Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim
với Trần Ngọc Ngoạn, Van Quyen Mai, Hieu Nguyenminh, Mai Trúc Nguyễn Thị trong đêm thiêng tháng Bảy mưa ngâu giấc mơ hạnh phúc tại Vĩ Dạ Xưa.

Tháng Bảy năm 2017 Lịch Vạn Niên có 5 ngày thứ Bảy, 5 ngày Chủ nhật, 5 ngày Thứ Hai mà 823 năm mới lặp lại một lần. Theo thiên thư cổ văn đây là “điều kỳ diệu” “nhóm ngày may mắn” hành thiện những việc đặc biệt tốt đẹp đầy đặn yêu thương. Thầy bạn trong đời tôi là chùm bài viết chuyện đời tự kể, nối tiếp chuỗi thông tin các bài viết trước https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

 

THẦY QUYỀN NGHỀ NÔNG CỦA CHÚNG TÔI

Giáo sư tiến sĩ Mai Văn Quyền là nhà khoa học xanh, chuyên gia hàng đầu Việt Nam về lĩnh vực thâm canh lúa, hệ thống nông nghiệp, sinh lý thực vật và quản lý bền vững đất nước cây trồng. Giáo sư là thầy hướng dẫn đã bảo vệ thành công của 12 tiến sĩ khoa học nông nghiệp, nhiều thạc sỹ, kỹ sư nông học, tác giả của sáu sách chuyên khảo và nhiều bài báo, bài viết đăng trên các tạp chí, sách ở trong và ngoài nước. Giáo sư Mai Văn Quyền từ năm 2007 đến nay là cộng tác viên thường xuyên của đài VOV 2 phát thanh mỗi tuần 2 lần các nội dung về phân bón trong khuôn khổ hợp tác giữa Đài VOV2 với công ty Cổ phần phân bón Binh Điền. Giáo sư là chuyên gia của chương trình VTV “Đồng hành và chia sẻ” hàng tuần trả lời các câu hỏi của nông dân cả nước qua thư bạn nghe đài, là cộng tác viên của báo Nông nghiệp Việt Nam và các báo nông nghiệp, viết bài phổ biến khoa học trong lĩnh vực phân bón và cây trồng. Với cương vị là chủ tịch Hội đồng khoa học của Công ty Cổ phần phân bón Bình Điền, hàng năm tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật sử dụng phân bón cho nông dân Việt Nam, Campuchia, và Myanmar, qua đó tạo thêm điều kiện tăng thêm sự hiểu biết và thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân và chính phủ các nước với nhân dân và chính phủ Việt Nam. Thầy là tấm gương phúc hậu, minh triết, tận tâm trong nghiên cứu, giảng dạy nông học, đồng hành cùng nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam. Bước vào năm 2016, giáo sư Mai Văn Quyền sang tuổi 80 và Thầy vẫn đang sung sức đi tới trong tốp đầu của các chuyên gia nông nghiệp Việt Nam thời hiện đại.

Thầy Mai Văn Quyền là thầy hướng dẫn khoa học của tôi làm nghiên cứu sinh ở Viện Khoa học Nông nghiệt Việt Nam khóa 1988-1991. Đó là người thầy minh triết, phúc hậu, tận tâm mà suốt đời tôi tôn kính và tự hào. Các bạn Đặng Kim Sơn, Mai Thành Phụng, Nguyễn Đăng Nghĩa, Nguyễn Thị Sinh với tôi là bạn học cùng khóa. Thuở ấy thầy Quyền khuyên tôi nên sớm đúc kết đề tài nghiên cứu trồng xen đậu rồng, đậu xanh, lạc với sắn ở Đông Nam Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ, xác định giống sắn, đậu xanh, đậu nành, lạc tốt và xác định phương thức trồng xen thích hợp điều kiện sinh thái của vùng. Tôi được thầy minh triết chỉ dẫn sâu sát thực tiễn nên đã thành công. Câu chuyện về thầy tôi đã kể ở bài viết ‘Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi‘:  Ơn Thầy. Hoàng Kim, kính tặng thầy Mai Văn Quyền và những người Thầy quý mến. Cha ngày xưa nuôi con đi học. Một nắng hai sương trên những luống cày, Trán tư lự, cha thường suy nghĩ,  Phải dạy con mình như thế nào đây? Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất, Cái chết giằng cha ra khỏi tay con, Mắt cha lắng bao niềm ao ước, Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng. Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy, Tương lai con đi, sự nghiệp con làm. Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ, Cha ngã xuống rồi trao lại tay con. Trên luống cày này, đường cày con vững. Bởi có dáng Thầy thay bóng cha xưa. Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ. Thôi thúc tim con học tập phút giờ …

Giáo sư Mai Văn Quyền năm 1987 là trưởng chương trình thâm canh lúa Việt Nam trưởng đề tài hệ thống canh tác và Phó Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam. Thầy đã cùng tiến sĩ Carangal là Trưởng dự án Hệ thống Canh tác Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế IRRI, tiến sĩ Phạm Sĩ Tân là Phó Viện trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long và Hoàng Kim, đi thăm mô hình “trồng ngô xen đậu trong hệ thống cây trồng vùng Đông Nam Bộ”.

Mô hình này cùng với mô hình “nghiên cứu phát triển đậu rồng ở các tỉnh phía Nam” và “giống khoai lang mới Hưng Lộc 4” năm 1987 là ba tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp của Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận là giống mới và tiến bộ kỹ thuật mới, được ứng dụng rộng ở nhiều tỉnh phía Nam. Khoai lang Hưng Lộc 4 có năng suất cao, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu cam đậm, phẩm chất ngon, bộ lá xanh đậm, phủ luống nhanh, gọn, ít sâu bệnh, được dân ưa thích vì củ nấu cà ri hoặc luộc khá ngon, khoai là thực phẩm sạch dễ ăn, được tiêu thụ rộng rãi và dây lang dùng cho chăn nuôi.  Đặc biệt là hai công trình ‘đậu rồng giống mới năng suất cao, quy trình kỹ thuật trồng xen đậu rồng với sắn và ngô, sử dựng quả đậu rồng làm rau xanh và hạt làm bánh dinh dưỡng’ cùng với công trình ‘ngô xen đậu xanh đậu nành lạc và gối thuốc lá’  thời bấy giờ tại tỉnh Đồng Nai với nhiều tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là rất phổ biến và hiệu quả. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Nguyễn Ngọc Trìu đã cùng giáo sư Trần Thế Thông xuống đồng ruộng trực tiếp đánh giá và thật khen ngợi.

GIÁO SƯ PAVEL VALICEK THẦY CÂY TRỒNG

Tôi có duyên may suýt được cả thầy Pavel Valicek giúp hướng dẫn luận án hổ trợ thầy Mai Văn Quyền là hướng dẫn chính. Sau này do không có điều kiện hợp tác tiếp với Tiệp Khắc nên tôi không còn được đi học tiếp ở Tiệp mà làm đề tài trong nước chỉ một mình thầy Quyền hướng dẫn thôi . Trước đó, tôi được du học năm tháng ở Tiệp Khắc nhờ thực hiện tốt đề tài đậu rồng và chị Magdalena Buresova thầy Pavel Valicek là người giúp đỡ thực tập sinh từ cuối năm 1985 đến giữa năm 1986 với sự tận tâm hổ trợ của giáo sư Viện trưởng Trần Thế Thông. Dịp học ở Praha, thầy Pavel Valicek có mời chị Magdalena Buresova và tôi đến thăm nhà thầy ở tại Nymburk và cùng ăn cơm. Trong bữa cơm thầy lắng nghe rất kỹ câu chuyện tôi kể về hai tuần khảo sát các nơi ở Tiệp Khắc, tâm tư của tôi và những điều mà sau này tôi đã ghi nhận tại Tiệp Khắc kỹ niệm một thời;  Praha Goethe và lâu đài cổ; Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe; … Thầy khen ngợi tôi đã có buổi seminar ‘đậu rồng ở Việt Nam’ thật tốt trước một đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm của Viện Nhiệt đới và Á Nhiệt đới. Thầy tin tưởng rằng nếu tôi được thầy Quyền hướng dẫn chính chung với thầy Pavel Valicek là đồng hướng dẫn  thực hiện tốt đề tài tiến sĩ ở Việt Nam và sang học nâng cao ở Viện của thầy thì tôi sẽ rất sớm bảo vệ luận án tiến sĩ ở Tiệp Khắc.


Giáo sư tiến sĩ Pavel Valicek (giữa), giáo sư tiến sĩ Trần Thế Tục (phải) và giáo sư tiến sĩ NGUT Nguyễn Viết Tùng (trái) Hiệu trưởng Học Viện Nông nghiệp Việt Nam nhiệm kỳ 1996- 2001 là một tấm ảnh quý.  Tôi muốn kể thêm với phó giáo sư Nguyễn Văn Hoan về câu chuyện này

Thầy Pavel Valíček sinh ngày 13 tháng 5 năm 1939, năm nay 79 tuổi. Thầy ở Nymburk, còn gọi là Neuenburg an der Elbe, một thành phố cổ, một thị trấn ở khu vực miền Trung của sông Elbe, cách Praha khoảng 45 km về phía đông. Thành phố này có diện tích trên 20 km² với khoảng một vạn rưỡi dân. Đó là nơi thật đẹp. Giáo sư Pavel Valíček là nhà thực vật học người Czech, cũng là nhà nông học và nông dân. Thầy tập trung tinh lực trọn đời nghiên cứu cây nhiệt đới cây cận nhiệt đới và cây thuốc châu Á. Thầy là Viện trưởng Viện Nhiệt đới và Á Nhiệt đới, thuộc Trường Đại học Nông nghiệp Praha ở Prague 6 Suchdol, là tác giả của nhiều bài báo rất nổi tiếng trong đó có bài ‘Đậu rồng hôm qua, hôm nay và ngày mai’ công bố năm 1989 (The Winged Bean Psophocarpus tetragonolobus: Past, Present, and Future’) thầy khuyến khích trồng cây đậu rồng rau sạch, dễ trồng, giàu đạm và đặc biệt giàu dinh dưỡng này. Thầy đã làm việc tại Viện Nhiệt đới và Á Nhiệt đới, Trường Đại học Nông nghiệp Praha trên ba mươi năm, và nghĩ hưu từ năm 2000. Thầy nay vẫn tiếp tục cống hiến cho những khu vườn cây chữa bệnh ở Třebíč và Sádka, các bài giảng và xuất bản. Thầy Pavel Valíček là tác giả của hàng chục ấn phẩm, chuyên luận và sách phổ biến rộng rãi ở Tiệp, cũng là tác giả chính của nhiều ấn phẩm phong phú về cây nhiệt đới, cây cận nhiệt đới, cây thực vật cổ thụ và cây làm thuốc, đặc biệt là những cây thuốc Trung Quốc và Việt Nam.


“Hoàng Kim có kết quả đồng ruộng rất tốt và cậu sẽ hoàn thành luận án thật nhanh. Ba bài báo cậu đã đăng là thật tốt”. Thầy khen tôi như vậy và chị Buresova cũng xác nhận điều đó.  (1) Kim H.; Buresova, M, 1986. Growing winged bean on natural supports under the conditions of South Vietnam. In Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 19; p. 225 – 236 En. Sum. En. 14 Ref. In CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416 ;  2)  Buresova, M.; Kim, H.; Quyen, T.N.,1987. The economics og winged bean on manioc as natural supports under the conditions of South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 20; p. 101 – 114 En. Sum. En.; Sk., Ru.,8 Ref. In: CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416; 3) Hoang Kim, M. Buresova, Tran Ngoc Quyen and Nguyen Van Chuong, 1988 Economic of Winged bean on Maize as natural support in South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 21; p. 45 – 59 En. Sum. En.; Sk., Ru.,9 Ref. Thầy truyền cho tôi cảm hứng và thật lạ lùng, cho đến nay khi tôi hướng dẫn cho Nguyễn Xuân Kỳ, Nguyễn Thị Trúc Mai,  Nguyễn Bạch Mai tôi cũng bị ‘lây’ cảm hứng hợp tác quốc tế say mê đó.

Sau này khi tiến sĩ Kazuo Kawano và Reinhardt Howeler là những chuyên gia CIAT tới Việt Nam cũng có những đánh giá thật tốt đối với những thí nghiệm của đề tài nghiên cứu trồng xen đậu rồng, đậu xanh, lạc với sắn thực hiện ở trên đồng ruộng (xem hình) và các bài báo nông học công bố tốt tại Việt Nam về vấn đề này giống như giáo sư Pavel Valicek. Sau này khi nhìn lại những hình ảnh đồng ruộng và trang viết cũ, cho thấy thật là có phúc lành, duyên lành khi được sớm đồng hành với những người thầy, người bạn quý như thế. Khoa học nông nghiệp là khoa học thực tiễn, kỹ năng thực hành và đáng giá kết quả trên đồng ruộng, biết tổng kết số liệu và bài học thực tiễn là quan trọng biết bao.

còn tiếp ….

Video yêu thích
KimYouTube 

Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn; Kim on Twitter

 

Advertisements

Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI.
Hoàng Kim
“Thung dung cùng với cỏ hoa. Thỏa thuê đèn sách, nhẫn nha dọn vườn”. Đó là triết lý nhân sinh “Ta về sống giữa thiên nhiên” của một đội ngũ các nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ đã chấp nhận trọn đời sống với ruộng đồng và chén cơm ngon của người dân. Cám ơn Trung Trung đã góp ý sắp xếp lại câu thơ trên thay cho câu thơ cũ “Thỏa thuê cùng với cỏ hoa.Thung dung đèn sách nhẫn nha dọn vườn”. Mình đã sửa lại. Tình yêu cuộc sống thể hiện trong tứ thơ ‘thung dung’ đứng đầu, chọn cỏ hoa, thiên nhiên, chân quê làm khởi nghiệp. Sự nghiệp ấy gắn đời và nghề, để sau này nhìn lại. “Xuân đi trăm hoa rụng, Xuân đến trăm hoa cười” ẩn chứa triết lý sâu sắc hơn là “Xuân đến trăm hoa cười, xuân đi trăm hoa rụng”. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585) “Thanh nhàn vô sự là tiên” trong bài thơ nôm “Chín mươi” có câu: “Chín mươi thì kể xuân đà muộn Xuân ấy qua thì xuân khác còn”. Tăng Quốc Phiên chống quân Thái Bình Thiên Quốc “càng đánh càng thua” nhưng trong bản tấu chương gửi vua thì ông đã quyết ý đổi lại là “càng thua càng đánh”. Việc “đánh thua” thì vẫn vậy nhưng ý tứ của câu sau mạnh hơn hẵn câu trước. Cám ơn bạn, mình lưu trang và ảnh để quay lại. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

TA VỀ SỐNG GIỮA THIÊN NHIÊN
Hoàng Kim

Người khôn về chốn đông người
Cái nhìn thì mỏng, cái cười thì nông
Ta vui ở lại ruộng đồng
Để gieo tục ngữ để trồng dân ca.

Thỏa thuê cùng với cỏ hoa
Thung dung đèn sách, nhẫn nha dọn vườn
Mặc ai tính thiệt so hơn
Bát cơm gạo mới vẫn thơm láng giềng

Thiên nhiên là thú thần tiên
Chân quê là chốn bình yên đời mình
Bạn hiền bia miệng anh linh
Thảnh thơi hưởng trọn ân tình thế gian

Nước trong ngập ánh trăng vàng
Ta ra cởi bỏ nhọc nhằn âu lo
Lợi danh một thực mười hư
Trăm điều ước vọng chỉ phù du thôi

Ung dung thanh thản cuộc đời
Tình quê bồi đắp về nơi sâu đằm
Ta về sống giữa thiên nhiên
Chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao.

CỤ NGUYỄN NGỌC TRÌU TRONG TÔI

Hoàng Kim chùm ảnh và bài viết của  về Bộ Trưởng Nguyễn Ngọc Trìu đến Trung tâm Hưng Lộc năm 1987 thăm thành tựu tiến bộ kỹ thuật “trồng ngô lai xen đậu ở vùng Đông Nam Bộ” và  mô hình “nghiên cứu phát triển đậu rồng ở các tỉnh phía Nam”(*)

(*) THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI. Tấm ảnh quý không nỡ quên. (Hoàng Kim). Nhân vào thăm ‘nhà ảo’ anh Pham Sy Tan anh bất ngờ vì ảnh này và viết: ” Hoàng Kim lôi đâu ra ảnh này vậy. Đẹp quá! Có phải GS. Van Quyen Mai và Dr. Carangal phải không?” Tôi nói: Đúng rồi, anh Tân ! đoàn có GS. Van Quyen Mai (IAS), Dr. Carangal (IRRI) TS Pham Sy Tan (Viện Phó Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long) cùng Hoàng Kim thăm mô hình trồng xen ngô đậu trong hệ thống cây trồng vùng Đông Nam Bộ. Sau đó mô hình này là tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp ứng dụng trên diện rộng ở Đồng Nai và nhiều tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, được bộ trưởng Nguyễn Ngọc Trìu cùng GS Trần Thế Thông xuống trực tiếp đánh giá và khen ngợi. Những câu chuyện và tấm ảnh lưu lạc giữa đời thường, mấy chục năm sau gặp lại để nhớ …

Hai công trình này do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam giới thiệu, đã được Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp và được phát triển rộng rãi trong sản xuất.

Cụ Trứ Nguyễn Ngọc Trìu là một chính khách lớn, có cuộc đời và sự nghiệp dường như là cụ Nguyễn Công Trứ của thời đại Hồ Chí Minh. Mọi người khi nhắc đến Cụ đều nhớ ngay đến vị Chủ tịch tỉnh Thái Bình sinh ở Tây Giang, Tiền Hải đã làm rạng ngời “quê hương 5 tấn”, nhớ ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp trí tuệ, xông xáo và rất biết lắng nghe, sau này làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách mảng Nông – Lâm – Ngư nghiệp và Đặc phái viên của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đối với vùng Nam Bộ .

Cụ Trìu cũng là Chủ tịch Hội những người làm vườn Việt Nam, nơi tâm nguyện của ông được bạn thơ Thợ Rèn mến tặng’ “Danh vọng hão huyền như mây khói . Làm vườn cây trái để ngàn năm” .

Cụ Trứ Nguyễn Ngọc Trìu là một danh nhân lỗi lạc, một nhân cách lớn như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét: “Trìu làm lãnh đạo nhưng trước hết là một Con Người”.

Xin dâng nén tâm hương tưởng nhớ Người.

CỤ NGUYỄN NGỌC TRÌU MỘT NHÂN CÁCH LỚN

Cuộc đời của cụ Nguyễn Ngọc Trìu thật hợp với bài thơ “thân phận làm người” và “Nợ quê” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Trìu tác giả tập thơ “Ký ức mưa bay” (NXB Hội nhà văn, 2015) mà Trần Văn Hạc giới thiệu ở Văn học quê nhà. Bậc lão thành Nguyễn Ngọc Trìu chắc không phải là nhà thơ Nguyễn Ngọc Trìu mà đời có một Nguyễn Ngọc Trìu khác. Sách Khôn ngoan vua Solomong không hẳn là của vua Solomong, “Hiểu đời” của Chu Dung Cơ không hẳn là của Chu Dung Cơ. nhưng văn thơ ấy thật hợp và vận vào với con người ấy.

Một thiên lục bát tài hoa.
Lọc trăm thân phận chắt ra… phận đời. …
(Chắt ra phận người)

Đồng ta lúa vẫn xanh rì
Cái nghèo sao cứ trị vì mãi thôi
Về quê chả thấy ai đòi
Ở lâu thêm nữa… nợ dôi ra nhiều
Phận nghèo khó xót càng sâu
Con về trắng nửa mái đầu chưa nguôi.
Gió đồng an ủi xa xôi
Quê cha, đất mẹ một trời bao dung. …
(Nợ quê)

Bậc lão thành Nguyễn Ngọc Trìu thật hợp với vần thơ ấy. Ông sinh ra và lớn lên ở Tiền Hải Thái Bình, danh phận có được là nhờ thân phận và cuộc đời của chính những con người nơi ấy. Thái Bình là đất ‘quê hương năm tấn’ cũng là nơi xẩy ra sự kiện Thái Bình khơi nguồn cho nhiều vấn đề trong Nông nghiệp Việt Nam. Một vị tư lệnh nông nghiệp đi lên từ cây lúa, từ nghề làm vườn và đón nhận danh hiệu 70 năm tuổi Đảng trước đó ít tuần rồi trở về với đất thanh thản nhẹ nhàng.

Con người ấy thật đáng quý.

NGUYỄN NGỌC TRÌU MỘT NHÂN CÁCH LỚN

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu có nhiều câu chuyện đời thường cảm động. Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Tử Siêm chuyên gia khoa học Đất Việt Nam, Cố vấn trưởng Kỹ thuật Quốc tế, Bộ Ngoại giao & Phát triển Canada, nguyên Cục trưởng Cục Khuyến nông & Khuyến lâm, có nhiều năm công tác ở Viện Nông Hóa Thổ Nhưỡng bày tỏ sự kính trọng đối với Cụ qua lời kể: Tôi vừa ở Nha Tang lễ số 5 Trần Thánh Tông về, đông lắm, đặc biệt là những người làm Nông nghiệp là nông dân Thái Bình. Đời biết ơn ông, Dân rất công bằng. Không phải “quan” nào cũng được nhiều người luyên tiếc thế đâu”. “ Những năm 1980s tôi may mắn được tháp tùng Cụ làm việc ở một số nơi. Nhớ một lần đến nông lâm trường ở Hà Tĩnh, vùng biên giới Việt – Lào, bọn phỉ Lào nã pháo sang cả đêm không ngủ được. Ở miệng hầm, Cụ hỏi: “Rừng ở đây thế nào ?”. Tôi đáp: “Phía Tây các tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình rừng còn khá nhất Miền Bắc ạ”. “Đất thì sao ?”. “Dạ, có loại tốt nhất Thế giới như bazan Phủ Quì, có loại dễ thoái hóa nhất như đất trên sa thạch ở đây. Đất rừng còn khá, đất nông nghiệp thì thoái hóa nghiêm trọng”. Cụ tiếp: “Các cậu làm khoa học về Đất phải phối hợp với bên Lâm nghiệp giữ rừng. Mất rừng là mất đất. Thử hình dung chỗ này mà đất trống đồi trọc thì dân ăn gì, bộ đội nấp vào đâu !”. Lần khác thăm các nông trường Phủ Quì, ở Đông Hiếu là nông trường dẫn đầu do anh hùng Nguyễn Văn Lang làm giám đốc. Chiều, cụ bảo đi dạo. Quả đồi giáp với xã Nghĩa Thuận mênh mông đất đỏ bazan, leo heo ít cây cà phê…. Cụ hỏi: “Cậu thấy sao ?”. “Thưa anh, đan xen thế này thì trâu bò phá hết, phải hào ngăn, rào chắn rồi mới thâm canh phục hồi cà phê, cao su được”, tôi trả lời kiểu phản ứng của một anh kỹ thuật. Cụ vỗ vai: “Rào gì nổi, dân đói, công nhân đói, tự túc lương thực,… phải sắp xếp lại đất đai”. Hôm sau Cụ chỉ thị nông trường phải bàn bạc với HTX cho dân mượn tạm đất. Ý tưởng ấy sau này trở thành chủ trương rà soát lại quản lý đất đai ở nông lâm trường quốc doanh, mới giảm được lãng phí đất đai và hài hòa mối quan hệ giữa doanh nghiệp nhà nước và cư dân địa phương”

CỤ NGUYỄN NGỌC TRÌU TRONG MẮT TÔI

Trong mắt tôi. Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là hình ảnh của một người Chú, người Anh lớn nghề nông hiền lành phúc hậu. Trung tâm Hưng Lộc chúng tôi thời ấy làm được hai công trình có ý nghĩa tốt đối với sản xuất nông nghiệp của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam. Đó là tiến bộ kỹ thuật “trồng ngô lai xen đậu ở vùng Đông Nam Bộ” và mô hình “nghiên cứu phát triển đậu rồng ở các tỉnh phía Nam”. Cụ đã củng Giáo sư Viện trưởng xuống thăm ngay và động viên mà không hề báo trước. Giáo sư Thông nói: “Lịch của Bộ trưởng đi miền Tây nhưng khi nghe Viện báo cáo, Bộ trưởng đã đề nghị lên thăm ngay. Hoàng Kim tranh thủ đưa Bộ trưởng đi thăm đồng cho kịp”.

Sau này, nhiều năm nhìn lại, tôi tâm sự với giáo sư Mai Văn Quyền và phó giáo sư Lê Văn Tố những người có nhiều tâm đắc về Cụ: “Thế hệ của các em thấm thoắt vậy mà đã trãi qua bảy đời Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Em vào đại học, đi bộ đội và trở về học tiếp đại học dưới thời của các cụ Hoàng Anh 1971- 1974, Võ Thúc Đồng 1974-1977, Võ Chí Công 1977-1979. Em bắt đầu vào Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam năm 1980 và liên tục ở Viện 27 năm và trở về giảng dạy và nghiên cứu ở Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh 8 năm cho tới lúc nghỉ hưu. Sự cống hiến cho khoa học nông nghiệp của thế hệ các em là dưới thời của các cụ Nguyễn Ngọc Trìu 1979- 1987, Nguyễn Công Tạn 1987-1997, Lê Huy Ngọ 1997-2004, Cao Đức Phát 2004- nay. Mỗi Bộ trưởng đều lưu lại dấu ấn riêng của mình tại mỗi thời kỳ, nhưng dấu ấn Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Trìu thật ấn tượng. Báo Nông nghiệp Việt Nam nhận xét Cụ là “Người nhạy cảm với cái mới, một nhân cách lớn“. Em thích tập hợp tư liệu cho tác phẩm “Con đường lúa gạo Việt Nam” nói về con người đất đai và lương thực như sách “500 năm nông nghiệp Brazil” để nhìn nhận và đánh giá sâu sắc hơn dấu ấn nông nghiệp Việt trong lịch sử văn hóa. Trong chuỗi tiến hóa đó, rõ nhất là con người thời của mình đang sống”.

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu một nhân cách lớn.

Hoàng Kim

còn tiếp ….

Video yêu thích
KimYouTube 

Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn; Kim on Twitter

Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI.
Hoàng Kim

Đỗ Khắc Thịnh bạn quý đời tôi. Anh đã không chịu nhận nhiệm vụ thay tôi làm giám đồc Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lôc. Anh nói: “Hoàng Kim làm việc đó tốt hơn tôi. Tôi không thể thay thế kiểu đó”. Anh Khacthinh Do là Đảng ủy viên Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, anh đã chịu kỷ luật cảnh cáo toàn đảng bộ do việc “không nhận nhiệm vụ”. Tôi chấp nhận ‘luân chuyển cán bộ” về làm Trưởng ban Quản lý các dự án, làm Ngô Không lên Thiên đình, nên không bị kỷ luật như anh. Tôi dặn vợ con và nói với người thân, thầy bạn quý biết chuyện: “Đỗ Khắc Thịnh bạn quý đời tôi. Bạn trong thời khắc hoạn nạn biết tỏ chính kiến, không màng nguy hiểm thật đáng bạn. Đời tôi thật tự hào có được người bạn sâu sắc, chân thành và quý giá đến vậy !”
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Tôi bị kỷ luật vì cố chấp không chịu nhận nhiệm vụ nên phải luân chuyển cán bộ. Số là những năm làn gió nông nghiệp công nghệ cao được Chính phủ khuyến khích, ủng hộ thực hiện thí điểm ở Việt Nam. Bộ trưởng Lê Huy Ngọ chỉ đạo làm hai nơi, một điểm ở phía bắc tại Hà Nội và một điểm ở phía Nam tại Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc, nơi tôi làm giám đốc Trung tâm, thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam. Sự lựa chọn này căn bản là do hội đủ nhiều tiềm năng mà trước hết là con người và đất đai. Con người thì Viện nhiều giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ đủ kinh nghiệm tiếp nhận việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng; Việc nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp thì Trung tâm Hưng Lộc khá uy tín, là nôi chủ lực đưa giống ngô, sắn , đậu đỗ … ra các tỉnh phía Nam. Đất đai Trung tâm Hưng Lộc thì gần đường quốc lộ 1A, diện tích trên 80 ha, có giấy chủ quyền, đất tốt, rộng đẹp, tương đối bằng phẳng, có thể đầu tư được ngay mà không phải tốn thời gian và tiền bạc để giải phóng mặt bằng. Đây lại là dự án lớn nên Viện chủ trương trực tiếp làm chủ đầu tư quản lý, lập Ban Quản lý dự án riêng mà Viện Trưởng là chủ dự án có Quyết định của Bộ và Trung tâm Hưng Lộc thì Viện cử một phó giám đốc Trung tâm tham gia trong Ban quản lý. Bốn năm triển khai dự án, tôi được cử đi học cao cấp chính trị gần hai năm và chuyên tâm làm công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp. Khi dự án gần kết thúc thì tôi được giao nhiệm vụ  điều về quản lý dự án đồng thời nhận bàn giao đưa vào sử dụng. Tôi chỉ nhận bàn giao đưa vào sử dụng mà kiên quyết không nhận nhiệm vụ tham gia trong ban quản lý dự án vì công việc đã gần xong rồi và bốn năm qua Viện đã giao một phó giám đốc trung tâm chuyên trách trong ban quản lý dự án rồi . Sự thể là như vậy nên tôi phải luân chuyển. Anh Thịnh được điều lên thay thế làm giám đốc Trung tâm.

Tôi lưu bài viết này để quay lại.  Hoàng Kim thật yêu thích những lời khai thị vàng ngọc “HÃY SỐNG TRONG THẾ GIỚI BIẾT ƠN” của Tịnh Không Pháp Sư mà bác Dương Văn Sinh đã tâm đắc chép lại :

Hãy biết ơn những người khiển trách ta
VÌ HỌ GIÚP TA TĂNG TRƯỞNG ĐỊNH TUỆ
Hãy biết ơn những người làm ta vấp ngã
VÌ HỌ KHIẾN NĂNG LỰC CỦA TA MẠNH MẼ HƠN
Hãy biết ơn những người bỏ rơi ta
VÌ HỌ ĐÃ DẠY CHO TA BIẾT TỰ LẬP
Hãy biết ơn những người đánh đập ta
VÌ HỌ ĐÃ TIÊU TRỪ NGHIỆP CHƯỚNG CHO TA
Hãy biết ơn những người lừa gạt ta
VÌ HỌ TĂNG TIẾN KIẾN THỨC CHO TA
Hãy biết ơn những người làm hại ta
VÌ HỌ ĐÃ TÔI LUYỆN TÂM TRÍ CỦA TA
Hãy biết ơn tất cả những người khiến ta
được kiên định thành tựu

Anh Đỗ Khắc Thịnh bạn quý của đời tôi.

Tam da khiem nhuong Dau Quoc Anh
TẤM ĐÁ KHIÊM NHƯỜNG ĐẬU QUỐC ANH.
Hoàng Kim
cám ơn anh Đậu Quốc Anh đã quý trọng thường ghé thăm nhau để cùng đọc và suy ngẫm. Anh đã lặng lẽ góp ích cho dân trí. Em cũng chỉ là thuộc sách thôi (TS) chưa thể là giảng sách (GS). Em thật trân quý tinh thần dạy và học của anh như một tấm đá khiêm nhường. Em xin phép hiệu đính điều này và chép câu chuyện em học được từ anh qua trang của em. Với anh Đậu Quốc Anh, chẳng phải mình em nghĩ vậy mà Nghia Nguyen Dang cũng khẳng định chắc chắn vậy Em đã cẩn thận hỏi đi hỏi lại Nghĩa về anh lúc trận đấu Mexico và Brazil đang hồi gay cấn nhất. Hai nước châu Mỹ này em đều đã đến và ấn tượng rất sâu không chỉ Brazil mà cả Mexico và các nước Mỹ Latinh chúng ta đều rất cần học hỏi và đối thoại giữa các nền văn hóa. Em thầm phục anh chọn bài viết về đạo Bụt 8 di sản thế giới ở Sri Lanka để đọng lại. Bài viết ‘bờ vai lời mẹ dạy’ và bài viết ‘vua chọn quan nên thế nào” em gặp lại “Suy niệm mỗi ngày” của Lev Tonstoy. Ôi ! thời buổi văn minh vật chất lên ngôi, việc thấm thía đạo học, khoảng lặng cuộc sống để biết sống hài hòa cân bằng là rất quý cần học. Em Hoàng Kim xin phép được chép trao đổi này về trang nhà và viết tiếp câu chuyện này.

Ba câu chuyện dưới đây là tích cũ viết lại theo lối văn phóng tác”Suy niệm mỗi ngày” của Lev Tonstoy, cốt giữ lấy tinh thần và cốt truyện của bài văn và phóng tác theo duyên của người kể và tình huống cụ thể của lớp học. Cám ơn anh Đậu Quốc Anh về hồn cốt của ba câu chuyện này. Hoàng Kim xin phép tích cũ viết lại lối phiếm đàm

VUA TUYỂN QUAN CẦN NHƯ THẾ NÀO?

Nước quân chủ nọ cần tuyển một Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao để chống tham nhũng và duy trì kỷ cương phép nước. Viên quan văn đầu triều, Viên quan võ đầu triều được triều thần nhất trí đề cử vào cương vị này. Vua đề nghị chọn thêm, rốt cục, dân tình đề cử thêm một người thứ ba để bầu. Người này có tiếng chính trực nhưng chỉ làm nghề thầy giáo bình thường.

Ngày ứng tuyển, ba ứng viên được đưa vào cung điện. Nhà vua đưa họ tới bên một hồ nước. Trong hồ có mấy quả chanh đang trôi lơ lửng.Nhà vua hỏi ba vị ứng viên ” Các khanh cho biết trong hồ có tổng cộng có mấy quả chanh?”

Viên quan văn đi gần tới hồ nước, đứng bên bờ và bắt đầu đếm. Sau đó người này tự tin trả lời: “Thưa bệ hạ, tổng cộng có 6 quả “.

Viên quan võ nhìn mặt nước thậm chí chẳng tiến gần tới bên hồ mà trực tiếp nối lời viên quan văn: “Thần cũng nhìn thấy 6 quả, thưa bệ hạ!”.

Người thầy giáo kia chưa vội trả lời, đi thẳng tới bên bờ hồ, cởi giày ra và lội xuống làn nước. Sau một hồi, ông cầm tất cả những miếng chanh ấy lên bờ và tâu với nhà vua: “Thưa bệ hạ, tổng cộng chỉ có 3 quả chanh. Vì những quả này đều đã bị cắt gần như làm đôi”.

Nhà vua gật đầu: Khanh mới chính là nhà chấp pháp. Trước khi đưa ra kết luận sau cùng, ta vẫn cần phải chứng minh. Bởi lẽ những gì ta đang nhìn thấy chưa chắc đã là chân tướng thực sự”.Thành ngữ tiếng Anh có câu: “Don’t judge a book by its cover”,(đừng đánh giá một cuốn sách chỉ dựa vào trang bìa). Nhìn sâu vào chất lượng cuộc sống dân chúng mới thấu hiểu giá trị cải cách đích thực. Chúng ta từ trước tới nay tiếc rằng thường dễ dàng đưa lời phán xét về những việc mình chưa tỏ tường hoặc vội nghe theo dư luận mà quên mất rằng phải tận mắt nhìn thấy đôi khi cũng chưa phải là sự thật!

BỜ VAI LỜI MẸ DẶN CON

Thuở tôi còn nhỏ, mẹ tôi có một câu đố: ” Đố con bộ phận nào là quan trọng nhất trên cơ thể?” Tôi thưa với mẹ rằng đôi tai là quan trọng nhất vì âm thanh và lời nói khuyến khích khen chê làm điều chỉnh hành vi con người. Mẹ lắc đầu: “Không phải đâu con. Có rất nhiều người trên thế giới này không nghe được đâu, con yêu ạ. Con tiếp tục suy nghĩ về câu đố đó đi nhé, sau này mẹ sẽ hỏi lại con.”

Lúc tôi trưởng thành, tôi thưa với mẹ đôi mắt là quan trong nhất. Mắt là cửa sồ tâm hồn, đúng sai tốt xấu phải được chính mắt mình nhìn thấy mới bớt sai lầm và đưa ra chính kiến đúng đi. Mẹ cười nhìn tôi âu yếm nói: “Con đã học được nhiều điều rồi đấy, nhưng câu trả lời của con chưa thật đúng, vì vẫn còn nhiều người trên thế gian này chẳng nhìn thấy gì.”

Khi tôi xây dựng gia đình, tôi thưa với mẹ của quý bảo tồn di sản gia đình dòng tộc tiếp nối thế hệ là quan trọng nhất. Mẹ cười thật vui nói với bố : Con mình đã thực sự trưởng thành rồi. Mẹ trả lời tôi: “Con đang tiến bộ rất nhiều nhưng đó vẫn chưa phải là câu trả lời tổng quát.”

Rồi đến ngày người ông yêu quý của tôi qua đời. Mọi người đều khóc vì thương nhớ ông. Một mình tôi vừa chạy bộ vừa khóc trên suốt chặng đường hai mươi cây số từ thành phố về nhà trong đêm mưa rào ngày 25 tháng 4 âm lịch của năm đó. Tôi cố gắng chạy thật nhanh về nhà để mong được gặp ông nội lần cuối. Nhưng khi tôi đến nơi thì đã muộn mất rồi.

Tôi đã thấy bố tôi gục đầu vào vai mẹ tôi và khóc. Lần đầu tiên tôi thấy bố khóc như tôi. Lúc liệm ông nội xong, mẹ đến cạnh tôi thì thầm: “Con đã tìm ra câu trả lời chưa?” Tôi như bị sốc khi thấy mẹ đem chuyện đó ra hỏi tôi lúc này. Tôi chỉ nghĩ đó là một trò chơi giữa hai mẹ con thôi. Nhìn vẻ sững sờ trên khuôn mặt tôi, mẹ liền bảo cho tôi đáp án: “Con trai ạ, phần quan trọng nhất trên cơ thể con chính là quả tim mà cụ thể bên ngoài là bờ vai. Ai cũng cần một bờ vai để nương tựa trong cuộc sống. Mẹ chỉ mong con có nhiều người thân và bạn hữu để có thể nhận được nhiều tình thương, để mỗi khi con khóc, có được những bờ vai thân thiết.”

Hạnh phúc thay là người hiểu rằng phần quan trọng nhất của con người không phải là “phần ích kỷ”, mà là phần biết cảm thông với nỗi đau của người khác.

SRILANKA VỚI 8 DI SẢN THẾ GIỚI

“Sri Lanka là đảo quốc nhỏ bé ở Nam Á, mang hình một giọt nước nằm tách biệt, có chung đường biên giới bờ biển với Ấn độ và Maldives. Đất nước với hơn ba ngàn năm lịch sử, ôm ấp trong mình 8 di sản văn hóa thế giới cùng những đồi chè xanh tươi bạt ngàn đang dần tỏa sáng vẻ đẹp cho mọi người tới thăm. Vào năm 1994, anh Đậu Quốc Anh đã tham gia một cuộc hội thảo của “ Dự án Mạng lưới nông lâm kết hợp vùng châu Á-Thái Bình Dương” tại Sri Lanka. Anh lưu lại chùm ảnh và một lời giới thiệu thật đẹp và ngắn về đất nước tươi đẹp và hội thảo cuộc hội thảo này . 8 di sản thế giới được UNESCO công nhận là ‘kiệt tác của nhân loại” lần lượt là

Thành phố linh thiêng Anuradhapura, là kinh đô đầu tiên của đất nước Tích Lan được xây dựng từ thế kỷ thứ 4 trước công nguyên và có cội bồ đề 2.000 năm tuổi, được chiết ra từ gốc bồ đề nơi Thái tử Tất Đạt Đa đã ngồi thiền trước khi thành đạo. Và cội Bồ đề tại Bồ Đề Đạo Tràng ngày nay chính là 1 nhánh chiết từ đây.

Thành phố cổ Polonnaruwa kinh đô thứ hai của Sri Lanka. Nơi đây còn lại phế tích của bức tường thành bao bọc thành phố cổ, cung điện hoàng gia, tượng vua Parakramabahu khắc trên đá, hồ nước Parakrama Samudra, quyển sách bằng đá Potha với chiều dài 8 mét và chiều ngang 4,25 mét. Đẹp nhất và hoành tráng nhất là Vihara với ba bức tượng Phật tạc trong vách đá trong ba tư thế khác nhau, đứng, ngồi và nằm, riêng bức tượng Đức Phật nằm nghiêng có chiều dài đến 7 mét.

Ngọn núi đá sư tử Sigiriya (Lion Rock), Sri Lanka, một ngọn đá khổng lồ cao gần 200 mét, từng là một thủ đô trong thế kỷ thứ 5. Cung điện hoàng gia được xây dựng trên đỉnh đá và hai mặt được trang trí bằng những bức bích họa đầy màu sắc dưới sự chỉ huy của vua Kasyapa (Ca Diếp). Sau đó, cung điện này được sử dụng như một tu viện Phật giáo.

Thành phố linh thiêng Kandy, nằm trên một cao nguyên với khí hậu mát lạnh quanh năm. Thành phố nằm trong một thung lũng chung quanh có núi bao bọc. Ở trung tâm thành phố là hồ nước xinh xắn, nhà cửa được xây dựng chung quanh hồ và lên cao dần ở các sườn núi chung quanh.

Khu Bảo tồn rừng Sinharaja là một vườn quốc gia, một điểm nóng đa dạng sinh học ở Sri Lanka. Khu bảo tồn này có ý nghĩa quốc tế và đã được đưa vào danh sách các khu dự trữ sinh quyển và di sản thế giới UNESCO. Tên của khu rừng có nghĩa là Vương quốc Sư Tử.

Đền thờ động Dambulla, là ngôi đền nằm trong hang động lớn nhất và được bảo tồn tốt nhất Sri Lanka. Hang động được các nhà sư Phật giáo 22 thế kỷ trước khai phá từ một núi đá thành 5 gian nhà và được sử dụng như một nơi thờ cúng cho đến ngày nay. Điểm hấp dẫn chính được trải ra trong 5 hang động, có chứa các bức tượng và tranh ảnh liên quan đến Đức Phật và cuộc sống của Ngài trong đó nổi bật nhất là những bức tượng Phật mạ vàng cao đến hơn 15m với đủ các tư thế và các bức họa phủ kín vách đá trong một khu hang động rộng đến 1.951 mét vuông.

Thị trấn cổ Galle Galle, đã từng là một thành phố cảng sầm uất rất phát triển trong lịch sử. Văn hóa truyền thống bản địa khi kết hợp với phong cách Châu Âu được những người Hà Lan và Bồ Đào Nha mang đến đã kết hợp một cách hoàn hảo với nhau tạo thành một nét văn hóa pha trộn rất đặc biệt. Nơi này gần giống như Hội An ở Việt Nam. Năm 1988 UNESCO đã công nhận nơi đây trở thành di sản văn hóa thế giới.

Cao nguyên Trung tâm Sri Lanka, là tên gọi một cao nguyên nằm tại trung tâm phía Nam của Sri Lanka. Nơi này được coi là một trong những nơi có phong cảnh thiên nhiên đẹp nhất thế giới. Bên cạnh đó, hệ sinh thái học ở đây cũng phong phú hiếm thấy.

Tôi nhớ một câu thoại cổ nhưng tiếc chỉ nhớ ý chứ không thuộc lời: Núi không cần cao, có tiên phật người lành là linh điạ. Nước không cần sâu,có suối nguồn thắng tích hẵn an nhiên. Ngắm bức ảnh gia đình anh Đậu Quốc Anh xưa ở một căn nhà nhỏ, cuối con ngõ nhỏ thuộc phố Sinh Từ, nay gọi là phố Nguyễn Khuyến, khá gần ga Hàng Cỏ, Hà Nội, tôi bâng khuâng nhớ về NẾP NHÀ VÀ NÉT ĐẸP VĂN HÓA https://hoangkimlong.wordpress.com/…/nep-nha-va-net-dep-va…/

xem tiếp … Thầy bạn trong đời tôi
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Video yêu thích
KimYouTube 

Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn; Kim on Twitter

Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim
chọn chủ đề này để thỉnh thoảng quay lại. Tục ngữ Việt khuyên ‘Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” Danh ngôn cổ dạy: “Sách tốt cũng như bạn hiền không cần nhiều nhưng phải lựa chọn”. Trở về tự thân tìm lại chính mình. Có người si mê thích dạy, học người trầm tĩnh biết nghe; có người im lặng là vàng, học người lời là châu ngọc, có người dạy không biết mỏi, quý người học không biết chán. Bài học minh triết sống thung dung phúc hậu, biết mình biết người, chăm sóc sức khỏe, vui thú thiên nhiên, gia đình hạnh phúc, thầy quý bạn hiền, là bài học lớn, một người thầy lớn. Đọc bài viết đầy đủ tại đây và suy ngẫm ở đây  https://hoangkimlong.wordpress.com/category/minh-triet-song-thung-dung-phuc-hau/

MINH TRIẾT SỐNG THUNG DUNG PHÚC HẬU

Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.

Bài giảng đầu tiên của đức Phật

Tứ Diệu đế – Sự khổ: Nguyên nhân, Kết quả và Giải pháp – là bài giảng đầu tiên của Phật (Thích ca Mầu ni -Siddhartha Gamtama), nhà hiền triết phương đông cổ đại. Người là hoàng tử Ấn Độ, đã có vợ con xinh đẹp nhưng trăn trở trước sự đau khổ, thiếu hoàn thiện và vô thường (Dukkha) của đời người mà Phật đã xuất gia vào năm hai mươi chín tuổi để đi tìm sự giác ngộ. Người đã dấn thân suốt sáu năm trời tự mình đi tìm kiếm những vị hiền triết nổi tiếng khắp mọi nơi trong vùng để học hỏi và thực hành những phương pháp khác nhau nhưng vẫn chưa đạt ngộ.  Cho đến một buổi chiều ngồi dưới gốc bồ đề, thốt nhiên Người giác ngộ chân lý  mầu nhiệm lúc ba mươi lăm tuổi. Sau đó, Người đã  có bài giảng đầu tiên cho năm người bạn tu hành. Mười năm sau, Phật thuyết pháp cho mọi hạng người và đến 80 tuổi thì mất ở Kusinara (Uttar Pradesh ngày nay). Học thuyết Phật giáo hiện có trên 500 triệu người noi theo.

Bài giảng đầu tiên của Phật là thấu hiểu sự khổ (dukkha), nguyên nhân (samudaya), kết quả  (nirodha) và giải pháp (magga). Tôn giáo được đức Phật đề xuất là vụ nổ Big Bang trong nhận thức, san bằng mọi định kiến và  khác hẵn với tất cả các tôn giáo khác trước đó hoặc cùng thời trong lịch sử Ấn Độ cũng như trong lịch sử nhân loại. Phật giáo chủ trương bình đẳng giai cấp, bình đẳng giữa con người có máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn, hết thảy các pháp là vô ngã. Mục đích là vô ngã là sự chấm dứt đau khổ và phiền muộn để đạt sự chứng ngộ bất tử, Niết bàn.

Kinh Phật với triết lý vô ngã: Chân lý là suối nguồn, chứ không phải là con người thần thánh hoặc chân lý tuyệt đối. Vị trí độc đáo của Phật giáo là một học thuyết mang đầy đủ tính cách mạng tư tưởng và cách mạng xã hội. Tiến sĩ triết học Walpola Rahula là giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Ceylan (Pháp) đã tìm tòi văn bản cổ và giới thiệu tài liệu nghiêm túc, đáng tin cậy này (Lời Phật dạy. Lê Diên biên dịch).

Trúc Lâm Yên Tử, Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông (Trần Khâm 1258- 1308) là vua Phật đời Trần (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước vua Trần Anh Tông). Người là tổ sư Trúc Lâm Yên Tử, nhà chiến lược kỳ tài, nhà văn hóa kiệt xuất, nhà thơ lớn và Con Người Hoàn Hảo của dân tộc Việt Nam. Người đã viết: Cư trần lạc đạo, triêt lý nhân sinh rất nổi tiếng “Ở đời vui đạo, mặc tùy duyên/ Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền/ Kho báu trong nhà thôi tìm kiếm/ Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền.”

Trần Nhân Tông với 50 năm cuộc đời đã kịp làm được năm việc lớn không ai sánh kịp trong mọi thời đại của tất cả các dân tộc trên toàn thế giới : 1) Minh quân lỗi lạc, làm vua 15 năm (1278 – 1293) trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến hai lần đánh thắng quân Nguyên Mông là đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới của thời đó; 2) Vua Phật Việt Nam, tổ sư thiền phái Trúc Lâm Yên Tử  và Thái Thượng Hoàng 15 năm (1294-1306). 3) Nhà văn hóa và nhà thơ kiệt xuất với thắng tích Trúc Lâm Yên Tử và kiệt tác Trần Nhân Tông còn mãi với thời gian, hoàn thành sư mệnh của bậc chuyển pháp luân, mang sự sống trường tồn vươt qua cái chêt; 4) Người Thầy của chiến lược vĩ đại  yếu chống mạnh, ít địch nhiều bằng thế đánh tất thắng “vua tôi đồng lòng, toàn dân đồng sức”tạo lập sự nghiệp mở nước và thống nhất non sông Việt, mở đất phương Nam bằng vương đạo, thuận thời, thuận người. 5) Con người  hoàn  hảo, đạo đức trí tuệ, kỳ tài trị loạn, đã hưng thịnh nhà Trần và cứu nguy cho nước Việt tại thời khắc đặc biêt hiểm nghèo, chuyển nguy thành an, biến những điều không thể thành có thể.

Giáo sư  sử  học Trần Văn Giàu nhận định:  “… chưa tìm thấy lịch sử nước nào có một người đặc biệt như Trần Nhân Tông ở Việt Nam. Tại nước Tàu lúc bấy giờ Triều đình nhà Tống rất hùng mạnh nhưng quân Nguyên Mông đã tràn xuống đánh thắng thần tốc, đến nỗi vua quan nhà Tống phải chạy ra biển và nhảy xuống biển tự vẫn. Tại Tây Á, Trung Á và một phần châu Âu cũng thua thảm hại, đến nỗi Giáo hoàng La Mã cũng lên tiếng sợ hãi. Trong lúc ấy Việt Nam so với phương Bắc thì quá nhỏ bé và quá nghèo yếu, thế mà Người dám không cho Nguyên Mông mượn đường xâm lược Chiêm Thành. Lại còn đánh bại ba lần Nguyên Mông xâm lược. Sau khi thắng giặc, Người lại lên núi sống. Người dám nghĩ, dám làm những việc không ai dám nghĩ chứ đừng nói đến làm !”

Phật giáo Khoa học và Việt Nam

Nhà bác học Anhstanh, cha đẻ của Thuyết tương đối, đã nhận định: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học” . “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó” . “Khoa học mà thiếu tôn giáo là khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng” . Cả ba câu này đều được trích từ Những câu nói nổi tiếng của Anhstanh (Collected famous quotes from Albert), và được dẫn lại trong bài Minh triết sống thung dung phúc hậu của Hoàng Kim

Khoa học và thực tiễn giúp ta tìm hiểu những phương pháp thực tế để thể hiện ước mơ, mục đích sống của mình nhằm sống yêu thương, hạnh phúc,vui khỏe và có ích. Đọc rất kỹ lại Ki tô giáoHồi giáo,Do Thái giáo,Phật giáoNho giáoĐạo giáo, … và chiêm nghiệm thực tiễn , tôi thấm thía câu kinh Phật với triết lý vô ngã: Chân lý là suối nguồn chứ không phải là con người thần thánh hay chân lý tuyệt đối. Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông có minh triết: Hãy quay về tự thân chứ không tìm ở đâu khác. Luật Hấp Dẫn, Thuyết Tương đối, Thành tựu Khoa học và Thực tiễn giúp ta khai mở nguồn năng lượng vô tận của chính bản thân con người và thiên nhiên. Đó là ba ngọn núi cao vọi của trí tuệ, là túi khôn của nhân loại. Bí mật Tâm linh (The Meta Secret) giúp ta khám phá sâu sắc các quy luật của vũ trụ liên quan đến Luật Hấp Dẫn đầy quyền năng. Những lời tiên tri của các nhà thông thái ẩn chứa trong Kinh Vệ đà, Lời Phật dạy, Kinh Dịch, Kinh Thánh, Kinh Koran …, cũng như xuyên suốt cuộc đời của những con người vĩ đại trên thế giới đã được nghiên cứu, giải mã dưới ánh sáng khoa học; Bí mật Tâm linh là sự khai mở những nguồn năng lượng vô tận của chính bản thân mỗi con người đối với đồng loại, các loài vật và thiên nhiên. Suối nguồn chân lý trong di sản văn hóa, lịch sử, giáo dục, kinh tế, chính trị, quân sự,  ngoại giao của mỗi dân tộc và nhân loại lưu giữ nhiều điều sâu sắc cần đọc lại và suy ngẫm.Qua đèo chợt gặp mai đầu suối. Gốc mai vàng trước ngõ. Nhớ cánh mai xưa. …

Việt Nam là chốn tâm thức thăm thẳm của đạo Bụt (Phật giáo) trãi suốt hàng nghìn năm. Lịch sử Phật giáo Việt Nam theo sách  Thiền Uyển tập anh xác nhận là đạo Phật được truyền trực tiếp từ Ấn Độ theo đường biển vào Việt Nam, gồm Giao Chỉ ở phía bắc và Chăm pa ở phía nam, khoảng thế kỉ thứ ba đến thế kỉ thứ hai trước Công nguyên, chứ không phải từ Trung Hoa như một số quan niệm trước đây. Phật giáo đồng hành chung thủy, lâu bền với dân tộc Việt, dẫu trãi nhiều biến cố nhưng được dẫn dắt bởi những nhà dẫn đạo sáng suốt và các đấng minh vương, lương tướng chuộng nhân ái của các thời nên biết thể hiện sự tốt đạo, đẹp đời. Việt Nam là nước biết tiếp thu, chắt lọc tri thức tinh hoa của nhân loại, chuộng sự học, đồng thời biết quay về với tự thân tổng kết thực tiễn, chứ không tìm ở đâu khác.

Phật giáo, Khoa học và Việt Nam là ba học hỏi và nhận thức căn bản của tôi.

Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI

Chúc mừng Khoa Nông Học Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh ( Nong Lam University in Ho Chi Minh city) PGS.TS Phạm Thị Minh Tâm. Cám ơn cô PGS. TS Chat Thi Nguyen đã lưu lại những tấm hình thật đẹp và cảm động, xin được chia sẻ. Chúc mừng và cám ơn THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI, niềm tin, nguồn vui, nghị lực và bài học lớn. Năm năm trước (2013) khi nhận huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, hoàn thành nhiệm vụ ‘nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ ‘  bài thơ ‘Hoa Đất’ đã được xúc động viết trong dịp đó để tự hào nói về thầy bạn trong đời tôi.


HOA ĐẤT
Bao năm Trường Viện là nhà
Sắn khoai ngô lúa đều là thịt xương
Một đời người một rừng cây
Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng…

Hoàng Kim thật yêu thích những lời khai thị vàng ngọc “HÃY SỐNG TRONG THẾ GIỚI BIẾT ƠN” của Tịnh Không Pháp Sư mà bác Dương Văn Sinh đã tâm đắc chép lại :

Hãy biết ơn những người khiển trách ta
VÌ HỌ GIÚP TA TĂNG TRƯỞNG ĐỊNH TUỆ
Hãy biết ơn những người làm ta vấp ngã
VÌ HỌ KHIẾN NĂNG LỰC CỦA TA MẠNH MẼ HƠN
Hãy biết ơn những người bỏ rơi ta
VÌ HỌ ĐÃ DẠY CHO TA BIẾT TỰ LẬP
Hãy biết ơn những người đánh đập ta
VÌ HỌ ĐÃ TIÊU TRỪ NGHIỆP CHƯỚNG CHO TA
Hãy biết ơn những người lừa gạt ta
VÌ HỌ TĂNG TIẾN KIẾN THỨC CHO TA
Hãy biết ơn những người làm hại ta
VÌ HỌ ĐÃ TÔI LUYỆN TÂM TRÍ CỦA TA
Hãy biết ơn tất cả những người khiến ta
được kiên định thành tựu

xem tiếp … Thầy bạn trong đời tôi
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Những bài viết của Hoàng Kim cùng chủ đề:

Đêm Yên Tử Sách Nhàn đọc dấu câu có câu không Trần Hưng Đạo và chùa Thắng Nghiêm Phật giáo Khoa học và Việt Nam Thơ Thiền Thượng Sĩ Thơ thiền Thích Nhất Hạnh Đối thoại triết học Đồng dao cho em 

Video yêu thích

BÀI RẤT HAY VỀ TỰ CHĂM SÓC SỨC KHỎE

KimYouTube 

Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn; Kim on Twitter

Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI. Hoàng Kim đọc lại “Tứ Cô Nương bay qua giấc mơ”. …. “Không chỉ Chung Le bay qua giấc mơ mà “Tứ Cô Nương” Lâm Cúc, Chung Le, Đặng Kim Oanh, Hoài Vân Thu Xưa (từ trái sang phải), cùng nhóm bạn hữu “Vì ta cần nhau” đang bay qua giấc mơ của họ. Đó là giấc mơ những người phụ nữ Việt Nam bình thường, tử tế, nhân hậu. Họ đã sống thật tốt, thật thân ái, thật chân tình trong đời thường và luôn vui vẻ “cúi xuống gieo hạt thiện” tùy theo hoàn cảnh của mình. Họ luôn có giấc mơ sống vui, sống khỏe, sống nhân ái, tìm thêm nguồn sống để chia sẻ cho cộng đồng và những người kém may mắn. Cao hơn trang văn là cuộc đời. Đó là những người bạn sống đẹp trong lòng tôi. Tôi chưa vội viết về họ mà chỉ neo lại ít hình ảnh tư liệu để nhớ …” https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

NHỮNG TRANG VĂN CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ
“BAY QUA GIẤC MƠ ”
Thanh Thanh/ VOV Online

(VOV) – Tập truyện ngắn “Bay qua giấc mơ” của Lê Thanh Chung là những trăn trở muôn thuở của đời người đi tìm hạnh phúc. (ảnh Tác giả Lê Thanh Chung và nhà phê bình Văn học Phạm Xuân Nguyên)

Không bao giờ tự nhận mình là nhà văn, không mong mình trở thành người cầm bút, với Lê Thanh Chung, viết đơn giản chỉ là viết. Chị viết cho bạn bè, cho người thân và biến nó thành món quà tặng của cuộc sống. Văn chương cũng giống như con người. Ngòi bút trăn trở đầy suy tưởng, đâu đó lại pha chút nghịch ngợm và ngang tàng giống như Hồ Xuân Hương đã khiến cái tên Thanh Chung nổi tiếng trong cộng đồng mạng.

Ngay từ khi tập truyện ngắn “Bay qua những giấc mơ” còn chỉ là những bài viết ngắn trên blog “Gửi hương cho gió”, đã có cả nghìn blogger yêu thích. Thanh Chung trước giờ chưa bao giờ có ý định xuất bản sách hay bán sách của riêng mình nhưng với “Bay qua những giấc mơ”, chị lại có một tham vọng.

Thanh Chung dí dỏm: “Được sự động viên, cổ vũ từ bạn bè, độc giả trên các mạng xã hội… tôi lại một lần nữa ‘liều lĩnh tấn công’ vào văn học”. Bỏ toàn bộ tiền túi cùng một số nhà hảo tâm để in cuốn sách, Thanh Chung muốn sử dụng cuốn sách để gây quỹ hướng về những em nhỏ miền núi có hoàn cảnh khó khăn.

Cùng với nhóm “Vì ta cần nhau”, Thanh Chung sẽ đi những chuyến thiện nguyện, mang áo ấm, sách vở đến với thầy trò vùng cao. Giá sách chỉ khiêm tốn với 60.000/cuốn nhưng Thanh Chung vẫn rất mãn nguyện. Chị chia sẻ: “Sách chỉ in có 2000 quyển nhưng đã bán được gần hết. Mọi người vừa mua sách vừa ủng hộ. Đó đều là tấm lòng giúp đỡ các em nhỏ vùng xa còn nhiều khó khăn”.

Chắp cánh những ước mơ

Con người luôn cần phải mơ ước. Ước mơ là động lực cho sự tồn tại. Những ước mơ nhỏ nhoi, những ước mơ táo bạo cùng với những con người dám bay lên để biến nó thành điều cao cả hơn.

Tập truyện ngắn “Bay cùng giấc mơ” dày 200 trang với 36 câu chuyện, chẳng dài cũng chẳng ngắn nhưng chứa đựng biết bao câu hỏi và trăn trở về hạnh phúc. Những trĩu nặng trong tâm tư của một người phụ nữ có tài, giỏi giang trong công việc, tử tế và vị tha trong khát vọng yêu và được yêu cứ như thế trải dài trên suốt những trang giấy mỏng manh.

Những câu chuyện của Thanh Chung luôn xoay quanh những mối tình dang dở, ngang trái. Đó là những mối tình buồn nhưng rất đẹp, bởi nổi bật lên trên là sự tử tế, lòng bao dung, không thù hận của các nhân vật với những kẻ làm mình đau đớn, lấy đi hạnh phúc của mình. Trái tim sứt sẹo của những người phụ nữ như được ve vuốt bởi bàn tay dịu mềm, làm tan đi những đớn đau. Có lẽ chính vì sự vượt lên những giá trị bình thường, trên quan điểm về phận nữ nhi đã khiến cho những tác phẩm của Thanh Chung có được sự truyền cảm sâu sắc.

Cảm nhận về văn của Thanh Chung, có lẽ chỉ những người phụ nữ mới có thể thấu hiểu được hoàn toàn. Thanh Chung đứng giữa đám đông để tìm ra những điểm nổi bật, nhưng chị dùng con tim để cảm nhận đám đông đó. Thế nên, những tác phẩm của chị sâu sắc mà lại gần gũi, thân thuộc.

Đó là những câu chuyện tưởng chừng như chúng ta đã từng gặp ra, xảy ra ở nơi ngõ phố nhà mình, nơi khu nhà chung cư. Cách kể chuyện thật hiền nhưng lại rất có hậu khiến  người đọc nhận ra được sự ngọt ngào mang tính nhân văn như Lạt mềm, Chanel 5, Lá nghiêng, Vườn Tượng, Tình Thư… Những câu chuyện đi kèm chi tiết mà kết quả của nó đòi hỏi sự đồng cảm của người đọc. Phải trăn trở, phải trải đời mới có thể bâng khuâng, nhắm mắt lại mà hỏi rằng: “Hạnh phúc, ngươi ở đâu?”

Hạnh phúc đến với những nhân vật của Thành Chung thật xa vời. Mãi nhìn theo bóng hình hư ảo để rồi như đuổi bắt cánh diều trên không trung. Hạnh phúc ở đâu mà để người ta phải mãi kiếm tìm? Có lẽ nào, ở trong những giấc mơ, ta mới nắm bắt được nó. Và rồi, ta sẽ bay lên, bay đến tận chân trời; ta sẽ được chắp cánh để với tới thứ hạnh phúc đầy hư ảo ấy.

Ước mơ hạnh phúc chẳng bao giờ giản đơn

Đọc truyện ngắn của Thanh Chung cũng giống như nhấm nháp một món ăn mang hương vị thôn dã. Đó là bữa cơm quê với rau lang luộc chấm nước tương cà, đó là miếng khoai luộc tần tảo cả một mùa kiếm cơm. Đó là bầu trời mây trắng trong vắt nơi người qua đường nghỉ chân. Đó là thành phố hoa lệ xứ người nhưng ta vẫn đau đáu nhớ về bữa cơm rau…

Truyện của Thanh Chung, có lẽ chẳng hợp với tuổi trẻ mơ mộng đầy sức sống. Đó là thế giới của những người từng trải và luôn ngẫm nghĩ về những chuyện đã trải qua. Những tình yêu chỉ còn trong hồi ức, nó cứ gặm nhấm ta từng tháng, từng ngày; để đến khi nhận ra mới giật mình hoảng hốt, ta chẳng thể quay ngược lại thời gian.

Những câu “Giá như” cứ lặp lại, như nỗi đau quặn lên từng cơn. Người ta nhìn ra những khía cạnh khác nhau, những con người khác nhau mà sao vẫn thấy thật gần gũi và dễ hiểu.

Nhà văn Kao Sơn nhận xét ở những trang đầu tập truyện ngắn rằng: “Muốn tránh né nỗi sợ thì cách tốt nhất là đối đầu với nó. Và Thanh Chung – người đàn bà ấy đang làm vậy. Chị khơi mào nỗi đau của mình ra, mổ xẻ nó, dùng dao cứa vào nó nhiều nhát rồi đem ra phơi dưới ánh sáng mặt trời. Nỗi đau khi đạt đến cực điểm hình như sẽ chẳng còn đau nữa”.

Thanh Chung tâm sự: “Tôi không phải là nhà văn nên thật khó để có thể đem đến cho bạn những áng văn lộng lẫy hay những câu chuyện có cao trào thắt mở. Nghề nghiệp cho tôi đi nhiều nơi, gặp gỡ những con người và những nền văn hóa khác nhau; chứng kiến những con người mà ranh giới giữa rủi – may, tốt – xấu, hạnh phúc – khổ đau mỏng tang như sương khói. Tôi chỉ viết như một nhu cầu tự thân. Viết để tin rằng, đâu đó dù còn nhiều vô cảm, tội ác nhưng lòng tốt của con người vẫn lấp lánh pha lê”.Nỗi đau giữ lại thì càng đau, nhưng sẻ chia ra thì sẽ vợi đi bớt. Thanh Chung vẫn đang mỉm cười với cuộc sống và tin tưởng vào lòng nhân ái con người như thế. Mỗi chuyến thiện nguyện, mỗi một manh áo lại mang cho người không tự nhận là nhà văn này thêm sự vững tin vào một ngày mai tươi sáng. “Bay cùng giấc mơ” là tác phẩm mà Thanh Chung viết để “cúi xuống một lần gieo hạt thiện tương lai”./.


THANH CHUNG BAY QUA GIẤC MƠ

Phan Chí Thắng

Mấy năm rồi, tôi luôn thích thú chờ đợi những bài viết mà sau này Thanh Chung tập hợp để in trong “Bay qua giấc mơ” khi chúng còn là những entries của blog “Gửi hương cho gió” trên vnweblogs.com.

Đôi khi trên một vài câu chuyện chị chua thêm dòng chữ “Coi như truyện ngắn” – như ngầm nhắc chị không phải nhà văn, xin đừng ai bắt bẻ. Chi tiết nhỏ này nói lên tính nghịch ngợm pha đôi chút ngang tàng của một “Hồ Xuân Hương – Thanh Chung”.

Trải nghiệm và suy ngẫm qua giọng điệu dí dỏm, hoạt kê ở những chi tiết buồn đau nhất, Thanh Chung còn cho chúng ta thấy chị có cái nhìn sắc sảo của người vượt qua nhiều nỗi đau đủ cho dăm bảy đời người. Lối viết khúc chiết, câu từ chặt chẽ của người giỏi nhiều ngoại ngữ, truyện của chị ngắn, không rườm rà phù phiếm, mang đậm phong cách của văn chuơng mạng – văn chương thời a còng: đủ và nói ít hiểu nhiều.

Chính lối viết hấp dẫn, nhiều cảm xúc khiến người đọc đến với chị. Những câu chuyện rủ rỉ thì thầm giống như nhật ký của chị đã giữ bạn đọc ở lại, bắt họ cùng chị trăn trở với câu hỏi muôn thủa của đời người: “Hạnh phúc, ngươi ở đâu?”

Cầm trong tay cuốn “Bay qua giấc mơ”, cuốn sách nhỏ và nhẹ, nhưng đọc xong mới thấy nó không hề nhẹ: nặng trĩu tâm tư của một người phụ nữ có tài, giỏi giang trong công việc, tử tế và vị tha trong khát vọng yêu và được yêu …

Tất cả đã lý giải vì sao tác giả lại đặt tên tập sách của mình là Bay qua giấc mơ.

Con người luôn chắp cánh ước mơ. Uớc mơ là động lực cho sự tồn tại. Tội nghiệp thay những kẻ không có ước mơ. Thán phục thay những người ước mơ táo bạo. Và kính trọng vô cùng những ai đã buộc phải và bay vượt qua giấc mơ cá nhân của mình để đến với giấc mơ cao cả hơn.

Những câu chuyện của Thanh Chung luôn xoay quanh những mối tình giang dở, ngang trái. Đó là những mối tình buồn nhưng rất đẹp, bởi nổi bật lên trên tất cả là sự tử tế, lòng bao dung, không thù hận của các nhân vật ngay với những kẻ làm cho mình đau đớn, lấy mất đi hạnh phúc của riêng mình.

Tôi cho rằng chính việc vượt lên trên sự tầm thường, trên cái “Thường tình nữ nhi” ấy đã làm nên giá trị của tập sách. Lòng vị tha của một người phụ nữ năng động, đầy cá tính đã rất thuyết phục và lôi cuốn người đọc.

Nhà văn phải là người đứng trong đám đông, nhưng lại có cái nhìn sâu sắc và nhạy bén vượt lên trên thói thường của đám đông. Khi đó con tim nhà văn đập cùng một nhịp với đám đông, khối óc nhà văn nghĩ và viết ra những điều rất chung, rất điển hình của đám đông. Chị không nhận mình là nhà văn, nhưng theo tiêu chuẩn đó, tôi coi Thanh Chung rất gần một nhà văn.

Thanh Chung bay qua giấc mơ của cá nhân mình. Chị bay qua không giống như những lần chị bay qua đại dương, bay qua núi cao để đến nơi khác. Chị bay qua nhưng không bỏ lại giấc mơ ở phía sau mà để đến với giấc mơ mới. Đó là giấc mơ đến với những số phận phận bất hạnh, những người bằng cách này hay cách khác, đang bị Thượng đế bắt phải chịu cảnh trái ngang như đã từng làm với chị. Lượng sức mình, với tình yêu học trò của người đã làm nghề giáo, chị bay đến với trẻ em đói nghèo ở những địa điểm nghèo đói trong nước. Chị lập blog Vì ta cần nhau và nhóm Vì ta cần nhau để thu hút bạn bè cùng mình tìm mọi cách giúp học sinh vùng sâu vùng xa trong tâm thế chúng ta cần nhau chứ không phải tư cách của kẻ làm ơn làm phúc.

Xin chúc mừng Thanh Chung đã vượt qua giấc mơ nhỏ để đến với giấc mơ lớn.

Chúc mừng Thanh Chung đã có cuốn sách in riêng đầu tay.

Tôi xin tặng Thanh Chung mấy câu văn vần:

Em ngạo nghễ cười lên nỗi đau
Rồi mạnh mẽ bay qua số phận
Trong bất hạnh tìm ra may mắn
Được yêu thương các trẻ em nghèo
Xin hy vọng cuốn sách tiếp theo
Em sẽ đặt tên là “Hạnh phúc”!

Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI

Hoàng Kim

trao đổi với em Mai Trúc Nguyễn Thị và những bạn trẻ: Chúc em và các bạn cố gắng từng bước và tự tin an nhiên đi tới. Thầy bạn trong đời tôi là bài học lớn,  suối nguồn hạnh phúc. Cuộc đời thật may mắn khi ta gặp được thầy bạn tốt, khơi dậy niềm tin và nghị lực trong chính ta sáng suốt phúc hậu tận tâm yêu thương trân trọng con người.


Dạy và học là một quá trình liên tục. Chất lượng đào tạo là trên hết, quan hệ thầy dạy và người học, môi trường giáo dục, quy chế quản lý và chất lượng hội đồng thẩm định.


Người học luôn là khâu trung tâm của dạy và học. Gốc của sự học là học làm người. Chúc mừng em và các bạn đã thật cố gắng vượt qua chính mình tự tin vươn tới.

Có một ngày như thế. Hoa của đất tỏa hương.

Tháng Bảy mưa ngâu, giấc mơ hạnh phúc.

Con đường em đi nỗ lực không ngừng. (*)


Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời


Giữ mãi chữ TÂM chúc em cố gắng

Trí Túc Vinh Cường thấm cảnh hàn vi

Toithayhoavangtrencoxanh

Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh
Tìm lại chính mình giấc mơ hạnh phúc.

Mời em và bạn viết tiếp
Thầy bạn trong đời tôi

(xem tiếp…)

Notes:
(*) HUẾ VÀ MIỀN TRUNG LÀ ĐẤT HỌC

Hoàng Kim

trao đổi với một số thầy bạn Đại học Huế, Đại học Thái Nguyên và Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh khi thăm vợ chồng thầy Trần Văn Minh giáo sư tiến sĩ, nhà giáo nhân dân, cựu hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm Huế, tôi thật tâm đắc điều này: Huế và miền Trung là đất học.

Con người là nhân tố quyết định trong sáu yếu tố (6M) thành công bao gồm: Con người (Man Power), Thị trường (Market), Giống mới, Công nghệ mới (Materials), Quản lý và Chính sách (Management), Phương pháp tổ chức thực hiện (Methods), Tiền (Money). Bài học sắn thành công đã đúc kết được là 6M, 10T (Mười kinh nghiệm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật Thử nghiệm Trình diễn Tập huấn Trao đổi Thăm viếng Tham quan hội nghị đầu bờ Thông tin tuyên truyền Thi đua Tổng kết khen thưởng Thành lập mạng lưới nông dân giỏi) và 1F (Mô hình Nông dân tham gia nghiên cứu và Quy trình canh tác sắn thích hợp bền vững).  Đội ngũ nghiên cứu phát triển sắn đã góp phần hiệu quả trong thành công Cách mạng sắn ở Việt Nam. Tại Hội thảo Cây Có Củ Thế Giới được tổ chức tại Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc từ ngày 18 đến ngày 22 tháng 1 năm 2016. Việt Nam đã được vinh danh là điểm sáng toàn cầu đưa năng suất sắn từ 8,5 tấn/ ha năm 2000 lên gấp đôi trên toàn quốc và đưa sản lượng sắn lên gấp năm lần, với nhiều nông hộ điển hình đã đạt năng suất sắn củ tươi trên 40 tấn/ ha.

Huế và miền Trung là đất học, là nôi đào tạo nguồn lực khoa học tốt. Đại học Huế trong 40 năm qua đã đào tạo được biết bao nguồn lực ưu tú đủ mọi lĩnh vực cho sự trường tồn và phát triển bền vững của đất nước. Từ Cố đô Huế, chúng ta thật thấm thía lời của chúa Nguyễn Hoàng dặn lại chúa Nguyễn Phúc Nguyên về thương yêu dân và huấn luyện nguồn lực: “Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang Hoành Sơn và sông Gianh Linh Giang hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia Thạch Bi sơn vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Vậy con phải biết thương yêu dân, luyện tập binh sĩ để xây dựng cơ nghiệp muôn đời.”.

Video yêu thích

Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về đầu trang
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter 

Thầy bạn trong đời tôi (5)

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI.
Hoàng Kim chia sẻ với quý thầy bạn và các em sinh viên bài viết cảm động ‘Con đường dẫn tôi đến làm Thầy’ của PGS.TS Phan Thanh Kiếm. (ảnh trên thầy Kiếm đứng giữa hàng thứ hai)

Thầy Kiếm là một người thầy tận tâm, chuyên dạy Di truyền Thực vật, Chọn giống Cây trồng và Công nghệ Hạt giống ở Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, đã hướng dẫn thành công nhiều sinh viên và học viên sau đại học, biên soạn 5 sách giáo trình và chuyên khảo cẩm nang nghề nông được nhiều người đọc. Thầy Kiếm thật sâu sắc trong tổng kết thực tiễn với lời văn khoa học giản dị, mạch lạc và chính xác.

Tôi nói với anh Hinh Lâm Quang ” Mình trích dẫn trong bài viết Nguyễn Khải ngọc cho đời: “Trên cuộc đời không có bước đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải vượt qua được những ranh giới ấy”.“Tôi viết vậy thì tôi tồn tại! Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn“. Anh Phan Kiếm có năng khiếu trao lại những di sản tử tế ấy.

CON ĐƯỜNG DẪN TÔI ĐẾN LÀM THẦY

“Trên con đường ấy, tôi đã nhận được sự giúp đỡ sẻ chia của nhiều người”

Hồi còn học Đại học, có thầy lãnh đạo Khoa có nhã ý muốn giữ tôi lại trường để làm cán bộ giảng dạy. Tôi cảm ơn thầy và từ chối với lý do “chất giọng miền Trung mà lại quá đặc biệt” của tôi sẽ không thể giúp tôi làm tốt vai trò ấy. Sau khi tốt nghiệp (1975), tôi về công tác tại Viện Nghiên cứu cây công nghiệp, cây ăn quả và cây làm thuốc thuộc Bộ Nông nghiệp đóng tại Phú Thọ và được phân công về Bộ môn nghiên cứu mía. Mấy tháng sau tôi được điều động vào làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam Trung bộ đóng tại Ninh Thuận (nay là Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố).

Sau vài năm công tác, Trung tâm có mở một Trường bổ túc văn hóa ban đêm để dạy cho cán bộ công nhân viên và bà con lân cận. Tôi được phân công chủ nhiệm lớp 12, dạy môn toán cho các lớp 11, 12 và nhận phụ đạo môn toán cho vài ba người đã tốt nghiệp cấp 3, có nguyện vọng đi dự thi Đại học. Tuy giảng dạy không lương nhưng tôi cảm thấy vui vì học viên thường xuyên đến lớp đầy đủ, không khí học tập nghiêm túc, có sổ điểm danh, có bài kiểm tra 15 – 20 phút và thi hết môn học đàng hoàng. Tôi còn nhớ, có một buổi, Giám đốc Trung tâm đột nhiên đến “dự giờ”. Gọi là dự giờ chứ thực ra giám đốc đi kiểm tra tình hình học tập và trước khi về phòng làm việc ông ghé vào đứng nghe tôi giảng. Nghe một lúc lâu, ông nói: “giảng thế mà thi không đậu thì tại học trò dốt thôi”. Nói rồi ông lặng lẽ bước ra. Chỉ một câu nói ấy, nó không chỉ thúc giục học viên phải tích cực học tập mà còn động viên tôi rất nhiều. Và, theo thời khóa biểu, với chiếc xe đạp cọc cạch tôi vẫn lên lớp đều đặn. Tôi đã trở thành “thầy nghiệp dư” từ hồi đó.

Trải qua những năm tháng học tập và công tác, tôi đã học được nhiều điều. Chẳng hạn, đi thi nghiên cứu sinh đương nhiên là phải học kiến thức để thi cho đậu. Vì nếu không làm được điều đó thì ngoài việc tốn kém tiền bạc bản thân, hổ mặt với bạn bè thì vấn đề tiến thân lại lâm vào khốn khó. Vì những lẽ đó mà buộc phải học. Nhưng đằng sau cái học kiến thức ấy, có một cái học khác mà tôi “ngấm ngầm”để ý để học ở các thầy, đó là học cách truyền đạt. Tôi rất ấn tượng với phương pháp dạy toán của thầy Nguyễn Đình Hiền, cách dạy môn sinh lý thực vật của thầy Nguyễn Quang Thạch, Đại học nông nghiệp I, Hà Nội. Sau đó, tôi đã bắt chước thầy Hiền để “truyền đạt” môn xác suất thống kê cho một vài bạn chuẩn bị đi thi nghiên cứu sinh và thường tổ chức các buổi “dạy” toán thống kê và phương pháp thí nghiệm cho cán bộ nghiên cứu của Trung tâm. Tuy nhiên cho mãi tới bây giờ bài học về phương pháp giảng dạy ấy tôi vẫn còn học và sẽ phải còn học mãi.

Trong thời gian nghiên cứu sinh ở Liên Xô, tôi đã được thầy hướng dẫn cho đến dự giờ giảng của thầy, sau đó phải tập thuyết trình cho thầy xem. Rồi thầy giao cho tôi phụ trách công việc nghiên cứu và đóng góp ý kiến cho báo cáo đề tài của hai nghiên cứu sinh. Những công việc mà thầy tôi đã tập cho tôi là những bài học lớn giúp tôi rất nhiều sau này, đặc biệt là tình thương của thầy đối với học trò.

Trong thời gian làm công tác quản lý doanh nghiệp tại Công ty bông Việt Nam, nhờ sự tài trợ của FAO, công ty đã tổ chức được mấy khóa dạy về quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) cho bông theo phương pháp mới: phương pháp học kết hợp với hành, phương pháp suy luận, phương pháp hoạt động theo nhóm. Mỗi khóa học kéo dài trong suốt vụ bông. Với trách nhiệm là người quản lý, rất may mắn, tôi đã có dịp để học tập.

Đầu những năm 2000, nhiều người khuyên tôi nên tham gia “thỉnh giảng” ở một số trường. Khi đó chưa “thoáng” như bây giờ, một mặt do cấp trên không cho phép, vả lại tôi rất sợ mang tiếng “chân trong, chân ngoài” nên mặc dù rất muốn thử sức nhưng không thể thực hiện được. Thế rồi, khi Nhà nước có chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp, các đơn vị thành viên của công ty bông Việt Nam lần lượt ra “ăn riêng”, tôi mới nảy ra ý định muốn chuyển hẳn về trường nào đó để dạy học. Tôi được giáo sư Nguyễn Thơ “đặt vấn đề” với thầy hiệu trưởng Bùi Cách Tuyến để “xin việc”. Vì đã luống tuổi, vào tuổi 53, tôi rất ngại sẽ làm khó cho thầy Tuyến, nhưng tôi đã may mắn: nguyện vọng của tôi đã được chấp nhận khá nhanh chóng.

Tôi còn nhớ như in cái “ngày nói dối”, ngày 1 tháng 4 năm 2005, ngày mà tôi đến trường với công việc mới. Tất cả đều còn xa lạ đối với tôi. Tôi thây hình ảnh các “cháu” sinh viên ngồi học rải rác ở bậc cầu thang lên xuống để lại cho tôi ấn tượng mạnh nhất. Sau này tôi mới biết các em đang ôn lại bài trước giờ thi. Tôi hết sức xúc động không phải vì tôi nhớ lại hình ảnh hơn 30 năm trước của mình. Hồi đó là thời chiến, nhà chúng tôi học là nhà nền đất, vách trát đất, làm sao có được hình ảnh giống như bây giờ để mà nhớ. Tôi xúc động vì trên những khuôn mặt chăm chú ấy chứa đầy nghị lực và cả những âu lo. Tôi thầm hỏi: trong số các em ngồi ở đây có bao nhiêu em gia đình có đủ điều kiện chăm lo sức khỏe để các em có sức mà học. Chắc chắn là không nhiều. Đa số các em, bố mẹ còn rất vất vã, số tiền bố mẹ cho, các em phải chi cho cho nhiều việc nên ăn uống chắc chắn là còn kham khổ, lấy sức đâu để học. Nghĩ thế, rồi tôi nhìn các em, có gì đó trào dâng trong tôi.

Ngày mới về trường, tôi biết có nhiều người để ý. Có một số người đến hỏi thăm, giúp đỡ, nhưng tôi nghĩ, chắc là có nhiều người đặt câu hỏi: “Ông ấy già thế, từ doanh nghiệp về, chẳng biết trình độ thế nào, có dạy được không?. Nghĩ thế nên tôi càng phải cố gắng. Tôi được thầy Trưởng khoa Lê Quang Hưng tin tưởng, động viên và giúp đỡ rất nhiều. Thầy đã phân công cho tôi dạy môn Chọn giống đúng theo chuyên ngành của tôi và phụ trách bộ môn Di truyền – Giống. Cuối năm đó (2005) tôi có quyết định chính thức bổ nhiệm Trưởng bộ môn của Hiệu trưởng. Lúc tôi về, năm học 2004-2005 chuẩn bị kết thúc, 4 tháng nữa (giữa tháng 8) là bắt đầu học kỳ I năm học mới 2005-2006 nên tôi phải chuẩn bị ngay bài giảng và phải trình giảng trước khoa trước khi lên lớp cho sinh viên. Thực sự tôi không lo về vốn kiến thức, chỉ lo “diễn xuất” thế nào cho ra tư thế người thầy, cách trình bày thế nào cho sinh viên dễ hiểu.

Thế rồi sau một thời gian ngắn tôi đã soạn xong bài giảng và bắt tay vào viết lại giáo trình. Thầy trưởng khoa cho biết tôi sẽ trình giảng vào chiều ngày 29/8 tại phòng làm việc của Bộ môn, có sự tham dự của Chủ tịch công đoàn Khoa, các giảng viên trong khoa. Trước đó mấy ngày, tôi nhờ cô Trần Thị Thiên An, giảng viên Bộ môn bảo vệ thực vật đóng hai vai: vừa làm hội đồng, vừa làm “sinh viên” cho tôi giảng thử. Tôi chọn bài: “Mô hình toán di truyền” vừa mới lại vừa khó đối với sinh viên để trình bày. Nghe xong, cô An “phán”: Tốt đấy. Tôi mừng nhưng vẫn nghi đó là lời nhận xét “chiếu cố” nên tôi kiểm tra lại sự tiếp nhận kiến thức của cô “sinh viên bất đắc dĩ” này và tôi đã nhận được sự khích lệ khi cô “sinh viên” đó đã nắm được nội dung bài giảng của tôi. Vì chưa an tâm, nhân dịp cô Từ Bích Thủy – Trưởng bộ môn của tôi đã nghĩ hưu đến thăm Khoa, tôi tranh thủ giảng thử cho cô nghe và cũng được cô “duyệt”. Sau buổi trình giảng trước khoa, trong biên bản được ký bởi Trưởng khoa, Chủ tịch công đoàn và Thư ký, hội đồng thống nhất kết luận: “Đạt yêu cầu cao, đủ sức giảng dạy cho Đại học và Cao học”. Tôi biết trong lời nhận xét ấy có phần động viên khích lệ nhưng nó đã giúp tôi tự tin khi bước vào “trận mới”. Đến giờ tôi vẫn còn lưu giữ biên bản ấy như là một lời nhắc nhở: hãy làm cho tốt để không phụ lòng của mọi người.

Đầu tháng 9/2005, tôi đã thực sự đứng trên bục giảng với tư cách người thầy và sau đó tham gia giảng dạy Cao học ở một vài trường. DH03NH (khóa 29) là lớp đầu tiên mà tôi đứng lớp. Em Hảo, người Tây Ninh, sinh năm 1982 làm lớp trưởng, em Liên, người Thái Bình, sinh năm 1982 làm lớp phó, em Ngà, người Bình Thuận, sinh năm 1985 làm bí thư Đoàn. Tôi điểm mặt và nhớ tên hầu hết các em: em Thuận, em Thành, 3 em Như, em Linh, em Truyền, 3 em Thảo, em Hằng, em Hồng, em Yến và nhiều em nữa. Tất cả các em đều tích cực học tâp, nhiều em học khá giỏi và gây ấn tượng rất tốt đối với tôi. Tất cả các em đã tạo dựng niềm tin đầu tiên, tiếp bước cho tôi tiếp tục sự nghiệp của mình. Lớp này tôi được phân công hướng dẫn các em: Nguyễn Thị Liên, Dương Thị Hồng, Trần Thành và Nguyễn Quốc Thịnh làm đề tài tốt nghiệp. Trong số các em tốt nghiệp năm ấy (2007), tôi biết có một số đã hoàn thành chương trình cao học, một số đang học, một số đã chuyển ngành và trong số đó có em đã lấy được bằng cao học ngành khác, vài em đã trở thành đồng nghiệp và dạy chuyên ngành của tôi ở trường khác. Nhiều em còn liên hệ với tôi, trong đó một số em tôi được may mắn tiếp tục hướng dẫn làm đề tài Cao học. Không biết có bao nhiêu em lớp ấy còn nhớ đến những ngày lên lớp của tôi, nhưng tôi, tôi nhớ các em nhiều lắm.

Thế rồi, theo thời gian, có bao nhiêu chuyện vui buồn đã đến rồi đi, nhưng tôi tự xác định cho mình rằng, bất luận trong hoàn cảnh nào, khi đứng trên bục giảng tôi phải làm tốt 3 vai trò: Làm thầy của học trò, làm bạn của học trò và còn phải làm cha chú của học trò nữa. Để làm tốt 3 vai trò ấy tôi tâm niệm phải thực hiện thật tốt 6 chữ: “Tận tụy”(để làm thầy), “cởi mở”(để làm bạn), “động viên” (để làm cha chú). Tôi đã từng chung vui với thành quả của học trò, đã từng chia buồn với học trò khi thành quả “xuất sắc” kia lẽ ra đáng có mà đã không đến do “xui xẻo”. Lúc đó, ít nhiều tôi thấy mình có lỗi. Tôi nghĩ rằng ai cũng có những ưu điểm và cả những khuyết điểm, được khen ngợi và bị chê trách. Với tôi khen chê đều là những bài học. Tôi rất thích câu nói của Tuân Tử: “Người chê ta mà chê phải là thầy ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta”.

Bây giờ, nhìn lại con đường dẫn tôi tới làm thầy, tuy có chậm, những thành quả mà tôi “gặt hái” được còn ít so với nhiều người nhưng tôi trân trọng những thành quả đó. Đi trên con đường ấy, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, động viên và sẻ chia của nhiều người. Nhân ngày 20/11, tôi nhớ đến họ và thầm cảm ơn họ.

Tháng 11/2010
P.T.K

Cảm tưởng

Thầy ơi, vậy là thầy đứng lớp của chúng em là lớp đầu tiên hả thầy? Thầy là một người thầy rất đặc biệt trong tâm trí của em và chắc chắn là của các thế hệ học trò sau này nữa. Có một điều mà em biết chắc đó là sau 4 năm đã ra trường không có bạn nào NH29 có thể quên được thầy. Thầy mãi mãi ở trong lòng chúng em và tất cả các thế hệ học trò đã may mắn được học. Em chúc thầy thành công hơn nữa trong sự nghiệp của mình. Em chào thầy ạ!
Dương Thị Hồng

Bài đã đăng trong Kỹ yếu Khoa Nông học Kỹ niệm 55 năm ngày thành lập Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh.

Anh Phan Thanh Kiếm nói với tôi : “Ai thấy mình vĩ đại hãy đứng trước biển” (Ảnh chụp ở Phan Thiết có nhà tôi. Tư liệu của Hoàng Kim)

Video yêu thích
KimYouTube


Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook Kim on Twitter