Trí tuệ bậc Thầy

NGHIÊN CỨU DỊCH THUẬT VIỆT TRUNG, tinh hoa văn hóa giáo dục Việt Nam, trí tuệ bậc Thầy kiệt tác kinh điển là Binh thư yếu lược và Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo. Chương “Chọn người” của Trần Hưng Đạo, chính văn xưa súc tích và sâu sắc lạ lùng, đọc kỹ thấy rằng đâu chỉ là chuyện thời xưa: “Người quân tử tiến thoái quả quyết, xem người thì thanh thản vui tươi, chí thì ở trừ tàn bạo, đó là khí độ của người tướng quốc. Thấy ác không giận, thấy lành không mừng, nhan sắc không thay đổi, đó là lượng của người thiên tử”. Binh thư yếu lược mục Đạo làm tướng đã dạy Bảy phép để biết người:

“1. Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không; 2. Lấy lời cật vấn đến kỳ cùng để xem cách ứng biến của họ; 3. Cho gián điệp thử xem có trung thành không; 4. Hỏi rõ ràng tường tất để xem đức hạnh thế nào; 5. Lấy của mà thử để xem có thanh liêm không; 6. Lấy sắc đẹp mà thử để xem có đứng đắn không; 7. Lấy việc khó khăn mà thử để xem có dũng cảm không; 8. Đem rượu cho họ uống say để xem có giữ được thái độ không”. …

HỊCH TƯỚNG SĨ

Trần Quốc Tuấn

Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Ðế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước. Kính Ðức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được?

Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn. Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói: Vương Công Kiên là người thế nào? Nguyễn Văn Lập, tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà đem thành Ðiếu Ngư nhỏ tày cái đấu đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn, khiến cho sinh linh nhà Tống đến nay còn đội ơn sâu! Cốt Ðãi Ngột Lang là người thế nào? Xích Tu Tư tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt!

Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.

Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Ði thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?

Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng?

Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ làm nguy; nên lấy điều kiềng canh nóng mà thổi rau nguội làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhaị Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không?

Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.

Vì sao vậy? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa?

Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta.”

Chú thích
· Kỷ Tín: tướng của Hán Cao Tổ Lưu Bang. Khi Lưu Bang bị Hạng Vũ vây ở Huỳnh Dương, Kỷ Tín giả làm Hán Cao Tổ ra hàng, bị Hạng Vũ thiêu chết. Hán Cao Tổ nhờ thế mới thoát được.
· Do Vu: tướng của Sở Chiêu Vương thời Xuân Thu. Theo Tả Truyện, Sở Chiêu Vương bị nước Ngô đánh phải lánh sang phương Ðông, một đêm bị cướp vây đánh. Do Vu đã chìa lưng ra đỡ giáo cho vua mình.
· Dự Nhượng: gia thần của Trí Bá thời Chiến Quốc. Trí Bá bị Triệu Tương Tử giết, Dự Nhượng bèn nuốt than cho khác giọng đi, giả làm hành khất, mưu giết Tương Tử để báo thù cho chủ.
· Thân Khoái: quan giữ ao cá của Tề Trang Công thời Xuân Thu. Trang Công bị Thôi Trữ giết, Thân Khoái bèn chết theo chủ.
· Kính Ðức: tức Uất Trì Cung đời Ðường. Khi Ðường Thái Tông (bấy giờ còn là Tần Vương Lý Thế Dân) bị Vương Thế Sung vây, ông đã lấy mình che chở, hộ vệ cho Thái Tông chạy thoát.
· Cảo Khanh: họ Nhan, một bề tôi trung của nhà Ðường. Khi An Lộc Sơn nổi loạn, đánh đuổi Ðường Huyền Tông và Dương Quý Phi, ông đã cả gan chưởi mắng An Lộc Sơn và bị cắt lưỡi.
· Vương Công Kiên: tướng tài nhà Tống, giữ Hợp Châu, lãnh đạo quân dân Tống cầm cự với quân Mông Cổ do Mông Kha chỉ huy ở núi Ðiếu Ngư suốt bốn tháng trời. Mông Kha cuối cùng bị loạn tên chết, quân Mông Cổ đành phải rút lui.
· Ðiếu Ngư: tên ngọn núi hiểm trở ở Tứ Xuyên, ba mặt nhìn xuống sông. Ðời Tống, Dư Giới đắp thành ở đó.
· Mông Kha: tức Mongka, anh của Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt, làm Ðại Hãn Mông Cổ từ năm 1251. Mông Kha trực tiếp chỉ huy cuộc viễn chinh sang Trung Quốc và các nước phía Ðông. Ông bị tử trận năm 1259 dưới chân thành Ðiếu Ngư trong cuộc vây hãm đội quân Tống do Vương Công Kiên chỉ huy.
· Cốt Ðãi Ngột Lang: tức Uriyangqadai, tướng giỏi của Mông Cổ, con của viên tướng nổi tiếng Subutai. Cốt Ðãi Ngột Lang nhận lệnh của Mông Kha, cùng Hốt Tất Liệt đánh chiếm nước Nam Chiếu. Cốt Ðãi Ngột Lang cũng là viên tướng chỉ huy đạo quân Mông Cổ xâm lược Ðại Việt lần thứ nhất (1258).
· Xích Tu Tư: chép Xích theo Hoàng Việt Văn Tuyển. Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư chép Cân. Hai chữ gần giống nhau, không biết quyển nào chép nhầm. Hiện nay, chưa có tài liệu nào nói gì về viên tướng này, và việc khôi phục lại tên Mông Cổ từ Hán tự cũng không phải là chuyện đơn giản.
· Nam Chiếu: nước nhỏ nằm ở khoảng giữa tỉnh Tứ Xuyên và Vân Nam ngày nay; thủ đô là Ðại Lý, thuộc Vân Nam.
· Hốt Tất Liệt: tức Qubilai, em ruột và là tướng của Mông Kha. Sau khi Mông Kha tử trận ở Ðiếu Ngư, Hốt Tất Liệt tự xưng làm Ðại Hãn ở Khai Bình, khiến xảy ra cuộc nội chiến tranh giành ngôi báu với em ruột là Ariq-Buka. Năm 1264, Ariq-Buka đầu hàng, Hốt Tất Liệt bèn dời đô về Yên Kinh (tức Bắc Kinh ngày nay), xưng Nguyên Thế Tổ, lập nên nhà Nguyên.
· Vân Nam Vương: tức Hugaci hay Thoát Hoan, con ruột Hốt Tất Liệt, được phong làm Vân Nam Vương năm 1267 với nhiệm vụ khống chế các dân tộc thiểu số vùng này cũng như mở rộng biên cương nhà Nguyên về phía Nam. Thoát Hoan là người chỉ huy quân Nguyên xâm lược Ðại Việt lần thứ hai năm 1285 và lần thứ ba năm 1287-1288.
· Nghìn thây ta bọc trong da ngựa: điển tích lấy từ câu nói của viên tướng khét tiếng Mã Viện đời Hán chép trong Hậu Hán Thư (Ðại trượng phu dương tử ư cương trường, dĩ mã cách khỏa thi nhĩ: Bậc đại trượng phu nên chết ở giữa chiến trường, lấy da ngựa mà bọc thây.)
· Thái thường: tên loại nhạc triều đình dùng trong những buổi tế lễ quan trọng ở tông miếu. Bấy giờ là thời kỳ ngoại giao căng thẳng giữa ta và quân Nguyên, trong những buổi yến tiệc tiếp sứ Nguyên, triều đình nhà Trần nhiều khi phải buộc dùng đến nhạc thái thường để mua vui cho sứ giả. Trần Quốc Tuấn xem đó là một điều nhục nhã.
· Thái ấp: phần đất vua Trần phong cho các vương hầu.
· Ðặt mồi lửa dưới đống củi nỏ: từ câu văn trong Hán Thư (phù bão hỏa, thố chi tích tân chi hạ nhi tẩm kỳ thượng, hỏa vị cập nhiên nhân vị chi an. Ôm mồi lửa, đặt dưới đống củi rồi nằm lên trên, lửa chưa kịp cháy vẫn cho là yên.)
· Kiềng canh nóng mà thổi rau nguội: xuất xứ từ một câu văn trong Sở Từ trừng ư canh nhi xuy tê hề. Người bị bỏng vì canh nóng, trong lòng đã e sợ sẵn, dù gặp rau nguội đi nữa, cũng vẫn thổi như thường.
· Bàng Mông: danh tướng đời nhà Hạ, có tài bắn cung trăm phát trăm trúng.
· Hậu Nghệ: một nhân vật bắn cung giỏi nữa trong thần thoại Trung Quốc.
· Cảo Nhai: nơi trú ngụ của các vua chư hầu khi vào chầu vua Hán ở Trường An.
· Mãi mãi vững bền: nguyên văn chữ Hán là vĩnh vi thanh chiên. Sách Thế Thuyết chép chuyện Vương Tử Kính đêm nằm ngủ thấy bọn trộm vào nhà sạch sành sanh vét mọi vật. Ông từ tốn bảo chúng rằng: cái nệm xanh (thanh chiên) này là đồ cũ của nhà ta, các ngươi làm ơn để lại. Tác giả dùng điển tích này để chỉ những của cải được lưu truyền từ đời này sang đời khác.
· Binh Thư Yếu Lược: tức Binh Gia Diệu Lý Yếu Lược, nay đã thất truyền. Tác phẩm với đầu đề tương tự được lưu truyền hiện nay không phải là văn bản thực thụ, trong đó có vài đoạn chép các trận đánh thời Lê Nguyễn sau này.
· Dẹp yên nghịch tặc: nguyên văn chữ Hán là bình lỗ chi hậụ Các dịch giả Dương Quảng Hàm, Trần Trọng Kim đoán Bình Lỗ là tên đất ở đâu đó vùng Phù Lỗ thuộc tỉnh Vĩnh Phú ngày nay. Ở đây, chúng tôi theo Ngô Tất Tố và Phan Kế Bính dịch thoát là bình định nghịch tặc nói chung.

Bản chữ Hán

Ngày Nhà giáo thế giới
CNM365. Chào ngày mới 5 tháng 10. Ngày này năm 1994 là Ngày Nhà giáo thế giới do Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc đề xướng được tổ chức hàng năm vào ngày 5 tháng 10 nhằm nâng cao nhận thức về vai trò nhà giáo. Năm 2011, ngày mất Steve Jobs, cựu CEO của hãng Apple, con người huyền thoại thế kỷ 21. Quả táo Apple Steven Jobs.Ba quả táo làm thay đổi thế giới: quả táo trong vườn địa đàng Adam và Eva, quả táo rơi trúng Newton, và quả táo cắn dở của Steve Jobs. Những câu chuyện về Jobs luôn là nguồn cảm hứng dồi dào cho thế hệ trẻ”. Năm 1948 – Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) được thành lập tại một hội nghị được tổ chức ở Fontainebleau Pháp. Năm 1962 , đĩa đơn bài hát huyền thoại “Love Me Do”  của The Beatles lần đầu tiên được phát hành tại Anh Quốc. (xem tiếp Chào ngày mới 5 tháng 10)


TRÍ TUỆ BẬC THẦY TÔN VŨ

Hoàng Kim luận về Tôn Vũ và binh pháp: “Biết người biết ta, trăm trận không khốn cùng; biết ta không biết người, thắng một thua một; không biết ta cũng không biết người, trăm trận ắt thua trăm”. Tôn Vũ người Lạc An nước Tề ở cuối thời Xuân Thu, năm sinh năm mất đều không xác định được, nhờ cuốn binh thư của mình mà được tôn là Tôn Tử, lại bởi hoạt động chủ yếu ở nước Ngô, nên được gọi là Ngô Tôn Tử để phân biệt với Tôn Tẫn (Tề Tôn Tử là người nước Tề ở thời Chiến Quốc).

Binh pháp Tôn Tử cực ngắn và cực hay. Sinh thời Napoleong khi bị đi đày đã tiếc là chậm đọc sách này. Hồ Chí Minh thì sách binh pháp dịch thuật đầu tiên ở hang Pắc Bó là binh pháp Tôn Tử.

Thiên thứ nhất, Tôn Tử viết:Dùng binh đánh giặc là hành động dối trá. Thông thường, nếu có thể tấn công thì giả như không thể tấn công, muốn đánh như giả như không muốn đánh, muốn hành động ở gần nhưng giả như muốn hành động ở xa, muốn hành động ở xa nhưng lại giả như muốn hành động ở gần”; “Lấy lợi mà dụ kẻ tham, chiến thắng kẻ loạn, phòng bị kẻ có thực lực, tránh kẻ thù mạnh, khiêu khích kẻ hay giận dữ. Địch khinh thường thì làm chúng thêm kiêu, địch nhàn hạ thì làm chúng vất vả, địch đoàn kết thì làm chúng ly tán. Tấn công kẻ thù lúc chúng không phòng bị, hành động khi chúng không ngờ tới”.

Thiên thứ hai, Tôn Tử viết: “Trong chiến tranh, quan trọng nhất là chiến thắng chứ không phải là chiến thuật đánh lâu dài“. (故兵貴勝,不貴久。) (Thấu hiểu điều này mới hiểu phép biến dịch chiến tranh nhân dân đánh lâu dài và thần tốc kết thúc chiến tranh Việt Nam. Hoàng Kim suy ngẫm).

Thiên thứ ba, Tôn Tử viết: “Biết người biết ta, trăm trận không khốn cùng; biết ta không biết người, thắng một thua một; không biết ta cũng không biết người, trăm trận ắt thua trăm”. (知彼知己,百戰不殆;不知彼而知己,一勝一負;不知彼,不知己,每戰必殆。); “Đã thành luật, nếu quân ta đông hơn địch mười lần, vây chúng; năm lần, tấn công chúng; hai lần, phân rẽ chúng; bằng, giao đấu với chúng; ít hơn, luôn sẵn sàng để chạy khỏi chúng; yếu hơn, tránh chúng.” (故用兵之法,十則圍之,五則攻之,倍則分之, 敵則能戰之,少則能守之,不若則能避之。)

Hoàng Kim (St), nguồn Wikiquote

TRÍ TUỆ BẬC THẦY KHỔNG TỬ

Tình yêu cuộc sống. CNM365. Ba nhân tám rõ ràng là 24, vì sao lại là 23? Câu chuyện Nhan Uyên và Khổng Tử sẽ cho bạn biết tại sao như vậy…
TriTuebacThay1

Nhan Uyên ham học hỏi, tính tình tốt bụng, là một đệ tử đắc ý của Khổng Tử.

Một ngày nọ, trên đường đi làm việc, Nhan Uyên thấy một đám đông ồn ào trước cửa tiệm vải.

Anh bước đến hỏi, mới biết là đang có tranh chấp giữa người mua và người bán vải.

Chỉ nghe người mua hét lớn: “Ba nhân tám là 23, sao ông cứ đòi ta 24 đồng?”

Nhan Uyên đến trước mặt người mua, lễ phép nói:

“Vị đại ca này, ba nhân tám là 24, sao có thể là 23 được? Anh tính sai rồi, không nên cãi lộn ầm ĩ nữa”.

Người mua không phục, chỉ thẳng mặt Nhan Uyên nói: “Ai cần ngươi phân xử hay sao? Ngươi biết tính toán sao? Muốn phân xử chỉ có cách tìm Khổng phu tử, đúng hay sai hãy để ông ấy định đoạt! Đi, ta hãy tìm ông ấy để phân xử!”

Nhan Uyên đáp: “Được. Nếu Khổng phu tử nói anh sai, vậy xử lý sao?

Người mua nói: “Nếu ta sai, hãy lấy đầu ta. Nhà ngươi sai thì sao?”

Nhan Uyên trả lời: “Nếu tôi sai, tôi sẽ từ quan”. Hai người đánh cuộc với nhau như thế, cũng đã tìm gặp được Khổng Tử.

Khổng Tử nói: “Ba nhân tám là 23”, Nhan Uyên lòng không phục.

Khổng Tử hỏi rõ tình huống, rồi quay sang Nhan Uyên cười nói:

“Ba nhân tám là 23 đó! Nhan Uyên, con thua rồi, lấy mũ quan xuống đem cho người ta đi!”

Nhan Uyên trước giờ chưa bao giờ cãi lại sư phụ.

Nghe Khổng Tử nói mình sai, anh đành tháo mũ xuống giao cho người mua kia. Người mua nhận mũ, đắc ý rời đi.

TrituebacThay2

Đối với lời phân xét của Khổng Tử, Nhan Uyên biểu hiện là tuân theo, nhưng trong tâm lại không phục.

Anh cho rằng Khổng Tử già rồi đâm ra hồ đồ, liền không muốn ở lại học tập Khổng Tử nữa.

Ngày hôm sau, Nhan Uyên quay lại lấy cớ nhà có việc muốn xin nghỉ học…

Khổng Tử rất rõ tâm tư Nhan Uyên, nhưng không nói gì, chỉ gật đầu đồng ý.

Trước khi đi, Nhan Uyên quay lại cáo biệt Khổng Tử. Khổng Tử muốn Nhan Uyên trở về nhà bình an, cũng dặn dò hai câu:

“Cổ thụ ngàn tuổi chớ nên náu thân, sát nhân chưa rõ chớ nên động thủ”.

Nhan Uyên đáp lại một câu: “Con xin ghi nhớ”, rồi rời đi.

Trên đường về, gió thổi mây dâng, sấm rung chớp giật, trời muốn đổ mưa to.

Nhan Uyên tiến đến một cây đại thụ mục rỗng bên ven đường, muốn tránh mưa.

Anh đột nhiên nhớ lại lời Khổng Tử đã nói: “Cổ thụ ngàn tuổi chớ nên náu thân”…

Nghĩ thầm, thầy trò bao năm nên Nhan Uyên nghe lời thầy, tránh xa cây rỗng.

Anh vừa rời đi không xa thì nghe một tiếng sấm, sét đã đánh tan cây cổ thụ kia.

Nhan Uyên kinh ngạc: “Câu đầu sư phụ nói đã ứng nghiệm sao! Chẳng lẽ ta còn có thể sát nhân ư?”

Khi về tới nhà thì trời cũng đã khuya. Không muốn kinh động người nhà, Nhan Uyên dùng bảo kiếm mang theo bên người để đẩy chốt cửa phòng nơi vợ anh đang ngủ.

Đến bên giường, sờ thấy có hai người nằm chung giường. Nhan Uyên vô cùng tức giận, giơ kiếm định chém, lại nghĩ đến câu nói thứ hai của Khổng Tử: “Sát nhân không rõ chớ nên động thủ”, bèn đốt đèn lên xem, hóa ra một người là vợ còn người kia là em ruột của anh.

Ngày hôm sau, Nhan Uyên quay trở lại, thấy Khổng Tử liền quỳ xuống nói:

“Sư phụ, hai câu người nói đã cứu ba mạng người là con, vợ con và em con đó! Sao người lại biết trước chuyện sẽ xảy ra vậy?”

Khổng Tử có đúng là có thể nhìn trước được tương lai?

Hãy cùng xem tiếp…

Nhan Uyên cảm thấy kính phục sâu sắc, cũng đã biết được ẩn ý của Khổng Tử

Khổng Tử đỡ Nhan Uyên dậy và nói: “Ngày hôm qua thời tiết khô nóng, đoán chừng sẽ có cơn dông, nên ta nhắc nhở con: “ngàn năm cổ thụ không ai náu thân”, con lại mang khí bực trong người, trên thân đeo bảo kiếm, cho nên ta khuyên con “sát nhân không rõ chớ động thủ”!”

Nhan Uyên vừa vái lạy vừa nói: “Sư phụ liệu sự như thần, đệ tử mười phần kính nể!”

Mạng người quan trọng hay địa vị quan trọng?

Khổng Tử lại nói tiếp: “Ta biết rõ con xin phép về nhà, chỉ là mượn cớ, thật ra cho rằng ta đã già nên hồ đồ rồi, không muốn học ta nữa. Con nghĩ xem, ta nói ba nhân tám bằng 23 là đúng, con thua, bất quá là thua cái mũ quan kia, nếu ta nói ba nhân tám bằng 24 mới đúng, người mua kia thua, đây là một mạng người đó! Vậy con nói xem, chức vị quan trọng hay mạng người quan trọng hơn?”

Nhan Uyên bừng  tỉnh ngộ, quỳ trước mặt Khổng Tử mà thưa: “Sư phụ trọng đại nghĩa coi nhẹ tiểu tiết, đệ tử còn tưởng rằng Sư phụ vì lớn tuổi mà thiếu minh mẫn, đệ tử hổ thẹn vạn phần!”.

Từ đó về sau, bất luận Khổng Tử đi đâu, Nhan Uyên theo đến đó không rời sư phụ.

Câu chuyện này gợi cho ta nhớ đến ca từ một bài hát tuyệt vời của Khắc Lý Lâm:

“Nếu như mất đi bạn, được cả thế giới cũng để làm gì?”
Cũng như vậy,
Đôi khi bạn tranh đấu giành được điều bạn cho là lẽ phải,
Nhưng điều mất đi có lẽ còn quan trọng hơn;
Luôn luôn phân rõ sự tình nặng nhẹ”.
Đừng gắng sức tranh giành, rồi sau hối hận không kịp!
Rất nhiều chuyện không cần tranh giành,

Lùi một bước biển rộng trời cao.
Hơn thua với khách hàng, thắng ấy cũng là thua (khi sản phẩm mới cần đổi mẫu, bạn sẽ biết)
Hơn thua với ông chủ, lãnh đạo cơ quan, thắng ấy cũng là thua (cuối năm lúc đánh giá thành tích, bạn sẽ biết)
Hơn thua với người già, thắng ấy cũng là thua (người ta không để ý tới bạn đâu, bạn vẫn phải tự mình làm thôi)
Hơn thua với bằng hữu, thắng ấy cũng là thua (làm không tốt sẽ mất đi một người bạn)

Lá trà nhờ nước sôi mới có thể tỏa ra mùi hương thơm ngát,
Sinh mệnh vượt qua bao trắc trở, mới để lại tiếng thơm cho đời…
Hiểu được điều đó sẽ luôn luôn cảm ơn cuộc đời… vậy là hạnh phúc nhất đấy.

Giáo dục là một vấn đề vô cùng trọng yếu!

Bất luận điều gì chưa rõ, hãy cùng nhau bàn bạc giải quyết.
Nếu không, sai một niệm có thể sẽ hỏng một đời…
Thật là những suy nghĩ sâu sắc!

Hoàng Kim (St), Nam Quân biên dịch từ cmoney.tw
CNM365 theo Dương Phước Lộc Vietlink nguồn daikynguyenvn

 

xem tiếp Trí tuệ bậc Thầy  https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tri-tue-bac-thay/

Video yêu thích
Ban Mai
KimYouTube
Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook KimTwitter

Advertisements

Trí tuệ bậc Thầy

Binhthuyeuluoc

Sách Binh thư yếu lược dạy Bảy phép để biết người:

1. Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không
2. Lấy lời cật vấn đến kỳ cùng để xem cách ứng biến của họ.
3.  Cho gián điệp thử xem có trung thành không.
4. Hỏi rõ ràng tường tất để xem đức hạnh thế nào.
5. Lấy của mà thử để xem có thanh liêm không
6. Lấy sắc đẹp mà thử để xem có đứng đắn không.
7. Lấy việc khó khăn mà thử để xem có dũng cảm không.
8. Đem rượu cho họ uống say để xem có giữ được thái độ không.

Xem thêm

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. CNM365. Trí tuệ bậc Thầy, chuyên luận của Hoàng Kim. Binh thư yếu lược. Vua Solomon và sách Khôn ngoan. Lời vàng và chuyện chọn lọc.

TRẦN QUỐC TUẤN BINH THƯ YẾU LƯỢC

Binh thư yếu lược của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn còn gọi là Binh gia diệu lý yếu lược là một kiệt tác vi diệu về nghệ thuật quân sự của Việt Nam, một di sản vô giá trong kho tàng lịch sử văn hóa dân tộc Việt, mẫu mực về nghệ thuật thương yêu nhân dân, dựa vào sức lực toàn dân để bảo vệ và xây dựng đất nước: “khoan sức cho dân để làm kế sâu rễ bền gốc”, “lấy đoản binh chế trường trận”, “lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều” “chọn lọc binh pháp các nhà” thực hành sáng tạo, chuẩn xác, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Danghuong
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn  trong bài Hịch Tướng Sĩ, được Quốc Công viết cho tướng lĩnh và quân đội “Nguyên tác: Dụ chư tỳ tướng hịch văn, bản sao kèm theo cuối thế kỷ 13 trước cuộc chiến tranh Nguyên Mông- Đại Việt lần 2 đã nêu rõ: “Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù. Vì sao vậy? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa? Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta.”

Bản gốc của kiệt tác Binh thư yếu lược nghe nói đã bị thất truyền, vì đã bị quân Minh cướp mất mang về Trung Quốc,  “hủy đi để không còn tác phẩm nào sánh ngang với pháp của “Tôn Vũ”. Không chỉ thiên về “binh pháp” mà còn là án thi văn cho Việt Nam” như được nhắc đến trong Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim. Những cuốn sách “Binh thư yếu lược” được lưu truyền và xuất bản hiện nay trong dân gian hiện nay nghe nói chỉ là dị bản (* đọc xem thêm) nhưng bia miệng về người hiền Đức Thánh Trần trong trí tuệ và  tâm thức dân tộc có sức sống bảo tồn mãnh liệt không thể phủ nhận, đã gìn giữ và tỏa sáng kiệt tác di sản lịch sử văn hóa trí tuệ bậc Thầy.

Binh thư yếu lược gồm có 4 quyển, với các chương như sau: Quyển 1: gồm 9 chương: Thiên tượng, Kén mộ, Chọn tướng, Đạo làm tướng, Kén luyện, Quân lễ, Tuyển người làm việc dưới trướng, Đồ dùng của binh lính, Hiệu lệnh. Quyển 2: gồm 10 chương: Hành quân, Hướng đạo, Đồn trú, Tuần canh, Quân tư, Hình thế, Phòng bị, Điểm về việc binh, Phép dùng gián điệp, Dùng cách lừa dối. Quyển 3: gồm 7 chương: Liệu thế giặc, Quyết chiến, Đặt cờ, Dã chiến, Sơn chiến, Thủy chiến, Lâm chiến. Quyển 4: gồm 7 chương: Đánh thành, Giữ thành, Công thành, Xông vây – ứng cứu, Lui đánh, Thắng và đặt phục, Phép nhận hạng.

Mời bạn xem Binh thư yếu lược, tài liệu điện tử (pdf) Binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn, phụ Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ (tái bản); Người dịch Nguyễn Ngọc Tĩnh, Đỗ Mộng Khương, Hiệu đính GS. Đào Duy Anh. Nhà Xuất bản Công an Nhân dân, năm 2001. Binh thư yếu lược – Chi tiết tài liệu miễn phí , xem tại đây, Bạn tốt nhất nên mua một quyển tốt để dành sẵn ở nhà đọc lúc cần.

Chương “Chọn người” của Trần Hưng Đạo, chính văn xưa súc tích và sâu sắc lạ lùng. Đọc kỹ lại mới thấy rằng đâu chỉ là chuyện thời xưa:

“Người quân tử tiến thoái quả quyết, xem người thì thanh thản vui tươi, chí thì ở trừ tàn bạo, đó là khí độ của người tướng quốc. Thấy ác không giận, thấy lành không mừng, nhan sắc không thay đổi, đó là lượng của người thiên tử.

Được sự thắng nhỏ, gặp sự thua nhỏ, mà mừng lo hình ra nét mặt, hễ thấy động thì động, thấy tĩnh thì tĩnh, nhát mà không tính toán gì, cất chân thì thần sắc không định, mà hay lấy lời nói để thắng người, đó là tướng ngu vậy.

Bảy phép để biết người:

1. Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không
2. Lấy lời cật vấn đến kỳ cùng để xem cách ứng biến của họ.
3.  Cho gián điệp thử xem có trung thành không.
4. Hỏi rõ ràng tường tất để xem đức hạnh thế nào.
5. Lấy của mà thử để xem có thanh liêm không
6. Lấy sắc đẹp mà thử để xem có đứng đắn không.
7. Lấy việc khó khăn mà thử để xem có dũng cảm không.
8. Đem rượu cho họ uống say để xem có giữ được thái độ không.

Tướng ngu có tám điều tệ:

1. Lòng tham mà không chán
2. Ghen người hiền, ghét người tài
3. Tin lời dèm pha, thích lời nịnh hót
4. Xét người mà không xét mình
5. Do dự không quả quyết
6. Say đắm rượu và sắc đẹp
7. Thích xảo trá mà lòng nhút nhát
8. Nói lời viễn vông mà không giữ lễ

Gia Cát Lượng sách Tướng Uyển chỉ bảy phép biết người.

Biết tính tình của người, chẳng gì khó bằng xem xét, lành dữ tuy khác nhau, tính tình và vẻ mặt chẳng phải một: có kẻ thì ôn hoà, hiền lành nhưng làm việc trộm cắp;có kẻ bề ngoài thì cung kính nhưng trong bụng thì vô lễ, dối trá; có kẻ bề ngoài thì mạnh dạn nhưng trong bụng thì khiếp sợ;có kẻ làm việc tận lực nhưng bụng không trung thành;

Bảy phép sau đây để biết người

1. Hỏi việc phải trái để dò chí hướng;
2. Lấy lời cật vấn để biết ứng biến;
3. Đem mưu kế hỏi để lường kiến thức;
4. Giao chuyện hiểm nguy để soi dũng cảm;
5. Mời rượu cho uống say để xét tính tình;
6. Đưa lợi gái thử để rõ thanh liêm chính trực;
7. Đem việc cậy nhờ để xét sự trung thành, tin thật.

Tám hạng tướng và bậc đại tướng

Nhân tướng là người dùng đức để đem đường cho người, dùng lễ để xếp việc cho họ, hiểu thấu sự đói rét của người dưới, biết rõ khó nhọc của đồng sự, đó là nhân tướng.

Nghĩa tướng là người làm việc không cẩu thả, thấy lợi mà không tham, biết chết vinh hơn sống nhục.

Lễ tướng là người có địa vị cao quý mà không kiêu căng, công hơn người mà không cậy, tài năng mà biết hạ mình, cứng cỏi mà biết nhẫn nhịn.

Trí tướng là người gặp biến bất ngờ mà chí không đổi, ứng phó linh hoạt với việc khó khăn, có thể đổi họa thành phúc, gặp cơn nguy biến mà sắp đặt thành thắng thế.

Tín tướng là người thưởng phạt nghiêm minh công bằng, khen thưởng không chậm trễ và không bỏ sót, trừng phạt không buông tha cho kẻ cao quý.

Bộ tướng thủ hạ của đại tướng phải chọn người tay chân lẹ làng, võ nghệ tuyệt luân,  giỏi đánh gần, ứng biến di chuyển mau lẹ, để bảo vệ an toàn cao nhất cho chủ soái.


Kỵ tướng là người có thể vượt núi non cheo leo, từng trải việc nguy hiểm, cưỡi ngựa bắn tên mau lẹ như chim bay, tới thì đi trước, lui thì về sau.


Mãnh tướng là người khí thế vượt hẳn ba quân, dám coi thường địch mạnh, gặp đánh nhỏ vẫn luôn cẩn trọng, gặp đánh lớn thì can đảm quả quyết.

Bậc đại tướng là người bao trùm và vượt hẳn tám hạng tướng kể trên, gặp hiền tài thì tôn trọng lắng nghe, biết tỏ ý mình không theo kịp người, biết nghe lời can ngăn như thuận theo dòng nước, lòng rộng rãi nhưng chí cương quyết, giản dị và nhiều mưu kế.”

Ôi. Soi gương kim cổ, lắng nghe cuộc sống, để biết sửa mình.

Piero della Francesca- Legend of the True Cross - the Queen of Sheba Meeting with Solomon; detail.JPG

VUA SOLOMON VÀ SÁCH KHÔN NGOAN

Vua Solomon (khoảng năm 965-928 trước công nguyên) là vị quân vương xuất sắc của Vương quốc Israel thống nhất , ông là chính trị gia, nhà cầm binh lỗi lạc, đồng thời cũng là con người khôn ngoan và nhà hiền triết. Ông có một số lượng tài sản khổng lồ và được coi là người giàu nhất lịch sử nhân loại. Thời gian ông trị vì là thời gian cực thịnh của vương quốc Israel:  áp dụng chính sách đối ngoại kết thân với các nước láng giềng nhằm phát triển về kinh tếthương nghiệp, về đối nội thì củng cố chế độ phong kiến tập quyền, tăng cường tổ chức và phát triển quân đội, cải cách hành chính. Ông đã cho xây nhiều đền đài và lăng tẩm là những công trình kiến trúc tuyệt mỹ, di sản nghệ thuật quý báu để lại cho  đời sau. (Hình trên là vua Solomon và nữ hoàng Sheba).

Vương quốc Israel (thống nhất) theo sách Thẩm phán, trước đó các chi tộc Israel sống cùng nhau tạo thành một  liên minh dưới sự lãnh đạo của các đời thẩm phán.  Abimelech là thẩm phán đầu tiên được tuyên bố là vua bởi dân thành Shechem và nhà Millo và cai quản Israel trong 3 năm trước khi mất mạng tại trận Thebez. Khoảng năm 1020 Trước Công Nguyên,  các chi tộc Israel đã hợp nhất để hình thành vương quốc Israel thống nhất chống lại sự đe dọa củ ngoại bang. Ngôn sứ Samuel đã tấn phong Saul thuộc chi tộc Benjamin làm vua năm 1026 TCN. Vua David là vị vua kế nhiệm tiếp đó của Israel và là người đã tạo nên một vương triều mạnh mẽ trong thời gian 1009-1000 TCN. Vua David đã chọn Jerusalem làm kinh thành vào năm 1006 TCN [1]. Trước đó, kinh đô của vương quốc là Hebron, Mahanaim và Gibeah là kinh đô đầu tiên.
Vua Solomon là vị vua kế nhiệm. Thân phụ là vua David và mẹ là nữ hoàng Sheba.Vua  Solomon sinh năm  khoảng 1011 TCN tại Jerusalem và mất năm  khoảng 931 TCN tại Jerusalem. Sau khi vua Solomon mất, khoảng năm 930 TCN, vương quốc Israel thống nhất bị tan rã do 9 chi tộc phương Bắc không công nhận Rehoboam, thuộc nhà David của chi tộc Judah ở phía Nam làm vua. Các chi tộc này hình thành nên Vương quốc Samaria ở phía Bắc. Còn lại, chi tộc Judah và chi tộc Benjamin  vẫn trung thành với Nhà David và tạo thành Vương quốc Judah ở phía Nam.Thời kỳ vua Solomon trị vì được coi là “thời đại hoàng kim của đất nước Israel thống nhất  trong lịch sử dân tộc Do Thái.  Vua Solomon được coi  là một vị quân vương anh hùng, và hình tượng của ông có ảnh hưởng rất lớn đến nền văn học dân tộc Do Thái ở hậu thế.
Những người đương thời  rất thán phục trí tuệ sắc sảo, các phán đoán độc đáo và sự khôn ngoan của vua Solomon. Sách Khôn Ngoan là cuốn sách ra đời muộn nhất trong số các sách của Cựu Ước.  Sách được biên soạn bằng tiếng Hy Lạp vào thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên.  Theo truyền thống, vua Solomon  là tác giả của phần lớn tác phẩm trong bộ sách quý này gồm các sách Châm ngôn (915 bài thơ), sách Giảng viên và sách Diễm ca
Sách Khôn Ngoan (Trí tuệ – The Wisdom of Solomon), những phần còn lại trong cuốn sách trên, được cho là của một người Do Thái khuyết danh sống ở Alexandria nhưng lại đặt sách này dưới danh nghĩa và sự bảo trợ của vua Solomon, mượn thế giá của vua này để nói. Thời đó, người Do Thái bị người dân ngoại đạo ngược đãi và lôi kéo theo ngoại giáo. Tác giả viết sách này để giúp họ khôn ngoan hiểu biết về đạo mình và kiên trì trong đức tin. Theo quan điểm người viết, ông cho rằng sự khôn ngoan đích thực chỉ xuất phát từ Thiên Chúa khiến cho ai có được nó đều hạnh phúc, nhưng để có được khôn ngoan thì phải cầu nguyện. Wikiquote có sưu tập danh ngôn về vua Solomon . Những câu trích dẫn dưới đây là lời vàng rút trong Sách Khôn Ngoan (The Wisdom of Solomon). Bạn đọc chiêm nghiêm để rút ra những ẩn ý khôn ngoan trong từng lời khuyên.

Solomon2

  • Hãy làm việc thiện, mọi thứ sẽ tốt đẹp.
  • Đừng ca ngợi ngày mai vì không biết cái gì sẽ đến.
  • Nghèo mà thanh thản hơn là giàu mà luôn lo âu.
  • Người phụ nữ khôn ngoan biết thu xếp gia đình của mình, còn người phụ nữ ngu dốt thì phá hủy nó bằng cái miệng và đôi bàn tay.
  • Ai thích lời khuyên là người thông minh, ai ghét minh bạch là kẻ ngu dốt.
  • Của cải không giúp ích gì lúc giận dữ, nhưng sự thật có thể cứu thoát khỏi cái chết.
  • Tự kiêu thường phải hổ thẹn, sáng suốt là biết khiêm tốn.
  • Kẻ lắm mồm thì khó tránh tai họa, người kín đáo là khôn ngoan.
  • Điều quan trọng nhất là biết khôn ngoan.
  • Ai biết giữ mồm miệng thì giữ được tâm hồn của mình.
  • Người khôn tránh họa, kẻ ngu chui vào.
  • Mọi điều đều sắc sắc không không.

Chuyện về vua Solomon có nhiều nhưng để dễ nhớ xin kể câu chuyện “Vua Solomon xử kiện”: Hai người phụ nữ kéo nhau lên kiện với vua Solomon, họ giành nhau quyền sở hữu một đứa trẻ. Không ai chịu nhường ai. Hại phe cũng không ai nhường ai. “Mọi người lui xuống chỉ đứa trẻ và hai người phụ nữ này đứng lại“. Vua phán. “Hai người giành nhau đi. Ai thắng là được“. Hai bà phụ nữ lăn xả vào giành giật. Đứa trẻ khóc thét lên vì đau. Một phụ nữ buông tay và bật khóc. Vua xử: “Hãy giao đứa trẻ cho người phụ nữ này. Chỉ có người mẹ thật mới không để con chết, bất kể là thua hay thắng”.

Sách Khôn ngoan có nhiều chuyện lạ và từ đó cho đến nay có nhiều dị bản khi kể lại những câu chuyện cổ trong sách này, ví như chuyện dưới đây: Có một người nổi tiếng thông minh thường được ca ngợi là học vấn sâu rộng. Một ngày nọ, anh ta có dịp thăm Trung Đông, liền tìm đến một lâu đài cổ tìm một vị Do Thái giáo để trà đạo và xin được học hỏi thêm. Vị giáo sĩ rót trà vào tách và hỏi: “Hai người đàn ông cùng leo ra khỏi một ống khói, một người mặt mũi sạch sẽ còn một người lại nhem nhuốc, dính đầy muội than. Ai sẽ là người đi rửa mặt?

Anh ta liền đáp:
Người mặt bẩn sẽ đi rửa mặt!

Vị giáo sĩ trả lời: – Sai rồi. Người mặt sạch sẽ đi rửa mặt. Người mặt bẩn nhìn thấy người mặt sạch nên nghĩ mặt mình cũng sạch. Người mặt sạch nhìn người mặt bẩn nghĩ rằng mặt mình cũng bẩn nên anh ta đi rửa mặt.

Anh chàng há miệng ngạc nhiên, xin thêm một câu hỏi nữa. Vị giáo sĩ thủng thẳng đưa ra câu hỏi y hệt ban đầu. Lần này, anh ta trả lời:

Không phải là người vừa mới nói người mặt sạch đi rửa mặt đấy sao?

Giáo sĩ cười rồi đáp: – Cả hai cùng đi rửa mặt. Người mặt sạch nhìn thấy người mặt bẩn, nghĩ mặt mình cũng bẩn nên đi rửa mặt. Sau đó người mặt bẩn thấy người mặt sạch đi, cũng liền đi theo. Sự thông tuệ của sách Khôn ngoan là ở đấy.

Anh chàng không biết nói sao nữa, bèn năn nỉ xin giảng giải tiếp. Vị giáo sĩ vẫn chỉ hỏi lại câu hỏi ban đầu.

Trời ơi, rõ ràng nói hai người cùng đi rửa mặt mà!  anh thanh niên nói.

Giáo sĩ lại lắc đầu, đáp: – Vẫn chưa đúng. Chẳng ai trong số họ đi rửa mặt cả. Người mặt bẩn nhìn thấy người mặt sạch nên anh ta cũng nghĩ mình không bị nhem nhuốc, nên không đi rửa mặt. Còn người mặt sạch thấy người mặt bẩn không rửa mặt thế thì mình cũng cần gì phải rửa nữa.

Anh chàng không còn tin vào tai mình nữa. Tất cả câu trả lời của anh ta đều sai. Anh ta bèn năn nỉ vị giáo sĩ giảng giải thêm chút nữa.

Vị giáo sĩ đồng ý và vẫn chỉ hỏi câu hỏi y hệt như cũ. Anh chàng tuyệt vọng gào lên:

Không ai đi rửa mặt cả! Thầy vừa nói thế rồi mà!

Vị giáo sĩ cười ha hả đáp lời: – Đây là một câu hỏi vô nghĩa, chẳng có lý gì khi hai người cùng chui ra từ một ống khói, lại có người dính bẩn, người sạch sẽ cả!

Đọc sách Khôn ngoan là phải đọc giữa hai dòng chữ.

Vua Solomon và sách khôn ngoan là tinh hoa trí tuệ Do Thái.

VÕ NGUYÊN GIÁP VỊ TƯỚNG CỦA LÒNG DÂN

Võ Nguyên Giáp 103 mùa xuân huyền thoại, vị tướng của lòng dân, còn mãi với non sông. Người dĩ công vi thượng, biết người biết mình, dám đánh và biết đánh thắng, là nhà chỉ huy quân sự thiên tài và hoạt động chính trị lỗi lạc bên cạnh chủ tịch Hồ Chí Minh. Hiếm có vĩ nhân nào văn võ song toàn được lòng dân ngưỡng mộ kính trọng đến thế. Tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của đại tướng Võ Nguyên Giáp, tôi tập hợp thành chín tư liệu đăng rãi rác trên Danh nhân Việt để thỉnh thoảng đọc lại.

1) Nhân cách lớn của đại tướng Võ Nguyên Giáp
2) Tướng Giáp trí tuệ bậc Thầy
3) Võ Nguyên Giáp sao sáng trời Nam
4) Võ Nguyên Giáp vị nhân tướng khuyến học
5) Võ Nguyên Giáp thiên tài quân sự
6) Đại tướng Võ Nguyên Giáp chân dung một huyền thoại
7) Võ Nguyên Giáp đọc lại và suy ngẫm
8) Đọc lại và suy ngẫm Tết Mậu Thân 1968
9) Võ Nguyên Giáp vị tướng của lòng dân

Trí tuệ bậc Thầy, đọc lại và suy ngẫm.

BÀI HỌC CUỘC SỐNG CỦA THẦY QUYỀN

Bài học cuộc sống thấm thía nhất thường là bài học đời người do chính mình trãi nghiệm. Giáo sư Mai Văn Quyền người thầy nghề nông nói với tôi; “Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trước đây đã nói và nay thiền sư Lý Hồng Chí (trong Chuyển pháp luân) đã nhắc lại: Bất thất giã bất đắc, đắc tựu đắc thất. Nghĩa là ở đời người ta nếu không mất gì cả thì cũng không thu được gì cà, hay có được thì phải có mất.  Nghĩ lại suốt cuộc đời Thầy đã mất nhiều công tu luyện nên cũng được bù đắp lại khá xứng đáng, đó là Thầy được học hành tử tế so với nhiều người bạn cùng tuổi do phải tham gia trực tiếp trong 2 cuộc kháng chiến mà nhiều bạn đã hy sinh xương máu, hy sinh gia đình vợ con, hay có bạn còn sống nhưng trên thân mình còn mang đầy thương tật, hoặc con cái bị nhiễm chất độc da cam đang sống như thân tàn ma dại. Như vậy họ mất lớn hơn là được. Còn Thầy cũng có những cái mất mà đáng lẽ không mất. Ví dụ nhường suất lương cho người khác để 14 năm sau mới được lên 1 bậc lương hay khi được chuẩn bị cho làm chức Viện trưởng, Thầy lại tự gạch tên mình khỏi danh sách (thầy Nguyễn Công Tạn hay thầy Ngô Thế Dân đã có ý định sẵn, chỉ cần Thầy im lặng là được). Nhưng những cái mất đấy là Thầy tự nguyện để mất, chứ không phải vì tranh đấu không được mà bị mất. Kể như vậy cũng phù hợp với câu nói của Phật ở trên, Thầy mất để sức khoẻ của Thầy được cải thiện tốt hơn Thầy có thể sống tốt hơn, vợ con Thầy cũng được sống yên lành hơn. Nếu Thầy muốn được vẹn tròn có khi lại bị mất cũng đau đớn. Nghĩ được như vậy là Thầy thấy lòng mình thanh thản. Ngoài ra cái được Thầy đang có còn to lớn hơn cái mất đó là tình thương, sự đồng cảm của rất nhiều người, từ bạn học, bạn công tác, đồng nghiệp hay học trò và ngay cả những người ngoài đơn vị, chỉ đôi lần quan hệ công tác cũng dành cho Thầy những tình cảm chân thành. Không ít người có nhiều tiền của hơn nhưng lại không có được tình cảm người khác dành cho như Thầy. Thiết nghĩ đó là cái được mà Thầy đã thu được nhiều hơn là cái mất. Vì ở đời,T rời không cho ai tất cả, và Trời cũng không lấy đi của ai tất cả. Đó cũng là triết lý của cuộc sống. Nghĩ như vậy nên khi còn có sức khỏe ( do dày công tự luyện tập) mà Công Ty Cổ phần phân bón Bình điền hay các đơn vị khác còn cần đến Thầy, nên Thầy vẫn tiếp tục cùng chung sức với các bạn trẻ để chuyển giao những tiến bộ khoa học mới nhằm góp phần nhỏ bè của mình giúp nông dân vượt qua điều kiện khí hậu đang ngày càng biến đổi phức tạp để hội nhập với nông dân các nước trong khu vực và thế giới”.

Được mất đời người lời bình thật chí tình. Minh triết sống thung dung phúc hậu.

Hoàng Kim

Xem thêm

NGUỒN GỐC VÀ NĂM XUẤT HIỆN CỦA VĂN BẢN “BINH THƯ YẾU LƯỢC”

Văn Nghệ Xứ Đoài 16/03/2014 (*)

Bìa sách
Bìa sách “Binh thư yếu lược phụ Hổ trướng khu cơ”

Văn bản Binh thư yếu lược (viết tắt: BTYL) chúng tôi nói đến trong bài này là bộ sách chữ Hán chép tay gồm 4 quyển đóng làm 2 tập, cộng 410 tờ (26x15cm, ký hiệu A.476/1-2 lưu tàng từ trước ở Thư viện Viện Viễn Đông Bác cổ, hiện nay do Viện Nghiên cứu Hán Nôm quản lý, sách này là bản chính của một dịch phẩm do Nxb. KHXH xuất bản tại Hà Nội vào các năm 1970 và 1977 (1). Ở Sài Gòn cũng có bản dịch BTYL do Nhà Khai Trí xuất bản (2).

Do trong sách có những chỗ nói đến tướng nhà Minh Mộc Thạch, Liễu Thăng, vua Lê, Nguyễn Huệ (Bd, tr. 232, 213, 245) v.v cho nên rõ ràng không thể coi bản BTYL hiện có là di tác của Trần Hưng Đạo được. Tuy vậy, Lời giới thiệu và Thuyết minh bản dịch của cả 2 lần xuất bản, ở mức độ dè dặt, vẫn kết luận rằng: “BTYL của Trần Quốc Tuấn đến đầu thế kỷ XIX đã được một nho sĩ am hiểu quân sự, yêu khoa học quân sự, sửa chữa và bổ sung nhiều” (tr.8), hoặc cho đó “là một bộ sách được biên soạn theo một phương pháp thời Trần (có thể đặc biệt là Hưng Đạo vương), thời Lê, thời Nguyễn tiếp tục nhau mà biên soạn” (tr.27). Vậy sự thực về văn bản BTYL ra sao? Chúng tôi nghĩ rằng vấn đề này cần được nghiên cứu để có thể nhận định tương đối chính xác giá trị văn bản, từ đó mới tránh được những suy diễn sai lầm, như từng có ý kiến dựa vào BTYL để mô tả cơ cấu Bộ tư lệnh và hệ thống quân đội đời Trần, cùng những vũ khí binh cụ của thời kỳ ấy v.v.(3).

1. Hai đầu mối: “Kỷ sự tân biên” và “Kim thang thập nhị trù”

Để giải đáp vấn đề nói trên, chúng tôi đã tìm đọc những sách Hán Nôm Trung Quốc cổ liên quan thuộc môn loại quân sự học. Nhưng đầu mối thực sự chỉ bắt đầu từ cuốn Kỷ sự tân biên: Sách chữ Hán do nhà tàng bản Trí Trung Đường, khắc in tại Hà Nội mùa hè năm Tự Đức Kỷ Tỵ (1869). Đầu sách có bài Tựa của Đặng Huy Trứ tước Hoàng Trung Tử, một sĩ phu yêu nước trước sau thuộc phái chủ chiến, khi ấy ông giữ chức Khâm phái Thượng biện Hà Nội tỉnh vụ. Đại ý bài Tựa nói: Mùa xuân năm Kỷ Mùi (1859) ông làm Tri huyện Thọ Xương (Hà Nội) gặp lúc Phú Lãng Sa (chỉ quân Pháp) gây sự ở Đà Nẵng, trong lòng phẫn uất muốn quét sách đi. Vì vậy ông muốn rộng tìm loại sách binh thư để phòng khi dùng đến nhưng tìm kiếm chưa được. Sau gặp Tú tài Lương Mộng Thiều người làng Phượng Lịch, huyện Hoằng Hóa (Thanh Hóa) bấy giờ đang làm Huấn đạo huyện Nông Cống, trong khi trò chuyện bàn đến môn học của binh gia, Lượng Mộng Thiều nhân đó đưa cho ông tập Kỷ sự tân biên (viết tắt: KSTB) do thân phụ đã quá cố của ông là Thận Trai tiên sinh soạn ra. Ông nhận sách đó mà đọc, hơn một tháng trời, bỏ sách xuống mà than rằng: “Tiên sinh là một trong Tứ hổ ở đất Thanh Hóa. Ông nghiên cứu thiên văn, địa lý, luật lịch, binh thư, bản đồ núi sông, không môn nào không học tới, mà soạn thuật ra chỉ một sách này. Cái chí của tiên sinh có lẽ cũng là lo trước cái lo của thiên hạ chăng?”. Đoạn sau tác giả bài Tựa cho biết: Ông trước đã biên tập sách Vũ kinh trích chú lại vừa cho khắc in sách Kim thang tá trợ, nay cho khắc ván in sách này để công bố với các bạn đồng chí, khiến cho cái học của Thận Trai tiên sinh đã không thi hành được ở đương thời thì sách của tiên sinh được truyền lại cho hậu thế. Tiếp theo là bàn Dẫn do con rể của Thận Trai là Cử nhân Đỗ Xuân Cát, tự Bá Trinh viết năm Thiệu Trị Bính ngọ (1846) cho biết: Thận Trai là tên hiệu của Lương Huy Bích tự Huyền Chương, người đời cuối Lê, thời Tây Sơn ở nhà dạy học đời Nguyễn có chiếu của Minh Mệnh triệu vào kinh nhưng cáo bệnh không đi, được ban tước Hàn lâm đãi chiếu, tước Ngô Giang Tử. Sau khi ông mất, con trai là Khanh và Huyền sợ để lâu ngày di thảo mai một, bèn đưa cho anh rể là Đỗ Xuân Cát hiệu đính. Tờ đầu sách đề: “Cổ Ái Lương Huy Bích Huyền Chương Phủ soạn định, năm Huy Khanh Mộng Thiều, tế Đỗ Xuân Cát Bá Trinh biên tập, Hậu học Đặng Huy Trứ Hoàng Trung hiệu chính. Sách gồm 5 quyển đóng làm 1 tập, cộng 202 tờ (25x15cm) ký hiệu ở Thư viện Viện Hán Nôm: A. 684. Phương pháp làm sách đại thể là dẫn đầu mỗi chương mục đều có lời dẫn giải bình luận về chủ đề bàn đến, sau đó dẫn ý kiến của các nhà quân sự học Trung Quốc thời cổ, trích trong các sách binh pháp của Tôn Vũ, Ngô Khôi Hoàng Thạch Công, Lý Vệ Công v.v. tức là những sách thuộc hệ thống Vũ kinh thất thư được ban định năm Nguyên Phong (1078 – 1086) đời Tống. Ngoài ra còn trích dẫn các sách khác như Hổ kiềm tinh của Hứa Động đời Tống, Kỷ hiệu tân thư của Thích Kế Quang đời Minh v.v.

Đối chiếu KSTB với BTYT chúng tôi thấy có một khối lượng đáng kể các thoại (4) giống nhau khá có hệ thống, như ở chương Hành quân (BTYL, T.1, 159/ Bd. tr.118-122) tiến phát giống với 16 điều ở mục Độ hiểm (vượt nơi hiểm yếu) trong KSTB (Q.3, tờ 10- 12b); BTYL (T.1, tr.167/ Bd. tr.125) chép riêng một mục Độ hiểm pháp chỉ gồm 1 thoại ở KSTB trích theo Liên châu hành doanh đảo quyên đồ. Ở chương Đồn trú, BTYL (T.1, 199/Bản diễn ca, tr.146-148) chép 12 quy định về việc đóng trại lần lượt tương ứng với các điều 5-7, 9-10, 13, 15-19 (cộng 12 điều) trong số 25 điều ở mục Thủ dinh ước thúc ở KSTB (Q.2, tờ 19-23) v.v. Các chương sau như Dạ doanh (phép đóng trại ban đêm). Ám doanh (đóng trại bí mật), Thại lương (chuyển lương) v.v cũng có nhiều thoại tương đồng giữa KSTB và BYTL.

Theo ý của bài Tựa, chúng tôi tìm đọc Kim thang tá trợ. Tên sách in ngoài bìa là Kim thang thập nhị trù (viết tắt KTTNT), nhưng tên đầy đủ là Kim thang tá trợ thập nhị trù. Sách cũng do Đặng Huy Trứ giao cho nhà Trí Trung Đường khắc in năm Tự Đức Kỷ Tỵ (1869), in vào mùa xuân, sớm hơn mấy tháng so với KSTB. Toàn bộ gồm 12 quyển đóng làm 3 tập, cộng 451 tờ (26×16), ký hiệu ở Thư viện Viện Hán Nôm: AC.202/1-3. Sách của soạn giả Trung Quốc là Lý Bàn tự Tiên Hữu, có bài Dẫn của Hùng Ứng Cưu và bài Tựa của soạn giả. Tiếp theo là Tựa của Đặng Huy Trứ cho biết ông nhận được sách này do người quen là Dương Tuệ Khanh tặng nhân khi ông đi công cán ở Quảng Đông năm Mậu Thìn (1868). Ông nhận thấy so với Vũ kinh trích chú KSTB thì sách này đặc biệt giản yếu dễ hiểu, đúng là của báu của nhà tướng. Vì vậy, ông ngày đêm khảo đính để khắc ván ấn hành. Như vậy là cùng trong năm Kỷ Tị (1869), nghĩa là chưa đầy 2 năm sau khi thực dân Pháp thôn tính nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ và đang ráo riết chuẩn bị đánh ra Bắc Kỳ, Đặng Huy Trứ đã cho in 2 bộ binh thư khá có giá trị. Có lẽ đó là một trong những cách trả lời tốt nhất của một nhà nho trước nạn ngoại xâm đang đe dọa vận mệnh của đất nước.

Đối chiếu KSTB với KTTNT chúng ta dễ nhận ra có sự tương đồng ở một số chương mục, điều đó có thể hiểu được vì cả 2 sách đều thoát cảo từ Đặng Huy Trứ. Mà liên quan tới văn bản BTYL thì ở KTTNT còn ở mức độ nhiều hơn, như ở các mục thuộc chương Thủy chiến:Thuyền máy thần phi, thuyền mẹ con, thuyền liên hoàn, bè gỗ, áo lội nước (phi ba giáp), ngựa nước (thủy mã) v.v… BTYL, 2-261/Bd tr. 271-281; KTTNT. Q11, tờ 12-32b) (xem thêm ở mục sau).

2. Binh thư Yếu lược với Kim thang thập nhị trù 
Mở rộng việc tìm kiếm xuất xứ các thoại trong BTYL chúng tôi tìm đến nguyên thư của tác phẩm được trích dẫn… Nói chung, những thoại nào có xuất xứ ở binh thư Trung Quốc, từ Tôn Tử (của Tôn Vũ). Ngô Tử (của Ngô Khởi), Lục thao, Tư Mã pháp, Tam lược, Uất Liệu Tử, Lý Vệ công vấn đôi (của Lý Tĩnh, cũng gọi là Vệ Công binh pháp), Hồ kiềm kinh (của Hứa Động), Kinh thể bát loại toàn biên (của Trần Nhân Tích), Vũ kinh tổng yếu (của nhóm Tăng Công Lượng). Kỷ hiệu tân thư (của Thích Kê Quang) v.v.. đều tìm được xuất xứ chính xác, chủ yếu dựa theo 2 bộ tùng thư Vũ kinh tổng yếu (P.1121) ở thư viện Viện Thông tin KHXH hoặc các sách riêng biệt (đơn hành ban) hiện có ở Thư viện Quốc gia.

Kết quả đối chiếu làm xuất hiện mấy điều đáng lưu ý sau đây:

a. Trong BTYL có 5 thoại ghi là trích sách Bảo giám (Bd, tr 39, 54, 55, 168) trong đó 2 thoại ở tr.54 và 168 (Bd) là của Tôn tử, còn 3 thoại khác là trích theo Vũ kinh tổng yếu.
Như vậy tại sao người làm sách BTYL lại không ghi xuất xứ ở sáchTôn Tử hoặc Vũ kinh (tức Vũ kinh tổng yếu) như nhiều trường hợp khác trong sách đã ghi? Xuất xứ thì tác giả có thể quên hoặc chép sót, nhưng tại sao lại ghi là Bảo giám? Qua tra cứu có thể khẳng định không có binh thư nào có tên chính hoặc tên gọi tắt là Bảo giám, cũng không thấy tên sách nào (Người dịch bản Nxb KHXH cũng đã từng ghi “Chúng tôi không tìm ra sách Bảo giám”, Bd, tr.39). Phải chăng người làm sách BTYL đã vô tình hay hữu ý đưa ra một tên sách mơ hồ? Điều đó có thể còn liên quan đến một tên sách mơ hồ khác sau đây:

b. Trong BTYL có 4 thoại ghi xuất xứ ở sách Binh lược (Bd, tr.65, 88, 213, 245). Cả 4 thoại này đều liên quan đến các sự việc của Việt Nam, không có xuất xứ nhiều tầng bậc trong các binh thư Trung Quốc. Những thông tin quá khứ không cho chúng ta biết sách nào gọi là Binh lược, mà tên sách gần giống với nó là Binh thư yếu lược thì chúng ta chỉ được biết đó là tên tác phẩm của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đời Trần và tên của bản chép BTYL hiện hành mà thôi.

Thoại ở tr.65 (Bd) có liên hệ một câu: “Liễu Thăng vào nước Nam ta vì chí kiêu mà đổ quân mất mạng”. Thoại ở tr.213 (Bd) nói đến quân năm Giáp Ngọ (chỉ quân Trịnh), quân năm Bính Ngọ (1786, chỉ quân Tây Sơn), và quân Bắc năm Kỷ Dậu (1789, chỉ quân Thanh) v.v. Thoại tr. 245 nói việc Nguyễn Huệ đem thủy quân đến sông Nhị Hà. Ba thoại này hiển nhiên là bằng chứng tự bác bỏ nguồn gốc tác phẩm đời Trần! Thoại tr.88 (Bd) nói về tên lửa (hỏa tiễn) ở trên đầu có dùng thuốc súng của người Hồi Hồi, lại nói xa xôi đến một thứ tên lửa ở phương Nam. Thoại này ở hầu hết các sách đã nêu trên đều không có, chỉ tìm thấy một xuất xứ duy nhất ở KTTNT (Q.11, tờ 33a). Đó là một dẫn chứng cho thấy có sự liên quan trực tiếp giữa văn bản KTTNT và BTYL.

c. Tiếp tục khảo sát quan hệ giữa KTTNT và BTYL có thể thấy thêm những hiện tượng sau đây:
Chương Thủy chiến trong BTYL bám sát theo mục Phụ khảo Thủy chiến trong KTTNT (Q.11, tờ 12b), sau mục Quạ già nước (Thủy lão nha, BTYL chép nhầm là Thủy nha lão!) đáng lẽ tới các mục: câu liên và một số binh cụ khác, người làm BTYL đã lược bỏ, đặt ra một mục Hỏa công, mở đầu bằng câu: “Đại phàm thủy chiến thường chuyên dùng hỏa công…”, minh họa bằng 4 câu thoại: Chu Du và Lưu Bị đánh Tào Tháo ở Xích Bích, Du Thông Hải đánh Trần Hữu Lượng ở Nam Xương, Âu Dương Ngột làm phản ở Lĩnh Nam (?), Hàn Thế Trung cầm cự với quân Kim ở Hoàng Thiên Đăng (BTYL, 2-217/ Bd, tr. 277 – Bd thay Kim nhân bằng tên vua Kim, và nhầm Hoàng Thiên Đăng là tên người). 3 trong 4 thoại nói trên đều có trong KTTNT (Q.11, tờ 44-45), hợp thành một mục hoàn chỉnh nói về phép hỏa công trong thủy chiến. Có mấy thoại đó minh chứng rồi mới đi đến tiểu kết: “Dĩ thượng thủy chiến nhi chuyên dụng hỏa công giả dã”. Người làm BTYL lấy câu đó đem lên đầu làm thành tên một mục, đổi 2 chữ “Dĩ thượng…” thay bằng “Đại phàm…” và bỏ hai chữ sau (… giả dã). Thêm nữa thoại thứ 3 nói việc Âu Dương Ngột đóng quân ở Nhai khẩu cho chứa các đá vào lồng tre thả xuống sông để chặn thuyền của Chiêu Đạt, xét ra không ăn nhập gì với việc đánh hỏa công. Đúng ra đó là 1 thoại minh họa cho một mục khác “Dùng mưu cắt đường thủy” như đã thấy ở KTTNT (Q.11, tờ 49a).

Lại ở mục Thủy chiến kiêm dùng lục quân (BTYL T.2, tờ 172/Bd tr.279; KTTNT Q.11, tờ 46a) cũng thấy hiện tượng cắt câu nhằm mục như trên. Ở đây, KTTNT dẫn 1 thoại: Lưu Dụ sai quân đâo thủ đi thuyền nhẹ chặn đánh đoàn thuyền lớn của Lự Tuần, một mặt sai quân kỵ và quân bộ đi ở bờ tây để hỗ trợ. Thuyền của Lự Tuần không tiến được, cùng lúc lại bị quân cung nỏ trên bờ bắn xuống…, Lự Tuần cả thua phải chạy sang Giao Châu. Thứ sử Giao Châu là Đỗ Tuệ Độ cho quân bắn tên lửa lông trĩ xuống làm cháy thuyền, giết được Lự Tuần. Do thoại ấy mới có tiểu kết “Dĩ thượng thủy chiến nhi kiêm dụng lực binh giả dã”. BTYL không có thoại ấy (bỏ sót) thì không có nội dung minh họa cho đề mục. Đã vậy lại tiếp theo bằng câu: “Thủy chiến lấy thuận gió là thế”, không ăn nhập gì với đề mục đã nêu. Câu này thực ra là một mục đồng đẳng tiếp theo: “Thủy chiến dĩ thuận phong vi thế” (KTTNT Q.11, tờ 46b), được thuyết minh bằng thoại Vương Lâm nhà Hậu Lương đi đánh quân của nhà Hậu Trần (không có trong BTYL). Còn thoại Vương Tuấn bị quân nước Ngô dùng xích sắt chặn ngang dòng sông, Tuấn biết trước sai dùng bè gỗ đẩy đi trước để phá, BTYL đã chép vào mục “… kim dùng lục quân”, thì lại cính là 1 trong 6 thoại dùng để minh họa cho mục “Dùng mưu cắt đường thủy” (KTTNT, Q.11, tờ 49a) v.v. Sai lầm móc xích như vậy còn kéo dài đến một số mục khác nữa. Đó là bằng chứng cho thấy người làm BTYL đã sử dụng tài liệu ở KTTNT mà vì sơ suất đã để lại những sai lầm.
3. Đầu mút: BTYL và Vũ bị chế thắng chí
Trong BTYL có nhiều thoại trích ở sách Võ bị chế thắng chí (viết tắt VBCTC) (Bd tr.1, 118, 148, 234, 283, 355). Tuy vậy, qua tìm kiếm xuất xứ chúng tôi phát hiện việc trích VBCTC đã diễn ra trên quy mô rộng lớn hơn nhiều. Có thể dẫn hàng loạt thoại mục như sau:
– Hạ doanh trạch địa pháp (chọn đất đóng dinh): BTYL 2-1, Bd, tr. 144-146/ / VBCTC, T.1, Q.3, tờ 58a.
– Dạ doanh (Đóng trại ban đêm) BTYL 1-259; Bd. tr.148-155/ /VBCTC, Q.6, tờ 16a.
– Ám doanh (Đóng trại bí mật): BTYL 1-258, Bd. tr.155-15 // VBCTC, T.1, Q.3, tờ 72b.
– Thủy chiến (phần nói về các đồ dùng trên thuyền) BTYL 2-258, Bd. tr.288-292 // VBCTC, T.4, Q.13, tờ 45b-57b.
– Đánh thành (các binh cụ: thang bay – Sào xa) BTYL, 2-261, Bd. Tr.316-320 // VBCTC, T.2, Q.5, tờ 54-76.
– Giữ thành (các dụng cụ: Cửa treo – giếng khơi) BTYL, 2-389, Bd. tr.365-368 // VBCTC, T.3, Q.10, tờ 19a v.v.

Mặt khác cũng có bằng chứng cho thấy việc trích dẫn các binh thư cổ Trung Quốc trong BTYL không phải trực tiếp từ nguyên thư mà một phần lớn thông qua trung gian VBCTC. Ví dụ: về “quật hào doanh giáp” (phép đào hào đóng trại), theo Vũ binh tổng yếu: “… hào đào xong thì tạm bắc cầu phao, khi gấp rút thì chặt đi ngay, cứ cách 20 bước thì đặt một chiếc lâu” (…đương giới nhị thập bộ trí nhất chiến lâu)… ở ngoài lại đào một hố sập ngựa rộng 25 bước (… ngoại quật hãm mã khanh nhất trùng, khoát nhị thập ngũ bộ) (Tân san Vũ kinh tổng yếu tiền tập, Q.6, tờ 12b – 13a). Thoại này ở KSTB (Q.2, tờ 17a) cũng trích đúng là 20 bước, và hố sập ngựa rộng 25 bước. VBCTC T.1, Q.1, tờ 28 nhầm nhị thập bộ thành nhi thiên bộ (2000 bước), và hố sập ngựa rộng 2 bước. BTYL (1-233) sao chép lại ở VBCTC, rốt cuộc nhầm “nhị thập bộ” thành “nhị thiên bộ” và “nhị thập ngũ bộ” thành “nhị bộ”!

Từ công việc điều tra văn bản trên đây có thể sơ bộ xác lập một lược đồ như sau(5):

1

Theo lược đồ trên đây thì thời điểm xuất hiện văn bản BTYL không thể sớm hơn năm Tự Đức Kỷ Tị (1869) là năm in KTTNT và KSTB, và cũng không thể sớm hơn năm xuất hiện của VBCTC.

Nhưng VBCTC là một bộ sách như thế nào?

Đó là một bộ sách khá dày, toàn bộ gồm 27 quyển, cộng 655 tờ (28×8), đóng làm 7 tập, ký hiệm từ thư viện của VĐBC cũ: AC.597/1-7. Sách chép tay, ở tờ mặt sách đề Trùng khắc Vũ bị chế thắng chí (Hai chữTrùng khắc gợi liên tưởng một bản sao căn cứ theo một bản sách in). Đầu sách chép 1 bài Tựa của Tri phủ (?) Quảng Đông là Dương Bái Úy tự Nông Phủ (Tiến sĩ) đề năm Quý Mão niên hiệu Đạo Quang 23 (1843). Tác giả bài Tựa nói khi ông ta đến Việt Đông (tức Quảng Đông) thấy một hàng sách đang bắt đầu khắc ván in bộ Vũ bị chế thắng chí¸ bèn cầm lấy xem, thì thấy sách này “cũng tựa như một món trong loại sách viết về võ bị” (tự diệc vũ bị chí trung chi nhất luyến). Theo lời thỉnh cầu của nhà hàng, ông bèn viết vài lời đặt lên đầu sách để chất chính cùng các bậc quân tử. Đó là một bài Tựa khiến ta ngạc nhiên nhiều hơn thú vị. Đối với một bộ sách lớn mà ở quyển đầu có ghi rõ là tác phẩm do Mao Nguyên Nghi soạn, hầu hết mọi chương mục đều có một đoạn ngôn luận mở đầu bằng mấy chữ: “Mao Tử viết…” (Thầy Mao nói…), vậy mà việc đề tựa chỉ làm hầu như ngẫu nhiên, không một lời nào nhắc đến Mao Tử. Một điều băn khoăn khác: Quảng Đông là một tỉnh, quan chức đứng đầu tỉnh ấy là chức Tuần phủ, đây lại ghi là “Tri phủ”? Người dịch bản của Nxb KHXH trong khi điểm lướt các bộ binh thư cổ của Trung Quốc có ghi Mao Nguyên Nghi soạn bị chí, 19 quyển; lại có Vũ bị chế thắng chí do học trò của Mao Nguyên Nghi soạn, 31 quyển. Người dịch bản của nhà Khai Trí (Sài Gòn) thì lại kê Võ bị chí của Mao Nguyên Nghi, 240 quyển, mà không nói gì đến VBCTC. Chưa rõ hai dịch giả căn cứ vào đâu để ghi như trên, mà cũng không thấy nói qua điều gì về Mao Nguyên Nghi? Chúng tôi vì chưa đủ tư liệu nên chưa dám tin như vậy. Trong khi nghiên cứu văn bản BTYL lục tìm các binh thư Trung Quốc thì thấy hầu hết các sách liên quan đều có bản in ở Thư viện Viện Thông tin KHXH, các bản hiệu chú xuất bản sau 1949 cũng có khá đủ ở Thư viện Quốc gia, mà riêng VBCTC (hoặc rộng ra là sách của Mao Nguyên Nghi) thì chỉ có 1 bản chép tay AC.597 như đã nói mà thôi. Hai bộ từ điển: Trung Quốc nhân danh đại từ điển (tr.716) và Trung Quốc văn học gia đại từ điển (tr.1266) đều có ghi tiểu sử và tác phẩm của Mao Nguyên Nghi, nhưng không thấy tên sách nào là Vũ bị chí hoặc VBCTC. Sơ đồ của chúng tôi vì vậy tạm thời phải dừng lại với thời điểm xuất hiện bản chép tay VBCTC còn bỏ ngỏ. Tuy vậy, chúng tôi nghĩ đến khả năng bản chép VBCTC là bản sách được chép ra để bán lại cho thư viện của VĐ – BC có nghĩa là phải có sau năm 1900 là năm bộ sưu tập sách Trung Quốc cổ được bắt đầu thực hiện ở thư viện này. Với những dữ kiện như đã trình bày, thời điểm xuất hiện BTYL tất phải lùi muộn có thể đến 1, 2 thập kỷ sau năm nói trên.

Nói tóm lại, qua những cứ liệu trên đây, chúng ta nghĩ rằng có thể đi đến kết luận văn bản Binh thư yếu lược hiện có chẳng những không liên quan gì đến di tác của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, mà cũng không phải là một bộ sách được biên soạn tiếp nối qua các đời Lê – Nguyễn như có ý kiến trước đây đã khẳng định.Ngô Đức ThọCHÚ THÍCH
(1) Binh thư yếu lược. Phụ: Hồ trướng khu cơ Nguyễn Ngọc Tỉnh và Đỗ Mộng Khương dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Văn Tân giới thiệu, Nxb. KHXH. H. in lần thứ 1: 1970, 418 tr; lần thứ 2: 1977, 525 tr. Trong bài này khi dẫn bản dịch (Bd) chúng tôi ghi số tran lần in thứ 2.
(2) Binh thư yếu lược. Nguyễn Phước Hải, Mã Nguyên Lương, Lê Xuân Mai dịch. Sài Gòn Nhà sách Khai Trí, 1969, 162 tr. Bản dịch này chỉ dịch hết quyển 1, và không thấy ghi căn cứ theo bản chữ Hán nào. Nhưng đối chiếu nội dung thì có phần chắc là dịch giả đã sử dụng bản vi phim sao chụp lại bản A.476 từ Viện Viễn đông Bác cổ.
(3) Xem: Quản Hùng – Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo. Sài Gòn, Phương Đông, Số 11, tháng 5-1972, tr.357.
(4) Chúng tôi dùng chữ “thoại” để chỉ đoạn văn gồm một hoặc nhiều câu diễn đạt trọn vẹn một chủ ý của tác giả.
(5) Chúng tôi loại bỏ không thể hiện trong sơ đồ phần nội dung mà người làm ra văn bản BTYL đã lấy từ tác phẩm Hổ trướng khu cơ (của Đào Duy Từ).

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
Phim vua Solomon
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter