Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai

San Vietnam hom nay va ngay mai

Cách mạng sắn Việt Nam đã đạt kỳ tích điểm sáng toàn cầu. Sắn giống tốt cùng với kỹ thuật thâm canh sắn thích hợp, bền vững và thị trường thuận lợi đang là cơ hội thu nhập, sinh kế và việc làm của đông đảo bà con nông dân nghề sắn. Dẫu vậy, sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai cũng đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng. Cây sắn Việt Nam bảo tồn và phát triển bền vững nằm trong điểm nóng thời sự hôm nay khi mà hiểm họa môi trường do biến đổi khí hậu và sự mất rừng, mất biển, khô hạn, ngập lụt vì các dòng sông bị chặn dòng, điều chỉnh dòng đang trở thành những vấn đề đặc biệt cấp thiết ở Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến việc người dân lựa chọn nghề sắn.

KazuoKawano

Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai (Cassava and Vietnam: Now and Then) là những lời phát biểu của giáo sư Kazuo Kawano người Nhật, chuyên gia và bác học sắn hàng đầu thế giới trên đài truyền hình NHK năm 2012. Giáo sư Kazuo Kawano là người bạn lớn của nông dân trồng sắn châu Á và Việt Nam. Ông đã dự báo từ rất sớm rằng sắn Việt Nam chắc chắn sẽ làm nên kỳ tích là điểm sáng sắn toàn cầu vì hội đủ nhiều điều kiện mà trước hết là con người. Đó là phẩm chất năng động cần cù tuyệt vời của người nông dân Việt và đội ngũ cán bộ khoa học nông nghiệp Việt Nam biết yêu quê hương, yêu người, yêu nghề, tâm huyết và dấn thân, biết tổng kết thực tiễn và biết vận dụng sáng tạo tinh hoa khoa học kỹ thuật của dân tộc và thời đại vào điều kiện cụ thể của đất nước mình, để tìm ra con đường sống, bảo tồn và phát triển sắn bền vững.

Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai là sự tiếp nối bài “Cách mạng sắn ở Việt Nam, phần 1: Người lính cây sắn và tuổi thơ“, tiếp nối những suy tư  “Ký ức Tây Nguyên”, “Tây Nguyên kêu cứu”, “Nước mội, rừng xanh và sự sống”. Cây sắn đang cảnh báo: Sắn trước đây là cây chống đói, hôm nay là cây thoát nghèo nhưng ngày mai “được mùa chớ phụ ngô khoai”. Chú trọng năm ưu tiên chiến lược bảo tồn và phát triển sắn bền vững; thực hành mười biện pháp kỹ thuật thâm canh rãi vụ sắn thích hợp bền vững. Dự án làm giàu từ sắn đừng phụ nông dân. Sắn vắt kiệt đất nuôi người thì người phải trả lại màu mỡ cho đất. Sắn trồng trên đất dốc thì phải trồng băng chống xói mòn. Sắn bội thu năng suất, lợi nhuận là để dành đất trồng rừng. Sắn chế biến công nghiệp nhất thiết phải đảm bảo yêu cầu môi trường.


The cassava revolution in Vietnam  (mời đọc phần 1: Cách mạng sắn ở Việt Nam)

Sắn Việt Nam hôm nay thực sự đã làm nên kỳ tích. Năm 2015 diện tích sắn Việt Nam khoảng 560 nghìn ha, năng suất bình quân 19 tấn/ ha, sản lượng 10,5 triệu tấn sắn củ tươi. Diện tích và sản lượng sắn Việt Nam năm 2015 đứng thứ ba sau lúa và ngô, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 1,5 tỷ đô la Mỹ xếp thứ ba sau lúa và cà phê. So với năm 2000, diện tích sắn Việt Nam đạt 237,6 nghìn ha, năng suất bình quân 8,4 tấn/ ha, sản lượng gần 2,0 triệu tấn, thì năng suất sắn năm 2015 đã cao hơn trước gấp hai lần, sản lượng cao hơn gấp năm lần. Cây sắn Việt Nam đã thực sự lợi ích mang lại việc làm và thu nhập cho hàng triệu người của bốn vùng sinh thái ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Duyên hải Trung Bộ, vùng núi và trung du phía Bắc.

Sắn Việt Nam bảo tồn và phát triển bền vững chú trọng nâng cao năng suất, lợi nhuận và hiệu quả kinh tế sản xuất tiêu thụ sắn bền vững đi đôi với bảo vệ môi trường. Năng suất sắn Việt Nam hiện đạt 19 tấn/ ha (cao hơn năng suất sắn của châu Phi, châu Mỹ và bình quân chung của toàn thế giới, nhưng vẫn còn thấp hơn năng suất sắn Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan và năng suất bình quân của sắn châu Á), thấp hơn nhiều so với tiềm năng năng suất sắn và nhiều rủi ro trong sản xuất tiêu thụ sắn. Thách thức lớn nhất của ngành sắn Việt Nam là giá mua bán sắn không ổn định và lệ thuộc rất lớn vào thị trường Trung Quốc. Mỗi năm Việt Nam xuất khẩu trên 3,4 triệu tấn sản phẩm sắn, 90% xuất khẩu qua thị trường Trung Quốc. Nhiễu loạn thời tiết khí hậu nắng hạn toàn cầu đang ảnh hưởng trầm trọng tới nhiều tỉnh của Việt Nam. Trung Quốc nếu phát hành kho dự trữ ngô để củng cố tỷ giá đồng nhân dân tệ và tăng lượng dự trữ đồng đô la Mỹ, bình ổn giá dầu thì thị trường sắn nguy cơ chấn động dữ dội và sụt giảm rất nghiêm trọng, sản xuất tiêu thụ sắn và sinh kế nông dân Việt càng khó khăn hơn.

Định hướng nghiên cứu phát triển sắn Việt Nam với năm ưu tiên chiến lược bảo tồn và phát triển sắn bền vững (Nguyễn Văn Bộ, Hoàng Kim, Lê Quốc Doanh, Trần Ngọc Ngoạn, Bùi Chí Bửu, Rod Lefroy, Lê Huy Hàm, Mai Thành Phụng, Trần Viễn Thông 2013) :

  1. Xác định một chiến lược phù hợp cho nghiên cứu và phát triển sắn trong sự hợp tác chặt chẽ với các nhà máy chế biến sắn để thiết lập các khu vực có nguồn nguyên liệu sắn ổn định; sử dụng sắn làm 4F: sản xuất ethanol sinh học (Fuel), tinh bột sắn (Flour), lương thực thực phẩm chế biến (Food), thức ăn gia súc (Feed);
  2. Lựa chọn và phổ biến các giống sắn năng suất củ cao với hàm lượng tinh bột cao và sức đề kháng cao, ít bị gây hại bởi rệp sáp, bệnh chồi rồng và sâu bệnh khác. Chọn tạo giống sắn năng suất cao chất lượng tốt có nguồn gốc từ các nguyên liệu CIAT và áp dụng lai tạo, đột biến, chuyển gen trong tạo giống sắn. Lựa chọn và phát triển các giống sắn năng suất củ cao, thời gian sinh trưởng phù hợp 8-16 tháng để rãi vụ thu hoạch và nâng cao chất lượng, giá trị dinh dưỡng của củ sắn.
  3. Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật tổng hợp thâm canh rãi vụ sắn và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật canh tác thích hợp cho nông dân để tăng năng suất và hiệu quả kinh tế của sản xuất tinh bột sắn ở các vùng sinh thái khác nhau.
  4. Nghiên cứu phát triển các công nghệ chế biến sắn. Sử dụng lá sắn và củ sắn trong thức ăn chăn nuôi và chế biến thực phẩm. Sử dụng các sản phẩm tinh bột sắn, nước thải và ethanol; chuyển hóa vào thức ăn chăn nuôi và phân bón.
  5. Phát triển thị trường nội địa và xuất khẩu cho các sản phẩm sắn.

Mười biện pháp kỹ thuật thâm canh rãi vụ sắn thích hợp bền vững
(Hoang Kim, Nguyen Thi Truc Mai, Nguyen Bach Mai , Reinhardt Howeler 2014)

1) Sử dụng hom giống sắn tốt nhất của giống sắn thích hợp nhất;

2) Thời gian trồng tốt nhất và thời điểm thu hoạch tối ưu cho năng suất tối đa và kinh tế;

3) Bón phân NPK kết hợp phân hữu cơ vi sinh và phân chuồng để cải thiện độ phì đất và tăng năng suất;

4) Khoảng cách trồng tối ưu cho giống sắn tốt nhất và thích hợp loại đất;

5) Ngăn chặn sâu bệnh hại bằng biệp pháp phòng trừ tổng hợp (IPM);

6) Trồng xen sắn với lạc, cây họ đậu; trồng băng cây đậu phủ đất, luân canh;

7) Dùng thuốc diệt cỏ, dùng tấm phủ đất để kiểm soát cỏ dại kết hợp bón thúc sớm chuyển vụ;

8) Kỹ thuật làm đất trồng sắn thích hợp để kiểm soát xói mòn đất;

9) Phát triển hệ thống quản lý nước cho canh tác sắn;

10) Đào tạo tập huấn bảo tồn phát triển sắn bền vững, sản xuất kết hợp sử dụng sắn.

Thế giới đang đổi thay. Đất nước đang chuyển biến từng ngày. Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai đang đặt ra nhiều vấn đề cần trao đổi và bàn luận .

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn:

CASSAVA AND VIETNAM: NOW AND THEN

Kazuo Kawano

“My ten years of close collaboration with my cassava breeding colleagues in the 1990s and the reunion with them in this trip completely changed my assessment of the Vietnamese. As evidenced by the series of my reporting here, they are industrious, insightful, considerate and indefatigable, as if to emulate General Vo Nguyen Giap.

Throughout my many years of association with Vietnam, I have gotten to know many people, whom I seem to be able to categorize in retrospect. I got my first impression of the Vietnamese from the several Vietnamese trainees staying at the International Rice Research Institute, Los Baños, Philippines in 1963 and it was not particularly a favorable one. They appeared rather uncaring, cynical and apathetic, if not selfish, contemptuous, and corrupt. I may be too harsh and judgmental on them; nevertheless, Halberstam wrote about this type of people belonging to the upper strata of the South Vietnamese society during the same period so vividly and critically in 「The Making of a Quagmire」that my judgment might not have been too far away from the reality.

My ten years of close collaboration with my cassava breeding colleagues in the 1990s and the reunion with them in this trip completely changed my assessment of the Vietnamese. As evidenced by the series of my reporting here, they are industrious, insightful, considerate and indefatigable, as if to emulate General Vo Nguyen Giap. I might be a little too positively partial to those friends of mine. Nevertheless, I have a similar feeling toward some of my colleagues in Rayong, Thailand and Nanning, China to count a few. During the two decades of post-war Japan, we seem to have many Japanese of this category as well.

Then comes the mass of the population who just want tomorrow to be better than today. In this trip, I was deeply impressed and touched in meeting many people who seemed never to doubt tomorrow is better than today. This reminds me of the Japanese during the next two decades of post-war where the majority of the population was seeing a rosy future. Now in Japan, more than 30,000 people commit suicide annually and the main reason for this act is believed to be hopelessness to the present and future. Needless to say, Vietnam is not without problems such as the incompleteness of juridical system or rampant corruption to name some. Yet, the proportion of people feeling happy seems to be far higher in Vietnam than in Japan now. It is fascinating to imagine where these former colleagues of mine would further lead this society to.”

(Trích …)

KK and NHK

KK and NHK

Sach san gui anh Dinh

Bệnh thối củ sắn và cách phòng trừ

PGS. TS. Lê Xuân Đính gọi điện : Hoàng Kim ơi, sắn bị thối củ sắn hiện nay đang gây hại nghiêm trọng tại một số địa phương. Bạn giúp gấp thông tin về bệnh thối củ sắn và biện pháp phòng trừ nhé.

TS. Hoàng Kim trả lời: Anh Đính thân mến! bệnh thối củ sắn và biện pháp phòng trừ xin được trao đổi như sau

Benh thoi cu
Thối củ là bệnh sắn thông dụng ở những vùng đất sét nặng và lượng mưa nhiều. Bệnh thối rễ sắn phổ biến ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh nhưng được tìm thấy chủ yếu ở đất khô hạn có hàm lượng chất hữu cơ cao và trong thời gian mưa nhiều.

Nguyên nhân: Căn bệnh phức tạp này có thể được gây ra bởi một loạt các nấm hoặc vi khuẩn gây bệnh tấn công cây thân gỗ như sắn và nguyên nhân suy thoái gốc, ngay cả lúc sắn sinh trưởng phát triển cho đến sau thu hoạch khi củ sắn được bảo quản. Các bệnh thối rễ phổ biến nhất gây ra bởi một loạt các loài trong chi Phytophthora, đặc biệt là Phytophthora drechsleri. Căn bệnh này có thể tấn công cả cây non và cây trưởng thành, gây héo đột ngột, rụng lá nghiêm trọng và thối nhũn. Rễ nhiễm chảy ra một chất lỏng hăng và chúng phân hủy hoàn toàn.

Cách phòng trừ: Bệnh này kiểm soát tốt nhất bằng cách trồng giống kháng kết hợp với thực hành như sau:

  • Trồng cây trên đất có sa cấu nhẹ tơi xốp, độ sâu vừa phải và thoát nước tốt.
  • Nếu cần thiết, cải thiện hệ thống thoát nước bằng cách sử dụng một máy cày sâu
  • Nếu là đất sét và khá bằng phẳng, sắn cần trồng trên các liếp hoặc luống.
  • Luân canh sắn sang trồng ngũ cốc khi hơn 3% cây sắn có triệu chứng thối rễ.
  • Loại bỏ cây bệnh bằng cách loại bỏ rễ nhiễm ngay trên đồng và đốt chúng đi.
  • Chọn vật liệu cây giống sắn khỏe mạnh từ cây mẹ sạch bệnh.
  • Nếu không có cây giống sắn sạch bệnh có sẵn thì nên xử lý hom giống với một dung dịch 0,3 g hoạt chất metalaxyl / lít hoặc ngâm hom giống trước khi trồng trong nước nóng (49°C) trong 49 phút.
  • Sử dụng kiểm soát sinh học bằng cách dìm hom giống trong một hệ thống treo của Trichoderma harzianum và Trichoderma viride 2,5 x 108 bào tử / lít, tiếp theo là áp dụng hệ thống treo tương tự ở dạng ngâm nước.

Các phương pháp kiểm soát bệnh thối rễ phù hợp hơn cho nông hộ bao gồm:

  • Dùng 200 g/cây hỗn hợp 1:1 của tro và lá khô.
  • Lựa chọn hom giống tốt.
  • Sắn trồng xen với đậu cowpea đậu đen, đậu trắng, đậu đỏ (Vigna unguiculata).

Những kỹ thuật canh tác này loại trừ bệnh thối rễ trong các khu thử nghiệm của nông dân tham gia thực hiện tại khu vực Amazon Colombia nơi thối rễ là vấn đề nghiêm trọng.

Thông tin mời đọc:

Howeler, R.H. and T.M. Aye. 2015.  Người dịch: Hoàng Kim, Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai 2015. Quản bền vững sắn châu Á: Từ nghiên cứu đến thực hành, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam,  Nhà Xuất bảnThông tấn, Hà Nội, Việt Nam. 148 p. (Nguyên tác: Sustainable Management of Cassava in Asia − From Research to Practice. CIAT, Cali, Colombia. 147 p).

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook