nơi, là “Đông phương Hồng”, với những câu:

    Đông phương hồng

    Mặt trời lên

    Trung Hoa tiến lên Mao Trạch Đông

    Hạnh phúc nơi nơi

    Đại cứu tinh nhân dân

    (còn tiếp)

    ———-

    Nguồn: Bản tiếng Việt © 2010 Vũ Huy Quang & talawas

    [1] Mao Trạch Đông, “Cuộc đảo chánh Bắc Kinh và giới nhà buôn”, Hướng Đạo, số 31-32, Tháng Bảy 1921.

    [2] Hướng Đạo, tháng Bảy 11, 1923.

    [3] Mao Tuyển (London, 1950, vol 1, p. 20)

    [4] Hồ Kiều Mộc, tác giả 30 năm của Đảng Cộng sản tại Trung Quốc. (London, 1951) p.22. (Sinh ở Quảng Tây (1911- ), học Vật lý ở Bắc Kinh, 1933 đi Thượng Hải, thành viên của ban Tuyên huấn. Gia nhập Đảng 1937, đi Diên An, trở thành Bí thư chính trị của Mao, trách nhiệm về các cơ sở tuyên truyền, như Nhân dân Nhật báo, Đài phát thanh Bắc Kinh và Tân Hoa Xã. Thập niên 1950 tích cực trong việc chỉnh huấn các nhà văn ly khai. Được bầu vào Bộ Chính trị, 1956. Cuốn lịch sử Đảng nổi tiếng, 30 năm của Đảng Cộng sản tại Trung Quốc bị thu hồi trong Cách mạng Văn hoá. Biến khỏi chính trường sau Đại hội Trung ương Đảng kỳ 9, năm 1969. Chỉ tái xuất hiện cuối 1978. Sau được vào Trung ương trở lại, tháng Chạp 1978. Chú thích N.D)

    [5] Chinese Communism and the rise of Mao, (New York, Harper & Row, 1967) pp. 73-78. (Tức là Mao ra sách lược “Lấy nông thôn bao vây thành thị”, như nhiều người nghĩ. Tức là, Mao đã biết khai thác sức mạnh nông dân, biết sử dụng sức mạnh đó làm cốt lõi – điều chỉ ở Trung Quốc… sáng chế ra. N.D)

    [6] Phiên họp ngày 7 tháng Tám, 1927, là “phiên họp khẩn”, chủ đích trất chức Trần Độc Tú, đưa Cù Thu Bạch thay thế. Đại diện mới của Quốc tế Ba là Vissarion Lominadze điều hành buổi họp, được kêu bí danh là “đồng chí N”. Một đại diện khác, là Heinz Neuman tổ chức nổi dậy thành phố Quảng Đông, chỉ đến Trung Quốc tháng Mười, không có mặt trong phiên họp. (chú thích N.D)

    [7] Theses on the Revolution Movement in the Colonies and Semi-colonies, International Press Correspondence, vol. 8, n.88, Dec 12, 1928, p. 1670.

    [8] Như trên.

    [9] Edgar Snow, Red Star Over China (New York: Garden city Pub. 1939), p. 174.

    [10] Con số ước tính cuả Hồ Kiều Mục, sử liệu chính thức của Đảng trước Cách mạng Văn hóa, 30 năm của Đảng Cộng sản tại Trung Quốc, tr. 40.

    [11] “The CCP’s Public statement on KMT-CCP Co-operation”, A Documentary History of Chinese Communism, Conrad Brant, Benjamin Schawartz, and John K. Fairbank (Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1952), p. 246. Tài liệu này cũng được nhắc đến với ghi chú là ngày 22 tháng Chín 22,1937, ngày được loan báo chính thức trên báo chí do Quốc dân Đảng phát hành. Bản văn được thảo ngày 4 tháng Bảy, chính thức được đại diện Ban Trung ương Đảng Cộng sản chuyển tay đến ban lãnh đạo Quốc dân Đảng ngày 15 tháng Bảy 1937.

    [12] Mao Tuyển, Anh ngữ, vol 2, p.p 37-38.

    [13] Như trên.

    [14] Lun Hsin Chieh-tuan (Về tân giai đoạn), (Diên An: Chỉnh Phong, 1939). Đây là báo cáo của Mao trong Phiên họp mở rộng lần thứ 6 của Đại hội Sáu Trung ương Đảng, tháng Mười 1938. Mao cho ấn hành chữ in năm 1939, nhưng sau ngưng việc phát hành (chỉ một ít trích dẫn được in lại trong Mao Tuyển, bài “Vai trò của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong chiến tranh Quốc gia”).

    [15] Về Tân Dân Chủ, tháng Giêng, 1940, Mao Tuyển, vol 2. p.353.

    [16] Như trên.

    [17] “Nhiệm vụ Đảng Cộng sản trong phong trào kháng Nhật”, tháng Năm, 1937, Mao Tuyển, vol. 1, p.264.

    [18] “Stalin, Bạn của Nhân dân Trung Quốc”, ngày 20 tháng Chạp 1939,Selected Works (Peking: Foreign Languages, 1967) vol. 2, p. 335.

    [19] Như trên.

    [20] “Giải đáp vài câu hỏi về lịch sử đảng ta”, Mao Tuyển, vol. 4, pp. 171-218.

    [21] Hiến chương của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tháng Sáu, 1945, sách của Brandt, A documentary of Chinese Communist, p. 422.
    – See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/03/27/danh-gia-cuoc-doi-chinh-tri-mao-trach-dong-p1/#sthash.vTERJF7e.dpuf

  21. Đánh giá cuộc đời chính trị Mao Trạch Đông (P2), nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2016/04/03/danh-gia-cuoc-doi-chinh-tri-mao-trach-dong-p2/ Biên dịch: Vũ Huy Quang

    8.

    Hỏi: Sau khi Nhật đầu hàng, chuyện gì xảy ra?

    Đáp: Tháng Tám 1945, ngay sau khi Nhật đầu hàng Mỹ, Mao đi Trùng Khánh, thủ đô tạm thời của chính quyền Quốc dân Đảng. Mao ở đó tháng rưỡi, để có những cuộc tiếp xúc bí mật với Tưởng về chuyện tiếp tục sự cộng tác, và thành lập chính phủ liên hiệp. Kết quả cuộc nói chuyện được công bố ngày 10 tháng Mười, một Thông cáo Chung ghi những điều kiện duy trì hòa bình giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản. Trong buổi ra mắt công chúng, Mao tỏ tình cảm, bằng cách hô lớn, “Tưởng thủ lãnh Quốc dân Đảng vạn tuế!” Ngay sau đó là một chuỗi những xung đột giữa 2 đảng. Tưởng đưa quân tấn công vào những làng mạc có quân du kích trú đóng. Để cố gắng ngăn ngừa nội chiến có thể bùng ra bất cứ lúc nào, Truman gửi đặc phái viên là George Marshall sang Trung Quốc.

    Phần Tưởng đã lợi dụng thời gian đàm phán hoà bình để điều quân, với trợ giúp của Mỹ, là viện trợ máy bay, tàu chiến, thì trong nội địa Trung Quốc, các thị trấn lớn đã tổ chức các căn cứ chiến thuật thành những “vùng bình định” để củng cố thế lực cho Quốc dân Đảng. Tưởng triệt hết mọi phong trào quần chúng, nhất là các phong trào sinh viên.

    Cuối 1946, khi Tưởng chuẩn bị xong kế hoạch quân sự để tấn công, chính phủ Quốc dân Đảng công khai đóng mọi cánh cửa thương thuyết cùng đàm phán hòa bình, bằng cách tổ chức “Hội nghị quốc gia” và “Chính phủ Lập hiến”, hầu tránh việc liên hiệp với Cộng sản.

    Thế nhưng Đảng Cộng sản vẫn chưa bỏ nỗ lực giải hoà. Những đại biểu của hội nghị Hòa bình vẫn còn luẩn quẩn ở Thượng Hải và Nam Kinh, mong có đàm phán thêm với Quốc dân Đảng, qua trung gian của nhóm Dân chủ Hiệp hội.

    Cho đến khi Tưởng đuổi các Đại biểu Cộng sản, chiếm được căn cứ địa của Đảng Cộng sản Trung Quốc là Diên An, tháng Tư 1947, lúc ấy Đảng Cộng sản mới biết hết hi vọng hoà hợp, mới tập hợp quân lực để tự vệ. Nhưng, Đảng Cộng sản vẫn chưa dám nêu khẩu hiệu kêu gọi toàn quốc đánh đổ Quốc dân Đảng, cũng như chưa dám đưa ra chương trình nào về cải cách ruộng đất cả. Cho đến khi Tưởng công bố lệnh bắt Mao (ngày 25 tháng Sáu, 1947), ra tuyên cáo “Sắc luật tổng động viên dẹp loạn động” (tháng Bảy), thì mãi sau vài tháng chần chừ, như còn đợi lệnh từ Moscow, vào tháng Mười, Đảng Cộng sản Trung Quốc mới trương danh hiệu “Quân đội Giải phóng Nhân dân”, công khai chống Tưởng Giới Thạch, để xây dựng “Tân Trung Quốc”.

    9.

    Hỏi: Người ta có thể nói, là Đảng Cộng sản Trung Quốc chuyển từ chính sách Cơ hội sang Cách mạng, vì đã dám vi phạm chính sách điện Kremlin, một khi Mao dám chống Quốc dân Đảng. Ông đồng ý thế không?

    Đáp: Đảng Cộng sản Trung Quốc thi hành đúng đường lối thỏa thuận với Kremlin, tức là bắt buộc thay đổi chính sách do áp lực của kế hoạch hậu chiến của đế quốc Mỹ, kế hoạch Marshall[1]. Thời điểm ấy, các đảng viên Đảng Cộng sản Tây Âu đều bị trục xuất khỏi các chính quyền Tư sản, nên Stalin muốn gia tăng sức mạnh phía Đông Âu, làm cho các chính quyền ở đó thực hiện cải cách ruộng đất và quốc hữu hóa tài sản của Tư sản, rồi lập khối Cominform (Thành lập, hoạt động 1947-56, gồm 9 nước Cộng sản Đông Âu – N.D). Theo ý tôi, Stalin, khi đã nhận thấy cục diện thay đổi đến thế, chỉ còn cách ủng hộ Cộng sản Trung Quốc chống Quốc dân Đảng – một khi Tưởng đã dứt khoát, không muốn thoả hiệp gì nữa.

    10.

    Hỏi: Làm sao mà Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể thắng quân Tưởng, đoạt quyền bính, sau bao năm theo Cơ hội chủ nghĩa?

    Đáp: Chiến thắng của Cộng sản Trung Quốc do tình thế rất đặc thù, chỉ có khi Nhật xâm lăng Trung Quốc, đặc biệt trong Thế chiến 2. Trong cuộc chiến Kháng Nhật, quân Tưởng cực kỳ tham nhũng, bất lực đến mức không chống trả được bất cứ cuộc tấn công nào từ phía Nhật, nếu không được trợ giúp của lính Mỹ. Đế quốc Mỹ không thể mãi tiếp sức quân sự cho Tưởng, nhất là sau khi Nhật đầu hàng, vì lính Mỹ muốn hồi hương, không muốn chiến đấu nữa – khi Thế chiến đã chấm dứt. Rồi khí giới tối tân mà Hồng quân Nga đoạt được của Nhật ở Mãn châu, lại chuyển cho Hồng quân Trung Quốc, đặc biệt là Hồng Tứ quân của Lâm Bưu.

    Không có những biến chuyển bất ngờ của lịch sử như thế, chuyện chiến thắng của Mao chỉ là chuyện đâu đâu. Giả sử, Tưởng mà kiểm soát được Mãn Châu, vùng kỹ nghệ nhất Trung Quốc thời ấy, anh ta đã cắt được luồng tiếp viện kinh tế cùng quân sự từ Nga cho Mao. Cũng vậy, nếu lính Mỹ còn ở Trung Quốc, Mao có rất ít cơ may thắng trận. Chúng ta chỉ cần nhớ lại cuộc thất bại vũ trang của quân đội nông dân tại Quảng Tây trong thập niên 1930, thì biết sự quan trọng của viện trợ Mỹ cùng các đế quốc ảnh hưởng thế nào đối với sức mạnh của quân Tưởng.

    11.

    Hỏi: Đảng Cộng sản Trung Quốc, sau đó có từ bỏ chính sách Cơ hội, có trở thành một đảng Cách mạng khi đã có quyền hành không?

    Đáp: Các chính sách của Mao sau 1949 luồn lách nhiều mặt, từ Cơ hội sang Phiêu lưu, nhưng chưa bao giờ biến Đảng Cộng sản Trung Quốc thành một Đảng Cách mạng.

    Khi Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên cáo ngày 1 tháng Mười 1949, rằng chính phủ Liên hiệp các Đại biểu Công nhân, Nông dân, Tiểu tư sản, và Tư sản… thành lập, thì nhân viên chính quyền chưa hề có ai được bầu ra – nhưng đã, và vẫn đang – được chỉ định bởi cái-gọi-là “Hội nghị Chính trị Hiệp thương Nhân dân Trung Quốc”. Ban này, do Đảng Cộng sản Trung Quốc là chính, cộng với “Ủy ban Cách mạng Quốc dân Đảng”, “Trung Quốc Dân chủ Đồng minh”, “Đảng Công – Nông”, cùng vài nhóm khác… hợp thành.

    Chính sách của chính phủ căn cứ trên chính sách “Tân Dân chủ” của Mao, đã không trưng thu tài sản của Tư bản, còn bảo vệ cho nó – cả những cơ sở của đế quốc tại Trung Quốc. Với danh nghĩa “Tân Dân chủ”, chính quyền Mao trì hoãn nhu cầu cấp thiết nhất về cải cách ruộng đất mà nông dân đang trông chờ, để được hòa hợp với Địa chủ và Phú nông. Mao tin là “Tân Dân chủ” sẽ còn phải áp dụng trong vài thập niên nữa. Chu Ân Lai thì bảo, “Giai đoạn cách mạng Tân Dân Chủ sẽ còn phải thi hành ít nhất là 20 năm nữa.”

    Điều kiện khách quan đã đến, ngay trong cuộc chiến Triều Tiên 1950. Dưới chiêu bài ủng hộ Nam Triều Tiên, đế quốc Mỹ đánh Bắc Triều tiên, trực tiếp uy hiếp Trung Quốc. Cho nên Mao phải giúp Bắc Triều tiên, mà điều trước nhất phải làm, là trưng thu tài sản, cơ sở đế quốc. Giai cấp Tư sản và Địa chủ nhân dịp này, gây ra những hoạt động phản cách mạng. Mao phải thi hành cải cách ruộng đất để yên bề nông dân, cùng phát động kế hoạch “Ngũ phản” (Chống: 1/ hối lộ, 2/ lậu thuế, 3/ gian lận, 4/ chiếm tài sản nhà nước, 5/ trộm bí mật kinh tế nhà nước. Phát động 1952, sau đó 500.000 cơ sở tư bị điều tra – N.D), tức là để chống Tư bản trong nước.

    Cải cách ruộng đất 1952 phát động, không có Quốc hữu hóa, có nghĩa là đất ruộng vẫn tiếp tục bán và mua tự do trên thị trường. Điều đó tạo thêm sự chênh lệch giữa giai cấp nông dân – người nghèo phải bán, để giữ mạng sống, người có của thì mua. Phú nông cũng dự phần việc cho vay với phân lời cắt cổ cho người cần tiền, và rất nhiều viên chức cán bộ trong Đảng cũng tham gia chuyện này.

    Tình hình càng tồi tệ, bắt buộc Đảng phải tham gia việc cải cách ruộng đất. Năm 1955 – phải tập thể hóa nông nghiệp. Mao bị thiểu số trong ban lãnh đạo Đảng. Chương trình của anh ta là gấp rút thực hiện tập thể hóa trước cuối năm. Lưu Thiếu Kỳ và Bành Đức Hoài thuộc số những người muốn có thời gian dài hơn, cho rằng chỉ khởi đầu được vào năm 1967. Mao đứng đầu Bộ Chính trị, triệu tập các vụ, viện, tỉnh bộ, vùng bộ để có quyết định sẽ hoàn tất năm 1957. Tính độc đoán của Mao vi phạm nguyên tắc tập trung đất ruộng và canh nông do Engels và Lenin đề ra. Thay vào đó, Mao thi hành chính sách sao chép từ Stalin trong thập niên 1920, tạo ra sự bất bình lớn trong quần chúng nông dân, vào ngay những năm tiếp đó.

    Đầu năm 1953, đế quốc Mỹ cấm vận Trung Quốc. Đảng Cộng sản Trung Quốc tuyên bố thi hành chính sách của “giai đoạn chuyển tiếp” (chuyển tiếp, thường gọi là quá độ – N.D), tức là kế hoạch ứng phó, mà Mao đặt tên là “Kế hoạch Ngũ niên”, mục đích là tới sự tạo dựng kinh tế cùng kỹ nghệ hoá trong nước. Trong 1955-56, với sự phá bĩnh của tư sản trong nước trước chính sách kinh tế mới này, chương trình “Tân Dân chủ” đã bị gác, thay bằng chương trình “Nhà nước cùng Tư hữu cộng sinh”, mà Mao cho rằng sẽ để loại thải dần dần tư hữu của giai cấp Tư sản, khởi đầu cho việc xây dựng chủ nghĩa Xã hội.

    Cuộc chuyển biến chính sách Đảng Cộng sản Trung Quốc từ sau khi chiếm quyền 1949, cho đến 1955, tương tự như chính sách Stalin từ 1945 đến 1948 tại Đông Âu với hiện diện của Hồng quân chiếm đóng ở đó. Chính sách đối ngoại của Mao cũng theo chính sách “sống chung hoà bình Xã hội chủ nghĩa và Tư bản” của Stalin. “Năm nguyên tắc chung sống hòa bình” mà Chu Ân Lai đem áp dụng với Nehru của Ấn là một thí dụ. Quãng thời gian này, Mao nhìn Stalin và Nga Xô như khuôn mẫu của một bậc thầy, anh ta phải bắt chước.

    Tháng Bảy 1949, Mao chủ trương chính sách đối ngoại là “nhất biên đảo”, tức là, “ngả một bên”, và áp dụng chính sách ngả theo Nga Xô. Sau khi tuyên bố, Mao sang Nga 1950 để trực tiếp nói chuyện với Stalin. Kết quả hai bên ký kết một loạt tương ước về kinh tế, chính trị và trợ giúp quân sự giữa Trung Quốc và Nga. Tất cả những ký kết đều có lợi về Nga hơn là Trung Quốc, làm Mao về sau than phiền, “Cuộc thương thuyết của chúng ta với Nga Xô, thật giống như cuộc thương thuyết giữa con với bố.”[2]

    Nhưng sau Đại hội 19 của Đảng Cộng sản Liên Xô, Mao vẫn ra lệnh cho nhân viên cán bộ toàn Đảng Cộng sản Trung Quốc phải học tập lý thuyết Stalin. Khi Stalin chết năm 1953, Mao còn tuyên bố:

    “Những văn bản của đồng chí Stalin là những tài liệu Mác-xít bất tử. Công trình của đồng chí, Căn bản của chủ nghĩa Lênin, Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô (Bolsheviks), cùng công trình cuối cùng, Vấn đề kinh tế tại Liên Xô là những Bách khoa Từ điển cho chủ nghĩa Mác-Lênin, là những bản tóm lưọc đầy đủ kinh nghiệm về phong trào Cộng sản suốt trăm năm qua.”[3]

    Học tập chủ thuyết Stalin là điều bị bắt buộc trong toàn thể đảng viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cùng những tổ chức thanh niên, trong cả giới giáo chức, sinh viên mọi trường lớp, trong cả mọi tầng lớp cán bộ cùng nhân viên chính phủ. Chiến dịch học tập này, kéo dài vài tháng, thực ra là để Stalin-hóa Trung Quốc.

    12.

    Hỏi: Bản báo cáo của Khrushchev, đem ra ánh sáng những tội ác của Stalin, đã ảnh hưởng đến Trung Quốc ra sao?

    Đáp: Thật là mỉa mai, là mỗi khi Đảng Cộng sản Liên Xô bị áp lực dư luận thúc bách đòi phá bỏ sự thần thánh hóa lãnh tụ là Stalin, thì Đảng Cộng sản Trung Quốc lại mở chiến dịch nâng cao danh tiếng Stalin. Trong Đại hội 20 của Cộng sản Liên Xô 1956, khi Krushchev đòi bác sự suy tôn cá nhân Stalin, đã trưng bằng cớ tội ác cùng sai quấy của Stalin, thì các đảng Cộng sản toàn thế giới và Đảng Cộng sản Trung Quốc đều bị chấn động chuyện này.

    Phản ứng của Cộng sản Trung Quốc bộc lộ trong Đại hội thứ Tám, tháng Chín 1956, mà giải pháp do Lưu Thiếu Kỳ đưa ra, là đề nghị xóa một câu của văn bản thành lập Đảng, (nhấn mạnh – N.D) câu ấy là, “Đảng Cộng sản Trung Quốc lấy lý thuyết Mác-Lênin cùng phối hợp với nguyên tắc triển khai từ kinh nghiệm thực tế của cách mạng Trung Quốc, tức là tư tưởng Mao Trạch Đông – làm những nguyên tắc hướng dẫn mọi hành động…” (nhấn mạnh – N.D)

    Đặng Tiểu Bình, trong báo cáo đề nghị sửa Hiến pháp, phát biểu:

    “Trong Đại hội Đảng thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô đã đưa ra bó đuốc soi đường về chiều sâu của nguyên tắc lãnh đạo tập thể cùng chống lại tệ nạn sùng bái cá nhân, đã thành một thí dụ sáng giá đem đến những ảnh hưởng sâu xa, không chỉ trong Đảng Cộng sản Liên Xô mà còn trong các Đảng Cộng sản toàn thế giới. Hiển nhiên là, một quyết định quan trọng mà chỉ do cá nhân quyết định, sẽ đi ngược lại nguyên tắc cơ bản của sự thành lập Đảng đã được xây dựng trên nguyên tắc Cộng sản, chỉ đưa đến nhiều sai lầm. Chỉ có lãnh đạo tập thể, đi sát với quần chúng, theo khuôn khổ nguyên tắc Đảng là tập trung dân chủ, mới có thể giảm những sai lầm đến tối thiểu.”[4]

    Bản báo cáo này tiêu biểu cho đa số ý kiến của ban lãnh đạo Đảng. Mao không dám chống lại những đòi hỏi phải xét lại thực trạng, mà còn bị áp lực, đến nỗi phải tuyên cáo trong Đại hội,

    “Trong Đại hội 20 mới không xa đây, Đảng Cộng sản Liên Xô đã lập thành nhiều công thức đúng đắn và đã phê bình những thiếu sót trong Đảng ta. Cũng có thể nói một cách tự tin rằng những triển khai lớn đó sẽ đón tiếp ngay những thành quả… kinh nghiệm của chúng ta đã rất không đầy đủ. (nhấn mạnh – nguyên tác). Nên chúng ta phải biết học hỏi. Chúng ta phải biết học những bài học từ đảng tiền phong của chúng ta, là Liên Xô…”[5]

    Cho dù đã nhìn nhận như thế, Mao vẫn như bị một đòn chí mạng. Sau Đại hội Tám, anh ta chuẩn bị tấn công Krushchev và triệt nhóm Lưu-Đặng. Mùa thu 1956, cách mạng Hung bùng ra. Đó là cuộc cách mạng đầu tiên nổi dậy trong khối Xô viết. Thiết giáp Xô viết đè bẹp quần chúng một cách tàn bạo, chỉ để tạo ra bao thương xót trên toàn thế giới đối với những người bị đàn áp. Tại Trung Quốc, Mao phải nói:

    “Nhiều người Trung Quốc cũng tỏ cảm tình trước biến cố Hung Gia Lợi. Họ mong chuyện tương tự sẽ xảy ra tại Trung Quốc, là sẽ có hàng ngàn, hàng ngàn người cùng xuống đường biểu tình, để chống chính quyền Nhân dân Trung Quốc.”[6]

    13.

    Hỏi: Mao đã làm gì để tránh chuyện bùng ra tương tự, ngay trên đất Trung Quốc?

    Đáp: Mao tìm liều thuốc giảm đau cho cơn bệnh bất mãn, bằng cách phát động phong trào, “Trăm hoa đua nở, Trăm nhà đua tiếng”. Phong trào này kêu gọi mọi đảng phái, mọi khuynh hướng, học phái, phe nhóm, mọi cá nhân… hãy bày tỏ ý kiến và cùng bình phê “Tam Hại” – là Hại quan liêu, Hại cửa quyền, Hại chủ quan. Mao hi vọng sẽ làm dịu những bất mãn cùng thù nghịch đối với sự tôn sùng cá nhân anh ta bấy lâu, bằng cách để ai ai cũng được tự do lên tiếng. Trong phong trào Trăm Hoa (Tháng Tư-Tháng Sáu 1957), có rất nhiều phê bình Đảng, về chính phủ, và về đặc quyền của giới quan liêu công quyền. Lưu Thiếu Kỳ nhìn nhận,

    “Có tính quan liêu nghiêm trọng trong Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng với các tổ chức Thanh niên của Đảng. Sự độc đoán của chính quyền cùng những đặc quyền hưởng thụ là có thật, đã được phê bình rõ ràng.”

    Lưu còn nói,

    “Sự trầm trọng về chuyện quan liêu… cùng việc phê bình đang tràn lan mọi chốn, từ hãng xưởng, trường học, trang trại, cũng như bất cứ cơ quan nào. Nhưng, mục tiêu chính, và trên cùng, phê bình toàn là nhắm vào lãnh đạo.”[7]

    Những ý kiến quần chúng nổi bật nhất, là Lâm Tử Linh, thành viên của nhóm thanh niên và là lãnh tụ phong trào sinh viên; và của Đới Hoan, thành viên của Đảng, cũng là ký giả của Tân Hoa Xã. Người trước phát biểu, “Tầng lớp xã hội bên trên hiện nay không tương hợp với tư hữu chung của cả xã hội, vì guồng máy Đảng và Nhà nước đã trở thành trung tâm quan liêu cai trị một đất nước không có chút gì dân chủ,” Cho nên, cô ta khẩn thiết kêu gọi, “Không cải cách nữa, mà phải đổi thay hết.” Người sau, đề nghị lập “Đảng mới” để, “Thực hiện dân chủ, tự do, và xóa sạch giai cấp đặc quyền đặc lợi.”[8]

    Trung tuần tháng Sáu 1957, trên 3,000 sinh viên Hán Dương, gần Hán Khẩu biểu tình, đốt phá các bót cảnh sát, chiếm giữ các văn phòng Đảng cùng nhiều cơ quan chính phủ. Cuộc nổi dậy là một tái hiện thu nhỏ của cách mạng Đông Âu.

    Mao lập tức can thiệp, phát động cuộc phản công, diệt sạch những ai mà anh ta vừa mới mời tham gia cuộc cải tổ “Đảng và Chính phủ”. Nay những người ấy thành ra “Hữu khuynh”, “Phản cách mạng” và bị trừng trị đích đáng. Trên 50,000 nạn nhân bị trục xuất khỏi cơ sở Đảng cùng các cơ sở của Thanh niên Cộng sản. Nhiều người còn bị đuổi khỏi trường, mất việc làm ở các chức vụ công. Rất nhiều người bị bắt giữ, hoặc vào tù, hay vào trại Lao cải.

    14.

    Hỏi: Thành ra, thay vì Mao được thêm tôn sùng, lại có kết quả trái ngược?

    Đáp: Quần chúng coi phong trào Trăm Hoa là trò lừa đểu, và là cái bẫy để thanh toán bọn đòi ly khai (dissident). Dù kết qủa trừng trị như thế, Mao vẫn chưa hài lòng, phát động thêm chương trình mới – Bước “Đại Nhảy Vọt” cùng “Nhân dân Công xã”. Trong Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa 8, Mao đề ra chương trình Nhảy vọt, hi vọng tạo ra phép lạ nông nghiệp cùng kỹ nghệ. Chương trình là chế thép ngay trong vườn nhà. Nỗ lực suốt năm, vận dụng 100 triệu người. Sinh viên, giáo sư, công nhân, nông dân, cả các bà nội trợ cũng tham gia chế thép. Trên 3 triệu tấn thép đúc, được sản xuất theo kiểu này – mà không 1 kí nào dùng được! Sự uổng phí lực lao động và vật liệu, chứng tỏ Mao thậm dốt về kỹ thuật.

    Chớm đầu tháng Tám 1958, sau khi tự viếng Nhân dân Công xã tại Hồ Nam, chinh cá nhân Mao quyết định đòi tất cả nông dân bắt buộc phải tham gia Công xã. Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc phải ra lệnh theo ý Mao là công xã toàn diện mọi sở hữu quần chúng về đất đai, kể cả vườn nhỏ trong nhà, từ vựa lúa, kho thóc, gia súc, cho đến cây trái. Mục đích là,“Xóa bỏ mọi sở hữu cá nhân.” Nông dân phải cùng ăn trong Nhà ăn công cộng, trẻ con phải cùng vào Nhà trẻ công cộng, để phụ nữ có thể làm việc mười hai – đến mười bốn tiếng một ngày… tham gia việc đồng áng. Trong một thời hạn ngắn ngủi có ba tháng, 99 phần trăm nông dân đã lọt vào Nhân dân Công xã. Phương pháp tập thể hóa này vi phạm nguyên tắc sơ đẳng của chủ nghĩa Mác, đã từng được đặt thành tiêu chí của Engels, Lenin, và Trotsky.[9]

    Hầu hết nông dân tuyệt vọng, đến mức chính họ phải chống lại các Công xã, bằng cách tự phá hoại, như giết gia súc, chặt cây trái, hay phá hủy mùa màng… đưa đến kết quả ngược, là thực phẩm vô cùng khan hiếm. Tình hình trở thành tồi tệ đến cùng độ vào đầu mùa hè 1959, là lúc cộng thêm thất bại sản xuất thép đã hiển nhiên. Khắp nước bất mãn. Nhiều cán bộ cùng lãnh đạo cấp cao đều tỏ lời phê bình Công xã. Nào Lưu Thiếu Kỳ, phó chủ tịch Đảng kiêm phó chủ tịch Nước, Tổng Tư Lệnh quân đội Chu Đức, Bộ trưởng Quốc phòng Bành Đức Hoài, rồi Tham mưu trưởng Hoàng Khắc Thành, và nhiều người nữa trong Bộ Chính trị cũng lên tiếng.

    Bành Đức Hoài công khai phê chính sách Nhân dân Công xã là mang đầy đủ tính chất của ”Tiểu tư sản quá khích”. Ông ta viết cho Mao một bức thư dài ngày 14 tháng Bảy, 1959, phê bình Bước Nhảy Vọt thi hành quá sớm, làm mọi tỉ lệ phân phối của kinh tế mới rối loạn, đưa đến xáo trộn xã hội, và kết quả là đã phí phạm 20 tỉ Nhân dân tệ (tương đương 9 tỉ đô la Mỹ).

    Bành nói, “Nhân dân Công Xã thi hành quá sớm, đã kéo thụt lùi nền sản xuất nông nghiệp.”

    Bành yêu cầu, “Nhân Dân Công Xã phải tái tổ chức, phải được hỗ trợ hết cả mọi mặt, đặc biệt là từ Quân đội Nhân dân”.

    Mao phản ứng, bằng cách triệu tập Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng tại Lư Sơn, tháng Tám 1959. Sau cuộc tranh biện gay gắt, hội nghị nổi tiếng đó – Hội nghị Lư sơn – đồng chấp thuận việc tái tổ chức Nhân dân Công xã. Giải pháp, là sự hợp tác của các nhà sản xuất sẽ căn cứ trên cơ sở của sở hữu cá nhân – nghĩa là, trở lại hình thức sản xuất trước khi có Đại Nhảy Vọt. Phiên họp mở rộng này cũng quyết nghị việc phải truy lùng thành phần “ly khai” trong Đảng.

    Rồi Bành Đức Hoài bị Lâm Bưu thay thế; rồi Hoàng Khắc Thành bị cách chức; và vài thành viên trong Bộ Chính trị Trung ương biến mất.

    Để chống đỡ những sai lầm ngớ ngẩn của mình, Mao cũng từ chức Chủ tịch nhà Nước vào tháng Chạp, chỉ định Lưu Thiếu Kỳ thay thế. Lưu chính thức được thừa nhận vào chức vụ tháng 4, 1959. Giờ thì trách nhiệm sửa chữa những sai lầm nghiêm trọng dồn vào nhân vật mới, có nhiệm vụ xoa dịu bất mãn trong dân.

    15.

    Hỏi: Lưu có thực hiện được cuộc cải cách nào không?

    Đáp: Lưu, cùng Đặng Tiểu Bình là Tổng Bí Thư, và Bành Chân, là Thị trưởng Bắc Kinh, cùng nhau phát động chiến dịch sửa sai, hủy bỏ chương trình nhà nhà đúc thép, cho phép duy trì quyền sở hữu đất ruộng trở lại, cùng sở hữu những phương tiện chăn nuôi tại thôn quê, bãi chương trình Nhà trẻ, Nhà ăn công cộng. Đại đa số nông dân đón mừng nồng nhiệt cải cách này. Nông phẩm tăng gia, sự thiếu hụt rau trái trầm trọng chấm dứt. Từ 1960 đến 1961, có nạn đói xảy ra, cộng đại họa Nhân dân Công xã, nhưng từ 1963, sản phẩm nông nghiệp khôi phục, thành quả đã ngang bằng với lúc trước khi có Công xã.

    (Lược bỏ 15 dòng phát biểu về chính sách văn nghệ lươn lẹo của Mao, cùng những cải tổ giáo dục học đường, mà một Trotskyist khác, là Trần Kim Lan đã phát biểu trong cùng loạt bài chúng tôi đã dịch, “Văn nghệ và quyền lực”)

    Cải cách của Lưu đem lại sự tán thưởng cùng khâm phục trong đa số quần chúng đối với cá nhân Lưu, đặc biệt của cả nông dân lẫn trí thức – trở thành một sự rất mích lòng Mao. Lưu đọc diễn văn trước Trung ương Đảng, ngày 22, tháng Hai 1962:

    “Khó khăn tạm thời về kinh tế do những sai trái nghiêm trọng cùng nhiều lầm lỗi của chính chúng ta – 30% từ thiên tai và 70% do nhân tai. Việc đánh phe Hữu trong hội nghị Lư sơn năm 1959 (vụ Bành Đức Hoài) là quá mức, làm khó khăn cho cả những nỗ lực để rửa tiếng cho các nạn nhân. Cuộc đấu tố đã đầy sai lầm… Đảng rất thiếu dân chủ. Sinh mạng Đảng là sinh mạng của một chuỗi thanh toán tàn nhẫn, không thương sót.”

    Diễn văn trên, được in lại trong Cách mạng Văn hoá, trên tờ Hồng Vệ Binh Thủ đô sau này, cốt để hạch tội Lưu Thiếu Kỳ, nhưng kỳ thật, lại làm người đọc hiểu hơn về quan điểm công khai của Lưu lúc đó. Đó là lúc Lưu ra sức cải tổ Đảng, với dự định rửa tiếng cho Bành Đức Hoài và những người oan ức khác. Cùng lúc, Mao chuẩn bị tái lập chính sách sùng bái lãnh tụ, và trả đũa những người chống đối. Trước tiên, anh ta sử dụng Lâm Bưu, Bộ trưởng Quốc phòng mới nhậm chức để tuyên truyền tư tưởng Mao và sắp đặt kế hoạch thờ phụng lãnh tụ trong quân đội. Đầu năm 1960, Lâm Bưu đưa ra giải pháp trong buổi triệu tập của Ban Trung ương Quân sự, nhan đề, “Bốn đáp án để giải quyết những khó khăn Quân sự” trong đó anh ta nhấn mạnh vai trò cá nhân lãnh tụ trên bình diện chính trị và tư tưởng. Khi giải pháp thông qua, Lâm kết luận, “Ai ai cũng phải đọc sách của Mao Chủ tịch, lắng nghe từng lời của Mao Chủ tịch, thi hành công tác theo chỉ dẫn của Mao Chủ tịch.” Tại Hội nghị Trung ương tháng Chín 1963, Mao tung ra khẩu hiệu, “Chúng ta không được xao lãng chuyện đấu tranh giai cấp”. Trong cùng buổi đó, một tuyên cáo được tung ra, như sau:

    “Trong thời kỳ chuyển tiếp từ tư bản chủ nghĩa sang xã hội chủ nghĩa… cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản vẫn còn. Cuộc đấu tranh hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa vẫn còn. Cuộc đấu tranh này không khỏi không có phản chiếu từ trong Đảng… Chúng ta phải bắt kịp thời cơ và phải đấu tranh bền chắc chống với những khuynh hướng Cơ hội chủ nghĩa mà chúng lộ ra nhiều kiểu nhiều cách. Đặc điểm của Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng lần thứ 8 là sự chiến thắng đập nát bọn Hữu khuynh. Tức là, đã đập tan mọi phá hoại của bè lũ Xét lại.”

    Những câu trên là những lời cảnh báo đến Lưu Thiếu Kỳ, rằng nếu còn tiếp tục chống phá, tức là thuộc về khuynh hướng Xét lại, sẽ gặp số phận y như Bành Đức Hoài. Sau đó, những từ “cơ hội”, “xét lại” luôn luôn được lặp đi lặp lại trong văn bản của Đảng, trên báo chương… để dằn mặt những ai trong Đảng mà dám có ý kiến khác Mao.Trong buổi họp của Liên hội Văn nghệ Trung Quốc tháng Sáu 1964, Mao tuyên bố:

    “Trong mười lăm năm qua, hội này cùng những sản phẩm đã ấn hành của họ, đã phần lớn thất bại… Họ đã nghiêng về phe Xét lại. Nếu họ không kịp tự chấn chỉnh, sớm muộn gì họ sẽ trở thành một Câu lạc bộ kiểu Petofi bên Hung.”

    Mao ra lời cảnh cáo đến nhóm sinh hoạt văn hóa nào chịu ảnh hưởng Lưu Thiếu Kỳ, nhưng những lời nhắc đến nhóm cách mạng Hung của Mao mới là những lời báo động cho cuộc Cách mạng Văn hóa sắp đến.

    16.

    Hỏi: Tại sao Mao phát động Cách mạng Văn hóa?

    Đáp: Cách mạng Văn hoá ở Trung Quốc là phản ứng đối phó cái kết cục bi thảm tại Nam Dương, tháng Mười 1965. Đảng Cộng sản Nam Dương là Đảng Cộng sản lớn nhất trong thế giới tư bản, với 3 triệu đảng viên cùng 10 triệu cảm tình viên. Đầu thập niên ’60, Mao đã muốn lôi kéo Đảng này về phe mình, trong cuộc tranh giành ảnh hưởng Trung-Xô trên thế giới. Mao mời lãnh tụ Đảng Cộng sản Nam Dương là Aidit đến Bắc Kinh nhiều lần để thương lượng, và Mao đề nghị Aidit hợp tác với chính quyền Sukarno, theo mô hình hợp tác Quốc dân Đảng-Cộng sản ở Trung Quốc. Đảng Cộng sản Nam Dương nghe theo, áp dụng chính sách cơ hội này, đưa đến cuộc đảo chính tháng Mười 1965, làm cho 250,000 đến 500,000 đảng viên Cộng sản cùng Dân quân bị thảm sát, kể cả Aidit. Tấm thảm kịch này là một cú nghẹt thở trước dư luận thế giới, khi thẩm xét sự khả tín chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhiều lãnh tụ trong Đảng cũng bất mãn với chính sách Mao, làm Mao phải triệu tập phiên họp đặc biệt tháng Chín-Mười 1965. Trong phiên họp, vài lãnh tụ chê trách việc thất bại Đảng Cộng sản Nam Dương là do chịu ảnh hưởng Đảng Cộng sản Trung Quốc. Thị trưởng Bắc kinh Bành Chân gay gắt phát biểu, “Con người bình đẳng trước sự thật. Nếu Mao Chủ tịch sai lầm, cũng phải chịu phê bình.”

    Sau cuộc trao đổi, Mao tức khắc đi Thượng Hải tập hợp phe nhóm, gồm Trương Xuân Kiều, giám đốc hội Văn hoá Thượng Hải, Diêu Văn Nguyên, tổng Biên tập Văn hối báo. Bọn này, dưới sự chỉ đạo của Mao, viết bài công kích vở kịch Hải Thụy bãi quan đăng trên báo ở Thượng Hải, tố cáo một tác phẩm văn nghệ tiên phong dám “chĩa” vào dự định làm Cách mạng Văn hoá. Chiến dịch tiếp, theo nhằm quảng bá “tư tưởng Mao”, khởi động trên Giải phóng quân báo dưới chỉ đạo của Lâm Bưu, tung ra những luận điệu như, “Phải học tập tư tuởng Mao Trạch Đông cùng nêu cao tư tưởng Mao Trạch Đông,” và,”Tư tưởng Mao Trạch Đông là bảng chỉ đường cho cách mạng giải phóng nhân dân thế giới.”

    Trong Thư Biên tập trên báo, ngày 1 tháng Giêng 1966, viết,

    “Mỗi lời của Mao chủ tịch đều là chân lý… Chúng ta phải tin chắc cùng hỗ trợ mọi điều của tư tưởng Mao Trạch Đông, và chúng ta phải cương quyết chống lại những gì không đúng với tư tưởng Mao Trạch Đông.”

    Lời nhắn này, để gửi đến Lưu Thiếu kỳ cùng Trung ương Đảng.

    Một vài nhà văn Bắc Kinh và Thượng Hải vẫn còn ngỏ ý bênh vực cho Ngô Hàm (tác giả vở kịch) chống những dèm pha, cho đến khi Lâm Bưu ra lệnh triệt hết khuynh hướng “chống Đảng”. Tờ Quân đội Giải phóng được dùng làm cái loa chính cho chiến dịch này, đưa tới sự đàn áp thể chất tới bất kỳ ai chống đối. Quân đội được vận dụng tham gia chiến dịch. Ngay cả khi Ngô Hàm cùng những người bênh ông ta đã im tiếng, phe Mao vẫn tiếp tục buộc tội họ, là “chống Xã hội Chủ nghĩa”, “chống Đảng”, “chống Cách mạng”, và có hoạt động “hướng đến con đường Tư bản” – tất cả cáo buộc này làm cá nhân Ngô Hàm rơi xuống vực thẳm. Tháng Tư, Diêu Văn Nguyên tung ra bài viết buộc tội các tác giả Chuyện ba nhà, và Đêm bàn chuyện Yên Sơn. Ngay sau đó, Đặng Thác cùng các tác giả kia bị trục xuất khỏi Đảng.

    Cuối tháng Tư, Lâm Bưu điều động quân đội tiến chiếm toàn thể các văn phòng cơ quan chính phủ thành phố. Mao từ miền Nam trở về Bắc Kinh, chính thức phát động “Cách mạng Văn hoá Vô sản”. Anh ta lập “Nhóm Cách mạng Văn Hoá”, mà Trần Bá Đạt là Đệ Nhất chủ tịch, Giang Thanh làm Đệ Nhị. Chính quyền Bắc Kinh, mà người đứng đầu là Bành Chân, bị truất chức, đầu tháng Sáu. Rồi Lục Định Nhất, Trưởng ban Tuyên huấn, và Chu Dương, Thứ trưởng Văn hoá cùng nhiều quan chức cao cấp trong bộ Văn hoá cũng bị truất chức. Tổng Tham mưu trưởng La Thụy Khanh bị bắt. Tới trung tuần tháng Sáu thì tất cả trường, từ Mẫu giáo, Tiểu học, Trung học cho đến Đại học đều đóng cửa để làm Cách mạng Văn hóa. Hầu hết Khoa trưởng, Hiệu trưởng của Đại và Trung học các cấp, cũng như toàn thể giáo viên, giáo sư đều bị Hồng Vệ Binh đánh đập, chửi rủa dưới chỉ đạo của Nhóm Cách Mạng Văn hóa – do Trần Bá Đạt và Giang Thanh chỉ huy.

    Lưu Thiếu Kỳ cùng Đặng Tiểu Bình cố cứu vãn tình thế, bằng cách yêu cầu triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng. Mao từ khước không đến dự, vì cuộc thanh trừng Lưu-Đặng chưa xong. Khi Mao về tới Bắc Kinh, ra lệnh Lâm Bưu đem quân đội vây Thủ Đô. Rồi Mao mới triệu tập Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng lần thứ 11 khóa 8, để thi hành “Quyết nghị về Cách mạng Văn hóa Vô sản”. Điểm chính, là: “Để đập tan bọn ở ngay trong Cơ quan trách nhiệm, lại có tư tưởng theo con đường Tư bản chủ nghĩa”, và phải lập tức, “Tái cấu trúc Ban chấp hành Chính trị bộ”. Thế là Lưu Thiếu Kỳ bị cất chức phó Chủ tịch Đảng, Lâm Bưu thay thế.

    Hội nghị này chủ trương kêu gọi sinh viên hãy tham gia, để tăng cường cho sức mạnh Hồng Vệ Binh. Chiến dịch đầu, là chiến dịch phá “Bốn cũ” – tư tưởng cũ, văn hóa cũ, phong tục cũ, thói quen cũ – thay bằng “4 mới”. Đầu tháng Tám, trong cuộc tập họp lớn ở Bắc Kinh, Lâm Bưu nhắn nhủ Hồng Vệ Binh là phải, “Cô lập và thanh trừng toàn thể bọn công chức ngấm ngầm theo con đường tư bản.” Cuộc diệu võ dương oai, kèm nhiều bích chương khắp nơi diễn ra, đòi hỏi Hồng Vệ Binh thanh toán gấp “Bọn đầu nậu địa phương”.

    Nhưng có vài lãnh tụ địa phương tự tổ chức nhóm Hồng Vệ Binh riêng, chống Hồng Vệ Binh Trung ương của Mao, kết quả, là xảy ra nhiều đụng độ dữ dội. Ngày 15 tháng Chín, Lâm Bưu thay Mao đọc diễn văn trong buổi Đại hội Hồng Vệ Binh, cao giọng bảo đảm, là “Quân đội sẽ hỗ trợ Hồng Vệ Binh trong công cuộc diệt bọn chống tư tưởng Mao đến cùng”. Lời tuyên bố này dẹp yên hết mọi ngần ngại: Hồng Vệ Binh lập tức phát động phong trào tố cáo bằng bích chương tại Bắc Kinh, kêu gọi “Nghiêm trị bọn chạy theo Tư bản”. Chúng chỉ đích danh các lãnh đạo địa phương như Lý Tỉnh Tuyền, Bí thư thứ nhất Cục Tây Nam; Lưu Lan Đào Bí thư thứ nhất Cục Tây Bắc; và Lý Tuyết Phong Bí thư thứ nhất Cục Hoa Bắc. Rồi viên chức công quyền nào cũng bị đấu, tới cả Lưu Thiếu Kỳ, chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc, cùng Đặng Tiểu Bình, Tổng Bí thư Đảng cũng là nạn nhân. Cuối tháng Mười, trong cuộc kiểm điểm 17 ngày, Lưu và Đặng bị ép phải viết bản tự kiểm. Sau phiên họp ấy, Bành Chân và Lục Định Nhất bị bắt.

    (còn tiếp)

    Nguồn: Bản tiếng Việt © 2010 Vũ Huy Quang & talawas

    [1] Kế hoạch Marshall, soạn 1947, áp dụng 1948. Kế hoạch chuẩn chi 12 tỉ Mỹ kim tái thiết Âu châu, làm bức tường chắn Cộng sản. Chấm dứt 1952.

    [2] Ghi chú trong biên bản Hội nghị tối cao Nhà nước, ngày 12, tháng Mười 1957.

    [3] Tsui wei-ta ti Yu-i (Đại Hữu Nghị), Bắc Kinh, 1957, Anh ngữ, của Schram, “Political Thought of Mao Tse-tung”, p. 265.

    [4] Đặng Tiểu Bình, “Báo cáo về việc duyệt lại Hiến chương Đảng Cộng sản Trung Quốc”, Đại hội 8 của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Anh ngữ, (Peking, Foreign Languages Press, 1956) vol. 1. Document, p. 192

    [5] Mao Trạch Đông, “Diễn văn khai mạc tại Đại hội 8 của Đảng Cộng Sản toàn Trung Quốc” sđd. p.10. (Tài liệu) Nhấn mạnh trong trích dẫn.

    [6] Để chỉnh những mâu thuẫn trong quần chúng (Peking, Foreign Languages Press, 1960), p. 13.

    [7] “Diễn văn chào mừng đại biểu Đảng Lanka Sama Samaja” của Tích Lan,Nhân dân Nhật báo, 19 tháng Năm, 1957.

    [8] Quang minh Nhật báo.

    [9] Chi tiết trong bài “Phê bình về công xã nhân dân” của Bành Thuật Chi,The Chinese Communist Party in Power – Pathfinder, p.p 171- 223.
    – See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/04/03/danh-gia-cuoc-doi-chinh-tri-mao-trach-dong-p2/#sthash.l3qaXZph.dpuf

  22. Đánh giá cuộc đời chính trị Mao Trạch Đông (P3) nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2016/04/10/danh-gia-cuoc-doi-chinh-tri-mao-trach-dong-p3/ Biên dịch: Vũ Huy Quang

    17.

    Hỏi: Thế có nghĩa là Mao thành công?

    Đáp: Mao cũng nghĩ thế. Ngày 26 tháng Chạp, trong một bài tường thuật về buổi Khánh tiết của Hồng quân tại Bắc Kinh, toàn thể báo chí, như tờ Hồng Kỳ, đều loan tin thắng lợi của Cách mạng Văn hoá. Nhưng những biến cố tiếp sau, chứng tỏ những chống đối còn lâu mới hết.

    Mùa thu 1966, một nhóm Hồng Vệ Binh hùng hậu do Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Vương Hồng Văn điều động, tấn công nhiều văn phòng của các nhà chức trách Thượng Hải. Đại diện Đảng và chính quyền, như Thị trưởng Tào Địch Thu và bí thư thứ nhất Ủy ban Thành phố là Trần Phi Hiển đã ứng phó, bằng cách nhượng bước trước yêu sách của Nghiệp đoàn Công nhân để lôi kéo công nhân ủng hộ.

    Tuần lễ đầu năm 1967, lực lượng đối đầu rất mạnh, đã thành cuộc đình công to lớn bùng ra tại Thượng Hải, đến nỗi làm Mao phải lưu ý, là có một lực lượng có thể dám chống lại Hồng Vệ Binh cùng Cách mạng Văn hoá. Trung ương Đảng, theo lệnh Mao, dự tính cho nhóm Hồng Vệ Binh “Tả”, phải chiếm chính quyền tại Thượng Hải ngay. Do đó, Lâm Bưu phải phụ trợ, bằng cách đem quân đội đến, dẹp đình công. Xong xuôi, Mao lập tức thanh trừng toàn ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước tại Thượng Hải, Hồng Vệ Binh “Tả” khống chế mọi hãng xưởng, công đoàn, cơ sở giáo dục cùng cơ sở văn hoá. Tiền lương tăng cùng giờ làm giảm do cuộc đình công đoạt được, nay hủy bỏ hết, làm kinh tế toàn tỉnh tê liệt. Chu Ân Lai nhập cuộc để cứu vãn, đưa “giải pháp Tam Liên”, gồm đại diện quân đội, đại diện tỉnh, đại diện Hồng Vệ Binh… cùng liên hiệp, thay thế chính quyền cũ, cùng nhau điều hành tỉnh. Thực ra, quyền điều hành đã lọt vào tay nhóm Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Vương Hồng Văn (cùng Giang Thanh, là “Tứ Nhân Bang”) là những người mà sau này, bị Hoa Quốc Phong thanh toán – vào mùa thu năm ngoái.

    Cùng lúc, một xung đột lớn giữa chính 2 nhóm Hồng Vệ binh xảy ra tại Nam Kinh. Khoảng 50 người chết, 100 bị thương. Mao không cho quân đội trợ giúp Hồng Vệ của mình được, vì lực lượng Hồng Vệ đối đầu lại do Chính quyền địa phương yểm trợ, cùng với Tư lệnh quân đội địa phương là Hứa Thế Hữu nhập phe nhau. Chu Ân Lai lại can thiệp, đưa đến sự tương nhượng. Tại Hồ Nam, Hồng Vệ tự nhân danh là nhóm “Hai-Bảy Công Xã” (công xã tháng Hai, ngày 7) cũng muốn như nhóm Thượng Hải chiếm chính quyền. Lực lượng địa phương chống lại chuyên này, với trợ giúp của quân đội địa phương. Hai nhóm đánh nhau suốt từ tháng Hai đến tháng Sáu 1967, rất nhiều người chết. Nhóm “Hai-Bảy” thất bại, cũng có vài sĩ quan bị kỷ luật, nhưng rốt cục, quyền lực của tỉnh vẫn trong tay địa phương.

    Thời kỳ đầy bi kịch, là tại Vũ Hán vào tháng Bảy, khi một nhóm Hồng Vệ được hỗ trợ mạnh từ Bắc Kinh muốn chiếm chính quyền tỉnh. Giới chức địa phương tổ chức một nhóm Hồng Vệ chống lại, lấy tên là “Bách vạn hùng sư”. Họ được tư lệnh quân đội địa phương Trần Tái Đạo hỗ trợ. Nhóm Hồng Vệ của Mao kêu gọi tiếp viện, nhóm chỉ đạo Trung ương sai Tạ Phú Trị, Bộ trưởng Công an, cùng Vương Lực, Tổ trưởng Tổ tuyên truyền Trung ương, cùng đến Vũ Hán ngày 14 tháng Bảy, hai đại diện cùng lên án quân đội địa phương đã nhập phe “bọn bảo thủ”. Hai người đều bị quân đội bắt giữ.

    Lâm Bưu lập tức đi chiến hạm đến, ra tối hậu thư, đòi thả ngay 2 người bị bắt, ra lệnh lực lượng địa phương phải đầu hàng. Địa phương đầu hàng xong, rất nhiều đảng viên cùng nhân viên chính quyền bị bãi chức, kể cả Trần Tái Đạo. Lực lượng “Bách vạn hùng sư” bị giải tán. Có vẻ như Mao lại thắng lớn. Nhưng chuyện nào chỉ có thế.

    18.

    Hỏi: Sau đó, các nhóm Hồng Vệ Binh có kết hợp nhau, cùng chống chính quyền địa phương hay không?

    Đáp: Tiếp sau biến động Vũ Hán, Mục Hân và Vương Lực, dưới chỉ đạo của Giang Thanh và Trần Bá Đạt, viết một bài trên Hồng Kỳ, ra lệnh Hồng Vệ binh phải tấn công “một nhóm quân đội” và “chiếm vũ khí trong kho súng quân đội”. Điều này làm các nhà quân sự địa phương nhất định chống lại, bằng cách kết hợp với Đảng ủy và quân đội địa phương, tổ chức lực lượng Hồng Vệ binh riêng để chống Hồng Vệ Trung ương. Diễn tiến việc này đã được Trần Bích Lan báo cáo trong phúc trình gửi Đệ tứ Quốc tế:

    “Từ khi Mao tổ chức Hồng Vệ Binh để nắm quyền lực vào đầu tháng Giêng 1967, không nơi nào trên đất Trung Quốc được sót mà không phải thấy những cuộc xung đột lớn lao, tàn nhẫn giữa các hãng xưởng, giữa những khuynh hướng. Các va chạm có đặc điểm vào đúng giai đoạn của cái được gọi là Cách mạng Văn hóa. Cao trào là vào tháng Tư và tháng Bảy, 1968, diễn ra tại Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Tây Tạng, Tân Cương và Phúc Kiến. Mức độ ác liệt tới nỗi có thể xem như xảy ra nội chiến tại từng địa phương.

    Thí dụ, tại Quảng Tây, Hồng Vệ Binh chia thành 2 nhóm. Một nhóm, tự xưng là “Nhị- Thập-Tứ Quân Nổi dậy” (Quân đội Nổi dậy của ngày 20 tháng Tư), ban chỉ huy gồm sinh viên, công nhân và vài đơn vị quân đội, đặt dưới quyền điều động của Ban Chỉ huy Tối cao Bắc Kinh. Nhóm kia, tên là “Quảng Tây Nổi dậy Thống nhất”, gồm công nhân, nông dân, các đơn vị quân đội, đảng viên địa phương, sinh viên. Nhóm này được chỉ huy bởi Đệ Nhất Bí thư Quảng Tây, Vi Quốc Thanh, và Tư lệnh quân đội địa phương. Hai nhóm đụng độ kịch liệt vào tháng Năm tại Vụ Châu. Khí giới của 2 phe đều rất hiện đại – từ súng trường cho đến súng máy, cho đến pháo binh nặng, và thiết giáp – đưa đến kết quả là cả 2 bên đều chết hàng ngàn người. Theo báo cáo trên tờ Tây Giang Nộ Báo của nhóm “Nhị Thập Tứ quân”, nhìn nhận đã tổn thất nhân mạng tới vài ngàn, chưa kể bị thương, có trên 3,000 bị bắt, trong đó có 317 người bị xử tử. Báo đó cũng tổng kết, là trên 2,000 nhà bị phá hủy. Những trận đụng độ khác ác liệt cũng tương đương, xảy ra tại các thành phố thuộc Quảng Tây, như Nam Ninh, Liễu Châu, Quế Lâm cùng vài thành phố khác mà tôi đã nói ở trên.Thí dụ, tại Vân Nam, thành phố Côn Minh (thủ phủ Vân Nam) theo báo cáo của Tỉnh trưởng Đàm Phủ Nhân trình lên Mao, là có đến 30,000 người bị chết ở Vân Nam. Mao hồi đáp, rằng anh ta ước tính con số khoảng 80,000. “Theo tin tức trên báo địa phương,” Mao tuyên bố, “Thì có đến 160,000 bị chết. Có thể là con số phóng đại.” (trích Nhân dân Nhật báo).

    Do hậu quả trầm trọng của tình hình như trên đã nói, Mao buộc phải có những quyết định làm dịu nỗi bấp bênh của địa vị mình. Đầu tiên, là quyết định ban hành tình trạng khẩn cấp toàn lãnh thổ, ngày 3 tháng Bảy. Rồi đến ngày 24 tháng Bảy, lại ra lệnh rút tình trạng khẩn cấp. Những chỉ thị bất nhất như thế, cũng đã làm ngưng mọi xung đột giữa Hồng Vệ binh với nhau và Hồng Vệ binh với công nhân. Cùng lúc, nhiều đơn vị quân đội được điều động từ Bắc Kinh đến các tỉnh Quảng Tây, Vân Nam, Phúc Kiến và Tân Cương để ngăn chặn đụng độ. Chỉ còn cách đó Mao mới có thể chặn được họa nội chiến tại nhiều địa phương. Rồi Mao đề nghị thành lập các Ủy ban Cách mạng tại mỗi tỉnh nói trên, cũng như tại các thành phố lớn”.[1]

    Cũng nên ghi nhận về các Ủy ban Cách mạng, cái gọi là Ủy ban Tam liên (3 liên hiệp) thì bị kiểm soát bởi quân đội, vì thường khi Chủ tịch Ủy ban lại kiêm Tư lệnh quân đội địa phương. Rồi toàn thể Hồng Vệ binh bị bắt buộc phải trở lại trường học, hay lao động trong các trại sản xuất ở thôn quê. Con số chính thức, cho biết có ít nhất 10 triệu thanh niên đã bị đi đày theo kiểu này.

    19.

    Hỏi: Hồng Vệ Binh chắc chắn là con bài mạnh của Mao Trạch Đông, khi họ còn trong đội ngũ.

    Đáp: Đúng. Tuy nhiên, không phải sự việc bao giờ cũng đúng như ý Mao. Thí dụ, tháng Giêng 1967, sau khi Trung ương đã nắm quyền tại Thượng Hải, cùng đã thanh trừng xong toàn ban lãnh đạo địa phương, vài nhà lãnh tụ nổi bật, như Đàm Chấn Lâm, Bộ trưởng Nông nghiệp, Diệp Kiếm Anh, Phó Chủ tịch Trung ương, Nhiếp Vinh Trăn, Trưởng ban Khoa học Kỹ thuật, và Lý Phú Xuân Bộ trưởng Kế hoạch – tất cả là thành viên Bộ Chính trị, cùng nhau công khai phê bình Hồng Vệ binh đã hành động thái quá, gây ra bạo loạn. Phe Mao lập tức “gắn nhãn hiệu” cho những người này, gọi họ là bọn “Dòng nước ngược tháng Hai”. Chu Ân Lai lại xuất hiện, giải cứu cho tình trạng hiềm thù giữa Mao và các lãnh đạo kỳ cựu. Tuy sau đó thì Đàm Chấn Lâm bị bãi chức Bộ trưởng Nông nghiệp. Nhưng dù vậy, các lãnh đạo già cũng ghi được chút thắng lợi.

    Một sự cố liên hệ tới nhóm “Ngũ-thập-lục Quân” (“Quân đội 16 tháng Năm”), là nhóm của Thích Bản Vũ và Vương Lực trong Tiểu tổ Văn Cách Trung ương, đã phát động phong trào chống các Bộ trưởng trong chính quyền Trung ương, muốn họ phải từ chức, thay bằng những người hoàn toàn theo Mao. Chu Ân Lai lại cứng cỏi chống việc này, đưa đến chuyện đối đầu trực tiếp với nhóm Giang Thanh và Trần Bá Đạt. Mao phải nhượng bước, cách chức Thích Bản Vũ, Vương Lực cùng một số tay chân của mình trong Tiểu tổ Văn Cách Trung ương.

    Tại Hồ Nam, mùa hè 1967, một nhóm Hồng Vệ mang tên “Đại Vô sản Cách mạng liên hiệp” tấn công nhà cầm quyền địa phương, cướp kho vũ khí quân đội. Họ chiếm một vài hãng xưởng cùng những cơ sở tài chánh. Được Giang Thanh và Trần Bá Đạt hậu thuẫn, họ ra tuyên cáo “Trung Quốc đến đâu?”, chỉ trích Ủy ban Cách mạng là bộ máy của giới thư lại trong giai cấp “Tư sản mới”, gọi đích danh Chu Ân Lai là đại biểu của giai cấp này. Họ kêu gọi thành lập một Ủy ban khác thay thế, tên là “Nhân dân chân chính”, để đưa Trung Quốc tiến trên con đường cách mạng thật sự.

    Dù đó là một tuyên ngôn chứa những tư tuởng lộn xộn và mơ hồ, nhóm Hồng Vệ binh này lại đã đáp ứng phần nào sự mong đợi có thay đổi của quần chúng. Vì thế, Giang Thanh cùng Trần Bá Đạt bỏ rơi họ. Mao gửi đại diện từ Bộ Chính trị Trung ương là Khang Sinh đến tận nơi để giải tán nhóm này, gọi là nhóm “Phản cách mạng”, rồi để nhà cầm quyền Hồ Nam (với Hoa Quốc Phong trong đó) tiêu diệt họ một cách tàn nhẫn.

    Biến cố thứ tư, mà Mao không kiểm soát được, xảy ra vào tháng Tám 1968. Một cuộc đụng độ lớn xảy ra giữa Hồng Vệ binh của Trung ương với Hồng Vệ địa phương Quảng Đông, do lãnh tụ quân đội địa phương là Hoàng Vĩnh Thắng chỉ huy sự đối đầu. Anh này lại là người thân tín của Lâm Bưu, cho nên không những về sau đã được miễn nhiễm mọi cáo buộc, lại còn được thăng chức, làm Tham mưu trưởng tại Bắc kinh.

    20.

    Hỏi: Có thể coi việc động viên quần chúng trong Cách mạng Văn hoá là một cuộc cách mạng được không?

    Đáp: Câu hỏi này đã bàn cãi giữa những người Triệt để, cả những người Trotskyist, suốt 10 năm qua. Câu trả lời nằm trong việc Hồng Vệ Binh đã được thành hình thế nào, phương pháp họ đã sử dụng ra sao, để đấu tranh với giới quan liêu. Trích dẫn sau đây, do George Novack và Joseph Hansen cung cấp:

    “Trường học đóng cửa, hàng triệu học sinh lêu lổng. Chúng được hứa hẹn những đặc quyền rất hấp dẫn, cho ngay cả ở những xứ tư bản giàu có; như là, được đi chơi Bắc Kinh do chính phủ đài thọ, [tức là, được đi bất cứ đâu trên đất Trung Quốc – Bành chú thích]. Phí tổn chuyển vận, cho đến ăn và ở, đều miễn phí. Chỉ tiêu vui thích đó được đặt ra, cốt phục vụ những ứng viên nào sẽ gia nhập tổ chức mới này.

    Chính sách là đoàn ngũ thanh niên cho họ thành một phe với nhau, dụ dỗ chúng quyết tâm đoàn ngũ với nhau, không cần biết ý định nào khác, chỉ cùng nhau triệt bất cứ phe đối nghịch nào, không để bất cứ ai có cơ hội được trình bày, dù là với một cuộc tranh luận có lý luận, nhất là một khi đối thủ đã bị bôi nhọ ngay từ đầu, có tội là “bội phản” hay “phản cách mạng”, tức là phe đối nghịch sẽ là toàn những ma với quỷ…

    Tội lỗi thực sự của các lãnh tụ bị tố, không phải vì họ rập mưu theo “con đường tư bản”, mà chỉ vì họ khác biệt nghiêm trọng với phe Mao-Lâm. Quan điểm họ bị mạo hóa, làm họ mất tín nhiệm trước mắt quần chúng, để rồi bị tiêu diệt về chính trị, nếu không nói là cả thể xác.

    Phép luận chiến kiểu này, mà phe Mao đem ra dùng, là đã học được ở trường phái Stalin, trước đã đem áp dụng đối với những người Trotskyist tại Liên Xô, sau được phe Krushchev áp dụng, nay mang ra dùng ở Trung Quốc để thanh trừng cả với các chiến hữu lão thành cũ, từng sống chết có nhau. Không có điều gì mới trong cung cách kì dị này vượt quá trí tưởng tượng của con người, như ai nấy tưởng, là Mao còn thêm sáng kiến nào khác.”[2]

    Tôi chỉ muốn thêm ở đây, chuyện Mao tổ chức Hồng Vệ Binh chỉ là cốt diệt phe Lưu Thiếu Kỳ-Đặng Tiểu Bình. Khi xong việc, Mao lập tức loại thải Hồng Vệ Binh chạy tứ tán, với trợ lực của quân đội do Lâm Bưu chỉ huy. Sau đó, thì Lâm lại là mục tiêu kế tiếp cho Mao nhắm đích.

    21.

    Hỏi: Ảnh hưởng trên toàn quốc sau cuộc Cách mạng Văn hoá thế nào?

    Đáp: Toàn thể xã hội Trung Quốc bị đảo lộn, đất nước tan hoang như vừa trải qua cuộc chiến tranh. Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng những tổ chức thanh niên đều bị nghiền tan nát. Lệnh của Mao cùng câu nói của Mao được trích dẫn để thay thế cho điều luật Đảng cùng luật lệ chính phủ. Chính quyền Trung ương vẫn giữ cái vỏ bề ngoài, nhưng toàn thể chính quyền các cấp đã thay đổi. Chính quyền mới lập ra “Ủy ban Cách mạng toàn quốc” có toàn quyền. Ủy ban này lại đặt dưới sự kiểm soát của các sĩ quan quân đội, trừ có vài nơi, như ở Thượng Hải và Bắc Kinh. Hầu hết các lãnh đạo cũ từng chiến đấu cạnh Mao trước và sau cách mạng lần ba, đều bị trừng trị, lãnh chịu những đánh đập của Hồng Vệ Binh. Gần hết đã bị đấu tố, nhiều người phải vào trại lao cải hay nhà tù, hoặc bị chết. Hệ thống giáo dục và văn hoá tiêu hủy hoàn toàn. Hàng ngàn nhà giáo, văn nghệ sĩ bị ra khỏi Đảng, mất công ăn việc làm.

    Hàng triệu Hồng Vệ Binh bị đày ải về thôn quê hay lên vùng rừng núi. Nền kinh tế ngưng đọng, sản xuất tuột dốc. Công nhân, nông dân, kỹ thuật gia cùng đảng viên nào mà đã dính dáng đến Cách mạng Văn hoá, hay đã liên hệ với bất cứ ai từng bị đấu tố trong Cách mạng Văn hóa, chính người ấy cũng bị tẩy trừ.

    Chính sách đối ngoại của Mao trở thành cực kỳ biệt phái, chứng cớ là anh ta từ khước tham gia vào mặt trận thống nhất với các nước xã hội khác để cùng chống đế quốc Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Mặt khác, Mao còn để cho Hồng Vệ tấn công toà Đại sứ Anh và Nga Xô. Trong cao trào Cách mạng Văn hoá, Trung Quốc trở thành cực kỳ cô lập trước thế giới. Sự cô lập và sự tàn phá nội bộ Trung Quốc lộ rõ trong Đại hội Đảng lần thứ 9.

    22.

    Hỏi: Điều gì đã xảy ra tại Đại hội 9?

    Đáp: Đại hội tại tháng Tư 1969, có 1,512 đại biểu, toàn là những người được chỉ định, chứ không do bầu cử từ các Ủy ban cách mạng địa phương. Rõ ràng Đại hội chịu dưới ảnh hưởng quyền lực của Cách mạng Văn hoá.

    Lâm Bưu đọc báo cáo chính trị trước Ủy ban Trung ương, mà đa số thành viên Ủy ban đã bị thanh trừng. Lâm ca tụng Mao đã phát động Cách mạng Văn hóa, đồng thời khen ngợi sự hỗ trợ hữu hiệu của quân đội. Anh ta không hề nhắc gì tới hậu quả cũng như về sự tái thiết những đổ nát kinh tế hay trấn an sự dao động tâm lý quần chúng. Bản báo cáo là một chuỗi những khẩu hiệu mơ hồ:

    “Hãy nắm chắc cách mạng, hãy giương cao cách mạng…

    …để khai triển tình thân hữu sẵn có, hãy cùng giúp đỡ nhau, cùng hợp tác với những nước xã hội chủ nghĩa trên nguyên tắc của tình vô sản quốc tế; hỗ trợ và tham gia thêm vào các cuộc đấu tranh cách mạng cho kẻ bị áp bức, cho các nước bị áp bức; hãy hướng đến hoà bình bằng cách cùng sinh tồn với những nước không cùng hệ thống xã hội với chúng ta theo tiêu chuẩn “5 nguyên tắc”…

    Hãy chôn đế quốc Mỹ, hãy diệt bọn Nga Xô cùng tay sai của chúng…”[3]

    Lâm còn đề nghị cán bộ nào lầm lỗi trong quá khứ sẽ được rửa tiếng, được trở lại chức vụ trong Đảng hoặc trong Chính quyền, nếu họ biết nhận lỗi. Đề nghị này cốt gây dựng lại sức mạnh cho phe Mao-Lâm, nhưng không phải ai cũng ôm chầm lấy ngay. Thắng lợi lớn nhất cho Mao-Lâm, chỉ là một thông qua điều lệ hồi phục một đoạn ghi lại trong hiến chương Đảng, mà trước đây đã bị bãi bỏ trong Đại hội 8:

    “Tư tưởng Mao Trạch Đông là chủ nghĩa Mác-Lênin của thời đại mà đế quốc hướng đến sự sụp đổ hoàn toàn, và xã hội chủ nghĩa đang tiến đến thắng lợi trên khắp thế giới.

    Đã nửa thế kỷ nay… Đồng chí Mao Trạch Đông đã gia nhập chân lý hoàn vũ của chủ nghĩa Mác-Lênin với những kết quả cụ thể của sự thể hiện cách mạng, đã thừa kế, đã bảo vệ và đã khai triển chủ nghĩa Mác-Lênin, cũng như đã đưa nó lên cao trào trong giai đoạn hoàn toàn mới.

    Đồng chí Lâm Bưu đã bền bỉ giương cao biểu ngữ đỏ của Tư tưởng Mao Trạch Đông và đã trung thành cũng như đạt hiệu quả lớn, trong việc truyền bá cũng như bảo vệ cuộc Cách mạng vô sản mà đường lối Mao Trạch Đông đề ra. Đồng chí Lâm Bưu là chiến hữu thân cận nhất của Đồng chí Mao Trạch Đông và là người kế nghiệp.”[4]

    Đại hội bầu được thêm 170 tân thành viên, trong đó phe quân đội chiếm 30%. Chín đại biểu quân đội lọt vào, làm thành viên trong số 21 người của Bộ Chính trị. Quân nhân chiếm đa số chức vụ trong chính quyền, như Bộ trưởng Quốc phòng, Tham mưu trưởng, Tư lệnh Không quân, Chính ủy Hải quân, đều do ảnh hưởng của Lâm Bưu. Lâm cũng nắm trong tay tất cả các quân nhân lãnh đạo trong những Ủy ban Cách mạng.

    23.

    Hỏi: Điều gì tạo ra sự xung đột Lâm-Mao?

    Đáp: Sau Đại hội 9, Mao thấy rõ sức mạnh quân sự đều vào tay Lâm, bèn tung ra khẩu hiệu mới: “Đảng chỉ huy súng, súng không thể chỉ huy Đảng”. Lâm ứng phó sự thay đổi thái độ của Mao bằng cách củng cố phe cánh mình. Mao ra tay ngay, thanh trừng Trần Bá Đạt vào tháng Tám 1970, cất chức Chủ tịch Ủy ban Cách mạng tối cao, bãi luôn chức vụ trong bộ Chính trị Trung ương của Trần. Không ai chắc Trần Bá Đạt hoàn toàn biến mất trước công chúng vào lúc nào, nhưng trong Đại hội 10 của Đảng, Chu Ân Lai chính thức công bố tội ác của Trần, là đã giữ vai chính trong “Nhóm chống Đảng” của Lâm Bưu.

    Sau khi Trần bị thanh trừng, Lâm Bưu buộc phải có thái độ. Trong tài liệu “Phác thảo chương trình 571”, Lâm nhận định:

    “Ông ta (Mao) lạm dụng lòng tin và chức vụ mà nhân dân Trung Quốc giao phó… Thực ra, ông ta đã trở thành Tần Thủy Hoàng… Ông ta không thật là người Mácxít-Lêninít, chỉ dùng chủ nghĩa Mác-Lê để thực hiện lý thuyết riêng, là Khổng-Mạnh chủ nghĩa, và áp dụng phương pháp của Tần Thủy Hoàng. Đó chính là kẻ độc tài nhất trong lịch sử Trung Quốc.”[5]

    Những tố cáo Mao như trên cho thấy rõ Lâm đã chuẩn bị cuộc đảo chánh. Tuy nhiên, anh ta bị chính con gái mình phản bội, trước khi kịp ra tay. Chính quyền của Mao về sau xác nhận Lâm và đoàn tùy tùng dự tính trốn sang Nga Xô nhưng máy bay bị bắn rơi trên không phận Ngoại Mông. Tất cả đều chết.

    Mao rơi vào tình trạng cô đơn hoàn toàn, dù sau khi diệt hết các đối thủ bằng cách này hay cách khác. Không thể giải thích với công chúng lí do xung đột với Lâm Bưu, nên Mao phải nhờ đến Chu Ân Lai. Phe Mao-Chu tính bạch hoá trước công chúng mọi chuyện trong Đại hội Đảng thứ 10, tháng Tám 1973. Chu báo cáo bằng diễn văn chính trị, phỉ báng Lâm là tay “tư sản nhà nghề”, đã “âm mưu tính ám sát Chủ tịch Mao Trạch Đông vĩ đại của chúng ta”, và “dự định biến Đảng Cộng sản Trung Quốc thành một đảng “xét lại”, “phát xít” cùng toan tính tái lập chế độ của bọn “địa chủ và giai cấp tư sản”:

    “Trên mặt quốc tế, chúng muốn đầu hàng bọn Xô viết xét-lại, bọn xã hội chủ nghĩa đế quốc, rồi liên minh với mọi đế quốc, mọi xét-lại, mọi phản-động để chống Trung Quốc, chống chủ nghĩa Cộng sản và chống Cách mạng.

    Lâm Bưu, tên tư sản nhà nghề, tên âm mưu và hai mang, đã tham gia vào cơ cấu Đảng của chúng ta, không chỉ trong một, mà đã nhiều thập niên.”[6]

    Báo cáo của Chu đều là vu khống, dĩ nhiên, nhưng cũng đưa ra được lý do tại sao Lâm Bưu đã phản Mao. Mọi dấu vết dính dáng đến Lâm đều bị xóa sạch trong sử Đảng. Một nhóm lãnh đạo lão thành, như Đặng Tiểu Bình, Đàm Chấn Lâm và Ulanfu[7] được rửa tiếng. Một số tư lệnh quân đội như Hứa Thế Hữu, Trần Tích Liên, Hàn Tiên Sở cũng được rửa tiếng. Vương Hồng Văn được thăng chức phó Chủ tịch Đảng. Một chiến dịch trên toàn quốc “phê Lâm”, “phê Khổng” phát động từ mùa thu 1973 cho đến cuối 1974, quét sạch giới chỉ huy quân đội tay chân của Lâm trước kia, nhẹ thì bị thuyên chuyển, như Hứa Thế Hữu từ Nam Kinh về Quảng Đông, Trần Tích Liên từ Phúc Kiến về Lan Châu. Mao coi là các thuyên chuyển như thế đã tạm ổn, có thể tái lập chương trình tôn sùng lãnh tụ được rồi, nhưng một khuôn mặt mạnh mẽ xuất hiện đã cản đường – Chu Ân Lai.

    24.

    Hỏi: Chu có phe riêng của mình không?

    Đáp: Sau khi những phe nhóm của Lưu Thiếu Kỳ, Lâm Bưu bị tan tành, Chu trở thành cục nam châm thu hút những lãnh đạo già và bất mãn. Việc Chu vọt lên quyền lực thành hiển nhiên nhất, trong Đại hội Nhân dân toàn quốc lần 4, tháng Giêng 1975, được toàn thể Đại hội nhất trí chấp thuận đề nghị cải cách “4 Hiện Đại Hóa” của Chu, là Kỹ nghệ, Nông nghiệp, Quốc phòng, và Khoa học kỹ thuật. Đa số thành viên trong ban Chấp hành Trung ương được bầu ra đều là người ủng hộ Chu, địch thủ tinh quái của Mao, kể cả Chủ tịch là Chu Đức. Chu Ân Lai được tái cử chức Thủ tướng, Đặng Tiểu Bình là phó Thủ tướng và Tổng tham mưu trưởng quân lực, Diệp Kiếm Anh làm Bộ trưởng Quốc phòng. Mỗi một chức lọt vào tay phe Mao, là Trương Xuân Kiều được cử vào chức phó Thủ tướng thứ ba kiêm Chính ủy quân đội. Vắn tắt, thì Chu Ân Lai đã là lãnh tụ thực sự của Trung Quốc, Mao chỉ còn làm vì.

    Sau Đại hội, Mao phát động phong trào mới nhắm vào phe Chu. Bài Quan điểm của Tổng Biên tập trên Hồng Kỳ, tháng Ba 1975, viết:

    “Hàng triệu triệu người phải học để nắm vững chủ nghĩa Mác nói về chuyên chính vô sản, là điều quan trọng nhất để làm vững chắc, cũng như để tăng cường sức mạnh cho chuyên chính vô sản. Tất cả thành viên của các ủy ban thuộc Đảng phải học và nắm vững chuyên chính vô sản để có thể thực hiện với đầy đủ ý thức đường lối căn bản của mọi chính sách tiến tới việc chống Lâm, chống Khổng.” (tức là, chống Chu-Đặng – chú thích Bành).

    Mao tung ra chuyên chính vô sản để làm màn khói cho chuyên chính Mao, chứng minh những việc thanh trừng của mình là cần thiết để bảo vệ cho nguyên tắc Mác xít. Mao cũng cảnh cáo “thành viên tất cả các ủy ban thuộc Đảng” rằng họ sẽ bị trừng phạt nặng nề hay thanh trừng, nếu họ không “nắm chắc” tư tuởng chuyên chính của Mao, là nền tảng thi hành “đường lối căn bản cho tất cả mọi chính sách”.

    Những người theo chủ nghĩa Mao (Mao-ít) viết nhiều bài công khai phỉ báng Chu Ân Lai, kết án Chu là “đồ phản bội”, y như Tống Giang trong truyện Thủy Hử đã phản bội chiến hữu. Thêm vào sự phỉ báng, bọn Mao-ít còn gây ra những bức hại trên thể chất Chu, trong lúc Chu đang trong cơn bệnh ngặt nghèo cuối đời, để bị đẩy đến chỗ chết sớm. Họ thuyên chuyển bác sĩ riêng của Chu đi chỗ khác, chính Vương Hồng Văn còn bắt ép Chu phải tiếp điện thoại Mao Trạch Đông, trong lúc Chu đang chữa trị tại bệnh viện. Người tín cẩn của Chu là Tổng thư ký Quốc vụ viện Châu Vinh Hâm đi đến chỗ phải tự tử vì bị bôi nhọ trước công luận. Đấy mới chỉ là một ít những hành hạ, trong lúc Chu trên giường bệnh chờ chết.

    25.

    Hỏi: Có bao giờ Mao tấn công Chu công khai không?

    Đáp: Không. Sau khi Chu chết, ngày 8 tháng Giêng 1976, Mao tập trung chiến dịch nhắm vào người kế vị chính của Chu, là Đặng Tiểu Bình, từng bị gán cho tội “phục hưng Hữu khuynh”, “chạy theo tư bản”. Chương trình “4 Hiện đại hóa” của Chu cũng bị đánh. Cách đối xử cạn tàu ráo máng của Mao đối với Chu đã làm nổi lên sự bất mãn, tạo thành cuộc biểu tình rất lớn tại Thiên An Môn ở Bắc Kinh, ngày 5 tháng Tư, 1976. Dân chúng bùng nổ bạo lực, nổi lửa đốt xe cảnh sát và các trại lính, thành cuộc bạo loạn, là thách thức to lớn đối với Mao. Lần đầu tiên, “Tư tuởng Mao” bị gọi là “để Thiến chủ nghĩa Mác-Lênin”. Hành động xuống đường rầm rộ, mang theo bóng ma đòi dẫn tới cuộc cách mạng cần thiết để lật đổ giai cấp quan liêu, nhất là khi dân xuống đường gọi nhau, “Chúng ta nhất định không sợ máu đổ, cũng không sợ mạng mất”. Sau cách mạng Hung, Mao đã nói “cũng có lắm người đang ao ước sẽ có chuyện tương tự tại Trung Quốc.” Tháng Tư 1976, hàng ngàn, ngàn người đã bày tỏ hành động làm Mao sợ nhất – cuộc biểu tình chống chính phủ. Dù cho Mao đã dẹp biểu tình tàn nhẫn, nhiệt huyết cùng quyết tâm của họ vẫn ám ảnh Trung Quốc, y như Tuyên ngôn Cộng sản từng đón mừng “bóng ma ám ảnh Âu châu” xưa kia. Đúng là sau khi Mao nhìn thấy bóng ma này, thì anh ta chết và đi vào “lịch sử địa ngục” dành riêng cho các bạo chúa cùng các nhà độc tài.

    26.

    Hỏi: Cái chết của Mao có ảnh hưởng gì cho phe Mao không?

    Đáp: Cuộc đời cá nhân độc tài của Mao chấm dứt một cách rất phù hợp với con người anh ta, vì một sự thanh trừng xảy ngay đến với những người trung thành nhất với anh ta, như Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên – đều cùng bị thanh toán, bởi chính người do Mao đích thân chọn lựa, Hoa Quốc Phong. Kịch bản chính trị này tương đương với cuộc thanh trừng Malenkov và Beria do Krushchev thực hiện sau khi Stalin chết. Để lượng định cuộc đời chính trị Mao Trạch Đông, có những sự kiện không thể chối cãi được, là tư tưởng Mao thừa hưởng trực tiếp từ Stalin – nào cộng tác giai cấp, cách mạng từng giai đoạn, xã hội chủ nghĩa trong một xứ, và sống chung hòa bình giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Mao tuyên truyền lý thuyết Stalin suốt đời mình, từ Cơ hội Quốc dân Đảng-Cộng sản hợp tác tới Phiêu lưu đấu tranh võ trang. Sau thất bại 1927, Mao sao chép Stalin xít xao trong cuộc thanh trừng toàn thể thế hệ Bolshevik cùng các đoàn thể Thanh niên Cộng sản trong các thập niên 1920, ‘30 và ’40 ở Nga, và cũng thành lập chính sách thờ phụng lãnh tụ cùng chuyên chính quan liêu của Stalin… để áp dụng tại Trung Quốc.

    Mao rất phấn đấu để trở thành tay Staliniêng lớn nhất thế giới. Anh ta đã thành Staliniêng thứ thiệt tại Trung Quốc, bởi tính khí cùng phương pháp anh ta sử dụng, y như mẫu người hùng bên Xô viết của anh ta. Mao rắp tâm thủ tiêu chính trị – nếu không nói là cả mạng sống, cho những ai dám đặt câu hỏi về chính sách của anh ta, hoặc những ai trở thành có quyền lực trước mắt quần chúng – như Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, Lâm Bưu và Chu Ân Lai… Đấy là mới kể một số ít. Sự thật là Mao trở thành Tần Thủy Hoàng của thời đại mới, là Nero của Trung Quốc – Nero là người mà Trotsky đã khéo nhắc trong một câu:

    “Nero, cũng thế, là sản phẩm của thời Y. Thế mà sau khi Y chết, hình tượng Y bị đập nát, tên Y bị cạo xóa mọi nơi. Sự trả thù của lịch sử ghê gớm hơn cuộc trả thù của bất cứ Tổng Bí thư Đảng [hay Chủ tịch – Bành] nào. Tôi đánh bạo nhận xét như thế để có sự an ủi.” [8]

    27.

    Hỏi: Thế tại sao, sau khi chết, Mao lại được ca ngợi nhiều đến thế, từ các chính trị gia tư sản đến những người Triệt để?

    Đáp: Chính trị gia tư sản như Gerald Ford và Tổng Thư ký Liên hiệp quốc Waldheim cất lời ca tụng, vì Mao hoàn toàn hủy bỏ cách mạng thế giới để được sống chung hòa bình với tư bản. Anh ta tố cáo Liên bang Xô viết là đế quốc xã hội, kêu gọi tư bản đánh đổ kết quả đạt được của Cách mạng tháng Mười. Thêm nữa, chính trị gia tư sản thích thú việc phản bội của Mao với chủ nghĩa xã hội, thì có khó gì mà không gọi Mao là “lãnh tụ vĩ đại”, cùng “yêu chuộng hòa bình”. Vài người Trotskyist còn nhìn chưa rõ Mao, chỉ coi Mao là “quan liêu Trung phái”, vì tuy anh ta có chính sách đi dây, dích-dắc giữa cách mạng và phản cách mạng để rồi kết cục, cũng quốc hữu hóa tài sản tư bản, cũng làm cải cách ruộng đất. Thì Stalin cũng đã làm y như thế ở Đông Âu, và chắc chắn Stalin là người Stalinít.

    Người Trotskyist luôn tin rằng Stalin phản cách mạng, dù anh ta lật hệ thống tư bản ở Đông Âu, để thành lập chế độ quan liêu chuyên chính lên các nước ấy, đối nghịch với đường lối kinh tế căn bản của xã hội chủ nghĩa. Đó thành ra cái thắng, chặn đà phát triển của Đông Âu cùng cách mạng thế giới. Leon Trotsky rất có thể cũng tiên đoán tương tự về Mao tại Trung Quốc, khi ông nhìn thấy sự trở lại của tư hữu tài sản trong vùng Xô viết chiếm đóng ở Ba Lan, lúc bắt đầu Thế Chiến II:

    “Điều kiện tiêu chuẩn tiên quyết của chúng ta, không phải sự chuyển biến các liên đới tư hữu từ vùng này sang vùng khác, dẫu cho chuyện ấy có quan trọng thế nào đi nữa, nhưng chính là chuyển đổi Nhận thức cùng Tổ chức của thế giới vô sản, nâng cao khả năng họ trong việc bảo vệ thành quả cách mạng đã đạt được, đi tới thắng lợi mới. Từ điểm đó, và chỉ từ điểm đó, lập trường quyết định, thì chính sách của Moscow, xét trên tổng thể, toàn chứa những tính chất phản cách mạng, thành trở ngại chính trên con đường cách mạng Thế giới.”[9]

    Nguồn: Bản tiếng Việt © 2010 Vũ Huy Quang & talawas

    [1] Ch’en Pi-lan, “The New Developments in the Chinese situation”, Inter. Info. Bulletin, May 1969, p. 9.

    [2] G. Novak – J. Hansen, Behind China’s Great Cultural Rev. (New York, Patfinder Press, 1967) p.p 47-48, 52.

    [3] Bắc Kinh tập san, tháng Tư 30, 1969, p. 33.

    [4] Như trên.

    [5] Ghi chú từ nguyệt san của nhóm Trotskyist Hong Kong, Tập san tháng Mười, tháng Tám, 1974.

    [6] Bắc Kinh tập san, tháng Chín, ngày 7, 1973, p. 20.

    [7] Ulanfu (1906 – ): Người Mông Cổ, sinh ở Nội Mông. Ulanfu là chính trị gia cao cấp nhất không phải người Trung Quốc được vào Chính trị Bộ. Gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc do Lý Đại Chiêu tuyển mộ, 1923. Bị thanh trừng 1967, vì chống lại lực lượng Hồng Vệ Binh đánh phá tại Mông Cổ. Được phục hồi danh dự (rửa tiếng) 1973. Sau khi Mao chết, trở lại chức vụ cũ, 1977. (N.D).

    [8] Leon Trotsky, Stalin (London: Panther Books, 1969) vol. 2, p. 202.

    [9] Leon Trotsky, In Defense of Marxism (New York: Pathfinder Press, 1973), p. 19
    – See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/04/10/danh-gia-cuoc-doi-chinh-tri-mao-trach-dong-p3/#sthash.xk9Hb7Ur.dpuf

  23. Mao Trạch Đông ngàn năm công tội.
    nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2014/11/11/mao-trach-dong-ngan-nam-cong-toi/
    Tác giả: Tân Tử Lăng | Biên dịch: TTXVN

    Cùng bạn đọc

    Cuốn Mao Trạch Đông ngàn năm công tội do nhà xuất bản Thư Tác Phường ấn hành, ra mắt tại Hồng Công tháng 7-2007 và tới bạn tháng 6-2008, là một trong những cuốn sách đang được dư luận Trung Quốc hết sức quan tâm, với những luồng ý kiến nhận xét trái ngược nhau, từ hoan nghênh đến bất đồng, thậm chí phản đối gay gắt.

    Tác gia Tân Tử Lăng nguyên là cán bộ nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện quân sự cấp cao, Đại học Quân chính, Đại học Quốc phòng Trung Quốc. Ông nhập ngũ năm 1950, từng tham gia các phong trào chính trị do Mao phát động, về hưu năm 1994 với quân hàm Đại tá.

    Đầu năm 2008, khi đề cập đến bối cảnh ra đời cuốn sách trên, Tân Tử Lăng nêu rõ: Công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc đã thu được những thành tựu lớn lao, đồng thời cũng nảy sinh nhiều vấn đề nghiêm trọng, đáng chú ý là việc không thể ngăn cản có hiệu quả nạn tham nhũng, việc phân phối của cải không công bằng dẫn đến xã hội bị phân hóa, khiến dân chúng rất bất mãn, nhiều người thậm chí công khai tỏ ra luyến tiếc thời đại Mao. Các thế lực cực tả ở Trung Quốc hiện nay muốn lợi dụng tâm trạng bất mãn này để phát động cuộc “Đại cách mạng văn hóa lần thứ hai”, gây cản trở cho việc thực thi các chính sách hiện hành. Nhân ngày giỗ Mao Trạch Đông 13-9-2005, nhiều cuộc mít tinh đã được tổ chức tại 18 thành phố lớn trong đó có Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân… với mục đích phê phân ban lãnh đạo hiện nay đã phản bội chuyên chính vô sản, phục hồi chủ nghĩa tư bản. Những người tham gia các cuộc mít tinh đã công khai hô các khẩu hiệu thời Đại cách mạng văn hoá, kêu gợi dấy lên bão táp cách mạng.

    Tình hình trên khiến tác giả thấy cần phải làm cho mọi người thấy rõ thực trạng đời sống chính trị, xã hội và kinh tế của Trung Quốc dưới thời Mao, để từ đó có thể đánh giá một cách công bằng những công lao cũng như sai lầm của Mao đối với đất nước Trung Hoa, nhằm loại bỏ sự chống đối của phái cực tả đối với tiến trình cải cách mở cửa. Tuy nhiên, trong khi cố gắng làm điều đó, tác giả lại làm nổi lên một vấn đề quan trọng khác là: quan điểm của Trung Quốc về “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” thực chất là gì? Và đâu là lối thoát chỗ Trung Quốc hiện nay?

    Nhiều trong số những vấn đề được nêu ra trong cuốn sách như đánh giá về công lao và sai lầm của Mao, cuộc Đại cách mạng văn hoá, cái gọi là chủ nghĩa xã hội không tưởng dựa trên bạo lực của Mao, chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc, hay việc chuyển từ chủ nghĩa xã hội không tưởng sang chủ nghĩa xã hội dân chủ… hoàn toàn là những quan điểm riêng của tác giả.

    Đây là cuốn sách có tính chất tham khảo về nhiều vấn đề liên quan đến lịch sử và vấn đề lý luận của nước Trung Hoa đương đại, nhằm giúp bạn đọc có được những cái nhìn nhiều chiều về những vấn đề đang được nhiều người quan tâm này.

    Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

    THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

    ————

    Mục lục

    Lời nói đầu (trang 4)
    Chương 1. Muốn trở thành lãnh tụ phong trào cộng sản quốc tế (trang 14)
    Chương 2. Sai lầm của Mao Trạch Đông về lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội (trang 18)
    Chương 3. Giang Thanh bước đầu tỏ ra lợi hại (trang 19)
    Chương 4. Vận dụng thuật cầm quyền của vua chúa (trang 19)
    Chương 5. Thiết lập thể chế chính trị chuyên chế một đảng (trang 20)
    Chương 6. Ba cuộc họp, một cuốn sách làm bùng lên cao trào hợp tác hoá nông nghiệp (trang 22)
    Chương 7. Các nhà tư bản gióng trống, khua chiêng đi lên chù nghĩa cộng sản (trang 23)
    Chương 8. Đường lối Đại hội 8 sát thực tế (trang 25)
    Chương 9. Địa ngục văn chương lớn nhất trong lịch sử loài người (trang 26)
    Chương 10. Hai đảng lớn Trung-Xô từ bạn thành thù (trang 27)
    Chương 11. Chu Ân Lai bị tước quyền lãnh đạo kinh tế (trang 30)
    Chương 12. Mao nói: Chúng ta phải thực hiện một số lý tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng (trang 32)
    Chương 13. Phải kết hợp giữa Các Mác và Tần Thủy Hoàng (trang 34)
    Chương 14. Đủ hiểu biết để cự tuyệt nhưng lời khuyên răn, đủ lời lẽ để tô vẽ cho những sai lầm (trang 37)
    Chương 15. Ở chốn vô thanh nghe sấm động (trang 39)
    Chương 16. Bành Đức Hoài vì dân lên tiếng (trang 40)
    Chương 17. Lâm Bưu giúp Mao lộng hành (trang 43)
    Chương 18. Địa ngục trần gian (trang 49)
    Chương 19. Con gái ba đời bần nông giương biểu ngữ ―Đả đảo Mao Trạch Đông‖ tại Trung Nam Hải (trang 52)
    Chương 20. Cuộc đọ sức tại đại hội 7000 người (trang 56)
    Chương 21. Mao Trạch Đông – Lưu Thiếu Kỳ đoạn tuyệt (trang 59)
    Chương 22. Bộ tư lệnh thứ hai trong Đảng (trang 62)
    Chương 23. La Thụy Khanh chơi với hổ, bị hổ vồ (trang 67)
    Chương 24. Giương ngọn cờ chống đảo chính để làm đảo chính (trang 69)
    Chương 25. Lợi dụng học sinh lật đổ Chủ tịch nước (trang 73)
    Chương 26. Nhân dân run rẩy trong cuộc khủng bố đỏ (trang 77)
    Chương 27. Mao Trạch Đông chơi trò chính trị lưu manh (trang 80)
    Chương 28. Nhân vật số 4 đại bại dưới chân Giang Thanh (trang 80)
    Chương 29. ―Tổ cách mạng văn hoá‖ thay thế Bộ chính trị, :Tổ làm việc Quân ủy‖ thay thế Quân ủy trung ương (trang 83)
    Chương 30. Kết cục bi thảm của Lưu Thiếu Kỳ (trang 86)
    Chương 31. Lâm Bưu đắc ý, lăm le kế tục (trang 87)
    Chương 32. Mao – Lâm quyết đấu ở Lư Sơn (trang 92)
    Chương 33. Tướng quân bách chiến thân danh liệt (trang 100)
    Chương 34. Nixon mang đến cho Mao chiếc ô bảo hộ hạt nhân (trang 108)
    Chương 35. Mời Đặng Tiểu Bình làm quân sư (trang 112)
    Chương 36.ChuÂn Lai – trở ngại mà Giang Thanh không thể vượt qua (trang 118)
    Chương 37. Chu Ân Lai mà Người căm ghét, hãm hại: Mãi mãi sống trong lòng trăm họ!Lũ bốn tên mà Người tin cậy, bảo vệ: Nhân dân rủa bay chết sớm đi ! (trang 120)
    Chương 38. Mao để Giang Thanh cầm ―cờ lớn‖ (trang 123)
    Chương 39. Mao chết, Giang tù (trang 129)
    Lời kết (trang 134)

    Download toàn văn: Mao Trạch Đông ngàn năm công tội.pdf
    – See more at: http://nghiencuuquocte.org/2014/11/11/mao-trach-dong-ngan-nam-cong-toi/#sthash.k6RbpP4W.dpuf

  24. Tập Cận Bình gửi đi tín hiệu chính trị trong lễ kỷ niệm một sỹ quan hải quân cấp cao đã mất, Tác giả: Leo Timm, Epoch Times | Dịch giả: Phạm Duy 20 Tháng Mười , 2016 https://vietdaikynguyen.com/v3/111829-tap-can-binh-gui-di-tin-hieu-chinh-tri-trong-le-ky-niem-mot-sy-quan-hai-quan-cap-cao-da-mat-luu-hoa-thanh/
    Ảnh hồ sơ của Đô đốc Lưu Hoa Thanh (Phải) và nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện nay Tập Cận Bình. (Quân Giải phóng Nhân dân) (Lintao Zhang / Getty Images)

    Tại một hội nghị chuyên đề vào ngày 28 tháng 9 tại Bắc Kinh, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã phát biểu, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Đô đốc Lưu Hoa Thanh, người đã hoạt động tích cực trong những năm 1980 và những năm 1990, và phục vụ như là một trong những sĩ quan quyền lực nhất của Trung Quốc trước khi bị bãi chức trong một cuộc đấu tranh chính trị. Ông Lưu đã qua đời vào năm 2011 ở tuổi 95.

    Trong một bài phát biểu kỷ niệm với độ dài khoảng 12 trang, ông Tập đã trích lời ông Lưu một cách chi tiết, và đã ca ngợi vị đô đốc hải quân cho những nỗ lực tăng cường và cải tổ quân đội Trung Quốc, theo Tân Hoa Xã, một hãng thông tấn nhà nước.

    “Đất nước sẽ không có lối thoát nếu thiếu cải cách,” ông Lưu đã nói, “và quân đội cũng đúng như vậy”.
    Quảng cáo

    Ông Tập cũng đã nêu bật cách mà ông Lưu đã giữ một vai trò quan trọng như thế nào trong năm 1992, khi mà ông Lưu được chỉ định làm thành viên Ủy ban thường vụ Bộ Chính trị, một cơ quan quyền lực nhất trong Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Bài phát biểu này là rất quan trọng, và thậm chí bất bình thường vì một lý do khác: Lưu Hoa Thanh là một đối thủ của Giang Trạch Dân, cựu lãnh đạo của chế độ, và ông Tập Cận Bình đã chiến đấu chống lại ảnh hưởng của ông Giang kể từ khi ông Tập lên nắm quyền.

    Các từ ngữ ca ngợi ông Lưu và cải cách của đương kim lãnh đạo Trung Quốc có lẽ mang ý nghĩa chính trị nhiều hơn là ý nghĩa ngày sinh nhật của một cán bộ đã mất có thể mang lại.
    Xây dựng bằng chứng chống lại các đối thủ chính trị

    Giang Trạch Dân là một quan chức Đảng từ Thượng Hải, người đã nổi bật lên sau vụ thảm sát tại Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh. Khi là Tổng bí thư của ĐCSTQ, Giang đã bất hòa với Lưu Hoa Thanh, vị quan chức quân đội cuối cùng phục vụ trong Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị, một cơ quan đầu não của ĐCSTQ.

    Là một người được đỡ đầu bởi Đặng Tiểu Bình, một cựu lãnh đạo nhiều tuổi nhưng vẫn còn quyền lực, ông Lưu đã không qui phục theo ý chí của Giang. Nhưng sau khi ông Đặng qua đời vào năm 1997, Giang và những đồng minh của mình đã dùng vũ lực đối với các cộng sự của Đặng Tiểu Bình tại Đại hội Đảng lần thứ 15, được tổ chức vào cuối năm đó, để loại bỏ các rào cản đối với ảnh hưởng chính trị của Giang trong chế độ [Trung Cộng]. Lưu Hoa Thanh là một trong những mục tiêu của cuộc thanh trừng, ‘mềm’ theo tiêu chí của ĐCSTQ, và ông Lưu đã rút lui khỏi vị trí của mình vào năm sau đó.

    Trong bài phát biểu, ông Tập đã không những ghi nhận “những đóng góp của ông Lưu cho chủ nghĩa xã hội với đặc tính Trung Quốc” như Tân Hoa Xã đã đưa tin, mà còn trích dẫn lời của vị đô đốc này, nói rằng “không có hy vọng cho quân đội nếu như các đồng chí của chúng ta phải viện đến ‘các giao dịch cửa sau’ để đạt được thăng tiến. Điều này làm tiêu hao rất nhiều tinh thần chiến đấu của quân đội”.

    Chính quyền Trung Quốc hiện nay do Tập Cận Bình lãnh đạo, đã hoạt động tích cực trong việc trừng trị và loại bỏ hàng ngàn các quan chức Đảng, nhà nước, và quân đội, có vẻ bề ngoài là vì tham nhũng và vi phạm kỷ luật khác.

    Dưới thời Giang Trạch Dân, Trung Quốc đã trải qua tăng trưởng kinh tế bền vững với 2 con số, nhưng cũng chứng kiến sự bùng nổ về tham nhũng được nhà nước hậu thuẫn. Trong khi các quan chức Trung Quốc từ lâu đã có tiếng xấu vì lạm dụng đặc quyền mà vị trí của họ mang lại, Giang đã vung tay cấp rất nhiều thăng tiến và vị trí chủ chốt cho những đồng minh của mình, những người đã lần lượt sử dụng quyền lực của bộ máy nhà nước để cắt ra các thái ấp bất hợp pháp cho riêng mình.

    Nhiều quan chức cao cấp, bao gồm cả những người trong quân đội bị ông Tập thanh trừng, đều đã nhờ Giang mà thăng tiến. Trong số đó có Từ Tài Hậu, một sĩ quan chính trị đã lạm dụng vị trí của mình là một phó chỉ huy của Quân đội Giải phóng Nhân dân để thu lợi bất hợp pháp. Khi Từ bị điều tra, các quan chức kỷ luật Đảng đã tìm thấy nhiều xe tải chứa đầy vàng và ngoại tệ, tại nơi cư trú của ông ta.

    Cốc Tuấn Sơn (Gu Junshan), một viên tướng bị thất sủng khác, có mối liên hệ với Giang Trạch Dân, được cho là đã sở hữu một bức tượng đặc bằng vàng của Mao Trạch Đông, được phát hiện tại một trong những biệt thự sang trọng của mình, cùng với một chiếc thuyền mô hình bằng vàng, những thùng rượu đắt tiền, những đống vàng thỏi, và hàng đống tiền mặt, theo các báo cáo của các phương tiện truyền thông Trung Quốc.

    Ông Hua Po, một nhà bình luận chính trị ở Bắc Kinh, đã nói rằng Đặng Tiểu Bình đã đặt Lưu Hoa Thanh, một nhà cải cách, vào Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị, để “kiểm soát Giang …. Ông Đặng đã quan ngại rằng Giang có thể từ bỏ chương trình cải cách”.

    Theo tờ Legal Evening News, một tờ báo do nhà nước quản lý, ông Lưu đã viết trong hồi ký của mình rằng ông tôn kính sâu sắc và đánh giá cao vai trò lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình. Và Sina, một trang web tin tức lớn của Trung Quốc, đã báo cáo rằng ông Lưu khinh thường Giang vì Giang chưa bao giờ phục vụ trong quân đội, nhưng lại là chủ tịch Quân ủy Trung ương.

    Nhưng, trong khi một số quan chức Trung Quốc quan trọng, những người đã thăng tiến dưới thời Giang, đã bị xử lý kỷ luật, thì chính bản thân Giang cùng với một số ít các đồng minh vẫn trong Bộ Chính trị như Lưu Vân Sơn và Trương Đức Giang, vẫn chưa bị buộc tội trực tiếp – mà chỉ bị ám chỉ gián tiếp.

    Vào cuối tháng 10, ĐCSTQ đã lên kế hoạch tổ chức một phiên họp toàn thể kín quan trọng mà ở tại đó ông Tập, đồng minh của ông và các đối thủ sẽ quyết định quan chức nào sẽ được lựa chọn để thăng tiến hoặc phải về hưu vào năm 2017, là năm của Đại hội thứ 19 của ĐCSTQ. Một số cuộc thanh trừng và những tín hiệu gần đây chỉ ra rằng ông Tập đang thực hiện những nỗ lực kiên định, để loại bỏ phe phái Giang, được dự tính trước hội nghị.

  25. Pingback: Từ Mao Trạch Đông tới Tập Cận Bình | Tình yêu cuộc sống

  26. Pingback: Thăm ngôi nhà cũ của Darwin | Tình yêu cuộc sống

  27. Pingback: Để tôi nhặt lại | Khát khao xanh

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s