Nối nhịp cầu văn hóa Việt

hoangle

MỪNG CON CHÁU NỐI NHỊP CẦU VĂN HÓA

Hoàng Kim

gửi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Lê và…

Thật vui thích trong gia đình hạnh phúc
Cùng cháu con trên biển học tung hoành.
“Nên thơ nên thầy nhờ có học
No ăn no mặc bởi hay làm” (Nguyễn Trãi)

Nhớ Đức Thánh Trần “hịch tướng sĩ văn
Thầy Nguyễn Trãi xưa “quốc âm thi tập
Sấm ký” Trạng Trình với “dưỡng sinh thi
Truyện Kiều” Nguyễn Du lời vàng châu ngọc.

Hãy vươn tới những vì sao hạnh phúc
Thầy cô dạy con, cha mẹ dạy con
Học thầy bạn, tự học trong sách vở
Học trường đời và học ở nhân dân.

Con ơi say mê nhịp cầu văn hóa.
Tiếng Việt ngàn đời lợi khí quốc gia.
“Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm …”
Càng học nhiều càng yêu Tổ quốc ta.

Con hãy thuộc bài thơ hay Tiếng Việt
“Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ.
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa.
Óng tre ngà và mềm mại như tơ”.

Niềm hạnh phúc nối giao lưu văn hóa,
ngôn ngữ, dân ca, ẩm thực, tình yêu.
Bình minh Việt an lành nhờ phước đức.
“Như dòng sông thương mến chảy muôn đời”

(*)Tiếng Việt, thơ Lưu Quang Vũ, những câu in nghiêng,
nghe diễn ngâm video và đọc toàn văn dưới đây.


TIẾNG VIỆT

thơ Lưu Quang Vũ

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.

Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê.

Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa
Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời.

“Ðá cheo leo trâu trèo trâu trượt…”
Ði mòn đàng dứt cỏ đợi người thương
Ðây muối mặn gừng cay lòng khế xót
Ta như chim trong tiếng Việt như rừng.

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ.

Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.

Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy
Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường.

Một đảo nhỏ ngoài khơi nhiều kẻ nhận
Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta
Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất
Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già.

Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng
Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi
Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán
Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời.

Trái đất rộng giàu sang bao thứ tiếng
Cao quý thâm trầm rực rỡ vui tươi
Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người
Như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ.

Buồm lộng sóng xô, mai về trúc nhớ
Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay
Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay
Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt.

Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết
Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi
Như vị muối chung lòng biển mặn
Như dòng sông thương mến chảy muôn đời.

Ai thuở trước nói những lời thứ nhất
Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu
Ðiều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt
Ai người sau nói tiếp những lời yêu?

Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển
Có gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya?
Ai ở phía bên kia cầm súng khác
Cùng tôi trong tiếng Việt quay về.

Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi tiếng Việt xót xa tình

Nguồn: Thi Viện, Đào Trung Kiên dẫn từ
1. Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, NXB Hội nhà văn, 2010
2. Lưu Quang Vũ, thơ tình, NXB Văn học, 2002
3. Lưu Quang Vũ – thơ và đời, NXB Văn hoá – Thông tin, 1999
4. Thơ Việt Nam 1945-1985, NXB Giáo dục, 1985

xem tiếp

Nối nhịp cầu văn hóa Việt

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Vietnamese Dan Bau Music
Vietnam traditional music
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Advertisements

Nối nhịp cầu văn hóa Việt

mungconnoinhipcauvanhoa

MỪNG CON nối nhịp cầu văn hóa Việt, Hoàng Kim gửi Hoàng Tố Nguyên. Con ơi say mê nhịp cầu văn hóa. Tiếng Việt ngàn đời lợi khí quốc gia. “Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm …” Càng học nhiều càng yêu Tổ quốc ta. Con hãy thuộc thơ hay Lưu Quang Vũ, “Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ.  Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa. Óng tre ngà và mềm mại như tơ”. Niềm hạnh phúc nối giao lưu văn hóa, ngôn ngữ, dân ca, ẩm thực, tình yêu. Bình minh Việt an lành nhờ phước đức. “Như dòng sông thương mến chảy muôn đời” ( những từ in nghiêng là thơ Lưu Quang Vũ).


TIẾNG VIỆT

thơ Lưu Quang Vũ

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.

Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê.

Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa
Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời.

“Ðá cheo leo trâu trèo trâu trượt…”
Ði mòn đàng dứt cỏ đợi người thương
Ðây muối mặn gừng cay lòng khế xót
Ta như chim trong tiếng Việt như rừng.

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ.

Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.

Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy
Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường.

Một đảo nhỏ ngoài khơi nhiều kẻ nhận
Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta
Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất
Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già.

Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng
Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi
Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán
Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời.

Trái đất rộng giàu sang bao thứ tiếng
Cao quý thâm trầm rực rỡ vui tươi
Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người
Như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ.

Buồm lộng sóng xô, mai về trúc nhớ
Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay
Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay
Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt.

Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết
Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi
Như vị muối chung lòng biển mặn
Như dòng sông thương mến chảy muôn đời.

Ai thuở trước nói những lời thứ nhất
Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu
Ðiều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt
Ai người sau nói tiếp những lời yêu?

Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển
Có gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya?
Ai ở phía bên kia cầm súng khác
Cùng tôi trong tiếng Việt quay về.

Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi tiếng Việt xót xa tình

Nguồn: Thi Viện, Đào Trung Kiên dẫn từ
1. Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, NXB Hội nhà văn, 2010
2. Lưu Quang Vũ, thơ tình, NXB Văn học, 2002
3. Lưu Quang Vũ – thơ và đời, NXB Văn hoá – Thông tin, 1999
4. Thơ Việt Nam 1945-1985, NXB Giáo dục, 1985

Bài thơ “Tiếng Việt” của Lưu Quang Vũ – bài thơ xứng đáng có mặt trong chương trình ngữ văn phổ thông

Ai đã được tiếp xúc với “Tiếng Việt” của Lưu Quang Vũ dù chỉ một lần đều không dễ quên. Bài thơ được rất nhiều người yêu mến thuộc lòng…

Bên cạnh việc sử dụng tiếng Việt để sáng tạo nên những tác phẩm văn hoá, văn học bất hủ, các nghệ sĩ của chúng ta luôn đến với tiếng nói của dân tộc như một nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn. “Họ (các nhà thơ mới-TQĐ) yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt” (Hoài Thanh). Có lẽ mọi nghệ sĩ đều có tình cảm tương tự đối với tiếng Việt. Đã có nhiều tác phẩm hay viết về tiếng Việt nhưng có một sáng tác đã đem lại cho tôi nhiều điều mới mẻ và xúc động nhất là bài thơ “Tiếng Việt” của nhà thơ, nhà viết kịch tài hoa bạc mệnh Lưu Quang Vũ.

Nhà thơ đã sáng tạo nên một thế giới hình ảnh sinh động, gợi cảm để tái hiện cội nguồn lịch sử tiếng nói dân tộc. Tiếng Việt không phải là một khái niệm trừu tượng mà là tiếng mẹ gọi, tiếng cha dặn, tiếng kéo gỗ, tiếng gọi đò, là câu hát lời ru “rung rinh nhịp đập trái tim”… nghĩa là tất cả những gì gần gũi, thân thiết, máu thịt nhất đối với mỗi người; là thứ tiếng lấm láp giọt mồ hôi mặn chát, những giọt nước mắt cay đắng và cả những tâm tình sâu lắng, ngọt ngào, say đắm. Tiếng Việt là thứ tiếng của Tình yêu và Lao động.

Có thể xem hai câu thơ: “Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa. Óng tre ngà và mềm mại như tơ” là những câu thơ hay nhất của bài thơ. Đó là một sự phát hiện, đúc kết sâu sắc về đặc trưng tiếng nói, bản sắc dân tộc: vừa mộc mạc, chân chất, khoẻ khoắn, vừa mềm mại, dịu dàng, mát mẻ, vừa cứng cỏi lại vừa óng ả, tinh tế, bay bổng…Những hình ảnh “đất cày”, “lụa”, “tre ngà”, “tơ” đều gần gũi, quen thuộc, mang đậm bản sắc dân tộc. Hai câu thơ đẹp, lung linh sắc màu, càng đọc, càng suy ngẫm càng thấy thấm thía, xúc động.

Lưu Quang Vũ đã có những phát hiện mới mẻ về sức mạnh kì diệu của tiếng Việt: là dòng sông chảy muôn đời lưu giữ truyền thống yêu nước, nhân ái của con người Việt Nam, là biển lớn của tinh thần hoà hợp dân tộc. Sức mạnh quân sự của kẻ thù có thể chia cắt đất nước về mặt ranh giới địa lí nhưng không thể chia cắt khối thống nhất vĩ đại của lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ dân tộc. Tiếng Việt trở thành sợi dây nối liền tâm hồn, tư tưởng của mọi thành viên trong cộng đồng cũng như những người con xa xứ, lưu lạc. Từ mối liên hệ với lịch sử, tác giả đã xem tiếng Việt như là một nhân tố tạo nên sự bền vững muôn đời của dân tộc.

Tính nhân dân là hạt nhân tư tưởng của bài thơ. Tác phẩm thấm đẫm cảm xúc kính trọng, tự hào, yêu thương nhân dân. Nhân dân là những người đã lao động, sáng tạo, đã đổ mồ hôi, công sức vun đắp cho tiếng Việt ngày càng giàu đẹp hơn và chịu đựng gian khổ, hi sinh, đổ máu để cho tiếng Việt mãi mãi là tiếng nói của một dân tộc có chủ quyền. Tiếng Việt là thứ tiếng cất lên từ bờ tre, mái rạ, từ trong cuộc sống lam lũ, khổ nghèo của những người kéo gỗ, chèo đò, dệt lụa, lặn ngòi ngoi nước, ăn cầu ngủ quán…trải qua những ngày chia cắt, giặc giã, khói lửa với những nỗ lực, hi sinh âm thầm của bao thế hệ con người.

Điều kì diệu là tiếng Việt sản sinh trong cuộc sống lao động và chiến đấu ấy lại là một thứ tiếng ngọt ngào, đằm thắm, tha thiết, thấm đẫm yêu thương dịu dàng, trong trẻo “như dòng sông thương mến chảy muôn đời”. Suy cho cùng thì vẻ đẹp, sự kì diệu của tiếng Việt cũng là vẻ đẹp, sự kì diệu của tâm hồn nhân dân, dân tộc. Bài thơ cũng phản ánh không khí của một thời, khi mà cả dân tộc đang phải vận dụng, phát huy tất cả nguồn sức mạnh tổng hợp để đối đầu với một kẻ thù hùng mạnh hơn gấp nhiều lần.

“Tiếng Việt” thể hiện những nét đặc sắc trong bút pháp, phong cách nghệ thuật thơ Lưu Quang Vũ. Bài thơ “…đầy ắp hình ảnh, ảnh thực và ảnh ảo, hiện thực và tưởng tượng, sách vở và đời sống hoà quyện thúc đẩy nhau trong các câu thơ dồn dập” (Vũ Quần Phương, Lưu Quang Vũ – thơ và đời, NXB Văn hoá – Thông tin, 1999). Bên cạnh đó, độc giả còn bị chinh phục bởi tính nhạc phong phú, tinh tế. Thể thơ tám chữ với lối gieo vần phóng khoáng và cách ngặt nhịp biến hoá khiến cho bài thơ trở thành một bản nhạc không bao giờ dứt. Nhịp thơ khi trầm lắng, khoan thai, tha thiết, khi sôi nổi, dồn dập, mạnh mẽ…Nội dung tư tưởng lớn lao, sâu sắc được diễn tả bằng một bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tài hoa.

“Tiếng Việt” của Lưu Quang Vũ là một bài thơ hấp dẫn, vừa Đẹp, vừa Hay, có ý nghĩa giáo dục lòng yêu nước, tinh thần dân tộc. Ai đã được tiếp xúc với “Tiếng Việt” của Lưu Quang Vũ thì không dễ quên. Mặc dù bài thơ không có trong chương trình giáo dục phổ thông, song được rất nhiều người yêu mến thuộc lòng.

Qua bài viết nhỏ này, chúng tôi kính mong các nhà quản lí giáo dục, các tác giả biên soạn SGK đưa bài thơ vào chương trình giảng dạy môn Ngữ văn trong trường phổ thông. Như vậy, bài thơ sẽ có sức lan toả mạnh mẽ hơn, trở thành hành trang tinh thần cần thiết, quí giá cho thế hệ trẻ- những chủ nhân tương lai của đất nước. Trong thời đại bùng nổ thông tin và đang có không ít bạn trẻ thờ ơ với những giá trị văn hoá truyền thống, điều này càng có ý nghĩa.

Nguồn: Tạp chí Dạy và học ngày nay, số tháng 7/2008

noinnhipcauvanhoaviet

Người nối nhịp cầu văn hóa cho tiếng Việt

Trong số những học viên tiêu biểu được lựa chọn về nước tham gia Khóa tập huấn giảng dạy tiếng Việt cho giáo viên người Việt Nam ở ngoài nước vừa qua, có một cô giáo rất trẻ trung, xinh đẹp và nhiệt tình trong mọi hoạt động. Đó là cô Nguyễn Thị Ngọc Mai.

Không chỉ làm phiên dịch và giảng dạy tiếng Việt, cô Mai còn thực hiện vai trò tình nguyện viên với các hoạt động giao lưu văn hóa, thuyết minh bằng tiếng Việt cho người Việt đến tham quan và du lịch tại Đài Loan (Trung Quốc), đặc biệt là tại Bảo tàng Đài Loan (số 2 Tương Dương, khu Trung Chính, thành phố Đài Bắc).

Giảng dạy – công việc luôn ấp ủ

Nguyễn Thị Ngọc Mai mới chuyển sang định cư và làm việc tại thành phố Đài Bắc được vài năm. Cô cho biết, giảng dạy tiếng Việt là một trong những điều cô luôn ấp ủ khi có cơ hội sang Đài Loan sinh sống. Hơn nữa, ngôn ngữ tiếng Việt cũng là môn chuyên ngành mà cô đã từng tốt nghiệp Cử nhân Ngữ Văn tại Đại học Cần Thơ.

Uớc muốn của cô Mai đã trở thành hiện thực khi được một cô giáo tiếng Trung giới thiệu vào giảng dạy tiếng Việt trong Trường Tiểu học Đông Hồ từ hai năm trước. Mỗi khi thấy các em chăm chú học tập và nghe truyền đạt, cô cảm nhận rõ niềm hạnh phúc của người giáo viên và cũng như có thêm động lực để chia sẻ nhiều hơn những nét văn hóa truyền thống, nét đẹp về lịch sử, địa lý của Việt Nam.

Cô Nguyễn Thị Ngọc Mai đang thuyết minh cho sinh viên Việt Nam tại Bảo tàng Đài Loan.

Theo cô Mai, nếu nhìn cách phân chia thành phần dân số tại đây theo cách gọi “Dân nguyên trú”, “Tân di dân”, thì kiều bào người Việt Nam cũng được xếp là “Tân di dân” đến định cư trong vòng khoảng 20 năm trở lại đây. Và số lượng con em Việt Nam đông thứ hai sau con em của người Tân di dân đến từ Trung hoa lục địa trên hòn đảo này.

Cô cho biết, đa số thế hệ thứ hai của kiều bào người Việt là các em còn nhỏ từ độ tuổi tiểu học đến trung học phổ thông. Trước kia, bản thân các em chưa chú trọng học ngôn ngữ cũng như ý thức giữ gìn văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, sau khi có chương trình đẩy mạnh giáo dục tiếng mẹ đẻ thì các em đã được tiếp xúc nhiều hơn với văn hóa Việt Nam qua các hoạt động giao lưu văn hóa.

Tuy nhiên, khó khăn nổi bật trong việc giảng dạy tiếng Việt ở đây là rất thiếu giáo viên, đặc biệt là giáo viên có đủ năng lực chuyên môn. Do giáo án cũng đang trong quá trình từng bước biên soạn và dạy thí điểm nên chưa có sự thống nhất hoàn chỉnh trong toàn bộ lịch trình học tập của các em. Một số gia đình cũng chưa thực sự khuyến khích các em học tiếng Việt.

Cơ hội để giới thiệu Việt Nam

Nguyễn Thị Ngọc Mai cho biết, Bảo tàng Đài Loan là một trong những điểm tham quan nổi tiếng và có lịch sử lâu đời hơn 100 năm được xây dựng thời Nhật Trị tại Đài Loan năm 1908. Xuất phát từ nhu cầu giới thiệu về lịch sử, kiến trúc và các phòng trưng bày triển lãm cho khách nước ngoài, Bảo tàng đã tuyển dụng và mời tình nguyện viên làm thuyết minh.

Cơ hội đến và cô Mai đã tìm thấy rất nhiều niềm vui mới trong vai trò là thuyết minh viên tiếng Việt cho các khách tham quan là những người Tân di dân Việt Nam hoặc sinh viên, người Việt Nam. Bên cạnh đó, cô đã kiến nghị với lãnh đạo của Bảo tàng tổ chức những buổi giao lưu văn hóa Việt Nam thông qua trình diễn âm nhạc, ẩm thực, các trò chơi, quần áo truyền thống ba miền của Việt Nam…

Cô Mai kể lại một kỷ niệm đáng nhớ khi đang thuyết minh cho khách tham quan Việt Nam, có một đôi vợ chồng người Đài Loan cứ đi theo đoàn để nghe dù cô nói bằng tiếng Việt. Có lẽ, ấn tượng với ngôn ngữ và cô mặc bộ áo dài Việt Nam quá đẹp nên khi kết thúc buổi thuyết minh, hai người đã đến làm quen để được hiểu nhiều hơn về Việt Nam.

Từ câu chuyện này có thể thấy nhiều người Đài Loan cũng chưa hiểu biết rõ về đất nước và con người Việt Nam. Cô Mai tin rằng trong thời gian làm việc tại đây, cô có thể giúp ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam được giới thiệu nhiều hơn cho người Đài Loan cũng như bạn bè quốc tế.

Là một giảng viên trẻ, Nguyễn Thị Ngọc Mai thấy mừng là tiếng mẹ đẻ đã khẳng định được vị trí và được giảng dạy rộng khắp cho cộng đồng con em người Việt Nam tại Đài Loan. Cô được biết đến năm 2018, tiếng Việt sẽ được giảng dạy chính thức trong các trường tiểu học và trung học.

Cô hy vọng, Chính phủ Việt Nam sẽ tạo điều kiện quan tâm, đầu tư hơn nữa cho các dự án hợp tác giáo dục nhằm đào tạo đội ngũ giáo viên cũng như cung cấp các tài liệu, các công trình nghiên cứu biên soạn giáo trình để những giảng viên như cô có thể áp dụng giảng dạy hiệu quả.

Điều mà cô mong đợi hơn nữa là văn hóa Việt Nam được giảng dạy rộng rãi đến các con em cộng đồng người Việt, thậm chí đến cả người dân bản xứ cũng như người nước ngoài muốn tìm hiểu về Việt Nam.

Theo Trọng Vũ

Thế giới và Việt Nam

(Nguồn: Dân Trí)

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
Phim vua Solomon
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter