Biển Đông vạn dặm

BienDongvandamTÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Đọc và suy ngẫm Biển Đông vạn dặm. Lang Anh có bài viết “Một phán quyết lịch sử” và Nguyễn Đức Đát với nhận định ” Bọn phản động đừng có mơ ” đã đúc kết thông tin và những bình luận xung quanh sự phán quyết mới đây của Toà trọng tài thường trực (PCA) về đường chín đoạn và một loạt các vấn đề liên quan đến cách diễn giải công ước quốc tế về biển Đông.

Phán quyết pháp lý quan trọng nhất và có tác động lớn nhất đối với biển đông của PCA là việc bác bỏ hoàn toàn đường lưỡi bò – Vốn là một tuyên bố chủ quyền phi lý và hoang đường nhất trong các tranh chấp biển hiện hữu trên thế giới. Điều này củng cố những chứng lý quan trong nhất để đàm phán ranh giới biển giữa các nước có tham gia tranh chấp như Vietnam, Philipin, Indonesia, Malaysia, Bruney trước các đòi hỏi của Trung Quốc. Nó cũng mở đường cho các cường quốc bên ngoài dễ dàng can thiệp vào khu vực khi phán quyết mở ra những ranh giới rất rõ về các vùng biển lưu thông tự do.

Tuy nhiên, chính phán quyết thứ hai về các đảo và bãi đá tại Trường Sa mới là phần bổ sung quan trọng nhất để giải quyết các tranh chấp trong phiên toà lịch sử này: PCA tuyên bố xét cả về hoàn cảnh lịch sử lẫn điều kiện tự nhiên, các đảo và đá tại Trường Sa đều thiếu vắng sự hiện diện thường xuyên, liên tục của đời sống kinh tế dân sự thông thường. Việc hiện diện của các lực lượng công vụ của các quốc gia tranh chấp trên các hòn đảo tại đây không phải là căn cứ và không tạo cơ sở cho sự hiện diện kinh tế đơn thuần. Do đó, các đảo này không tạo ra yêu sách về lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế. Đây là một nội dung hết sức quan trọng của phán quyết. Nó tạo cơ sở cho việc đàm phán chồng lấn vùng đặc quyền kinh tế của tất cả các quốc gia đang có tranh chấp ở Trường Sa. Quyền chiếm hữu các đảo và đá của mỗi nước có thể tiếp tục duy trì, nhưng quyền về vùng đặc quyền kinh tế thì không còn phụ thuộc vào chúng nữa. Đây là lối thoát cho tất cả các nước trong hoà bình.

Với riêng Việt Nam, nội dung phán quyết thứ hai này cũng mở ra cơ hội cho việc giải quyết các tranh chấp tại quần đảo Hoàng Sa. Một số đảo tại Hoàng Sa có kích thước lớn (Ví dụ Phú Lâm) và đã được Trung Quốc củng cố và tôn tạo nhiều thập niên sau khi chiếm đóng sau cuộc chạm súng khốc liệt với hải quân Việt Nam Cộng Hoà. Cho đến nay, với các phương tiện chiến tranh TQ đưa ra Hoàng Sa, gồm chiến đấu cơ, các hệ thống phòng không và tên lửa đối hải, cộng với lực lượng hải quân khiến việc tiếp cận của Việt Nam với Hoàng Sa hầu như vô vọng. Cùng với đường lưỡi bò, Trung Quốc dựa vào các yêu sách pháp lý đối với vùng đặc quyền kinh tế của các đảo tạo Hoàng Sa để đòi hỏi rất sâu vào vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Ngay từ lúc này, Việt Nam cần nghiên cứu rất kỹ phán quyết 12/07 của PCA và cân nhắc một vụ kiện tương tự với tình trạng các đảo tại Hoàng Sa. Nếu vô hiệu hoá được quyền yêu sách lãnh hải của các đảo này thì dù Trung Quốc có tiếp tục duy trì quyền chiếm đóng Hoàng Sa, nhưng Việt Nam sẽ cải thiện được tình trạng tranh chấp chênh vênh ở vùng biển miền Bắc và miền Trung Việt Nam.” Lang Anh đúc kết.

Nguyễn Đức Đát's photo.

Chúng ta có nên kiện Trung Quốc hay không? Câu hỏi lớn nhân dân đặt ra và trông chờ nhà nước quyết định? Theo anh Nguyễn Đức Đát  “Bọn phản động đừng có mơ” Việt Nam sẽ không kiện Trung Quốc vì những lý do sau:

– Trung Quốc và Việt Nam đều chung ý thức hệ cộng sản, đều lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin làm mục tiêu phấn đấu. Không lẽ người cộng sản anh em lại kiện nhau? Những va chạm giữa TQ và VN thời gian qua chỉ là va chạm nhỏ giữa anh em ruột thịt trong gia đình, đâu có gì to tát. Nhiều lãnh đạo VN đã khẳng định rất rõ điều này.
– Kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào TQ. 90% các dự án lớn, quan trọng đều nằm trong tay TQ. Ta kiện TQ tức là ta kiện ta. Trung Quốc sẽ cho ta một bài học ngay. Trên khắp Việt Nam nơi nào cũng có người TQ, nhất là những địa bàn quan trọng, nhạy cảm. Ta khó mà có hành vi trái với ý của TQ được.
– Hai Đảng, hai Quốc hội, hai Chính phủ luôn gắn bó keo sơn. Bất cứ sự kiện lớn nào ở VN xảy ra, các đồng chí TQ đều cử người sang giúp đỡ và cho ý kiến để ta tham khảo. Ngược lại, ta cũng thường xuyên cử đoàn sang TQ để thắt chặt tình hữu nghị lâu đời. Quân đội hai nước lại càng gắn bó. Cán bộ trung, cao cấp quân đội VN theo định kỳ sang TQ tập huấn. Hàng năm, Bộ quốc phòng hai nước có cuộc gặp gỡ thân mật ở biên giới trên tinh thần “tình thương mến thương”. Lực lượng hải quân, biên phòng, cảnh sát biển hai bên đã ký kết hợp tác cùng tuần tra chung trên biển. “Tình hình Biển Đông không có gì lạ”.
– Lãnh đạo Đảng ta rất khôn khéo. Chúng ta không liên minh với ai để chống Trung Quốc. Đến một lúc nào đó, TQ sẽ hiểu tấm lòng của ta và tình nguyện trả lại Hoàng Sa và một số đảo của Trường Sa cho chúng ta. Trước đây, lãnh tụ Mao Trạch Đông cũng đã bàn giao đảo Bạch Long Vỹ cho ta vậy. Bây giờ lực lượng ta yếu, TQ mạnh, họ bảo vệ Biển Đông cho ta là tốt rồi. Đúng ý nguyện của chúng ta.

Vậy, đòi hỏi ta phải kiện Trung Quốc thì không có đâu.
Bọn phản động đừng có mơ. Tôi đồ rằng tất cả điều này đều có bàn tay của bọn Việt Tân, nhằm chia rẽ quan hệ hữu nghị anh em giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Đả đảo bọn phản động Việt Tân !
Tình hữu nghị anh em Việt – Trung muôn năm!“.  Nguyễn Đức Đát viết.

Trung Quốc “từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình” đã và đang có một chiến lược  định hình, hướng tới lâu dài theo nguyên tắc thực tiễn “chân lý thuộc về kẻ mạnh” “có lý, có lợi, đúng lúc”. Trung Quốc hiện là tâm điểm của cuộc khủng hoảng địa chính trị, kinh tế, khoa học công nghệ hiện đang ngày một gia tăng tại châu Á và Thế giới.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang quyết tâm cao độ theo đuổi chủ thuyết Trung Nam Hải “nắm vững Trung, hướng về Nam, mở rộng Hải” của Chủ tịch Mao Trạch Đông trên cơ sở thuyết “biển lịch sử” từ thời đế quốc La Mã tuyên ngôn cách đây 2000 năm nhằm đưa ra phương lược mưu chiếm trọn 80% hải phận của vùng Đông Nam Á (theo đường Lưỡi Bò), khôi phục vị thế và địa giới lịch sử Trung Quốc thời kỳ rộng nhất, huy hoàng nhất. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình năm 1974 đã tuyên bố tại Thượng Hải “chính người Châu Á phải điều hành công việc của Châu Á, giải quyết các vấn đề của khu vực Châu Á và duy trì an ninh của Châu Á”. Ông ráo riết thực hiện chiến lược “không đánh mà thắng” với một loạt kế sách liên hoàn trên biển Đông thông qua sức mạnh kinh tế và tiến bộ công nghệ: xây dựng đảo trong quần đảo Trường Sa; điều giàn khoan thăm dò dầu khí chập chờn ở các điểm nóng; ký hợp tác Trung Nga nhận mua khí đốt và năng lượng dài hạn từ Nga giải tỏa giúp Nga sự căng thẳng suy thoái kinh tế do sức ép giá dầu lửa xuống thấp vì sự can thiệp của Tây Âu và Mỹ; Trung Quốc tỏ rõ lập trường ủng hộ Nga chống li khai để giữ vững đường hằng hải sống còn của Nga thông ra biển lớn mà Pie Đại Đế nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga quyết tâm sắt đá tranh đoạt bằng được Sankt-Peterburg dù mọi giá . Trung Quốc thực hành chiến lược “Nam Nam” mở rộng ảnh hưởng nước lớn tại Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh.”  Hoàng Kim đánh giá.

Advertisements

Biển Đông vạn dặm

BienDongvandam728

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Đọc và suy ngẫm Biển Đông vạn dặm. Soha News có bài viết “Nước cờ sai lầm đẩy TQ phải đối đầu với đối thủ mạnh truyền kiếp?” của tác giả Lê Ngọc Thống. Bài báo phân tích “Như vậy, khi Mỹ-Nhật Bản bắt tay “tuần tra” trên Biển Đông (hình trích từ bài viết Lê Ngọc Thống) thì cán cân so sánh lực lượng ở khu vực Tây Thái Bình Dương mà cụ thể là trên biển Hoa Đông và Biển Đông đã hoàn toàn nghiêng về Mỹ bởi Nhật Bản tham gia vào thế trận với tư cách của một cường quốc kinh tế và quân sự. Không hồ nghi gì nữa, Tokyo đã sẵn sàng cùng Mỹ tham chiến tại Biển Đông nếu như Trung Quốc có ý đồ chiếm Biển Đông, biến thành “ao nhà”, tức là ngăn chặn, phong tỏa tuyến hàng hải sống còn của Nhật Bản trên vùng biển quốc tế này và đe dọa an ninh Mỹ…Trước việc “tuần tra” của Mỹ và Nhật Bản trên Biển Đông, Trung Quốc chỉ có thể hoặc là bằng vũ lực, xua đuổi hay đánh đuổi lực lượng tuần tra của Mỹ-Nhật Bản ra khỏi Biển Đông hoặc là tôn trọng luật chơi chung. Vậy, Trung Quốc chọn lựa thế nào đây?“. Bạn hẵn nhớ câu chuyện “Ai làm dậy sóng Biển Đông” của Mong Ha trên FB và bài viết  tiếng Anh trên trang ESWN Culture’s Blog đã bình luận thú vị bức tranh lạ  “Những thiếu nữ chơi mạt chượcBeijing 2008 của một họa sĩ Trung Quốc ở Canada gửi tặng Chính phủ Trung Quốc nhân sự kiện Trung Quốc khai mạc Thế vận hội Bắc Kinh 2008 lúc 8 giờ, 8 phút, 8 giây ngày 8 tháng 8 năm 2008. Hôm đó, Trung Quốc đã “đốt” 2 tỷ USD trong vòng 45 phút để tạo ra những màn trình diễn chứng tỏ cho thế giới biết Trung Quốc đang trỗi dậy và những gì người Trung Quốc muốn thì người Trung Quốc sẽ quyết đạt được bằng mọi giá!  Bức tranh gây nhiều tranh cãi và phân tích khác nhau. Tôi thì không tin Trung Quốc sẽ sớm gây hấn với Mỹ Nhật mà thực hành chiến lược”lấn dần từng bước, đặt trước việc đã rồi”  Thông tin về động thái các nước trên Biển Đông giúp ta những góc nhìn tham chiếu để tự củng cố và trầm tĩnh theo dõi. (Hoàng Kim).

xem tiếp

NƯỚC CỜ SAI LẦM ĐẨY TQ PHẢI ĐỐI ĐẦU VỚI ĐỐI THỦ MẠNH TRUYỀN KIẾP?

Soha News

Lê Ngọc Thống

27-07-2015

Sự nôn nóng cùng dã tâm “nuốt trọn” Biển Đông đã khiến Bắc Kinh mù quáng và vô hình trung tự tay “tháo xích” cho đối thủ truyền kiếp đầy sức mạnh – Nhật Bản .

Luật an ninh mới của Nhật Bản đã chứng tỏ Lực lượng phòng vệ nước này giờ đây có tính chất và tầm vóc của một cường quốc quân sự.

Họ, quân đội Nhật Bản, có thể tác chiến bất cứ nơi đâu, với bất cứ ai khi an ninh của Nhật Bản, của đồng minh, bạn bè của Nhật Bản bị tấn công, đe dọa…

Được coi như một “mũi tên đã lắp vào nỏ” thì Sách trắng quốc phòng Nhật Bản năm 2015 đã chỉ rõ “đích” mà mũi tên hướng đến.

Trung Quốc lo ngại, phản đối quyết liệt khi cho rằng, đây là hành động trỗi dậy của “chủ nghĩa quân phiệt Nhật”. Nhưng ngược lại, khu vực châu Á-Thái Bình Dương lại không có thái độ như vậy với sự trỗi dậy, thay đổi của nước Nhật.

Nước cờ chiến lược sai lầm của Trung Quốc

1. Lấy nước sau dùng làm nước đi đầu, tạo điều kiện cho Nhật Bản trỗi dậy

Kể từ năm 2010, khi GDP của Trung Quốc chính thức vượt Nhật Bản cũng là lúc tranh chấp quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) cũng được Bắc Kinh đẩy lên nấc thang cuối của cuộc xung đột.

Thực ra, quần đảo này, về địa chính trị, quân sự và kinh tế đối với Trung Quốc không đến mức vì nó mà sẵn sàng xung đột, chiến tranh với liên minh hùng mạnh Mỹ-Nhật Bản.

Nhưng chủ nghĩa dân tộc như một con dao 2 lưỡi, quá lạm dụng thì như “cưỡi trên lưng hổ” cho bất cứ chính phủ nào.

Trung Quốc đã trở thành nạn nhân của nó, vì thế, chuyến “ra khơi” đầu tiên để thâu tóm Biển Đông lại bị “mắc cạn” tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

Đây là một sai lầm tai hại của Trung Quốc mà từ đó, làm nên chiến thắng vang dội của đảng Dân chủ Tự do (LPD), đưa ông Shinzo Abe – một người được Mỹ ủng hộ – lên làm Thủ tướng Nhật Bản.

Vụ tranh chấp với Bắc Kinh về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư vừa qua, Nhật Bản đã rút ra 2 bài học giá trị từ chính Trung Quốc.

Một là, một quốc gia giàu có chỉ là nhất thời, mạnh về quân sự mới là vĩnh viễn. Giàu mà không mạnh thì bị đe dọa hay trấn lột bất cứ lúc nào. Chỉ có sức mạnh quân sự của quốc gia mới bảo đảm tính ổn định, bền vững và phát triển của nền kinh tế.

Hai là, mối hận thù dân tộc của Trung Quốc với Nhật Bản chưa bao giờ mờ phai. Nhật Bản luôn bị Trung Quốc coi là mối “quốc nhục” 100 năm chưa trả hận.

Đảng LPD cầm quyền của ông Shinzo Abe thừa nhận thức sâu sắc 2 bài học này và quyết tâm tái vũ trang, xây dựng một sức mạnh quân sự đủ sức răn đe Trung Quốc, đề phòng liên minh Mỹ-Nhật không có giá trị.

Thực hiện quyết tâm này, về mặt kỹ thuật thì không mấy khó khăn với Nhật Bản khi nước này có một nền công nghiệp tiên tiến hiện đại bậc nhất thế giới.

Tàu ngầm, máy bay, tàu chiến, tên lửa… nói chung là những thứ vũ khí trang bị hiện đại, Nhật Bản muốn là họ tự sản xuất chế tạo.

Tuy nhiên, khó khăn nhất với chính phủ của ông Abe là cơ chế, cụ thể là “điều 9 hiến pháp” đã trói buộc, mà muốn xóa bỏ nó thì tác động của bên ngoài mang yếu tố quyết định.

Trung Quốc đã làm rất tốt vai trò tác động này khi biến mình là nguyên nhân duy nhất, nguy hiểm nhất buộc Nhật Bản phải lựa chọn.

Chỉ chưa đầy 2 năm với từng bước đi cụ thể, chính phủ của ông Shinzo Abe đã có những cách giải thích về “điều 9 Hiến pháp”, tiến tới xóa bỏ bằng Luật an ninh mới.

Không rõ Trung Quốc đi nước cờ sai lầm ở Senkaku/Điếu Ngư hay là Nhật Bản, chỉ biết Mỹ đã lợi dụng Senkaku/Điếu Ngư để “cởi trói” Tokyo, cho phép Nhật Bản tham gia sâu, trực tiếp vào cấu trúc an ninh Tây Thái Bình Dương.

Nhưng, điều mà Trung Quốc không muốn, không bao giờ muốn là đối đầu với Nhật Bản tại Biển Đông bất cứ hình thức nào, thì nó đã và đang đến.

Biển Đông, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng cảnh báo: “Chỉ cần một hành động thiếu trách nhiệm, gây xung đột sẽ làm gián đoạn dòng hàng hóa khổng lồ này và nhiều nền kinh tế không chỉ trong khu vực mà cả thế giới đều phải gánh chịu hậu quả khôn lường.”

Trong khi đó, sự trùng hợp “lạnh sống lưng” giữa Trung Quốc và Nhật Bản là tuyến hàng hải trên Biển Đông đều là “đường sinh mạng”.

Cho nên, dễ hiểu là, Biển Đông chứ không phải là Senkaku/Điếu Ngư mới là “chiến trường chính” của cuộc đối đầu Trung-Nhật vì tính chiến lược sống còn của đôi bên trên đó.

Rõ ràng Trung Quốc đã đi sai nước cờ khi phải đối đầu với một đối thủ mạnh, truyền kiếp quá sớm là Nhật Bản mà nguy cơ “bị loại khỏi vòng bảng” đang ám ảnh bởi “lời nguyền từ Nhật Bản” không phải là điều không thể.

2.Từ bỏ sách lược “giấu mình chờ thời”

Phải khẳng định chắc chắn dã tâm của Bắc Kinh muốn chiếm trọn Biển Đông, biến Biển Đông thành “ao nhà” là trước sau như một, không bao giờ thay đổi, không sớm thì muộn. Vấn đề là từng giai đoạn, bước đi thực hiện chiến lược này ra sao mà thôi.

Chiến lược thâu tóm Biển Đông của Trung Quốc, đúng ra phải là nước cờ cuối sau khi đã “đuổi” được Mỹ ra khỏi Đông Nam Á và Tây-Thái Bình Dương.

Điều này vốn được thực hiện bằng “cuộc chiến địa chính trị” mà thời gian đầu khi Trung Quốc đang theo đuổi chiến lược “giấu mình chờ thời” (‘Tao guang yang hui’ Policy) của ông Đặng Tiểu Bình đã tỏ ra rất hiệu quả.

Đáng tiếc, Trung Quốc bị cái tăng trưởng GDP liên tục làm mờ mắt, ảo tưởng sức mạnh của mình và với truyền thống ngạo mạn, bành trướng, Bắc Kinh cho rằng không cần “giấu mình”, muốn “ăn” ngay Biển Đông béo bở mà bất chấp tất cả.

Hành động của Bắc Kinh trong các tuyên bố chủ quyền phi lý, phi pháp và chuẩn bị quân sự để đe dọa sử dụng sức mạnh… đã bộc lộ mục tiêu, ý đồ nguy hiểm nhất quán của họ.

Động thái này đã khiến các quốc gia trong khu vực, bao gồm cả Việt Nam, Nhật Bản… và kể cả Mỹ phản kháng với một tinh thần “ngay và luôn”.

Như vậy, vội vàng từ bỏ sách lược “giấu mình chờ thời”, Trung Quốc đã phạm sai lầm lớn về xây dựng thế trận.

Thay vì để Biển Đông tạm thời là một vùng đệm chiến lược, mở rộng vòng vây thì Bắc Kinh lại biến nó thành “vùng nóng”, có thể trở thành vùng chiến sự bất cứ lúc nào.

Chính Trung Quốc tự thu hẹp không gian chiến lược của mình.

Tại sao Trung Quốc phản đối quyết liệt Nhật Bản tuần tra trên Biển Đông?

Thực ra, việc tuần tra trên biển, đại dương đề bảo đảm an toàn, an ninh hàng hải là vấn đề thường xuyên, không có gì ghê gớm của các cường quốc biển như Mỹ. Và tuần tra trên Biển Đông – một tuyến hàng hải rất quan trọng của thế giới – cũng không ngoại lệ.

Tuy nhiên, Trung Quốc lại ngang nhiên tuyên bố Biển Đông là chủ quyền của họ nên không ai được quyền đưa máy bay, tàu chiến vào vùng này.

Hành động “tuần tra” trên vùng biển mà Trung Quốc gọi là “chủ quyền” bị Bắc Kinh “bóp méo” là thách thức, tuyên chiến.

Đó là lý do vì sao Trung Quốc và Mỹ trở nên căng thẳng quyết liệt đến mức mà báo chí Trung Quốc cho rằng “chiến tranh với Mỹ là không thể tránh khỏi…” khi Mỹ đem máy bay, tàu chiến tuần tra trên Biển Đông.

Và đến khi cả Nhật Bản tuyên bố sẽ “tuần tra” trên Biển Đông với sự hậu thuẫn của Philipines khi dùng căn cứ Rubic tiếp tế hậu cần cho Hải quân Nhật Bản thì Trung Quốc “giãy lên như đỉa phải vôi”.

Như vậy, khi Mỹ-Nhật Bản bắt tay “tuần tra” trên Biển Đông thì cán cân so sánh lực lượng ở khu vực Tây Thái Bình Dương mà cụ thể là trên biển Hoa Đông và Biển Đông đã hoàn toàn nghiêng về Mỹ bởi Nhật Bản tham gia vào thế trận với tư cách của một cường quốc kinh tế và quân sự.

Không hồ nghi gì nữa, Tokyo đã sẵn sàng cùng Mỹ tham chiến tại Biển Đông nếu như Trung Quốc có ý đồ chiếm Biển Đông, biến thành “ao nhà”, tức là ngăn chặn, phong tỏa tuyến hàng hải sống còn của Nhật Bản trên vùng biển quốc tế này và đe dọa an ninh Mỹ…

Trước việc “tuần tra” của Mỹ và Nhật Bản trên Biển Đông, Trung Quốc chỉ có thể hoặc là bằng vũ lực, xua đuổi hay đánh đuổi lực lượng tuần tra của Mỹ-Nhật Bản ra khỏi Biển Đông hoặc là tôn trọng luật chơi chung.

Vậy, Trung Quốc chọn lựa thế nào đây?

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Lê Ngọc Thống, Kỹ sư chỉ huy-Hoa tiêu, nguyên sỹ quan Tham mưu Hải quân.

Bài liên quan, đọc lại và suy ngẫm:

VÁN CỜ CHIẾN LƯỢC TRUNG – MỸ- NHẬT TẠI ĐÔNG BẮC Á

Tiết Lý Thái

adminbasam dẫn nguồn Thông tấn xã Việt Nam tài liệu tham khảo đặc biệt Thứ Hai, ngày 29/10/2012. TTXVN (Hồng Công 28/10) Bài viết trên tờ Tín báo” ngày 22/10 của Tiết Lý Thái, nghiên cứu viên Trung tâm hp tác An ninh Quc tế Đại học Standford.

Bốn mươi năm qua, Trung Quốc đại lục, Đài Loan và Nhật Bản hai nước ba bên luôn tranh chấp chủ quyền về đảo Điếu Ngư/Senkaku, cho tới nay tranh chấp càng mạnh mẽ hơn. Cách đây không lâu, Nhật Bản thực hiện “quốc hữu hóa” đối với đảo Điếu Ngư/Senkaku, dẫn tới chính sách đồng loạt phản đối của Đại lục, thậm chí có lúc tình hình trở nên vô cùng căng thẳng, tuy vậy, tình hình đảo Điếu Ngư/Senkaku nay bỗng xuất hiện sự thay đổi kỳ diệu.

Đầu tiên, Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda thừa nhận Tôkyô trước đó đã sai lầm khi đánh giá về những phản ứng có thể xảy ra của Trung Quốc. Quả thực là ban đầu Tôkyô không đánh giá được Bắc Kinh sẽ phản ứng mạnh mẽ như vậy.

Ngày 10/10, hãng tin Kyodo đưa tin Tôkyô đang nghiên cứu phương án thỏa hiệp, áp dụng rằng quan chức Nhật Bản “nhận thức thấy” phía Trung Quốc có đòi hỏi chủ quyền liên quan, cho rằng cách làm như vậy vừa có thể duy trì được lập trường kiên định của Nhật Bản, vừa có thể xem xét tới lập trường Trung Quốc yêu cầu Nhật Bản thừa nhận sự tồn tại của tranh chấp chủ quyền. Theo tin, phía Nhật Bản phán đoán Trung Quốc xây dựng mục tiêu ngắn hạn trong tranh chấp đảo Điếu Ngư/Senkaku là ép phía Nhật Bản thừa nhận “tồn tại tranh chấp chủ quyền”, tức phương pháp như vậy có tính khả thi.

Mỹ không muốn nhìn thấy chiến tranh Trung-Nhật

Động thái trên cho thấy phía Nhật Bản lộ ra kỳ vọng dùng biện pháp thỏa hiệp để làm dịu quan hệ căng thẳng giữa hai nước. Điều này hoàn toàn khác biệt so với lập trường cứng rắn của Nhật Bản trước ngày 11/9.

Tiếp đó, lập trường của Mỹ cũng có thay đổi. Ngày 28/9, trong cuộc gặp với ngoại trưởng Nhật Bản tại Niu Yoóc, Ngoại trưởng Mỹ Hillary đã nhắc nhở một cách bất thường (rằng) Nhật Bản cần thận trọng xử lý quan hệ ngoại giao với Trung Quốc; về sự căng thẳng trong quan hệ Trung-Nhật do tranh chấp đảo Điếu Ngư/Senkaku gây ra, bà Hillary chỉ rõ khi hành động, Nhật Bản cần “thận trọng”. Thứ trưởng Ngoại giao phụ trách vấn đề châu Á-Thái Bình Dương Mỹ Campbell cũng có thái độ tương tự khi thúc giục Nhật Bản cần hành động thận trọng.

Hiện nay, nền kinh tế Trung Quốc đang đứng ở vị trí thứ hai, hy vọng chiếm ngôi thứ nhất thế giới, nằm ở vị trí then chốt đang trỗi dậy. Thực lực kinh tế của Trung Quốc và Nhật Bản đứng vị trí thứ hai và thứ ba thế giới, khi hai bên phát sinh xung đột, va chạm, Mỹ đương nhiên vui mừng đứng ngoài quan sát. Tuy nhiên, Mỹ thực sự cũng không hy vọng xảy ra chiến tranh giữa hai nước này. Huống hồ, phương Tây đang đánh bài ngửa quân sự với Têhêran xung quanh vấn đề vũ khí hạt nhân của Iran, suy cho cùng thì tranh chấp đảo Điếu Ngư/Senkaku chỉ là vấn đề nhỏ, vấn đề hạt nhân của Iran mới là nguồn căn của cơn bạo bệnh. Quan sát kỹ thái độ của Mỹ trong tranh chấp đảo Điếu Ngư/Senkaku có thể thấy được sự thay đổi tinh tế trong lập trường của Mỹ.

Theo phán đoán của các nhà chiến lược Trung Quốc, mấy năm gần đây xung quanh Trung Quốc liên tục dậy sóng, hình thành cục diện nguy hiểm bốn bề, cơn sóng lớn bao trùm nằm ở quyết định chiến lược quay trở lại Châu Á của Mỹ và 65% lực lượng hải quân và không quân của Mỹ sẽ bố trí tập trung ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Mỹ quyết định quay trở lại châu Á, đương nhiên phải dựa vào sự phối hợp và ủng hộ của Nhật Bản, Hàn Quốc, ngược lại, cũng tất phải coi trọng lời hứa đảm bảo quốc phòng cho đồng minh của Mỹ.

Nhật Bản có chỗ dựa nên không còn e sợ, xuất kích bn phía

 

Về chiến lược an ninh Đông Bắc Á, Mỹ và Nhật Bản không hẳn là cùng hội cùng thuyền, mà là “giống nhưng có khác”. Bắc Kinh cần chú ý đến điều này khi đưa ra quy hoạch chiến lược.

Để duy trì cục diện chính trị ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Mỹ cần chú ý đề phòng trước ảnh hưởng mang tính khu vực do sự tăng cường sức mạnh quốc gia của Trung Quốc tạo ra, Mỹ chỉ nên trông chờ vào hành động chi viện của Nhật Bản chủ yếu giới hạn ở vùng biên Đài Loan; còn Nhật Bản thì dựa vào những lời hứa của Mỹ nên đã nhân cơ hội ra tay “xử lý việc riêng”, hy vọng Mỹ đồng ý để Nhật Bản có hành động quân sự “ra bên ngoài”. Điều này chính là nguồn cơn của việc Nhật Bản đã xuất kích tứ phía” mấy năm gần đây với tinh thần cứng rắn chưa từng có trong tranh chấp đảo Điếu Ngư/Senkaku; ngoài ra còn tranh cướp đảo Dokdo/Takeshima với Hàn Quốc, mở rộng phạm vi tranh chấp lãnh thổ với Nga ở phía Bắc, kích động các tranh chấp ngoại giao.

Nếu quan hệ Trung-Nhật tiếp tục xấu đi, thậm chí xảy ra xung đột quân sự thì sẽ không tránh khỏi ảnh hưởng tới lợi ích an ninh quan trọng của Mỹ. Trước tiên, hòa bình và sự ổn định của khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ chịu tác động lớn, thậm chí mở rộng phạm vi. Tiếp sau, dân chúng Trung-Nhật chịu tác động của lịch sử thù hận, dễ bùng phát xung đột, sau khi nảy sinh xung đột, do nhân tố trong nước (Trung Quốc) thiếu khả năng khống chế sự lan tràn của các hành động quân sự, rất có khả năng xung đột leo thang. Trong tình huống này, Mỹ tất sẽ bị cuốn vào và đó sẽ là thảm kịch mà các bên xung đột khó tránh khỏi.

Xung đt phá vỡ cục diện quân sự tại châu ÁThái Bình Dương

Nói đến cục diện chính trị Đông Bắc Á, thì Nga không có hy vọng chấn hưng, trong tương lai gần, chưa thể nói tới sự thống nhất giữa hai miền. Triều Tiên sức ảnh hưởng của các nước trong khu vực này thì chỉ có Trung Quốc và Nhật Bản. Nói về lợi ích chiến lược của Mỹ, điều quan trọng hơn là, cho dù cuộc chiến Trung-Nhật diễn biến như thế nào thì đều sẽ tác động trực tiếp tới sự tồn tại quân sự của Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, từ đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh của nước Mỹ.

Trung-Nhật bùng nổ xung đột, sẽ có hai kết quả: Nếu Mỹ-Nhật hợp lực đánh thắng Trung Quốc thì Trung Quốc suy sụp, không chấn hưng được, Nhật Bản xưng bá ở Đông Á. Sự uy hiếp xung quanh Nhật Bản đã hết, lực lượng kìm kẹp bị mất đi, Nhật Bản tất sẽ đánh giá lại giá trị của Hiệp ước bảo đảm an ninh Mỹ-Nhật, không sớm thì muộn Nhật Bản cũng mượn cớ làm theo yêu cầu của người dân đế ép Mỹ rút quân khỏi Okinawa cũng như lãnh thổ Nhật Bản. Mỹ đã tiêu diệt được mối đe dọa từ một Trung Quốc đang trỗi dậy, song lại phải đối diện với mối đe dọa của một Nhật Bản đã từng trỗi dậy, đó cũng là “trăm sông về một biển”.

Nếu xảy ra chiến tranh, các bên tham chiến sẽ có khả năng dẫn đến nguy cơ chiến tranh hạt nhân, nếu không có thỏa hiệp, Trung Quốc tất sẽ “chơi sòng phẳng” với Mỹ và Nhật Bản. Nếu Mỹ tham chiến mà không chế ngự được Trung Quốc, Nhật Bản tất sẽ nhìn Trung Quốc với con mắt khác, sẽ tôn trọng quyền lợi và yêu cầu của Trung Quốc hơn. Như vậy, về trật tự an ninh thế giới, Hiệp ước đảm bảo an ninh Mỹ-Nhật trên thực tế đã có sự thay đổi về chất.

Từ đó có thể thấy chỉ cần Trung Quốc và Nhật Bản xảy ra xung đột quân sự ở mức độ cao, thì cho dù kết thúc như thế nào, cục diện quân sự ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương đều sẽ bị phá vỡ, từ đó trực tiếp ảnh hưởng tới tổng thể lợi ích an ninh của Mỹ ở khu vực này.

Mỹ không hy vọng các bên độc tôn xưng bá

Diễn biến của tranh chấp Trung-Nhật xem ra đều chịu sự hạn chế bởi vai trò của Mỹ trong ván cờ chiến lược khu vực Đông Bắc Á. Mỹ sẽ tăng cường sức ảnh hưởng, hạn chế mọi khả năng của Trung Quốc và Nhật Bản trong tình hình cục diện xấu đi. Nếu xung đột quân sự Trung-Nhật nổ ra Mỹ cũng sẽ đứng giữa kêu gọi điều đình, giúp đỡ bên chịu thiệt hại, ngăn chặn cục diện độc tôn xưng hùng của bất cứ nước nào ở Đông Bắc Á.

Nói tóm lại, Mỹ và Nhật Bản có lập trường tương đối khác nhau, ngay cả trong vấn đề quan trọng nhất là đối đầu với Trung Quốc. Nhật Bản hy vọng nổi lên ở Đông Á, do đó không thể tránh khỏi cần phải hành động để dìm ép Trung Quốc. Tuy nhiên; Mỹ lại chỉ muốn có một sự cân bằng giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Nói cách khác, lập trường của Mỹ chính là một nhân tố kiềm chế các bên trong ván cờ chiến lược Đông Bắc Á.

*

*          *

TTXVN (Bắc Kinh 25/10) Ngày 17/10, mạng “Quan điểm Trung Quốc” đăng bài viết của chuyên gia Lưu Vệ Đông về nhân t Mỹ trong tranh chp đảo Điếu Ngư/Senkaku, nội dung như sau:

Tháng 9 năm nay, Ngoại trưởng Mỹ H.Clinton và Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta đã lần lượt đến thăm Bắc Kinh. Đáng chú ý, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ William Bums lại đến thăm Trung Quốc từ ngày 16- 17/10. Mục đích chuyến thăm Trung Quốc lần này của Thứ trưởng Ngoại giao W.Burns được dư luận bên ngoài phổ biến cho rằng có liên quan đến tình hình căng thẳng tranh chấp lãnh thổ tại Đông Bắc Á, nhưng vấn đề dường như không đơn giản như vậy. Vì bên cạnh “sứ mệnh hòa bình” mà W.Burns đem lại, Mỹ còn điều hai tàu sân bay được vũ trang toàn diện đến khu vực này. Rốt cuộc Mỹ mong muốn đóng một vai trò như thế nào trong tranh chấp đảo Điếu Ngư/Senkaku giữa hai nước Trung-Nhật?

Lịch trình chuyến thăm 3 nước Đông Bắc Á Trung-Nhật-Hàn lần này của W.Burns tiếp tục được thực hiện tuần tự như trong lịch sử, trạm thứ nhất đến Nhật Bản, trạm thứ hai đến Hàn Quốc và tiếp theo đến Trung Quốc. Mục tiêu chủ yếu của Mỹ là thực hiện quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương để mở rộng sức ảnh hưởng toàn diện của mình. Hơn nữa giữa Mỹ và 3 nước Đông Bắc Á vẫn tồn tại một số vấn đề cần thông qua kênh song phương để giải quyết, cho nên hoàn toàn không thể cho rằng mục đích chủ yếu trong chuyến thăm lần này của W.Burns là nhằm vào tranh chấp Trung-Nhật xung quanh đảo Điếu Ngư/Senkaku. Nhưng, lợi ích cốt lõi của Mỹ tại Đông Bắc Á là duy trì khu vực này hoà bình ổn định và thịnh vượng, điều này hoàn toàn không phải lời đường mật của chính khách Mỹ muốn dùng để lấy lòng các nước Đông Bắc Á, mà là nhu cầu lợi ích hiện thực của Mỹ. Suy cho cùng con đường cường thịnh cơ bản của Mỹ là dựa vào năng lực sản xuất hùng mạnh để hưởng lợi trong thương mại tự do toàn cầu, trong khi để làm được điều này bắt buộc phải có thị trường bên ngoài ổn định làm sự bảo đảm cơ bản. Do tranh chấp Trung-Nhật xung quanh đảo Điếu Ngư/Senkaku ngày càng quyết liệt, rủi ro xảy ra xung đột dân sự cục bộ, thậm chí là xung đột quân sự đều đang tăng lên, Mỹ tất nhiên mong muốn lợi dụng sức ảnh hưởng lớn mạnh của mình đối với cả với Trung Quốc và Nhật Bản để kiểm soát hữu hiệu quan hệ Trung-Nhật, điều chỉnh mối quan hệ này phù hợp với sự vận hành trong phạm vi lợi ích của bản thân nước Mỹ.

Đối với Mỹ, một quan hệ Trung-Nhật lý tưởng là duy trì sự ổn định cơ bản trong sự cọ sát nhỏ liên tiếp. Cọ sát quá quyết liệt, hoặc quan hệ Trung-Nhật quá mật thiết, đều không phù hợp với lợi ích của Mỹ, do vậy Mỹ thông qua mọi phương thức cả công khai lẫn bí mật để tiến hành can thiệp “mang tính uốn nắn”. Trước khi vấn đề đảo Điếu Ngư/Senkaku trở nên gay gắt, Mỹ cho rằng quan hệ Trung-Nhật vẫn chưa ở vào trạng thái cần khống chế, cho nên khi Ngoại trưởng Mỹ H.Clintơn thăm Trung Quốc và bày tỏ về vấn đề này vẫn còn tương đối thoải mái. Sau khi Nhật Bản quốc hữu hoá đảo Điếu Ngư/Senkaku và Trung Quốc đưa ra phản ứng quyết liệt ngoài dự đoán của cộng đồng quốc tế, Chính phủ Mỹ đã nhận thức đầy đủ được tính nghiêm trọng của vấn đề, bắt đầu chuyển từ thái độ “từ chối làm nhà hoà giải” mà W.Burns từng nói sang định vị vai trò là “trọng tài trung lập”. Bản thân Mỹ không có lợi ích hiện thực trong vấn đề đảo Điếu Ngư/Senkaku. Đối với Mỹ, đảo Điếu Ngư/Senkaku thuộc về ai đều không quan trọng, nhưng vì Trung Quốc – quốc gia quan trọng nhất châu Á và Nhật Bản – liên minh quan trọng nhất của Mỹ tại châu Á đều hết sức coi trọng thái độ của Mỹ trong vấn đề này, cho nên Mỹ không thể không từ bỏ lập trường úp mở, lấy lòng cả hai, thậm chí đứng ngoài cuộc trong vấn đề đảo Điếu Ngư, chuyển sang hy vọng thông qua sự can dự của mình để ngăn chặn tình hình tiếp tục xấu đi, đề phòng tranh chấp Trung- Nhật đi quá giới hạn tác động bất lợi đến lợi ích của Mỹ tại Đông Á.

Lập trường chính thức của Mỹ trong vấn đề đảo Điếu Ngư/Senkaku luôn thể hiện hai điều là không giữ lập trường trong vấn đề quy thuộc chủ quvền, nhưng khẳng định Hiệp ước Bảo đảm an ninh Nhật-Mỹ thích hợp cho trường hợp đảo Điếu Ngư. Có thể cho rằng, vế thứ nhất là Mỹ nói cho Trung Quốc nghe, vế thứ hai là nói cho Nhật Bản nghe. Với cách Mỹ giữ thái độ như vậy, Trung-Nhật đều có thể có được những gì mình muốn, đồng thời chấp nhận sự kiểm soát của Mỹ trong quan hệ Trung-Nhật. Nhưng vấn đề là Nhật Bản cho rằng vế thứ nhất mà Mỹ đưa ra là yếu ớt vì đảo Điếu Ngư/Senkaku nằm dưới sự kiểm soát thực tế của Nhật Bản và bản thân Mỹ cũng ủng hộ quyền kiểm soát thực tế của Nhật Bản, cho nên Nhật Bản không dám phá vỡ hiện trạng, thách thức giới hạn cuối cùng của Trung Quốc. Cũng có thể nói thái độ lập trường xem ra tự mâu thuẫn với chính mình của Mỹ đã đẩy tranh chấp đảo Điếu Ngư không ngừng leo thang và đây là biểu hiện thứ nhất thể hiện sự mâu thuẫn giữa lời nói và lợi ích của Mỹ.

Biểu hiện thứ hai là, để ngăn chặn tình trạng tranh chấp đảo Điểu Ngư tiếp tục leo thang, Mỹ đã phái biên đội tàu sân bay tiến hành uy hiếp Khách quan mà nói, điều này hoàn toàn không có nghĩa là Mỹ nhất định sẽ trực tiếp bắt tay với Nhật Bản để tấn công Trung Quốc sau khi Trung-Nhật xảy ra xung đột quân sự, sức mạnh của tàu sân bay chủ yếu được coi là một dạng công cụ thể hiện sức mạnh nhằm ngăn chặn tình hình leo thang và đưa ra phản ứng nhanh chóng trước khủng hoảng, bản thân nó hoàn toàn không có tính khuynh hướng rõ rệt. Nhưng do Mỹ luôn coi Trung Quốc là đối thủ tiềm tàng và coi Nhật Bản là đồng minh quan trọng, cho nên động thái này của Mỹ hiển nhiên bị Trung Quốc coi là khiêu khích, trong khi Nhật Bản lại coi là hành động trợ giúp. Thế là việc Mỹ phái lực lượng đến duy trì hoà bình nhanh chóng chuyển thành một nguyên nhân làm tăng rủi ro xung đột khu vực. Về điểm này e rằng Mỹ cũng hoàn toàn bất ngờ.

Hiện nay, tranh chấp Trung-Nhật xung quanh đảo Điếu Ngư/Senkaku đã diễn biến thành một dạng đối kháng sức mạnh song phương, mắc một chút sai lầm đều có thể dẫn đến xung đột mà hậu quả khó có thể tiên lượng. Hễ một bên súng bị cướp cò, tình hình có thể vượt ra ngoai phạm vi kiểm soát của Chính phủ hai nước. Vì vậy, hiện nay ngoài việc tích cực tiến hành hoà giải và giảm áp lực, Mỹ không còn sự lựa chọn nào khác. Một trong những mục đích chủ yếu trong chuyến thăm Đông Bắc Á lần này của W.Burns là nắm rõ tình hình và khuyên giải các bên. Sau khi hội đàm với các quan chức cấp cao Nhật Bản, W.Burns sẽ thông báo cho phía Trung Quốc về suy nghĩ của Chính phủ Nhật Bản trong vấn đề này và Chính phủ Mỹ hy vọng sẽ đạt được mục đích, đồng thời mong muốn tìm hiểu các biện pháp đối phó liên quan của phía Trung Quốc, để tiện cho việc đặt nền móng cho các cuộc điều đình trong giai đoạn tiếp theo. Trung-Nhật là hai đối tượng qua lại chủ yếu của Mỹ tại Đông Bắc Á, trong khi Trung-

Nhật lại nằm trong top 3 các nước có nền kinh tế lớn nhất toàn cầu, nên đối với Mỹ, xử lý tốt quan hệ 3 bên là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong tổng thể chiến lược châu Á-Thái Bình Dương của mình, Mỹ không thể không đầu tư nguồn lực vào khu vực này. Nhưng, chính sách “trung tâm và các vệ tinh” truyền thống của Mỹ tại Đông Bắc Á vốn đã tồn tại thiếu sót, nhất là sau khi Trung-Nhật hoàn thành hoán đổi địa vị tại châu Á, đối xử như thế nào với Trung Quốc và Nhật Bản trong thời kỳ mới sẽ trở thành vấn đề khó khăn đặt ra trước mắt Mỹ. Vai trò của Trung Quốc là toàn diện, trong khi Nhật Bản chỉ là một đối tác an ninh; ảnh hưởng của Trung Quốc khắp toàn cầu, trong khi giá trị của Nhật Bản chủ yếu chỉ hạn chế ở khu vực châu Á; nhưng bên cạnh đó, Trung Quốc lại là đối tượng ngăn chặn chủ yếu của Mỹ, trong khi lo ngại của Mỹ đối với Nhật Bản lại ít hơn nhiều. Bối cảnh đan xen phức tạp như vậy khiến cho Mỹ tỏ ra lực bất tòng tâm trong xử lý quan hệ Trung-Nhật, đến mức khó có thể định vị chính xác rốt cuộc Mỹ là thiết bị dẫn cháy hay thiết bị dập lửa trong tranh chấp đảo Điếu Ngư/Senkaku giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Sự lúng túng của Mỹ đã hiện rõ, điều này cũng có nghĩa chuyến thăm Đông Bắc Á lần này của W.Bums lại một lần nữa không thành công.

*

*                    *

TTXVN (Hồng Công 28/10)

Trong bi cnh căng thng giữa Trung Quc và các nước Đông Bắc Á đang gia tăng mạnh trong thời gian gn đây, Mỹ đã xúc tiến chiến lược trở lại châu Á. Nhiu chuyên gia đã cho rng chiến lược này của Mỹ là nhm mục đích kim chế và bao vây Trung Quốc. Báo mạng Asia Times Online vừa đăng bài phân tích cho rằng Mỹ đang lôi kéo các đồng minh Đông Bc Á, đặc biệt là Nhật Bản, vào cuộc đi đầu với Trung Quc. Dưới đây là nội dung bài viết:

Richard Armitage – Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ dưới thời cựu Tổng thống George W Bush, là người đảm trách nhiệm vụ “nói với Nhật Bản phải làm gì”. Thủ tướng Nhật Bản khi đó, ông Junichiro Koizumi, đã từng hai lần xem xét việc tham gia “liên minh tự nguyện” tại Irắc và Armitage đã nói với một quan chức: “Đừng lùi bước”. Trước đó, Armitage đã tư vấn cho Nhật Bản “kéo quân ra khỏi bờ biển và chắc chắn rằng lá cờ của đất nước mặt trời mọc sẽ được trông thấy tại cuộc chiến ở Ápganixtan”

Giờ đây, trong một báo cáo cùng thực hiện với Joseph Nye gửi cho Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế (CSIS), ông Armitage tuyên bố: “Nhật Bản nên đối mặt với các vấn đề mang tính lịch sử đang tiếp tục làm phức tạp hóa quan hệ với Hàn Quốc”. Báo cáo được công bố ngày 15/8, trong lúc căng thẳng giữa Nhật Bản và các nước láng giềng đang dâng cao. Người dân Hàn Quốc, Trung Quốc và các nước châu Á khác đã trải qua một thời kỳ kinh hoàng dưới thời phát xít Nhật, và mặc dù Tôkyô nhiều lần đưa ra lời xin lỗi cũng như bồi thưòng chiến tranh, nhiều người dân tại các nước đó vẫn cho rằng Nhật Bản đã không cư xử đủ để bù đắp những sai lầm trong lịch sử. Hàng triệu người Nhật Bản cũng đồng tình với quan điểm này.

Tuy nhiên, những sửa chữa sai lầm đã bị giảm giá trị với những chuyến thăm gây tranh cãi đến các hòn đảo tranh chấp chủ quyền, các cuộc biểu tình rầm rộ và những yêu cầu xin lỗi được cho là sẽ làm trỗi dậy tinh thần dân tộc chủ nghĩa của tất cả các bên.

Kiểu mẫu của chủ nghĩa thống trị

Không ai nói rằng vượt qua những khác biệt này là mong muốn của cả Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Tuy nhiên, điều đó sẽ giúp các nước hợp tác hòa bình và sử dụng toàn bộ nguồn lực cho việc giải quyết các vấn đề tại đây và ngay lúc này. Hầu hết trong số đó, sẽ bảo đảm cho công lý. Nhưng chính xác là tại sao Armitage và Nye lại hối thúc Nhật Bản làm như vậy?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải xem xét một trong số những khuyến nghị của họ đối với Nhật Bản. Những khuyến nghị này bao gồm việc thận trọng nối lại hoạt động điện hạt nhân, quyết định đơn phương của Nhật Bản gửi tàu phá mìn tới Vịnh Pécxích khi xuất hiện những tín hiệu đầu tiên ám chỉ đến ý định của Iran về việc muốn đóng cửa eo biển Hormuz, “tăng cường cộng tác với Mỹ tham gia giám sát tại Biển Đông và mở rộng phạm vi trách nhiệm của Nhật Bản, trong đó có sự phòng thủ của Nhật Bản và hoạt động phòng vệ cùng với Mỹ trước những biến cố tại khu vực.”

Điều cuối cùng cần sự giải thích: đó là việc xem xét đến phòng thủ tập thể (sử dụng lực lượng để bảo vệ một nước đồng minh). Điều 9 trong Hiến pháp Nhật Bản về vấn đề tham chiến đã cấm điều này. Việc ngăn cấm này là một trong những lý do mà Điều 9 vẫn được tôn trọng, biến nó thành một vấn đề lịch sử khác làm phức tạp các vấn đề đối với sự phô trương sức mạnh của người Mỹ. Báo cáo lưu ý rằng sự hỗ trợ của quân đội Mỹ đối với Nhật Bản sau trận động đất và sóng thần ngày 11/3/2011 đã hình thành một tiền lệ về sự hỗ trợ lẫn nhau với Lực lượng phòng vệ Nhật Bản. Điều này đã rõ ràng ngay từ đầu rằng cụm từ “bạn bè” được dùng để người dân Nhật Bản chấp nhận sự hiện diện của quân đội Mỹ dễ dàng hơn.

Trong những ngày này, người Mỹ đã sử dụng nhiều ngôn từ khéo léo và khẳng định sự tôn trọng của họ đối với các ý kiến trong xã hội khi đưa ra yêu cầu đối với Nhật Bản – ít nhất là về mặt công khai. Nhưng liệu đó có là vấn đề đối với các tác giả của báo cáo, khi mà những cuộc điều tra đều cho thấy sự ủng hộ đối với việc hạn chế điện hạt nhân. Có thể là không!

Michael Green, một cựu quan chức khác trong Chính quyền Bush, người tham gia viết báo cáo này, đã đánh giá việc phản đối điện hạt nhân tại Nhật Bản là chủ nghĩa NIMBY (chủ nghĩa lợi ích cục bộ địa phương) – chỉ vài tuần trước sự cố tại Fukushima. Tất nhiên, các tác giả khẳng định rằng tất cả là vì lợi ích của Nhật Bản, nhưng lạ thay, trong sự trình bày của họ, Nhật Bản hiếm khi có lợi ích xung đột với Mỹ. Thử hình dung những phản ứng mạnh từ Quốc hội Mỹ nếu một nhóm các cựu quan chức Nhật Bản đưa ra mệnh lệnh đối với Mỹ – khuyên nhủ họ, chẳng hạn như làm thế nào để giải thích về luật pháp của họ và sử dụng lực lượng vũ trang của họ.

Tuy nhiên, những báo cáo như vậy có thể vấp phải phản ứng từ phòng họp của giới chức Nhật Bản. Sự hình thành mang tính bảo thủ đã tồn tại từ lâu trong những điều cấm ở Điều 9. Bất chấp nhiều cuộc đối thoại về “quyền lực mềm,” khuynh hướng áp đảo là giao phó vấn đề an ninh cho lực lượng quân sự – đầu tiên, dưới “cái ô hạt nhân” Mỹ, nhưng tăng lên mức các lực lượng của Mỹ và Nhật Bản “diễn” chung trong một “buổi trình diễn,” dưới sự chỉ huy toàn bộ của Mỹ. Đương nhiên là như vậy!

Tất cả những điều này phù hợp với sự miêu tả của McCormack rằng Nhật Bản đóng vai trò là một “quốc gia đối tác” của Mỹ, với “một bên mang thân phận nô lệ, hạ mình và một bên coi thường bên còn lại.” Khi thủ tướng Nhật Bản Yukio Hatoyama nỗ lực hình thành Cộng đồng Đông Á và giảm bớt mạnh của các căn cứ quân sự Mỹ tại Okinawa, ông Yukio Hatoyama đã bị trừng phạt bằng một bức tường đá chống lại từ phía Chính quyền Obama và đã phải từ chức sau chưa đầy chín tháng cầm quyền. Kể từ đó, các thủ tướng Nhật Bản đã bám chặt hơn vào người Mỹ. Mặc dù ngày càng xuất hiện nhiều hơn những lời kêu gọi về việc xem xét lại liên minh này xét trên góc độ về một thế giới đa cực ngày càng tăng, báo cáo gửi CSIS nhằm mở rộng vai trò của Nhật Bản dưới quyền lãnh đạo của Mỹ.

Với các mối liên kết pháp lý và con người lâu nay giữa hai thể chế an ninh quốc gia của hai nước, điều này có thể thành công.

Kích hoạt những sự phản đối

Và trường hợp này được coi là một sự mâu thuẫn. Như những quan sát của Philip Seaton trong cuốn “Những Ký ức chiến tranh gây tranh cãi của Nhật Bản”, Mỹ đóng vai trò là một nước kích động các chính trị gia Nhật Bản đã hủy bỏ những lời xin lỗi trước đây về các hành động trong thời chiến tranh với những hành động và ngôn từ gây hấn:

Xét tổng thể, chính sách của Mỹ, kể từ sau vụ khủng bố 11/9 rõ ràng là hữu ích đối với phe bảo thủ Nhật Bản. Chính phủ Mỹ hỗ trợ cho Chính phủ Nhật Bản về bồi thường (bất chấp bị người dân Mỹ chỉ trích) nhằm loại bỏ các yếu tố theo chủ nghĩa hòa bình trong pháp luật của Nhật Bản không lên án việc thờ cúng tại ngôi đền Yasukuni, nơi thờ cúng tất cả những quân nhân Nhật bị phe Đồng Minh kết tội phạm tội ác chiến tranh và thúc đẩy mạnh mẽ việc tái vũ trang của Nhật Bản. Một số nhà nghiên cứu mới của Mỹ đã khuyến cáo Nhật Bản nên tự vũ trang bằng vũ khí hạt nhân để đối phó với nguy cơ từ Bắc Triều Tiên, một đề xuất kinh khủng đối với nhiều người Nhật Bản.

Tất cả các điều này được xem là “sai lầm khi giải quyết quá khứ” nếu Chính phủ Nhật Bản đơn phương theo đuổi, khi đó tội đồng lõa của Nhật Bản với đồng minh quan trọng nhất trong cái “sai lầm khi giải quyết quá khứ” trở nên rõ ràng.

Báo cáo của Armitage và Nye rõ ràng muốn khẳng định sự đồng lõa này. Tăng cường khả năng tấn công và phạm vi hoạt động của quân đội Nhật Bản là điều cuối cùng có thể xoa dịu những ký ức cay đắng của phát xít Nhật trong suốt thời kỳ 15 năm chiến tranh 1931-1945. Và muốn khuyến khích sự tin tưởng vào lực lượng quân sự thì hãy để những vết thương này có thể lành lại.

Do vậy, mục tiêu chính của báo cáo này mâu thuẫn với lời kêu gọi vượt qua các vấn đề lịch sử của nó. Nếu nhóm của Armitage có bất kỳ quan tâm thực sự nào tới việc sửa chữa sai lầm quá khứ trong chiến tranh, họ sẽ là nhừng con diều hâu xem xét những phàn nàn của người Trung Quốc cũng như của người Triều Tiên, mà không đề cập tới các nạn nhân của sự tàn ác của người Mỹ.

Thay vào đó, họ lại cho sự gây hấn ngày càng tăng của Trung Quốc là lý do chính cho sự hỗ trợ quân sự Mỹ-Nhật. “Các nhà quản lý đồng minh” tại Oasinhtơn và Tôkyô đã mượn cớ triệt để mâu thuẫn với Trung Quốc (và Bắc Triều Tiên) để vượt qua sự phản đối khi họ giới thiệu ngày càng nhiều hệ thống vũ khí tại Nhật Bản. Và một khuyến nghị mà báo cáo không đưa ra – trong dịp tưởng niệm 75 năm vụ thảm sát Nam Kinh – là Nhật Bản phải đối mặt với càng nhiều sự xúc phạm về những gì đã gây ra tại Trung Quốc.

Không, các chuyên gia của CSIS thích thú với việc tranh luận về lịch sử chỉ với một chừng mực rằng nó liên quan đến mục tiêu chiến lược của Mỹ: Nhật Bản và Hàn Quốc phải ngừng cãi vã, như vậy hai nước này mới có thể được Mỹ sử dụng hiệu quả hơn để chống lại Trung Quốc. Khi Hàn Quốc, trong thế đối mặt với sự phản đối của dư luận tập trung vào các tranh cãi lịch sử, vội vã ký kết một thỏa thuận chia sẻ tình báo với Nhật Bản, đó là một tin rất xấu tại Lầu Năm Góc. Chắc chắn, bản báo cáo hối thúc “nhanh chóng tiến tới chấm dứt” thỏa thuận này.

Trong một buổi thuyết trình báo cáo, Armitage nói một cách đầy thán phục về “nỗi nhục quốc gia” của Nhật Bản, dường như không để ý đến vai trò của Điều 9 trong việc xây dựng nó. Armitage và Nye viết rằng Nhật Bản có thể bỏ qua báo cáo của họ trừ phi muốn trở thành một “quốc gia bậc một – nghĩa là cùng cấp với nước Mỹ, với “sức mạnh kinh tế đáng kể, tiềm lực quân sự, tầm nhìn toàn cầu, và vai trò lãnh đạo chủ chốt đối với các vấn đề quốc tế . Điều đó có nghĩa nếu muốn trở thành một quốc gia mạnh mẽ thì hãy tiến về phía trước. Tuy nhiên, Armitage kỳ vọng về “một Nhật Bản mà trong đó người Nhật trẻ tuổi có thể mơ ước, chứ không chỉ tồn tại”. Để làm được cái điều “không chỉ là tồn tại” rõ ràng, đất nước Nhật Bản phải luôn trong tình trạng chiến tranh. Nói cách khác, Nhật Bản phải là một đế quốc, hay ít nhất là một nước chư hầu yêu thích.

Trong thời điểm khủng hoảng hiện nay, con đường phía trước đòi hỏi việc nhận ra lợi ích chung của tất cả người dân trong khu vực Đông Bắc Á – bất kể họ khác biệt như thế nào trong chính sách đối ngoại của Mỹ.

*

*          *

TTXVN (Oasinhtơn 22/10)

Ngày 12/10, Tạp chí Chính sách đi ngoại đăng bài viết “Giải quyết vấn đề Okinawa – Bao nhiêu lính thủy đánh bộ của Mỹ vẫn cần hiện diện tại Nhật Bản” của tác giả Mike Mochizuki, giáo sư chính trị học và các vn đề quốc tế tại Đại học George Oasinhtơn, Mỹ và Michael O’Hanlon giám đc nghiên cứu chính sách đối ngoại tại Viện Brookings, Mỹ. Nội dung bài viết như sau:

Thời gian gần đây, lính thủy đánh bộ Mỹ bắt đầu triển khai máy bay quân sự V-22 Osprey tới Okinawa, Nhật Bản. Osprev bay giống như một chiếc máy bay cánh quạt nhưng có thể cất và hạ cánh như máy bay trực thăng. Nó bay nhanh hơn máy bay trực thăng và có sự linh hoạt chiến thuật hơn loại máy bay cánh quạt. Sự xuất hiện của loại máy bay này cũng khơi lại cuộc tranh luận dai dẳng giữa Nhật Bản và Mỹ về tương lai sự hiện diện của lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ trên đảo Okinawa. Các ý kiến chỉ trích cho rằng Osprey không an toàn và yêu cầu đưa loại máy bav này về Mỹ. Trong khi dữ liệu về chuyến bay chưa phản ánh các cáo buộc cụ thể này, giới hoạch định chính sách ở Tôkyô và Oasinhtơn cần phải nhận ra rằng họ có một vấn đề thậm chí còn lớn hơn phải đối mặt, đó là tìm kiếm một cách thức mới ít khả năng xâm nhập hơn trong việc đặt căn cứ lính thủy đánh bộ trên hòn đảo nhỏ ở cực nam của quần đảo Nhật Bản.

Các câu hỏi về sự hiện diện của quân đội Mỹ trên đảo Okinawa đã gây nhiều tranh cãi trong suốt hai thập kỷ qua. Với khoảng 15,000 đến 20.000 quân có mặt ở đây, lính thủy đánh bộ Mỹ chiếm hơn 1/3 quân đội Mỹ có mặt tại Nhật Bản. Ngoài ra, có khoảng 10.000 lính trong lực lượng không quân đồn trú tại căn cứ không quân Kadena trên đảo Okinawa. Sự có mặt của lính thủy đánh bộ Mỹ khiến người dân địa phương phẫn nộ. Ngoài ra, Okinawa là một trong những tỉnh duy nhất ở Nhật Bản có sự gia tăng dân số thực sự, vì vậy, các quan chức địa phương muốn dành đất cho các mục đích khác.

Có rất nhiều lý do để bảo vệ sự hiện diện của lực lượng lính thủy đánh bộ, cũng như vị thế của Mỹ tại Nhật Bản, trước hết là phục vụ lợi ích liên minh chung tại một khu vực châu Á-Thái Bình Dương ổn định. Oasinhtơn đã cố gắng phối hợp với Tôkyô để di dời căn cứ. Đề nghị gần đây nhất là xây dựng một sân bay trên bờ vịnh Henoko cách xa về phía Bắc, tại khu vực ít đông dân hơn trên đảo Okinawa. Tuy nhiên, các chính trị gia cấp địa phương và trung ương của Nhật Bản đã nhiều lần chặn lại. Năm 2006, Mỹ và Nhật Bản đồng ý di dời gần một nửa lực lượng lính thủy đánh bộ từ Okinawa tới đảo Guam trong vài năm tới nhằm giảm áp lực cho Okinawa. Đáng chú ý, mặc dù có một số vụ tai nạn liên quan tới dòng máy bay Osprey, song thống kê hồi tháng 8/2012 cho thấy vòng đời của nó dài hơn so với loại máy bay trung bình của lính thủy đánh bộ. Theo Bộ tư lệnh lính thủy đánh bộ Mỹ, Osprey có tỷ lệ tai nạn nghiêm trọng thấp hơn 20% trong cùng số giờ bay so với máy bay trực thăng điển hình hoặc các loại máy bay khác của lính thủy đánh bộ. Mặc dù vậy, cần phải thảo luận công khai hai vụ tai nạn gần đây nhằm giảm bớt lo lắng trên đảo Okinawa.

Các chương trình di dời hiện bị mắc kẹt trong bãi lầy của nền chính trị Okinawa, tháng 6 vừa qua, liên minh cầm quyền của tỉnh trưởng Hirokazu Nakaima không giành đa số phiếu trong cuộc bầu cử hội đồng tỉnh. Thực tế này đặt ông Nakaima vào thế phòng ngự. Trước sự bất mãn của dân chúng về việc triển khai Osprey, tỉnh trưởng Okinawa có ít sự lựa chọn ngoài việc cứng rắn hơn trong việc giải quyết vấn đề căn cứ Futenma, không phê duyệt căn cứ bên bờ vịnh Henoko, cũng như chống lại việc triển khai Osprey.

Một vấn đề khác trong kế hoạch của lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ tại khu vực là kế hoạch xây dựng sân bay kết hợp với việc di dời một phần quân tới đảo Guam. Đây không phải là lỗi của lực lượng lính thủy đánh bộ bởi họ đã cố gắng tìm kế hoạch tốt nhất cho mọi vấn đề. Ngoài những thách thức về chính trị, kế hoạch này phải đối mặt với thách thức về ngân sách khi nó cần khoảng 30 tỷ USD, được chia đều cho Tôkyô và Oasinhtơn, trong bối cảnh ngân sách của Lầu Năm Góc bị đe dọa cắt giảm thêm 10% nữa. Trên thực tế, khoản cắt giảm gần 10% ngân sách trước đó đã có hiệu lực từ lúc ký Đạo luật kiểm soát ngân sách 2011 của Mỹ.

Có một cách làm kinh tế, đơn giản và triển vọng, đó là cắt giảm biên chế của lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ tại Nhật Bản. Nó sẽ tốn một khoản tiền nhất định, song có thể được tài trợ phần lớn bởi Nhật Bản (vì Mỹ giúp Nhật Bản giải quyết một vấn đề gai góc của địa phương). Bù lại, Mỹ sẽ tiết kiệm được khoảng 30 tỷ USD do không phải triển khai kế hoạch hiện tại. Futenma cuối cùng sẽ được đóng cửa. Từ nay đến đó sẽ cần thực hiện các điều khoản đầu tiên nhằm hạn chế việc sử dụng các sân bay trên đảo Okinawa của lính thủy đánh bộ Mỹ và Nhật Bản được quyền tiếp cận đầy

đủ các cơ sở lính thủy đánh bộ trong thời điểm khủng hoảng hoặc chiến tranh.

Cụ thể, Mỹ chỉ nên giữ lại từ 5.000 đến 8.000 lính lính thủy đánh bộ trên đảo Okinawa và đưa số còn lại đến các nơi như Camp Pendleton, California mà không phải là xây dựng căn cứ mới trên đảo Guam. Sau đóMỹ sẽ điều tàu trang bị vũ khí và vật tư cho vài nghìn lính lính thủy đánh bộ trong vùng biên Nhật Bản (để bổ sung cho năng lực tương tự hiện có tại các cảng ở Guam) nhằm cho phép lính thủy đánh bộ đã được tái triển khai ở Mỹ nhanh chóng trở lại Tây Thái Bình Dương khi xảy ra một cuộc khủng hoảng. Ngoài ra, lính thủy đánh bộ đóng tại Mỹ sẽ luân chuyển thường xuyên tới khu vực châu Á-Thái Bình Dương để diễn tập với bạn bè và các đồng minh, trong đó có Nhật Bản.

Về sân bay, Mỹ có thể thực hiện một số thay đổi, trong đó thực hiện kịp thời cam kết đóng cửa căn cứ Futenma và trả lại đất cho địa phương quản lý. Để thay thế một số chức năng của căn cứ Futenma, Mỹ cần xây dựng một sân bay trực thăng nhỏ bên trong một căn cứ Lính thủy đánh bộ hiện có ở nửa phía Bắc của đảo, nơi lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ đang thực hiện hầu hết các chương trình huấn luyện, đồng thời giảm thiểu tác động về mặt hậu cần.

Ngoài ra, theo thỏa thuận với Tôkyô và Chính quyền Okinawa, Mỹ sẽ tìm kiếm quyền triển khai một số chuyến bay của lính thủy đánh bộ tại căn cứ không quân Kadena nếu cần thiết, với điều kiện tổng số lần cất cánh và hạ cánh tại căn cứ đó không tăng lên. Để đảm bảo rằng căn cứ không quân Kadena không bận rộn hơn, Mỹ nên đưa một số máy bay của không quân tại đây tới những nơi khác như Misawa ở miền Bắc Nhật Bản hoặc thậm chí đảo Guam. Cuối cùng, Nhật Bản có thể xây dựng một đường bang thứ ba tại sân bay quốc tế Naha, phục vụ cho việc phát triển kinh tế của đảo trong thời bình và cung cấp khả năng sử dụng quân sự cho Mỹ và Nhật Bản khi xảy ra khủng hoảng hoặc chiến tranh.

Đây là kế hoạch toàn thắng. Nó giúp tiết kiệm ngân sách cho cả hai nước Mỹ và Nhật Bản; đồng thời thực sự giúp cải thiện khả năng phản ứng của Mỹ trước các cuộc khủng hoảng có thể xảy ra ở khu vực.

Mỹ và Nhật Bản đã bị sa lầy bởi vấn đề Okinawa quá lâu. Vừa qua, thời gian quý báu và tài năng của các nhà hoạch định chính sách đi theo hướng cố gắng giải quyết một vấn đề đã trở nên gần như không giải quyết được. Chúng ta cần xem xét vấn đề này một lần nữa, giải quyết nó, và cuối cùng vượt qua nó. Việc thắt chặt ngân sách quốc phòng Mỹ có thể là động lực cuối cùng cần thiết để thúc đẩy các nhà hoạch định chính sách tới suy nghĩ mới mẻ và hành động quyết đoán./.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Video nhạc tuyển
Ban Mai
MAR AKRAM – Dancing with the wind♥
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

 

Biển Đông vạn dặm

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. “Xoay trục sang Châu Á: Tầm nhìn và Hành động” Viet-studies  Nguyễn Quang Dy. 18-07-2015. “Tương lai chính trị sẽ được quyết định tại Châu Á, chứ không phải tại Afghanistan hay Iraq, và Mỹ sẽ ở ngay tại tâm điểm của hành động đó” (Hillary Clinton). “Mối quan hệ phức tạp giữa bà Clinton và Trung Quốc” Đại Kỷ Nguyên Tác giả: Joshua Philipp Dịch giả: DK Lam 19-07-2015. Hai bài viết mới trên đây giúp ta hiểu rõ thêm những động thái chính trị Mỹ Trung Việt trong thời gian gần đây. Biển Đông vạn dặm, đọc lại và suy ngẫm (Hoàng Kim).

XOAY TRỤC SANG CHÂU Á: TẦM NHÌN VÀ HÀNH ĐỘNG

Viet-studies  Nguyễn Quang Dy. 18-07-2015. “Tương lai chính trị sẽ được quyết định tại Châu Á, chứ không phải tại Afghanistan hay Iraq, và Mỹ sẽ ở ngay tại tâm điểm của hành động đó” (Hillary Clinton).

Từ “Xoay trục” đến “Tái cân bằng” đến “Xoay trục 2.0”: Tiếng kèn ngập ngừng

Quan điểm của Hillary Clinton về Châu Á có tầm nhìn chiến lược và được các nước Châu Á hoan nghênh (trừ Trung Quốc). Nếu bà Clinton được bầu làm Tổng thống thì sẽ là tin mừng đối với Châu Á (nhưng sẽ là tin buồn đối với Trung Quốc). Tuy nhiên, giữa tầm nhìn và hành động có một khoảng cách. Làm thế nào để thu hẹp khoảng cách này?

Gần đây người ta thường nói đến “Xoay trục sang Châu Á” như một cụm từ thông dụng và là tâm điểm chính sách Châu Á của chính quyền Obama. Vậy nó được hình thành như thế nào, thực chất là gì, và triển vọng ra sao? Thực ra ngay từ đầu, nó không phải là kết quả nghiên cứu sâu sắc của một think tank nào cả, mà là hệ quả do phản ứng linh hoạt và nhạy bén của các nhà ngoại giao Mỹ, đứng đầu là ngoại trưởng Hillary Clinton.

Chính Hillary Clinton là người đầu tiên đã tuyên bố tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN (2009) rằng Mỹ có lợi ích chiến lược tại khu vực này (làm Trung Quốc tức giận). Các nhà quan sát coi đó là khởi đầu chính sách “xoay trục” hay “tái cân bằng”. Nhưng cả Trung Quốc lẫn các nước đồng minh của Mỹ tại khu vực vẫn chưa thực sự tin vào chủ trương này của Mỹ. Washington phải có tầm nhìn rõ ràng và hành động mạnh mẽ hơn.

Tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (Hà Nội, 22/7/2011), ngoại trưởng Hillary Clinton đã chuẩn bị kỹ hơn và đọc một bài diễn văn khẳng định lập trường của Mỹ tại Châu Á (làm ngoại trưởng Dương Khiết Trì tức giận bỏ ra ngoài). Hội nghị đó là một bước ngoặt, khi Mỹ khẳng định lợi ích chiến lược và vai trò lãnh đạo của mình, xóa được phần nào nghi ngờ của đồng minh, và làm Trung Quốc lo ngại. Trong một lần đối thoại với bà Clinton, ông Đới Bỉnh Quốc đã hỏi, “Tại sao các vị không xoay trục đi chỗ nào khác ngoài khu vực này?”

Vào tháng 11/2011, trong một bài dài đăng trên tạp chí “Foreign Policy”, ngoại trưởng Hillary Clinton đã lý giải chính sách “xoay trục” bằng một quan điểm mới là Mỹ chủ động chứ không phải bị động: Mỹ quyết định rút quân khỏi Iraq và Afghanistan là nhằm “xoay trục” sang Châu Á, chứ không phải là Mỹ bị động “thoái lui” trong thế yếu. Hillary Clinton đã đề xuất 6 hành động chủ chốt để “xoay trục” (trong đó có 4 điểm được “mượn” trong nội dung một báo cáo của CSIS). Nhưng tầm nhìn phải có hành đông kèm theo.

Trước khi Tổng thống Obama đến dự Hội nghị Thượng đỉnh Châu Á tại Bali (11/2011), ông đã quyết định đến thăm Australia để tuyên bố điều động 2.500 lính thủy đánh bộ đến Darwin, như một hành động cụ thể để “xoay trục” sang Châu Á, nhằm bảo vệ lợi ích của Mỹ và đồng minh. Tuy nhiên, quyết định mang tính tượng trưng đó lại gây ấn tượng là chính sách “xoay trục” của Mỹ chủ yếu là điều động binh lực, nên không lâu bền. Vì vậy, 6 tháng sau, Washington đã điều chỉnh thuật ngữ “xoay trục” thành “tái cân bằng”.

Dù sao, đó là khởi đầu tốt đẹp mà bà Hillary Clinton đã có công đề xướng nhằm khẳng định lợi ích chiến lược và vai trò lãnh đạo của Mỹ tại khu vực, làm các nước đồng minh tạm yên tâm trước đe dọa ngày càng tăng của Trung Quốc. Nhưng đáng tiếc sau đó, Washing ton đã không có hành động tiếp theo để biến nó thành một chiến lược nhất quán. Hơn nữa, Tổng thống Obama còn hoãn chuyến thăm 4 nước Châu Á và không dự Hội nghị Thượng đỉnh Châu Á tại Indonesia và Brunei (10/2013) vì chính phủ Mỹ “đóng cửa” (do hết kinh phí).

Quyết định không đúng lúc này đã làm cho Tổng thống “mất mặt”, gây hoang mang, nghi ngờ về chính sách “xoay trục” của Mỹ, đánh đi một tín hiệu xấu. Điều này làm người ta nhớ lại “Tiếng kèn Ngập ngừng” (Uncertain Trumpet, Maxwell Taylor, 1960). Tất nhiên Trung Quốc mừng ra mặt, tranh thủ phân hóa ASEAN, tuyên truyền là đừng tin vào Mỹ. Một khi đã mất lòng tin thì rất khó lấy lại. Tại sao một số nước ASEAN ngả theo Trung Quốc? Không phải họ chỉ sợ cái gậy của Trung Quốc, mà họ còn cần củ cà rốt của Trung Quốc.

Tháng 5/2014, Trung Quốc đột ngột đưa dàn khoan HD981 vào Biển Đông, và ráo riết xây dựng các căn cư quân sự và đảo nhân tạo tại các đảo ngầm mà họ chiếm tại Trường Sa và Hoàng Sa. Hành động ngang ngược này đã làm lãnh đạo Hà Nội bị sốc và bừng tỉnh khỏi cơn mê ngủ, và làm Washington giật mình. Trung Quốc đã bộc lộ bộ mặt thật là kẻ cướp muốn chiếm cả Biển Đông, không những đe dọa chủ quyền các nước khu vực mà còn đe dọa tự do hàng hải quốc tế, thách thức lợi ích chiến lược và vai trò cầm đầu của Mỹ.

Đây là bước ngoặt quan trọng làm người Mỹ phải điều chỉnh tư duy chiến lược, nhất là trong giới nghiên cứu và Quốc hội, buộc chính quyền Obama phải có thái độ cứng rắn hơn đối với Trung Quốc. Mỹ đã đưa máy bay trinh sát và tàu chiến đến biển Đông để tuần tiễu, bất chấp Trung Quốc phản đối, đồng thời tăng cường quan hệ với Việt Nam, không chỉ về kinh tế chính trị mà còn cả về an ninh quốc phòng. Vừa rồi, Tổng thống Obama đã đón tiếp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Phòng Bầu dục, bất chấp nhiều ý kiến phản đối. Tổng thống Obama cũng quyết tâm đẩy nhanh quá trình đàm phán TPP, và bỏ dần cấm vận bán vũ khí cho Việt Nam. Các nhà quan sát cho đây là bước ngoặt dẫn đến “Xoay trục 2.0”.

Bản chất chính sách “xoay trục” hay “tái cân bằng” là nhằm “ngăn chặn” Trung Quốc trỗi dậy hung hãn như quái vật “Frankenstein” (Richard Nixon, 1994), đe dọa lợi ích chiến lược của Mỹ và thách thức vai trò lãnh đạo của Mỹ. Vì vậy, từ chỗ ban đầu tìm cách lý giải cho việc rút quân Mỹ khỏi Afghanistan và Iraq, nay Washington đã có lý do chính đáng để chuyển hướng ưu tiên chiến lược từ Trung Đông sang Châu Á-Thái Bình Dương. Có lẽ Mỹ nên cảm ơn Trung Quốc vì họ đã bộc lộ bản chất quái vật Frankenstein quá sớm.

Nhưng tầm nhìn mới đòi hỏi Washington cần phải có hành động mới quyết liệt và đồng bộ hơn. Nhiều người tại khu vực vẫn lo ngại “tiếng kèn ngập ngừng” của Mỹ. Họ cho rằng bà Susan Rice (Cố vấn An ninh Quốc gia) không hiểu biết mấy về khu vực này và cũng chẳng thực sự quan tâm, trong khi đó ông John Kerry (ngoại trưởng) tuy có kinh nghiệm, nhưng lại bị lôi cuốn vào bàn cờ Trung Đông và Châu Âu, nên không còn thơi gian cho Châu Á. Có lẽ vì vậy mà Tổng thống Obama đã hủy bỏ chuyến thăm Châu Á (2013). Hy vọng chuyến thăm Châu Á và Việt Nam dự kiến vào cuối năm nay không bị ông hủy bỏ như vậy.

Trước sưc ép kinh tế và quân sự của Trung Quốc hiện nay, các nước Châu Á rất cần Mỹ. Nhưng họ cần nhất một lập trường nhất quán (không phải là “tiếng kèn ngập ngừng”). Người Châu Á cần Mỹ không phải chỉ để đối phó với nguy cơ Trung Quốc trước măt, mà còn nhằm hợp tác lâu dài, giúp các nước khu vực phát triển và dân chủ hóa. Họ cần có những người hiểu biết và đồng cảm với khu vực, để lắng nghe những mối quan tâm lo lắng của họ. Đấy mới là ý nghĩa thực sự của chủ trương “Tham dự Tích cực” và “xoay trục”.

Nội dung “xoay trục” không phải chỉ có điều động binh lực Mỹ (như điều lính thủy đánh bộ đến Darwin) mà còn phải tăng cường sức mạnh quân sự cho các đồng minh tại khu vực (như bỏ cấm vận bán vũ khí cho Việt Nam). “Xoay trục” không phải chỉ tăng cường hợp tác kinh tế khu vực để tránh lệ thuộc vào Trung Quốc (qua TPP) mà còn thúc đẩy hợp tác văn hóa giáo dục (như dự án Đại học Fulbright). Tuy nhiên, muốn biến tầm nhìn thành hiện thực, cần phải hành động kịp thời và quyết liệt hơn, vì nếu hành động quá ít và quá chậm (too little too late) thì sẽ mất cơ hội hoặc phải trả giá đắt. Nên nhớ là dự án Đại học Fulbright đã bị chậm lại gần hai thập kỷ, và chương trình đào tạo Fulbright (FETP) đã suýt nữa bị xóa sổ. 

Tầm nhìn và hành động của Mỹ ở khu vực: Duy trì nguyên trạng

Lich sử tham dự của Mỹ tại Châu Á-Thái bình Dương có thể tóm tắt như sau. Trước và trong đại chiến thứ 2, đối thủ chính của Mỹ ở khu vực này là Nhật, đã canh tân giàu mạnh và quân sự hóa trở thành phát xít. Bắt đầu cuộc chiến, vì chủ quan khinh địch nên Mỹ đã bị Nhật bất ngờ nện cho một trận thua nhục nhã tại Trân Châu Cảng. Đừng tưởng Nhật bắt chước Phương Tây để hiện đại hóa thì sẽ giống phương tây, không đánh Mỹ. Lúc kết thúc cuộc chiến, để ra oai Mỹ đã nện cho Nhật 2 quả bom nguyên tử (tuy không cần thiết).

Sau chiến tranh, trong khi Nhật trở thành đồng minh chính của Mỹ thì Trung Quốc lại trở thành đối thủ chính của Mỹ tại khu vực này. Nhất là sau 1949, Trung Quốc đã trở thành cơn ác mộng mới, làm Mỹ phải đau đầu “ngăn chặn”, dẫn đến 2 cuộc chiến tranh đẫm máu tại Triều Tiên và Việt Nam, làm Mỹ hao tổn bao xương máu, tiền của và thời gian. Nhưng chống Trung Quốc mãi không ổn, Mỹ đã “xoay trục” bắt tay với Trung Quốc để rút khỏi Việt Nam, tập trung chống Liên Xô, và chia sẻ quyền lực với Trung Quốc tại khu vực. Đó là “sáng kiến vĩ đại” của tiến sĩ Henry Kissinger, dẫn đến Shanghai Communique (1972). Đừng tưởng Mỹ bắt tay với Trung Quốc thì Trung Quốc sẽ giống Nhật Bản, không chống Mỹ.

Không phải ông Kissinger không giỏi, và mưu kế của ông ấy không cao. Nhưng tầm nhìn của ông ấy khác với tầm nhìn của người Trung Quốc, và tư duy của người Mỹ khác với tư duy của người Trung Quốc. Ông Kissinger có thể chơi cờ vua giỏi, nhưng chắc không giỏi cờ tướng hay cờ vây. Ông ấy có thể thạo binh pháp Clausewitz, nhưng chắc không thạo binh pháp Tôn Tử. Không biết ông ấy có thực sự tin rằng “Constructive Engagement” là diệu kế có thể thuyết phục người Trung Quốc “trỗi dậy trong hòa bình” không, nhưng thực tế là ông ấy đã giúp Trung Quốc trở thành con quái vật Frankenstein. Chính sếp của ông ấy là cố Tổng thống Nixon đã nghĩ như vậy, và chính đệ tử của ông ấy là Robert Blackwill cũng nghĩ như vậy.

Trong khi Mỹ rút quân chiến đấu khỏi Việt Nam (theo Hiệp định Paris, 1973) và Bỏ rơi Nam Việt Nam (30/4/1975) thì Trung Quốc đã lợi dụng thời cơ “đục nước béo cò” chiếm mấy đảo của Việt Nam ở Biển Đông (1974). Mỹ biết nhưng đã lờ đi, không giúp hải quân VNCH chiếm lại. Chính sách Trung Quốc của Mỹ lúc đó đã “xoay trục” từ “ngăn chặn” thành “tham dự tích cực” (Constructive Engagement). Khi các “đại ca” đã bắt tay nhau, thì các “đàn em” sẽ bị hy sinh hoặc bị bỏ rơi, dù Việt Cộng hay Chống Cộng cũng vậy.

Sau chiến tranh Việt Nam, Mỹ rút quân khỏi Thailand (Utapao, Udon, Korat) và Philippines (Clark, Subic), chỉ giữ lại mấy căn cứ quân sự tại Nhật Bản và Hàn Quốc. Sự có mặt của Mỹ tại khu vực này giảm xuống tới mức thấp nhất, tạo ra một khoảng trống quyền lực, nhất là tại Đông Nam Á nơi các nước ASEAN yếu và dễ phân hóa. Biển Đông hầu như bị bỏ ngỏ, là cơ hội vàng đối với Trung Quốc. Nhưng lúc đó Trung Quốc còn yếu nên chưa dám liều, phải nghe theo Đặng Tiểu Bình “lặng lẽ chờ thời” để “ngư ông đắc lợi”.

Nay Tập Cận Bình lên ngôi đã củng cố xong quyền lực, thấy thời cơ tốt (hoặc vì nội bộ bất ổn) nên đã quyết định đẩy nhanh lấn chiếm và kiểm soát Biển Đông (là nơi vừa xung yếu, vừa nhiều tài nguyên). Chính Tập Cận Bình đã buộc người Mỹ phải mở mắt, tạm biệt chủ thuyết “Tham dự Tích cực” (Constructive Engagement) của tiến sĩ Kissinger, để trở về tương lai với chủ thuyết “Ngăn chặn” (Containment). Nhưng “ngăn chặn” thế nào?

Tầm nhìn và hành động của Trung Quốc: Thay đổi nguyên trạng

Các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc đều có tham vọng bành trướng bá quyền, muốn nhòm ngó và thôn tính các nước láng giềng. Vấn đề chỉ là chờ thời gian và cơ hội. Không làm gì có chuyện Trung Quốc “trỗi dậy trong hòa bình” như người Mỹ tưởng. Dưới thời Tập Cận Bình, Trung Quốc đã đủ mạnh, không những là cường quốc hạt nhân và quân sự, mà còn vượt qua Nhật Bản trở thành cường Quốc kinh tế thứ hai thế giới. Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng thời cơ đã đến, có thể thách thức vai trò cầm đầu của Mỹ, nhân lúc Mỹ đang lúng túng đối phó với khủng hoảng kéo dài tại Trung Đông và khủng hoảng mới tại Châu Âu.

Về phía Tây, Trung Quốc muốn bành trướng ra khu vực Trung Á giàu tài nguyên và khu vực Nam Á-Ấn Độ Dương có vị trí chiến lược quan trọng. Trong một thời gian dài, Trung Quốc đã thao túng được chính quyền quân sự Myanmar làm con bài để phân hóa ASEAN, và bành trướng Xuống Nam Á. Nhưng từ khi tình hình chính trị Myanmar thay đổi bất lợi cho Trung Quốc và có lợi cho Mỹ, thì hướng bành trướng này bị ngăn chặn. Không phải ngẫu nhiên Trung Quốc gần đây đã thỏa thuận tài trợ cho Pakistan 46 tỷ USD.

Về phía Bắc, Trung Quốc từ lâu đã nhòm ngó và thèm muốn nguồn tài nguyên (dầu hỏa) tại khu vực Siberia rộng lớn, nhưng Nga không phải là đối thủ dễ chơi. Gần đây Trung Quốc lợi dụng cơ hội Nga bị Mỹ và Phương Tây cấm vận vì khủng hoảng Ukraine, để xich lại gần Nga như một “lá bài răn đe” Mỹ và để tranh thủ mua rẻ dầu hỏa của Nga. Nhưng Nga khó trở thành đồng minh chiến lược của Trung Quốc, vì Nga biết rõ tham vọng của Trung Quốc, và không quên Trung Quốc đã từng liên kết với Mỹ để chống Liên Xô.

Về phía Đông, sau khi “bình định” xong Hong Kong và Ma Cao, Trung Quốc muốn thôn tính nốt Đài Loan (là “lợi ích cốt lõi”) và các hải đảo tại Biển Hoa Đông. Việc Trung Quốc tuyên bố “khu vực nhận diện phòng không” tại Biển Hoa Đông và tranh chấp đảo “Điếu Ngư” (Senkaku) với Nhật Bản đã làm khu vực này nóng lên, và làm quan hệ Trung-Nhật căng thẳng. Tuy nhiên, lãnh đạo Trung Quốc thừa hiểu Nhật Bản và Hàn Quốc không phải là những đối thủ dễ chơi vì tiềm lực họ mạnh, và là đồng minh chiến lược của Mỹ.

Về phía Nam, khu vực Đông Nam Á, nhất là bán đảo Đông Dương và Biển Đông là khâu yếu nhất, dễ thôn tính nhất. Trong khi Việt Nam bị Trung Quốc thao túng, thì ASEAN cũng yếu và dễ bị phân hóa. Vai trò Việt Nam trong ASEAN quan trọng không phải vì tiềm lực kinh tế, mà vì địa chính trị đối với Trung Quốc. Trong lịch sử, Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục Trung Quốc. Nhưng đáng tiếc là sau thỏa thuận dại dột tại Thành Đô (9/1990) vị trí địa chính trị của Việt Nam đã bị vô hiệu hóa vì bị mắc kẹt trong cái bẫy ý thức hệ với Trung Quốc, bị Trung Quốc khống chế mọi mặt, cả kinh tế lẫn chính trị.

Không phải ngẫu nhiên Trung Quốc ngang ngược tuyên bố chủ quyền “đường chin đoạn”, đem dàn khoan HD 981 đến Biển Đông xâm phạm chủ quyền Việt Nam (5/2014), ráo riết xây dựng các căn cứ quân sự và đảo nhân tạo tại các đảo đá ngầm mà họ chiếm tại Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là một bước ngoặt mới trong tầm nhìn của lãnh đạo Bắc Kinh, làm lãnh đạo Hà Nội bị sốc và bừng tỉnh khỏi cơn mê ngủ, và làm cho lãnh đạo Washington cũng phải giật mình lo ngại, buộc phải tỏ thái độ cứng rắn với Trung Quốc. Chính nước cờ thế (gambit) này của Trung Quốc đang xô đẩy Việt Nam vào vòng tay người Mỹ.

Ông Tập Cận Bình đã từ bỏ lời khuyên của ông Đăng Tiểu Bình, và làm ngược lại các lãnh đạo trước đó. Bắc Kinh đã triển khai một chính sách đối ngoại đầy tham vọng với “Giấc mộng Trung Hoa” (China Dream), “Giấc mộng Châu Á-Thái Bình Dương” (Asia-Pacific Dream), “Con đường Tơ lụa Trên biển” (Maritime Silk Road), với những quyết sách kinh tế táo bạo như lập “Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Châu Á” (Asian Infrastructure Investment Bank) làm đối trọng với IMF. Trung Quốc không chỉ võ mồm, mà đầu tư rất lớn. Theo giáo sư David Shambaugh nếu cộng tất cả các khoản đầu tư của Trung Quốc vào các dự án lớn này, con số lên đến 1.41 ngàn tỷ USD. (Trong khi kế hoạch Marshal trước đây chỉ có 103 tỷ USD).

Như một quy luật, Trung Quốc càng giàu mạnh thì lại càng hung hăng, càng muốn thách thức và thay đổi trật tự thế giới cũ do Mỹ cầm đầu. Việc Trung Quốc gấp rút xây dựng các căn cứ quân sự và đảo nhân tạo tại Biển Đông nhằm kiểm soát toàn bộ vùng biển này là hành động tất yếu, chỉ là vấn đề thời gian. Trung Quốc muốn độc chiếm Biển Đông bằng cách lấn dần từng mảng, như chuyện đã rồi, dù thiên hạ có phản đối nhưng chẳng ai làm gì được.

Nhiều người cho rằng Trung Quốc có tiềm lực kinh tế và quốc phòng rất mạnh (chỉ đứng sau Mỹ) nên có thể làm gì cũng được. Nhưng nếu xét kỹ thì “Gót chân Asin” của Trung Quốc không phải chỉ là vùng xa xôi hẻo lánh khó quản lý như Tây Tạng, Tân Cương, mà ở ngay tại các trung tâm lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thẩm Quyến. Thứ nhất, đó là khoảng cách giàu nghèo và sự bất bình ngày càng tăng của dân chúng, ở thành phố cũng như nông thôn. Số lượng các cuộc biểu tình và bạo động ngày càng tăng, cả về số lượng và quy mô. Bóng ma Thiên An Môn vẫn còn lảng vảng đâu đây, để một ngày nào đó có thể nổi lên bóp cổ chế độ.

Thứ hai, Trung Quốc tuy giàu, nhưng thị trường tài chính/chứng khoán rất dễ bị tổn thương vì nó liên thông toàn cầu. Chỉ trong 3 tuần tháng 6/2015, Trung Quốc đã mất 3.400 tỷ USD (bằng 44% GDP quốc gia). Không biết sự kiện bán tháo chứng khoán gây náo loạn gần đây có “bàn tay thù địch” nào không, nhưng đó là một lời cảnh báo, chắc còn tiếp diễn. Chiến tranh mạng là con dao hai lưỡi đối với trung Quốc. Đó là cuộc chiến không có tiếng súng, không cần tuyên bố, xảy ra chớp nhoáng, nhưng hậu quả khôn lường. Thị trường chứng khoán có thể là mục tiêu đầu tiên của một cuộc chiến tranh mạng giữa các cường quốc.

Thứ ba, chưa biết đấu tranh quyền lực tại Trung Quốc do tập Cận Bình phát động dưới danh nghĩa chống tham nhũng (“đả hổ diệt ruồi”) sẽ dẫn tới đâu, nhưng người ta bắt đầu liên tưởng đến hệ quả “cách mạng văn hóa mới” như “quả bom nổ chậm”. Theo các giới nghiên cứu, 64% dân giàu Trung Quốc (vốn trên 1.6 triệu USD) đã và đang di cư ra nước ngoài. Nếu có biến động về chính trị hay tài chính thì cuộc di cư ồ ạt này (như “bỏ phiếu bằng chân”) sẽ làm nền kinh tế Trung Quốc kiệt quệ nhanh chóng. Có lẽ những lý do nội bộ này là động cơ chính thúc đẩy Bắc Kinh triển khai một chính sách đối ngoại hung hăng hơn, mặc dù tự làm cô lập mình, ngược lại với chiến dịch lấy lòng thiên hạ (“Charm Offensive”).

Trung Quốc sẽ tiếp tục chơi nưóc cờ thế (gambit). Những dấu hiệu gần đây cho thấy, nếu Việt Nam xích lại gần Mỹ, họ sẽ dùng cái gậy để tiếp tục dọa. Nếu biết ta yếu bóng vía, họ sẽ đe dọa bằng kế sách “bên miệng hố chiến tranh”, gây sức ép từ phía Bắc, phía Đông, hay phía Tây Nam. Nếu biết ta tham, họ sẽ dùng củ cà rốt để tiếp tục mua. Cái gậy hay củ cà rốt đều là “sức mạnh cứng” mà họ có thừa. Nhưng cái họ thiếu là “sức mạnh mềm”.

Tầm nhìn mới ở khu vực: Vượt ra khỏi ASEAN

ASEAN là một ý tưởng hay. Nhưng ASEAN 10 không phải là ASEAN 5. Đó là một bức tranh Mosaic, lắp ghép bằng các mảng miếng đa dạng có màu sắc khác nhau, rất dễ bị Trung Quốc phân hóa và thao túng. Đoàn kết ASEAN đến nay vẫn là khẩu hiệu suông. Muốn có một ASEAN mạnh, có tiếng nói chung, ép được Trung Quốc phải theo luật chơi (như “COC” và đàm phán đa phương), thì các nước ASEAN phải ra khỏi “cái hộp thể chế”. Nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ nước khác là một điểm yếu hiện nay, khi đối phó với Trung Quốc.

“ARF” (Asian Regional Forum), East Asia Summit, APEC, v.v. là những ý tưởng tốt. Nhưng đến nay, nó chỉ là câu lạc bộ để thảo luận, chứ chưa phải để hành đông, trong khi đó cái bóng đen của con rồng Trung Quốc đã phủ khắp Biển Đông. Những gì mà ARF làm được còn quá ít và quá muộn không đủ đối phó với mối đe dọa của Trung Quốc. Phải có một khuân khổ mới hiệu quả hơn, làm nòng cốt cho an ninh tập thể khu vực.

ASEAN + 1 là một ý tưởng đúng, nhưng đến nay chưa hiệu quả, vì còn thiếu một khuân khổ thích hợp, để gắn kết với TPP. Trong số các đối tác của ASEAN, Nhật Bản có vai trò quan trọng nhất khu vực Đông Á, nhưng trước đây còn rụt rè. Gần đây, trước sự đe dọa của Trung Quốc, chính phủ của thủ tướng Abe cứng rắn hơn, cuối cùng đã vượt ra khỏi được “cái hộp hiến pháp” để có vai trò an ninh khu vực. Tại Đối thoại Shangri-La, Singapore (29-31/5/2015) Bộ trưởng Quốc phòng Gen Nakatani đã đề xuất cùng 10 nước ASEAN tuần tra Biển Đông. Đây là một ý tưởng đúng, nhưng không khả thi (vì khó huy động cả 10 nước ASEAN).

Australia cũng là một đối tác quan trọng, nhưng lâu nay bị coi là “người ngoài” (odd man out), vì lợi ích chưa thực sự gắn bó với khu vực. Gần đây, Australia còn tự nguyện bỏ tiền ra tìm kiếm chuyến bay Malaysia Airlines 370 bị mất tích tại Ấn Độ Dương (nghe nói là để lấy lòng Trung Quốc). Về thương mại và đầu tư, Australia rất cần Trung Quốc. Nhưng sau khi Chính quyền Obama có thái độ cứng rắn hơn đối với Trung Quốc, điều động máy bay trinh sát đến tuần tra Biển Đông, thì Canberra đã thay đổi hẳn thái độ. Ngày 1/6/2015, Bộ trưởng Quốc phòng Kevin Andrews đã tuyên bố Australia sẽ tiếp tục cho máy bay quân sự bay qua Biển Đông ngay cả khi Trung Quốc thiết lập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ).

Nhưng để duy trì lập trường và vai trò tích cực của Nhật Bản và Úc, gắn kết hai đối tác có tiềm lực kinh tế và quốc phòng mạnh tại Châu Á-Thái Bình Dương vào an ninh tập thể khu vực này, phải có một cơ chế mới hiệu quả hơn. Sự chuyển hóa tích cực của bức tranh địa chính trị tại khu vực này sẽ phụ thuôc vào ba yếu tố thiết yếu sau đây.

Thứ nhất, “tam giác đều” Mỹ-Trung-Viêt phải chuyển hóa nhanh thành “tam giác lệch”, với chiều Mỹ-Việt xích lại gần nhau hơn như đối tác chiến lược trên thực tế (de facto), đủ để Việt Nam tin tưởng mà bỏ chính sách “ba không” (thrre no’s) đang làm vô hiệu hóa khả năng bảo vệ chủ quyền của Việt Nam và vai trò Việt Nam trong khu vực. Nhưng muốn thực hiện được yếu tố thứ nhất, phải thực hiện nhanh yếu tố thứ hai.

Thứ hai, phải mau chóng lập “tứ giác chiến lược” (strategic rectangle) gồm Nhật-Việt-Úc-Phi, thành nhóm nước “tiên phong” (frontline) làm nòng cốt cho an ninh tập thể khu vực. “Tứ giác chiến lược” này cần dựa trên “tầm nhìn Đông Á” và thể chế hóa như một “liên minh chiến lược” (strategic alliance). “Tư giác chiến lược” này có 3 lợi thế: (1) Dễ thực hiện vì cả bốn nước đã là đối tác chiến lược/toàn diện, (2) Không sợ “quá nhạy cảm” với Trung Quốc (như đối tác chiến lược Mỹ-Việt). (3) Làm đầu tầu kết nối các nước Đông Á, thực hiện “Tầm nhìn Đông Á” bằng hành động cụ thể (hợp tác quân sự, tập trận và tuần tra chung).

Thứ ba, phải mau chóng chuyển sang “fast track” để sớm biến TPP thành hiện thực, làm cơ sở hỗ trợ những nước yếu như Việt Nam khỏi phụ thuộc vào Trung Quốc, và gắn kết các nước khu vực Đông Á lại với nhau thành đồng minh “cùng hội cùng thuyền”.

Tiến tới “Xoay trục 3.0”: Sức mạnh thông minh

Từ “xoay trục” đến “tái cân bằng” và “xoay trục 2.0” là một quãng đường dài, nhưng vẫn còn “quá ít và quá muôn” (too little too late). Nói theo ngôn ngữ điện ảnh, thì “Chiếc cầu Còn xa” (A Bridge Too Far)” (tên một bộ phim chuyện của Joseph Levine, 1977). Có lẽ đã đến lúc phải nghĩ đến “Xoay trục 3.0”, để đối phó với Trung Quốc, không phải chỉ bằng “sức mạnh cứng” mà còn bằng “sức mạnh mềm” (vì đó chính là điểm yếu của Trung Quốc).   

Về thực chất, chính sách “xoay trục” sang Châu Á là nhằm “tái cân bằng” lực lượng để “ngăn chặn” Trung Quốc bành trướng. Việc điều động 2.500 lính thủy đánh bộ đến Darwin, cho máy bay trinh sát và tàu chiến tuần tra Biển Đông, mới chỉ là bước dạo đầu. Mỹ cam kết bố trí 60% lực lượng hải quân ở Châu Á-Thái Bình Dương (trong khi ở Đại Tây Dương là 40%). Hiện nay tỉ lệ bố trí tại hai nơi này là 50-50. Ngoài ra Mỹ phải giúp các nước đồng minh/bạn bè tại khu vực tăng cường lực lượng. Ví dụ, Mỹ đang bỏ dần cấm vận bán vũ khí cho Việt Nam và từng bước nâng cấp quan hệ lên “đối tác chiến lược”, để hải quân Mỹ có thể sử dụng căn cứ Cam Ranh, và hải quân Việt Nam có thể tham gia tập trận và tuần tra.

Ngoài “xoay trục” bằng tái cân bằng “sức mạnh cứng” (hard power), Mỹ phải tái cân bằng “sức mạnh mềm” (soft power) để có “sức mạnh thông minh” (smart power). Muốn “xoay trục” nhanh và hiệu quả, thì cả hai phía phải “cùng xoay”. Vừa phải “xoay trục” về kinh tế (như thúc đẩy nhanh triển khai TPP) nhằm cô lập Trung Quốc, vừa phải “xoay trục” về văn hóa giáo dục (như triển khai nhanh dự án Đại học Fulbright) và tăng cường giao lưu văn hóa nghệ thuật giữa các nước, để hỗ trợ quá trình dân chủ hóa (là “sức mạnh mềm”).

Có một bài học lịch sử đáng nhớ. Tuy những người Pháp thực dân đã để lại một di sản thuộc địa đáng buồn tại Việt Nam, nhưng những người Pháp nhân văn cũng đã để lại những di sản văn hóa đáng quý. Đó là “hệ quả không định trước” (unintended consequences) cần trân trọng. Những cái tên như Alexandre De Rhodes, Alexandre Yersin, Louis Pasteur, v.v. đã trở thành những “thánh nhân” trong lòng người Việt. Trường Mỹ thuật Đông Dương đã để lại một thế hệ họa sĩ Việt tài năng mà tác phẩm của họ đã trở thành một hiện tượng bất tử, không thể lặp lại. Dù trải qua bao biến động cách mạng, những biệt thự Pháp tại hà Nội vẫn là dấu son của thành phố, và “văn hóa rượu vang” không thể thiếu trong một bữa tiệc. Người ta hay nói đùa (hay thật) là “ăn cơm tàu, ở nhà tây, lấy vợ nhật” mới sành điệu (high living).

Nhìn lại lịch sử giao lưu văn hóa với các cường quốc, không hiểu tại sao chỉ có người Pháp để lại được một số di sản văn hóa có ý nghĩa sâu đậm như vậy. Có lẽ vì vậy mà người Pháp đáng yêu hơn là đáng ghét. Trong khi người Trung Hoa đáng ghét hơn là đáng yêu (mặc dù ai cũng thích ăn “cơm tàu” và đọc “Tam Quốc”). Người Nga có nền văn hóa vĩ đại, đã từng là đồng minh chiến lược của Việt Nam, nhưng không hấp dẫn được thế hệ trẻ bằng Vodka và Tolstoy. Người Nhật đến Việt Nam rất sớm, nhưng không ở lâu, chỉ để lại vài hình tượng còn sót lại tại Faifo (Hội An) và “văn hóa Honda” thời hậu chiến. Người Mỹ thời chiến tranh Việt Nam và thời hậu chiến chỉ hấp dẫn người Việt bằng “văn hóa Hollywood và McDonald”. Nhưng sau 20 năm, đã có 16.500 sinh viên Việt Nam đi học Mỹ. Đó là một tài sản quý nối kết hai nước, như là “sức mạnh mềm”. Có lẽ đây là lý do Trung Quốc sợ Việt Nam “diễn biến hòa bình” và xui ta chống Mỹ. Vì vậy, Đại học Fulbright càng có ý nghĩa (nhưng đừng quá muộn).

Gần đây, Tổng thống Obama đã nhìn thấy tầm quan trọng của Châu Á-Thái Bình Dương, và quyết tâm “xoay trục”, để bảo vệ lợi ích chiến lược và vai trò lãnh đạo của Mỹ, đồng thời bảo vệ các nước đồng minh và bạn bè ở khu vực trước mối đe dọa của Trung Quốc. Tầm nhìn mà bà Hillary Clinton đề xướng đang được chính quyền Obama triển khai. Chỉ có điều là hành động như thế nào để tầm nhìn có ý nghĩa và trở thành hiện thực (trước khi quá muộn). Bởi vì, trong khi người Mỹ và người Việt vẫn đang nhảy điệu “slow waltz” theo “tiếng kèn ngập ngừng”, thì người Trung Quốc không ngồi yên, đang nhảy “rock’n roll”.

Có người cho rằng, ông Obama đã có tầm nhìn và hiểu đúng về Trung Quốc, nhưng đáng tiếc điều đó không còn thực sự có ý nghĩa nữa (it doen’t really matter anymore). Bởi vì, những gì Trung Quốc đang làm tại Biển Đông hay Việt Nam có thể làm cho những gì Mỹ đang “xoay trục” trở thành quá ít và quá muộn (too little, too late).

Tham Khảo

  1. “A new era in US-Vietnam Relations”, A Report of the Sumitro Chair, CSIS, June 2014
  1. “The South China Sea – The Struggle for Power in Asia”, Bill Hayton, Yale University Press, 2014. Book review, Ben Richardson, October 16, 2014.
  1. “Pivot 2.0 : How the Administration and Congress Can Work Together to sustain American Engagement in Asia to 2016”, A Report of the Asia Program, CSIS, January 2015
  1. “The time is right for president Obama to visit Vietnam in 2015”, Murray Hiebert & Phuong Nguyen, CSIS, February 19, 2015
  1. “Obama got China right but it’s too late”. Andrew Perk, Observer, Fabruary 6, 2015
  2. “A new US Grand strategy towards China”, Robert Blackwill & Ashley Tellis, The national Interest, April 13, 2015
  3. “From Foe to Frenemy: Why the US is courting Vietnam”, David Brown, Foreign Affairs, June 29, 2015
  1. With an absent US, China marches on”, Fareed Zakaria, Washington Post, July 2, 2015

NQD. July 16, 2015
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 18-7-15
Nguồn: Chuyên mục NIỂN ĐÔNG VẠN DẶM trích dẫn theo Viet-Studies
để làm tài liệu tham khảo.

MỐI QUAN HỆ PHỨC TẠP GIỮA BÀ CLINTON VÀ TRUNG QUỐC

Đại Kỷ Nguyên Tác giả: Joshua Philipp, Dịch giả: DK Lam, 19-07-2015

Bà Hillary Clinton tại Las Vegas vào ngày 18 tháng 6 năm 2015. Bà Clinton gần đây chỉ trích chế độ Trung Quốc về việc nước này đánh cắp thông tin mạng và quân sự hóa nhanh chóng. (Ethan Miller/Getty Images)

Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) đang “cố gắng đột nhập vào tất cả những gì bất động tại Mỹ”, theo cựu Ngoại trưởng Mỹ đồng thời là ứng cử viên Tổng thống đảng Dân Chủ- Hillary Clinton trong chiến dịch bầu cử ngày 4 tháng 7 tại New Hampshire.

Hành vi trộm cắp này bao gồm các bí mật thương mại và những kế hoạch của các nhà thầu quốc phòng, bà Clinton cho rằng “ Đừng nhầm lẫn: họ biết rằng họ đang ở trong một cuộc cạnh tranh và họ sẽ làm mọi thứ để chiến thắng”.

Clinton cũng cảnh báo về việc quân sự hóa nhanh chóng của Trung Quốc và lấn chiếm lãnh thổ ở Biển Đông.

Bà nói rằng bà muốn “chứng kiến một sự trỗi dậy trong hòa bình cho Trung Quốc”, theo CNN “nhưng chúng ta cũng phải cảnh giác cao độ rằng quân đội Trung Quốc đang lớn mạnh rất nhanh chóng và họ đang thiết lập các căn cứ quân sự đe dọa các đồng minh của Mỹ, như Philippines, vì họ xây dựng các căn cứ trên lãnh thổ bị tranh chấp”.

Chính quyền Trung Quốc đáp trả nhẹ nhàng một cách khác thường trước lời bình luận của bà Clinton. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc- Hoa Xuân Oánh nói với Reuters rằng Trung Quốc và Hoa Kỳ có một “tinh thần xây dựng” để “tăng cường đối thoại và hợp tác để cùng nhau đối mặt với những thách thức đa dạng.”

Bà Hoa nhấn mạnh cụm từ “ hòa bình và thịnh vượng” khi đề cập đến quan hệ Mỹ-Trung, đây là sự biến chuyển khác hoàn toàn với phản ứng thông thường của Trung Quốc đối với chỉ trích của Mỹ về những vụ đánh cắp thông tin mạng- những chỉ trích mà Trung Quốc thường gọi là “ các cáo buộc vô căn cứ” và sau đó là những chỉ trích về những hoạt động gián điệp của Mỹ.

Điều này làm nổi bật mối quan hệ rắc rối giữa bà Clinton và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bà từng nhận được những khen ngợi từ truyền thông Trung Quốc khi bà không đề cập vấn đề nhân quyền ở quốc gia này. Tuy nhiên, những năm qua, các cơ quan phát ngôn của chế độ Trung Quốc đã chuyển sang chỉ trích và cảnh báo đối với bà Clinton.

Theo tờ The Washington Free Beacon vào tháng Tư, hai tờ báo do Đảng Cộng sản Trung Quốc kiểm soát đã đăng những cảnh báo đối với bà Clinton một cách gián tiếp rằng bà không nên chỉ trích Trung Quốc trong chiến dịch tranh cử tổng thống, chưa hết họ còn dự đoán rằng thái độ của bà với Trung Quốc sẽ thay đổi nếu bà được bầu làm tổng thống.

Nhân Dân Nhật báo và Thời báo Hoàn cầu cho rằng bà Clinton” sẽ không mềm mỏng với Trung Quốc, ít nhất trong suốt chiến dịch của bà”

Theo The Washington Free Beacon, Thời báo Hoàn cầu viết rằng “ Bà Clinton không muốn tỏ ra “ mềm mỏng” đối với Trung Quốc” và ghi chú về một trạng thái trên twitter của bà Clinton chỉ trích Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt giữ năm nhà hoạt động nhân quyền.

Mối quan hệ giưa bà Clinton và Trung Quốc lần đầu tiên có bước tiến triển khi bà quyết định lờ đi vấn đề áp bức nhân quyền của chế độ Trung Quốc để phát triển thương mại giữa hai nước.

Theo tờ Telegraph có trụ sở ở Anh, viết vào tháng Hai năm 2009 về chuyến thăm đầu tiên của bà Clinton khi bà còn là Ngoại trưởng “Trung Quốc phản ứng vui vẻ trước quyết định của bà Clinton khi đặt quan hệ kinh tế trên nhân quyền lúc bà công du lần đầu với tư cách là Ngoại trưởng Mỹ”.

Tờ Telegraph viết “ Bà Clinton không chỉ ít đề cập công khai về vấn đề nhân quyền, mà cũng không bộc lộ bất cứ dấu hiệu cho thấy bà có gây áp lực lên Trung Quốc về một vấn đề mâu thuẫn trọng tâm khác với Mỹ – đó là Mỹ cáo buộc Bắc Kinh thao túng tiền tệ để tự tạo lợi thế thương mại không công bằng”.

Mối quan hệ của bà với Đảng Cộng sản Trung Quốc thay đổi trong năm tiếp theo, ít nhất trên bề mặt, sau khi Google rút khỏi Đại lục khi phát hiện Trung Quốc tấn công các hệ thống và chính sách kiểm duyệt của công ty này.

Vào tháng 1 năm 2010, bà Clinton kêu gọi Đảng Cộng sản Trung Quốc dỡ bỏ hạn chế Internet. Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Ma Zhaoxu phản ứng rằng những bình luận của bà là “ các cáo buộc vô căn cứ chống lại Trung Quốc”.

Vào tháng 8 năm 2012, Đảng Cộng sản Trung Quốc nhẹ nhàng nhắc nhở bà vì hành động bị Trung Quốc xem là vượt quá giới hạn. Bà Clinton thăm đảo Cook để tham dự Diễn đàn Quần đảo Thái Bình Dương, như là động thái thực hiện cam kết của chính quyền Obama sẽ thúc đẩy hiện diện quân sự ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Tờ Nhân dân Nhật báo cho rằng việc bà Clinton tham dự một diễn đàn có đại diện của 60 quốc gia là “không thích hợp”.

Vào tháng 1 năm 2013, dù không trực tiếp đề cập Trung Quốc, bà Clinton nói rằng Mỹ phản đối những nỗ lực làm suy yếu sự kiểm soát của Nhật bản với những đảo ở Biển Hoa Đông. Bình luận của bà nhắm tới hành vi thúc đẩy tuyên bố chủ quyền với Đảo Điếu Ngư của quân đội Trung Quốc, hòn đảo này nằm dưới quyền kiểm soát của Nhật Bản.

Theo Bloomberg, Người phát ngôn của Bộ ngoại giao Trung Quốc Quin Gang cáo buộc bà Clinton” chẳng biết gì về thực tế”.

Tính đến nay, phần lớn các chỉ trích của bà Clinton về Đảng Cộng sản Trung Quốc rất nhẹ nhàng, và chỉ đối với các vấn đề hoặc cụ thể rõ ràng và thống nhất với đường lối của chính quyền Obama, hoặc với các vấn đề bà không thể không bình luận.

Tuy nhiên, phát biểu gần đây của bà lại khác. Bà chỉ trích mạnh mẽ hơn về hành vi gây hấn của Trung Quốc trong việc đánh cắp thông tin mạng và quân sự hóa.

Tương tự, đảng cộng sản Trung Quốc cũng đã có phản ứng khác lạ. Nếu trong quá khứ họ chỉ trích nặng nề bà Clinton chỉ vì bà đã đi hơi quá giới hạn, thì giờ đây họ cho rằng những bình luận của bà mang “ tinh thần xây dựng”.

Xem thêm

Video nhạc tuyển

Ban Mai
MAR AKRAM – Dancing with the wind♥
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

 

 

Biển Đông vạn dặm

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Biển Đông vạn dặm. Với tựa đề “Trục quan hệ Mỹ-Việt-Trung dịch chuyển âm thầm mà sâu sắc” tác giả Hồng Thủy, Báo Giáo dục Việt Nam ngày 7. 7.2015 nhận định: “Vị trí địa chiến lược trọng yếu của Việt Nam đã khiến mình trở thành tâm điểm cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc. Người Việt đã từng khổ sở vì điều này. Chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ từ ngày 6/7 đến 10/7 của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đang nhận được sự quan tâm theo dõi rộng rãi của dư luận trong và ngoài nước. Nhiều học giả quốc tế có những phân tích từ các góc nhìn khác nhau về sự kiện này, trong đó có sự tin tưởng kỳ vọng, cũng có những hoài nghi chờ đợi, nhưng nhìn chung đều cho rằng chuyến thăm này là một bước ngoặt lịch sử trong quan hệ bang giao giữa hai nước.”

NgPhuTrong

Chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là bước ngoặt lịch sử trong quan hệ bang giao giữa hai nước. Ảnh: Bloomberg.

Toàn văn Tuyên bố về Tầm nhìn chung Việt Nam – Hoa Kỳ (TTXVN 08-07-2015)
Hoa Kỳ, Việt Nam thông qua Tuyên bố về Tầm nhìn chung (VOA 08-07-2015)

“Việt Nam đang cố gắng tái cân bằng chiến lược”; Báo Trung Quốc lại gán chuyến thăm Mỹ của Tổng bí thư với Biển Đông, vũ khí; Tân Hoa Xã nói gì về chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Tổng bí thư?

Không có kẻ thù hay bạn bè vĩnh viễn

Bình luận trên đài BBC tiếng Việt ngày 6/7, Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp từ Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore dẫn câu nói “không có đồng minh vĩnh viễn, cũng không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích vĩnh viễn” để phân tích sự kiện này. Theo Tiến sĩ Hiệp, cả Việt Nam, Hoa Kỳ và Trung Quốc đều đang theo đuổi lợi ích của chính mình, và khi lợi ích thay đổi thì quan hệ đồng minh hay kẻ thù cũng thay đổi theo.

Chính hoạt động bồi lấp, xây dựng đảo nhân tạo bất hợp pháp của Trung Quốc ở Trường Sa đe dọa hòa bình và ổn định trong khu vực đã kích hoạt những thay đổi địa chính trị này chứ chẳng có thế lực “thù địch”, “chống Trung Quốc” nào gây ra như họ vẫn tưởng tượng. Do đó Bắc Kinh không có lý do gì để “bất mãn” hay “trách cứ”, Tiến sĩ Hiệp nhận định.

Ngày 26/6 vừa qua tại “Hội thảo Quốc tế Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ sau 20 năm bình thường hóa, thực trạng và triển vọng” do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức, cựu Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Lê Văn Bàng bình luận, trong mấy chục năm qua thế giới chứng kiến những quan hệ quốc tế thay đổi liên tục, thù thành bạn, bạn thành thù, Việt – Mỹ hay Việt – Trung cũng như thế.

Tuy nhiên, trong sự thay đổi xoay chuyển không ngừng đó thì lợi ích quốc gia dân tộc là bất biến. Hiện nay, khi quan hệ Việt – Trung đang căng thẳng vì Trung Quốc leo thang ngoài Biển Đông lại là lúc quan hệ Việt – Mỹ đang ở trong thời kỳ phát triển. Hai nước có chung lợi ích duy trì hòa bình, ổn định, luật pháp và trật tự quốc tế, tự do hàng không, hàng hải ở Biển Đông.

Cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak có cùng quan điểm này, ông cho biết Mỹ đang muốn phát triển quan hệ với Việt Nam thành “mô hình kiểu mẫu” trong khu vực.

Tại hội thảo này, Tiến sĩ Murray Hiebert, Chủ tịch Hội đồng nghiên cứu Đông Nam Á, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và quốc tế Hoa Kỳ (CSIS) khẳng định trước các học giả Việt Nam, Hoa Kỳ rằng: Lật đổ chế độ ở Việt Nam hoặc diễn biến hòa bình không phải mục đích của Mỹ.

Ngược lại, Mỹ xem Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong chiến lược tái cân bằng của mình. Hoa Kỳ ủng hộ chính sách đối ngoại độc lập của Việt Nam, quan hệ Việt-Mỹ phát triển có thể sẽ hữu ích với Việt Nam trong vấn đề Biển Đông hay xử lý quan hệ với láng giềng Trung Quốc.

Tiến sĩ Alexander L. Vuving từ Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á Thái Bình Dương, Honolulu ngày 6/7 bình luận trên The Diplomat, chuyến thăm Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là một bước “chuyển dịch trầm lắng nhưng sâu sắc” có thể thay đổi cán cân tam giác quan hệ Mỹ – Việt – Trung và đời sống chính trị ở Việt Nam.

Chuyến thăm này có ý nghĩa quan trọng. Đối với Hoa Kỳ nó cho thấy lợi ích chiến lược từ một mối quan hệ chặt chẽ với Việt Nam đã vượt qua cái giá chiến lược phải trả khi “khiêu khích” Trung Quốc cũng như cái ông Vuving gọi là “mức giá chính trị phải trả” khi hợp tác với quốc gia có thể chế chính trị khác Hoa Kỳ, từng một thời ở hai đầu chiến tuyến.
Vuving

Tiến sĩ Alexander L. Vuving (trái). Ảnh: Asia in Review.

Đối với Việt Nam, ông Vuving bình luận: Chuyến đi này sẽ tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng đồng thời quan hệ hữu nghị với Mỹ sẽ có những “hệ quả chính trị và chiến lược”. Cụ thể hơn, ông Vuving cho rằng chuyến thăm này ảnh hưởng đến cán cân quyền lực trong giới tinh hoa của đất nước Việt Nam và nó sẽ “kích thích” Trung Quốc.

Chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng được học giả này cho là Việt Nam “đã đạt đến giới hạn trong mối quan hệ gắn kết với Trung Quốc và hiện đang cố gắng để tiếp cận với Hoa Kỳ để mở rộng sự lựa chọn cho mình.”

Để chuẩn bị cho chuyến thăm lịch sử này, cả hai phía Việt Nam và Hoa Kỳ đều đã có những bước tiếp cận thận trọng (và cần thiết). Câu chuyện bắt đầu vào tháng Bảy năm 2012 khi Ngoại trưởng Hillary Clinton hội kiến Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hà Nội và chính thức chuyển lời mời ông thăm Hoa Kỳ.

Những hoạt động tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ đã lần lượt diễn ra trước khi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lên đường sang Mỹ. Nhưng cuộc khủng hoảng giàn khoan 981 (Trung Quốc đơn phương hạ đặt bất hợp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam, hoàn toàn không có tranh chấp – PV) năm ngoái được xem như một phép thử làm thay đổi cuộc chơi.

Ông Vuving bình luận, khủng hoảng giàn khoan 981 năm ngoái cho người Việt Nam thấy rõ mối đe dọa an ninh từ (chính sách bành trướng lãnh thổ trên Biển Đông theo đuổi bởi) Trung Quốc.

Alexander L. Vuving cho rằng trong thực tế Hoa Kỳ là nước lên tiếng mạnh mẽ nhất chống lại hành động bành trướng của Trung Quốc và hỗ trợ mạnh mẽ nhất cho Việt Nam trong khủng hoảng giàn khoan 981 năm ngoái. Đồng thời, những tiếng nói chỉ trích hành động “bành trướng”, “xâm lược” của Bắc Kinh đã xuất hiện, phá vỡ cục diện quan hệ Việt – Trung đã định hình và tồn tại 2 thập kỷ kể từ khi bình thường hóa quan hệ năm 1991.

Hoạt động xây dựng, bồi lấp (bất hợp pháp) đảo nhân tạo mà Trung Quốc tiến hành ở Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam – PV) cũng mang ý nghĩa và tác động tương tự tới trục quan hệ Mỹ – Việt – Trung như vụ giàn khoan 981.

Độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích hợp pháp của quốc gia dân tộc là bất biến

Lịch sử biến thiên, bạn thù vẫn luôn thay đổi theo thời cuộc, nhưng trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam thì độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích hợp pháp của quốc gia dân tộc luôn bất biến.

Trong Chiến tranh Việt Nam, người Việt và người Mỹ ở hai đầu chiến tuyến. Lúc đó Trung Quốc đã hỗ trợ, giúp đỡ Việt Nam rất nhiều trong công cuộc kháng chiến thống nhất đất nước. Mặc dù sự hỗ trợ này không hoàn toàn vô tư trong sáng vì có những động cơ chiến lược phục vụ cho lợi ích dân tộc vị kỷ, hẹp hòi của họ mà thời điểm đó người Việt khó có thể nhận ra, mãi sau này thời gian, lịch sử mới bóc dần bí mật.

MaoNixon

Cuộc gặp lịch sử giữa Mao Trạch Đông và Tổng thống Mỹ Richard Nixon năm 1972 cũng đã có đổi chác lợi ích trên lưng các nước nhỏ, bao gồm Việt Nam.

Và khi không đạt được mưu đồ lợi ích vị kỷ hẹp hòi, bành trướng đại Hán của mình, Bắc Kinh kích động lực lượng diệt chủng Pol Pot do họ nuôi dưỡng chống phá biên giới Việt Nam, đe dọa nghiêm trọng an ninh đất nước và dẫn đến cuộc Chiến tranh Biên giới Tây Nam tiêu diệt Khmer Đỏ, cứu người dân Campuchia khỏi nạn diệt chủng man rợ.

Khmer Đỏ bị đánh tan tác thì đến lúc ông chủ của chúng, Trung Nam Hải quyết định xua quân tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam gây ra cuộc Chiến tranh Biên giới phía Bắc đẫm máu. Việt Nam và Trung Quốc từ bạn thành thù cũng chỉ bởi độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam bị đe dọa. Người Việt đã buộc phải đứng lên bảo vệ từng tấc đất của cha ông trước sức tấn công tàn phá ghê gớm của láng giềng từng là đồng chí anh em.

Năm 1991 Việt Nam, Trung Quốc bình thường hóa quan hệ, đến năm 1995 Việt Nam và Hoa Kỳ cũng bình thường hóa quan hệ bởi hòa bình, hợp tác là xu thế của thời đại, mong muốn của người dân bất kỳ quốc gia nào. Không quên quá khứ nhưng biết vượt qua nó để hướng tới tương lai đã giúp Việt Nam phục hồi và phát triển từ đống tro tàn của mấy chục năm chiến tranh liên miên.

Sở dĩ quan hệ Việt – Trung ngày nay xuất hiện những căng thẳng, có lúc leo thang thành khủng hoảng như trong vụ giàn khoan 981 năm ngoái là bởi tham vọng bành trướng lãnh thổ lại trỗi dậy trong những người cầm quyền ở Trung Nam Hải.

Hàng loạt hành động leo thang bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông đã trực tiếp xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như quyền tài phán và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa trên Biển Đông theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.

Đồng thời hành vi hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông còn đe dọa nghiêm trọng hòa bình, ổn định, an ninh trong khu vực cũng như tự do hàng không, hàng hải ở Biển Đông, xâm phạm lợi ích quốc gia của Mỹ. Lúc này lợi ích chiến lược của Việt Nam và Hoa Kỳ lại hội tụ ở Biển Đông, đó là ngăn chặn bá quyền bành trướng, giữ gìn bảo vệ luật pháp quốc tế.

Theo Tiến sĩ Alexander L. Vuving thì trong cách ứng xử với Việt Nam, Trung Quốc đang chơi trò 2 mặt. Bắc Kinh một mặt nhấn mạnh hợp tác trong khi các yếu tố mang tính cưỡng chế, mưu đồ xâm hại ngày càng tinh vi hơn.

Ngay cả việc đón tiếp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm Trung Quốc hồi tháng 4 vừa qua, Bắc Kinh cũng dành những nghi lễ long trọng mà ông Vuving cho rằng vượt qua cả những gì người Việt Nam “có thể mong đợi trong chuyến thăm Hoa Kỳ” lần này của Tổng bí thư. Bắc Kinh cung cấp một gói tín dụng lớn cho các dự án nhằm gây ra sự lệ thuộc về kinh tế của Việt Nam vào họ.

Trong tháng 5 Trung Quốc khởi xướng một cuộc họp giữa Bộ trưởng Quốc phòng 2 nước trên biên giới đất liền trong khi Bắc Kinh vẫn thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động bồi lấp, xây dựng đảo nhân tạo (bất hợp pháp) ở Trường Sa.

Khoảng 1 tuần trước khi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Hoa Kỳ, Trung Quốc một lần nữa kéo giàn khoan 981 ra khu vực chồng lấn vùng đặc quyền kinh tế giữa 2 nước, chưa được phân định ở cửa vịnh Bắc Bộ, gần vị trí hạ đặt bất hợp pháp năm ngoái. Động thái này được xem như một thông điệp “nhắc nhở” của phương Bắc.

GK981

Giàn khoan 981 được Trung Quốc sử dụng như một thủ đoạn thăm dò, gây sức ép với Việt Nam.

Do đó, nói như Tiến sĩ Murray Hiebert từ trung tâm CSIS, tăng cường hợp tác với Hoa Kỳ cũng có ích cho Việt Nam trong vấn đề (bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp của mình ở) Biển Đông hay xử lý mối quan hệ với Trung Quốc.

Độc lập tự chủ trong quan hệ đối ngoại là lựa chọn đúng đắn, dựa nước này chống nước kia là tự sát

Các nhà lãnh đạo Việt Nam từ lâu đã khẳng định chủ trương đối ngoại nhất quán: Đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp công việc nội bộ của nhau, cùng phát triển thịnh vượng.

Việt Nam không chủ trương dựa vào nước này chống lại nước kia, không liên minh liên kết quân sự, không cho nước này dùng lãnh thổ Việt Nam tiến hành các hoạt động chống lại nước kia. Đó là phương châm chính sách đối ngoại chính xác, chỉ có độc lập tự chủ mới giúp Việt Nam không trở thành con tốt trong tay các nước lớn trên bàn cờ địa chính trị thế giới.

Vị trí địa chiến lược trọng yếu của Việt Nam đã khiến mình trở thành tâm điểm cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc. Người Việt đã từng khổ sở vì điều này. Quay trở lại với câu nói “không có kẻ thù vĩnh viễn, cũng không có bạn bè vĩnh viễn, chỉ có lợi ích là vĩnh viễn”, có quá nhiều ví dụ lịch sử minh chứng cho điều này.

Quan hệ Việt – Trung ngay cả khi đang là “đồng chí, anh em” dù phần nào mang tính danh nghĩa thì năm 1974, Trung Quốc vẫn thừa cơ lợi dụng tình hình nội bộ Việt Nam, cất quân xâm lược nốt nửa phía Tây quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Mỹ với chế độ Việt Nam Cộng hòa có quan hệ đồng minh, bảo trợ nhưng hạm đội 7 nhắm mắt làm ngơ để hải quân Trung Quốc gây chiến, xâm lược trắng trợn nửa phía Tây Hoàng Sa từ quân lực Việt Nam Cộng hòa, một ví dụ đau đớn nữa về đồng minh và lợi ích.

Năm 1988 khi hải quân Liên Xô còn đóng tại vịnh Cam Ranh của Việt Nam đã không có một phản ứng nào khi Trung Quốc cất quân xâm lược 6 bãi đá trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, mặc dù Liên Xô là một đồng minh và vẫn được người Việt xem như “anh Cả”.

Ngày nay người Nga vẫn thực hiện chính sách “ngậm miệng” ở Biển Đông, không công khai phản đối những hành động leo thang gây hấn và cũng không công khai ủng hộ chính nghĩa hay góp phần duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông. Nga đứng giữa và âm thầm bán vũ khí hiện đại cho cả Việt Nam lẫn Trung Quốc. Tất cả cũng chỉ xoay quanh 2 chữ lợi ích.

Do đó những quan điểm từ bất cứ phía nào cho rằng Việt Nam nên liên minh với bất kỳ quốc gia nào, dù Nga hay Mỹ để chống Trung Quốc cũng sẽ chỉ đẩy Việt Nam vào thế kẹt, thành quân cờ trong tay nước lớn và có thể bị đổi chác, mua bán ngay trên lưng mình bất cứ lúc nào. Đó là một sai lầm – PV.BBC

Phóng viên đài BBC tiếng Việt phỏng vấn ông Fred Brown, cựu quan chức ngoại giao Hoa Kỳ.

Ngay cả người Mỹ cũng khẳng định điều này. Trả lời câu hỏi của đài BBC tiếng Việt ngày 5/7 rằng Hoa Kỳ ứng xử ra sao nếu không may Việt Nam lại bị Trung Quốc tấn công, cựu quan chức ngoại giao Mỹ Fred Brown bình luận:

“Tôi nghĩ các nhà lãnh đạo Việt Nam không dại gì mà đề nghị Mỹ giúp Việt Nam trong những tình huống như thế. Tôi không nghĩ là có chuyện như thế xảy ra. Tôi nghĩ lãnh đạo Việt Nam cần hiểu rõ lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ nằm ở đâu.

Chúng tôi không phải là đồng minh ký hiệp ước với Việt Nam và tôi không nghĩ điều này có thể xảy ra trong tương lai gần hoặc là về sau nữa. Còn Trung Quốc luôn là yếu tố quan trọng trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ và Việt Nam hiểu điều đó.”

Trong buổi hội thảo ngày 26/6, Tiến sĩ Murray Heibert cũng khẳng định, sẽ không có chuyện người Mỹ đem Hạm đội 7 ra ngăn chặn giàn khoan 981 khi nó xâm phạm vùng biển Việt Nam hoặc Mỹ sẽ can thiệp nếu xảy ra tình huống đối đầu trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Hoa Kỳ chỉ có thể lên án những hành động gây hấn leo thang và gây sức ép quốc tế buộc Trung Quốc xuống thang. Ngay cả với 2 đồng minh khác nhau của Mỹ hiện nay là Nhật Bản và Philippines, mức độ cam kết đảm bảo an ninh của Hoa Kỳ cũng khác hẳn nhau, phụ thuộc vào lợi ích những gì mang lại cho người Mỹ từ mối quan hệ này – PV.

Bởi vậy mục đích chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng rõ ràng là nhằm nâng cao, củng cố quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam – Hoa Kỳ mang lại lợi ích thiết thực cho người dân hai nước, không nhằm chống lại bất cứ ai – PV.

Tất nhiên, mọi xu thế khu vực và quốc tế có lợi cho Việt Nam trong công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lợi ích hợp pháp ở Biển Đông người Việt phải tận dụng tối đa, nhưng không có nghĩa là liên minh với nước này chống lại nước khác. Tự lực cánh sinh, tăng cường nội lực kết hợp tối đa hóa các trợ lực từ xu thế khu vực và quốc tế mới có thể giúp Việt Nam bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia. Dựa dẫm vào bất kỳ nước nào đều không phải là lựa chọn khả dĩ.

Cũng chẳng có quốc gia nào sẵn sàng tạo ra một liên minh đối đầu, xung đột với Trung Quốc chỉ vì để “giúp Việt Nam”, mọi hoạt động hợp tác đều phải trên cơ sở tính toán hài hòa lợi ích chung từ hai phía. Hãy xem xét Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, ASEAN có những lợi ích chung nào với Việt Nam ở Biển Đông để tận dụng nó trong công cuộc bảo vệ chủ quyền, quyền và lợi ích hợp pháp mới là việc Việt Nam nên làm.

Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo và còn quá nhiều ràng buộc không thể bỏ qua giữa các nước này với Trung Quốc, nên không có chuyện Việt Nam liên kết với Mỹ hay Nga để chống Trung Quốc. Ngược lại, Mỹ hay Nga cũng chẳng thể hy sinh lợi ích của họ chỉ vì “nghĩa hiệp” với Việt Nam – PV.

Hồng Thủy
(Báo GDVN)

Bài liên quan:

 

Bài viết mới TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Video yêu thích

TBT Nguyễn Phú Trọng và TT Obama ra tuyên bố chung về quan hệ song phương


TBT Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại buổi tiếp đãi ở Bộ Ngoại giao Mỹ 7/7/2015


Cựu TT Bill Clinton thăm VN, TBT Nguyễn Phú Trọng sắp thăm Mỹ, VOA 4/7/2015


CTN Trương Tấn Sang gặp gỡ người Việt hải ngoại ở New York 26/7/2013

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

Biển Đông vạn dặm

BienDongvandam472015TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Biển Đông vạn dặm. Mười bước để Mỹ ngăn chặn chiến lược của Trung Quốc. Nguồn: Patrick Cronin, “Pushing Back Against China’s Strategy: Ten Steps for the United States”, War on The Rocks, 18/5/2015. Biên dịch: Lê Thanh Danh | Hiệu đính: Nguyễn Thế Phương, trích dẫn bởi nghien cuuquocte.net. Đây là phần thứ tư trong chuỗi bài của Patrick Cronin trên trang War on The Rocks, viết về chiến lược thống trị Châu Á -Thái Bình Dương của Trung Quốc. Xem lại ba phần trước: Bá quyền khu vực của Trung Quốc: một thước phim quay chậm, Chiến lược “đảo hoá” và tham vọng bá quyền khu vực của Trung QuốcCác nước Đông Nam Á trước nỗ lực bá quyền của Trung Quốc

Trung Quốc vừa có chiến lược mới nhằm gia tăng lợi thế quân sự của mình trong khu vực. Mặc dù lớn tiếng về việc cân bằng giữa bảo vệ chủ quyền với ổn định khu vực, đây là một chiến lược khôn khéo của Trung Quốc nhằm từ từ tiến tới bá quyền. Bằng việc nhấn mạnh rằng Trung Quốc không chỉ là cường quốc lục địa mà còn là cường quốc trên biển, chiến lược mới đề cập tới việc dịch chuyển từ phòng thủ gần bờ sang phòng thủ ngoài biển khơi: đặt trọng tâm hướng đến khả năng tác chiến biển xanh, nghĩa là Hải Quân Trung Quốc có khả năng triển khai một cách tương xứng với Hải Quân Hoa Kỳ, ít nhất là trong những vùng biển gần và phần biển phía Tây Thái Bình Dương vốn mang vị trí yếu lược đối với Trung Quốc. Qua đó, Trung Quốc ngầm cảnh báo các nước lân cận rằng đừng tập hợp sức mạnh cũng như đối đầu với một Trung Quốc đang trỗi dậy, sẵn sàng giành lấy sứ mệnh lịch sử của mình. Dù tỏ rõ lập trường cứng rắn và không khoan nhượng, chiến lược thực sự của Trung Quốc không tập trung vào đối đầu trực tiếp hay gây ra xung đột, mà vẫn trong thế tìm kiếm một vị trí thuận lợi hơn cho mình.

Vậy Hoa Kỳ cần hành động ra sao trước chiến lược tiến dần đến bá quyền của Trung Quốc ở Châu Á – Thái Bình Dương? Như đã nêu trong các phần 1, 2 và 3 của chuyên đề, Trung Quốc đang tăng cường nỗ lực loại bỏ ảnh hưởng của Washington trong khu vực bằng cách vô hiệu hóa lực lượng quân sự Hoa Kỳ thông qua chiến lược chống tiếp cận/ chống xâm nhập (A2/AD), đồng thời ngăn chặn nỗ lực hợp nhất các nước Đông Nam Á để chống lại Trung Quốc. Giờ đây nếu Hoa Kỳ tiếp tục án binh bất động thì sẽ dẫn tới nhiều hệ quả tai hại. Việc không thiết lập được các mối quan hệ láng giềng tốt đẹp trong khu vực sẽ dẫn đến nhiều tiền lệ xấu trong nỗ lực chống lại cường quyền trong tương lai.

Chiến lược đối phó của Hoa Kỳ cần đặt các đồng minh và đối tác trong khu vực vào trọng tâm chính sách. Các lợi ích quốc gia trùng lắp với nhau tạo nên một nền tảng vững chắc để chống lại các hành động ép buộc. Khi Trung Quốc phạm sai lầm và vi phạm vào nhiều qui tắc ứng xử, Hoa Kỳ cần có biện pháp khiến Trung Quốc trả giá thích hợp. Trong đó, biện pháp áp đặt chi phí ít gây thương tổn nhất là tiếp cận gián tiếp thông qua các phương diện ngoại giao, luật pháp và truyền thông. Những nỗ lực nhằm định hình tình thế của xung đột thường là các nỗ lực bền bỉ và lâu dài. Do đó, thông thường biện pháp tốt nhất nhằm kìm hãm các hành vi gây hấn là thông qua con đường ít bị cự tuyệt nhất. Câu hỏi là Washington cần phải làm gì?

1. Trang bị cho khu vực nhận thức về thực trạng hiện tại. Bước đầu tiên là tăng cường khả năng thu thập và công bố các thông tin về hoạt động của Trung Quốc trong khu vực. Quốc hội Hoa Kỳ hàng năm luôn yêu cầu báo cáo về quân đội Trung Quốc (PLA). Trong bối cảnh căng thẳng trên biển ở châu Á, Quốc hội cần mở rộng yêu cầu thu thập các thông tin này. Cụ thể, Quốc hội cần yêu cầu bộ phận phụ trách cung cấp thường xuyên, chính xác và công khai các chi tiết về các hoạt động quân sự, ngoại giao, các hoạt động pháp lý, thu thập thông tin cũng như các hoạt động có liên quan khác của Trung Quốc ở Biển Đông. Theo đó công việc của chính phủ là công khai các hoạt động này tại các diễn đàn ngoại giao khu vực như Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN+ (ADMM+). Quốc hội phải chỉ đạo Bộ Quốc phòng, phối hợp cùng Bộ Ngoại giao để xây dựng một trang web chính thức. Đóng vai trò là một nguồn thông tin tổng hợp theo thời gian thực, trang mạng này có thể được bổ sung các phân tích định kỳ, bao gồm các báo cáo hằng năm về các hoạt động trong vùng biển châu Á. Các hoạt động này không đòi hỏi phải xây dựng cơ chế mới hay cần nguồn lực dồi dào, mà có thể được tích hợp vào một cơ quan chuyên môn đã có sẵn như Viện Nghiên cứu Biển đảo Trung Quốc tại Đại học Hải chiến Hoa Kỳ hoặc Trung tâm Phân tích Hải quân. Mục tiêu chính là thu thập mọi nguồn thông tin có được nhằm đảm bảo các phân tích đáng tin cậy và có thẩm quyền cao hơn so với các cơ quan phi chính phủ khác.

2. Thành lập một trung tâm chung chia sẻ thông tin an ninh trên biển trong khu vực. Nhằm thúc đẩy các nỗ lực phòng tránh thiên tai, an toàn hàng hải, cũng như hợp tác rộng rãi trong khu vực, chính phủ Hoa Kỳ cần nhanh chóng thành lập một trung tâm phản ứng tổng hợp trong khu vực. Có nhiều cơ hội để cải thiện các nỗ lực ban đầu hiện có. Ví dụ, 20 quốc gia đã gia nhập vào Hội nghị Hợp tác Khu vực Chống Cướp biển và Cướp có vũ trang trên biển tại Châu Á năm 2004 (ReCAAP). Hội nghị đã thành lập một Trung tâm Chia sẻ Thông tin nhằm trao đổi các thông tin về cướp biển và tội phạm. Không chỉ vậy, năm 2009, Singapore thành lập một Trung tâm Phản ứng tổng hợp Thông tin với vai trò một cơ chế chia sẻ thông tin về an ninh hàng hải trong khu vực. Được đặt tại Căn cứ Hải Quân Changi tại Singapore, trung tâm này giúp mở rộng nhận thức về lĩnh vực hàng hải nhằm đối phó với nạn cướp biển, các vấn đề biên giới, an toàn và giảm nhẹ thiên tai. Cho dù trung tâm nào được ứng dụng làm đầu não chia sẻ thông tin của khu vực, Hoa Kỳ cũng cần tìm ra một biện pháp công khai thông tin mà không gặp phải ngăn cản từ quá trình đồng thuận của ASEAN. Tuy nhiên, bên cạnh việc điều khiển và đưa ra các mệnh lệnh một cách chính xác, trung tâm này cần phổ biến thông tin cho mọi chủ thể quốc tế có liên quan đến vùng biển quốc tế, đặc biệt là 18 nước thành viên của ADMM+ và các tiến trình của Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.

3. Tận dụng hình ảnh. Một bức ảnh đáng giá hơn ngàn lời nói. Những hình ảnh với số lượng và chất lượng chưa từng có như ngày nay, thông qua các phương tiện điện tử, nên được tận dụng như một hình thức hàng hóa công ở khu vực. Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương Hoa Kỳ đã đàm phán với các thành viên ASEAN về việc xây dựng một kênh hình ảnh hoạt động chung để giải quyết các thách thức toàn cầu như hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thiên tai và tìm kiến cứu nạn. Để hỗ trợ việc chia sẻ thông tin, cần phải đẩy mạnh hoạt động mua bán hình ảnh vệ tinh, nhanh chóng cho phép giải mật một cách có chọn lọc các hình ảnh vệ tinh ghi nhận lại các công trình quan trọng và hoạt động quân sự ở Biển Đông. Những hình ảnh này có thể công khai trên trung tâm chia sẻ thông tin an ninh hàng hải ở trên. Nó cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ phân tích, đảm bảo mọi người có nhiều thông tin hơn về tình hình sôi động tại Biển Đông.

4. Xây dựng một liên minh tuân thủ luật pháp. Đây là thời điểm xây dựng một liên minh các quốc gia biển sẵn sàng tình nguyện hỗ trợ thúc đẩy một bộ quy tác ứng xử mà chúng ta mong Trung Quốc một ngày sẽ chấp nhận. Điều này sẽ giúp các nước ASEAN đẩy mạnh Bộ Quy tắc Ứng xử . Thực tế, việc vận động các quốc gia có biển như Úc, Nhật và Hoa Kỳ tham gia là để giúp quốc gia giáp Biển Đông như Philippines và Việt Nam tạo được áp lực lên các thành viên ASEAN khác, buộc họ đồng ý với các điều khoản của bộ quy tắc ứng xử mà không cần chờ đợi Trung Quốc. Như vậy, một liên minh mang tinh tự nguyện có khả năng áp đặt một chi phí nhất định nào đó lên Trung Quốc vốn luôn áp dụng chiến thuật câu giờ, đồng thời khuyến khích Bắc Kinh đổi thái độ và chấp nhận bộ luật chung. Mặc dù không có một cơ quan đảm bảo thực thi, liên minh này vẫn có thể tiến hành các hoạt động như tiến hành tuần tra định kỳ để duy trì tự do trên biển và khu vực “mở” đảm bảo lợi ích chung toàn cầu. Đây không phải là và không nên là một liên minh đúng nghĩa. Điều này có thể tạo ra sự phân cực ở Châu Á mà chúng ta luôn cố tránh. Nếu không có các áp lực từ bên ngoài, Trung Quốc sẽ chẳng có động lực nào để chấp nhận bộ quy tắc ứng xử này. Một số các quy tắc hành xử chung mang tính tự nguyện có thể đóng vai trò thúc đẩy quan trọng trong trường hợp này.

5. Mở rộng chuyên môn về luật quốc tế. Chúng ta cũng phải tăng cường năng lực của Hoa Kỳ để thấu hiểu, phân tích, diễn giải, phổ biến và thảo luận luật pháp và ngoại giao quốc tế liên quan đến an ninh hàng hải, đặc biệt là ở Biển Đông. Tháng 12 năm ngoái, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã ban hành một giải thích pháp lý rất hiếm có nhưng vô cùng hữu ích về các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông. Vì Trung Quốc chỉ muốn nêu ra các sự kiện một cách có chọn lọc, nên việc Hoa Kỳ đưa ra các phối cảnh khách quan dưới góc độ luật pháp quốc tế mang ý nghĩa quan trọng (có lẽ chủ ý đến tính khách quan, trong một động thái ngoại giao khôn khéo Hoa Kỳ chỉ bình luận về các yêu sách của Trung Quốc sau khi công bố các tài liệu tương tự về Philippines). Không chỉ Bộ Ngoại giao nên tiếp tục phát hành các tài liệu chính thức về luật hàng hải quốc tế, mà Quốc hội cũng nên bổ sung thêm các chuyên gia về luật pháp quốc tế tới các phòng ban quan trọng của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương Hoa Kỳ. Điều này sẽ rất quan trọng trong bối cảnh chúng ta đang tìm cách hỗ trợ Philippines giải quyết các tranh chấp dưới góc độ luật pháp chứ không phải sự ép buộc. Sau khi để mất Bãi cạn Scarborough năm 2012, Philippines đã nộp đơn kiện chống lại Trung Quốc tại Tòa án Quốc tế về Luật biển. Tiến trình có phần chậm chạp đó cuối cùng cũng dần đi đến hồi kết, và một phán quyết về vấn đề đường 9 đoạn của Trung Quốc dự kiến được đưa ra vào đầu năm 2016. Tuy nhiên, phán quyết sắp tới của tòa án trọng tài chỉ có ý nghĩa quan trọng một khi chúng ta đưa ra quan điểm rằng luật pháp quốc tế cần được tôn trọng và là cách thức để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông, thay vì hành động quân sự hóa sắp tới của Trung Quốc. Dựa vào mối tương quan này, Hoa Kỳ sẽ có cơ hội hợp tác nhiều hơn với Nhật Bản, đất nước có nhiều kinh nghiệm liên quan tới các vụ kiện dựa trên luật biển quốc tế hơn là các quốc gia khác trong khu vực.

6. Thông qua UNCLOS: Đã đến lúc Hoa Kỳ cần thông qua Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS). Đã có hơn 160 quốc gia tham gia vào Công ước này, tạo nên các luật lệ chung để quản lý các vùng biển trên thế giới. Mặc dù Thượng viện Hoa Kỳ đã không thể thông qua hiệp định, các chính quyền kế nhiệm vẫn tuân thủ UNCLOS một cách không chính thức. Mỉa mai thay, Trung Quốc là một nước đã phê duyệt UNCLOS nhưng lại từ chối tuân thủ công ước. Việc Quốc hội không phê duyệt UNCLOS chỉ làm suy yếu các nỗ lực ngoại giao nhằm huy động hỗ trợ tiếp cận dựa trên nền tảng pháp lý. Đồng thời, nó còn tạo điều kiện cho các chiến dịch truyền thông sai lệch nhằm làm suy yếu uy tín của Hoa Kỳ trong vấn đề Biển Đông. Chúng ta chắc chắn sẽ phải tìm cách thích nghi với các chuyển dịch quyền lực toàn cầu. Chính vì thế, chúng ta càng cần phải cố gắng định hình một bộ các điều luật chung bao trùm lên phạm vi của các biến động đó.

7. Tăng cường tập trận và thể hiện sức mạnh: Các cuộc tập trận đúng lúc và đúng chỗ, không giống như cuộc diễn tập đổ bộ gần đây giữa Hoa Kỳ và Philippines gẫn bãi cạn Scarborough, nên được tổ chức theo chu kỳ nhằm truyền tải đầy đủ cả mối quan ngại lẫn năng lực. Tương tự, Hoa Kỳ cần cân nhắc kỹ lưỡng khi nào là thời điểm thích hợp để thực hiện các hoạt động bảo vệ tự do hàng hải. Chuyến bay trinh sát gần đây của Hoa Kỳ qua vùng trời một số đảo nhân tạo của Trung Quốc trên Biển Đông, dù vấp phải các cảnh cáo liên tiếp từ phía Hải quân Trung Quốc, là minh chứng cho cách thức một hoạt động quân sự mang tính chất hòa bình có thể được sử dụng để nhấn mạnh luật pháp quốc tế. Các hoạt động tương tự với tàu hải quân hoặc cánh sát biển cũng có thể nhấn mạnh thực tế rằng những thực thể chìm, kể cả khi được xây đắp thành đảo nhân tạo, không tạo nên chủ quyền trên cả vùng biển lẫn vùng trời xung quanh và bên trên chúng. Phương thức hoạt động này có tác dụng như một cú đấm thẳng vào thái độ hung hăng xâm lấn. Tuy nhiên, nó phải được đặt trong một khuôn khổ ngoại giao hết sức cẩn trọng, mà trong đó Hoa Kỳ cần nhấn mạnh rõ cả hai phương diện can dự lẫn kiềm chế trong chính sách của mình.

8. Củng cố năng lực đối tác: Hoa Kỳ còn rất nhiều cách thức để ngăn cản chiến thuật “lát cắt salami” và dọa nạt của Trung Quốc phát huy tác dụng. Cách thức chủ đạo và dễ dàng nhất là củng cố năng lực, liên quan tới cả lực lượng chấp pháp biển lẫn quốc phòng, giữa các quốc gia có biển trong khu vực. Ủy ban Quân vụ Thượng viện đã khôn ngoan khi bổ sung nguồn lực cho chiến lược tái cân bằng tới châu Á của Nhà Trắng bằng cách tăng mức ngân sách cho việc củng cố năng lực cho các đối tác. Quốc hội Hoa Kỳ cũng cần phải yêu cầu Lầu Năm Góc xây dựng một kế hoạch dài hạn nhằm củng cố năng lực cho các quốc gia ven biển tại Đông Nam Á. Bước đi này cần bao gồm cả các kế hoạch song phương lẫn đa phương, và các cách thức nhằm tận dụng cho được mạng lưới quan hệ xuyên Á đang phát triển ngày càng mạnh mẽ. Nổi bật trong các kế hoạch quan hệ song phương, Hoa Kỳ cần phải hoạch định rõ ràng cách thức triển khai Hiệp định Hợp tác Quốc phòng Mở rộng (Enhanced Cooperation Defense Agreement) với Philippines. Chúng ta cần cân nhắc không những tới việc luân chuyển quân đội, mà còn phải hỗ trợ Philippines củng cố năng lực về mặt con người, đặc biệt khi quốc gia này đang tìm cách phát triển các khái niệm mang tính chiến lược trong tương lai. Hoa Kỳ từng thực hiện một chương trình tương tự với Nhật Bản vào đầu những năm 1990, và ngày nay Bộ Quốc phòng Nhật Bản đã sở hữu một chiều sâu chiến lược rất lớn. Chúng ta cũng cần phải giải thích chi tiết các kế hoạch tương tự đối với Việt Nam, cụ thể như việc xây dựng một nền tảng đối thoại chiến lược vững chắc giữa hai nước. Indonesia là một cơ hội đang nổi lên khác. Nhận thức đang ngày càng gia tăng về đại dương của tân Tổng thống Joko “Jokowi” Widodo phải được nhanh chóng nắm bắt như một cơ hội để mở rộng hợp tác trên biển. Các nỗ lực hợp tác cần phải nhắm vào những vấn đề rất thiết yếu đối với Indonesia như kết nối các đảo, xây dựng cơ sở hạ tầng biển, và bảo vệ các tuyến đường thông tin liên lạc trên biển. Trong tất cả các trường hợp này, tương tự như các mối quan hệ với Malaysia, Myanamar, Brunei và Thái Lan, chúng ta cần hợp tác theo các cách tiếp cận mang tính bền vững.

9. Đào sâu tiếp cận trên mọi mặt: Trụ cột cuối cùng trong chính sách phản ứng cần tập trung vào cách thức tiếp cận, và rộng hơn là đẩy mạnh thực hiện chính sách tái cân bằng toàn diện sang châu Á. Bước đi này cần bắt đầu với các tiếp cận về kinh tế và ngoại giao, được bảo vệ một cách lặng lẽ nhưng bền vững. Về mặt kinh tế, Hoa Kỳ cần hoàn thành Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Quyền Xúc tiến Thương mại (Trade Promotion Authority – TPA) hay còn gọi là Quyền đàm phán nhanh. Hai hiệp định này rất cần thiết đối với an ninh và thịnh vượng trong tương lai của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, phát triển cách tiếp cận theo chiều sâu về kinh tế cũng đồng nghĩa rằng chính phủ phải tìm kiếm một sáng kiến phát triển dài hạn, cho phép Hoa Kỳ tiếp cận với phát triển một cách hiệu quả và tích cực hơn, thay vì bị xem như một vật cản trong quá trình phát triển kinh tế của các nước trong khu vực. Bất kỳ một nhà phân tích khách quan nào, khi so sánh giữa các sáng kiến phát triển của Hoa Kỳ (như Sáng kiến Hạ lưu sông Mekong, xây dựng các nhà máy năng lượng ở Pakistan) với những hứa hẹn khổng lồ từ Trung Quốc và Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Châu Á (AIIB), dẫn đến kết luận rằng Trung Quốc là cường quốc đang trỗi dậy, còn Hoa Kỳ là cường quốc đang suy yếu. Sự hạn hẹp về trí tưởng tượng, sự chia rẽ chính trị lưỡng đảng, và sự thiếu quyết đoán cần phải nhường bước cho một phương pháp thực thi chính sách sáng tạo, nghiêm túc và dài hạn để chứng minh lý do vì sao Hoa Kỳ, các đồng minh lẫn đối tác có thể đóng góp nhiều hơn vào việc giải quyết các khó khăn, phát triển con người, và hội nhập khu vực. Thay vì tập trung chống lại Trung Quốc, phương pháp này cần nhấn mạnh tới những gì Hoa Kỳ sẽ mang đến cho khu vực. Ngay cả những công cụ quyền mực mềm cũng đòi hỏi phải có cách “tấn công” hiệu quả.

Trong khi đó, cách thức tương tác của chúng ta đối với Trung Quốc, bao gồm cả các cách tiếp cận quân sự song phương, cần được thể chế hóa và tiếp tục duy trì, dù vẫn phải đối mặt với những va chạm và chia rẽ trong những năm sắp tới. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa rằng chúng ta tương tác với họ trên tất cả các lĩnh vực. Quốc hội đã đúng khi mong muốn kiểm soát mối quan hệ quốc phòng song phương để đảm bảo sự cân bằng. Tiếp cận với Trung Quốc, bao gồm cả việc thúc đẩy các biện pháp xây dựng niềm tin hiệu quả, nên là một phần thiết yếu trong chiến lược toàn diện này. Trong khi một số người mong muốn nhanh chóng loại bỏ Trung Quốc khỏi các hoạt động giao lưu quân sự giữa hai bên, tôi lại ủng hộ việc tập trung vào chất lượng của các cách tiếp cận quân sự song phương mà chúng ta đang thực hiện. Chẳng hạn, cuộc tập trận Vành đai Thái Bình Dương hai năm một lần (RIMPAC) là một cách thức phù hợp để Hoa Kỳ khẳng định sự hiện diện và sức mạnh quân sự của mình giúp mang đến sự ổn định cho toàn khu vực và tạo ra khả năng đối phó hiệu quả với những thách thức chung, từ viện trợ nhân đạo đến hỗ trợ thiên tai, tìm kiếm cứu hộ và chống lại nạn buôn người. Các cách thức xây dựng lòng tin cần phải thiết thực và có ý nghĩa, nhưng cũng đồng thời không tạo ra một cái cớ giúp Trung Quốc tiến hành các hành động hung hăng hơn trong con mắt của Washington và khu vực. Không những thế, các bước tiến trong quan hệ quốc phòng giữa hai nước cần dựa trên nền tảng là cam kết tuân thủ các biện pháp an toàn và giảm thiểu rủi ro của quân đội Trung Quốc được tuyên bố trong chuyến thăm tháng 11 vừa qua của Tổng thống Obama.

10. Duy trì sự hiện diện mạnh mẽ: Có một câu nói mà bố vợ của tôi, cựu Phó Đô đốc Ronald J.Kurth từng thuộc nằm lòng khi ông còn giữ chức Giám đốc Học viện Hải chiến, đó là: “Chùa thì cứ cầu, nhưng thuyền thì cứ chèo” (Pray to God, But Row to Shore). Tương tự như thế, Hoa Kỳ nên tìm kiếm khả năng tiếp cận và xây dựng dựng năng lực, nhưng cũng đồng thời phải duy trì một sự hiện diện hàng hải đáng kể. Lãnh đạo mới của Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương (PACCOM), Đô đốc Harry Harris, đã đề cập tới tính chất chuyên nghiệp này của lực lượng quân đội quốc gia. Ông đã trình bày hết sức cô đọng khái niệm sức mạnh thông minh. Tuy nhiên, ông vẫn cần có các nguồn lực hỗ trợ và một số lượng hệ thống khí tài nhất định để đảm bảo Hoa Kỳ có thể hợp tác dựa trên thế mạnh. Chiến lược tái cân bằng quân sự và an ninh đòi hỏi phải duy trì sức mạnh của quân đội Hoa Kỳ, qua đó đảm bảo đủ số lượng và chất lượng quân đội để triển khai, sẵn sàng đảm nhiệm các nhiệm vụ ở một phạm vi rộng chứ không chỉ bó hẹp trong trường hợp chiến tranh. Sự hiện diện tại Singapore hiện nay là cực kỳ hữu ích và cần được duy trì. Sự hiện diện tại Australia mang ý nghĩa sống còn và cần được mở rộng trong tương lai. Sự hiện diện tại Philippines cũng cần được tăng cường, một khi Tòa án Tối cao Philippines đã phê duyệt về mặt luật pháp cho việc luân chuyển quân đội Hoa Kỳ tại đây. Tuy nhiên, Hoa Kỳ còn có thể khẳng định vị thế cường quốc truyền thống của mình trên Thái Bình Dương thông qua một khía cạnh đáng kể khác. Chúng ta có thể củng cố sự hiện diện và phạm vi tập trận của Thuỷ quân Lục chiến đóng quân tại các vùng lãnh thổ của Hoa Kỳ là đảo Guam và quần đảo Mariana. Về lâu dài, chúng ta cần phát huy lối suy nghĩ được khởi xướng bởi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ Robert Work, ủng hộ đầu tư vào một chiến lược “bù đắp” lần thứ ba (công nghệ rô-bốt và tự hành – ND) để đối phó với năng lực “chống tiếp cận/chống xâm nhập” (A2/AD) ở trong khu vực.

Mười bước này đều được chia thành các cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, Hoa Kỳ sẽ cần đến nhiều nguồn lực và các bước đi cụ thể hóa hơn nữa. Các tuyên bố vô nghĩa, thiếu tính thiết thực sẽ nhanh chóng bị lật tẩy. Hoa Kỳ phải can dự nhiều hơn và được chuẩn bị tốt hơn để xây dựng sự hợp tác xuyên suốt trên toàn bộ khu vực Ấn Độ – châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc có tham vọng rõ rệt là xác lập các luật lệ riêng của mình trên những vùng mà họ tự tuyên bố chủ quyền. Chúng ta cần phải tự đặt mình vào vị trí người thách thức những thứ luật lệ đó, nhằm duy trì một trật tự ổn định trên đại dương.

Patrick M. Cronin là Giám đốc cấp cao tại Chương trình An ninh Châu Á – Thái Bình Dương thuộc Trung tâm An ninh Hoa Kỳ mới và là cựu Giám đốc Viện Nghiên cứu chiến lược Quốc gia trực thuộc Đại học Quốc phòng Quốc gia Hoa Kỳ.

Những bài viết liên quan


Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Biển Đông vạn dặm

VietMy
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter duyệt hàng quân danh dự tại Hà Nội, ngày 1/6/2015. Biển Đông vạn dặm. Bài viết ” Đi với Mỹ có mất Đảng? ” và bức tranh “Các thiếu nữ chơi mạt chước” được chép lại để suy ngẫm bàn cờ thế sự.

Đi với Mỹ có mất Đảng? là bài viết của TS Lê Hưng Quốc trên Blog VOA ngày 30 tháng 6 năm 2015 (lưu ở mục comment của Tình hình Biển Đông có gì mới). TS Lê Hưng Quốc bình luận về sự thật hai khả năng mà theo ông cho là “sự chọn lựa trái ngang của đảng cầm quyền ở Việt Nam. Đi với Trung Quốc thì mất nước; đi với Mỹ thì mất Đảng”. Ông lập luận là “Đi với Trung Quốc thì Việt Nam bị biến thành nước chư hầu tuy không đến nỗi mất nước nhưng mất biển đảo và bị lệ thuộc kinh tế xã hội chằng chịt vào Trung Quốc. Đi với Mỹ thì không đến nổi mất Đảng và Mỹ cũng sẽ không mưu tính thay đổi chế độ tại Việt Nam nhưng Mỹ sẽ bảo vệ Biển Đông với điều kiện là Việt Nam phải cương quyết chống lại âm mưu bành trướng của Trung Quốc và chính quyền Việt Nam phải đủ mạnh mẽ, sinh hoạt chính trị tại Việt Nam phải ổn định.

Bài viết chưa thấy bình luận về lập trường của Chính phủ Việt Nam “càng căng thì càng phải độc lập tự chủ”.

Bài viết khác “Phỏng vấn Nye: Tái cân bằng Trung Mỹ ở châu Á” (Interview: Joseph Nye)  Giáo sư nổi tiếng Đại học Harvard Joseph S. Nye, chuyên gia kỳ cựu về chiến lược đối ngoại Mỹ trả lời phỏng vấn của Samuel Ramani báo The Diplomat, người dịch Đổ Kim Thêm, cho thấy: “Chính quyền Obama đã thực hiện việc chuyển trục chiến lược về châu Á là một yếu tố chính trong chính sách đối ngoại. Cam kết của Hoa Kỳ là có 60 phần trăm của lực lượng hải quân ở Thái Bình Dương vào năm 2020. Hoa Kỳ có khả năng với 10 hàng không mẫu hạm đặc nhiệm để gia tăng lực lượng trong khu vực Thái Bình Dương, nếu cần thiết; khả năng huy động các lực lượng bổ sung một cách nhanh chóng là một lợi điểm quan trọng; Ngoài ra, Hoa Kỳ vẫn giữ 50.000 quân tại Nhật Bản và 20.000 quân khác tại Hàn Quốc; mà một phần được hỗ trợ bởi các điều kiện ngân sách của Nhật Bản và Hàn Quốc.”

Bài viết “Ai làm dậy sóng Biển Đông” của Mong Ha trên FB và bài viết  tiếng Anh trên trang ESWN Culture’s Blog đã bình luận thú vị bức tranh lạ “Những thiếu nữ chơi mạt chược” Beijing 2008 của một họa sĩ Trung Quốc ở Canada gửi tặng Chính phủ Trung Quốc nhân sự kiện Trung Quốc khai mạc Thế vận hội Bắc Kinh 2008 lúc 8 giờ, 8 phút, 8 giây ngày 8 tháng 8 năm 2008. Hôm đó, Trung Quốc đã “đốt” 2 tỷ USD trong vòng 45 phút để tạo ra những màn trình diễn chứng tỏ cho thế giới biết Trung Quốc đang trỗi dậy và những gì người Trung Quốc muốn thì người Trung Quốc sẽ quyết đạt được bằng mọi giá!  Bức tranh gây nhiều tranh cãi và phân tích khác nhau.
Thieunuchoimatchuoc

Bức tranh vẽ cảnh 5 cô gái, trong đó có 4 cô đang ngồi chơi mạt chược – trò chơi mà người TQ rất thích chơi và chơi rất giỏi. Luật chơi là người nào thua phải lần lượt lột đồ. Canh bạc diễn ra trong một căn phòng có cửa sổ nhìn ra bên ngoài là bầu trời biển Đông [một số báo cũ nói đó là vùng biển Đài Loan + Trung Quốc] mây đen vần vũ, báo hiệu một cơn bão đang kéo đến.

Trên tường treo ảnh một người đàn ông vừa lạ lại vừa quen, ([“Phóng to bức tranh lên sẽ thấy là hàm râu Tôn Trung Sơn, đầu trọc của Tưởng Giới Thạch, nét mặt tiêu biểu của Mao Trạch Đông” – cái này còn một số nguồn báo phân tích là của các tướng TQ nữa])

Bây giờ hãy xem 4 cô gái chơi chính. Người đối diện với tất cả, cao ráo, trắng trẻo, chính là Mỹ. Mỹ luôn trực diện, luôn rõ ràng và minh bạch đường lối đối ngoại của mình. Mỹ còn áo đầy đủ (phía trên) nhưng phía dưới chẳng còn gì, có thể thể hiểu bên ngoài Mỹ luôn tỏ ra giàu có, hùng mạnh nhưng thực ra đằng sau đã trống rỗng, đặc biệt hiện nay nước Mỹ lại đang gánh chịu sự suy kiệt của Đại khủng hoảng. Mỹ ngồi chơi bài trong tư thế mệt mỏi, tay xoa cổ, người ưỡn ra phía trước, rất oải! Nếu càng chơi ván bài này thì Mỹ càng bất lợi. Vấn đề của Mỹ là có nên chơi tiếp hay không chứ không phải là chơi để thắng. Và một điều lạ là, Mỹ đánh bài nhưng không tập trung nhìn bài mà lại nhìn vào “con bé” Đài Loan, lát nữa quay lại chuyện này sau.

Bây giờ đến tay chơi đang đối đầu trực diện với Mỹ, chính là TQ nhưng TQ quay lựng và không lộ mặt. Trong tất cả 4 người chơi chỉ có một mình TQ là thực sự đang nhìn vào ván bài, chứng tỏ TQ rất quan tâm đến cục diện và kết quả của cuộc kỳ này. TQ vóc dáng trẻ trung, tóc cột cao gọn gàng, ngồi đánh bài trong tư thế chồm tới trước chứng tỏ TQ đang muốn thắng và thắng nhanh. TQ trên không còn áo nhưng bên dưới vẫn còn quần, cho thấy TQ luôn tỏ ra mình là một quốc gia đang phát triển nhưng thực sự tiềm lực kinh tế – quân sự là vô cùng to lớn, mặt bàn cao ngang bụng nên chẳng ai biết TQ đang có những gì ở đằng sau. Để ý sẽ thấy TQ xăm rồng xăm phượng trên lưng để cố chứng tỏ mình là một quốc gia Châu Á nhưng sự thực là TQ đang mặc váy ren của phương Tây.

Cô gái tóc vàng, da trắng nằm bên tay phải TQ chính là Nga. Nga vừa nằm vừa chơi trong tư thế rất là thoải mái, ý rằng “chúng mày cứ sát phạt nhau đến sáng cũng được, bố không gấp!”. Một chân Nga gác lên đùi Mỹ nhưng một tay Nga đang lén trao cho TQ những quân cờ. Thật khâm phục tác giả bức tranh khi cách đây 7 năm ông đã lột tả được điều này. Rõ ràng trước đây Nga tỏ ra thân thiết với Mỹ qua những cuộc điện đàm song phương giữa hai tổng thống nhưng đằng sau Nga âm thầm đi đêm với TQ. Nga biết người TQ cần gì và đang trao cái đó cho họ. “Cái đó” là cái gì thì chẳng ai biết cả nhưng xin đừng suy diễn trong bối cảnh này dễ lên huyết áp lắm! Người TQ có một câu nói rất hay để chỉ ý đồ của Nga lúc này, đó là “tọa sơn quan hổ đấu”, ngồi trên núi xem hai con cọp cắn nhau, con nào thắng thì Nga cũng có lợi cả. Vì vậy mà đối với Nga, ván bài này đánh kiểu gì Nga cũng thắng.

Tay chơi còn lại đương nhiên là Nhật Bản. Nhật Bản là tay chơi ngốc nhất và đang cháy túi, mình trần như nhộng, nude 100% nên chẳng còn gì để chơi cả. Tuy vậy miệng vẫn cười tươi cho thấy người Nhật quá tự mãn với những hào quang trong quá khứ. Họ được đặt vào canh bạc này đơn giản vì nói tới Châu Á thì phải có Nhật Bản. Sự thật là những gì người Nhật đang rất tự hào có nguy cơ bị Hàn Quốc vượt mặt. Một tay Nhật Bản bắt ấn tam muội, một tay bắt ấn (Tý) thì phải, không rõ là có ý gì bởi vì bức tranh này cho đến giờ vẫn còn nhiều ẩn ý. [???]

Đài Loan được xem là bé nhỏ để có thể tham gia vào canh bạc này. Đài Loan mặc một cái áo yếm thêu truyền thống của Trung Hoa cho thấy mình vẫn còn giữ gìn được bản sắc Á Đông. Một tay cầm giỏ trái cây, một tay cầm con dao nhỏ. Đài Loan muốn nói rằng họ không muốn can dự vào vấn đề biển Đông, họ chỉ quan tâm đến lợi ích đặc quyền và con dao này là tiềm lực quân sự để bảo vệ cho quyền lợi ấy. Nhưng có vẻ như Đài Loan đang nhìn thấu được cục diện ván cờ và Mỹ buộc phải nhìn Đài Loan để quyết định có nên chơi tiếp? Rồi ai sẽ thắng, sẽ thua? Ván bài này là ván cuối hay chỉ mới bắt đầu?”

Vị trí của Việt Nam trong bàn cờ thế sự?

Việt Nam làm gì trong thế giới biến chuyển?

Bài học lịch sử dân tộc và nhân loại luôn nhắc nhở  chúng ta : “Biển Đông vạn dặm giang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình”. “Ta lớn mau mau. Vượt qua biển lớn”. “Tự cũng cố và trầm tĩnh theo dõi, có lý, có lợi, đúng lúc “.

Hoàng Kim

Bài viết mới

Video yêu thích

ThuyenvaBien
Thuyền và biển
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

 

 

Biển Đông vạn dặm

ObamTap
Tình hình biển Đông có gì mới?
Tái cân bằng Trung Mỹ ở châu Á? Báo Mỹ, tờ The New York Rewiew of Books  có bài bình luận mới, rất đáng chú ý ngày 19. 6. 2015 của tác giả George Soros:  A Partnership with China to Avoid World War (Xây dựng mối quan hệ đối tác với Trung Quốc nhằm tránh cuộc chiến tranh thế giới, người dịch Nguyễn Hoàng Mỹ Phương, trích dẫn trên trang Viet-Studies). Tổng thống Mỹ Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Bắc Kinh, tháng 11 năm 2014, ảnh Pete Souza/ Nhà Trắng trên trang The New York Rewiew of Books.

Bài báo kết luận : “Các cuộc đàm phán (hợp tác kinh tế- HK) giữa Mỹ và Trung Quốc có thể không được hoàn thành vào tháng 10/2015, khi ban lãnh đạo của IMF dự kiến sẽ xem xét thành phần trong rổ SDR. Thực tế là phải đến chuyến thăm cấp nhà nước của Chủ tịch Tập Cận Bình tới Washington vào tháng 9 mới hoàn thành việc chuẩn bị. Nhưng có nhiều điều cần đạt được bằng cách kéo dài thời hạn SDR đến năm 2016. Sau đó Trung Quốc sẽ tổ chức cuộc họp của Nhóm G20, và năm 2016 cũng là năm cuối cùng của chính quyền Obama. Triển vọng của quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ huy động tất cả các lực lượng chính trị có lợi cho hợp tác quốc tế cả hai bên.

Nếu nỗ lực thiện chí thất bại, Mỹ sau đó sẽ hoàn toàn hợp lý trong việc phát triển quan hệ đối tác đủ mạnh với các nước láng giềng của Trung Quốc mà liên minh Trung Quốc – Nga sẽ không dám thách thức bằng vũ lực quân sự. Điều đó rõ ràng là kém hơn so với quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Quan hệ đối tác với các nước láng giềng của Trung Quốc sẽ đưa chúng ta trở lại chiến tranh lạnh, nhưng vẫn là thích hợp hơn so với một cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba.

Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương và xuyên Đại Tây Dương, hiện đang được đàm phán, có thể mang đến cơ hội tuyệt vời cho chiến lược hai hướng nhưng cách tiếp cận hiện nay là hoàn toàn sai. Hiện tại, Trung Quốc bị loại trừ; thực sự là quan hệ đối tác được hình thành như là một liên minh chống Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Mỹ. Tổng thống đã yêu cầu Quốc hội cho ông và chính quyền kế nhiệm đến sáu năm để đàm phán hiệp định thương mại theo quy định đàm phán nhanh (fast-track rules) mà có thể tước đi quyền đưa ra các sửa đổi của Quốc hội. Dự luật đã được chuyển sang Thượng viện và bài báo này được viết trước khi chuyển sang Hạ viện. Nếu Hạ viện phê duyệt, Chủ tịch Tập Cận Bình có thể đối mặt với mối đe dọa rõ ràng cho chuyến thăm vào tháng 9. Đây là phản ứng thích đáng đối với hành vi hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông và các nơi khác, nhưng còn rất ít chỗ trống cho cách tiếp cận thay thế. Kết quả là, rất khó cho Tổng thống Obama đưa ra đề nghị thiện chí của quan hệ đối tác chiến lược.

Hy vọng rằng Hạ viện sẽ không cho phép dự luật có quyền đàm phán nhanh. Thay vì buộc dự luật thông qua Quốc hội nhanh chóng, nó nên được đưa khỏi quyền đàm phán nhanh. Trong trường hợp đó, Quốc hội sẽ có nhiều thời gian để điều chỉnh những sai sót cơ bản trong các hiệp ước dự kiến khiến chúng không được chấp nhận khi chúng hiện đang được soạn thảo. Và điều đó cũng sẽ cho phép Tổng thống Obama đưa cho Chủ tịch Tập lời đề nghị chân thành của quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc khi ông đến thăm Washington vào tháng 9.”

Tái cân bằng Trung Mỹ ở châu Á: đọc và suy ngẫm. Bài viết này của tác giả George Soros đang chỉ ra những thách thức và trở ngại khó vượt qua trong đàm phán hợp tác kinh tế thương mại Trung Mỹ sắp tới. Bài báo khuyến cáo chính phủ Mỹ vẫn nên thực hiện nỗ lực có thiện chí trong việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc với chiến lược hai hướng vừa hợp tác vừa răn đe. Những lý lẽ hợp tác được mời gọi trong bài viết này chỉ ra sự giới hạn khi xu thế nghi ngại và kế hoạch ngăn chặn đang hình thành và tăng thêm ngay trong lòng nước Mỹ lúc chính quyền Obama chì còn một năm cho nổ lực thiện chí này.

Những góc nhìn khác, đó là:   Phỏng vấn Nye: Tái cân bằng Trung Mỹ ở châu Á (Interview Joseph Nye on China and the U.S. rebalance to Asia tác giả  Samuel Ramani người dịch Đỗ Kim Thêm ) Có thể ngăn chặn Trung Quốc được không? (Can China Be Contained? tác giả Andrew Browne , người dịch Huỳnh Phan).

Sự thay đổi tâm trạng ở Washington hiện nay liệu có thể kết thúc bằng chiến lược ngăn chặn của Chiến tranh Lạnh cơ bản giống y như sự thay đổi đến trên toàn nước Mỹ ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, khi Mỹ chợt nhận ra rằng Liên Xô sẽ không thể tiếp tục là một đồng minh; Và, bây giờ một nước Trung Quốc mới đang trỗi dậy thì liệu sự hợp tác kinh tế thương mại khoa học công nghệ với Mỹ có còn đáng tin cậy không và liệu có nên tiếp tục? Mặc dù Chủ tịch Tập Cận Bình đang thể hiện sự cần thiết, chào đón và hoan nghênh hợp tác khoa học công nghệ, giáo dục, đối tác chiến lược với Mỹ.

Việt Nam làm gì trong thế giới biến chuyển? Bài học lịch sử dân tộc và nhân loại luôn nhắc nhở  chúng ta : “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình”. “Ta lớn mau mau. Vượt qua biển lớn”. “Tự cũng cố và trầm tĩnh theo dõi, có lý, có lợi, đúng lúc “.

Hoàng Kim

*Xem Edward Wong, “Chinese Security Laws Elevate the Party and Stifle Dissent. Mao Would Approve,” The New York Times, May 30, 2015.

http://www.nybooks.com/articles/archives/2015/jul/09/partnership-china-avoid-world-war  truy cập 16/6/2015

Tiếng Anh cho em

Học song ngữ Anh Việt đối chiếu qua các trích đoạn “Tôi có một giấc mơ”

“So sánh “giấc mơ Trung Quốc” của Chủ tịch Tập với giấc mơ Mỹ nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai hệ thống chính trị và xã hội. Tập tán dương thành công của Trung Quốc trong “trẻ hóa dân tộc” bằng cách khai thác những tài năng và năng lực của người dân trong việc phục vụ nhà nước. Ngược lại, giấc mơ Mỹ ca ngợi sự thành công của cá nhân mạnh mẽ – những người đạt được vị trí xã hội cao hơn và giàu có hơn bằng cách vượt qua những trở ngại gây ra bởi các quy ước hoặc thành kiến xã hội hoặc chính quyền lạm dụng quyền lực của mình, hoặc do may mắn. Mỹ muốn Trung Quốc thực hiện theo các giá trị của mình, nhưng các lãnh đạo Trung Quốc cho rằng họ đang bị lật đổ.”

“Comparing President Xi’s “Chinese dream” with the American dream highlights the difference between the two political and social systems. Xi extols China’s success in “rejuvenating the nation” by harnessing the talents and energies of its people in service of the state. By contrast, the American dream extols the success of the rugged individual who achieves upward social mobility and material prosperity by overcoming obstacles posed by social conventions or prejudices or authorities abusing their power, or sheer bad luck. The US would like China to adopt its values but the Chinese leadership considers them subversive.”

Xem thêm:
Ông Putin nói Nga không tham vọng siêu cường, chỉ cần sự tôn trọng
Tôi có một giấc mơ, Martin Luther King
Tôi có một giấc mơ, Wikipedia tiếng Việt
Tôi có một giấc mơ, Hoàng Kim

Đọc toàn văn song ngữ Anh Việt đối chiếu bài báo nổi bật trong tuần:

 

A Partnership with China to Avoid World War

This article will appear in the July 9 issue of The New York Review.International cooperation is in decline both in the political and financial spheres. The UN has failed to address any of the major conflicts since the end of the cold war; the 2009 Copenhagen Climate Change Conference left a sour aftertaste; the World Trade Organization hasn’t concluded a major trade round since 1994. The International Monetary Fund’s legitimacy is increasingly questioned because of its outdated governance, and the G20, which emerged during the financial crisis of 2008 as a potentially powerful instrument of international cooperation, seems to have lost its way. In all areas, national, sectarian, business, and other special interests take precedence over the common interest. This trend has now reached a point where instead of a global order we have to speak of global disorder.In the political sphere local conflicts fester and multiply. Taken individually these conflicts could possibly be solved but they tend to be interconnected and the losers in one conflict tend to become the spoilers in others. For instance, the Syrian crisis deteriorated when Putin’s Russia and the Iranian government came to Bashar al-Assad’s rescue, each for its own reasons. Saudi Arabia provided the seed money for ISIS and Iran instigated the Houthi rebellion in Yemen to retaliate against Saudi Arabia. Bibi Netanyahu tried to turn the US Congress against the nuclear treaty the US was negotiating with Iran. There are just too many conflicts for international public opinion to exert a positive influence.

In the financial sphere the Bretton Woods institutions—the IMF and the World Bank—have lost their monopoly position. Under Chinese leadership, a parallel set of institutions is emerging. Will they be in conflict or will they find a way to cooperate? Since the financial and the political spheres are also interconnected, the future course of history will greatly depend on how China tackles its economic transition from investment and export-led growth to greater dependence on domestic demand, and how the US reacts to it. A strategic partnership between the US and China could prevent the evolution of two power blocks that may be drawn into military conflict.

How did we reach this point of global disorder? During the cold war the world was dominated by two superpowers. Each maintained some degree of control over its allies and satellites, and avoided direct military confrontation with the other because of the danger of Mutually Assured Destruction. It was a MAD system but it worked: it produced a number of local military conflicts but it avoided a world war.

When the Soviet empire fell apart the United States had an opportunity to become the sole superpower and the guarantor of peace in the world, but it did not rise to the occasion. The US was founded on the principle of individual freedom and it was not predisposed to become the policeman of the world. Indeed, it did not have a coherent view of the meaning of leadership in international affairs. During the cold war it had a bipartisan foreign policy, on which Democrats and Republicans largely agreed; but after the cold war ended the partnership broke up. Both parties continued to emphasize American sovereignty but they rarely agreed on subordinating it to international obligations.

Then in 1997, a group of neoconservatives argued that the US should use its military supremacy to impose its national interests, and established a think tank called the Project for the New American Century, “to promote American global leadership.” But that was a false approach: military force cannot be used to rule the world. After the terrorist attack of September 11, the neocons persuaded President George W. Bush to attack Iraq on dubious grounds that turned out to be false, and the US lost its supremacy. The Project for the New American Century had approximately the same lifespan as Hitler’s Thousand-Year Reich: around ten years.

On the financial side, by contrast, there was a clear consensus—the so-called Washington Consensus—on America’s role in the world. It became dominant in the 1980s under the leadership of Ronald Reagan and Margaret Thatcher. It had strong ideological support from market fundamentalists; it had a supposedly scientific foundation in the Efficient Market Hypothesis and Rational Choice Theory; and it was efficiently administered by the International Monetary Fund (IMF). The consensus was a much more subtle compromise between international governance and national self-interest than the neocons’ view that military power is supreme.

Indeed, the Washington Consensus had its roots in the original compromise on which the Bretton Woods institutions were founded. John Maynard Keynes proposed a truly international currency, the bancor, but the US insisted on the dollar as the world’s reserve currency and it prevailed. In the memorable words of George Orwell’s Animal Farm, “all animals are equal, but some animals are more equal than others.” The Washington Consensus promoted free trade and the globalization of financial markets. In the late 1990s, market fundamentalists even tried to modify the articles of agreement of the IMF so as to impose capital account convertibility, the free exchange of currencies. That attempt failed, but by allowing financial capital to move around freely the Washington Consensus also allowed capital to escape taxation and regulation. That was a triumph for market fundamentalism.

Unfortunately, the scientific foundations of this approach proved to be ill conceived. Unregulated financial markets are inherently unstable: instead of a general equilibrium that assures the optimum allocation of resources, they produce financial crises. This was dramatically demonstrated by the crash of 2008. By coincidence, 2008 marked both the end of America’s political supremacy and the demise of the Washington Consensus. It was also the beginning of a process of financial and political disintegration that first manifested itself in the microcosm of the European Union, but then spread to the world at large.

The crash of 2008 had a lasting negative effect on all the economies of the world, with the notable exception of China’s. The Chinese banking system was relatively isolated from the rest of the world and largely government-owned. As a consequence, the Chinese banks could, at the government’s behest, offset the collapse of external demand by flooding the economy with credit. The Chinese economy replaced the American consumer as the motor of the global economy, largely by selling to the American consumer on credit. It has been a rather weak motor, reflecting the relative size of the Chinese and American economies, so that the global economy has grown rather slowly since the emergence of China’s international economic power.

The main reason why the world avoided a global depression is that economists have learned some lessons from the experience of the 1930s. The heavy load of debt and lingering political prejudices limited the scale of fiscal stimulus globally (again with the exception of China); but the Federal Reserve under the leadership of its chairman, Ben Bernanke, embarked on unorthodox monetary policies including quantitative easing—large-scale injection of money into the economy through the purchase of bonds by the Federal Reserve. This prevented the reduction in effective demand from deteriorating into a global depression.

The crash of 2008 was also indirectly responsible for the euro crisis. The euro was an incomplete currency: it had a common central bank but it did not have a common treasury. The architects of the euro were aware of this defect but believed that when the deficiency became apparent the political will could be summoned to correct it. After all, that is how the European Union was brought into existence—taking one step at a time, knowing full well that it was insufficient but that when the need arose it would lead to further steps.

Unfortunately, political conditions changed between 1999, when the euro was adopted, and 2008, when the need arose. Germany under the leadership of Helmut Kohl led the process of European integration in order to facilitate the reunification of Germany. But reunification proved expensive and the German public became unwilling to take on any additional expenses. When, after the bankruptcy of Lehman Brothers in 2008, the European finance ministers declared that no systemically important financial institution would be allowed to fail, Chancellor Angela Merkel, as a politician in touch with the prevailing public opinion, insisted that the responsibility should fall on each country separately, not on the European Union collectively. That ruled out the possibility of a common treasury just when it was needed. That was the beginning of the euro crisis. Crises in individual countries like Greece, Italy, or Ireland are essentially variants of the euro crisis.

Subsequently, the financial crisis has morphed into a series of political crises. The differences between creditor countries and debtor countries have transformed the European Union from a voluntary association of equals into a relationship between creditors, such as Germany, and debtors, such as Greece, that is neither voluntary nor equal and arouses increasing political tensions.

The European Union started out as a valiant attempt at international governance on a regional scale. In the aftermath of 2008, the EU became preoccupied with its internal problems and failed to pull its weight in the international economy. The United States also became inward-looking but by a somewhat different route. The inward turn of the EU and US led to a decline in international cooperation on a global scale.

Since the Western powers are the mainstay of the prevailing world order, their declining influence has created a power vacuum in international governance. Aspiring regional powers and nonstate actors, which are willing to use military force, have rushed to fill the vacuum. Armed conflicts have proliferated and spread from the Middle East to other parts of Asia, Africa, and even Europe.

By annexing Crimea and establishing separatist enclaves in Ukraine, Putin’s Russia has challenged both the prevailing world order, which depends on the Western powers for support, and the values and principles on which the EU was founded. Neither the European nor the American public is fully aware of the severity of the challenge. President Vladimir Putin wants to destabilize all of Ukraine by precipitating a financial and political collapse for which he can disclaim responsibility, while avoiding occupation of a part of eastern Ukraine, which would then depend on Russia for economic support. He has demonstrated his preference by twice converting an assured military victory into a cease-fire that threatened to destabilize all of Ukraine. Unfortunately, Putin is succeeding, as can be seen by comparing the “Minsk Two” cease-fire with “Minsk One,” even if his success is purely temporary. Putin now seeks to use Ukraine to sow dissension and gain political influence within the European Union.

The severity of the Russian threat is directly correlated with the weakness of the European Union. The EU has excelled at muddling through financial and political crises but now it is confronted with not one but five crises: Russia, Ukraine, Greece, immigration, and the coming British referendum on EU membership—and that may be too much. The very survival of the EU is at risk.
Vladimir Putin; drawing by John Springs

International governance on a global scale is equally fragile. The world may break up into rival camps both financially and politically. China has begun to build a parallel set of financial institutions, including the Asian Infrastructure Investment Bank (AIIB); the Asian Bond Fund Initiative; the New Development Bank (formerly the BRICS Bank); and the Chiang Mai Initiative, which is an Asian regional multilateral arrangement to swap currencies. Whether the two camps will be able to keep their rivalry within bounds will depend on how China manages its economic transition and on how the US reacts to it.

The International Monetary Fund could play a positive part in this. It has abandoned its commitment to the Washington Consensus but the controlling shareholders of the Bretton Woods institutions—the US, the UK, France, and Germany among them—are unwilling to relinquish their voting control by increasing the representation of the developing world. This is very shortsighted on their part because it does not recognize changes in the relative weight of various economies and particularly the rise of China.

The controlling shareholders are unlikely to abandon their control, however tenuous; but the IMF has an opportunity to build a binding connection between the two camps. The opportunity arises from the fact that the composition of the IMF’s Special Drawing Rights (SDR) basket will be up for its five-yearly review at the end of 2015.

The SDR is an international reserve asset, created by the IMF in 1969 to supplement the existing official reserves of member countries. The Chinese renminbi is not fully qualified to be included in the SDR basket, but the qualifications to be included are not as rigorously defined as is generally believed. The Japanese yen was introduced when it was not yet widely traded; the franc entered the basket when the French capital account was heavily controlled; and the Saudi riyal was introduced when it was completely pegged to the US currency. The criteria for inclusion have changed over the years but now call for (1) a large exporter country and (2) a “freely usable” currency. This term is often misconstrued as imposing complete convertibility of capital accounts and flexibility of exchange rates; but that is not the case. Indeed, the basket of Special Drawing Rights formerly included currencies with no or little capital account convertibility.

The Chinese leadership has now embarked on a major effort to have the renminbi included in the SDR basket, and the IMF staff is sympathetic. For instance, it has announced that the renminbi is “no longer undervalued,” and it doesn’t seek full and precipitous capital account liberalization, but rather a cautious and gradual pace of reform in order to ensure the smooth functioning of the SDR and the preservation of financial stability in China.

Much now depends on the attitude of the US government, which holds veto rights in the IMF—even if the decision regarding the SDR basket requires only a 70 percent majority of the IMF’s board. The US would be making a major concession if it opened the door to allowing the renminbi to become a potential rival to the dollar. It could demand similar concessions from China in return, but that would be the wrong approach. The relationship between two great powers is not a zero-sum game: one party’s gain is not necessarily a loss for the other.

China is seeking SDR status for the renminbi not to please or hurt the US but for reasons of its own that are only indirectly connected with China’s ultimate ambition of replacing the US dollar as the dominant currency in the world. China seeks to use financial liberalization as an engine of growth for the Chinese economy. China wants to deepen the government bond market and open it up to international investors in order to enable the central government to clean up the bad debts of insolvent local authorities; it also wants to reduce the excessive leverage in the economy by promoting conversions of debt to equity. Inclusion of the renminbi in the IMF basket would facilitate the process, and success would automatically advance the renminbi’s weight and influence in the world.

The US government has little to gain and much to lose by treating the relationship with China as a zero-sum game. In other words it has little bargaining power. It could, of course, obstruct China’s progress, but that would be very dangerous. President Xi Jinping has taken personal responsibility for the economy and national security. If his market-oriented reforms fail, he may foster some external conflicts to keep the country united and maintain himself in power. This could lead China to align itself with Russia not only financially but also politically and militarily. In that case, should the external conflict escalate into a military confrontation with an ally of the United States such as Japan, it is not an exaggeration to say that we would be on the threshold of a third world war.

Indeed, military budgets are rapidly increasing both in Russia and in China, and they remain at a very high level in the United States. For China, rearmament would be a surefire way to boost domestic demand. China is already flexing its military muscle in the South China Sea, operating in a unilateral and often quite belligerent manner, which is causing justifiable concern in Washington. Nevertheless, it may take a decade or more until a Russian–Chinese military alliance would be ready to confront the US directly. Until then, we may expect a continuation of hybrid warfare and the proliferation of proxy wars.

Both the US and China have a vital interest in reaching an understanding because the alternative is so unpalatable. The benefits of an eventual agreement between China and the US could be equally far-reaching. Recently there has been a real breakthrough on climate policy on a bilateral basis. By taking the nonbinding representations and promises made by the two countries at face value, the agreement has made more credible some recent efforts to bring climate change under control. If this approach could be extended to other aspects of energy policy and to the financial and economic spheres, the threat of a military alignment between China and Russia would be removed and the prospect of a global conflict would be greatly diminished. That is worth trying.

On his last state visit to the US in 2013, President Xi spoke of a “new type of great power relationship.” The subject has been widely discussed in China since then. President Obama should outline his own vision by drawing a distinction between Putin’s Russia, which has replaced the rule of law with the rule of force, and today’s China, which does not always abide by the rule of law but respects its treaty obligations. Russian aggression needs to be firmly resisted; by contrast China needs to be encouraged—by offering a more constructive alternative—to avoid the route of military aggression. This kind of offer may elicit a favorable response. Rivalry between the US and China is inevitable but it needs to be kept within bounds that would preclude the use of military force.

It does not follow that a far-reaching agreement amounting to a strategic partnership between the US and China would be easy to accomplish. The two countries have fundamentally different political systems. While the US is founded on the principle of individual freedom, China has no significant tradition of such freedom. It has had a hierarchical structure since time immemorial and it has been an empire throughout most of its history. In recent years the US has led the world in the innovative development of social media, while China has led the world in finding means to control it. Since the end of the cold war, China has been much more successful than Russia in creating a successful hierarchical system.

This is best seen by looking at the way information is distributed. Since the rise of social media, information increasingly travels along horizontal lines, but China is different: information is distributed vertically. Within the party–state apparatus, the closer one is to the top, the better one is informed and the more latitude one enjoys in expressing an opinion. This means that the party–state apparatus offers not only an opportunity for personal enrichment but also a semblance of individual freedom. No wonder that the apparatus has been able to attract much of China’s best talent. The degree of latitude it allows is, however, strictly circumscribed by red lines. People have to walk within a grid; those who transgress the red lines may fall into the hands of the security apparatus and disappear without a trace.

The stranglehold of the security apparatus was gradually diminishing but recently there has been an ominous reversal: under the leadership of President Xi the informal rules defining the rights and status of NGOs, for instance, are now in the process of being significantly tightened.*

Comparing President Xi’s “Chinese dream” with the American dream highlights the difference between the two political and social systems. Xi extols China’s success in “rejuvenating the nation” by harnessing the talents and energies of its people in service of the state. By contrast, the American dream extols the success of the rugged individual who achieves upward social mobility and material prosperity by overcoming obstacles posed by social conventions or prejudices or authorities abusing their power, or sheer bad luck. The US would like China to adopt its values but the Chinese leadership considers them subversive.

In this respect China has more in common with Russia than with the US. Both Russia and China consider themselves victims of America’s aspiration to world domination. From the US point of view, there is much to disapprove of in China’s behavior. There is no independent judiciary and multinational companies are often mistreated and replaced by domestic favorites. And there are conflicts with the US and other nations in the South China Sea and over cyberwarfare and human rights. These are not matters on which cooperation will be easy to achieve.

Fully recognizing these difficulties, the US government should nevertheless make a bona fide attempt at forging a strategic partnership with China. This would involve identifying areas of common interest as well as areas of rivalry. The former would invite cooperation, the latter tit-for-tat bargaining. The US needs to develop a two-pronged strategy that offers incentives for cooperation and deterrents that render tit-for-tat bargaining less attractive.

The areas for cooperation may prove to be wider than is obvious at first sight. Cooperating with China in making President Xi’s financial reforms successful is definitely in the common interest. Success would fulfill the aspirations of the ever-increasing Chinese middle class. It may also allow Xi to relax some of the restrictions he has recently introduced and that would, in turn, increase the probability that his reforms will succeed and improve global financial stability. The weak point of his current approach is that both implementing and monitoring the reform process are in the same hands. Opening up the process to criticism by the media and civil society would greatly improve the efficacy of his reforms. This is particularly true of Xi’s anticorruption campaign. And if China followed this path, it would become increasingly attractive to the US as a strategic partner.

Negotiations between the US and China could not possibly be completed by October 2015, when the board of the IMF is scheduled to consider the composition of the SDR basket. Realistically it would take until President Xi’s state visit to Washington in September to complete the preparations. But there is much to be gained by extending the SDR deadline to 2016. China will then host the meeting of the G20, and 2016 will also be the last year of the Obama administration. The prospect of a strategic partnership between the US and China would mobilize all political forces in favor of international cooperation on both sides.

If a bona fide attempt fails, the US would then be fully justified in developing a strong enough partnership with China’s neighbors that a Chinese–Russian alliance would not dare to challenge it by military force. That would be clearly inferior to a strategic partnership between the US and China. A partnership with China’s neighbors would return us to a cold war, but that would still be preferable to a third world war.

The Trans-Pacific and Trans-Atlantic Partnerships, which are currently being negotiated, could offer an excellent opportunity for a two-pronged strategy but the current approach is all wrong. At present China is excluded; indeed the partnerships are conceived as an anti-Chinese alliance under US leadership. The president has asked Congress to give him and his successor authority for up to six years to negotiate trade agreements under fast-track rules that would deprive Congress of its right to introduce amendments. The bill has passed the Senate and at this writing is before the House. If the House approves, President Xi may be presented with an apparent threat on his visit in September. This is an appropriate response to China’s aggressive behavior in the South China Sea and elsewhere, but it leaves little room for an alternative approach. It would, as a result, be difficult for President Obama to make a bona fide offer of strategic partnership.

It is to be hoped that the House will not authorize putting the bill on a fast track. Instead of railroading the bill through Congress, it ought to be taken off the fast track. In that case, Congress would have plenty of time to correct the fundamental flaws in the proposed treaties that make them unacceptable as they are currently written. And that would also allow President Obama to make President Xi a genuine offer of a strategic partnership with China when he visits Washington in September.

*

See Edward Wong, “Chinese Security Laws Elevate the Party and Stifle Dissent. Mao Would Approve,” The New York Times, May 30, 2015. ↩

Xây dựng mối quan hệ đối tác với Trung Quốc nhằm tránh cuộc chiến tranh thế giới

Posted by adminbasam on 19/06/2015

Viet-studies/ NY Review of Books

Tác giả: George Soros

Người dịch: Nguyễn Hoàng Mỹ Phương

09-07-2015

Hợp tác quốc tế đang suy giảm trong cả lĩnh vực chính trị và tài chính. Liên Hiệp Quốc đã thất bại trong việc giải quyết bất kỳ cuộc xung đột lớn nào kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh; Hội nghị Biến đổi Khí hậu Copenhagen 2009 đã để lại dư vị đắng; Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã không kết thúc vòng thương mại quan trọng nào kể từ năm 1994. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đang ngày càng bị đặt nghi vấn bởi sự quản trị lỗi thời, và Nhóm G20, nổi lên trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 với vai trò là công cụ hợp tác quốc tế đầy quyền lực tiềm năng, dường như đã lạc đường. Trong tất cả các lĩnh vực, quốc gia, sắc tộc, kinh doanh, và các lợi ích đặc biệt khác được ưu tiên hơn lợi ích chung. Xu hướng này đã đạt đến cột mốc mà ở đó, thay vì một trật tự toàn cầu (global order) thì chúng ta phải nói về sự rối loạn toàn cầu (global disorder).

Trong lĩnh vực chính trị, xung đột địa phương xấu hơn và gia tăng. Từng xung đột riêng lẻ có thể được giải quyết nhưng chúng có xu hướng được kết nối với nhau và người thua cuộc trong một cuộc xung đột có xu hướng trở thành kẻ phá đám trong các cuộc xung đột khác. Ví dụ, cuộc khủng hoảng Syria xấu hơn khi nước Nga của Putin và chính phủ Iran giải cứu Tổng thống Bashar al-Assad với lý do riêng của mỗi bên. Ả Rập Saudi cung cấp số tiền ban đầu cho ISIS và Iran xúi giục phiến quân Houthi ở Yemen trả đũa Ả Rập Saudi. Thủ tướng Bibi Netanyahu đã cố gắng khiến cho Quốc hội Mỹ chống lại hiệp ước hạt nhân mà Mỹ đang đàm phán với Iran. Có quá nhiều xung đột cho dư luận quốc tế phát huy ảnh hưởng tích cực.

Trong lĩnh vực tài chính, các định chế Bretton Woods – IMF và Ngân hàng Thế giới (WB) – đã mất đi vị trí độc quyền. Dưới sự lãnh đạo của Trung Quốc, một bộ định chế tương tự đang nổi lên. Liệu chúng sẽ mâu thuẫn hay chúng sẽ tìm ra được cách thức nào đó để hợp tác? Bởi các lĩnh vực tài chính và chính trị cũng được kết nối với nhau, con đường tương lai của lịch sử sẽ phụ thuộc rất nhiều vào cách Trung Quốc giải quyết quá trình chuyển đổi kinh tế từ tăng trưởng dựa vào đầu tư và xuất khẩu sang phụ thuộc nhiều hơn vào nhu cầu nội địa, và cách Mỹ phản ứng với điều đó như thế nào. Một quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc có thể ngăn chặn sự phát triển của hai khối quyền lực mà chúng hoàn toàn có thể bị lôi kéo vào cuộc xung đột quân sự.

Chúng ta đã chạm đến cột mốc của sự rối loạn toàn cầu này như thế nào? Trong suốt thời gian chiến tranh lạnh, thế giới được kiềm chế bởi hai siêu cường. Mỗi siêu cường duy trì mức độ kiểm soát nhất định đối với các đồng minh và các vệ tinh của nó, và tránh đối đầu quân sự trực tiếp với bên còn lại bởi sự nguy hiểm của Tất yếu Hủy diệt Lẫn nhau (Mutually Assured Destruction – MAD). Đây là hệ thống MAD và nó đã phát huy tác dụng: gây ra một số xung đột quân sự địa phương nhưng tránh khỏi một cuộc chiến tranh thế giới.

Khi đế chế Xô Viết sụp đổ, Hoa Kỳ có cơ hội trở thành siêu cường duy nhất và là người đảm bảo hòa bình trên thế giới, nhưng Mỹ đã không cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ này. Mỹ được thành lập trên nguyên tắc tự do cá nhân và không hành xử để trở thành cảnh sát của thế giới. Thật vậy, đã không có một cái nhìn thống nhất về ý nghĩa của sự lãnh đạo trong các vấn đề quốc tế. Trong suốt thời gian chiến tranh lạnh, đã có chính sách đối ngoại của cả hai đảng mà cả Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa phần lớn đồng ý; nhưng sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ đối tác này đã tan vỡ. Cả hai đảng tiếp tục nhấn mạnh chủ quyền của Mỹ nhưng hiếm khi đồng ý về việc đem Mỹ phụ thuộc vào các nghĩa vụ quốc tế.

Sau đó, vào năm 1997, một nhóm những người theo trường phái tân bảo thủ lập luận rằng Hoa Kỳ nên sử dụng uy thế quân sự để áp đặt lợi ích quốc gia, và thành lập một think tank được gọi là Dự án vì Thế kỷ Mới của Mỹ (New American Century), “nhằm thúc đẩy vai trò lãnh đạo toàn cầu của Mỹ”. Nhưng đó là cách tiếp cận sai lầm: lực lượng quân sự không thể được sử dụng để thống trị thế giới. Sau cuộc tấn công khủng bố ngày 11/9, nhóm tân bảo thủ thuyết phục Tổng thống George W. Bush tấn công Iraq vào các căn cứ mơ hồ mà rốt cuộc hóa ra là sai, và Mỹ đã đánh mất uy thế của mình. Dự án vì Thế kỷ Mới của Mỹ có tuổi thọ xấp xỉ với Đế chế Đức Ngàn năm (Thousand-Year Reich) của Hitler: khoảng mười năm.

Về mặt tài chính, ngược lại, đã có sự đồng thuận rõ ràng – cái được gọi là Đồng thuận Washington – về vai trò của Mỹ trên thế giới. Mỹ đã thống trị trong những năm 1980 dưới sự lãnh đạo của Ronald Reagan và Margaret Thatcher. Mỹ có sự hỗ trợ ý thức hệ mạnh mẽ từ những người theo trường phái nền tảng của thị trường (fundamentalists); có một nền tảng được cho là khoa học – Giả thuyết Thị trường Hiệu quả (Efficient Market Hypothesis) và Lý thuyết Lựa chọn Hợp lý (Rational Choice Theory); và được quản lý hiệu quả bởi IMF. Sự đồng thuận này là một thỏa hiệp tinh tế hơn nhiều giữa quản trị quốc tế và lợi ích bản thân quốc gia so với quan điểm của nhóm tân bảo thủ cho rằng sức mạnh quân sự là tối cao.

Thật vậy, Đồng thuận Washington có nguồn gốc từ sự thỏa hiệp ban đầu mà dựa vào đó các thể chế Bretton Woods được thành lập. John Maynard Keynes đề xuất đồng tiền quốc tế thực sự, đồng bancor, nhưng Hoa Kỳ vẫn khăng khăng rằng đồng đô la là đồng tiền dự trữ của thế giới và nó đã thắng thế. Những lời đáng nhớ trong Animal Farm (“Trại súc vật”) của George Orwell, “tất cả các con vật đều bình đẳng, nhưng một số con vật bình đẳng hơn những con vật khác”. Đồng thuận Washington thúc đẩy thương mại tự do và toàn cầu hóa các thị trường tài chính. Trong những năm cuối thập niên 90, những người theo trường phái nền tảng của thị trường thậm chí đã cố gắng sửa đổi các điều khoản thỏa thuận của IMF nhằm áp đặt khả năng chuyển đổi của tài khoản vốn, tự do trao đổi tiền tệ. Tuy nỗ lực đó thất bại nhưng bằng cách cho phép vốn tài chính di chuyển tự do, Đồng thuận Washington cũng cho phép dòng vốn thoát khỏi thuế và sự điều chỉnh. Đó là một thắng lợi cho những người theo trường phái nền tảng của thị trường.

Thật không may, các nền tảng khoa học của phương pháp này đã được nhận thức sai lầm. Thị trường tài chính không bị điều chỉnh cơ bản là đã không ổn định: thay vì tạo ra một điểm cân bằng chung đảm bảo cho việc phân bổ tối ưu các nguồn lực, chúng đã tạo ra các cuộc khủng hoảng tài chính. Điều này đã được minh chứng rõ ràng bằng sự sụp đổ vào năm 2008. Thật trùng hợp, năm 2008 cũng đánh dấu sự kết thúc của cả uy thế chính trị của Mỹ và sự sụp đổ của Đồng thuận Washington. Đó cũng là sự khởi đầu của một tiến trình tan rã tài chính và chính trị mà tự thể hiện trước tiên là trong mô hình thu nhỏ của Liên minh châu Âu, sau đó lan rộng ra cả thế giới.

Sự sụp đổ năm 2008 gây ra tác động tiêu cực lâu dài lên tất cả các nền kinh tế trên thế giới, với ngoại lệ đáng chú ý là Trung Quốc. Hệ thống ngân hàng Trung Quốc tương đối biệt lập với phần còn lại của thế giới và phần lớn sở hữu bởi chính phủ. Kết quả là, các ngân hàng Trung Quốc có thể, theo chỉ thị của chính phủ, bù đắp sự sụp đổ của cầu bên ngoài bằng cách làm ngập lụt nền kinh tế với tín dụng. Nền kinh tế Trung Quốc đã thay thế người tiêu dùng Mỹ trở thành động cơ của nền kinh tế toàn cầu, chủ yếu bằng cách bán chịu cho người tiêu dùng Mỹ. Tuy nhiên, đó là một động cơ khá yếu, phản ánh kích thước tương đối của nền kinh tế Trung Quốc và Mỹ, do đó nền kinh tế toàn cầu đã tăng trưởng khá chậm kể từ sự nổi lên của sức mạnh kinh tế quốc tế Trung Quốc.

Lý do chính vì sao thế giới tránh được cuộc suy thoái toàn cầu là các nhà kinh tế đã học được một số bài học từ kinh nghiệm của những năm 1930. Vay nợ nhiều và thành kiến chính trị kéo dài đã hạn chế quy mô của gói kích thích tài chính toàn cầu (một lần nữa với sự ngoại lệ Trung Quốc); nhưng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch, Ben Bernanke, đã bắt tay vào chính sách tiền tệ không chính thống bao gồm cả nới lỏng định lượng – bơm tiền với quy mô lớn vào nền kinh tế thông qua việc mua trái phiếu của Fed. Điều này giúp sự sụt giảm trong cầu thoát khỏi tình trạng xấu hơn để rồi lao vào cuộc suy thoái toàn cầu.

Sự sụp đổ năm 2008 cũng gián tiếp chịu trách nhiệm về cuộc khủng hoảng đồng euro. Đồng euro là đồng tiền không hoàn chỉnh: nó có ngân hàng trung ương chung, nhưng lại không có ngân quỹ chung. Các kiến trúc sư của đồng euro đã nhận thức được lỗi này nhưng tin rằng khi điểm yếu này trở nên rõ ràng, ý chí chính trị có thể được triệu hồi để chỉnh sửa. Cuối cùng, đó là cách mà Liên minh châu Âu hoạt động – thực hiện một bước tại một thời điểm, hoàn toàn biết rằng nó không đủ nhưng khi có nhu cầu tất sẽ dẫn đến các bước tiếp theo.

Thật không may, điều kiện chính trị đã thay đổi từ giữa năm 1999, khi đồng euro được thông qua, và năm 2008, khi nhu cầu tăng lên. Đức dưới sự lãnh đạo của Helmut Kohl đã lãnh đạo quá trình hội nhập châu Âu nhằm tạo thuận lợi cho việc thống nhất Đức. Nhưng sự thống nhất đất nước đã chứng minh là tốn kém và công chúng Đức trở nên không sẵn sàng để đưa ra bất kỳ chi phí bổ sung nào. Sau sự phá sản của Lehman Brothers vào năm 2008, khi các bộ trưởng tài chính châu Âu tuyên bố rằng không có tổ chức tài chính quan trọng nào trong hệ thống được phép thất bại, Thủ tướng Angela Merkel, chính trị gia tán đồng với dư luận đang chiếm ưu thế, nhấn mạnh rằng trách nhiệm nên rơi vào mỗi quốc gia riêng biệt, không chỉ cho cả Liên minh châu Âu. Điều đó chính thức xác định khả năng có ngân quỹ chung chỉ khi cần thiết. Đó là khởi đầu của cuộc khủng hoảng đồng euro. Các cuộc khủng hoảng ở các nước riêng lẻ như Hy Lạp, Ý, hoặc Ireland cơ bản là biến thể của cuộc khủng hoảng đồng euro.

Sau đó, cuộc khủng hoảng tài chính đã biến thành một loạt các cuộc khủng hoảng chính trị. Sự khác biệt giữa các quốc gia chủ nợ và quốc gia con nợ đã biến Liên minh châu Âu từ một tổ chức liên kết tự nguyện của sự bình đẳng thành mối quan hệ giữa chủ nợ, như Đức, và con nợ, như Hy Lạp, đó không còn là tự nguyện và cũng không bình đẳng và khuấy động căng thẳng chính trị gia tăng.

Liên minh châu Âu đã bắt đầu như một cố gắng dũng cảm nhằm quản trị quốc tế trên quy mô khu vực. Sau hậu quả của năm 2008, EU trở nên bận tâm với những vấn đề nội bộ và thất bại trong việc thực hiện vai trò của mình trong nền kinh tế quốc tế. Hoa Kỳ cũng trở nên hướng nội nhưng bằng con đường hơi khác. Sự chuyển hướng vào trong của EU và Mỹ đã dẫn đến sự suy giảm trong hợp tác quốc tế trên quy mô toàn cầu.

Từ khi các cường quốc phương Tây là trụ cột của trật tự thế giới hiện hành, ảnh hưởng đang suy giảm của chúng đã tạo nên khoảng trống quyền lực trong quản trị quốc tế. Các cường quốc khu vực và chủ thể phi nhà nước đầy tham vọng, sẵn sàng sử dụng vũ lực quân sự, đã vội vã lắp vào chỗ trống. Các cuộc xung đột vũ trang tăng lên nhanh chóng và lan từ Trung Đông đến các phần khác của châu Á, châu Phi, và thậm chí cả châu Âu.

 

Bằng cách thôn tính Crimea và thiết lập ốc đảo ly khai ở Ukraine, nước Nga của Putin đã thách thức cả trật tự thế giới hiện hành, phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các cường quốc phương Tây, và các giá trị và nguyên tắc mà dựa vào đó EU được thành lập. Cả công chúng châu Âu lẫn Mỹ hoàn toàn không nhận thức được mức độ nghiêm trọng của thách thức này. Tổng thống Vladimir Putin muốn gây bất ổn toàn Ukraine bằng cách làm cho sự sụp đổ tài chính và chính trị sớm xuất hiện mà ông có thể từ chối nhận trách nhiệm, trong khi tránh chiếm đóng một phần của miền đông Ukraine, sau đó sẽ phụ thuộc sự hỗ trợ kinh tế của Nga. Ông đã cho thấy lợi thế của mình hai lần trong việc chuyển chiến thắng quân sự chắc chắn thành lệnh ngừng bắn đe dọa gây bất ổn cho toàn Ukraine. Thật không may, Putin đang thành công, điều đó có thể thấy bằng cách so sánh lệnh ngừng bắn “Minsk 2” với “Minsk 1”, ngay cả khi thành công của ông là hoàn toàn tạm thời. Putin hiện đang tìm cách sử dụng Ukraine để gieo mối bất đồng và đạt được ảnh hưởng chính trị trong Liên minh châu Âu.

Mức độ nghiêm trọng của mối đe dọa của Nga tương quan trực tiếp với sự yếu kém của Liên minh châu Âu. EU đã rất xuất sắc ở tình trạng rối ren qua các cuộc khủng hoảng tài chính và chính trị, nhưng bây giờ nó đang phải đối mặt với không chỉ một mà năm khủng hoảng: Nga, Ukraine, Hy Lạp, nhập cư, và trưng cầu dân ý sắp tới của Anh về tư cách thành viên EU – và có thể là đã quá nhiều. Sự tồn tại của EU hiện đang gặp nguy cơ.

Quản trị quốc tế trên quy mô toàn cầu cũng không kém phần mong manh. Thế giới có thể chia thành các phe đối thủ cả về tài chính và chính trị. Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng một bộ các định chế tài chính tương tự, bao gồm Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB); Sáng kiến Quỹ Trái phiếu châu Á; Ngân hàng Phát triển Mới (trước đây là Ngân hàng BRICS); và Sáng kiến Chiang Mai, là sự sắp xếp đa phương khu vực châu Á để hoán đổi tiền tệ. Hai phe có thể để giữ cho sự đối đầu của chúng trong giới hạn hay không sẽ phụ thuộc vào cách Trung Quốc quản lý quá trình chuyển đổi kinh tế của nó và cách Mỹ phản ứng với điều đó như thế nào.

IMF có thể đóng một vai trò tích cực trong việc này. IMF đã từ bỏ cam kết của mình với Đồng thuật Washington nhưng các cổ đông kiểm soát của các định chế Bretton Woods – Mỹ, Anh, Pháp, và Đức – không sẵn sàng từ bỏ quyền kiểm soát bỏ phiếu của mình bằng cách gia tăng đại diện của các nước đang phát triển. Điều này, ở vị trí của họ, là rất thiển cận, vì không nhận ra những thay đổi trong sức nặng tương đối của các nền kinh tế khác nhau và đặc biệt là sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Các cổ đông kiểm soát không có khả năng từ bỏ quyền kiểm soát của họ, tuy mong manh; nhưng IMF có cơ hội để xây dựng kết nối ràng buộc giữa hai phe. Cơ hội này phát sinh từ thực tế là thành phần của rổ Quyền Rút vốn Đặc biệt (SDR) của IMF sẽ đệ trình để xem xét mỗi 5 năm vào cuối năm 2015.

SDR là một tài sản dự trữ quốc tế, được tạo ra bởi IMF vào năm 1969 để bổ sung dự trữ chính thức hiện có của các quốc gia thành viên. Đồng nhân dân tệ của Trung Quốc không đủ điều kiện để được đưa vào rổ SDR, nhưng các tiêu chuẩn được đưa vào không được quy định một cách nghiêm ngặt như vẫn thường tin tưởng. Đồng yên Nhật đã được đưa vào rổ khi nó vẫn chưa được giao dịch rộng rãi; đồng franc vào rổ khi tài khoản vốn của Pháp đang được kiểm soát chặt chẽ; và đồng riyal của Ả Rập đã được đưa vào khi nó hoàn toàn neo vào đồng đô la. Các tiêu chí đưa vào rổ đã thay đổi trong những năm qua nhưng hiện tại là (1) quốc gia xuất khẩu lớn và (2) đồng tiền “tự do sử dụng”. Thuật ngữ này thường được hiểu sai là áp đặt khả năng chuyển đổi hoàn toàn của các tài khoản vốn và tính linh hoạt của tỷ giá hối đoái; nhưng không phải như vậy. Thật tế là rổ Quyền Rút vốn Đặc biệt trước đây bao gồm các đồng tiền không có hoặc có rất ít khả năng chuyển đổi tài khoản vốn.

Giới lãnh đạo Trung Quốc hiện nay đã nỗ lực bắt đầu thực hiện để đồng nhân dân tệ được đưa vào rổ SDR, và nhận được sự đồng tình từ đội ngũ nhân viên IMF. Ví dụ, IMF đã thông báo rằng đồng nhân dân tệ “không còn bị định giá thấp”, và không đòi hỏi tự do hóa tài khoản vốn đầy đủ và nhanh chóng, mà là một tốc độ cải cách thận trọng và từng bước nhằm đảm bảo sự hoạt động trơn tru của SDR cũng như duy trì sự ổn định tài chính ở Trung Quốc.

Hiện nay phụ thuộc nhiều vào thái độ của chính phủ Mỹ – nắm giữ quyền phủ quyết trong IMF, thậm chí quyết định liên quan đến rổ SDR đòi hỏi chỉ đa số 70% của ban lãnh đạo IMF. Mỹ sẽ nhượng bộ lớn nếu Mỹ cho phép đồng nhân dân tệ trở thành đối thủ tiềm năng với đồng đô la. Đổi lại, Mỹ có thể đòi hỏi những nhượng bộ tương tự từ Trung Quốc, nhưng đó sẽ là cách tiếp cận sai. Mối quan hệ giữa hai cường quốc không phải là trò chơi có tổng bằng không: lợi ích của một bên không nhất thiết phải là một mất mát cho bên còn lại.

Trung Quốc đang tìm kiếm thân phận SDR cho đồng nhân dân tệ không phải để làm hài lòng hay làm tổn thương Mỹ mà là vì những lý do riêng của Trung Quốc – đó là tham vọng cuối cùng nhằm thay thế đồng đô la Mỹ trở thành đồng tiền thống trị thế giới. Trung Quốc tìm cách sử dụng tự do hóa tài chính như là động lực tăng trưởng cho nền kinh tế Trung Quốc. Trung Quốc muốn đào sâu hơn thị trường trái phiếu chính phủ và cho phép các nhà đầu tư quốc tế tham gia nhằm giúp chính phủ trung ương có thể làm sạch các khoản nợ xấu của chính quyền địa phương vỡ nợ; nó cũng muốn giảm đòn bẩy tài chính quá mức trong nền kinh tế bằng cách thúc đẩy chuyển đổi nợ thành vốn chủ sở hữu. Đưa đồng nhân dân tệ vào rổ tiền tệ IMF sẽ tạo điều kiện cho quá trình này, và thành công sẽ tự động nâng cao sức nặng và ảnh hưởng của đồng nhân dân tệ trên thế giới.

Chính phủ Mỹ đạt được thì ít mà mất thì nhiều khi xử lý mối quan hệ với Trung Quốc như một trò chơi có tổng bằng không. Nói cách khác, Mỹ có ít sức mạnh thương lượng. Tất nhiên, Mỹ có thể cản trở sự tiến bộ của Trung Quốc, nhưng điều đó sẽ rất nguy hiểm. Chủ tịch Tập Cận Bình nhận trách nhiệm cá nhân đối với nền kinh tế và an ninh quốc gia. Nếu cải cách theo hướng thị trường của ông thất bại, ông có thể nuôi dưỡng một số xung đột bên ngoài để giữ cho đất nước thống nhất và duy trì quyền lực của mình. Điều này có thể khiến Trung Quốc liên kết với Nga không chỉ về mặt tài chính mà còn về chính trị và quân sự. Trong trường hợp đó, xung đột bên ngoài leo thang thành cuộc đối đầu quân sự với đồng minh của Mỹ như Nhật Bản, không hề cường điệu khi nói rằng chúng ta sẽ ở ngưỡng cửa của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba.

Thật vậy, ngân sách quân sự đang gia tăng nhanh chóng ở cả Nga và Trung Quốc, và chúng vẫn còn ở mức rất cao ở Hoa Kỳ. Đối với Trung Quốc, tái vũ trang sẽ là cách hữu hiệu nhằm thúc đẩy nhu cầu nội địa. Trung Quốc đã thể hiện sức mạnh cơ bắp quân sự tại Biển Đông, hoạt động đơn phương và thường khá hiếu chiến, đã tạo nên mối quan tâm chính đáng ở Washington. Tuy nhiên, có thể mất một hoặc nhiều thập niên cho đến khi một liên minh quân sự Nga-Trung Quốc sẵn sàng đối đầu trực tiếp với Mỹ. Cho đến lúc đó, có thể là sự tiếp tục của chiến tranh lai (hybrid warfare) và sự gia tăng của các cuộc chiến ủy nhiệm (proxy wars).

 

Cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều có lợi ích thiết yếu trong việc đạt được sự thông hiểu bởi sự thay thế là khó có thể chấp nhận được. Những lợi ích của một thỏa thuận cuối cùng giữa Trung Quốc và Mỹ có thể có ảnh hưởng sâu rộng như nhau. Gần đây đã có bước đột phá thực sự về chính sách khí hậu trên cơ sở song phương. Bằng cách chấp nhận các đại diện và những cam kết không ràng buộc được thực hiện bởi hai nước, thỏa thuận đã đạt được sự đáng tin cậy hơn một số nỗ lực gần đây nhằm đưa biến đổi khí hậu dưới tầm kiểm soát. Nếu phương pháp này có thể mở rộng đến các khía cạnh khác của chính sách năng lượng và các lĩnh vực tài chính và kinh tế, mối đe dọa của liên kết quân sự giữa Trung Quốc và Nga sẽ được gỡ bỏ và triển vọng của cuộc xung đột toàn cầu sẽ bị giảm đi rất nhiều. Đó là một cố gắng đáng giá.

Trong chuyến thăm cấp nhà nước cuối cùng đến Hoa Kỳ vào năm 2013, Chủ tịch Tập nói về một “kiểu mới của mối quan hệ quyền lực rất lớn”. Chủ đề đã được thảo luận rộng rãi ở Trung Quốc kể từ đó. Tổng thống Obama nên phác thảo tầm nhìn của riêng mình bằng cách vẽ nên sự phân biệt giữa Nga của Putin, đã thay thế nhà nước pháp quyền (rule of law) bằng vũ lực (rule of force), và Trung Quốc ngày nay, không phải luôn luôn tuân theo nhà nước pháp quyền nhưng tôn trọng các nghĩa vụ hiệp ước. Cuộc xâm lược của Nga cần phải được kiên quyết phản đối; ngược lại, Trung Quốc cần phải được khuyến khích – bằng cách cung cấp sự thay thế mang tính xây dựng hơn – nhằm tránh con đường xâm lược quân sự. Kiểu đề nghị này có thể khơi gợi phản ứng thuận lợi. Sự đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc là không thể tránh khỏi nhưng nó cần phải được giữ trong giới hạn ngăn cản việc sử dụng lực lượng quân sự.

Một thỏa thuận có ảnh hưởng sâu rộng trở thành một quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ không dễ dàng thực hiện. Hai nước có hệ thống chính trị cơ bản khác nhau. Trong khi Hoa Kỳ được thành lập trên nguyên tắc tự do cá nhân, Trung Quốc lại không có truyền thống đáng kể của sự tự do như thế. Trung Quốc có cấu trúc phân cấp từ thời xa xưa và đã là một đế chế trong suốt chiều dài lịch sử. Trong những năm gần đây, Mỹ dẫn đầu thế giới trong việc phát triển sáng tạo các phương tiện truyền thông xã hội, trong khi Trung Quốc dẫn đầu thế giới trong việc tìm kiếm phương tiện để kiểm soát nó. Kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh, Trung Quốc đã có nhiều thành công hơn Nga trong việc tạo ra hệ thống phân cấp thành công.

Cách nhìn tốt nhất về điều này là nhìn vào cách thức thông tin được phân phối. Do sự gia tăng của phương tiện truyền thông xã hội, thông tin ngày càng di chuyển theo chiều ngang, nhưng Trung Quốc thì khác: thông tin được phân phối theo chiều dọc. Trong bộ máy đảng-nhà nước, người gần hơn là ở đỉnh, tốt hơn là được thông báo và quyền rộng rãi hơn là được tự do bày tỏ ý kiến. Điều này có nghĩa là bộ máy đảng-nhà nước không chỉ cung cấp cơ hội làm giàu cá nhân mà còn (trông giống như) tự do cá nhân. Không có gì ngạc nhiên khi bộ máy có thể thu hút nhiều nhân tài tốt nhất của Trung Quốc. Mức độ quyền mà nó cho phép, tuy nhiên, bị giới hạn nghiêm ngặt bởi các lằn ranh đỏ. Người dân chỉ được di chuyển trong giới hạn đó; những người vượt qua lằn ranh đỏ có thể rơi vào tay bộ máy an ninh và biến mất không dấu vết.

Thòng lọng của bộ máy an ninh đã được dần dần giảm bớt, nhưng gần đây có một sự đảo ngược đáng ngại: dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Tập, các quy tắc không chính thức quy định quyền và vị trí của các tổ chức phi chính phủ (NGO), ví dụ, hiện đang trong quá trình đang được thắt chặt đáng kể *.

So sánh “giấc mơ Trung Quốc” của Chủ tịch Tập với giấc mơ Mỹ nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai hệ thống chính trị và xã hội. Tập tán dương thành công của Trung Quốc trong “trẻ hóa dân tộc” bằng cách khai thác những tài năng và năng lực của người dân trong việc phục vụ nhà nước. Ngược lại, giấc mơ Mỹ ca ngợi sự thành công của cá nhân mạnh mẽ – những người đạt được vị trí xã hội cao hơn và giàu có hơn bằng cách vượt qua những trở ngại gây ra bởi các quy ước hoặc thành kiến xã hội hoặc chính quyền lạm dụng quyền lực của mình, hoặc do may mắn. Mỹ muốn Trung Quốc thực hiện theo các giá trị của mình, nhưng các lãnh đạo Trung Quốc cho rằng họ đang bị lật đổ.

Ở khía cạnh này, Trung Quốc có nhiều điểm chung với Nga hơn so với Mỹ. Cả Nga và Trung Quốc tự xem mình là nạn nhân của khát vọng thống trị thế giới của Mỹ. Từ góc nhìn của Mỹ, có nhiều điều phản đối trong hành vi của Trung Quốc. Không có tư pháp độc lập và các công ty đa quốc gia thường bị ngược đãi và được thay bằng các công ty yêu thích trong nước. Và có những xung đột với Mỹ và các quốc gia khác ở Biển Đông và chiến tranh mạng và nhân quyền. Đây không phải là vấn đề mà sự hợp tác sẽ dễ dàng đạt được.

Hoàn toàn công nhận các khó khăn này, tuy nhiên, chính phủ Mỹ vẫn nên thực hiện nỗ lực có thiện chí trong việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc. Điều này sẽ liên quan đến việc xác định các phạm vi có cùng lợi ích cũng như các phạm vi của sự đối đầu. Các phạm vi có cùng lợi ích sẽ mời gọi hợp tác, các phạm vi của sự đối đầu thương lượng ăn miếng trả miếng. Mỹ cần xây dựng chiến lược hai hướng vừa thúc đẩy hợp tác vừa răn đe khiến cho thương lượng ăn miếng trả miếng kém hấp dẫn.

Các phạm vi hợp tác có thể chứng minh là rộng hơn so với cái nhìn đầu tiên. Hợp tác với Trung Quốc giúp cho cải cách tài chính của Chủ tịch Tập thành công chắc chắn là nằm trong lợi ích chung. Thành công này sẽ thực hiện được nguyện vọng của ngày càng tăng tầng lớp trung lưu Trung Quốc. Nó cũng có thể cho phép Tập nới lỏng một số hạn chế mà ông đưa ra gần đây và điều này, đến lượt nó, sẽ tăng khả năng các cải cách của ông sẽ thành công và cải thiện sự ổn định tài chính toàn cầu. Điểm yếu của phương pháp tiếp cận hiện tại của ông là cả thực hiện và giám sát quá trình cải cách nằm trong cùng một bàn tay. Quá trình này được mở ra để nhận phê bình từ giới truyền thông và xã hội dân sự sẽ cải thiện tính hiệu quả của cải cách của ông rất nhiều. Điều này đặc biệt đúng trong chiến dịch chống tham nhũng của Tập. Và nếu Trung Quốc theo con đường này, nó sẽ càng trở nên hấp dẫn đối với Mỹ như là một đối tác chiến lược.

Các cuộc đàm phán giữa Mỹ và Trung Quốc có thể không được hoàn thành vào tháng 10/2015, khi ban lãnh đạo của IMF dự kiến sẽ xem xét thành phần trong rổ SDR. Thực tế là phải đến chuyến thăm cấp nhà nước của Chủ tịch Tập tới Washington vào tháng 9 mới hoàn thành việc chuẩn bị. Nhưng có nhiều điều cần đạt được bằng cách kéo dài thời hạn SDR đến năm 2016. Sau đó Trung Quốc sẽ tổ chức cuộc họp của Nhóm G20, và năm 2016 cũng là năm cuối cùng của chính quyền Obama. Triển vọng của quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ huy động tất cả các lực lượng chính trị có lợi cho hợp tác quốc tế cả hai bên.

Nếu nỗ lực thiện chí thất bại, Mỹ sau đó sẽ hoàn toàn hợp lý trong việc phát triển quan hệ đối tác đủ mạnh với các nước láng giềng của Trung Quốc mà liên minh Trung Quốc-Nga sẽ không dám thách thức bằng vũ lực quân sự. Điều đó rõ ràng là kém hơn so với quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Quan hệ đối tác với các nước láng giềng của Trung Quốc sẽ đưa chúng ta trở lại chiến tranh lạnh, nhưng vẫn là thích hợp hơn so với một cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba.

Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương và xuyên Đại Tây Dương, hiện đang được đàm phán, có thể mang đến cơ hội tuyệt vời cho chiến lược hai hướng nhưng cách tiếp cận hiện nay là hoàn toàn sai. Hiện tại, Trung Quốc bị loại trừ; thực sự là quan hệ đối tác được hình thành như là một liên minh chống Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Mỹ. Tổng thống đã yêu cầu Quốc hội cho ông và chính quyền kế nhiệm đến sáu năm để đàm phán hiệp định thương mại theo quy định đàm phán nhanh (fast-track rules) mà có thể tước đi quyền đưa ra các sửa đổi của Quốc hội. Dự luật đã được chuyển sang Thượng viện và bài báo này được viết trước khi chuyển sang Hạ viện. Nếu Hạ viện phê duyệt, Chủ tịch Tập có thể đối mặt với mối đe dọa rõ ràng cho chuyến thăm vào tháng 9. Đây là phản ứng thích đáng đối với hành vi hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông và các nơi khác, nhưng còn rất ít chỗ trống cho cách tiếp cận thay thế. Kết quả là, rất khó cho Tổng thống Obama đưa ra đề nghị thiện chí của quan hệ đối tác chiến lược.

Hy vọng rằng Hạ viện sẽ không cho phép dự luật có quyền đàm phán nhanh. Thay vì buộc dự luật thông qua Quốc hội nhanh chóng, nó nên được đưa khỏi quyền đàm phán nhanh. Trong trường hợp đó, Quốc hội sẽ có nhiều thời gian để điều chỉnh những sai sót cơ bản trong các hiệp ước dự kiến khiến chúng không được chấp nhận khi chúng hiện đang được soạn thảo. Và điều đó cũng sẽ cho phép Tổng thống Obama đưa cho Chủ tịch Tập lời đề nghị chân thành của quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc khi ông đến thăm Washington vào tháng 9.

*Xem Edward Wong, “Chinese Security Laws Elevate the Party and Stifle Dissent. Mao Would Approve,” The New York Times, May 30, 2015.

http://www.nybooks.com/articles/archives/2015/jul/09/partnership-china-avoid-world-war  truy cập 16/6/2015

Bài viết mới

Video yêu thích
Love Story (Piano & Violin Duet)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook