Minh triết Thomas Jefferson


MINH TRIẾT THOMAS JEFFERSON

Hoàng Kim.

Minh triết Thomas Jefferson là phần năm bài nghiên cứu về khoa học nông nghiệp, giáo dục lịch sử văn hóa “Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương” của Hoàng Kim. Sự nối tiếp phần một “Con đường di sản Lewis và Clark“; phần hai “Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng”, phần ba “Đối thoại giữa các nền văn hóa’, phần bốn “Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe“. Mời đọc  https://hoangkimlong.wordpress.com/category/di-khap-que-nguoi-de-hieu-dat-que-huong/

Thomas Jefferson là vị tổng thống thứ ba của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, ông là người sáng lập ra Đảng Dân chủ – Cộng hòa Hoa Kỳ, và là một nhà triết học chính trị có ảnh hưởng lớn, một trong những người theo chủ nghĩa tự do nhiệt thành lớn nhất thời cận đại, nhà tư tưởng và lập pháp hàng đầu của nước Mỹ. Di sản lớn nhất gửi lại cho hậu thế của Thomas Jefferson là một nhà minh triết, tác giả của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ, của Đạo Luật Virginia về Tự Do Tôn Giáo và Người Cha của Đại Học Virginia’. Di sản này ảnh hưởng to lớn đến nước Mỹ và toàn cầu, đủ đọng mật cho một thế giới biến chuyển.

Thomas Jefferson trên mộ chí của mình, ông yêu cầu viết nguyên văn câu:

HERE WAS BURIED THOMAS JEFFERSON
AUTHOR OF THE DECLARATION OF AMERICAN INDEPENDENCE
OF THE STATUTE OF VIRGINIA FOR RELIGIOUS FREEDOM
AND FATHER OF THE UNIVERSITY OF VIRGINIA.
Tạm dịch là “Nơi đây an nghỉ Thomas Jefferson, tác giả của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ, của Đạo Luật Virginia về Tự Do Tôn Giáo và là Người Cha của Đại Học Virginia”.

Sức lan tỏa của minh triết Thomas Jefferson thật rộng lớn. Bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo, và đọc trước công chúng tại vườn hoa Ba Đình (nay là quảng trường Ba Đình) ngày 2 tháng 9 năm 1945 trong câu đầu tiên đã có trích dẫn Bản tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ: “Hỡi đồng bào cả nước, ‘Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc’.   Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do“. Ngày 3/9/1945, tức chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ trong thời kỳ mới cần phải thực hiện ngay là “… Thứ ba, phải có một hiến pháp dân chủ. Người đề nghị Chính phủ “tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống… Thứ sáu, đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: tín ngưỡng tự do và Lương – Giáo đoàn kết …” Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 đã được tổ chức thành công, một cuộc bầu cử thật sự tự do, thật sự dân chủ, là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam. Chính sách lớn tín ngưỡng tự do và Lương – Giáo đoàn kết thật sự là nguồn sáng của đại đoàn kết dân tộc. Sinh thời minh triết Hồ Chí Minh rất ít trích dẫn. Bác nói: “Mác, Ang ghen, Lê Nin nói rất đúng. Nhưng hoàn cảnh Mác, Ang ghen, Lê Nin hoàn toàn khác hoàn cảnh của chúng ta. Vậy nên muốn nói gì, trước hết phải hiểu cho thật rõ điều mà các vị ấy muốn nói, nói cho phù hợp với hoàn cảnh của mình, cho dân mình dễ hiểu.”. (Hà Đăng 2002. Trường Chinh, người anh cả trong làng báo. Trong sách: Trường Chinh, một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 320).

Đối thoại giữa các nền văn hóa chính là sự chỉ ra được những học tập tương đồng và giao thoa văn  hóa.

Minh triết Thomas Jefferson là một chỉ dấu đặc biệt quan trọng.

THOMAS JEFFERSON CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP 

Thomas Jefferson sinh ngày 13 tháng 4 năm 1743 tại Shadwell, Quận Goochland, Virginia, nay thuộc Quận Albemarle. Cha của Thomas Jefferson là Peter Jefferson, một kỹ sư đo đất và làm chủ một đồn điền nông nghiệp có gốc tổ tiên miền Wales nước Anh. Mẹ của ông là bà Jane Randolph, con gái của ông Isham Randolph, một thuyền trưởng có trang trại riêng và thỉnh thoảng cũng có làm ruộng. Cha và mẹ ông kết hôn năm 1739. Thomas là con là con trai lớn thứ ba trong gia đình gồm 4 trai 6 gái mà các anh chị lớn phần nhiều đã mất lúc nhỏ nên khi ông Peter qua đời lúc Thomas Jefferson 14 tuổi đã là trưởng nam quản lý gia sản thừa kế 2.000 ha đất đồn điền với 20-40 nô lệ do người giúp việc quản gia John Harvie trông nom.

Thomas Jefferson bắt đầu đi học lúc 5 tuổi và đã trải qua 7 năm trong số 9 năm đầu tiên tại nông trại gia đình bên bờ sông James, gần Richmond, tiểu bang Virginia. Năm Thomas lên 9 tuổi, gia đình ông dọn về Shadwell và Thomas vào học nội trú tập đọc  tập viết tại trường làng và cũng được cha dạy kèm thêm. Ông Peter đã dạy con câu cá, săn gà rừng, học cưỡi ngựa, săn hươu nai và học kéo đàn vĩ cầm. Thomas học nội trú dưới sự quản lý của William Douglas, một tu sĩ gốc Scotland là người dạy giỏi, nấu ăn ngon, trừ văn học cổ điển. Thomas ngoài các môn học thông thường còn được học tiếng La Tinh, tiếng Hy Lạp, tiếng Pháp. Sau khi cha mất, Thomas về trường gần Gordonsville học với James Maury, một tu sĩ theo Anh giáo và cũng là một học giả.  Ông được huấn luyện về lòng nhân đạo và  niềm tin vào Thượng đế nhưng ông không hoàn toàn tin tưởng vào một tổ chức tôn giáo nào.

Thomas Jefferson học Đại học William & Mary (1760–1762) ở Williamsburg là thủ phủ của Virginia lúc ấy có dân số thời đó chỉ khoảng 1,000 người. Ông học  toán học, văn chương, triết học với tiến sĩ William Small một học giả gốc Scotland và àm quen với xã hội thành thị trong hai năm trường này. Năm 1762, ông học luật với George Wythe, một luật gia uyên thâm nhất của địa phương là người đã ảnh hưởng lớn tới Jefferson và chính vị luật sư này cũng là người sau này có trong các vị ký tên vào Bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ. Thomas Jefferson được hai ông Small và Wythe giới thiệu với Thống đốc Francis Fauquier. Bốn người này thường bàn luận thời cuộc và nghe nhạc thính phòng tại tư dinh Thống đốc. Thomas Jefferson nhờ vậy gặp được Patrick Henry. Thuở đó sau cuộc chiến tranh Bảy Năm (1756-63) Pháp và người Da đỏ, người Pháp đã bị người Anh thay thế và thế lực Anh đã lấn át tại phía tây bán cầu và trên biển, thụ hưởng được sự phát triển thương mại trên rất nhiều lãnh thổ. Năm 1760, vua George III nước Anh  lên ngôi bất lực trước các bất ổn ở thuộc địa Bắc Mỹ làm cho số nợ nần của nước Anh tăng lên do việc quản trị kém các vùng đất mới. Quốc hội Anh đã thông qua đạo luật tem thuế để gia tăng lợi tức cho nước Anh vào tháng 3 năm 1765. Patrick Henry đã dùng lời hùng biện đả kích sự bất công này. Năm 1767, Thomas Jefferson được nhận vào luật sư đoàn và bắt đầu hành nghề luật sư một cách khá thành công. Ông vẽ kiểu và trông coi xây dựng tòa nhà Monticello trên một ngọn đồi gần Shadwell và Williamsburg.

Năm 1772 Thomas Jefferson cưới Martha Wayles Skelton, một góa phụ 23 tuổi, con gái ông John Wayles là một luật sư danh tiếng sống gần Williamsburg.  Ông Thomas đã chiếm được cảm tình của bà Martha nhờ nhân cách và tài nghệ vĩ cầm của ông đã hòa đàn dương cầm của bà Martha làm cho một nhân vật khác cũng theo đuổi bà nhưng đành phải bỏ cuộc. Gia đình Jefferson về an cư tại Monticello, là tòa nhà lớn do chính Jepferson vẽ kiểu và đang xây chưa xong. Bà Martha Jefferson về chung sống với ông Thomas Jefferson 10 năm. Họ có với nhau sáu con gồm năm gái một trai, nhưng chỉ có hai con gái là Martha và Mary sống cho đến tuổi trưởng thành. Bà Martha Jefferson qua đời năm 1782. Ông Thomas ở vậy chăm nuôi hai con gái sau khi vợ mất mà không lập gia đình nữa.

Thomas Jefferson đã là một trong những nhân vật dẫn đầu tại Quốc hội Lục địa. Sau Chiến tranh Cách mạng Mỹ là cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ chống lại đế quốc Anh diễn ra từ 1775 đến năm 1783, khởi đầu chỉ là cuộc giao tranh nhỏ giữa quân đội Anh và nhân dân thuộc địa có vũ trang ngày 19 tháng 4 năm 1775. Kết quả là thắng lợi của nghĩa quân, buộc Anh phải ký Hiệp định Paris 1783 rút quân khỏi Bắc Mỹ và 13 thuộc địa được độc lập. Vào mùa xuân năm 1776, ý kiến của các đại biểu Quốc hội Lục Địa Mỹ càng nghiêng về nền Độc Lập cho các xứ thuộc địa Bắc Mỹ. Ngày 7 tháng 6 năm đó, Richard Henry Lee thuộc xứ Virginia đã đưa ra một bản nghị quyết nổi danh, đó là “Các thuộc địa liên hiệp này phải có quyền và phải là các xứ tự do, độc lập”. Quốc hội Lục địa Mỹ chỉ định một ủy ban gồm 5 nghị sĩ Thomas Jefferson, John Adams, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston để soạn thảo Bản Tuyên ngôn Độc Lập Mỹ. Ủy ban này hoạt động từ ngày 11 tháng 6 năm 1776. Ủy ban đồng ý cử Jefferson là người viết ra bản thảo và đã đồng ý với rất ít thay đổi. Ngày 2 tháng 7, Quốc hội Lục địa bắt đầu tranh luận “bản tuyên bố các nguyên do và sự cần thiết phải cầm lấy vũ khí”. Quốc hội đã thấy rằng bản thảo này “quá mạnh” nên đã nhờ một nhân vật ôn hòa hơn là ông John Dickinson viết ra một bản thay thế nhưng văn bản mới gồm phần lớn các quan điểm được đưa ra bởi Thomas Jefferson. Bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ được chấp thuận vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, cho đến ngày 5 Tháng 7 năm 1776, tuyên ngôn được xuất bản.


Bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ là tác phẩm nổi tiếng nhất của Thomas Jefferson. Bản văn này là một kiệt tác mô tả tinh thần độc lập tự do của người Mỹ vừa bình dị, chuẩn mực, vừa mạnh mẽ cương quyết, đạt tính pháp lý cao, khiến cho mọi người cùng đồng ý. Bản văn biện hộ cho thế đứng của cuộc Cách mạng Hoa Kỳ, xác nhận niềm tin vào  quyền tự nhiên của con người, thức tỉnh lương tri nhân loại cứu xét quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Tháng 9 năm 1776, Thomas Jefferson rời khỏi Quốc hội Lục Địa và sau đó, lại phục vụ tại Viện Dân Biểu Virginia (the Virginia House of Delegates). Ông Jefferson tự nhận không có khả năng phục vụ Quân đội trong cuộc Chiến tranh Cách mạng, nhưng lại có thể trở thành một nhà làm luật hữu ích. Ông Jefferson chỉ sau năm ngày làm việc trong ngành lập pháp, đã bắt đầu một chương trình cải cách rộng lớn, đầu tiên liên quan tới việc phân phối đất đai.Tại Virginia, một số người giàu đã kiểm soát các vùng đất rộng lớn và chiếm giữ nô lệ để canh tác trên vùng đất rộng lớn này  khiến cho việc phân phối đất đai không công bằng. Chính quyền thuộc địa địa phương lại hạn chế quyền bầu cử của người dân và bót nghẹt các cơ hội giáo dục cho con em những người nghèo và những người không có đặc quyền đặc lợi. Ông Thomas Jefferson khi được bầu vào Hội đồng lập pháp của địa phương đã lập tức trong hai năm, xây dựng được một bộ luật nhằm đặt nền móng cho một chính phủ của nhân dân, hình thành nên “giai cấp quý tộc của đức hạnh và tài năng” thay thế cho “giai cấp quý tộc tài sản kếch sù nhưng thiếu phẩm hạnh” . Đó là các đạo luật được đông đảo người dân ủng hộ của ông Thomas Jefferson: Đạo luật tiêu hủy luật giới hạn về thừa kế (“Bill for Abolition of Entails”), Đạo luật tiêu hủy quyền thừa kế của con trưởng (“The Bill Abolishing and Primogeniture”), Đạo luật tự do tôn giáo (“The statute for religious freedom”). Nhờ những đạo luật này đã bảo đảm sự tự do trí tuệ và phân cách “nhà thờ” và “quốc gia”, hủy bỏ các đặc quyền của “nhà thờ Anh Giáo”, giới tu sĩ không còn được hưởng lương bổng của chính quyền và người dân Virginia không còn phải đóng thuế để yểm trợ nhà thờ nữa.

Ông Thomas Jefferson đã được Quốc hội xứ Virginia  bầu làm Thống đốc tiểu bang hai lần, mỗi nhiệm kỳ 1 năm trong 2 năm 1779 và 1780. Xứ Virginia thời gian đó đã phải chịu đựng nhiều hậu quả nặng nề của cuộc Chiến tranh cách mạng. Theo lời yêu cầu của George Washington, Jefferson đã lấy bớt các tài nguyên và nhân lực bảo vệ xứ Virginia để dùng trợ giúp Quân đội Cách mạng. Năm 1781, quân Anh đánh chiếm xứ Virginia và chính Jefferson cũng suýt bị bắt vào ngày 4 tháng 6 năm đó, khi các đội quân của tướng Banastre Tarleton đánh phá miền Monticello. Ngày 2 tháng 6, nhiệm kỳ thống đốc của ông Jefferson chấm dứt và ông bị chỉ trích năng nề là đã không thể chống cự được quân đội Anh và sự việc này đã làm tổn thương danh dự của ông Jefferson trong nhiều năm, dù cho một cuộc điều tra về sau đã xóa đi sự kết tội này. Sau đó, Thomas Nelson Jr, là vị sĩ quan đứng đầu đoàn Dân quân của xứ Virginia đã được đưa lên thay thế Jefferson làm Thống đốc. Sau khi quay về Monticello, ông bắt đầu viết tác phẩm: “Ghi chép về Tiểu Bang Virginia” (Notes on the State of Virginia, 1784-85). Đây là cuốn sách chứa đựng rất nhiều dữ kiện của xứ Virginia và nhiều niềm tin và lý tưởng của ông Jefferson.

Ông Thomas Jefferson năm 1783 đã trở lại tham gia Quốc hội một lần nữa, ông đứng đầu ủy ban được cử ra để xem xét hiệp ước hòa bình với Anh. Tháng 5 năm 1784, Quốc hội Hoa Kỳ cử ông Thomas Jefferson làm đại diện cho chính phủ Mỹ non trẻ qua nước Pháp để tham gia cùng John Adams và Benjamin Franklin thương lượng các hiệp ước thương mại ở Pháp và ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này. Năm 1785, do ông Franklin từ chức Công sứ tại Pháp, ông Jefferson lên kế tiếp chức vụ. Có người đã hỏi ông Jefferson: “Có phải Ngài đã thay thế ông Franklin không?”, thì ông Jefferson đã trả lời: “Thưa không, tôi kế tiếp ông ấy vì không có ai có thể thay thế ông Franklin”. Ông Thomas Jefferson đã lưu lại châu Âu cho tới mùa thu năm 1789 và đã cho thi hành các phương pháp ngoại giao trong hòa bình theo sát các đường hướng của Benjamin Franklin.

Ông Thomas Jefferson khi qua nước Pháp đã mang theo người con gái là Martha và tới năm 1787, người con gái Mary cũng sang theo. Lúc ông ở Pháp thì hai con ông đã theo học tại Paris. Ông Thomas Jefferson quan tâm nhiều về Canh nông và Kiến trúc, ông đã đi nhiều nước châu Ấu và đã quan tâm cách trồng lúa của người dân Ý và đã đưa lén hạt lúa giống về Hoa Kỳ để trồng tại hai xứ South CarolinaGruzia. Ông cũng báo cáo về Quốc hội Hoa Kỳ sự phát minh ra máy dập có thể sản xuất hàng loạt các bộ phận cơ khí. Về kiến trúc, ông Jefferson đã nghiên cứu, tìm hiểu nhiều dinh thự trong đó có Tòa Nhà Maison Carrée tại Nimes, để sau này ông vẽ nên Điện Capitol Mới tại Richmond, Virginia. Ông Jefferson đã về lại nước Mỹ vào tháng 10 năm  1789. Ông làm ngoại trưởng Mỹ trong nội các của Tổng thống George Washington, ông đã công bố tư tưởng dân chủ mà dựa vào đó Đảng Dân chủ Hoa Kỳ được xây dựng, điều này đã đưa đến việc Jefferson đắc cử Tổng thống Mỹ năm 1800.

Thomas Jefferson đã làm được thật nhiều việc trong cương vị Tổng thống. Con đường di sản Lewis và Clark  là một trong những thí dụ nhỏ về trí tuệ tầm nhìn của Thomas Jefferson. Ông rời khỏi chức vụ Tổng thống vào năm 1809, sau hai nhiệm kì, khi 65 tuổi và cảm thấy tự do khi dùng thời giờ cho các bạn bè, sách vở, thư từ, đất đai và để vun trồng “các sự theo đuổi trầm lặng của Khoa học”. Ông đã viết: “Không một người tù nào cảm thấy nhẹ nhàng hơn tôi khi tôi trút được gánh nặng quyền lực“. Ông đã trải qua 15 năm cuối của cuộc đời, góp công vào việc thành lập Đại học Virginia (UVA) tại thành phố Charlottesville, khai trương vào năm 1825. Ông xem việc thiết lập trường Đại học Virginia là một trong ba công trình quan trọng và đắc ý nhất của đời mình.

Thomas Jefferson mất ngày 4 tháng 7 năm 1826 ở Monticello, gần Charlottesville, tại căn nhà tự ông xây cất, cùng một ngày với John Adams, là Phó tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ (1789–1797) và là Tổng thống thứ 2 của Hoa Kỳ (1797–1801) hưởng thọ 83 tuổi. Trên mộ bia được ông chọn từ trước, có mang dòng chữ: “Đây là nơi an nghỉ cuối cùng của Thomas Jefferson, tác giả của bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, của Đạo luật Virginia về tự do tín ngưỡng, và là cha đẻ của trường Đại học Virginia”. Lời hấp hối của John Adams là “Độc lập muôn năm”, và “Thomas Jefferson vẫn sống”.

THOMAS JEFFERSON DI SẢN VÀ NGUỒN SÁNG

Thomas Jefferson đã đóng góp rất lớn lao vào các nguyên tắc của nền Dân Chủ Hoa Kỳ. Ông vùng với Tổng thống George Washington, là một trong các nhân vật lịch sử vĩ đại nhất của người Mỹ , nước Mỹ và cuộc Cách mạng Bắc Mỹ. Danh tiếng của ông đã truyền cảm hứng khắp nước Mỹ và Thế giới. Ông Jefferson đã ủng hộ các Quyền của Con người, các tự do ngôn luận, tôn giáo và báo chí và cũng vì tôn trọng nền tự do sau này mà ông đã phải chịu đựng nhiều vụ nói xấu của các tờ báo vô trách nhiệm.

Ông Thomas Jefferson còn là một nhà canh nông. Ông đã phát minh ra một thứ máy cày được nông dân Mỹ dùng trong nhiều năm. Ông đã đưa loại máy đập lúa từ châu Âu vào Hoa Kỳ và khuyến khích Robert Mills trong việc phát triển loại máy gặt. Ông cũng là một trong những người chủ trương phương pháp luân canh. Ông Thomas Jefferson là một nhà khoa học, ông khuyến khích việc phát minh ra “thì kế”, không những được dùng trong các cuộc chạy đua mà còn trong các công cuộc khảo sát thiên văn. Ông cũng là người đặt niềm tin vào loại tàu ngầm và về y tế, là một trong các nhân vật quan trọng chấp nhận chủng ngừa đậu mùa. Các con cháu của ông cũng đồng lòng chủng ngừa như ông.

Ông Thomas Jefferson xuất sắc về kiến trúc. Ông đã vẽ kiểu cho Tòa nhà Monticello gồm 35 phòng của ông,  là một trong các dinh thự lịch sử đẹp nhất của Hoa Kỳ. Ông cũng đã vẽ kiểu Điện Capitol của Thủ phủ Richmond và các tòa nhà ban đầu của Đại Học Virginia. Ông Thomas Jefferson đã nghĩ ra các loại ghế xếp, ghế đu đưa, cùng cải tiến nhiều vật dụng khác cho tiện nghi con người. Ông thường được gọi là “Người cha của Văn phòng bằng sáng chế” bởi vì đạo luật đầu tiên về phát minh, sáng chế đã được ông giám sát.

THOMAS JEFFERSON SỰ ĐỐI THOẠI VĂN HÓA

(còn tiếp…)

Advertisements