Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi

HoSau2
Nguyễn Hàn Thảo Uyên <hanthaouyen@gmail.com> hỏi: Cháu chào chú Hoàng Kim. Cháu có đọc được rất nhiều bài viết về những tấm gương làm kinh tế giỏi trên blog của chú. Trong đó có chú Hồ Sáu, cháu có đọc cho bố mẹ cháu nghe những bài viết về chú ấy ạ. Bố cháu nói cháu cố gắng liên lạc để xin số điện thoại và địa chỉ của chú ấy để học hỏi về kinh nghiệm làm nông. Hiện gia đình cháu đang có một trang trại nhỏ, bố cháu muốn mở rộng quy mô và phát triển thêm, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn về vốn và hướng nữa ạ. Cháu gửi mail này, muốn nhờ chú cho cháu xin số điện thoại và địa chỉ của chú Hồ Sáu. Cháu là Uyên. Chúc chú nhiều sức khỏe và có nhiều bài viết hay về những gương nông dân làm kinh tế giỏi ạ.

Hoàng Kim <hoangkim.vietnam@gmail.com> trả lời: Cháu Thảo Uyên quý mến ! Số điện thoại và địa chỉ của chú Hồ Sáu là: Hồ Sáu, Chủ nhiệm HTX Thanh Long Phước Lộc, điện thoại 0613 866436 – 0913675261; Địa chỉ: 7/2 An Hòa, Tây Hòa, Trảng Bom, Đồng Nai. Một số bài viết về chú Hồ Sáu, cháu đọc tại Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi ; Lớp học trên đồng Đăk Glong Oxfarm. Chúc cháu và gia đình vui khỏe, thành công. Hoàng Kim

Đọc tiếp:

ÔNG HỒ SÁU LÀM KINH TẾ GIỎI

Hoàng Kim

DẠY VÀ HỌC. Những nông dân trồng sắn giỏi của hai huyện Eakar và Krông Bông nơi Địa chỉ xanh trồng sắn cao sản KM419 ở Đắk Lắk đã về thăm trang trại của bác Hồ Sáu tỷ phú nông dân tại xã Tây Hòa huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai. Sinh viên Nông học Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh cùng với các nông dân giỏi của nhiều nơi cũng tìm tới tham quan học tập mô hình lão nông chế biến phế phẩm thành hàng xuất khẩu. Thông tin về bác Hồ Sáu, Lớp học trên đồng Đăk Glong Oxfarm, một số hình ảnh đã ghi nhận.

HoSau1

TỶ PHÚ NÔNG DÂN

Nguyễn Một

Đến xã Tây Hòa, huyện Trảng Bom hỏi tên ông Hồ Sáu thấy người dân nào cũng biết. Sinh ra ở vùng quê nghèo, từng bị bom đạn vùi trong đất, lang bạt từ năm 13 tuổi, nhưng hôm nay Hồ Sáu trở thành một trong những nông dân nổi tiếng nhất của Đồng Nai, là người có vinh dự được đón tiếp Chủ tịch Nước tại nhà riêng.

Tuổi thơ dữ dội

Hồ Sáu – chỉ nghe cái tên đủ biết con người được sinh ra ở vùng quê nghèo “đất chật người đông, nên khi đặt tên mẹ cha cũng không cần thêm chữ lót” (Thơ Tạ Nghi Lễ). Đứng giữa bầy dê hàng ngàn con, Hồ Sáu trầm tư kể: “Tôi sinh ra ở Đức Phổ, Quảng Ngãi, nơi xảy ra những trận đánh ác liệt, bom rơi đạn nổ trên đầu, mạng sống như sợi chỉ mành treo chuông. Hơn 50 tuổi cha mẹ mới sinh được tôi, đứa con độc nhất của gia đình, nhưng nhà không đủ ăn nên dù là con một, tôi cũng không khác gì những đứa trẻ khác ở quê, cũng lấm láp đất bùn trong cuộc mưu sinh. Năm tôi 13 tuổi, một quả bom rơi cạnh nhà vùi tôi trong đất, cha mẹ tôi gào khóc bới đất tóe máu năm đầu ngón tay, may mà tôi còn thoi thóp thở, cha mẹ mừng muốn ngất đi luôn. Vài ngày sau, hai cụ gói cho tôi dăm ký gạo, vài bộ quần áo trong tay nải và nghẹn ngào bảo: “Con vào Sài Gòn đi, có thể khó khăn giữa xứ lạ quê người, nhưng tránh được đạn bom, may ra giữ được giọt máu của nhà ta”.

Ông bắt đầu cuộc đời trôi nổi nơi “đất khách quê người” từ năm 13 tuổi với thùng cà rem trên vai, đêm về co ro nơi vỉa hè, có được chút tiền ông thuê nhà trọ trong khu ổ chuột. Quyết tâm đổi đời.

Giàu từ củ sắn

Sau ngày đất nước thống nhất, Hồ Sáu trôi dạt về Trảng Bom làm thuê dành dụm mua được miếng đất bạc màu. Bà con ở đây trồng cây, cây cỗi; trồng lúa, lúa lép nên đất rẻ như cho, ông mua cả héc-ta cũng chỉ có giá vài chỉ vàng.

Bằng kinh nghiệm của vùng quê mà củ sắn, củ khoai là chủ đạo, ông nghĩ ngay việc trồng sắn. Ông mày mò học hỏi. May mắn ông biết được Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Hưng Lộc đang trồng thử nghiệm giống sắn mới có năng suất cao: 25-30 tấn/ ha. Ông đã đến nhờ trung tâm hỗ trợ một số giống mới và hướng dẫn quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc giống sắn này. Khi nắm trong tay giống mới và kỹ thuật trồng, ông nảy ra ý định thuê thật nhiều đất để đầu tư trồng sắn. Nhưng khó khăn gặp phải là vốn đầu tư lấy ở đâu ra? Ông đánh liều đến ngân hàng trình bày ý đồ mở rộng sản xuất, không ngờ khi nghe ông đưa ra dự án khả thi, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp huyện Trảng Bom đồng ý cho vay vốn. Có vốn, ông mạnh dạn thuê 40 ha đất trồng sắn (mì) năng suất cao. Thấy ông táo bạo ai cũng lắc đầu lè lưỡi bảo ông liều mạng. Mặc, Hồ Sáu tâm sự với vợ: “Được ăn cả ngã về không, mình xuất thân có gì đâu, cùng lắm thì trở lại với con số không như ngày xưa vậy!”. Trời đất không phụ người tận lực. Kết quả là vụ sắn năm 1993-1994, Hồ Sáu trúng lớn, lãi hơn 400 triệu đồng. Đó là cột mốc đánh dấu sự đổi đời của gia đình nông dân nghèo Hồ Sáu. Sau thành công lớn đó, ông được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ định đi tuyên truyền từ Nam, Trung rồi ra Bắc để nhân rộng giống sắn này.

Ông kể: “Thấy tôi thành công với cây sắn, nông dân các tỉnh đã đưa vào trồng đại trà, năng suất lên tới 40 tấn/ha, cao hơn bất cứ giống sắn nào lúc bấy giờ”. Ông đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tặng Bằng khen và Huy chương Vì sự nghiệp nông nghiệp, nông thôn.

Nay Hồ Sáu đã xây dựng được dinh thự trị giá hàng tỷ đồng nằm giữa khuôn viên 4 ha đất với hoa viên sang trọng. Hòn giả sơn, cây cảnh, công trình điêu khắc… Từ những gốc cây đồ sộ mang về từ vùng Mã Đà cao gần chục mét đã dần hiện hình ông Phúc, ông Lộc, ông Thọ, dưới bàn tay của những người thợ chạm khắc tài hoa ở làng mộc Đông Giao nổi tiếng ngoài Bắc được ông mời về. Nhìn dinh thự và khu vườn ấy ít ai nghĩ rằng vợ chồng ông đã tạo ra nó từ củ sắn, củ khoai, từ đôi bàn tay chai sần lao động của một người nông dân.

Làm ăn lớn

Từ bao đời nay người nông dân luôn gắn việc trồng trọt với chăn nuôi. Sau khi đi tham quan mô hình nuôi dê ở tỉnh Ninh Thuận, Hồ Sáu nhận thấy khí hậu và thức ăn cho dê ở Đồng Nai cũng thuận lợi, nên đã đầu tư 300 triệu mua 200 con dê giống. Đến nay, đàn dê sinh sản và phát triển lên gần 3.000 con. Nhiều nông dân trong vùng đến học tập mô hình, ông sẵn sàng giúp đỡ họ về kỹ thuật và vốn. Để đảm bảo đầu ra cho bầy dê của ông và của bà con nông dân, ông đã phát triển dịch vụ kèm theo là cung cấp thịt dê cho thị trường Đồng Nai.

Ông kể: “Hồi mới chăn dê, tôi phải phóng xe máy lân la khắp TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương cả tháng trời để tiếp cận quán thịt dê. Vào quán nào cũng nhậu món dê, ăn phát ngán luôn. Rồi lân la hỏi giá, sau đó từ chỗ khách nhậu tôi quay sang tiếp thịt dê của mình. Có lần hỏi nhiều quá, một tay chủ quán gắt: “Ông vào nhậu hay cần người tâm sự, để tôi kêu cho ông mấy đứa tiếp viên”. Sau này, chính ông chủ nhà hàng này không những chuyển sang lấy thịt dê của ông mà còn tiếp thị thêm cho ông bán thịt dê ở những quán khác.

Hiện nay, mỗi ngày ông thu gom dê và giết thịt 50 con. Lòng dê bán không có giá, ông dùng để nuôi cá sấu. Lũ cá sấu trong vườn ông ngày nào cũng được thưởng thức món lòng dê nên chúng béo nung núc và lớn nhanh như thổi. Nay trong 4 ha đất vườn nhà Hồ Sáu ngoài mấy ngàn con dê, còn có gần trăm con lợn rừng, hơn trăm nhím cá sấu, kỳ đà. Vào tham quan khu vườn của ông mới biết người nông dân không bao giờ dùng đất để chơi như người thành thị.

Từ một héc-ta đất bạc màu cách đây hai mươi năm, đến nay tỷ phú nông dân Hồ Sáu có 4 ha cao su, 2 ha cà phê, mấy chục héc-ta trồng sắn, cây ăn trái, một lò mổ, một nhà máy chế biến tinh bột… Mỗi năm ông có thu nhập hơn tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 50 người. Quả là một hiện thực vượt quá xa ước mơ của cậu bé bán cà rem năm xưa. Ngày ấy ngay cả trong giấc mơ ông cũng không dám nghĩ đến cơ ngơi bề thế này.

Hồ Sáu thành thật: “Ngày xưa tôi chỉ ước mơ có căn nhà nho nhỏ, ngày nay tôi biết nhiều bà con cũng đang có ước mơ như tôi ngày xưa!”. Để giúp bà con thực hiện ước mơ ấy, ông tham gia Hội Khuyến nông bôn ba khắp huyện Trảng Bom để hướng dẫn bà con cùng làm giàu, ai khó khăn ông cho mượn vốn, tham gia rất nhiều hoạt động từ thiện của địa phương. Tuy nhiên, những điều này tôi không nghe ông nói mà chỉ nghe bà con nông dân kể lại.

(Theo Tiền Phong)

LÃO NÔNG BIẾN PHẾ PHẨM THÀNH HÀNG XUẤT KHẨU

Mạnh Thắng

Đã nổi danh là “vua mì” (sắn) ở vùng đất Đồng Nai, nông dân Hồ Sáu lại mày mò sản xuất thức ăn gia súc với sản phẩm chuyên dùng cho cừu, dê, bò. Sản phẩm của ông được xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc.

Danh “vua mì” Hồ Sáu đã nổi tiếng ở vùng đất Đông Nam Bộ từ hơn chục năm qua. Cây mì, loại cây của người nghèo, giúp nông dân Hồ Sáu đổi đời thành tỷ phú nông dân. Từ người nông dân chân lấm, ông Hồ Sáu đã có mặt tại các diễn đàn, hội thảo của ngành nông nghiệp, được nhận các giải thưởng lớn của nhà nước.

HoSau5

Ông Hồ Sáu và sản phẩm thức ăn cho bò sữa.

Năm 13 tuổi, từ đất Quảng Ngãi tha hương vào Sài Gòn, ông đã kiếm sống với thùng cà rem trên vai và nhiều nghề khác. Sau ngày giải phóng, ông đến lập nghiệp tại xã Tây Hòa, huyện Trảng Bom (Đồng Nai).

Duyên số ông gắn với cây mì bắt đầu từ năm 1994, khi ông được thuê nhổ củ mì cho Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm nông nghiệp Hưng Lộc. Phát hiện có giống mì mới vừa nhập về từ Thái Lan, trồng thử nghiệm mang lại năng suất cao gấp 5 lần so với giống cũ, ông về nhà, gom hết 6 chỉ vàng dành dụm được đem mua 1ha đất để trồng giống mì mới. Giống mì mới cho năng suất cao, mang lại giá trị kinh tế cao. Đến nay, sau hơn 18 năm, nông dân Hồ Sáu đã sở hữu hơn 100ha đất trồng mì mỗi năm thu lời hàng tỉ đồng.

Ông còn đầu tư cho chăn nuôi dê, nhím để tận dụng nguồn thức ăn từ củ mì.

Câu chuyện sản xuất thức ăn gia súc của ông Hồ Sáu cũng bắt nguồn từ suy nghĩ hết sức nông dân. Là vùng đất 6 tháng nắng và 6 tháng mưa trong năm. Mùa mưa, cỏ cây tươi tốt thừa thức ăn trâu, bò, dê. Nhưng đổi lại 6 tháng mùa khô cây, cỏ ruộng vườn khô cháy, đàn gia súc đói trơ xương vì thiếu ăn.

HoSau4

Sản phẩm thức ăn gia súc được đóng bao vận chuyển bằng container xuất khẩu.

Nghĩ đến việc dự trữ thức ăn dành cho gia súc trong mùa khô, ông Hồ Sáu tự mày mò ủ thức ăn lên men từ các loại cỏ xanh, cây bắp, vỏ đậu, xác mì… Ban đầu chỉ là làm ra thức ăn cho đàn gia súc của mình, thử nghiệm đạt hiệu quả rõ khi đàn dê của ông nuôi phát triển tốt, ông Hồ Sáu lại nghĩ đến việc sản xuất đại trà đưa sản phẩm ra thị trường.
Ông kể: “Tôi tìm hiểu, thấy nước ta có rất nhiều nhà máy chế biến thức ăn cho heo, gà, tôm, cá… nhưng nhà máy chế biến thức ăn cho bò, dê, cừu, ngựa thì không thấy. Sau một thời gian tìm kiếm công nghệ và sản xuất thử nghiệm, năm 2008, tôi thành lập Công ty cổ phần Việt Nông Lâm. Sản phẩm chính là sản xuất thức ăn cho bò”.

Những phế phẩm của sản xuất nông nghiệp vốn là thứ bỏ đi như cỏ, bả mì, vỏ trái cây, thân cây bắp… đã được ông Hồ Sáu mua lại chế biến thành thức ăn gia súc giàu dinh dưỡng.

Đều đều mỗi tháng công ty của ông Hồ Sáu sản xuất trên 1.000 tấn thức ăn gia súc cung ứng cho các trang trại. Còn các đối tác nước ngoài tiêu thụ khoảng 3.000 tấn thức ăn gia súc do công ty của ông Hồ Sáu sản xuất mỗi tháng.

Ông Sáu nói: Tại sao thức ăn chăn nuôi của mình lại phải phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nước ngoài, trong khi nguồn nguyên liệu trong nước lại dồi dào, ngay cả nguồn phế phẩm nông nghiệp nếu biết khai thác cũng rất quý giá.

(Theo Tiền Phong)

CHÚNG TÔI BẠN NHÀ NÔNG NHỮNG CÂU CHUYỆN MỚI

Ông Hồ Sáu và thầy trò Nông học Đại học Nông Lâm TP HCM

Lớp học trên đồng Đăk Glong Oxfarm
https://www.facebook.com/daihocnonglam

Đến Long Phú, Sóc Trăng bạn sẽ gặp con đường Trường Khánh - Đại Ngãi nối vựa lúa chất lượng ngon và năng suất cao nhất nước.

CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM

Hoàng Kim

Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa. Giáo sư tiến sỹ, anh hùng lao động Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long,  tác giả chính của cụm công trình ‘Nghiên cứu và phát triển lúa gạo’ đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh, đã có hai bài viết quan trọng giới thiệu về “Lịch sử cây lúa Việt Nam” và “Cải tiến giống lúa cho sản xuất lúa gạo tại Việt Nam”. Giáo sư đã đưa ra các bằng chứng và dẫn liệu ‘Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa’ và ‘các tiến bộ của giống lúa Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21’. Hai bộ sách: Nguyễn Văn Luật (chủ biên), xuất bản lần đầu năm 2001, 2002, 2003 Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20, ba tập Nhà Xuất Bản Nông nghiệp, Hà Nội, 1.347 trang, và Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu 2011. Khoa học về cây lúa, di truyền và chọn giống. Nhà Xuất bản Nông Nghiệp, 623 trang đã đúc kết về những tiến bộ này.

Con đường lúa gạo Việt Nam” là chùm bài lược thuật về các dâng hiến lặng lẽ của một số nhà nông học,  nhà giáo và nông dân giỏi nghề nông. Họ gắn bó cuộc đời với nông dân, nông nghiệp, nông thôn, và những sinh viên, học viên nghề nông để làm ra những hạt gạo ngon hơn, tốt hơn cho bát cơm của người dân. Tập tài liệu nhỏ này mục đích nhằm kể lại những mẫu chuyện đời thường nghề nông cho các em sinh viên đọc thêm ngoài giờ học chính.

Thầy Norman Borlaug nhà khoa học xanh, cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói, đã có dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

Dạy học không chỉ trao truyền tri thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn trao truyền ngọn lửa. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Nam Bộ Việt Nam, quê hương của nhà bác học nông dân Lương Định Của, là nơi con đường lúa gạo Việt Nam khởi phát và tỏa rộng, là nơi mở đầu cho chùm bài viết này. Về miền TâySao anh chưa về lại miền Tây. Nơi một góc đời anh ở đó. Cần Thơ Sóc Trăng sông Tiền Sông Hậu. Tên đất tên người chín nhớ mười thương. Anh có về Bảy Núi Cửu Long. Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ. Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ. Anh có về nơi ấy với em không?” (thơ Hoàng Kim).

Lương Định Của con đường lúa gạo
Nơi tỏa rộng con đường lúa gạo Việt

Những chân dung nghề nông phác thảo

Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai
Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Những người Việt lỗi lạc ở FAO
Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam
Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Thầy Xuân lúa và hệ canh tác

DẠY, HỌC VÀ LÀM cây lương thực
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh

Con đường xanh của chúng ta
Công việc này trao lại cho em
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Hoa của Đất

Về miền Tây
Hoa Lúa

Xin giới thiệu ‘Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng‘ trong chùm bài viết trên

GaoThomSocTrang

HỒ QUANG CUA GẠO THƠM SÓC TRĂNG

Hoàng Kim

Nhà văn, nhà báo Huỳnh Kim vừa có bài viết ấn tượng Gạo thơm ST ra thế giới viết về kỹ sư Hồ Quang Cua, tác giả nhãn hiệu Gạo thơm Sóc Trăng nổi tiếng ST5, ST20,… “Thái Lan làm được sao mình không làm? ” “ST ra thế giới nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi“. Những trăn trở của anh Hồ Quang Cua và những người tâm huyết “chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao” cũng là trăn trở của hàng triệu nông dân Việt Nam.

ST5

Làm gì để nâng cao giá trị canh tác, giá trị sử dụng và hiệu quả kinh tế để hạt ngọc Việt đi ra thế giới ? Từ nghiên cứu chọn tạo giống tốt, hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh, đến phục tráng, thực nghiệm, nhân giống gốc, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, đến tổ chức hệ thống sản xuất chế biến kinh doanh khép kín là  một chuỗi công việc to lớn để có được chén cơm ngon như những tấm hình minh họa dưới đây

LuaSocTrang

Anh Hồ Quang Cua (thứ nhất bên trái) cùng anh Bùi Bá Bổng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT (thứ hai từ bên phải), trong hội thảo đầu bờ trên cánh đồng mẫu lớn. Chúng tôi đang học theo thầy Lương Định Của con đường lúa gạo, học theo anh để tiếp nối công việc của anh và thực hiện đề tài Chọn tạo giống lúa hướng đến thích ứng với biến đổi khí hậu từ nguồn gen siêu lúa xanh (GSR) và đặc sản Sóc Trăng (ST). Tôi biết ơn anh Hồ Quang Cua vì tấm lòng của anh đối với nông dân, đối với cây lúa, đối với nghề nông  và những kỹ năng cuộc sống quý giá mà anh đã thân thiết trao đổi, gợi mở,…

Tôi nhớ đến anh là nhớ đến gạo thơm Sóc Trăng và ngược lại. Ra bến xe đò về thành phố, hỏi đến ông Cua gạo thơm Sóc Trăng là hầu như ai cũng biết và họ hồ hởi khoe ông Cua và gạo trắng, gạo ngon, … rượu  ngon Sóc Trăng và nếp cẩm.  Chợt dưng tôi thấu hiểu những ông Bụt đời thường, những ông Bụt của đất, của nước, của hạt ngọc phương Nam.

ST Tim

Trăn trở về Lúa Gạo Việt Nam chiến lược chọn tạo giống, tôi viết thư trao đổi với anh Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp. Anh tán đồng với phương pháp “đưa thêm các nguồn gen quý vào những giống lúa vốn đã rất phổ biến và nổi tiếng trong sản xuất” như cách chúng ta đã làm trong tạo chọn và phát triển các giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím) công nhận giống năm 1997 thành vùng giống sản xuất lớn, thâm canh cao ở Bình Minh, Vĩnh Long năm 2007, đưa năng suất khoai lang từ 9,00 tấn lên 29,8 tấn trên phạm vi toàn tỉnh; Giống sắn KM98-5, KM419 tạo giống cũng theo cách trên và nay đã thành vùng giống sắn sản xuất lớn ở Tây Ninh, đưa năng suất sắn từ 8,5- 12,5 tấn /ha của giống sắn địa phương lên 17,0- 27,0 tấn/ha và nay toàn tỉnh đạt năng suất 30,0 tấn/ha, cá biệt những nông hộ sản xuất giỏi đạt 50,0 – 65,0 tấn/ha trên diện rộng, chủ lực là giống sắn mới KM419 chiếm trên 50% diện tích sắn và các giống KM94, KM98-5… Điều này cũng như công việc chúng ta đang làm đưa thêm nguồn gen quý vào giống lúa “hoa hậu” OM6976 của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cúc Hòa, Phạm Trung Nghĩa và cộng sự Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, để chọn tạo và phát triển dòng OM6976-41 (GSR89), hoặc những việc chúng ta đang làm mới đây nhằm kết hợp GSR với ST.

Anh Lê Huy Hàm đồng tình và trao đổi nhiều thông tin định hướng chọn tạo giống lúa (như đã nêu ở bài trên). Anh viết: “Kính gửi anh Kim. Cám ơn anh đã giới thiệu về các giống lúa mới có tiềm năng ứng phó với biến đổi khí hậu. Điều này tôi rất quan tâm. Hiện nay chúng tôi đi theo hướng là không tạo ra giống lúa mới mà chỉ cải tạo giống cũ. Lý do vì chúng ta đã tạo ra quá nhiều giống lúa mới, nông dân hoa mặt không còn biết phân biệt giống nào tốt, giống nào xấu nữa (Không như sắn và khoai lang, số giống chọn tạo không nhiều nhưng rất bền trong sản xuất – HK). Nhiều giống lúa cũng làm cho việc xây dựng thương hiệu giống và thương hiệu gạo khó khăn, là một trong các nguyên nhân làm gạo Việt Nam có giá thấp trên thị trường. Vì vậy hiện nay tôi đang nâng cao tinh chịu mặn và tình chịu ngập của các giống đại trà lúa miền Bắc và miền Nam bằng việc đưa gen Saltol (chịu mặn) và gen Sub1 (chịu ngập) vào các giống lúa đại trà của Việt Nam. Mức chịu mặn giai đoạn mạ hiện nay đã đạt 5-6 ‰, chiu ngập 10-15 ngày, sau khi nước rút lại mọc lại. Chúng ta có thể cùng nhau thử nghiệm các giống này tại Sóc Trăng. Anh làm cầu nối với tỉnh thì rất tốt. Chúng ta cùng nhau tìm kinh phí. Chúng tôi hy vọng rằng bằng cách này, chúng ta sẽ không tao ra các giống mới mà chỉ cải thiện các giống đã chấp nhận rộng rãi ở các đặc tính chịu mặn, chịu ngập, kháng rầy, đạo ôn, khô văn, bạc lá… và cuối cùng tạo ra Multiple tolerant rice varieties hay super rice. Đây là đặc tính cần để ứng phó với biến đổi khí hậu. Chúng tôi cũng sẵn sàng tham gia với kế hoạch của anh về SGR(Green Super Rice – Siêu lúa xanh)ở tỉnh Sóc Trăng, Phú Yên và Gia Lai. Anh móc nối, có thể chúng ta sẽ tổ chức gặp nhau Viện Di truyền – Đại học Nông Lâm hoặc tại các tỉnh trên. Chúng tôi có thể lại tạo để chuyển thêm gen saltol vào SGR để tăng tính chịu mặn, đánh giá ở góc độ phân tử, sau đó anh cùng với Sóc Trăng, Phú Yên , Gia Lai và các nơi đánh giá tại địa Phương. Anh suy nghĩ nhé. Chúc anh khỏe, Lê Huy Hàm

ST5 nhân giống

Tôi muốn khởi đầu câu chuyện “Lúa Gạo Việt Nam diễn đàn chọn tạo giống” bằng sự Tổng quan “Con đường lúa gạo Việt Nam” kể về nhiều nhân vật kỳ vĩ và nhiều nhà khoa học tâm huyết tài năng như: Lương Định Của, Tôn Thất Trình, Bùi Huy Đáp, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Vũ Tuyên Hoàng, Mai Văn Quyền, Trần Văn Đạt, Bùi Bá Bổng, Bùi Chí Bửu, Nguyễn Công Tạn, Phan Phải, Nguyễn Thị Trâm, Lê Huy Hàm, Tạ Minh Sơn, Nguyễn Trí Hoàn, Phạm Văn Ro, Nguyễn Thị Cúc Hòa, Nguyễn Thị Lang, Đỗ Khắc Thịnh, Nguyễn Văn Hoan, Mai Thành Phụng, Nguyễn Gia Quốc … Họ đã đóng góp to lớn trong chọn tạo giống lúa, góp phần làm nên diện mạo “Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20”. Nhưng tôi xin được viết chậm lại để có thời gian thong thả hơn. Sự cần thiết phải đi thẳng vào những vấn đề nóng hổi, cấp bách của thực tiễn sản xuất đang đòi hỏi: “Làm gì để phát triển khoa học công nghệ mới tạo được đột phá cho hạt ngọc Việt?“.

Chúng ta hãy bắt đầu từ anh Hồ Quang Cua và gạo thơm Sóc Trăng, từ vùng đất quê hương Long Phú, Đại Ngãi (Đại Nghĩa theo cách gọi của tiếng miền Nam), đi trên con đường lúa gạo Trường Khánh, Đại Nghĩa của dân tộc Việt, nơi sinh thành của nhà bác học cây lúa Lương Định Của. Chúng ta cũng bắt đầu bằng ý kiến thảo luận của anh Lê Huy Hàm, chuyên gia về di truyền chọn giống lúa. Tôi hiểu ý anh Hàm “Chọn giống lúa là đừng ham tạo ra nhiều giống mà cần tuyển chọn kỹ để có giống lúa ưu tú phổ biến thành thương hiệu nổi bật, đứng vững trong sản xuất“. Mời bạn hãy đọc “Gạo thơm Sóc Trăng ra thế giới” của Huỳnh Kim. Bài viết ngắn nhưng nhiều thông tin lắm. Đất nước cần có nhiều Hồ Quang Cua và “gạo thơm Sóc Trăng” hơn nữa cho bà con nông dân và cho sản xuất! Đọc Huỳnh Kim, tôi cảm giác như gặp lại Sơn Nam: ” … Năm tháng đã trôi qua/ Ray rứt mãi đời ta/ Nắng mưa miền cố thổ/ Phong sương mấy độ qua đường phố/ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê “. Năm tháng sẽ qua đi, chỉ những thành quả thiết thực cho chén cơm manh áo của người dân là còn lại.

Đất Nước cần nhiều những nhà khoa học dấn thân, cần cù, phúc hậu, trí tuệ chọn tạo giống lúa, cây lương thực ngon hơn, tốt hơn cho người dân, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp, các giải pháp khoa học công nghệ để người dân lao động bớt nhọc nhằn hơn, giảm rũi ro và tổn thất sau thu hoạch.

Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Hoàng Kim

GẠO THƠM ST RA THẾ GIỚI

Huỳnh Kim

Cục Sở hữu trí tuệ đã chứng nhận nhãn hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” từ cuối năm 2011 cho dòng sản phẩm gạo thơm mang tên ST. Người xây đắp cho thương hiệu này, kỹ sư Hồ Quang Cua, nay đang mong muốn nâng ST lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới.

Kỹ sư Hồ Quang Cua – Ảnh: H.Kim

Thái Lan làm được sao mình không làm?

Tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt Trường ĐH Cần Thơ năm 1978, anh Hồ Quang Cua  trở về quê nhà Sóc Trăng, làm việc tại Phòng Nông nghiệp huyện Mỹ Xuyên, sau đó được đề bạt làm Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Sóc Trăng. Đến nay, anh đã cùng nhóm cộng sự đi qua chặng đường hơn 20 năm xây dựng thương hiệu gạo thơm ST.

Từ năm 1991, Hồ Quang Cua đã tham gia nhóm nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL và ĐH Cần Thơ lo sưu tập, thử nghiệm các giống lúa thơm cổ truyền của Việt Nam, Thái Lan và Đài Loan. Được làm việc cùng các nhà khoa học đầu đàn như GS Võ Tòng Xuân, GS Nguyễn Văn Luật, rồi ra nước ngoài học, anh bắt đầu có ý tưởng làm lúa thơm cao cấp cho Việt Nam, trước hết là cho tỉnh Sóc Trăng.

Dạo đó, anh phát hiện giống lúa thơm nổi tiếng Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan là do một cán bộ ở huyện chọn tạo; vậy mà những năm 1992 – 1997, mỗi năm Thái Lan thu gần 1 tỉ USD nhờ xuất khẩu hơn một triệu tấn gạo này. “Họ làm được sao mình lại không làm, trong khi đến cuối thế kỷ 20 mình đã xuất khẩu gạo ổn định và lo được an ninh lương thực rồi?” – Hồ Quang Cua tự vấn rồi cùng nhóm cộng sự và bà con nông dân ở huyện lao vào công việc bất kể ngày đêm. Trong bước đi đầu tiên kéo dài nhiều năm ấy, các anh đã rút ra 3 kết luận hình thành nên cây lúa thơm tương lai: 1/ Quá trình biến dị, lúa có thể cho ra giống mới có phẩm chất cao hoặc dùng làm nguồn lai tạo tiếp; 2/ Việt Nam đất chật người đông, cây lúa thơm phải là cây cải tiến có năng suất cao chứ không thể như Thái Lan, Ấn Độ sử dụng cây lúa mùa cổ truyền năng suất thấp; 3/ Phải đào tạo nhân lực để hình thành đội ngũ nghiên cứu.

Lúc đầu, ít người tán thành những nhận định mới này, nhưng rồi được Bộ Nông nghiệp và lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng khích lệ, dần dần bảy giống lúa thơm bố mẹ được lai tạo, trong đó có gien giống Khao Dawk Mali, giống Tám Xoan ở phía bắc và giống Tào Hương của Sóc Trăng. Tới năm 2013 này, đã có 21 giống ST. Riêng ST20, cho hạt gạo thon dài, cơm mềm dẻo, thơm hương dứa và hương cốm.

Từ năm 2009, đã có gần 25.000 ha lúa thơm ST được trồng tại Sóc Trăng và hàng vạn héc ta nữa được các tỉnh ven biển khác ở ĐBSCL trồng. Ngoài việc trồng lúa hai vụ, các anh còn giúp nông dân trồng lúa thơm theo các mô hình hành tím – lúa và tôm – lúa. Ông Trà Diên ở xã Viên Bình, huyện Trần Đề, nơi đang làm 2.500 ha lúa ST5, nói: “Tôi làm 23 công cấy tầm lớn hai vụ ST5, mỗi năm lời hơn 150 triệu đồng, gấp đôi lúa IR ngày trước”. Hồ Quang Cua nói: “Các tỉnh ven biển ĐBSCL có thể trồng được vài trăm ngàn héc ta giống ST. Riêng việc trồng lúa thơm ở vuông tôm đã giúp ổn định môi trường, tái tạo sự sống trong đất, làm chậm quá trình thoái hóa đất”.

Trong đào tạo, từ cây lúa thơm ST, đã có 10 kỹ sư làm tiếp các đề tài lên thạc sĩ, riêng anh Trần Tấn Phương đã bảo vệ tiến sĩ hồi tháng 10.2011 chuyên về di truyền với đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm cao sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”.

ST ra thế giới, nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi

Cuối năm 2011, đã có 5 đơn vị được Sở NN-PTNT Sóc Trăng trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”. Đó là Công ty Gentraco ở Cần Thơ, Công ty lương thực Sóc Trăng, Công ty TNHH Thành Tín, Công ty chế biến gạo chất lượng cao Sóc Trăng và cơ sở sản xuất lúa giống và gạo thơm Mỹ Xuyên. Cũng năm đó, lần đầu tiên, Việt Nam xuất khẩu được hơn 400.000 tấn gạo thơm, chủ yếu là giống Jasmine vì giống ST chưa có nhiều, mới đủ tiêu thụ nội địa.

Tình hình này đã thôi thúc kỹ sư Hồ Quang Cua cùng các đồng sự dấn thân tiếp vào một kế hoạch mới. Họ đang làm đề án “Xây dựng liên minh nông dân và doanh nghiệp dựa trên quan hệ sản xuất mới” với mục tiêu hàng đầu là “tăng thu nhập cho nông dân”. Nông dân trồng lúa thơm ST sẽ tăng thu nhập lên tối thiểu 20% trong năm đầu tiên và tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và năm thứ 3 nhờ nắm bắt đầy đủ kỹ thuật canh tác. Cơ sở nào để có dự án này? Anh Cua cho biết giá gạo trắng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 chỉ nhỉnh hơn 400 USD/tấn dẫn tới hiệu quả sản xuất lúa gạo thấp. Trong khi đó, Công ty lương thực Sóc Trăng và Công ty TNHH Trung An ở Cần Thơ đã xuất khẩu gạo ST20 với giá 900 USD/tấn và đang thiếu hàng để bán.

Hồ Quang Cua hỏi: “Vậy ta có nắm được cơ hội này để thâm nhập sâu vào thị trường gạo cao cấp của thế giới không? Và ta có thể tổ chức sản xuất một vài chủng loại lúa đặc thù của Việt Nam, như ST, với mô hình doanh nghiệp liên kết với nông dân?”. Rồi tự trả lời: “Làm được nghĩa là chúng ta tạo được một quan hệ sản xuất mới, hữu cơ giữa nông dân và doanh nghiệp, điều mà Chính phủ vừa phê duyệt trong kế hoạch tái cơ cấu sản xuất lúa của Bộ NN-PTNT”.

Theo các tác giả dự án, gạo thơm ST20 và ST21 là gạo thơm cao cấp, rất được người tiêu dùng trung lưu thành thị ưa chuộng, bán được giá cao, nội địa bình quân 1 USD/kg, xuất khẩu tới 900 USD/tấn, như vậy là gạo Việt Nam bắt đầu cạnh tranh được với gạo thơm cao cấp của Thái Lan. Giờ  đây, nếu mô hình liên kết nông dân – doanh nghiệp được đầu tư làm bài bản ở quy mô lớn hàng ngàn héc ta ngay từ năm đầu, thì chẳng những gia tăng thu nhập ngay cho nông hộ và doanh nghiệp mà còn là mô hình để làm đúng việc liên kết bốn nhà trong cánh đồng mẫu.

“Mong ước cuối cùng của tôi là việc xác lập quan hệ sản xuất mới mang tính bền vững cho chuỗi giá trị, và gạo thơm Sóc Trăng sẽ có ngày được nâng lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới”, kỹ sư Hồ Quang Cua quả quyết như vậy.

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131007/gao-thom-st-ra-the-gioi.aspx


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Lớp học trên đồng

Lophoctrendong1TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Lớp học trên đồng của nhóm nông dân huyện Đăk Glong tỉnh Đăk Nông dự án Oxfam học hỏi, trao đổi thực tế đồng ruộng về giống sắn mới KM419  với biện pháp kỹ thuật canh tác sắn đạt năng suất, lợi nhuận cao và bảo vệ môi trường.
DakGlong

Huyện Đăk Glong là một huyện nghèo của tỉnh Đăk Nông được thành lập theo Nghị định 82/2005/ NĐ-CP, ngày 27/ 6/ 2005 của Thủ tướng Chính phủ; trên cơ sở thành lập thị xã Gia Nghĩa và đổi tên huyện Đăk Nông thành huyện Đăk Glong. Toàn huyện có tổng diện tích tự nhiên 144.875,46 ha, có 07 đơn vị hành chính cấp xã, dân số có trên 40.000 nhân khẩu. Huyện có tổng diện tích gieo trồng 21.151 ha,  trong đó diện tích cây cà phê 8.680 ha và diện tích cây sắn 6.200 ha. Cà phê là cây trồng chủ lực của huyện nhưng cây sắn không thể thiếu đối với người dân tại huyện này, đặc biệt là đối với người đồng bào dân tộc thiểu số, vì sắn thân thuộc chiếm diện tích lớn trong sản xuất nông hộ, do dễ trồng, dễ tiêu thụ, lợi nhuận khá, ít đầu tư, phù hợp với điều kiện canh tác tại địa phương. Anh Đặng Cảm, chủ tịch hội nông dân huyện Đăk Glong trao đổi.
Lophoctrendong2
Dự án Oxfam hổ trợ cải thiện sinh kế, giáo dục, quyền lợi và chất lượng cuộc sống của cộng đồng người nghèo và những người yếu thế, đặc biệt là phụ nữ và người dân tộc thiểu số. Các nhóm nông dân đã được hướng dẫn tham quan thực tế đồng ruộng và học hỏi cách xây dựng các mô hình trồng các giống sắn mới triển vọng và biện pháp kỹ thuật canh tác sắn thích hợp đạt năng suất, lợi nhuận cao và bảo vệ môi trường. Chị Đào Quỳnh Nga, cán bộ tổ chức Oxfam nói rõ thêm về hình thức liên kết học hỏi giúp đỡ cho bà con nông dân nghèo.
Lophoctrongnha

Lớp học trên đồng gắn lý thuyết với thực tế đồng ruộng, giữa những hộ nông dân giỏi, lớp trẻ khởi nghiệp nghề nông từ sắn với những lão nông tri điền và nhà khoa học xanh, học để làm, học mà vui, vui mà học.

Hoàng Kim
Có thể bạn chưa biết ?

Oxfam tại Việt Nam

(mời đọc tại đây)

Oxfam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Oxfam là một liên minh quốc tế của 15 tổ chức làm việc tại 98 quốc gia trên toàn thế giới để tìm giải pháp lâu dài cho nghèo đóibất công. Oxfam làm việc trực tiếp với các cộng đồng và tìm cách để gây ảnh hưởng đến các cường quốc để đảm bảo rằng người nghèo có thể cải thiện cuộc sống và sinh kế của họ và có một tiếng nói trong các quyết định có ảnh hưởng đến họ.

Hình thành

Oxfam ban đầu được thành lập tại Oxford vào năm 1942 với tên gọi Ủy ban Oxford cho cứu trợ nạn đói bởi một nhóm Quaker, các nhà hoạt động xã hội, và các học giả Oxford, đây là tổ chức Oxfam Anh, vẫn có trụ sở tại Oxford, Vương quốc Anh.

Đó là một trong những ủy ban địa phương được hình thành trong hỗ trợ của Uỷ ban Quốc gia cứu trợ nạn đói. Nhiệm vụ của họ là thuyết phục chính phủ Anh để cho phép viện trợ lương thực thông qua sự phong tỏa Đồng minh cho các công dân đang chết đói của Hy Lạp chiếm đóng Axis.

Oxfam ở nước ngoài đầu tiên được thành lập tại Canada vào năm 1963. Các tổ chức đổi tên thành địa chỉ điện tín của nó, OXFAM, vào năm 1965.

Phương thức hoạt động

Ban thư ký tổ chức Oxfam International lãnh đạo, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ sự hợp tác giữa các chi nhánh Oxfam để tăng ảnh hưởng của Oxfam về nghèo đói và bất công thông qua các chiến dịch vận động, các chương trình phát triển và ứng phó khẩn cấp.

Tham khảo
Giảm nghèo, thấy gì qua rà soát của Oxfam? (báo Kinh tế Nông thôn)
GĐ Oxfam Anh: Đây là thời điểm tuyệt vời cho VN (VietBao.vn)