Nguyễn Du trăng huyền thoại

NGUYỄN DU VÀ NGUYỄN CÔNG TRỨ
Hoàng Kim
nhớ lại câu chuyện ngày 11 tháng 10 năm 2012, Phan Lan Hoa có bài viết hay “Em xin làm lẽ Nguyễn Công Trứ” Tôi thảng thốt giật mình vì bài luận quá hay, sâu sắc, nên vui đùa lại và cầu thân kết nghĩa: ” Vô nhà đã thấy THƯƠNG, Vì Dặm ân TÌNH, thuyền quyên ứ hự VUI làm thiếp. Ra ngõ rồi thêm NHỚ, Linh Giang ơn NGHĨA, anh hùng khấp khởi SƯỚNG gặp em.” Nhà văn thầy giáo Nguyễn Thế Quang, tác giả của hai cuốn tiểu thuyết “Nguyễn Du” và “Thông reo ngàn Hống” với Ví dặm ân tình sau này đã khuyến khích tôi viết chuyên khảo về “Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ”. Năm năm qua tôi chỉ mới viết được chùm bài “Nguyễn Du 250 năm nhìn lại” mà thư mục “Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ” lại chưa kịp bổ sung, nay xin duyệt lại và hiến tặng bạn đọc.  https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nguyen-du-va-nguyen-cong-tru/

 

Các bậc thầy Van Quyen Mai, Ngoke Suong, To Le Van, Khai Vutrong, Vu Trinh … và những nhà văn, thơ, tư pháp mê Kiều như các anh Bu Lu Khin, Phan Chi, và các bạn Lâm Cúc, Huynh Thi Kim Em … hẵn đồng tình với tôi rằng: Cho đến nay đánh giá Thúy Kiều mà thực chất là đánh giá Nguyễn Du hình như chưa có một phán quyết nào, lời bình nào hay và sâu sắc hơn “Vịnh Thúy Kiều” của Nguyễn Công Trứ. Bài thơ “Vịnh Thúy Kiều” của Nguyễn Công Trứ là lời (công tố, thẩm phán, luật sư?) thách đố với lịch sử “trơ gan cùng tuế nguyệt” ẩn ngữ đời người. Bài thơ này chỉ có thế giải đáp mật ngữ đồng thời với lời thơ Nguyễn Du: “Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”. (Ba trăm năm nữa chốc mòng. Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như?). Nguyễn Công Trứ “Vịnh Thúy Kiều” nhưng thực là nhằm vào Nguyễn Du.

VỊNH THÚY KIỀU

Nguyễn Công Trứ

Từ Mã Giám Sinh cho tới chàng Từ Hải.
Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu.
Bây giời Kiều còn hiếu vào đâu.
Mà bướm chán ong chường cho đến thế.
Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa.
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm.
Bán mình trong bấy nhiêu năm.
Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai”.

Nguyễn Công Trứ (1778-1858) con người ấy, sự nghiệp ấy thật không tầm thường, khẩn điền mở cõi giúp dân, ra tướng võ vào tướng văn, Uy Viễn phong lưu rất mực: “Ngồi buồn mà trách ông xanh/ Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười/ Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo/ Giữa trời vách đá cheo leo/ Ai mà chịu rét thì trèo với thông.” Nguyễn Công Trứ kém Nguyễn Du 13 tuổi và cùng đồng hương Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Ông là vị tướng văn võ song toàn, phong lưu đa tình, gian thần đời loạn năng thần đời trị, có công với triều Nguyễn trong cai trị, dẹp loạn. Ông cùng chủ kiến với Gia Long, Minh Mệnh ra tay trước (tiên phát chế nhân) để chặn bước những người xuất chúng và các thế lực tiềm tàng ngấp nghé ngai vàng, trong đó có Nguyễn Du. Nguyễn Công Trứ luận về Thúy Kiều nhưng thực chất là luận về Nguyễn Du: “Bán mình trong bấy nhiêu năm, Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai.” Nguyễn Công Trứ thân mật hay chống đối Nguyễn Du đó là điều hậu thế cần lý giải cho đúng? Biết đúng Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ thật không dễ.

Nguyễn Du không chịu theo Nguyễn Huệ như Ngô Thì Nhậm cũng không sớm theo Nguyễn Ánh như Đặng Trần Thường mà chỉ chấp nhận ra làm quan triều Gia Long sau mười lăm năm lưu lạc khi thế nước đã phân định rõ ràng. Cuộc đời Nguyễn Du sau mười lăm năm lưu lạc là làm hiền triết giữa đời thường và chốn quan trường. Nguyễn Du ra làm quan Tri huyện Sơn Nam, Cai bạ Quảng Bình, Hàn Lâm Đại học sĩ, Chánh sứ của triều Nguyễn sang sứ nhà Thanh, (tương đương các chức vụ Chủ tịch huyện, Tỉnh trưởng, Bộ trưởng Giáo dục, Bộ trưởng Ngoại giao thời nay). Nguyển Du viết sách Bắc Hành tạp lục kiệt tác sử thi, chính kiến ngoại giao đánh giá bao quát mọi thời của Trung Quốc và kiệt tác Truyện Kiều là bài ca muôn thuở về tình yêu cuộc sống của dân tộc Việt. Nguyễn Du mất mà không để lại lời dặn dò gì.

Thúy Kiều với nguyên mẫu là Hồ Xuân Hương (Hồ Phi Mai) có nhiều kiệt tác thơ dân gian đời thường và thơ Hán Nôm, tiêu biểu nhất là Lưu Hương Ký. Trang thơ Hồ Xuân Hương 154 bài trên Thi Viện có nhiều bài rất hay: “Độ Hoa Phong” là Hạ Long tuyệt bút yêu thiên nhiên, Bài thơ “Miếu Sầm thái thú” cao vọi tầm tư tưởng nhân hậu và khí phách đảm lược của một kỳ tài, thơ tôn vinh phụ nữ và giải phóng con người, “Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu” tri âm tri kỹ nghĩa tình bền vững, “thơ Nôm truyền tụng” thanh tục đời thường, như có như không. “Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” là kiệt tác thơ tình yêu của Hồ Xuân Hương thuộc dạng thơ hát nói.

TỎ Ý

Hồ Xuân Hương
tặng Mai Sơn Phủ (Nguyễn Du)

(Bản dịch của Hoàng Kim)

Hoa rung rinh,
Cây rung rinh,
Giấc mộng cô đơn nhớ hương tình,
Đêm xuân bao cảm khái.

Hươu nơi nao
Nhạn nơi nao
Mình ước trong nhau ban mai nào
Lòng em thương nhớ ai thấu sao!

Sông mênh mông
Nước dạt dào
Lòng hai chúng mình đều ao ước
Nước mắt thầm rơi mặn chát.

Thơ thương thương,
Lòng vương vương,
Ấm lạnh lòng ai thấu tỏ tường,
Bút người tả xiết chăng?

Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Đâu là gác Đằng Vương ?
Mây vương vương
Nước sương sương
Mây nước chung nhau chỉ một đường
Dặm trường cách trở thương càng thương.

Ngày thênh thênh,
Đêm thênh thênh,
Đêm ngày khắc khoải nhớ thương anh,
Người ơi đừng lỡ hẹn sai tình.

Gió bay bay
Mưa bay bay
Mưa gió giục em viết thơ này
Bút xuân gửi đến người thương nhớ

Anh đồng lòng
Em đồng lòng
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm (*)
Thơ cùng ngâm
Rượu và trăng
Thăm thẳm buồn ly biệt
Vầng trăng chia hai nửa
Cung đàn ly khúc oán tri âm (**),
Thôi đành bặt tiếng hồ cầm
Núi cao biển sâu đằng đẳng
Xin chớ tủi buồn mà than cổ kim.

Chàng hẹn gì
Ta hẹn gì
Hai ta đều muộn, nói năng chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Lời và chữ còn đó
Ai là kẻ tình si
Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì
Hãy nên trao gửi mối duyên đi
Lòng son ai nỡ phụ.

Truyện Thúy Kiều của Nguyễn Du “Gương trong chẳng chút bụi trần. Một lời quyết hẵn muôn phần kính thêm. Bấy lâu đáy biển mò kim. Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa? Ai ngờ lại hợp một nhà. Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm! Nghe lời sửa áo cài trâm. Khấu đầu lạy trước cao thâm nghìn trùng. Thân tàn gạn đực khơi trong. Là nhờ quân tử khác lòng người ta. Mấy lời tâm phúc ruột rà. Tương tri dường ấy mới là tương tri!”. Kim Vân Kiều tái hợp. Lưu Hương Ký với Truyện Thúy Kiều là một ẩn ngữ tình yêu cuộc sống.

Hoàng Kim về bến Giang Đình xưa nơi Nguyễn Du viết Kiều và Nguyễn Công Trứ cùng Nguyễn Du đàm đạo. Non xanh còn đó, nước biếc còn đây, rác còn nhiều nhưng nước non vẫn vậy.

Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ văn chương giống và khác nhau thế nào? Trong tác phẩm “Có ba dòng văn chương“. Hoàng Kim thăm nhà thơ Hải Như (thân phụ của anh Hanh Vu ) và trò chuyện với anh Hoàng Đình Quang  đã nhận xét: “Dòng văn chương Xu thời quá phổ biến trong mọi xã hội. Dòng văn chương Ưu thời có hai dạng loại của Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, Khang Hi và Vi Tiểu Bảo. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh nói “Có những tác phẩm văn chương hướng đến những giá trị nhân văn đặc biệt sâu xa như món ăn trong thờ cúng, dẫu một con ruồi nhỡ rơi vào và đã được vứt đi nhưng cảm giác sẽ không bằng thức ăn hoàn toàn tinh khiết ”. Nguyễn Du là biểu tượng của dòng văn chương ưu thời thứ nhất. Nguyễn Công Trứ là biểu tượng của dòng văn chương ưu thời thứ hai. Dòng văn chương xu thời quá phổ biến trong mọi xã hội là dòng văn chương thứ ba.

Tôi yêu Kiều Nguyễn Du.

Hoàng Kim

 


Kiều – Nguyễn Du
Ca trù hát nói Việt Nam

Non xanh xanh

Nước xanh xanh
Sớm tình tình sớm, trưa tình tình trưa
Áy ai tháng đợi năm chờ
Mà người ngày ấy bây giờ là đây…

Hồng Hồng Tuyết Tuyết ca trù hát nói tinh hoa cổ văn chương Việt) NS Quách Thị Hồ

Những bài viết có liên quan

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook   Kim on Twitter

 

Nguyễn Du trăng huyền thoại


NGUYỄN DU VÀ ĐỀN CỔ TRUNG LIỆT

Hoàng Kim

Đền cổ Trung Liệt Hà Nội ở số cũ 124 Thụy Khuê nay không rõ còn ở đó hay đã di dời về đâu? Ngôi đền cổ này có liên quan đến Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương.Tôi đã viết bài khảo cứu Nguyễn Du đêm thiêng đọc lạiNguyễn Du với Hồ Xuân Hương sau chuyện lạ đêm mồng 4 tháng 7 năm 2012. Hôm nay việc chưa thể giải mã bất chợt nối mạch với câu chuyện “âm mưu đào phá mộ tổ của thần đồng thơ Trần Đăng Khoa và cái chết rùng rợn của những kẻ phá mộ” của nhà báo Hoàng Anh Sướng đăng trên Văn Hiến Việt Nam.

Đền Trung Liệt Hà Nội có liên quan tới gia tộc của nhà thơ Trần Đăng Khoa: “Cụ tổ sáu đời là Trần Khuê. Cụ đã cùng anh ruột là Phương Trì Hầu Trần Lương, Sùng Lĩnh Hầu Trần Thai cùng em con chú ruột là Côn Lĩnh Bá Trần Đĩnh, Thủ lệnh trấn Hải Dương và Tổng trấn Kinh Bắc Trần Quang Châu, hộ giá vua Lê Chiêu Thống khi vị vua này bôn ba ở các tỉnh phía Bắc, chưa sang cầu cứu nhà Thanh. Đến năm Tự Đức thứ 14 nhà Nguyễn (1862), các vị trên được thờ ở đền Trung Liệt, Hà Nội, cùng với ba con của Trần Đĩnh là Trần Dần, Trần Hạc và Vũ Trọng Dật (con rể)…

Nguyễn Du quan hệ gì đến đền cổ Trung Liệt ? ngôi đền này nay ở đâu, di dời về đâu? Mời bạn đọc kỹ ba bài viết trên với những điểm nhấn bàn luận thông tin mới.

Tóm tắt Nguyễn Du và đền cổ Trung Liệt.

Thầy Nguyễn Lân Dũng trong bài viết “Một khám phá độc đáo về Truyện Kiều”  ủng hộ quan điểm của  GS. NGND Ngô Quốc Quýnh (Đại học Quốc gia Hà Nội) qua tác phẩm “Thử tìm hiểu tâm sự Nguyễn Du qua Truyện Kiều” cho rằng: Nguyễn Du gửi gắm tâm sự của mình qua Truyện Kiều mà nàng Kiều là Nguyễn Du và Từ Hải chính là Nguyễn Huệ, Kim Trọng chính là Lê Chiêu Thống. Truyện Kiều viết về nàng Kiều nhưng thực chất gửi gắm tâm sự  của kẻ sĩ tinh hoa trong thời thế nhiễu loạn.

Tôi (Hoàng Kim) thoạt tiên đồng tình với quan điểm này nhưng qua ba chất vấn của cụ già Linh Nhạc Phật Ý trong câu chuyện Nguyễn Du đêm thiêng đọc lại chợt thấy đúng là có ba điều không ổn cần nghiên cứu tiếp : Một là Nguyễn Du nếu chính là nàng Kiều, Từ Hải chính là Nguyễn Huệ và Kim Trọng chính là Lê Chiêu Thống  thì tại sao Nguyễn Du lại chống Nguyễn Huệ, và Nguyễn Du chịu ra làm quan cho Nguyễn Ánh mà trước đó  kiên quyết không chịu ra làm quan cho nhà Tây Sơn như anh trai là Nguyễn Nể và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn, thậm chí còn lại chống nhà Tây Sơn để đến nổi bị Thận Quận Công bắt và Nguyễn Du bị quản thúc nhiều tháng ở Nghệ An? Hai là Nguyễn Du là người thế nào mà dám mắng Minh Thành Tổ một vị vua danh tiếng lừng lẫy thời nhà Minh ở Trung Quốc tại bài ‘Kỳ Lân mộ’ và ngầm ý chê Nguyễn Huệ là em tiếm quyền anh, chú giết cháu rể và giành ngôi của cháu con anh ruột, để nhà Tây Sơn đổ vỡ từ bên trong? Ba là  Nguyễn Công Trứ chống đối hay ủng hộ Nguyễn Du khi trong bài “Vịnh Thúy Kiều” Nguyễn Công Trứ đã viết: “Từ Mã Giám Sinh cho đến chàng Từ Hải. Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu. Bấy giờ Kiều còn hiếu vào đâu. Mà bướm chán ong chường cho đến thế. Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa. Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm. Bán mình trong bấy nhiêu năm. Đố đem chữ hiếu mà làm được ai“.

Kết quả sau 5 năm tìm tòi, tôi có ba phát hiện mới: Một là Nguyễn Du không chỉ là nhà thơ lớn và danh nhân văn hóa thế giới mà còn là một danh sĩ tinh hoa, hiền tài lỗi lạc của Việt Nam. Nguyễn Du đã vượt lên vinh nhục bản thân giữa thời nhiễu loạn, vàng lầm trong cát để trao lại ngọc cho đời. Nguồn sử liệu và phân tích chi tiết qua các bài Nguyễn Du đêm thiêng đọc lại; Nguyễn Du 250 năm nhìn lạiNguyễn Du cuộc đời và thời thếHai là Nguyễn Du trong tác phẩm Truyện Kiều có hình tượng các nguyên mẫu Nguyễn Du là Từ Hải và Hồ Xuân Hương là Thúy Kiều. Nguyễn Du thương Hồ Xuân Hương đọa đày tủi nhục không được chung sống với người minh yêu “Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung” phải trãi qua ba đời chồng, cam chịu lẽ mọn, chỉ tỏa sáng bia miệng giai thoại và Lưu Hương Ký. Hồ Xuân Hương thương Nguyễn Du long đong chìm nổi bị người đời và lịch sử thị phi vì “bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn” làm một tôi trung của nhà Lê, cam chịu cảnh mười lăm năm lưu lạc, chỉ hé lộ với Bắc Hành tạp lục và Truyện Kiều chứa một trời tâm sự để trao lại ngọc cho đời. Hồ Xuân Hương khen Nguyễn Du là anh hùng “Tấn Dương được thấy mây rồng có phen” khen Tấn Văn Công bôn ba, khí phách của người quân tử chịu hoạn nạn. Nguyễn Du thương Hồ Xuân Hương “khen cho con mắt tinh đời. Anh hùng đoán giữa trần ai mới già” . Nguyễn Du đã dùng lời Thúy Kiều đánh giá “Từ Hải” và lời của Từ Hải thán phục Thúy Kiều, để thể hiện sự ý hợp tâm đầu của đôi nam nữ “trai anh hùng, gái thuyền quyên” Nguồn sử liệu và phân tích chi tiết qua các bài Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du là bậc anh hùng;  Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán, Nguyễn Du và Hồng Sơn Liệp Hộ. Ba là Nguyễn Du cuộc đời và tác phẩm là tấm gương soi thấu nhiều uẩn khúc lịch sử . Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết SơnNguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng. Nguyễn Du cuộc đời và thời thế; Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc 1781-1796; Nguyễn Du và đền cổ Trung Liệt; Hồ Xuân Hương kiệt tác thơ chữ Hán đang hé lộ những tư liệu mới về bí mật ngoại giao thời Tây Sơn,  Nguyễn Du và thời đại Nguyễn Du.

Hoàng Kim

Còn tiếp …

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Nguyễn Du trăng huyền thoại

nguyendu
NGUYỄN DU 250 NĂM NHÌN LẠI

Hoàng Kim

Nguyễn Du sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766 nhằm ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tại phường Bích Câu ở Thăng Long (Hà Nội), mất ngày 16 tháng 9 năm 1820 (nhằm ngày 10 tháng tám năm Canh Thìn) tại kinh đô Huế, hưởng thọ 55 tuổi. Nguyễn Du tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn Liệp Hộ (người đi săn ở núi Hồng), lại có hiệu Nam Hải Điếu Đồ (kẻ đi câu ở biển Nam). Nguyễn Du là danh nhân văn hóa thế giới, nhà thơ lớn, danh sĩ tinh hoa, hiền tài lỗi lạc, nhà chính trị, ngoại giao, văn hóa, giáo dục kiệt xuất không chỉ của nhà Nguyễn mà còn là kỳ tài muôn thuở của mọi thời đại Việt Nam. Nguyễn Du đã vượt lên vinh nhục bản thân giữa thời nhiễu loạn, vàng lầm trong cát để trao lại ngọc cho đời.

Con người Nguyễn Du, Hồng Sơn Liệp Hộ, ra tướng võ vào tướng văn, chọc trời khuấy nước, Từ Hải khen Kiều khéo biết người. Danh sĩ Tố Như, Nam Hải Điếu Đồ, đêm mặt trăng, ngày mặt trời, nhả ngọc phun châu, Tam Hợp đạo cô tài đoán dịch. Ông lưu lại kiệt tác Truyện Kiều ẩn ngữ giữa đời thường và tuyệt phẩm Bắc Hành sử thi soi chính pháp. Con người đó, tầm vóc đó gần gũi mà cao xa, minh triết và trầm tĩnh, nhân hậu và tiềm ẩn, tâm tình và tài trí đều trọn vẹn tuyệt đỉnh. Văn chương Việt đã có quá nhiều bài viết về Nguyễn Du. Ghi chép này là nén tâm hương thành kính tưởng nhớ Người.

Nguyễn Du, quê hương và dòng họ

Nguyễn Du họ Nguyễn Tiên Điền quê hương Nghệ Tĩnh nhưng sống nhiều nơi “Hồng Lam vô gia, huynh đệ tán”, mẹ họ Trần đất Kinh Bắc, tổ tiên Sơn Nam, khởi nghiệp Thái Nguyên, nhiều năm lưu lạc giang hồ ở châu thổ sông Hồng, vùng núi phía Bắc, Nam Trung Quốc,và Nghệ Tĩnh, nhiều năm làm quan ở Quảng Bình và kinh đô Huế. Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa, tính tình khoan hòa điềm tĩnh, đi nhiều, học rộng, là nhà thơ nổi tiếng thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam.

Cha của Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), sinh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, tên tự Hy Di, hiệu Nghi Hiên, có biệt hiệu là Hồng Ngự cư sĩ, đậu Nhị giáp tiến sĩ , làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng) kiêm Trung thư giám, Tổng tài Quốc sử giám, tước Thượng thư bộ Hộ, Xuân Quận công triều Lê. Mẹ là bà Trần Thị Tần, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1740, mất ngày 27 tháng 8 năm 1778, con gái một người thuộc hạ Nguyễn Nhiễm làm chức Câu kê lo việc kế toán, quản gia cho cụ Nguyễn Nghiễm. Quê mẹ ở làng Hoa Thiều, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du (Đông Ngàn), xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Bà Trần Thị Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, bà kém chồng 32 tuổi, sinh được năm con, bốn trai và một gái. Nguyễn Nghiễm có tám vợ và 21 người con. Vợ chánh thất là bà Đặng Thị Dương, sinh mẫu của Nguyễn Khản; bà hai là Đặng Thị Thuyết, sinh mẫu của Nguyễn Điều, bà là em ruột của bà chánh thất Đặng Thị Dương; bà ba là Trần Thị Tần sinh mẫu của Nguyễn Trụ, Nguyễn Nể, Nguyễn Thị Diên, Nguyễn Du, Nguyễn Ức; bà tư là Nguyễn Thị Xuân, quê ở Bắc Ninh, sinh mẫu của Nguyễn Trứ, Nguyễn Nghi; bà năm là Hồ Thị Ngạn, sinh mẫu của Nguyễn Nhưng; … Đền thờ Nguyễn Nghiễm ở thôn Bảo Kê, xã Tiên Điền. Đền có 3 tấm biển lớn, một khắc 4 chữ “Phúc lý vĩnh tuy” (Phúc ấm lâu dài) do tự tay chúa Trịnh viết. Một tấm khắc 4 chữ: “Dịch tế thư hương” (dòng thư hương đời nối đời) do Đức Bảo sứ thần nhà Thanh đề tặng. Một biển khắc 4 chữ “Quang tiền du hậu” (Rạng rỡ thế hệ trước, phúc ấm ở đời sau) do Tô Kính người Viễn Đông đề tặng. Đền còn có đôi câu đối: Lưỡng triều danh Tể Tướng. Nhất thế đại nho sư (Nho sư cả nước vang danh hiệu. Tể tướng hai triều rạng tiếng tăm). Danh sĩ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, người được Nguyễn Huệ tôn làm thầy, là học trò của Nguyễn Nhiễm, đã viết bài tán Phú Đức nói về thầy học của mình. Nguyễn Nhiễm khi còn sống đặt ruộng cúng và xây sẵn đền thờ ở mặt sông. Sau khi ông mất, triều đình phong “Thượng Đẳng Tôn Thần”, Huân Du Đô Hiến Đại Vương, hàng năm Quốc gia làm tế lễ. Lại giao cho 4 xã chăm sóc hương khói. Ngày sinh, ngày giỗ của ông có cả xã Uy Viễn cùng tế lễ.

Tổ tiên của Nguyễn Du gốc ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc Hà Nội), sau di cư vào Hà Tĩnh, có truyền thống khoa bảng nổi danh ở làng Tiên Điền thời Lê mạt. Trước ông, sáu bảy thế hệ, viễn tổ đã từng đỗ đạt làm quan. Vị tổ họ Nguyễn Tiên Điền là Nam Dương Công, tên thật là Nguyễn Nhiệm, con trai Nguyễn Miễn và là cháu Nguyễn Quyện, gọi Nguyễn Quyện bằng bác ruột. (Nguyễn Miễn là con của Trạng nguyên Nguyễn Thiến, hậu duệ người em của Nguyễn Phi Khanh). Nguyễn Trãi và Nguyễn Du cùng thuộc một dòng họ và chung một ông tổ.

Ông nội của Nguyễn Du là Nguyễn Quỳnh. Ông có 5 vợ và 9 con (6 trai, 3 gái). Trong số 6 người con trai thì có 3 người con đậu đại khoa và làm quan to là Nguyễn Huệ , Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Trọng. Ông Nguyễn Quỳnh là người hay đọc sách, tinh thông lý số, giỏi kinh dịch, … Ông chuyên tâm dạy con cái học hành, có soạn ba bộ sách bàn về Kinh Dịch với những việc chiêm nghiệm được trong đời. Ông có trồng ba cây cổ thụ, một cây Muỗm (Xoài), một cây Bồ Lỗ (Cây Nóng), một cây Rói, để sau này con cái thành đạt về thăm cha có chỗ buộc ngựa. Những cây cổ thụ đó, nay vẫn còn, trừ cây Rói bị bão đổ năm 1976. Nguyễn Quỳnh giỏi y thuật từ khi còn trẻ nghe nói có gặp một người Trung Quốc là Ngô Cảnh Phượng (dòng dõi Ngô Cảnh Loan- một nhà địa lý nổi tiếng đời Tống)am hiểu địa lý, gặp nạn, ông đưa về nuôi. Ngô Cảnh Phượng cảm phục ân đức đã truyền cho bí quyết về phong thủy. Họ Nguyễn Tiên Điền thịnh đức, nếp nhà di huấn nối đời làm thuốc và dạy học, nếu có làm quan biết giữ tiết tháo, đức độ, thanh thận cần.

Vợ chính thất của Nguyễn Du họ Đoàn là con thứ sáu của Đoàn Công, Hoàng giáp Phó Đô ngự sử Quỳnh Châu bá người Quỳnh Côi, Hải An (xưa thuộc Sơn Nam, nay thuộc Thái Bình). Theo gia phả của họ Nguyễn Tiên Điền thì ông bà sinh con trai tên Nguyễn Tứ tự là Hạo Như có văn học, Nguyễn Ngũ giỏi võ, Nguyễn Thuyến giỏi văn nhưng không tham gia chính sự. Năm Quý Dậu (1813), bà theo ông đi sứ phương Bắc, về nước được vài năm bị bệnh mất. Bà sinh được một gái gả cho Tú tài Ngô Cảnh Trân, người ở Trảo Nha, Thạch Hà.

Một trong những người yêu thương nhất của Nguyễn Du là Hồ Phi Mai (Hồ Xuân Hương) bà chúa thơ nôm, quê ở Quỳnh Đôi, có quan hệ mật thiết với họ Hồ nhà Tây Sơn, tác giả của Lưu Hương ký. Hồ Xuân Hương cũng là tác giả của những tác phẩm thơ nổi tiếng: Khóc ông phủ Vĩnh Tường, Khóc Tổng Cóc, Làm lẽ, Tự tình, Mời trầu, Đề đền Sầm Nghi Đống, Đèo Ba Dội, Cái quạt, Chùa Quán Sứ, Hang Thánh Hóa, Sư hổ mang, Sư bị ong châm, Quan thị, Mắng học trò dốt … bài nào cũng thực thông minh, hóm hỉnh, vừa sâu sắc vừa cận nhân tình. Chồng Hồ Xuân Hương là Trần Phúc Hiển bị kết án năm 1816 và bị xử tử năm 1818. Trần Ngọc Quán, thi tướng Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường, Hiệp trấn Sơn Nam Thượng cũng bị giết năm này.

Gia tộc Nguyễn Du có nhiều người giỏi và giữ những vị trí trọng yếu của thời cuộc: cha là Nguyễn Nhiễm làm Tể tướng hai triều Lê; anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản làm Tể tướng, Tham tụng, Thượng thư bộ Lại kiêm trấn thủ Thái Nguyên, Hưng Hóa triều Lê; cha nuôi là quan trấn thủ Thái Nguyên Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến, tướng tâm phúc của Nguyễn Nhiễm; cha vợ là Hoàng giáp Phó Đô ngự sử Quỳnh Châu bá Đoàn Nguyễn Thục; anh cùng mẹ là Nguyễn Nễ đứng đầu ngoại giao của cả ba triều Lê, Tây Sơn, Nguyễn (Nguyễn Nễ từng trãi Cai đội quân Nhất Phấn giữ phủ chúa Trịnh, Hiệp tán quân vụ nhà Lê, Tả Phụng nghi bộ Binh, Hiệp tán quân vụ trấn Quy Nhơn, Chánh sứ, Tả đồng nghị trung thư sảnh trấn Nghệ An nhà Tây Sơn, phụ tá Tổng trấn Bắc thành nhà Nguyễn); anh ruột là Nguyễn Điều làm trấn thủ Sơn Tây của triều Lê; anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn làm Thị Lang bộ Lại nhà Tây Sơn; anh rể là tiến sĩ Vũ Trinh làm Hữu Tham tri bộ Hình, thầy dạy Nguyễn Văn Thuyên, con của Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành.

Nguyễn Du rất được quý trọng của nhiều danh sĩ đương thời. Văn chương của ông đặc biệt lưu truyền sâu rộng trong lòng dân. Ông giao thiệp rộng với nhiều tướng văn võ của triều Lê như Hoàng Ngũ Phúc, Nguyễn Hữu Chỉnh, với danh thần nhà Tây Sơn như La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ, Phan Huy Ích, Ngô Văn Sở, Thận Quận công, với danh thần nhà Nguyễn như Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Phạm Văn Hưng, Nguyễn Công Trứ, Trương Đăng Quế, Nguyễn Văn Giai…

Nguyễn Du mất ở Kinh Đô Huế ngày 10 tháng tám năm Canh Thìn (ngày 16 tháng 9 năm 1820), an táng tại cánh đồng Bào Đá, xã An Ninh, huyện Phong Điền. Năm Giáp Thân (1824), hài cốt của cụ được cải táng đưa về quê nhà ở Đồng Ngang thuộc giáp cũ của bản xã (có bút phê) ở thôn Thuận Mỹ, làng Tiên Điền, Hà Tĩnh. Những năm sau đó dời đến táng cạnh đền thờ Nguyễn Trọng và lại cải táng đến xứ Đồng Cùng, giữa một vùng cát rộng. Tới nay, mộ cụ Nguyễn Du qua nhiều trùng tu, ngày một tôn nghiêm hơn.

Tóm tắt gia thế Nguyễn Du như trên để hiểu câu Kiều: “Triều đình riêng một góc trời/ Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà.” Họ Nguyễn Tiên Điền có thế lực mạnh đến mức nhà Lê, họ Trịnh, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn đều tìm cách liên kết, lôi kéo, mua chuộc, khống chế hoặc ra tay tàn độc để trấn phản.

Nguyễn Du không phải mười năm gió bụi mà thực sự mười lăm năm lưu lạc khớp đúng truyện Kiều và cũng khớp đúng mười lăm năm “bảy nổi ba chìm với nước non” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Nguyễn Du cuộc đời và thời thế

Hoài Thanh trong tác phẩm “Thời đại Nguyễn Du và thân thế Nguyễn Du” dđã bàn luận “Nguyễn Du sinh năm 1765. Kể từ khi Lê Lợi đánh quân Minh dựng nước đến bấy giờ đã có hơn ba trăm năm. Sau ba trăm năm ấy chế độ phong kiến nước ta đã suy vi đến cực độ. Nguy ngoại xâm hầu như không có. Chính quyền phong kiến tập trung mất lý do để tồn tại. Những cuộc biến liên tiếp xảy ra. Mạc đoạt quyền Lê, Lê Mạc phân tranh, Nguyễn cát cứ Thuận Hóa, Trịnh đoạt quyền Lê, Trịnh Nguyễn phân tranh. Vô số cuộc khởi nghĩa nổ ra mà đỉnh cao là phong trào Tây Sơn.” Nguyễn Du là người trong cuộc của thời đại nhiễu nhương đó. Tìm hiểu niên biểu Nguyễn Du cuộc đời và thời thế sẽ giúp soi thấu những uẩn khúc và biến cố lịch sử đã bị che khuất bởi thời gian.

Nguyễn Du 15 năm tuổi thơ (1765 – 1780)

Năm Ất Dậu (1765). Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 Ất Dậu (nhằm ngày 3 tháng 1 năm 1766) lúc Nguyễn Nghiễm 58 tuổi, bà Trần Thị Tần 26 tuổi. Nguyễn Du được gọi là cậu Chiêu Bảy. Năm ấy cũng là năm Vũ Vương mất, Trương Phúc Loan chuyên quyền. Trước đó, từ ông Nguyễn Hoàng trở đi, họ Nguyễn làm chúa trong Nam, phía bắc chống nhau với họ Trịnh, phía nam đánh lấy đất Chiêm Thành và đất Chân Lạp, truyền đến đời Vũ Vương thì định triều nghi, lập cung điện ở đất Phú Xuân, phong cho Nguyễn Phúc Hiệu người con thứ 9 làm thế tử. Bây giờ thế tử đã mất rồi, con thế tử là Nguyễn Phúc Dương hãy còn nhỏ mà con trưởng của Vũ Vương cũng mất rồi. Vũ Vương lập di chiếu cho người con thứ hai là hoàng tử Cốn lên nối ngôi nhưng quyền thần Trương Phúc Loan đổi di chiếu lập người con thứ 16 của Vũ Vương, mới có 12 tuổi tên là Nguyễn Phúc Thuần lên làm chúa, gọi là Định Vương. Nguyễn Phúc Ánh là con của hoàng tử Cốn. Nguyễn Phúc Ánh sinh ngày Kỷ Dậu tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (1762) lớn hơn Nguyễn Du ba tuổi. Trương Phúc Loan là người tham lam, làm nhiều điều tàn ác nên trong nước ai ai cũng oán giận, bởi thế phía nam nhà Tây Sơn dấy binh ở Quy Nhơn, phía bắc quân Trịnh vào lấy Phú Xuân, làm cho cơ nghiệp họ Nguyễn xiêu đổ.

Năm Đinh Hợi (1767). Nguyễn Du hai tuổi, Nguyễn Nghiễm được thăng Thái tử Thái bảo, hàm tòng nhất phẩm, tước Xuân Quận công. Lúc này Trịnh Doanh mất, con là Trịnh Sâm lên làm chúa. Lê Duy Mật đem quân về đánh Hương Sơn và Thanh Chương rồi rút về Trấn Ninh. Trịnh Sâm cho người đưa thư sang vỗ về không được, mới quyết ý dùng binh để dứt mối loạn. Cũng năm ấy (1767) nước Miến Điện sang đánh Xiêm La (Thái Lan ngày nay) bắt vua nước ấy và các con vua mang về Miến Điện. Hai người con khác của vua Xiêm La một người chạy sang Chân Lạp, một người chạy sang Hà Tiên. Trịnh Quốc Anh (Taksin) một tướng Thái gốc Hoa người Triều Châu tỉnh Quảng Đông khởi binh chống quân Miến Điện giành lại độc lập, tự lập làm vua Xiêm La và dời đô về Thonburi, bên bờ sông Chao Phraya, đối diện với Bangkok. (Nguyên nước Xiêm La vốn là một vương quốc Phật giáo tên là Xích Thổ (Sukhothai) ở miền Bắc Thái Lan, dần thay thế vai trò của Đế chế Khmer (Chân Lạp) đang tàn lụi vào thế kỷ 13 – thế kỷ 15. Năm 1283 người Thái có chữ viết. Sau đó người Thái mở rộng lãnh thổ xuống phía nam, và năm 1350 chuyển kinh đô xuống Ayuthaya, phía bắc Bangkok 70 km. Năm 1431, quân Xiêm cướp phá Angkor của Chân Lạp. Nhiều bảo vật và trang phục của văn hóa Hindu đã được họ đem về Ayutthaya, lễ nghi và cách ăn mặc của người Khmer được dung nhập vào thượng tầng văn hóa Xiêm. Trong khoảng 400 năm, từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 18, giữa người Thái và người Miến Điện láng giềng luôn xảy ra các cuộc chiến tranh và kinh đô Ayuthaya bị huỷ diệt ở thế kỷ 18. Người Hoa sau biến cố Minh Thanh cũng ngày một nhiều ở Xiêm La).

Năm Kỷ Sửu (1769). Nguyễn Du bốn tuổi, được phong ấm Hoằng Tín đại trung thành môn vệ úy xuất thân thu Nhạc công. Ông dung mạo khôi ngô, Việp Quận công (Hoàng Ngũ Phúc) trông thấy lấy làm lạ ban cho bảo kiếm. Năm đó, Trịnh Sâm sai Bùi Thế Đạt, Nguyễn Phan, Hoàng Đình Thể đem ba đạo quân của Nghệ An, Thanh Hóa, Hưng Hóa tiến đánh Trấn Ninh. Lê Duy Mật thua mà chết.

Năm Tân Mão (1771). Nguyễn Du sáu tuổi. Tây Sơn dấy binh. Nguyễn Nhạc lập đồn trại ở đất Tây Sơn, chiêu nạp quân sĩ, người về theo rất đông. Nguyễn Nhạc nguyên tổ bốn đời là họ Hồ cùng một tổ với Hồ Quý Ly, người gốc ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, gặp lúc chúa Trịnh chúa Nguyễn đánh nhau, bị bắt đem vào ở ấp Tây Sơn thuộc phủ Hoài Nhân, đất Quy Nhơn. Đến đời của Nguyễn Phi Phúc dời nhà sang ấp Kiên Thành, sinh được Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ (Hồ Thơm). Lúc khởi binh nhà Tây Sơn lấy họ mẹ là Nguyễn để khởi sự cho dễ thu phục nhân tâm vì đất miền Nam vốn đất chúa Nguyễn. Năm 1771, Nguyễn Huệ mười tám tuổi, đã sớm tỏ ra là một bậc anh tài quân sự, định kế và cầm quân cùng anh. Cũng năm ấy, vua Xiêm La là Trịnh Quốc Anh (Taksin) khởi binh đánh vua Chân Lạp là Nặc Tôn nhưng không thắng bèn quay sang đem binh thuyền sang vây đánh con vua cũ là Chiêu Thúy ở Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ là con Mạc Cửu và bà phi họ Nguyễn, tướng giữ thành Hà Tiên của nhà Nguyễn giữ không nổi phải bỏ thành chạy. Vua Xiêm La Trịnh Quốc Anh sai tướng giữ Hà Tiên và tiến đánh Chân Lạp. Quốc vương Chân Lạp là Nặc Tôn phải bỏ thành chạy. Vua Xiêm La chiếm Nam Vang (Phnom Penh ngày nay).

Năm Nhâm Thìn (1772). Nguyễn Du bảy tuổi. Tháng sáu năm 1772, chúa Nguyễn sai quan Tổng suất là Nguyễn Cửu Đàm đem quân đánh Xiêm La. Quân của Nguyễn Cửu Đàm tiến đến Nam Vang, quân Xiêm La bỏ chạy về Hà Tiên. Nặc Non cũng chạy về Cầu Bột. Nặc Tôn lại về làm vua Chân Lạp. Vua Xiêm La Trịnh Quốc Anh đưa thư sang gọi Mạc Thiên Tứ về để giảng hòa. Mạc Thiên Tứ không chịu. Vua Xiêm La Trịnh Quốc Anh bèn cử tướng giữ Hà Tiên, rồi bắt con gái Mạc Thiên Tứ và Chiêu Thúy đem về nước. Năm sau, Mạc Thiên Tứ thấy việc không xong bèn giảng hòa. Vua Xiêm La trả lại con gái cho Mạc Thiên Tứ và giết Chiêu Thúy. Mạc Thiên Tứ trở về giữ đất Hà Tiên. Nước Chân Lạp vốn là nền văn minh Khmer đã phát triển rực rỡ từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 13, và lụi tàn vào thế kỷ 13-thế kỷ 15. Trước đó thời Tùy Đường có nước Phù Nam bao gồm Campuchia, nam Việt Nam, nam Thái Lan ngày nay. Từ thế kỷ 5 một tộc người Môn-Khmer hình thành một thuộc quốc Chân Lạp (Chenla) ở khu vực Bắc Campuchia và Nam Lào . Đến thế kỷ 7, Chân Lạp chiếm toàn bộ lãnh thổ Phù Nam. Một phần của Phù Nam ở phía tây Chân Lạp là nước Xích Thổ (Sukhothai). Nước này sau chia làm hai vào khoảng thế kỷ XI, XII thời Tống Kim và nhập làm một thời Minh, khi cầu phong Minh Thái Tổ gọi là nước Xiêm La. Thời các chúa Nguyễn mở đất Chiêm Thành thì Xiêm La cũng luôn tìm cách lấn chiếm Chân Lạp.

Năm Quý Tỵ (1773). Nguyễn Du tám tuổi. Nhà Tây Sơn xây dựng lực lượng và củng cố căn cứ ở vùng An Khê, khôn khéo khai thác sự chia rẽ triều đình chúa Nguyễn bằng tuyên bố lật đổ Trương Phúc Loan, khôi phục ông hoàng hợp pháp, lấy lòng người bằng cách cướp của người giàu chia người nghèo. Tây Sơn thu phục được công chúa Chăm, hương chức Nguyễn Thung, Huyền Khê, hai nhà buôn người Hoa là Lý Tài và Tập Đình cũng gia nhập. Nguyễn Nhạc dùng mưu kế tự nhốt mình vào củi, lừa chiếm được thành Quy Nhơn, đánh bại quân tiếp viện Phú Xuân, cuối năm ấy Tây Sơn đã toàn thắng, chiếm từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận.

Năm Giáp Ngọ (1774). Nguyễn Du chín tuổi. Nguyễn Nhiễm sung chức tả tướng, cùng Hoàng Ngũ Phúc đi đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong với danh nghĩa đuổi quyền thần Trương Phúc Loan và đánh dẹp quân nổi loạn. Quân Trịnh vượt sông Gianh chiếm Đồng Hới mà không cần giao tranh. Quân Nguyễn hầu như không có kháng cự nào vì binh lực tập trung chống nhà Tây Sơn đang thừa thắng chiếm Quảng Ngãi và đánh lui quân cứu viện năm dinh phía nam, chúa Trịnh Sâm lại thừa cơ dẫn đại quân vào Nghệ An trợ chiến tăng thanh thế, lòng người oán ghét Trương Thúc Loan nên làm nội ứng giúp quân Trịnh, Quảng Nam lại có nạn đói trầm trọng. Triều đình chúa Nguyễn nộp Trương Phúc Loan nhưng quân Trịnh vẫn tiến quân và chiếm kinh đô Phú Xuân đầu năm 1775.

Năm Ất Mùi (1775). Nguyễn Du mười tuổi: Anh trai cùng mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Trụ (sinh 1757) qua đời. Năm ấy, chúa Nguyễn chạy vào Quảng Nam lập cháu là Nguyễn Phúc Dương làm Đông Cung để lo việc chống trả. Quân Tây Sơn ở Quy Nhơn kéo ra đánh chiếm Quảng Nam. Chúa Nguyễn Định Vương liệu không chống cự nổi nên cùng cháu là Nguyễn Ánh chạy vào Gia Định, chỉ để Đông Cung ở lại Quảng Nam chống giữ. Nguyễn Nhạc biết Đông Cung yếu thế và muốn mượn tiếng nên sai người rước Đông Cung về Hội An. Họ Trịnh vượt đèo Hải Vân, đẩy lui quân Tây Sơn do Tập Đình làm tiên phong, Lý Tài làm tướng trung quân. Nguyễn Nhạc xét tội Tập Đình thua trận định giết. Tập Đình vội trốn về Quảng Đông và bị giết. Nguyễn Nhạc đưa Đông Cung về Quy Nhơn. Tống Phước Hiệp ở phía nam nhân lúc Nguyễn Nhạc thua trận đã tiến quân chiếm lại Phú Yên. Tống Phước Hiệp cho Bạch Doãn Triều và cai đội Thạc đến đòi Nguyễn Nhạc trả Đông Cung cho nhà Nguyễn. Nguyễn Nhạc theo kế Nguyễn Huệ giả vờ ưng thuận, một mặt mượn lệnh Đông Cung phủ dụ Tống Phước Hiệp và Chu Văn Tiếp đem tướng sĩ năm dinh về theo phò Đông Cung, mặt khác lại cho người mang vàng bạc châu báu đến dâng Hoàng Ngũ Phúc xin nộp ba phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên để xin cho Nguyễn Nhạc được làm tướng tiên phong đánh Gia Định. Hoàng Ngũ Phúc viết khải văn dâng lên chúa Trịnh Sâm phong tướng hiệu cho Nguyễn Nhạc. Trịnh Sâm sai Nguyễn Hữu Chỉnh mang sắc chỉ, cờ, ấn kiếm của vua Lê đến ban cho Nguyễn Nhạc. Tống Phước Hiệp do mắc lừa không đề phòng nên bị Nguyễn Huệ đánh bại. Lý Tài được nhà Tây Sơn cử làm tướng trấn thủ Phú Yên. Hoàng Ngũ Phúc nghe tin thắng của Nguyễn Huệ đã lập tức tung quân đánh chiếm Quảng Ngãi và trình lên chúa Trịnh Sâm sắc phong cho Nguyễn Huệ làm tướng tiên phong. Tuy vậy, quân Trịnh bị hao tổn nặng bởi trận dịch khủng khiếp nên phải quay lại Phú Xuân. Hoàng Ngũ Phúc ốm chết ngay trên dọc đường khi chưa tới Phú Xuân. Nguyễn Nhạc lợi dụng sự rút quân Trịnh để chiếm lại Quảng Nam. Nhà Tây Sơn tạm yên mặt bắc đã tập trung tấn công nhằm dứt điểm hiểm họa từ nhà Nguyễn đang trốn tránh ở phía Nam.

Năm Bính Thân (1776). Nguyễn Du mười một tuổi, cha là Nguyễn Nhiễm đánh trận về bị lâm bệnh qua đời. Năm đó, Nguyễn Nhạc sai em là Nguyễn Lữ đem thủy quân vào đánh Gia Định, lấy được thành Sài Gòn. Chúa Nguyễn phải chạy về Trấn Biên (Biên Hòa). Nguyễn Huệ cho đắp sửa thành Quy Nhơn rồi đặt long án, tôn Nguyễn Nhạc làm Tây Sơn Vương. Nguyễn Lữ được phong Thiếu phó, Nguyễn Huệ làm Phục chính. Nguyễn Nhạc đón Đông Cung ở Yên Thái về, dựng nhà bên sông Bông Giang, gả con gái là Thọ Hương cho Đông Cung, lấy huyện Bình Sơn làm của hồi môn, mưu lập Đông Cung làm vương để mê hoặc dân chúng. Đông Cung không chịu nghe theo nên Nguyễn Nhạc an trí Đông Cung ở chùa Di Đà xứ Thập Tháp. Đông Cung cùng Tống Phước Đạm lén trốn xuống thuyền, dọc đường được thuyền của Tôn Thất Xuân đón cùng chạy về Gia Định. Chu Văn Tiếp (Doãn Ngạch) dấy binh ở huyện Đồng Xuân (Phú Yên). Nguyễn Nhạc sai người đến gặp Chu Văn Tiếp hẹn cùng tôn lập Đông Cung. Khi Chu Văn Tiếp ra đến Quy Nhơn biết rõ chuyện trên bèn liên kết với Tống Phước Hiệp truyền hịch vạch tội nhà Tây Sơn. Người khách Lý Tài tướng Tây Sơn trấn thủ Phú Yên cũng theo mật ước với Tôn Thất Chí bỏ Nguyễn Nhạc về hàng Tống Phước Hiệp giúp chúa Nguyễn. Định Vương thế cô ở Đồng Nam gọi Tống Phước Hiệp đưa quân về hợp viện. Đỗ Thành Nhơn, Nguyễn Huỳnh Đức tụ nghĩa ở Ba Giồng (Định Tường). Nhơn theo lệnh Định Vương thảo hịch chiêu mộ nghĩa binh và lợi dụng địa thế hiểm yếu đánh thắng quân Nguyễn Lữ mấy trận. Nguyễn Lữ lấy thóc kho chở hơn hai trăm thuyền chạy về Quy Nhơn. Đỗ Thành Nhơn chiếm Gia Định đón Định Vương về Bến Nghé. Tống Phước Hiệp mang Lý Tài về hội quân ở Gia Định. Tống Phước Hiệp ốm chết ở Long Hồ. Định Vương muốn thu dụng Lý Tài nhưng Đỗ Thành Nhơn can không nên dùng mà nên giết đi vì Lý Tài hung hãn, phản trắc, khó chế ngự. Lý Tài từ đó kết oán với Đỗ Thành Nhơn. Lý Tài sợ Đỗ Thành Nhơn làm hại mình nên đưa quân về đóng ở núi Chiêu Thái.

Năm Đinh Dậu (1777). Nguyễn Du mười hai tuổi. Năm đó, Lý Tài nghe Đông Cung trốn vào Gia Định, lại đem binh rước về Sài Gòn lên làm Tân Chính Vương, tôn Định Vương lên làm Thái Thượng Vương để cùng lo sự khôi phục. Tân Chính Vương thăng Tôn Thất Chí làm Thiếu phó, Tôn Thất Xuân làm Chưởng cơ, Lý Tài làm Bảo giá Đại tướng quân. Lý Tài tâu với Tân Chính vương xin sai Chưởng cơ Tống Phước Hòa cùng Tống Phước Thiên đem quân đến đóng giữ Long Hồ, nói là để phòng quân Tây Sơn nhưng thực ra là sợ Đỗ Thành Nhơn đem quân đánh úp. Nguyễn Phúc Ánh biết ý bèn mật báo Định Vương cho mình mang quân đi Ba Giồng chiêu dụ quân Đông Sơn. Lý Tài bức Định Vương về Thủ Dầu Một. Tân Chính Vương trở về Sài Gòn cử Tống Phước Đạm làm giám quân, Trần Văn Hòa làm tham mưu dẫn những người ở Quy Nhơn mới đến trở lại Quảng Ngãi đểu sự chiêu tập nghĩa binh nhưng dọc đường bị phục binh của quân Tây Sơn chặn bắt. Trần Văn Hòa bị giết. Tôn Thất Đạm phải quay lại. Lúc ấy, Nguyễn Nhạc sai người ra xin với chúa Trịnh cho trấn thủ đất Quảng Nam. Trịnh Sâm bây giờ cũng chán sử dụng binh, bèn nhân dịp phong cho Nguyễn Nhạc làm Quảng Nam trấn thủ, Cung quận công. Nguyễn Nhạc được phong rồi, không phải phòng giữ mặt bắc nữa , bèn sai Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đem thủy bộ quân vào đánh Gia Định. Lý Tài chống cự không nổi phải bỏ chạy. Tân Chính Vương chạy về Định Tường rồi lại chạy về Vĩnh Long. Thái Thượng Vương chạy về Long Xuyên. Nhưng chẳng bao lâu Nguyễn Huệ đem quân đuổi bắt được cả Thái Thượng Vương và Tân Chính Vương, đem giết đi. Nguyễn Phúc Ánh trốn thoát được. Mạc Thiên Tứ và Tôn Thất Xuân lánh ra đảo Phú Quốc và sau đó sang Xiêm La cầu viện. Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ lấy xong đất Gia Định để Tổng Đốc Chu ở lại trấn thủ, rồi đem quân về Quy Nhơn.

Năm Mậu Tuất (1778). Nguyễn Du mười ba tuổi, bà Trần Thị Tần, mẹ Nguyễn Du qua đời. Nguyễn Du mồ côi cả cha lẫn mẹ nên ông phải ở với người anh khác mẹ là Nguyễn Khản (hơn ông 31 tuổi). Cũng trong năm này, anh thứ hai của Nguyễn Du là Nguyễn Điều (sinh năm 1745) được bổ làm Trấn thủ Hưng Hóa. Năm ấy, Nguyễn Nhạc tự xưng đế hiệu, đặt niên hiệu là Thái Đức, phong cho Nguyễn Lữ làm Tiết chế, Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân.

Năm Kỷ Hợi (1779). Nguyễn Du mười bốn tuổi. Năm ấy, ở Long Xuyên, Nguyễn Phúc Ánh tụ tập những thuộc hạ cũ nhân lúc Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đều về Quy Nhơn, khởi binh tiến đánh Sa Đéc, cùng Đỗ Thanh Nhơn và các tướng đánh đuổi Tổng đốc Chu lấy lại thành Sài Gòn. Bấy giờ Nguyễn Ánh mới có 17 tuổi. Các tướng tôn làm Đại nguyên súy, Nhiếp quốc chính. [Theo Hoàng Việt Hưng Long Chí thì vào tháng Giêng năm Mậu Tuất 1778]. Ít lâu sau vua Tây Sơn lại sai Tổng đốc Chu, Tư khấu Uy đem quân thủy vào đánh Trấn Biên và Phiên Trấn. Nguyễn Nhạc lại sai hổ giá Phạm Ngạn đem quân từ Quy Nhơn tới. Trần Phượng không chống nổi. Đỗ Thành Nhơn đem quan Đông Sơn ra cự chiến chém được Tư khấu Uy . Nguyễn Ánh sai Lê Văn Quân đem binh đánh chiếm thành Bình Thuận và thành Diên Khánh. Tướng Tây Sơn là Phạm Ngạn phải lui về Quy Nhơn. Nguyễn Ánh sai Tổng nhung Nguyễn Văn Hoàng, Lễ bộ Nguyễn Nghi đem quân bộ ra đóng giữ Bình Thuận để hợp binh với Chu Văn Tiếp. Nguyễn Ánh cũng sai người thông sứ với Xiêm La (Thái Lan), sai Đỗ Thành Nhơn, Hồ Văn Lân đem binh đánh Chân Lạp (Campuchia ngày nay), lập con Nặc Tôn là Nặc In lên làm vua, để Hồ Văn Lân ở lại bảo hộ. Ở Gia Định, Nguyễn Ánh đặt quan cai trị, định lệ thu thuế để nuôi binh lính, làm chiến thuyền, luyện tập binh mã để phòng bị chiến tranh. Bấy giờ có người ở trấn Sơn Nam là Trần Xuân Trạch, Nguyễn Kim Phẩm cùng thủ hạ đem quân vượt biển vào Gia Định được Nguyễn Ánh trọng dụng làm tả hữu Chưởng cơ.

Năm Canh Tý (1780). Nguyễn Du mười lăm tuổi, Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh Tý, bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận công. Nguyễn Du về Tiên Điền học với chú Nguyễn Trọng và đi lại thân thiết với Đoàn Nguyễn Tuấn là một người thân cũng là học trò của Nguyễn Nghiễm ở Sơn Nam Hạ. Năm ấy, Nguyễn Ánh xưng vương, phong Đỗ Thành Nhơn làm Ngoại hữu Phụ Chính Thượng tướng công. Nhưng sau vì Đỗ Thành Nhơn cậy công lộng quyền, oai vượt lấn chủ nên Nguyễn Ánh theo mưu Tống Phước Thiêm đã phục vệ sĩ giết đi. Cũng vì việc ấy nên Đông Sơn khi trước hết lòng giúp Nguyễn Vương sau đều bỏ cả, và lại phản lại, thành ra lôi thôi phải đánh dẹp mãi.

Nguyễn Du 15 năm lưu lạc (1781 – 1796)

Một số soàn giả khi xác định Nguyễn Du mười năm gió bụi thường vì thiếu chứng cứ và tư liệu đầy đủ về những chỉ dấu của Nguyễn Du. Trước đèn, xem kỹ lại niên biểu Nguyễn Du 15 năm lưu lạc (1781-1796). Nguyễn Công Trứ luận về Thúy Kiều mười lăm năm lưu lạc nhưng thực chất là luận về Nguyễn Du: “Bán mình trong bấy nhiêu năm, Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai”. Nguyễn Du làm gì trong thời gian 1781- 1796? Nguyễn Công Trứ thân mật hay chống đối Nguyễn Du? đó là điều hậu thế cần lý giải cho đúng? Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ là hai danh nhân cùng thời. Nguyễn Công Trứ nhỏ hơn Nguyễn Du 13 tuổi. Chúng ta sẽ tìm hiểu quan hệ của họ trong một chuyên mục riêng. Trước hết hãy tìm hiểu niên biểu Nguyễn Du trong thời thế của ông.

Năm Tân Sửu (1781) Nguyễn Du mười sáu tuổi, Nguyễn Du làm Chánh Thủ hiệu quân Hùng Hậu ở Thái Nguyên. Ý định Nguyễn Du tạo đất căn bản, dấy nghiệp ở Bắc Hà, lập thế chân vạc, tranh hùng với Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn ở Thuận Hóa và Nguyễn Ánh ở đất Gia Định. Tướng trấn thủ Thái Nguyên là Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến (Hà Mỗ trong Gia Phả họ Nguyễn Tiên Điền) là cha nuôi Nguyễn Du và tâm phúc Nguyễn Nhiễm. Tướng trấn thủ Sơn Tây là Nguyễn Điền là anh cùng cha khác mẹ của Nguyễn Du, Tướng trấn nhậm Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ đều là học trò Nguyễn Nhiễm và đó cũng là đất tổ nghiệp của nhà Nguyễn Tiên Điền. Nguyễn Du định dựng cờ phù Lê, xin chiếu vua Càn Long, liên thủ với vùng Nam Trung Quốc và Nghệ Tĩnh, giao kết kẻ sĩ, xây dựng lực lượng, trầm tĩnh theo chuyển biến thời cuộc để chớp thời cơ hành động.

Chọc trời khuấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai

Cũng năm ấy, Nguyễn Ánh sau sự biến Đông Sơn, phải vất vả đối phó với nội tình tan rã ở Gia Định. Tháng 10 năm đó, vua nước Xiêm La (Thái Lan) là Trịnh Quốc Anh (Taksin) sai hai anh em tướng Chất Tri (Chakkri) sang đánh Chân Lạp. Nguyễn Vương sai Nguyễn Hữu Thụy và Hồ Văn Lân sang cứu, trong khi hai quân đang chống nhau thì ở Vọng Các (Băng Cốc) vua Xiêm bắt giam vợ con của hai anh em Chất Tri. Hai anh em tướng Chất Tri (Chakkri) bèn giao kết với Nguyễn Hữu Thụy rồi đem quân về giết Trình Quốc Anh (Taksin) và tự lập làm vua Xiêm La, xưng là Phật Vương (Rama1). Họ Chakkri làm vua cho đến ngày nay và các vua đều xưng là Rama. Vua Rama I chọn Bangkok (hay “Thành phố của các thiên thần”) làm kinh đô.

Năm Nhâm Dần (1782), Nguyễn Du mười bảy tuổi. Năm ấy, Trịnh Sâm mất, Kiêu binh phế Trịnh Cán, lập Trịnh Khải (Trịnh Tông) lên ngôi chúa. Hai anh của Nguyễn Du là Nguyễn Khản được làm Thượng thư bộ Lại, tước Toản Quận công, Nguyễn Điều làm Trấn thủ Sơn Tây.

Trước đó, Trịnh Sâm kiêu hãnh khi quân Trịnh lấy được Thuận Hóa, đã có ý cướp ngôi nhà Lê, bèn sai quan thị lang Vũ Trần Thiệu đi cùng quan nội giám mang biểu sang tấu trình vua Thanh rằng con cháu nhà Lê không có ai đáng làm vua nữa. Nhưng, Vũ Trần Thiệu khi sang hồ Đồng Đình đã đem đốt tờ biểu rồi uống thuốc độc mà chết nên việc cầu phong bỏ không nói đến nữa. Trịnh Sâm say đắm Đặng Thị Huệ, trước khi chết để di chiếu phế con trưởng là Trịnh Khải lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử và giao Huy Quận Công Hoàng Đình Bảo (Tố Lý) làm phụ chính. Trịnh Cán ít tuổi, lắm bệnh không mấy người phục, nên xảy ra biến loạn. Tháng 9 năm 1782 Trịnh Sâm mất, Trịnh Khải mưu với quân tam phủ kéo đến vây phủ giết Hoàng Đình Bảo, bỏ Trịnh Cán và Đặng Thị Huệ, lập Trịnh Khải lên làm chúa, tức Đoan Nam Vương (Nguyễn Khản là thầy dạy của Trịnh Khải).

Tháng 10 năm 1782, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đem hơn 100 chiến thuyền vào cửa Cần Giờ đánh nhau với quân Nguyễn Ánh ở Ngã Bảy. Thủy binh Tây Sơn tinh nhuệ và thiện chiến áp sát và dùng hỏa hổ tấn công. Quân Nguyễn Ánh mặc dù có người Pháp và người Bồ Đào Nha điều khiển tàu châu Âu bảo vệ vòng ngoài vẫn thua to. Cai cơ Mạn Hòe (Manuel) người Pháp chết tại trận. Nguyễn Ánh phải bỏ thành Sài Gòn chạy về Ba Giồng. Quận công Tống Phước Thiêm bị quân Đông Sơn giết chết. Nguyễn Ánh dẫn tàn quân lánh ra đảo Phú Quốc. Nguyễn Nhạc bình xong đất Gia Định, rút quân về Quy Nhơn, để hàng tướng Đông Sơn là Đỗ Nhàn Trập giữ Sài Gòn. Khi quân Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ về Quy Nhơn rồi, Chu Văn Tiếp đem quân từ Phú Yên về hợp với quân các đạo, đánh đuổi quân Tây Sơn đi, lấy lại thành Sài Gòn rồi đón Nguyễn Ánh về, sửa sang mọi việc để chống giữ với Tây Sơn.

Năm Quý Mão (1783), Nguyễn Du mười tám tuổi. Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường . Nguyễn Du vẫn giữ chức Chánh thủ hiệu quân Hùng hậu Thái Nguyên, nơi Quản Vũ Hầu Nguyễn Vũ Tiến là cha nuôi làm quan trấn thủ. Đây là vùng đất hiểm yếu có nhiều người Trung Quốc sang khai mỏ bạc. Nguyễn Đăng Tiến vốn là tay giặc già phản Thanh phục Minh người Việt Đông Trung Quốc, vừa là tân khách, thầy dạy võ cho Nguyễn Du và các anh em, vừa là tâm phúc của Nguyễn Nhiễm.

Nguyễn Du đính hôn với người vợ chính thất họ Đoàn là con gái thứ sáu của Đoàn Nguyễn Thục (người Quỳnh Côi, Hải An xưa thuộc Sơn Nam, nay thuộc Thái Bình). Nhờ lương duyên này mà Nguyễn Du có thêm thế lực của cha vợ là quan Hoàng giáp Phó Đô ngự sử Quỳnh Châu bá và anh vợ là tiến sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn, sau này làm quan thị lang triều Tây Sơn.

Cũng năm ấy, Nguyễn Khản đầu năm thăng chức Thiếu Bảo, cuối năm thăng chức Tham tụng, Thượng Thư Bộ Lại kiêm trấn thủ Thái Nguyên, Hưng Hóa. Anh cùng mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Nễ (sinh 1761) đỗ đầu thi Hương ở điện Phụng Thiên, được bổ thị nội văn chức, khâm thị nhật giảng, sung Nội Hàn Viện cung phụng sứ, phó tri thị nội thư tả lại phiên, Thiên Thư Khu mật viện Đức Phái hầu, cai quản đội quân Phấn Nhất của phủ Chúa. Vừa lúc Thuận Châu khởi binh, phụng sai hiệp tán quân cơ của đạo Sơn Tây.

Năm 1783, vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đem binh vào đánh phía Nam. Trong chiến dịch này Nguyễn Huệ đã khéo lợi dụng lúc thủy triều lên và mượn sức gió thổi từ biển vào đất liền để dùng hỏa công và hỏa hổ tiến công, trên bờ thì dùng voi chiến do thủy binh chở vào, lần đầu xuất hiện ở đất Gia Định trên một địa thế hẹp. Nguyễn Vương thua to. Nguyễn Ánh rước mẹ và cung quyến chạy ra đảo Phú Quốc. Tháng 6 năm ấy, Nguyễn Huệ ra đánh Phú Quốc, Nguyễn Vương chạy về Côn Lôn. Quân Tây Sơn lại đem thuyền đến vây Côn Lôn , nhưng gặp bão đánh đắm cả thuyền nên Nguyễn Ánh mới trốn thoát được, chạy về đảo Cổ Cốt rồi lại trở về Phú Quốc.

Lại nói đất kinh kỳ Thăng Long, nguyên từ khi họ Trịnh giúp nhà Lê trung hưng về sau, chia quân làm hai thứ binh là ưu binh và nhất binh. Ưu binh thì kén quân Thanh Nghệ làm quân túc vệ đóng ở kinh thành canh giữ những nơi trọng yếu cung vua phủ chúa, được cấp công điền và có chức sắc. Nhất binh là lính tứ trấn ở Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Tây chỉ để đủ giữ các trấn và hầu hạ các quan còn thì cho về làm ruộng, khi cần dùng thì mới gọi. Những lính ưu binh từ các đời trước dù có kẻ ngang ngược công thần nhưng nhà chúa cũng chỉ trị tội tên cầm đầu mà vẫn giữ chế độ ưu binh, nên về sau ưu binh đã quen thói gặp điều trái ý là nổi lên làm loạn. Nay Trịnh Khải nhờ quân tam phủ Thanh Nghệ mà đoạt được ngôi chúa Đoan Nam Vương, trừ được vây cánh của Trịnh Cán nên ban ân quan tước cho kẻ đứng đầu kiêu binh là Nguyễn Bằng và trọng thưởng cho kiêu binh. Đó chính là mầm loạn khó kiềm chế.

Năm Giáp Thìn (1784), Nguyễn Du mười chín tuổi. Tháng 2 , nhân vụ 7 kiêu binh bị nhà chúa giết vì bữa tiệc vua Lê đãi kiêu binh có công phò Hoàng Tự Tôn Lê Duy Kỳ từ trong tù ra, kiêu binh đã nổi dậy đưa hoàng tôn Lê Duy Kỳ lên làm thái tử. Tư dinh của Nguyễn Khản ở phường Bích Câu, Thăng Long bị phá. Nguyễn Khản trốn lên với em là Nguyễn Điều đang làm trấn thủ Sơn Tây và Nguyễn Nể làm Hiệp tán Nhung vụ. Họ toan hợp quân các trấn về đánh kiêu binh, nhưng khi sự lộ ra quân kiêu binh vào canh chặt phủ chúa, Trịnh Khải không ra được nên mưu bất thành. Kiêu binh chia nhau giữ các cửa ô. Quân các trấn sợ chúa bị hại nên đành kéo về. Kiêu binh áp lực bãi chức Nguyễn Khản và giáng chức Nguyễn Điều, hai người về Hà Tỉnh.

Lại nói Hoàng tôn Lê Duy Kỳ (tức vua Lê Mẫn Đế, Lê Chiêu Thống sau này) là con trưởng của Lê Duy Vĩ, cháu đích tôn của vua Lê Hiển Tông . Ba anh em hoàng tự tôn được kiêu binh giải cứu sau 15 năm lao tù. có mối hận sâu sắc với chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1767-1782). Hoàng Lê Nhất thống chí của Ngô Thời Chí kể rằng: Nguyên Trịnh Doanh có con gái lớn là quận chúa Tiên Dung , quận chúa là con vợ cả, được Trịnh Doanh yêu lắm. Thế tử Trịnh Sâm là con vợ thứ. Vợ cả Doanh muốn con được làm hoàng hậu nên xin với Doanh để gả cho thế tử Lê Duy Vĩ. Vì quá yêu con, vợ Doanh thường phân biệt lễ vua tôi quá rõ rệt, những bữa mời thái tử ăn cơm, Sâm không được vợ cả Trịnh Doanh cho cùng ngồi với thái tử. Trịnh Sâm nói với Lê Duy Vĩ: “Trong hai ta phải có kẻ mất người còn. Vua ấy không thể cùng thời với chúa này”. Thái tử Lê Duy Vĩ vẫn có ý đề phòng, thường giao kết với hào kiệt và dân sĩ trong thiên hạ, mong ngày giành lại thực quyền. Do Trịnh Doanh mất sớm. Trịnh Sâm được lên thay quyền. Việc đầu tiên của Sâm là sai một viên quan thị vu cho thái tử thông gian với cung nhân của Trịnh Doanh (Lập lại mưu cũ của Trịnh Giang giết vua trước đây: vu cho Lê Đế Duy Phương tư thông với vợ Trịnh Cương, buộc phế bỏ, giáng xuống làm Hôn Đức quân, rồi bị giết chết). Nay thái tử Lê Duy Vĩ cũng bị kết tội trạng giống hệt vậy. Thái tử và ba con bị tống giam vào ngục. Sau đó, thái tử lại bị vu tội định bỏ trốn để tạo phản nên bức uống thuốc độc chết năm 1771. Ba anh em hoàng tự tôn bị giam vào ngục 15 năm sau mới được kiêu binh giải cứu. Nhà chúa giết bảy kiêu binh giải cứu hoàng tự tôn Lê Duy Kỳ khi vua Lê đang thiết họ ăn uống đã châm ngòi cho loạn Kiêu binh phá nát Tư dinh của Nguyễn Khản ở phường Bích Câu và áp lực bãi chức Nguyễn Khản, bởi ông là thầy Trịnh Khải, lại làm quan Tham tụng, thượng thư bộ Lại.

Lại nói Nguyễn Ánh ở Phú Quốc hết sạch lương thực phải hái rau và tìm củ chuối mà ăn, thế lực cùng kiệt, bèn cho người tìm người quen cũ là cố đạo Bá Đa Lộc lúc đó đang ở Thái Lan để hỏi kế. Bá Đa Lộc khuyên là nên cầu nước Pháp nhưng phải cho thế tử Cảnh cùng đi để làm tin. Nguyễn Ánh theo lời ấy, bèn giao Hoàng tử Cảnh theo Bá Đa Lộc mang quốc thư sang Pháp. Tờ thư ấy có 14 khoản đại ý xin nước Pháp giúp cho 1500 quân và tàu bè, súng ống, thuốc đạn, đủ cả mọi thứ. Nguyễn Vương xin nhường cho nước Pháp cửa Hội An, đảo Côn Lôn và để riêng cho nước Pháp được đặc quyền vào buôn bán ở nước Nam. Nguyễn Ánh lại tiếp được mật biểu của Châu Văn Tiếp (lúc trước bị thua ở Sài Gòn đã theo đường núi chạy sang Thái Lan xin cầu viện) nên mới đến hội với tướng Thái Lan tại Hà Tiên và sau đó sang Bangkok. Vua Xiêm Chakkri (Rama1) tiếp đãi Nguyễn Ánh rất hậu và sai hai tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương cùng các tướng Lục Côn, Sa Uyên và Chiêu Thùy Biện là một cựu thần Chân Lạp thân Xiêm, đem hai vạn quân (tài liệu khác nói là ba vạn, có tài liệu nói là năm vạn kể cả quân bộ của Chân Lạp và hương binh mới mộ của Nguyễn Ánh ) với 300 chiến thuyền sang giúp. Nguyễn Ánh phong Châu Văn Tiếp là Bình Tây đại đô đốc được toàn quyền điều khiển việc quân. Ngày 9 tháng 6 xuất quân, trước chiếm Kiên Giang sau theo hai đường thủy bộ tiến sang lấy được Rạch Giá, Ba Thắc, Trà Ôn, Sa Đéc. Khi đánh đến Mân Thít, Châu Văn Tiếp bị thương nặng và mất. Nguyễn Ánh cử Lê Văn Quân thay chức thống lĩnh đại quân, Nguyễn Văn Thành đem 8.000 quân theo quân Xiêm đi đánh trận. Các tướng Mạc Tử Sinh (con Mạc Thiên Tứ), Nguyễn Thừa Diễn đi trấn thủ và mộ binh ở các vùng vừa chiếm được. Quân Xiêm tiến đến đâu cũng làm nhiều điều hung ác, dân rất oán giận. Tướng Tây Sơn là Trương Văn Đa sai người cấp báo về Quy Nhơn. Vua Tây Sơn sai Nguyễn Huệ đem binh vào chống giữ.

Năm Ất Tỵ (1785), Nguyễn Du hai mươi tuổi. Nguyễn Huệ vào đến Gia Định, nhữ quân Xiêm vào trận địa mai phục ở rạch Gầm, Xoài Mút ở phía trên Mỹ Tho. Nguyễn Huệ bố trí pháo binh ở hai bên bờ và các cù lao trên sông, phục sẵn chiến thuyền ở các con lạch và cù lao Thới Sơn, sau đó phái một số thuyền tới khiêu khích quân Xiêm dụ vào nơi đã giăng bẫy, đánh một trận vào ngày 19 tháng 1 năm 1785, giết quân Xiêm chỉ còn vài nghìn, theo đường bộ chạy được về nước. Nguyễn Huệ phá được quân Xiêm và đem binh truy đuổi Nguyễn Ánh. Chúa Nguyễn hết cả lương thực chỉ còn khoảng 200 quân tướng và 5 chiếc thuyền chạy dạt sang đảo Cổ Cốt, rồi sang Xiêm. Nguyễn Ánh nói với vua Xiêm: Quý quốc vương nghĩ tình lân bang giao hảo cho quân sang giúp nhưng vì tướng tá kiêu ngạo, quân lính tham bạo nên mới đến nổi thất bại như thế. Vua Xiêm Chakri I gọi Chiêu Tăng, Chiêu Sương là “ngu hèn, kiêu căng, hung hãn đến nỗi bại trận làm bại binh, nhục quốc”. Người Xiêm từ sau cuộc bại trận năm 1785, miệng tuy nói khoác mà lòng thì sợ Tây Sơn như cọp. Nguyễn Ánh sau đó xin vua Xiêm cho ra ở Đồng Khoai, ngoại thành Vọng Các (Bangkok ngày nay) khẩn hoang, làm ruộng, đốn củi… để nuôi nhau và bí mật cho người về do thám ở Long Xuyên.

Nguyễn Huệ, sau khi đánh dẹp xong, liền đem đại quân về Quy Nhơn, cử Đô đốc Đặng Văn Trấn ở lại giữ Gia Định. Dương Công Trừng đánh úp quân Tây Sơn ở Long Xuyên bị Thái bảo Tham dẫn quân từ Gia Định xuống đánh, bắt sống và giết chết. Quân Miến Điện sang đánh Xiêm, vua Xiêm đích thâm cầm quân đi đánh. Nguyễn Ánh tự mình cầm quân đi trợ chiến, bắt sống được hơn 500 tù binh cùng nhiều khí giới. Ít lâu sau Xiêm bị quân Chà Và sang xâm chiếm, Nguyễn Ánh sai Lê Văn Quân trợ chiến cùng em vua Xiêm đi đánh trận. Quân Chà Và bị thua phải rút về. Nguyễn Ánh đóng chiến thuyền và dò la tình hình nhà Tây Sơn để mưu tính trở về.

Năm Bính Ngọ (1786) Nguyễn Du hai mươi mốt tuổi. Loạn kiêu binh ở kinh đô Thăng Long lên cao trào. Quân kiêu binh kéo nhau hàng trăm, hàng ngàn đi cướp phá các làng. Hễ có đứa nào đi lẻ loi thì dân làng lại bắt giết đi nên quân và dân xem nhau như cừu địch. Các văn thần võ tướng đều bó tay. Tham tụng Bùi Huy Bích phải dỗ dành mãi mới tạm yên. Các vụ mất mùa liên tiếp xẩy ra, giá gạo tăng vọt và kiêu binh cướp phá làm hàng nghìn người chết đói. Các trấn Quảng Yên, Kinh Bắc, Thái Nguyên lâm vào cảnh tàn phá, nạn đói và nổi dậy lan rộng.

Tây Sơn chăm chú theo dõi sự suy đồi của họ Trịnh. Ý đồ Tây Sơn đối với phía Bắc đã được Nguyễn Hữu Chỉnh đổ thêm dầu. Nguyễn Hữu Chỉnh là môn hạ của Quận Huy Hoàng Đình Bảo, lập kế rước Tây Sơn về dẹp kiêu binh để báo thù cho chủ.

Nguyễn Hữu Chỉnh là người huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, Trấn Nghệ An nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, Nghệ An, đỗ hương cống năm 16 tuổi, tục gọi là cống Chỉnh. Ông hào hoa, cơ trí, nhiều can đảm lại có tài biện bác, trước theo Hoàng Ngũ Phúc đi đánh giặc bể, giặc sợ gọi là chim dữ. Sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” chép: “Hữu Chỉnh, lúc trẻ tuổi đỗ hương tiến, là người hào phóng không bó buộc vào khuôn phép. Du lịch kinh sư, Hữu Chỉnh vào yết kiến Hoàng Ngũ Phúc. Ngũ Phúc khen là có tài khác thường, dùng làm gia khách. Khi Ngũ Phúc vào xâm lấn trong Nam, cho Hữu Chỉnh đi theo quân thứ, giữ công việc thư kí, rồi sai đến Tây Sơn khuyên Văn Nhạc (tức Nguyễn Nhạc) quy thuận với triều đình, được Văn Nhạc kính trọng”.

Sau khi quận Việp mất, Nguyễn Hữu Chỉnh tiếp tục làm thủ hạ cho cháu quận Việp là quận Huy Hoàng Đình Bảo, người được giao làm phụ chính cho Điện Đô vương Trịnh Cán, con nhỏ của Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm lên ngôi lúc mới 5 tuổi. Khi quận Huy bị kiêu binh giết, Nguyễn Hữu Chỉnh bàn với trấn thủ Nghệ An là Võ Tá Giao việc tự lập nhưng Giao sợ không dám theo nên Chỉnh bỏ vào với vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc và được vua Thái Đức Nguyễn Nhạc rất tín nhiệm. Tây Sơn nhiều phen dòm ngó Phú Xuân nhưng còn nghe ngóng chưa dám quyết . Gặp khi Phạm Ngô Cầu sai Nguyễn Phu Như vào do thám Tây Sơn, không ngờ Nguyễn Hữu Chỉnh quen biết Phu Như nên dò biết rõ tình hình Thuận Hóa và hiến kế cho vua Thái Đức.

Nguyễn Nhạc nắm được tình hình Thuận Hóa trấn thủ Phạm Ngô Cầu là người nhu nhược, vô mưu, tham lam, ham làm giàu, mê tín, đa nghi và Bắc Hà biến động nên chớp thời cơ sai em là Nguyễn Huệ làm tiết chế, rể là Vũ Văn Nhậm làm tả quân đô đốc, Nguyễn Hữu Chỉnh làm hữu quân đô đốc đem quân thủy bộ ra đánh Thuận Hóa.Nguyễn Lữ đưa quân tiếp ứng ở mặt sau. Nguyễn Huệ phái một cánh quân thủy tới thẳng sông Gianh để chiếm các công sự phòng thủ và ngăn chặn mọi tiếp viện từ phía Bắc, hai cánh quân thủy bộ cùng lúc tiến đánh Phú Xuân. Phạm Ngô Cầu trúng kế mê hoặc lập đàn chay cầu siêu, lại bị kế li gián của Nguyễn Hữu Chỉnh nên nhanh chóng thất bại. Biết Phạm Ngô Cầu tính đa nghi, Nguyễn Hữu Chỉnh viết thư chiêu hàng gửi phó tướng Hoàng Đình Thể lại giả vờ cho người đưa nhầm cho Phạm Ngô Cầu. Khi quân Tây Sơn đánh thành, Hoàng Đình Thể đem quân bản bộ ra đối trận bắn hết thuốc đạn, Phạm Ngô Cầu đóng chặt cửa thành không ra cứu viện nên Hoàng Đình Thể và hai con cùng tỳ tướng Vũ Tá Kiên đều bị chết. Phạm Ngô Cầu kéo cờ trắng ra hàng bị giải về Quy Nhơn định tội phải chém. Toàn bộ vùng Thuận Hóa rơi vào tay Tây Sơn chỉ trong mấy ngày.

Nguyễn Huệ hội tướng bàn định việc trấn giữ Thuận Hóa. Nguyễn Hữu Chỉnh nói: Tướng quân phụng mệnh ra đánh một trận mà bình được Thuận Hóa, binh uy chấn động Bắc Hà. Phép dùng binh, có đủ thời, thế và cơ thì đánh đâu cũng được. Bắc Hà bây giờ tướng lười, quân kiêu, triều đình không kỹ cương, nay nhân uy thanh nếu đánh là thắng, xin đừng bỏ lỡ. Nguyễn Huệ nói: Bắc Hà có nhiều nhân tài không nên coi thường. Hữu Chỉnh đáp lại: Nhân tài Bắc Hà chỉ có một mình Chỉnh, nay Chỉnh đã bỏ đi thì nước không còn ai, xin ông chớ ngại. Nguyễn Huệ cười nói: Người khác thì ta không ngại mà chỉ ngại ông đó thôi. Chỉnh biến sắc nói: Tôi tài hèn, nói vậy là để tỏ cho ông biết, Bắc Hà không còn nhân tài mà thôi. Nguyễn Huệ lấy lời nói ngọt để yên lòng Chỉnh và bảo rằng: Nhà Lê làm vua đã mấy trăm năm nay, bây giờ cướp lấy, chưa chắc lòng người đã theo mình. Hữu Chỉnh nói: Nay Bắc Hà có vua lại có có chúa, ấy là một sự cổ kim đại biến. Họ Trịnh tiếng là phù Lê, thực là hiếp chế, cả nước không ai phục. Vả xưa nay không ai làm gì để giúp nhà Lê là vì sợ cái thế mạnh đó mà thôi, nay ông phù Lê diệt Trịnh thì thiên hạ ai chẳng theo ông. Nguyễn Huệ nói: Ông nói phải lắm nhưng ta chỉ phụng mệnh đi đánh Thuận Hóa mà thôi, chứ không phụng mệnh đi đánh Bắc Hà, sợ rồi mang tội trái lệnh thì làm thế nào? Hữu Chỉnh nói: Trái lệnh là tội nhỏ, việc ông làm là công to. Tướng ở ngoài có điều không theo mệnh vua, ông lại không biết hay sao?.

Nguyễn Huệ để anh là Nguyễn Lữ ở lại giữ thành Phú Xuân, cử Nguyễn Hữu Chỉnh đem thủy binh đi tiên phong vào cửa Đại An đánh lấy kho lương ở bên sông Vị Hoàng. Nguyễn Huệ tự đem binh đi theo sau, ước với Hữu Chỉnh đến sông Vị Hoàng đốt lửa lên làm hiệu. Đại quân Tây Sơn đánh như gió cuốn ra bắc.

Trịnh Tự Quyền đem quân vào tăng cường cho Nghệ An dềnh dàng chưa tới nơi thì Vị Hoàng đã mất. Trấn thủ Sơn Nam Bùi Thế Dận đưa quân bộ về ứng cứu, đô đốc thủy quân Đinh Tích Nhưỡng dàn chiến thuyền giữ cửa sông Luộc. Nguyễn Huệ lợi dụng gió đông nam thổi mạnh, đêm đến nước sông lên to sai lấy hình nộm đặt lên thuyền rồi đánh trống kéo cờ thả cho thuyền trôi đi. Đinh Tích Nhưỡng dàn thuyền chống giữ và dùng súng để bắn, đến lúc biết bị lừa thì hết cả thuốc đạn không chống nổi quân Tây Sơn phải bỏ thuyền mà chạy. Quân của Bùi Thế Dận và Trịnh Tự Quyền cũng tan cả, Nguyễn Huệ hạ được thành Sơn Nam, một mặt truyền hịch đi các lộ nói danh nghĩa phù Lê diệt Trịnh, một mặt thần tốc đánh thốc vào thành Thăng Long. Quân Trịnh rệu rã thua trận, tan vỡ chạy.

Bấy giờ ở Thăng Long, kiêu binh không sai khiến được, Trịnh Khải gọi Hoàng Phùng Cơ ở Sơn Tây về cứu viện. Quân Tây Sơn tiến lên đánh tan quân thủy của Đinh Tích Nhưỡng và quân bộ của Hoàng Phùng Cơ. Đoan Nam Vương Trịnh Khải đích thân mặc áo nhung y, cầm cờ lên voi thúc quân chặn đánh Nguyễn Huệ ở bến Long Tân nhưng thế quân Tây Sơn quá mạnh nên phải chạy về Sơn Tây rồi bị người dân là Nguyễn Tranh lừa bắt được, áp giải đi nộp cho quân Tây Sơn. Dọc đường, Trịnh Khải lấy gươm cắt cổ mà chết.

Nguyễn Huệ sai lấy vương lễ mà chôn cất chúa Trịnh rồi vào thành Thăng Long yết kiến vua Lê. Họ Trịnh giúp nhà Lê trung hưng lập ra nghiệp chúa truyền từ Trịnh Tùng đến Trịnh Khải được 216 năm (1570-1786) thì chấm dứt. Sau khi Nguyễn Huệ yết kiến vua Lê Hiển Tông, Nguyễn Hữu Chỉnh lại sắp đặt Nguyễn Huệ lấy công chúa Lê Ngọc Hân, con gái thứ của vua Lê. Tại kinh kỳ, phe cánh họ Trịnh còn đông, Bấy giờ mọi người mới hiểu rõ Hữu Chỉnh rước Tây Sơn ra để trả thù cho chủ (chứ không phải Nguyễn Khản).

Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Khản từ Hà Tỉnh theo ghe mành ra Bắc giúp chúa Trịnh chủ trương đóng quân theo lối vẩy sộp kiểu phòng ngự chiều sâu nhiều tầng (theo Lê Quý Kỷ sự), nhưng kiêu binh vu cáo ông rước giặc Tây Sơn về. Nguyễn Khản phải bỏ chạy, ông mất trong hoàn cảnh đó ở Thăng Long, thi hài ông được đưa về an táng tại Hà Tĩnh. Khi kinh thành thất thủ, nhà Trịnh mất, Nguyễn Điều buồn uất ức thành bệnh mất ngày 31-7-1786. Mộ được an táng xã Đại Đồng, huyện Nam Đàn, Nghệ An, sau được cải táng về xã Sơn An, huyện Hương Sơn. Các con và gia đình ông lập chi Nguyễn Tiên Điền tại đây. Chi họ này ở đó hiện có trên 400 người.

Nguyễn Du ở đâu trong năm này? Trong cơn lốc của các sự biến, người đời sau (Nguyễn Thế Quang với tiểu thuyết Nguyễn Du) cho rằng Nguyễn Du đã gặp Nguyễn Huệ tại điện Kính Thiên. Viên võ tướng Nguyễn Du trẻ tuổi cao lớn với thanh bảo kiếm của Việp Quân Công Hoàng Ngũ Phúc trao tặng trước đây đã trầm tĩnh đối mặt với người anh hùng Nguyễn Huệ oai chấn Bắc Hà.

Niên biểu Nguyễn Du  1789-1792  có những sự kiện chính: Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, Nguyễn Huệ được phong làm quốc vương, Lê Quý Kỳ thua và chết thảm, Nguyễn Huệ bị chết đột ngột). Hồ Xuân Hương thực là ai? Hồ Xuân Hương Nguyễn Du luận thời thế. Lưu Hương ký và Truyện Kiều ẩn ngữ đời người, mối tình Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương sâu nặng tình nghĩa tri âm tri kỷ .“Chút riêng chọn đá thử vàng. Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu? Còn như vào trước ra sau. Ai cho kén chọn vàng thau tại mình? Từ rằng: Lời nói hữu tình. Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân. Lại đây xem lại cho gần. Phỏng tin được một vài phần hay không? Thưa rằng: Lượng cả bao dong. Tấn Dương được thấy mây rồng có phen …“.

BandoVietnam1760

Hình thế nước Đại Việt đàng Trong và đàng Ngoài năm 1760 (vẽ bởi công ty Cóvens e Mortier, Amsterdam) với bài viết  Nguyễn Du đêm thiêng đọc lại giúp chúng ta một góc nhìn toàn cảnh về thời thế và niên biểu Nguyễn Du từ năm 1766 đến 1789. Đại cục  thời điểm trước xuân Kỷ Dậu 1789 được tóm lược như sau:

đằng Trong, nhân lúc Bắc Hà biến loạn, vua Lê trốn vào rừng và phát chiếu cần vương, quân Thanh có thể can thiệp bất cứ lúc nào, Nguyễn Huệ phải lo đối phó từ hai phía. Ngày Đinh Dậu tháng 8 năm Mậu Thân (9.1788) Nguyễn Ánh công phá và bình định Sài Gòn – Gia Định, Đông Định Vương Nguyễn Lữ đã phải rút chạy về Quy Nhơn, Phạm Văn Tham tướng Nguyễn Nhạc lui về giữ những điểm trọng yếu ở Ba Thắc và Biên Hòa, đồng thời cấp báo về  Quy Nhơn xin viện binh. Nguyễn Nhạc không dám phát binh vì sợ Nguyễn Ánh thừa cơ mang thủy quân ra đột kích miền Trung. Nguyễn Vương nhân cơ hội này đã đánh rộng ra chiếm trọn Nam Bộ.

đằng Ngoài, vua Lê Chiêu Thống trốn chạy vào rừng ở Yên Thế Thái Nguyên Tuyên Quang chống lại Tây Sơn. Tướng Vũ Văn Nhậm và sau này là Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ không bắt được Lê Chiêu Thống nên đã lập chú vua là Lê Duy Cận làm Giám Quốc. Mẹ vua Lê Chiêu Thống đã cầu xin nhà Thanh viện binh giúp vua Lê phục quốc. vua Càn Long lợi dụng tình hình cho Tôn Sĩ Nghị, Ô Đại Kinh, Sầm Nghi Đống ba cánh quân của Lưỡng Quảng, Quý Châu – Vân Nam, Điền Châu chia đường sang cứu viện và nhân tiện cướp Đại Việt. Quân Thanh vào đến Thăng Long đã theo kế Càn Long lập Lê Chiêu Thống lên làm An Nam quốc vương để chống lại nhà Tây Sơn. Nguyễn Huệ tại Phú Xuân nhận được tin cấp báo đã lên ngôi Hoàng Đế để chính danh phận và lập tức kéo quân ra Bắc. Nhà Nguyễn Tiên Điền và những cựu thần nhà Lê trừ số theo vua bôn tẩu ra ngoài đều không được vua Lê tin dùng vì Nguyễn Khải anh Nguyễn Du vốn và thầy chúa Trịnh có thù sâu nặng với vua Lê. Nguyễn Huệ dụng binh như thần và khéo chia rẽ, mua chuộc nên nhiều cựu thần nhà Lê như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích và kể cả danh sĩ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp , anh trai Nguyễn Du là Nguyễn Nễ và và anh vợ Đoàn Nguyễn Tuấn đều lần lượt ra làm quan với nhà Tây Sơn, riêng Nguyễn Du thì không ra. Năm Kỷ Dậu (1789) Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Sầm Nghi Đống tự sát ở gò Đống Đa, Tôn Sĩ Nghị tháo chạy về Bắc, cánh quân của Ô Đại Kinh rút chạy,  Đồn Ngọc Hồi  với toàn bộ quân Thanh và danh tướng  Hứa Thế Hanh giữ đồn này đều bị diệt. Vua Quang Trung chiều ngày 5 Tết đã khải hoàn ở kinh thành Thăng Long. Các anh của Nguyễn Du ra làm  quan với nhà Tây Sơn. Phủ đệ của họ Nguyễn Tiên Điền bên hồ Tây được sửa lại. Nguyễn Du có ba năm vẹn sống cùng Hồ Phi Mai 1789-1992 ở đây để trầm tĩnh nhìn thời thế biến chuyển. Câu chuyện luận thời thế và anh hùng của họ cùng với những ẩn ngữ Lưu Hương ký và Từ Hải, Thúy Kiều chính là trong thời điểm này.

Năm Kỷ Dậu (1789). Nguyễn Du 25 tuổi. Ngay sau chiến thắng Kỷ Dậu 1789, Nguyễn Huệ đã cho ngựa chiến ruổi nhanh vào thành Phú Xuân báo tiệp cho Hoàng Hậu Lê Thị Ngọc Hân:

Đại phá quân Thanh gò chất xác
Đào ươm nghìn nụ hé môi say
Nhớ người tiễn rượu đêm ra trận
Tin đẹp lồng hoa gửi tặng đây

Kế đó, ông phái quân truy sát đuổi dài lực lượng chống đối, thực hiện các phương lược ngoại giao với nhà Thanh để được phong làm quốc vương, chính danh phận ở Bắc Hà, xây dựng thiết chế cai trị ổn định cho nhà Tây Sơn, sau đó trao lại binh quyền cho Ngô Văn SởNgô Thì Nhậm để trở lại Phú Xuân lo việc diệt Nguyễn Ánh.

Vua Quang Trung khi truy kích quân Thanh  đã bắt được chiếu thư Càn Long gửi Tôn Sĩ Nghị có đoạn viết: “…việc quân nên từ đồ, không nên hấp tấp. Hãy nên đưa hịch truyền thanh thế đi trước, và cho các quan nhà Lê về nước cũ hợp nghĩa binh, tìm Tự quân nhà Lê đem ra đứng đầu để đối địch với Nguyễn Huệ thử xem sự thể thế nào. Nếu lòng người nước Nam còn nhớ nhà Lê, có quân ta kéo đến ai chẳng gắng sức. Nguyễn Huệ tất phải tháo lui. Ta nhân dịp ấy mà sai Tự quân đuổi theo rồi đại binh của ta theo sau, như thế không khó nhọc mấy mà nên được công to. Đó là mẹo hay hơn cả. Ví bằng suốt người trong nước nửa theo đằng nọ, nửa theo đằng kia, thì Nguyễn Huệ tất không chịu lui. Vậy ta hãy đưa thư sang bảo đường họa phúc, xem nó đối đáp làm sao. Đợi khi nào thủy quân ở Mân (Phúc Kiến), Quảng đi đường bể sang Thuận HóaQuảng Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau thụ địch thế tất phải chịu. Bấy giờ ta sẽ nhân mà làm ơn cho cả hai bên: Tự đất Thuận Hóa, Quảng Nam trở vào Nam thì cho Nguyễn Huệ; tự châu Hoan, châu Ái trở ra Bắc thì phong cho Tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh lại để kiềm chế cả hai bên, rồi sẽ có xử trí về sau.”

Quang Trung từ trước khi giao chiến, đã tính trước kế sách ngoại giao với nhà Thanh.  Lúc Tôn Sĩ Nghị rêu rao “Ai bắt sống được Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đem nộp sẽ được công đầu” lúc sắp kéo quân sang Đại Việt, thì Ngô Văn Sở tướng Tây Sơn đã sai Nguyễn Nha  đưa thư ký tên Sùng nhượng công Lê Duy Cẩn đến Tôn Sĩ Nghị xin hoãn binh, với những lời lẽ thật mềm dẻo, nhưng lại có những cảnh báo cho quân Thanh thấy rằng nếu đem quân vào, nhân dân Đại Việt đã thực hiện vườn không nhà trống; quân đội thì sẵn sàng và kiên quyết đánh giặc, được thể hiện ở những câu sau: “…Hiện nay, trong nước tôi đột nhiên nghe tin quân Thiên triều sắp qua cửa ải…Lính thì sợ vướng víu vào nghịch án, nên họ bảo nhau rằng: “Không đánh lại thì bị giết sạch!” Dân thì sợ không lấy gì cung ứng cho quân lương, nên họ bảo nhau rằng: “Không trốn tránh thì bị chết hết!” Vì thế, quân các đạo đều tranh nhau đến nơi đồn lũy, dân các xứ đều xô nhau tìm vào nơi núi rừng…” Nhưng Tôn Sĩ Nghị, bác bỏ thư của Ngô Văn Sở, rồi cứ cho quân vượt trấn Nam Quan vào Đại Việt.

Tôn Sĩ Nghị lúc đã vào thành Thăng Long thì vua Quang Trung lại sai Trần Danh Bính dẫn đầu một sứ bộ gồm 18 người đến Thăng Long đưa cho Tôn Sĩ Nghị ba đạo bẩm văn: Một đạo nhân danh giám quốc Lê Duy Cẩn, một đạo nhân danh quần thần văn võ, một đạo nhân danh nhân dân xin Tôn Sĩ Nghị đóng quân ở trấn Nam Quan để tra xét nội tình nhà Lê và Tây Sơn từ trước đến giờ. Vua Quang Trung còn đem nộp cho Tôn Sĩ Nghị những tuần dương binh là nhóm Hắc Thiên Tôn gồm 40 người do Ngô Hồng Chấn, tướng Tây Sơn, bắt được từ trước.[10] Nhưng Tôn Sĩ Nghị xem bẩm văn liền xé phăng ngay đi, rồi sai đem bọn Trần Danh Bính ra giết. Sau đó, Tôn Sĩ Nghị cho truyền hịch đi các nơi kể tội quân Tây Sơn, báo cho mọi người biết, quân Thanh sẽ đánh thẳng vào Quảng Nam bắt sống “bọn Nguyễn Huệ” mới thôi.[11][12]

Vua Càn Long sau thất bại nặng nề của nhà Thanh trong chiến tranh với Tây Sơn đã sai danh tướng Phúc Khang An thay thế Tôn Sĩ Nghị làm Tổng đốc Lưỡng Quảng được giao quyền tùy cơ hành xử và điều động thêm 50 vạn quân để ứng chiến vùng biên giới nhằm hư trương thanh thế. Phúc Khang An nguyên là đặc sứ phụ trách hậu cần cho đội quân của Tôn Sĩ Nghị là người mà vua Càn Long đặc biệt yêu quý và tin cẩn, dân gian cho rằng đó là con ngoài giá thú của vua với em gái của Hoàng Hậu.

Năm 1789, kho vàng tại tu viện Mật Tông ở Tây Tạng đang là điểm quan tâm lớn nhất của vua Càn Long đang bị quân Khuếch Nhĩ Khách Mông Cổ dòm ngó chuẩn bị tấn công. Vua Càn Long đã 78 tuổi có tính toán riêng về người kế vị là Hoàng tử Gia Khánh và phúc tướng Phúc Khang An nên việc cơ mật này không thể ai khác chính phải là Phúc Kháng An đảm nhiệm. Lưỡng Quảng và Đại Việt cũng cần sớm an định vì điểm nóng Cam Túc đang làm vua Thanh rất lo nghĩ, trong khi Nguyễn Huệ anh dũng thiện chiến không thể xem thường nên vua Càn Long lựa ý vỗ về hơn là đem binh thảo phạt.

Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp sớm biết tình thế nên đã đón ý hoặc phân vai mật trao đổi với Tây Sơn. Nguyễn Huệ thấy rõ chỗ yếu của quân Thanh và biết họ đang tìm cách để giảng hòa, trong khi ông cũng đang bận tâm xử lý phía Nam. Do vậy sau khi Nguyễn Huệ thắng trận đã sai mang nhiều vàng bạc hối lộ Phúc Khang An và Tả giang Binh bị đạo Thang Hùng Nghiệp để nghị hòa và cho cháu là Nguyễn Quang Hiển lên cửa ải Nam Quan cầu phong và xin cho Nguyễn Huệ được về Bắc Kinh triều kiến Càn Long. Mưu mẹo này thông đồng giữa hai bên với sự thách giá trả giá bên trong và cách qua mặt vua Lê Chiêu Thống cùng số cựu thần nhà Lê và hợp lý hóa trong chính sử xin xem kỹ bài viết “Ngoại giao Việt Nam thời Tây Sơn” là tư liệu quý.

Lê Chiêu Thống lại tiếp tục xin nhà Thanh cho quân cứu viện. Nhà Thanh, phần sợ Quang Trung, phần đã ngán ngẩm việc chinh chiến, chỉ hứa hão với Chiêu Thống mà không cho quân. Thân vương nhà Thanh là Phúc Khang An hứa giúp quân cho Chiêu Thống, nhưng lại tâu với vua Thanh Càn Long rằng Chiêu Thống không còn muốn trở về. Phúc Khang An đã được hưởng lợi từ Tây Sơn và nhận rõ tình thế, nên đã dâng biểu xin hoàng đế Càn Long bãi binh, đồng thời ông cũng chỉ thị cho Thang Hùng Nghiệp gửi mật thư cho Quang Trung gợi ý nên hoà hiếu, tránh binh đao và lập các mẹo mực bang giao để giữ thể diện cho vua Càn Long mà tránh được chiến tranh.

Thư ngoại giao “Trần tình biểu” của vua Quang Trung lúc đầu khá cứng rắn nhưng với sự mưu kế của Thang Hùng Nghiệp nên đã nhẹ đi rất nhiều (5). Tây Sơn theo phương lược vạch sẵn, với tài ngoại giao khéo léo của Ngô Thì Nhậm, đã nhanh chóng bình thường hóa bang giao với phương Bắc.

Nhà Thanh đồng ý hủy bỏ việc động binh để trả thù, và tiếp nhận sứ thần của Tây Sơn. Vua Quang Trung phải dâng biểu “Nộp lòng thành”, nộp cống phẩm. Nhà Thanh đã chịu chấm dứt chiến tranh, nhưng vẫn chưa chịu thừa nhận Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương. Phúc Khang An viết cho vua Quang Trung một bức thư dài báo cho vua Quang Trung biết là vua Càn Long đã ban cho Quang Trung một chuỗi hạt trai, “Ơn trời cao đất dày đến thế là tốt lắm” lại báo cho vua Quang Trung biết rằng: bọn Lê Duy Kỳ đã bị róc tóc, mặc quần áo kiểu người Thanh, đã bị đưa đi an trí ở “ngoại biên” “quyết không cho về nước nữa”. Rồi sau đó Phúc Khang An đòi Tây Sơn phải làm miếu thờ Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Đống. Lại cho biết là khoảng tháng bảy, tháng tám năm Canh Tuất (1790) nhà Thanh sẽ làm lễ bát tuần vạn thọ vua Càn Long “Có hàng vạn nước vượt biển trèo non đem ngọc xe lễ vật đến chầu“. Phúc Khang An yêu cầu vua Quang Trung đến ngày đó cũng phải “chỉnh trang” sang chầu, và như thế phải khởi hành vào tháng tư năm Canh Tuất (1790) Đáng chú ý là sau đó, vua Càn Long xuống chỉ cho vua Quang Trung đại ý nói: do quân Thanh vượt biên giới đến Thăng Long, Nguyễn Huệ phải đem quân ra để hỏi Lê Duy Kỳ vì cớ gì cầu cứu thiên binh; vì bị quân Thanh đánh, quân Tây Sơn bất đắc dĩ phải đánh lại; gặp lúc cầu phao đứt, nên quân Thanh bị chết hại nhiều. Trong tờ chỉ Càn Long còn nhận rằng Nguyễn Huệ đã bắt và giết hết những người đã giết Hứa Thế Hanh và Sầm Nghi Đống. Ông còn cho rằng khi quân Thanh vào Thăng Long, ông đã ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị rút quân về nước, vì Sĩ Nghị không tuân lệnh, cho nên có trận đại bại vào đầu năm Kỷ Dậu. Ông lại đòi lập đền thờ Hứa Thế Hanh và Sầm Nghi Đống, và đòi vua Quang Trung phải đích thân sang Yên Kinh triều cận vào dịp Càn Long làm lễ bát tuần vạn thọ năm Canh Tuất. Ông lại nhắc rằng “Lê Duy Kỳ hèn lười, không tài, bỏ ấn trốn đi, chiểu theo pháp luật của Thiên triều phải tội nặng; rằng ông quyết an trí bọn chúng ở Quế Lâm, không bao giờ cho về nước nữa; rằng ông đã ra lệnh cho Phúc Khang An đưa phái đoàn Nguyễn Quang Hiển đến xem chỗ bọn Lê Duy Kỳ ở”.[17][18] Nhưng rồi vua Quang Trung viện cớ là mình chưa được phong vương, sợ có điều bất tiện khi gặp các vị quốc vương các nước ở Yên Kinh. Thế là Càn Long đành phải phong cho Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương để có điều kiện đến Yên Kinh triều cận một cách đàng hoàng.  Vua Càn Long qua Phúc Khang An lại ra điều kiện đòi triều Tây Sơn phải đúc người vàng đem cống như các triều đại trước. Ngô Thì Nhậm đã viết cho Phúc Khang An bức thư, trong đó có đoạn: “Quốc trưởng nước tôi vùng lên từ thủa áo vải, nhân thời biết việc, đối với vua Lê vốn không có danh phận vua tôi. Mất hay còn là do số trời; theo hay bỏ là do lòng người. Quốc trưởng tôi có ý cướp ngôi của nhà Lê đâu mà lại coi như kẻ thoán đoạt. Trước đây Tôn bộ đường đem quân đến, quốc trưởng nước tôi bất đắc dĩ phải đem quân ra ứng chiến, không hề có ý xâm phạm biên cảnh để mang tội. Nay đại nhân theo lệ cũ của Trần, Lê, Mạc bắt cống người vàng, như vậy chẳng hóa ra quốc trưởng nước tôi được nước một cách quang minh chính đại mà lại bị coi như hạng ngụy Mạc hay sao? Như thế thì tấm lòng kính thuận sợ trời thờ nước lớn cũng bị coi như việc nhà Trần bắt Ô Mã Nhi, nhà Lê giết Liễu Thăng hay sao?…Mong đại nhân noi theo mệnh lớn, miễn cho nước tôi lệ đúc người vàng để tiến cống…” Nguyễn Huệ trong thư này đã nói rõ rằng các vua Việt Nam thời trước sở dĩ phải cống người vàng là để chuộc một tội lỗi nào đó đối với Thiên triều còn Nguyễn Huệ tự coi không có tội gì với nhà Lê và cũng không có tội gì với nhà Thanh nên Tây Sơn không thể đúc người vàng để tiến cống.

Tháng 7 năm 1789, Càn Long ra chỉ dụ phong Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương.

Năm Canh Tuất (1790). Nguyễn Du 25 tuổi. Tháng 1 năm 1790, Hoàng đế Quang Trung giả (do Phạm Công Trị, cháu gọi Nguyễn Huệ bằng cậu đóng) đã sang triều kiến và dự lễ mừng thọ 80 tuổi của vua Càn Long. Đoàn sứ bộ Tây Sơn gồm 159 người có giả vương Nguyễn Huệ và Nguyễn Quang Thùy (mà vua Càn Long tưởng là hoàng thái tử của Nguyễn Huệ). Mục đích khác của đoàn sứ là thăm dò thái độ của nhà Thanh đối với vị vua lưu vong Chiêu Thống của nhà Lê. Đại quan nhà Thanh là Phúc Khang An, từng sang chiến trường Đại Việt, đứng sau lưng đoàn sứ bộ, nên nhiều tướng lĩnh nhà Thanh biết người cầm đầu sứ bộ không phải Nguyễn Huệ, nhưng ngại gây hấn nên không nói ra.

Sứ thần Tây Sơn đi đợt đó có Ngô Văn SởPhan Huy Ích (thượng thư, nhà ngoại giao, quê Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh,  tiền bối của nhà sử học Phan Huy Lê, giáo sư nhà giáo nhân dân, là một trong những chuyên gia hàng đầu về lịch sử Việt Nam hiện đại, người có ảnh hưởng lớn đến chính sử hiện tại trong sự đánh giá nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn), Vũ Huy Tấn ( Thị lang bộ Công, tước , sau khi đi sứ về ông được phong làm Thượng thư bộ Công, tước Hạo Trạch hầu. Dưới triều Cảnh Thịnh, ông được đặc cách lên hàng Thượng trụ quốc, Thị trung đãi chiếu Thượng thư). Sứ đoàn Tây Sơn lần đó cũng có Nguyễn Nể là anh cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du và  Đoàn Nguyễn Tuấn là anh vợ Nguyễn Du. Dọc đường đi, đoàn sứ giả có gặp hành tung của một số người họ Nguyễn ở Quảng Tây và sau đó cùng đi lên Yên Kinh. Người đời sau ngờ rằng đó chính là Nguyễn Du và Hà Mỗ.

Đoàn sứ thần Tây Sơn có giả vương Nguyễn Huệ làm thế nào để che mắt sứ đoàn vua Lê Chiêu Thống hiển nhiên có mặt ?. Phúc Khang An đã ngầm thông đồng mưu kế với Tây Sơn: “Tìm một người diện mạo giống quốc vương đi thay. Việc này chỉ có Công gia, Thang đại nhân, Vương đại nhân và ta là bốn người biết mà thôi. Nếu sợ Lê Duy Kỳ biết, ta bẩm ngay với Công gia đem 1000 người bọn ấy giữ kỹ không cho ra ngoài, còn ai biết được nữa”. (theo Bang giao tập, ngoại giao nhà Tây Sơn).

Mưu lược ngoại giao của nhà Tây Sơn mua chuộc Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp qua các chứng cứ của Phan Huy Ích và Bang giao tập, với tình thế nhà Thanh đang rất chú tâm đến Tây Tạng, Cam Túc và chuyển giao ngai vàng. Phúc Khang An cần nhanh chóng lập được đại công quản lý Lưỡng Quảng và vỗ yên Đại Việt để tính toán vị thế đối trọng danh chính ngôn thuận với ngôi vua mà vua Càn Long cần phải chuyển giao cho Gia Khánh đang đến rất gần. Điều này đã ảnh hưởng sâu sắc tới kế sách, thái độ của vua Càn Long và Phúc Khang An đối với Lê Duy Kỳ.Vua Càn Long đã đón tiếp trọng thể đoàn sứ bộ An Nam của nhà Tây Sơn là có lý do ẩn ý riêng. Theo “Đại Thanh thực lục”, nhà Thanh chi phí cho sứ đoàn mỗi ngày hết 4.000 lạng bạc (tổng cộng lên đến 800.000 tính cho tới khi sứ đoàn về).[55] Ngày 11 tháng 7 năm Canh Tuất, vua Càn Long tiếp “vua” Tây Sơn ở hàng cung Nhiệt Hà, Càn Long tặng “Vua” Tây Sơn một bài thơ như sau:

Nguyên văn chữ Hán:

瀛藩入祝值時巡
初見渾如舊識親
伊古未聞來像國
勝朝往事鄙金人
九經柔遠只重澤
嘉會於今勉體仁
武偃文修順天道
大清祚永萬千春
Phiên âm Hán Việt:Doanh phiên nhập chúc trị thì tuần
Sơ kiến hồn như cựu thức thân
Y cổ vị văn lai Tượng quốc
Thắng triều vãng sự bỉ kim nhân
Cửu kinh nhu viễn chi trùng dịch
Gia hội ư kim miễn thể nhân
Vũ yển văn tu thuận thiên đạo
Đại Thanh tộ vĩnh vạn thiên xuân.
Tạm dịch là:Nước phiên đến lúc ta đi tuần
Mới gặp mà như đã rất thân
Nước Tượng chưa từng nghe triều cận
Việc cống người vàng thật đáng khinh
Nhà Thanh coi trọng việc đi sứ
Chín đạo thường có đạo vỗ yên
Xếp võ tu văn thuận thiên đạo
Đại Thanh còn mãi vạn ngàn xuân.[56]

Tới tháng 11 năm 1790, đoàn sứ bộ nhà Tây Sơn trở về Thăng Long. Trên đường về đoàn vẫn được tiếp đón long trọng hệt như lúc đi. Phan Huy Ích có ghi lại trong Tinh sà kỷ hành của ông như sau: Chuyến đi này được nhà vua (Càn Long) đặc cách cho quan Tổng đốc đi bạn tống. Thuyền, xe, cờ, quạt quáng cả mắt người ta. Đi đến đâu quan lại phải bôn tẩu đón tiếp đến đó. Mùa thu đến hành cung ở Nhiệt Hà, lại được theo xa giá về Yên Kinh, đi Tây Uyển. Luôn luôn tiến yến hàng tuần, được ơn trời âu yếm, ưu đãi khác thường. Từ trước đến giờ, người mình đi sứ Trung Quốc chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế.

Sách Bang giao tập viết: “Đại Hoàng đế sợ Duy Kỳ ở Quảng Tây còn có nhiều bầy tôi cũ gây ra việc, cho nên ngày 16 tháng giêng năm Canh Tuất đã cho đem gia quyến Lê Duy Kỳ lên Yên Kinh, đem 116 người tùy tùng đi an trí ở các tỉnh Triết Giang, Giang Nam, Tứ Xuyên, Hồ Quảng. Lê Quýnh bị đưa đi Ỷ Lệ cách Yên Kinh 40000 dặm”. Nhà Thanh sai phân tán các quan lại cũ của nhà Lê đi các nơi để tách biệt không liên lạc được với nhau và cô lập Lê Duy Kỳ.  Bản thân Lê Duy Kỳ bị giam lỏng ở “Tây An Nam dinh” tại Yên Kinh . Nhà Tây Sơn chính thức nhận được sự công nhận của nhà Thanh.

Lê Quý Kỳ và các cựu thần nhà Lê có đối sách ngoại giao gì? sách Cương mục viết: “Nhà vua căm giận vì bị người Thanh lừa gạt, bèn cùng các bầy tôi là bọn Phạm Như Tùng, Hoàng Ích Hiểu, Lê Hân, Nguyễn Quốc Đống, Nguyễn Viết Triệu, Lê Quý Thích, Nguyễn Đình Miên, Lê Văn Trương, Lê Tùng và Lê Thức mười người uống máu ăn thề, làm bài biểu định đưa lên vua Thanh để xin quân cứu viện, nếu không được thì xin được đất hai châu Tuyên QuangThái Nguyên để quay về giữ việc thờ cúng tổ tiên hay là cùng nhau lén về Gia Định, nương nhờ triều ta (triều Nguyễn) để dần dà toan tính việc khôi phục, chứ quyết không chịu sống thừa ở đất Bắc.”

Năm Tân Hợi (1791). Nguyễn Du 26 tuổi.  Lê Duy Kỳ thấy không thể mong chờ viện binh của quân Thanh nên đã trở về chiếm đất Tuyên Quang, Cao Bằng dựa vào thế lực của tù trưởng Nùng Phúc Tấn, Hoàng Văn Đồng, liên kết với Trình Cao, Quy Hợp, các vùng Trấn Ninh của Vạn Tượng mưu đánh Nghệ An.  Nguyễn Huệ sai trấn tướng Nguyễn Quang Diệu và đô đốc Nguyễn Văn Uyển đem năm nghìn tinh binh theo đường thượng lộ Nghệ An tiến đánh chiếm được Trấn Ninh, diệt Trịnh Cao, Quy Hợp. Vua nước Vạn Tượng phải bỏ thành mà chạy. Quang Diệu thừa thắng đuổi dài đến tận Xiêm La, chém tướng Vạn Tượng là tả súy Phan Dung và hữu súy Phan Siêu, sau đó kéo quân về Bảo Lộc. Nùng Phúc Tấn và Hoàng Văn Đồng thế cùng không chống đỡ nổi đều bị quân Quang Diệu giết chết. Nguyễn Quýnh em Nguyễn Du quay trở về Hồng Lĩnh khởi nghĩa bị bắt và bị giết năm 1791 tròn 30 tuổi, dinh thự và làng Tiên Điền bị đốt sạch. Vua Lê Chiêu Thống cô thế với các cựu thần trung thành lại phải về Yên Kinh.

Năm Nhâm Tí (1792). Nguyễn Du 27 tuổi. Nguyễn Huệ cầu hôn với công chúa Thanh và xin đất Lưỡng Quảng để thử ý vua Thanh. Lê Chiêu Thống con trai chết, đau buồn, chán nản nên ngã bệnh.

Đầu năm 1792, vua Quang Trung lại sai sứ bộ sang Yên Kinh, mang các cống phẩm dâng Càn Long gồm: chiến lợi phẩm lấy được ở Vạn Tượng, sách binh thư của Đại Việt và một quyển sử viết về triều đại Lê Chiêu Thống. Ông cũng cầu hôn với công chúa Thanh và xin đất Lưỡng Quảng. Trong Bang giao hảo thoại mà Ngô Thì Nhậm là người chép lại vẫn còn hai văn bản ngoại giao đó. Tờ biểu chính thức đặt vấn đề xin làm con rể vị Thiên Tử nước Đại Thanh như sau: “Thần vốn là một kẻ áo vải đội ơn Thánh Hoàng cho giữ cõi Nam. Khi vào triều cận nơi cung khuyết đã được thấy rõ thiên nhan để vấn an, lại được ban thưởng rất nhiều. Phàm những việc mà ở cõi Nam Giao từ xưa đến nay chưa ai được hưởng, đều được (Thánh Hoàng). Đến khi thần lĩnh chỉ về nước, ngửa trông thánh ân đoái đến, ân chỉ ban luôn. Lồng lộng lòng nhân của Thánh Hoàng không thể tả sao cho xiết…Vua nhà Đại Thanh ta vâng chịu mệnh trời có muôn phương đất, những nơi soi đến đều nuôi nấng như con, rộng như doanh hoàn không để ra ngoài sân điện… Trộm nghĩ: Muôn vật không ẩn tình với trời đất, con cái không giấu tình với cha mẹ. Việc gia đình tâm sự đâu dám không bày tỏ với bậc chí tôn. Vừa đây thần bị vận đen, trong nhà thiếu người đơm cúng. Cơ đồ mới gây dựng, thuyền vuông ít người giúp đỡ. Cây ngọc muốn được nương nhờ, khóm dân mong được giữ vững. Ngước thấy Thanh triều gây nền từ núi Thăng Bạch, dựng nên nghiệp vua, con cháu ức muôn, đời đời phồn thịnh. Từ trước đến nay chế độ nhà trời, công chúa gả xuống, tất phải người tôn quý mới chọn đẹp duyên, không có lệ rộng ra đến các bầy tôi ở ngoài. Phận đã nghiêm chia ra trong ngoài như thế, thật khó mà với đến được. Chỉ vì một niềm tôn mến, riêng trông ngóng, trằn trọc không thôi. Trộm mong cành ngọc nhà trời rộng lan đến cả kẻ ngoại phiên ở dưới, khiến thần được ngửa đội ơn lành gần gụi gót lân…Chỉ vì quá phận cầu ơn, việc không phải là thường cách, mưu với mọi người chấp sự, không ai dám đề đạt lên cho. Muôn dặm cửa vua ngày ngày trông ngóng. Nay dám không tự lượng, mạo muội giãi bày lòng thành. Kính cẩn sai kẻ bồi thần sang chầu hầu, sau khi tâu bày rồi sẽ vì thần mà giãi bày lòng thực.

Để thăm dò thái độ nhà Thanh, vua Quang Trung lại giao việc này cho Vũ Văn Dũng, một viên tướng tin cậy quê ở Hải Dương. Vũ Văn Dũng mang hai tờ biểu sang Yên Kinh trực tiếp đặt hai vấn đề trên với vua Càn Long. Vua Quang Trung đã tính đến trường hợp phải dùng lực lượng quân sự đối phó với nhà Thanh, khi vua Càn Long nổi giận. Ông đã chuẩn bị đương đầu với mọi sự bất trắc, đó là nuôi dưỡng nhóm Tề Ngỗi (Tàu Ô) và Thiên Địa Hội. Trong trường hợp chiến tranh Việt Thanh lại xảy ra các nhóm này sẽ trở thành những lực lượng hỗ trợ đắc lực.  Khi vua Quang Trung trù tính việc xin đất làm đô và cầu hôn thì lúc này Vũ Văn Dũng đang nghỉ ở quê nhà trong trấn Hải Dương. Vua Quang Trung đã hạ sắc chỉ cho họ Vũ như sau: ““Sắc truyền cho Hải Dương Chiêu viễn đô đốc tướng quân dực vận công thần Vũ quốc công được gia phong chức chánh sứ đi sứ nước Thanh, được toàn quyền trong việc đối đáp tâu xin hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây để dò ý và cầu hôn một vị công chúa để chọc tức. Phải thận trọng đấy! Hình thế trong chuyến dụng binh đều ở chuyến đi này. Ngày khác làm tiên phong (đánh nước Thanh) chính là khanh đấy. Kính thay sắc này!”

Câu Hình thế trong chuyến dụng binh đều ở chuyến đi này, cho thấy Vũ Văn Dũng đi sứ nước Thanh không phải chỉ có các nhiệm vụ trên mà còn phải dò xét nội tình nhà Thanh, quan sát địa hình địa vật những nơi ông đi qua để một khi chiến tranh Việt Thanh lại bùng nổ thì quân Tây Sơn có thể có một số tin tức tình báo cần thiết mà tổ chức cuộc hành quân.

Theo gia phả họ Vũ, thì Vũ Văn Dũng cầm đầu sứ đoàn đã đến Yên Kinh và được vào bệ kiến vua Càn Long. Vũ Văn Dũng đã hoàn thành cả hai nhiệm vụ: cầu hôn và xin đất làm đô. Sau khi nghe lời tâu xin của Vũ Văn Dũng, vua Thanh giao vấn đề này cho đình thần bàn xét. Ngày hôm sau Vũ Văn Dũng lại được vào bệ kiến Càn Long ở Ỷ Lương các và vua Càn Long đã đồng ý trao đất Quảng Tây cho vua Quang Trung để làm đô và gả một công chúa cho vị thủ lĩnh Tây Sơn. Về việc cầu hôn, sau buổi tiếp sứ thần Đại Việt, vua Càn Long ra lệnh cho bộ lễ sửa soạn nghi lễ và định ngày cho công chúa nước Đại Thanh sang đẹp duyên cùng vua Đại Việt.

Nguyễn Huệ sau khi đã được nhà Thanh phong làm An Nam quốc vương và truy sát đuổi dài tận diệt những mầm mống hồi phục nhà Lê và các cựu thần nhà Lê ứng nghĩa, đã đặt thể chế Hoàng Đế, lập Lê Thị Ngọc Hân làm Bắc Chính cung Hoàng hậu, phong con trưởng là Nguyễn Quan Toản làm thái tử, chọn Nghệ An làm thủ đô với tên Phượng Hoàng trung đô, đắp thành đất ở núi Kỳ Lân, dựng lầu điện, chia cả nước thành các trấn để cai trị, định quan danh, làm sổ ba tịch đinh điền, phát thẻ tín lệnh (tương tự CMND ngày nay) để quan lý hộ tịch hộ khẩu. Về đối ngoại xin mở cửa ải hải quan giao thương với nhà Thanh ở Cao Bằng, Lạng Sơn để dân hai nước họp chợ thông thương, lại xin đặt phái bộ đại diện ở phủ Nam Ninh trong nội địa Trung Quốc, xin cưới công chúa nhà Thanh. Tất cả những điều Nguyễn Huệ đề đạt với vua Càn Long đều được vua Càn Long đồng ý.

Quang Trung chia vùng cai quản thuộc đất nhà Lê cũ thành các xứ (trấn) như sau:

  1. Xứ Đông (Hải Dương)
  2. Xứ Bắc (Kinh Bắc)
  3. Xứ Đoài (Sơn Tây)
  4. Xứ Yên Quảng
  5. Xứ Lạng (Lạng Sơn)
  6. Xứ Thái (Thái Nguyên)
  7. Xứ Tuyên (Tuyên Quang)
  8. Xứ Hưng (Hưng Hóa)
  9. Xứ Nghệ (Nghệ AnHà Tĩnh)
  10. Sơn Nam Thượng (Hà ĐôngHà Nam)
  11. Sơn Nam Hạ (Nam ĐịnhThái Bình)
  12. Thanh Hóa ngoại (Ninh Bình)
  13. Thanh Hóa nội (Thanh Hóa).
  14. Thuận Hóa
  15. Quảng Nam

Thuận Hóa là đất căn bản khởi nghiệp của Nguyễn Huệ được vua anh Nguyễn Nhạc phong Bắc Bình Vương cho vua em trước đây. Quảng Nam là đất Nguyễn Huệ chiếm thêm của Nguyễn Nhạc khi hai anh em bất hòa năm 1786-1788 (dẫn đến giết hại tướng giỏi của nhau Nguyễn Nhạc giết công thần Nguyễn Thung năm 1787, Nguyễn Huệ giết danh tướng Vũ Văn Nhậm năm 1788 Nguyễn Lữ chán nản và lo sợ Phạm Văn Tham phản trắc nên tự ý bỏ Gia Định trở về Quy Nhơn).  Vùng Bắc Hà (đàng Ngoài cũ) vua Quang Trung tổ chức lại các xứ đều đại thể giữ nguyên như thời Hậu Lê trừ xứ Sơn Nam và Thanh Hóa ra tách làm hai. Trước kia Phố Hiến là lỵ sở của Sơn Nam, tới thời Quang Trung thì Hạ Trấn đóng ở Vị Hoàng, cách dưới phố Hiến. Trong các trấn trên thì các trấn Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên và Yên Quảng là ngoại trấn; các trấn Thanh Hóa ngoại, Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Kinh Bắc, Hải Dương và Phụng Thiên là nội trấn. Mỗi xứ (trấn) chia làm nhiều phủ, mỗi phủ chia làm nhiều huyện, mỗi huyện chia làm nhiều tổng, mỗi tổng chia làm nhiều xã, mỗi xã lại chia nhiều thôn. Thành Thăng Long gồm 1 phủ, 2 huyện, 18 phường.

Vua Quang Trung tổ chức máy hành chính gồm: Tam công, Tam thiếu, Đại chủng tể, Đại Tư đồ, Đại Tư khấu, Đại Tư mã, Đại Tư không, Đại Tư Lệ, Thái úy, Ngự úy, Đại Tổng quản, Đại Đô hộ, Đại đô đốc, Đô đốc, Nội hầu, Hộ giá, Điểm kiểm, Chỉ huy sứ, Đô ty, Đô úy, Trung úy, Vệ Úy, Tham đốc, Tham lĩnh, Trung Thư lệnh, Phụng Chính, Thị Trung đại học sĩ, Hiệp biện đại học sĩ, Lục Bộ Thượng thư, Tả – Hữu đồng nghi, Tả – Hữu phụng nghi, Thị Lang, Tư vụ, Hàn Lâm… Mỗi trấn đặt một trấn thủ về hàng võ và một hiệp trấn về hàng văn. Mỗi huyện đặt một văn phân tri, một võ phân suất, một tả quản lý và một hữu quản lý. Công việc của quan văn là trưng đốc binh lương, xét xử từ tụng. Phận sự của quan võ là coi quản và thao diễn quân lính từ Đạo đến Cơ, từ Cơ đến Đội. Trong các xã, thôn thì có xã trưởng, thôn trưởng. Hàng tổng thì đặt Tổng trưởng (như chức Chánh Tổng về sau) để giữ việc hành chính trong một tổng. Ông đồng thời cũng cho soạn một bộ luật tên là “Hình luật thư”, nhưng chưa xong thì ông đột ngột mất nên mãi không hoàn thành.

Về xây dựng bộ máy hành chính, bổ nhiệm quan lại, thu hút nhân tài và giáo dục đào tạo, Quang Trung rất chú trọng thu dụng các nhân tài từng phục vụ nhà Lê. Ông ban “Chiếu cầu hiền” có đoạn: “Trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng thấy đến. Hay Trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự?… Trẫm nơm nớp lo nghĩ, một ngày hai ngày cũng có hàng vạn sự việc nảy sinh Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn – sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình – sức một người không thể đảm đương”.ác cựu thần nhà Lê cũ, tiêu biểu là các tiến sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Nễ, Nguyễn Huy Lượng, Bùi Dương Lịch… đã ra giúp nhà Tây Sơn. Danh sĩ Nguyễn Thiếp sau nhiều lần từ chối, cuối cùng cũng nhận lời xuống núi giúp vua Quang Trung (xem thêm: Giáo dục khoa cử thời Tây Sơn)

Chiếu chỉ của Quang Trung ra năm 1792 về việc dịch sách chữ Hán sang chữ Nôm.

Quang Trung bỏ Hán ngữ như là ngôn ngữ chính thức trong các văn bản của quốc gia. Ngôn ngữ chính thức được sử dụng là tiếng Việt và được viết trong các văn kiện hành chính bằng hệ thống chữ Nôm. Quang Trung quy định các bài hịch, chiếu chỉ phải soạn bằng chữ Nôm; đề thi viết bằng chữ Nôm, và các sĩ tử phải làm bài bằng chữ Nôm. Ông còn chủ trương thay toàn bộ sách học chữ Hán sang chữ Nôm nên năm 1791 đã cho lập “Sùng chính viện” để dịch kinh sách từ Hán sang Nôm. Theo sách Tây Sơn lược thuật, ông chọn một quan văn “5 ngày một lần vào cấm cung để giảng giải kinh sách”.[63] Ngoài ra, Quang Trung quan tâm đưa việc học đến tận thôn xã. Trong “Chiếu lập học” ông lệnh cho các xã:“Phải chọn Nho sĩ bản địa có học thức, có hạnh kiểm đặt làm thầy dạy, giảng tập cho học trò”.

Về tôn giáo: Quang Trung đề cao chính sách tự do tín ngưỡng: trọng Nho giáo, bảo đảm hoạt động cho Phật giáo và Công giáo, các tu sĩ, giáo sĩ được tự do hoạt động, truyền đạo, xây dựng chùa chiền và nhà thờ, nhưng bài trừ mê tín dị đoan rất mạnh, chấn chỉnh lại việc tu hành: nhiều chùa ở các làng có mà người tu hành lạm dụng để truyền bá mê tín dị đoan bị đập bỏ để xây duy nhất một ngôi chùa ở huyện cấp trên, đồng thời những người tu hành không đạo đức, những kẻ lưu manh, lười biếng đều phải hoàn tục.

Về kinh tế: vua Quang Trung rất quan tâm khẩn hoang, phân phối đất đai cho những người nông dân nghèo, thúc đẩy thủ công nghiệp từng bị cấm trước kia, đề cao thương nghiệp và mở rộng quan hệ buôn bán giữa Đại Việt với nước ngoài. Ông khuyến khích giao thương giữa các thương thuyền nước ngoài và các thương thuyền của Đại Việt. Thuế ruộng được chia làm ba hạng ruộng tốt, ruộng khá và ruộng vừa, nộp thuế công điền tương ứng nhất đẳng điền 150 bát thóc, nhị đẳng điền 80 bát thóc, tam đẳng điền 50 bát thóc, nộp thuế tư điền tương ứng là  40,  30 và 20 bát thóc. Các loại thuế khác cũng vậy, đơn giản, chặt chẽ và nghiêm để phòng ngừa tham nhũng.

Về theo dõi nhân khẩu. Người dân được phân 4 hạng theo lứa tuổi: 9-17 tuổi là hạng “vị cập cách”; 18-55 tuổi là hạng “tráng”; 55-60 tuổi là hạng “lão”; 60 tuổi trở lên là hạng “lão nhiêu”. Ông còn cho làm thẻ bài “Thiên hạ đại tín” bằng gỗ có khắc họ tên, quê quán của người mang không phân biệt giàu sang nghèo hèn.

Trong lúc vua Quang Trung vẫn phải lo ổn định tình hình Bắc Hà và tiêu diệt tàn dư của nhà Lê còn sót lại thì Nguyễn Ánh được người Pháp hỗ trợ đã kéo ra đánh Bình Thuận, Bình Khang, Diên Khánh, quân của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc liên tiếp bại trận và mất mấy thành này. Cho tới năm 1791, Nguyễn Nhạc chỉ còn cai quản Quy Nhơn, Phú Yên và Quảng Ngãi.

Quang Trung không chỉ muốn hòa hoãn với Càn Long mà còn muốn xuất quân đánh nhà Thanh. Trước khi tính chuyện đánh Thanh, nhà vua cho quấy rối nội địa Trung Quốc bằng cách lợi dụng đảng “Thiên Địa Hội” khiêu khích người Thanh. Các biên thần nhà Thanh như Phúc Khang An (mới thay Tôn Sĩ Nghị) tuy biết rõ Tây Sơn có bí mật nhúng tay, nhưng cũng chịu nhịn cho qua chuyện.

Tháng 5 năm Nhâm Tý, tức năm Càn Long thứ 57 (1792), con trai cựu hoàng Lê Chiêu Thống bị ốm chết. Các cận thần nhà Lê theo vua số thì bị giam giữ, số thì lưu tán, cơ may phục quốc không còn hi vọng, Lê Chiêu Thống ngã bệnh nặng.

Vua Quang Trung ý định cưới con vua và xin đất định đô chưa kịp trở thành hiện thực thì ông chết đột ngột vào ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (16 tháng 9 năm 1792), lúc khoảng 11-12 giờ đêm. Nguyễn Huệ qua đời, ở ngôi được 4 năm, hưởng thọ 40 tuổi, miếu hiệu là Thái Tổ Vũ hoàng đế. Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân đã viết bài “Tế vua Quang Trung” và bài “Ai Tư Vãn” để bày tỏ nỗi đau khổ và tiếc thương cho người chồng anh hùng sớm ra đi.

Thi hài Quang Trung được táng ngay tại Phú Xuân, được táng ở cung điện Đan Dương. Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi, tức là vua Cảnh Thịnh, sai sứ sang nhà Thanh báo tang và xin tập phong. Đô đốc Vũ Văn Dũng đang đi sứ nhà Thanh ở Bắc Kinh, nghe tin Quang Trung mất liền làm bài thơ viếng như sau:
Bố y phân tích ngũ niên trung
Mai cố thi vi tự bất đồng
Thiên vị ngô hoàng tăng nhất kỷ
Bất y Đường Tống thuyết anh hùng

Dịch:
Năm năm dấy nghiệp tự thân nông
Thời trước thời sau khó sánh cùng
Trời để vua ta thêm chục tuổi
Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng.

Vua Càn Long tặng tên hiệu cho Nguyễn Huệ là Trung Thuần, lại thân làm một bài thơ viếng và cho một pho tượng, 300 lạng bạc để sửa sang việc tang. Sứ nhà Thanh đến tận mộ ở Linh Đường (mộ giả) thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội) để viếng.

Nguyên nhân cái chết của vua Quang Trung theo các tài liệu đều cho rằng ông chết vì do đột tử bởi một cơn tăng huyết áp đột ngột. Bác sĩ Bùi Minh Đức khảo cứu các nguồn tư liệu lịch sử và kết luận rằng Nguyễn Huệ “xuất huyết não dưới màng nhện; nguyên nhân tử vong: do viêm phổi sặc“. Theo  Hoàng Lê nhất thống chí, thì vua Càn Long hình như đã biết việc này, bằng chứng là khi Quang Trung giả sang Yên Kinh gặp Càn Long, được Càn Long tặng cho chiếc áo, có thêu 7 chữ: Xa tâm chiết trục, đa điền thử (車心折軸多田鼠) Nghĩa là: Bụng xe gãy trục, nhiều chuột đồng. Theo phép chiết tự, chữ “xa” (車) và chữ “tâm” (心) ghép lại thành chữ “Huệ” (惠) là tên của Nguyễn Huệ; “chuột” nghĩa là năm tý (Nhâm tý 1792). Ý của dòng chữ trên áo là Nguyễn Huệ sẽ chết vào năm Tý.

Năm Quý Sửu (1793). Nguyễn Du 28 tuổi. Lê Chiêu Thống thất vọng và chán nản, lâm bệnh rồi qua đời ngày 16 tháng 10 (âm lịch) năm 1793 tại Yên Kinh. Nhà Thanh chôn ông theo nghi thức tước công. Ngày mồng hai tháng hai năm Quý Sửu (1793), sứ đoàn Tây Sơn sang đến Bắc Kinh để báo tang vua Quang Trung mất . Vua Càn Long đã phê vào tờ biểu báo tang hai chữ đáng tiếc, rồi ông thân làm một bài thơ viếng. Ông lại sai viên án sát Quảng Tây là Thành Lâm đến Nghệ An làm lễ đọc và đốt bài thơ ấy trước “phần mộ” vua Quang Trung. Ông còn giao cho sứ đoàn Ngô Thì Nhậm một tấm lụa đại cát đạt [41] và 3000 lạng bạc để dùng vào việc làm chay cho vua Quang Trung. Không chờ Nguyễn Quang Toản dâng biểu cầu phong,vua Càn Long lại đặc cách phong ngay cho Quang Toản làm An Nam quốc vương để chính danh phận và yên dân tâm.

Vua Càn Long tỏ ra rất vui vẻ, hả hê khi được Ngô Thì Nhậm cho biết trước khi từ trần, vua Quang Trung đã dặn quần thần phải luôn luôn tôn kính Thiên triều. Vì vậy, Càn Long lấy hai chữ Trung thuần đặt tên thụy cho vua Quang Trung.

Phúc Khang An khi đó đang làm tổng chỉ huy đánh quân Khuếch Nhĩ Khách Mông Cổ tại tu viện Mật Tông ở Tây Tạng để giành lại kho vàng to lớn ở núi Tuyết.  Khi trở về, Phúc Khang An đã viết cho triều đình Tây Sơn một bức thư có những câu: Bản Tước các bộ đường cùng Tiền Quốc vương (vua Quang Trung) đã từng đem lòng thành liên kết rất sâu. Nhớ khi tiến quan vào chầu, tâm sự sớm chiều, bàn soạn nửa năm, lúc cùng ngồi thuyền lúc cùng đi bộ trước khi vào chầu, thường thường đem tâm sự đàm đạo với nhau… đến lúc lên đường về nước, chia tay ở Hán Dương, cùng nhau than thở, quyến luyến nhớ thương. Bản tước các bộ đường từ tháng năm năm ngoái (1792) đốc binh tiến đánh bộ lạc Quách Nhĩ Khách… Nay nhờ Đại Hoàng Đế nghĩ đến quý quốc, che chở như trời. Bản tước các bộ đường đã nhận ủy nhiệm (của Đại Hoàng Đế làm tổng đốc Lưỡng Quảng) quý Quốc vương thỏa lòng nương tựa. Đợi khi đến tỉnh Việt (Quảng Đông), sẽ sai người đến Nghệ An làm lễ tế điệu, kính dâng bó hoa để tỏ lòng cố cựu.

Vua Càn Long cũng đã ra lệnh cho các quan của nhà Thanh đều phải cúi đầu làm lễ tưởng niệm vua Quang Trung: Thạc tào tòng sự các gia ngạch,Cá cá bất vong ngã tiên vương. Tạm dịch là: Tất cả các vị quan to (ở Thiên triều) đều cúi đầu làm lễ/ Ai ai cũng không quên An Nam quốc vương (Nguyễn Huệ) của chúng ta.

Lê Chiêu Thống bị giới làm sử đời sau phê phán gay gắt. Các tác giả Ngô gia văn phái thân Tây Sơn trong tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí viết: “Tuy vua Lê đã được phong Vương, nhưng giấy tờ đưa đi các nơi, đều dùng niên hiệu Càn Long. Vì có Nghị ở đấy nên không dám dùng niên hiệu Chiêu Thống. Ngày ngày sau buổi chầu, vua lại tới chờ ở doanh của Nghị để nghe truyền việc quân, việc nước. Vua cưỡi ngựa đi trước, Lê Quýnh cưỡi ngựa đi sau, quân lính hộ vệ chỉ vài chục người. Người trong kinh có kẻ không biết là vua. Hoặc có người biết, thì họ nói riêng với nhau rằng: Nước Nam ta từ khi có đế, có vương tới nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế. Tiếng là làm vua, nhưng niên hiệu thì viết là Càn Long, việc gì cũng do viên tổng đốc, có khác gì phụ thuộc vào Trung Quốc?“. Tuy nhiên, nhà Nguyễn do Nguyễn Ánh thành lập ra sau đó, lại nhìn nhận khá rộng lượng với Chiêu Thống. Hoàng đế Tự Đức có lời phê về Chiêu Thống, đại ý nói: “Nhà vua bị người ta lừa gạt, bị giám buộc ở quê người đất khách, đến nỗi lo buồn phẫn uất, ôm hận mà chết, thân dẫu chết, nhưng tâm không chết, kể cũng đáng thương! Vậy nên truy đặt tên thụy là Mẫn Đế“.

Lê Quýnh là ai ? mà Hoàng Lê nhất thống chí viết “Vua cưỡi ngựa đi trước, Lê Quýnh cưỡi ngựa đi sau, quân lính hộ vệ chỉ vài chục người. Người trong kinh có kẻ không biết là vua …”.

Lê Quýnh còn có tên là Lê Doãn Hữu, là trung thần nhà Lê trung hưng của họ Lê, vị quan nổi tiếng có linh vị được thờ ở chính giữa của đền thờ “Cố Lê tiết nghĩa từ” (đền thờ các bậc tiết nghĩa đời Lê) ở phía tây thành Thăng Long, tại phường Thuỵ Chương, huyện Vĩnh Thuận (nay là ngõ 124, đường Thụy Khê, Hà Nội). Lê Quýnh sinh năm 1750 mất năm 1805, quê ở làng Đại Mão, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, Kinh Bắc (nay là thôn Đại Mão, xã Hoài Thượng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Ông con trai của tiến sĩ Lê Doãn Giản.

Thời trẻ, năm 21 tuổi, Lê Quýnh được bổ làm nho sinh ở Chiêu Văn quán. Lúc trẻ ông là một công tử chơi bời nhưng biết làm văn. Năm 1774, lúc 25 tuổi, cha mất, ông về làng nuôi mẹ.

Lê Quýnh phò vua Lê chống Tây Sơn.  Năm 1786, sau khi Nguyễn Huệ diệt họ Trịnh, ông đem 300 gia đinh ra Thăng Long bảo vệ vua Lê Hiển Tông. Sau khi Lê Hiển Tông qua đời, cháu nội là Lê Duy Kỳ lên thay, tức vua Lê Chiêu Thống. Lê Quýnh nhận lệnh trấn giữ miền Giang Bắc, cắt đặt các công việc. Khi xong việc về kinh được phong tước bá, có tài liệu ghi là Tư Ốc bá, bấy giờ 37 tuổi .

Tháng 12 âm lịch năm 1787, sau khi Vũ Văn Nhậm đem quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long, Lê Chiêu Thống bỏ kinh thành chạy lên Kinh Bắc, sai hoàng đệ Duy Chi đem thị thần Lê Quýnh và tôn thất tất cả hơn 30 người rước thái hậu và nguyên tử (con trai Lê Chiêu Thống) đi Cao Bằng.

Tháng 4 năm 1788, ông tới được Thái Nguyên, gặp Đốc trấn Cao Bằng cho người đón lên Mục Mã (Cao Bằng) nhưng không lâu sau quân Tây Sơn đuổi tới, ông cùng đốc đồng Nguyễn Huy Túc, phiên thần Địch quận công Hoàng Ích Hiểu, Trường Xa hầu Phạm Đình Phan và Phượng Thái hầu Nguyễn Quốc Đống bảo vệ thái hậu và nguyên tử theo cửa ải Thủy Khẩu chạy sang Long Châu. Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị được lệnh che chở cho họ ở Nam Ninh và vua Càn Long bằng lòng cứu viện vua Lê. Sau đó Lê Quýnh và Nguyễn Quốc Đống trở về tâu với Lê Chiêu Thống. Lê Chiêu Thống sai tham tri chính sự Lê Duy Đản và Hàn lâm hiệu thảo Trần Danh Án vâng mệnh lệnh đem tờ bẩm, đi đường tắt, lên đón quân nhà Thanh. Ngày 24 tháng 10 năm 1788, quân Thanh được lệnh lên đường, tới ngày 1 tháng 11 đã vượt biên giới tiến vào Lạng Sơn và ngày 22 tháng ấy lấy lại kinh thành Thăng Long, đưa Lê Chiêu Thống trở lại ngai vàng. Lê Chiêu Thống phong Lê Quýnh lên Trung quân đô đốc, tước Trường Phái hầu. Theo Bắc hành tùng ký, Lê Quýnh được giao làm Tổng binh Đỉnh đái.

Ngày 2 tháng 12 năm 1789, Lê Chiêu Thống sai Lê Quýnh giữ việc tổng quản binh lương, hạn ngày tiến quân đánh dẹp quân của vua Quang Trung. Nhưng Tôn Sĩ Nghị muốn dùng kế dụ địch đến, giục Chiêu Thống thu hồi lại ấn kiếm, đổi chức vụ của Quýnh làm Đồng binh chương sự. Bấy giờ bệnh sốt rét của Lê Quýnh rất nguy kịch, bèn xin về nhà nghỉ để thuốc men điều trị.

Sau đó, quân Tây Sơn, dưới sự chỉ huy của vua Quang Trung, đã phản công và nhanh chóng đánh tan quân Thanh. Lê Chiêu Thống lại phải chạy trốn sang đất Trung Quốc vào đầu tháng giêng năm 1789.

Lê Quýnh lưu lạc đất Thanh. Tháng 2 năm 1789, Lê Quýnh mới biết Tôn Sĩ Nghị đã thất bại, Lê Chiêu Thống đã chạy sang Trung Quốc. Ông lại tụ họp quân sĩ để đợi quân của Lê Chiêu Thống[4]. Tháng 4 năm 1789, Phúc Khang An, khi đó thay Tôn Sĩ Nghị làm tổng đốc Lưỡng Quảng, đã dâng biểu xin hoàng đế Càn Long bãi binh. Các thần Hoà Thân ngấm ngầm ở trong ủng hộ cho kiến nghị ấy của Khang An, cố sức khuyên vua Thanh nên bãi binh. Vua Thanh cho lời tâu ấy là phải, bèn ra sắc mệnh phong Văn Huệ làm An Nam quốc vương, rồi triệu Lê Chiêu Thống và các bầy tôi trước sau theo sang tòng vong đều cho phép lục tục vào cả Yên Kinh. Tháng 6, Lê Quýnh gặp người anh họ tên là Lê Huy Lý, vâng mệnh Phúc Khang An sai về gọi Lê Quýnh lên cửa ải hỏi chuyện. Lúc ấy những việc mưu tính của ông còn chưa xong, bệnh cũng chưa khỏi hẳn nên đến tháng 7 mới lên đường đến cửa ải Nam Quan.

Phúc Khang An sai người gọi bọn Lê Quýnh, Lê Doãn Trị, Trịnh Hiến và Lý Gia Du vài mươi người đến Quảng Tây dụ bảo gióc tóc và thay đổi đồ mặc. Lê Quýnh đáp lại rằng: Được ơn vời đến đây, chúng tôi chưa được nghe ngài dạy bảo rõ ràng gì cả, thế mà nay chỉ bắt chúng tôi gióc tóc thì há phải là ý muốn ban đầu của bọn Quýnh này chạy vạy hàng hai, ba ngàn dặm sang đây để nhận lãnh lệnh truyền ấy đâu? Đầu chúng tôi có thể chặt được, chứ tóc chúng tôi không thể gióc được“. Phúc Khang An tức giận, cho đưa luôn cả bọn Lê Quýnh lên Yên Kinh. Bọn Quýnh đi đến Sơn Đông thì vừa gặp vua Thanh Càn Long đi tuần du ở phía đông. Vua Thanh triệu Lê Quýnh cùng đồng liêu vào yết kiến nói: Chúa nhà các ngươi đã tình nguyện yên phận ở lại Trung Quốc rồi, các ngươi đã một niềm theo vua thì khá lập tức gióc tóc và thay đổi lối ăn mặc để đợi lựa chọn bổ dùng. Lê Quýnh từ tạ mà rằng: Muôn dặm đi tòng vong, chúng tôi xin được giữ theo quốc tục để vào yết kiến quốc vương một chút đã, rồi sau sẽ xin vâng theo chỉ dụ gióc tóc cũng chưa muộn. Vua Thanh khen nói: Thật là trung thần của họ Lê. Tuy vậy, Càn Long vẫn cho đưa Lê Quýnh và các đồng liêu vào Yên Kinh. Về sau, vì không chịu gióc tóc, Lê Quýnh bị khép vào tội chống mệnh lệnh vua Thanh, bị giam ở ngục Bắc Sở thuộc tu Thận Hình.

Tháng 5 năm 1792, con nhỏ của Lê Chiêu Thống qua đời, đến ngày 16 tháng 10 năm 1793 vua Lê Chiêu Thống buồn rầu mà chết. Sau này, tới tháng 11 năm 1799 thì thái hậu mẹ Lê Chiêu Thống cũng chết. Cùng năm ấy (1799), vua Thanh Gia Khánh sai thả Lê Quýnh và các đồng liêu ra khỏi ngục, từ đầu tóc đến ăn mặc đều được để cho tùy tiện. Tháng 11 năm 1802, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, vua Gia Long cử Thượng thư Binh bộ là Lê Quang Định làm chánh sứ dẫn đầu đoàn sứ thần sang nhà Thanh cầu phong. Nhân đó, ông cùng các cựu thần nhà Hậu Lê còn lưu lạc tại Trung Quốc xin đưa di hài của Lê Chiêu Thống, mẹ và con trai vị vua bất hạnh này về an táng tại Việt Nam. Hoàng đế nhà Thanh ân chuẩn. Ngày 13 tháng 8 năm 1804, ông cùng các cựu thần hộ tống di hài ba người về tới Việt Nam, vua Gia Long cho an táng tại Thanh Hóa. Ngày 16 tháng 9 âm lịch năm Ất Sửu (1805) Lê Quýnh mất, hưởng dương 55 tuổi. Tác phẩm của ông còn lưu lại là các tập “Bắc hành tung kí”, “Bắc hành lược biên” và “Bắc sở tự tình phú”, có giá trị sử học và văn học.

Đến mùa hè năm Tự Đức thứ 14 (1860), các quan ở Bộ theo lời bàn kê rõ lý lịch các vị cựu thần nhà Hậu Lê, vâng chỉ dụ của nhà vua cho lập đền thờ ở phía tây thành Thăng Long, tại phường Thụỵ Chương, huyện Vĩnh Thuận (nay là ngõ 124, đường Thụy Khê, Hà Nội). Thứ tự các bài vị đều sắp đặt theo như lời bàn của Bộ. Chính giữa là linh vị của Trường Phái hầu Lê Quýnh, đặt thụỵ hiệu là “Trung Nghị”. Bên tả bày linh vị của 11 người, gồm có đề lĩnh Nguyễn Viết Triệu, thượng thư Bút phong Đình Giản, Đinh Võ hầu Trần Quang Châu, Trần Danh Kệ, Hữu thị lang Nguyễn Huy Diệu, trấn thủ Lê Hân, chỉ huy Lê Doãn Trị, chưởng tứ bảo Lê Quý Thích, Nguyễn Hùng Trung, Lê Tùng, tả tham chính Kinh Bắc, Bình vọng Lê Trọng Trường. Bên hữu bày linh vị của mười một người, gồm có tĩnh nạn công thần Trần Danh Án, thanh hình hiến phó sứ Tuyên Quang Nguyễn Đình Viện, nội thị Nguyễn Quyên, Trần Đĩnh, đốc đồng Nguyễn Quốc Đống, Địch quận công Hoàng Ích Hiểu; Nguyễn Đình Miên, Đoàn Thận Xưởng, võ uý Nguyễn Trọng Du, Lê Thức, Cận quang hầu Phạm Như Tùng. Tất cả 22 người ấy đều được đặt thuỵ hiệu là “Trung mẫn”. Ngoài ra, ở phía đông thờ 5 người là Nguyễn Ngọc Liễn, Vương Triệu, Vương Chấn Thiều, Tôn Hạp, Lê Diên Định. Ở nhà phía tây thờ 5 người là Trần Lương, Trần Đăng, Vũ Trọng Dật, Trần Dần, Trần Hạc. Từ Lê Quýnh trở xuống cộng 33 người, trên đầu đều đề là “Cố Lê tiết nghĩa thần” (các bầy tôi tiết nghĩa đời Lê) và ngôi đền cũng đề là “Cố Lê tiết nghĩa từ” (đền thờ các bậc tiết nghĩa đời Lê).
ThuyKhueHoTay
Ngôi đền cổ “Cố Lê tiết nghĩa từ” ở địa chỉ ngõ 124, đường Thụy Khê, Hà Nội, cạnh hồ Tây, trên lối cổng chính, đường vào nhà của GS.TS. Vũ Mạnh Hải, cựu Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (ghi chép và chú dẫn: Hoàng Kim).

Nguyễn Du làm gì trong ba năm 1790 – 1793? Theo tư liệu của Phạm Trọng Chánh đăng tại Văn Hóa Nghệ An ngày 9 tháng 11 năm 2013 với tựa đề “Đọc sách Nguyễn Du trên đường gió bụi của Hoàng Khôi” : Năm 1790 Nguyễn Du cư ngụ tại chùa Hổ Pháo bên Tây Hồ, tại Hàng Châu, nơi Từ Hải tức Minh Sơn Hoà thượng từng tu hành, trước khi đi giang hồ thành cướp biển. Tại đây Nguyễn Du có được bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Gặp lại Nguyễn Đại Lang tại miếu Nhạc Phi cũng bên cạnh Tây Hồ, nơi đây Nguyễn Du viết 5 bài thơ, một bài Nhạc Phi, hai bài Tần Cối và hai bài Vương Thị, sau đó hai người đi Yên Kinh gặp vua Lê Chiêu Thống, trở về Hoàng Châu thì gặp Đoàn Nguyễn Tuấn sứ đoàn Tây Sơn tại một lữ quán, gặp bạn văn chương, Nguyễn Du bàn chuyện sôi nổi về Hồng nhan đa truân. Đoàn Nguyễn Tuấn viết hai bài thơ tặng văn nhân họ Nguyễn. Nguyễn Du về Long Châu và trở về Thăng Long. Ba năm 1791-1793. Nguyễn Du về ở với anh Nguyễn Nể, đang làm quan Tây Sơn tại Bắc Thành giữ chức Hàn Lâm thị thư, sung chức Phó sứ tuế công, năm 1791 Nguyễn Nễ đi sứ về, đã xây dựng lại một phần dinh thự Bích Câu, tại đây Nguyễn Du nghe cô Cầm, người nhạc nữ cũ cung vua Lê đánh đàn. Nhưng Nguyễn Du thường làm “Nam Hải điếu đồ” như Lã Vọng xưa. Nguyễn Du câu cá tại ao vườn của anh Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân. Và chính nơi đây Nguyễn Du cùng Xuân Hương Hồ Phi Mai bàn luận thời thế và sâu nặng mối tình ba năm “trai anh hùng, gái thuyền quyên. Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng”. Cũng cuối những năm này, Xuân Hương đã về quê ở làng Quỳnh Đôi

Năm Giáp Dần (1794). Nguyễn Du 30 tuổi. (*) Năm 1794, Nguyễn Nễ làm Tả Phụng Nghị Bộ Binh bên cạnh vua Cảnh Thịnh, trong Cơ Mật Viện có Tả hữu Trung Thư là Trần Văn Kỷ và Nguyễn Nễ, do sự sự xung của triều đình bởi Bùi Đắc Tuyên tiếm quyền nên đày Trung Thư Trần Văn Kỷ làm lính thú ở Hoàng Giang, Nguyễn Nễ nhân đó xin đi trấn nhậm Quy Nhơn đất khởi nghiệp triều Tây Sơn, và Nguyễn Du đã có ý vào Nam tù dịp ấy.

Nguyễn Du đầu năm 1794 vào Quy Nhơn và đầu năm 1796 vào Phú Xuân tiếng là ‘thăm anh’ thực chất là giúp Nguyễn Nễ thoát hiểm (*) tránh bị cuốn vào họa diệt tộc khi nhà Tây Sơn nội bộ chia rẽ nghiêm trọng sau khi Nguyễn Huệ mất. Nguyễn Nễ từ Hiệp trấn Quy Nhơn về làm Thái sử ở Phú Xuân bên cạnh vua Cảnh Thịnh, sau đó làm Phó sứ trong sứ đoàn Tây Sơn sang sứ nhà Thanh lần hai, thành công vang dội với “Quế Hiên Nguyễn Nễ đỉnh núi cao thi trận nước Nam”, sau được phong Tả Thị Lang, Nghi Thành Hầu .

Ngô Thời Nhậm từ quan Binh bộ thượng thư và chủ trì các chính sách ngoại giao nhà Tây Sơn với Trung Hoa năm 1794 xin về đi tu theo đạo Phật làm Hải Lượng Thiền Sư. Phan Huy Ích cũng từ quan Thị trung Ngự sử ở tòa Nội các và Thượng thư bộ Lễ về đi tu và sau mất tại làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, (nay thuộc xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh).

Nguyễn Du viết bài thơ “Nhớ Anh”  gửi Nguyễn Nể làm Hiệp Tán Nhung Vụ Quy Nhơn. Bài thơ được chép chung cùng với các bài thơ khác của những danh sĩ đương thời cho thấy sự mẫn cảm kỳ tài của Nguyễn Du một trí tuệ đặc biệt minh triết, trí tướng hào kiệt lỗi lạc, tầm nhìn xa rộng, giúp anh Nguyễn Nễ lánh họa tìm phúc.

NHỚ ANH

Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ.

Lục Tháp thành Nam buộc chức quan,
Gập gềnh đá vượt Hải Vân đêm.
Chướng lam ba tết xa, đồn trú,
Hoa khói tháng hai , nhớ cố hương.
Một biệt phương nào ai biết nhỉ ?
Kiếp sau hẹn đến cuộc tương phùng;
Biển trời mù mịt đườngngàn dậm,
Trong mộng tìm nhau cũng khó khăn.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

ỨC GIA HUYNH

Lục Tháp thành Nam hệ nhất quan,
Hải Vân dạ độ thạch toàn ngoan.
Cùng xu lam chướng tam niên thú.
Cố quốc yên hoa nhị nguyệt hàn.
Nhất biệt cách tri hà xứ trú,
Trùng phùng đương tác tái sinh khan.
Hải thiên mang điểu thiên dư lý,
Thần phách tương cầu mộng diệc nan.

Chú thích:
Lục tháp thành: chỉ thành Bình Định, có 8 cụm tháp, nhưng chỉ có 6 cụm ở gần đường chỉ thấy có sáu nên người xưa gọi là thành Lục Tháp.
Hải Vân đèo nằm giữa Thừa Thiên và Quảng Nam rất hiểm yếu nên được gọi là Đệ Nhất Hùng Quan.

Bài Tiễn ông Tả Phụng Nghị Bộ Binh Nghi thành hầu
họ Nguyễn đi thành Quy Nhơn.

Phan Huy Ích thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Sông núi Hoan gấm vóc,
Chung đúc bậc kỳ nhân.
Rạng rỡ quê đạo đức,
Điềm lành sinh phượng lân.
Tiến thủ biết khí phách.
Từ trẻ tỏ xuất sắc,
Cơ trí từng trải đời,
Đức độ rộng kiến thức.
Khí tiết như tùng bách,
Phẩm chất mài như ngọc.
Bản lĩnh tự tín trung,
Hành động thường lỗi lạc.
Hiểu lý tận tóc tơ,
Nói chuyện người bén sắc.
Làm bạn khắp thế gian,
Gắn bó như ruột thịt.
Nhìn rõ việc thiên hạ,
Nắm vững để vận hành.
Tạo hóa tính kỳ lạ,
Giao trách nhiệm xứng danh.
Gặp gỡ thánh minh trị;
Đi thăm gióng ngựa quý.
Học thức vua nể vì,
Nơi thanh toả dốc trí.
Ba năm dạo gươm đàn,
Thơ rượu thường vui vẻ.
Đấng trượng phu công danh,
Chí dũng giữ đúng thể.
Phía Nam biển mênh mang,
Đất mới triều khai thác.
Ấp thang mộc Quy Nhơn,
Anh tài nơi then chốt.
Dân vỗ về yên ổn,
Uy danh quân lẫy lừng,
Triều đình cần người trấn,
Khẳng khái đến cầm quân.
Lòng hùng khí độc tan,
Thanh cao tiếng hạc đàn.
Thị Nại sóng cuồn cuộn,
Cù Mông mây mác man.
Chí bốn phương thoả nguyền,
Mài núi khắc thơ hùng.
Bài khải ca tấu khúc,
Miếng đỉnh chung thấm ơn.
Nâng chén rượu lên đường,
Kẻ ở lòng thấy thẹn.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Tiễn Binh Bộ Tả phụng nghị Nghi thành Nguyễn hầu
phó Quy Nhơn thành

Ngã Hoan hảo giang sơn,
Chung bẩm đa kỳ trác.
Thế đức diệu tiên hương,
Nhân thụy xuất lân nhạc.
Tiến phủ bão tài khí,
Diệu linh kiến đầu giác,
Cơ thức tảo duyệt thục,
Khí thế du hoành bác.
Tùng tiết nại nghiêm ngưng,
Ngọc chất kinh ma trác.
Bản lĩnh tự trung tín,
Động tức thường lỗi lạc.
Chúc lý cập hào mang
Lập đàn sinh phong ngọc.
Biến giao thế gian nhân,
Hệ thuộc vi tâm lạc.
Nhàn thị thiên hạ sự,
Vận dụng tại chưởng ác.
Tạo hóa dữ kỳ phẩm,
Giáng nhậm lương bất thác.
Tao tế thánh minh thì,
Tuân tư giá hoa lạc.
Vọng học vu thần cố,
Chu tuyền thanh tỏa các.
Tam niên cầm kiếm du,
Ngâm chước bất cải lạc.
Trượng phu pho công danh,
Bỉnh chí há đoan xác.
Hạo diểu hải chi nam,
Hy đại tân khai thác.
Quy Nhơn thang mộc địa,
Khu hoản ỷ khôi thạc.
Dân dung sơ phủ tập,
Quân thanh phương trấn bạc.
Triều đình trọng hành biên,
Khẳng khái tựu nhung mạc.
Tráng tâm tễ yên lam,
Thanh khiếu đái cầm hạc.
Thị Nại đào hung dũng,
Cù Mông vân lạc mạc.
Huyền hồ thù sơ chí,
Ma nhai lặc giai tác.
Khải ca tấu kỳ huân,
Chung đỉnh đàm tân ác.
Bả bôi tống chinh huy,
Cư giả diệc tâm tạc.

Năm Ất Mẹo (1795). Nguyễn Du 31 tuổi. Nguyễn Du trầm tĩnh theo dõi đại cục. Nguyễn Du làm “Nam Hải Điếu Đồ” (Người đi câu ở biển Nam) khoảng thời gian 1790-1796 ở đền Khán Xuân cạnh Hồ Tây (Hà Nội). Nguyễn Du làm nhà sư Chí Hiên đi lại ở Quảng Tây, Bắc Kinh, cung Nhiệt Hà (Trung Quốc), sau đó cùng em Nguyễn Ức xây đền thờ nghĩa sĩ nhà Hậu Lê (nay ở Thụy Khê, quận Tây Hồ, Hà Nội), làm nhiệm vụ được anh Nguyễn Nể (*) giao phó xây dựng lại từ đường họ Nguyễn Tiên Điền ở làng Tiên Điền, đình chùa Trường Ninh, cầu Tiên ở xứ Nghệ (tên cũ của  Nghệ An và Hà Tĩnh thời ấy).

Nguyễn Nể (1761-1805) là anh cùng cha khác mẹ của Nguyễn Du và là người đặc biệt yêu thương Nguyễn Du, thân thiết với Nguyễn Khản, Nguyễn Điều, Nguyễn Quýnh, Vũ Trinh, Đoàn Nguyễn Tuấn, Hà Mỗ. Họ là những anh em cùng gia tộc hoặc anh em rể hoặc là cha nuôi, tùy tướng đặc biệt tin cẩn (như với trường hợp của Hà Mỗ và Nguyễn Du). Nguyễn Nể tự là Tiến Phủ, hiệu Quế Hiên,  thi đậu đầu khóa Quốc Tử Giám, đậu đầu thi hạch, đậu Tứ Trường thi Hương năm 1779, Nguyễn Nể được bổ vào Thị Nội Văn thường trực tại nhà học của con chúa Trịnh Sâm, là bạn thiết của Trịnh Tông, sau Nguyễn Nể cai quản đội quân Nhất Phẩm kiêm Trị thị nội thư tả của phủ chúa Trịnh. Năm 1783, Nguyễn Nể làm Hiệp tán quân cơ đạo quân Sơn Tây. Năm 1786 vua Lê Quý Kỳ trực tiếp nắm lại chính sự nhất thống thì Lê Quýnh và Nguyễn Nể được vua Lê tin cẩn “ngày đêm cùng họ trù tính mọi công việc, ngay cả những mưu kế phải dùng đến trong lúc bối rối bất ngờ, cũng được lo toan chu đáo” (Hoàng Lê Nhất Thống Chí trang 179).

Vũ Trinh (1769-1828) là Chánh Sứ phụ trách mọi công việc bang giao của nhà Lê đối với Tôn Sĩ Nghị. Suốt triều Tây Sơn, (1789- 1801) Vũ Trinh lánh thân ở Hồ Sơn vùng Hà Nam ngày nay, dạy học và soạn sách. Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, Vũ Trinh được mời ra tham chính, nhận chức Thị Trung Học sĩ được thăng Hữu Tham Tri Bộ Hình năm 1807 làm Chánh Sứ cùng Ngô Nhân Tĩnh đi sứ nhà Thanh. Năm 1816 ông có ý bênh vực cho học trò ông là Nguyễn Văn Thuyên, con Tổng Trấn Nguyễn Văn Thành nên bị đày đi Quảng Nam 12 năm, đến năm 1828 mới được ân xá, trở về quê vài ngày thì bị bệnh mất hưởng dương 59 tuổi.

Nguyễn Nễ sau khi thời gian 1788, khi Tôn Sĩ Nghị sang chiếm nước ta, vua Lê Chiêu Thống thanh trừng những người cộng tác với nhà Tây Sơn thì rất nhiều người bị đục bỏ tên trong bia tiến sĩ nhưng Nguyễn Nể không có trong danh sách những người bị tội. Năm 1789 vua Quang Trung ra Bắc đánh bại Tôn Sĩ Nghi quét sạch quân Thanh ra khỏi bờ cõi, Nguyễn Nể được vời ra bổ làm Hàn Lâm Thị Thư và làm Phó Sứ sang Trung Quốc cầu phong nhà Thanh cho Vua Quang Trung, Vũ Huy Tấn làm Chánh Sứ, sứ đoàn còn có Ngô Vi Quý, Nguyễn Đình Cử, Nguyễn Quang Hiến … Trong cuộc đi sứ, vua Càn Long mời dự yến ở Các Tứ Quang ông làm thơ chúc mừng, vua Càn Long thưởng cho một tấm đoạn, hai thỏi mực và 3 tập hoa tiên lụa. Trở về được thăng Đông Các Học Sĩ, Thái tử Tả Thị Lang, Nghi Thành Hầu, được giao việc cai trị tại Bắc Hà.

Nguyễn Nể năm 1794 được nhà Tây Sơn vời vào Phú Xuân làm việc Viện Cơ Mật.  Ông giao phó tiền bạc cho hai em là Nguyễn Du và Nguyễn Ức về xây dựng lại từ đường, đền thờ, cầu Tiên, chùa Trường Ninh làng Tiên Điền bị Hiệp Trấn Tây Sơn Lê Văn Dụ đốt phá nhân vụ Nguyễn Quýnh khởi nghĩa. Nguyễn Nể sau đó được phong Tả phụng Nghi Bộ Binh, hàm Tam phẩm, được cử làm Hiệp Tán Nhung vụ Quy Nhơn. Năm 1795 Nguyễn Nể được cử làm Chánh Sứ của triều Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản sang dự lễ vua Càn Long nhường ngôi cho con là vua Gia Khánh. Nguyễn Nể dâng hai bài thơ ứng chế được vua Càn Long đích thân mời uống rượu và dự yến Các Tử Quang. Nguyễn Nể được vua Càn Long khen thơ và ban thưởng : gấm đoạn, trà sen, gậy tuổi già, ngọc như ý, tứ bửu.. Cháu 24 đời Chu Văn Công tri phủ Tứ Thành tặng bốn chữ Thiên Môn Tái Đăng (hai lần lên cổng trời).

Năm Bính Thìn (1796). Nguyễn Du 32 tuổi. Nguyễn Nể mùa thu 1796 sau khi sứ đoàn về nước được vẻ vang vì cả hai lần được vua Càn Long và triều đình nhà Thanh kính trọng. “Quế Hiên Nguyễn Nễ đỉnh núi cao thi trận nước Nam” được vua Cảnh Thịnh ban thưởng 40 mẫu ruộng, giữ chức Đông Các đại học sĩ, gia tặng Thái sử, Tả Thị Lang, tước Nghi Thành Hầu, chức vụ dâng sách cho vua Cảnh Thịnh mới lên mười hai tuổi, đọc và giảng nghĩa cho vua nghe sách Tiểu Học Diễn Nghĩa do La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp và Sùng Chính Viện vừa mới soạn xong. Ngoài ra còn các công việc giúp vua soạn các chiếu biểu, và kiêm các công việc Cơ Mật Viện, và chức vụ cuối cùng được thăng tới chức Trung Thư lĩnh hữu đồng nghị, chức vụ ngang hàng với quân sư Trần Văn Kỷ.

Sau khi Nguyễn Du thăm anh cuối năm 1796, Nguyễn Nể xin về quê Nghệ An là hiệp trấn tham mưu cho Nguyễn Thận, xa dần kinh đô. Nguyễn Nể can thiệp cho Nguyễn Du ra tù sau khi toan trốn vào Nam theo Nguyễn Ánh. Theo nhà nghiên cứu Phạm Trọng Chánh “Nguyễn Du- Người đi săn núi Hồng” và “Quế Hiên Nguyễn Nể” thì lí do Nguyễn Nể năm 1797 được rời Phú Xuân là  Nguyễn Nể xin đi xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô tại Nghệ An cùng Trần Quang Diệu và Trấn Thủ Nguyễn Văn Thận. 

Ba năm vẹn” trong Lưu Hương ký của Hồ Xuân Hương nhớ Nguyễn Du là những năm 1793-1795. Nguyễn Du không chịu ra phò tá triều đại Tây Sơn nhưng cũng không chịu vào Nam theo Nguyễn Ánh như Đặng Trần Thường. Điều đó là có lý do riêng, kín đáo, sâu sắc, khó nhận thấy. Người đời sau chỉ mới nhìn thấy ông dốc lòng cùng người thân trong họ Nguyễn Tiên Điền lập đền thờ cho những nghĩa sĩ “Cố Lê tiết nghĩa thần” (các bầy tôi tiết nghĩa đời Lê). Câu chuyện Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương “Hồ Xuân Hương thực là ai?”, “Nguyễn Du Hồ Xuân Hương luận anh hùng” soi sáng thêm các thông tin về Nguyễn Du 15 năm lưu lạc

Cuối năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du được tha và đã về sống hẳn (quản thúc?) ở làng Tiên Điền, khép lại Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc.

Tổng luận về hành trạng Nguyễn Du (1765-1796)

1. Nguyễn Du trước năm 1997 tận lực trung thành với vua Lê dựng cờ cần vương, Ông cùng Lê Quýnh và 23 nghĩa sĩ nhà Hậu Lê “Để lời thệ hải minh sơn . Làm con , trước phải đền ơn sinh thành”. “Đau lòng tử biệt sinh ly, Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên! Hạt mưa sá nghĩ phận hèn. Liệu đem tấc cỏ báo đền ba xuân“. Nguyễn Du và cùng với Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến (Hà Mỗ trong Gia Phả họ Nguyễn Tiên Điền, là cha nuôi Nguyễn Du và tâm phúc Nguyễn Nhiễm) và thân binh đã can đảm, bình tĩnh bảo vệ vua Lê Hiển Tông, ngang nhiên đối mặt với Nguyễn Huệ khi Bắc Bình Vương lần đầu ra Bắc. Nguyễn Du và nhà Nguyễn Tiên Điền là lực lượng chính đã giúp cho vua Lê chống lại nhà Tây Sơn. Nguyễn Du đã trực tiếp tổ chức khởi nghĩa ở Tư Nông (Thái Nguyên) Nguyễn Quýnh anh Nguyễn Du chỉ huy các lực lượng nổi dậy liên thủ với vua nước Vạn Tượng (Ai Lao) tấn công Tây Nghệ An (Trấn Ninh). Vua Lê cũng phát động khởi nghĩa ở Tuyên Quang, Cao Bằng trong sư phối hợp. Ba chiến dịch mặc dù đều bị thất bại, vì binh lực Tây Sơn quá mạnh, thiện chiến và đàn áp quá tàn khốc trong khi binh lực nhà vua Lê mỏng yếu, Lê mạt, Trịnh vong, quân nhát, tướng hèn, nội bộ nghi ngờ lẫn nhau, vua không tin dùng nhà Nguyễn Tiên Điền vì Nguyễn Khản là thầy của chúa Trịnh Tông (chúa Trịnh Sâm là cha của chúa Trịnh Tông. Trịnh Sâm là người sát hại thái tử Lê Duy Vĩ, cha của vua Lê Duy Kỳ sau này và giam anh em Lê Duy Kỳ 15 năm trong ngục tối). Nhà Nguyễn Tiên Điền bị vu oan giá họa là đã dẫn dắt Tây Sơn ra đánh chiếm Bắc Hà (mà thực chất là do mưu của Nguyễn Hữu Chỉnh). Nhà Nguyễn Tiên Điền bị vua nghi ngờ, tước hết binh quyền, nhưng Nguyễn Du lòng trung trinh vẫn không thay đổi.

2. Nguyễn Du và Nguyễn Đăng Tiến dù bị vua Lê không tin dùng, lại bị tước hết binh quyền giao cho kẻ khác, chỉ còn lại một ít thân binh nhưng khi vua Lê chạy lên Thái Nguyên, Nguyễn Hữu Chỉnh bị bắt và bị giết, quân bị tan rã nhưng ông vẫn can đảm tạo thế cần vương, một lòng với Lê Quýnh  tập hợp các cựu thần nhà Lê và số nho sĩ thật lòng phò vua để tạo dựng cơ đồ lập ‘thế Tam phân’ với nhà Nguyễn Gia Miêu và nhà Tây Sơn.

3. Nguyễn Du đã giúp vua Lê tạo dựng được thế ngoại giao với nhà Thanh qua việc ông cùng Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến, sau khi khởi nghĩa Tư Nông (Thái Nguyên) thất bại,  bị Vũ Văn Nhậm bắt và được thả, ông chịu lưu lạc nhiều năm, trãi gian khổ trăm bề đi lại tại vùng Nam Trung Quốc, Bắc Hà và miền Trung, kể cả việc từng lên tận cung Nhiệt Hà để cầu kiến vua Càn Long.  Nguyễn Du không “khảng khái’ cứng cỏi bị giết như Nguyễn Quýnh, mà cũng không quá tùy thời như Nguyễn Nễ, người anh cùng mẹ, khi nhà Tây Sơn lên đã ra phò nhà Tây Sơn ngay. Nguyễn Du cân nhắc tình thế, xuất xử chuẩn xác theo thời gian. Nguyễn Du viết: “Cổ kim vị kiến thiên niên quốc” (xưa nay chưa thấy triều đại nào đứng vững ngàn năm). Nguyễn Du minh triết, mưu lược, điềm tĩnh, chắc chắn, là một nhà nho thức thời.

4. Nguyễn Du sau những năm Quang Trung mất (1792) ông càng thấy rõ ràng hơn sự suy sụp tất yếu khó bề cứu vãn của nhà Tây Sơn do anh em bất hòa, lòng người ly tán. Trước đây ông không chịu theo nhà Tây Sơn và cũng không chịu theo nhà Nguyễn Gia Miêu mà trọng nghĩa khí và mưu việc tự lập “Bó thân về với triều đình. Hàng thần lơ láo phận mình ra sao. Áo xiêm ràng buộc lấy nhau. Vào luồn ra cúi công hầu mà chi. Sao bằng riêng một biên thùy. Sức này đã dễ làm gì được nhau. Chọc trời, khuấy nước ma84c dầu. Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” (Kiều – Nguyễn Du).  Mùa đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du trốn trốn khỏi quê nhà nhưng bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An vì cho rằng ông định vào Gia Định liên thủ với chúa Nguyễn Ánh. Trong thời gian bị giam, Nguyễn Du có làm thơ My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù) để tỏ ý. Sau khi được tha, ông về sống hẵn ở Tiên Điền và kết thúc Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781-1796)

5. Nguyễn Du được vua Càn Long nhà Thanh tặng bức hoành phi, ngày nay treo ở giữa Từ đường Nguyễn Du thể hiện sự tôn trọng đặc biệt của vua Càn Long, với bốn chữ “Hồng Sơn thế phổ” (bên tả có bức hoành đề ghi rõ: Càn Long thập ngũ niên đoan nguyệt cát nhật; Bức bên hữu có bốn chữ “Long chương điệp tích” bên hữu bức hoành này đề “Càn Long thập ngũ niên đoan nguyệt cát nhật” Bức bên tả có bốn chữ “Thiên môn tái đăng” bên tả bức hoành đề  “Đại Thanh Gia Khánh nguyên niên Bính Thìn mạnh xuân” . Chuyện có liên quan tới manh mối  vua Lê Chiêu Thống bị “bán đứng” trong Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết Sơn. Đây là uẩn khúc đặc biệt của lịch sử. Vua Lê Chiêu Thống bị giới làm sử đời sau phê phán gay gắt nhưng nhà Nguyễn do Nguyễn Ánh thành lập sau đó, lại nhìn nhận khá rộng lượng với Chiêu Thống. Hoàng đế Tự Đức có lời phê về Chiêu Thống, đại ý nói: “Nhà vua bị người ta lừa gạt, bị giám buộc ở quê người đất khách, đến nỗi lo buồn phẫn uất, ôm hận mà chết, thân dẫu chết, nhưng tâm không chết, kể cũng đáng thương! Vậy nên truy đặt tên thụy là Mẫn Đế“.

Nguyễn Du hai mươi bốn năm cuối đời (1797- 1820)

Năm Đinh Tỵ (1797). Nguyễn Du 32 tuổi. Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản đã cử Lê Trung làm tướng trấn giữ Quy Nhơn và điều Trần Quang Diệu về hầu việc trong triều. Bốn tứ trụ triều đình Cảnh Thịnh là Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Nguyễn Văn Huấn và Nguyễn Văn Danh. Thế nhưng tướng Trần Quang Diệu bị người ta dèm pha là uy quyền quá lớn sắp có mưu đồ khác nên vua Cảnh Thịnh đã điều chỉnh như vậy. Trần Quang Diệu lo sợ nên cáo bệnh không vào chầu mà đốc suất thủ hạ thân tín canh phòng tự vệ suốt ngày đêm.

Nguyễn Vương truy quét thổ phỉ người Thượng, phủ dụ dân tình ở vùng núi và tìm hiểu tướng trấn giữ các nơi. Nguyễn Vương được tin mật báo nội tình Tây Sơn cả mừng, tập hợp các tướng bàn định việc ra quân. Nguyễn Vương  để Tôn Thất Hội giữ thành Gia Định, sai Nguyễn Văn Thành, Võ Tánh, Nguyễn Đình Đắc theo đường bộ đánh thẳng ra Phú Yên, Quy Nhơn, còn tự mình thì cùng với hoàng tử Cảnh và tướng Nguyễn Văn Trương đem đại binh thuyền đánh ra Quy Nhơn. Quân thủy của Nguyễn Vương tiến sâu vào cửa Thị Nại. Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản ra lệnh cho Nguyễn Văn Huấn mang toàn quân ra chống cự, phục chức cho Trần Quang Diệu sai giữ cửa Thuận để làm thanh ứng.

Nguyễn Vương tấn công quyết liệt quân Tây Sơn mấy tháng ròng ở Bình Định không phân thắng bại, thấy sự phòng thủ chặt chẽ, liệu sức không đánh đổ được bèn kéo binh thuyền ra đánh phá Quảng Nam, nhưng cũng không giành được thế thắng và quân nhu không đủ, bèn rút về Gia Định, sai Nguyễn Văn Thành giữ chức khâm sai tiền tướng quân và Đặng Trần Thường làm hiệp tán quân vụ ở lại giữ thành Diên Khánh.

Nguyễn Vương theo mưu kế của Đặng Trần Thường, một mặt sai Nguyễn Văn Thụy sang Thái Lan báo tin thắng trận cho vua Thái và nhờ quốc vương nước này xuất binh theo đường bộ Lào với sự dẫn đường của Thụy để tấn công Thuận Hóa từ hướng Tây  hoặc cho quân đột phá Nghệ An để chặn đường quân Bắc Hà vào cứu viện. Quân sĩ Nguyễn Vương cũng sẽ phối hợp tấn công ở hai mặt Đông và Nam. Mặt khác, Nguyễn Vương cũng sai binh bộ tham tri Lưu Nhân Tĩnh sang sứ nhà Thanh vừa do thám tình hình vừa trao trả lại cho nhà Thanh một số tàu thuyền mượn tiếng là thu được của quân Tàu biển “Thiên Địa Hội” phản Thanh phục Minh nhằm lấy lòng vua nhà Thanh vừa tố cáo Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn trước đây trong thì tiếm xưng là hoàng đế Quang Trung, ngoài thì giả cách thuần phục nhà Thanh, nhưng lại ngấm ngầm tiếp tay cho quân phỉ biển “Thiên Địa Hội” để gây chia rẽ nhà Thanh với nhà Tây Sơn. Mặt khác Lưu Nhân Tĩnh cũng tìm mọi cách liên kết với các cựu thần nhà Lê, tầng lớp sĩ phu và những người vốn có oán thù với nhà Tây Sơn để tăng thêm thanh thế và đồng minh.  

Ngô Nhân Tĩnh vừa đi khỏi thì “phụ quốc nguyên công’ Tôn Thất Hội là tướng giỏi của Nguyễn Vương bị ốm nặng và mất. Nguyễn Ánh theo lời của quốc thúc Tôn Thất Thăng đã đưa hoàng tử Cảnh với sự trợ giúp của Bá Đa Lộc và Tống Viết Phước ra trấn giữ Diên Khánh, thay thế cho các tướng Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Tính và Đặng Trần Thường được gấp rút trở về Gia Định luyện quân để chuẩn bị cho chiến dịch mới.

Nguyễn Du từ đầu năm 1997 đã về sống hẳn ở Tiên Điền. Theo Gia phả Nguyễn tộc tính toán năm sinh các con của Nguyễn Du thì năm 1977 Nguyễn Du về sống với vợ là cô Đoàn Nguyễn Thị Huệ (còn gọi là Tộ) là em gái của Đoàn Nguyễn Tuấn. Nhưng theo Nguyễn Trung Chánh thì lúc đầu có lẽ là ông vẫn độc thân sau mới lấy vợ là em của Đoàn Nguyễn Tuấn, bạn thân của Nguyễn Du. Hồ Xuân Hương là Hồ Phi Mai cũng khoảng năm 1796 mẹ gả chồng cho một thầy lang gần Cổ Nguyệt Đường (*) làng Nghi Tàm.  Lưu Hương Ký sau này đă cắt nghĩa nguyên do có điều đau xót ấy.

Họa Thanh Liên Chí Hiên nguyên vận

Khúc hoàng tay nguyệt còn chờ dạy,
Cánh phượng đường mây đã vội chi.
Chua xót lòng xem lời để lại,
Hững hờ duyên bấy bước ra đi.
Thử vàng đá nọ treo từng giá,
Phong gấm hoa kia nở có thì,
Đào thắm mận xanh còn thú lắm,
Xuân ơi đành nở đứt ra về.

Thơ Hồ Xuân Hương chép trong Lưu Hương ký.

Thạch đình tặng biệt

Đường nghĩa bấy lâu trót vẽ vời,
Nước non sầu nặng muốn đi về.
Cung hoàng dịu vợi đường khôn lọt,
Đường nguyệt mơ màng giấc hãy mê.
Đã chắc hương đâu cho lửa bén,
Lệ mà hoa lại quyến xuân đi.
Xanh vàng chẳng phụ lòng ân ái,
Tròn trặn gương tình cũng có khi …

Thơ chữ Nôm Thanh Hiên Nguyễn Du
Hồ Xuân Hương chép trong Lưu Hương ký.

(*) Nhà nghiên cứu Phạm Trọng Chánh có ghi chú : Cổ Nguyệt Đường cạnh chùa Kim Liên, cho nên Phạm Đình Hổ đã viết: Từ thuở làm thân khách Cố kinh. Kim Liên qua lại đã bao lần, anh chàng này từng là học trò cụ Đồ Diễn, nên biết Xuân Hương từ thuở còn thiếu nữ. Trong Vũ Trung tùy bút tr. 42, cho biết năm 1798 -1799 có dạy học tại thôn Khánh Văn, hạ lưu sông Tô Lịch không xa nhà Xuân Hương. Trong Tang Thương Ngẫu lục, q 2 tr 231 có bài ký tả cảnh chùa Kim Liên. “Mùa thu năm Đinh Tỵ (1797) tôi cùng các ông Nguyễn Thạch Hiên, Nguyễn Kính Phủ, Hoàng Hy Đỗ đến vãn cảnh chùa Kim Liên ở làng Nghi Tàm, nơi trụ trì của Hoà Thượng Huệ (nội thị của chúa Uy Vương)”  Phạm Đình Hổ đến thăm Xuân Hương cùng các bạn nhân đó ra về thăm chùa Kim Liên. Qua Vũ Trung Tùy bút ta biết Phạm Đình Hổ nhà ở phố Hàng Buồm và Nguyễn Kính Phủ (Nguyễn Án) ở cạnh đền Lý Quốc Sư bên Hồ Gươm, (nay là phố Nhà Thờ). Quang cảnh chung quanh Cổ Nguyệt Đường thế nào? Theo thơ Tốn Phong, người viết tựa cho Lưu Hương Ký:Phía trước nhà có trồng một cây bàng lớn: Cội bàng trăng khuất chiếu mai đình bài 6. Chung quanh nhà có trồng nhiều cây mai (mơ) Chủ nhân trước viện trắng mai hoa Bài 5, Bên quán người hoa chỉ thích mai.Bài 9 Tiết hàn mai tự nở ngàn hoa bài 26. Nhà nàng cạnh bến trúc làng Nghi Tàm: Vàng bay lá trúc ngõ chuyền oanh. Bài 6, Phượng cầm tự khóm trúc vang thanh, bài 14, Khóm trúc đình mai ta với ta, bài 21, Bến trúc mừng vui gặp mỹ nhân bài 25 Trên bến có trồng vài cây liễu: Bến nước đìu hiu liễu rủ cành, bài 6 Trong vườn có trồng cây vông và cây mận: Ngô đồng lá cũ mơ hồn phượng, ngõ hạnh lạnh tàn chuyển bóng oanh, bài 17.

Năm Mậu Ngọ (1798). Nguyễn Du 33 tuổi. Nguyễn Ánh đang bàn việc mang tin thắng lợi sang báo vua Xiêm (Thái Lan) thì vừa lúc vua Xiêm cử sứ giả sang xin viện binh chống Miến Điện. Nguyên lúc trước ở Băng Cốc vua tôi Nguyễn Ánh lúc sang nương nhờ Thái Lan đã cùng quân tướng Thái Lan đánh lui được quân Miến nên được vua Thái trọng thị. Nay trước việc này, Nguyễn Vương sai Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Đình Đắc đem một vạn quân và chiến thuyền sang cứu viện cho Thái Lan. Quân Nguyễn khi đến Côn Lôn vừa lúc nghe tin quân Miến đã lui, nên chỉ một mình Nguyễn Huỳnh Đức mang quốc thư sang Xiêm còn Nguyễn Văn Trương và Nguyễn Đình Đắc thì mang quân về. Khi về Gia Định lại gặp Nguyễn Văn Nhơn đưa Đặng Đức Siêu là danh sĩ Hàn lâm, kỳ tài của Bồng Sơn Bình Định thường tự ví mình là Quản Trọng Nhạc Nghị, trước làm quan nhà Nguyễn, sau không chịu theo họ Trịnh và nhà Tây Sơn, nay theo thuyền buôn trốn vào dâng sách Bình Tây phương lược. Nguyễn Ánh vui mừng cử làm Trung doanh tham mưu.

Nguyễn Vương cử tướng Nguyễn Văn Thụy làm Khâm sai thượng đạo đại tướng quân cùng tiền quân Lưu Phước Tường, tham mưu Nguyễn Hoài Châu, Nguyễn Văn Uẩn, tham quân Lê Văn Xuân làm cánh quân vu hồi đi cắt đường sang Lào. Cánh quân này có nhiệm vụ trên lối đi dụ người Thượng cùng dấy binh hưởng ứng và đến thành Viên Chăn dụ quốc vương Vạn Tượng cùng người dân ở Trấn Ninh, Thanh Nghệ hành binh đi theo. Quân đi đến đâu cũng phao lên rằng quân Nguyễn cùng quân Xiêm và Lào đang hành binh tiến đánh Thuận Hóa và Tây Nghệ An để đánh lạc lướng và ghìm chân lực lượng tinh nhuệ cửa hai nơi này và quân Bắc Hà vào cứu Quy Nhơn.

Tướng Nguyễn Văn Thụy là người Diên Phước, Quảng Nam vốn là người mưu trí lại có sẵn thẻ thông hành đi các nước, nguyên là tướng thân tùy hộ giá Nguyễn Vương lúc trước ở Băng Cốc, đã ba lần đi sứ nước Xiêm, hai lần quản lĩnh đạo Thanh Châu, và vừa bảo hộ Nguyễn Văn Nhơn đi sứ Xiêm về, nay được Nguyễn Vương cử làm thống tướng phụ trách cánh quân vu hồi này.

Nguyễn Vương lại sai cho hoàng tử thứ hai trọng trách trấn giữ vùng Gia Định và các trọng địa của đất phương Nam, cùng với các tướng là Nguyễn Văn Nhơn làm Chưởng cơ thống lĩnh quân binh kiêm chưởng Bộ Hộ, Nguyễn Tử Châu làm Tham mưu Bồi tán quân vụ.

Tại Bình Định, Nguyễn Bảo là con của Nguyễn Nhạc vì căm giận vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản chiếm giữ đất Tây Sơn bèn định bỏ về hàng Nguyễn triều. Vua Cảnh Thịnh biết mưu ấy sai tướng vào bắt Nguyễn Bảo đưa về dìm xuống sông giết đi. Lại có người nói gièm rằng Nguyễn Bảo sở dĩ làm phản là tại quan trấn thủ Lê Trung. Vua Cảnh Thịnh triệu Lê Trung về Phú Xuân sai võ sĩ bắt chém đi. Được ít lâu sau quan Thái phó Nguyễn Văn Huấn cũng bị giết. Từ đó tướng sĩ Tây Sơn nhiều người nản lòng tìm cơ hội bỏ theo về Nguyễn Vương.

Nguyễn Du làm Hồng Sơn Liệp Hộ ở Tiên Điền. Ba bài Tạp ngâm cho ta thấy cảnh sống của nhà thơ tại bên bờ sông Quế Giang.

TẠP NGÂM I

Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ.

Tiếng thu một tối vượt Lam Hà,
Vô ảnh vô hình đến với ta.
Muôn dậm Tây phong đầu bạc tóc,
Một song thu sắc cúc vàng hoa.
Trăm năm vui khổ bao giờ hết,
Bốc vách thi thư mấy cũng vừa.
Trước ngõ cội tùng trăm thước đứng,
Chúa Xuân ghen có được gì a ?

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẠP NGÂM I

Thu thanh nhất dạ độ Lam hà,
Vô ảnh vô hình nhập ngã gia.
Vạn lý Tây phong lai bạch phát,
Nhất song thu sắc tại hoàng hoa.
Bách niên ai lạc hà thời liễu ?
Tứ bích đồ thư bất yếm đa.
Đình thực cô tùng cao bách xích,
Bất tri thanh đế nại nhân hà ?

Chú thích:
Lam hà : tức sông Lam
Thanh đế: thần mùa xuân, còn gọi Đông đế hay Đông quân. Ý nói cây thường xanh tươi mùa xuân, tiêu điều rụng lá mùa thu, nay trồng một cây tùng xanh tươi suốt năm, chẳng hay chúa Xuân có làm gì được người trồng cây tùng không ?
Xích:  thước đo ngày xưa bằng ba gang tay.

TẠP NGÂM 1 (dịch nghĩa)
Tiếng thu một tối vượt qua sông Lam,
không bóng không hình lọt vào nhà ta.
Gió Tây muôn dậm làm cho mái tóc thêm bạc.
Sắc thu đầy trên cửa sổ trên khóm hoa vàng.
Cuộc vui buồn trăm năm bao giờ hết ?
Sách vở đầy bốn vách, bao nhiêu cũng vừa.
Trước sân trồng một cây tùng cao trăm thước,
không biết chúa Xuân sẽ làm gì được người .

Bài này cho thấy số sách vở họ Nguyễn Tiên Điền không cháy hết còn lại một hai  phần mười mà vẫn còn lại một số chất đầy bốn vách. Đáng tiếc nhất là bộ sưu tập thơ văn của Đoàn Thị Điểm của cụ Nguyễn Nghiễm bị cháy.

TẠP NGÂM II

Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Long Vĩ đầu sông nhà một gian,
Ẩn sầu chót vót bỗng vui tràn.
Đạt nhân lòng tỏ như trăng sáng,
Xử sĩ trước nhà vọng núi xanh.
Gối sách đỡ thân nằm bệnh tật,
Bên đèn rượu nhắp thắm dung nhan.
Suốt ngày bên bếp không đun lửa,
Ngoài song no với khóm hoa vàng.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt

TẠP NGÂM  III

Long Vĩ giang đầu ốc nhất gian,
U cư sầu cực hốt tri hoan.
Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt,
Xử sĩ môn tiền thanh giả san.
Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt,
Đăng tiền đẩu tửu khởi suy nhan.
Táo đầu chung nhật vô yên hỏa,
Song ngoại hoàng hoa tú khả xan.

TẠP NGÂM II (dịch nghĩa): 
Đầu sông Long Vĩ có một gian nhà,
ở ẩn buồn đến cực độ, bỗng thấy vui.
Cõi lòng người khoáng đạt sáng tỏ như vầng trăng.
Trước cửa nhà ẩn dật toàn là núi xanh.
cạnh gối có chồng sách đỡ tấm thân bệnh tật.
Trước đèn uống chén rượu cho vẻ mặt tiều tụy vui tươi  lên.
Suốt ngày bếp không đỏ lửa,
ngoài cửa sổ hoa cúc vàng tươi tốt có thể ăn được.

Bài viết này thêm một bằng chứng Nguyễn Du còn độc thân.

TẠP NGÂM III

Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Tháng tám thu tàn vương mác man,
Khí trời nửa nắng mây mênh mang.
Gió đùa cao trúc trời vang sáo,
Mưa ướt  hoàng hoa đất rãi vàng.
Núi lạnh gió lùa du tử mộng,
Đầm sâu trong suốt chủ nhân lòng.
Cửa ngoài dạo gót nhìn thu sắc,
Thoáng nửa đầu sông, rừng lá phong.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẠP NGÂM III

Mạc mạc thu quang bát nguyệt thâm,
Mang mang thiên khí bán tình âm.
Thu phong cao trúc minh thiên lại,
Linh vũ hoàng hoa bố địa câm (kim).
Viễn tụ hàn xâm du tử mộng,
Trừng đàn thanh cộng chủ nhân tâm.
Xuất môn từ bộ khan thu sắc,
Bán tại giang đầu phong thụ lâm.

BÀI TẠP NGÂM III (dịch nghĩa)

Tháng tám cảnh thu già lặng lẽ,
khí trời mênh mang nửa rạm mây nửa nắng.
Bụi trúc cao gió thổi, tiếng sáo trời nổi lên,
hoa cúc sau trận mưa, rơi xuống rắc hoa vàng trên mặt đất.
Khí lạnh rặng núi xa thấm vào giấc mộng người du tử.
Nước đầm trong suốt giống như lòng chủ nhân.
Ra trước cửa thong thả ngắm sắc thu,
thấy một nửa trên dải rừng phong mé đầu sông.

Năm Kỷ Mùi (1799). Nguyễn Du 34 tuổi. Nguyễn Vương thấy thế Tây Sơn đã suy yếu; cánh quân vu hồi của tướng Nguyễn Văn Thụy cùng phương lược ngoại giao của binh bộ tham tri Lưu Nhân Tĩnh đã hình thành tình thế mới, bèn quyết định cử đại binh ra đánh Quy Nhơn. Nguyễn Vương tự mình làm tướng, chia binh làm hai đường thủy bộ, giao cho tướng trấn giữ Diên Khánh là Đông cung Cảnh với Tả quân phó tướng Nguyễn Đình Đắc, Hữu quân phó tướng Nguyễn Công Thái chẹn giữ các vùng hiểm yếu Phú Yên, Ninh Thuận,  Bình Thuận để làm thanh thế.

Cánh quân tiên phong đường bộ do Nguyễn Văn Thành làm thống tướng, Đặng Trần Thường làm Hiệp tán quân vụ, Trịnh Hoài Đức làm Hộ bộ tham tri, Lưu thủ Vĩnh Trấn Nguyễn Văn Thịnh phụ trách việc vận chuyển lương cho bộ binh.

Cánh quân thủy do Nguyễn Vương trực tiếp thống lãnh, Bình Tây tham thặng đại tướng quân Võ Tánh làm hộ giá, tướng Mai Đức Nghị quản lĩnh hơn năm mươi chiến thuyền  hộ vệ đoàn thuyền lương.

Năm Kỷ Mùi (1799) đầu mùa hè, Nguyễn Vương hạ lệnh xuất quân. Quân Nguyễn và quân Tây Sơn đối trân ác liệt tại cửa Thị Nại Bình Định cho đến Quảng Ngãi. Bá Đa Lộc ốm chết trong quân ở cửa Thị Nại ngày 9 tháng 10 năm 1799, xác được ướp thuốc đưa về chôn ở gần nhà giảng của Lộc ở Gia Định, xây lăng gọi là lăng Cha Cả .

Tướng sĩ Tây Sơn do sự chia rẽ của triều đình Cảnh Thịnh nên một số tướng lĩnh thân tín Nguyễn Nhạc cùng hậu duệ của họ nản lòng bỏ theo về Nguyễn Vương, trong số đó có  đại đô đốc Tây Sơn là Lê Chất, một tướng giỏi đánh trận, người huyện Phù Ly, phủ Bình Định là con rễ của Tư lệ Lê Trung. Lê Chất đưa hơn hai trăm quân bản bộ về hàng được Nguyễn Vương cho làm chức tướng quân dưới quyền Võ Tánh.

Nguyên Lê Chất là thuộc tướng Lê Trung được Lê Trung mến tài gả con gái cho. Lê Chất biết tình thế triều Quang Toản sẽ tan vỡ từ bên trong nên nhiều lần khuyên Lê Trung đầu hàng Nguyễn Ánh nhưng Trung còn do dự chưa quyết. Sau sự biến Nguyễn Bảo bị dìm chết, Lê Trung và Nguyễn Văn Huấn bị giết, vua Cảnh Thịnh lùng bắt Chất rất gấp, Chất giả dạng trốn được. Lê Chất được Tổng quản Tây Sơn là Lê Văn Thanh tiếc tài giữ lại làm thân tín trong doanh. Lê Chất gặp thời cơ đã sang hàng Võ Tánh.

Tướng trấn thủ Quy Nhơn là Lê Văn Ứng thấy quân Nam thế lớn sợ lương thực không đủ dùng nên lệnh cho Tổng quản Nguyễn Văn Thanh, Binh bộ Thượng thư Nguyễn Thái Phác cùng Thiếu úy Nguyễn Tiến Thúy giữ thành còn mình thì mang quân ra thành về ấp Tây Sơn thu chở quân lương. Lê Chất biết rõ tình hình báo cho Võ Tánh lập tức giao tinh binh cho Nguyễn Đức Xuyên và Lê Chất chia làm hai cánh đánh tiêu diệt lớn và cướp binh lương. Lê Văn Ứng thua to, chạy thoát được vào thành, xua quân ra ngoài dàn trận chống cự. Nguyễn Văn Thành Và Võ Tánh đem đại binh vây chặt. Tổng quản Lê Văn Thanh thế cùng phải đóng cửa thành tử thủ để chờ viện binh.

Quang Toản nghe tin thua trận liền sai ngay hai đại tướng Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng mang binh thuyền tới cứu viện. Quân do thám báo về Nguyễn Vương lập tức dẫn đại quân chia ba đường do Lê Văn Duyệt, Tống Viết Phước, Đông cung Cảnh với hai phó tướng là Nguyễn Đình Đắc, Nguyễn Công Thái cùng tiến đánh quân cứu viện; Võ Duy Nghi quản binh thuyền năm doanh án ngữ cửa biển Kim Bồng. Nguyễn Vương tự mình chỉ huy đại quân tiến gấp đến Tân Quan.

Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng vào Quảng Ngãi nghe tin quân Nam đã chiếm Tân Quan bèn bỏ thuyền lên bộ, quân đông tới vài vạn, tiến nhanh như gió cuốn đất. Quân Quang Diệu và Nguyễn Ánh giáp chiến, trong khi Võ Văn Dũng ngầm chia binh theo đường tắt thẳng đến Bến Đá định tập kích Tân Quan đang đêm vượt suối nhỏ bị chạm trán cánh quân mạnh của Tống Viết Phước bị thua to phải lùi về Quảng Ngãi.

Nguyễn Vương lập tức sai đem quân thua của Võ Văn Dũng đi diễu quanh thành Bình Định để làm quân Bắc khiếp sợ, lại lệnh cho Võ Tánh gấp rút công đồn và cho người vào thành dụ hàng. Tổng quản Lê Văn Thanh, Binh bộ Thượng thư Nguyễn Đại Phác, Thiếu úy Trương Tiến Thúy thấy thế không thể chống nổi, phải dâng thành xin hàng. Nguyễn Vương sai Lại bộ Tham tri Phạm Đăng Hưng cùng Lại bộ  Trần Văn Trạc đến thành Quy Nhơn chiêu dụ và tiếp nhận sự đầu hàng.

Phạm Đăng Hưng nguyên là người làng Tân Hòa, Gia Định, là môn sinh của Lại bộ Nguyễn Bảo Trì, thông minh, hiếu học , thạo việc nước , binh thư lịch pháp tinh thông, thường được dự bàn mưu lược trong quân. Phạm Đăng Hưng sau này có con gái là bà Từ Dụ hoàng thái hậu, vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức.

Tướng Nguyễn Văn Thành chỉ huy quân tiên phong và hữu quân kịch chiến năm ngày ở Bến Đá với quân của tướng Tây Sơn Nguyễn Quang Diệu không phân thắng bại. Quang Diệu thấy Võ Văn Dũng thua trận nên không dám ham đánh mà thu binh rút lui. Nguyễn Vương chiếm thành Quy Nhơn.

Nguyễn Vương thu quân về Nam, chọn cử đại tướng quân kiêu dũng thiện chiến Võ Tánh vừa là con rể Nguyễn Vương thống tướng trấn thủ  Bình Định,  Ngô Tòng Chu làm hiệp trấn, Hình bộ Nguyễn Hoài Quýnh làm Bồi tán Quân vụ, Vệ úy Nguyễn Văn Thịnh làm Lưu thủ, Cai cơ Nguyễn Văn Tường làm Cai bạ. Phụng nghị Tá làm Ký lục giúp Võ Tánh ở dinh Trấn thủ. Ba đồn quân ngự lâm Tả Trung Tiền đặt dưới quyền của ba tướng Phan Tiến Huỳnh, Đoàn Văn Cát, Lê Chất, cùng với Nguyễn Văn Tồn chỉ huy lính Xiêm đóng tại các vị trí hiểm yếu che chắn vòng ngoài và tạo thế liên hoàn phòng thủ thành Bình Định. Nguyễn Vương cũng chọn cử tướng Nguyễn Văn Trương đóng giữ cửa Thi Nại. Tướng Nguyễn Văn Tính lưu thủ Diên Khánh, Đặng Trần Thường làm Hiệp trấn, Phạm Tiến Tuấn lưu thủ Phú Yên, Lưu Tiến Hòa lưu thủ Bình Khang, Võ Văn Lân lưu thủ Bình Thuận. Ra lệnh lập sổ dân binh, khen thưởng huân công, bổ dụng con cháu những người trung nghĩa, xét trả lại ruộng đất bị quan quân Tây Sơn chiếm đoạt.

Quy Nhơn trước  thuộc trấn Quảng Nam vốn là đất khởi nghiệp của nhà Tây Sơn, sản vật dồi dào, sức binh hùng mạnh mà Trung ương Hoàng Đế Tây Sơn Nguyễn Nhạc và Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ tranh chấp để giành lấy sự chính danh ngôi vua, đã dẫn đến hiềm khích bất hòa và chia rẽ sâu sắc, dẫn đến suy yếu. Sau hai mươi sáu năm khởi nghiệp nay thành Quy Nhơn bị rơi vào tay quân Nam Triều, Nguyễn Vương cho đổi tên thành Bình Định. Vua Quang Toản nghe tin báo quân Nam đã rút về Nam, chỉ để lại quân tướng giữ thành bèn thương nghị với Trần Văn Kỷ.  Quy Nhơn là đất hưng vượng triều ta mà không giữ được thì làm sao giữ được Phú Xuân và cửa Hàn?

Trần Văn Kỷ người Thuận Hóa, vốn có văn học, là bậc danh sĩ ở Nam Hà. Sách Hoàng Lê Nhất thống chí viết: “Năm Đinh Dậu (1777) niên hiệu Cảnh Hưng, Kỷ thi ở trấn (Phú Xuân) đậu giải nguyên. Năm Mậu Tuất (1778), Kỷ tới kinh (Thăng Long) thi Hội. Sĩ phu ở Bắc Hà, Kỷ có giao thiệp quen biết ít nhiều. Năm Bính Ngọ (1786), Bắc Bình Vương (Nguyễn Huệ) đánh lấy thành Phú Xuân, sai người tìm Kỷ hỏi việc Nam, Bắc. Kỷ đối đáp rất nhanh và rất hợp ý, nên Bắc Bình Vương rất trọng, cho ở vào chỗ “màn trướng”, việc gì cũng bàn với Kỷ, lúc nào cũng gần bên Kỷ, không mấy khi xa rời”. Năm 1786, khi  Nguyễn Huệ xuất quân ra Thăng Long lần thứ nhất để diệt Trịnh, phò Lê; gặp khi vua Lê Hiển Tông mất (ngày 10 tháng 8), Trần Văn Kỷ cùng Nguyễn Hữu Chỉnh đã thay mặt Nguyễn Huệ mặc áo trắng đi theo hầu đám tang vua đến nơi an táng ở Bàn Thạch (Thanh Hóa). Năm 1787, nội bộ Tây Sơn lâm vào tình trạng chia rẽ sâu sắc. Trần Văn Kỷ đã đứng ra lo dàn xếp giữa hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ bằng cách lấy Bản Tân làm ranh giới. Từ Quảng Ngãi trở vào Nam do Nguyễn Nhạc làm chủ, từ Thăng Diện ra Bắc thuộc về Nguyễn Huệ, nhờ mưu kế này đã chấm dứt cuộc hỗn chiến đẫm máu kéo dài suốt từ tháng 1 đến  tháng 5 năm 1787 giữa hai thủ lĩnh Tây Sơn làm thiệt hại chừng một nửa trong số 6 vạn quân của Nguyễn Huệ điều vào Quy Nhơn. Theo sách Tây Sơn thủy mạt khảo của Đào Nguyên Phổ (1861-1908) đã xác nhận điều này “nhờ mưu kế của Trần Văn Kỷ, là người hạnh thần của Nguyễn Huệ bày ra”. Do thành quả trên, ông được phong tước Kỷ Thiện hầu, giữ chức Trung thư Phụng chính, có nhiệm vụ tham mưu, nắm toàn bộ trung thư cơ mật, thảo sắc phong, chiếu lệnh, vị đại thần bên cạnh vua Quang Toản.

Chính vì vậy Quang Toản  đã đích thân dẫn đại quân vào Trà Khúc để đôn đốc các tướng tiến đánh. Trần Nhật Kết nói: Nay là cuối thu, hướng gió không thuận, nên chuẩn bị kỹ quân lương mọi mặt, đầu xuân hãy ra quân. Mặt khác cũng phải đề phòng kinh thành Phú Xuân bị đột kích từ hướng tây và hướng biển. Quang Toản nghe lời, sau khi hội tướng xong bèn để Nguyễn Quang Diệu, Võ Văn Dũng  trấn thủ Quảng Nam và Quảng Ngãi, Nguyễn Văn Giáp trấn thủ Trà Khúc, còn vua thì đem quân về Phú Xuân.

Nguyễn Du năm 1799 vẫn ở làng Tiên Điền. Ông làm Hồng Sơn Liệp Hộ nhưng tâm trạng vẫn khắc khoải nhiều tâm sự buồn. Tôi chép lại trích dẫn các bài thơ Tạp thi của Nguyễn Du và lời bình của Tiến sĩ Nguyễn Trọng Chánh nhưng tôi cho rằng chùm thơ này không phải của giai đoạn Nam Hải Điếu Đồ (Người câu cá ở biển Bắc 1790-1994) mà thuộc giai đoạn này.

Bài Tạp thi I  Ghi lại tâm sự Nguyễn Du: Tráng sĩ bạc đầu bùi ngùi ngẩng nhìn trời, hùng tâm sinh khí mờ mịt cả hai. Chuyện tình với cô Xuân Hương làng Nghi Tàm, cô Cúc làng Trường Lưu thành chuyện hão. Lần lửa đông rét hè nóng, cướp cả tuổi trẻ. Dắt chó vàng mãi vui thú dưới Hồng Lĩnh. Trông mây trắng nằm bệnh bên bờ sông Quế. Ở thôn quê, thích được mua rượu luôn. Trong túi hãy còn ba mươi đồng tiền.

TẠP THI I

Nguyẽn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Bạc đầu tráng sĩ ngẩng trời than !
Dựng nghiệp, mưu sinh thảy lỡ làng.
Thu cúc, xuân lan thành mộng ảo,
Hạ nồng, đông lạnh cướp ngày xanh.
Chó vàng vui thú quanh Hồng Lĩnh,
Mây trắng, nằm đau cạnh Quế Giang.
Vẫn thích làng quê hằng có rượu,
Ba mươi tiền sẵn túi con mang.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

TẠP THI I

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.
Xuân lan, thu cúc thành hư sự,
Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên.
Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ,
Bạch vân ngọa bệnh Quế Giang biên.
Thôn cư bất yếm tần cô tửu,
Thượng hữu nang trung tam thập tiền.

TẠP THI II (dịch nghĩa).
Non Hồng một màu soi bóng xuống làn nước phẳng,
nơi thanh tú tĩnh mịch này, kẻ hàn sĩ có thể ở được.
Mây trắng từ ngàn dậm đến bay in bóng trên giường chiếu,
Trăng sáng soi qua cửa sổ chiếu vào cặp sách túi đàn (*).
Lúc loạn lạc cười khóc cũng theo đời.
Thân  già yếu nên yên lặng để giữ mình.
Chuyện đời trước mắt thay đổi như hoa nở lá rụng.
Quanh năm cõi lòng vẫn thản nhiên như không .

(*) TS. Nguyễn Trọng Chánh bình: Nguyễn Du luôn có bên mình thanh gươm và cây đàn nguyệt. Tình hình Hồng Lĩnh từ sau cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, công an quận công Thận đang kiểm soát gắt gao, tai vách mạch rừng, nói gì cũng phải cẩn thận, cười khóc phải theo thời, thiên hạ đang cười mà mình khóc, thiên hạ đang khóc mà mình cười công an bắt ngay !. Từ khi vua Quang Trung mất, chúa Nguyẽn Ánh nổi dậy đang hùng cứ Nam Hà, chuyện đời sẽ đổi thay như hoa nở lá rụng ).

TẠP THI  II

Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Núi Hồng soi bóng nước xanh trong,
Hàn sĩ nơi đây ẩn cảnh nhàn.
Ngàn dậm mây về quanh chiếu chỏng,
Một song trăng sáng rọi thư đàn.
Khóc cười thời loạn theo trần thế,
Bệnh yếu lặng câm mà giữ thân,
Trước mắt nở hoa rồi rụng lá,
Bốn mùa thanh thản có như không.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẠP THI II

Hồng Sơn nhất sắc lâm bình cừ,
Thanh tịch khả vi hàn sĩ cư.
Thiên lý bạch vân sinh kỷ tịch.
Nhất song minh nguyệt thướng cầm thư.
Tiếu đề tuẫn tục can qua tế,
Giam mặc tàng sinh lão bệnh dư.
Diệp lạc hoa khai nhãn tiền sự,
Tứ thời tâm kính tự như như.

Năm Canh Thân (1800). Nguyễn Du 35 tuổi.  Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng về triều kiến vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản ở Phú Xuân. Vua Quang Toản phủ dụ rằng: Các khanh là trụ cột của triều đình , nên đồng tâm gắng sức để trừ họa ngoài, không nên nghi ngờ nhau.  Hai tướng khóc mà tạ ơn. Diệu nói: Bọn thần đi chuyến nay nếu không thu phục được Quy Nhơn thề không đem binh trở về. Không ngờ, đây chính là chuyến xuất quân định mệnh, bước ngoặt của cục diện quân sự thay đổi dẫn đến sụp đổ nhà Tây Sơn.

Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng vốn là hai chiến tướng trụ cột lừng danh của nhà Tây Sơn, hai  ông cùng với Ngô Văn Sở và Bùi Thị Xuân được người đương thời gọi là Tây Sơn tứ kiệt. Ngô Văn Sở lúc ấy đã chết. Bùi Thị Xuân thì sau này là nữ tướng lẫm liệt bậc nhất của triều Cảnh Thịnh đương đầu với thế quân áp đảo của Nguyễn Vương khi Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng bị hãm trận ở nơi xa.

Nguyên là Võ Văn Dũng sau trận thua nặng nề ở Bến Đá khi ông định tập kích Tân Quan, kỹ luật của quân Tây Sơn rất nghiêm minh, Quang Toản nối chí Nguyễn Huệ nhưng đã quen phong thái cỉ huy của cha, trị quân và khiển tướng rất nghiêm. Mọi sơ suất trong hành binh, đánh trận và thưởng phạt đều xử trọng tội theo quân pháp. Võ Văn Dũng dễ bị tội chết  nhưng nhờ có Quang Diệu che giấu nên Võ Văn Dũng cảm nghĩa ấy mà kết sinh tử với Trần Quang Diệu và cố kết với nhau rất tương đắc. Trần Văn Kỷ, Trần Nhật Kết và Hồ Công Diệu trong Cơ Mật Viện ‘ban tham mưu’ của vua Cảnh Thịnh ở Phú Xuân vốn ghét Nguyễn Quang Diệu oai quyền lấn chủ, tướng ở ngoài thường tự chuyên, hành binh tiến lui và mưu lược đánh trận coi thường mưu kế tcủa ham mưu ở xa. Nay nhân việc binh thua mất đất căn bản Quy Nhơn của Quang Diệu nên đã gửi mật chiếu lệnh cho Dũng thay Diệu nắm trọng binh. Dũng vì mang ơn Diệu nên đưa tờ chiếu ấy cho Diệu xem. Hai người kéo binh về đóng trại ở nam Sông Hương đòi trị tội tên giặc ở bên cạnh vua. Trần Văn Kỷ đổ lỗi cho Hồ Công Diệu và Trần Nhật Kết. Kết bỏ trốn. Quang Toản sai bắt Hồ Công Diệu nộp cho Nguyễn Quang Diệu, bấy giờ Trần Quang Dũng và Võ Văn Dũng mới chịu vào triều kiến và xuất quân đánh Quy Nhơn

Tháng Chạp năm 1800, Trần Quang Diệu sai đắp lũy dài vây đánh thành Quy Nhơn rất gấp, trong khi Võ Văn Dũng thì đem hai tàu lớn và hơn trăm chiến thuyền bố phòng bị nghiêm ngặt cửa biển Thị Nại, xây đồn và đặt súng đại bác ở hai bên cửa biến phòng thủy quân của nhà Nguyễn đánh ra. Tin báo về Gia Định, các tướng đều thấy quân Võ Tánh thế cô, xin xuất binh cứu viện gấp. Nguyễn Vương nói: “Lương thảo trong thành Bình Định đủ ăn một năm. Nay gió mùa đông bắc đang mạnh, chưa tiện đưa thủy quân ra”. Nói rồi cho người ruổi ngựa mang thư khuyến khích Võ Tánh đốc thúc tướng sĩ liều chết cầm cự, một mặt hội tướng bàn việc tiến quân.

Nguyễn Vương điều Đông cung Cảnh về giữ thành Gia Định, lấy Nguyễn Văn Nhơn quyền lãnh Tả quân phó tướng coi sóc mọi việc cùng Đông cung và lo chi viện lương thảo, cử Hình bộ Thượng thư Nguyễn Tử Châu làm hiệp tán cơ vụ. Tấn phong Nguyễn Văn Thụy làm làm Khâm sai thượng đạo Bình Tây đại tướng quân, dẫn một cánh quân  ‘thám báo tinh nhuệ’ đi mua chuộc lòng dân, tổ chức dân binh, hội binh cùng vua Vạn Tượng loan truyền việc đánh Nghệ An và tây Phú Xuyên để kiềm chế viện binh Phú Xuân và Bắc Hà kéo vào tiếp ứng Quy Nhơn. Kế đến là tung thám báo và những người có quan hệ nhiều với triều Lê, tướng trụ cột Tây Sơn để  thăm dò nội tình, gây chia rẽ, lũng đoạn triều chính ngay trong lòng nội bộ Tây Sơn. Đội quân này xuất phát ngay.

Tháng ba năm ấy, Nguyễn Vương lệnh cho Nguyễn Đức Xuyên đưa đội tượng binh và đại quân đường bộ lên đường còn tự mình thì dẫn đoàn chiến thuyền tiến phát tiếp sau. Nguyễn Đức Xuyên ra đến Diên Khánh thì Trần Quang Diệu đã lập 90 đồn binh hùng hậu liên hoàn để phòng giữ. Nguyễn Đức Xuyên xin lệnh Nguyễn Vương về phối hợp tiến công. Các tướng bàn định là nên bỏ Bình Định để tấn công Phú Xuân. Đặng Trần Thường cho rằng không nên vì quân Nam triều thuận gió ập đến, thủy quân Tây Sơn đang hùng hậu và cố thủ ở cửa Thị Nại, nếu thuyền quân Nam tiến ra Phú Xuân thì thủy quân Tây Sơn sẽ thuận gió đuổi theo, hai mặt trước sau giáp công thì quân Nam sẽ rất nguy hiểm. Nên đánh tan thủy binh mới đánh Phú Xuân được. Nguyễn Vương khen phải nên cho chiến thuyền tạm cập bến Cù Mông là nơi luồng lạch không thuận lợi bằng cửa Thị Nại vì Tây Sơn đã chiếm trước và phòng ngự chắc chắn rồi.

Quân sư Đặng Đức Siêu dâng kế là quân Nam nếu bỏ tàu thuyền lên bộ thì thuyền neo lại ngoài khơi rất dễ bị Tây Sơn đánh đoạt, trong khi quân Nam sở trường thủy chiến hơn đánh bộ, sao bằng nhân trời gió nồm lớn gió thuận thế hãy dùng kế hỏa công lấy thuyền cá của dân chở thuốc dẫn nổ và đồ gây cháy đi đầu bí mật xáp trận phá sạch thủy quân của địch thì sẽ có lợi lớn. Sự cần thiết là quân bộ phải tấn công nhiều hướng để thu hút địch và phân tán sự chú ý. Nguyễn Vương theo kế này. Tướng tiền quân Nguyễn Văn Thành kiêu dũng, thiện chiến được giao thống binh tất cả các đạo quân bộ để giao chiến gìm chân tướng giỏi Nguyễn Quang Diệu. Tướng Võ Duy Nghi và Lê Văn Duyệt  cùng đại đội quân thủy tổ chức tập kích Võ Văn Dũng ở Thị Nại.

Quân hai bên giao chiến rất ác liệt. Lúc bấy giờ quân bộ của Nguyễn Văn Thành và Võ Tánh với quân thủy của Nguyễn Vương chưa thông được với nhau. Các tướng thống binh của hai bên đều là tướng tài, chiến sự rất ác liệt giằng co không phân thắng bại.

Nguyễn Du năm 1800 làm Hồng Sơn Liệp Hộ ở Tiên Điền, xứ Nghệ. Anh Nguyễn Nễ ở thành Nghệ An làm hiệp trấn nhung vụ cho Thận Quận Công. Nguyễn Du vẫn thường quan sát diễn biến thời thế. Năm Tân Dậu (1801). Nguyễn Du 36 tuổi.  Chúa Nguyễn cùng cánh quân thủy của Lê Văn Duyệt và các tướng là Nguyễn Văn Trương, Tống Phước Lương, Võ Di Nguy đánh chiếm cửa biển Thị Nại. Tướng Võ Di Nguy bị trúng đạn chết lúc lâm trận, Lê Văn Duyệt trong mưa đạn liều chết hãm trận, càng gắng sức đánh, đốt phá gần hết binh thuyền Tây Sơn. Trận Thị Nại được khen là “võ công đệ nhất” của Nhà Nguyễn, và là “võ công lớn nhất” của Lê Văn Duyệt. Thủy quân Tây Sơn của danh tướng Võ Văn Dũng bị quân Nguyễn Ánh đánh bại, tàu lớn và chiến thuyền đều bị thiêu rụi. Võ Văn Dũng lên bộ, hợp quân với Trần Quang Diệu tiếp tục vây Quy Nhơn. Quân đôi bên đánh nhau rất quyết liệt thì vừa có tin Gia Định báo ra là Đông cung Cảnh bị bệnh đậu mùa đã mất. Nguyễn Vương đau đớn sai Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Tử Châu thay thế giữ công việc trấn thủ Gia Định và lo liệu việc tang. Tháng sau hoàng tử thứ hai tên là Hi cũng mất ở Diên Khánh, đem về táng ở Gia Định.

Nguyễn Ánh sai tướng chỉ huy đạo Trung doanh là Nguyễn Văn Trương tấn công Quảng Ngãi và Quảng Nam. Đô đốc Tây Sơn tên là Tuấn phải bỏ chạy. Đại đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Văn Xuân và Thiếu úy Văn Tiến Thể liều chết cố thủ. Trương cho quân vòng ra phía sau đánh úp, quân Tây Sơn buộc phải tháo chạy. Nguyễn Vương sai Tống Viết Phước và Phạm Văn Nhơn đem binh thuyền tiến gấp ra cửa biển Đà Nẵng phối hợp tác chiến. Đại đô đốc Nguyễn Văn Toản quê huyện Bình Sơn Quảng Ngãi đang quản sáu đạo quân Quảng Ngãi vây Quy Nhơn đã lén theo hàng Nguyễn Ánh và được Nguyễn Vương cho giữ chức Lưu thủ Quảng Ngãi.

Vua Cảnh Thịnh được tin chiến sự cấp báo bèn triệu Trần Văn Kỷ vào định kế ngăn chặn quân Nam đánh ra Bắc. Trần Văn Kỷ tâu: Lực lượng tinh nhuệ quân Tây Sơn nay đang vướng bận vây thành Quy Nhơn và bị cắt đường về không thể ứng cứu, trong khi Nghệ An bị người Vạn Tượng, Trấn Ninh kéo xuống quấy nhiễu. Quân lực ở Quảng Bình và Quảng Trị chỉ đủ trấn giữ địa phương, nên Phú Xuân không còn quân dự bị để ngăn quân Nam tiến ra. Vua cần mời gấp La Sơn Phu Tử về vấn kế.

Gặp vua,  La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp nói ngay: “Song Ngư thủy thiển. Nguyễn thị hoàn lương” (Song Ngư nước cạn. Họ Nguyễn về làng). “Xin bệ hạ gấp dời đô về Nghệ An, ngõ hầu còn kịp” vua Cảnh Thịnh sợ rối loạn lòng quân dân nên do dự chưa quyết.

Trần Văn Kỷ hiến kế cho vua là cử Phò mã Nguyễn Văn Trị đóng đồn trọng binh ở cửa Thuận An, đắp lũy đóng cọc rào để chặn thủy quân Nguyễn Vương, lại lệnh cho Đại đô đốc Nguyễn Văn Xuân và Thiếu úy Văn Tiến Thể thu thập quân mã tiến đánh Nguyễn Văn Trương để khôi phục lại Quảng Nam làm thanh viện cho quân Tây Sơn đang vây thành Quy Nhơn. Xuân  và Thể nghe lệnh đã thu thập binh mã, trước dụ hàng và sau tiến đánh quân Nam của Nguyễn Văn Trương nhưng bị thua nên buộc phải cố thủ.

Tháng 4 âm lịch năm 1801, nhận thấy quân tinh nhuệ của Tây Sơn đều ở cả Quy Nhơn mà lực lượng ở Phú Xuân (Huế) thì rất yếu ớt, Nguyễn Ánh đốc suất toàn bộ thuỷ quân và trên 1.000 chiến thuyền, thuận theo gió nam vượt biển ra phía bắc, đánh thẳng vào cửa Thuận An. Quân Tây Sơn địch không nổi và tan vỡ. Cảnh Thịnh dốc hết tướng sĩ, tự mình cầm quân tới đánh nhau với quân Nguyễn. Gần trưa, quân Tây Sơn đại bại, vỡ chạy tan tác. Quân chúa Nguyễn chiếm lại đô thành, tướng Lê Văn Duyệt bắt sống Phò mã Nguyễn Văn Trị và Đô đốc Phan Văn Sách.

Ngày 3 tháng 5 (tức ngày 15 tháng 6 năm 1801),  Nguyễn Vương tiến vào nội thành Phú Xuân sau khi đánh tan đội thủy quân của nhà Tây Sơn, khiến vua Cảnh Thịnh phải tháo chạy ra Bắc. Một số quan tướng triều Cảnh Thịnh ra hàng, có người được dùng có người bị giết. Vua Gia Long nói: “Bọn khanh trình bày, cố nhiên là có ý phòng ngừa từ trước. Nhưng từ khi ta lấy lại Phú Xuân, bọn tướng giặc đầu hàng có, bắt được cũng có, ta đã tùy nghi xếp đặt, quân của chúng cho xen lẫn với quân ta, dưới quyền quan ta cai quản. Bọn chúng bất quá cai quản năm ba tên thuộc binh mà lệ theo súy phủ, phỏng có mang lòng phản trắc cũng không thi hành vào đâu. Bọn khanh ở quân thứ xa, chưa rõ sự cơ, nên đặc dụ cho biết”.

Nguyễn Vương vừa chiếm Phú Xuân đã lập tức sai Tiết chế Lê Văn Duyệt (có Lê Chất đi theo) đem quân bộ và Tống Viết Phước đem quân thủy, bất kể ngày đêm gấp đường vào cứu Bình Định. Lê Văn Duyệt dọc đường đánh thắng nhiều trận nhưng rốt cuộc không kịp cứu Quận Công Võ Tánh và Lễ Bộ Ngô Tùng Châu. Hai ông vì lương hết, nên đều đã tuẫn tiết vào cuối tháng 5 âm lịch năm 1801. Chúa Nguyễn xét công phong Lê Văn Duyệt làm “Thần sách quân Chưởng tả dinh Đô thống chế Quận Công”, phong cho Lê Chất làm tướng dưới quyền, để cùng mang quân đi thu phục các nơi.

Nguyễn Quang Toản sau khi thua trận, chạy ra Nghệ An ở lại vài ngày, rồi vội ra Thăng Long hội họp tướng sĩ, lo việc chống giữ. Tháng 8 năm đó, vua Quang Toản ở Thăng Long đổi niên hiệu Cảnh Thịnh làm năm đầu niên hiệu Bảo Hưng. Tháng 11, vua đem quân và voi của 6 trấn Hải Dương, Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc, Thanh Hoa, Nghệ An vào đánh, nhưng bị quân nhà Nguyễn đánh thua, lại phải rút về.

Nguyễn Du năm ấy viết hai bài Hành lạc từ. Theo lời bình của nhà Kiều học đích thực, giáo sư văn chương, tiến sĩ Phạm Trọng Chánh, đại học Paris Pháp thì “Bài thơ phản phất không khí thơ bài Lý Bạch mời rượu, Trương Tiến Tửu, hãy vui chơi hôm nay. Đừng lo danh tiếng hảo xa vời khi đã chết, công danh, giàu sang trần thế như phù vân, có rồi lại mất, đời người ai sống được trăm tuổi, làm chi cho mệt cuộc đời. Đọc bài này rồi ta không thể nghĩ rằng Nguyễn Du có thể viết ngược lại đòi ba trăm năm lẻ nữa có người khóc mình trong bài Độc Tiểu Thanh Ký“. (Nguyễn Du- Người đi săn núi Hồng)

HÀNH LẠC I

Nguyễn Du thơ và từ
Nhất Uyên dịch thơ

Chó săn vàng đốm trắng,
Cổ đẹp đeo chuông vàng.
Chàng trai mặc áo ngắn,
Dắt về phía núi Nam.

Núi Nam nhiều nai hương,
Huyết ngọt thịt thơm ngon.
Dao vàng thái món quý,
Rượu ngon uống trăm chung.

Đời ai sống trăm tuổi,
Gặp thời cứ vui chơi.
Tội chi sống bần tiện,
Lo âu suốt đời người.

Di Tề chẳng danh lớn,
Chích Cược không giàu to.
Sống lâu chỉ tám chục,
Tội gì ngàn năm lo.

Có chó cứ làm thịt,
Có rượu cứ nghiêng bầu.
Hay dỡ trên đời sao biết được,
Cần gì lo tiếng hão về sau.

HÀNH LẠC  (I)

Tuấn khuyển hoàng bạch mao,
Kim linh hệ tú cảnh,
Kinh sam thiếu niên lam,
Khiển hướng Nam sơn lĩnh.

Nam sơn hương đa mi,
Huyết nhục cam thả phì.
Kim đao thiết ngọc soạn,
Mỹ tửu lũy bách chi.

Nhân sinh vô bách tải,
Hành lạc dương cập kỳ.
Vô vi thủ bần tiện,
Cùng niên bất khai mi.

Di Tề vô đại danh,
Chích Cược vô đại lợi,
Trung thọ chỉ bát thập,
Hà sự thiên niên kế.

Hữu khuyển khả tu sát,
Hữu tửy thả tu khuynh.
Nhãn tiền đắc táng dĩ nan nhận,
Hà sự mang mang thân hậu danh.

HÀNH LẠC bài từ số I ( dịch nghĩa)

Chó tốt lông vàng đóm trắng,
cổ đẹp đeo chuông vàng,

chàng trai trẻ mặc áo cộc,
dắt về núi phía nam.

Núi phía nam có lắm nai hương,
huyết thơm thịt lại béo,

dao vàng thái thành món ăn quý,
rượu ngon uống hàng trăm chén.

Đời người ai sống trăm tuổi,
vui chơi nên kịp thì,

tội gì giữ nếp nghèo nàn,
suốt năm không mở mặt mở mày.

Bá Di, Thúc Tề cũng chẳng có danh lớn.
Đạo Chích, Trang Cược cũng chẳng giàu to.
Sống lâu cũng chỉ tám mươi tuổi,
cần gì tính chuyện nghìn năm.

Có chó cứ giết ăn thịt,
có rượu cứ uống cho hết;

chuyện trước mắt hay dỡ khó mà biết được,
cần gì phải lo cái danh xa xôi sau khi chết rồi.

Chú thích :
– Di, Tề : Bá Di, Thúc Tề con vua Cô Trúc, một nước thuộc nhàÂn nay thuộc tỉnh Trực Lệ, Khi nhà Ân bị nhà Chu lấy, hai người không phục nhà Chu, lên núi Thú Dương ởẩn rồi nhịn đói mà chết chứ không thèm ăn thóc nhà Chu.
– Chích, Cược : Đạo Chích và Trang Cược hai tên trộm cướp nổi tiếng thời Xuân Thu. Đạo Chích em của Liễu Hạ Huệ có khoảng chín ngàn lâu la, đi bắt bò trâu trộm, cướp vợ người. Trang Cược em Sở Trang Vương cũng là tay cướp đại bợm.
– Trung thọ : Người xưa chia tuổi làm ba bậc : Hạ thọ (60 tuổi), Trung thọ (80 tuổi), Đại thọ (90 tuổi).

HÀNH LẠC  II

Nguyễn Du thơ và từ
Nhất Uyên dịch thơ

Núi cao hoa đào nở,
Tươi như màu lụa đỏ.
Sáng mai đùa xuân xanh,
Chiều tối rơi bùn nhọ.

Hoa nào đẹp trăm ngày ?
Người sống ai trăm tuổi ?
Chuyện đời lắm đổi thay,
Kiếp phù sinh chơi mãi.

Trong tiệc mỹ nữ đẹp như hoa,
Trong hồ có rượu như vàng pha,
Tiếng kèn tiếng sáo như khoan nhặt,
Được dịp hát to cứ hát ca.

Anh có thấy ông Vương Nhung tự tay cầm bàn ngà,
Ngày ngày tính toán lòng chưa vui sướng,
Đài Tam công đổ, cây mận ngon tàn,
Bạc vàng tiêu tán người khác hưởng.

Lại thấy không, ông Phùng Đạo khi về già còn phú quý.
Trải mấy triều vua ngôi cao khanh sĩ,
Chuông minh đỉnh vạc lại hoàn không,
Nghìn năm lưu bài Trường Lạc Tự.

Giàu sang trước mắt như phù vân,
Người nay chỉ biết cười người trước,
Người trước chết chôn đầy tha ma,
Người nay sao vẫn còn xuôi ngược.

Hiền ngu xưa nay một nấm mồ,
Nào ai vượt qua được sống chết.
Anh ơi uống rượu rồi vui chơi,
Kìa trông phía Tây trời đã xế.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

HÀNH LẠC (II)

Sơn thượng hữu đào hoa,
Xước ước như hồng ỷ,
Thanh thần lộng xuân nghiên,
Nhật mộ trước nê trỉ.

Hảo hoa vô bách nhật,
Nhân thọ vô bách tuế,
Thế sự đã suy di,
Phù sinh hành lạc sự.

Tịch thượng hữu kỹ hiểu như hoa,
Hổ trung hữu tửu như kim ba,
Thúy quản ngọc tiêu hoãn cánh cấp.
Đắc cao ca xứ thả cao ca.

Quân bất kiến:
Vương Nhung nha trù thủ tự tróc,
Nhật nhật cối kê thường bất túc,
Tam công đài khuynh hảo lý tử,
Kim tiền tán tán tha nhân phúc.

Hựu bất kiến:
Phùng Đạo vãn niên xung cực quý,
Lịch triều bất ly khanh tướng vị,
Chung minh đỉnh thực cánh hoàn không,
Thiên trải đồ lưu  Trường Lạc Tự.

Nhãn tiền phú quý như phù vân,
Lãng đắc kim nhân tiếu cổ nhân.
Cổ nhân phần doanh dĩ luy luy,
Kim nhân bôn tẩu hà phân phân,

Cổ kim hiền ngu nhất khâu khổ,
Sinh tử quan đầu mạc năng độ.
Khuyến quân ẩm tửu thả vi hoan,
Tây song nhật lạc thiên tương mộ.

HÀNH LẠC (Bài từ số II dịch nghĩa) 

Trên núi có hoa đào tươi
đẹp như tấm lụa đỏ,

sáng sớm còn đùa giỡn với màu xuân đẹp,
chiều tối đã nằm giữa bùn lầy.

Hoa đẹp không được trăm ngày,
người sống lâu mấy ai trăm tuổi,
chuyện đời lắm đổi thay,
kiếp phù sinh nên cứ vui chơi.

Trên tiệc có gái đẹp như hoa,
trong vò có rượu quý như nổi sóng vàng,
tiếng thúy quản, tiếng ngọc tiêu (tiếng kèn, tiếng sáo)
khi mau khi chậm,
được dịp hát to cứ hát to.

Người không thấy
ông Vương Nhung cầm thẻ ngà,

ngày nào cũng tính toán mà trong bụng vẫn thấy chưa đủ.
Đài Tam công cũng đổ, cây mận ngon cũng chết,
bạc vàng tiêu tan cho người khác hưởng.

Lại không thấy
ông Phùng Đạo lúc về già phú quý xiếc bao,

trải mấy triều vua không rời gối khanh tướng,
thế mà miếng đỉnh chung rốt cuộc vẫn không,
nghìn năm chỉ lưu lại bài Trường Lạc Tự.
Phú quý trước mắt không khác gì phù vân,

người nay chỉ biết cười người xưa,
người chết mồ mả đã ngổn ngang,
người sau vẫn bôn tẩu rộn ràng ?
Xưa nay kẻ hiền người ngu cũng chỉ trơ lại một nấm đất,

không ai vượt qua cửa ải sống chết,
khuyên anh nên uống rượu rồi vui chơi,
kìa trong cửa sổ phía tây,
bóng mặt trời đã xế.

Chú thích:

Vương Nhung: một trong Trúc Lâm thất hiền đời Tấn, nhà giàu ruộng vườn khắp các châu, nhưng lại là tay biển lận, ngày nào cũng cầm bàn tính, thẻ ngà trong tay để tính toán, trong nhà có cây mận rất ngon, bán quả sợ người ta được giống, nền dùi nát hột đi rồi mới bán.

Phùng Đạo, người đời Ngũ Đạo, tính chất phác văn chương hay, làm khanh tướng dưới bốn triều Đường, Tấn.. tự đặt hiệu là Trường Lạc lão có làm bài Trường Lão lạc tứ tự kể chuyện mình thờ bốn họ, sáu ông vua.

Đọc bài thơ Hành Lạc Từ của Nguyễn Du chúng ta tìm lại được cái an vui thanh thản của nhà nho ngày xưa. Cái triết lý Á Đông  chấp nhận cuộc đời có sống có chết lẽ thường.

Năm Nhâm Tuất (1802). Nguyễn Du 37 tuổi. Mùa xuân năm 1802, quân nhà Nguyễn qua sông Gianh tiến đánh, hạ được đồn Tâm Hiệu thuộc châu Bố Chính. Quân Tây Sơn tan vỡ, chạy về doanh Hà Trung trong hạt Kỳ Anh. Tháng 5 năm này, Nguyễn Ánh hạ chiếu đổi niên hiệu làm năm đầu niên hiệu Gia Long.

Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng sau khi hạ được thành Quy Nhơn liền đem quân về đánh Phú Xuân. Khi Diệu đem quân ra khỏi địa giới Quy Nhơn thì bị tướng của nhà Nguyễn là Đắc Lộc hầu chặn lại. Quân của Trần Quang Diệu đánh phá nửa ngày nhưng không thể hạ được với vô số người chết và bị thương. Diệu đành đem quân theo đường núi vào Ai Lao, định ra Nghệ An. Được tin, Nguyễn Ánh lập tức cắt đặt các tướng, thống lĩnh các đạo quân thuỷ bộ, hẹn ngày kéo ra Bắc.

Ngày 28 tháng 5, thuỷ quân của nhà Nguyễn tới cửa biển Đan Nhai thuộc Nghệ An, tiến đánh và phá được đồn Quần Mộc. Quân bộ cũng tiến đến phía nam sông Thanh Long rồi vượt sang bờ phía Bắc. Hai mặt thuỷ bộ đều tiến công, quân Tây Sơn bỏ chạy tán loạn. Quân nhà Nguyễn bèn xông lên cướp kho thóc Kỳ Lân. Trấn thủ của nhà Tây Sơn là Nguyễn Văn Thận cùng với hiệp trấn Nguyễn Triêm, thống lĩnh Nguyễn Văn Đại, thiếu uý Đặng Văn Đằng bỏ thành chạy ra miền Bắc. Đến đồn Tiên Lý, Nguyễn Triêm tự thắt cổ; còn Nguyễn Văn Thận chạy ra trấn Thanh Hoa. Quân nhà Nguyễn lấy được thành Nghệ An.

Trần Quang Diệu ở Quỳ Hợp xuống đến địa phận Hương Sơn thì nghe tin Nghệ An đã thất thủ, bèn đến Thanh Chương, qua sông Thanh Long,  rồi chạy ra trấn Thanh Hoa. Tướng sĩ đi theo Diệu dần dần tản mát mỗi người một nơi. Quân nhà Nguyễn đuổi kịp, bắt sống được Diệu.

Tháng 6, quân nhà Nguyễn tiến đánh thành Thanh Hoa. Em vua Quang Toản là đốc trấn Nguyễn Quang Bàn cùng Nguyễn Văn Thận, Đặng Văn Đằng đều đầu hàng.

Ngày 18, Nguyễn Ánh tiến ra Thăng Long, quân Tây Sơn hoàn toàn tan vỡ. Nguyễn Quang Toản bỏ thành cùng với em là Nguyễn Quang Thùy và đô đốc Tú qua sông Nhĩ Hà chạy về hướng bắc. Sau đó, Quang Thùy và vợ chồng Tú đều tự thắt cổ. Còn vua cùng các bề tôi đều bị thổ hào Kinh Bắc bắt được đóng cũi giao nộp cho Nguyễn Ánh. Quan lại của nhà Tây Sơn ở các trấn hoặc trốn, hoặc hàng, không ai dám chống lại.

Vua Gia Long vài tháng sau về lại Phú Xuân, sửa lễ cáo miếu dâng tù, đem Nguyễn Quang Toản ra dùng cực hình giết chết, rồi bố cáo cho khắp cả nước đều biết. Quang Toản cùng những người con khác của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đều bị Gia Long sai dùng cực hình 5 voi xé xác. Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc cũng bị trả thù rất dã man: Mồ mả bị khai quật, hài cốt bị giã nát vứt đi; đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ của vợ chồng Nguyễn Huệ đều bị giam ở nhà Đồ Ngoại, sau lại đưa vào cấm cố vĩnh viễn trong ngục thất (Nơi ấy, nay thuộc địa điểm Trường Đại học Nông Lâm Huế).

Quang Toản khi bị hành hình, mới 19 tuổi. Triều đại Tây Sơn chấm dứt.

Nguyễn Du năm ấy vẫn ở Tiên Điền làm Hồng Sơn Liệp Hộ. Nguyễn Du viết bài thơ “Đi săn” là trong dịp này.

ĐI SĂN

Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Kẻ đạt quan trường chí đỉnh mây,
Còn ta vui thú với hươu nai.
Cốt lòng thư thái không mong được,
Không hại điều nhân diệt các loài.
Xạ ngủ cỏ thơm hương ướt ẩm,
Núi xa, chó sủa tiếng ngoài tai.
Thú vui phù thế âu tùy thích,
Xe đón lộng che ấy những ai ?

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

LIỆP

Y quan đạt giả chí thanh vân,
Ngô diệc lạc ngô mi lộc quân.
Giải thích nhàn tình an tại hoạch,
Bỉnh trừ dị loại bất phương nhân.
Xạ miên thiển thảo hương do thấp,
Khuyển độ trùng sơn phệ bất văn.
Phù thế vi hoan các hữu đạo,
Khu xa ủng cái thị hà nhân.

Chú thích:
Thanh vân, mây xanh, chỉ công danh thành đạt.

Nguyễn Du người đi săn ở núi Hồng  đã tỏ chí mình trong bài Liệp “Đi săn” như sau : “Những người áo mũ hiển đạt để chí mình ở đường mây, còn ta, ta vui với bầy hươu nai của ta, cốt là để khuây khỏa trong lúc nhàn chớ đâu phải ham được thịt thú. Diệt trừ giống khác hại chăng đến đức nhân ? Con xạ ngủ nơi đồng cỏ non hương thơm còn ướt. Con chó vượt qua nhiều lớp núi, tiếng sủa không còn nghe thấy. Tìm thú vui chơi trong cuộc phù sinh mỗi người một sở thích. Những người lọng đón xe đưa là người nào thế nhỉ ?” Nguyễn Hành viết về Phi Tử Nguyễn Du trong bài Ca tụng việc đi săn (Trương Chính. Thơ chữ Hán Nguyễn Du  Nxb Văn Học, Hàn Nội 1965,  tr 38) : Đó là ông nói việc đi săn của người tầm thường, chứ ông đâu có biết việc đi săn của bậc đại nhân. Bậc đại nhân đi săn không ở chỗ đi săn. Họ nhỡn nhơ chỗ nọ chỗ kia, ngắm núi ngắm rừng. Họ trèo lên đỉnh cao để nhìn vực thẳm, tắm gội nơi suối trong, thơ thẩn giữa cây tùng cây bách, nhìn tạo vật biến hóa, đùa giỡn với hươu nai, do đó mà tinh thần được thư thái, ý chí được trau giồi, lòng dạ thảnh thơi không bận bịu, mây nhẹ nhàng luồn trong tay áo, gió phất phơ thổi đưa tà áo, trông thấy kinh kỳ trong gang tấc, hứa hẹn những cuộc ngao du. Bậc đại nhân đi săn như thế, người tục đâu có biết !

Mùa thu năm Nhâm Tuất (1802), vua Gia Long diệt nhà Tây Sơn, Nguyễn Du ra làm quan Tri huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hưng Yên); mấy tháng sau ông được thăng chức tri phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (nay thuộc Hà Nội). Năm Quý Hợi (1803), Nguyễn Du được cử lên ải Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long. Năm Ất Sửu (1805) ông được thăng Đông các đại học sĩ (hàm Ngũ phẩm), tước Du Đức hầu và vào nhậm chức ở kinh đô Phú Xuân. Năm Đinh Mão (1807) ông được cử làm giám khảo kỳ thi Hương ở Hải Dương. Mùa thu năm Mậu Thìn (1808), ông xin về quê nghỉ. Năm Kỷ Tỵ (1809) ông được bổ chức Cai bạ (hàm Tứ phẩm) ở Quảng Bình. Năm Quý Dậu (1813) ông được thăng Cần chánh điện Đại học sĩ và được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh. Tập thơ Bắc Hành tạp lục được hoàn thành trong dịp này. Năm 1814 ông đi sứ về, được thăng Hữu tham tri bộ Lễ (hàm Tam phẩm) ông được về nghỉ ở quê Tiên Điền sáu tháng, ông dựng lều thơ ở bến Giang Đình và hoàn thành Truyện Thúy Kiều. Năm Bính Tý (1816), anh rể Nguyễn Du là Vũ Trinh vì liên quan đến vụ án cha con Tổng trấn Nguyễn Văn Thành nên bị đày vào Quảng Nam. Năm (Canh Thìn) 1820 Gia Long qua đời Minh Mạng nối ngôi. Lúc này Nguyễn Du được cử đi làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong nhưng ông bị bệnh dịch chết ngày 16 tháng 9 năm  1820 nhằm ngày mồng 10 tháng 8 Canh Thìn lúc ông 55 tuổi. Năm Giáp Thân (1824), di cốt của ông được cải táng về quê nhà Tiên Điền, Hà Tĩnh.

*

Nguyễn Du làm Nam Hải Điếu Đồ (Người đi câu ở biển Nam) và Hồng Sơn Liệp Hộ (Người đi săn ở núi Hồng) là ẩn ngữ đời người. Ông trầm tĩnh quan sát sự chuyển dời vận nước ở những thời khắc quyết định với nhãn quan thấu suốt, tầm nhìn minh triết và thông tuệ lạ thường. Nguyễn Du là danh sĩ tinh hoa, hào kiệt lỗi lạc, một nhân cách lớn. Nghiên cứu bình sinh hành trạng Nguyễn Du soi tỏ cuộc đời, thời thế, tâm hồn Nguyễn Du 250 năm nhìn lại.


Kiều – Nguyễn Du
nguyenduvanguyencongtru1

Nguyễn Du năm 1814 sau khi đi sứ Thanh về, được vua ban thưởng trọng hậu, ông được về nghỉ ở quê Tiên Điền sáu tháng, ông dựng lều thơ ở bến Giang Đình và hoàn thành Truyện Thúy Kiều.

truyenthuykieu

Nguyễn Công Trứ “Vịnh Thúy Kiều” đã viết: “Từ Mã Giám Sinh cho tới chàng Từ Hải. Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu. Bây giời Kiều còn hiếu vào đâu. Mà bướm chán ong chường cho đến thế. Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa. Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm. Bán mình trong bấy nhiêu năm. Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai”.

Bài thơ ‘Vịnh Thúy Kiều’ trên đây và lời của Nguyễn Du viết về Kiều:“Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”. (Ba trăm năm nữa chốc mòng. Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như?) cho đến nay vẫn là lời thách đố với lịch sử ẩn ngữ đời người “trơ gan cùng tuế nguyệt”.

Nguyễn Công Trứ ‘Vịnh Thúy Kiều’ thực chất là sự đánh giá và chính sách của triều đình nhà Nguyễn đối với  Nguyễn Du và đám con cháu cựu thần nhà Lê, vừa luôn cảnh giác đề phòng vừa tiếc tài mà trọng dụng. Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ là hai bài học lớn về phép xử thế của hai bậc cao sĩ giữa đời thường.

*

NGUYỄN DU 250 NĂM NHÌN LẠI là 15 chuyên luận của Hoàng Kim được viết rãi rác nay  tập hợp lại và hiệu đính bổ sung hoàn thiện từng phần: 1) Nguyễn Du quê hương và dòng họ; 2) Nguyễn Du cuộc đời và thời thế (Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ 1765- 1780, Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc 1781-1796, Nguyễn Du hai mươi bốn năm cuối đời 1797- 1820), 3) Bình sinh và hành trạng Nguyễn Du, 4) Nguyễn Du thơ chữ Hán, 5) Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ, 6) Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, 7) Nguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng, 8) Nguyễn Du là bậc anh hùng, 9) Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa, 10) Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, 11) Nguyễn Công Trứ và Vịnh Thúy Kiều, 12) Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa, 13) Lưu Hương Ký và Truyện Thúy Kiều, 14) Thêm tư liệu quý về Nguyễn Du, 15) Nguyễn Du nửa đêm đọc lại.

*

Nguyễn Du đã vượt lên vinh nhục bản thân giữa thời nhiễu loạn, vàng lầm trong cát để trao ngọc cho đời. Nguyễn Du ra làm quan triều Nguyễn giữ các chức vụ từ tri huyên, cai bạ, cần chánh điện đại hoc sĩ, chánh sứ đến hữu tham tri bộ lễ. Ông là nhà quản lý giỏi, yêu nước thương dân, Nguyễn Du để lại kiệt tác Truyện Kiều di sản muôn đời và Bắc Hành tạp lục kiệt tác sử thi tuyên ngôn ngoại giao nhân nghĩa rạng danh nước Việt.  Nguyễn Du được vua Gia Long phong làm làm Hữu Tham tri Bộ Lễ và tước Du Đức hầu sau khi ông làm Chánh sứ ngoại giao nhà Thanh năm 1813 trở về. Cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Du là một sự thật lịch sử thật đáng suy ngẫm.

Hoàng Kim

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Vietnamese Dan Bau Music
KimYouTube

Nguyễn Du trăng huyền thoại

nguyen-du

Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối (1797- 1820) đã vượt lên vinh nhục bản thân giữa thời nhiễu loạn, vàng lầm trong cát để trao ngọc cho đời. Nguyễn Du ra làm quan triều Nguyễn giữ các chức vụ từ tri huyên, cai bạ, cần chánh điện đại hoc sĩ, chánh sứ đến hữu tham tri bộ lễ. Ông là nhà quản lý giỏi yêu nước thương dân, Nguyễn Du viết thơ chữ Hán Bắc Hành tạp lục là kiệt tác sử thi và tuyên ngôn ngoại giao nhân nghĩa  làm rạng danh nước Việt. Ông để lại kiệt tác Truyện Kiều là di sản muôn đời.

Tóm tắt hành trạng Nguyễn Du (1765-1796)

Bình sinh và hành trạng Nguyễn Du đã làm sáng tỏ sự thật lịch sử về quê hương và dòng họ, cuộc đời và thời thế Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ (1765-1780) Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781-1796), đã làm những việc gì và ở đâu, trong bối cảnh lịch sử chi tiết từng năm từ lúc Nguyễn Du sinh ra cho đến lúc ông bị bắt giam, được tha về sống với gia đình ở Tiên Điền, xứ Nghệ cuối năm 1796, kết thúc 15 năm lưu lạc và chuyển sang  Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối đời (1797-1820) ông làm gì ở đâu?.

Đánh giá hành trạng Nguyễn Du (1765-1796) Nguyễn Công Trứ và ‘Vịnh Thúy Kiều’ viết: “Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa. Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm. Bán mình trong bấy nhiêu năm. Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai“. Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ thân mật hay chống đối nhau? Tự tổng kết cuối đời của Nguyễn Du, từ trước năm 1797 cho đến hết Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối đời (1797- 1820): “Gương trong chẳng chút bụi trần”. Ông lựa chọn minh triết nhập thế dấn thân, vượt lên vinh nhục bản thân giữa thời nhiễu loạn, vàng lầm trong cát để trao ngọc cho đời  Bài học Nguyễn Du là bài học muôn đời của một bậc anh hùng hiền triết danh sĩ tinh hoa.

Tóm tắt hành trạng Nguyễn Du (1765-1796) đã cho thấy: Nguyễn Du trước năm 1997 tận lực trung thành với vua Lê dựng cờ cần vương, Ông cùng Lê Quýnh và 23 nghĩa sĩ nhà Hậu Lê “Để lời thệ hải minh sơn . Làm con , trước phải đền ơn sinh thành”. “Đau lòng tử biệt sinh ly, Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên! Hạt mưa sá nghĩ phận hèn. Liệu đem tấc cỏ báo đền ba xuân“.

1. Nguyễn Du và cùng với Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến (Hà Mỗ trong Gia Phả họ Nguyễn Tiên Điền, là cha nuôi Nguyễn Du và tâm phúc Nguyễn Nhiễm) và thân binh đã can đảm, bình tĩnh bảo vệ vua Lê Hiển Tông, ngang nhiên đối mặt với Nguyễn Huệ khi Bắc Bình Vương lần đầu ra Bắc. Nguyễn Du và nhà Nguyễn Tiên Điền là lực lượng chính đã giúp cho vua Lê chống lại nhà Tây Sơn. Nguyễn Du đã trực tiếp tổ chức khởi nghĩa ở Tư Nông (Thái Nguyên) Nguyễn Quýnh anh Nguyễn Du chỉ huy các lực lượng nổi dậy liên thủ với vua nước Vạn Tượng (Ai Lao) tấn công Tây Nghệ An (Trấn Ninh). Vua Lê cũng phát động khởi nghĩa ở Tuyên Quang, Cao Bằng trong sư phối hợp. Ba chiến dịch mặc dù đều bị thất bại, vì binh lực Tây Sơn quá mạnh, thiện chiến và đàn áp quá tàn khốc trong khi binh lực nhà vua Lê mỏng yếu, Lê mạt, Trịnh vong, quân nhát, tướng hèn, nội bộ nghi ngờ lẫn nhau, vua không tin dùng nhà Nguyễn Tiên Điền vì Nguyễn Khản là thầy của chúa Trịnh Tông (chúa Trịnh Sâm là cha của chúa Trịnh Tông. Trịnh Sâm là người sát hại thái tử Lê Duy Vĩ, cha của vua Lê Duy Kỳ sau này và giam anh em Lê Duy Kỳ 15 năm trong ngục tối). Nhà Nguyễn Tiên Điền bị vu oan giá họa là đã dẫn dắt Tây Sơn ra đánh chiếm Bắc Hà (mà thực chất là do mưu của Nguyễn Hữu Chỉnh). Nhà Nguyễn Tiên Điền bị vua nghi ngờ, tước hết binh quyền, nhưng Nguyễn Du lòng trung trinh vẫn không thay đổi.

2. Nguyễn Du và Nguyễn Đăng Tiến dù bị vua Lê không tin dùng, lại bị tước hết binh quyền giao cho kẻ khác, chỉ còn lại một ít thân binh nhưng khi vua Lê chạy lên Thái Nguyên, Nguyễn Hữu Chỉnh bị bắt và bị giết, quân bị tan rã nhưng ông vẫn can đảm tạo thế cần vương, một lòng với Lê Quýnh  tập hợp các cựu thần nhà Lê và số nho sĩ thật lòng phò vua để tạo dựng cơ đồ lập ‘thế Tam phân’ với nhà Nguyễn Gia Miêu và nhà Tây Sơn.

3. Nguyễn Du đã giúp vua Lê tạo dựng được thế ngoại giao với nhà Thanh qua việc ông cùng Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến, sau khi khởi nghĩa Tư Nông (Thái Nguyên) thất bại,  bị Vũ Văn Nhậm bắt và được thả, ông chịu lưu lạc nhiều năm, trãi gian khổ trăm bề đi lại tại vùng Nam Trung Quốc, Bắc Hà và miền Trung, kể cả việc từng lên tận cung Nhiệt Hà để cầu kiến vua Càn Long.  Nguyễn Du không “khảng khái’ cứng cỏi bị giết như Nguyễn Quýnh, mà cũng không quá tùy thời như Nguyễn Nễ, người anh cùng mẹ, khi nhà Tây Sơn lên đã ra phò nhà Tây Sơn ngay. Nguyễn Du cân nhắc tình thế, xuất xử chuẩn xác theo thời gian. Nguyễn Du viết: “Cổ kim vị kiến thiên niên quốc” (xưa nay chưa thấy triều đại nào đứng vững ngàn năm). Nguyễn Du minh triết, mưu lược, điềm tĩnh, chắc chắn, là một nhà nho thức thời.

4. Nguyễn Du sau những năm Quang Trung mất (1792) ông càng thấy rõ ràng hơn sự suy sụp tất yếu khó bề cứu vãn của nhà Tây Sơn do anh em bất hòa, lòng người ly tán. Trước đây ông không chịu theo nhà Tây Sơn và cũng không chịu theo nhà Nguyễn Gia Miêu mà trọng nghĩa khí và mưu việc tự lập “Bó thân về với triều đình. Hàng thần lơ láo phận mình ra sao. Áo xiêm ràng buộc lấy nhau. Vào luồn ra cúi công hầu mà chi. Sao bằng riêng một biên thùy. Sức này đã dễ làm gì được nhau. Chọc trời, khuấy nước ma84c dầu. Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” (Kiều – Nguyễn Du).  Mùa đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du trốn trốn khỏi quê nhà nhưng bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An vì cho rằng ông định vào Gia Định liên thủ với chúa Nguyễn Ánh. Trong thời gian bị giam, Nguyễn Du có làm thơ My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù) để tỏ ý. Sau khi được tha, ông về sống hẵn ở Tiên Điền và kết thúc Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781-1796)

5. Nguyễn Du được vua Càn Long nhà Thanh tặng bức hoành phi, ngày nay treo ở giữa Từ đường Nguyễn Du thể hiện sự tôn trọng đặc biệt của vua Càn Long, với bốn chữ “Hồng Sơn thế phổ” (bên tả có bức hoành đề ghi rõ: Càn Long thập ngũ niên đoan nguyệt cát nhật; Bức bên hữu có bốn chữ “Long chương điệp tích” bên hữu bức hoành này đề “Càn Long thập ngũ niên đoan nguyệt cát nhật” Bức bên tả có bốn chữ “Thiên môn tái đăng” bên tả bức hoành đề  “Đại Thanh Gia Khánh nguyên niên Bính Thìn mạnh xuân” . Chuyện có liên quan tới manh mối  vua Lê Chiêu Thống bị “bán đứng” trong Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết Sơn. Đây là uẩn khúc đặc biệt của lịch sử. Vua Lê Chiêu Thống bị giới làm sử đời sau phê phán gay gắt nhưng nhà Nguyễn do Nguyễn Ánh thành lập sau đó, lại nhìn nhận khá rộng lượng với Chiêu Thống. Hoàng đế Tự Đức có lời phê về Chiêu Thống, đại ý nói: “Nhà vua bị người ta lừa gạt, bị giám buộc ở quê người đất khách, đến nỗi lo buồn phẫn uất, ôm hận mà chết, thân dẫu chết, nhưng tâm không chết, kể cũng đáng thương! Vậy nên truy đặt tên thụy là Mẫn Đế“. Nguyễn Du được vua Gia Long phong làm làm Hữu Tham tri Bộ Lễ (chức á khanh dưới chức Thượng thư Bộ Lễ) và tước Du Đức hầu sau khị ông hoàn thành nhiệm vụ Chánh sứ ngoại giao với nhà Thanh năm 1813 trở về. Sự thật đáng suy ngẫm.

*

Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối (1797- 1820)

(Còn tiếp…)

NGUYỄN DU 250 NĂM NHÌN LẠI15 chuyên luận (viết rãi rác nay được tập hợp và đang hiệu đính bổ sung hoàn thiện từng phần): 1) Nguyễn Du quê hương và dòng họ; 2) Nguyễn Du cuộc đời và thời thế Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ (1765- 1780), Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781-1796), Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối (1797- 1820), 3) Bình sinh và hành trạng Nguyễn Du, 4) Nguyễn Du thơ chữ Hán, 5) Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ, 6) Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, 7) Nguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng, 8) Nguyễn Du là bậc anh hùng, 9) Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa, 10) Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, 11) Nguyễn Công Trứ và Vịnh Thúy Kiều, 12) Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa, 13) Lưu Hương Ký và Truyện Thúy Kiều, 14) Thêm tư liệu quý về Nguyễn Du, 15) Nguyễn Du nửa đêm đọc lại.

Mời đọc lại Bình sinh và hành trạng Nguyễn Du

DẠY VÀ HỌC . BẾN XƯA THƯƠNG CÂU HÒ XỨ SỞ. Nếu mỗi nghệ sĩ chỉ chọn một bài ca để trò chuyện với công chúng thì Bến xưa của Lê An Tuyên, Nguyên Hùng đủ neo lại trong lòng tôi suốt đời. ” Dù đi đâu, không vơi niềm nhung nhớ. Thương cánh buồm xuôi ngược sớm khuya. Để má em thắm câu thơ anh dệt mộng. Ta yêu thương nâng niu từng con sóng. Âm thầm vỗ trong ta suốt đời… Anh nhớ về… về lại bến xưa…!.”. Cảm ơn Lê An Tuyên, Nguyên Hùng. Cám ơn Quế Thương, Đăng Thuật, Bích Hồng … những người bạn tài hoa đã nói hộ lòng tôi tình yêu dòng sông quê hương thao thiết chảy.

Sao anh không về bến sông quê. Về lại bến xưa thương câu hò xứ sở. Sao anh không về lại bến xưa? Ngọt ngào lời hát … mẹ ru …”  Những nốt nhạc tài hoa, mượt mà, hay nao lòng của  Lê An Tuyên đã làm thăng hoa lời thơ ngọt ngào, sâu lắng, thấm đẫm chất dân ca của Nguyên Hùng với sự thể hiện tuyệt vời của Đăng Thuật, Bích Hồng, Quế Thương, … Khúc hát quê hương Bến xưa làm lòng ta rưng rưng, khát khao yêu thương, đánh thức một trời thương nhớ tự trong sâu thẳm tâm hồn những người xa xứ và bất cứ ai yêu quê hương xứ sở.

Trở lại bến xưa …


Bến Xưa – Bích Hồng (thể hiện) Nhạc: Lê An Tuyên, Thơ: Nguyên Hùng

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Vietnamese Dan Bau Music
Vietnam traditional music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu

Nguyễn Du trăng huyền thoại

nguyendu9

NGUYỄN DU BÌNH SINH VÀ HÀNH TRẠNG
Hoàng Kim

Nguyễn Du sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766 (nhằm ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu) tại phường Bích Câu ở Thăng Long (Hà Nội), mất ngày 16 tháng 9 năm 1820 (ngày 10 tháng tám năm Canh Thìn). Nguyễn Du cuộc đời và thời thế tìm hiểu sự thật lịch sử bình sinh và hành trạng Nguyễn Du lần lượt theo từng năm, những sự kiện chính tại đàng Trong đàng Ngoài, các nước liên quan và của gia tộc Nguyễn Du, nhằm bổ sung thông tin về lịch sử, văn hóa, con người cho bối cảnh hình thành kiệt tác Truyện Kiều.

Nguyễn Du không chỉ là nhà thơ lớn, danh nhân văn hóa thế giới mà còn là danh sĩ tinh hoa, minh sư hiền tài lỗi lạc, vượt lên vinh nhục bản thân giữa thời nhiễu loạn, vàng lầm trong cát để trao ngọc cho đời. “Nguyễn Du là người rất mực nhân đạo trong một thời đại ít nhân đạo” (Joocjo Budaren nhà văn Pháp). Ông chí thiện, nhân đạo, minh triết, mẫu hình con người văn hóa tương lai. Kiều Nguyễn Du là bài học tâm tình hồn Việt. Truyện Kiều của Nguyễn Du đã thấm sâu vào hồn Việt và lan tỏa khắp thế giới.

Nguyễn Du 250 năm nhìn lại (1766-2016) tư liệu mới, có tham khảo thông tin từ Hội thảo Khoa học cấp Quốc gia ‘Kỷ niệm 250 năm năm sinh Đại thị hào dân tộc Nguyễn Du” vào ngày 23 tháng 12 năm 2015 tại Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Tập kỷ yếu của Hội thảo này gồm 79 bài, trong sách 1013 trang (có 997 trang tác giả). Các thông tin này tuyển chọn từ gần 100 tham luận từ các nơi gửi về, xa nhất từ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, lãnh thổ Đài Loan, gần hơn là của các tác giả trong nước. Ban biên tập đọc duyệt là những nhà nghiên cứu có uy tín, nhiều vị là những chuyên gia về Nguyễn Du và Truyện Kiều. PGS.TS Đoàn Lê Giang và GS.TS Huỳnh Như Phương được phân công cân nhắc tuyển chọn và đọc duyệt lần cuối. Tài liệu kỷ yếu đã đúc kết nhiều thông tin quý giúp nhận diện được tổng quan lịch sử, hiện trạng, các định hướng chính trong nghiên cứu Nguyễn Du và Truyện Kiều của hội nhập toàn cầu. Chùm bài viết “Nguyễn Du 250 năm nhìn lại” không thuộc tham luận hội thảo. Tôi là nhà khoa học xanh, người thầy chiến sĩ, dạy học nghề nông. Tôi không chuyên về ngôn ngữ và văn chương, nhưng yêu thích Nguyễn Du và Truyện Kiều, nên mong góp một góc nhìn theo phương pháp tiếp cận liên ngành:  nghiên cứu con người, bối cảnh lịch sử, văn hóa.
Tóm tắt Tổng luận Nguyễn Du và Truyện Kiều được nêu dưới đây trước khi vào chi tiết.

Tổng luận Nguyễn Du và Truyện Kiều

1. Nguyễn Du không chỉ là nhà thơ lớn, danh nhân văn hóa thế giới mà còn là bậc anh hùng hào kiệt, danh sĩ tinh hoa, minh sư hiền tài lỗi lạc. Nguyễn Du rất mực nhân đạo và minh triết, ông nổi bật hơn tất cả những chính khách và danh nhân cùng thời.

2. Nguyễn Du quê hương và dòng họ cho thấy gia tộc Nguyễn Tiên Điền là dòng họ lớn đại quý tộc, thể hiện qua câu Kiều: “Triều đình riêng một góc trời/ Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà.” Họ Nguyễn Tiên Điền có thế lực mạnh đến mức nhà Lê, họ Trịnh, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn đều tìm mọi cách liên kết, lôi kéo, mua chuộc, khống chế hoặc ra tay tàn độc để trấn phản.

3. Nguyễn Du cuộc đời và thời thế là bức tranh bi tráng của một bậc anh hùng hào kiệt nhân hậu, trọng nghĩa và tận lực vì lý tưởng. Nguyễn Du đã phải gánh chịu quá nhiều chuyện thương tâm và khổ đau cùng cực cho gia đình ông do biến thái của thời cuộc ”Bắt phong trần phải phong trần.Cho thanh cao mới được phần thanh cao“. Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ (1765-1780) mẹ mất sớm, ông có thiên tư thông tuệ, văn võ song toàn, văn tài nổi danh tam trường, võ quan giữ tước vị cao nơi trọng yếu; người thân gia đình ông giữ địa vị cao nhất trong triều Lê Trịnh và có nhiều người thân tín quản lý phần lớn những nơi trọng địa của Bắc Hà. Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781-1796) là giai đoạn đất nước nhiễu loạn Lê bại Trịnh vong, nội chiến, tranh đoạt và ngoại xâm. Nguyễn Du và gia đình ông đã chịu nhiều tổn thất nhưng ông kiên gan bền chí tận tụy hết lòng vì nghĩa. Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối đời (1797- 1820) ra làm quan triều Nguyễn giữ các chức vụ từ tri huyên, cai bạ, cần chánh điện đại hoc sĩ, chánh sứ đến hữu tham tri bộ lễ. Ông là nhà quản lý giỏi yêu nước thương dân,Nguyễn Du viết thơ chữ Hán Bắc Hành tạp lục là kiệt tác sử thi và tuyên ngôn ngoại giao nhân nghĩa  làm rạng danh nước Việt. Ôngđể lại kiệt tác Truyện Kiều là di sản muôn đời.

4. Minh triết ứng xử của bậc hiền tài trước ngã ba đường, ngã ba sông đời, là chí thiện và thuận theo tự nhiên “Tùy cơ, tùy vận, tùy thiên mệnh, tùy thời, tùy thế, lại tùy nghi” Nguyễn Du ký thác tâm sự vào Truyện Kiều là ẩn ngữ ước vọng đời người, tâm tình và tình yêu cuộc sống “Thiện căn cốt ở lòng ta, Chữ tâm kia mới thành ba chữ tài” .

5. Truyện Kiều kế thừa và phát triển tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng Truyện Kiều có tầm ảnh hưởng sâu rộng hơn nguyên tác, trở thành hồn Việt, và là tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam được dịch ra hơn 20 thứ tiếng. Hồng Lâu Mộng cũng là kiệt tác chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất của tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng khác chiều kích văn hóa giáo dục và giá trị tác phẩm.

6. Nhân cách, tâm thế của con người Nguyễn Du đặt trong mối tương quan với Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh của thời đại Hậu Lê Trịnh – nhà Tây Sơn – đầu triều Nguyễn; khi so sánh với Tào Tuyết Cần là văn nhân tài tử của thời đại cuối nhà Minh đến đầu và giữa nhà Thanh thì vừa có sự tương đồng vừa có sự dị biệt to lớn.

7. Kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du có sự tương đồng với kiệt tác Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần. Gia tộc của Nguyễn Quỳnh – Nguyễn Thiếp – Nguyễn Du tương đồng với gia tộc của Tào Tỷ – Tào Dần – Tào Tuyết Cần nhưng nền tảng đạo đức văn hóa khác nhau  Nhấn mạnh điều này để thấy sự cần thiết nghiên cứu liên ngành lịch sử, văn hóa, con người tác gia, bởi điều đó chi phối rất sâu sắc đến giá trị của kiệt tác.

8. NGUYỄN DU 250 NĂM NHÌN LẠI có 15 chuyên luận (viết rãi rác nay được tập hợp và hiệu đính) : 1) Nguyễn Du quê hương và dòng họ; 2) Nguyễn Du cuộc đời và thời thế Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ (1765- 1780) Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781-1796), Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối (1797- 1820), 3) Nguyễn Du bình sinh và hành trạng, 4) Nguyễn Du thơ chữ Hán, 5) Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ, 6) Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, 7) Nguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng, 8) Nguyễn Du là bậc anh hùng, 9) Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa, 10) Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, 11) Nguyễn Công Trứ và Vịnh Thúy Kiều, 12) Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa, 13) Lưu Hương Ký và Truyện Thúy Kiều, 14) Thêm tư liệu quý về Nguyễn Du, 15) Nguyễn Du nửa đêm đọc lại.


*

Nguyễn Du quê hương và dòng họ

Nguyễn Du tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn Liệp Hộ, lại có hiệu Nam Hải Điếu Đồ (kẻ đi câu ở biển Nam). Nguyễn Du họ Nguyễn Tiên Điền quê hương Nghệ Tĩnh nhưng sống nhiều nơi “Hồng Lam vô gia, huynh đệ tán”, mẹ họ Trần đất Kinh Bắc, tổ tiên Sơn Nam, khởi nghiệp Thái Nguyên, nhiều năm lưu lạc giang hồ ở châu thổ sông Hồng, vùng núi phía Bắc, Nam Trung Quốc,và Nghệ Tĩnh, nhiều năm làm quan ở Quảng Bình và kinh đô Huế. Nguyễn Du là danh sĩ tinh hoa, tính tình khoan hòa điềm tĩnh, đi nhiều, học rộng, là nhà thơ nổi tiếng thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam.

Cha của Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), sinh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, tên tự Hy Di, hiệu Nghi Hiên, có biệt hiệu là Hồng Ngự cư sĩ, đậu Nhị giáp tiến sĩ , làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng) kiêm Trung thư giám, Tổng tài Quốc sử giám, tước Thượng thư bộ Hộ, Xuân Quận công triều Lê.

Mẹ là bà Trần Thị Tần, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1740, mất ngày 27 tháng 8 năm 1778, con gái một người thuộc hạ của Nguyễn Nhiễm làm chức Câu kê lo việc kế toán, quản gia cho cụ Nguyễn Nghiễm. Quê mẹ Nguyễn Du ở làng Hoa Thiều, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du (Đông Ngàn), xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Bà Trần Thị Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, bà kém chồng 32 tuổi, sinh được năm con, bốn trai và một gái.

Nguyễn Nghiễm có tám vợ và 21 người con. Vợ chánh thất là bà Đặng Thị Dương, sinh mẫu của Nguyễn Khản (1734-1786); bà hai là Đặng Thị Thuyết, sinh mẫu của Nguyễn Điều (1740-1786), bà là em ruột của bà chánh thất Đặng Thị Dương; bà ba là Trần Thị Tần, sinh mẫu của Nguyễn Trụ (1757-1775, con trai thứ 3), Nguyễn Nễ (1761-1805, con trai thứ 6), Nguyễn Thị Diên, Nguyễn Du (1765- 1820, con trai thứ 7, nên tục gọi là cậu Chiêu Bảy), Nguyễn Ức (1867-1823, con trai thứ 8); bà tư là Nguyễn Thị Xuyên, quê ở xã Hoàng Mai, Yên Dũng, Kinh Bắc, sinh mẫu của Nguyễn Quýnh (1759- 1791, con trai thứ 4), bà năm là Nguyễn Thị Xuân, quê xã Tiêu Sơn, huyện Yên Phong, xứ Kinh Bắc, sinh mẫu của Nguyễn Trừ (1760 -1809, con trai thứ 5) và Nguyễn Nghi (1773- 1845, con trai thứ 10); bà sáu là Phạm Thị Diễm, quê xã Hải Lộ, huyện Nam Chân, xứ Sơn Nam, sinh mẫu của Nguyễn Lạng (1768- 1817), con trai thứ 9), bà bảy là Hồ Thị Ngạn, người xã Hoa Viên, huyện Nghi Xuân, sinh mẫu của Nguyễn Nhưng (1763-1824), con trai thứ 11; bà tám là Hoàng Thị Thược, người xã Đan Hải, Nghi Xuân, sinh mẫu của Nguyễn Tốn (1767- 1812), con trai thứ 12 (Trích theo đúng gia phả, bản dịch của cụ Giải nguyên Lê Thước dịch từ năm 1962).

Đền thờ Nguyễn Nghiễm ở thôn Bảo Kê, xã Tiên Điền. Đền có 3 tấm biển lớn, một khắc 4 chữ “Phúc lý vĩnh tuy” (Phúc ấm lâu dài) do tự tay chúa Trịnh viết. Một tấm khắc 4 chữ: “Dịch tế thư hương” (dòng thư hương đời nối đời) do Đức Bảo sứ thần nhà Thanh đề tặng. Một biển khắc 4 chữ “Quang tiền du hậu” (Rạng rỡ thế hệ trước, phúc ấm ở đời sau) do Tô Kính người Viễn Đông đề tặng. Đền còn có đôi câu đối: Lưỡng triều danh Tể Tướng. Nhất thế đại nho sư (Nho sư cả nước vang danh hiệu. Tể tướng hai triều rạng tiếng tăm). Danh sĩ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, người được Nguyễn Huệ tôn làm thầy, là học trò của Nguyễn Nhiễm, đã viết bài tán Phú Đức nói về thầy học của mình. Nguyễn Nhiễm khi còn sống đặt ruộng cúng và xây sẵn đền thờ ở mặt sông. Sau khi ông mất, triều đình phong “Thượng Đẳng Tôn Thần”, Huân Du Đô Hiến Đại Vương, hàng năm Quốc gia làm tế lễ. Lại giao cho 4 xã chăm sóc hương khói. Ngày sinh, ngày giỗ của ông có cả xã Uy Viễn cùng tế lễ.

Tổ tiên của Nguyễn Du gốc ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc Hà Nội), sau di cư vào Hà Tĩnh, có truyền thống khoa bảng nổi danh ở làng Tiên Điền thời Lê mạt. Trước ông bảy thế hệ, viễn tổ họ Nguyễn Tiên Điền là Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm, con trai Nguyễn Miễn và là cháu Nguyễn Quyện, gọi Nguyễn Quyện bằng bác ruột, thời Lê Trung hưng có dự mưu phục lại nhà Mạc, bị thua trận chạy về phương Nam giấu hẵn tung tích đến sinh cơ lập nghiệp ở Tiền Điền Nghi Xuân. (Nguyễn Miễn là con của Trạng nguyên Nguyễn Thiến, hậu duệ người em của Nguyễn Phi Khanh). Nguyễn Trãi và Nguyễn Du cùng dòng họ và chung một ông tổ.

Ông nội của Nguyễn Du là Nguyễn Quỳnh. Ông có 5 vợ và 9 con (6 trai, 3 gái). Trong số 6 người con trai thì có 3 người con đậu đại khoa và làm quan to là Nguyễn Huệ , Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Trọng. Ông Nguyễn Quỳnh là người hay đọc sách, tinh thông lý số, giỏi kinh dịch, … Ông chuyên tâm dạy con cái học hành, có soạn ba bộ sách bàn về Kinh Dịch với những việc chiêm nghiệm được trong đời. Ông có trồng ba cây cổ thụ, một cây Muỗm (Xoài), một cây Bồ Lỗ (Cây Nóng), một cây Rói, để sau này con cái thành đạt về thăm cha có chỗ buộc ngựa. Những cây cổ thụ đó, nay vẫn còn, trừ cây Rói bị bão đổ năm 1976. Nguyễn Quỳnh giỏi y thuật từ khi còn trẻ nghe nói có gặp một người Trung Quốc là Ngô Cảnh Phượng (dòng dõi Ngô Cảnh Loan- một nhà địa lý nổi tiếng đời Tống)am hiểu địa lý, gặp nạn, ông đưa về nuôi. Ngô Cảnh Phượng cảm phục ân đức đã truyền cho bí quyết về phong thủy. Họ Nguyễn Tiên Điền thịnh đức, nếp nhà di huấn nối đời làm thuốc và dạy học, nếu có làm quan biết giữ tiết tháo, đức độ, thanh thận cần.

Vợ chính thất của Nguyễn Du họ Đoàn là con thứ sáu của Đoàn Công, Hoàng giáp Phó Đô ngự sử Quỳnh Châu bá người Quỳnh Côi, Hải An (xưa thuộc Sơn Nam, nay thuộc Thái Bình). Theo gia phả của họ Nguyễn Tiên Điền thì ông bà sinh con trai tên Nguyễn Tứ tự là Hạo Như có văn học, Nguyễn Ngũ giỏi võ, Nguyễn Thuyến giỏi văn nhưng không tham gia chính sự. Năm Quý Dậu (1813), bà theo ông đi sứ phương Bắc, về nước được vài năm bị bệnh mất. Bà sinh được một gái gả cho Tú tài Ngô Cảnh Trân, người ở Trảo Nha, Thạch Hà.

Một trong những người yêu thương nhất của Nguyễn Du là Hồ Phi Mai (Hồ Xuân Hương) bà chúa thơ nôm, quê ở Quỳnh Đôi, có quan hệ mật thiết với họ Hồ nhà Tây Sơn, tác giả của Lưu Hương ký. Hồ Xuân Hương cũng là tác giả của những tác phẩm thơ nổi tiếng: Bánh trôi nước, Kẽm Trống, Nhớ người cũ, viết gửi Cần Chánh Học Sĩ Nguyễn Hầu, Khóc ông phủ Vĩnh Tường, Khóc Tổng Cóc, Làm lẽ, Tự tình, Mời trầu, Đề đền Sầm Nghi Đống, Đèo Ba Dội, Hang Cắc Cớ, Cái quạt, Đánh đu, Thiếu nữ ngủ ngày, Không chồng mà chửa, Chùa Quán Sứ,  Sư hổ mang, Sư bị ong châm, Quan thị, Mắng học trò dốt … bài nào cũng thực thông minh, hóm hỉnh, vừa sâu sắc vừa cận nhân tình. Hồ Xuân Hương là một phụ nữ đặc biệt tài hoa nhưng bất hạnh. Bà có tới ba đời chồng là Tổng Cóc, Tri phủ Vĩnh Tường và Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển, người  bị kết án năm 1816 và bị xử tử năm 1818.

Gia tộc Nguyễn Du có nhiều người giỏi và giữ những vị trí trọng yếu của thời cuộc: cha là Nguyễn Nhiễm làm Tể tướng hai triều Lê; chức quan trước khi cáo lão về trí sĩ là thượng thư bộ Hộ, Đại Tư đồ, Tham tụng, tặng tiệp dinh Tả tướng, tước Xuân Quận công, anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản làm Tể tướng, Tham tụng, Thượng thư bộ Lại kiêm trấn thủ Thái Nguyên, Hưng Hóa triều Lê; cha nuôi là quan trấn thủ Thái Nguyên Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến, tướng tâm phúc của Nguyễn Nhiễm; cha vợ là Hoàng giáp Phó Đô ngự sử Quỳnh Châu bá Đoàn Nguyễn Thục; anh cùng mẹ là Nguyễn Nễ đứng đầu ngoại giao của cả ba triều Lê, Tây Sơn, Nguyễn (Nguyễn Nễ từng trãi Cai đội quân Nhất Phấn giữ phủ chúa Trịnh, Hiệp tán quân vụ nhà Lê, Tả Phụng nghi bộ Binh, Hiệp tán quân vụ trấn Quy Nhơn, Chánh sứ, Tả đồng nghị trung thư sảnh trấn Nghệ An nhà Tây Sơn, phụ tá Tổng trấn Bắc thành nhà Nguyễn); anh ruột là Nguyễn Điều làm trấn thủ Sơn Tây của triều Lê; anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn làm Thị Lang bộ Lại nhà Tây Sơn; anh rể là tiến sĩ Vũ Trinh làm Hữu Tham tri bộ Hình, thầy dạy Nguyễn Văn Thuyên, con của Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành.

Điểm đáng lưu ý là Nguyễn Du cũng là chú vợ của vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh. Cuốn gia phả cung cấp về cụ Nguyễn Trừ, anh trai thứ năm của Nguyễn Du : “Ông tên húy là Trừ, …, con bà trắc thất Nguyễn Thị Xuân, người xã Tiêu Sơn, huyện Yên Phong , Bắc Ninh và vẫn lưu ở quê mẹ. Năm Giáp Tý (1804) đổi làm Tri phủ Nam Sách. Ngày 8 tháng Giêng năm Gia Long thứ 8 (22 tháng 2 năm 1809) ông mang bệnh và mất ở đây, thọ 50 tuổi, đem về táng ở Tiêu Sơn (quê mẹ). Vợ kế thất là Tống Thị Thiếu sinh được 4 con trai Đại, Trù (làm tri phủ Vĩnh Tường), Hồng, Hiệp, có con gái là Thị Uyên được tuyển làm cung tần của vua Gia Long”. Vậy Nguyễn Trù là bố vợ và Nguyễn Du là chú vợ của vua Gia Long.

Nguyễn Du rất được quý trọng của nhiều danh sĩ đương thời. Văn chương của ông đặc biệt lưu truyền sâu rộng trong lòng dân. Ông giao thiệp rộng với nhiều tướng văn võ của triều Lê như Hoàng Ngũ Phúc, Nguyễn Hữu Chỉnh, với danh thần nhà Tây Sơn như La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ, Phan Huy Ích, Ngô Văn Sở, Thận Quận công, với danh thần nhà Nguyễn như Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Phạm Văn Hưng, Nguyễn Công Trứ, Trương Đăng Quế, Nguyễn Văn Giai…

Nguyễn Du mất ở Kinh Đô Huế ngày 10 tháng tám năm Canh Thìn (ngày 16 tháng 9 năm 1820), an táng tại cánh đồng Bào Đá, xã An Ninh, huyện Phong Điền. Năm Giáp Thân (1824), hài cốt của cụ được cải táng đưa về quê nhà ở Đồng Ngang thuộc giáp cũ của bản xã (có bút phê) ở thôn Thuận Mỹ, làng Tiên Điền, Hà Tĩnh. Những năm sau đó dời đến táng cạnh đền thờ Nguyễn Trọng và lại cải táng đến xứ Đồng Cùng, giữa một vùng cát rộng. Mộ cụ Nguyễn Du qua nhiều trùng tu, ngày một tôn nghiêm hơn.

*

Nguyễn Du cuộc đời và thời thế

Niên biểu cuộc đời Nguyễn Du chia làm ba phần: Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ (1765- 1780) Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781-1796), Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối (1797- 1820), Nguyễn Du không phải mười năm gió bụi mà thực sự mười lăm năm lưu lạc khớp đúng truyện Kiều và cũng khớp đúng mười lăm năm “bảy nổi ba chìm với nước non” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Niên biểu Nguyễn Du, tuổi thơ (1765-1780)

BandoVietnam1760

Hình thế nước Đại Việt đàng Trong và đàng Ngoài năm 1760 (vẽ bởi công ty Cóvens e Mortier, Amsterdam)  Nguyễn Du đêm thiêng đọc lại  giúp chúng ta tầm nhìn toàn cảnh về thời thế và niên biểu Nguyễn Du trước và sau mùa xuân Kỷ Dậu năm 1790.

Năm Ất Dậu (1765), Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 (nhằm ngày 3 tháng 1 năm 1766) lúc Nguyễn Nghiễm 58 tuổi, bà Trần Thị Tần 26 tuổi. Nguyễn Du được gọi là cậu Chiêu Bảy. Năm ấy cũng là năm Vũ Vương mất, Trương Phúc Loan chuyên quyền. Trước đó, từ ông Nguyễn Hoàng trở đi, họ Nguyễn làm chúa trong Nam, phía bắc chống nhau với họ Trịnh, phía nam đánh lấy đất Chiêm Thành và đất Chân Lạp, truyền đến đời Vũ Vương thì định triều nghi, lập cung điện ở đất Phú Xuân, phong cho Nguyễn Phúc Hiệu người con thứ 9 làm thế tử. Bây giờ thế tử đã mất rồi, con thế tử là Nguyễn Phúc Dương hãy còn nhỏ mà con trưởng của Vũ Vương cũng mất rồi. Vũ Vương lập di chiếu cho người con thứ hai là hoàng tử Cốn lên nối ngôi nhưng quyền thần Trương Phúc Loan đổi di chiếu lập người con thứ 16 của Vũ Vương, mới có 12 tuổi tên là Nguyễn Phúc Thuần lên làm chúa, gọi là Định Vương. Nguyễn Phúc Ánh là con của hoàng tử Cốn. Nguyễn Phúc Ánh sinh ngày Kỷ Dậu tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (1762) lớn hơn Nguyễn Du ba tuổi. Trương Phúc Loan là người tham lam, làm nhiều điều tàn ác nên trong nước ai ai cũng oán giận, bởi thế phía nam nhà Tây Sơn dấy binh ở Quy Nhơn, phía bắc quân Trịnh vào lấy Phú Xuân, làm cho cơ nghiệp họ Nguyễn xiêu đổ.

Năm Đinh Hợi (1767), Nguyễn Du hai tuổi, Nguyễn Nghiễm được thăng Thái tử Thái bảo, hàm tòng nhất phẩm, tước Xuân Quận công. Lúc này Trịnh Doanh mất, con là Trịnh Sâm lên làm chúa. Lê Duy Mật đem quân về đánh Hương Sơn và Thanh Chương rồi rút về Trấn Ninh. Trịnh Sâm cho người đưa thư sang vỗ về không được, mới quyết ý dùng binh để dứt mối loạn. Cũng năm ấy (1767) nước Miến Điện sang đánh Xiêm La (Thái Lan ngày nay) bắt vua nước ấy và các con vua mang về Miến Điện. Hai người con khác của vua Xiêm La một người chạy sang Chân Lạp, một người chạy sang Hà Tiên. Trịnh Quốc Anh (Taksin) một tướng Thái gốc Hoa người Triều Châu tỉnh Quảng Đông khởi binh chống quân Miến Điện giành lại độc lập, tự lập làm vua Xiêm La và dời đô về Thonburi, bên bờ sông Chao Phraya, đối diện với Bangkok. (Nguyên nước Xiêm La vốn là một vương quốc Phật giáo tên là Xích Thổ (Sukhothai) ở miền Bắc Thái Lan, dần thay thế vai trò của Đế chế Khmer (Chân Lạp) đang tàn lụi vào thế kỷ 13 – thế kỷ 15. Năm 1283 người Thái có chữ viết. Sau đó người Thái mở rộng lãnh thổ xuống phía nam, và năm 1350 chuyển kinh đô xuống Ayuthaya, phía bắc Bangkok 70 km. Năm 1431, quân Xiêm cướp phá Angkor của Chân Lạp. Nhiều bảo vật và trang phục của văn hóa Hindu đã được họ đem về Ayutthaya, lễ nghi và cách ăn mặc của người Khmer được dung nhập vào thượng tầng văn hóa Xiêm. Trong khoảng 400 năm, từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 18, giữa người Thái và người Miến Điện láng giềng luôn xảy ra các cuộc chiến tranh và kinh đô Ayuthaya bị huỷ diệt ở thế kỷ 18. Người Hoa sau biến cố Minh Thanh cũng ngày một nhiều ở Xiêm La).

Năm Kỷ Sửu (1769), Nguyễn Du bốn tuổi, được phong ấm Hoằng Tín đại trung thành môn vệ úy xuất thân thu Nhạc công. Ông dung mạo khôi ngô, Việp Quận công (Hoàng Ngũ Phúc) trông thấy lấy làm lạ ban cho bảo kiếm. Năm đó, Trịnh Sâm sai Bùi Thế Đạt, Nguyễn Phan, Hoàng Đình Thể đem ba đạo quân của Nghệ An, Thanh Hóa, Hưng Hóa tiến đánh Trấn Ninh. Lê Duy Mật thua mà chết.

Năm Tân Mão (1771), Nguyễn Du sáu tuổi. Tây Sơn dấy binh. Nguyễn Nhạc lập đồn trại ở đất Tây Sơn, chiêu nạp quân sĩ, người về theo rất đông. Nguyễn Nhạc nguyên tổ bốn đời là họ Hồ cùng một tổ với Hồ Quý Ly, người gốc ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, gặp lúc chúa Trịnh chúa Nguyễn đánh nhau, bị bắt đem vào ở ấp Tây Sơn thuộc phủ Hoài Nhân, đất Quy Nhơn. Đến đời của Nguyễn Phi Phúc dời nhà sang ấp Kiên Thành, sinh được Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ (Hồ Thơm). Lúc khởi binh nhà Tây Sơn lấy họ mẹ là Nguyễn để khởi sự cho dễ thu phục nhân tâm vì đất miền Nam vốn đất chúa Nguyễn. Năm 1771, Nguyễn Huệ mười tám tuổi, đã sớm tỏ ra là một bậc anh tài quân sự, định kế và cầm quân cùng anh. Cũng năm ấy, vua Xiêm La là Trịnh Quốc Anh (Taksin) khởi binh đánh vua Chân Lạp là Nặc Tôn nhưng không thắng bèn quay sang đem binh thuyền sang vây đánh con vua cũ là Chiêu Thúy ở Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ là con Mạc Cửu và bà phi họ Nguyễn, tướng giữ thành Hà Tiên của nhà Nguyễn giữ không nổi phải bỏ thành chạy. Vua Xiêm La Trịnh Quốc Anh sai tướng giữ Hà Tiên và tiến đánh Chân Lạp. Quốc vương Chân Lạp là Nặc Tôn phải bỏ thành chạy. Vua Xiêm La chiếm Nam Vang (Phnom Penh ngày nay).

Năm Nhâm Thìn (1772), Nguyễn Du bảy tuổi. Tháng sáu năm 1772, chúa Nguyễn sai quan Tổng suất là Nguyễn Cửu Đàm đem quân đánh Xiêm La. Quân của Nguyễn Cửu Đàm tiến đến Nam Vang, quân Xiêm La bỏ chạy về Hà Tiên. Nặc Non cũng chạy về Cầu Bột. Nặc Tôn lại về làm vua Chân Lạp. Vua Xiêm La Trịnh Quốc Anh đưa thư sang gọi Mạc Thiên Tứ về để giảng hòa. Mạc Thiên Tứ không chịu. Vua Xiêm La Trịnh Quốc Anh bèn cử tướng giữ Hà Tiên, rồi bắt con gái Mạc Thiên Tứ và Chiêu Thúy đem về nước. Năm sau, Mạc Thiên Tứ thấy việc không xong bèn giảng hòa. Vua Xiêm La trả lại con gái cho Mạc Thiên Tứ và giết Chiêu Thúy. Mạc Thiên Tứ trở về giữ đất Hà Tiên. Nước Chân Lạp vốn là nền văn minh Khmer đã phát triển rực rỡ từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 13, và lụi tàn vào thế kỷ 13-thế kỷ 15. Trước đó thời Tùy Đường có nước Phù Nam bao gồm Campuchia, nam Việt Nam, nam Thái Lan ngày nay. Từ thế kỷ 5 một tộc người Môn-Khmer hình thành một thuộc quốc Chân Lạp (Chenla) ở khu vực Bắc Campuchia và Nam Lào . Đến thế kỷ 7, Chân Lạp chiếm toàn bộ lãnh thổ Phù Nam. Một phần của Phù Nam ở phía tây Chân Lạp là nước Xích Thổ (Sukhothai). Nước này sau chia làm hai vào khoảng thế kỷ XI, XII thời Tống Kim và nhập làm một thời Minh, khi cầu phong Minh Thái Tổ gọi là nước Xiêm La. Thời các chúa Nguyễn mở đất Chiêm Thành thì Xiêm La cũng luôn tìm cách lấn chiếm Chân Lạp.

Năm Quý Tỵ (1773), Nguyễn Du tám tuổi. Nhà Tây Sơn xây dựng lực lượng và củng cố căn cứ ở vùng An Khê, khôn khéo khai thác sự chia rẽ triều đình chúa Nguyễn bằng tuyên bố lật đổ Trương Phúc Loan, khôi phục ông hoàng hợp pháp, lấy lòng người bằng cách cướp của người giàu chia người nghèo. Tây Sơn thu phục được công chúa Chăm, hương chức Nguyễn Thung, Huyền Khê, hai nhà buôn người Hoa là Lý Tài và Tập Đình cũng gia nhập. Nguyễn Nhạc dùng mưu kế tự nhốt mình vào củi, lừa chiếm được thành Quy Nhơn, đánh bại quân tiếp viện Phú Xuân, cuối năm ấy Tây Sơn đã toàn thắng, chiếm từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận.

Năm Giáp Ngọ (1774), Nguyễn Du chín tuổi. Nguyễn Nhiễm sung chức tả tướng, cùng Hoàng Ngũ Phúc đi đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong với danh nghĩa đuổi quyền thần Trương Phúc Loan và đánh dẹp quân nổi loạn. Quân Trịnh vượt sông Gianh chiếm Đồng Hới mà không cần giao tranh. Quân Nguyễn hầu như không có kháng cự nào vì binh lực tập trung chống nhà Tây Sơn đang thừa thắng chiếm Quảng Ngãi và đánh lui quân cứu viện năm dinh phía nam, chúa Trịnh Sâm lại thừa cơ dẫn đại quân vào Nghệ An trợ chiến tăng thanh thế, lòng người oán ghét Trương Thúc Loan nên làm nội ứng giúp quân Trịnh, Quảng Nam lại có nạn đói trầm trọng. Triều đình chúa Nguyễn nộp Trương Phúc Loan nhưng quân Trịnh vẫn tiến quân và chiếm kinh đô Phú Xuân đầu năm 1775.

Năm Ất Mùi (1775), Nguyễn Du mười tuổi: Anh trai cùng mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Trụ (sinh 1757) qua đời. Năm ấy, chúa Nguyễn chạy vào Quảng Nam lập cháu là Nguyễn Phúc Dương làm Đông Cung để lo việc chống trả. Quân Tây Sơn ở Quy Nhơn kéo ra đánh chiếm Quảng Nam. Chúa Nguyễn Định Vương liệu không chống cự nổi nên cùng cháu là Nguyễn Ánh chạy vào Gia Định, chỉ để Đông Cung ở lại Quảng Nam chống giữ. Nguyễn Nhạc biết Đông Cung yếu thế và muốn mượn tiếng nên sai người rước Đông Cung về Hội An. Họ Trịnh vượt đèo Hải Vân, đẩy lui quân Tây Sơn do Tập Đình làm tiên phong, Lý Tài làm tướng trung quân. Nguyễn Nhạc xét tội Tập Đình thua trận định giết. Tập Đình vội trốn về Quảng Đông và bị giết. Nguyễn Nhạc đưa Đông Cung về Quy Nhơn. Tống Phước Hiệp ở phía nam nhân lúc Nguyễn Nhạc thua trận đã tiến quân chiếm lại Phú Yên. Tống Phước Hiệp cho Bạch Doãn Triều và cai đội Thạc đến đòi Nguyễn Nhạc trả Đông Cung cho nhà Nguyễn. Nguyễn Nhạc theo kế Nguyễn Huệ giả vờ ưng thuận, một mặt mượn lệnh Đông Cung phủ dụ Tống Phước Hiệp và Chu Văn Tiếp đem tướng sĩ năm dinh về theo phò Đông Cung, mặt khác lại cho người mang vàng bạc châu báu đến dâng Hoàng Ngũ Phúc xin nộp ba phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên để xin cho Nguyễn Nhạc được làm tướng tiên phong đánh Gia Định. Hoàng Ngũ Phúc viết khải văn dâng lên chúa Trịnh Sâm phong tướng hiệu cho Nguyễn Nhạc. Trịnh Sâm sai Nguyễn Hữu Chỉnh mang sắc chỉ, cờ, ấn kiếm của vua Lê đến ban cho Nguyễn Nhạc. Tống Phước Hiệp do mắc lừa không đề phòng nên bị Nguyễn Huệ đánh bại. Lý Tài được nhà Tây Sơn cử làm tướng trấn thủ Phú Yên. Hoàng Ngũ Phúc nghe tin thắng của Nguyễn Huệ đã lập tức tung quân đánh chiếm Quảng Ngãi và trình lên chúa Trịnh Sâm sắc phong cho Nguyễn Huệ làm tướng tiên phong. Tuy vậy, quân Trịnh bị hao tổn nặng bởi trận dịch khủng khiếp nên phải quay lại Phú Xuân. Hoàng Ngũ Phúc ốm chết ngay trên dọc đường khi chưa tới Phú Xuân. Nguyễn Nhạc lợi dụng sự rút quân Trịnh để chiếm lại Quảng Nam. Nhà Tây Sơn tạm yên mặt bắc đã tập trung tấn công nhằm dứt điểm hiểm họa từ nhà Nguyễn đang trốn tránh ở phía Nam.

Năm Bính Thân (1776) Nguyễn Du mười một tuổi, cha là Nguyễn Nhiễm đánh trận về bị lâm bệnh qua đời. Năm đó, Nguyễn Nhạc sai em là Nguyễn Lữ đem thủy quân vào đánh Gia Định, lấy được thành Sài Gòn. Chúa Nguyễn phải chạy về Trấn Biên (Biên Hòa). Nguyễn Huệ cho đắp sửa thành Quy Nhơn rồi đặt long án, tôn Nguyễn Nhạc làm Tây Sơn Vương. Nguyễn Lữ được phong Thiếu phó, Nguyễn Huệ làm Phục chính. Nguyễn Nhạc đón Đông Cung ở Yên Thái về, dựng nhà bên sông Bông Giang, gả con gái là Thọ Hương cho Đông Cung, lấy huyện Bình Sơn làm của hồi môn, mưu lập Đông Cung làm vương để mê hoặc dân chúng. Đông Cung không chịu nghe theo nên Nguyễn Nhạc an trí Đông Cung ở chùa Di Đà xứ Thập Tháp. Đông Cung cùng Tống Phước Đạm lén trốn xuống thuyền, dọc đường được thuyền của Tôn Thất Xuân đón cùng chạy về Gia Định. Chu Văn Tiếp (Doãn Ngạch) dấy binh ở huyện Đồng Xuân (Phú Yên). Nguyễn Nhạc sai người đến gặp Chu Văn Tiếp hẹn cùng tôn lập Đông Cung. Khi Chu Văn Tiếp ra đến Quy Nhơn biết rõ chuyện trên bèn liên kết với Tống Phước Hiệp truyền hịch vạch tội nhà Tây Sơn. Người khách Lý Tài tướng Tây Sơn trấn thủ Phú Yên cũng theo mật ước với Tôn Thất Chí bỏ Nguyễn Nhạc về hàng Tống Phước Hiệp giúp chúa Nguyễn. Định Vương thế cô ở Đồng Nam gọi Tống Phước Hiệp đưa quân về hợp viện. Đỗ Thành Nhơn, Nguyễn Huỳnh Đức tụ nghĩa ở Ba Giồng (Định Tường). Nhơn theo lệnh Định Vương thảo hịch chiêu mộ nghĩa binh và lợi dụng địa thế hiểm yếu đánh thắng quân Nguyễn Lữ mấy trận. Nguyễn Lữ lấy thóc kho chở hơn hai trăm thuyền chạy về Quy Nhơn. Đỗ Thành Nhơn chiếm Gia Định đón Định Vương về Bến Nghé. Tống Phước Hiệp mang Lý Tài về hội quân ở Gia Định. Tống Phước Hiệp ốm chết ở Long Hồ. Định Vương muốn thu dụng Lý Tài nhưng Đỗ Thành Nhơn can không nên dùng mà nên giết đi vì Lý Tài hung hãn, phản trắc, khó chế ngự. Lý Tài từ đó kết oán với Đỗ Thành Nhơn. Lý Tài sợ Đỗ Thành Nhơn làm hại mình nên đưa quân về đóng ở núi Chiêu Thái.

Năm Đinh Dậu (1777) Nguyễn Du mười hai tuổi. Năm đó, Lý Tài nghe Đông Cung trốn vào Gia Định, lại đem binh rước về Sài Gòn lên làm Tân Chính Vương, tôn Định Vương lên làm Thái Thượng Vương để cùng lo sự khôi phục. Tân Chính Vương thăng Tôn Thất Chí làm Thiếu phó, Tôn Thất Xuân làm Chưởng cơ, Lý Tài làm Bảo giá Đại tướng quân. Lý Tài tâu với Tân Chính vương xin sai Chưởng cơ Tống Phước Hòa cùng Tống Phước Thiên đem quân đến đóng giữ Long Hồ, nói là để phòng quân Tây Sơn nhưng thực ra là sợ Đỗ Thành Nhơn đem quân đánh úp. Nguyễn Phúc Ánh biết ý bèn mật báo Định Vương cho mình mang quân đi Ba Giồng chiêu dụ quân Đông Sơn. Lý Tài bức Định Vương về Thủ Dầu Một. Tân Chính Vương trở về Sài Gòn cử Tống Phước Đạm làm giám quân, Trần Văn Hòa làm tham mưu dẫn những người ở Quy Nhơn mới đến trở lại Quảng Ngãi đểu sự chiêu tập nghĩa binh nhưng dọc đường bị phục binh của quân Tây Sơn chặn bắt. Trần Văn Hòa bị giết. Tôn Thất Đạm phải quay lại. Lúc ấy, Nguyễn Nhạc sai người ra xin với chúa Trịnh cho trấn thủ đất Quảng Nam. Trịnh Sâm bây giờ cũng chán sử dụng binh, bèn nhân dịp phong cho Nguyễn Nhạc làm Quảng Nam trấn thủ, Cung quận công. Nguyễn Nhạc được phong rồi, không phải phòng giữ mặt bắc nữa , bèn sai Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đem thủy bộ quân vào đánh Gia Định. Lý Tài chống cự không nổi phải bỏ chạy. Tân Chính Vương chạy về Định Tường rồi lại chạy về Vĩnh Long. Thái Thượng Vương chạy về Long Xuyên. Nhưng chẳng bao lâu Nguyễn Huệ đem quân đuổi bắt được cả Thái Thượng Vương và Tân Chính Vương, đem giết đi. Nguyễn Phúc Ánh trốn thoát được. Mạc Thiên Tứ và Tôn Thất Xuân lánh ra đảo Phú Quốc và sau đó sang Xiêm La cầu viện. Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ lấy xong đất Gia Định để Tổng Đốc Chu ở lại trấn thủ, rồi đem quân về Quy Nhơn.

Năm Mậu Tuất (1778) Nguyễn Du mười ba tuổi, bà Trần Thị Tần, mẹ Nguyễn Du qua đời. Nguyễn Du mồ côi cả cha lẫn mẹ nên ông phải ở với người anh khác mẹ là Nguyễn Khản (hơn ông 31 tuổi). Cũng trong năm này, anh thứ hai của Nguyễn Du là Nguyễn Điều (sinh năm 1745) được bổ làm Trấn thủ Hưng Hóa. Năm ấy, Nguyễn Nhạc tự xưng đế hiệu, đặt niên hiệu là Thái Đức, phong cho Nguyễn Lữ làm Tiết chế, Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân.

Năm Kỷ Hợi (1779), Nguyễn Du mười bốn tuổi. Năm ấy, ở Long Xuyên, Nguyễn Phúc Ánh tụ tập những thuộc hạ cũ nhân lúc Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đều về Quy Nhơn, khởi binh tiến đánh Sa Đéc, cùng Đỗ Thanh Nhơn và các tướng đánh đuổi Tổng đốc Chu lấy lại thành Sài Gòn. Bấy giờ Nguyễn Ánh mới có 17 tuổi. Các tướng tôn làm Đại nguyên súy, Nhiếp quốc chính. [Theo Hoàng Việt Hưng Long Chí thì vào tháng Giêng năm Mậu Tuất 1778]. Ít lâu sau vua Tây Sơn lại sai Tổng đốc Chu, Tư khấu Uy đem quân thủy vào đánh Trấn Biên và Phiên Trấn. Nguyễn Nhạc lại sai hổ giá Phạm Ngạn đem quân từ Quy Nhơn tới. Trần Phượng không chống nổi. Đỗ Thành Nhơn đem quan Đông Sơn ra cự chiến chém được Tư khấu Uy . Nguyễn Ánh sai Lê Văn Quân đem binh đánh chiếm thành Bình Thuận và thành Diên Khánh. Tướng Tây Sơn là Phạm Ngạn phải lui về Quy Nhơn. Nguyễn Ánh sai Tổng nhung Nguyễn Văn Hoàng, Lễ bộ Nguyễn Nghi đem quân bộ ra đóng giữ Bình Thuận để hợp binh với Chu Văn Tiếp. Nguyễn Ánh cũng sai người thông sứ với Xiêm La (Thái Lan), sai Đỗ Thành Nhơn, Hồ Văn Lân đem binh đánh Chân Lạp (Campuchia ngày nay), lập con Nặc Tôn là Nặc In lên làm vua, để Hồ Văn Lân ở lại bảo hộ. Ở Gia Định, Nguyễn Ánh đặt quan cai trị, định lệ thu thuế để nuôi binh lính, làm chiến thuyền, luyện tập binh mã để phòng bị chiến tranh. Bấy giờ có người ở trấn Sơn Nam là Trần Xuân Trạch, Nguyễn Kim Phẩm cùng thủ hạ đem quân vượt biển vào Gia Định được Nguyễn Ánh trọng dụng làm tả hữu Chưởng cơ.

Năm Canh Tý (1780), Nguyễn Du mười lăm tuổi, Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh Tý, bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận công. Nguyễn Du về Tiên Điền học với chú Nguyễn Trọng và đi lại thân thiết với Đoàn Nguyễn Tuấn là một người thân cũng là học trò của Nguyễn Nghiễm ở Sơn Nam Hạ. Năm ấy, Nguyễn Ánh xưng vương, phong Đỗ Thành Nhơn làm Ngoại hữu Phụ Chính Thượng tướng công. Nhưng sau vì Đỗ Thành Nhơn cậy công lộng quyền, oai vượt lấn chủ nên Nguyễn Ánh theo mưu Tống Phước Thiêm đã phục vệ sĩ giết đi. Cũng vì việc ấy nên Đông Sơn khi trước hết lòng giúp Nguyễn Vương sau đều bỏ cả, và lại phản lại, thành ra lôi thôi phải đánh dẹp mãi.

Niên biểu Nguyễn Du, 15 năm lưu lạc (1781-1796)

Năm Tân Sửu (1781) Nguyễn Du mười sáu tuổi. Nguyễn Du làm Chánh Thủ hiệu quân Hùng Hậu ở Thái Nguyên. Ý định Nguyễn Du tạo đất căn bản, dấy nghiệp ở Bắc Hà, lập thế chân vạc, tranh hùng với Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn ở Thuận Hóa và Nguyễn Ánh ở đất Gia Định. Tướng trấn thủ Thái Nguyên là Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến (Hà Mỗ trong Gia Phả họ Nguyễn Tiên Điền) là cha nuôi Nguyễn Du và tâm phúc Nguyễn Nhiễm. Tướng trấn thủ Sơn Tây là Nguyễn Điền là anh cùng cha khác mẹ của Nguyễn Du, Tướng trấn nhậm Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ đều là học trò Nguyễn Nhiễm và đó cũng là đất tổ nghiệp của nhà Nguyễn Tiên Điền. Nguyễn Du dự định dựng cờ phù Lê, xin chiếu vua Càn Long, liên thủ với vùng Nam Trung Quốc và Nghệ Tĩnh, giao kết kẻ sĩ, xây dựng lực lượng, trầm tĩnh theo chuyển biến thời cuộc để chớp thời cơ hành động.

Chọc trời khuấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai

Cũng năm ấy, Nguyễn Ánh sau sự biến Đông Sơn, phải vất vả đối phó với nội tình tan rã ở Gia Định. Tháng 10 năm đó, vua nước Xiêm La (Thái Lan) là Trịnh Quốc Anh (Taksin) sai hai anh em tướng Chất Tri (Chakkri) sang đánh Chân Lạp. Nguyễn Vương sai Nguyễn Hữu Thụy và Hồ Văn Lân sang cứu, trong khi hai quân đang chống nhau thì ở Vọng Các (Băng Cốc) vua Xiêm bắt giam vợ con của hai anh em Chất Tri. Hai anh em tướng Chất Tri (Chakkri) bèn giao kết với Nguyễn Hữu Thụy rồi đem quân về giết Trình Quốc Anh (Taksin) và tự lập làm vua Xiêm La, xưng là Phật Vương (Rama1). Họ Chakkri làm vua cho đến ngày nay và các vua đều xưng là Rama. Vua Rama I chọn Bangkok (hay “Thành phố của các thiên thần”) làm kinh đô.

Năm Nhâm Dần (1782), Nguyễn Du mười bảy tuổi. Năm ấy, Trịnh Sâm mất, Kiêu binh phế Trịnh Cán, lập Trịnh Khải (Trịnh Tông) lên ngôi chúa. Hai anh của Nguyễn Du là Nguyễn Khản được làm Thượng thư bộ Lại, tước Toản Quận công, Nguyễn Điều làm Trấn thủ Sơn Tây.

Trước đó, Trịnh Sâm kiêu hãnh khi quân Trịnh lấy được Thuận Hóa, đã có ý cướp ngôi nhà Lê, bèn sai quan thị lang Vũ Trần Thiệu đi cùng quan nội giám mang biểu sang tấu trình vua Thanh rằng con cháu nhà Lê không có ai đáng làm vua nữa. Nhưng, Vũ Trần Thiệu khi sang hồ Đồng Đình đã đem đốt tờ biểu rồi uống thuốc độc mà chết nên việc cầu phong bỏ không nói đến nữa. Trịnh Sâm say đắm Đặng Thị Huệ, trước khi chết để di chiếu phế con trưởng là Trịnh Khải lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử và giao Huy Quận Công Hoàng Đình Bảo (Tố Lý) làm phụ chính. Trịnh Cán ít tuổi, lắm bệnh không mấy người phục, nên xảy ra biến loạn. Tháng 9 năm 1782 Trịnh Sâm mất, Trịnh Khải mưu với quân tam phủ kéo đến vây phủ giết Hoàng Đình Bảo, bỏ Trịnh Cán và Đặng Thị Huệ, lập Trịnh Khải lên làm chúa, tức Đoan Nam Vương (Nguyễn Khản là thầy dạy của Trịnh Khải).

Tháng 10 năm 1782, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đem hơn 100 chiến thuyền vào cửa Cần Giờ đánh nhau với quân Nguyễn Ánh ở Ngã Bảy. Thủy binh Tây Sơn tinh nhuệ và thiện chiến áp sát và dùng hỏa hổ tấn công. Quân Nguyễn Ánh mặc dù có người Pháp và người Bồ Đào Nha điều khiển tàu châu Âu bảo vệ vòng ngoài vẫn thua to. Cai cơ Mạn Hòe (Manuel) người Pháp chết tại trận. Nguyễn Ánh phải bỏ thành Sài Gòn chạy về Ba Giồng. Quận công Tống Phước Thiêm bị quân Đông Sơn giết chết. Nguyễn Ánh dẫn tàn quân lánh ra đảo Phú Quốc. Nguyễn Nhạc bình xong đất Gia Định, rút quân về Quy Nhơn, để hàng tướng Đông Sơn là Đỗ Nhàn Trập giữ Sài Gòn. Khi quân Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ về Quy Nhơn rồi, Chu Văn Tiếp đem quân từ Phú Yên về hợp với quân các đạo, đánh đuổi quân Tây Sơn đi, lấy lại thành Sài Gòn rồi đón Nguyễn Ánh về, sửa sang mọi việc để chống giữ với Tây Sơn.

Năm Quý Mão (1783), Nguyễn Du mười tám tuổi. Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường . Nguyễn Du vẫn giữ chức Chánh thủ hiệu quân Hùng hậu Thái Nguyên, nơi Quản Vũ Hầu Nguyễn Vũ Tiến là cha nuôi làm quan trấn thủ. Đây là vùng đất hiểm yếu có nhiều người Trung Quốc sang khai mỏ bạc. Nguyễn Đăng Tiến vốn là tay giặc già phản Thanh phục Minh người Việt Đông Trung Quốc, vừa là tân khách, thầy dạy võ cho Nguyễn Du và các anh em, vừa là tâm phúc của Nguyễn Nhiễm.

Nguyễn Du lấy vợ chính thất họ Đoàn (hoặc đ1nh hôn?) là con gái thứ sáu của Đoàn Nguyễn Thục (người Quỳnh Côi, Hải An xưa thuộc Sơn Nam, nay thuộc Thái Bình). Nhờ lương duyên này mà Nguyễn Du có thêm thế lực của cha vợ là quan Hoàng giáp Phó Đô ngự sử Quỳnh Châu bá và anh vợ là tiến sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn, sau này làm quan thị lang triều Tây Sơn.

Cũng năm ấy, Nguyễn Khản đầu năm thăng chức Thiếu Bảo, cuối năm thăng chức Tham tụng, Thượng Thư Bộ Lại kiêm trấn thủ Thái Nguyên, Hưng Hóa. Anh cùng mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Nễ (sinh 1761) đỗ đầu thi Hương ở điện Phụng Thiên, được bổ thị nội văn chức, khâm thị nhật giảng, sung Nội Hàn Viện cung phụng sứ, phó tri thị nội thư tả lại phiên, Thiên Thư Khu mật viện Đức Phái hầu, cai quản đội quân Phấn Nhất của phủ Chúa. Vừa lúc Thuận Châu khởi binh, phụng sai hiệp tán quân cơ của đạo Sơn Tây.

Năm 1783, vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đem binh vào đánh phía Nam. Trong chiến dịch này Nguyễn Huệ đã khéo lợi dụng lúc thủy triều lên và mượn sức gió thổi từ biển vào đất liền để dùng hỏa công và hỏa hổ tiến công, trên bờ thì dùng voi chiến do thủy binh chở vào, lần đầu xuất hiện ở đất Gia Định trên một địa thế hẹp. Nguyễn Vương thua to. Nguyễn Ánh rước mẹ và cung quyến chạy ra đảo Phú Quốc. Tháng 6 năm ấy, Nguyễn Huệ ra đánh Phú Quốc, Nguyễn Vương chạy về Côn Lôn. Quân Tây Sơn lại đem thuyền đến vây Côn Lôn , nhưng gặp bão đánh đắm cả thuyền nên Nguyễn Ánh mới trốn thoát được, chạy về đảo Cổ Cốt rồi lại trở về Phú Quốc.

Lại nói đất kinh kỳ Thăng Long, nguyên từ khi họ Trịnh giúp nhà Lê trung hưng về sau, chia quân làm hai thứ binh là ưu binh và nhất binh. Ưu binh thì kén quân Thanh Nghệ làm quân túc vệ đóng ở kinh thành canh giữ những nơi trọng yếu cung vua phủ chúa, được cấp công điền và có chức sắc. Nhất binh là lính tứ trấn ở Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Tây chỉ để đủ giữ các trấn và hầu hạ các quan còn thì cho về làm ruộng, khi cần dùng thì mới gọi. Những lính ưu binh từ các đời trước dù có kẻ ngang ngược công thần nhưng nhà chúa cũng chỉ trị tội tên cầm đầu mà vẫn giữ chế độ ưu binh, nên về sau ưu binh đã quen thói gặp điều trái ý là nổi lên làm loạn. Nay Trịnh Khải nhờ quân tam phủ Thanh Nghệ mà đoạt được ngôi chúa Đoan Nam Vương, trừ được vây cánh của Trịnh Cán nên ban ân quan tước cho kẻ đứng đầu kiêu binh là Nguyễn Bằng và trọng thưởng cho kiêu binh. Đó chính là mầm loạn khó kiềm chế.

Năm Giáp Thìn (1784), Nguyễn Du mười chín tuổi. Tháng 2 , nhân vụ 7 kiêu binh bị nhà chúa giết vì bữa tiệc vua Lê đãi kiêu binh có công phò Hoàng Tự Tôn Lê Duy Kỳ từ trong tù ra, kiêu binh đã nổi dậy đưa hoàng tôn Lê Duy Kỳ lên làm thái tử. Tư dinh của Nguyễn Khản ở phường Bích Câu, Thăng Long bị phá. Nguyễn Khản trốn lên với em là Nguyễn Điều đang làm trấn thủ Sơn Tây và Nguyễn Nể làm Hiệp tán Nhung vụ. Họ toan hợp quân các trấn về đánh kiêu binh, nhưng khi sự lộ ra quân kiêu binh vào canh chặt phủ chúa, Trịnh Khải không ra được nên mưu bất thành. Kiêu binh chia nhau giữ các cửa ô. Quân các trấn sợ chúa bị hại nên đành kéo về. Kiêu binh áp lực bãi chức Nguyễn Khản và giáng chức Nguyễn Điều, hai người về Hà Tỉnh.

Lại nói Hoàng tôn Lê Duy Kỳ (tức vua Lê Mẫn Đế, Lê Chiêu Thống sau này) là con trưởng của Lê Duy Vĩ, cháu đích tôn của vua Lê Hiển Tông . Ba anh em hoàng tự tôn được kiêu binh giải cứu sau 15 năm lao tù. có mối hận sâu sắc với chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1767-1782). Hoàng Lê Nhất thống chí của Ngô Thời Chí kể rằng: Nguyên Trịnh Doanh có con gái lớn là quận chúa Tiên Dung , quận chúa là con vợ cả, được Trịnh Doanh yêu lắm. Thế tử Trịnh Sâm là con vợ thứ. Vợ cả Doanh muốn con được làm hoàng hậu nên xin với Doanh để gả cho thế tử Lê Duy Vĩ. Vì quá yêu con, vợ Doanh thường phân biệt lễ vua tôi quá rõ rệt, những bữa mời thái tử ăn cơm, Sâm không được vợ cả Trịnh Doanh cho cùng ngồi với thái tử. Trịnh Sâm nói với Lê Duy Vĩ: “Trong hai ta phải có kẻ mất người còn. Vua ấy không thể cùng thời với chúa này”. Thái tử Lê Duy Vĩ vẫn có ý đề phòng, thường giao kết với hào kiệt và dân sĩ trong thiên hạ, mong ngày giành lại thực quyền. Do Trịnh Doanh mất sớm. Trịnh Sâm được lên thay quyền. Việc đầu tiên của Sâm là sai một viên quan thị vu cho thái tử thông gian với cung nhân của Trịnh Doanh (Lập lại mưu cũ của Trịnh Giang giết vua trước đây: vu cho Lê Đế Duy Phương tư thông với vợ Trịnh Cương, buộc phế bỏ, giáng xuống làm Hôn Đức quân, rồi bị giết chết). Nay thái tử Lê Duy Vĩ cũng bị kết tội trạng giống hệt vậy. Thái tử và ba con bị tống giam vào ngục. Sau đó, thái tử lại bị vu tội định bỏ trốn để tạo phản nên bức uống thuốc độc chết năm 1771. Ba anh em hoàng tự tôn bị giam vào ngục 15 năm sau mới được kiêu binh giải cứu. Nhà chúa giết bảy kiêu binh giải cứu hoàng tự tôn Lê Duy Kỳ khi vua Lê đang thiết họ ăn uống đã châm ngòi cho loạn Kiêu binh phá nát Tư dinh của Nguyễn Khản ở phường Bích Câu và áp lực bãi chức Nguyễn Khản, bởi ông là thầy Trịnh Khải, lại làm quan Tham tụng, thượng thư bộ Lại.

Lại nói Nguyễn Ánh ở Phú Quốc hết sạch lương thực phải hái rau và tìm củ chuối mà ăn, thế lực cùng kiệt, bèn cho người tìm người quen cũ là cố đạo Bá Đa Lộc lúc đó đang ở Thái Lan để hỏi kế. Bá Đa Lộc khuyên là nên cầu nước Pháp nhưng phải cho thế tử Cảnh cùng đi để làm tin. Nguyễn Ánh theo lời ấy, bèn giao Hoàng tử Cảnh theo Bá Đa Lộc mang quốc thư sang Pháp. Tờ thư ấy có 14 khoản đại ý xin nước Pháp giúp cho 1500 quân và tàu bè, súng ống, thuốc đạn, đủ cả mọi thứ. Nguyễn Vương xin nhường cho nước Pháp cửa Hội An, đảo Côn Lôn và để riêng cho nước Pháp được đặc quyền vào buôn bán ở nước Nam. Nguyễn Ánh lại tiếp được mật biểu của Châu Văn Tiếp (lúc trước bị thua ở Sài Gòn đã theo đường núi chạy sang Thái Lan xin cầu viện) nên mới đến hội với tướng Thái Lan tại Hà Tiên và sau đó sang Bangkok. Vua Xiêm Chakkri (Rama1) tiếp đãi Nguyễn Ánh rất hậu và sai hai tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương cùng các tướng Lục Côn, Sa Uyên và Chiêu Thùy Biện là một cựu thần Chân Lạp thân Xiêm, đem hai vạn quân (tài liệu khác nói là ba vạn, có tài liệu nói là năm vạn kể cả quân bộ của Chân Lạp và hương binh mới mộ của Nguyễn Ánh ) với 300 chiến thuyền sang giúp. Nguyễn Ánh phong Châu Văn Tiếp là Bình Tây đại đô đốc được toàn quyền điều khiển việc quân. Ngày 9 tháng 6 xuất quân, trước chiếm Kiên Giang sau theo hai đường thủy bộ tiến sang lấy được Rạch Giá, Ba Thắc, Trà Ôn, Sa Đéc. Khi đánh đến Mân Thít, Châu Văn Tiếp bị thương nặng và mất. Nguyễn Ánh cử Lê Văn Quân thay chức thống lĩnh đại quân, Nguyễn Văn Thành đem 8.000 quân theo quân Xiêm đi đánh trận. Các tướng Mạc Tử Sinh (con Mạc Thiên Tứ), Nguyễn Thừa Diễn đi trấn thủ và mộ binh ở các vùng vừa chiếm được. Quân Xiêm tiến đến đâu cũng làm nhiều điều hung ác, dân rất oán giận. Tướng Tây Sơn là Trương Văn Đa sai người cấp báo về Quy Nhơn. Vua Tây Sơn sai Nguyễn Huệ đem binh vào chống giữ.

Năm Ất Tỵ (1785), Nguyễn Du hai mươi tuổi. Nguyễn Huệ vào đến Gia Định, nhữ quân Xiêm vào trận địa mai phục ở rạch Gầm, Xoài Mút ở phía trên Mỹ Tho. Nguyễn Huệ bố trí pháo binh ở hai bên bờ và các cù lao trên sông, phục sẵn chiến thuyền ở các con lạch và cù lao Thới Sơn, sau đó phái một số thuyền tới khiêu khích quân Xiêm dụ vào nơi đã giăng bẫy, đánh một trận vào ngày 19 tháng 1 năm 1785, giết quân Xiêm chỉ còn vài nghìn, theo đường bộ chạy được về nước. Nguyễn Huệ phá được quân Xiêm và đem binh truy đuổi Nguyễn Ánh. Chúa Nguyễn hết cả lương thực chỉ còn khoảng 200 quân tướng và 5 chiếc thuyền chạy dạt sang đảo Cổ Cốt, rồi sang Xiêm. Nguyễn Ánh nói với vua Xiêm: Quý quốc vương nghĩ tình lân bang giao hảo cho quân sang giúp nhưng vì tướng tá kiêu ngạo, quân lính tham bạo nên mới đến nổi thất bại như thế. Vua Xiêm Chakri I gọi Chiêu Tăng, Chiêu Sương là “ngu hèn, kiêu căng, hung hãn đến nỗi bại trận làm bại binh, nhục quốc”. Người Xiêm từ sau cuộc bại trận năm 1785, miệng tuy nói khoác mà lòng thì sợ Tây Sơn như cọp. Nguyễn Ánh sau đó xin vua Xiêm cho ra ở Đồng Khoai, ngoại thành Vọng Các (Bangkok ngày nay) khẩn hoang, làm ruộng, đốn củi… để nuôi nhau và bí mật cho người về do thám ở Long Xuyên.

Nguyễn Huệ, sau khi đánh dẹp xong, liền đem đại quân về Quy Nhơn, cử Đô đốc Đặng Văn Trấn ở lại giữ Gia Định. Dương Công Trừng đánh úp quân Tây Sơn ở Long Xuyên bị Thái bảo Tham dẫn quân từ Gia Định xuống đánh, bắt sống và giết chết. Quân Miến Điện sang đánh Xiêm, vua Xiêm đích thâm cầm quân đi đánh. Nguyễn Ánh tự mình cầm quân đi trợ chiến, bắt sống được hơn 500 tù binh cùng nhiều khí giới. Ít lâu sau Xiêm bị quân Chà Và sang xâm chiếm, Nguyễn Ánh sai Lê Văn Quân trợ chiến cùng em vua Xiêm đi đánh trận. Quân Chà Và bị thua phải rút về. Nguyễn Ánh đóng chiến thuyền và dò la tình hình nhà Tây Sơn để mưu tính trở về.

Năm Bính Ngọ (1786) Nguyễn Du hai mươi mốt tuổi. Loạn kiêu binh ở kinh đô Thăng Long lên cao trào. Quân kiêu binh kéo nhau hàng trăm, hàng ngàn đi cướp phá các làng. Hễ có đứa nào đi lẻ loi thì dân làng lại bắt giết đi nên quân và dân xem nhau như cừu địch. Các văn thần võ tướng đều bó tay. Tham tụng Bùi Huy Bích phải dỗ dành mãi mới tạm yên. Các vụ mất mùa liên tiếp xẩy ra, giá gạo tăng vọt và kiêu binh cướp phá làm hàng nghìn người chết đói. Các trấn Quảng Yên, Kinh Bắc, Thái Nguyên lâm vào cảnh tàn phá, nạn đói và nổi dậy lan rộng.

Tây Sơn chăm chú theo dõi sự suy đồi của họ Trịnh. Ý đồ Tây Sơn đối với phía Bắc đã được Nguyễn Hữu Chỉnh đổ thêm dầu. Nguyễn Hữu Chỉnh là môn hạ của Quận Huy Hoàng Đình Bảo, lập kế rước Tây Sơn về dẹp kiêu binh để báo thù cho chủ.

Nguyễn Hữu Chỉnh là người huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, Trấn Nghệ An nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, Nghệ An, đỗ hương cống năm 16 tuổi, tục gọi là cống Chỉnh. Ông hào hoa, cơ trí, nhiều can đảm lại có tài biện bác, trước theo Hoàng Ngũ Phúc đi đánh giặc bể, giặc sợ gọi là chim dữ. Sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” chép: “Hữu Chỉnh, lúc trẻ tuổi đỗ hương tiến, là người hào phóng không bó buộc vào khuôn phép. Du lịch kinh sư, Hữu Chỉnh vào yết kiến Hoàng Ngũ Phúc. Ngũ Phúc khen là có tài khác thường, dùng làm gia khách. Khi Ngũ Phúc vào xâm lấn trong Nam, cho Hữu Chỉnh đi theo quân thứ, giữ công việc thư kí, rồi sai đến Tây Sơn khuyên Văn Nhạc (tức Nguyễn Nhạc) quy thuận với triều đình, được Văn Nhạc kính trọng”.

Sau khi quận Việp mất, Nguyễn Hữu Chỉnh tiếp tục làm thủ hạ cho cháu quận Việp là quận Huy Hoàng Đình Bảo, người được giao làm phụ chính cho Điện Đô vương Trịnh Cán, con nhỏ của Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm lên ngôi lúc mới 5 tuổi. Khi quận Huy bị kiêu binh giết, Nguyễn Hữu Chỉnh bàn với trấn thủ Nghệ An là Võ Tá Giao việc tự lập nhưng Giao sợ không dám theo nên Chỉnh bỏ vào với vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc và được vua Thái Đức Nguyễn Nhạc rất tín nhiệm. Tây Sơn nhiều phen dòm ngó Phú Xuân nhưng còn nghe ngóng chưa dám quyết . Gặp khi Phạm Ngô Cầu sai Nguyễn Phu Như vào do thám Tây Sơn, không ngờ Nguyễn Hữu Chỉnh quen biết Phu Như nên dò biết rõ tình hình Thuận Hóa và hiến kế cho vua Thái Đức.

Nguyễn Nhạc nắm được tình hình Thuận Hóa trấn thủ Phạm Ngô Cầu là người nhu nhược, vô mưu, tham lam, ham làm giàu, mê tín, đa nghi và Bắc Hà biến động nên chớp thời cơ sai em là Nguyễn Huệ làm tiết chế, rể là Vũ Văn Nhậm làm tả quân đô đốc, Nguyễn Hữu Chỉnh làm hữu quân đô đốc đem quân thủy bộ ra đánh Thuận Hóa.Nguyễn Lữ đưa quân tiếp ứng ở mặt sau. Nguyễn Huệ phái một cánh quân thủy tới thẳng sông Gianh để chiếm các công sự phòng thủ và ngăn chặn mọi tiếp viện từ phía Bắc, hai cánh quân thủy bộ cùng lúc tiến đánh Phú Xuân. Phạm Ngô Cầu trúng kế mê hoặc lập đàn chay cầu siêu, lại bị kế li gián của Nguyễn Hữu Chỉnh nên nhanh chóng thất bại. Biết Phạm Ngô Cầu tính đa nghi, Nguyễn Hữu Chỉnh viết thư chiêu hàng gửi phó tướng Hoàng Đình Thể lại giả vờ cho người đưa nhầm cho Phạm Ngô Cầu. Khi quân Tây Sơn đánh thành, Hoàng Đình Thể đem quân bản bộ ra đối trận bắn hết thuốc đạn, Phạm Ngô Cầu đóng chặt cửa thành không ra cứu viện nên Hoàng Đình Thể và hai con cùng tỳ tướng Vũ Tá Kiên đều bị chết. Phạm Ngô Cầu kéo cờ trắng ra hàng bị giải về Quy Nhơn định tội phải chém. Toàn bộ vùng Thuận Hóa rơi vào tay Tây Sơn chỉ trong mấy ngày.

Nguyễn Huệ hội tướng bàn định việc trấn giữ Thuận Hóa. Nguyễn Hữu Chỉnh nói: Tướng quân phụng mệnh ra đánh một trận mà bình được Thuận Hóa, binh uy chấn động Bắc Hà. Phép dùng binh, có đủ thời, thế và cơ thì đánh đâu cũng được. Bắc Hà bây giờ tướng lười, quân kiêu, triều đình không kỹ cương, nay nhân uy thanh nếu đánh là thắng, xin đừng bỏ lỡ. Nguyễn Huệ nói: Bắc Hà có nhiều nhân tài không nên coi thường. Hữu Chỉnh đáp lại: Nhân tài Bắc Hà chỉ có một mình Chỉnh, nay Chỉnh đã bỏ đi thì nước không còn ai, xin ông chớ ngại. Nguyễn Huệ cười nói: Người khác thì ta không ngại mà chỉ ngại ông đó thôi. Chỉnh biến sắc nói: Tôi tài hèn, nói vậy là để tỏ cho ông biết, Bắc Hà không còn nhân tài mà thôi. Nguyễn Huệ lấy lời nói ngọt để yên lòng Chỉnh và bảo rằng: Nhà Lê làm vua đã mấy trăm năm nay, bây giờ cướp lấy, chưa chắc lòng người đã theo mình. Hữu Chỉnh nói: Nay Bắc Hà có vua lại có có chúa, ấy là một sự cổ kim đại biến. Họ Trịnh tiếng là phù Lê, thực là hiếp chế, cả nước không ai phục. Vả xưa nay không ai làm gì để giúp nhà Lê là vì sợ cái thế mạnh đó mà thôi, nay ông phù Lê diệt Trịnh thì thiên hạ ai chẳng theo ông. Nguyễn Huệ nói: Ông nói phải lắm nhưng ta chỉ phụng mệnh đi đánh Thuận Hóa mà thôi, chứ không phụng mệnh đi đánh Bắc Hà, sợ rồi mang tội trái lệnh thì làm thế nào? Hữu Chỉnh nói: Trái lệnh là tội nhỏ, việc ông làm là công to. Tướng ở ngoài có điều không theo mệnh vua, ông lại không biết hay sao?.

Nguyễn Huệ để anh là Nguyễn Lữ ở lại giữ thành Phú Xuân, cử Nguyễn Hữu Chỉnh đem thủy binh đi tiên phong vào cửa Đại An đánh lấy kho lương ở bên sông Vị Hoàng. Nguyễn Huệ tự đem binh đi theo sau, ước với Hữu Chỉnh đến sông Vị Hoàng đốt lửa lên làm hiệu. Đại quân Tây Sơn đánh như gió cuốn ra bắc.

Trịnh Tự Quyền đem quân vào tăng cường cho Nghệ An dềnh dàng chưa tới nơi thì Vị Hoàng đã mất. Trấn thủ Sơn Nam Bùi Thế Dận đưa quân bộ về ứng cứu, đô đốc thủy quân Đinh Tích Nhưỡng dàn chiến thuyền giữ cửa sông Luộc. Nguyễn Huệ lợi dụng gió đông nam thổi mạnh, đêm đến nước sông lên to sai lấy hình nộm đặt lên thuyền rồi đánh trống kéo cờ thả cho thuyền trôi đi. Đinh Tích Nhưỡng dàn thuyền chống giữ và dùng súng để bắn, đến lúc biết bị lừa thì hết cả thuốc đạn không chống nổi quân Tây Sơn phải bỏ thuyền mà chạy. Quân của Bùi Thế Dận và Trịnh Tự Quyền cũng tan cả, Nguyễn Huệ hạ được thành Sơn Nam, một mặt truyền hịch đi các lộ nói danh nghĩa phù Lê diệt Trịnh, một mặt thần tốc đánh thốc vào thành Thăng Long. Quân Trịnh rệu rã thua trận, tan vỡ chạy.

Bấy giờ ở Thăng Long, kiêu binh không sai khiến được, Trịnh Khải gọi Hoàng Phùng Cơ ở Sơn Tây về cứu viện. Quân Tây Sơn tiến lên đánh tan quân thủy của Đinh Tích Nhưỡng và quân bộ của Hoàng Phùng Cơ. Đoan Nam Vương Trịnh Khải đích thân mặc áo nhung y, cầm cờ lên voi thúc quân chặn đánh Nguyễn Huệ ở bến Long Tân nhưng thế quân Tây Sơn quá mạnh nên phải chạy về Sơn Tây rồi bị người dân là Nguyễn Tranh lừa bắt được, áp giải đi nộp cho quân Tây Sơn. Dọc đường, Trịnh Khải lấy gươm cắt cổ mà chết.

Nguyễn Huệ sai lấy vương lễ mà chôn cất chúa Trịnh rồi vào thành Thăng Long yết kiến vua Lê. Họ Trịnh giúp nhà Lê trung hưng lập ra nghiệp chúa truyền từ Trịnh Tùng đến Trịnh Khải được 216 năm (1570-1786) thì chấm dứt. Sau khi Nguyễn Huệ yết kiến vua Lê Hiển Tông, Nguyễn Hữu Chỉnh lại sắp đặt Nguyễn Huệ lấy công chúa Lê Ngọc Hân, con gái thứ của vua Lê. Tại kinh kỳ, phe cánh họ Trịnh còn đông, Bấy giờ mọi người mới hiểu rõ Hữu Chỉnh rước Tây Sơn ra để trả thù cho chủ (chứ không phải Nguyễn Khản).

Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Khản từ Hà Tỉnh theo ghe mành ra Bắc giúp chúa Trịnh chủ trương đóng quân theo lối vẩy sộp kiểu phòng ngự chiều sâu nhiều tầng (theo Lê Quý Kỷ sự), nhưng kiêu binh vu cáo ông rước giặc Tây Sơn về. Nguyễn Khản phải bỏ chạy, ông mất trong hoàn cảnh đó ở Thăng Long, thi hài ông được đưa về an táng tại Hà Tĩnh. Khi kinh thành thất thủ, nhà Trịnh mất, Nguyễn Điều buồn uất ức thành bệnh mất ngày 31-7-1786. Mộ được an táng xã Đại Đồng, huyện Nam Đàn, Nghệ An, sau được cải táng về xã Sơn An, huyện Hương Sơn. Các con và gia đình ông lập chi Nguyễn Tiên Điền tại đây. Chi họ này ở đó hiện có trên 400 người.

Nguyễn Du ở đâu trong năm này? Trong cơn lốc của các sự biến, người đời sau (Nguyễn Thế Quang với tiểu thuyết Nguyễn Du) cho rằng Nguyễn Du đã gặp Nguyễn Huệ tại điện Kính Thiên. Viên võ tướng Nguyễn Du trẻ tuổi cao lớn với thanh bảo kiếm của Việp Quân Công Hoàng Ngũ Phúc trao tặng trước đây đã trầm tĩnh đối mặt với người anh hùng Nguyễn Huệ oai chấn Bắc Hà.

Năm Đinh Mùi (1787) Nguyễn Du 22 tuổi. Nguyễn Nhạc từ Thăng Long trở về, phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương trấn thủ Phú Xuân, còn mình thì dẫn tùy tùng về Quy Nhơn, tự xưng làm Trung Ương Hoàng Đế, phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương ở đất Gia Định, phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương ở đất Thuận Hóa, lấy Hải Vân làm giới hạn. Nguyễn Nhạc hỏi những báu vật vàng bạc đoạt được ở phủ chúa Trịnh. Nguyễn Huệ từ chối không nộp. Nguyễn Huệ muốn kiêm quản cả đất Quảng Nam nhưng Nguyễn Nhạc không cho. Cùng thêm một số chuyện hiềm khích cơ mật khác. Nguyễn Huệ bèn phát hịch kể tội Nhạc , rồi đem quân vào vây thành Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc đóng cửa thành cố thủ. Đặng Văn Trấn, tướng của Nguyễn Nhạc để tham đốc là Trần Tú ở lại giữ thành Gia Định còn mình tự đem quân về cứu viện nhưng khi đến Phú Yên thì bị quân của Nguyễn Huệ bắt. Nguyễn Huệ vây Quy Nhơn ngặt đến nỗi Nguyễn Nhạc phải thân lên thành mà kêu khóc, gọi Nguyễn Huệ mà bảo rằng: ” Nỡ lòng nào lại nồi da nấu thịt thế này?” Nguyễn Huệ mới động lòng rút quân về Thuận Hóa. Hai anh em tuy hòa giải nhưng thực lòng vẫn oán giận nhau.

Nguyễn Ánh sau trận thất bại năm Giáp Thìn (1784)  sang lánh nạn ở Xiêm (Thái Lan) nóng lòng mong chờ viện binh nhưng Nguyễn Huệ đã khéo sai sứ sang thông hiếu với Thái Lan. Nguyễn Ánh thấy ở nước người  lâu ngày không tiện nên bí mật về nước theo kế của Tống Phước Đạm. Trước hết Nguyễn Ánh sai Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Liêm về Hà Tiên dò xét tình hình, khâu nối lực lượng., Phạm Văn Nhơn về Hòn Tre sửa soạn tàu bè, cai cơ Ngoạn, cai cơ Trung đi mua thóc dự trữ sẵn lương thực, rồi nhân đêm tối, không từ biệt vua Xiêm mà ra về vào ngày Bính Dần tháng Bảy. Khi Nguyễn Ánh về đến Hòn Tre mới biết chuyện cai cơ Trung giết chủ thuyền buôn Thái Lan để cướp của cải. Ông đã lệnh chặt đầu cai cơ Trung gửi đến vua Thái để tạ lỗi. Nguyễn Ánh cũng thu phục bọn cướp biển Hà Hỉ Văn đảng Bạch Liên Giáo nay làm cướp biển Hà Tiên. Ông cũng thu phục được danh tướng Nguyễn Văn Trương trấn thủ Long Xuyên.  Tống Phước Đạm lợi dụng sự bất hòa của nhà Tây Sơn lập kế li gián Đông Định Vương Nguyễn Lữ là trấn tướng Gia Định và Phạm Văn Tham là phó tướng của Nguyễn Lữ.  Tống Phước Đạm bắt được vợ lẽ của hộ đốc Lý tướng Tây Sơn và đã làm mật thư giả của Nguyễn Nhạc gửi Nguyễn Lữ, trong thư nói Phạm Văn Tham là phe đảng của Nguyễn Huệ và khiến Nguyễn Lữ giết đi. Tống Phước Đạm giao thư cho vợ lẽ của hộ đốc Lý mang về dụ hàng Phạm Văn Tham.  Tham xem thư cả sợ bèn giương cờ trắng (hiệu kỳ của Nguyễn Ánh) kéo về dinh lũy của Nguyễn Lữ. Đông Định Vương tưởng Tham đã mang quân về hàng Nguyễn Ánh rồi, sợ Tây Sơn quân mỏng không  thể địch nổi nên bỏ chạy về Quy Nhơn. Từ đó, Phạm Văn Tham một mình trấn giữ Gia Định. Quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh giao chiến một số trận lớn nhỏ. Thế lực Nguyễn Vương ngày một lớn mạnh. Thái úy Nguyễn văn Hưng từ Quy Nhơn mang ba mươi chiến thuyền vào tiếp ứng. Nguyễn Ánh cố thủ.  Ít lâu sau, Nguyễn Văn Hưng chuyển thóc gạo đầy các thuyền rồi rút đi. Nguyễn Ánh chia bình đóng những nơi hiểm yếu chẹn đường quân Tây Sơn.

Giữa lúc này Nguyễn Hữu Chỉnh đem binh từ Nghệ An tiến gấp về Thăng Long để bảo vệ vua. Nguyễn Hữu Chỉnh đuổi Trịnh Bồng, tôn phò vua Lê Chiêu Thống. Năm 1787, khi họ Trịnh thất bại trong việc khôi phục lại địa vị, Trịnh Bồng chạy khỏi kinh thành, Lê Chiêu Thống ngầm cho người đốt phủ chúa đi. Đám cháy lan khắp hai phần ba kinh thành và cháy trong mười ngày liền[7][12] làm mất đi một quần thể kiến trúc đẹp của Thăng Long – Hà Nội. Điều này được sách Hoàng Lê nhất thống chí chép như sau: Sớm hôm sau, hoàng thượng mới biết là Án đô vương đã trốn đi lúc ban đêm tức thì ngầm sai người phóng hoả đốt hết phủ chúa. Khi phủ cháy, khói lửa bốc lên ngút trời, hơn mười ngày chưa tắt[13].  Lê Chiêu Thống nghe lời Nguyễn Hữu Chỉnh cho vét hết chuông đồng, tượng đồng ở các chùa, đền trong nước đem đúc tiền dùng vào việc quân. Sách Lê Quý kỷ sự chép: Người đương thời có câu mỉa mai: “Thiên hạ thất tự chung, chung thất, nhi đỉnh an tại! Hoàng thượng phần vương phủ, phủ phần, tức điện diệc không!” Nghĩa là: “Thiên hạ mất chuông chùa, chuông đã mất, vạc dựa vào đâu![14] Hoàng thượng thiêu phủ Chúa, phủ bị thiêu, điện trơ ra đó!”[12][15]

Vua Lê Chiêu Thống cũng theo kế của Nguyễn Hữu Chỉnh sai người ngầm mang nhiều vàng bạc đưa cho Nguyễn Văn Duệ để giết Võ Văn Dũng và lấy sông Gianh làm ranh giới như cũ. Vũ Văn Nhậm dò biết mưu ấy bèn cấp báo cho Nguyễn Huệ. Huệ liền sai người ra Nghệ An bắt Duệ nhưng Duệ thấy động đã đem quân thuộc hạ theo đường rừng trốn về Quy Nhơn. Nguyễn Huệ sai Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân theo quyền tiết chế Vũ Văn Nhậm đem quân ra Bắc hỏi tội Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh cho thuộc tướng chống giữ nhưng đều bị đánh tan. Vua Lê Chiêu Thống sai Lê Quýnh cùng hơn 30 người tôn thất đem bà Hoàng Thái hậu và Hoàng phi, Hoàng tử chạy lên Cao Bắng. Chỉnh thì cướp đường rước vua Lê Chiêu Thống chạy lên Kinh Bắc về đóng ở núi Mục Sơn đất Yên Thế.

Nhậm sai bộ tướng Nguyễn Văn Hòa truy sát và đuổi kịp Nguyễn Hữu Chỉnh, bắt sống đóng gông giải về Thăng Long.  Nhậm kể tội rồi sai chặt chân tay, phanh thây Chỉnh. Nhậm tìm vua Lê Chiêu Thống không được bèn tôn Sùng Nhượng Công Lê Duy Cẩn lên làm Giám Quốc để thu phục lòng người. Thầy đề lại Giám Quốc mỗi ngay phải sang chầu chực ở dinh Vũ Văn Nhậm. Nhậm tỏ ý kiêu ngạo. Ngô Văn Sở mật trình tấu sự tình về Nguyễn Huệ.

Bắc Bình Vương lập tức truyền lệnh kéo quân kỵ gấp đường ra Thăng Long, nửa đêm đến nơi bắt Vũ Văn Nhậm giết đi, đổi đặt quan quân, đặt quan lục bộ và các quan trấn thủ, để Lê Duy Cẩn làm Giám Quốc, chủ trương việc tế lễ để giữ tông miếu tiền triều, dùng Ngô Thì Nhậm làm Lại bộ tả thị lang, cùng bọn Ngô Văn Sở ở lại giữ đất Bắc Hà, còn Nguyễn Huệ thì chọn ngày về nam.

Mẹ của vua Lê Chiêu Thống chạy lên Cao Bằng cùng với Đốc trấn Nguyễn Huy Túc chạy sang đất nhà Thanh xin với Tổng đốc Lưỡng Quảng xin cứu viện. Tôn Sĩ Nghị dâng biểu lên vua Càn Long xin điều quân Lưỡng Quảng, Vân Nam, Quý Châu chia làm đường sang cứu viện cho vua Lê. Lúc này vua Chiêu Thống đã chạy lánh vào Bảo Lộc, Trấn Ninh.

Nguyễn Du năm ấy đi lại giữa Thăng Long, Quảng Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Nghệ An nhưng đang là lúc “ngọa hổ tàng long” nên Nguyễn Du hành tung bí mật, rất ít lộ diện. Những sử liệu dưới đây cho thấy các địa điểm ẩn hiện của ông:

Trong  “Lê Quý Kỷ Sự” của Nguyễn Thu có nói đến cuộc khởi nghĩa tại Tư Nông của cựu Trấn Thủ Thái Nguyên Nguyễn Đăng Tiến, tước Quản Vũ Hầu, bị tướng Tây Sơn bắt giải về cho Vũ Văn Nhậm. Nhậm trọng sự khí khái nên dụ hàng, sau đó cũng tha bổng và cho phép muốn đi đâu thì đi.  Họ đi sang Vân Nam. Nguyễn Quýnh quay trở về Hồng Lĩnh khởi nghĩa bị bắt và bị giết năm 1791 tròn 30 tuổi, dinh thự và làng Tiên Điền bị đốt sạch. Đến Vân Nam, Nguyễn Du bị bệnh ba tháng mùa xuân. Hết bệnh, họ đi Liễu Châu và chia tay, Nguyễn Đại Lang về thăm quê nhà vùng Quế Lâm, cao sơn lưu thủy. Nguyễn Du đi giang hồ ba năm ở Trung Quốc trong áo mũ nhà sư mang danh Chí Hiên, từ Quảng Tây theo thuyền đi dọc sông và Hồ Động Đình đến Hán Khẩu, rồi theo sông Hán rồi lên Trường An viết bài Dương Quý Phi, Bùi Tấn Công mộ, Phân Kinh thạch đài, rồi lại theo kinh Đại Vận Hà đến Hàng Châu .

Tại lời đề “tiểu dẫn” của “Thăng long cầm giả ca”, chính  Nguyễn Du đã nói rõ rằng những năm trước và sau cái Nguyễn Huệ ra Bắc lần 2 đến lúc Nguyễn Huệ chết, ông chủ yếu ở Thăng Long và “Lưu Hương ký” của Hồ Xuân Hương cũng trùng khớp và xác nhận về “ba năm vẹn” đó.

Trong “Thanh Hiên thi tập” nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Chánh đã phát hiện thấy “có những bài tả cảnh tuyết, núi non trùng điệp, lá vàng, trưởng giả ăn mặc còn theo nhà Hán (không theo nhà Thanh để tóc bính đuôi sam, áo quần Mãn Châu), dân chúng theo lịch nhà Tần, xử dụng nhạc cụ “tù và” ? … Nguyễn Du có những câu thơ kỳ lạ: Tôi đọc kinh Kim Cương nghìn lượt?. Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế? Giang Bắc, Giang Nam cái túi không? Nguyễn Du làm gì mà đọc kinh Kim Cương trong ba năm, đội mũ vàng nhà sư đi muôn dậm (khoảng 5000 km), làm gì không tiền mà đi hết các sông phía bắc đến sông phía nam Dương Tử Giang ? Nguyễn Du ở đâu mà cách Trường An ngàn dậm về phía Nam ?Theo Nguyễn Hành, cháu Nguyễn Du, có viết ông có một cuộc đời giang hồ như cuộc đời làm quan : Giang hồ long miếu hai điều đủ, Thi họa cầm thư bốn nghệ tinh. Theo gia phả từ năm 1786 đến 1796 Nguyễn Du về quê vợ tại Quỳnh Hải, Thái Bình hợp cùng Đoàn Nguyễn Tuấn khởi nghĩa chống Tây Sơn. Nhưng điều này không đúng vì từ năm 1788 Đoàn Nguyễn Tuấn ra làm quan Tây Sơn và đi sứ trong đoàn 158 người năm 1790. Đoàn Nguyễn Tuấn có hai bài thơ viết tặng một văn nhân họ Nguyễn, gặp tại Hoàng Châu, Trung Quốc vào mùa thu bàn luận về văn chương sôi nổi chuyện gì ?, Đoàn Nguyễn Tuấn phải lên Nhiệt Hà nơi vua Càn Long đang nghỉ mát ? Văn nhân họ Nguyễn đi xe song mã về Nam và hẹn gặp lại tại nước nhà vào mùa xuân. Trên đường đi cớ gì mà Đoàn lại viết một bài thơ Vô Đề về hồng nhan đa truân khi gặp một ca nhi hát cho sứ đoàn tại bến sông Hán?.”

Nguyễn Du dẫn vợ con về quê bà vợ cả ở Thái Bình sống qua ngày. Đó cũng là thời gian ông sáng tác tập Thanh Hiên tiền hậu tập, Nguyễn Hưng Quốc đã nhận định như vậy trong bài  “Tết đọc lại Nguyễn Du”. … “tổng số 65 bài của tập thơ, có 17 bài nhắc đến hình ảnh bạch phát hay bạch đầu: “Bạch đầu đa hận tuế thời thiên” (Đầu bạc thường bực vì ngày tháng trôi mau); hay “Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên” (Tráng sĩ đầu bạc bùi ngùi ngẩng lên trời) hay “Bạch phát hùng tâm không đốt ta” (Tóc bạc rồi, dù có hùng tâm, cũng chỉ biết ngồi suông than thở). Không biết ông bệnh gì, nhưng lúc nào cũng than bệnh: “Nhất nhất xuân hàn cựu bệnh đa” (Một nhà xuân lạnh, bệnh cũ lại nhiều); “Tam xuân tích bệnh bần vô dược” (Ba tháng xuân ốm liên miên, nghèo không có thuốc); “Cùng niên ngọa bệnh Tuế giang tân” (Suốt năm đau ốm nằm ở bến Tuế giang); “Đa bệnh đa sầu khí bất thư” (Lắm bệnh, hay buồn, tâm thần không được thư thái); “Thập niên túc tật vô nhân vấn” (Bệnh cũ mười năm, không ai thăm hỏi); “Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu” (Bệnh đến trong bước giang hồ đã lâu ngày). Đã bệnh lại còn nghèo. Phải ở nhờ nhà người khác: “Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia” (Đầu bạc bơ phờ ở nhờ nhà người). Hết nhờ người này sang nhờ người khác: “Lữ thực giang tân hựu hải tân” (Hết ăn nhờ ở miền sông lại đến miền biển). Lúc nào trong túi cũng rỗng không: “Giang nam giang bắc nhất nang không” (Một chiếc túi rỗng không, đi hết phía nam sông lại sang phía bắc sông). Thiếu mặc: “Tảo hàn dĩ giác vô y khổ” (Mới rét mà đã thấy khổ vì không áo). Có khi đói: “Táo đầu chung nhật vô yên hỏa” (Suốt ngày bếp không đỏ lửa). Ngay cả khi Nguyễn Du đã ra làm quan dưới triều Gia Long rồi, có năm vợ con vẫn đói: “Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng” (Nhà mười miệng trẻ đói xanh như rau); “Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc” (Nhà mười miệng ăn đang kêu đói ở phía bắc Hoành sơn). Mười đứa trẻ ở đây chính là con của Nguyễn Du. (Gia phả ghi Nguyễn Du có 3 vợ: bà vợ đầu sinh một con trai tên Nguyễn Tứ; bà vợ thứ hai cũng sinh một con trai tên Nguyễn Ngũ; bà vợ thứ ba sinh mười con trai và sáu con gái; tổng cộng, như vậy, ông có 18 người con. Tuy nhiên, căn cứ vào tên người con đầu, Nguyễn Tứ, chúng ta có thể đoán là ông có ba người con khác, anh hay chị của Nguyễn Tứ, có lẽ đã chết lúc còn nhỏ hoặc ngay trong bào thai.) Đói đến độ có lúc phải xin ăn: “Cơ hàn bất giác thụ nhân liên” (Đâu ngờ phải đói rét để cho người thương). Nhưng buồn nhất có lẽ là cảm giác bất lực và bế tắc…”

Năm Mậu Thân (1788). Nguyễn Du 23 tuổi. Tống Phước Đạm dâng kế cho Nguyễn Ánh: “Tây Sơn tuy lấy được Bắc Hà nhưng vua Lê Chiêu Thống và triều đình nhà Lê còn trốn tránh trong vùng rừng núi, nhất định sẽ cầu viện nhà Thanh. Nhân lúc Nguyễn Huệ đang bận đối phó ở phía Bắc chưa rỗi để mắt đến phía Nam. Nguyễn Nhạc và  Nguyễn Lữ ở phía Nam khó xoay trở. Chúa thượng nhân lúc này về chiếm đất Gia Định sẽ có thời cơ lớn”. Nguyễn Ánh nghe lời, đem đại quân về An Giang nhưng chưa kịp dựng đồn trại thì đã bị quân Tây Sơn tấn công. Quân hai bên giao chiến kịch liệt, quân của Thái bảo Phạm Văn Tham mới chịu lui. Thề lực Nguyễn Ánh ngày một nổi lên và có nhiều tướng giỏi. Tôn Thất Huy đóng ở Giồng Triệu. Lê Văn Quân đóng ở Giồng Trôm. Mạc Tử Sinh trấn thủ Hà Tiên. Phạm Văn Nhơn trấn thủ Long Xuyên. Trương Phước  Giáo, Nguyễn Đình Đắc, Tôn Thất Hội, Võ Văn Lượng, Nguyễn Văn Hiếu, Mạc Văn Tô, Trần Văn Tín, Đoàn Văn Khoa , … đều là những nghĩa dũng. Đặc biệt quân sư Tống Phước Đạm mưu kế sâu sắc, liệu việc như thần. Chu Văn Tiếp, Đỗ Thành Nhơn, Võ Tánh là Gia Định tam hùng. Nguyễn Ánh trao cho Võ Tánh giữ chức khâm sai Tổng nhung, chưởng cơ dinh Tiên phong, lại gả trưởng công chúa Nguyễn Thị Ngọc Du cho Võ Tánh. Từ ngày Nguyễn Ánh lên nối ngôi vua Nguyễn tháng 2 năm 1780, sau đó giết Đỗ Thanh Nhơn, thâu tóm quyền lực, cho đến năm 1788 chưa bao giờ thế lực quân Nguyễn mạnh đến như vậy. Nguyễn Ánh thu phục Gia Định lần thứ Tư nhằm ngày Đinh Dậu tháng 8 năm Mậu Thân (9.1788). Tướng Tây Sơn Phạm Văn Tham lui về giữ những điểm trọng yếu ở Ba Thắc và Biên Hòa, đồng thời cấp báo về Quy Nhơn để xin viện binh. Nguyễn Nhạc chần chừ không dám phát binh vì sợ quân Nam thừa cơ đánh úp Quy Nhơn trong khi Nguyễn Huệ đang bận ở mặt Bắc không thể kịp ứng cứu. Do Gia Định quân Tây Sơn không có cứu viện nên lực lượng Nguyễn Vương đã đánh rộng ra các địa bàn phía Nam và làm chủ vững chắc vùng Nam Bộ ngày nay.

Lại nói về Bắc Hà, tháng 5 năm 1788, khi vua Lê Chiêu Thống chạy lánh vào Bảo Lộc, Trấn Ninh tìm kế đánh trả quân Tây Sơn thì mẹ và con trai Lê Chiêu Thống đã chạy lên Cao Bằng. Trước sự uy hiếp của các thế lực cát cứ địa phương, thì những bầy tôi nhà Lê là Đốc đồng Nguyễn Huy Túc, phiên thần Địch quận công Hoàng Ích Hiểu, tụng thần Lê Quýnh và Nguyễn Quốc Đống đã bảo vệ thái hậu và con trai Chiêu Thống qua cửa ải Thủy Khẩu chạy sang Long Châu nhà Thanh, gặp Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị và Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh cầu xin cứu viện.

Sách Cương mục viết: “Thái hậu đưa nguyên tử (con trai Chiêu Thống) đến yết kiến ở trong sân, gào khóc xin cứu viện. Bọn Sĩ Nghị tâu với vua Thanh rằng tự hoàng nhà Lê đương phải bôn ba, đối với đại nghĩa, ta nên cứu viện. Vả lại, An Nam là đất cũ của Trung Quốc, sau khi khôi phục nhà Lê, ta nhân đó, đặt lính thú để đóng giữ. Thế là vừa làm cho nhà Lê được tồn tại, vừa chiếm lấy được An Nam: thật là làm một chuyến mà được hai lợi.”[4]

Vua Càn Long chuẩn tấu, muốn nhân cơ hội đánh chiếm Đại Việt bèn sai Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị mang từ 18.000 đến hơn 20 vạn quân (“Các ý kiến về số quân Thanh” là rất khác nhau từ nhiều nguồn), bao gồm các đạo binh huy động từ bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và Quý Châu hộ tống vua Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa phù Lê. Quân Thanh chia làm 3 đường tiến sang Đại Việt:

1. Quân Quảng Đông, Quảng Tây do Tôn Sĩ Nghị (chức tổng đốc Lưỡng Quảng) trực tiếp chỉ huy, qua ải Nam Quan vào Lạng Sơn; phó chỉ huy là Hứa Thế Hanh (chức đề đốc) cùng các tướng Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long (cả hai đều đang mang chức tổng binh), Lý Hóa Long (chức phó tướng).

2. Quân Vân Nam, Quý Châu do đề đốc Vân Quý là Ô Đại Kinh, từ Vân Nam qua ải Mã Bạch, theo đường Tuyên Quang xuống Sơn Tây vào Thăng Long.

3. Quân tình nguyện Điền châu do Sầm Nghi Đống chỉ huy, theo đường Long Châu tiến vào Cao Bằng rồi tiến về Thăng Long. Cả 3 đạo quân đều xuất phát vào cuối tháng 10 âm lịch năm 1788.

Vua Càn Long lại đặc cử danh tướng Phúc Khang An chuyên trách hậu cần. Theo sách Thánh vũ ký, phần “Càn Long chinh phủ An Nam ký” của Ngụy Nguyên đời Thanh, Phúc Khang An đã thiết lập trên 70 đồn quân lương to lớn và kiên cố từ hai đường Quảng Tây và Vân Nam tới Thăng Long. Riêng chặng đường từ ải Nam Quan tới Thăng Long, Khang An thiết lập 18 kho quân lương trong khi Tôn Sĩ Nghị hành quân.

Vua Lê Chiêu Thống lẩn quất chạy trốn quân Vũ Văn Nhậm ở mạn bắc sông Nguyệt Đức, khi thì ở huyện Gia Định, lúc lại đi Chí Linh, Thủy Đường, Vị Hoàng. Nhậm kiêu ngạo, tiếm quyền. Tháng tư năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Huệ lại ra bắc, vào thành Thăng Long, bắt giết Vũ Văn Nhậm, cho Ngô Văn Sở cai quản binh quyền, đặt Lê Duy Cận làm giám quốc coi việc thờ cúng tôn miếu nhà Lê. Chiêu Thống bị Ngô Văn Sở đánh tan ở sông Ngô Đồng, chạy vào Thanh Hoa rồi ra Kinh Bắc lần thứ hai.

LeChieuThongdonquanThanh

Tôn Sĩ Nghị khi kéo sang Đại Việt, sai Lê Quýnh, Nguyễn Quốc Đống về tâu lại với Chiêu Thống. Vua bấy giờ mới biết, bèn cho Tham tri chính sự Lê Duy Đản và Hàn lâm hiệu thảo Trần Danh Án đi đường tắt lên đón quân nhà Thanh

Khi quân Thanh tiến qua biên giới, Ở Lạng Sơn, thấy quân lính dưới quyền trốn mất, Phan Khải Đức ra hàng còn Nguyễn Văn Diễm rút vội về Kinh Bắc hợp với Trấn thủ Nguyễn Văn Hoà chống giữ và đưa thư cáo cấp về Thăng Long[13] . Theo thư Lê Chiêu Thống gửi cho Tôn Sỹ Nghị, tổng số quân Tây Sơn đóng ở miền Bắc khoảng 60 ngàn quân, trong đó có 30 ngàn quân do bắt lính tại địa phương, không có lòng chiến đấu.

Ngô Văn Sở được tin quân Thanh kéo sang liền nhóm họp các văn võ quan nhà Lê Trung Hưng đưa một bức thư ký tên Giám Quốc Sùng Nhượng Công, Lê Duy Cẩn sang xin hoãn binh với Tôn Sĩ Nghị.

Các tướng Tây Sơn mở cuộc thảo luận. Nhiều người bàn dùng phục binh đánh quân Thanh như Lê Lợi diệt tướng Minh là Liễu Thăng, Lương Minh trước đây, duy Ngô Thì Nhậm chủ trương kế hoạch, nhử quân Thanh vào sâu nội địa, thủy quân rút về Biện Sơn trước, lục quân kéo vào đóng giữ núi Tam Điệp rồi báo tin vào cho Bắc Bình Vương. Chiến lược này được chấp thuận, binh sĩ các đạo đều được lệnh về hội ngay dưới cờ của Tiết Chế Ngô Văn Sở tại bờ sông Nhị vào năm hôm sau. Sở bàn kế hoạch lui quân.

Ngô Văn Sở phái tướng Phan Văn Lân đưa hơn 10 ngàn quân tinh nhuệ chốt giữ bến đò Xương Giang chặn quân Tôn Sỉ Nghị. Quân Tây Sơn vượt sông Nguyệt Đức đánh vào quân Thanh đang đóng ở núi Tam Tầng, bao vây doanh trại của Tôn Sĩ Nghị. Súng của quân Thanh và cung tên từ hai cánh tả hữu bắn ra như mưa, quân Tây Sơn chết rất nhiều. Tôn Sĩ Nghị lại phái một toán kỵ binh từ mạn thượng lưu vượt qua sông đánh úp lấy đồn Thị Cầu. Đồn này phát hỏa, Văn Lân cả sợ rút về.[14]

Lê Chiêu Thống được tin quân Tây Sơn rút khỏi các trấn, bèn điều các tướng dưới quyền đi chiếm lại những nơi đó. Giữa tháng 11 năm 1788, quân Thanh tới bờ bắc sông Thương. Quân Tây Sơn rút về bờ nam nhưng chặt phá hết cầu và lấy hết thuyền bè. Theo sách Thánh vũ ký, phần “Càn Long chinh phủ An Nam ký” của Ngụy Nguyên, quân Thanh đã tổn thất khá nhiều mới bắc được cầu qua sông do đạn của quân Tây Sơn bắn sang trước khi rút hẳn.

Quân Thanh tiến đến Thị Cầu, Phan Văn Lân đã chặt cầu và tận dụng bờ nam cao hơn bờ bắc mà bắn đại bác sang khiến quân Thanh mất 3 ngày (15 đến 17 – 11) không bắc nổi cầu. Nửa đêm 17 tháng 11, Phan Văn Lân mang một ngàn quân bản bộ theo khúc sông Cầu định tập kích trại Tôn Sĩ Nghị nhưng bị thiệt hại do hoả lực của quân Thanh bắn ra. Sau đó Văn Lân đụng độ tướng Thanh là Trương Triều Long ở Tam Tằng. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, Quân Tây Sơn ít và yếu thế bại trận, nhiều người bị rét cóng hay chết đuối lúc vượt sông, quân Tây Sơn chết gần hết, phải rút lui.

Trong khi đó, lục quân của Ngô Văn Sở cũng rút về tới Ninh Bình cố thủ. Ngày 20 tháng 11, quân Tây Sơn đóng đồn từ Tam Điệp tới Biện Sơn, Ngô Văn Sở cho đô đốc Tuyết vào nam cấp báo với Bắc Bình vương Nguyễn Huệ.

Tôn Sĩ Nghị từ Tam Tằng tiến vào Thăng Long. Lê Duy Kỳ từ Kinh Bắc ra đón rồi cùng theo vào kinh thành. Không lâu sau, các đạo quân Vân – Quý và Điền châu cũng tiến vào hội binh. Theo các nhà nghiên cứu[12], cuộc hành quân của Tôn Sĩ Nghị từ 28/10 tới 20/11 tức là mất 22 ngày mới tới Thăng Long, lâu hơn nhiều so với thời gian 6 ngày mà Nghị từng dự liệu với Càn Long.

Ngày 21 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), thành Thăng Long bỏ ngỏ, quân của Nghị vào đóng và tướng doanh của Nghị đặt tại Tây Long Cung. Theo lời vua Thanh dặn, Sĩ Nghị lấy xong thành này rồi trao ấn cho Duy Kỳ, tấn phong làm An Nam quốc vương lấy lòng dân Đại Việt.[14]. Ngày 22, Sĩ Nghị làm lễ ở điện Kính Thiên để làm lễ sách phong cho vua Lê Chiêu Thống.

Tôn Sĩ Nghị tính chuyện truy kích Nguyễn Huệ nhưng Tôn Vĩnh Thanh tâu là Quảng Nam xa cách đô thành nhà Lê 2.000 dặm, dùng quân 1 vạn người thì phải cần 10 vạn phu vận tải, cũng bằng từ Trấn Nam Quan đến thành họ Lê.[15] Các bề tôi văn võ nhà Lê xin Nghị cho quân tiến đánh ngay quân Nguyễn Huệ nhưng Nghị không nghe, truyền cho các cánh quân hạ trại nghỉ ngơi, định ngày mồng 6 Tết mới ra quân.

Sách Cương mục viết:  “Bấy giờ hào kiệt bốn phương đua nhau trổ sức để làm việc, nhưng nhà vua chủ yếu chỉ dựa vào người Thanh. Khi chia ban quan chức, nhà vua chỉ trao cho các bầy tôi đi theo hộ giá và theo hầu ở hành tại, còn cựu thần và hào kiệt đều không được bổ dùng. Các bầy tôi cũng không ai nói đến việc ra quân để phục thù. Trong kinh và ngoài các trấn thảy đều chán nản và rời rạc. Cái cơ thành hay bại chỉ một mực tùy theo người Thanh mà thôi. Thế là việc nước không thể xoay xở được nữa”[4].

Tổ chức phòng thủ của quân Thanh: Tôn Sĩ Nghị bố trí quân Thanh đóng ở phía nam tới phía tây thành Thăng Long, cho đạo quân Lưỡng Quảng đóng hai bên bờ sông Hồng, quân Điền châu đóng ở Khương Thượng, quân Vân Quý đóng ở Sơn Tây.Theo Hoàng Lê nhất thống chí và Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục của nhà Nguyễn, quân Thanh ở Thăng Long chểnh mảng phòng thủ, thường đi cướp bóc hãm hại dân Đại Việt nên bị oán ghét. Lê Duy Kỳ thực hiện thanh trừng những người hợp tác với Tây Sơn. Theo Đại Nam thực lục, Nguyễn Ánh ở Gia Định nghe tin quân Thanh vào Thăng Long cũng sai Phan Văn Trọng và Lâm Đồ mang thư và chở 50 vạn cân gạo ra cho quân Thanh nhưng giữa đường bị bão biển, cả người và gạo đều bị đắm hết.

Tôn Sĩ Nghị lúc đầu chủ quan, nhưng sau nghe lời cảnh báo của các tướng dưới quyền Lê Duy Kỳ cũng tăng cường phòng thủ và quyết định ngày 6 tháng Giêng sẽ ra quân đánh Tây Sơn. Tôn Sỉ Nghị bố trí đồn Ngọc Hồi ở Thanh Trì (Hà Nội), đồn Hà Hồi ở Thường Tín (Hà Nội), đồn Nhật Tảo ở Duy Tiên (Hà Nam) và đồn Nguyệt Quyết huyện Thanh Liêm (Hà Nam). Quân Cần vương của Duy Kỳ do Hoàng Phùng Tứ chỉ huy cũng được điều từ Sơn Tây xuống Gián Khẩu làm tiền đồn chặn quân Tây Sơn. Quân Thanh đồng thời cũng tụ tập thêm được các Hoa Kiều sống ở phía Bắc Đại Việt được chừng một vạn người đóng thành một trại, nhóm quân này ỷ thế đi cướp phá, và hãm hiếp không kiêng sợ gì ai[16]. Dù Tôn Sĩ Nghị có ra sắc lệnh nghiêm quân kỷ nhưng vì quân kiêu nên cũng không có tác dụng lắm[17].

Nguyễn Huệ ở Bình Sơn, Phú Xuân nhận được tin cấp báo của đô đốc Tuyết ngày 24 tháng 11. Ngay hôm sau 25 tháng 11, Nguyễn Huệ đã quyết định lên ngôi Hoàng Đế, đổi niên hiệu là Quang Trung, và ngay hôm ấy lập tức đưa quân lên đường tiến gấp ra Bắc. Đến Nghệ An, Nguyễn Huệ đóng lại hơn 10 ngày để tuyển thêm quân, cứ 3 suất đinh lấy 1 suất lính. Sau 1 thời gian ngắn, ông đã có thêm hơn hàng vạn người. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, số quân cũ và mới của Quang Trung là 10 vạn và hơn 100 voi chiến[2].  Nguyễn Huệ tuyển quân Thanh Nghệ làm đạo Trung quân cùng bốn đạo Tiền, Hậu, Tả, Hữu  của cựu binh Thuận Quảng gấp đường tiến ra Bắc.

Về thái độ của dân chúng, sử gia Nguyễn Khắc Thuần trong sách Đại cương Lịch sử cổ trung đại Việt Nam ghi thì thanh niên địa phương nô nức gia nhập hàng ngũ Tây Sơn[20] còn theo sử gia Tạ Chí Đại Trường trong sách Lịch sử nội chiến Việt Nam 1771- 1802 thì trích trong thư giáo sĩ Longer là người đương thời gởi cho Julliard cho biết quân Tây Sơn bắt lính “gay gắt đến nỗi người ta không biết trốn vào đâu để tránh quân dịch. Các kẻ sai nha đem chó theo để tìm người trong khu rừng bên cạnh như người ta tìm thú: người ta lấy dao xỉa vào các đống rơm dùng để đun nấu”[21]

Quang Trung tổ chức duyệt binh và tiến ra bắc. Ngày 20/12, Quang Trung tiến đến Tam Điệp và tán thành chủ trương rút lui của Ngô Thì Nhậm. Theo sách Lê triều dã sử, sở dĩ quân Tây Sơn hành quân nhanh chóng vì Nguyễn Huệ đã bố trí 3 người 1 tốp thay nhau 2 người cáng 1 đi suốt ngày đêm. Theo Quân doanh kỳ lược của Trần Nguyên Nhiếp (là bí thư dưới quyền Tôn Sĩ Nghị), nghe tin thám tử quân Thanh các nơi chạy về báo Nguyễn Huệ đang lấy thêm lính Thanh – Nghệ và sắp đánh ra bắc, Tôn Sĩ Nghị vội cho quân tập dượt để chuẩn bị tác chiến, sai phó tướng Hứa Thế Hanh trực tiếp chỉ huy mặt trận phía nam Thăng Long[22].

Tổ chức các hướng tấn công của quân Tây Sơn như sau:  Quang Trung chia quân làm 5 đạo tiền, hậu, tả, hữu và trung quân. Ông phân quân cũ cho các tướng còn tự mình chỉ huy số quân mới tuyển.

  1. Đạo quân do Quang Trung chỉ huy có Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân làm tiên phong, có cả tượng binh và kỵ binh đánh vào chính mặt nam Thăng Long.
  2. Đạo quân do đô đốc Tuyết chỉ huy theo đường thuỷ tiến vào sông Lục Đầu, đánh đồn quân cần vương của Lê Duy Kỳ ở Hải Dương, chặn đường rút của quân Thanh bên kia sông Hồng.
  3. Đạo quân đô đốc Lộc chỉ huy cùng đạo quân đô đốc Tuyết theo đường thuỷ tiến vào sông Lục Đầu, tới đây tách ra đi gấp lên Phượng Nhãn, Lạng Giang chặn đường rút của quân Thanh phía bắc.
  4. Đạo quân đô đốc Bảo chỉ huy, cũng có tượng binh và kỵ binh theo đường Ứng Hoà (Hà Tây) ra làng Đại Áng, phối hợp với cánh quân Quang Trung đánh đồn Ngọc Hồi của Hứa Thế Hanh.
  5. Đạo quân đô đốc Long chỉ huy, (có ý kiến cho rằng là tướng Đặng Tiến Đông hoặc đô đốc Mưu…[23]). Đạo quân này cũng có tượng binh và kỵ binh theo đường Chương Đức, hướng lên Sơn Tây nhưng sẽ rẽ quặt sang làng Nhân Mục tập kích đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống và tiến vào Thăng Long từ hướng tây.

Năm Kỷ Dậu (1789). Nguyễn Du 24 tuổi. Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh.

Đêm giao thừa Tết Nguyên Đán (30 Tết), từ phòng tuyến Tam Điệp, quân Tây Sơn xuất phát. Đạo quân do Quang Trung chỉ huy vượt sông Giao Thuỷ đánh đồn Gián Khẩu của quân cần vương nhà Lê. Quân Lê tan vỡ, Hoàng Phùng Tứ bỏ chạy. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, quân Quang Trung thần tốc tiến lên bắt gọn đám quân Thanh do thám và tiêu diệt các đồn bắc sông Nguyệt Quyết và đồn Nhật Tảo (Duy Tiên). Do đạo quân Tây Sơn hành quân nhanh và các đám quân do thám bị bắt, quân Thanh từ đồn Hà Hồi tới Thăng Long không biết gì về cử động của quân Tây Sơn.

Ngày 3 tháng Giêng, quân Tây Sơn tiến đến Hà Hồi cách Thăng Long khoảng 20 km. Quang Trung cho quân vây chặt đồn rồi sai bắc loa kêu gọi quân Thanh đầu hàng. Quân Thanh bị bất ngờ trước sự áp sát quá nhanh của quân Tây Sơn, không kịp kháng cự, đều ra hàng.

Ngày 4 tháng Giêng, Quang Trung tiến đến đồn Ngọc Hồi. Hứa Thế Hanh ở đây nghe tin đồn Hà Hồi bị diệt vội báo về Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị vội điều Thang Hùng Nghiệp mang quân ra tăng viện, lại đặc sai 20 kỵ binh phải thay nhau chạy đi chạy lại báo cáo tình hình.

Nhưng khi tiến quân tới Ngọc Hồi, Quang Trung không đánh ngay. Quân Thanh bị động cũng không dám giao tranh trước nhưng cũng không biết bị đánh khi nào. Cả ngày mùng 4, Quang Trung chỉ cho quân hư trương thanh thế để uy hiếp tinh thần quân Thanh và gây sự chú ý của quân Thanh tới đạo quân do ông chỉ huy vào mặt trận Ngọc Hồi để tạo điều kiện cho yếu tố bất ngờ của các đạo quân đô đốc Long và đô đốc Bảo. Chính Tôn Sĩ Nghị nghe báo cáo của kỵ binh cũng bị hút vào đồn Ngọc Hồi mà không nhận ra nguy cơ từ cánh quân của đô đốc Long.

Khi Quang Trung diễu võ ngoài đồn Ngọc Hồi, đô đốc Long đang trên đường bắc tiến hướng đến Sơn Tây – nơi có đạo quân Vân Quý của Ô Đại Kinh – thì bất thần rẽ sang làng Nhân Mục nay thuộc xã Nhân Chính và Khương Đình và nửa đêm bất ngờ tập kích đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống.

Theo Thánh vũ ký của Nguỵ Nguyên, các đội voi của Tây Sơn đều có đại bác trên lưng nã vào đồn. Quân Thanh bị đánh bất ngờ trong đêm tối, chết rất nhiều, tan vỡ bỏ chạy. Sầm Nghi Đống thấy không thể giữ được đồn bèn tự sát trên đài chỉ huy ở Loa Sơn (Khu vực phố chùa Bộc – Hà Nội hiện nay)[24].

Một số tài liệu mới mà giới nghiên cứu đưa ra gần đây lại cho thông tin khác về diễn biến trận diệt đồn Khương Thượng. Theo đó, khi quân Thanh bị diệt đáng kể, Sầm Nghi Đống bỏ chạy lên cố thủ tại đài chỉ huy ở Loa Sơn. Đô đốc Long chia quân làm hai cánh,  một cánh đánh sang Nam Đồng để tiến vào Thăng Long, một ít quân tiếp tục vây hãm Loa Sơn. Sầm Nghi Đống không tự vẫn ngay mà cố thủ trên đài chờ cứu viện của Tôn Sĩ Nghị, nhưng tới ngày hôm sau không có quân cứu, Sầm mới tuyệt vọng và thắt cổ tự sát[25]. Khu vực Khương Thượng và xung quanh, do xác quân Thanh chết quá nhiều, sau chất thành 12 gò cao, có đa mọc um tùm gọi là Gò Đống Đa. Trận diệt đồn Khương Thượng cũng còn gọi là trận Đống Đa.

Hạ xong đồn Khương Thượng, ngay trong đêm mùng 4, đô đốc Long tiến vào bắn phá đồn Nam Đồng ở phía tây thành Thăng Long. Khi Tôn Sĩ Nghị nhận được tin báo việc đồn Khương Thượng thất thủ thì đô đốc Long đã diệt xong đồn Nam Đồng và tiến vào đánh bản doanh của Nghị ở Thăng Long.

Tôn Sĩ Nghị vội vàng tháo chạy. Các tài liệu cũ đều mô tả cảnh hỗn loạn của quân Thanh. Hoàng Lê nhất thống chí viết:

“Nghị lên ngựa không kịp đóng yên, quân sĩ các doanh nghe tin đều hoảng hốt tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô nhau rơi xuống nước mà chết… Lát sau cầu lại đứt, quân lính bị rơi xuống nước, sông Nhị Hà bị tắc không chảy được…”

Đại Nam chính biên liệt truyện viết:

“Tôn Sĩ Nghị đóng trên bãi cát, được tin bại trận vội vàng cưỡi ngựa một mình chạy về bắc. Tướng sĩ thấy vậy tranh nhau qua cầu mà chạy, cầu đứt, lăn cả xuống sông, chết đến vài vạn người, làm cho nước sông không chảy được.”

Theo Thánh vũ ký của Ngụỵ Nguyên nhà Thanh:

“Sĩ Nghị chạy trốn qua được bờ bắc sông Phú Lương (Tức sông Hồng) liền cắt đứt cầu phao khiến các đạo quân của Hứa Thế Hanh và Trương Triều Long bị bỏ lại ở bờ nam. Do đó hơn 1 vạn người vừa tướng vừa quân xô nhau nhảy xuống sông để bơi sang bờ bắc và đều bị chết đuối cả”[26],[27].

Lê Duy Kỳ được tin Sĩ Nghị đã bỏ chạy, vội dắt gia quyến chạy theo, ra đến bờ sông thì cầu đã gãy, phải men theo bờ sông phía Nghi Tàm, lấy được chiếc thuyền đánh cá chèo sang được bên kia sông Hồng. Em Duy Kỳ là Duy Chi được sai giữ cửa ô Yên Hoa (Tức Yên Phụ ngày nay) thấy Duy Kỳ đã chạy, cũng bỏ chạy lên Tuyên Quang.

Đạo quân Vân Nam – Quý châu của tướng Ô Đại Kinh đóng ở Sơn Tây, theo Thánh vũ ký, được tin các đồn thất thủ, không giao chiến trận nào đã bỏ chạy, nhờ tướng người Việt là Hoàng Văn Đồng dẫn đường chạy về Trung Quốc.

Chiều mồng 5 tết (tức 30 tháng 1 năm 1789[30]), Quang Trung và đô đốc Bảo tiến vào Thăng Long trong sự chào đón của nhân dân, đô đốc Long ra đón rước vào thành. Đại Nam chính biên liệt truyện mô tả, áo bào của Quang Trung sạm màu khói súng.

Tôn Sĩ Nghị trên đường tháo chạy, bị hai cánh quân Tây Sơn của đô đốc Tuyết và đô đốc Lộc chặn đánh ở Hải Dương và Phượng Nhãn, tơi tả chạy về, bỏ lại cả quân ấn, kỳ bài, sắc thư. Trần Nguyên Nhiếp là bí thư dưới quyền Nghị sau này mô tả: Sĩ Nghị cùng Nguyên Nhiếp đi lạc lối, quanh co nhiều chỗ, bị đói khát 7 ngày đêm mới tới ải Nam Quan. Theo giáo sĩ De la Bissachere ở Việt Nam khi đó, số quân Thanh kịp theo Nghị qua bên kia biên giới chỉ có khoảng 50 người.

Lê Duy Kỳ vội chạy theo Nghị thoát sang bên kia biên giới. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, quân Tây Sơn đuổi theo và rao lên rằng sẽ đuổi qua biên giới đến khi bắt được Nghị và Duy Kỳ mới thôi. Bởi thế dân Trung Quốc ở biên giới dắt nhau chạy làm cho suốt vài chục dặm không có người. Như vậy sớm hơn dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày, quân Tây Sơn đã đánh tan quân Thanh. Cánh quân Điền châu gần như bị diệt hoàn toàn, cánh quân Lưỡng Quảng chủ lực bị thương vong nặng và tan rã gần hết, riêng quân Vân Nam – Quý châu không giao chiến mà rút êm về nước. Quang Trung đã hẹn với ba quân mồng 7 vào ăn tết ở Thăng Long nhưng chỉ đến mồng 5, quân Tây Sơn đã khải hoàn ở kinh thành.

Theo các nhà nghiên cứu Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, chiến thuật kết hợp vừa gấp gáp vừa thư thả, giương đông kích tây, tránh chỗ mạnh nhằm chỗ yếu hơn ở Ngọc Hồi – Khương Thượng đã đạt đến đỉnh cao trong nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ[37]. Trong 3 đạo quân Thanh, cánh quân đông đảo nhất, mạnh nhất là của Tôn Sĩ Nghị và cánh quân ít nhất, yếu nhất chính là quân Điền châu của Sầm Nghi Đống. Quang Trung đã chọn mục tiêu đánh vào quân Điền châu vừa yếu nhất lại vừa dùng kỳ binh đánh bất ngờ, vào thời điểm nửa đêm nên khả năng chiến thắng rất cao. Xét trên toàn cục, với lực lượng ít hơn, quân Tây Sơn (10 vạn) thực tế chỉ đương đầu với khoảng già nửa số quân Thanh sang Đại Việt nên lực lượng tương đối cân bằng. Quang Trung đã không dàn lực lượng tác chiến cùng lúc với tất cả các cánh quân Thanh (không đụng quân Vân Quý của Ô Đại Kinh) mà vẫn có chiến thắng lớn trên toàn mặt trận, đuổi được quân Thanh ra khỏi bờ cõi.

Nguyễn Huệ ngay sau chiến thắng Kỷ Dậu 1789, đã cho ngựa chiến ruổi nhanh vào kinh thành Phú Xuân báo tiệp cho Hoàng Hậu Lê Thị Ngọc Hân:

Đại phá quân Thanh gò chất xác
Đào ươm nghìn nụ hé môi say
Nhớ người tiễn rượu đêm ra trận
Tin đẹp lồng hoa gửi tặng đây

Kế đó, ông phái quân truy sát đuổi dài lực lượng chống đối, thực hiện các phương lược ngoại giao với nhà Thanh để được phong làm quốc vương, chính danh phận ở Bắc Hà, xây dựng thiết chế cai trị ổn định cho nhà Tây Sơn, sau đó trao lại binh quyền cho Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm để trở lại Phú Xuân lo việc diệt Nguyễn Ánh.

Vua Quang Trung khi truy kích quân Thanh  đã bắt được chiếu thư Càn Long gửi Tôn Sĩ Nghị có đoạn viết: “…việc quân nên từ đồ, không nên hấp tấp. Hãy nên đưa hịch truyền thanh thế đi trước, và cho các quan nhà Lê về nước cũ hợp nghĩa binh, tìm Tự quân nhà Lê đem ra đứng đầu để đối địch với Nguyễn Huệ thử xem sự thể thế nào. Nếu lòng người nước Nam còn nhớ nhà Lê, có quân ta kéo đến ai chẳng gắng sức. Nguyễn Huệ tất phải tháo lui. Ta nhân dịp ấy mà sai Tự quân đuổi theo rồi đại binh của ta theo sau, như thế không khó nhọc mấy mà nên được công to. Đó là mẹo hay hơn cả. Ví bằng suốt người trong nước nửa theo đằng nọ, nửa theo đằng kia, thì Nguyễn Huệ tất không chịu lui. Vậy ta hãy đưa thư sang bảo đường họa phúc, xem nó đối đáp làm sao. Đợi khi nào thủy quân ở Mân (Phúc Kiến), Quảng đi đường bể sang Thuận Hóa và Quảng Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau thụ địch thế tất phải chịu. Bấy giờ ta sẽ nhân mà làm ơn cho cả hai bên: Tự đất Thuận Hóa, Quảng Nam trở vào Nam thì cho Nguyễn Huệ; tự châu Hoan, châu Ái trở ra Bắc thì phong cho Tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh lại để kiềm chế cả hai bên, rồi sẽ có xử trí về sau.”

Quang Trung từ trước khi giao chiến, đã tính trước kế sách ngoại giao với nhà Thanh.  Lúc Tôn Sĩ Nghị rêu rao “Ai bắt sống được Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đem nộp sẽ được công đầu” lúc sắp kéo quân sang Đại Việt, thì Ngô Văn Sở tướng Tây Sơn đã sai Nguyễn Nha  đưa thư ký tên Sùng nhượng công Lê Duy Cẩn đến Tôn Sĩ Nghị xin hoãn binh, với những lời lẽ thật mềm dẻo, nhưng lại có những cảnh báo cho quân Thanh thấy rằng nếu đem quân vào, nhân dân Đại Việt đã thực hiện vườn không nhà trống; quân đội thì sẵn sàng và kiên quyết đánh giặc, được thể hiện ở những câu sau: “…Hiện nay, trong nước tôi đột nhiên nghe tin quân Thiên triều sắp qua cửa ải…Lính thì sợ vướng víu vào nghịch án, nên họ bảo nhau rằng: “Không đánh lại thì bị giết sạch!” Dân thì sợ không lấy gì cung ứng cho quân lương, nên họ bảo nhau rằng: “Không trốn tránh thì bị chết hết!” Vì thế, quân các đạo đều tranh nhau đến nơi đồn lũy, dân các xứ đều xô nhau tìm vào nơi núi rừng…” Nhưng Tôn Sĩ Nghị, bác bỏ thư của Ngô Văn Sở, rồi cứ cho quân vượt trấn Nam Quan vào Đại Việt.

Tôn Sĩ Nghị lúc đã vào thành Thăng Long thì vua Quang Trung lại sai Trần Danh Bính dẫn đầu một sứ bộ gồm 18 người đến Thăng Long đưa cho Tôn Sĩ Nghị ba đạo bẩm văn: Một đạo nhân danh giám quốc Lê Duy Cẩn, một đạo nhân danh quần thần văn võ, một đạo nhân danh nhân dân xin Tôn Sĩ Nghị đóng quân ở trấn Nam Quan để tra xét nội tình nhà Lê và Tây Sơn từ trước đến giờ. Vua Quang Trung còn đem nộp cho Tôn Sĩ Nghị những tuần dương binh là nhóm Hắc Thiên Tôn gồm 40 người do Ngô Hồng Chấn, tướng Tây Sơn, bắt được từ trước.[10] Nhưng Tôn Sĩ Nghị xem bẩm văn liền xé phăng ngay đi, rồi sai đem bọn Trần Danh Bính ra giết. Sau đó, Tôn Sĩ Nghị cho truyền hịch đi các nơi kể tội quân Tây Sơn, báo cho mọi người biết, quân Thanh sẽ đánh thẳng vào Quảng Nam bắt sống “bọn Nguyễn Huệ” mới thôi.[11][12]

Vua Càn Long sau thất bại nặng nề của nhà Thanh trong chiến tranh với Tây Sơn đã sai danh tướng Phúc Khang An thay thế Tôn Sĩ Nghị làm Tổng đốc Lưỡng Quảng được giao quyền tùy cơ hành xử và điều động thêm 50 vạn quân để ứng chiến vùng biên giới nhằm hư trương thanh thế. Phúc Khang An nguyên là đặc sứ phụ trách hậu cần cho đội quân của Tôn Sĩ Nghị là người mà vua Càn Long đặc biệt yêu quý và tin cẩn, dân gian cho rằng đó là con ngoài giá thú của vua với em gái của Hoàng Hậu.

Năm 1789, kho vàng tại tu viện Mật Tông ở Tây Tạng đang là điểm quan tâm lớn nhất của vua Càn Long đang bị quân Khuếch Nhĩ Khách Mông Cổ dòm ngó chuẩn bị tấn công. Vua Càn Long đã 78 tuổi có tính toán riêng về người kế vị là Hoàng tử Gia Khánh và phúc tướng Phúc Khang An nên việc cơ mật này không thể ai khác chính phải là Phúc Kháng An đảm nhiệm. Lưỡng Quảng và Đại Việt cũng cần sớm an định vì điểm nóng Cam Túc đang làm vua Thanh rất lo nghĩ, trong khi Nguyễn Huệ anh dũng thiện chiến không thể xem thường nên vua Càn Long lựa ý vỗ về hơn là đem binh thảo phạt.

Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp sớm biết tình thế nên đã đón ý hoặc phân vai mật trao đổi với Tây Sơn. Nguyễn Huệ thấy rõ chỗ yếu của quân Thanh và biết họ đang tìm cách để giảng hòa, trong khi ông cũng đang bận tâm xử lý phía Nam. Do vậy sau khi Nguyễn Huệ thắng trận đã sai mang nhiều vàng bạc hối lộ Phúc Khang An và Tả giang Binh bị đạo Thang Hùng Nghiệp để nghị hòa và cho cháu là Nguyễn Quang Hiển lên cửa ải Nam Quan cầu phong và xin cho Nguyễn Huệ được về Bắc Kinh triều kiến Càn Long. Mưu mẹo này thông đồng giữa hai bên với sự thách giá trả giá bên trong và cách qua mặt vua Lê Chiêu Thống cùng số cựu thần nhà Lê và hợp lý hóa trong chính sử xin xem kỹ bài viết “Ngoại giao Việt Nam thời Tây Sơn” là tư liệu quý.

Lê Chiêu Thống lại tiếp tục xin nhà Thanh cho quân cứu viện. Nhà Thanh, phần sợ Quang Trung, phần đã ngán ngẩm việc chinh chiến, chỉ hứa hão với Chiêu Thống mà không cho quân. Thân vương nhà Thanh là Phúc Khang An hứa giúp quân cho Chiêu Thống, nhưng lại tâu với vua Thanh Càn Long rằng Chiêu Thống không còn muốn trở về. Phúc Khang An đã được hưởng lợi từ Tây Sơn và nhận rõ tình thế, nên đã dâng biểu xin hoàng đế Càn Long bãi binh, đồng thời ông cũng chỉ thị cho Thang Hùng Nghiệp gửi mật thư cho Quang Trung gợi ý nên hoà hiếu, tránh binh đao và lập các mẹo mực bang giao để giữ thể diện cho vua Càn Long mà tránh được chiến tranh.

Thư ngoại giao “Trần tình biểu” của vua Quang Trung lúc đầu khá cứng rắn nhưng với sự mưu kế của Thang Hùng Nghiệp nên đã nhẹ đi rất nhiều (5). Tây Sơn theo phương lược vạch sẵn, với tài ngoại giao khéo léo của Ngô Thì Nhậm, đã nhanh chóng bình thường hóa bang giao với phương Bắc.

Nhà Thanh đồng ý hủy bỏ việc động binh để trả thù, và tiếp nhận sứ thần của Tây Sơn. Vua Quang Trung phải dâng biểu “Nộp lòng thành”, nộp cống phẩm. Nhà Thanh đã chịu chấm dứt chiến tranh, nhưng vẫn chưa chịu thừa nhận Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương. Phúc Khang An viết cho vua Quang Trung một bức thư dài báo cho vua Quang Trung biết là vua Càn Long đã ban cho Quang Trung một chuỗi hạt trai, “Ơn trời cao đất dày đến thế là tốt lắm” lại báo cho vua Quang Trung biết rằng: bọn Lê Duy Kỳ đã bị róc tóc, mặc quần áo kiểu người Thanh, đã bị đưa đi an trí ở “ngoại biên” “quyết không cho về nước nữa”. Rồi sau đó Phúc Khang An đòi Tây Sơn phải làm miếu thờ Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Đống. Lại cho biết là khoảng tháng bảy, tháng tám năm Canh Tuất (1790) nhà Thanh sẽ làm lễ bát tuần vạn thọ vua Càn Long “Có hàng vạn nước vượt biển trèo non đem ngọc xe lễ vật đến chầu“. Phúc Khang An yêu cầu vua Quang Trung đến ngày đó cũng phải “chỉnh trang” sang chầu, và như thế phải khởi hành vào tháng tư năm Canh Tuất (1790) Đáng chú ý là sau đó, vua Càn Long xuống chỉ cho vua Quang Trung đại ý nói: do quân Thanh vượt biên giới đến Thăng Long, Nguyễn Huệ phải đem quân ra để hỏi Lê Duy Kỳ vì cớ gì cầu cứu thiên binh; vì bị quân Thanh đánh, quân Tây Sơn bất đắc dĩ phải đánh lại; gặp lúc cầu phao đứt, nên quân Thanh bị chết hại nhiều. Trong tờ chỉ Càn Long còn nhận rằng Nguyễn Huệ đã bắt và giết hết những người đã giết Hứa Thế Hanh và Sầm Nghi Đống. Ông còn cho rằng khi quân Thanh vào Thăng Long, ông đã ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị rút quân về nước, vì Sĩ Nghị không tuân lệnh, cho nên có trận đại bại vào đầu năm Kỷ Dậu. Ông lại đòi lập đền thờ Hứa Thế Hanh và Sầm Nghi Đống, và đòi vua Quang Trung phải đích thân sang Yên Kinh triều cận vào dịp Càn Long làm lễ bát tuần vạn thọ năm Canh Tuất. Ông lại nhắc rằng “Lê Duy Kỳ hèn lười, không tài, bỏ ấn trốn đi, chiểu theo pháp luật của Thiên triều phải tội nặng; rằng ông quyết an trí bọn chúng ở Quế Lâm, không bao giờ cho về nước nữa; rằng ông đã ra lệnh cho Phúc Khang An đưa phái đoàn Nguyễn Quang Hiển đến xem chỗ bọn Lê Duy Kỳ ở”.[17][18] Nhưng rồi vua Quang Trung viện cớ là mình chưa được phong vương, sợ có điều bất tiện khi gặp các vị quốc vương các nước ở Yên Kinh. Thế là Càn Long đành phải phong cho Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương để có điều kiện đến Yên Kinh triều cận một cách đàng hoàng.  Vua Càn Long qua Phúc Khang An lại ra điều kiện đòi triều Tây Sơn phải đúc người vàng đem cống như các triều đại trước. Ngô Thì Nhậm đã viết cho Phúc Khang An bức thư, trong đó có đoạn: “Quốc trưởng nước tôi vùng lên từ thủa áo vải, nhân thời biết việc, đối với vua Lê vốn không có danh phận vua tôi. Mất hay còn là do số trời; theo hay bỏ là do lòng người. Quốc trưởng tôi có ý cướp ngôi của nhà Lê đâu mà lại coi như kẻ thoán đoạt. Trước đây Tôn bộ đường đem quân đến, quốc trưởng nước tôi bất đắc dĩ phải đem quân ra ứng chiến, không hề có ý xâm phạm biên cảnh để mang tội. Nay đại nhân theo lệ cũ của Trần, Lê, Mạc bắt cống người vàng, như vậy chẳng hóa ra quốc trưởng nước tôi được nước một cách quang minh chính đại mà lại bị coi như hạng ngụy Mạc hay sao? Như thế thì tấm lòng kính thuận sợ trời thờ nước lớn cũng bị coi như việc nhà Trần bắt Ô Mã Nhi, nhà Lê giết Liễu Thăng hay sao?…Mong đại nhân noi theo mệnh lớn, miễn cho nước tôi lệ đúc người vàng để tiến cống…” Nguyễn Huệ trong thư này đã nói rõ rằng các vua Việt Nam thời trước sở dĩ phải cống người vàng là để chuộc một tội lỗi nào đó đối với Thiên triều còn Nguyễn Huệ tự coi không có tội gì với nhà Lê và cũng không có tội gì với nhà Thanh nên Tây Sơn không thể đúc người vàng để tiến cống.

Tháng 7 năm 1789, Càn Long ra chỉ dụ phong Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương.

Năm Canh Tuất (1790). Nguyễn Du 25 tuổi. Tháng 1 năm 1790, Hoàng đế Quang Trung giả (do Phạm Công Trị, cháu gọi Nguyễn Huệ bằng cậu đóng) đã sang triều kiến và dự lễ mừng thọ 80 tuổi của vua Càn Long. Đoàn sứ bộ Tây Sơn gồm 159 người có giả vương Nguyễn Huệ và Nguyễn Quang Thùy (mà vua Càn Long tưởng là hoàng thái tử của Nguyễn Huệ). Mục đích khác của đoàn sứ là thăm dò thái độ của nhà Thanh đối với vị vua lưu vong Chiêu Thống của nhà Lê. Đại quan nhà Thanh là Phúc Khang An, từng sang chiến trường Đại Việt, đứng sau lưng đoàn sứ bộ, nên nhiều tướng lĩnh nhà Thanh biết người cầm đầu sứ bộ không phải Nguyễn Huệ, nhưng ngại gây hấn nên không nói ra.

Sứ thần Tây Sơn đi đợt đó có Ngô Văn Sở,  Phan Huy Ích (thượng thư, nhà ngoại giao, quê Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh,  tiền bối của nhà sử học Phan Huy Lê, giáo sư nhà giáo nhân dân, là một trong những chuyên gia hàng đầu về lịch sử Việt Nam hiện đại, người có ảnh hưởng lớn đến chính sử hiện tại trong sự đánh giá nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn), Vũ Huy Tấn ( Thị lang bộ Công, tước , sau khi đi sứ về ông được phong làm Thượng thư bộ Công, tước Hạo Trạch hầu. Dưới triều Cảnh Thịnh, ông được đặc cách lên hàng Thượng trụ quốc, Thị trung đãi chiếu Thượng thư). Sứ đoàn Tây Sơn lần đó cũng có Nguyễn Nể là anh cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du và  Đoàn Nguyễn Tuấn là anh vợ Nguyễn Du. Dọc đường đi, đoàn sứ giả có gặp hành tung của một số người họ Nguyễn ở Quảng Tây và sau đó cùng đi lên Yên Kinh. Người đời sau ngờ rằng đó chính là Nguyễn Du và Hà Mỗ.

Đoàn sứ thần Tây Sơn có giả vương Nguyễn Huệ làm thế nào để che mắt sứ đoàn vua Lê Chiêu Thống hiển nhiên có mặt ?. Phúc Khang An đã ngầm thông đồng mưu kế với Tây Sơn: “Tìm một người diện mạo giống quốc vương đi thay. Việc này chỉ có Công gia, Thang đại nhân, Vương đại nhân và ta là bốn người biết mà thôi. Nếu sợ Lê Duy Kỳ biết, ta bẩm ngay với Công gia đem 1000 người bọn ấy giữ kỹ không cho ra ngoài, còn ai biết được nữa”. (theo Bang giao tập, ngoại giao nhà Tây Sơn).

Mưu lược ngoại giao của nhà Tây Sơn mua chuộc Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp qua các chứng cứ của Phan Huy Ích và Bang giao tập, với tình thế nhà Thanh đang rất chú tâm đến Tây Tạng, Cam Túc và chuyển giao ngai vàng. Phúc Khang An cần nhanh chóng lập được đại công quản lý Lưỡng Quảng và vỗ yên Đại Việt để tính toán vị thế đối trọng danh chính ngôn thuận với ngôi vua mà vua Càn Long cần phải chuyển giao cho Gia Khánh đang đến rất gần. Điều này đã ảnh hưởng sâu sắc tới kế sách, thái độ của vua Càn Long và Phúc Khang An đối với Lê Duy Kỳ.Vua Càn Long đã đón tiếp trọng thể đoàn sứ bộ An Nam của nhà Tây Sơn là có lý do ẩn ý riêng. Theo “Đại Thanh thực lục”, nhà Thanh chi phí cho sứ đoàn mỗi ngày hết 4.000 lạng bạc (tổng cộng lên đến 800.000 tính cho tới khi sứ đoàn về).[55] Ngày 11 tháng 7 năm Canh Tuất, vua Càn Long tiếp “vua” Tây Sơn ở hàng cung Nhiệt Hà, Càn Long tặng “Vua” Tây Sơn một bài thơ như sau:

Nguyên văn chữ Hán:

瀛藩入祝值時巡
初見渾如舊識親
伊古未聞來像國
勝朝往事鄙金人
九經柔遠只重澤
嘉會於今勉體仁
武偃文修順天道
大清祚永萬千春
Phiên âm Hán Việt:
Doanh phiên nhập chúc trị thì tuần
Sơ kiến hồn như cựu thức thân
Y cổ vị văn lai Tượng quốc
Thắng triều vãng sự bỉ kim nhân
Cửu kinh nhu viễn chi trùng dịch
Gia hội ư kim miễn thể nhân
Vũ yển văn tu thuận thiên đạo
Đại Thanh tộ vĩnh vạn thiên xuân.
Tạm dịch là:
Nước Phiên đến lúc ta đi tuần
Mới gặp mà như đã rất thân
Nước Tượng chưa từng nghe triều cận
Việc cống người vàng thật đáng khinh
Nhà Thanh coi trọng việc đi sứ
Chín đạo thường có đạo vỗ yên
Xếp võ tu văn thuận thiên đạo
Đại Thanh còn mãi vạn ngàn xuân.[56]

Tới tháng 11 năm 1790, đoàn sứ bộ nhà Tây Sơn trở về Thăng Long. Trên đường về đoàn vẫn được tiếp đón long trọng hệt như lúc đi. Phan Huy Ích có ghi lại trong Tinh sà kỷ hành của ông như sau: Chuyến đi này được nhà vua (Càn Long) đặc cách cho quan Tổng đốc đi bạn tống. Thuyền, xe, cờ, quạt quáng cả mắt người ta. Đi đến đâu quan lại phải bôn tẩu đón tiếp đến đó. Mùa thu đến hành cung ở Nhiệt Hà, lại được theo xa giá về Yên Kinh, đi Tây Uyển. Luôn luôn tiến yến hàng tuần, được ơn trời âu yếm, ưu đãi khác thường. Từ trước đến giờ, người mình đi sứ Trung Quốc chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế.

Sách Bang giao tập viết: “Đại Hoàng đế sợ Duy Kỳ ở Quảng Tây còn có nhiều bầy tôi cũ gây ra việc, cho nên ngày 16 tháng giêng năm Canh Tuất đã cho đem gia quyến Lê Duy Kỳ lên Yên Kinh, đem 116 người tùy tùng đi an trí ở các tỉnh Triết Giang, Giang Nam, Tứ Xuyên, Hồ Quảng. Lê Quýnh bị đưa đi Ỷ Lệ cách Yên Kinh 40000 dặm”. Nhà Thanh sai phân tán các quan lại cũ của nhà Lê đi các nơi để tách biệt không liên lạc được với nhau và cô lập Lê Duy Kỳ.  Bản thân Lê Duy Kỳ bị giam lỏng ở “Tây An Nam dinh” tại Yên Kinh . Nhà Tây Sơn chính thức nhận được sự công nhận của nhà Thanh.

Lê Quý Kỳ và các cựu thần nhà Lê có đối sách ngoại giao gì? sách Cương mục viết: “Nhà vua căm giận vì bị người Thanh lừa gạt, bèn cùng các bầy tôi là bọn Phạm Như Tùng, Hoàng Ích Hiểu, Lê Hân, Nguyễn Quốc Đống, Nguyễn Viết Triệu, Lê Quý Thích, Nguyễn Đình Miên, Lê Văn Trương, Lê Tùng và Lê Thức mười người uống máu ăn thề, làm bài biểu định đưa lên vua Thanh để xin quân cứu viện, nếu không được thì xin được đất hai châu Tuyên Quang và Thái Nguyên để quay về giữ việc thờ cúng tổ tiên hay là cùng nhau lén về Gia Định, nương nhờ triều ta (triều Nguyễn) để dần dà toan tính việc khôi phục, chứ quyết không chịu sống thừa ở đất Bắc.”

Năm Tân Hợi (1791). Nguyễn Du 26 tuổi.  Lê Duy Kỳ thấy không thể mong chờ viện binh của quân Thanh nên đã trở về chiếm đất Tuyên Quang, Cao Bằng dựa vào thế lực của tù trưởng Nùng Phúc Tấn, Hoàng Văn Đồng, liên kết với Trình Cao, Quy Hợp, các vùng Trấn Ninh của Vạn Tượng mưu đánh Nghệ An.  Nguyễn Huệ sai trấn tướng Nguyễn Quang Diệu và đô đốc Nguyễn Văn Uyển đem năm nghìn tinh binh theo đường thượng lộ Nghệ An tiến đánh chiếm được Trấn Ninh, diệt Trịnh Cao, Quy Hợp. Vua nước Vạn Tượng phải bỏ thành mà chạy. Quang Diệu thừa thắng đuổi dài đến tận Xiêm La, chém tướng Vạn Tượng là tả súy Phan Dung và hữu súy Phan Siêu, sau đó kéo quân về Bảo Lộc. Nùng Phúc Tấn và Hoàng Văn Đồng thế cùng không chống đỡ nổi đều bị quân Quang Diệu giết chết. Tháng mười, năm Tân Hợi (1791), anh thứ tư cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du là Nguyễn Quýnh quay trở về Hồng Lĩnh khởi nghĩa bị bắt và bị giết năm 1791 tròn 30 tuổi, dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền Hà Tĩnh bị Tây Sơn phá hủy và đốt sạch. Vua Lê Chiêu Thống cô thế với các cựu thần trung thành lại phải về Yên Kinh.

Nguyễn Huệ sau khi đã được nhà Thanh phong làm An Nam quốc vương và truy sát đuổi dài tận diệt những mầm mống hồi phục nhà Lê và các cựu thần nhà Lê ứng nghĩa, đã đặt thể chế Hoàng Đế, lập Lê Thị Ngọc Hân làm Bắc Chính cung Hoàng hậu, phong con trưởng là Nguyễn Quan Toản làm thái tử, chọn Nghệ An làm thủ đô với tên Phượng Hoàng trung đô, đắp thành đất ở núi Kỳ Lân, dựng lầu điện, chia cả nước thành các trấn để cai trị, định quan danh, làm sổ ba tịch đinh điền, phát thẻ tín lệnh (tương tự CMND ngày nay) để quan lý hộ tịch hộ khẩu. Về đối ngoại xin mở cửa ải hải quan giao thương với nhà Thanh ở Cao Bằng, Lạng Sơn để dân hai nước họp chợ thông thương, lại xin đặt phái bộ đại diện ở phủ Nam Ninh trong nội địa Trung Quốc, xin cưới công chúa nhà Thanh. Tất cả những điều Nguyễn Huệ đề đạt với vua Càn Long đều được vua Càn Long đồng ý.

Quang Trung chia vùng cai quản thuộc đất nhà Lê cũ thành các xứ (trấn) như sau:

  1. Xứ Đông (Hải Dương)
  2. Xứ Bắc (Kinh Bắc)
  3. Xứ Đoài (Sơn Tây)
  4. Xứ Yên Quảng
  5. Xứ Lạng (Lạng Sơn)
  6. Xứ Thái (Thái Nguyên)
  7. Xứ Tuyên (Tuyên Quang)
  8. Xứ Hưng (Hưng Hóa)
  9. Xứ Nghệ (Nghệ An và Hà Tĩnh)
  10. Sơn Nam Thượng (Hà Đông và Hà Nam)
  11. Sơn Nam Hạ (Nam Định và Thái Bình)
  12. Thanh Hóa ngoại (Ninh Bình)
  13. Thanh Hóa nội (Thanh Hóa).
  14. Thuận Hóa
  15. Quảng Nam

Thuận Hóa là đất căn bản khởi nghiệp của Nguyễn Huệ được vua anh Nguyễn Nhạc phong Bắc Bình Vương cho vua em trước đây. Quảng Nam là đất Nguyễn Huệ chiếm thêm của Nguyễn Nhạc khi hai anh em bất hòa năm 1786-1788 (dẫn đến giết hại tướng giỏi của nhau Nguyễn Nhạc giết công thần Nguyễn Thung năm 1787, Nguyễn Huệ giết danh tướng Vũ Văn Nhậm năm 1788 Nguyễn Lữ chán nản và lo sợ Phạm Văn Tham phản trắc nên tự ý bỏ Gia Định trở về Quy Nhơn).  Vùng Bắc Hà (đàng Ngoài cũ) vua Quang Trung tổ chức lại các xứ đều đại thể giữ nguyên như thời Hậu Lê trừ xứ Sơn Nam và Thanh Hóa ra tách làm hai. Trước kia Phố Hiến là lỵ sở của Sơn Nam, tới thời Quang Trung thì Hạ Trấn đóng ở Vị Hoàng, cách dưới phố Hiến. Trong các trấn trên thì các trấn Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên và Yên Quảng là ngoại trấn; các trấn Thanh Hóa ngoại, Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Kinh Bắc, Hải Dương và Phụng Thiên là nội trấn. Mỗi xứ (trấn) chia làm nhiều phủ, mỗi phủ chia làm nhiều huyện, mỗi huyện chia làm nhiều tổng, mỗi tổng chia làm nhiều xã, mỗi xã lại chia nhiều thôn. Thành Thăng Long gồm 1 phủ, 2 huyện, 18 phường.

Vua Quang Trung tổ chức máy hành chính gồm: Tam công, Tam thiếu, Đại chủng tể, Đại Tư đồ, Đại Tư khấu, Đại Tư mã, Đại Tư không, Đại Tư Lệ, Thái úy, Ngự úy, Đại Tổng quản, Đại Đô hộ, Đại đô đốc, Đô đốc, Nội hầu, Hộ giá, Điểm kiểm, Chỉ huy sứ, Đô ty, Đô úy, Trung úy, Vệ Úy, Tham đốc, Tham lĩnh, Trung Thư lệnh, Phụng Chính, Thị Trung đại học sĩ, Hiệp biện đại học sĩ, Lục Bộ Thượng thư, Tả – Hữu đồng nghi, Tả – Hữu phụng nghi, Thị Lang, Tư vụ, Hàn Lâm… Mỗi trấn đặt một trấn thủ về hàng võ và một hiệp trấn về hàng văn. Mỗi huyện đặt một văn phân tri, một võ phân suất, một tả quản lý và một hữu quản lý. Công việc của quan văn là trưng đốc binh lương, xét xử từ tụng. Phận sự của quan võ là coi quản và thao diễn quân lính từ Đạo đến Cơ, từ Cơ đến Đội. Trong các xã, thôn thì có xã trưởng, thôn trưởng. Hàng tổng thì đặt Tổng trưởng (như chức Chánh Tổng về sau) để giữ việc hành chính trong một tổng. Ông đồng thời cũng cho soạn một bộ luật tên là “Hình luật thư”, nhưng chưa xong thì ông đột ngột mất nên mãi không hoàn thành.

Về xây dựng bộ máy hành chính, bổ nhiệm quan lại, thu hút nhân tài và giáo dục đào tạo, Quang Trung rất chú trọng thu dụng các nhân tài từng phục vụ nhà Lê. Ông ban “Chiếu cầu hiền” có đoạn: “Trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng thấy đến. Hay Trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự?… Trẫm nơm nớp lo nghĩ, một ngày hai ngày cũng có hàng vạn sự việc nảy sinh Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn – sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình – sức một người không thể đảm đương”.ác cựu thần nhà Lê cũ, tiêu biểu là các tiến sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Nễ, Nguyễn Huy Lượng, Bùi Dương Lịch… đã ra giúp nhà Tây Sơn. Danh sĩ Nguyễn Thiếp sau nhiều lần từ chối, cuối cùng cũng nhận lời xuống núi giúp vua Quang Trung (xem thêm: Giáo dục khoa cử thời Tây Sơn)

Chiếu chỉ của Quang Trung ra năm 1792 về việc dịch sách chữ Hán sang chữ Nôm.

Quang Trung bỏ Hán ngữ như là ngôn ngữ chính thức trong các văn bản của quốc gia. Ngôn ngữ chính thức được sử dụng là tiếng Việt và được viết trong các văn kiện hành chính bằng hệ thống chữ Nôm. Quang Trung quy định các bài hịch, chiếu chỉ phải soạn bằng chữ Nôm; đề thi viết bằng chữ Nôm, và các sĩ tử phải làm bài bằng chữ Nôm. Ông còn chủ trương thay toàn bộ sách học chữ Hán sang chữ Nôm nên năm 1791 đã cho lập “Sùng chính viện” để dịch kinh sách từ Hán sang Nôm. Theo sách Tây Sơn lược thuật, ông chọn một quan văn “5 ngày một lần vào cấm cung để giảng giải kinh sách”.[63] Ngoài ra, Quang Trung quan tâm đưa việc học đến tận thôn xã. Trong “Chiếu lập học” ông lệnh cho các xã:“Phải chọn Nho sĩ bản địa có học thức, có hạnh kiểm đặt làm thầy dạy, giảng tập cho học trò”.

Về tôn giáo: Quang Trung đề cao chính sách tự do tín ngưỡng: trọng Nho giáo, bảo đảm hoạt động cho Phật giáo và Công giáo, các tu sĩ, giáo sĩ được tự do hoạt động, truyền đạo, xây dựng chùa chiền và nhà thờ, nhưng bài trừ mê tín dị đoan rất mạnh, chấn chỉnh lại việc tu hành: nhiều chùa ở các làng có mà người tu hành lạm dụng để truyền bá mê tín dị đoan bị đập bỏ để xây duy nhất một ngôi chùa ở huyện cấp trên, đồng thời những người tu hành không đạo đức, những kẻ lưu manh, lười biếng đều phải hoàn tục.

Về kinh tế: vua Quang Trung rất quan tâm khẩn hoang, phân phối đất đai cho những người nông dân nghèo, thúc đẩy thủ công nghiệp từng bị cấm trước kia, đề cao thương nghiệp và mở rộng quan hệ buôn bán giữa Đại Việt với nước ngoài. Ông khuyến khích giao thương giữa các thương thuyền nước ngoài và các thương thuyền của Đại Việt. Thuế ruộng được chia làm ba hạng ruộng tốt, ruộng khá và ruộng vừa, nộp thuế công điền tương ứng nhất đẳng điền 150 bát thóc, nhị đẳng điền 80 bát thóc, tam đẳng điền 50 bát thóc, nộp thuế tư điền tương ứng là  40,  30 và 20 bát thóc. Các loại thuế khác cũng vậy, đơn giản, chặt chẽ và nghiêm để phòng ngừa tham nhũng.

Về theo dõi nhân khẩu. Người dân được phân 4 hạng theo lứa tuổi: 9-17 tuổi là hạng “vị cập cách”; 18-55 tuổi là hạng “tráng”; 55-60 tuổi là hạng “lão”; 60 tuổi trở lên là hạng “lão nhiêu”. Ông còn cho làm thẻ bài “Thiên hạ đại tín” bằng gỗ có khắc họ tên, quê quán của người mang không phân biệt giàu sang nghèo hèn.

Trong lúc vua Quang Trung vẫn phải lo ổn định tình hình Bắc Hà và tiêu diệt tàn dư của nhà Lê còn sót lại thì Nguyễn Ánh được người Pháp hỗ trợ đã kéo ra đánh Bình Thuận, Bình Khang, Diên Khánh, quân của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc liên tiếp bại trận và mất mấy thành này. Cho tới năm 1791, Nguyễn Nhạc chỉ còn cai quản Quy Nhơn, Phú Yên và Quảng Ngãi.

Quang Trung không chỉ muốn hòa hoãn với Càn Long mà còn muốn xuất quân đánh nhà Thanh. Trước khi tính chuyện đánh Thanh, nhà vua cho quấy rối nội địa Trung Quốc bằng cách lợi dụng đảng “Thiên Địa Hội” khiêu khích người Thanh. Các biên thần nhà Thanh như Phúc Khang An (mới thay Tôn Sĩ Nghị) tuy biết rõ Tây Sơn có bí mật nhúng tay, nhưng cũng chịu nhịn cho qua chuyện.

Năm Nhâm Tí (1792). Nguyễn Du 27 tuổi. Nguyễn Huệ cầu hôn với công chúa Thanh và xin đất Lưỡng Quảng để thử ý vua Thanh. Lê Chiêu Thống con trai chết, đau buồn, chán nản nên ngã bệnh.

Đầu năm 1792, vua Quang Trung lại sai sứ bộ sang Yên Kinh, mang các cống phẩm dâng Càn Long gồm: chiến lợi phẩm lấy được ở Vạn Tượng, sách binh thư của Đại Việt và một quyển sử viết về triều đại Lê Chiêu Thống. Ông cũng cầu hôn với công chúa Thanh và xin đất Lưỡng Quảng. Trong Bang giao hảo thoại mà Ngô Thì Nhậm là người chép lại vẫn còn hai văn bản ngoại giao đó.

Tờ biểu chính thức đặt vấn đề xin làm con rể vị Thiên Tử nước Đại Thanh như sau: “Thần vốn là một kẻ áo vải đội ơn Thánh Hoàng cho giữ cõi Nam. Khi vào triều cận nơi cung khuyết đã được thấy rõ thiên nhan để vấn an, lại được ban thưởng rất nhiều. Phàm những việc mà ở cõi Nam Giao từ xưa đến nay chưa ai được hưởng, đều được (Thánh Hoàng). Đến khi thần lĩnh chỉ về nước, ngửa trông thánh ân đoái đến, ân chỉ ban luôn. Lồng lộng lòng nhân của Thánh Hoàng không thể tả sao cho xiết…Vua nhà Đại Thanh ta vâng chịu mệnh trời có muôn phương đất, những nơi soi đến đều nuôi nấng như con, rộng như doanh hoàn không để ra ngoài sân điện… Trộm nghĩ: Muôn vật không ẩn tình với trời đất, con cái không giấu tình với cha mẹ. Việc gia đình tâm sự đâu dám không bày tỏ với bậc chí tôn. Vừa đây thần bị vận đen, trong nhà thiếu người đơm cúng. Cơ đồ mới gây dựng, thuyền vuông ít người giúp đỡ. Cây ngọc muốn được nương nhờ, khóm dân mong được giữ vững. Ngước thấy Thanh triều gây nền từ núi Thăng Bạch, dựng nên nghiệp vua, con cháu ức muôn, đời đời phồn thịnh. Từ trước đến nay chế độ nhà trời, công chúa gả xuống, tất phải người tôn quý mới chọn đẹp duyên, không có lệ rộng ra đến các bầy tôi ở ngoài. Phận đã nghiêm chia ra trong ngoài như thế, thật khó mà với đến được. Chỉ vì một niềm tôn mến, riêng trông ngóng, trằn trọc không thôi. Trộm mong cành ngọc nhà trời rộng lan đến cả kẻ ngoại phiên ở dưới, khiến thần được ngửa đội ơn lành gần gụi gót lân…Chỉ vì quá phận cầu ơn, việc không phải là thường cách, mưu với mọi người chấp sự, không ai dám đề đạt lên cho. Muôn dặm cửa vua ngày ngày trông ngóng. Nay dám không tự lượng, mạo muội giãi bày lòng thành. Kính cẩn sai kẻ bồi thần sang chầu hầu, sau khi tâu bày rồi sẽ vì thần mà giãi bày lòng thực.

Để thăm dò thái độ nhà Thanh, vua Quang Trung lại giao việc này cho Vũ Văn Dũng, một viên tướng tin cậy quê ở Hải Dương. Vũ Văn Dũng mang hai tờ biểu sang Yên Kinh trực tiếp đặt hai vấn đề trên với vua Càn Long. Vua Quang Trung đã tính đến trường hợp phải dùng lực lượng quân sự đối phó với nhà Thanh, khi vua Càn Long nổi giận. Ông đã chuẩn bị đương đầu với mọi sự bất trắc, đó là nuôi dưỡng nhóm Tề Ngỗi (Tàu Ô) và Thiên Địa Hội. Trong trường hợp chiến tranh Việt Thanh lại xảy ra các nhóm này sẽ trở thành những lực lượng hỗ trợ đắc lực.  Khi vua Quang Trung trù tính việc xin đất làm đô và cầu hôn thì lúc này Vũ Văn Dũng đang nghỉ ở quê nhà trong trấn Hải Dương. Vua Quang Trung đã hạ sắc chỉ cho họ Vũ như sau: ““Sắc truyền cho Hải Dương Chiêu viễn đô đốc tướng quân dực vận công thần Vũ quốc công được gia phong chức chánh sứ đi sứ nước Thanh, được toàn quyền trong việc đối đáp tâu xin hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây để dò ý và cầu hôn một vị công chúa để chọc tức. Phải thận trọng đấy! Hình thế trong chuyến dụng binh đều ở chuyến đi này. Ngày khác làm tiên phong (đánh nước Thanh) chính là khanh đấy. Kính thay sắc này!”

Câu Hình thế trong chuyến dụng binh đều ở chuyến đi này, cho thấy Vũ Văn Dũng đi sứ nước Thanh không phải chỉ có các nhiệm vụ trên mà còn phải dò xét nội tình nhà Thanh, quan sát địa hình địa vật những nơi ông đi qua để một khi chiến tranh Việt Thanh lại bùng nổ thì quân Tây Sơn có thể có một số tin tức tình báo cần thiết mà tổ chức cuộc hành quân.

Theo gia phả họ Vũ, thì Vũ Văn Dũng cầm đầu sứ đoàn đã đến Yên Kinh và được vào bệ kiến vua Càn Long. Vũ Văn Dũng đã hoàn thành cả hai nhiệm vụ: cầu hôn và xin đất làm đô. Sau khi nghe lời tâu xin của Vũ Văn Dũng, vua Thanh giao vấn đề này cho đình thần bàn xét. Ngày hôm sau Vũ Văn Dũng lại được vào bệ kiến Càn Long ở Ỷ Lương các và vua Càn Long đã đồng ý trao đất Quảng Tây cho vua Quang Trung để làm đô và gả một công chúa cho vị thủ lĩnh Tây Sơn. Về việc cầu hôn, sau buổi tiếp sứ thần Đại Việt, vua Càn Long ra lệnh cho bộ lễ sửa soạn nghi lễ và định ngày cho công chúa nước Đại Thanh sang đẹp duyên cùng vua Đại Việt.

Tháng 5 năm Nhâm Tý, tức năm Càn Long thứ 57 (1792), con trai cựu hoàng Lê Chiêu Thống bị ốm chết. Các cận thần nhà Lê theo vua số thì bị giam giữ, số thì lưu tán, cơ may phục quốc không còn hi vọng, Lê Chiêu Thống ngã bệnh nặng.

Vua Quang Trung ý định cưới con vua và xin đất định đô chưa kịp trở thành hiện thực thì ông chết đột ngột vào ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (16 tháng 9 năm 1792), lúc khoảng 11-12 giờ đêm. Nguyễn Huệ qua đời, ở ngôi được 4 năm, hưởng thọ 40 tuổi, miếu hiệu là Thái Tổ Vũ hoàng đế. Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân đã viết bài “Tế vua Quang Trung” và bài “Ai Tư Vãn” để bày tỏ nỗi đau khổ và tiếc thương cho người chồng anh hùng sớm ra đi.

Thi hài Quang Trung được táng ngay tại Phú Xuân, được táng ở cung điện Đan Dương. Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi, tức là vua Cảnh Thịnh, sai sứ sang nhà Thanh báo tang và xin tập phong. Đô đốc Vũ Văn Dũng đang đi sứ nhà Thanh ở Bắc Kinh, nghe tin Quang Trung mất liền làm bài thơ viếng như sau:

Bố y phân tích ngũ niên trung
Mai cố thi vi tự bất đồng
Thiên vị ngô hoàng tăng nhất kỷ
Bất y Đường Tống thuyết anh hùng

Dịch:
Năm năm dấy nghiệp tự thân nông
Thời trước thời sau khó sánh cùng
Trời để vua ta thêm chục tuổi
Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng.

Vua Càn Long tặng tên hiệu cho Nguyễn Huệ là Trung Thuần, lại thân làm một bài thơ viếng và cho một pho tượng, 300 lạng bạc để sửa sang việc tang. Sứ nhà Thanh đến tận mộ ở Linh Đường (mộ giả) thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội) để viếng.

Nguyên nhân cái chết của vua Quang Trung theo các tài liệu đều cho rằng ông chết vì do đột tử bởi một cơn tăng huyết áp đột ngột. Bác sĩ Bùi Minh Đức khảo cứu các nguồn tư liệu lịch sử và kết luận rằng Nguyễn Huệ “xuất huyết não dưới màng nhện; nguyên nhân tử vong: do viêm phổi sặc“. Theo  Hoàng Lê nhất thống chí, thì vua Càn Long hình như đã biết việc này, bằng chứng là khi Quang Trung giả sang Yên Kinh gặp Càn Long, được Càn Long tặng cho chiếc áo, có thêu 7 chữ: Xa tâm chiết trục, đa điền thử (車心折軸多田鼠) Nghĩa là: Bụng xe gãy trục, nhiều chuột đồng. Theo phép chiết tự, chữ “xa” (車) và chữ “tâm” (心) ghép lại thành chữ “Huệ” (惠) là tên của Nguyễn Huệ; “chuột” nghĩa là năm tý (Nhâm tý 1792). Ý của dòng chữ trên áo là Nguyễn Huệ sẽ chết vào năm Tý.

Nguyễn Quang Toản 1783 – 1802) hay Cảnh Thịnh hoàng đế, là con trai thứ của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ). Ông lên ngôi tháng 8 năm 1792, sau khi Nguyễn Huệ mất, năm sau đổi niên hiệu thành Cảnh Thịnh. Khi vua Quang Toản mới lên ngôi thì cậu họ là Bùi Đắc Tuyên làm thái sư rất chuyên quyền, còn Ngô Văn Sở khi đó trấn giữ thành Thăng Long, coi hết việc quân dân, được thăng chức đại tổng lý, tước quận công.

Năm Quý Sửu (1793). Nguyễn Du 28 tuổi. Lê Chiêu Thống thất vọng và chán nản, lâm bệnh rồi qua đời ngày 16 tháng 10 (âm lịch) năm 1793 tại Yên Kinh. Nhà Thanh chôn ông theo nghi thức tước công. Ngày mồng hai tháng hai năm Quý Sửu (1793), sứ đoàn Tây Sơn sang đến Bắc Kinh để báo tang vua Quang Trung mất . Vua Càn Long đã phê vào tờ biểu báo tang hai chữ đáng tiếc, rồi ông thân làm một bài thơ viếng. Ông lại sai viên án sát Quảng Tây là Thành Lâm đến Nghệ An làm lễ đọc và đốt bài thơ ấy trước “phần mộ” vua Quang Trung. Ông còn giao cho sứ đoàn Ngô Thì Nhậm một tấm lụa đại cát đạt [41] và 3000 lạng bạc để dùng vào việc làm chay cho vua Quang Trung. Không chờ Nguyễn Quang Toản dâng biểu cầu phong,vua Càn Long lại đặc cách phong ngay cho Quang Toản làm An Nam quốc vương để chính danh phận và yên dân tâm.

Vua Càn Long tỏ ra rất vui vẻ, hả hê khi được Ngô Thì Nhậm cho biết trước khi từ trần, vua Quang Trung đã dặn quần thần phải luôn luôn tôn kính Thiên triều. Vì vậy, Càn Long lấy hai chữ Trung thuần đặt tên thụy cho vua Quang Trung.

Phúc Khang An khi đó đang làm tổng chỉ huy đánh quân Khuếch Nhĩ Khách Mông Cổ tại tu viện Mật Tông ở Tây Tạng để giành lại kho vàng to lớn ở núi Tuyết.  Khi trở về, Phúc Khang An đã viết cho triều đình Tây Sơn một bức thư có những câu: Bản Tước các bộ đường cùng Tiền Quốc vương (vua Quang Trung) đã từng đem lòng thành liên kết rất sâu. Nhớ khi tiến quan vào chầu, tâm sự sớm chiều, bàn soạn nửa năm, lúc cùng ngồi thuyền lúc cùng đi bộ trước khi vào chầu, thường thường đem tâm sự đàm đạo với nhau… đến lúc lên đường về nước, chia tay ở Hán Dương, cùng nhau than thở, quyến luyến nhớ thương. Bản tước các bộ đường từ tháng năm năm ngoái (1792) đốc binh tiến đánh bộ lạc Quách Nhĩ Khách… Nay nhờ Đại Hoàng Đế nghĩ đến quý quốc, che chở như trời. Bản tước các bộ đường đã nhận ủy nhiệm (của Đại Hoàng Đế làm tổng đốc Lưỡng Quảng) quý Quốc vương thỏa lòng nương tựa. Đợi khi đến tỉnh Việt (Quảng Đông), sẽ sai người đến Nghệ An làm lễ tế điệu, kính dâng bó hoa để tỏ lòng cố cựu.

Vua Càn Long cũng đã ra lệnh cho các quan của nhà Thanh đều phải cúi đầu làm lễ tưởng niệm vua Quang Trung: Thạc tào tòng sự các gia ngạch,Cá cá bất vong ngã tiên vương. Tạm dịch là: Tất cả các vị quan to (ở Thiên triều) đều cúi đầu làm lễ/ Ai ai cũng không quên An Nam quốc vương (Nguyễn Huệ) của chúng ta.

Lê Chiêu Thống bị giới làm sử đời sau phê phán gay gắt. Các tác giả Ngô gia văn phái thân Tây Sơn trong tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí viết: “Tuy vua Lê đã được phong Vương, nhưng giấy tờ đưa đi các nơi, đều dùng niên hiệu Càn Long. Vì có Nghị ở đấy nên không dám dùng niên hiệu Chiêu Thống. Ngày ngày sau buổi chầu, vua lại tới chờ ở doanh của Nghị để nghe truyền việc quân, việc nước. Vua cưỡi ngựa đi trước, Lê Quýnh cưỡi ngựa đi sau, quân lính hộ vệ chỉ vài chục người. Người trong kinh có kẻ không biết là vua. Hoặc có người biết, thì họ nói riêng với nhau rằng: Nước Nam ta từ khi có đế, có vương tới nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế. Tiếng là làm vua, nhưng niên hiệu thì viết là Càn Long, việc gì cũng do viên tổng đốc, có khác gì phụ thuộc vào Trung Quốc?“. Tuy nhiên, nhà Nguyễn do Nguyễn Ánh thành lập ra sau đó, lại nhìn nhận khá rộng lượng với Chiêu Thống. Hoàng đế Tự Đức có lời phê về Chiêu Thống, đại ý nói: “Nhà vua bị người ta lừa gạt, bị giám buộc ở quê người đất khách, đến nỗi lo buồn phẫn uất, ôm hận mà chết, thân dẫu chết, nhưng tâm không chết, kể cũng đáng thương! Vậy nên truy đặt tên thụy là Mẫn Đế“.

Năm 1793, ở Đàng Trong , Nguyễn Ánh nhân Bắc Hà biến loạn kéo đại quân  từ Gia Định kéo ra đánh vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) ở thành Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc sai người đến chỗ Cảnh Thịnh xin cứu viện. Cảnh Thịnh cho Trần Quang Diệu làm Đại Tổng quản, Phạm Công Hưng, Nguyễn Văn Huấn đem quân cứu Nguyễn Nhạc. Quân của Nguyễn Ánh rút về. Các tướng của vua Quang Toản chiếm luôn thành trì của vua Thái Đức. Tháng 8 năm này, vua Thái Đức uất hận mà qua đời, con cả là Nguyễn Bảo lên nối ngôi bị các tướng của Cảnh Thịnh chia quân giữ thành và an trí ra huyện Phù Ly. Nhà Tây Sơn nhánh Nguyễn Nhạc chấm dứt từ đó.

Năm Quý Sửu (1793), Nguyễn Du về thăm quê Tiên Điền và đến cuối năm ông vào kinh đô Phú Xuân thăm anh là Nguyễn Nễ đang làm thái sử ở viện cơ mật và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn.

Năm Giáp Dần (1794). Nguyễn Du 29 tuổi.  Vua Nguyễn Quang Toản  sai Vũ Văn Dũng ra coi binh mã bốn trấn Bắc Hà. Dũng đến trạm Hoàng Giang, gặp trung thư lệnh Trần Văn Kỷ phạm tội bị đày ở đó, Kỷ nói với Dũng rằng: Quan thái sư chức vị đã cao tột bực, trong tay nắm quyền làm oai làm phúc, lại đẩy ông ra ngoài, nếu có sự chẳng lợi cho nhà nước, các ông phỏng còn giữ được đầu chăng? Bây giờ chẳng sớm liệu đi, sau này ăn năn sao kịp? Dũng tin và trọng Kỷ, nên cho lời Kỷ là phải. Hôm sau, Dũng đem quân bản bộ quay về, hợp mưu với thái bảo Hóa, bắt phe đảng Đắc Tuyên bỏ ngục; lại sai người vào Quy Nhơn bắt Bùi Đắc Trụ[2] (con Bùi Đắc Tuyên) và sai đô đốc Hài ra thành Thăng Long lập mưu bắt Ngô Văn Sở đưa về, thêu dệt thành tội trạng làm phản để dìm xuống nước cho chết hết[3]. Sau đó, Dũng lại sai Hóa vào giữ thành Quy Nhơn.

Cũng trong năm 1794, Cảnh Thịnh sai Bùi Đắc Trụ làm tán nghị, vào Quy Nhơn trấn giữ thành và lấy Quang Diệu làm thống suất, lĩnh đại quân tiến đánh thành Nha Trang. Bảy tướng từ Lê Văn Trung trở xuống đều được gia phong làm quận công quản binh và nghe theo lệnh chỉ huy của Quang Diệu. Diệu tiến sát thành Nha Trang, mà quân tuần tiễu thì đã đến địa phận Bình Thuận. Quân nhà Nguyễn hết sức chống giữ khiến Diệu không thể thắng nổi. Giai đoạn này, quân Tây Sơn luôn luôn tấn công miền Nam đã thuộc quyền Nguyễn Ánh, quân hai bên chống chọi với nhau đến hàng năm.

Trần Quang Diệu đang ở Nha Trang thì được tin cha con Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở đều đã bị Vũ Văn Dũng giết chết, sợ vạ lây đến mình, bèn kéo quân về, họp bàn cùng bọn tướng tá, định dùng quân lực bắt Vũ Văn Dũng. Ngay lập tức Diệu giải vây cho thành Nha Trang rồi kéo quân về thành Quy Nhơn để sau đó tiếp tục về kinh đô Phú Xuân (Huế). Về tới làng Yên Cựu ở phía nam kinh thành, trên bờ sông Hương, Diệu đóng quân ở bờ nam sông. Dũng cùng bọn nội hầu Tứ đem quân bản bộ đóng ở bờ bắc sông, mượn lệnh vua để chống lại với Diệu.

Vua Quang Toản phải sai các trung sứ qua lại vỗ về hoà giải, Quang Diệu mới chịu đem tả hữu vào yết kiến Cảnh Thịnh và giảng hòa với Vũ Văn Dũng; kế đó Diệu lại xin cho gọi Hóa về và xin cho Lê Trung thay chân Hóa, trấn giữ Quy Nhơn. Khi ấy, các cận thần ở bên Cảnh Thịnh gièm pha rằng oai quyền của Diệu quá lớn, đang toan có mưu khác. Toản tin là thật, liền rút hết binh quyền của Diệu, chỉ cho giữ một chức quan vào hàng thị thần mà thôi. Quang Diệu vốn tương đắc với Lê Trung, nên gửi mật thư vào Quy Nhơn, hẹn Trung cất quân lập Nguyễn Quang Thiệu (con Nguyễn Huệ, anh Cảnh Thịnh) làm vua. Trung theo lời kéo quân về, Quang Thiệu đem quân tiếp ứng phía sau. Quân của Trung về đến Quảng Nam, vua Quang Toản sai Diệu đi bảo Trung lui quân. Trung không thông báo cho Quang Thiệu mà một mình một ngựa theo Diệu về yết kiến Cảnh Thịnh. Quang Thiệu sợ hãi phải rút quân về Quy Nhơn, đóng chặt cửa thành để cố thủ.

Nguyễn Quang Toản sai tướng đến đánh liên tiếp mấy tuần không hạ được, tự mình làm tướng đem quân đi. Đến Lê Giang, thái phủ tên là Mân tâu với Toản rằng: Cuộc biến loạn Quang Thiệu thực do Lê Trung gây nên, tội không thể tha, xin giết ngay để răn kẻ khác. Cảnh Thịnh nghe theo và cho vời Trung vào dinh, sai võ sĩ trói lại đem chém. Con rể Lê Trung là đại đô đốc Lê Chất hận việc giết cha vợ nên đầu hàng Nguyễn Ánh. Sau đó, Toản tiến đánh Quy Nhơn, mười ngày sau hạ được thành, bắt Quang Thiệu cùm đưa về, dùng thuốc độc giết chết. Toản để Mân ở lại giữ thành Quy Nhơn.

Cũng năm Giáp Dần (1794), Nguyễn Nễ (Nguyễn Đề) được thăng Tả phụng nghi bộ Binh và vào Quy Nhơn giữ chức Hiệp tán nhung vụ. Đến năm 1795 Nguyễn Đề đi sứ sang Yên Kinh dự lễ nhường ngôi của vua Càn Long nhà Thanh, đến năm 1796 trở về được thăng chức Tả đồng nghị Trung thư sảnh.

Năm Ất Mẹo (1795). Nguyễn Du 30 tuổi. Các tướng Tây Sơn lại lục đục. Vũ Văn Dũng giết Bùi Đắc Tuyên và lừa giết Ngô Văn Sở. Trần Quang Diệu cũng bị nghi ngờ nên rút quân về. Hai tướng Quang Diệu và Văn Dũng giảng hoà Sau đó Lê Chất làm phản theo Nguyễn Ánh, đem quân đánh nhau với tướng Tây Sơn là Mân (Mân Thành hầu Lê Văn Ứng?). Quân của Mân thua trận, Mân phải chạy vào núi rừng mà trốn; quân, voi, khí giới đều bị Chất thu sạch. Vua Quang Toản nghe tin, lại sai Đại Tư Vũ Tuấn (Đại Đô đốc Trần Danh Tuấn?) dẫn binh tới trấn, chiêu tập tàn quân để đóng giữ.

Năm Bính Thìn (1796). Nguyễn Du 31 tuổi. Mùa đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du trốn vào Gia Định theo chúa Nguyễn Ánh nhưng bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An. sau khi được tha ông về sống ở Tiên Điền. Trong thời gian bị giam ông có làm thơ My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù).

Đến đây kết thúc Nguyễn Du 15 năm lưu lạc.

Còn tiếp …

Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối (1797-1820)

Biên khảo của Hoàng Kim
Đề nghị ghi rõ nguồn trích dẫn khi sử dụng tư liệu này Thông tin liên hệ tác giả để đối chiếu tra cứu tài liệu gốc.

(*) Lời tác giả: Tôi bàng hoàng thức dậy lúc nửa đêm, vội vã chép lại giấc mơ lạ Nguyễn Du nửa đêm đọc lại lúc 12g40 ngày 4 tháng 7 năm 2012, với lời của cụ già nhắn gửi “- Ta là Linh Nhạc Phật Ý, ở gần đây và có nhân duyên với con nên ta giúp con làm sáng tỏ chuyện này. Con hãy ghi nhớ kỹ những lời ta dặn để tìm tòi, kiến giải đủ 12 cậu hỏi, thập nhị nhân duyên”. Từ mỗi đầu xuân hàng năm kỷ niệm ngày sinh Nguyễn Du (ngày 3 tháng 1) tôi lại soát lại và bổ sung Gia thế và Niên biểu Nguyễn Du, lần theo dấu vết những lời khuyên trong giấc mơ lạ nói trên. Sau này tôi mới biết Thiền sư Linh Nhạc Phật Ý là người chủ trì Tổ Đình chùa cổ đã cứu thoát Nguyễn Vương.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích



Vietnamese Dan Bau Music
Vietnam traditional music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu

Nguyễn Du trăng huyền thoại

nguyenduvanguyencongtru1

Nguyễn Công Trứ và Vịnh Thúy KIều  là phần 3 tiếp nối phần 1 “Giải mã Truyện Kiều của Nguyễn Du”, phần 2 “Di sản Ví dặm Nghệ Tĩnh” trong bài viết: NGUYỄN DU VÀ NGUYỄN CÔNG TRỨ. Hoàng Kim nghiên cứu lịch sử văn hóa. Nội dung này trong 12 bài Nguyễn Du 250 năm nhìn lại. Mục đích sáng tỏ hành trạng và bình sinh Nguyễn Du.

Tôi đến Bến Giang Đình (ảnh Phan Lan Hoa) nơi khi xưa Nguyễn Du từng dựng lều viết thơ Kiều và Người đã cùng Nguyễn Công Trứ “chén rượu cuộc cờ” với nhau đàm đạo. Trong câu chuyện của hai thi tướng danh sĩ tinh hoa có thể có sự luận thời thế, anh hùng, mỹ nhân và dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh. Cho đến nay bình Thúy Kiều hình như chưa có lời nào hay và sâu sắc cho bằng “Vịnh Thúy Kiều” của Nguyễn Công Trứ. Đó là lời thách đố với lịch sử “trơ gan cùng tuế nguyệt” ẩn ngữ đời người này mà chỉ có thể giải đáp đồng thời với lời thơ Nguyễn Du: “Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”. (Ba trăm năm nữa chốc mòng. Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như?). Nguyễn Công Trứ nhận xét Kiều nhưng chính thực là nhằm vào Nguyễn Du. Giải Vịnh Thúy Kiều cần hiểu bình sinh hành trạng Nguyễn Du cuộc đời và thời thế

VỊNH THÚY KIỀU

Nguyễn Công Trứ

Từ Mã Giám Sinh cho tới chàng Từ Hải.
Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu.
Bây giời Kiều còn hiếu vào đâu.
Mà bướm chán ong chường cho đến thế.
Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa.
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm.
Bán mình trong bấy nhiêu năm.
Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai”.

Nguyễn Du quê hương và dòng họ, Nguyễn Du cuộc đời và thời thế đã cung cấp những thông tin chi tiết về gia đình dòng họ và niên biểu Nguyễn Du theo từng năm.

Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối đời (1797- 1820): Mùa đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du trốn vào Gia Định theo chúa Nguyễn Ánh nhưng bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An. sau khi được tha ông về sống ở Tiên Điền. Trong thời gian bị giam ông có làm thơ My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù). Mùa thu năm Nhâm Tuất (1802), Vua Gia Long diệt nhà Tây Sơn. Nguyễn Du ra làm quan Tri huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Mấy tháng sau thăng tri phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (nay thuộc Hà Nội).Năm Quý Hợi (1803), Nguyễn Du được cử lên ải Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long. Năm Ất Sửu (1805) ông được thăng Đông các đại học sĩ (hàm Ngũ phẩm), tước Du Đức hầu và vào nhậm chức ở kinh đô Phú Xuân. Năm Đinh Mão (1807) được cử làm giám khảo kỳ thi Hương ở Hải Dương. Mùa thu năm Mậu Thìn (1808), ông xin về quê nghỉ. Năm Kỷ Tỵ (1809) ông được bổ chức Cai bạ (hàm Tứ phẩm) ở Quảng Bình Năm Quý Dậu (1813) ông được thăng Cần chánh điện Đại học sĩ và được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh. Năm 1814 ông đi sứ về, được thăng Hữu tham tri bộ Lễ (hàm Tam phẩm). Năm Bính Tý (1816), anh rể Nguyễn Du là Vũ Trinh vì liên quan đến vụ án cha con Tổng trấn Nguyễn Văn Thành nên bị đày vào Quảng Nam. Năm (Canh Thìn) 1820 Gia Long qua đời Minh Mạng nối ngôi. Lúc này Nguyễn Du được cử đi làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong nhưng ông bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 âm lịch (16 tháng 9 năm Canh Thìn (1820) lúc 54 tuổi. Năm Giáp Thân (1824), di cốt của ông được cải táng về quê nhà Tiên Điền, Hà Tĩnh.

Nguyễn Công Trứ thông reo ngàn Hống cung cấp những thông tin chi tiết về Nguyễn Công Trứ cuộc đời và huyền thoại, Vua Minh Mệnh, Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ cốt cách cây thông.

Nguyễn Công Trứ là con quan Đức Ngạn hầu Nguyễn Công Tấn, cùng quê Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh với gia tộc Nguyễn Du. Mẹ Nguyễn Công Trứ là con gái quan quản Nội thị Cảnh Nhạc bá, họ Nguyễn, người xã Phụng Dực, huyện Thượng Phúc, tỉnh Sơn Nam, cùng quê phát tích của họ Nguyễn Tiên Điền. Nguyễn Công Tấn năm khi quân đội Tây Sơn ra Bắc chiếm Thăng Long, ông đã cùng các cựu thần nhà Lê hưởng ứng chiếu cần vương chống lại, việc không thành, ông đưa gia đình về quê mở trường dạy học. Nguyễn Huệ mấy lần mời ra làm quan, ông đều từ chối, giống như Nguyễn Du.

Nguyễn Công Trứ sinh sau Nguyễn Du 13 năm. Năm 1814 lúc Nguyễn Công Trứ 35 tuổi gặp Nguyễn Du 48 tuổi dựng lều viết Truyện Thúy Kiều ở bến Giang Đình thì Nguyễn Công Trứ chỉ là một nho sinh nghèo “chân trắng” chưa đỗ đạt, tuy ông là mưu thần, trí tướng tài giỏi hơn đời nhưng lúc ấy cảnh ngộ chỉ là “chén rượu cuộc cờ” chưa thể thi thố. Nguyễn Du năm 1814, được về quê nghỉ sáu tháng sau khi được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trở về, được thăng Hữu tham tri bộ Lễ hàm Tam phẩm (dưới chức Thượng thư bộ Lễ).

Hành trạng của Nguyễn Công Trứ thì sau khi gặp Nguyễn Du ‘áo gấm về quê” sáu năm, đến năm 1819, Nguyễn Công Trứ thi đậu Giải nguyên và được bổ đi làm quan, lúc đó ông đã bốn mươi mốt tuổi. Năm 1820 lúc Nguyễn Du mất thì Nguyễn Công Trứ giữ chức Hành tẩu ở Quốc sử quán. Sau đó ông liên tiếp giữ các chức Tri huyện Đường Hào, Hải Dương (1823), Tư nghiệp Quốc tử Giám (năm 1824), Phủ thừa phủ Thừa Thiên (1825), Tham tán quân vụ, rồi thăng Thị lang Bộ hình (năm 1826). Năm 1828, ông được thăng Hữu tham tri Bộ hình, sung chức Dinh điền sứ, chuyên coi việc khai khẩn đất hoang. Năm 1832, ông được bổ chức Bố Chánh sứ Hải Dương, cùng năm thăng Tham tri Bộ binh, giữ chức Tổng đốc tỉnh Hải An… Sau nhiều thăng giáng, năm 1845 Nguyễn Công Trứ làm Chủ sự Bộ Hình, năm sau làm quyền Án sát Quảng Ngãi, rồi đổi ra làm Phủ thừa Phủ Thừa thiên. Năm 1847 ông thăng làm Phủ doãn Phủ Thừa thiên lúc tròn bảy mươi tuổi.  Nguyễn Công Trứ xin về hưu, nhưng Thiệu Trị không cho. Năm 1848, Tự Đức nguyên niên, ông được nghỉ hưu.

Bài thơ “Vịnh Thúy Kiều” của Nguyễn Công Trứ đối với Nguyễn Du gợi cho chúng ta nhớ tới câu nói của Từ Thứ đối với Bàng Thống: “Hoàng Cái làm khổ nhục kế, Hám Trạch đưa thư trá hàng, còn ngươi thì dụng kế liên hoàn. Ngươi che được mắt Tào Tháo nhưng đừng hòng che được mắt ta…”. Nguyễn Công Trứ thấu hiểu Nguyễn Du.

Sự đánh giá của ông cùng chủ kiến với Gia Long,  Minh Mệnh ra tay trước (tiên phát chế nhân) để chặn bước những người xuất chúng và các thế lực tiềm tàng ngấp nghé ngai vàng. Đó cũng là bản án của vua Tự Đức vua thứ tư của nhà Nguyễn sáu mươi năm sau rất say mê Kiều vẫn kèm giữ một câu “Nếu Tố Như (tên tự của Nguyễn Du) mà còn sống, phải nọc nằm xuống đánh cho 30 roi!”, Truyện Thúy Kiều dẫu hay vẫn phải thẩm duyệt và bỏ đi hai lời tựa “góc khuất” của bình sinh hành trạng Nguyễn Du.

Sâu sắc thay Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa, anh hùng minh triết, hiền tài an bang tế thế, ngọc cho đời, mang lại bao điều tốt đẹp thấm thía cho dân, Người để lại Truyện Kiều và Bắc Hành tạp lục, kiệt tác muôn đời và những bài học lịch sử đặc biệt thông tuệ chưa được thấu hiểu đúng mức “Khi trưởng thành Ất bảng chen tên, tài thư  kiếm vang lừng hai vế Những muốn hùng binh mấy vạn rắp phen Trương Tử phục Hàn gia. Khi thủ hiến Tiên châu, khi Thần kinh lĩnh doãn, đức thanh cần thấm thía đến muôn dân… Lúc Bắc hành chánh sứ, lúc Nam khuyết á khanh tài thao lược vang lừng trong hai nước” Nguyễn Du cũng đã thành công rất cao nhưng  tránh được các kết cục thảm khốc của sự phong trần, nhiễu loạn thời thế, vàng làm trong cát. Nguyễn Du thung dung như dòng sông Lam đi ra biển cả.

Tài giỏi thay Nguyễn Công Trứ vị danh tướng giỏi chiến trận, nhà kinh bang tế thế tài năng, nhà thơ lỗi lạc người có công lớn đưa lên đỉnh cao di sản dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh, tác giả của “Cây thông” “Vịnh mùa Đông” và biết bao giai thoại sống mãi giữa đời thường. Nguyễn Công Trứ là  vị quan được người dân “tế sống” vì làm được nhiều việc ích cho đời.  “Nguyễn Công Trứ giỏi chiến trận, trong triều không nên để vắng”tỏ sức ở chiến trường, nhiều lần lập được công chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức Doanh điền, sửa sang mới có trong một năm mà các việc đều có đầu mối, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn” (lời của vua Minh Mệnh). Nguyễn Công Trứ sừng sững như ngàn Hống lồng lộng thông reo.

Tôi về thăm Bến Giang Đình xưa, theo chỉ dấu của Ví Dăm ân tình và những bạn thân xứ Nghệ, cảm khái chép lại bài học lịch sử sâu sắc và tinh tế này.

HoangKimoNghean

Hoàng Kim

Ta về trời đất Hồng Lam
Bâng khuâng bước dưới trăng vàng lộng soi
Ngực trần chạm tới thảnh thơi
Nghe lưng thấu đến bồi hồi đất quen.
Linh miêu chốn Tổ Rồng Tiên
Quấn quanh trao gửi nổi niềm Thái Sơn
Hỡi ai là kẻ phi thường
Đỉnh chung dâng nén tâm hương nhớ Người.

HoangKimnuiQuyet

*


Kiều – Nguyễn Du

NGUYỄN DU 250 NĂM NHÌN LẠI là chuyên luận của Hoàng Kim gồm 12 bài : 1) Nguyễn Du quê hương và dòng họ; 2)  Nguyễn Du cuộc đời và thời thế  Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ (1765- 1780) Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781-1796), Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối đời (1797- 1820), 3)  Nguyễn Du thơ chữ Hán, 4) Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ, 5)  Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương,  6) Nguyễn Du là bậc anh hùng, 7)  Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa, 8) Thêm tư liệu quý về Nguyễn Du,  9) Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ,   10) Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa;  11) Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ, 12) Nguyễn Du nửa đêm đọc lại.

Video nhạc tuyển



Chào ngày mới an lành Damien DUBOIS – Jardin de Cristal
Khí công Y đạo: Bài học tốt tự chăm sóc sức khỏe
Ban Mai
MAR AKRAM – Dancing with the wind♥
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook KimTwitter  hoangkim vietnam

Nguyễn Du trăng huyền thoại

nguyenduvanguyencongtru

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ là nghiên cứu lịch sử văn hóa của Hoàng Kim. Bài viết đăng lần đầu ngày 25 tháng 10 năm 2010 trên trang www. foodcrops.vn, được hiệu đính và bổ sung ngày 1 tháng 11 năm 2016.  Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ là hai danh nhân cùng thời.  Nguyễn Công Trứ luận về Thúy Kiều nhưng thực chất là luận về Nguyễn Du: “Bán mình trong bấy nhiêu năm, Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai .” Nguyễn Công Trứ thân mật hay chống đối Nguyễn Du là điều hậu thế cần lý giải cho đúng?

Nguyễn Du (1765-1820) là danh sĩ tinh hoa, nhà thơ lỗi lạc, nhà ngoại giao xuất chúng. Ông cũng là một bậc hào kiệt minh triết, trầm tĩnh, mưu lược có chí lớn,  đã từng đương đầu với Nguyễn Huệ, đối thoại với Gia Long, thân thiết với Nguyễn Nễ, Vũ Trinh, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức. Nguyễn Du rất được quý trọng của nhiều danh sĩ đương thời, giao thiệp rộng với nhiều tướng văn võ của triều Lê Trịnh như Hoàng Ngũ Phúc, Nguyễn Hữu Chỉnh, với danh thần nhà Tây Sơn như La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ, Phan Huy Ích, Ngô Văn Sở, Thận Quận công, với danh thần nhà Nguyễn như Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Phạm Văn Hưng, Nguyễn Công Trứ, Trương Đăng Quế, Nguyễn Văn Giai… Ông sâu sắc biến Dịch, hiểu rõ thời thế và Lý số,  thông tỏ Phong Thủy, rất vững Thiền học, đã đọc trên nghìn lần bộ kinh Kim Cương . Thơ chữ Hán Nguyễn Du điển cố chính xác, khen chê đúng mực, sâu sắc điêu luyện hiếm thấy.  Văn chương tiếng Việt của ông, đặc biệt là Truyện Kiều là kiệt tác muôn đời lưu truyền sâu rộng trong lòng dân. Nguyễn Du có câu thơ kỳ lạ trao lại hậu thế : “Ba trăm năm nữa chốc mòng/ Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như” .

Nguyễn Công Trứ (1778-1858) kém Nguyễn Du 13 tuổi và cùng là đồng hương Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Ông là một vị tướng văn võ song toàn, phong lưu đa tình, gian thần đời loạn năng thần đời trị  Nguyễn Công Trứ có công với triều Nguyễn trong cai trị và dẹp loạn . Ông có cùng chủ kiến với Gia Long,  Minh Mệnh ra tay trước (tiên phát chế nhân) để chặn bước những người xuất chúng và các thế lực tiềm tàng ngấp nghé ngai vàng.  Nguyễn Công Trứ luận về Thúy Kiều nhưng thực chất là luận về Nguyễn Du: “Bán mình trong bấy nhiêu năm , Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai .” Nguyễn Công Trứ thân mật hay chống đối Nguyễn Du  là điều hậu thế cần lý giải cho đúng? Bài thơ “Vịnh Thúy Kiều” của Nguyễn Công Trứ đối với Nguyễn Du gợi cho chúng ta nhớ tới câu nói của Từ Thứ đối với Bàng Thống: “Hoàng Cái làm khổ nhục kế, Hám Trạch đưa thư trá hàng, còn ngươi thì dụng kế liên hoàn. Ngươi che được mắt Tào Tháo nhưng đừng hòng che được mắt ta…”. Sâu sắc thay Nguyễn Du với Truyện Kiều và các ứng xử tuyệt vời thông tuệ của ông để được tránh những thăng giáng tám lần như Nguyễn Công Trứ và kết cục thảm khốc của Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Văn Duyệt !

nguyen-du

GIẢI MÃ TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

cần làm sáng tỏ ba câu hỏi lớn trong Truyện Kiều: 1. Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn. 2. Dọc ngang nào biết trên đầu có ai. 3. Gương trong chẳng chút bụi trần. Nguyên văn ba đoạn thơ và các lời bình nổi bật như tóm tắt dưới đây:

Đoạn 1: “Một ngày lạ thói sai nha. Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền. Sao cho cốt nhục vẹn tuyền. Trong khi ngộ biến tùng quyền biết sao. Duyên hội ngộ, đức cù lao, Bên tình, bên hiếu, bên nào nặng hơn? Để lời thệ hải minh sơn. Làm con trước phải đền ơn sinh thành.”. Lời đánh giá nổi bật nhất là của Nguyễn Công Trứ: “Vịnh Thúy Kiều. Từ Mã Giám Sinh cho tới chàng Từ Hải. Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu. Bây giời Kiều còn hiếu vào đâu. Mà bướm chán ong chường cho đến thế. Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa. Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm. Bán mình trong bấy nhiêu năm. Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai”. Bài viết của Yến Nhi “Về sự đánh giá Nguyễn Du của Nguyễn Công Trứ qua nhân vật Thúy Kiều” nhà ‘Kiều học’ Yến Nhi gợi ý rằng ” Nguyễn Công Trứ nhận xét Kiều nhưng chính thực là nhằm vào Nguyễn Du” lời giải nằm trong bình sinh và hành trạng Nguyễn Du.

Đoạn 2: “Bó thân về với triều đình. Hàng thần lo láo phận mình ra sao. Áo xiêm ràng buộc lấy nhau. Vào luồn ra cúi công hầu mà chi. Sao bằng riêng một biên thùy. Sức này đã dễ làm gì được nhau. Chọc trời khuấy nước mặc dầu.Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”. Lời châu phê của vua Tự Đức (1848-1883) đối với nhân vật Từ Hải là “Nếu Tố Như (tên tự của Nguyễn Du) mà còn sống, phải nọc nằm xuống đánh cho 30 roi!”. Vua Tự Đức là vị vua đời thứ tư trong 143 năm vương triều Nguyễn, sau vua Gia Long (1802- 1819), vua Minh Mệnh (1820- 1840), vua Thiệu Trị (1841-1847) thì đến vua Tự Đức. Sự đánh giá Từ Hải / Nguyễn Du không đơn thuần là đánh giá văn chương. Người viết và người đánh giá đều có chủ ý và đều hiểu rất rõ. Vua Tự Đức là người rất mê Truyện Kiều Bản Truyện Kiều do vua Tự Đức đích sửa chữa, thẩm duyệt và đã quyết định cho khắc in  bản Kinh lưu truyền mà thành nhiều bản quốc ngữ khác nhau, không còn nguyên bản như Nguyễn Du viết nữa và khác với bản Phường có hai lời tựa trong đó có Phạm Quý Thích là quan cựu thần nhà Lê do Nguyễn Du mời đề tựa. Điều này rất thâm thúy. Sự thật lịch sử muốn hiểu rõ cần phải đọc lại bản Phường có hai lời tựa, hiểu đúng Nguyễn Du bình sinh là người thế nào và thấu hiểu nguyên mẫu Từ Hải, Thúy Kiều trong thực tế.

truyenthuykieu

Đoạn 3: “Gương trong chẳng chút bụi trần. Một lời quyết hẵn muôn phần kính thêm. Bấy lâu đáy biển mò kim. Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa? Ai ngờ lại hợp một nhà. Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm! Nghe lời sửa áo cài trâm. Khấu đầu lạy trước cao thâm nghìn trùng. Thân tàn gạn đực khơi trong. Là nhờ quân tử khác lòng người ta. Mấy lời tâm phúc ruột rà. Tương tri dường ấy mới là tương tri!”. Kim Vân Kiều tái hợp. Lưu Hương Ký với Truyện Thúy Kiều là một ẩn ngữ của tình yêu cuộc sống. Lời giải cần nghiên cứu kỹ Nguyễn Du cuộc đời và thời thế , ba giai đoạn chính theo niên biểu từng năm của cuộc đời ông bao gồm: Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ (1765- 1780) Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781-1796), Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối đời (1797- 1820). Gương trong chẳng chút bụi trần là tổng kết của Nguyễn Du cuộc đời và thời thế, là bài học muôn đời của một bậc anh hùng hiền triết danh sĩ tinh hoa.

Vì sao Nguyễn Du không chịu theo Nguyễn Huệ như Ngô Thì Nhậm cũng không sớm theo Nguyễn Ánh như Đặng Trần Thường mà chỉ chấp nhận ra làm quan triều Gia Long sau mười lăm năm lưu lạc khi thế nước đã phân định rõ ràng? Cuộc đời Nguyễn Du sau mười lăm năm lưu lạc là làm hiền triết giữa đời thường và chốn quan trường. Nguyễn Du ra làm quan Tri huyện Sơn Nam, Cai bạ Quảng Bình, Hàn Lâm Đại học sĩ, Chánh sứ của triều  Nguyễn sang sứ nhà Thanh, (tương đương các chức vụ Chủ tịch huyện, Tỉnh trưởng, Bộ trưởng Giáo dục, Bộ trưởng Ngoại giao thời nay). Nguyển Du viết sách Bắc Hành tạp lục kiệt tác sử thi, chính kiến ngoại giao đánh giá bao quát mọi thời của Trung Quốc và kiệt tác Truyện Kiều bài ca tình yêu cuộc sống muôn thuở của dân tộc Việt rồi ông mất mà không để lại bất cứ lời dặn dò gì.

Tôi trích dẫn tài liệu tham khảo cuối trang bài viết của Yến Nhi “Về sự đánh giá Nguyễn Du của Nguyễn Công Trứ qua nhân vật Thúy Kiều” và bài viết của Phạm Xuân Nguyên “Nguyễn Du về lại Thăng Long “  để thêm những góc nhìn khác.

Thông tin chi tiết mời đọc thêm chùm bài viết NGUYỄN DU 250 NĂM NHÌN LẠI là chuyên luận của Hoàng Kim bao gồm 12 bài (đang hiệu đính) : 1) Nguyễn Du quê hương và dòng họ; 2)  Nguyễn Du cuộc đời và thời thế  Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ (1765- 1780) Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781-1796), Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối đời (1797- 1820), 3)  Nguyễn Du thơ chữ Hán, 4) Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ, 5)  Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương,  6) Nguyễn Du là bậc anh hùng, 7)  Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa, 8) Thêm tư liệu quý về Nguyễn Du,  9) Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ,   10) Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa;  11) Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ, 12) Nguyễn Du nửa đêm đọc lại.

Giải mã Truyện Kiều của Nguyễn Du lần lượt cung cấp cứ liệu lịch sử làm sáng tỏ ba câu hỏi lớn trong Truyện Kiều: 1. Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn. 2. Dọc ngang nào biết trên đầu có ai. 3. Gương trong chẳng chút bụi trần.Bí ẩn Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương là tri âm tri kỷ thì Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ làm sáng tỏ một góc nhìn về bậc hào kiệt và danh sĩ tinh hoa.

disandancavidamnghetinh

DI SẢN DÂN CA VI DẶM NGHỆ TĨNH.

Cám ơn giáo sư To Le Van và nữ sĩ Ví dăm ân tình Phan Lan Hoa, hai người con ưu tú của đất Hồng Lam, đã gợi ý cho Hoàng Kim tiếp nối bài nghiên cứu lịch sử văn hóa của  về Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ cần phải đi thẳng vào mục một là Di sản Ví dặm và Ca trù trước khi nói về mục hai Nguyễn Công Trứ và Vịnh Thúy Kiều. Bởi hai ông chính là người xuất sắc nhất giữ gìn tinh hoa văn hóa Ví dặm và Ca trù của Việt Nam thành di sản phi vật thể văn hóa thế giới, và cũng bởi vì thực chất Bến Giang Đình (ảnh Phan Lan Hoa) nơi hai danh sĩ lỗi lạc của đất Hồng Lam Nguyễn Du và Nguyễn Công Trú đàm đạo về thời thế anh hùng quê hương và sử thi . Đó cũng chính là lời giải cho câu chuyện NGUYỄN CÔNG TRỨ VÀ VỊNH THÚY KIỀU nổi tiếng.

Dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại tại kỳ họp thứ 9 của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ngày 27 tháng 11 năm  2014 tại Paris (Pháp)[2][3].Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ là những danh nhân văn hóa lỗi lạc cùng thời trong lịch sử Việt Nam cận đại được nuôi dưỡng trong nền văn hóa ấy và làm rạng danh cho nghệ thuật dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh. Nguyễn Du đưa lên đỉnh cao thơ lục bát và hát ví  tại kiệt tác Truyện Kiều, Hồ Xuân Hương bà chúa thơ Nôm chuyển tải sang ngôn ngữ Hán nghệ thuật hát nói điêu luyện đối đáp trữ tình nam nữ của tình yêu cuộc sống qua tuyệt phẩm Lưu Hương Ký, Nguyễn Công Trứ thông reo ngàn Hống cuộc đời và huyền thoại “Cây thông” đã làm tỏa sáng di sản tinh hoa văn hóa Dân ca Ví dặm Nghệ Tĩnh.

Loại hình nghệ thuật Dân ca Ví dặm Nghệ Tĩnh chiếm một vị trí rất quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân vùng đất xứ Nghệ của hai tỉnh Nghệ AnHà Tĩnh thuộc miền Trung Việt Nam.[1] . Nghệ An và Hà Tĩnh thời Bắc thuộc có tên là Hoan Châu, thời Lý, Trần gọi là Nghệ An châu, đời vua Lê Thánh Tông năm 1490 gọi là xứ Nghệ, rồi trấn Nghệ An. Năm 1831, vua Minh Mạng chia trấn Nghệ An thành hai tỉnh: Nghệ An (bắc sông Lam) và Hà Tĩnh (nam sông Lam). Năm 1976, Hà Tĩnh sáp nhập với Nghệ An, lấy tên là Nghệ Tĩnh. Năm 1991, Quốc hội Việt Nam khóa VIII ra nghị quyết chia tỉnh Nghệ Tĩnh, tái lập tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh[2][3][4].

Loại hình nghệ thuật dân ca ví dặm phổ biến trong đời sống của các cộng đồng xứ Nghệ, được hát trong hầu hết mọi hoạt động đời thường, từ ru con, dệt vải, trồng lúa… Lời ca của dân ca ví, dặm ca ngợi những giá trị sâu sắc và truyền thống như sự tôn trọng đối với các bậc cha mẹ, lòng chung thủy, tận tụy vì người khác cũng như ngợi ca đức tính thật thà và cách cư xử tử tế giữa con người với con người.[4] 

Dân ca Ví dặm Nghệ Tĩnh, dặm hay giặm, gọi là ví dặm thì thông thường và phổ biến hơn của dân Nghệ Tĩnh, và cũng theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, 2011, cũng là theo tên gọi ví dặm của thông cáo báo chí chính thức Bộ Ngoại Giao Việt Nam.

Hát ví thường là hát tự do, không có tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát có thể co giãn một cách ngẫu hứng. Âm điệu cao thấp ngắn dài có khi còn tuỳ thuộc vào lời thơ (ca từ) bằng hay trắc, ít từ hay nhiều từ. Ví thuộc thể ngâm vĩnh, bằng phương pháp phổ thơ dân tộc (lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể…) Tính biểu cảm của hát ví tuỳ vào môi trường hoàn cảnh, không gian thời gian và tâm tính của người hát. Âm vực của ví thường không quá một quãng 8. Tình điệu ví nghe trang trải mênh mang sâu lắng, bâng khuâng xao xuyến, tha thiết ân tình. Tuy vậy, vẫn có loại ví ghẹo và ví mục đồng nghe dí dỏm hài hước, nghịch ngợm hồn nhiên tươi trẻ. Hát ví hát giao duyên nam nữ được phổ biến vùng Nghệ Tĩnh, các thể kỷ trước dùng để trao đổi tình cảm giữa đôi trai gái. Vào các đêm trăng sáng thường đi ngắm trăng. Hát theo lối tường thuật ngẫu hứng một câu chuyện nào đó trong quá trình lao động và nông nhàn, trong lối sống thường nhật lâu dần được dân gian hóa Thể hát ví: Ví có nhiều điệu như: ví đò đưa, ví phường vải, ví phường cấy, ví phường võng, ví phường chè, ví đồng ruộng, ví trèo non, ví mục đồng, ví chuỗi, ví ghẹo…

Nguyễn Du có nhiều bài tuyệt hay về hát ví phường vải, hát đối đáp nam nữ, nhưng tiêu biểu nhất thể hiện qua kiệt tác Truyện Kiều, thơ lục bát đã thành hồn Việt.

“Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như nước suối vừa sa nửa vời
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa”

“Tiếc thay trong giá trắng ngần!
Đến phong trần cũng phong trần như ai.”

“Rõ màu trong ngọc trắng ngà
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”.

“Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường”.

“Gương trong chẳng chút bụi trần
Một lời quyết hẵn muôn phần kính thêm”

“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.”

“Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.”

Hát dặm là thể hát nói, bằng thơ ngụ ngôn thơ/ về 5 chữ, nói cách khác thì dặm là thơ ngụ ngôn/ về nhật trình được tuyền luật hoá. Khác với ví, dặm là thể hát có tiết tấu rõ ràng, có phách mạnh phách nhẹ, có nhịp nội nhịp ngoại.Thông thường một bài dặm có nhiều khổ, mỗi khổ có 5 câu (câu 5 thường điệp lại câu 4), mỗi câu có 5 từ (không kể phụ âm đệm). Tuy vậy, cũng có những bài dặm/ về không phân khổ rõ ràng, mà cứ hát một lèo, có khi đến hàng chục hàng trăm câu, và mỗi câu cũng không nhất nhất 5 chữ mà có thể 4 hoặc 6, 7 chữ (do lời thơ biến thể). Dặm rất giàu tính tự sự, trữ tình, kể lể khuyên răn, phân trần bày giải. Cũng có loại dặm dí dỏm khôi hài, châm biếm trào lộng và có cả dặm trữ tình giao duyên. Hát dặm là một thể loại hát nói bằng thơ ngụ ngôn (thơ) về âm nhạc đi theo thường là phách. “Dặm” có nghĩa là ghép vào, xen kẽ với nhau, thường 2 hay 3 hoặc một nhóm người hát đối diện nhau hát. Các làn điệu của hát dặm như: Dặm xẩm, dặm nối, dặm vè, dặm điên, dặm của quyền, dặm kể. Có các tiết tấu phách mạnh, phách nhẹ, những nhịp trong và ngoài. Các thể loại này rất giàu tính tự sự, kể lể, khuyên răn, phân trần, giãi bày,…thuộc dạng thể thơ năm chữ, cách gieo vần, ngắt nhịp,…

Hồ Xuân Hương có nhiều kiệt tác thơ dân gian đời thường và thơ Hán Nôm, tiêu biểu nhất là Lưu Hương Ký. Trang thơ Hồ Xuân Hương 154 bài trên Thi Viện có nhiều bài rất hay: “Độ Hoa Phong” là Hạ Long tuyệt bút yêu thiên nhiên, Bài thơ “Miếu Sầm thái thú” cao vọi tầm tư tưởng nhân hậu và khí phách đảm lược của một kỳ tài, thơ tôn vinh phụ nữ và giải phóng con người, “Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu” tri âm tri kỹ nghĩa tình bền vững, “thơ Nôm truyền tụng” thanh tục đời thường, như có như không. “Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” là kiệt tác thơ tình yêu của Hồ  Xuân Hương thuộc dạng thơ hát nói.

TỎ Ý

Hồ Xuân Hương
tặng  Mai Sơn Phủ (Nguyễn Du)

(Bản dịch của Hoàng Kim)

Hoa rung rinh,
Cây rung rinh,
Giấc mộng cô đơn nhớ hương tình,
Đêm xuân bao cảm khái.

Hươu nơi nao
Nhạn nơi nao
Mình ước trong nhau ban mai nào
Lòng em thương nhớ ai thấu sao!

Sông mênh mông
Nước dạt dào
Lòng hai chúng mình đều ao ước
Nước mắt thầm rơi mặn chát.

Thơ thương thương,
Lòng vương vương,
Ấm lạnh lòng ai thấu tỏ tường,
Bút người tả xiết chăng?

Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Đâu là gác Đằng Vương ?
Mây vương vương
Nước sương sương
Mây nước chung nhau chỉ một đường
Dặm trường cách trở  thương càng thương.

Ngày thênh thênh,
Đêm thênh thênh,
Đêm ngày khắc khoải nhớ thương anh,
Người ơi đừng lỡ hẹn sai tình.

Gió bay bay
Mưa bay bay
Mưa gió giục em viết thơ này
Bút xuân gửi đến người thương nhớ

Anh đồng lòng
Em đồng lòng
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm (*)
Thơ cùng ngâm
Rượu và trăng
Thăm thẳm buồn ly biệt
Vầng trăng chia hai nữa
Cung đàn ly khúc oán tri âm (**),
Thôi đành bặt tiếng hồ cầm
Núi cao biển sâu đằng đẳng
Xin chớ tủi buồn mà than cổ kim.

Chàng hẹn gì
Ta hẹn gì
Hai ta đều muộn, nói năng chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Lời và chữ còn đó
Ai là kẻ tình si
Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì
Hãy nên trao gửi mối duyên đi
Lòng son ai nỡ phụ.


Kiều – Nguyễn Du
Ca trù hát nói Việt Nam

Non xanh xanh

Nước xanh xanh
Sớm tình tình sớm, trưa tình tình trưa
Áy ai tháng đợi năm chờ
Mà người ngày ấy bây giờ là đây…

Hồng Hồng Tuyết Tuyết ca trù hát nói tinh hoa cổ văn chương Việt) NS Quách Thị Hồ

THƯƠNG KIỀU NGUYỄN DU

Ôi
tâm phúc tương tri
Bốn biển không nhà
Kiều Nguyễn biệt ly
Bởi Nguyễn thương Kiều
Sợ theo thêm bận.
Thương Kiều Nguyễn Du
Sao chẳng đi cùng
Để việc trăm năm
Nghìn năm di hận?
Truyện Kiều Nguyễn Du
Bài học muôn đời.

Hoàng Kim

Nguyên tác:




鹿








































Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ

Hoa phiêu phiêu,
Mộc tiêu tiêu,
Ngã mộng hương tình các tịch liêu,
Khả cảm thị xuân tiêu.

Lộc ao ao,
Nhạn ngao ngao,
Hoan thảo tương kỳ tại nhất triêu,
Bất tận ngã tâm miêu.

Giang bát bát,
Thủy hoạt hoạt,
Ngã tứ quân hoài tương khế khoát,
Lệ ngân chiêm hạ cát.

Thi tiết tiết,
Tâm thiết thiết,
Nồng đạm thốn tình tu lưỡng đạt,
Dã bằng quân bút phát.

Phong ngang ngang,
Nguyệt mang mang,
Phong nguyệt linh không khách đoạn tràng,
Hà xứ thị Đằng Vương?
Vân thương thương,
Thuỷ ương ương,
Vân thuỷ na kham vọng nhất trường,
Nhất trường dao vọng xúc hoài mang.

Nhật kỳ kỳ,
Dạ trì trì,
Nhật dạ thiên hoài lữ tứ bi,
Tứ bi ưng mạc ngộ giai kỳ.

Phong phi phi,
Vũ phi phi,
Phong vũ tần thôi thái bút huy,
Bút huy đô thị phó tình nhi.

Quân hữu tâm,
Ngã hữu tâm,
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm.
Thi đồng ngâm,
Nguyệt đồng châm.
Nhất tự sầu phân ly,
Hà nhân noãn bán khâm.
Mạc đàn ly khúc oán tri âm,
Trực tu khí trí thử dao cầm.
Cao sơn lưu thuỷ vãn tương tầm,
Ưng bất hận ngâm thán cổ câm.

Quân hà kì,
Ngã hà kì,
Lữ đình lai đắc lưỡng thê trì.
Dánh tần phi,
Bút tần huy,
Nhất trường đô bút thiệt,
Hà xứ thị tình nhi?
Hảo tư tâm thượng các tương tri,
Dã ưng giao thác thử duyên đề,
Phương tâm thệ bất phụ giai kỳ.

Bài từ theo điệu Ức Giang Nam.

Bài thơ “Cây thông” của Nguyễn Công Trứ là mẫu mực thơ lục bát  Việt Nam, thể hiện ngôn chí của ông.

Ngồi buồn mà trách ông xanh.
Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười.
Kiếp sau xin chớ làm người.
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
Giữa trời vách đá cheo leo.
Ai mà chịu rét thì trèo với thông

Lời đánh giá nổi bật nhất là của Nguyễn Công Trứ đối với Nguyễn Du là : “Vịnh Thúy Kiều. Nguyễn Công Trứ nhận xét Kiều nhưng chính thực là nhằm vào Nguyễn Du”. Lời giải “Ba trăm năm nữa chốc mòng . Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như” và lời giải “Vịnh Thúy Kiều” đều nằm trong hành trạng Nguyễn Du.

VỊNH THÚY KIỀU

Nguyễn Công Trứ

Từ Mã Giám Sinh cho tới chàng Từ Hải.
Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu.
Bây giời Kiều còn hiếu vào đâu.
Mà bướm chán ong chường cho đến thế.
Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa.
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm.
Bán mình trong bấy nhiêu năm.
Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai”.

Dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam đại diện cho nhân loại. Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ là những bậc thầy văn hóa, danh sĩ tinh hoa lỗi lạc của dân tộc Việt.

nguyenduvanguyencongtru1

NGUYỄN CÔNG TRỨ VÀ ‘VỊNH THÚY KIỀU’

Tôi đến Bến Giang Đình (ảnh Phan Lan Hoa) nơi khi xưa Nguyễn Du từng dựng lều viết thơ Kiều và Người đã cùng Nguyễn Công Trứ “chén rượu cuộc cờ” với nhau đàm đạo. Trong câu chuyện của hai thi tướng danh sĩ tinh hoa có thể có sự luận thời thế, anh hùng, mỹ nhân và dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh. Cho đến nay bình Thúy Kiều hình như chưa có lời nào hay và sâu sắc cho bằng “Vịnh Thúy Kiều” của Nguyễn Công Trứ. Đó là lời thách đố với lịch sử “trơ gan cùng tuế nguyệt” ẩn ngữ đời người này mà chỉ có thể giải đáp đồng thời với lời thơ Nguyễn Du: “Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”. (Ba trăm năm nữa chốc mòng. Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như?). Nguyễn Công Trứ nhận xét Kiều nhưng chính thực là nhằm vào Nguyễn Du. Giải Vịnh Thúy Kiều cần hiểu bình sinh hành trạng Nguyễn Du cuộc đời và thời thế

VỊNH THÚY KIỀU

Nguyễn Công Trứ

Từ Mã Giám Sinh cho tới chàng Từ Hải.
Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu.
Bây giời Kiều còn hiếu vào đâu.
Mà bướm chán ong chường cho đến thế.
Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa.
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm.
Bán mình trong bấy nhiêu năm.
Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai”.

Nguyễn Du quê hương và dòng họ, Nguyễn Du cuộc đời và thời thế đã cung cấp những thông tin chi tiết về gia đình dòng họ và niên biểu Nguyễn Du theo từng năm.

Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối đời (1797- 1820): Mùa đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du trốn vào Gia Định theo chúa Nguyễn Ánh nhưng bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An. sau khi được tha ông về sống ở Tiên Điền. Trong thời gian bị giam ông có làm thơ My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù). Mùa thu năm Nhâm Tuất (1802), Vua Gia Long diệt nhà Tây Sơn. Nguyễn Du ra làm quan Tri huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Mấy tháng sau thăng tri phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (nay thuộc Hà Nội).Năm Quý Hợi (1803), Nguyễn Du được cử lên ải Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long. Năm Ất Sửu (1805) ông được thăng Đông các đại học sĩ (hàm Ngũ phẩm), tước Du Đức hầu và vào nhậm chức ở kinh đô Phú Xuân. Năm Đinh Mão (1807) được cử làm giám khảo kỳ thi Hương ở Hải Dương. Mùa thu năm Mậu Thìn (1808), ông xin về quê nghỉ. Năm Kỷ Tỵ (1809) ông được bổ chức Cai bạ (hàm Tứ phẩm) ở Quảng Bình Năm Quý Dậu (1813) ông được thăng Cần chánh điện Đại học sĩ và được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh. Năm 1814 ông đi sứ về, được thăng Hữu tham tri bộ Lễ (hàm Tam phẩm). Năm Bính Tý (1816), anh rể Nguyễn Du là Vũ Trinh vì liên quan đến vụ án cha con Tổng trấn Nguyễn Văn Thành nên bị đày vào Quảng Nam. Năm (Canh Thìn) 1820 Gia Long qua đời Minh Mạng nối ngôi. Lúc này Nguyễn Du được cử đi làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong nhưng ông bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 âm lịch (16 tháng 9 năm Canh Thìn (1820) lúc 54 tuổi. Năm Giáp Thân (1824), di cốt của ông được cải táng về quê nhà Tiên Điền, Hà Tĩnh[4].

Nguyễn Công Trứ thông reo ngàn Hống cung cấp những thông tin chi tiết về Nguyễn Công Trứ cuộc đời và huyền thoại, Vua Minh Mệnh, Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ cốt cách cây thông.

Nguyễn Công Trứ là con quan Đức Ngạn hầu Nguyễn Công Tấn, cùng quê Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh với gia tộc Nguyễn Du. Mẹ Nguyễn Công Trứ là con gái quan quản Nội thị Cảnh Nhạc bá, họ Nguyễn, người xã Phụng Dực, huyện Thượng Phúc, tỉnh Sơn Nam, cùng quê phát tích của họ Nguyễn Tiên Điền. Nguyễn Công Tấn năm khi quân đội Tây Sơn ra Bắc chiếm Thăng Long, ông đã cùng các cựu thần nhà Lê hưởng ứng chiếu cần vương chống lại, việc không thành, ông đưa gia đình về quê mở trường dạy học. Nguyễn Huệ mấy lần mời ra làm quan, ông đều từ chối, giống như Nguyễn Du.

Nguyễn Công Trứ sinh sau Nguyễn Du 13 năm. Năm 1814 lúc Nguyễn Công Trứ 35 tuổi gặp Nguyễn Du 48 tuổi dựng lều viết Truyện Thúy Kiều ở bến Giang Đình thì Nguyễn Công Trứ chỉ là một nho sinh nghèo “chân trắng” chưa đỗ đạt, tuy ông là mưu thần, trí tướng tài giỏi hơn đời nhưng lúc ấy cảnh ngộ chỉ là “chén rượu cuộc cờ” chưa thể thi thố. Nguyễn Du năm 1814, được về quê nghỉ sáu tháng sau khi được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trở về, được thăng Hữu tham tri bộ Lễ hàm Tam phẩm (dưới chức Thượng thư bộ Lễ).

Hành trạng của Nguyễn Công Trứ thì sau khi gặp Nguyễn Du ‘áo gấm về quê” sáu năm, đến năm 1819, Nguyễn Công Trứ thi đậu Giải nguyên và được bổ đi làm quan, lúc đó ông đã bốn mươi mốt tuổi. Năm 1820 lúc Nguyễn Du mất thì Nguyễn Công Trứ giữ chức Hành tẩu ở Quốc sử quán. Sau đó ông liên tiếp giữ các chức Tri huyện Đường Hào, Hải Dương (1823), Tư nghiệp Quốc tử Giám (năm 1824), Phủ thừa phủ Thừa Thiên (1825), Tham tán quân vụ, rồi thăng Thị lang Bộ hình (năm 1826). Năm 1828, ông được thăng Hữu tham tri Bộ hình, sung chức Dinh điền sứ, chuyên coi việc khai khẩn đất hoang. Năm 1832, ông được bổ chức Bố Chánh sứ Hải Dương, cùng năm thăng Tham tri Bộ binh, giữ chức Tổng đốc tỉnh Hải An… Sau nhiều thăng giáng, năm 1845 Nguyễn Công Trứ làm Chủ sự Bộ Hình, năm sau làm quyền Án sát Quảng Ngãi, rồi đổi ra làm Phủ thừa Phủ Thừa thiên. Năm 1847 ông thăng làm Phủ doãn Phủ Thừa thiên lúc tròn bảy mươi tuổi.  Nguyễn Công Trứ xin về hưu, nhưng Thiệu Trị không cho. Năm 1848, Tự Đức nguyên niên, ông được nghỉ hưu.

Bài thơ “Vịnh Thúy Kiều” của Nguyễn Công Trứ đối với Nguyễn Du gợi cho chúng ta nhớ tới câu nói của Từ Thứ đối với Bàng Thống: “Hoàng Cái làm khổ nhục kế, Hám Trạch đưa thư trá hàng, còn ngươi thì dụng kế liên hoàn. Ngươi che được mắt Tào Tháo nhưng đừng hòng che được mắt ta…”. Nguyễn Công Trứ thấu hiểu Nguyễn Du.
Sự đánh giá của ông cùng chủ kiến với Gia Long,  Minh Mệnh ra tay trước (tiên phát chế nhân) để chặn bước những người xuất chúng và các thế lực tiềm tàng ngấp nghé ngai vàng. Đó cũng là bản án của vua Tự Đức vua thứ tư của nhà Nguyễn sáu mươi năm sau rất say mê Kiều vẫn kèm giữ một câu “Nếu Tố Như (tên tự của Nguyễn Du) mà còn sống, phải nọc nằm xuống đánh cho 30 roi!”, Truyện Thúy kiều dẫu hay vẫn phải thẩm duyệt và bỏ đi hai lời tựa “góc khuất” của bình sinh hành trạng Nguyễn Du.

Sâu sắc thay Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa, anh hùng minh triết, hiền tài an bang tế thế, ngọc cho đời, mang lại bao điều tốt đẹp thấm thía cho dân, Người để lại Truyện Kiều và Bắc Hành tạp lục, kiệt tác muôn đời và những bài học lịch sử đặc biệt thông tuệ chưa được thấu hiểu đúng mức “Khi trưởng thành Ất bảng chen tên, tài thư  kiếm vang lừng hai vế Những muốn hùng binh mấy vạn rắp phen Trương Tử phục Hàn gia. Khi thủ hiến Tiên châu, khi Thần kinh lĩnh doãn, đức thanh cần thấm thía đến muôn dân… Lúc Bắc hành chánh sứ, lúc Nam khuyết á khanh tài thao lược vang lừng trong hai nước” Nguyễn Du cũng đã thành công rất cao nhưng  tránh được các kết cục thảm khốc của sự phong trần, nhiễu loạn thời thế, vàng làm trong cát. Nguyễn Du thung dung như dòng sông Lam đi ra biển cả.

Tài giỏi thay Nguyễn Công Trứ vị danh tướng giỏi chiến trận, nhà kinh bang tế thế tài năng, nhà thơ lỗi lạc người có công lớn đưa lên đỉnh cao di sản dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh, tác giả của “Cây thông” “Vịnh mùa Đông” và biết bao giai thoại sống mãi giữa đời thường. Nguyễn Công Trứ là  vị quan được người dân “tế sống” vì làm được nhiều việc ích cho đời.  “Nguyễn Công Trứ giỏi chiến trận, trong triều không nên để vắng”tỏ sức ở chiến trường, nhiều lần lập được công chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức Doanh điền, sửa sang mới có trong một năm mà các việc đều có đầu mối, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn” (lời của vua Minh Mệnh). Nguyễn Công Trứ sừng sững như ngàn Hống lồng lộng thông reo.

Tôi về thăm Bến Giang Đình xưa, theo chỉ dấu của Ví Dăm ân tình và những bạn thân xứ Nghệ, cảm khái chép lại bài học lịch sử sâu sắc và tinh tế này.

HoangKimoNghean

Hoàng Kim

Ta về trời đất Hồng Lam
Bâng khuâng bước dưới trăng vàng lộng soi
Ngực trần chạm tới thảnh thơi
Nghe lưng thấu đến bồi hồi đất quen.
Linh miêu chốn Tổ Rồng Tiên
Quấn quanh trao gửi nổi niềm Thái Sơn
Hỡi ai là kẻ phi thường
Đỉnh chung dâng nén tâm hương nhớ Người.

nuiDungQuyet

HoangKimnuiQuyet

Hoàng Kim

xem thêm

VỀ SỰ ĐÁNH GIÁ NGUYỄN DU CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ QUA NHÂN VẬT THÚY KIỀU

Yến Nhi

Dưới góc nhìn văn hóa , Nguyễn Du (1765-1820) là nhà thơ lớn của dân tộc, tuy nhiên qua cuộc đời và sự nghiệp , dưới góc nhìn lịch sử, ta còn thấy nhiều nét nổi bật nữa ở con người Nguyễn, một thiên tài có nhiều tâm trạng, một con người “ba mươi tuổi đầu đã bạc”, hơn nửa thế kỷ trong cõi đời rất hiếm khi vui, đến lúc về nơi chín suối vẫn mang một tâm sự cô hoài! Là một nhà thơ lỗi lạc, ông còn là một võ quan nhiều mưu đồ đại nghiệp, một vị văn quan rất biết cách “chăn dân”, cũng là một nhà ngoại giao xuất chúng. Nhận xét tổng thể về Nguyễn Du ,thấy rõ những tài năng đa dạng  và công lao của ông , các cụ đời sau  đã  thể hiện rất sâu sắc qua các bài văn truy điệu, văn bia trong các dịp tưởng  niệm .

… Khi trưởng thành Ất bảng chen tên, tài thư  kiếm vang lừng hai vế Những muốn hùng binh mấy vạn rắp phen Trương Tử phục Hàn gia . … Khi thủ hiến Tiên châu, khi Thần kinh lĩnh doãn, đức thanh cần thấm thía đến muôn dân… Lúc Bắc hành chánh sứ, lúc Nam khuyết á khanh tài thao lược vang lừng trong hai nước…(1)

Một nhân cách,một sự nghiệp như vậy, nhưng tại sao một người cùng thời cũng tài năng sự nghiệp không kém lại là đồng hương , hạ một lời phê từng làm băn khoăn bao thế hệ. Nguyễn Công Trứ nhận xét Kiều thực ra là nhận xét Nguyễn Du Bán mình trong bấy nhiêu năm , Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai (2) ( Vịnh Thuý Kiều ).

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) kém Nguyễn Du 13 tuổi (1765-1820), mất sau Nguyễn Du 40 năm, quê làng Uy Viễn, nay là xã Xuân Giang đồng hương huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông làm quan dưới các triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, đến chức phủ doãn Thừa Thiên thì nghỉ hưu.. Trong 28 năm quan trường, thăng tiến và giáng chức đến 8 lần. Ông nhiều lần cầm quân đi đánh giặc (dẹp một số cuộc khởi nghĩa của nông dân) lập nhiều công lớn với triều đình. Đặc biệt vào những năm cuối thập niên 1820, ông có sáng kiến chiêu mộ dân nghèo, đắp đê lấn biển, lập ấp, khai sinh các huyện Kim Sơn, Tiền Hải (thuộc hai tỉnh Thái Bình,Ninh Bình ngày nay), kiếm công ăn việc làm cho nhiều người xoá bỏ nạn trộm cướp, lập nhà học, hội buôn (xã thương) ở nông thôn nâng cao dân trí, thông thương hàng hóa. Những hoạt động của ông trong lĩnh vực khẩn hoang được nhân dân các vùng ghi nhớ, lập đền thờ ngay khi ông đang còn sống. Là một nhà quản trị giàu năng lực, một vị tướng tài, ông còn là một nhà thơ, một nghệ sĩ lớn. Ông để lại nhiều sáng tác thơ Nôm theo thể thơ đường luật và ca trù. Nội dung thơ phong phú, đa dạng, từ than cảnh nghèo, vạch trần nhân tình thế thái, đề cao chí nam nhi, đến ca ngợi thú cầm kì thi tửu. Trên phương diện tư tưởng và tâm lý Nguyễn Công Trứ là một khối mâu thuẫn lớn! Sinh thời ông vượt qua những lề thói bảo thủ, giả dối, tỏ một thái độ “phóng dật” bất cần trong lối sống, thách thức công nhiên dư luận, nhưng ông không vượt khỏi cái quỹ đạo tư tưởng Nho giáo mà đôi khi còn tỏ ra chịu chi phối nặng nề (đạo vua – tôi,nam trọng – nữ khi). Nguyễn Công Trứ có một nhân sinh quan tuy có nhiều khía cạnh  tích cực đổi mới vượt ra khỏi những chuẩn tắc thời bấy giờ nhưng căn bản vẫn nằm trong phép xuất xử Nho gia. Hiểu được tính hai mặt này trong tính cách của Nguyễn Công Trứ là một điều cần thiết để đánh giá con người cũng như ngôn thuật của ông. Cho mãi đến nay có hai điều người ta vẫn băn khoăn khi giải thích về tư tưởng và tình cảm của Nguyễn Công Trứ:
1.Tuy giúp ích cho nông dân trong công cuộc khai khẩn điền địa ở Thái Bình nhưng ông cũng lại tiến hành nhiều cuộc đàn áp khốc liệt nông dân khởi nghĩa .

2. Sống hành lạc phóng lãng rất gần gũi với giới ca nhi,nhưng đánh giá rất khe khắt với Thuý Kiều, một siêu kỳ nữ – nhân vật mang nhiều tâm sự Nguyễn Du.

Vấn đề thứ nhất, mối quan hệ với nông dân, nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích . Chúng tôi , sau đây, thử  lý giải vấn đề thứ hai : quan hệ với nhân vật Thuý Kiều.

Bán mình trong bấy nhiêu năm , Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai .

Nguyễn Công Trứ  đánh giá Thuý Kiều  có lẽ là khe khắt nhất trong số các nhà nho thời bấy giờ.Ông cho Kiều bán mình đi làm “vợ” khắp người ta là tính cách “tà dâm” không đánh lừa được người đời dù biện bạch bằng các lý do này khác.Việc “đoạn trường” là “đáng kiếp”!  Tại sao lại có những nhận xét , đánh giá đó khi Nguyễn Công Trứ từng là một khách chơi phóng lãng, một quan gia thăng giáng thất thường? Con người từng bất chấp tất cả mà lại không thể vượt qua được thành kiến hẹp hòi với một ca nhi hay có gì ẩn khuất đằng sau?

Sự khác biệt về đối tượng và tình cảm thẩm mỹ

Phải chăng trong cách nhìn của Nguyễn Công Trứ: Kiều chỉ là kỹ nữ,dẫu tài năng nhan sắc bao nhiêu cũng chỉ là một khách chơi , là cái hồng nhan mà sinh thời ông rất coi thường, ông luôn là kẻ đứng trên là cha thằng xích tử. Đời ông trai kép lúc trẻ, lúc tham gia trận mạc, lúc về già, khi chùa chiền, khi vãn cảnh đều có dăm ba nàng áo đỏ, áo xanh theo hầu, bảy mươi tuổi còn đèo bòng thiếp trẻ, luôn luôn mải mê với cái cảnh “hoa lê áp hải đường”…Tất cả chỉ là thú chơi, “chơi hoa cho biết mùi hoa, cầm cân cho biết cân già hay non” thế thôi. Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một bài viết cho rằng NCT ngoài “một bản lĩnh hành động” còn là “một tay chơi cuồng phóng”, gọi ông là “ tay chơi” là có cái lý của nó vì chính Nguyễn cũng tự nhận “sống để mà chơi”(3). Tân nhân, mỹ nữ, ca nương, khách hồng quần… đều là đối tượng của cái thú “phong nguyệt tình hoài”, trong cái thú này thì “trăng hoa” là mục tiêu,xướng ca là phương tiện, không có chỗ cho những Hiếu, Trung cao đạo. NCT hiểu sai và đánh giá thấp Kiều cũng nằm trong cái quỹ đạo suy nghĩ đó. Trong toàn bộ thi tập ca trù-hát nói của ông để lại , người phụ nữ không bao giờ xuất hiện như một đối tượng trữ tình mà cùng với ngón đàn điệu hát  chỉ xuất hiện như những “khách chơi”, biết múa hát đong đưa nhưng không có tâm trạng, như những hình nhân trong bộ sưu tập… Các nữ nhân trong thơ NCT đa phần là ca nhi nhưng ngón cầm ca của họ khác xa với Kiều hoặc các cô Hồ, cô Cầm ở đất Thăng long và cái cách thưởng thức của Tố Như và Uy Viễn cũng với những tâm trạng khác nhau. Với Nguyễn Du các nữ nhân mà ông  thường nhắc đến  như cô bạn hái sen, cô lái đò thời trẻ, cô Cầm người đẹp Long Thành, cô ca nữ ở nhà em trai, cô Hồ  bạn văn chương, hoặc như cô Tiểu Thanh, cô Thuý Kiều…trước hết đó là những con người cốt cách tao nhã, gần gũi, chịu nhiều oan khuất (phong vận kỳ oan), ông gửi gắm nơi họ  những tình cảm tri âm, tri kỷ xem họ là những khách đồng điệu. Nguyễn Du thương cảm và đánh giá cao Kiều cũng như nhiều khách má hồng khác, họ không là “khách chơi” như Nguyễn Công Trứ quan niệm, mà là những kẻ “liên tài, liên tình”, những kẻ “tài thì đáng trọng, tình thì nên thương” .  Nói đến các đào nương ,“ một hạng người thường bị rẻ rúng đương thời,  Ông không hạ mình xuống để thương vay mà thật sự tìm thấy mình trong họ”. Khóc cho những con người ấy là “khóc cho cuộc đời phong trần lận đận của chính mình và khóc cho cả những tài hoa Thăng Long bị vùi dập(4). Những con người đó không chỉ là những kẻ “phong vận kỳ oan”mà còn  là những “biểu tượng tài hoa của Thăng Long” , môi trường văn hoá đã ảnh hưởng  sâu sắc trong tâm hồn Nguyễn Du ngay từ thời niên thiếu  .Ta biết trong thiên tài của Nguyễn Du, ông đã thừa hưởng được cái tính dịu dàng và hào hoa của xứ Kinh Bắc nhờ ảnh hưởng đằng mẹ, đã hưởng được hào khí của đất Hồng Lam, hùng tâm của người xứ Nghệ, cùng là lòng tiết nghĩa, khiếu văn chương, do gia phong truyền lại trải bao nhiêu đời nhờ ảnh hưởng đằng nội. Thân sinh, quan đại tư đồ Nguyễn Nghiểm mất năm  Nguyễn Du mười tuổi,  mười ba tuổi mồ côi mẹ, suốt thời niên thiếu ở với anh tại Thăng Long.  Anh cả Nguyễn Du là Nguyễn Khản, một đại quan rất được chuá Trịnh Sâm sủng ái cũng là một người say mê và am tường nghệ thuật, văn chương.Nguyễn Du có một người em là Nguyễn Ức kém ông hai tuổi, thời Lê là một quan to, thời Nguyễn được phong tước hầu. Khi chưa loạn lạc, trong dinh quan Nguyễn Ức ở Thăng Long, thường có những ca kỹ, “ những người mặc áo hồng hát ca uyển chuyển” phục vụ mua vui cho các quan, có người tài sắc trở thành nàng hầu . Dấu vết đài các hoa lệ , không khí nghệ thuật cao nhã của kinh đô cùng với những tao nhân mặc khách, văn nhân, kỳ nữ thường lui tới để lại nhiều ấn tượng trong ký ức Nguyễn  không phải chỉ  là đề tài cho những thi phẩm sau này mà nó trở thành  một “nhân tố văn hoá Thăng Long” trong phong cách sống cũng như phong cách nghệ thuật của ông mà nhiều nhà nghiên cứu đã từng  nhắc đến .

Nói kỹ những điều này chúng tôi muốn lưu ý rằng trong đời sống cũng như trong  nghệ thuật của Nguyễn Du, nhân tố “văn hoá Thăng Long” trầm tích trong nhiều tác phẩm đặc biệt là ở mối quan hệ với các nhân vật nữ tạo nên cái nét riêng mà Thuý Kiều “ tài hoa mà phận bạc, đài các mà truân chuyên” là một điểm nhấn quan trọng  bộc lộ rõ quan điểm và tình cảm  thẩm mỹ của Nguyễn Du khác xa Nguyễn Công Trứ .Nếu bỏ qua điều này thì những lý giải khác  sẽ trở nên hời hợt.Cũng chính bởi vậy mà sự phê phán của NCT đối với Kiều có phần vừa khe khắt lại vừa hời hợt, phê phán mà không thấu hiểu.

Sự khác biệt về quan điểm lập thân. Nguyễn Du và nỗi buồn thời đại.

Như trên ta đã nói , nhận xét Kiều nhưng chính thực là nhằm vào Nguyễn Du,  không hiểu Kiều , NCT cũng không hiểu tâm trạng Nguyễn Du , nếu không nói là xa lạ . Lời nhận xét thật nặng nề ,ông cho việc làm quan dưới triều Nguyễn của Nguyễn Du là tầm thường, xu phụ thời cuộc, nỗi buồn của Nguyễn Du là giả dối !

So với Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ  có nhiều cái khác về xuất thân cũng như hành trạng. Nguyễn Du con người hai triều đại , gia đình đại quí tộc của triều đại cũ, chịu nhiều áp lực của thời cuộc,  triều Lê suy vi , nông dân Tây Sơn khởi nghĩa không hợp tác , triều Nguyễn khôi phục cơ đồ, bất đắc dĩ ra làm quan “thờ” chúa mới.Nguyễn Công Trứ  là sản phẩm của triều đại mới không có cái băn khoăn “trung thần bất sự nhị quân” như Nguyễn Du. Gia tộc Nguyễn Du là đại quí tộc, Nguyễn Công Trứ hàn nho vào đời bằng tài năng là chính ,thời trẻ trải nghiệm cuộc sống bình dân, về căn bản gắn với triều Nguyễn một cách lý tưởng , ông thuộc thế hệ hãnh tiến  hăng hái xốc tới không có cái mặc cảm đại quý tộc trước “một phen thay đổi sơn hà” của Nguyễn Du. Nguyễn Công Trứ về quê thì cười cợt “ thuyền quyên ứ hự, anh hùng biết chăng”,không có cái bâng khuâng khi nhớ  đến khúc sông ngày xưa “thuyền cha ta cờ xí rợp trời” như Nguyễn Du. Ghé Thăng Long , Nguyễn Công Trứ ngoài công vụ, tìm cái thú giang hồ  “phong nguyệt kho vô tận” , còn Nguyễn Du thì day dứt , bẽ bàng “ thành mới trăng xưa bóng lững lờ”. Nguyễn Công Trứ thấy khinh cái cảnh quan lại tham những đục khoét nhưng tôn sùng vua, nhận bổng lộc vua ban một cách ngưỡng vọng , ông không trải cái cảnh  anh em, bạn hữu bị lâm nạn, bị bức tử , bởi gian thần để nhận lộc vua ban mà thầm đau xót và lo lắng như Nguyễn Du. Việc ra làm quan của Nguyễn Du dưới triều Nguyễn là tình cảnh bất đắc dĩ, là bất khả kháng để bảo vệ mình và gia tộc chứ không phải vì mộng công hầu hoặc mưu tài lợi như thói thường. Hai nhân sinh quan , hai triết lý nghiệm sinh khác nhau nên không đồng cảm.

Nguyễn Du luôn mang một nỗi buồn lớn , cảm thấy bế tắc khó làm thay đổi cuộc đời  .Nguyễn Công Trứ thấy mình cải tạo được cuộc sống dân nghèo, còn Nguyễn Du đi khắp gầm trời kể cả sang Trung Hoa – nơi lý tưởng trong cách nhìn nho gia thời bấy giờ, cũng thấy đầy rẩy bất công, tàn bạo.

56 năm trong cuộc đời của Nguyễn , vui có, buồn có nhưng tổng thể là một cuộc đời thành đạt, làm quan đến bực á khanh, vua trọng vọng, triều thần vị nể, người đời yêu mến . Dẫu vậy ,việc sống buồn bã, tâm sự u uất luôn “rụt rè sợ hãi, chỉ vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện thôi” là một điều có thật trong cuộc đời Nguyễn Du.Đối chiếu  hành trạng của Nguyễn, cần có cái nhìn toàn diện để hiểu và giải thích rõ cái tâm sự u hoài tại sao đeo đẳng ông mãi thế, dẫu có khi làm đến bậc Á khanh,được hoàng đế Gia Long trọng dụng. Khi mắc bệnh nặng ông nhất định không chịu uống thuốc, chỉ chờ chết cho xong.(5) Ông đã đem theo xuống mồ cái tâm sự u uất , khó hiểu ,  người đời chỉ ức đoán qua câu thơ Bất tri tam bách dư niên hậu /Thiên hà hà nhân khấp Tố Như ? Đây là cái điều mà xưa nay ai cũng quan tâm nhưng lý giải thì mỗi người một cách. Có người  cho là  Nguyễn Du  buồn vì tuy là quan nhưng  là người cựu triều nên không ít kẻ ghen ghét, kẻ thì nghĩ rằng Nguyễn  ở tân triều mà lòng khôn quên chúa cũ ,như là đã ngược lại dòng tộc , chẳng là dòng họ này bao đời  được người đời nể trọng vì truyền thống  trung nghĩa. Đi xa hơn, Nguyễn Công Trứ lại xem nỗi buồn của Nguyễn Du là giả dối ,muốn che lấp sự đàm tiếu của thiên hạ về việc “phản bội” lại Nhà Lê đã từng mưa ân tưới phúc cho gia đình.

Theo chúng tôi nghĩ , nỗi buồn  của Nguyễn Du không dừng lại ở cái nguyên nhân bé nhỏ là vì đồng sự ghen ghét hay mặc cảm về cái sự  “tôi trung không thờ hai chúa”như có người nhận xét , mà ở cái nỗi niềm lớn lao hơn. Đó là tấm lòng  yêu thương con người ,là phẩm cách của  một tâm hồn  cao thượng , cảm thấy những nghịch lý, những nghịch cảnh tồn tại ở mọi thời , mọi nơi, như là một định mệnh không tài nào thay đổi được .Ở quê hương  cũng như ở xứ người đều đầy rẫy những bất công,đau khổ. Tấm lòng nhân mênh mông pha mùi thiền, mùi đạo ở ông luôn cảm thấy bất lực, đó mới chính là cái điều sâu kín tạo nên nỗi u hoài khôn nguôi trong đời sống và là hồn cốt trong các sáng tác của Nguyễn.Nỗi u hoài, nỗi đau đáu của Nguyễn chúng ta từng gặp trên con đường thi ca một thuở trong nỗi sầu không thể nào vơi của tâm sự Lý Bạch : Cầm dao chặt nước nước cứ trôi, cất chén tiêu sầu, sầu không vơi (Trừu đao đoạn thuỷ thuỷ cánh lưu/Cử bôi tiêu sầu sầu cánh sầu- Tiễn biệt quan Hiệu thư Thúc Vân), cũng như cái cô đơn vô tiền khoáng hậu của Trần Tử Ngang: Trước không thấy người đi, Sau không thấy kẻ đến, Nghĩ trời đất phiêu du, Chỉ mình ta lệ chảy  (Tiền bất kiến cố nhân/ Hậu bất kiến lai giả/ Niệm thiên địa chi du du/ Độc sảng nhiên nhi lệ hạ – Đăng U châu đài ca ).   Dãi dầu mười mấy năm quan trường ,Nguyễn Du trước hoàn cảnh thường có một “tâm trạng kép” vừa mừng  vừa sợ , sợ cho mình và cả họ tộc  bị bức hại , mừng vì tai qua nạn khỏi, phủ định  nhưng vẫn phải làm tròn chức phận không thể thoái thác. Nguyễn chủ động trong tư duy nhưng có lúc thụ động trong hành động. Tâm trạng thể hiện trong câu thơ tự thán “hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên” . Phải chăng vì trạng thái nước đôi đó mà sau này Nguyễn Công Trứ đã “phê” Nguyễn thông qua lời nhận xét khắt khe về Thuý Kiềù, nhân vật mà Nguyễn Du có nhiều ký thác .

*

Chúng ta với nhãn quan hiện đại thấy rõ sự khác biệt ở hai ông ,suy cho cùng vẫn không ra ngoài cái ngưỡng triết lý dân gian “ở bầu thì tròn ở ống thì dài”. Nguyễn Công Trứ tuy có tài kinh bang tế thế nhưng là một vị quan gia đánh giá Kiều cực đoan cũng như ông vua Tự Đức xét đoán Từ Hải .Cụ Thượng Trứ sẽ chẳng bao giờ thông cảm với tâm trạng Nguyễn Du qua Thúy Kiều cũng như hoàng đế Tự Đức chẳng thể nào hiểu được ước mơ của Nguyễn Du qua Từ Hải ! Chỉ có nhà thơ Tố Như người của những nỗi đau thân phận mới xem Kiều là tri âm , Từ Hải là giấc mộng . Và chính nỗi cộng cảm nhân sinh lớn lao đó đã khiến  Nguyễn Du hơn thế kỷ sau trở thành một điểm sáng trong bầu trời  văn hoá nhân loại mặc dầu đương thời không khoả lấp được nỗi nghi ngờ ở một số người , trong đó NCT là một./.

Tháng 4 – 2008/7-2010

(1)  Đào Tử Minh –Văn truy điệu Nguyễn Du  – Hội Tri Tân, ngày 10/8 Giáp thân 1944

(2) Có bản chép : Đố  đem chữ Hiếu mà lầm được ai?(3 )Hoàng Phủ Ngọc Tường- Tay chơi http://chutluulai.net/forums/showthread.php?p=32161

(4)  Nguyễn Huệ Chi – Biểu tượng đa nghĩa của Thăng Long trong thơ Nguyễn Du– Bài tham gia Hội thảo Gia tộc Nguyễn Du & Thăng long – 2010.Bà Trần Thị Tần , thân mẫu Nguyễn Du xuất thân cũng là một ca nương.

(5)  Theo Đại Nam liệt truyện: “đến khi đau nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ thưa đã lạnh cả rồi. Ông nói “được” rồi mất; không trối lại điều gì”.

NGUYỄN DU VỀ LẠI THĂNG LONG  


Phạm Xuân Nguyên

Nỗi hoài niệm, ưu tư của Nguyễn Du trước Thăng Long lên đến đỉnh điểm khi gặp lại người con gái gảy đàn ở Long thành. Ông làm một bài thơ dài kể chuyện và giãi bày. Hơn thế, ông còn đề lời “tiểu dẫn” để nói cho rõ ngọn ngành. Cả Thăng Long trong mắt Nguyễn bấy giờ dồn lại ở “người gảy đàn không rõ họ tên là gì” ấy.

Nguyễn Du sinh tại phường Bích Câu năm 1765. Ông có cha và anh là quan đại thần dưới triều vua Lê chúa Trịnh, nhất là người anh Nguyễn Khản rất được chúa Trịnh Sâm tin dùng, thường vào ra phủ chúa hàng ngày, có lần còn viết giấy cho người nhà cầm sang xin chúa lạng chè về uống. Thuở thiếu thời và thanh niên, cậu chiêu Bảy (tên gọi ở nhà của Nguyễn Du) đã có những ngày tháng vui vẻ, thanh nhàn ở Thăng Long, dự những cuộc vui nghiêng ngả ở nhà anh, mắt thấy tai nghe mọi cảnh phố phường kinh đô. Thế rồi nhà Tây Sơn nổi lên, vua tàn chúa lụi, Thăng Long thành bãi chiến trường, Nguyễn từ đó xa đất đế đô, bươn chải mười năm gió bụi, tấm thân còn sống là may. Lịch sử thăng trầm dâu bể, hưng đó mà vong đó, nhà Nguyễn diệt Tây Sơn lập triều mới, thống nhất giang sơn, chuyển đô về Phú Xuân. Thăng Long từ 1802 thành cố đô, và từ 1831 đổi thành Hà Nội. Nhưng khi Nguyễn Du trở lại chốn kinh đô xưa trên đường đi sứ sang Trung Quốc (1813), vùng đất này vẫn đang là Thăng Long. Mười năm xa cách không phải là dài, nhưng những biến thiên đảo lộn trong khoảng thời gian ấy đối với Nguyễn thật ghê gớm. Trong mấy đêm nghỉ lại Thăng Long trên hành trình của sứ đoàn, ông Chánh sứ Nguyễn Du đã trằn trọc, thao thức trước cảnh vật biến thiên và đời người thay đổi. Nguyễn đã có bốn bài thơ chữ Hán làm nhân dịp này, hai bài về cảnh, hai bài về người.

Bài Thăng Long thứ nhất.

Tản lĩnh Lô giang tuế tuế đồng
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long
Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung
Tương thức mỹ nhân khan bão tử
Ðồng du hiệp thiếu tẫn thành ông
Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy
Ðoản địch thanh thanh minh nguyệt trung

Nguyễn trải lưu lạc mười năm “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, tâm trạng đã nặng nề. Về lại chốn cũ, gặp lại người xưa, lòng càng buồn. Núi Tản sông Lô (tên gọi khúc sông Hồng chảy qua Thăng Long hồi ấy) thì muôn đời vẫn thế, năm lại năm chẳng di dịch đi đâu. Nhưng dạo một vòng thành xưa, cảnh đã khác. Những ngôi nhà to có nghìn năm tuổi đã bị dỡ đi để làm đường lớn. Khu hoàng thành nhà Lê đã bị phá bỏ, thay vào đó là một tòa thành mới. (Việc này tiến hành vào năm Gia Long thứ tư, 1805). Ðường sá, nhà cửa làm mới, còn người thì già đi. Những cô gái đẹp xinh từng quen biết hồi trước giờ đã tay bồng tay mang. Những gã bạn cùng nhau chơi ngông một thuở nay đã nên ông cả.(Câu thơ dịch thoát sang lục bát Gái xinh giờ đã con bồng, Bạn quen giờ đã thành ông cả rồi nghe đậm ngậm ngùi). Nguyễn cũng đã đầu bạc, may còn được thấy Thăng Long. Thật ra năm đó Nguyễn chưa đến năm mươi, nhưng cái tuổi xấp xỉ ngũ tuần xưa đã tính là già, vả mái tóc bạc Nguyễn có từ sớm, hậu quả của những suy tư dằn vặt ngay từ hồi trẻ. Người như ông với những ấn tượng bời bời như thế trong ngày trở lại đế đô ngủ sao được. Nghe tiếng sáo thoảng đâu đây dưới ánh trăng sáng lòng càng dấy lên bao nỗi vấn vương u hoài. Nguyễn phải tự an ủi mình.

Bài Thăng Long thứ hai

Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
Do thị Thăng Long cựu đế kinh
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
Thiên niên phú quý cung tranh đoạt
Tảo tuế thân bằng bán tử sinh
Thế sự thăng trầm hưu thán tức
Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh

Thôi hãy tự nhủ lòng Thăng Long đây vẫn là chốn đế đô xưa, bởi còn đây vầng trăng ngày xưa, dẫu thành đã là thành mới. Ðường phố, ngõ phố mở mang bốn phía làm lạc dấu vết cũ. Tiếng đàn sáo nghe ra đã xen nhiều âm thanh mới. Giàu sang nghìn đời rồi ra chỉ là cái mồi cho sự tranh cướp. Bà con, bạn bè hồi trẻ giờ đã kẻ mất người còn. Hãy hình dung Nguyễn suốt đêm không ngủ, một mình chong mắt nhìn ánh trăng, chỉ còn trăng là bạn cũ không phôi pha, tâm tư cứ giăng mắc chuyện trước chuyện nay. Và ông như buông tiếng thở dài sờ tay lên tóc mình: việc đời chìm nổi thôi đừng than thở nữa, đầu ta cũng đã bạc phơ phơ rồi. Ðêm ấy Thăng Long như cũng chùng lòng một mái đầu bạc dãi ánh trăng thâu.

Nguyễn Du có một người em cùng mẹ là Nguyễn Ức kém ông hai tuổi, thời Lê là một quan to, thời Nguyễn được phong tước hầu. Khi chưa loạn lạc, trong dinh quan Nguyễn Ức, cũng như các dinh quan khác, thường có những nàng hầu kiêm ca kỹ phục vụ mua vui cho các quan, họ ở địa vị như những người vợ lẽ. Xảy lúc binh đao, nhà quan tan đàn xẻ nghé, các nàng hầu cũng thất tán. Lần về lại Thăng Long này, Nguyễn gặp lại một nàng hầu cũ như vậy của em mình.

Bài Ngộ gia đệ cựu ca cơ

Phồn hoa nhân vật loạn lai phi
Huyền hạc quy lai kỷ cá tri
Hồng tụ tằng văn ca uyển chuyển
Bạch đầu tương kiến khốc lưu ly
Phúc bồn dĩ hĩ nan thu thủy
Ðoạn ngẫu thương tai vị tuyệt ti
Kiến thuyết giá nhân dĩ tam tử
Khả liên do trước khứ thời y

Nguyễn đang đường đường một vai Chánh sứ, vậy mà ví mình như một ẩn sĩ chốn rừng xanh ra. Hình ảnh chim hạc đen (huyền hạc) là nói cái ý ấy. Giữa chốn quen thuộc mà như người lạ, mấy ai người biết mình đã về lại nơi này. Mấy ngày dừng chân Thăng Long là khoảng thời gian Nguyễn sống phân thân giữa quá khứ và hiện tại. Mỗi câu thơ đều song trùng thời gian. Nàng mặc áo hồng hồi trước hát ca uyển chuyển, giờ gặp lại ta đầu bạc, khóc nỗi lưu ly. Cái mất thì đã mất, như chậu nước đổ rồi không thu lại được nữa. Nhưng cái tình thì còn lưu luyến, như ngó sen gãy đường tơ vẫn dính. Mà sao nàng, nghe nói đã lấy người khác được ba con, vẫn còn mặc chiếc áo ngày ra đi. Nhìn chiếc áo, Nguyễn ái ngại, xót thương. Thăng Long, số phận một kinh thành, có trả lời được Nguyễn trước một màu áo không đổi của một nàng ca kỹ?

Nỗi hoài niệm, ưu tư của Nguyễn Du trước Thăng Long lên đến đỉnh điểm khi gặp lại người con gái gảy đàn ở Long thành. Ông làm một bài thơ dài kể chuyện và giãi bày. Hơn thế, ông còn đề lời “tiểu dẫn” để nói cho rõ ngọn ngành. Cả Thăng Long trong mắt Nguyễn bấy giờ dồn lại ở “người gảy đàn không rõ họ tên là gì” ấy. “Thuở nhỏ nàng theo học đàn Nguyễn trong bộ nữ nhạc cung vua Lê. Tây Sơn dấy binh, đội nhạc cũ chết chóc, tản mát. Nàng lưu lạc nơi đầu chợ, ôm đàn hát rong. Những bài nàng đàn đều là những khúc gảy hầu nhà vua, người ngoài không ai được nghe, cho nên nàng được khen là “tuyệt kỹ” của một thời. Tôi, hồi trẻ đến kinh đô thăm anh tôi, đêm trọ ở quán bên hồ Giám. Cạnh đấy các quan Tây Sơn tụ hội bọn con hát; con hát nổi tiếng không dưới vài chục người. Nàng riêng thạo đàn Nguyễn, hát cũng hay, lại khéo pha trò. Người xem đều mê mẩn, nhiều lần thưởng cho nàng những chén rượu lớn, nàng tức thì uống cạn, tiền lụa thưởng nhiều vô số kể, chất đầy mặt đất”. Chàng Nguyễn ngày trước đã thành ông Nguyễn, một ông quan, còn cô gái đàn hay, hát giỏi khi xưa đã thành ra sao, sau mười năm biến thiên đảo lộn? Hãy nghe Nguyễn kể tiếp: “Mùa xuân năm nay, tôi phụng mệnh sang sứ phương Bắc, trên đường qua Thăng Long, các quan có đặt tiệc tiễn tôi ở dinh Tuyên phủ nên cho gọi hết nữ nhạc trong thành, con hát trẻ đến mấy chục người, tôi đều không biết mặt biết tên. Họ thay nhau ca múa. Rồi nghe vút lên một khúc đàn Cầm trong trẻo, nghe khác hẳn các khúc nhạc đương thời. Tôi lấy làm lạ nhìn người đàn, thì thấy người gầy võ, thần sắc khô khan, mặt đen, xấu như quỷ, quần áo toàn bằng vải thô, bạc phếch, vá nhiều mảnh trắng, ngồi lặng lẽ ở cuối chiếu, không nói không cười, hình dáng khó coi quá. Tôi không biết là ai, duy nghe tiếng đàn thì dường như đã từng quen biết nên động lòng trắc ẩn. Tiệc tan, hỏi đến người chơi đàn thì ra chính người gảy đàn ngày xưa ấy. Than ôi, người ấy sao đến nỗi này! Tôi bồi hồi ngẩng lên cúi xuống, khôn xiết cảm thương cho sự đổi thay xưa và nay. Ðời người trăm năm, vinh nhục buồn vui khó có thể nào lường được”. Bài thơ Long thành cầm giả ca của Nguyễn Du là khúc bi tráng cho Thăng Long. Mảnh đất kinh đô đẫm huyền thoại, dày sử tích, nhiều dấu ấn các triều vua, giờ có thêm bóng dáng một người con gái đàn ca trải hai triều đại phủ lên các thành quách, dinh thự.

Khúc xưa giọng mới lệ thầm rơi
Ta lắng nghe lòng đau xót
Chợt nhớ lại việc hai mươi năm trước
Từng gặp nàng trong tiệc bên hồ Giám
Thành quách đổi dời, việc người đã khác
Biết bao nơi ruộng dâu đã biến thành biển xanh
Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan hết cả rồi
Chỉ còn sót lại một người ca múa
Trăm năm như chớp mắt có là bao
Ðau lòng việc cũ lệ thấm áo
Tôi từ Nam Hà trở về đầu bạc trắng hết
Chẳng trách nhan sắc người đẹp tàn phai
Ðôi mắt mở trừng trừng luống tưởng chuyện ngày xưa
Thương thay giáp mặt nhau mà chẳng nhận ra nhau

Năm 1813 khi Nguyễn Du trên đường đi sứ ghé qua Thăng Long, đế đô cũ vừa qua tuổi tròn 800 năm. Nhà Nguyễn đang sắp đặt dấu ấn mình lên vùng đất nay đã thành cựu đế đô. Nguyễn Du nhìn cái mới buồn nhớ cái cũ. Những vần thơ ông để lại chứng tích cho ta một Thăng Long thuở ấy với những xáo động tâm trạng ông. Thêm gần hai trăm năm nữa qua, Thăng Long sắp 1000 năm tuổi, người nay cũng đang tìm lại dấu xưa, đọc lại thơ ông, thấy như Nguyễn đang về “song nhãn trừng trừng không tưởng tượng”.

Phạm Xuân Nguyên
Nhà phê bình Văn học
[Bản tin ĐHQG Hà Nội sô 215]

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Vietnamese Dan Bau Music
Vietnam traditional music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu

Nguyễn Du trăng huyền thoại

nguyenduxuanhuongluananhhung
Nguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng là bài nghiên cứu lịch sử của Hoàng Kim. Vì sao Xuân Hương lại coi Nguyễn Du là bậc anh hùng danh sĩ tinh hoa. Vì sao Nguyễn Du không ra làm quan cho nhà Tây Sơn. Thời thế Đại Việt các năm 1787 – 1793 ?  “Chút riêng chọn đá thử vàng. Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu? Còn như vào trước ra sau. Ai cho kén chọn vàng thau tại mình? Từ rằng: Lời nói hữu tình. Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân. Lại đây xem lại cho gần.Phỏng tin được một vài phần hay không? Thưa rằng: Lượng cả bao dong. Tấn Dương được thấy mây rồng có phen …“. “Khen cho con mắt tinh đời. Anh hùng đoán giữa trần ai mới già” Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương là tri âm tri kỷ. Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, phần một “Hồ Xuân Hương tỏ ý với Nguyễn Du; phần hai Lưu Hương ký và Truyện Thúy Kiều. phần ba  Nguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng.BandoVietnam1760

Các sự kiện chính Việt Nam những năm 1789 -1796. Hình thế Đại Việt đàng Trong và đàng Ngoài năm 1760 (vẽ bởi công ty Cóvens e Mortier, Amsterdam) trích dẫn trong bài  Nguyễn Du đêm thiêng đọc lại đã giúp chúng ta tầm nhìn toàn cảnh về thời thế và niên biểu Nguyễn Du trước và sau mùa xuân Kỷ Dậu năm 1790. Diến biến chiến sự các vùng được tóm tắt dưới đây theo thông tin chi tiết đã được trình bày kỹ trong bài “Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc 1781-1796 ” và “Nguyễn Du cuộc đời và thời thế“.

đằng Trong, nhân lúc Bắc Hà biến loạn, vua Lê trốn vào rừng và phát chiếu cần vương, quân Thanh có thể can thiệp bất cứ lúc nào, Nguyễn Huệ phải lo đối phó từ hai phía. Nguyễn Ánh công phá và bình định Sài Gòn – Gia Định ngày Đinh Dậu tháng 8 năm Mậu Thân (9.1788). Đông Định Vương Nguyễn Lữ bị rơi vào mưu kế chia rẽ của Nguyễn Ánh đối với Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ nên đã phải rút chạy về Quy Nhơn. Phạm Văn Tham tướng Nguyễn Nhạc lui về giữ những điểm trọng yếu ở Ba Thắc và Biên Hòa, đồng thời cấp báo về  Quy Nhơn xin viện binh. Nguyễn Nhạc không dám phát binh vì sợ Nguyễn Ánh thừa cơ mang thủy quân ra đột kích miền Trung. Nguyễn Vương nhân cơ hội này đã đánh rộng ra chiếm trọn Nam Bộ. Thất bại chiến lược này của nhà Tây Sơn do trước đó, năm 1787 Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đã bất hòa rất nghiêm trọng về việc Nguyễn Huệ chống đối Nguyễn Nhạc không chịu sung vào quân lương số vàng bạc châu báu rất lớn mà quân Bắc Bình Vương đã cướp được từ kho chúa Trịnh, đồng thời Nguyễn Huệ đòi quyền quản lý Quảng Nam. Nguyễn Nhạc uất ức chán nản vì em của ông tuy tài trí xuất chúng đánh giỏi và cơ trí hơn người nhưng mãnh liệt hung bạo và khó chế ngự, không còn tin theo phương lược của ông là chỉ nên tranh hùng với chúa Nguyễn ở đất phương Nam mà tạm thời chưa dòm ngó phương Bắc vì cựu thân tôn phò nhà Lê còn rất mạnh. Nhà Thanh lại ủng hộ nhà Lê. Mầm họa nhà Tây Sơn tăng dần và sự bất hòa này đã bị Nguyễn Ánh triệt để lợi dụng.

đằng Ngoài, năm 1987 Nguyễn Huệ theo kế Nguyễn Hữu Chỉnh bất ngờ đánh ra Nghệ An và thuận thời đột kích Thăng Long thắng lợi, chiếm được Bắc Hà mà không kịp xin lệnh Nguyễn Nhạc, sau đó Nguyễn Huệ cưới công chúa Lê Ngọc Hân con vua Lê Hiển Tông. Nguyễn Nhạc vì quyết sách hòa hiếu đằng Trong đằng Ngoài tạo thành hai nước Bắc Nam nên đã cấp tốc ra Bắc, thay đổi tướng hiệu và cùng Nguyễn Huệ về Nam. Vua Lê Chiêu Thống dùng mưu thần Nguyễn Hữu Chỉnh và trung thần Lê Quýnh đuổi Trịnh Bồng quyết giành lại thực quyền từ nhà chúa, sau đó tiếp tục mưu việc giành lại Nghệ An. Tướng Tây Sơn Vũ Văn Nhậm con rể Nguyễn Nhạc trấn thủ Quảng Bình đã cùng Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân theo lệnh Nguyễn Huệ kéo đại quân ra Bắc giết Nguyễn Hữu Chỉnh. Vua Lê Chiêu Thống trốn chạy vào rừng ở Yên Thế Thái Nguyên Tuyên Quang chống lại Tây Sơn. Vũ Văn Nhậm không bắt được Lê Chiêu Thống nên đã lập chú vua là Lê Duy Cận làm Giám Quốc. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ kéo quân kỵ gấp đường ra Thăng Long, nửa đêm đến nơi bắt Vũ Văn Nhậm giết đi, đổi đặt quan quân, đặt quan lục bộ và các quan trấn thủ, vẫn để Lê Duy Cẩn làm Giám Quốc, chủ trương việc tế lễ để giữ tông miếu tiền triều, dùng Ngô Thì Nhậm làm Lại bộ tả thị lang, cùng bọn Ngô Văn Sở ở lại giữ đất Bắc Hà, còn Nguyễn Huệ thì trở về Nam. Mẹ vua Lê Chiêu Thống đã cầu xin nhà Thanh viện binh giúp vua Lê phục quốc. Vua Càn Long lợi dụng tình hình cho Tôn Sĩ Nghị, Ô Đại Kinh, Sầm Nghi Đống ba cánh quân của Lưỡng Quảng, Quý Châu – Vân Nam, Điền Châu chia đường sang cứu viện và nhân tiện cướp Đại Việt. Quân Thanh vào đến Thăng Long đã theo kế Càn Long lập Lê Chiêu Thống lên làm An Nam quốc vương để chống lại nhà Tây Sơn. Nguyễn Huệ tại Phú Xuân nhận được tin cấp báo đã lên ngôi Hoàng Đế để chính danh phận và lập tức kéo quân ra Bắc. Nhà Nguyễn Tiên Điền và những cựu thần nhà Lê trừ số theo vua bôn tẩu ra ngoài đều không được vua Lê tin dùng vì Nguyễn Khải anh Nguyễn Du vốn và thầy chúa Trịnh có thù sâu nặng với vua Lê. Nguyễn Huệ dụng binh như thần và khéo chia rẽ, mua chuộc nên nhiều cựu thần nhà Lê như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, và kể cả Nguyễn Nễ là anh trai Nguyễn Du và Đoàn Nguyễn Tuấn là anh vợ Nguyễn Du đều lần lượt ra làm quan với nhà Tây Sơn. Riêng Nguyễn Du thì không ra. Năm Kỷ Dậu (1789) Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Sầm Nghi Đống tự sát ở gò Đống Đa, Tôn Sĩ Nghị tháo chạy về Bắc, cánh quân của Ô Đại Kinh rút chạy,  Đồn Ngọc Hồi  với toàn bộ quân Thanh và danh tướng  Hứa Thế Hanh giữ đồn này đều bị diệt. Vua Quang Trung chiều ngày 5 Tết đã khải hoàn ở kinh thành Thăng Long. Các anh của Nguyễn Du ra làm  quan với nhà Tây Sơn. Phủ đệ của họ Nguyễn Tiên Điền bên hồ Tây được sửa lại. Nguyễn Huệ sau khi đại phá quân Thanh, bằng mưu kế ngoại giao của nhà Tây Sơn với vua Càn Long nên được phong làm An Nam quốc vương, Lê Chiêu Thống phát động cuộc chiến ở tây Nghệ An và Trấn Ninh Lào nhưng bị thua bởi danh tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu. Vua Lê cũng bị bại ở trận chiến Cao Bằng Tuyên Quang do quân mỏng lực yếu không làm thay đổi được ý định của vua Càn Long và Phúc Khang An đang dụng kế để sớm ổn định phương Nam dốc sức cho việc tranh giành kho báu ở núi Tuyết (mời đọc bài Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết Sơn). Kết cục vua Lê Chiêu Thống và các trung thần tiết nghĩa nhà hậu Lê đã bị “bán đứng”  “Nhà vua bị người ta lừa gạt, bị giám buộc ở quê người đất khách, đến nỗi lo buồn phẫn uất, ôm hận mà chết, thân dẫu chết, nhưng tâm không chết, kể cũng đáng thương! (trích lời phê của vua Tự Đức). Nguyễn Ánh lợi dụng tình hình Bắc Hà rối loạn nên đã chiếm trọn đất phương Nam. Nguyễn Du không chịu theo phò nhà Tây Sơn mà cam lòng ẩn nhẫn câu cá tại ao vườn của anh là Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân. Nguyễn Du cùng Xuân Hương luận anh hùng. Nguyễn Huệ bị chết đột ngột ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (16 tháng 9 năm 1792).

Nguyễn Du làm gì trong bốn năm 1790 – 1792?  Năm 1790 Nguyễn Du cư ngụ tại chùa Hổ Pháo bên Tây Hồ, tại Hàng Châu, nơi Từ Hải tức Minh Sơn Hoà thượng từng tu hành, trước khi đi giang hồ thành cướp biển. Nguyễn Du tại đây có được bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Ông gặp lại Nguyễn Đại Lang tại miếu Nhạc Phi cũng bên cạnh Tây Hồ. Chính nơi đây Nguyễn Du viết 5 bài thơ, một bài Nhạc Phi, hai bài Tần Cối và hai bài Vương Thị, sau đó Nguyễn Du cùng Nguyễn Đại Lang đi Yên Kinh gặp vua Lê Chiêu Thống, và trở về Hàng Châu thì gặp Đoàn Nguyễn Tuấn cùng với sứ đoàn Tây Sơn tại một lữ quán. Tại đây, Nguyễn Du bàn chuyện về hồng nhan đa truân và Đoàn Nguyễn Tuấn đã viết hai bài thơ tặng văn nhân họ Nguyễn. Nguyễn Du về Long Châu và trở về Thăng Long. Ba năm 1791-1793, Nguyễn Du ở với Nguyễn Nể, đang làm quan Tây Sơn tại Bắc Thành giữ chức Hàn Lâm thị thư, sung chức Phó sứ tuế công. Năm 1791, Nguyễn Nễ đi sứ về, đã xây dựng lại một phần dinh thự Bích Câu, tại đây Nguyễn Du nghe cô Cầm, người nhạc nữ cũ cung vua Lê đánh đàn.

Nguyễn Du không ra làm quan cho triều Tây Sơn mà làm “Nam Hải điếu đồ” như Lã Vọng xưa, câu cá tại ao vườn của anh Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân. Chính nơi đây, Nguyễn Du cùng Xuân Hương Hồ Phi Mai đã có ba năm vẹn 1790-1992 sống cùng nhau để trầm tĩnh nhìn thời thế biến chuyển. Câu chuyện luận anh hùng của họ là trong thời điểm này. Những ẩn ngữ Lưu Hương ký và Truyện Thúy Kiều, Nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều chính là từ hình mẫu của  Nguyển Du và Hố Xuân Hương.

Nguyễn Du sau ba năm  (1790-1792) trầm tĩnh theo dõi đại cục. Cuối năm 1993 Nguyễn Du  vào Phú Xuân tìm cách giúp cho hai anh Nguyễn Nễ và Đoàn Nguyễn Tuấn thoát ra khỏi họa diệt tộc khỏi dính líu quá sâu vào triều Tây Sơn, khi Nguyễn Du đã đọc nghìn lần kinh Kim Cương và đã nhìn thấy mối họa khó bề cứu vãn của triều đại Tây Sơn.

Hồ Xuân Hương ngưỡng mộ Nguyễn Du là bậc anh hùng, danh sĩ tinh hoa, minh triết, trí tuệ, đảm lược, khí phách “Thưa rằng: lượng cả bao dong. Tấn Dương được thấy mây rồng có phen”. Nguyễn Du là anh hùng danh sĩ tinh hoa có khí phách, đảm lược như vua Tấn Văn Công đã bôn ba, chịu hoạn nạn, “bốn biển không nhà” như tích Tấn Dương xưa.

Hồ Xuân Hương thương Nguyễn Du long đong chìm nổi bị người đời và lịch sử thị phi vì “bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn” làm một tôi trung của nhà Lê, cam chịu cảnh mười lăm năm lưu lạc, chỉ hé lộ với “Bắc Hành tạp lục” và “Truyện Kiều” chứa một trời tâm sự để trao lại ngọc cho đời.

Hồ Xuân Hương tri âm tri kỷ, kính trọng Nguyễn Du rất mực, mẫu người phụ nữ thể hiện trên Lưu Hương Ký là biểu tượng văn hóa Việt của một người vợ hiền nhân hậu đầy yêu thương, tài năng trác tuyệt, như bản tính vốn có của Xuân Hương.

Sự “sắc sảo mặn mà” của Xuân Hương cũng căm ghét quyết liệt đối với những cái ác, cái xấu, vô văn hóa, đạo đức giả, mất nhân tính. Bà thẳng tay vạch trần những kẻ tính tình hung bạo thủ đoạn nham hiễm với lối diễn đạt sắc sảo lạ lùng “ngước mắt trông lên thấy bảng treo. Kìa đền Thái thú đứng cheo leo. Ví đây đổi phận làm trai được. Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu”Giương oai giễu võ thật là kinh Danh tiếng bao lăm đã tận rồi  Thoáng ngửi thoáng ghê hơi hương lửa Tài trí ra sao hỏi tính tình” .

Nguyễn Du thương Hồ Xuân Hương đọa đày tủi nhục không được chung sống với người minh yêu “Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung” phải trãi qua ba đời chồng, cam chịu lẽ mọn, chỉ tỏa sáng bia miệng giai thoại và Lưu Hương Ký. Nguyễn Du thương Hồ Xuân Hương “khen cho con mắt tinh đời. Anh hùng đoán giữa trần ai mới già” . Nguyễn Du đã dùng lời Thúy Kiều đánh giá “Từ Hải” và lời của Từ Hải thán phục Thúy Kiều, để thể hiện sự ý hợp tâm đầu của đôi nam nữ “trai anh hùng, gái thuyền quyên”.

Tôi lưu một ít trích dẫn dưới đây mà chưa kịp chép thêm Nguyễn Du niên biểu của Năm Giáp Dần (1794). Nguyễn Du 30 tuổi. Năm Ất Mẹo (1795). Nguyễn Du 31 tuổi. Năm Bính Thìn (1796). Nguyễn Du 32 tuổi, kết thúc Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc 1781-1796.

Ba năm vẹn” trong Lưu Hương ký của Hồ Xuân Hương nhớ Nguyễn Du là những năm 1990-1992. Nguyễn Du từ năm 1788 khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai xuống lệnh “cầu hiền” tìm kiếm quan lại của triều cũ. Danh sĩ Bắc Hà nhiều người đã đầu quân cho nhà Tây Sơn Nguyễn Du không chịu ra phò tá triều đại Tây Sơn nhưng cũng không chịu vào Nam theo Nguyễn Ánh như Đặng Trần Thường. Năm 1790 sau chiến thắng vang dội của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ đuổi quân Thanh và ngoại giao nhà Tây Sơn thành công, dồn Lê Chiêu Thống vừa bị thất bại quân sự, ngoại giao vừa bị “bán đứng” và chết thảm thì Nguyễn Du vẫn làm “Nam Hải điếu đồ” như Lã Vọng xưa, câu cá tại ao vườn của anh Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân, lặng lẽ kín đáo cùng Xuân Hương đàm luận anh hùng. Mãi đến sau này khi Thận Quận Công bắt câu lưu Nguyễn Du ở Nghệ An nhưng tha không giết. Điều đó ẩn tàng nhiều lý do riêng, kín đáo, sâu sắc, khó nhận thấy. Người đời sau chỉ mới nhìn thấy ông dốc lòng cùng người thân trong họ Nguyễn Tiên Điền lập đền thờ cho những nghĩa sĩ “Cố Lê tiết nghĩa thần” (các bầy tôi tiết nghĩa đời Lê). Câu chuyện về Nguyễn còn dài. Trước đèn chỉ mới đang dần sáng tỏ “Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương”, “Lưu Hương Ký và Truyện Thúy Kiều”,  và  “Nguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng

Thưa rằng: Lượng cả bao dong
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen
Rộng thương cỏ nội hoa hèn
Chút thân bèo bọt, dám phiền mai sau!

Nghe lời vừa ý gật đầu
Cười rằng tri kỷ trước sau mấy người
Khen cho con mắt tinh đời
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già
Một lời đã biết đến ta
Muôn chung nghìn tứ, cũng là có nhau

Hai bên ý hợp tâm đầu
Khi thân, chẳng lọ là cầu mới thân
Ngõ lời cùng với băng nhân
Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn
Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn
Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên
Trai anh hùng gái thuyền quyên
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.

LƯU HƯƠNG KÝ và TRUYỆN THÚY KIỀU là những kiệt tác và chỉ dấu quan trọng để hiểu thời thế và anh hùng thời đại Nguyễn Du.

*

NGUYỄN DU 250 NĂM NHÌN LẠI là chuyên luận của Hoàng Kim gồm 12 bài : 1) Nguyễn Du quê hương và dòng họ; 2)  Nguyễn Du cuộc đời và thời thế  Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ (1765- 1780) Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781-1796), Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối (1797- 1820), 3)  Nguyễn Du thơ chữ Hán, 4) Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ, 5)  Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương,  6) Nguyễn Du là bậc anh hùng, 7)  Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa, 8) Thêm tư liệu quý về Nguyễn Du,  9) Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ,   10) Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa;  11) Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ, 12) Nguyễn Du nửa đêm đọc lại.

“Bất tri tam bách dư niên hậu.
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”.
Ba trăm năm nữa chốc mòng.
Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như? 
Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa
Đời Người là kiệt tác thơ Truyện Kiều.

Hoàng Kim

 

Chú dẫn quan trọng:

Nguyễn Du niên biểu 1787-1792

Năm Đinh Mùi (1787) Nguyễn Du 22 tuổi. Nguyễn Nhạc từ Thăng Long trở về, phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương trấn thủ Phú Xuân, còn mình thì dẫn tùy tùng về Quy Nhơn, tự xưng làm Trung Ương Hoàng Đế, phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương ở đất Gia Định, phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương ở đất Thuận Hóa, lấy Hải Vân làm giới hạn. Nguyễn Nhạc hỏi những báu vật vàng bạc đoạt được ở phủ chúa Trịnh. Nguyễn Huệ từ chối không nộp. Nguyễn Huệ muốn kiêm quản cả đất Quảng Nam nhưng Nguyễn Nhạc không cho. Cùng thêm một số chuyện hiềm khích cơ mật khác. Nguyễn Huệ bèn phát hịch kể tội Nhạc , rồi đem quân vào vây thành Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc đóng cửa thành cố thủ. Đặng Văn Trấn, tướng của Nguyễn Nhạc để tham đốc là Trần Tú ở lại giữ thành Gia Định còn mình tự đem quân về cứu viện nhưng khi đến Phú Yên thì bị quân của Nguyễn Huệ bắt. Nguyễn Huệ vây Quy Nhơn ngặt đến nỗi Nguyễn Nhạc phải thân lên thành mà kêu khóc, gọi Nguyễn Huệ mà bảo rằng: ” Nỡ lòng nào lại nồi da nấu thịt thế này?” Nguyễn Huệ mới động lòng rút quân về Thuận Hóa. Hai anh em tuy hòa giải nhưng thực lòng vẫn oán giận nhau.

Nguyễn Ánh sau trận thất bại năm Giáp Thìn (1784)  sang lánh nạn ở Xiêm (Thái Lan) nóng lòng mong chờ viện binh nhưng Nguyễn Huệ đã khéo sai sứ sang thông hiếu với Thái Lan. Nguyễn Ánh thấy ở nước người  lâu ngày không tiện nên bí mật về nước theo kế của Tống Phước Đạm. Trước hết Nguyễn Ánh sai Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Liêm về Hà Tiên dò xét tình hình, khâu nối lực lượng., Phạm Văn Nhơn về Hòn Tre sửa soạn tàu bè, cai cơ Ngoạn, cai cơ Trung đi mua thóc dự trữ sẵn lương thực, rồi nhân đêm tối, không từ biệt vua Xiêm mà ra về vào ngày Bính Dần tháng Bảy. Khi Nguyễn Ánh về đến Hòn Tre mới biết chuyện cai cơ Trung giết chủ thuyền buôn Thái Lan để cướp của cải. Ông đã lệnh chặt đầu cai cơ Trung gửi đến vua Thái để tạ lỗi. Nguyễn Ánh cũng thu phục bọn cướp biển Hà Hỉ Văn đảng Bạch Liên Giáo nay làm cướp biển Hà Tiên. Ông cũng thu phục được danh tướng Nguyễn Văn Trương trấn thủ Long Xuyên.  Tống Phước Đạm lợi dụng sự bất hòa của nhà Tây Sơn lập kế li gián Đông Định Vương Nguyễn Lữ là trấn tướng Gia Định và Phạm Văn Tham là phó tướng của Nguyễn Lữ.  Tống Phước Đạm bắt được vợ lẽ của hộ đốc Lý tướng Tây Sơn và đã làm mật thư giả của Nguyễn Nhạc gửi Nguyễn Lữ, trong thư nói Phạm Văn Tham là phe đảng của Nguyễn Huệ và khiến Nguyễn Lữ giết đi. Tống Phước Đạm giao thư cho vợ lẽ của hộ đốc Lý mang về dụ hàng Phạm Văn Tham.  Tham xem thư cả sợ bèn giương cờ trắng (hiệu kỳ của Nguyễn Ánh) kéo về dinh lũy của Nguyễn Lữ. Đông Định Vương tưởng Tham đã mang quân về hàng Nguyễn Ánh rồi, sợ Tây Sơn quân mỏng không  thể địch nổi nên bỏ chạy về Quy Nhơn. Từ đó, Phạm Văn Tham một mình trấn giữ Gia Định. Quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh giao chiến một số trận lớn nhỏ. Thế lực Nguyễn Vương ngày một lớn mạnh. Thái úy Nguyễn văn Hưng từ Quy Nhơn mang ba mươi chiến thuyền vào tiếp ứng. Nguyễn Ánh cố thủ.  Ít lâu sau, Nguyễn Văn Hưng chuyển thóc gạo đầy các thuyền rồi rút đi. Nguyễn Ánh chia bình đóng những nơi hiểm yếu chẹn đường quân Tây Sơn.

Giữa lúc này Nguyễn Hữu Chỉnh đem binh từ Nghệ An tiến gấp về Thăng Long để bảo vệ vua. Nguyễn Hữu Chỉnh đuổi Trịnh Bồng, tôn phò vua Lê Chiêu Thống. Năm 1787, khi họ Trịnh thất bại trong việc khôi phục lại địa vị, Trịnh Bồng chạy khỏi kinh thành, Lê Chiêu Thống ngầm cho người đốt phủ chúa đi. Đám cháy lan khắp hai phần ba kinh thành và cháy trong mười ngày liền[7][12] làm mất đi một quần thể kiến trúc đẹp của Thăng Long – Hà Nội. Điều này được sách Hoàng Lê nhất thống chí chép như sau: Sớm hôm sau, hoàng thượng mới biết là Án đô vương đã trốn đi lúc ban đêm tức thì ngầm sai người phóng hoả đốt hết phủ chúa. Khi phủ cháy, khói lửa bốc lên ngút trời, hơn mười ngày chưa tắt[13]Lê Chiêu Thống nghe lời Nguyễn Hữu Chỉnh cho vét hết chuông đồng, tượng đồng ở các chùa, đền trong nước đem đúc tiền dùng vào việc quân. Sách Lê Quý kỷ sự chép: Người đương thời có câu mỉa mai: “Thiên hạ thất tự chung, chung thất, nhi đỉnh an tại! Hoàng thượng phần vương phủ, phủ phần, tức điện diệc không!” Nghĩa là: “Thiên hạ mất chuông chùa, chuông đã mất, vạc dựa vào đâu![14] Hoàng thượng thiêu phủ Chúa, phủ bị thiêu, điện trơ ra đó!”[12][15]

Vua Lê Chiêu Thống cũng theo kế của Nguyễn Hữu Chỉnh sai người ngầm mang nhiều vàng bạc đưa cho Nguyễn Văn Duệ để giết Võ Văn Dũng và lấy sông Gianh làm ranh giới như cũ. Vũ Văn Nhậm dò biết mưu ấy bèn cấp báo cho Nguyễn Huệ. Huệ liền sai người ra Nghệ An bắt Duệ nhưng Duệ thấy động đã đem quân thuộc hạ theo đường rừng trốn về Quy Nhơn. Nguyễn Huệ sai Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân theo quyền tiết chế Vũ Văn Nhậm đem quân ra Bắc hỏi tội Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh cho thuộc tướng chống giữ nhưng đều bị đánh tan. Vua Lê Chiêu Thống sai Lê Quýnh cùng hơn 30 người tôn thất đem bà Hoàng Thái hậu và Hoàng phi, Hoàng tử chạy lên Cao Bắng. Chỉnh thì cướp đường rước vua Lê Chiêu Thống chạy lên Kinh Bắc về đóng ở núi Mục Sơn đất Yên Thế.

Nhậm sai bộ tướng Nguyễn Văn Hòa truy sát và đuổi kịp Nguyễn Hữu Chỉnh, bắt sống đóng gông giải về Thăng Long.  Nhậm kể tội rồi sai chặt chân tay, phanh thây Chỉnh. Nhậm tìm vua Lê Chiêu Thống không được bèn tôn Sùng Nhượng Công Lê Duy Cẩn lên làm Giám Quốc để thu phục lòng người. Thầy đề lại Giám Quốc mỗi ngay phải sang chầu chực ở dinh Vũ Văn Nhậm. Nhậm tỏ ý kiêu ngạo. Ngô Văn Sở mật trình tấu sự tình về Nguyễn Huệ.

Bắc Bình Vương lập tức truyền lệnh kéo quân kỵ gấp đường ra Thăng Long, nửa đêm đến nơi bắt Vũ Văn Nhậm giết đi, đổi đặt quan quân, đặt quan lục bộ và các quan trấn thủ, để Lê Duy Cẩn làm Giám Quốc, chủ trương việc tế lễ để giữ tông miếu tiền triều, dùng Ngô Thì Nhậm làm Lại bộ tả thị lang, cùng bọn Ngô Văn Sở ở lại giữ đất Bắc Hà, còn Nguyễn Huệ thì chọn ngày về nam.

Mẹ của vua Lê Chiêu Thống chạy lên Cao Bằng cùng với Đốc trấn Nguyễn Huy Túc chạy sang đất nhà Thanh xin với Tổng đốc Lưỡng Quảng xin cứu viện. Tôn Sĩ Nghị dâng biểu lên vua Càn Long xin điều quân Lưỡng Quảng, Vân Nam, Quý Châu chia làm đường sang cứu viện cho vua Lê. Lúc này vua Chiêu Thống đã chạy lánh vào Bảo Lộc, Trấn Ninh.

Nguyễn Du năm ấy đi lại giữa Thăng Long, Quảng Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Nghệ An nhưng đang là lúc “ngọa hổ tàng long” nên Nguyễn Du hành tung bí mật, rất ít lộ diện. Những sử liệu dưới đây cho thấy các địa điểm ẩn hiện của ông:

Trong  “Lê Quý Kỷ Sự” của Nguyễn Thu có nói đến cuộc khởi nghĩa tại Tư Nông của cựu Trấn Thủ Thái Nguyên Nguyễn Đăng Tiến, tước Quản Vũ Hầu, bị tướng Tây Sơn bắt giải về cho Vũ Văn Nhậm. Nhậm trọng sự khí khái nên dụ hàng, sau đó cũng tha bổng và cho phép muốn đi đâu thì đi.  Họ đi sang Vân Nam. Nguyễn Quýnh quay trở về Hồng Lĩnh khởi nghĩa bị bắt và bị giết năm 1791 tròn 30 tuổi, dinh thự và làng Tiên Điền bị đốt sạch. Đến Vân Nam, Nguyễn Du bị bệnh ba tháng mùa xuân. Hết bệnh, họ đi Liễu Châu và chia tay, Nguyễn Đại Lang về thăm quê nhà vùng Quế Lâm, cao sơn lưu thủy. Nguyễn Du đi giang hồ ba năm ở Trung Quốc trong áo mũ nhà sư mang danh Chí Hiên, từ Quảng Tây theo thuyền đi dọc sông và Hồ Động Đình đến Hán Khẩu, rồi theo sông Hán rồi lên Trường An viết bài Dương Quý Phi, Bùi Tấn Công mộ, Phân Kinh thạch đài, rồi lại theo kinh Đại Vận Hà đến Hàng Châu .

Tại lời đề “tiểu dẫn” của “Thăng long cầm giả ca”, chính  Nguyễn Du đã nói rõ rằng những năm trước và sau cái Nguyễn Huệ ra Bắc lần 2 đến lúc Nguyễn Huệ chết, ông chủ yếu ở Thăng Long và “Lưu Hương ký” của Hồ Xuân Hương cũng trùng khớp và là lời xác nhận về “ba năm vẹn” đó.

Trong “Thanh Hiên thi tập” nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Chánh đã phát hiện thấy “có những bài tả cảnh tuyết, núi non trùng điệp, lá vàng, trưởng giả ăn mặc còn theo nhà Hán (không theo nhà Thanh để tóc bính đuôi sam, áo quần Mãn Châu), dân chúng theo lịch nhà Tần, xử dụng nhạc cụ “tù và” ? … Nguyễn Du có những câu thơ kỳ lạ: Tôi đọc kinh Kim Cương nghìn lượt?. Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế? Giang Bắc, Giang Nam cái túi không? Nguyễn Du làm gì mà đọc kinh Kim Cương trong ba năm, đội mũ vàng nhà sư đi muôn dậm (khoảng 5000 km), làm gì không tiền mà đi hết các sông phía bắc đến sông phía nam Dương Tử Giang ? Nguyễn Du ở đâu mà cách Trường An ngàn dậm về phía Nam ?Theo Nguyễn Hành, cháu Nguyễn Du, có viết ông có một cuộc đời giang hồ như cuộc đời làm quan : Giang hồ long miếu hai điều đủ, Thi họa cầm thư bốn nghệ tinh. Theo gia phả từ năm 1786 đến 1796 Nguyễn Du về quê vợ tại Quỳnh Hải, Thái Bình hợp cùng Đoàn Nguyễn Tuấn khởi nghĩa chống Tây Sơn. Nhưng điều này không đúng vì từ năm 1788 Đoàn Nguyễn Tuấn ra làm quan Tây Sơn và đi sứ trong đoàn 158 người năm 1790. Đoàn Nguyễn Tuấn có hai bài thơ viết tặng một văn nhân họ Nguyễn, gặp tại Hoàng Châu, Trung Quốc vào mùa thu bàn luận về văn chương sôi nổi chuyện gì ?, Đoàn Nguyễn Tuấn phải lên Nhiệt Hà nơi vua Càn Long đang nghỉ mát ? Văn nhân họ Nguyễn đi xe song mã về Nam và hẹn gặp lại tại nước nhà vào mùa xuân. Trên đường đi cớ gì mà Đoàn lại viết một bài thơ Vô Đề về hồng nhan đa truân khi gặp một ca nhi hát cho sứ đoàn tại bến sông Hán?.”

Nguyễn Du dẫn vợ con về quê bà vợ cả ở Thái Bình sống qua ngày. Đó cũng là thời gian ông sáng tác tập Thanh Hiên tiền hậu tập, Nguyễn Hưng Quốc đã nhận định như vậy trong bài  “Tết đọc lại Nguyễn Du”. … “tổng số 65 bài của tập thơ, có 17 bài nhắc đến hình ảnh bạch phát hay bạch đầu: “Bạch đầu đa hận tuế thời thiên” (Đầu bạc thường bực vì ngày tháng trôi mau); hay “Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên” (Tráng sĩ đầu bạc bùi ngùi ngẩng lên trời) hay “Bạch phát hùng tâm không đốt ta” (Tóc bạc rồi, dù có hùng tâm, cũng chỉ biết ngồi suông than thở). Không biết ông bệnh gì, nhưng lúc nào cũng than bệnh: “Nhất nhất xuân hàn cựu bệnh đa” (Một nhà xuân lạnh, bệnh cũ lại nhiều); “Tam xuân tích bệnh bần vô dược” (Ba tháng xuân ốm liên miên, nghèo không có thuốc); “Cùng niên ngọa bệnh Tuế giang tân” (Suốt năm đau ốm nằm ở bến Tuế giang); “Đa bệnh đa sầu khí bất thư” (Lắm bệnh, hay buồn, tâm thần không được thư thái); “Thập niên túc tật vô nhân vấn” (Bệnh cũ mười năm, không ai thăm hỏi); “Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu” (Bệnh đến trong bước giang hồ đã lâu ngày). Đã bệnh lại còn nghèo. Phải ở nhờ nhà người khác: “Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia” (Đầu bạc bơ phờ ở nhờ nhà người). Hết nhờ người này sang nhờ người khác: “Lữ thực giang tân hựu hải tân” (Hết ăn nhờ ở miền sông lại đến miền biển). Lúc nào trong túi cũng rỗng không: “Giang nam giang bắc nhất nang không” (Một chiếc túi rỗng không, đi hết phía nam sông lại sang phía bắc sông). Thiếu mặc: “Tảo hàn dĩ giác vô y khổ” (Mới rét mà đã thấy khổ vì không áo). Có khi đói: “Táo đầu chung nhật vô yên hỏa” (Suốt ngày bếp không đỏ lửa). Ngay cả khi Nguyễn Du đã ra làm quan dưới triều Gia Long rồi, có năm vợ con vẫn đói: “Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng” (Nhà mười miệng trẻ đói xanh như rau); “Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc” (Nhà mười miệng ăn đang kêu đói ở phía bắc Hoành sơn). Mười đứa trẻ ở đây chính là con của Nguyễn Du. (Gia phả ghi Nguyễn Du có 3 vợ: bà vợ đầu sinh một con trai tên Nguyễn Tứ; bà vợ thứ hai cũng sinh một con trai tên Nguyễn Ngũ; bà vợ thứ ba sinh mười con trai và sáu con gái; tổng cộng, như vậy, ông có 18 người con. Tuy nhiên, căn cứ vào tên người con đầu, Nguyễn Tứ, chúng ta có thể đoán là ông có ba người con khác, anh hay chị của Nguyễn Tứ, có lẽ đã chết lúc còn nhỏ hoặc ngay trong bào thai.) Đói đến độ có lúc phải xin ăn: “Cơ hàn bất giác thụ nhân liên” (Đâu ngờ phải đói rét để cho người thương). Nhưng buồn nhất có lẽ là cảm giác bất lực và bế tắc…”

Năm Mậu Thân (1788). Nguyễn Du 23 tuổi. Tống Phước Đạm dâng kế cho Nguyễn Ánh: “Tây Sơn tuy lấy được Bắc Hà nhưng vua Lê Chiêu Thống và triều đình nhà Lê còn trốn tránh trong vùng rừng núi, nhất định sẽ cầu viện nhà Thanh. Nhân lúc Nguyễn Huệ đang bận đối phó ở phía Bắc chưa rỗi để mắt đến phía Nam. Nguyễn Nhạc và  Nguyễn Lữ ở phía Nam khó xoay trở. Chúa thượng nhân lúc này về chiếm đất Gia Định sẽ có thời cơ lớn”. Nguyễn Ánh nghe lời, đem đại quân về An Giang nhưng chưa kịp dựng đồn trại thì đã bị quân Tây Sơn tấn công. Quân hai bên giao chiến kịch liệt, quân của Thái bảo Phạm Văn Tham mới chịu lui. Thề lực Nguyễn Ánh ngày một nổi lên và có nhiều tướng giỏi. Tôn Thất Huy đóng ở Giồng Triệu. Lê Văn Quân đóng ở Giồng Trôm. Mạc Tử Sinh trấn thủ Hà Tiên. Phạm Văn Nhơn trấn thủ Long Xuyên. Trương Phước  Giáo, Nguyễn Đình Đắc, Tôn Thất Hội, Võ Văn Lượng, Nguyễn Văn Hiếu, Mạc Văn Tô, Trần Văn Tín, Đoàn Văn Khoa , … đều là những nghĩa dũng. Đặc biệt quân sư Tống Phước Đạm mưu kế sâu sắc, liệu việc như thần. Chu Văn Tiếp, Đỗ Thành Nhơn, Võ Tánh là Gia Định tam hùng. Nguyễn Ánh trao cho Võ Tánh giữ chức khâm sai Tổng nhung, chưởng cơ dinh Tiên phong, lại gả trưởng công chúa Nguyễn Thị Ngọc Du cho Võ Tánh. Từ ngày Nguyễn Ánh lên nối ngôi vua Nguyễn tháng 2 năm 1780, sau đó giết Đỗ Thanh Nhơn, thâu tóm quyền lực, cho đến năm 1788 chưa bao giờ thế lực quân Nguyễn mạnh đến như vậy. Nguyễn Ánh thu phục Gia Định lần thứ Tư nhằm ngày Đinh Dậu tháng 8 năm Mậu Thân (9.1788). Tướng Tây Sơn Phạm Văn Tham lui về giữ những điểm trọng yếu ở Ba Thắc và Biên Hòa, đồng thời cấp báo về Quy Nhơn để xin viện binh. Nguyễn Nhạc chần chừ không dám phát binh vì sợ quân Nam thừa cơ đánh úp Quy Nhơn trong khi Nguyễn Huệ đang bận ở mặt Bắc không thể kịp ứng cứu. Do Gia Định quân Tây Sơn không có cứu viện nên lực lượng Nguyễn Vương đã đánh rộng ra các địa bàn phía Nam và làm chủ vững chắc vùng Nam Bộ ngày nay.

Lại nói về Bắc Hà, tháng 5 năm 1788, khi vua Lê Chiêu Thống chạy lánh vào Bảo Lộc, Trấn Ninh tìm kế đánh trả quân Tây Sơn thì mẹ và con trai Lê Chiêu Thống đã chạy lên Cao Bằng. Trước sự uy hiếp của các thế lực cát cứ địa phương, thì những bầy tôi nhà Lê là Đốc đồng Nguyễn Huy Túc, phiên thần Địch quận công Hoàng Ích Hiểu, tụng thần Lê Quýnh và Nguyễn Quốc Đống đã bảo vệ thái hậu và con trai Chiêu Thống qua cửa ải Thủy Khẩu chạy sang Long Châu nhà Thanh, gặp Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị và Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh cầu xin cứu viện.

Sách Cương mục viết: “Thái hậu đưa nguyên tử (con trai Chiêu Thống) đến yết kiến ở trong sân, gào khóc xin cứu viện. Bọn Sĩ Nghị tâu với vua Thanh rằng tự hoàng nhà Lê đương phải bôn ba, đối với đại nghĩa, ta nên cứu viện. Vả lại, An Nam là đất cũ của Trung Quốc, sau khi khôi phục nhà Lê, ta nhân đó, đặt lính thú để đóng giữ. Thế là vừa làm cho nhà Lê được tồn tại, vừa chiếm lấy được An Nam: thật là làm một chuyến mà được hai lợi.”[4]

Vua Càn Long chuẩn tấu, muốn nhân cơ hội đánh chiếm Đại Việt bèn sai Tổng đốc Lưỡng QuảngTôn Sĩ Nghị mang từ 18.000 đến hơn 20 vạn quân (“Các ý kiến về số quân Thanh” là rất khác nhau từ nhiều nguồn), bao gồm các đạo binh huy động từ bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân NamQuý Châu hộ tống vua Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa phù Lê. Quân Thanh chia làm 3 đường tiến sang Đại Việt:

1. Quân Quảng Đông, Quảng Tây do Tôn Sĩ Nghị (chức tổng đốc Lưỡng Quảng) trực tiếp chỉ huy, qua ải Nam Quan vào Lạng Sơn; phó chỉ huy là Hứa Thế Hanh (chức đề đốc) cùng các tướng Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long (cả hai đều đang mang chức tổng binh), Lý Hóa Long (chức phó tướng).

2. Quân Vân Nam, Quý Châu do đề đốc Vân Quý là Ô Đại Kinh, từ Vân Nam qua ải Mã Bạch, theo đường Tuyên Quang xuống Sơn Tây vào Thăng Long.

3. Quân tình nguyện Điền châu do Sầm Nghi Đống chỉ huy, theo đường Long Châu tiến vào Cao Bằng rồi tiến về Thăng Long. Cả 3 đạo quân đều xuất phát vào cuối tháng 10 âm lịch năm 1788.

Vua Càn Long lại đặc cử danh tướng Phúc Khang An chuyên trách hậu cần. Theo sách Thánh vũ ký, phần “Càn Long chinh phủ An Nam ký” của Ngụy Nguyên đời Thanh, Phúc Khang An đã thiết lập trên 70 đồn quân lương to lớn và kiên cố từ hai đường Quảng TâyVân Nam tới Thăng Long. Riêng chặng đường từ ải Nam Quan tới Thăng Long, Khang An thiết lập 18 kho quân lương trong khi Tôn Sĩ Nghị hành quân.

Vua Lê Chiêu Thống lẩn quất chạy trốn quân Vũ Văn Nhậm ở mạn bắc sông Nguyệt Đức, khi thì ở huyện Gia Định, lúc lại đi Chí Linh, Thủy Đường, Vị Hoàng. Nhậm kiêu ngạo, tiếm quyền. Tháng tư năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Huệ lại ra bắc, vào thành Thăng Long, bắt giết Vũ Văn Nhậm, cho Ngô Văn Sở cai quản binh quyền, đặt Lê Duy Cận làm giám quốc coi việc thờ cúng tôn miếu nhà Lê. Chiêu Thống bị Ngô Văn Sở đánh tan ở sông Ngô Đồng, chạy vào Thanh Hoa rồi ra Kinh Bắc lần thứ hai.

LeChieuThongdonquanThanhTôn Sĩ Nghị khi kéo sang Đại Việt, sai Lê Quýnh, Nguyễn Quốc Đống về tâu lại với Chiêu Thống. Vua bấy giờ mới biết, bèn cho Tham tri chính sự Lê Duy Đản và Hàn lâm hiệu thảo Trần Danh Án đi đường tắt lên đón quân nhà Thanh

Khi quân Thanh tiến qua biên giới, Ở Lạng Sơn, thấy quân lính dưới quyền trốn mất, Phan Khải Đức ra hàng còn Nguyễn Văn Diễm rút vội về Kinh Bắc hợp với Trấn thủ Nguyễn Văn Hoà chống giữ và đưa thư cáo cấp về Thăng Long[13] . Theo thư Lê Chiêu Thống gửi cho Tôn Sỹ Nghị, tổng số quân Tây Sơn đóng ở miền Bắc khoảng 60 ngàn quân, trong đó có 30 ngàn quân do bắt lính tại địa phương, không có lòng chiến đấu.

Ngô Văn Sở được tin quân Thanh kéo sang liền nhóm họp các văn võ quan nhà Lê Trung Hưng đưa một bức thư ký tên Giám Quốc Sùng Nhượng Công, Lê Duy Cẩn sang xin hoãn binh với Tôn Sĩ Nghị.

Các tướng Tây Sơn mở cuộc thảo luận. Nhiều người bàn dùng phục binh đánh quân Thanh như Lê Lợi diệt tướng MinhLiễu Thăng, Lương Minh trước đây, duy Ngô Thì Nhậm chủ trương kế hoạch, nhử quân Thanh vào sâu nội địa, thủy quân rút về Biện Sơn trước, lục quân kéo vào đóng giữ núi Tam Điệp rồi báo tin vào cho Bắc Bình Vương. Chiến lược này được chấp thuận, binh sĩ các đạo đều được lệnh về hội ngay dưới cờ của Tiết Chế Ngô Văn Sở tại bờ sông Nhị vào năm hôm sau. Sở bàn kế hoạch lui quân.

Ngô Văn Sở phái tướng Phan Văn Lân đưa hơn 10 ngàn quân tinh nhuệ chốt giữ bến đò Xương Giang chặn quân Tôn Sỉ Nghị. Quân Tây Sơn vượt sông Nguyệt Đức đánh vào quân Thanh đang đóng ở núi Tam Tầng, bao vây doanh trại của Tôn Sĩ Nghị. Súng của quân Thanh và cung tên từ hai cánh tả hữu bắn ra như mưa, quân Tây Sơn chết rất nhiều. Tôn Sĩ Nghị lại phái một toán kỵ binh từ mạn thượng lưu vượt qua sông đánh úp lấy đồn Thị Cầu. Đồn này phát hỏa, Văn Lân cả sợ rút về.[14]

Lê Chiêu Thống được tin quân Tây Sơn rút khỏi các trấn, bèn điều các tướng dưới quyền đi chiếm lại những nơi đó. Giữa tháng 11 năm 1788, quân Thanh tới bờ bắc sông Thương. Quân Tây Sơn rút về bờ nam nhưng chặt phá hết cầu và lấy hết thuyền bè. Theo sách Thánh vũ ký, phần “Càn Long chinh phủ An Nam ký” của Ngụy Nguyên, quân Thanh đã tổn thất khá nhiều mới bắc được cầu qua sông do đạn của quân Tây Sơn bắn sang trước khi rút hẳn.

Quân Thanh tiến đến Thị Cầu, Phan Văn Lân đã chặt cầu và tận dụng bờ nam cao hơn bờ bắc mà bắn đại bác sang khiến quân Thanh mất 3 ngày (15 đến 17 – 11) không bắc nổi cầu. Nửa đêm 17 tháng 11, Phan Văn Lân mang một ngàn quân bản bộ theo khúc sông Cầu định tập kích trại Tôn Sĩ Nghị nhưng bị thiệt hại do hoả lực của quân Thanh bắn ra. Sau đó Văn Lân đụng độ tướng Thanh là Trương Triều LongTam Tằng. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, Quân Tây Sơn ít và yếu thế bại trận, nhiều người bị rét cóng hay chết đuối lúc vượt sông, quân Tây Sơn chết gần hết, phải rút lui.

Trong khi đó, lục quân của Ngô Văn Sở cũng rút về tới Ninh Bình cố thủ. Ngày 20 tháng 11, quân Tây Sơn đóng đồn từ Tam Điệp tới Biện Sơn, Ngô Văn Sở cho đô đốc Tuyết vào nam cấp báo với Bắc Bình vương Nguyễn Huệ.

Tôn Sĩ Nghị từ Tam Tằng tiến vào Thăng Long. Lê Duy Kỳ từ Kinh Bắc ra đón rồi cùng theo vào kinh thành. Không lâu sau, các đạo quân Vân – Quý và Điền châu cũng tiến vào hội binh. Theo các nhà nghiên cứu[12], cuộc hành quân của Tôn Sĩ Nghị từ 28/10 tới 20/11 tức là mất 22 ngày mới tới Thăng Long, lâu hơn nhiều so với thời gian 6 ngày mà Nghị từng dự liệu với Càn Long.

Ngày 21 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), thành Thăng Long bỏ ngỏ, quân của Nghị vào đóng và tướng doanh của Nghị đặt tại Tây Long Cung. Theo lời vua Thanh dặn, Sĩ Nghị lấy xong thành này rồi trao ấn cho Duy Kỳ, tấn phong làm An Nam quốc vương lấy lòng dân Đại Việt.[14]. Ngày 22, Sĩ Nghị làm lễ ở điện Kính Thiên để làm lễ sách phong cho vua Lê Chiêu Thống.

Tôn Sĩ Nghị tính chuyện truy kích Nguyễn Huệ nhưng Tôn Vĩnh Thanh tâu là Quảng Nam xa cách đô thành nhà Lê 2.000 dặm, dùng quân 1 vạn người thì phải cần 10 vạn phu vận tải, cũng bằng từ Trấn Nam Quan đến thành họ Lê.[15] Các bề tôi văn võ nhà Lê xin Nghị cho quân tiến đánh ngay quân Nguyễn Huệ nhưng Nghị không nghe, truyền cho các cánh quân hạ trại nghỉ ngơi, định ngày mồng 6 Tết mới ra quân.

Sách Cương mục viết:  “Bấy giờ hào kiệt bốn phương đua nhau trổ sức để làm việc, nhưng nhà vua chủ yếu chỉ dựa vào người Thanh. Khi chia ban quan chức, nhà vua chỉ trao cho các bầy tôi đi theo hộ giá và theo hầu ở hành tại, còn cựu thần và hào kiệt đều không được bổ dùng. Các bầy tôi cũng không ai nói đến việc ra quân để phục thù. Trong kinh và ngoài các trấn thảy đều chán nản và rời rạc. Cái cơ thành hay bại chỉ một mực tùy theo người Thanh mà thôi. Thế là việc nước không thể xoay xở được nữa”[4].

Tổ chức phòng thủ của quân Thanh: Tôn Sĩ Nghị bố trí quân Thanh đóng ở phía nam tới phía tây thành Thăng Long, cho đạo quân Lưỡng Quảng đóng hai bên bờ sông Hồng, quân Điền châu đóng ở Khương Thượng, quân Vân Quý đóng ở Sơn Tây.Theo Hoàng Lê nhất thống chíKhâm định Việt sử Thông giám Cương mục của nhà Nguyễn, quân Thanh ở Thăng Long chểnh mảng phòng thủ, thường đi cướp bóc hãm hại dân Đại Việt nên bị oán ghét. Lê Duy Kỳ thực hiện thanh trừng những người hợp tác với Tây Sơn. Theo Đại Nam thực lục, Nguyễn ÁnhGia Định nghe tin quân Thanh vào Thăng Long cũng sai Phan Văn TrọngLâm Đồ mang thư và chở 50 vạn cân gạo ra cho quân Thanh nhưng giữa đường bị bão biển, cả người và gạo đều bị đắm hết.

Tôn Sĩ Nghị lúc đầu chủ quan, nhưng sau nghe lời cảnh báo của các tướng dưới quyền Lê Duy Kỳ cũng tăng cường phòng thủ và quyết định ngày 6 tháng Giêng sẽ ra quân đánh Tây Sơn. Tôn Sỉ Nghị bố trí đồn Ngọc HồiThanh Trì (Hà Nội), đồn Hà HồiThường Tín (Hà Nội), đồn Nhật TảoDuy Tiên (Hà Nam) và đồn Nguyệt Quyết huyện Thanh Liêm (Hà Nam). Quân Cần vương của Duy Kỳ do Hoàng Phùng Tứ chỉ huy cũng được điều từ Sơn Tây xuống Gián Khẩu làm tiền đồn chặn quân Tây Sơn. Quân Thanh đồng thời cũng tụ tập thêm được các Hoa Kiều sống ở phía Bắc Đại Việt được chừng một vạn người đóng thành một trại, nhóm quân này ỷ thế đi cướp phá, và hãm hiếp không kiêng sợ gì ai[16]. Dù Tôn Sĩ Nghị có ra sắc lệnh nghiêm quân kỷ nhưng vì quân kiêu nên cũng không có tác dụng lắm[17].

Nguyễn Huệ ở Bình Sơn, Phú Xuân nhận được tin cấp báo của đô đốc Tuyết ngày 24 tháng 11. Ngay hôm sau 25 tháng 11, Nguyễn Huệ đã quyết định lên ngôi Hoàng Đế, đổi niên hiệu là Quang Trung, và ngay hôm ấy lập tức đưa quân lên đường tiến gấp ra Bắc. Đến Nghệ An, Nguyễn Huệ đóng lại hơn 10 ngày để tuyển thêm quân, cứ 3 suất đinh lấy 1 suất lính. Sau 1 thời gian ngắn, ông đã có thêm hơn hàng vạn người. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, số quân cũ và mới của Quang Trung là 10 vạn và hơn 100 voi chiến[2].  Nguyễn Huệ tuyển quân Thanh Nghệ làm đạo Trung quân cùng bốn đạo Tiền, Hậu, Tả, Hữu  của cựu binh Thuận Quảng gấp đường tiến ra Bắc.

Về thái độ của dân chúng, sử gia Nguyễn Khắc Thuần trong sách Đại cương Lịch sử cổ trung đại Việt Nam ghi thì thanh niên địa phương nô nức gia nhập hàng ngũ Tây Sơn[20] còn theo sử gia Tạ Chí Đại Trường trong sách Lịch sử nội chiến Việt Nam 1771- 1802 thì trích trong thư giáo sĩ Longer là người đương thời gởi cho Julliard cho biết quân Tây Sơn bắt lính “gay gắt đến nỗi người ta không biết trốn vào đâu để tránh quân dịch. Các kẻ sai nha đem chó theo để tìm người trong khu rừng bên cạnh như người ta tìm thú: người ta lấy dao xỉa vào các đống rơm dùng để đun nấu”[21]

Quang Trung tổ chức duyệt binh và tiến ra bắc. Ngày 20/12, Quang Trung tiến đến Tam Điệp và tán thành chủ trương rút lui của Ngô Thì Nhậm. Theo sách Lê triều dã sử, sở dĩ quân Tây Sơn hành quân nhanh chóng vì Nguyễn Huệ đã bố trí 3 người 1 tốp thay nhau 2 người cáng 1 đi suốt ngày đêm. Theo Quân doanh kỳ lược của Trần Nguyên Nhiếp (là bí thư dưới quyền Tôn Sĩ Nghị), nghe tin thám tử quân Thanh các nơi chạy về báo Nguyễn Huệ đang lấy thêm lính Thanh – Nghệ và sắp đánh ra bắc, Tôn Sĩ Nghị vội cho quân tập dượt để chuẩn bị tác chiến, sai phó tướng Hứa Thế Hanh trực tiếp chỉ huy mặt trận phía nam Thăng Long[22].

Tổ chức các hướng tấn công của quân Tây Sơn như sau:  Quang Trung chia quân làm 5 đạo tiền, hậu, tả, hữu và trung quân. Ông phân quân cũ cho các tướng còn tự mình chỉ huy số quân mới tuyển.

  1. Đạo quân do Quang Trung chỉ huy có Ngô Văn SởPhan Văn Lân làm tiên phong, có cả tượng binh và kỵ binh đánh vào chính mặt nam Thăng Long.
  2. Đạo quân do đô đốc Tuyết chỉ huy theo đường thuỷ tiến vào sông Lục Đầu, đánh đồn quân cần vương của Lê Duy KỳHải Dương, chặn đường rút của quân Thanh bên kia sông Hồng.
  3. Đạo quân đô đốc Lộc chỉ huy cùng đạo quân đô đốc Tuyết theo đường thuỷ tiến vào sông Lục Đầu, tới đây tách ra đi gấp lên Phượng Nhãn, Lạng Giang chặn đường rút của quân Thanh phía bắc.
  4. Đạo quân đô đốc Bảo chỉ huy, cũng có tượng binh và kỵ binh theo đường Ứng Hoà (Hà Tây) ra làng Đại Áng, phối hợp với cánh quân Quang Trung đánh đồn Ngọc Hồi của Hứa Thế Hanh.
  5. Đạo quân đô đốc Long chỉ huy, (có ý kiến cho rằng là tướng Đặng Tiến Đông hoặc đô đốc Mưu…[23]). Đạo quân này cũng có tượng binh và kỵ binh theo đường Chương Đức, hướng lên Sơn Tây nhưng sẽ rẽ quặt sang làng Nhân Mục tập kích đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống và tiến vào Thăng Long từ hướng tây.

Năm Kỷ Dậu (1789). Nguyễn Du 24 tuổi. Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh.

Đêm giao thừa Tết Nguyên Đán (30 Tết), từ phòng tuyến Tam Điệp, quân Tây Sơn xuất phát. Đạo quân do Quang Trung chỉ huy vượt sông Giao Thuỷ đánh đồn Gián Khẩu của quân cần vương nhà Lê. Quân Lê tan vỡ, Hoàng Phùng Tứ bỏ chạy. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, quân Quang Trung thần tốc tiến lên bắt gọn đám quân Thanh do thám và tiêu diệt các đồn bắc sông Nguyệt Quyếtđồn Nhật Tảo (Duy Tiên). Do đạo quân Tây Sơn hành quân nhanh và các đám quân do thám bị bắt, quân Thanh từ đồn Hà Hồi tới Thăng Long không biết gì về cử động của quân Tây Sơn.

Ngày 3 tháng Giêng, quân Tây Sơn tiến đến Hà Hồi cách Thăng Long khoảng 20 km. Quang Trung cho quân vây chặt đồn rồi sai bắc loa kêu gọi quân Thanh đầu hàng. Quân Thanh bị bất ngờ trước sự áp sát quá nhanh của quân Tây Sơn, không kịp kháng cự, đều ra hàng.

Ngày 4 tháng Giêng, Quang Trung tiến đến đồn Ngọc Hồi. Hứa Thế Hanh ở đây nghe tin đồn Hà Hồi bị diệt vội báo về Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị vội điều Thang Hùng Nghiệp mang quân ra tăng viện, lại đặc sai 20 kỵ binh phải thay nhau chạy đi chạy lại báo cáo tình hình.

Nhưng khi tiến quân tới Ngọc Hồi, Quang Trung không đánh ngay. Quân Thanh bị động cũng không dám giao tranh trước nhưng cũng không biết bị đánh khi nào. Cả ngày mùng 4, Quang Trung chỉ cho quân hư trương thanh thế để uy hiếp tinh thần quân Thanh và gây sự chú ý của quân Thanh tới đạo quân do ông chỉ huy vào mặt trận Ngọc Hồi để tạo điều kiện cho yếu tố bất ngờ của các đạo quân đô đốc Long và đô đốc Bảo. Chính Tôn Sĩ Nghị nghe báo cáo của kỵ binh cũng bị hút vào đồn Ngọc Hồi mà không nhận ra nguy cơ từ cánh quân của đô đốc Long.

Khi Quang Trung diễu võ ngoài đồn Ngọc Hồi, đô đốc Long đang trên đường bắc tiến hướng đến Sơn Tây – nơi có đạo quân Vân Quý của Ô Đại Kinh – thì bất thần rẽ sang làng Nhân Mục nay thuộc xã Nhân ChínhKhương Đình và nửa đêm bất ngờ tập kích đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống.

Theo Thánh vũ ký của Nguỵ Nguyên, các đội voi của Tây Sơn đều có đại bác trên lưng nã vào đồn. Quân Thanh bị đánh bất ngờ trong đêm tối, chết rất nhiều, tan vỡ bỏ chạy. Sầm Nghi Đống thấy không thể giữ được đồn bèn tự sát trên đài chỉ huy ở Loa Sơn (Khu vực phố chùa Bộc – Hà Nội hiện nay)[24].

Một số tài liệu mới mà giới nghiên cứu đưa ra gần đây lại cho thông tin khác về diễn biến trận diệt đồn Khương Thượng. Theo đó, khi quân Thanh bị diệt đáng kể, Sầm Nghi Đống bỏ chạy lên cố thủ tại đài chỉ huy ở Loa Sơn. Đô đốc Long chia quân làm hai cánh,  một cánh đánh sang Nam Đồng để tiến vào Thăng Long, một ít quân tiếp tục vây hãm Loa Sơn. Sầm Nghi Đống không tự vẫn ngay mà cố thủ trên đài chờ cứu viện của Tôn Sĩ Nghị, nhưng tới ngày hôm sau không có quân cứu, Sầm mới tuyệt vọng và thắt cổ tự sát[25]. Khu vực Khương Thượng và xung quanh, do xác quân Thanh chết quá nhiều, sau chất thành 12 gò cao, có đa mọc um tùm gọi là Gò Đống Đa. Trận diệt đồn Khương Thượng cũng còn gọi là trận Đống Đa.

Hạ xong đồn Khương Thượng, ngay trong đêm mùng 4, đô đốc Long tiến vào bắn phá đồn Nam Đồng ở phía tây thành Thăng Long. Khi Tôn Sĩ Nghị nhận được tin báo việc đồn Khương Thượng thất thủ thì đô đốc Long đã diệt xong đồn Nam Đồng và tiến vào đánh bản doanh của Nghị ở Thăng Long.

Tôn Sĩ Nghị vội vàng tháo chạy. Các tài liệu cũ đều mô tả cảnh hỗn loạn của quân Thanh. Hoàng Lê nhất thống chí viết:

“Nghị lên ngựa không kịp đóng yên, quân sĩ các doanh nghe tin đều hoảng hốt tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô nhau rơi xuống nước mà chết… Lát sau cầu lại đứt, quân lính bị rơi xuống nước, sông Nhị Hà bị tắc không chảy được…”

Đại Nam chính biên liệt truyện viết:

“Tôn Sĩ Nghị đóng trên bãi cát, được tin bại trận vội vàng cưỡi ngựa một mình chạy về bắc. Tướng sĩ thấy vậy tranh nhau qua cầu mà chạy, cầu đứt, lăn cả xuống sông, chết đến vài vạn người, làm cho nước sông không chảy được.”

Theo Thánh vũ ký của Ngụỵ Nguyên nhà Thanh:

“Sĩ Nghị chạy trốn qua được bờ bắc sông Phú Lương (Tức sông Hồng) liền cắt đứt cầu phao khiến các đạo quân của Hứa Thế Hanh và Trương Triều Long bị bỏ lại ở bờ nam. Do đó hơn 1 vạn người vừa tướng vừa quân xô nhau nhảy xuống sông để bơi sang bờ bắc và đều bị chết đuối cả”[26],[27].

Lê Duy Kỳ được tin Sĩ Nghị đã bỏ chạy, vội dắt gia quyến chạy theo, ra đến bờ sông thì cầu đã gãy, phải men theo bờ sông phía Nghi Tàm, lấy được chiếc thuyền đánh cá chèo sang được bên kia sông Hồng. Em Duy Kỳ là Duy Chi được sai giữ cửa ô Yên Hoa (Tức Yên Phụ ngày nay) thấy Duy Kỳ đã chạy, cũng bỏ chạy lên Tuyên Quang.

Đạo quân Vân Nam – Quý châu của tướng Ô Đại Kinh đóng ở Sơn Tây, theo Thánh vũ ký, được tin các đồn thất thủ, không giao chiến trận nào đã bỏ chạy, nhờ tướng người ViệtHoàng Văn Đồng dẫn đường chạy về Trung Quốc.

Chiều mồng 5 tết (tức 30 tháng 1 năm 1789[30]), Quang Trung và đô đốc Bảo tiến vào Thăng Long trong sự chào đón của nhân dân, đô đốc Long ra đón rước vào thành. Đại Nam chính biên liệt truyện mô tả, áo bào của Quang Trung sạm màu khói súng.

Tôn Sĩ Nghị trên đường tháo chạy, bị hai cánh quân Tây Sơn của đô đốc Tuyết và đô đốc Lộc chặn đánh ở Hải Dương và Phượng Nhãn, tơi tả chạy về, bỏ lại cả quân ấn, kỳ bài, sắc thư. Trần Nguyên Nhiếp là bí thư dưới quyền Nghị sau này mô tả: Sĩ Nghị cùng Nguyên Nhiếp đi lạc lối, quanh co nhiều chỗ, bị đói khát 7 ngày đêm mới tới ải Nam Quan. Theo giáo sĩ De la Bissachere ở Việt Nam khi đó, số quân Thanh kịp theo Nghị qua bên kia biên giới chỉ có khoảng 50 người.

Lê Duy Kỳ vội chạy theo Nghị thoát sang bên kia biên giới. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, quân Tây Sơn đuổi theo và rao lên rằng sẽ đuổi qua biên giới đến khi bắt được Nghị và Duy Kỳ mới thôi. Bởi thế dân Trung Quốc ở biên giới dắt nhau chạy làm cho suốt vài chục dặm không có người. Như vậy sớm hơn dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày, quân Tây Sơn đã đánh tan quân Thanh. Cánh quân Điền châu gần như bị diệt hoàn toàn, cánh quân Lưỡng Quảng chủ lực bị thương vong nặng và tan rã gần hết, riêng quân Vân Nam – Quý châu không giao chiến mà rút êm về nước. Quang Trung đã hẹn với ba quân mồng 7 vào ăn tết ở Thăng Long nhưng chỉ đến mồng 5, quân Tây Sơn đã khải hoàn ở kinh thành.

Theo các nhà nghiên cứu Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, chiến thuật kết hợp vừa gấp gáp vừa thư thả, giương đông kích tây, tránh chỗ mạnh nhằm chỗ yếu hơn ở Ngọc Hồi – Khương Thượng đã đạt đến đỉnh cao trong nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ[37]. Trong 3 đạo quân Thanh, cánh quân đông đảo nhất, mạnh nhất là của Tôn Sĩ Nghị và cánh quân ít nhất, yếu nhất chính là quân Điền châu của Sầm Nghi Đống. Quang Trung đã chọn mục tiêu đánh vào quân Điền châu vừa yếu nhất lại vừa dùng kỳ binh đánh bất ngờ, vào thời điểm nửa đêm nên khả năng chiến thắng rất cao. Xét trên toàn cục, với lực lượng ít hơn, quân Tây Sơn (10 vạn) thực tế chỉ đương đầu với khoảng già nửa số quân Thanh sang Đại Việt nên lực lượng tương đối cân bằng. Quang Trung đã không dàn lực lượng tác chiến cùng lúc với tất cả các cánh quân Thanh (không đụng quân Vân Quý của Ô Đại Kinh) mà vẫn có chiến thắng lớn trên toàn mặt trận, đuổi được quân Thanh ra khỏi bờ cõi.

Nguyễn Huệ ngay sau chiến thắng Kỷ Dậu 1789, đã cho ngựa chiến ruổi nhanh vào kinh thành Phú Xuân báo tiệp cho Hoàng Hậu Lê Thị Ngọc Hân:

Đại phá quân Thanh gò chất xác
Đào ươm nghìn nụ hé môi say
Nhớ người tiễn rượu đêm ra trận
Tin đẹp lồng hoa gửi tặng đây

Kế đó, ông phái quân truy sát đuổi dài lực lượng chống đối, thực hiện các phương lược ngoại giao với nhà Thanh để được phong làm quốc vương, chính danh phận ở Bắc Hà, xây dựng thiết chế cai trị ổn định cho nhà Tây Sơn, sau đó trao lại binh quyền cho Ngô Văn SởNgô Thì Nhậm để trở lại Phú Xuân lo việc diệt Nguyễn Ánh.

Vua Quang Trung khi truy kích quân Thanh  đã bắt được chiếu thư Càn Long gửi Tôn Sĩ Nghị có đoạn viết: “…việc quân nên từ đồ, không nên hấp tấp. Hãy nên đưa hịch truyền thanh thế đi trước, và cho các quan nhà Lê về nước cũ hợp nghĩa binh, tìm Tự quân nhà Lê đem ra đứng đầu để đối địch với Nguyễn Huệ thử xem sự thể thế nào. Nếu lòng người nước Nam còn nhớ nhà Lê, có quân ta kéo đến ai chẳng gắng sức. Nguyễn Huệ tất phải tháo lui. Ta nhân dịp ấy mà sai Tự quân đuổi theo rồi đại binh của ta theo sau, như thế không khó nhọc mấy mà nên được công to. Đó là mẹo hay hơn cả. Ví bằng suốt người trong nước nửa theo đằng nọ, nửa theo đằng kia, thì Nguyễn Huệ tất không chịu lui. Vậy ta hãy đưa thư sang bảo đường họa phúc, xem nó đối đáp làm sao. Đợi khi nào thủy quân ở Mân (Phúc Kiến), Quảng đi đường bể sang Thuận HóaQuảng Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau thụ địch thế tất phải chịu. Bấy giờ ta sẽ nhân mà làm ơn cho cả hai bên: Tự đất Thuận Hóa, Quảng Nam trở vào Nam thì cho Nguyễn Huệ; tự châu Hoan, châu Ái trở ra Bắc thì phong cho Tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh lại để kiềm chế cả hai bên, rồi sẽ có xử trí về sau.”

Quang Trung từ trước khi giao chiến, đã tính trước kế sách ngoại giao với nhà Thanh.  Lúc Tôn Sĩ Nghị rêu rao “Ai bắt sống được Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đem nộp sẽ được công đầu” lúc sắp kéo quân sang Đại Việt, thì Ngô Văn Sở tướng Tây Sơn đã sai Nguyễn Nha  đưa thư ký tên Sùng nhượng công Lê Duy Cẩn đến Tôn Sĩ Nghị xin hoãn binh, với những lời lẽ thật mềm dẻo, nhưng lại có những cảnh báo cho quân Thanh thấy rằng nếu đem quân vào, nhân dân Đại Việt đã thực hiện vườn không nhà trống; quân đội thì sẵn sàng và kiên quyết đánh giặc, được thể hiện ở những câu sau: “…Hiện nay, trong nước tôi đột nhiên nghe tin quân Thiên triều sắp qua cửa ải…Lính thì sợ vướng víu vào nghịch án, nên họ bảo nhau rằng: “Không đánh lại thì bị giết sạch!” Dân thì sợ không lấy gì cung ứng cho quân lương, nên họ bảo nhau rằng: “Không trốn tránh thì bị chết hết!” Vì thế, quân các đạo đều tranh nhau đến nơi đồn lũy, dân các xứ đều xô nhau tìm vào nơi núi rừng…” Nhưng Tôn Sĩ Nghị, bác bỏ thư của Ngô Văn Sở, rồi cứ cho quân vượt trấn Nam Quan vào Đại Việt.

Tôn Sĩ Nghị lúc đã vào thành Thăng Long thì vua Quang Trung lại sai Trần Danh Bính dẫn đầu một sứ bộ gồm 18 người đến Thăng Long đưa cho Tôn Sĩ Nghị ba đạo bẩm văn: Một đạo nhân danh giám quốc Lê Duy Cẩn, một đạo nhân danh quần thần văn võ, một đạo nhân danh nhân dân xin Tôn Sĩ Nghị đóng quân ở trấn Nam Quan để tra xét nội tình nhà Lê và Tây Sơn từ trước đến giờ. Vua Quang Trung còn đem nộp cho Tôn Sĩ Nghị những tuần dương binh là nhóm Hắc Thiên Tôn gồm 40 người do Ngô Hồng Chấn, tướng Tây Sơn, bắt được từ trước.[10] Nhưng Tôn Sĩ Nghị xem bẩm văn liền xé phăng ngay đi, rồi sai đem bọn Trần Danh Bính ra giết. Sau đó, Tôn Sĩ Nghị cho truyền hịch đi các nơi kể tội quân Tây Sơn, báo cho mọi người biết, quân Thanh sẽ đánh thẳng vào Quảng Nam bắt sống “bọn Nguyễn Huệ” mới thôi.[11][12]

Vua Càn Long sau thất bại nặng nề của nhà Thanh trong chiến tranh với Tây Sơn đã sai danh tướng Phúc Khang An thay thế Tôn Sĩ Nghị làm Tổng đốc Lưỡng Quảng được giao quyền tùy cơ hành xử và điều động thêm 50 vạn quân để ứng chiến vùng biên giới nhằm hư trương thanh thế. Phúc Khang An nguyên là đặc sứ phụ trách hậu cần cho đội quân của Tôn Sĩ Nghị là người mà vua Càn Long đặc biệt yêu quý và tin cẩn, dân gian cho rằng đó là con ngoài giá thú của vua với em gái của Hoàng Hậu.

Năm 1789, kho vàng tại tu viện Mật Tông ở Tây Tạng đang là điểm quan tâm lớn nhất của vua Càn Long đang bị quân Khuếch Nhĩ Khách Mông Cổ dòm ngó chuẩn bị tấn công. Vua Càn Long đã 78 tuổi có tính toán riêng về người kế vị là Hoàng tử Gia Khánh và phúc tướng Phúc Khang An nên việc cơ mật này không thể ai khác chính phải là Phúc Kháng An đảm nhiệm. Lưỡng Quảng và Đại Việt cũng cần sớm an định vì điểm nóng Cam Túc đang làm vua Thanh rất lo nghĩ, trong khi Nguyễn Huệ anh dũng thiện chiến không thể xem thường nên vua Càn Long lựa ý vỗ về hơn là đem binh thảo phạt.

Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp sớm biết tình thế nên đã đón ý hoặc phân vai mật trao đổi với Tây Sơn. Nguyễn Huệ thấy rõ chỗ yếu của quân Thanh và biết họ đang tìm cách để giảng hòa, trong khi ông cũng đang bận tâm xử lý phía Nam. Do vậy sau khi Nguyễn Huệ thắng trận đã sai mang nhiều vàng bạc hối lộ Phúc Khang An và Tả giang Binh bị đạo Thang Hùng Nghiệp để nghị hòa và cho cháu là Nguyễn Quang Hiển lên cửa ải Nam Quan cầu phong và xin cho Nguyễn Huệ được về Bắc Kinh triều kiến Càn Long. Mưu mẹo này thông đồng giữa hai bên với sự thách giá trả giá bên trong và cách qua mặt vua Lê Chiêu Thống cùng số cựu thần nhà Lê và hợp lý hóa trong chính sử xin xem kỹ bài viết “Ngoại giao Việt Nam thời Tây Sơn” là tư liệu quý.

Lê Chiêu Thống lại tiếp tục xin nhà Thanh cho quân cứu viện. Nhà Thanh, phần sợ Quang Trung, phần đã ngán ngẩm việc chinh chiến, chỉ hứa hão với Chiêu Thống mà không cho quân. Thân vương nhà Thanh là Phúc Khang An hứa giúp quân cho Chiêu Thống, nhưng lại tâu với vua Thanh Càn Long rằng Chiêu Thống không còn muốn trở về. Phúc Khang An đã được hưởng lợi từ Tây Sơn và nhận rõ tình thế, nên đã dâng biểu xin hoàng đế Càn Long bãi binh, đồng thời ông cũng chỉ thị cho Thang Hùng Nghiệp gửi mật thư cho Quang Trung gợi ý nên hoà hiếu, tránh binh đao và lập các mẹo mực bang giao để giữ thể diện cho vua Càn Long mà tránh được chiến tranh.

Thư ngoại giao “Trần tình biểu” của vua Quang Trung lúc đầu khá cứng rắn nhưng với sự mưu kế của Thang Hùng Nghiệp nên đã nhẹ đi rất nhiều (5). Tây Sơn theo phương lược vạch sẵn, với tài ngoại giao khéo léo của Ngô Thì Nhậm, đã nhanh chóng bình thường hóa bang giao với phương Bắc.

Nhà Thanh đồng ý hủy bỏ việc động binh để trả thù, và tiếp nhận sứ thần của Tây Sơn. Vua Quang Trung phải dâng biểu “Nộp lòng thành”, nộp cống phẩm. Nhà Thanh đã chịu chấm dứt chiến tranh, nhưng vẫn chưa chịu thừa nhận Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương. Phúc Khang An viết cho vua Quang Trung một bức thư dài báo cho vua Quang Trung biết là vua Càn Long đã ban cho Quang Trung một chuỗi hạt trai, “Ơn trời cao đất dày đến thế là tốt lắm” lại báo cho vua Quang Trung biết rằng: bọn Lê Duy Kỳ đã bị róc tóc, mặc quần áo kiểu người Thanh, đã bị đưa đi an trí ở “ngoại biên” “quyết không cho về nước nữa”. Rồi sau đó Phúc Khang An đòi Tây Sơn phải làm miếu thờ Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Đống. Lại cho biết là khoảng tháng bảy, tháng tám năm Canh Tuất (1790) nhà Thanh sẽ làm lễ bát tuần vạn thọ vua Càn Long “Có hàng vạn nước vượt biển trèo non đem ngọc xe lễ vật đến chầu“. Phúc Khang An yêu cầu vua Quang Trung đến ngày đó cũng phải “chỉnh trang” sang chầu, và như thế phải khởi hành vào tháng tư năm Canh Tuất (1790) Đáng chú ý là sau đó, vua Càn Long xuống chỉ cho vua Quang Trung đại ý nói: do quân Thanh vượt biên giới đến Thăng Long, Nguyễn Huệ phải đem quân ra để hỏi Lê Duy Kỳ vì cớ gì cầu cứu thiên binh; vì bị quân Thanh đánh, quân Tây Sơn bất đắc dĩ phải đánh lại; gặp lúc cầu phao đứt, nên quân Thanh bị chết hại nhiều. Trong tờ chỉ Càn Long còn nhận rằng Nguyễn Huệ đã bắt và giết hết những người đã giết Hứa Thế Hanh và Sầm Nghi Đống. Ông còn cho rằng khi quân Thanh vào Thăng Long, ông đã ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị rút quân về nước, vì Sĩ Nghị không tuân lệnh, cho nên có trận đại bại vào đầu năm Kỷ Dậu. Ông lại đòi lập đền thờ Hứa Thế Hanh và Sầm Nghi Đống, và đòi vua Quang Trung phải đích thân sang Yên Kinh triều cận vào dịp Càn Long làm lễ bát tuần vạn thọ năm Canh Tuất. Ông lại nhắc rằng “Lê Duy Kỳ hèn lười, không tài, bỏ ấn trốn đi, chiểu theo pháp luật của Thiên triều phải tội nặng; rằng ông quyết an trí bọn chúng ở Quế Lâm, không bao giờ cho về nước nữa; rằng ông đã ra lệnh cho Phúc Khang An đưa phái đoàn Nguyễn Quang Hiển đến xem chỗ bọn Lê Duy Kỳ ở”.[17][18] Nhưng rồi vua Quang Trung viện cớ là mình chưa được phong vương, sợ có điều bất tiện khi gặp các vị quốc vương các nước ở Yên Kinh. Thế là Càn Long đành phải phong cho Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương để có điều kiện đến Yên Kinh triều cận một cách đàng hoàng.  Vua Càn Long qua Phúc Khang An lại ra điều kiện đòi triều Tây Sơn phải đúc người vàng đem cống như các triều đại trước. Ngô Thì Nhậm đã viết cho Phúc Khang An bức thư, trong đó có đoạn: “Quốc trưởng nước tôi vùng lên từ thủa áo vải, nhân thời biết việc, đối với vua Lê vốn không có danh phận vua tôi. Mất hay còn là do số trời; theo hay bỏ là do lòng người. Quốc trưởng tôi có ý cướp ngôi của nhà Lê đâu mà lại coi như kẻ thoán đoạt. Trước đây Tôn bộ đường đem quân đến, quốc trưởng nước tôi bất đắc dĩ phải đem quân ra ứng chiến, không hề có ý xâm phạm biên cảnh để mang tội. Nay đại nhân theo lệ cũ của Trần, Lê, Mạc bắt cống người vàng, như vậy chẳng hóa ra quốc trưởng nước tôi được nước một cách quang minh chính đại mà lại bị coi như hạng ngụy Mạc hay sao? Như thế thì tấm lòng kính thuận sợ trời thờ nước lớn cũng bị coi như việc nhà Trần bắt Ô Mã Nhi, nhà Lê giết Liễu Thăng hay sao?…Mong đại nhân noi theo mệnh lớn, miễn cho nước tôi lệ đúc người vàng để tiến cống…” Nguyễn Huệ trong thư này đã nói rõ rằng các vua Việt Nam thời trước sở dĩ phải cống người vàng là để chuộc một tội lỗi nào đó đối với Thiên triều còn Nguyễn Huệ tự coi không có tội gì với nhà Lê và cũng không có tội gì với nhà Thanh nên Tây Sơn không thể đúc người vàng để tiến cống.

Tháng 7 năm 1789, Càn Long ra chỉ dụ phong Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương.

Năm Canh Tuất (1790). Nguyễn Du 25 tuổi. Tháng 1 năm 1790, Hoàng đế Quang Trung giả (do Phạm Công Trị, cháu gọi Nguyễn Huệ bằng cậu đóng) đã sang triều kiến và dự lễ mừng thọ 80 tuổi của vua Càn Long. Đoàn sứ bộ Tây Sơn gồm 159 người có giả vương Nguyễn Huệ và Nguyễn Quang Thùy (mà vua Càn Long tưởng là hoàng thái tử của Nguyễn Huệ). Mục đích khác của đoàn sứ là thăm dò thái độ của nhà Thanh đối với vị vua lưu vong Chiêu Thống của nhà Lê. Đại quan nhà Thanh là Phúc Khang An, từng sang chiến trường Đại Việt, đứng sau lưng đoàn sứ bộ, nên nhiều tướng lĩnh nhà Thanh biết người cầm đầu sứ bộ không phải Nguyễn Huệ, nhưng ngại gây hấn nên không nói ra.

Sứ thần Tây Sơn đi đợt đó có Ngô Văn SởPhan Huy Ích (thượng thư, nhà ngoại giao, quê Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh,  tiền bối của nhà sử học Phan Huy Lê, giáo sư nhà giáo nhân dân, là một trong những chuyên gia hàng đầu về lịch sử Việt Nam hiện đại, người có ảnh hưởng lớn đến chính sử hiện tại trong sự đánh giá nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn), Vũ Huy Tấn ( Thị lang bộ Công, tước , sau khi đi sứ về ông được phong làm Thượng thư bộ Công, tước Hạo Trạch hầu. Dưới triều Cảnh Thịnh, ông được đặc cách lên hàng Thượng trụ quốc, Thị trung đãi chiếu Thượng thư). Sứ đoàn Tây Sơn lần đó cũng có Nguyễn Nể là anh cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du và  Đoàn Nguyễn Tuấn là anh vợ Nguyễn Du. Dọc đường đi, đoàn sứ giả có gặp hành tung của một số người họ Nguyễn ở Quảng Tây và sau đó cùng đi lên Yên Kinh. Người đời sau ngờ rằng đó chính là Nguyễn Du và Hà Mỗ.

Đoàn sứ thần Tây Sơn có giả vương Nguyễn Huệ làm thế nào để che mắt sứ đoàn vua Lê Chiêu Thống hiển nhiên có mặt ?. Phúc Khang An đã ngầm thông đồng mưu kế với Tây Sơn: “Tìm một người diện mạo giống quốc vương đi thay. Việc này chỉ có Công gia, Thang đại nhân, Vương đại nhân và ta là bốn người biết mà thôi. Nếu sợ Lê Duy Kỳ biết, ta bẩm ngay với Công gia đem 1000 người bọn ấy giữ kỹ không cho ra ngoài, còn ai biết được nữa”. (theo Bang giao tập, ngoại giao nhà Tây Sơn).

Mưu lược ngoại giao của nhà Tây Sơn mua chuộc Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp qua các chứng cứ của Phan Huy Ích và Bang giao tập, với tình thế nhà Thanh đang rất chú tâm đến Tây Tạng, Cam Túc và chuyển giao ngai vàng. Phúc Khang An cần nhanh chóng lập được đại công quản lý Lưỡng Quảng và vỗ yên Đại Việt để tính toán vị thế đối trọng danh chính ngôn thuận với ngôi vua mà vua Càn Long cần phải chuyển giao cho Gia Khánh đang đến rất gần. Điều này đã ảnh hưởng sâu sắc tới kế sách, thái độ của vua Càn Long và Phúc Khang An đối với Lê Duy Kỳ.Vua Càn Long đã đón tiếp trọng thể đoàn sứ bộ An Nam của nhà Tây Sơn là có lý do ẩn ý riêng. Theo “Đại Thanh thực lục”, nhà Thanh chi phí cho sứ đoàn mỗi ngày hết 4.000 lạng bạc (tổng cộng lên đến 800.000 tính cho tới khi sứ đoàn về).[55] Ngày 11 tháng 7 năm Canh Tuất, vua Càn Long tiếp “vua” Tây Sơn ở hàng cung Nhiệt Hà, Càn Long tặng “Vua” Tây Sơn một bài thơ như sau:

Nguyên văn chữ Hán:

瀛藩入祝值時巡
初見渾如舊識親
伊古未聞來像國
勝朝往事鄙金人
九經柔遠只重澤
嘉會於今勉體仁
武偃文修順天道
大清祚永萬千春
Phiên âm Hán Việt:Doanh phiên nhập chúc trị thì tuần
Sơ kiến hồn như cựu thức thân
Y cổ vị văn lai Tượng quốc
Thắng triều vãng sự bỉ kim nhân
Cửu kinh nhu viễn chi trùng dịch
Gia hội ư kim miễn thể nhân
Vũ yển văn tu thuận thiên đạo
Đại Thanh tộ vĩnh vạn thiên xuân.
Tạm dịch là:Nước phiên đến lúc ta đi tuần
Mới gặp mà như đã rất thân
Nước Tượng chưa từng nghe triều cận
Việc cống người vàng thật đáng khinh
Nhà Thanh coi trọng việc đi sứ
Chín đạo thường có đạo vỗ yên
Xếp võ tu văn thuận thiên đạo
Đại Thanh còn mãi vạn ngàn xuân.[56]

Tới tháng 11 năm 1790, đoàn sứ bộ nhà Tây Sơn trở về Thăng Long. Trên đường về đoàn vẫn được tiếp đón long trọng hệt như lúc đi. Phan Huy Ích có ghi lại trong Tinh sà kỷ hành của ông như sau: Chuyến đi này được nhà vua (Càn Long) đặc cách cho quan Tổng đốc đi bạn tống. Thuyền, xe, cờ, quạt quáng cả mắt người ta. Đi đến đâu quan lại phải bôn tẩu đón tiếp đến đó. Mùa thu đến hành cung ở Nhiệt Hà, lại được theo xa giá về Yên Kinh, đi Tây Uyển. Luôn luôn tiến yến hàng tuần, được ơn trời âu yếm, ưu đãi khác thường. Từ trước đến giờ, người mình đi sứ Trung Quốc chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế.

Sách Bang giao tập viết: “Đại Hoàng đế sợ Duy Kỳ ở Quảng Tây còn có nhiều bầy tôi cũ gây ra việc, cho nên ngày 16 tháng giêng năm Canh Tuất đã cho đem gia quyến Lê Duy Kỳ lên Yên Kinh, đem 116 người tùy tùng đi an trí ở các tỉnh Triết Giang, Giang Nam, Tứ Xuyên, Hồ Quảng. Lê Quýnh bị đưa đi Ỷ Lệ cách Yên Kinh 40000 dặm”. Nhà Thanh sai phân tán các quan lại cũ của nhà Lê đi các nơi để tách biệt không liên lạc được với nhau và cô lập Lê Duy Kỳ.  Bản thân Lê Duy Kỳ bị giam lỏng ở “Tây An Nam dinh” tại Yên Kinh . Nhà Tây Sơn chính thức nhận được sự công nhận của nhà Thanh.

Lê Quý Kỳ và các cựu thần nhà Lê có đối sách ngoại giao gì? sách Cương mục viết: “Nhà vua căm giận vì bị người Thanh lừa gạt, bèn cùng các bầy tôi là bọn Phạm Như Tùng, Hoàng Ích Hiểu, Lê Hân, Nguyễn Quốc Đống, Nguyễn Viết Triệu, Lê Quý Thích, Nguyễn Đình Miên, Lê Văn Trương, Lê Tùng và Lê Thức mười người uống máu ăn thề, làm bài biểu định đưa lên vua Thanh để xin quân cứu viện, nếu không được thì xin được đất hai châu Tuyên QuangThái Nguyên để quay về giữ việc thờ cúng tổ tiên hay là cùng nhau lén về Gia Định, nương nhờ triều ta (triều Nguyễn) để dần dà toan tính việc khôi phục, chứ quyết không chịu sống thừa ở đất Bắc.”

Năm Tân Hợi (1791). Nguyễn Du 26 tuổi.  Lê Duy Kỳ thấy không thể mong chờ viện binh của quân Thanh nên đã trở về chiếm đất Tuyên Quang, Cao Bằng dựa vào thế lực của tù trưởng Nùng Phúc Tấn, Hoàng Văn Đồng, liên kết với Trình Cao, Quy Hợp, các vùng Trấn Ninh của Vạn Tượng mưu đánh Nghệ An.  Nguyễn Huệ sai trấn tướng Nguyễn Quang Diệu và đô đốc Nguyễn Văn Uyển đem năm nghìn tinh binh theo đường thượng lộ Nghệ An tiến đánh chiếm được Trấn Ninh, diệt Trịnh Cao, Quy Hợp. Vua nước Vạn Tượng phải bỏ thành mà chạy. Quang Diệu thừa thắng đuổi dài đến tận Xiêm La, chém tướng Vạn Tượng là tả súy Phan Dung và hữu súy Phan Siêu, sau đó kéo quân về Bảo Lộc. Nùng Phúc Tấn và Hoàng Văn Đồng thế cùng không chống đỡ nổi đều bị quân Quang Diệu giết chết. Nguyễn Quýnh em Nguyễn Du quay trở về Hồng Lĩnh khởi nghĩa bị bắt và bị giết năm 1791 tròn 30 tuổi, dinh thự và làng Tiên Điền bị đốt sạch. Vua Lê Chiêu Thống cô thế với các cựu thần trung thành lại phải về Yên Kinh.

Nguyễn Huệ sau khi đã được nhà Thanh phong làm An Nam quốc vương và truy sát đuổi dài tận diệt những mầm mống hồi phục nhà Lê và các cựu thần nhà Lê ứng nghĩa, đã đặt thể chế Hoàng Đế, lập Lê Thị Ngọc Hân làm Bắc Chính cung Hoàng hậu, phong con trưởng là Nguyễn Quan Toản làm thái tử, chọn Nghệ An làm thủ đô với tên Phượng Hoàng trung đô, đắp thành đất ở núi Kỳ Lân, dựng lầu điện, chia cả nước thành các trấn để cai trị, định quan danh, làm sổ ba tịch đinh điền, phát thẻ tín lệnh (tương tự CMND ngày nay) để quan lý hộ tịch hộ khẩu. Về đối ngoại xin mở cửa ải hải quan giao thương với nhà Thanh ở Cao Bằng, Lạng Sơn để dân hai nước họp chợ thông thương, lại xin đặt phái bộ đại diện ở phủ Nam Ninh trong nội địa Trung Quốc, xin cưới công chúa nhà Thanh. Tất cả những điều Nguyễn Huệ đề đạt với vua Càn Long đều được vua Càn Long đồng ý.

Quang Trung chia vùng cai quản thuộc đất nhà Lê cũ thành các xứ (trấn) như sau:

  1. Xứ Đông (Hải Dương)
  2. Xứ Bắc (Kinh Bắc)
  3. Xứ Đoài (Sơn Tây)
  4. Xứ Yên Quảng
  5. Xứ Lạng (Lạng Sơn)
  6. Xứ Thái (Thái Nguyên)
  7. Xứ Tuyên (Tuyên Quang)
  8. Xứ Hưng (Hưng Hóa)
  9. Xứ Nghệ (Nghệ AnHà Tĩnh)
  10. Sơn Nam Thượng (Hà ĐôngHà Nam)
  11. Sơn Nam Hạ (Nam ĐịnhThái Bình)
  12. Thanh Hóa ngoại (Ninh Bình)
  13. Thanh Hóa nội (Thanh Hóa).
  14. Thuận Hóa
  15. Quảng Nam

Thuận Hóa là đất căn bản khởi nghiệp của Nguyễn Huệ được vua anh Nguyễn Nhạc phong Bắc Bình Vương cho vua em trước đây. Quảng Nam là đất Nguyễn Huệ chiếm thêm của Nguyễn Nhạc khi hai anh em bất hòa năm 1786-1788 (dẫn đến giết hại tướng giỏi của nhau Nguyễn Nhạc giết công thần Nguyễn Thung năm 1787, Nguyễn Huệ giết danh tướng Vũ Văn Nhậm năm 1788 Nguyễn Lữ chán nản và lo sợ Phạm Văn Tham phản trắc nên tự ý bỏ Gia Định trở về Quy Nhơn).  Vùng Bắc Hà (đàng Ngoài cũ) vua Quang Trung tổ chức lại các xứ đều đại thể giữ nguyên như thời Hậu Lê trừ xứ Sơn Nam và Thanh Hóa ra tách làm hai. Trước kia Phố Hiến là lỵ sở của Sơn Nam, tới thời Quang Trung thì Hạ Trấn đóng ở Vị Hoàng, cách dưới phố Hiến. Trong các trấn trên thì các trấn Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên và Yên Quảng là ngoại trấn; các trấn Thanh Hóa ngoại, Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Kinh Bắc, Hải Dương và Phụng Thiên là nội trấn. Mỗi xứ (trấn) chia làm nhiều phủ, mỗi phủ chia làm nhiều huyện, mỗi huyện chia làm nhiều tổng, mỗi tổng chia làm nhiều xã, mỗi xã lại chia nhiều thôn. Thành Thăng Long gồm 1 phủ, 2 huyện, 18 phường.

Vua Quang Trung tổ chức máy hành chính gồm: Tam công, Tam thiếu, Đại chủng tể, Đại Tư đồ, Đại Tư khấu, Đại Tư mã, Đại Tư không, Đại Tư Lệ, Thái úy, Ngự úy, Đại Tổng quản, Đại Đô hộ, Đại đô đốc, Đô đốc, Nội hầu, Hộ giá, Điểm kiểm, Chỉ huy sứ, Đô ty, Đô úy, Trung úy, Vệ Úy, Tham đốc, Tham lĩnh, Trung Thư lệnh, Phụng Chính, Thị Trung đại học sĩ, Hiệp biện đại học sĩ, Lục Bộ Thượng thư, Tả – Hữu đồng nghi, Tả – Hữu phụng nghi, Thị Lang, Tư vụ, Hàn Lâm… Mỗi trấn đặt một trấn thủ về hàng võ và một hiệp trấn về hàng văn. Mỗi huyện đặt một văn phân tri, một võ phân suất, một tả quản lý và một hữu quản lý. Công việc của quan văn là trưng đốc binh lương, xét xử từ tụng. Phận sự của quan võ là coi quản và thao diễn quân lính từ Đạo đến Cơ, từ Cơ đến Đội. Trong các xã, thôn thì có xã trưởng, thôn trưởng. Hàng tổng thì đặt Tổng trưởng (như chức Chánh Tổng về sau) để giữ việc hành chính trong một tổng. Ông đồng thời cũng cho soạn một bộ luật tên là “Hình luật thư”, nhưng chưa xong thì ông đột ngột mất nên mãi không hoàn thành.

Về xây dựng bộ máy hành chính, bổ nhiệm quan lại, thu hút nhân tài và giáo dục đào tạo, Quang Trung rất chú trọng thu dụng các nhân tài từng phục vụ nhà Lê. Ông ban “Chiếu cầu hiền” có đoạn: “Trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng thấy đến. Hay Trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự?… Trẫm nơm nớp lo nghĩ, một ngày hai ngày cũng có hàng vạn sự việc nảy sinh Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn – sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình – sức một người không thể đảm đương”.ác cựu thần nhà Lê cũ, tiêu biểu là các tiến sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Nễ, Nguyễn Huy Lượng, Bùi Dương Lịch… đã ra giúp nhà Tây Sơn. Danh sĩ Nguyễn Thiếp sau nhiều lần từ chối, cuối cùng cũng nhận lời xuống núi giúp vua Quang Trung (xem thêm: Giáo dục khoa cử thời Tây Sơn)

Chiếu chỉ của Quang Trung ra năm 1792 về việc dịch sách chữ Hán sang chữ Nôm.

Quang Trung bỏ Hán ngữ như là ngôn ngữ chính thức trong các văn bản của quốc gia. Ngôn ngữ chính thức được sử dụng là tiếng Việt và được viết trong các văn kiện hành chính bằng hệ thống chữ Nôm. Quang Trung quy định các bài hịch, chiếu chỉ phải soạn bằng chữ Nôm; đề thi viết bằng chữ Nôm, và các sĩ tử phải làm bài bằng chữ Nôm. Ông còn chủ trương thay toàn bộ sách học chữ Hán sang chữ Nôm nên năm 1791 đã cho lập “Sùng chính viện” để dịch kinh sách từ Hán sang Nôm. Theo sách Tây Sơn lược thuật, ông chọn một quan văn “5 ngày một lần vào cấm cung để giảng giải kinh sách”.[63] Ngoài ra, Quang Trung quan tâm đưa việc học đến tận thôn xã. Trong “Chiếu lập học” ông lệnh cho các xã:“Phải chọn Nho sĩ bản địa có học thức, có hạnh kiểm đặt làm thầy dạy, giảng tập cho học trò”.

Về tôn giáo: Quang Trung đề cao chính sách tự do tín ngưỡng: trọng Nho giáo, bảo đảm hoạt động cho Phật giáo và Công giáo, các tu sĩ, giáo sĩ được tự do hoạt động, truyền đạo, xây dựng chùa chiền và nhà thờ, nhưng bài trừ mê tín dị đoan rất mạnh, chấn chỉnh lại việc tu hành: nhiều chùa ở các làng có mà người tu hành lạm dụng để truyền bá mê tín dị đoan bị đập bỏ để xây duy nhất một ngôi chùa ở huyện cấp trên, đồng thời những người tu hành không đạo đức, những kẻ lưu manh, lười biếng đều phải hoàn tục.

Về kinh tế: vua Quang Trung rất quan tâm khẩn hoang, phân phối đất đai cho những người nông dân nghèo, thúc đẩy thủ công nghiệp từng bị cấm trước kia, đề cao thương nghiệp và mở rộng quan hệ buôn bán giữa Đại Việt với nước ngoài. Ông khuyến khích giao thương giữa các thương thuyền nước ngoài và các thương thuyền của Đại Việt. Thuế ruộng được chia làm ba hạng ruộng tốt, ruộng khá và ruộng vừa, nộp thuế công điền tương ứng nhất đẳng điền 150 bát thóc, nhị đẳng điền 80 bát thóc, tam đẳng điền 50 bát thóc, nộp thuế tư điền tương ứng là  40,  30 và 20 bát thóc. Các loại thuế khác cũng vậy, đơn giản, chặt chẽ và nghiêm để phòng ngừa tham nhũng.

Về theo dõi nhân khẩu. Người dân được phân 4 hạng theo lứa tuổi: 9-17 tuổi là hạng “vị cập cách”; 18-55 tuổi là hạng “tráng”; 55-60 tuổi là hạng “lão”; 60 tuổi trở lên là hạng “lão nhiêu”. Ông còn cho làm thẻ bài “Thiên hạ đại tín” bằng gỗ có khắc họ tên, quê quán của người mang không phân biệt giàu sang nghèo hèn.

Trong lúc vua Quang Trung vẫn phải lo ổn định tình hình Bắc Hà và tiêu diệt tàn dư của nhà Lê còn sót lại thì Nguyễn Ánh được người Pháp hỗ trợ đã kéo ra đánh Bình Thuận, Bình Khang, Diên Khánh, quân của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc liên tiếp bại trận và mất mấy thành này. Cho tới năm 1791, Nguyễn Nhạc chỉ còn cai quản Quy Nhơn, Phú Yên và Quảng Ngãi.

Quang Trung không chỉ muốn hòa hoãn với Càn Long mà còn muốn xuất quân đánh nhà Thanh. Trước khi tính chuyện đánh Thanh, nhà vua cho quấy rối nội địa Trung Quốc bằng cách lợi dụng đảng “Thiên Địa Hội” khiêu khích người Thanh. Các biên thần nhà Thanh như Phúc Khang An (mới thay Tôn Sĩ Nghị) tuy biết rõ Tây Sơn có bí mật nhúng tay, nhưng cũng chịu nhịn cho qua chuyện.

Năm Nhâm Tí (1792). Nguyễn Du 27 tuổi. Nguyễn Huệ cầu hôn với công chúa Thanh và xin đất Lưỡng Quảng để thử ý vua Thanh. Lê Chiêu Thống con trai chết, đau buồn, chán nản nên ngã bệnh.

Đầu năm 1792, vua Quang Trung lại sai sứ bộ sang Yên Kinh, mang các cống phẩm dâng Càn Long gồm: chiến lợi phẩm lấy được ở Vạn Tượng, sách binh thư của Đại Việt và một quyển sử viết về triều đại Lê Chiêu Thống. Ông cũng cầu hôn với công chúa Thanh và xin đất Lưỡng Quảng. Trong Bang giao hảo thoại mà Ngô Thì Nhậm là người chép lại vẫn còn hai văn bản ngoại giao đó.

Tờ biểu chính thức đặt vấn đề xin làm con rể vị Thiên Tử nước Đại Thanh như sau: “Thần vốn là một kẻ áo vải đội ơn Thánh Hoàng cho giữ cõi Nam. Khi vào triều cận nơi cung khuyết đã được thấy rõ thiên nhan để vấn an, lại được ban thưởng rất nhiều. Phàm những việc mà ở cõi Nam Giao từ xưa đến nay chưa ai được hưởng, đều được (Thánh Hoàng). Đến khi thần lĩnh chỉ về nước, ngửa trông thánh ân đoái đến, ân chỉ ban luôn. Lồng lộng lòng nhân của Thánh Hoàng không thể tả sao cho xiết…Vua nhà Đại Thanh ta vâng chịu mệnh trời có muôn phương đất, những nơi soi đến đều nuôi nấng như con, rộng như doanh hoàn không để ra ngoài sân điện… Trộm nghĩ: Muôn vật không ẩn tình với trời đất, con cái không giấu tình với cha mẹ. Việc gia đình tâm sự đâu dám không bày tỏ với bậc chí tôn. Vừa đây thần bị vận đen, trong nhà thiếu người đơm cúng. Cơ đồ mới gây dựng, thuyền vuông ít người giúp đỡ. Cây ngọc muốn được nương nhờ, khóm dân mong được giữ vững. Ngước thấy Thanh triều gây nền từ núi Thăng Bạch, dựng nên nghiệp vua, con cháu ức muôn, đời đời phồn thịnh. Từ trước đến nay chế độ nhà trời, công chúa gả xuống, tất phải người tôn quý mới chọn đẹp duyên, không có lệ rộng ra đến các bầy tôi ở ngoài. Phận đã nghiêm chia ra trong ngoài như thế, thật khó mà với đến được. Chỉ vì một niềm tôn mến, riêng trông ngóng, trằn trọc không thôi. Trộm mong cành ngọc nhà trời rộng lan đến cả kẻ ngoại phiên ở dưới, khiến thần được ngửa đội ơn lành gần gụi gót lân…Chỉ vì quá phận cầu ơn, việc không phải là thường cách, mưu với mọi người chấp sự, không ai dám đề đạt lên cho. Muôn dặm cửa vua ngày ngày trông ngóng. Nay dám không tự lượng, mạo muội giãi bày lòng thành. Kính cẩn sai kẻ bồi thần sang chầu hầu, sau khi tâu bày rồi sẽ vì thần mà giãi bày lòng thực.

Để thăm dò thái độ nhà Thanh, vua Quang Trung lại giao việc này cho Vũ Văn Dũng, một viên tướng tin cậy quê ở Hải Dương. Vũ Văn Dũng mang hai tờ biểu sang Yên Kinh trực tiếp đặt hai vấn đề trên với vua Càn Long. Vua Quang Trung đã tính đến trường hợp phải dùng lực lượng quân sự đối phó với nhà Thanh, khi vua Càn Long nổi giận. Ông đã chuẩn bị đương đầu với mọi sự bất trắc, đó là nuôi dưỡng nhóm Tề Ngỗi (Tàu Ô) và Thiên Địa Hội. Trong trường hợp chiến tranh Việt Thanh lại xảy ra các nhóm này sẽ trở thành những lực lượng hỗ trợ đắc lực.  Khi vua Quang Trung trù tính việc xin đất làm đô và cầu hôn thì lúc này Vũ Văn Dũng đang nghỉ ở quê nhà trong trấn Hải Dương. Vua Quang Trung đã hạ sắc chỉ cho họ Vũ như sau: ““Sắc truyền cho Hải Dương Chiêu viễn đô đốc tướng quân dực vận công thần Vũ quốc công được gia phong chức chánh sứ đi sứ nước Thanh, được toàn quyền trong việc đối đáp tâu xin hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây để dò ý và cầu hôn một vị công chúa để chọc tức. Phải thận trọng đấy! Hình thế trong chuyến dụng binh đều ở chuyến đi này. Ngày khác làm tiên phong (đánh nước Thanh) chính là khanh đấy. Kính thay sắc này!”

Câu Hình thế trong chuyến dụng binh đều ở chuyến đi này, cho thấy Vũ Văn Dũng đi sứ nước Thanh không phải chỉ có các nhiệm vụ trên mà còn phải dò xét nội tình nhà Thanh, quan sát địa hình địa vật những nơi ông đi qua để một khi chiến tranh Việt Thanh lại bùng nổ thì quân Tây Sơn có thể có một số tin tức tình báo cần thiết mà tổ chức cuộc hành quân.

Theo gia phả họ Vũ, thì Vũ Văn Dũng cầm đầu sứ đoàn đã đến Yên Kinh và được vào bệ kiến vua Càn Long. Vũ Văn Dũng đã hoàn thành cả hai nhiệm vụ: cầu hôn và xin đất làm đô. Sau khi nghe lời tâu xin của Vũ Văn Dũng, vua Thanh giao vấn đề này cho đình thần bàn xét. Ngày hôm sau Vũ Văn Dũng lại được vào bệ kiến Càn Long ở Ỷ Lương các và vua Càn Long đã đồng ý trao đất Quảng Tây cho vua Quang Trung để làm đô và gả một công chúa cho vị thủ lĩnh Tây Sơn. Về việc cầu hôn, sau buổi tiếp sứ thần Đại Việt, vua Càn Long ra lệnh cho bộ lễ sửa soạn nghi lễ và định ngày cho công chúa nước Đại Thanh sang đẹp duyên cùng vua Đại Việt.

Tháng 5 năm Nhâm Tý, tức năm Càn Long thứ 57 (1792), con trai cựu hoàng Lê Chiêu Thống bị ốm chết. Các cận thần nhà Lê theo vua số thì bị giam giữ, số thì lưu tán, cơ may phục quốc không còn hi vọng, Lê Chiêu Thống ngã bệnh nặng.

Vua Quang Trung ý định cưới con vua và xin đất định đô chưa kịp trở thành hiện thực thì ông chết đột ngột vào ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (16 tháng 9 năm 1792), lúc khoảng 11-12 giờ đêm. Nguyễn Huệ qua đời, ở ngôi được 4 năm, hưởng thọ 40 tuổi, miếu hiệu là Thái Tổ Vũ hoàng đế. Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân đã viết bài “Tế vua Quang Trung” và bài “Ai Tư Vãn” để bày tỏ nỗi đau khổ và tiếc thương cho người chồng anh hùng sớm ra đi.

Thi hài Quang Trung được táng ngay tại Phú Xuân, được táng ở cung điện Đan Dương. Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi, tức là vua Cảnh Thịnh, sai sứ sang nhà Thanh báo tang và xin tập phong. Đô đốc Vũ Văn Dũng đang đi sứ nhà Thanh ở Bắc Kinh, nghe tin Quang Trung mất liền làm bài thơ viếng như sau:

Bố y phân tích ngũ niên trung
Mai cố thi vi tự bất đồng
Thiên vị ngô hoàng tăng nhất kỷ
Bất y Đường Tống thuyết anh hùng

Dịch:
Năm năm dấy nghiệp tự thân nông
Thời trước thời sau khó sánh cùng
Trời để vua ta thêm chục tuổi
Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng.

Vua Càn Long tặng tên hiệu cho Nguyễn Huệ là Trung Thuần, lại thân làm một bài thơ viếng và cho một pho tượng, 300 lạng bạc để sửa sang việc tang. Sứ nhà Thanh đến tận mộ ở Linh Đường (mộ giả) thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội) để viếng.

Nguyên nhân cái chết của vua Quang Trung theo các tài liệu đều cho rằng ông chết vì do đột tử bởi một cơn tăng huyết áp đột ngột. Bác sĩ Bùi Minh Đức khảo cứu các nguồn tư liệu lịch sử và kết luận rằng Nguyễn Huệ “xuất huyết não dưới màng nhện; nguyên nhân tử vong: do viêm phổi sặc“. Theo  Hoàng Lê nhất thống chí, thì vua Càn Long hình như đã biết việc này, bằng chứng là khi Quang Trung giả sang Yên Kinh gặp Càn Long, được Càn Long tặng cho chiếc áo, có thêu 7 chữ: Xa tâm chiết trục, đa điền thử (車心折軸多田鼠) Nghĩa là: Bụng xe gãy trục, nhiều chuột đồng. Theo phép chiết tự, chữ “xa” (車) và chữ “tâm” (心) ghép lại thành chữ “Huệ” (惠) là tên của Nguyễn Huệ; “chuột” nghĩa là năm tý (Nhâm tý 1792). Ý của dòng chữ trên áo là Nguyễn Huệ sẽ chết vào năm Tý.

Năm Quý Sửu (1793). Nguyễn Du 28 tuổi. Lê Chiêu Thống thất vọng và chán nản, lâm bệnh rồi qua đời ngày 16 tháng 10 (âm lịch) năm 1793 tại Yên Kinh. Nhà Thanh chôn ông theo nghi thức tước công. Ngày mồng hai tháng hai năm Quý Sửu (1793), sứ đoàn Tây Sơn sang đến Bắc Kinh để báo tang vua Quang Trung mất . Vua Càn Long đã phê vào tờ biểu báo tang hai chữ đáng tiếc, rồi ông thân làm một bài thơ viếng. Ông lại sai viên án sát Quảng Tây là Thành Lâm đến Nghệ An làm lễ đọc và đốt bài thơ ấy trước “phần mộ” vua Quang Trung. Ông còn giao cho sứ đoàn Ngô Thì Nhậm một tấm lụa đại cát đạt [41] và 3000 lạng bạc để dùng vào việc làm chay cho vua Quang Trung. Không chờ Nguyễn Quang Toản dâng biểu cầu phong,vua Càn Long lại đặc cách phong ngay cho Quang Toản làm An Nam quốc vương để chính danh phận và yên dân tâm.

Vua Càn Long tỏ ra rất vui vẻ, hả hê khi được Ngô Thì Nhậm cho biết trước khi từ trần, vua Quang Trung đã dặn quần thần phải luôn luôn tôn kính Thiên triều. Vì vậy, Càn Long lấy hai chữ Trung thuần đặt tên thụy cho vua Quang Trung.

Phúc Khang An khi đó đang làm tổng chỉ huy đánh quân Khuếch Nhĩ Khách Mông Cổ tại tu viện Mật Tông ở Tây Tạng để giành lại kho vàng to lớn ở núi Tuyết.  Khi trở về, Phúc Khang An đã viết cho triều đình Tây Sơn một bức thư có những câu: Bản Tước các bộ đường cùng Tiền Quốc vương (vua Quang Trung) đã từng đem lòng thành liên kết rất sâu. Nhớ khi tiến quan vào chầu, tâm sự sớm chiều, bàn soạn nửa năm, lúc cùng ngồi thuyền lúc cùng đi bộ trước khi vào chầu, thường thường đem tâm sự đàm đạo với nhau… đến lúc lên đường về nước, chia tay ở Hán Dương, cùng nhau than thở, quyến luyến nhớ thương. Bản tước các bộ đường từ tháng năm năm ngoái (1792) đốc binh tiến đánh bộ lạc Quách Nhĩ Khách… Nay nhờ Đại Hoàng Đế nghĩ đến quý quốc, che chở như trời. Bản tước các bộ đường đã nhận ủy nhiệm (của Đại Hoàng Đế làm tổng đốc Lưỡng Quảng) quý Quốc vương thỏa lòng nương tựa. Đợi khi đến tỉnh Việt (Quảng Đông), sẽ sai người đến Nghệ An làm lễ tế điệu, kính dâng bó hoa để tỏ lòng cố cựu.

Vua Càn Long cũng đã ra lệnh cho các quan của nhà Thanh đều phải cúi đầu làm lễ tưởng niệm vua Quang Trung: Thạc tào tòng sự các gia ngạch,Cá cá bất vong ngã tiên vương. Tạm dịch là: Tất cả các vị quan to (ở Thiên triều) đều cúi đầu làm lễ/ Ai ai cũng không quên An Nam quốc vương (Nguyễn Huệ) của chúng ta.

Lê Chiêu Thống bị giới làm sử đời sau phê phán gay gắt. Các tác giả Ngô gia văn phái thân Tây Sơn trong tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí viết: “Tuy vua Lê đã được phong Vương, nhưng giấy tờ đưa đi các nơi, đều dùng niên hiệu Càn Long. Vì có Nghị ở đấy nên không dám dùng niên hiệu Chiêu Thống. Ngày ngày sau buổi chầu, vua lại tới chờ ở doanh của Nghị để nghe truyền việc quân, việc nước. Vua cưỡi ngựa đi trước, Lê Quýnh cưỡi ngựa đi sau, quân lính hộ vệ chỉ vài chục người. Người trong kinh có kẻ không biết là vua. Hoặc có người biết, thì họ nói riêng với nhau rằng: Nước Nam ta từ khi có đế, có vương tới nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế. Tiếng là làm vua, nhưng niên hiệu thì viết là Càn Long, việc gì cũng do viên tổng đốc, có khác gì phụ thuộc vào Trung Quốc?“. Tuy nhiên, nhà Nguyễn do Nguyễn Ánh thành lập ra sau đó, lại nhìn nhận khá rộng lượng với Chiêu Thống. Hoàng đế Tự Đức có lời phê về Chiêu Thống, đại ý nói: “Nhà vua bị người ta lừa gạt, bị giám buộc ở quê người đất khách, đến nỗi lo buồn phẫn uất, ôm hận mà chết, thân dẫu chết, nhưng tâm không chết, kể cũng đáng thương! Vậy nên truy đặt tên thụy là Mẫn Đế“.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

ChucmungNammoi

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu

Nguyễn Du trăng huyền thoại

hoxuanhuong

Hồ Xuân Hương là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà hành trạng hiện vẫn khiến nhiều học giả tranh cãi . Lưu Hương Ký và Truyện Thúy Kiều là hai kiệt tác văn chương Việt chứa đựng chuyện tình đặc biệt và cao đẹp hiếm thấy. Nguyễn Du và Xuân Hương là anh hùng và mỹ nhân. Nguyễn Du là đại thi hào danh nhân văn hóa thế giới nhưng tầm vóc anh hùng danh sỹ tinh hoa chỉ mới được Xuân Hương soi thấu. Hồ Xuân Hương là “bà chúa thơ Nôm” nhưng kiệt tác thơ Hán Nôm Hồ Xuân Hương, tình yêu đôi lứa và thân phận con người thì nay vẫn còn bị che khuất.

Điều này cũng đã từng xẩy ra với  kiệt tác “Chiến tranh và Hòa bình” của Lev Tonstoy, bao nhiêu năm qua chỉ mới được đề cao là đỉnh cao văn chương nước Nga và thế giới mà chưa thấy hết tầm vóc tư tưởng cao vọi của một vĩ nhân đại văn hào. Sa Hoàng Nhicolai và toàn bộ gia đình bị quân khởi nghĩa Cách mạng tháng Mười giết nhưng ngày nay ông đang được vinh danh là vĩ nhân lỗi lạc thứ ba ảnh hưởng lớn nhất đến lịch sử nước Nga tương đương Lê Nin. Lev Tonstoy là “thánh sư” gần gũi Sa Hoàng.

Truyện Thúy Kiều và Lưu Hương Ký cũng ví như kiệt tác “Hồng Lâu Mộng” của Tào Tuyết Cần, một kỳ thư nổi tiếng bậc nhất của văn chương Trung Hoa và thế giới nhưng người đời chưa hiểu hết thân phận và mối quan hệ của Tào Tỵ, Tào Dần và Tào Tuyết Cần với các vị vua Khang Hy, Ung Chính và Càn Long. Sau này kiệt tác Lộc Đỉnh Ký ra đời, người đời mới hiểu hết dụng tâm của Kim Dung viết về Khang Hy một trong những vị minh quân xuất sắc nhất trong lịch sử Trung Quốc. Lộc Đỉnh Ký là sách viết về mưu lược trị loạn của Khang Hy, soi thấu các góc khuất Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần.

Truyện Thúy Kiều soi thấu những góc khuất của Lưu Hương Ký và ngược lại. Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương phần một chúng tôi đã viết “Hồ Xuân Hương tỏ ý Nguyễn Du” “Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” để mở đầu cho chuyên luận này, nay biên khảo tiếp phần hai.

HỒ XUÂN HƯƠNG THỰC LÀ AI ?

Hồ Xuân Hương tên thật là Hồ Phi Mai (1772 – 1822) là nhà thơ nữ người Việt nổi tiếng được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm”, tác giả của Lưu Hương Ký kiệt tác thơ Hán Nôm và bà cũng được coi là tác giả thơ Hồ Xuân Hương được truyền tụng rất rộng rãi trong dân gian. Hồ Xuân Hương là con của ông Hồ Phi Diễn (1703- 1786) đỗ tú tài năm 24 tuổi, ra Bắc dạy học, lấy bà họ Hà quê Hưng Yên rồi sinh được một con gái là Hồ Phi Mai nữ sĩ dạy học tại phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận,  Bắc thành  Thăng Long, nay gần vườn Bách Thảo và trụ sở chính của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại số 2 Ngọc Hà, quận Ba Đình, gần hồ Tây của phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, thuộc thủ đô Hà Nội. Hồ Xuân Hương và Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ tức Hồ Thơm là anh em cùng có chung họ Hồ Quỳnh Đôi là ông tổ 5 đời, cùng đời thứ 27 của Đức Nguyên tổ Hồ Hưng Dật. (xem thêm Hồ Xuân Hương gia đình và dòng họ, tài liệu dẫn 1, 2, 3 kèm theo).

Hồ Xuân Hương gia đình và dòng họ.

1. Bà Hồ Xuân Hương là con của ông Hồ Phi Diễn (1703- 1786) đỗ tú tài năm 24 tuổi, ra Bắc dạy học, lấy bà họ Hà quê Hưng Yên rồi sinh được một con gái là Hồ Phi Mai (bút danh sau là Hồ Xuân Hương) ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận (nay ở vườn Bách Thảo gần hồ Tây) được trích dẫn từ Hồ Quỳnh gia phả (gia phả họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nghệ An). Hồ Xuân Hương và Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ tức Hồ Thơm là anh em cùng có chung ông tổ 5 đời, cùng đời thứ 27 của Đức Nguyên tổ Hồ Hưng Dật là dẫn liệu khác cũng trong tài liệu trên. Có người nói lại cho rằng, Hồ Xuân Hương là con ông Hương cống Hồ Sĩ Danh (1706- 1783), em ruột Hoàng giáp Hồ Sĩ Đống nhưng phả hệ Quỳnh Đôi không thừa nhận điều này vì, ông Hồ Sĩ Danh sau khi đỗ Hương cống không ra làm quan, cũng không đi đâu xa khỏi làng nên không thể có con là Hồ Xuân Hương.

2. Trung chi II họ Hồ Quỳnh Đôi chép rằng: “Theo sử cũ, ông tổ đầu tiên của họ Hồ ở Việt Nam là trạng nguyên Hồ Hưng Dật sống vào thế kỷ thứ 10. Tộc phả bị thất truyền 11 đời (khoảng 300 năm). Đến đời 12 (ông Hồ Liêm) dời ra Thanh Hóa và đời 13 (ông Hồ Kha) ở Nghệ An, tộc phả mới liên tục. Năm 1314, ông Hồ Kha từ Quỳ Trạch (Yên Thành) về Quỳnh Đôi xem địa thế và giao cho con cả là Hồ Hồng ở lại cùng 2 người họ Nguyễn, họ Hoàng khai cơ lập nên làng Quỳnh Đôi còn mình trở lại Quỳ Trạch. Sau này ông Hồ Hồng cùng với 2 ông thủy tổ họ Nguyễn, họ Hoàng được dân suy tôn là Thành Hoàng, rước vào thờ ở đền làng. Ông Hồ Kha và ông Hồ Hồng được coi là thủy tổ họ Hồ ở Quỳnh Đôi, thờ ở nhà thờ lớn họ Hồ. Thế thứ (còn gọi là đời, vai) trong họ được tính từ ông Hồ Hân (con ông Hồ Hồng) trở đi, nghĩa là: ông Hồ Hân là đời thứ nhất. Nếu tính từ đời ông Hồ Hưng Dật thì phải cộng thêm 14 đời nữa. Ông tổ trung chi II là Hồ Khắc Kiệm (đời 3) con Hồ Ước Lễ, cháu Hồ Hân. Cháu đời 8 là Hồ Sĩ Anh (còn gọi là Hồ Thế Anh) sinh năm 1618, mất năm 1684, thi hội trúng tam trường, làm tri huyện Hà Hoa (vùng Kỳ Anh, Hà Tĩnh) tước Diễn Trạch hầu. Hồ Thế Anh sinh Hồ Thế Viêm (đậu Sinh đồ), Hồ Phi Cơ (thi hội đậu tam trường), Hồ Danh Lưu, Hồ Phi Tích (đậu Hoàng giáp, tước quận công), Hồ Phi Đoan. Hồ Thế Viêm sinh Hồ Phi Khang (đời 10). Phi Khang sinh 5 con trai: Hồ Phi Phú, Hồ Phi Thọ, Hồ Phi Trù, Hồ Phi Phúc, Hồ Phi Huống. Hồ Phi Phúc sinh 3 con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ (đời 12). Nguyễn Nhạc (1743-1793) sinh các con trong đó có Nguyễn Bảo, con Bảo là Nguyễn Đâu. Nguyễn Huệ (1753-1792) sinh các con trai trong đó có Quang Thiệu (Khang công tiết chế); Quang Bàn (Tuyên công, đốc trấn Thanh Hóa); Quang Toản (vua Cảnh Thịnh 1783-1802). Hồ Phi Cơ (đời 9) sinh Hồ Phi Gia (thi hội đậu tam trường). Hồ Phi Gia sinh Hồ Phi Diễn (đậu sinh đồ) và Hồ Phi Lãng (cũng đậu sinh đồ). Hồ Phi Diễn (1703-1786) sinh Hồ Xuân Hương (đời 12, 1772-1822).

3. Theo “Hồ Tông thế phả”: “Trong lịch sử Việt Nam có hai triều đại phong kiến Việt Nam được hình thành từ người mang họ Hồ gốc ở Quỳnh Đôi là: Triều đại nhà Hồ (14001407): với nhân vật Hồ Quý Ly. Triều đại nhà Tây Sơn với Nguyễn Nhạc; Nguyễn LữNguyễn Huệ.” Bên dưới tài liệu có ghi chú:  Con của Phi Khang là Phi Phú, Phi Thọ, Phi Trù, Phi Phúc, Phi Huống từ Quỳnh Đôi di cư lên Nhân Lý (Nhân Sơn, Quỳnh Hồng ngày nay) rồi một chi chuyển cư vào Thái Lão – Hưng Nguyên, tiếp theo một chi vào trại Tây Sơn – Quy Nhơn.

4. Tại “Bia tưởng niệm Nguyên tổ họ Hồ ở Việt Nam” tại làng Bảo Đội huyện Quỳnh Đôi năm 2005 viết: “Nguyên tổ họ Hồ ở Việt Nam là ngài Hồ Hưng Dật thuộc dòng Bách Việt, sinh tại Vũ Lâm tỉnh Chiết Giang, đậu Trạng nguyên đời Hán An Đế. Ngài sang làm thái thú Châu Diễn, sau đó  từ quan, về làm chủ trại hương Bảo Đột huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An, Ngài đức trọng tài cao giàu lòng nhân nghĩa, để lại cho muôn đời con cháu di huấn: Vạn đại vi dân… Trãi hơn ngàn năm, chừng 40 đời con cháu rãi khắp từ Bắc chí Nam, họ Hồ đã góp sức bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam được quốc sử ghi nhận như: Vua Hồ Quý Ly nhà cải cách lỗi lạc, như vua Quang Trung (Hồ Thơm) thiên tài quân sự, như trạng nguyên Hồ Tông Thốc nhà sử học lớn, như nữ sĩ Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm…”

Những thông tin trên cho đến nay dẫu chưa đủ cơ sở để kết luận hai triều đại nhà Hồ và nhà Tây Sơn xuất thân từ dòng họ trạng nguyên Hồ Hưng Dật vì gia phả dòng họ bị cách quãng 11 đời nhưng rõ ràng Nguyễn Huệ và Hồ Xuân Hương đều đúng là “đồng hương”  họ Hồ Quỳnh Đôi.

5. Theo Trung chi II họ Hồ Quỳnh Đôi thì thời Trịnh Nguyễn phân tranh họ Hồ nhà Tây Sơn đời Hồ Phi Phúc đã vào Bình Định khoảng năm 1655 theo quân của chúa Nguyễn  thời vua Lê Thần Tông. Ông cố (cụ nội) của Nguyễn Huệ tên là Hồ Phi Long (vào giúp việc cho nhà họ Đinh ở thôn Bằng Châu, huyện Tuy Viễn, tức An Nhơn) cưới vợ họ Đinh và sinh được một trai tên là Hồ Phi Tiễn. Hồ Phi Tiễn không theo việc nông mà bỏ đi buôn trầu ở ấp Tây Sơn, cưới vợ và định cư tại đó. Vợ của Hồ Phi Tiễn là Nguyễn Thị Đồng, con gái duy nhất của một phú thương đất Phú Lạc, do đó họ đổi họ của con cái mình từ họ Hồ sang họ Nguyễn của mẹ. Người con là Nguyễn Phi Phúc cũng chuyên nghề buôn trầu và làm ăn phát đạt. Cũng có tài liệu cho rằng họ Hồ đã đổi theo họ chúa Nguyễn ngay từ khi mới vào Nam. Nguyễn Phi Phúc có 8 người con, trong đó có ba người con trai: Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn LữNguyễn Văn Huệ. Nguyễn Nhạc thuở đi buôn trầu nên gọi anh Hai Trầu. Nguyễn Huệ sinh năm 1753. Ông còn có tên là Quang Bình, Văn Huệ hay Hồ Thơm. Sau này, người dân địa phương thường gọi ông là Đức ông Bình hoặc Đức ông Tám. Nguyễn Lữ được gọi là Đức Ông Bảy.

Hồ Xuân Hương thơ giữa đời thường

Trang thơ Hồ Xuân Hương tại “Thi Viện có giới thiệu “154 bài thơ của Hồ Xuân Hương” và “Đôi điều về nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương”:

Trong nền văn học Việt Nam, nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương là một hiện tượng đặc biệt, không chỉ trong nội dung và nghệ thuật sáng tác mà ngay cả các văn bản sáng tác của nữ sĩ họ Hồ vẫn còn là những vấn đề đặc biệt, cần tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu.

Riêng về cuộc đời riêng tư của nhà thơ, cho đến nay vẫn còn là những dấu hỏi, chưa có một công trình nghiên cứu nào đáng tin cậy cả.

Trong phần mở đầu bài thơ “Hồ Xuân Hương – người đó là ai” cố nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Hoàng Trung Thông, nguyên Viện trưởng Viện Văn học vốn người xứ Nghệ, làng Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu đã viết:

Người ta nói nhiều về Hồ Xuân Hương
Nhưng người đó là ai?
Thật mỉa mai
Không ai biết rõ

Người ta nói nhiều về Hồ Xuân Hương
Nhưng người đó là ai?
Thật mỉa mai
Không ai biết rõ
Như có như không như không như có
Nàng ở làng Quỳnh
Nàng ở phường Khán Xuân …”

Hồ Xuân Hương thơ giữa đời thường tiêu biểu được truyền tụng rất rộng rãi trong dân gian gồm: Đề đền Sầm Nghi Đống,  Bánh trôi nước, Kẽm Trống, Khóc Tổng Cóc, Khóc ông phủ Vĩnh Tường,  Làm lẽ, Tự tình, Mời trầu, Đèo Ba Dội, Hang Cắc Cớ, Cái quạt, Đánh đu, Thiếu nữ ngủ ngày, Không chồng mà chửa, Chùa Quán Sứ,  Sư hổ mang, Sư bị ong châm, Quan thị, Mắng học trò dốt … Hồ Xuân Hương thơ giữa đời thường bài nào cũng thực thông minh, hóm hỉnh, vừa sâu sắc vừa cận nhân tình.

Đặc trưng nổi bật của Hồ Xuân Hương thơ giữa đời thường là khẩu khí thơ thanh tục tục thanh biến hóa khôn lường, đa tầng ngữ nghĩa, khí phách và đảm lược cao vọi, vượt lên sự nhu thuận nữ nhi thường tình, là tiếng nói giải phóng phụ nữ, giải phóng con người, khiến các bậc anh hùng và minh sư đọc thơ Xuân Hương đều bất giác kính trọng. Xin trích dẫn dưới đây ba bài thơ để dẫn chứng:

Giai thoại Trí Tản chỉ là một trong nhiều giai thoại về Hồ Xuân Hương nhưng khỏa lấp sau tiếng cười để hiểu hết ý tứ thâm trầm của bài thơ là không dễ. Chuyện kể rằng một lần Xuân Hương về thăm làng Quỳnh Đôi, các tài tử văn nhân của làng, của vùng nghe tiếng nàng một cô gái tuyệt sắc và thơ hay lại đáo để nên đã kéo tới rất đông để … xem mặt. Làng Quỳnh Đôi xưa nay nổi tiếng là làng khoa bảng, người chữ nghĩa có nhiều, trong đó có ông đồ Dương Trí Tản vốn tự phụ tài “xuất thơ thành thơ” đã sang xem mặt “người đẹp” và thách đấu thơ văn.Trí Tản ung dung rít điếu thuốc lào rồi đọc một bài thơ “ứng khẩu” đã chuẩn bị sẵn:

Eo lưng thắt đáy thật là xinh
Điếu ai hơn được điếu cô mình
Thoắt châm thoắt bén duyên hương lửa
Càng núc, càng say tính với tình.

Hồ Xuân Hương trả lời luôn:

Giương oai giễu võ thật là kinh
Danh tiếng bao lăm đã tận rồi
Thoáng ngửi thoáng ghê hơi hương lửa
Tài trí ra sao hỏi tính tình.

Bia miệng truyền tụng rất nhanh, nhưng có ẩn ngữ Xuân Hương ngầm nhắn, ít người để ý: Bậc Quân tử mà nàng coi trọng thì không chỉ là “tài trí ra sao” mà quan trọng hơn hết là “tính tình”.

Kẽm Trống thơ Hồ Xuân Hương. Kẽm Trống là một di tích thắng cảnh ở giữa địa phận hai tỉnh Hà NamNinh Bình cách Hà Nội 80 km về phía Nam, nơi “nước cờ Tam Điệp” nổi tiếng. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã viết bài thơ “Kẽm Trống“:

Hai bên thì núi, giữa thì sông
Có phải đây là Kẽm Trống không
Gió đập cành cây khua lắc cắc
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong
Ở trong hang đá hơi còn hẹp
Ra khỏi đầu non đã rộng thùng
Qua cửa mình ơi, nên ngắm lại
Nào ai có biết nỗi bưng bồng

Về phía tả ngạn sông Đáy có một con sông đào dài gần 2 cây số, cả hai đầu đều nối với con sông Đáy, chảy ôm núi Rùa và núi Cổ Động trong quần thể thắng cảnh Kẽm Trống. Tương truyền, trong cuộc tuần du từ kinh đô Huế ra Bắc Hà, vua Minh Mệnh muốn xuôi dòng sông Đáy để ghé thăm Kẽm Trống và Địch Lộng (Ninh Bình). Nhưng khi nghe bài thơ của Hồ Xuân Hương vịnh cảnh Kẽm Trống, thấy những ẩn ý nghịch ngợm, nhà vua không chịu đi qua đoạn sông này mà bắt nhân dân trong vùng phải cấp tốc đào một con sông mới để thuyền ngự vượt qua. Do vậy mới có con sông đào chảy vòng này. Cho đến nay, nhiều người vẫn chưa hiểu hết ẩn tình sâu xa của chuyện này.

Đề đền Sầm Nghi Đống
của Hồ Xuân Hương là bài thơ mà học sinh người Việt hầu như ai cũng biết và rất nhiều người thuộc:

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo
Kìa đền Thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu

Sầm Nghi Đống là Thái thú Điền Châu cùng với Tôn Sĩ Nghị Tổng Đốc Lưỡng Quảng và Ô Đại Kinh Đề Đốc Vân Nam và Quý Châu, ba vị Thái thú tương đương với An Nam quốc vương, đã chia ba đường cùng kéo quân vào xâm lược Đại Việt trong cuộc chiến tranh Thanh Việt năm Kỷ Dậu 1789.

Nhà Thanh với lực lượng đông đảo lại mượn tiếng là giúp triều Lê Trung hưng khôi phục ngai vàng, diệt Nguyễn Huệ có mưu đồ đoạt ngôi, để lung lạc lòng dân Việt vốn yêu nước, yêu tự do và căm ghép kẻ phản quốc. Nhà Thanh với kế sách khôn ngoan và thâm hiểm của vị vua xuất chúng “Thập toàn  đại công” Càn Long: “…việc quân nên từ đồ, không nên hấp tấp. Hãy nên đưa hịch truyền thanh thế đi trước, và cho các quan nhà Lê về nước cũ hợp nghĩa binh, tìm Tự quân nhà Lê đem ra đứng đầu để đối địch với Nguyễn Huệ thử xem sự thể thế nào. Nếu lòng người nước Nam còn nhớ nhà Lê, có quân ta kéo đến ai chẳng gắng sức. Nguyễn Huệ tất phải tháo lui. Ta nhân dịp ấy mà sai Tự quân đuổi theo rồi đại binh của ta theo sau, như thế không khó nhọc mấy mà nên được công to. Đó là mẹo hay hơn cả. Ví bằng suốt người trong nước nửa theo đằng nọ, nửa theo đằng kia, thì Nguyễn Huệ tất không chịu lui. Vậy ta hãy đưa thư sang bảo đường họa phúc, xem nó đối đáp làm sao. Đợi khi nào thủy quân ở Mân (Phúc Kiến), Quảng đi đường bể sang Thuận HóaQuảng Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau thụ địch thế tất phải chịu. Bấy giờ ta sẽ nhân mà làm ơn cho cả hai bên: Tự đất Thuận Hóa, Quảng Nam trở vào Nam thì cho Nguyễn Huệ; tự châu Hoan, châu Ái trở ra Bắc thì phong cho Tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh lại để kiềm chế cả hai bên, rồi sẽ có xử trí về sau.”“.

Quang Trung đã đại phá quân Thanh. Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy, Ô Đại Kinh một cánh quân mạnh phải tháo lui, Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử, Hứa Thế Hanh danh tướng cầm quân cùng toàn bộ lực lượng quân Thanh tinh nhuệ ở đồn Ngọc Hồi bị tiêu diệt, Lê Chiêu Thống không còn cơ may hồi phục, Kế hoạch chiếm Đại Việt của nhà Thanh bị phá sản và ý chí xâm lược bị dập tắt. Điểm nhấn sâu đậm nhất của Chiến thắng Kỷ Dậu 1789 là gò Đống Đa tại biểu tượng đền thờ Sầm Nghi Đống.

Nơi ấy, Sầm Nghi Đống khi đã bị quân Tây Sơn vây chặt, đánh bí thế phải thắt cổ tự tử. Quang Trung khi bang giao với nhà Thanh đã cho người Hoa lập đền thờ Sầm Nghi Đống tại ngõ Sầm Công, gò Đống Đa ngày nay.

Hồ Xuân Hương “ghé mắt trông ngang thấy bảng treo” cố tình chọn một góc nhìn coi thường đối với “Kìa đền Thái thú đứng cheo leo” và bất ngờ hạ hai câu thơ tuyệt bút: “Ví đây đổi phận làm trai được/ Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu !” . “Đổi phận làm trai” là sự diễn đạt ngắn nhất và sâu sắc nhất về thân phận người phụ nữ trong xã hội trọng nam khinh nữ.  Câu kết “há bấy nhiêu” tỏ sự coi thường vị nam nhi Thái thú. Đó là một lời dè bỉu một sự đánh giá thấp. Hồ Xuân Hương tự cho mình có thể làm hơn thế.

Thơ Hồ Xuân Hương đề đền Sầm Nghi Đống là bia miệng.

Vị nam nhi Thái thú đó là ai? Hiển nhiên đó là Sầm Nghi Đống. Nhưng ngoài Sầm Nghi Đống còn ai khác nữa? Hóa ra “ý tại ngôn ngoại” khi Lưu Hương ký và Truyện Thúy Kiều hé bức màn bí mật Từ Hải và nàng Kiều, Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương.

Lưu Hương Ký kiệt tác thơ Hán Nôm

Tập thơ LƯU HƯƠNG KÝ của Hồ Xuân Hương xuất hiện vào năm 1814, là văn bản cổ nhất và đáng tin nhất liên quan đến thơ Hồ Xuân Hương. Tập thơ này mới được phát hiện vào năm 1963 gồm Bài Tựa của Tốn Phong, người Nghệ An viết năm 1814 và 52 bài thơ của Hồ Xuân Hương với 24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm. Trong bài tựa, Tốn Phong tự nhận mình là bạn của Hồ Xuân Hương, tự Cổ Nguyệt Đường, con cháu họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Chính Hồ Xuân Hương đã nhờ ông viết lời tựa ấy: “Đây là tất cả thơ văn trong đời tôi từ trước đến nay, nhờ anh làm cho bài tựa.” (Chữ in đậm là Hoàng Kim nhấn mạnh).

Trong tập thơ Lưu Hương Ký có bài thơ “Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ”  là bài thơ Hồ Xuân Hương “tỏ ý” với Nguyễn Du. Một bài thơ khác đã xác nhận viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn hầu chính là Nguyễn Du.

NHỚ CHUYỆN CŨ
Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu

感舊兼呈勤政學士阮侯 – Nhớ chuyện cũ viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu (*).

Hồ Xuân Hương

Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
Phấn son càng tủi phận long đong.
Biết còn mảy chút sương siu mấy,
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.

(*) Sau đầu đề trên, tác giả có chú: “Hầu, Nghi Xuân, Tiên Điền nhân” 侯宜春仙田人 (Hầu người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân). Như vậy, ở đây Nguyễn Hầu đúng là Nguyễn Du tiên sinh. Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền ghi rõ mùa hè năm Kỉ Tỵ (1809), Nguyễn Du được bổ làm cai bạ Quảng Bình. Tháng 2 năm Quý Dậu (1813) ông được phong Cần chánh điện học sĩ, rồi được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc tuế cống.

Bài thơ Vịnh Hà Long của Hồ Xuân Hương là một tuyệt phẩm. Di sản văn hóa thế giới Hạ Long cho đến nay có lẽ chưa có tác phẩm văn chương nào viết về vịnh Hạ Long của Việt Nam và thế giới ngời sáng hơn bài thơ này:
VỊNH HẠ LONGHồ Xuân Hương

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duyềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?

(Bản dịch thơ của Hoàng Xuân Hãn)








Độ Hoa Phong

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thủy trung.
Thủy thế mỗi tùy sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo thủy môn thông.
Ngư long tạp xử thu yên bạc,
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thùy thị Thủy Tinh cung.

Dịch nghĩa

Lá buồm không vội vượt qua vũng Hoa Phong,
Vách đá đứng, sườn núi đỏ, giữa nước chỏi dựng lên.
Thế nước tuỳ chỗ theo mặt núi mà biến chuyển.
Hình núi nghiêng mình, nép tựa cửa lạch để nước thông qua.
Cá rồng lẫn lộn, tăm khuất dưới từng hơi nước mỏng mùa thu.
Âu cò cùng ban trong ánh đỏ mặt trời chiều.
Cõi Tiên có ba trăm sáu động ngọc và phòng mây,
Đây không biết chốn nào là cung Thủy Tinh.

Bài thơ Miếu Sầm Thái Thú  ở bản khắc 1922 chữ “lên” khác với chữ “ngang” ở các bản khắc sau cũng là một câu chuyện sử thi thú vị.

MIẾU SẦM THÁI THÚ

Ghé mắt trông lên thấy bảng treo
Kìa đền thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu.

(Bản khắc 1922) chữ “lên” khác với chữ “ngang” ở các bản khắc sau.

Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

Đặc trưng nổi bật nhất trong thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương là nghệ thuật thơ Hán Nôm đặc biệt điêu luyện, sánh ngang những kiệt tác thơ Trung Hoa thời Thịnh Đường. Thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương hàm súc sâu sắc hiếm thấy, trong thơ có nhạc, chuyển tải sử thi văn hóa giáo dục tài tình và khiêm nhu hiền lành rất mực.

Đặc trưng nổi bật thứ hai trong thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương là bà chọn duy nhất chỉ  tập thơ Lưu Hương Ký gồm 52 bài thơ với 24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm nhờ Tốn Phong viết lời tựa: “Đây là tất cả thơ văn trong đời tôi từ trước đến nay, nhờ anh làm cho bài tựa”.Thơ tuyển chọn đã thể hiện thực chất con người Hồ Xuân Hương.

Đặc trưng nổi bật thứ ba trong thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương là Lưu Hương Ký kết với Truyện Thúy Kiều của Nguyễn Du thành tuyệt phẩm văn chương, tinh hoa đặc sắc “song kiếm hợp bích”, biểu tượng văn hóa, anh hùng mỹ nhân, tuyệt kỹ ngôn ngữ tiếng Việt Hán Nôm.

Hai kiệt tác Lưu Hương Ký và Truyện Thúy Kiều bền vững với thời gian.

Hồ Xuân Hương ‘tỏ ý’ với Nguyễn Du, Lưu Hương Ký và Truyện Thúy Kiều, Nguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng. Bài tổng hợp mời đọc Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương.

*

NGUYỄN DU 250 NĂM NHÌN LẠI là chuyên luận của Hoàng Kim gồm 12 bài : 1) Nguyễn Du quê hương và dòng họ; 2)  Nguyễn Du cuộc đời và thời thế  (Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ 1765- 1780; Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc 1781-1796; Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối đời 1797- 1820), 3)  Nguyễn Du thơ chữ Hán, 4) Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ, 5)  Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương,  6) Nguyễn Du là bậc anh hùng, 7)  Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa, 8) Thêm tư liệu quý về Nguyễn Du,  9) Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ,   10) Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa;  11) Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ, 12) Nguyễn Du nửa đêm đọc lại.

“Bất tri tam bách dư niên hậu.
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”.

Ba trăm năm nữa chốc mòng.
Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như? 

Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa
Đời Người là kiệt tác thơ Truyện Kiều.

Hoàng Kim

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
ChucmungNammoi

 

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Vietnamese Dan Bau Music
Vietnam traditional music


Vietnamese food paradise
Ta Nợ (Thơ Phan Chí Thắng, Nhạc Nguyễn Quang Nhàn)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu

 

Nguyễn Du trăng huyền thoại

MaiHac
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương  là Từ Hải và Kiều tri âm tri kỷ: “Khen cho con mắt tinh đời. Anh hùng đoán giữa trần ai mới già. Một lời đã biết đến ta. Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau. Hai biên ý hợp tâm đầu. Lúc thân lọ phải là cầu mới thân. Ngỏ lời cùng với băng nhân. Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn. Buồng riêng sửa chốn thư nhàn. Đặt giường thất bảo vây màn bát tiên. Trai anh hùng, gái thuyền quyên. Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng” (Kiều, Nguyễn Du).

Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” là thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương tặng Mai Sơn Phủ Nguyễn Du, ngón hồ cầm tuyệt diệu hát nói ca trù Kiều gẩy đàn cho Kim Trọng nghe “Trong như tiếng hạc bay qua. Đục như nước suối vừa sa nửa vời. Tiếng khoan như gió thoảng ngoài. Tiếu mau sầm sập như trời đổ mưa. Ngọn đèn khi tỏ khi mờ. Khiến người ngồi đấy cũng ngơ ngẫn sầu. Khi tựa gối khi cúi đầu. Khi vò chín khúc , khi chau đôi mày” (Truyện Kiều, Nguyễn Du).  “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm.Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”. Mười năm lưu lạc tìm gươm báu  Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai. (1) “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen” (2) chính là  Những câu thơ lưu lạc  của Mai Sơn Phủ Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc viết cho Hồ Phi Mai Hồ Xuân Hương

Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương là tri âm tri kỷ, là tiếng nói yêu thương khát vọng của con người. Tôi tập dịch bài thơ của Hồ Xuân Hương gửi Mai Sơn Phủ mà thấm thía sâu sắc câu chuyện tình cảm động bền vững với thời gian.

HỒ XUÂN HƯƠNG ‘TỎ Ý’ NGUYỄN DU

Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ”  là bài thơ ‘Tỏ ý’ của Hồ Xuân Hương đối với Nguyễn Du . Bài thơ tình xuân thiết tha, lời thơ là lời hát nói có nhạc bên trong nên câu thơ hay hiếm thấy. Bài thơ “Tỏ ý” này rút trong tập thơ “Lưu Hương Ký” thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương. Con người tác giả và tác phẩm này là nguyên mẫu người và thơ để Nguyễn Du đưa nhân vật, sự kiện và thời thế vào trong kiệt tác Truyện Kiều.

Trang thơ Hồ Xuân Hương 154 bài trên Thi Viện có nhiều bài rất hay: “Độ Hoa Phong” là Hạ Long tuyệt bút yêu thiên nhiên, Bài thơ “Miếu Sầm thái thú” cao vọi tầm tư tưởng nhân hậu và khí phách đảm lược của một kỳ tài, thơ tôn vinh phụ nữ và giải phóng con người, “Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu” tri âm tri kỹ nghĩa tình bền vững, “thơ Nôm truyền tụng” thanh tục đời thường, như có như không. “Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” là kiệt tác thơ tình yêu của Hồ  Xuân Hương .

TỎ Ý

Hồ Xuân Hương
tặng  Mai Sơn Phủ (Nguyễn Du)

(Bản dịch của Hoàng Kim)

Hoa rung rinh,
Cây rung rinh,
Giấc mộng cô đơn nhớ hương tình,
Đêm xuân bao cảm khái.

Hươu nơi nao
Nhạn nơi nao
Mình ước trong nhau ban mai nào
Lòng em thương nhớ ai thấu sao!

Sông mênh mông
Nước dạt dào
Lòng hai chúng mình đều ao ước
Nước mắt thầm rơi mặn chát.

Thơ thương thương,
Lòng vương vương,
Ấm lạnh lòng ai thấu tỏ tường,
Bút người tả xiết chăng?

Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Đâu là gác Đằng Vương ?
Mây vương vương
Nước sương sương
Mây nước chung nhau chỉ một đường
Dặm trường cách trở  thương càng thương.

Ngày thênh thênh,
Đêm thênh thênh,
Đêm ngày khắc khoải nhớ thương anh,
Người ơi đừng lỡ hẹn sai tình.

Gió bay bay
Mưa bay bay
Mưa gió giục em viết thơ này
Bút xuân gửi đến người thương nhớ

Anh đồng lòng
Em đồng lòng
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm (*)
Thơ cùng ngâm
Rượu và trăng
Thăm thẳm buồn ly biệt
Vầng trăng chia hai nữa
Cung đàn ly khúc oán tri âm (**),
Thôi đành bặt tiếng hồ cầm
Núi cao biển sâu đằng đẳng
Xin chớ tủi buồn mà than cổ kim.

Chàng hẹn gì
Ta hẹn gì
Hai ta đều muộn, nói năng chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Lời và chữ còn đó
Ai là kẻ tình si
Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì
Hãy nên trao gửi mối duyên đi
Lòng son ai nỡ phụ.


Kiều – Nguyễn Du
Ca trù hát nói Việt Nam

Non xanh xanh

Nước xanh xanh
Sớm tình tình sớm, trưa tình tình trưa
Áy ai tháng đợi năm chờ
Mà người ngày ấy bây giờ là đây…

Hồng Hồng Tuyết Tuyết ca trù hát nói tinh hoa cổ văn chương Việt) NS Quách Thị Hồ

THƯƠNG KIỀU NGUYỄN DU

Ôi
tâm phúc tương tri
Bốn biển không nhà
Kiều Nguyễn biệt ly
Bởi Nguyễn thương Kiều
Sợ theo thêm bận.
Thương Kiều Nguyễn Du
Sao chẳng đi cùng
Để việc trăm năm
Nghìn năm di hận?
Truyện Kiều Nguyễn Du
Bài học muôn đời.

Hoàng Kim

Nguyên tác:




鹿








































Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ

Hoa phiêu phiêu,
Mộc tiêu tiêu,
Ngã mộng hương tình các tịch liêu,
Khả cảm thị xuân tiêu.

Lộc ao ao,
Nhạn ngao ngao,
Hoan thảo tương kỳ tại nhất triêu,
Bất tận ngã tâm miêu.

Giang bát bát,
Thủy hoạt hoạt,
Ngã tứ quân hoài tương khế khoát,
Lệ ngân chiêm hạ cát.

Thi tiết tiết,
Tâm thiết thiết,
Nồng đạm thốn tình tu lưỡng đạt,
Dã bằng quân bút phát.

Phong ngang ngang,
Nguyệt mang mang,
Phong nguyệt linh không khách đoạn tràng,
Hà xứ thị Đằng Vương?
Vân thương thương,
Thuỷ ương ương,
Vân thuỷ na kham vọng nhất trường,
Nhất trường dao vọng xúc hoài mang.

Nhật kỳ kỳ,
Dạ trì trì,
Nhật dạ thiên hoài lữ tứ bi,
Tứ bi ưng mạc ngộ giai kỳ.

Phong phi phi,
Vũ phi phi,
Phong vũ tần thôi thái bút huy,
Bút huy đô thị phó tình nhi.

Quân hữu tâm,
Ngã hữu tâm,
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm.
Thi đồng ngâm,
Nguyệt đồng châm.
Nhất tự sầu phân ly,
Hà nhân noãn bán khâm.
Mạc đàn ly khúc oán tri âm,
Trực tu khí trí thử dao cầm.
Cao sơn lưu thuỷ vãn tương tầm,
Ưng bất hận ngâm thán cổ câm.

Quân hà kì,
Ngã hà kì,
Lữ đình lai đắc lưỡng thê trì.
Dánh tần phi,
Bút tần huy,
Nhất trường đô bút thiệt,
Hà xứ thị tình nhi?
Hảo tư tâm thượng các tương tri,
Dã ưng giao thác thử duyên đề,
Phương tâm thệ bất phụ giai kỳ.

Bài từ theo điệu Ức Giang Nam.

Kể ý mình và trình bạn là Mai Sơn Phủ

Hoa xiêu xiêu
Cây xiêu xiêu
Giấc mộng tình quê thảy tịch liêu
Đêm xuân cảm khái nhiều.

Hươu ao ao
Nhạn ngao ngao
Vui sướng hẹn nhau một sớm nào
Tả hết được tình sao!

Sông bát ngát
Nước ào ạt
Ý thiếp lòng chàng cũng vu khoát
Lệ rơi thêm mặn chát.

Thơ da diết
Lòng thê thiết
Đậm nhạt tấc lòng ai thấu hết
Liệu bút chàng tả xiết?

Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Đâu là gác Đằng Vương?
Mây tơ vương
Nước như sương
Mây nước trôi đâu chỉ một đường
Một đường xa khuất rộn lòng thương

Ngày chậm rì
Đêm chậm rì
Sáng tối chạnh buồn lữ khách si
Nhớ thương đừng lỡ hẹn, sai kì.

Mưa trôi đi
Gió trôi đi
Mưa gió giục hoài cất bút thi (thơ)
Viết thi gửi tới khách “tình si”

Chàng có tâm
Thiếp có tâm
Mồng hồn lưu luyến bóng hoa râm
Thơ cùng ngâm
Rượu cùng trăng
Tự lúc buồn chia biệt
Ai người ấm nửa chăng?
Chớ đàn li khúc oán tri âm,
Đành xem như hết tiếng dao cầm
Hẹn nhau nơi non nước muộn mằn!
Chớ buồn mà than thở cổ câm (kim).

Chàng hẹn gì
Ta hẹn gì
Hai ta đều muộn, nói mà chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Cũng là thiên lí cả
Ai là kẻ tình nhi
Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì
Hãy nên trao gửi mối duyên đi
Lòng son ai nỡ phụ giai kì.

(Bản dịch của Đào Thái Tôn)

Tham khảo: Bản sao từ bản chép tay của Nguyễn Văn Hoàn, do Nguyễn Xuân Diện cung cấp

Cô gái Mới Lớn Full HD | Phim cổ Trang Việt Nam Hay Nhất

hoxuanhuong
LƯU HƯƠNG KÝ VÀ TRUYỆN THÚY KIỀU

Hồ Xuân Hương là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà hành trạng hiện vẫn khiến nhiều học giả tranh cãi . Lưu Hương Ký và Truyện Thúy Kiều là hai kiệt tác văn chương Việt chứa đựng chuyện tình đặc biệt và cao đẹp hiếm thấy. Nguyễn Du và Xuân Hương là anh hùng và mỹ nhân. Nguyễn Du là đại thi hào danh nhân văn hóa thế giới nhưng tầm vóc anh hùng danh sỹ tinh hoa chỉ mới được Xuân Hương soi thấu. Hồ Xuân Hương là “bà chúa thơ Nôm” nhưng kiệt tác thơ Hán Nôm Hồ Xuân Hương, tình yêu đôi lứa và thân phận con người thì nay vẫn còn bị che khuất.

Điều này cũng đã từng xẩy ra với  kiệt tác “Chiến tranh và Hòa bình” của Lev Tonstoy, bao nhiêu năm qua chỉ mới được đề cao là đỉnh cao văn chương nước Nga và thế giới mà chưa thấy hết tầm vóc tư tưởng cao vọi của một vĩ nhân đại văn hào. Sa Hoàng Nhicolai và toàn bộ gia đình bị quân khởi nghĩa Cách mạng tháng Mười giết nhưng ngày nay ông đang được vinh danh là vĩ nhân lỗi lạc thứ ba ảnh hưởng lớn nhất đến lịch sử nước Nga tương đương Lê Nin. Lev Tonstoy là “thánh sư” gần gũi Sa Hoàng.

Truyện Thúy Kiều và Lưu Hương Ký cũng ví như kiệt tác “Hồng Lâu Mộng” của Tào Tuyết Cần, một kỳ thư nổi tiếng bậc nhất của văn chương Trung Hoa và thế giới nhưng người đời chưa hiểu hết thân phận và mối quan hệ của Tào Tỵ, Tào Dần và Tào Tuyết Cần với các vị vua Khang Hy, Ung Chính và Càn Long. Sau này kiệt tác Lộc Đỉnh Ký ra đời, người đời mới hiểu hết dụng tâm của Kim Dung viết về Khang Hy một trong những vị minh quân xuất sắc nhất trong lịch sử Trung Quốc. Lộc Đỉnh Ký là sách viết về mưu lược trị loạn của Khang Hy, soi thấu các góc khuất Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần.

Truyện Thúy Kiều soi thấu những góc khuất của Lưu Hương Ký và ngược lại. Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương phần một chúng tôi đã viết “Hồ Xuân Hương tỏ ý Nguyễn Du” “Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” để mở đầu cho chuyên luận này, nay biên khảo tiếp phần hai.

HỒ XUÂN HƯƠNG THỰC LÀ AI ?

Hồ Xuân Hương tên thật là Hồ Phi Mai (1772 – 1822) là nhà thơ nữ người Việt nổi tiếng được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm”, tác giả của Lưu Hương Ký kiệt tác thơ Hán Nôm và bà cũng được coi là tác giả thơ Hồ Xuân Hương được truyền tụng rất rộng rãi trong dân gian. Hồ Xuân Hương là con của ông Hồ Phi Diễn (1703- 1786) đỗ tú tài năm 24 tuổi, ra Bắc dạy học, lấy bà họ Hà quê Hưng Yên rồi sinh được một con gái là Hồ Phi Mai nữ sĩ dạy học tại phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận,  Bắc thành  Thăng Long, nay gần vườn Bách Thảo và trụ sở chính của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại số 2 Ngọc Hà, quận Ba Đình, gần hồ Tây của phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, thuộc thủ đô Hà Nội. Hồ Xuân Hương và Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ tức Hồ Thơm là anh em cùng có chung họ Hồ Quỳnh Đôi là ông tổ 5 đời, cùng đời thứ 27 của Đức Nguyên tổ Hồ Hưng Dật. (xem Hồ Xuân Hương gia đình và dòng họ, tài liệu dẫn 1, 2, 3, 4, 5 kèm theo).

Hồ Xuân Hương gia đình và dòng họ.

1. Bà Hồ Xuân Hương là con của ông Hồ Phi Diễn (1703- 1786) đỗ tú tài năm 24 tuổi, ra Bắc dạy học, lấy bà họ Hà quê Hưng Yên rồi sinh được một con gái là Hồ Phi Mai (bút danh sau là Hồ Xuân Hương) ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận (nay ở vườn Bách Thảo gần hồ Tây) được trích dẫn từ Hồ Quỳnh gia phả (gia phả họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nghệ An). Hồ Xuân Hương và Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ tức Hồ Thơm là anh em cùng có chung ông tổ 5 đời, cùng đời thứ 27 của Đức Nguyên tổ Hồ Hưng Dật là dẫn liệu khác cũng trong tài liệu trên. Có người nói lại cho rằng, Hồ Xuân Hương là con ông Hương cống Hồ Sĩ Danh (1706- 1783), em ruột Hoàng giáp Hồ Sĩ Đống nhưng phả hệ Quỳnh Đôi không thừa nhận điều này vì, ông Hồ Sĩ Danh sau khi đỗ Hương cống không ra làm quan, cũng không đi đâu xa khỏi làng nên không thể có con là Hồ Xuân Hương.

2. Trung chi II họ Hồ Quỳnh Đôi chép rằng: “Theo sử cũ, ông tổ đầu tiên của họ Hồ ở Việt Nam là trạng nguyên Hồ Hưng Dật sống vào thế kỷ thứ 10. Tộc phả bị thất truyền 11 đời (khoảng 300 năm). Đến đời 12 (ông Hồ Liêm) dời ra Thanh Hóa và đời 13 (ông Hồ Kha) ở Nghệ An, tộc phả mới liên tục. Năm 1314, ông Hồ Kha từ Quỳ Trạch (Yên Thành) về Quỳnh Đôi xem địa thế và giao cho con cả là Hồ Hồng ở lại cùng 2 người họ Nguyễn, họ Hoàng khai cơ lập nên làng Quỳnh Đôi còn mình trở lại Quỳ Trạch. Sau này ông Hồ Hồng cùng với 2 ông thủy tổ họ Nguyễn, họ Hoàng được dân suy tôn là Thành Hoàng, rước vào thờ ở đền làng. Ông Hồ Kha và ông Hồ Hồng được coi là thủy tổ họ Hồ ở Quỳnh Đôi, thờ ở nhà thờ lớn họ Hồ. Thế thứ (còn gọi là đời, vai) trong họ được tính từ ông Hồ Hân (con ông Hồ Hồng) trở đi, nghĩa là: ông Hồ Hân là đời thứ nhất. Nếu tính từ đời ông Hồ Hưng Dật thì phải cộng thêm 14 đời nữa. Ông tổ trung chi II là Hồ Khắc Kiệm (đời 3) con Hồ Ước Lễ, cháu Hồ Hân. Cháu đời 8 là Hồ Sĩ Anh (còn gọi là Hồ Thế Anh) sinh năm 1618, mất năm 1684, thi hội trúng tam trường, làm tri huyện Hà Hoa (vùng Kỳ Anh, Hà Tĩnh) tước Diễn Trạch hầu. Hồ Thế Anh sinh Hồ Thế Viêm (đậu Sinh đồ), Hồ Phi Cơ (thi hội đậu tam trường), Hồ Danh Lưu, Hồ Phi Tích (đậu Hoàng giáp, tước quận công), Hồ Phi Đoan. Hồ Thế Viêm sinh Hồ Phi Khang (đời 10). Phi Khang sinh 5 con trai: Hồ Phi Phú, Hồ Phi Thọ, Hồ Phi Trù, Hồ Phi Phúc, Hồ Phi Huống. Hồ Phi Phúc sinh 3 con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ (đời 12). Nguyễn Nhạc (1743-1793) sinh các con trong đó có Nguyễn Bảo, con Bảo là Nguyễn Đâu. Nguyễn Huệ (1753-1792) sinh các con trai trong đó có Quang Thiệu (Khang công tiết chế); Quang Bàn (Tuyên công, đốc trấn Thanh Hóa); Quang Toản (vua Cảnh Thịnh 1783-1802). Hồ Phi Cơ (đời 9) sinh Hồ Phi Gia (thi hội đậu tam trường). Hồ Phi Gia sinh Hồ Phi Diễn (đậu sinh đồ) và Hồ Phi Lãng (cũng đậu sinh đồ). Hồ Phi Diễn (1703-1786) sinh Hồ Xuân Hương (đời 12, 1772-1822).

3. Theo “Hồ Tông thế phả”: “Trong lịch sử Việt Nam có hai triều đại phong kiến Việt Nam được hình thành từ người mang họ Hồ gốc ở Quỳnh Đôi là: Triều đại nhà Hồ (14001407): với nhân vật Hồ Quý Ly. Triều đại nhà Tây Sơn với Nguyễn Nhạc; Nguyễn LữNguyễn Huệ.” Bên dưới tài liệu có ghi chú:  Con của Phi Khang là Phi Phú, Phi Thọ, Phi Trù, Phi Phúc, Phi Huống từ Quỳnh Đôi di cư lên Nhân Lý (Nhân Sơn, Quỳnh Hồng ngày nay) rồi một chi chuyển cư vào Thái Lão – Hưng Nguyên, tiếp theo một chi vào trại Tây Sơn – Quy Nhơn.

4. Tại “Bia tưởng niệm Nguyên tổ họ Hồ ở Việt Nam” tại làng Bảo Đội huyện Quỳnh Đôi năm 2005 viết: “Nguyên tổ họ Hồ ở Việt Nam là ngài Hồ Hưng Dật thuộc dòng Bách Việt, sinh tại Vũ Lâm tỉnh Chiết Giang, đậu Trạng nguyên đời Hán An Đế. Ngài sang làm thái thú Châu Diễn, sau đó  từ quan, về làm chủ trại hương Bảo Đột huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An, Ngài đức trọng tài cao giàu lòng nhân nghĩa, để lại cho muôn đời con cháu di huấn: Vạn đại vi dân… Trãi hơn ngàn năm, chừng 40 đời con cháu rãi khắp từ Bắc chí Nam, họ Hồ đã góp sức bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam được quốc sử ghi nhận như: Vua Hồ Quý Ly nhà cải cách lỗi lạc, như vua Quang Trung (Hồ Thơm) thiên tài quân sự, như trạng nguyên Hồ Tông Thốc nhà sử học lớn, như nữ sĩ Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm…”

Những thông tin trên cho đến nay dẫu chưa đủ cơ sở để kết luận hai triều đại nhà Hồ và nhà Tây Sơn xuất thân từ dòng họ trạng nguyên Hồ Hưng Dật vì gia phả dòng họ bị cách quãng 11 đời nhưng rõ ràng Nguyễn Huệ và Hồ Xuân Hương đều đúng là “đồng hương”  họ Hồ Quỳnh Đôi.

5. Theo Trung chi II họ Hồ Quỳnh Đôi thì thời Trịnh Nguyễn phân tranh họ Hồ nhà Tây Sơn đời Hồ Phi Phúc đã vào Bình Định khoảng năm 1655 theo quân của chúa Nguyễn  thời vua Lê Thần Tông. Ông cố (cụ nội) của Nguyễn Huệ tên là Hồ Phi Long (vào giúp việc cho nhà họ Đinh ở thôn Bằng Châu, huyện Tuy Viễn, tức An Nhơn) cưới vợ họ Đinh và sinh được một trai tên là Hồ Phi Tiễn. Hồ Phi Tiễn không theo việc nông mà bỏ đi buôn trầu ở ấp Tây Sơn, cưới vợ và định cư tại đó. Vợ của Hồ Phi Tiễn là Nguyễn Thị Đồng, con gái duy nhất của một phú thương đất Phú Lạc, do đó họ đổi họ của con cái mình từ họ Hồ sang họ Nguyễn của mẹ. Người con là Nguyễn Phi Phúc cũng chuyên nghề buôn trầu và làm ăn phát đạt. Cũng có tài liệu cho rằng họ Hồ đã đổi theo họ chúa Nguyễn ngay từ khi mới vào Nam. Nguyễn Phi Phúc có 8 người con, trong đó có ba người con trai: Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn LữNguyễn Văn Huệ. Nguyễn Nhạc thuở đi buôn trầu nên gọi anh Hai Trầu. Nguyễn Huệ sinh năm 1753. Ông còn có tên là Quang Bình, Văn Huệ hay Hồ Thơm. Sau này, người dân địa phương thường gọi ông là Đức ông Bình hoặc Đức ông Tám. Nguyễn Lữ được gọi là Đức Ông Bảy.

Hồ Xuân Hương thơ giữa đời thường

Trang thơ Hồ Xuân Hương tại “Thi Viện có giới thiệu “154 bài thơ của Hồ Xuân Hương” và “Đôi điều về nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương”: Trong nền văn học Việt Nam, nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương là một hiện tượng đặc biệt, không chỉ trong nội dung và nghệ thuật sáng tác mà ngay cả các văn bản sáng tác của nữ sĩ họ Hồ vẫn còn là những vấn đề đặc biệt, cần tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu.

Riêng về cuộc đời riêng tư của nhà thơ, cho đến nay vẫn còn là những dấu hỏi, chưa có một công trình nghiên cứu nào đáng tin cậy cả.

Trong phần mở đầu bài thơ “Hồ Xuân Hương – người đó là ai” cố nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Hoàng Trung Thông, nguyên Viện trưởng Viện Văn học vốn người xứ Nghệ, làng Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu đã viết:

Người ta nói nhiều về Hồ Xuân Hương
Nhưng người đó là ai?
Thật mỉa mai
Không ai biết rõ

Người ta nói nhiều về Hồ Xuân Hương
Nhưng người đó là ai?
Thật mỉa mai
Không ai biết rõ
Như có như không như không như có
Nàng ở làng Quỳnh
Nàng ở phường Khán Xuân …”

Hồ Xuân Hương thơ giữa đời thường tiêu biểu được truyền tụng rất rộng rãi trong dân gian gồm: Đề đền Sầm Nghi Đống,  Bánh trôi nước, Kẽm Trống, Khóc Tổng Cóc, Khóc ông phủ Vĩnh Tường,  Làm lẽ, Tự tình, Mời trầu, Đèo Ba Dội, Hang Cắc Cớ, Cái quạt, Đánh đu, Thiếu nữ ngủ ngày, Không chồng mà chửa, Chùa Quán Sứ,  Sư hổ mang, Sư bị ong châm, Quan thị, Mắng học trò dốt … Hồ Xuân Hương thơ giữa đời thường bài nào cũng thực thông minh, hóm hỉnh, vừa sâu sắc vừa cận nhân tình.

Đặc trưng nổi bật của Hồ Xuân Hương thơ giữa đời thường là khẩu khí thơ thanh tục tục thanh biến hóa khôn lường, đa tầng ngữ nghĩa, khí phách và đảm lược cao vọi, vượt lên sự nhu thuận nữ nhi thường tình, là tiếng nói giải phóng phụ nữ, giải phóng con người, khiến các bậc anh hùng và minh sư đọc thơ Xuân Hương đều bất giác kính trọng. Xin trích dẫn dưới đây ba bài thơ để dẫn chứng:

Giai thoại Trí Tản chỉ là một trong nhiều giai thoại về Hồ Xuân Hương nhưng khỏa lấp sau tiếng cười để hiểu hết ý tứ thâm trầm của bài thơ là không dễ. Chuyện kể rằng một lần Xuân Hương về thăm làng Quỳnh Đôi, các tài tử văn nhân của làng, của vùng nghe tiếng nàng một cô gái tuyệt sắc và thơ hay lại đáo để nên đã kéo tới rất đông để … xem mặt. Làng Quỳnh Đôi xưa nay nổi tiếng là làng khoa bảng, người chữ nghĩa có nhiều, trong đó có ông đồ Dương Trí Tản vốn tự phụ tài “xuất thơ thành thơ” đã sang xem mặt “người đẹp” và thách đấu thơ văn.Trí Tản ung dung rít điếu thuốc lào rồi đọc một bài thơ “ứng khẩu” đã chuẩn bị sẵn:

Eo lưng thắt đáy thật là xinh
Điếu ai hơn được điếu cô mình
Thoắt châm thoắt bén duyên hương lửa
Càng núc, càng say tính với tình.

Hồ Xuân Hương trả lời luôn:

Giương oai giễu võ thật là kinh
Danh tiếng bao lăm đã tận rồi
Thoáng ngửi thoáng ghê hơi hương lửa
Tài trí ra sao hỏi tính tình.

Bia miệng truyền tụng rất nhanh, nhưng có ẩn ngữ Xuân Hương ngầm nhắn, ít người để ý: Bậc Quân tử mà nàng coi trọng thì không chỉ là “tài trí ra sao” mà quan trọng hơn hết là “tính tình”.

Kẽm Trống thơ Hồ Xuân Hương. Kẽm Trống là một di tích thắng cảnh ở giữa địa phận hai tỉnh Hà NamNinh Bình cách Hà Nội 80 km về phía Nam, nơi “nước cờ Tam Điệp” nổi tiếng. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã viết bài thơ “Kẽm Trống“:

Hai bên thì núi, giữa thì sông
Có phải đây là Kẽm Trống không
Gió đập cành cây khua lắc cắc
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong
Ở trong hang đá hơi còn hẹp
Ra khỏi đầu non đã rộng thùng
Qua cửa mình ơi, nên ngắm lại
Nào ai có biết nỗi bưng bồng

Về phía tả ngạn sông Đáy có một con sông đào dài gần 2 cây số, cả hai đầu đều nối với con sông Đáy, chảy ôm núi Rùa và núi Cổ Động trong quần thể thắng cảnh Kẽm Trống. Tương truyền, trong cuộc tuần du từ kinh đô Huế ra Bắc Hà, vua Minh Mệnh muốn xuôi dòng sông Đáy để ghé thăm Kẽm Trống và Địch Lộng (Ninh Bình). Nhưng khi nghe bài thơ của Hồ Xuân Hương vịnh cảnh Kẽm Trống, thấy những ẩn ý nghịch ngợm, nhà vua không chịu đi qua đoạn sông này mà bắt nhân dân trong vùng phải cấp tốc đào một con sông mới để thuyền ngự vượt qua. Do vậy mới có con sông đào chảy vòng này. Cho đến nay, nhiều người vẫn chưa hiểu hết ẩn tình sâu xa của chuyện này.

Đề đền Sầm Nghi Đống
của Hồ Xuân Hương là bài thơ mà học sinh người Việt hầu như ai cũng biết và rất nhiều người thuộc:

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo
Kìa đền Thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu

Sầm Nghi Đống là Thái thú Điền Châu cùng với Tôn Sĩ Nghị Tổng Đốc Lưỡng Quảng và Ô Đại Kinh Đề Đốc Vân Nam và Quý Châu, ba vị Thái thú tương đương với An Nam quốc vương, đã chia ba đường cùng kéo quân vào xâm lược Đại Việt trong cuộc chiến tranh Thanh Việt năm Kỷ Dậu 1789.

Nhà Thanh với lực lượng đông đảo lại mượn tiếng là giúp triều Lê Trung hưng khôi phục ngai vàng, diệt Nguyễn Huệ có mưu đồ đoạt ngôi, để lung lạc lòng dân Việt vốn yêu nước, yêu tự do và căm ghép kẻ phản quốc. Nhà Thanh với kế sách khôn ngoan và thâm hiểm của vị vua xuất chúng “Thập toàn  đại công” Càn Long: “…việc quân nên từ đồ, không nên hấp tấp. Hãy nên đưa hịch truyền thanh thế đi trước, và cho các quan nhà Lê về nước cũ hợp nghĩa binh, tìm Tự quân nhà Lê đem ra đứng đầu để đối địch với Nguyễn Huệ thử xem sự thể thế nào. Nếu lòng người nước Nam còn nhớ nhà Lê, có quân ta kéo đến ai chẳng gắng sức. Nguyễn Huệ tất phải tháo lui. Ta nhân dịp ấy mà sai Tự quân đuổi theo rồi đại binh của ta theo sau, như thế không khó nhọc mấy mà nên được công to. Đó là mẹo hay hơn cả. Ví bằng suốt người trong nước nửa theo đằng nọ, nửa theo đằng kia, thì Nguyễn Huệ tất không chịu lui. Vậy ta hãy đưa thư sang bảo đường họa phúc, xem nó đối đáp làm sao. Đợi khi nào thủy quân ở Mân (Phúc Kiến), Quảng đi đường bể sang Thuận HóaQuảng Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau thụ địch thế tất phải chịu. Bấy giờ ta sẽ nhân mà làm ơn cho cả hai bên: Tự đất Thuận Hóa, Quảng Nam trở vào Nam thì cho Nguyễn Huệ; tự châu Hoan, châu Ái trở ra Bắc thì phong cho Tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh lại để kiềm chế cả hai bên, rồi sẽ có xử trí về sau.”“.

Quang Trung đã đại phá quân Thanh. Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy, Ô Đại Kinh một cánh quân mạnh phải tháo lui, Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử, Hứa Thế Hanh danh tướng cầm quân cùng toàn bộ lực lượng quân Thanh tinh nhuệ ở đồn Ngọc Hồi bị tiêu diệt, Lê Chiêu Thống không còn cơ may hồi phục, Kế hoạch chiếm Đại Việt của nhà Thanh bị phá sản và ý chí xâm lược bị dập tắt. Điểm nhấn sâu đậm nhất của Chiến thắng Kỷ Dậu 1789 là gò Đống Đa tại biểu tượng đền thờ Sầm Nghi Đống.

Nơi ấy, Sầm Nghi Đống khi đã bị quân Tây Sơn vây chặt, đánh bí thế phải thắt cổ tự tử. Quang Trung khi bang giao với nhà Thanh đã cho người Hoa lập đền thờ Sầm Nghi Đống tại ngõ Sầm Công, gò Đống Đa ngày nay.

Hồ Xuân Hương “ghé mắt trông ngang thấy bảng treo” cố tình chọn một góc nhìn coi thường đối với “Kìa đền Thái thú đứng cheo leo” và bất ngờ hạ hai câu thơ tuyệt bút: “Ví đây đổi phận làm trai được/ Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu !” . “Đổi phận làm trai” là sự diễn đạt ngắn nhất và sâu sắc nhất về thân phận người phụ nữ trong xã hội trọng nam khinh nữ.  Câu kết “há bấy nhiêu” tỏ sự coi thường vị nam nhi Thái thú. Đó là một lời dè bỉu một sự đánh giá thấp. Hồ Xuân Hương tự cho mình có thể làm hơn thế.

Thơ Hồ Xuân Hương đề đền Sầm Nghi Đống là bia miệng.

Vị nam nhi Thái thú đó là ai? Hiển nhiên đó là Sầm Nghi Đống. Nhưng ngoài Sầm Nghi Đống còn ai khác nữa? Hóa ra “ý tại ngôn ngoại” khi Lưu Hương ký và Truyện Thúy Kiều hé bức màn bí mật Từ Hải và nàng Kiều, Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương.

Lưu Hương Ký kiệt tác thơ Hán Nôm

Tập thơ LƯU HƯƠNG KÝ của Hồ Xuân Hương xuất hiện vào năm 1814, là văn bản cổ nhất và đáng tin nhất liên quan đến thơ Hồ Xuân Hương. Tập thơ này mới được phát hiện vào năm 1963 gồm Bài Tựa của Tốn Phong, người Nghệ An viết năm 1814 và 52 bài thơ của Hồ Xuân Hương với 24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm. Trong bài tựa, Tốn Phong tự nhận mình là bạn của Hồ Xuân Hương, tự Cổ Nguyệt Đường, con cháu họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Chính Hồ Xuân Hương đã nhờ ông viết lời tựa ấy: “Đây là tất cả thơ văn trong đời tôi từ trước đến nay, nhờ anh làm cho bài tựa.” (Chữ in đậm là Hoàng Kim nhấn mạnh).

Trong tập thơ Lưu Hương Ký có bài thơ “Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ”  là bài thơ Hồ Xuân Hương “tỏ ý” với Nguyễn Du. Một bài thơ khác đã xác nhận viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn hầu chính là Nguyễn Du.

NHỚ CHUYỆN CŨ
Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu

感舊兼呈勤政學士阮侯 – Nhớ chuyện cũ viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu (*).

Hồ Xuân Hương

Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
Phấn son càng tủi phận long đong.
Biết còn mảy chút sương siu mấy,
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.

(*) Sau đầu đề trên, tác giả có chú: “Hầu, Nghi Xuân, Tiên Điền nhân” 侯宜春仙田人 (Hầu người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân). Như vậy, ở đây Nguyễn Hầu đúng là Nguyễn Du tiên sinh. Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền ghi rõ mùa hè năm Kỉ Tỵ (1809), Nguyễn Du được bổ làm cai bạ Quảng Bình. Tháng 2 năm Quý Dậu (1813) ông được phong Cần chánh điện học sĩ, rồi được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc tuế cống.

Bài thơ Vịnh Hà Long của Hồ Xuân Hương là một tuyệt phẩm. Di sản văn hóa thế giới Hạ Long cho đến nay có lẽ chưa có tác phẩm văn chương nào viết về vịnh Hạ Long của Việt Nam và thế giới ngời sáng hơn bài thơ này:

VỊNH HẠ LONG

Hồ Xuân Hương

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duyềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?(Bản dịch thơ của Hoàng Xuân Hãn)








Độ Hoa Phong

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thủy trung.
Thủy thế mỗi tùy sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo thủy môn thông.
Ngư long tạp xử thu yên bạc,
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thùy thị Thủy Tinh cung.

Dịch nghĩa

Lá buồm không vội vượt qua vũng Hoa Phong,
Vách đá đứng, sườn núi đỏ, giữa nước chỏi dựng lên.
Thế nước tuỳ chỗ theo mặt núi mà biến chuyển.
Hình núi nghiêng mình, nép tựa cửa lạch để nước thông qua.
Cá rồng lẫn lộn, tăm khuất dưới từng hơi nước mỏng mùa thu.
Âu cò cùng ban trong ánh đỏ mặt trời chiều.
Cõi Tiên có ba trăm sáu động ngọc và phòng mây,
Đây không biết chốn nào là cung Thủy Tinh.

Bài thơ Miếu Sầm Thái Thú  ở bản khắc 1922 chữ “lên” khác với chữ “ngang” ở các bản khắc sau cũng là một câu chuyện sử thi thú vị.

MIẾU SẦM THÁI THÚ

Ghé mắt trông lên thấy bảng treo
Kìa đền thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu.

(Bản khắc 1922) chữ “lên” khác với chữ “ngang” ở các bản khắc sau.

Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

Đặc trưng nổi bật nhất trong thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương là nghệ thuật thơ Hán Nôm đặc biệt điêu luyện, sánh ngang những kiệt tác thơ Trung Hoa thời Thịnh Đường. Thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương hàm súc sâu sắc hiếm thấy, trong thơ có nhạc, chuyển tải sử thi văn hóa giáo dục tài tình và khiêm nhu hiền lành rất mực.

Đặc trưng nổi bật thứ hai trong thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương là bà chọn duy nhất chỉ  tập thơ Lưu Hương Ký gồm 52 bài thơ với 24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm nhờ Tốn Phong viết lời tựa: “Đây là tất cả thơ văn trong đời tôi từ trước đến nay, nhờ anh làm cho bài tựa”.Thơ tuyển chọn đã thể hiện thực chất con người Hồ Xuân Hương.

Đặc trưng nổi bật thứ ba trong thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương là Lưu Hương Ký kết với Truyện Thúy Kiều của Nguyễn Du thành tuyệt phẩm văn chương, tinh hoa đặc sắc “song kiếm hợp bích”, biểu tượng văn hóa, anh hùng mỹ nhân, tuyệt kỹ ngôn ngữ tiếng Việt Hán Nôm.

Hai kiệt tác Lưu Hương Ký và Truyện Thúy Kiều bền vững với thời gian.

nguyenduxuanhuongluananhhung

NGUYỄN DU XUÂN HƯƠNG LUẬN ANH HÙNG

Nguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng là bài nghiên cứu lịch sử của Hoàng Kim. Vì sao Xuân Hương lại coi Nguyễn Du là bậc anh hùng danh sĩ tinh hoa. Vì sao Nguyễn Du không ra làm quan cho nhà Tây Sơn. Thời thế Đại Việt các năm 1787 – 1793 ?  “Chút riêng chọn đá thử vàng. Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu? Còn như vào trước ra sau. Ai cho kén chọn vàng thau tại mình? Từ rằng: Lời nói hữu tình. Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân. Lại đây xem lại cho gần.Phỏng tin được một vài phần hay không? Thưa rằng: Lượng cả bao dong. Tấn Dương được thấy mây rồng có phen …“. “Khen cho con mắt tinh đời. Anh hùng đoán giữa trần ai mới già” Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương là tri âm tri kỷ. Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, phần một “Hồ Xuân Hương tỏ ý với Nguyễn Du; phần hai Lưu Hương ký và Truyện Thúy Kiều. phần ba  Nguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng.BandoVietnam1760Các sự kiện chính Việt Nam những năm 1789 -1796. Hình thế Đại Việt đàng Trong và đàng Ngoài năm 1760 (vẽ bởi công ty Cóvens e Mortier, Amsterdam) trích dẫn trong bài  Nguyễn Du đêm thiêng đọc lại đã giúp chúng ta tầm nhìn toàn cảnh về thời thế và niên biểu Nguyễn Du trước và sau mùa xuân Kỷ Dậu năm 1790. Diến biến chiến sự các vùng được tóm tắt dưới đây theo thông tin chi tiết đã được trình bày kỹ trong bài “Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc 1781-1796 ” và “Nguyễn Du cuộc đời và thời thế“.

đằng Trong, nhân lúc Bắc Hà biến loạn, vua Lê trốn vào rừng và phát chiếu cần vương, quân Thanh có thể can thiệp bất cứ lúc nào, Nguyễn Huệ phải lo đối phó từ hai phía. Nguyễn Ánh công phá và bình định Sài Gòn – Gia Định ngày Đinh Dậu tháng 8 năm Mậu Thân (9.1788). Đông Định Vương Nguyễn Lữ bị rơi vào mưu kế chia rẽ của Nguyễn Ánh đối với Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ nên đã phải rút chạy về Quy Nhơn. Phạm Văn Tham tướng Nguyễn Nhạc lui về giữ những điểm trọng yếu ở Ba Thắc và Biên Hòa, đồng thời cấp báo về  Quy Nhơn xin viện binh. Nguyễn Nhạc không dám phát binh vì sợ Nguyễn Ánh thừa cơ mang thủy quân ra đột kích miền Trung. Nguyễn Vương nhân cơ hội này đã đánh rộng ra chiếm trọn Nam Bộ. Thất bại chiến lược này của nhà Tây Sơn do trước đó, năm 1787 Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đã bất hòa rất nghiêm trọng về việc Nguyễn Huệ chống đối Nguyễn Nhạc không chịu sung vào quân lương số vàng bạc châu báu rất lớn mà quân Bắc Bình Vương đã cướp được từ kho chúa Trịnh, đồng thời Nguyễn Huệ đòi quyền quản lý Quảng Nam. Nguyễn Nhạc uất ức chán nản vì em của ông tuy tài trí xuất chúng đánh giỏi và cơ trí hơn người nhưng mãnh liệt hung bạo và khó chế ngự, không còn tin theo phương lược của ông là chỉ nên tranh hùng với chúa Nguyễn ở đất phương Nam mà tạm thời chưa dòm ngó phương Bắc vì cựu thân tôn phò nhà Lê còn rất mạnh. Nhà Thanh lại ủng hộ nhà Lê. Mầm họa nhà Tây Sơn tăng dần và sự bất hòa này đã bị Nguyễn Ánh triệt để lợi dụng.

đằng Ngoài, năm 1987 Nguyễn Huệ theo kế Nguyễn Hữu Chỉnh bất ngờ đánh ra Nghệ An và thuận thời đột kích Thăng Long thắng lợi, chiếm được Bắc Hà mà không kịp xin lệnh Nguyễn Nhạc, sau đó Nguyễn Huệ cưới công chúa Lê Ngọc Hân con vua Lê Hiển Tông. Nguyễn Nhạc vì quyết sách hòa hiếu đằng Trong đằng Ngoài tạo thành hai nước Bắc Nam nên đã cấp tốc ra Bắc, thay đổi tướng hiệu và cùng Nguyễn Huệ về Nam. Vua Lê Chiêu Thống dùng mưu thần Nguyễn Hữu Chỉnh và trung thần Lê Quýnh đuổi Trịnh Bồng quyết giành lại thực quyền từ nhà chúa, sau đó tiếp tục mưu việc giành lại Nghệ An. Tướng Tây Sơn Vũ Văn Nhậm con rể Nguyễn Nhạc trấn thủ Quảng Bình đã cùng Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân theo lệnh Nguyễn Huệ kéo đại quân ra Bắc giết Nguyễn Hữu Chỉnh. Vua Lê Chiêu Thống trốn chạy vào rừng ở Yên Thế Thái Nguyên Tuyên Quang chống lại Tây Sơn. Vũ Văn Nhậm không bắt được Lê Chiêu Thống nên đã lập chú vua là Lê Duy Cận làm Giám Quốc. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ kéo quân kỵ gấp đường ra Thăng Long, nửa đêm đến nơi bắt Vũ Văn Nhậm giết đi, đổi đặt quan quân, đặt quan lục bộ và các quan trấn thủ, vẫn để Lê Duy Cẩn làm Giám Quốc, chủ trương việc tế lễ để giữ tông miếu tiền triều, dùng Ngô Thì Nhậm làm Lại bộ tả thị lang, cùng bọn Ngô Văn Sở ở lại giữ đất Bắc Hà, còn Nguyễn Huệ thì trở về Nam. Mẹ vua Lê Chiêu Thống đã cầu xin nhà Thanh viện binh giúp vua Lê phục quốc. Vua Càn Long lợi dụng tình hình cho Tôn Sĩ Nghị, Ô Đại Kinh, Sầm Nghi Đống ba cánh quân của Lưỡng Quảng, Quý Châu – Vân Nam, Điền Châu chia đường sang cứu viện và nhân tiện cướp Đại Việt. Quân Thanh vào đến Thăng Long đã theo kế Càn Long lập Lê Chiêu Thống lên làm An Nam quốc vương để chống lại nhà Tây Sơn. Nguyễn Huệ tại Phú Xuân nhận được tin cấp báo đã lên ngôi Hoàng Đế để chính danh phận và lập tức kéo quân ra Bắc. Nhà Nguyễn Tiên Điền và những cựu thần nhà Lê trừ số theo vua bôn tẩu ra ngoài đều không được vua Lê tin dùng vì Nguyễn Khải anh Nguyễn Du vốn và thầy chúa Trịnh có thù sâu nặng với vua Lê. Nguyễn Huệ dụng binh như thần và khéo chia rẽ, mua chuộc nên nhiều cựu thần nhà Lê như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, và kể cả Nguyễn Nễ là anh trai Nguyễn Du và Đoàn Nguyễn Tuấn là anh vợ Nguyễn Du đều lần lượt ra làm quan với nhà Tây Sơn. Riêng Nguyễn Du thì không ra. Năm Kỷ Dậu (1789) Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Sầm Nghi Đống tự sát ở gò Đống Đa, Tôn Sĩ Nghị tháo chạy về Bắc, cánh quân của Ô Đại Kinh rút chạy,  Đồn Ngọc Hồi  với toàn bộ quân Thanh và danh tướng  Hứa Thế Hanh giữ đồn này đều bị diệt. Vua Quang Trung chiều ngày 5 Tết đã khải hoàn ở kinh thành Thăng Long. Các anh của Nguyễn Du ra làm  quan với nhà Tây Sơn. Phủ đệ của họ Nguyễn Tiên Điền bên hồ Tây được sửa lại. Nguyễn Huệ sau khi đại phá quân Thanh, bằng mưu kế ngoại giao của nhà Tây Sơn với vua Càn Long nên được phong làm An Nam quốc vương, Lê Chiêu Thống phát động cuộc chiến ở tây Nghệ An và Trấn Ninh Lào nhưng bị thua bởi danh tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu. Vua Lê cũng bị bại ở trận chiến Cao Bằng Tuyên Quang do quân mỏng lực yếu không làm thay đổi được ý định của vua Càn Long và Phúc Khang An đang dụng kế để sớm ổn định phương Nam dốc sức cho việc tranh giành kho báu ở núi Tuyết (mời đọc bài Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết Sơn). Kết cục vua Lê Chiêu Thống và các trung thần tiết nghĩa nhà hậu Lê đã bị “bán đứng”  “Nhà vua bị người ta lừa gạt, bị giám buộc ở quê người đất khách, đến nỗi lo buồn phẫn uất, ôm hận mà chết, thân dẫu chết, nhưng tâm không chết, kể cũng đáng thương! (trích lời phê của vua Tự Đức). Nguyễn Ánh lợi dụng tình hình Bắc Hà rối loạn nên đã chiếm trọn đất phương Nam. Nguyễn Du không chịu theo phò nhà Tây Sơn mà cam lòng ẩn nhẫn câu cá tại ao vườn của anh là Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân. Nguyễn Du cùng Xuân Hương luận anh hùng. Nguyễn Huệ bị chết đột ngột ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (16 tháng 9 năm 1792).

Nguyễn Du làm gì trong bốn năm 1790 – 1792?  Năm 1790 Nguyễn Du cư ngụ tại chùa Hổ Pháo bên Tây Hồ, tại Hàng Châu, nơi Từ Hải tức Minh Sơn Hoà thượng từng tu hành, trước khi đi giang hồ thành cướp biển. Nguyễn Du tại đây có được bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Ông gặp lại Nguyễn Đại Lang tại miếu Nhạc Phi cũng bên cạnh Tây Hồ. Chính nơi đây Nguyễn Du viết 5 bài thơ, một bài Nhạc Phi, hai bài Tần Cối và hai bài Vương Thị, sau đó Nguyễn Du cùng Nguyễn Đại Lang đi Yên Kinh gặp vua Lê Chiêu Thống, và trở về Hàng Châu thì gặp Đoàn Nguyễn Tuấn cùng với sứ đoàn Tây Sơn tại một lữ quán. Tại đây, Nguyễn Du bàn chuyện về hồng nhan đa truân và Đoàn Nguyễn Tuấn đã viết hai bài thơ tặng văn nhân họ Nguyễn. Nguyễn Du về Long Châu và trở về Thăng Long. Ba năm 1791-1793, Nguyễn Du ở với Nguyễn Nể, đang làm quan Tây Sơn tại Bắc Thành giữ chức Hàn Lâm thị thư, sung chức Phó sứ tuế công. Năm 1791, Nguyễn Nễ đi sứ về, đã xây dựng lại một phần dinh thự Bích Câu, tại đây Nguyễn Du nghe cô Cầm, người nhạc nữ cũ cung vua Lê đánh đàn.

Nguyễn Du không ra làm quan cho triều Tây Sơn mà làm “Nam Hải điếu đồ” như Lã Vọng xưa, câu cá tại ao vườn của anh Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân. Chính nơi đây, Nguyễn Du cùng Xuân Hương Hồ Phi Mai đã có ba năm vẹn 1790-1992 sống cùng nhau để trầm tĩnh nhìn thời thế biến chuyển. Câu chuyện luận anh hùng của họ là trong thời điểm này. Những ẩn ngữ Lưu Hương ký và Truyện Thúy Kiều, Nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều chính là từ hình mẫu của  Nguyển Du và Hố Xuân Hương.

Nguyễn Du sau ba năm  (1790-1792) trầm tĩnh theo dõi đại cục. Cuối năm 1993 Nguyễn Du  vào Phú Xuân tìm cách giúp cho hai anh Nguyễn Nễ và Đoàn Nguyễn Tuấn thoát ra khỏi họa diệt tộc khỏi dính líu quá sâu vào triều Tây Sơn, khi Nguyễn Du đã đọc nghìn lần kinh Kim Cương và đã nhìn thấy mối họa khó bề cứu vãn của triều đại Tây Sơn.

Hồ Xuân Hương ngưỡng mộ Nguyễn Du là bậc anh hùng, danh sĩ tinh hoa, minh triết, trí tuệ, đảm lược, khí phách “Thưa rằng: lượng cả bao dong. Tấn Dương được thấy mây rồng có phen”. Nguyễn Du là anh hùng danh sĩ tinh hoa có khí phách, đảm lược như vua Tấn Văn Công đã bôn ba, chịu hoạn nạn, “bốn biển không nhà” như tích Tấn Dương xưa.

Hồ Xuân Hương thương Nguyễn Du long đong chìm nổi bị người đời và lịch sử thị phi vì “bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn” làm một tôi trung của nhà Lê, cam chịu cảnh mười lăm năm lưu lạc, chỉ hé lộ với “Bắc Hành tạp lục” và “Truyện Kiều” chứa một trời tâm sự để trao lại ngọc cho đời.

Hồ Xuân Hương tri âm tri kỷ, kính trọng Nguyễn Du rất mực, mẫu người phụ nữ thể hiện trên Lưu Hương Ký là biểu tượng văn hóa Việt của một người vợ hiền nhân hậu đầy yêu thương, tài năng trác tuyệt, như bản tính vốn có của Xuân Hương.

Sự “sắc sảo mặn mà” của Xuân Hương cũng căm ghét quyết liệt đối với những cái ác, cái xấu, vô văn hóa, đạo đức giả, mất nhân tính. Bà thẳng tay vạch trần những kẻ tính tình hung bạo thủ đoạn nham hiễm với lối diễn đạt sắc sảo lạ lùng “ngước mắt trông lên thấy bảng treo. Kìa đền Thái thú đứng cheo leo. Ví đây đổi phận làm trai được. Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu”Giương oai giễu võ thật là kinh Danh tiếng bao lăm đã tận rồi  Thoáng ngửi thoáng ghê hơi hương lửa Tài trí ra sao hỏi tính tình” .

Nguyễn Du thương Hồ Xuân Hương đọa đày tủi nhục không được chung sống với người minh yêu “Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung” phải trãi qua ba đời chồng, cam chịu lẽ mọn, chỉ tỏa sáng bia miệng giai thoại và Lưu Hương Ký. Nguyễn Du thương Hồ Xuân Hương “khen cho con mắt tinh đời. Anh hùng đoán giữa trần ai mới già” . Nguyễn Du đã dùng lời Thúy Kiều đánh giá “Từ Hải” và lời của Từ Hải thán phục Thúy Kiều, để thể hiện sự ý hợp tâm đầu của đôi nam nữ “trai anh hùng, gái thuyền quyên”.

Tôi lưu một ít trích dẫn dưới đây mà chưa kịp chép thêm Nguyễn Du niên biểu của Năm Giáp Dần (1794). Nguyễn Du 30 tuổi. Năm Ất Mẹo (1795). Nguyễn Du 31 tuổi. Năm Bính Thìn (1796). Nguyễn Du 32 tuổi, kết thúc Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc 1781-1796.

Ba năm vẹn” trong Lưu Hương ký của Hồ Xuân Hương nhớ Nguyễn Du là những năm 1990-1992. Nguyễn Du từ năm 1788 khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai xuống lệnh “cầu hiền” tìm kiếm quan lại của triều cũ. Danh sĩ Bắc Hà nhiều người đã đầu quân cho nhà Tây Sơn Nguyễn Du không chịu ra phò tá triều đại Tây Sơn nhưng cũng không chịu vào Nam theo Nguyễn Ánh như Đặng Trần Thường. Năm 1790 sau chiến thắng vang dội của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ đuổi quân Thanh và ngoại giao nhà Tây Sơn thành công, dồn Lê Chiêu Thống vừa bị thất bại quân sự, ngoại giao vừa bị “bán đứng” và chết thảm thì Nguyễn Du vẫn làm “Nam Hải điếu đồ” như Lã Vọng xưa, câu cá tại ao vườn của anh Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân, lặng lẽ kín đáo cùng Xuân Hương đàm luận anh hùng. Mãi đến sau này khi Thận Quận Công bắt câu lưu Nguyễn Du ở Nghệ An nhưng tha không giết. Điều đó ẩn tàng nhiều lý do riêng, kín đáo, sâu sắc, khó nhận thấy. Người đời sau chỉ mới nhìn thấy ông dốc lòng cùng người thân trong họ Nguyễn Tiên Điền lập đền thờ cho những nghĩa sĩ “Cố Lê tiết nghĩa thần” (các bầy tôi tiết nghĩa đời Lê). Câu chuyện về Nguyễn còn dài. Trước đèn chỉ mới đang dần sáng tỏ “Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương”, “Lưu Hương Ký và Truyện Thúy Kiều”,  và  “Nguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng

Thưa rằng: Lượng cả bao dong
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen
Rộng thương cỏ nội hoa hèn
Chút thân bèo bọt, dám phiền mai sau!

Nghe lời vừa ý gật đầu
Cười rằng tri kỷ trước sau mấy người
Khen cho con mắt tinh đời
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già
Một lời đã biết đến ta
Muôn chung nghìn tứ, cũng là có nhau

Hai bên ý hợp tâm đầu
Khi thân, chẳng lọ là cầu mới thân
Ngõ lời cùng với băng nhân
Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn
Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn
Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên
Trai anh hùng gái thuyền quyên
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.

LƯU HƯƠNG KÝ và TRUYỆN THÚY KIỀU là những kiệt tác và chỉ dấu quan trọng để hiểu thời thế và anh hùng thời đại Nguyễn Du.

*

NGUYỄN DU 250 NĂM NHÌN LẠI là chuyên luận của Hoàng Kim gồm 12 bài : 1) Nguyễn Du quê hương và dòng họ; 2)  Nguyễn Du cuộc đời và thời thế  Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ (1765- 1780) Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc (1781-1796), Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối (1797- 1820), 3)  Nguyễn Du thơ chữ Hán, 4) Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ, 5)  Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương,  6) Nguyễn Du là bậc anh hùng, 7)  Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa, 8) Thêm tư liệu quý về Nguyễn Du,  9) Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ,   10) Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa;  11) Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ, 12) Nguyễn Du nửa đêm đọc lại.

“Bất tri tam bách dư niên hậu.
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”.
Ba trăm năm nữa chốc mòng.
Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như? 
Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa
Đời Người là kiệt tác thơ Truyện Kiều.

Hoàng Kim

Chú dẫn quan trọng:

Nguyễn Du niên biểu 1787-1792

Năm Đinh Mùi (1787) Nguyễn Du 22 tuổi. Nguyễn Nhạc từ Thăng Long trở về, phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương trấn thủ Phú Xuân, còn mình thì dẫn tùy tùng về Quy Nhơn, tự xưng làm Trung Ương Hoàng Đế, phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương ở đất Gia Định, phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương ở đất Thuận Hóa, lấy Hải Vân làm giới hạn. Nguyễn Nhạc hỏi những báu vật vàng bạc đoạt được ở phủ chúa Trịnh. Nguyễn Huệ từ chối không nộp. Nguyễn Huệ muốn kiêm quản cả đất Quảng Nam nhưng Nguyễn Nhạc không cho. Cùng thêm một số chuyện hiềm khích cơ mật khác. Nguyễn Huệ bèn phát hịch kể tội Nhạc , rồi đem quân vào vây thành Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc đóng cửa thành cố thủ. Đặng Văn Trấn, tướng của Nguyễn Nhạc để tham đốc là Trần Tú ở lại giữ thành Gia Định còn mình tự đem quân về cứu viện nhưng khi đến Phú Yên thì bị quân của Nguyễn Huệ bắt. Nguyễn Huệ vây Quy Nhơn ngặt đến nỗi Nguyễn Nhạc phải thân lên thành mà kêu khóc, gọi Nguyễn Huệ mà bảo rằng: ” Nỡ lòng nào lại nồi da nấu thịt thế này?” Nguyễn Huệ mới động lòng rút quân về Thuận Hóa. Hai anh em tuy hòa giải nhưng thực lòng vẫn oán giận nhau.

Nguyễn Ánh sau trận thất bại năm Giáp Thìn (1784)  sang lánh nạn ở Xiêm (Thái Lan) nóng lòng mong chờ viện binh nhưng Nguyễn Huệ đã khéo sai sứ sang thông hiếu với Thái Lan. Nguyễn Ánh thấy ở nước người  lâu ngày không tiện nên bí mật về nước theo kế của Tống Phước Đạm. Trước hết Nguyễn Ánh sai Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Liêm về Hà Tiên dò xét tình hình, khâu nối lực lượng., Phạm Văn Nhơn về Hòn Tre sửa soạn tàu bè, cai cơ Ngoạn, cai cơ Trung đi mua thóc dự trữ sẵn lương thực, rồi nhân đêm tối, không từ biệt vua Xiêm mà ra về vào ngày Bính Dần tháng Bảy. Khi Nguyễn Ánh về đến Hòn Tre mới biết chuyện cai cơ Trung giết chủ thuyền buôn Thái Lan để cướp của cải. Ông đã lệnh chặt đầu cai cơ Trung gửi đến vua Thái để tạ lỗi. Nguyễn Ánh cũng thu phục bọn cướp biển Hà Hỉ Văn đảng Bạch Liên Giáo nay làm cướp biển Hà Tiên. Ông cũng thu phục được danh tướng Nguyễn Văn Trương trấn thủ Long Xuyên.  Tống Phước Đạm lợi dụng sự bất hòa của nhà Tây Sơn lập kế li gián Đông Định Vương Nguyễn Lữ là trấn tướng Gia Định và Phạm Văn Tham là phó tướng của Nguyễn Lữ.  Tống Phước Đạm bắt được vợ lẽ của hộ đốc Lý tướng Tây Sơn và đã làm mật thư giả của Nguyễn Nhạc gửi Nguyễn Lữ, trong thư nói Phạm Văn Tham là phe đảng của Nguyễn Huệ và khiến Nguyễn Lữ giết đi. Tống Phước Đạm giao thư cho vợ lẽ của hộ đốc Lý mang về dụ hàng Phạm Văn Tham.  Tham xem thư cả sợ bèn giương cờ trắng (hiệu kỳ của Nguyễn Ánh) kéo về dinh lũy của Nguyễn Lữ. Đông Định Vương tưởng Tham đã mang quân về hàng Nguyễn Ánh rồi, sợ Tây Sơn quân mỏng không  thể địch nổi nên bỏ chạy về Quy Nhơn. Từ đó, Phạm Văn Tham một mình trấn giữ Gia Định. Quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh giao chiến một số trận lớn nhỏ. Thế lực Nguyễn Vương ngày một lớn mạnh. Thái úy Nguyễn văn Hưng từ Quy Nhơn mang ba mươi chiến thuyền vào tiếp ứng. Nguyễn Ánh cố thủ.  Ít lâu sau, Nguyễn Văn Hưng chuyển thóc gạo đầy các thuyền rồi rút đi. Nguyễn Ánh chia bình đóng những nơi hiểm yếu chẹn đường quân Tây Sơn.

Giữa lúc này Nguyễn Hữu Chỉnh đem binh từ Nghệ An tiến gấp về Thăng Long để bảo vệ vua. Nguyễn Hữu Chỉnh đuổi Trịnh Bồng, tôn phò vua Lê Chiêu Thống. Năm 1787, khi họ Trịnh thất bại trong việc khôi phục lại địa vị, Trịnh Bồng chạy khỏi kinh thành, Lê Chiêu Thống ngầm cho người đốt phủ chúa đi. Đám cháy lan khắp hai phần ba kinh thành và cháy trong mười ngày liền[7][12] làm mất đi một quần thể kiến trúc đẹp của Thăng Long – Hà Nội. Điều này được sách Hoàng Lê nhất thống chí chép như sau: Sớm hôm sau, hoàng thượng mới biết là Án đô vương đã trốn đi lúc ban đêm tức thì ngầm sai người phóng hoả đốt hết phủ chúa. Khi phủ cháy, khói lửa bốc lên ngút trời, hơn mười ngày chưa tắt[13]Lê Chiêu Thống nghe lời Nguyễn Hữu Chỉnh cho vét hết chuông đồng, tượng đồng ở các chùa, đền trong nước đem đúc tiền dùng vào việc quân. Sách Lê Quý kỷ sự chép: Người đương thời có câu mỉa mai: “Thiên hạ thất tự chung, chung thất, nhi đỉnh an tại! Hoàng thượng phần vương phủ, phủ phần, tức điện diệc không!” Nghĩa là: “Thiên hạ mất chuông chùa, chuông đã mất, vạc dựa vào đâu![14] Hoàng thượng thiêu phủ Chúa, phủ bị thiêu, điện trơ ra đó!”[12][15]

Vua Lê Chiêu Thống cũng theo kế của Nguyễn Hữu Chỉnh sai người ngầm mang nhiều vàng bạc đưa cho Nguyễn Văn Duệ để giết Võ Văn Dũng và lấy sông Gianh làm ranh giới như cũ. Vũ Văn Nhậm dò biết mưu ấy bèn cấp báo cho Nguyễn Huệ. Huệ liền sai người ra Nghệ An bắt Duệ nhưng Duệ thấy động đã đem quân thuộc hạ theo đường rừng trốn về Quy Nhơn. Nguyễn Huệ sai Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân theo quyền tiết chế Vũ Văn Nhậm đem quân ra Bắc hỏi tội Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh cho thuộc tướng chống giữ nhưng đều bị đánh tan. Vua Lê Chiêu Thống sai Lê Quýnh cùng hơn 30 người tôn thất đem bà Hoàng Thái hậu và Hoàng phi, Hoàng tử chạy lên Cao Bắng. Chỉnh thì cướp đường rước vua Lê Chiêu Thống chạy lên Kinh Bắc về đóng ở núi Mục Sơn đất Yên Thế.

Nhậm sai bộ tướng Nguyễn Văn Hòa truy sát và đuổi kịp Nguyễn Hữu Chỉnh, bắt sống đóng gông giải về Thăng Long.  Nhậm kể tội rồi sai chặt chân tay, phanh thây Chỉnh. Nhậm tìm vua Lê Chiêu Thống không được bèn tôn Sùng Nhượng Công Lê Duy Cẩn lên làm Giám Quốc để thu phục lòng người. Thầy đề lại Giám Quốc mỗi ngay phải sang chầu chực ở dinh Vũ Văn Nhậm. Nhậm tỏ ý kiêu ngạo. Ngô Văn Sở mật trình tấu sự tình về Nguyễn Huệ.

Bắc Bình Vương lập tức truyền lệnh kéo quân kỵ gấp đường ra Thăng Long, nửa đêm đến nơi bắt Vũ Văn Nhậm giết đi, đổi đặt quan quân, đặt quan lục bộ và các quan trấn thủ, để Lê Duy Cẩn làm Giám Quốc, chủ trương việc tế lễ để giữ tông miếu tiền triều, dùng Ngô Thì Nhậm làm Lại bộ tả thị lang, cùng bọn Ngô Văn Sở ở lại giữ đất Bắc Hà, còn Nguyễn Huệ thì chọn ngày về nam.

Mẹ của vua Lê Chiêu Thống chạy lên Cao Bằng cùng với Đốc trấn Nguyễn Huy Túc chạy sang đất nhà Thanh xin với Tổng đốc Lưỡng Quảng xin cứu viện. Tôn Sĩ Nghị dâng biểu lên vua Càn Long xin điều quân Lưỡng Quảng, Vân Nam, Quý Châu chia làm đường sang cứu viện cho vua Lê. Lúc này vua Chiêu Thống đã chạy lánh vào Bảo Lộc, Trấn Ninh.

Nguyễn Du năm ấy đi lại giữa Thăng Long, Quảng Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Nghệ An nhưng đang là lúc “ngọa hổ tàng long” nên Nguyễn Du hành tung bí mật, rất ít lộ diện. Những sử liệu dưới đây cho thấy các địa điểm ẩn hiện của ông:

Trong  “Lê Quý Kỷ Sự” của Nguyễn Thu có nói đến cuộc khởi nghĩa tại Tư Nông của cựu Trấn Thủ Thái Nguyên Nguyễn Đăng Tiến, tước Quản Vũ Hầu, bị tướng Tây Sơn bắt giải về cho Vũ Văn Nhậm. Nhậm trọng sự khí khái nên dụ hàng, sau đó cũng tha bổng và cho phép muốn đi đâu thì đi.  Họ đi sang Vân Nam. Nguyễn Quýnh quay trở về Hồng Lĩnh khởi nghĩa bị bắt và bị giết năm 1791 tròn 30 tuổi, dinh thự và làng Tiên Điền bị đốt sạch. Đến Vân Nam, Nguyễn Du bị bệnh ba tháng mùa xuân. Hết bệnh, họ đi Liễu Châu và chia tay, Nguyễn Đại Lang về thăm quê nhà vùng Quế Lâm, cao sơn lưu thủy. Nguyễn Du đi giang hồ ba năm ở Trung Quốc trong áo mũ nhà sư mang danh Chí Hiên, từ Quảng Tây theo thuyền đi dọc sông và Hồ Động Đình đến Hán Khẩu, rồi theo sông Hán rồi lên Trường An viết bài Dương Quý Phi, Bùi Tấn Công mộ, Phân Kinh thạch đài, rồi lại theo kinh Đại Vận Hà đến Hàng Châu .

Tại lời đề “tiểu dẫn” của “Thăng long cầm giả ca”, chính  Nguyễn Du đã nói rõ rằng những năm trước và sau cái Nguyễn Huệ ra Bắc lần 2 đến lúc Nguyễn Huệ chết, ông chủ yếu ở Thăng Long và “Lưu Hương ký” của Hồ Xuân Hương cũng trùng khớp và là lời xác nhận về “ba năm vẹn” đó.

Trong “Thanh Hiên thi tập” nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Chánh đã phát hiện thấy “có những bài tả cảnh tuyết, núi non trùng điệp, lá vàng, trưởng giả ăn mặc còn theo nhà Hán (không theo nhà Thanh để tóc bính đuôi sam, áo quần Mãn Châu), dân chúng theo lịch nhà Tần, xử dụng nhạc cụ “tù và” ? … Nguyễn Du có những câu thơ kỳ lạ: Tôi đọc kinh Kim Cương nghìn lượt?. Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế? Giang Bắc, Giang Nam cái túi không? Nguyễn Du làm gì mà đọc kinh Kim Cương trong ba năm, đội mũ vàng nhà sư đi muôn dậm (khoảng 5000 km), làm gì không tiền mà đi hết các sông phía bắc đến sông phía nam Dương Tử Giang ? Nguyễn Du ở đâu mà cách Trường An ngàn dậm về phía Nam ?Theo Nguyễn Hành, cháu Nguyễn Du, có viết ông có một cuộc đời giang hồ như cuộc đời làm quan : Giang hồ long miếu hai điều đủ, Thi họa cầm thư bốn nghệ tinh. Theo gia phả từ năm 1786 đến 1796 Nguyễn Du về quê vợ tại Quỳnh Hải, Thái Bình hợp cùng Đoàn Nguyễn Tuấn khởi nghĩa chống Tây Sơn. Nhưng điều này không đúng vì từ năm 1788 Đoàn Nguyễn Tuấn ra làm quan Tây Sơn và đi sứ trong đoàn 158 người năm 1790. Đoàn Nguyễn Tuấn có hai bài thơ viết tặng một văn nhân họ Nguyễn, gặp tại Hoàng Châu, Trung Quốc vào mùa thu bàn luận về văn chương sôi nổi chuyện gì ?, Đoàn Nguyễn Tuấn phải lên Nhiệt Hà nơi vua Càn Long đang nghỉ mát ? Văn nhân họ Nguyễn đi xe song mã về Nam và hẹn gặp lại tại nước nhà vào mùa xuân. Trên đường đi cớ gì mà Đoàn lại viết một bài thơ Vô Đề về hồng nhan đa truân khi gặp một ca nhi hát cho sứ đoàn tại bến sông Hán?.”

Nguyễn Du dẫn vợ con về quê bà vợ cả ở Thái Bình sống qua ngày. Đó cũng là thời gian ông sáng tác tập Thanh Hiên tiền hậu tập, Nguyễn Hưng Quốc đã nhận định như vậy trong bài  “Tết đọc lại Nguyễn Du”. … “tổng số 65 bài của tập thơ, có 17 bài nhắc đến hình ảnh bạch phát hay bạch đầu: “Bạch đầu đa hận tuế thời thiên” (Đầu bạc thường bực vì ngày tháng trôi mau); hay “Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên” (Tráng sĩ đầu bạc bùi ngùi ngẩng lên trời) hay “Bạch phát hùng tâm không đốt ta” (Tóc bạc rồi, dù có hùng tâm, cũng chỉ biết ngồi suông than thở). Không biết ông bệnh gì, nhưng lúc nào cũng than bệnh: “Nhất nhất xuân hàn cựu bệnh đa” (Một nhà xuân lạnh, bệnh cũ lại nhiều); “Tam xuân tích bệnh bần vô dược” (Ba tháng xuân ốm liên miên, nghèo không có thuốc); “Cùng niên ngọa bệnh Tuế giang tân” (Suốt năm đau ốm nằm ở bến Tuế giang); “Đa bệnh đa sầu khí bất thư” (Lắm bệnh, hay buồn, tâm thần không được thư thái); “Thập niên túc tật vô nhân vấn” (Bệnh cũ mười năm, không ai thăm hỏi); “Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu” (Bệnh đến trong bước giang hồ đã lâu ngày). Đã bệnh lại còn nghèo. Phải ở nhờ nhà người khác: “Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia” (Đầu bạc bơ phờ ở nhờ nhà người). Hết nhờ người này sang nhờ người khác: “Lữ thực giang tân hựu hải tân” (Hết ăn nhờ ở miền sông lại đến miền biển). Lúc nào trong túi cũng rỗng không: “Giang nam giang bắc nhất nang không” (Một chiếc túi rỗng không, đi hết phía nam sông lại sang phía bắc sông). Thiếu mặc: “Tảo hàn dĩ giác vô y khổ” (Mới rét mà đã thấy khổ vì không áo). Có khi đói: “Táo đầu chung nhật vô yên hỏa” (Suốt ngày bếp không đỏ lửa). Ngay cả khi Nguyễn Du đã ra làm quan dưới triều Gia Long rồi, có năm vợ con vẫn đói: “Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng” (Nhà mười miệng trẻ đói xanh như rau); “Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc” (Nhà mười miệng ăn đang kêu đói ở phía bắc Hoành sơn). Mười đứa trẻ ở đây chính là con của Nguyễn Du. (Gia phả ghi Nguyễn Du có 3 vợ: bà vợ đầu sinh một con trai tên Nguyễn Tứ; bà vợ thứ hai cũng sinh một con trai tên Nguyễn Ngũ; bà vợ thứ ba sinh mười con trai và sáu con gái; tổng cộng, như vậy, ông có 18 người con. Tuy nhiên, căn cứ vào tên người con đầu, Nguyễn Tứ, chúng ta có thể đoán là ông có ba người con khác, anh hay chị của Nguyễn Tứ, có lẽ đã chết lúc còn nhỏ hoặc ngay trong bào thai.) Đói đến độ có lúc phải xin ăn: “Cơ hàn bất giác thụ nhân liên” (Đâu ngờ phải đói rét để cho người thương). Nhưng buồn nhất có lẽ là cảm giác bất lực và bế tắc…”

Năm Mậu Thân (1788). Nguyễn Du 23 tuổi. Tống Phước Đạm dâng kế cho Nguyễn Ánh: “Tây Sơn tuy lấy được Bắc Hà nhưng vua Lê Chiêu Thống và triều đình nhà Lê còn trốn tránh trong vùng rừng núi, nhất định sẽ cầu viện nhà Thanh. Nhân lúc Nguyễn Huệ đang bận đối phó ở phía Bắc chưa rỗi để mắt đến phía Nam. Nguyễn Nhạc và  Nguyễn Lữ ở phía Nam khó xoay trở. Chúa thượng nhân lúc này về chiếm đất Gia Định sẽ có thời cơ lớn”. Nguyễn Ánh nghe lời, đem đại quân về An Giang nhưng chưa kịp dựng đồn trại thì đã bị quân Tây Sơn tấn công. Quân hai bên giao chiến kịch liệt, quân của Thái bảo Phạm Văn Tham mới chịu lui. Thề lực Nguyễn Ánh ngày một nổi lên và có nhiều tướng giỏi. Tôn Thất Huy đóng ở Giồng Triệu. Lê Văn Quân đóng ở Giồng Trôm. Mạc Tử Sinh trấn thủ Hà Tiên. Phạm Văn Nhơn trấn thủ Long Xuyên. Trương Phước  Giáo, Nguyễn Đình Đắc, Tôn Thất Hội, Võ Văn Lượng, Nguyễn Văn Hiếu, Mạc Văn Tô, Trần Văn Tín, Đoàn Văn Khoa , … đều là những nghĩa dũng. Đặc biệt quân sư Tống Phước Đạm mưu kế sâu sắc, liệu việc như thần. Chu Văn Tiếp, Đỗ Thành Nhơn, Võ Tánh là Gia Định tam hùng. Nguyễn Ánh trao cho Võ Tánh giữ chức khâm sai Tổng nhung, chưởng cơ dinh Tiên phong, lại gả trưởng công chúa Nguyễn Thị Ngọc Du cho Võ Tánh. Từ ngày Nguyễn Ánh lên nối ngôi vua Nguyễn tháng 2 năm 1780, sau đó giết Đỗ Thanh Nhơn, thâu tóm quyền lực, cho đến năm 1788 chưa bao giờ thế lực quân Nguyễn mạnh đến như vậy. Nguyễn Ánh thu phục Gia Định lần thứ Tư nhằm ngày Đinh Dậu tháng 8 năm Mậu Thân (9.1788). Tướng Tây Sơn Phạm Văn Tham lui về giữ những điểm trọng yếu ở Ba Thắc và Biên Hòa, đồng thời cấp báo về Quy Nhơn để xin viện binh. Nguyễn Nhạc chần chừ không dám phát binh vì sợ quân Nam thừa cơ đánh úp Quy Nhơn trong khi Nguyễn Huệ đang bận ở mặt Bắc không thể kịp ứng cứu. Do Gia Định quân Tây Sơn không có cứu viện nên lực lượng Nguyễn Vương đã đánh rộng ra các địa bàn phía Nam và làm chủ vững chắc vùng Nam Bộ ngày nay.

Lại nói về Bắc Hà, tháng 5 năm 1788, khi vua Lê Chiêu Thống chạy lánh vào Bảo Lộc, Trấn Ninh tìm kế đánh trả quân Tây Sơn thì mẹ và con trai Lê Chiêu Thống đã chạy lên Cao Bằng. Trước sự uy hiếp của các thế lực cát cứ địa phương, thì những bầy tôi nhà Lê là Đốc đồng Nguyễn Huy Túc, phiên thần Địch quận công Hoàng Ích Hiểu, tụng thần Lê Quýnh và Nguyễn Quốc Đống đã bảo vệ thái hậu và con trai Chiêu Thống qua cửa ải Thủy Khẩu chạy sang Long Châu nhà Thanh, gặp Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị và Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh cầu xin cứu viện.

Sách Cương mục viết: “Thái hậu đưa nguyên tử (con trai Chiêu Thống) đến yết kiến ở trong sân, gào khóc xin cứu viện. Bọn Sĩ Nghị tâu với vua Thanh rằng tự hoàng nhà Lê đương phải bôn ba, đối với đại nghĩa, ta nên cứu viện. Vả lại, An Nam là đất cũ của Trung Quốc, sau khi khôi phục nhà Lê, ta nhân đó, đặt lính thú để đóng giữ. Thế là vừa làm cho nhà Lê được tồn tại, vừa chiếm lấy được An Nam: thật là làm một chuyến mà được hai lợi.”[4]

Vua Càn Long chuẩn tấu, muốn nhân cơ hội đánh chiếm Đại Việt bèn sai Tổng đốc Lưỡng QuảngTôn Sĩ Nghị mang từ 18.000 đến hơn 20 vạn quân (“Các ý kiến về số quân Thanh” là rất khác nhau từ nhiều nguồn), bao gồm các đạo binh huy động từ bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân NamQuý Châu hộ tống vua Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa phù Lê. Quân Thanh chia làm 3 đường tiến sang Đại Việt:

1. Quân Quảng Đông, Quảng Tây do Tôn Sĩ Nghị (chức tổng đốc Lưỡng Quảng) trực tiếp chỉ huy, qua ải Nam Quan vào Lạng Sơn; phó chỉ huy là Hứa Thế Hanh (chức đề đốc) cùng các tướng Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long (cả hai đều đang mang chức tổng binh), Lý Hóa Long (chức phó tướng).

2. Quân Vân Nam, Quý Châu do đề đốc Vân Quý là Ô Đại Kinh, từ Vân Nam qua ải Mã Bạch, theo đường Tuyên Quang xuống Sơn Tây vào Thăng Long.

3. Quân tình nguyện Điền châu do Sầm Nghi Đống chỉ huy, theo đường Long Châu tiến vào Cao Bằng rồi tiến về Thăng Long. Cả 3 đạo quân đều xuất phát vào cuối tháng 10 âm lịch năm 1788.

Vua Càn Long lại đặc cử danh tướng Phúc Khang An chuyên trách hậu cần. Theo sách Thánh vũ ký, phần “Càn Long chinh phủ An Nam ký” của Ngụy Nguyên đời Thanh, Phúc Khang An đã thiết lập trên 70 đồn quân lương to lớn và kiên cố từ hai đường Quảng TâyVân Nam tới Thăng Long. Riêng chặng đường từ ải Nam Quan tới Thăng Long, Khang An thiết lập 18 kho quân lương trong khi Tôn Sĩ Nghị hành quân.

Vua Lê Chiêu Thống lẩn quất chạy trốn quân Vũ Văn Nhậm ở mạn bắc sông Nguyệt Đức, khi thì ở huyện Gia Định, lúc lại đi Chí Linh, Thủy Đường, Vị Hoàng. Nhậm kiêu ngạo, tiếm quyền. Tháng tư năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Huệ lại ra bắc, vào thành Thăng Long, bắt giết Vũ Văn Nhậm, cho Ngô Văn Sở cai quản binh quyền, đặt Lê Duy Cận làm giám quốc coi việc thờ cúng tôn miếu nhà Lê. Chiêu Thống bị Ngô Văn Sở đánh tan ở sông Ngô Đồng, chạy vào Thanh Hoa rồi ra Kinh Bắc lần thứ hai.

LeChieuThongdonquanThanhTôn Sĩ Nghị khi kéo sang Đại Việt, sai Lê Quýnh, Nguyễn Quốc Đống về tâu lại với Chiêu Thống. Vua bấy giờ mới biết, bèn cho Tham tri chính sự Lê Duy Đản và Hàn lâm hiệu thảo Trần Danh Án đi đường tắt lên đón quân nhà Thanh

Khi quân Thanh tiến qua biên giới, Ở Lạng Sơn, thấy quân lính dưới quyền trốn mất, Phan Khải Đức ra hàng còn Nguyễn Văn Diễm rút vội về Kinh Bắc hợp với Trấn thủ Nguyễn Văn Hoà chống giữ và đưa thư cáo cấp về Thăng Long[13] . Theo thư Lê Chiêu Thống gửi cho Tôn Sỹ Nghị, tổng số quân Tây Sơn đóng ở miền Bắc khoảng 60 ngàn quân, trong đó có 30 ngàn quân do bắt lính tại địa phương, không có lòng chiến đấu.

Ngô Văn Sở được tin quân Thanh kéo sang liền nhóm họp các văn võ quan nhà Lê Trung Hưng đưa một bức thư ký tên Giám Quốc Sùng Nhượng Công, Lê Duy Cẩn sang xin hoãn binh với Tôn Sĩ Nghị.

Các tướng Tây Sơn mở cuộc thảo luận. Nhiều người bàn dùng phục binh đánh quân Thanh như Lê Lợi diệt tướng MinhLiễu Thăng, Lương Minh trước đây, duy Ngô Thì Nhậm chủ trương kế hoạch, nhử quân Thanh vào sâu nội địa, thủy quân rút về Biện Sơn trước, lục quân kéo vào đóng giữ núi Tam Điệp rồi báo tin vào cho Bắc Bình Vương. Chiến lược này được chấp thuận, binh sĩ các đạo đều được lệnh về hội ngay dưới cờ của Tiết Chế Ngô Văn Sở tại bờ sông Nhị vào năm hôm sau. Sở bàn kế hoạch lui quân.

Ngô Văn Sở phái tướng Phan Văn Lân đưa hơn 10 ngàn quân tinh nhuệ chốt giữ bến đò Xương Giang chặn quân Tôn Sỉ Nghị. Quân Tây Sơn vượt sông Nguyệt Đức đánh vào quân Thanh đang đóng ở núi Tam Tầng, bao vây doanh trại của Tôn Sĩ Nghị. Súng của quân Thanh và cung tên từ hai cánh tả hữu bắn ra như mưa, quân Tây Sơn chết rất nhiều. Tôn Sĩ Nghị lại phái một toán kỵ binh từ mạn thượng lưu vượt qua sông đánh úp lấy đồn Thị Cầu. Đồn này phát hỏa, Văn Lân cả sợ rút về.[14]

Lê Chiêu Thống được tin quân Tây Sơn rút khỏi các trấn, bèn điều các tướng dưới quyền đi chiếm lại những nơi đó. Giữa tháng 11 năm 1788, quân Thanh tới bờ bắc sông Thương. Quân Tây Sơn rút về bờ nam nhưng chặt phá hết cầu và lấy hết thuyền bè. Theo sách Thánh vũ ký, phần “Càn Long chinh phủ An Nam ký” của Ngụy Nguyên, quân Thanh đã tổn thất khá nhiều mới bắc được cầu qua sông do đạn của quân Tây Sơn bắn sang trước khi rút hẳn.

Quân Thanh tiến đến Thị Cầu, Phan Văn Lân đã chặt cầu và tận dụng bờ nam cao hơn bờ bắc mà bắn đại bác sang khiến quân Thanh mất 3 ngày (15 đến 17 – 11) không bắc nổi cầu. Nửa đêm 17 tháng 11, Phan Văn Lân mang một ngàn quân bản bộ theo khúc sông Cầu định tập kích trại Tôn Sĩ Nghị nhưng bị thiệt hại do hoả lực của quân Thanh bắn ra. Sau đó Văn Lân đụng độ tướng Thanh là Trương Triều LongTam Tằng. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, Quân Tây Sơn ít và yếu thế bại trận, nhiều người bị rét cóng hay chết đuối lúc vượt sông, quân Tây Sơn chết gần hết, phải rút lui.

Trong khi đó, lục quân của Ngô Văn Sở cũng rút về tới Ninh Bình cố thủ. Ngày 20 tháng 11, quân Tây Sơn đóng đồn từ Tam Điệp tới Biện Sơn, Ngô Văn Sở cho đô đốc Tuyết vào nam cấp báo với Bắc Bình vương Nguyễn Huệ.

Tôn Sĩ Nghị từ Tam Tằng tiến vào Thăng Long. Lê Duy Kỳ từ Kinh Bắc ra đón rồi cùng theo vào kinh thành. Không lâu sau, các đạo quân Vân – Quý và Điền châu cũng tiến vào hội binh. Theo các nhà nghiên cứu[12], cuộc hành quân của Tôn Sĩ Nghị từ 28/10 tới 20/11 tức là mất 22 ngày mới tới Thăng Long, lâu hơn nhiều so với thời gian 6 ngày mà Nghị từng dự liệu với Càn Long.

Ngày 21 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), thành Thăng Long bỏ ngỏ, quân của Nghị vào đóng và tướng doanh của Nghị đặt tại Tây Long Cung. Theo lời vua Thanh dặn, Sĩ Nghị lấy xong thành này rồi trao ấn cho Duy Kỳ, tấn phong làm An Nam quốc vương lấy lòng dân Đại Việt.[14]. Ngày 22, Sĩ Nghị làm lễ ở điện Kính Thiên để làm lễ sách phong cho vua Lê Chiêu Thống.

Tôn Sĩ Nghị tính chuyện truy kích Nguyễn Huệ nhưng Tôn Vĩnh Thanh tâu là Quảng Nam xa cách đô thành nhà Lê 2.000 dặm, dùng quân 1 vạn người thì phải cần 10 vạn phu vận tải, cũng bằng từ Trấn Nam Quan đến thành họ Lê.[15] Các bề tôi văn võ nhà Lê xin Nghị cho quân tiến đánh ngay quân Nguyễn Huệ nhưng Nghị không nghe, truyền cho các cánh quân hạ trại nghỉ ngơi, định ngày mồng 6 Tết mới ra quân.

Sách Cương mục viết:  “Bấy giờ hào kiệt bốn phương đua nhau trổ sức để làm việc, nhưng nhà vua chủ yếu chỉ dựa vào người Thanh. Khi chia ban quan chức, nhà vua chỉ trao cho các bầy tôi đi theo hộ giá và theo hầu ở hành tại, còn cựu thần và hào kiệt đều không được bổ dùng. Các bầy tôi cũng không ai nói đến việc ra quân để phục thù. Trong kinh và ngoài các trấn thảy đều chán nản và rời rạc. Cái cơ thành hay bại chỉ một mực tùy theo người Thanh mà thôi. Thế là việc nước không thể xoay xở được nữa”[4].

Tổ chức phòng thủ của quân Thanh: Tôn Sĩ Nghị bố trí quân Thanh đóng ở phía nam tới phía tây thành Thăng Long, cho đạo quân Lưỡng Quảng đóng hai bên bờ sông Hồng, quân Điền châu đóng ở Khương Thượng, quân Vân Quý đóng ở Sơn Tây.Theo Hoàng Lê nhất thống chíKhâm định Việt sử Thông giám Cương mục của nhà Nguyễn, quân Thanh ở Thăng Long chểnh mảng phòng thủ, thường đi cướp bóc hãm hại dân Đại Việt nên bị oán ghét. Lê Duy Kỳ thực hiện thanh trừng những người hợp tác với Tây Sơn. Theo Đại Nam thực lục, Nguyễn ÁnhGia Định nghe tin quân Thanh vào Thăng Long cũng sai Phan Văn TrọngLâm Đồ mang thư và chở 50 vạn cân gạo ra cho quân Thanh nhưng giữa đường bị bão biển, cả người và gạo đều bị đắm hết.

Tôn Sĩ Nghị lúc đầu chủ quan, nhưng sau nghe lời cảnh báo của các tướng dưới quyền Lê Duy Kỳ cũng tăng cường phòng thủ và quyết định ngày 6 tháng Giêng sẽ ra quân đánh Tây Sơn. Tôn Sỉ Nghị bố trí đồn Ngọc HồiThanh Trì (Hà Nội), đồn Hà HồiThường Tín (Hà Nội), đồn Nhật TảoDuy Tiên (Hà Nam) và đồn Nguyệt Quyết huyện Thanh Liêm (Hà Nam). Quân Cần vương của Duy Kỳ do Hoàng Phùng Tứ chỉ huy cũng được điều từ Sơn Tây xuống Gián Khẩu làm tiền đồn chặn quân Tây Sơn. Quân Thanh đồng thời cũng tụ tập thêm được các Hoa Kiều sống ở phía Bắc Đại Việt được chừng một vạn người đóng thành một trại, nhóm quân này ỷ thế đi cướp phá, và hãm hiếp không kiêng sợ gì ai[16]. Dù Tôn Sĩ Nghị có ra sắc lệnh nghiêm quân kỷ nhưng vì quân kiêu nên cũng không có tác dụng lắm[17].

Nguyễn Huệ ở Bình Sơn, Phú Xuân nhận được tin cấp báo của đô đốc Tuyết ngày 24 tháng 11. Ngay hôm sau 25 tháng 11, Nguyễn Huệ đã quyết định lên ngôi Hoàng Đế, đổi niên hiệu là Quang Trung, và ngay hôm ấy lập tức đưa quân lên đường tiến gấp ra Bắc. Đến Nghệ An, Nguyễn Huệ đóng lại hơn 10 ngày để tuyển thêm quân, cứ 3 suất đinh lấy 1 suất lính. Sau 1 thời gian ngắn, ông đã có thêm hơn hàng vạn người. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, số quân cũ và mới của Quang Trung là 10 vạn và hơn 100 voi chiến[2].  Nguyễn Huệ tuyển quân Thanh Nghệ làm đạo Trung quân cùng bốn đạo Tiền, Hậu, Tả, Hữu  của cựu binh Thuận Quảng gấp đường tiến ra Bắc.

Về thái độ của dân chúng, sử gia Nguyễn Khắc Thuần trong sách Đại cương Lịch sử cổ trung đại Việt Nam ghi thì thanh niên địa phương nô nức gia nhập hàng ngũ Tây Sơn[20] còn theo sử gia Tạ Chí Đại Trường trong sách Lịch sử nội chiến Việt Nam 1771- 1802 thì trích trong thư giáo sĩ Longer là người đương thời gởi cho Julliard cho biết quân Tây Sơn bắt lính “gay gắt đến nỗi người ta không biết trốn vào đâu để tránh quân dịch. Các kẻ sai nha đem chó theo để tìm người trong khu rừng bên cạnh như người ta tìm thú: người ta lấy dao xỉa vào các đống rơm dùng để đun nấu”[21]

Quang Trung tổ chức duyệt binh và tiến ra bắc. Ngày 20/12, Quang Trung tiến đến Tam Điệp và tán thành chủ trương rút lui của Ngô Thì Nhậm. Theo sách Lê triều dã sử, sở dĩ quân Tây Sơn hành quân nhanh chóng vì Nguyễn Huệ đã bố trí 3 người 1 tốp thay nhau 2 người cáng 1 đi suốt ngày đêm. Theo Quân doanh kỳ lược của Trần Nguyên Nhiếp (là bí thư dưới quyền Tôn Sĩ Nghị), nghe tin thám tử quân Thanh các nơi chạy về báo Nguyễn Huệ đang lấy thêm lính Thanh – Nghệ và sắp đánh ra bắc, Tôn Sĩ Nghị vội cho quân tập dượt để chuẩn bị tác chiến, sai phó tướng Hứa Thế Hanh trực tiếp chỉ huy mặt trận phía nam Thăng Long[22].

Tổ chức các hướng tấn công của quân Tây Sơn như sau:  Quang Trung chia quân làm 5 đạo tiền, hậu, tả, hữu và trung quân. Ông phân quân cũ cho các tướng còn tự mình chỉ huy số quân mới tuyển.

  1. Đạo quân do Quang Trung chỉ huy có Ngô Văn SởPhan Văn Lân làm tiên phong, có cả tượng binh và kỵ binh đánh vào chính mặt nam Thăng Long.
  2. Đạo quân do đô đốc Tuyết chỉ huy theo đường thuỷ tiến vào sông Lục Đầu, đánh đồn quân cần vương của Lê Duy KỳHải Dương, chặn đường rút của quân Thanh bên kia sông Hồng.
  3. Đạo quân đô đốc Lộc chỉ huy cùng đạo quân đô đốc Tuyết theo đường thuỷ tiến vào sông Lục Đầu, tới đây tách ra đi gấp lên Phượng Nhãn, Lạng Giang chặn đường rút của quân Thanh phía bắc.
  4. Đạo quân đô đốc Bảo chỉ huy, cũng có tượng binh và kỵ binh theo đường Ứng Hoà (Hà Tây) ra làng Đại Áng, phối hợp với cánh quân Quang Trung đánh đồn Ngọc Hồi của Hứa Thế Hanh.
  5. Đạo quân đô đốc Long chỉ huy, (có ý kiến cho rằng là tướng Đặng Tiến Đông hoặc đô đốc Mưu…[23]). Đạo quân này cũng có tượng binh và kỵ binh theo đường Chương Đức, hướng lên Sơn Tây nhưng sẽ rẽ quặt sang làng Nhân Mục tập kích đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống và tiến vào Thăng Long từ hướng tây.

Năm Kỷ Dậu (1789). Nguyễn Du 24 tuổi. Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh.

Đêm giao thừa Tết Nguyên Đán (30 Tết), từ phòng tuyến Tam Điệp, quân Tây Sơn xuất phát. Đạo quân do Quang Trung chỉ huy vượt sông Giao Thuỷ đánh đồn Gián Khẩu của quân cần vương nhà Lê. Quân Lê tan vỡ, Hoàng Phùng Tứ bỏ chạy. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, quân Quang Trung thần tốc tiến lên bắt gọn đám quân Thanh do thám và tiêu diệt các đồn bắc sông Nguyệt Quyếtđồn Nhật Tảo (Duy Tiên). Do đạo quân Tây Sơn hành quân nhanh và các đám quân do thám bị bắt, quân Thanh từ đồn Hà Hồi tới Thăng Long không biết gì về cử động của quân Tây Sơn.

Ngày 3 tháng Giêng, quân Tây Sơn tiến đến Hà Hồi cách Thăng Long khoảng 20 km. Quang Trung cho quân vây chặt đồn rồi sai bắc loa kêu gọi quân Thanh đầu hàng. Quân Thanh bị bất ngờ trước sự áp sát quá nhanh của quân Tây Sơn, không kịp kháng cự, đều ra hàng.

Ngày 4 tháng Giêng, Quang Trung tiến đến đồn Ngọc Hồi. Hứa Thế Hanh ở đây nghe tin đồn Hà Hồi bị diệt vội báo về Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị vội điều Thang Hùng Nghiệp mang quân ra tăng viện, lại đặc sai 20 kỵ binh phải thay nhau chạy đi chạy lại báo cáo tình hình.

Nhưng khi tiến quân tới Ngọc Hồi, Quang Trung không đánh ngay. Quân Thanh bị động cũng không dám giao tranh trước nhưng cũng không biết bị đánh khi nào. Cả ngày mùng 4, Quang Trung chỉ cho quân hư trương thanh thế để uy hiếp tinh thần quân Thanh và gây sự chú ý của quân Thanh tới đạo quân do ông chỉ huy vào mặt trận Ngọc Hồi để tạo điều kiện cho yếu tố bất ngờ của các đạo quân đô đốc Long và đô đốc Bảo. Chính Tôn Sĩ Nghị nghe báo cáo của kỵ binh cũng bị hút vào đồn Ngọc Hồi mà không nhận ra nguy cơ từ cánh quân của đô đốc Long.

Khi Quang Trung diễu võ ngoài đồn Ngọc Hồi, đô đốc Long đang trên đường bắc tiến hướng đến Sơn Tây – nơi có đạo quân Vân Quý của Ô Đại Kinh – thì bất thần rẽ sang làng Nhân Mục nay thuộc xã Nhân ChínhKhương Đình và nửa đêm bất ngờ tập kích đồn Khương Thượng của Sầm Nghi Đống.

Theo Thánh vũ ký của Nguỵ Nguyên, các đội voi của Tây Sơn đều có đại bác trên lưng nã vào đồn. Quân Thanh bị đánh bất ngờ trong đêm tối, chết rất nhiều, tan vỡ bỏ chạy. Sầm Nghi Đống thấy không thể giữ được đồn bèn tự sát trên đài chỉ huy ở Loa Sơn (Khu vực phố chùa Bộc – Hà Nội hiện nay)[24].

Một số tài liệu mới mà giới nghiên cứu đưa ra gần đây lại cho thông tin khác về diễn biến trận diệt đồn Khương Thượng. Theo đó, khi quân Thanh bị diệt đáng kể, Sầm Nghi Đống bỏ chạy lên cố thủ tại đài chỉ huy ở Loa Sơn. Đô đốc Long chia quân làm hai cánh,  một cánh đánh sang Nam Đồng để tiến vào Thăng Long, một ít quân tiếp tục vây hãm Loa Sơn. Sầm Nghi Đống không tự vẫn ngay mà cố thủ trên đài chờ cứu viện của Tôn Sĩ Nghị, nhưng tới ngày hôm sau không có quân cứu, Sầm mới tuyệt vọng và thắt cổ tự sát[25]. Khu vực Khương Thượng và xung quanh, do xác quân Thanh chết quá nhiều, sau chất thành 12 gò cao, có đa mọc um tùm gọi là Gò Đống Đa. Trận diệt đồn Khương Thượng cũng còn gọi là trận Đống Đa.

Hạ xong đồn Khương Thượng, ngay trong đêm mùng 4, đô đốc Long tiến vào bắn phá đồn Nam Đồng ở phía tây thành Thăng Long. Khi Tôn Sĩ Nghị nhận được tin báo việc đồn Khương Thượng thất thủ thì đô đốc Long đã diệt xong đồn Nam Đồng và tiến vào đánh bản doanh của Nghị ở Thăng Long.

Tôn Sĩ Nghị vội vàng tháo chạy. Các tài liệu cũ đều mô tả cảnh hỗn loạn của quân Thanh. Hoàng Lê nhất thống chí viết:

“Nghị lên ngựa không kịp đóng yên, quân sĩ các doanh nghe tin đều hoảng hốt tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô nhau rơi xuống nước mà chết… Lát sau cầu lại đứt, quân lính bị rơi xuống nước, sông Nhị Hà bị tắc không chảy được…”

Đại Nam chính biên liệt truyện viết:

“Tôn Sĩ Nghị đóng trên bãi cát, được tin bại trận vội vàng cưỡi ngựa một mình chạy về bắc. Tướng sĩ thấy vậy tranh nhau qua cầu mà chạy, cầu đứt, lăn cả xuống sông, chết đến vài vạn người, làm cho nước sông không chảy được.”

Theo Thánh vũ ký của Ngụỵ Nguyên nhà Thanh:

“Sĩ Nghị chạy trốn qua được bờ bắc sông Phú Lương (Tức sông Hồng) liền cắt đứt cầu phao khiến các đạo quân của Hứa Thế Hanh và Trương Triều Long bị bỏ lại ở bờ nam. Do đó hơn 1 vạn người vừa tướng vừa quân xô nhau nhảy xuống sông để bơi sang bờ bắc và đều bị chết đuối cả”[26],[27].

Lê Duy Kỳ được tin Sĩ Nghị đã bỏ chạy, vội dắt gia quyến chạy theo, ra đến bờ sông thì cầu đã gãy, phải men theo bờ sông phía Nghi Tàm, lấy được chiếc thuyền đánh cá chèo sang được bên kia sông Hồng. Em Duy Kỳ là Duy Chi được sai giữ cửa ô Yên Hoa (Tức Yên Phụ ngày nay) thấy Duy Kỳ đã chạy, cũng bỏ chạy lên Tuyên Quang.

Đạo quân Vân Nam – Quý châu của tướng Ô Đại Kinh đóng ở Sơn Tây, theo Thánh vũ ký, được tin các đồn thất thủ, không giao chiến trận nào đã bỏ chạy, nhờ tướng người ViệtHoàng Văn Đồng dẫn đ