Hoàng Thành

HOÀNG THÀNH
Hoàng Kim

Chào Ngày Mới CNM365
Nhớ về Hoàng Thành
Thăng Long Đông Đô Hà Nội
Di sản thế giới tại Việt Nam.

Lý Công Uẩn với thành Thăng Long
Chùa Một Cột ngàn năm văn hiến
Vùng trời nhân văn
Vào Tràng An Bái Đính.

Trần Nhân Tông lời Thầy dặn
Trần Hưng Đạo và chùa Thắng Nghiêm
Thuyền độc mộc Am Ngọa Vân
Minh triết Hồ Chí Minh.

Nguyễn Du và đền cổ Trung Liệt
Dấu tích mười ba thế kỷ Việt
Long Mạch trầm tích thời gian
Chuyện ngàn năm không quên.

Bí mật Cao Biền trong sử Việt
Bâng khuâng nôi huyền thoại
Khởi nghĩa Lam Sơn hội thề Đông Quan
Đại cáo Bình Ngô Nguyễn Trãi.

Dấu xưa trăng khuyết lại tròn
Đất nước bốn ngàn năm
Kế sách một chữ “Đồng”
Chung sức đồng lòng cố gắng.

Lời yêu thương đầy đặn
Việt Nam Tổ Quốc tôi.

Hoàng thành Thăng Long là di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận ngày 1/8/2010. Hoàng Thành Thăng Long là khu trung tâm của kinh đô Thăng Long do vua Lý Thái Tổ, vị hoàng đế đầu tiên của nhà Lý quyết định xây dựng. Đây quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành Thăng Long Đông Kinh và tỉnh thành Hà Nội, là công trình kiến trúc đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt Nam.

Hoàng thành Thăng Long bắt đầu từ thời kì tiền Thăng Long (An Nam đô hộ phủ thế kỷ VII) qua thời Đinh – Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn. Kinh đô Thăng Long suốt các triều đại Lý Trần là trung tâm văn hóa, giáo dục và buôn bán của cả nước. Thời Lê Quý Ly cướp ngôi nhà Trần đã thiên đô về Thanh Hóa lấy tên là Tây Đô và đổi Thăng Long thành Đông Đô. Năm 1406, nhà Minh đưa quân xâm lược Đại Ngu, Thăng Long bị chiếm đóng và đổi tên thành Đông Quan. Thời kỳ Bắc thuộc thứ tư bắt đầu từ năm 1407 kéo dài tới năm 1428.

Sau chiến thắng của khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi thành lập nhà Lê và Đông Đô trở  lại vị thế kinh thành. Hoàng thành Thăng Long dưới thời nhà Lê tiếp tục được mở rộng. Năm 1430, Đông Đô được đổi tên thành Đông Kinh, đến năm 1466 được gọi là phủ Trung Đô. Bên cạnh, khu vực dân cư được chia thành hai huyện Vĩnh Xương và Quảng Đức, mỗi huyện 18 phường. Phủ doãn là chức đứng đầu bộ máy hành chính thời ấy.

Hội thề Đông Quan là tên gọi của một sự kiện diễn ra ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi (tức ngày 10 tháng 12 năm 1427), tại thành Đông Quan, giữa thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn Lê Lợi và chủ tướng quân Minh là Vương Thông Hai bên lập lời thề rằng sau sự kiện này, bên quân Minh do Vương Thông làm chủ tướng lập tức dẫn quân trở về nước, còn nghĩa quân Lam Sơn không được hãm hại quân Minh. Sau sự kiện này, cả hai bên đều làm đúng theo lời thề, nước Đại Việt lập lại hòa bình sau 20 năm bị quân Minh đô hộ.

Trước hội thề Đông Quan, năm 1426, nghĩa quân Lam Sơn đã chiếm được vùng đất đai rộng lớn từ Thanh Hóa trở vào phía nam, bao vây, cô lập thành Nghệ An và thành Tây Đô (Thanh Hóa). Tháng 8, năm 1426, Lê Lợi sai ba cánh quân tiến ra bắc, thắng trận liên tiếp thế như chẻ tre. Trần Trí tướng giữ thành Đông Quan phải cầu viện binh, hai tướng Lý An, Phương Chính từ Nghệ An đem quân về cứu Đông Quan. Vua nhà Minh cũng sai Vương Thông đem 5 vạn quân sang tiếp viện, hội quân ở Đông Quan hơn 10 vạn quân. Tháng 10 năm 1426 Vương Thông bị đánh bại ở trận Tốt Động, Chúc Động, Vương Thông rút vào Đông Quan cố thủ. Vương Thông thế cùng muốn hòa, sau đó lại thay đổi ý định, đào hào, đắp lũy, gọi thêm viện binh. Năm 1427, vua nhà Minh sai Liễu Thăng đem 10 vạn quân, Mộc Thạnh 5 vạn quân chia làm hai đường cứu viện. Cánh quân Liễu Thăng bị đánh bại, Mộc Thạnh sợ hãi bỏ chạy. Vương Thông thế cùng phải mang thư đến nghĩa quân Lam Sơn cầu hoà, xin mở cho đường về. Lê Lợi chấp nhận, lại gởi tặng thổ sản và hải sản. Vương Thông xin giảng hòa nhưng bất ngờ đem hết quân trong thành ra đánh. Nghĩa quân Lam Sơn đặt phục binh vờ thua chạy, quân Minh đuổi theo tới ổ phục binh thì bị đánh tan. Vương Thông ngã ngựa suýt bị bắt, phải rút vội về thành. Nghĩa quân Lam Sơn tiến quân đến cửa Nam thành đắp bờ lũy chống giữ. Lê Lợi thân đốc các tướng đem quân đắp lũy từ phường Yên Hoa thẳng tới cửa Bắc thành Đông Quan. Quân Minh chỉ dám ở trong thành không dám ra. Vương Thông và Sơn Thọ bị vây cùng quẫn, lại xin hòa. Quốc dân đã bị cực khổ về sự quân Minh cai trị tàn ngược, và giận về sự tráo trở, xin cho đánh gấp, giết cho bằng hết. Lê Lợi đáp: “Việc dùng binh lấy sự toàn quân là hơn cả. Nay hãy để cho lũ Vương Thông về nói với vua Minh, trả lại đất cho nước ta, không còn trở lại xâm lấn, thì ta còn cầu gì hơn nữa, hà tất phải giết hết, để kết mối thù với nước lớn.” (Đại Việt thông sử). Lê Lợi nói rồi cho hòa giải, lệnh cho lộ Bắc Giang và Lạng Giang tu sửa đường sá để quân Minh về nước, sai Nguyễn Trãi soạn tờ biểu, lấy lời Trần Cảo là dòng dõi vua Trần, xin được làm vua. Nghĩa quân đưa thư trả lời Vương Thông, dùng Lê Quốc Trinh và Lê Nhữ Trì làm con tin. Lê Lợi sai con trưởng Lê Tư Tề và Lưu Nhân Chú vào thành Đông Quan làm con tin. Nhà Minh sai Sơn Thọ và  Mã Kỳ đến dinh Bồ Đề làm con tin.

Sau hội thề Đông Quan, Lê Lợi ra lệnh cấp cho cánh quân thủy do Mã Kỳ và Phương Chính nhận lãnh 500 chiếc thuyền và lương thảo, cánh đường bộ do Sơn Thọ, Hoàng Phúc lãnh nhận cấp cho hai nghìn cổ ngựa và lương thảo. Hơn 2 vạn người bị bắt hoặc đầu hàng thì do Mã Anh lãnh nhận. Chinh man tướng quân Trần Tuấn đem quân trấn thủ đi theo. Tất cả đều tới dinh Bồ Đề lạy tạ mà về. Ngày 12 tháng 12, Phương Chính, Mã Kỳ tới dinh Bồ Đề cáo biệt Lê Lợi, ở lại suốt một buổi chiều, Lê Lợi sai sắm trâu ngựa, trướng vẽ và lễ phẩm hậu tặng. Ngày 17 tháng 12 Vương Thông nhà Minh dẫn quân bộ đi sau. Vương Thông cùng vua nói chuyện từ biệt suốt đêm rồi đi. Vua sai đưa trâu rượu, cờ thêu, trướng vẽ cùng các lễ vật tiễn chân rất hậu. Quân thủy, bộ của ba thành Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh cùng lục tục rút tiếp. Từ đây, việc binh đao dập tắt, khắp thiên hạ thái bình. Vương Thông về đến Long Châu, vua Minh đã liệu trước bọn Vương Thông cùng quẫn, việc đã đến thế, không làm thế nào được nữa, đành sai bọn La Nhữ Kính mang thư sang phong Trần Cảo là An Nam Quốc Vương, bãi bỏ quân nam chinh, ra lệnh cho Thông trở về Bắc, trả lại đất cho An Nam, việc triều cống theo lệ cũ năm Hồng Vũ, cho sứ thần đi lại. Tổng cộng 10 vạn quân Minh đã được hồi hương an toàn.

Tác phẩm Bình Ngô đại cáo viết rằng: “Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng /Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng / Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh / Mã Kỳ , Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,/ Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run./ Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng / Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức/ Chẳng những mưu kế kì diệu/ Cũng là chưa thấy xưa nay…”
Xem tiếp:


Ký sự Thăng Long

xem thêm: Tagore đại thi hào Ấn ĐộTrăng rằm; Đi khắp quê người để hiểu đất quê hươngDạo chơi non nước ViệtThầy bạn là lộc xuân cuộc đời;  Từ Mao Trạch Đông tới Tập Cận Bình; Lời của Thầy theo mãi bước em đi;   Mùa xuân quê hương; Thơ cho conLời yêu thương; Nếp nhà và nét đẹp văn hóa; Chị em Đêm Giáng Sinh; Cánh cò bay trong mơ; Nguyễn Hiến Lê sao sáng trời Nam; 24 tiết khí lịch nhà nông; Con theo Người nguyện làm Hoa Lúa; Gạo Việt chất lượng và thương hiệuWalter Disney người bạn lớn trong câu chuyện nhỏ; Đọc Tô Đông Pha nhớ Nam Trân; Đợi Anh; Lời yêu thươngCây thông mùa đông; Đêm mai là trăng rằm; Bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dương; Nếp nhà và nét đẹp văn hóa; Nhiên liệu sinh học tại Việt Nam; Nhà văn tồn tại ở tác phẩm;  Sớm Đông; 500 năm nông nghiệp Brazil; Đến chốn thung dung; Sống giữa thiên nhiên; Về với ruộng đồng; Ta về trời đất Hồng Lam; Mình về cùng với mình thôi; Bước tới thảnh thơi; Lên non thiêng Yên Tử; Đêm Yên TửMinh triết sống thung dung phúc hậu; Giáo sư Trần Văn Giàu, bài học lớn trong câu chuyện nhỏ;Linh Giang dòng sông quê hương; Sự chậm rãi minh triết; Qua Trường Giang nhớ Mekong; Giếng Ngọc Tao ĐànThông tin Hội nghị Khoa học Toàn quốc năm 2017 Sinh lý Thực vật Ứng dụng Nông nghiệp Công nghệ cao, các báo cáo tiêu biểu; Nha Trang và Yersin, Ta về trời đất Hồng Lam; 2018 Bước tới thảnh thơiVua Hàm Nghi và ông Trương ThạcTrung Mỹ ‘tái cân bằng ‘vành đai và con đường’; Vườn Quốc gia ở Việt Nam; Miên Thẩm là Đỗ Phủ thơ Việt; Sơn Nam ông già Nam BộĐịa chỉ xanh Ấn Độ; Giấc mơ hạnh phúc; Nắng Đông; Đọc Đỗ Phủ nhớ Đặng Dung; Đỗ Phủ những bài thơ bi tráng; Đồng dao cho em; Lên Yên Tử sưu tầm thơ đức Nhân Tông;Lên non thiêng Yên TửLời dặn lại của Đức Thánh Trần; Đường xuân;Lời Thầy dặn;Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời; Thầy tôi sao sáng giữa trời; Trường tôi và thầy Dương Thanh Liêm Helen Keller người mù điếc huyền thoại;Sao Kim kỳ thú; Tháp vàng hoa trắng nắng Mekong; Nhà Trần trong sử Việt; Lời dặn lại của Đức Thánh Trần; Vườn Quốc gia ở Việt NamMark Twain là Lincoln văn học Mỹ;  Cuối một dòng sông là cửa biển; Thầy Hiếu quê Choa nay thành Nội; Dạy và học ngôn ngữ văn hóa; Con đường lúa gạo Việt Nam; Dưới đáy đại dương là ngọc; Gạo Việt từ giống tốt đến thương hiệu, Cơm Niêu Vàng Gạo Đông A, Ngày mới yêu thương;Thầy Hiếu quê choa nay thành nội; Tại sao Nam Tư? Nam tiến của người Việt; Ngàn năm Đại Lãnh nhạn quay về; Cuối một dòng sông là cửa biển;: Thác Bản Giốc và sông Ka Long; Tiệp Khắc ấn tượng lắng đọng; Chu Văn Tiếp ở Phú YênTiệp Khắc kỷ niệm một thờiPraha Goethe và lâu đài cổ;  Dạo chơi cùng Goethe, Từ Mekong nhớ Neva; Sao Kim kỳ thú;Thăm ngôi nhà cũ của Darwin;Tỉnh thứcNếp nhà và nét đẹp văn hóa; Đào Duy Từ còn mãi với non sông Nguyễn Hiến Lê sao sáng trời Nam; Minh triết cho mỗi ngày; Trăng rằm;Chiến tranh và Hòa bình; Thầy bạn trong đời tôiThầy bạn là lộc xuân cuộc đời; Em ơi em can đảm bước chân lên;  Lời của Thầy theo mãi bước em đi; Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng; CIMMYT tươi rói một kỷ niệm; Đối thoại giữa các nền văn hóa; Con đường lúa gạo Việt Nam; Có một ngày như thế500 năm nông nghiệp BrazilNgọc lục bảo Paulo Coelho; Vườn thiêng cổ tích  Praha Goethe và lâu đài cổTiệp Khắc kỷ niệm một thời; An ở Công Viên Nước Hoàng Gia;  Nhà sách Hoàng Gia. Thổ Nhĩ Kỳ với ‘vành đai và con đường’ Thổ Nhĩ Kỳ nông nghiệp sinh thái; Myanmar đất nước chùa tháp; Myanmar đọc lại và suy ngẫm; Dạy và học không bao giờ muộn. Không bao giờ quá muộn để theo niềm đam mê thực sự của bạn; Trung Mỹ ‘tái cân bằng’ vành đai và con đường, Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ; Nguyễn Du đi săn ở núi Hồng; Thầy bạn trong đời tôi; Ông Alexandre de Rhodes chữ tiếng Việt; Angkor nụ cười suy ngẫm; Chớm Đông trên đồng rộngLúa Sắn Cămpuchia và lúa sắn Lào; Lên Yên Tử sưu tầm thơ đức Nhân Tông; Đêm Yên Tử, Vườn Quốc gia ở Việt Nam; Chớm ĐôngNguyễn Du những sự thật mới biết;Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời; Nguyễn Du 252 năm nhìn lại; Đào Thế Tuấn chân dung người Thầy; Nguyễn Du cuộc đời và thời thế; Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán

Video yêu thích

Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s