Lộc xuân cuộc đời

locxuancuocdoiTÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Hoàng Kim

Lộc xuân cuộc đờiminh triết sống thung dung phúc hậu yêu thương sức khỏe trí tuệ đầm ấm với gia đình, người thân, thầy quý, bạn hiền giữa thiên nhiên trong lành và cộng đồng dân cư thân thiện. Đó là giấc mơ hạnh phúc.  Tôi thích sự phúc hậu của Giáo sư Mai Văn Quyền người Thầy nghề nông, sự lắng đọng minh triết Ngày xuân đọc Trạng Trình, sự tận tâm với đời qua Lời thầy dặn của giáo sư Norman Borlaug, giáo sư Lương Định Của con đường lúa gạo Việt Nam.

Ngày đầu xuân Đinh Dậu đọc Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, tôi tâm đắc với bài viết của tiến sĩ Trần Công Trục sự nhàn đàm điềm tĩnh mà minh triết. ‘Khi Trump không nói chơi, người Việt cần thay đổi‘. “Bài học quan trọng nhất từ sự thay đổi chính sách của Trump, với Việt Nam cũng như các nước châu Á-Thái Bình Dương khác, đó là độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đoàn kết trên cơ sở bảo vệ lợi ích chung, trật tự và luật pháp quốc tế. Bài học quan trọng tiếp theo là tư duy khoa học khi nhìn nhận các vấn đề thời cuộc, tránh để cảm xúc chi phối. Chúng ta nên nhìn vào mục đích, hiệu quả chứ không nên nhìn vào cái vỏ bề ngoài. Chúng ta cần nghiên cứu sâu hơn nữa về các nhà lãnh đạo mới nổi cũng như chính sách của họ thay vì bình phẩm và chỉ trích”.

Lắng nghe cuộc sống (xem tiếp…)

donald-trump-tien-barack-obama

DONALD TRUMP TIỄN BARACK OBAMA.

Hoàng Kim

Nước Mỹ chuyển giao quyền lực trong hòa bình với sự đối kháng gay gắt về quan điểm. DONALD TRUMP TIỄN BARACK OBAMA rời Điện Capitol sau lễ nhậm chức hôm 20/1, ảnh AP là một bằng chúng đầy thuyết phục cho thấy. Donald Trump, Barack Obama, Hillary Clinton, Bill Clinton, Bush đều là những chính khách lớn. Tôi tâm đắc chép lại nguyên văn bài viết của tiến sĩ Trần Công Trục đăng ngày đầu xuân Đinh Dậu trên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam với tựa đề ‘Khi Trump không nói chơi, người Việt cần thay đổi‘ để cùng bạn đọc lại và suy ngẫm.

KHI TRUMP KHÔNG NÓI CHƠI, NGƯỜI VIỆT CẦN THAY ĐỔI

Tiến sĩ Trần Công Trục ngày Mồng Một Tết ĐInh Dậu

(GDVN) – Bài học quan trọng nhất từ sự thay đổi chính sách của Trump, với Việt Nam cũng như các nước châu Á-Thái Bình Dương khác, đó là độc lập tự chủ, tự lực tự cường.

Tổng thống thứ 45 của Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ ông Donald Trump đã tuyên thệ nhậm chức hôm 20/1 với bài diễn văn 16 phút đầy ấn tượng và khác thường.

Người ta không còn nghe thấy những lời hoa mỹ được các chính khách thường lặp đi lặp lại theo khuôn mẫu sau mỗi lần tiếp quản quyền lực.

Thay vào đó là những cái nhìn xoáy thẳng vào sự thật, tiếp theo đó là những chính sách đảo ngược tình thế, tống cựu nghênh tân.

Người viết dù rất ấn tượng với bài phát biểu của ông Donald Trump, xong vẫn muốn để một vài ngày lắng lại cảm xúc, quan sát tiếp những hành động đầu tiên của tân Tổng thống Hoa Kỳ để đưa ra một số nhận định cùng chia sẻ với bạn đọc Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam đầu xuân Đinh Dậu.

Mùa xuân này với người Mỹ và phần còn lại của thế giới, là một mùa xuân đặc biệt, bởi nó sẽ đánh dấu một bước khởi đầu mới, một bước ngoặt mới của đời sống chính trị, kinh tế quốc tế.

Trump không nói chơi

The New York Times ngày 10/1 cho biết, trước khi nhậm chức 10 ngày ông Donald Trump đã yêu cầu Quốc hội Mỹ bác bỏ Đạo luật Chăm sóc sức khỏe giá cả phải chăng (Obamacare) và thông qua một đạo luật mới về y tế một cách nhanh chóng.

Ông đã yêu cầu các nghị sĩ đảng Cộng hòa lập tức thực hiện điều này.

Trump tuyên bố, trì hoãn việc bãi bỏ Obamacare vài tuần hay phải mất vài năm để thực hiện một đạo luật thay thế là điều không thể chấp nhận với tân Tổng thống. [1]

Chỉ 3 ngày sau, cuộc bỏ phiếu diễn ra tại Hạ viện Mỹ với 227 phiếu thuận, 198 phiếu chống, kế hoạch hủy bỏ và thay thế Obamacare đã chính thức bắt đầu.

Vấn đề đặt ra là, tại sao một đạo luật được nhiều người tin là nhân đạo, là thành công của Tổng thống tiền nhiệm Barack Obama lại bị người kế nhiệm gạt phăng đi như thế?

Trump đã cho biết cụ thể nguyên nhân trong cuốn sách “Nước Mỹ nhìn từ bên trong. Làm thế nào để nước Mỹ què quặt hùng mạnh trở lại” của ông xuất bản cuối năm 2015, và đó cũng là cương lĩnh tranh cử của ông. [2]

Có thể tóm lược lý do phải hủy Obamacare và ra một đạo luật thay thế như thế này: muốn có chất lượng dịch vụ y tế tốt, phải có sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ.

Cạnh tranh vừa góp phần hạ thấp giá cả, vừa nâng cao chất lượng dịch vụ.
Nhà nước cần tạo môi trường và hành lang pháp lý đảm bảo cho sự cạnh tranh lành mạnh và minh bạch trong hệ thống y tế.

Tuy nhiên Obamacare lại chặn đứng sự canh tranh thật sự giữa các công ty bảo hiểm để có được khách hàng.

Dưới Đạo luật Obamacare, các công ty bảo hiểm lớn gần như độc quyền ở mỗi bang. Chính những công ty bảo hiểm này trả tiền cho các chính trị gia và dùng nó để “kiểm soát” họ.

Donand Trump đi lên từ một doanh nhân, ông phải lo cuộc sống cho hàng ngàn công nhân, trong đó có bảo hiểm y tế. Ông dùng tiền túi của mình để tranh cử, không tranh cử bằng túi tiền các doanh nghiệp.

Vậy giải pháp tân Tổng thống Mỹ đưa ra để thay thế Obamacare là gì? Theo ông, chính phủ không nên can thiệp vào lĩnh vực dịch vụ y tế, trừ trường hợp vạn bất đắc dĩ.

Công việc chính phủ Mỹ cần làm là tạo chính sách để đảm bảo cho các công ty bảo hiểm vững mạnh về tài chính, để nếu có một sự cố y tế nào đó, họ sẽ có đủ nguồn lực để xử lý.

Động thái quyết liệt thứ 2 cho thấy Donald Trump không nói chơi, đó là ông giữ đúng cam kết tranh cử, ngày đầu tiên làm việc ông đã ký quyết định chính thức rút Hoa Kỳ khỏi Hiệp định Đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Quyết định này cũng giống việc hủy bỏ Obamacare, gây tranh cãi chính trong lòng nước Mỹ. Thậm chí vượt ra ngoài khuôn khổ nước Mỹ, nhiều người, nhiều nhà phân tích đã bày tỏ sự thất vọng về tân Tổng thống Hoa Kỳ.

Tại sao người ta thất vọng? Tại sao Trump cứ phải nhất quyết hủy TPP?

Cá nhân tôi cho rằng, người ta thất vọng vì thói quen, quán tính và nếp tư duy cũ.

Lâu nay dư luận vẫn coi Mỹ là nước phải gánh trách nhiệm đảm bảo an ninh cho khu vực châu Á – Thái Bình Dương trước sự trỗi dậy về kinh tế – quân sự và theo đuổi yêu sách lãnh thổ phi lý từ Trung Quốc, vấn đề hạt nhân bán đảo Triều Tiên.

TPP được chính quyền Tổng thống tiền nhiệm Barack Obama và phần đông dư luận xem là một phần của chiến lược xoay trục, hay còn gọi là tái cân bằng sang châu Á – Thái Bình Dương, để đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Còn Bắc Kinh thì xem hiệp định này cũng như chiến lược xoay trục là một hình thức “bao vây” họ. Có lẽ đây chính là lý do để người ta ủng hộ TPP, và tiếc nuối khi Trump quyết đinh rút Hoa Kỳ khỏi hiệp định này.

Lý do đã được tân Tổng thống Hoa Kỳ nêu ra trong chiến dịch tranh cử, cũng như diễn văn nhậm chức. Xin được trích dẫn một đoạn trong diến văn nhậm chức của ông để hiểu thêm quyết sách quan trọng này:

“Trong nhiều thập niên, chúng ta đã làm giàu cho công nghiệp nước ngoài trong khi công nghiệp Mỹ bị thua thiệt;

Trợ cấp cho quân đội các nước khác trong khi để mặc cho quân đội của chúng ta suy yếu một cách đáng buồn;

Chúng ta đã bảo vệ biên giới các quốc gia khác trong khi không bảo vệ biên giới của chính đất nước mình;

Chúng ta đã chi hàng nghìn tỷ đôla ở nước ngoài trong khi cơ sở hạ tầng của Mỹ rơi vào tình trạng hư hại, mục nát.

Chúng ta đã giúp các nước khác trở nên giàu có trong khi sự thịnh vượng, sức mạnh và niềm tự tin của đất nước chúng ta mai một dần.

Lần lượt, các nhà máy đóng cửa và rời lãnh thổ của chúng ta, mà không mảy may nghĩ đến hàng triệu, hàng triệu công nhân Mỹ bị bỏ lại phía sau.

Tầng lớp trung lưu của chúng ta đã bị tước mất tài sản, nhà cửa, để chia lại trên khắp thế giới.

Nhưng đó là quá khứ. Bây giờ chúng ta sẽ chỉ hướng đến tương lai.”

Giải pháp của Trump là: nước Mỹ sẽ phải tuân theo hai quy định đơn giản: Mua hàng Mỹ và mướn nhân công Mỹ.

Khi mất đi “chùm khế ngọt viện trợ” hay “chiếc ô an ninh” vốn đã quen sự hiện diện của nó từ lâu, người ta thấy băn khoăn, lo lắng, hụt hẫng…cũng là điều dễ hiểu.

Nhưng đã đến lúc tất cả các quốc gia phải tự lực cánh sinh, phải tìm đường đi cho riêng mình trong con đường chung hướng tới hòa bình, thịnh vượng, trật tự công bằng dựa trên luật pháp quốc tế mà nhân loại văn minh hướng tới. Không thể mãi dựa vào nước này hay nước khác.

Hợp tác dầu khí Việt – Mỹ ở Biển Đông, Rex Tillerson và Phán quyết Trọng tài

(GDVN) – Tôi có thể hiểu được tại sao Giáo sư Carl Thayer hay nhà báo Hellen Clark đánh giá cao về vai trò, ảnh hưởng của Ngoại trưởng đề cử Rex Tillerson.

Trump sẽ làm gương, thay vì xuất khẩu giá trị Mỹ

Cá nhân tôi cho rằng, đây là thay đổi căn bản và toàn diện nhất trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời tân Tổng thống Donald Trump. Trong diễn văn nhậm chức, ông khẳng định:

“Chúng ta sẽ xây dựng tình hữu nghị và thiện chí với các quốc gia trên thế giới – nhưng chúng ta làm như vậy với ý thức rằng tất cả các quốc gia có quyền đặt lợi ích của chính họ lên trên hết.

Chúng ta không tìm cách áp đặt lối sống của chúng ta lên bất cứ ai, mà thay vào đó là tự mình thể hiện như một tấm gương cho mọi người noi theo”.

Nói cách khác, nước Mỹ dưới thời Trump sẽ không đảm nhiệm vai “cảnh sát toàn cầu”, sẽ không làm chuyện “bao đồng” như các chính phủ tiền nhiệm.

Đồng thời, Mỹ dưới thời Trump cũng sẽ từ bỏ chính sách xuất khẩu hệ giá trị tự do, dân chủ Mỹ sang các nước khác. Nước nào thấy hay thì học, vấn đề của nước nào, nước đó tự giải quyết.

Điều này trái ngược hoàn toàn với nếp nghĩ Mỹ phải là lãnh đạo toàn cầu, Mỹ phải lo giải quyết mọi chuyện từ Trung Đông, Bắc Phi cho đến Đông Á.

Trump không nghĩ vậy, và tôi cho rằng, đó là suy nghĩ thực dụng, phù hợp với tương quan lực lượng giữa các siêu cường trong bối cảnh hiện nay và vì nước Mỹ.

Do đó, việc Trump rút Hoa Kỳ khỏi TPP biết đâu lại là một cơ hội, thay vì thách thức như nhiều người vẫn nghĩ.

Có phải Trump “nhường” địa vị hiện có của mình cho Trung Quốc?

Câu hỏi này không chỉ nhiều quan điểm trong dư luận Việt Nam đặt ra, mà ngay cả chính giới và học giả Hoa Kỳ cũng có nhiều người nhận định tương tự, ví như Thượng nghị sĩ John McCain, hay Giáo sư Jonathan London.

Tôi thì không cho rằng quyết định rút khỏi TPP làm suy yếu vai trò, ảnh hưởng của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương. Ngược lại, nó có thể làm cho Washington mạnh thêm.

Thứ nhất, bản chất TPP là một hiệp định về tự do thương mại, nhưng lâu nay nhiều người lại chỉ coi trọng giá trị an ninh, địa- chính trị, địa- chiến lược của nó.

Việt Nam là một thành viên tham gia đàm phán, ký kết TPP với nhiều kỳ vọng về cơ hội, thị trường cho hàng hóa, sản phẩm Việt Nam vào thị trường Mỹ và các nước tham gia TPP.

Nhưng cá nhân tôi quan sát thấy, dường như rất ít người dân và doanh nghiệp hiểu tường tận về TPP và chủ động chuẩn bị cho sự gia nhập sân chơi này.

Trên báo chí, TPP thường được gắn với câu chuyện an ninh khu vực, quan hệ Trung – Mỹ và cả chuyện Biển Đông.

Với tâm thế và sự chuẩn bị như vậy, tham gia TPP lợi chưa thấy đâu, nhưng nguy cơ Việt Nam trở thành nơi các sản phẩm Trung Quốc “rửa” xuất xứ để vào thị trường TPP là khá rõ ràng.

Câu chuyện thép Trung Quốc núp xuất xứ Việt Nam để vào châu Âu là một bài học.

Còn tại sao tôi nói rút khỏi TPP có thể giúp Mỹ tăng vai trò ở châu Á – Thái Bình Dương và không có chuyện “nhường ngôi” cho Trung Quốc? Đó là vì, cuộc so găng Trung – Mỹ quyết định bởi “nội công” chứ không phải “ngoại lực”.

Sở dĩ Bắc Kinh làm mưa làm gió trong hoạt động kinh tế đối ngoại, sử dụng kinh tế – thương mại như công cụ để thực hiện các ý đồ chính trị là vì, họ có nguồn ngoại tệ dồi dào nhờ thống trị thị trường hàng giá rẻ gần như toàn thế giới trong mấy chục năm phát triển hòa bình sau Chiến tranh Thế giới II.

Sở dĩ Mỹ đứng trước nguy cơ bị Trung Quốc qua mặt là vì một thời gian dài chạy theo chính sách “bao đồng”, “cảnh sát toàn cầu” mà không lo củng cố nội lực.

“Canh bạc” tiên phát chế nhân của Thủ tướng Shinzo Abe và tác động đến Biển Đông

(GDVN) – Tùy theo cách tiếp cận của ông Donald Trump, Nhật Bản có thể phải đánh giá lại kỹ lưỡng cách đối phó với Trung Quốc trên mặt trận an ninh.

Do đó, sự thay đổi của Trump là cần thiết. Chỉ có như thế, nước Mỹ mới có thể mạnh trở lại. Dưới thời Obama, Trung Quốc tự tung tự tác quân sự hóa Biển Đông, Mỹ có làm gì được họ?

Vậy hy vọng gì vào TPP và chiến lược tái cân bằng ngăn được Trung Quốc tiếp tục độc chiếm Biển Đông? Thậm chí, nó chỉ tạo thêm những cái cớ để Trung Quốc lấn thêm từng bước.

Rút khỏi TPP, không có nghĩa là nước Mỹ dưới thời Trump rút khỏi châu Á – Thái Bình Dương hay Biển Đông. Đơn giản là Trump sẽ sử dụng nước cờ địa- chính trị khác, con bài chiến lược khác để kiềm chế sự leo thang của Trung Quốc.

Một trong số đó là vấn đề Đài Loan. Thời gian tới, có thể sẽ có nhiều dấu hiệu, bằng chứng hơn nữa về điều này, vì ông mới vừa nhậm chức. Tôi cho rằng, đây mới là con bài hiệu quả để Mỹ chơi với Trung Quốc trên bàn cờ Biển Đông.

Bài học nào cho Việt Nam và các nước ở khu vực Biển Đông?

Bài học quan trọng nhất từ sự thay đổi chính sách của Trump, với Việt Nam cũng như các nướ châu Á-Thái Bình Dương khác, đó là độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đoàn kết trên cơ sở bảo vệ lợi ích chung, trật tự và luật pháp quốc tế.

Tư duy dựa vào Mỹ về an ninh, dựa vào Trung Quốc về kinh tế đã chứng minh là lựa chọn lợi bất cập hại.

Hai quốc gia thích ứng nhanh nhất với sự thay đổi thời cuộc và chính trường Hoa Kỳ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương là Nhật Bản và Philippines.

Mỹ chỉ bảo vệ lợi ích của Mỹ, chúng ta và bất cứ quốc gia nào cũng thế. Tuy nhiên ở khu vực Biển Đông, có lợi ích chung cho tất cả các bên, đó là hòa bình, ổn định, an ninh, tự do hàng hải – hàng không và luật pháp quốc tế.

Thay vì tìm cách dựa vào Mỹ để đối phó với Trung Quốc, chúng ta cần tìm hiểu các chính sách của 2 cường quốc này, để hướng tới một tiếng nói chung mà các bên chấp nhận được.

Muốn làm điều đó, chúng ta cần phải có tư duy độc lập. Lệ thuộc ngay từ tư duy vào bất cứ quốc gia nào, cũng sẽ dẫn đến sự lệ thuộc nhiều mặt trong thực tế.

Về mặt kinh tế, đồng tiền Trung Quốc tuy không đi kèm điều kiện khắt khe về chính trị, nhân quyền như nguồn vốn phương Tây, nhưng nó lại luôn đi kèm với công nghệ lạc hậu, ô nhiễm, doanh nghiệp – nhà thầu và lao động chân tay Trung Quốc. Đằng sau đó là cả một hệ lụy.

Đàm phán cũng là một mặt trận, một cuộc chiến đầy cam go, phức tạp

(GDVN) – Đàm phán mới làm cho “đấu tranh và kháng cự” phát huy được hiệu quả của nó: nói có người nghe, chứ không phải nói chỉ để cho mình nghe, để “tự sướng” với nhau.

Tôi không tin Trung Quốc có khả năng thay thế vai trò của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương chỉ với khoảng 240 tỉ USD họ tuyên bố qua Quỹ Con đường Tơ lụa, AIIB hay “sáng kiến” một vành đai, một con đường.

Bản thân Trung Quốc cũng đang chật vật tái cơ cấu nền kinh tế và tìm cách đẩy các doanh nghiệp, nhà máy, công nghệ ô nhiễm lạc hậu ra nước ngoài theo Con đường tơ lụa mà lại mơ lãnh đạo kinh tế toàn cầu chỉ là chuyện viển vông, mò trăng đáy nước.

Vì thế, nên coi Trung Quốc là một đối tác kinh tế bình đẳng, làm việc với họ trên cơ sở sòng phẳng và cùng có lợi. Chấp nhận dễ dãi các nhà thầu Trung Quốc, chúng ta cũng như nhiều nước trong khu vực đã, đang và sẽ phải trả giả.

Tôi cho rằng, những quan điểm tin là Trump rút Mỹ khỏi TPP sẽ khiến Việt Nam “lệ thuộc” vào Trung Quốc là không chính xác. Nó không những chẳng giúp nước ta mạnh lên, mà chỉ là tư duy xui Việt Nam lệ thuộc nước này, thay vì nước khác.

Các con số thống kê về quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc cho thấy quốc gia láng giềng này là một thị trường lớn có sức ảnh hưởng mạnh, thậm chí có thể chi phối một số lĩnh vực, ngành sản xuất.

Điều đó tất nhiên là không ổn, và chúng ta đã, đang và sẽ tiếp tục mở cửa, đa dạng hóa thị trường.

Nhưng không thể phủ nhận thực tế rằng, trong những năm tháng chiến tranh và bị cấm vận sau chiến tranh, Trung Quốc đã viện trợ, giúp đỡ Việt Nam rất nhiều về tiền của, vật tư.

Muốn mạnh lên, chỉ có cách không ngừng đổi mới, tự lực tự cường, nghiên cứu nắm bắt các xu thế chính sách các nước lớn có lợi cho hòa bình, ổn định và sự phát triển của Việt Nam để tận dụng tối đa các lợi thế, đòn bẩy và nguồn lực.

Câu chuyện tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, hàng hải giữa Việt Nam – Trung Quốc và một số quốc gia nữa là một vấn đề khác, cần được giải quyết trên cơ sở pháp lý quốc tế, trong đó quan hệ thân thiện về chính trị là một lợi thế.

Bài học quan trọng tiếp theo là tư duy khoa học khi nhìn nhận các vấn đề thời cuộc, tránh để cảm xúc chi phối. Chúng ta nên nhìn vào mục đích, hiệu quả chứ không nên nhìn vào cái vỏ bề ngoài.

Chúng ta cần nghiên cứu sâu hơn nữa về các nhà lãnh đạo mới nổi cũng như chính sách của họ thay vì bình phẩm và chỉ trích.

Tôi thấy rất lạ là nhiều người trong chúng ta tỏ ra khá cay nghiệt với ông Rodrigo Duterte, ông Donald Trump hay ông Tập Cận Bình, ngay cả với những công việc nội bộ của đất nước họ và người dân của họ cũng không phản đối thái quá.

Muốn nước nhà mạnh lên, thiết nghĩ phải thay đổi triệt để 2 điều này trong tư duy, suy nghĩ và hành động của mỗi người.

Ngày đầu xuân Đinh Dậu xin có mấy lời dông dài chia sẻ với bạn đọc, chúc Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam và quý bạn đọc xa gần một năm mới an khang, thịnh vượng và đóng góp nhiều hơn vì sự tiến bộ của cộng đồng, quốc gia, dân tộc.

Tài liệu tham khảo:

[1] https://www.nytimes.com/2017/01/10/us/repeal-affordable-care-act-donald-trump.html

[2] http://nhanam.vn/tin-tuc/nuoc-my-que-quat-qua-goc-nhin-cua-donald-trump

Phat

MINH TRIẾT SỐNG THUNG DUNG PHÚC HẬU

Hoàng Kim

Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.

Bài giảng đầu tiên của đức Phật

Tứ Diệu đế – Sự khổ: Nguyên nhân, Kết quả và Giải pháp – là bài giảng đầu tiên của Phật (Thích ca Mầu ni -Siddhartha Gamtama), nhà hiền triết phương đông cổ đại. Người là hoàng tử Ấn Độ, đã có vợ con xinh đẹp nhưng trăn trở trước sự đau khổ, thiếu hoàn thiện và vô thường (Dukkha) của đời người mà Phật đã xuất gia vào năm hai mươi chín tuổi để đi tìm sự giác ngộ. Người đã dấn thân suốt sáu năm trời tự mình đi tìm kiếm những vị hiền triết nổi tiếng khắp mọi nơi trong vùng để học hỏi và thực hành những phương pháp khác nhau nhưng vẫn chưa đạt ngộ.  Cho đến một buổi chiều ngồi dưới gốc bồ đề, thốt nhiên Người giác ngộ chân lý  mầu nhiệm lúc ba mươi lăm tuổi. Sau đó, Người đã  có bài giảng đầu tiên cho năm người bạn tu hành. Mười năm sau, Phật thuyết pháp cho mọi hạng người và đến 80 tuổi thì mất ở Kusinara (Uttar Pradesh ngày nay). Học thuyết Phật giáo hiện có trên 500 triệu người noi theo.

Bài giảng đầu tiên của Phật là thấu hiểu sự khổ (dukkha), nguyên nhân (samudaya), kết quả  (nirodha) và giải pháp (magga). Tôn giáo được đức Phật đề xuất là vụ nổ Big Bang trong nhận thức, san bằng mọi định kiến và  khác hẵn với tất cả các tôn giáo khác trước đó hoặc cùng thời trong lịch sử Ấn Độ cũng như trong lịch sử nhân loại. Phật giáo chủ trương bình đẳng giai cấp, bình đẳng giữa con người có máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn, hết thảy các pháp là vô ngã. Mục đích là vô ngã là sự chấm dứt đau khổ và phiền muộn để đạt sự chứng ngộ bất tử, Niết bàn.

Kinh Phật với triết lý vô ngã: Chân lý là suối nguồn, chứ không phải là con người thần thánh hoặc chân lý tuyệt đối. Vị trí độc đáo của Phật giáo là một học thuyết mang đầy đủ tính cách mạng tư tưởng và cách mạng xã hội (1). Tiến sĩ triết học Walpola Rahula là giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Ceylan (Pháp) đã tìm tòi văn bản cổ và giới thiệu tài liệu nghiêm túc, đáng tin cậy này (Lời Phật dạy. Lê Diên biên dịch). (2)

xem tiếp… https://hoangkimlong.wordpress.com/category/minh-triet-song-thung-dung-phuc-hau/

Giacmohanhphuc1

GIẤC MƠ HẠNH PHÚC

Hoàng Kim

nhắm mắt lại đi em
để thấy rõ giấc mơ hạnh phúc
trời thanh thản xanh
đêm nồng nàn thở
ta có nhau trong cuộc đời này.
nghe hương tinh khôi đọng mật
quyến rũ em và khát khao anh
mùi ngây ngất đằm sâu nỗi nhớ
một tiếng chuông ngân
thon thả đầu ghềnh.

nhắm mắt lại đi em
hạnh phúc đâu chỉ là đích đến
hạnh phúc là con đường trãi nghiệm
vỗ về, chờ đợi, nhớ thương.

nhắm mắt lại đi em.
trong giấc mơ của anh
có em và rừng thiêng cổ tích
có suối nước trong veo như ngọc
có vườn trúc và ngôi nhà tranh
có một đàn trẻ thơ tung tăng
heo gà chó mèo ngựa trâu
nhởn nhơ trên đồng cỏ
tươi xanh.

nhắm mắt lại đi em,
tận hưởng thú an lành.

Nhắm mắt lại đi em
Giấc ngủ ngoan giấc mơ hạnh phúc
I will be right here waiting for you
Em sẽ ở đây đợi anh,
Run away with me
Đồng hành với anh
Bài ca thời gian
Bài ca yêu thương
Suốt đời tỉnh thức
Ta có nhau trong cuộc đời này.

Giacmohanhphuc2

NHỮNG LỜI MINH TRIẾT PHẬT DẠY

Không có đường đến hạnh phúc. Hạnh phúc là con đường.
Ai biết nhìn vào trong tự thân mình thì người đó tỉnh thức.
(xem tiếp…    https://hoangkimlong.wordpress.com/category/giac-mo-hanh-phuc/)


DẠY VÀ HỌC. Câu chuyện vinh danh hạt ngọc Việt, hạt gạo làng ta, hạt vàng Việt Nam có con đường lúa gạo Lương Định Của.  Đó là câu chuyện dài về một trí thức lớn gắn mình với ruộng đồng, với giảng dạy nghề nông, hiến mình cho con đường lúa gạo Việt Nam tỏa rộng. Lương Định Của (1920 – 1975) là giáo sư tiến sỹ nông học ngành di truyền giống.Thầy là người có công lớn đặt nền móng cho nền nông nghiệp Việt Nam hiện đại, chấn hưng giáo dục và nghề lúa Việt Nam. Nhiều thế hệ học trò do Thầy đào tạo đã trở thành cán bộ đầu đàn trong các lĩnh vực khoa học nông nghiệp với nhiều người xuất sắc. Nhiều “giống bác sĩ Của” thương hiệu Việt nổi tiếng một thời như: lúa Nông nghiệp 1 (NN1), lúa chiêm 314, NN75-1, NN8-388, lúa mùa Saisubao, lúa xuân sớm NN75-5, giống dưa lê, cà chua, khoai lang, dưa hấu không hạt, chuối, rau, táo… Giáo sư đã đề xướng kỹ thuật thâm canh lúa “cấy nông tay thẳng hàng” “bờ vùng, bờ thửa” “đảm bảo mật độ” được hàng chục triệu nông dân áp dụng, tạo ra cuộc cách mạng trong nông nghiệp. Ngôi nhà niên thiếu và phần mộ tổ tiên, cha mẹ song thân của Thầy tại ấp Ngãi Hoà, cách trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã Đại Ngãi khoảng 3 km, và phải đi bằng xe ôm vì lối đi nhỏ, thuần phác, khiêm nhường giữa vùng quê Nam Bộ. Xe ôm chạy hun hút dưới vòm dừa nước y như trong vườn thiêng cổ tích. Chúng tôi đến thăm cụ Sáu, em gái Thầy và thắp hương khu mộ gia đình Thầy khi trăng rằm tháng giêng lồng lộng đang lên. Ruộng lúa Đại Ngãi, Trường Khánh xanh ngát dưới ánh trăng.

xem tiếphttps://hoangkimlong.wordpress.com/category/luong-dinh-cua-con-duong-lua-gao/

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Lộc xuân cuộc đời

Caphesang

Chào ngày mới ! Mời bạn thưởng thức cà phê sáng, lướt web, thăm bạn và cùng tôi chọn đọc một số bài viết hay. “Chúng ta chấp nhận nhau là chúng ta đã giải thoát chính mình,” cựu Tổng Thống Bill Clinton đã nhận định như vậy trong bài diễn văn đọc tại buổi lễ mừng Độc Lập Hoa Kỳ ở Hà Nội ngày 3 tháng 7 năm 2015 nhân dịp 20 năm  bình thường hóa bang giao Mỹ Việt. Hà Nội mùa này đẹp thật! Hoa sen nở say đắm lòng người và, cô gái thành phố Hồ Chí Minh ra thủ đô Hà Nội đang ngắm nắng hạ bên Tháp Rùa, khiến lòng ta nhớ về tản văn hay: “Hà Nội trong mắt tôi” với bản nhạc “Hà nội niềm tin và hi vọng”.

2015-07-05_082551

Clinton nói về ảnh hưởng của Hoa Kỳ sau 20 năm quan hệ Việt – Mỹ

Người Việt Hà Tường Cát 03-07-2015 HOA KỲ – Tổng Thống Bill Clinton quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận Việt Nam năm 1994, bình thường hóa quan hệ ngoại giao ngày 11 tháng 7 năm 1995, và là nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đầu tiên đến thăm Việt Nam sau chiến tranh vào năm 2000. Lần này là lần thứ năm ông trở lại Việt Nam, hầu hết cho hoạt động của tổ chức Clinton Foundation chống HIV/AIDS, bệnh lao và sốt rét.

Buổi tiếp tân do tòa đại sứ Hoa Kỳ tổ chức tối Thứ Năm tại Hà Nội có hơn 1,000 quan khách tham dự và giới chức cao cấp nhất bên phía Việt Nam là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh. Đại sứ Ted Osius và các cựu đại sứ Pete Peterson, Michael Michalak, đại biện Desaix Anderson, cùng ngoại giao đoàn các nước hiện diện trong buổi lễ.

Cựu Tổng Thống Clinton hồi tưởng lại tiến trình tái lập quan hệ bình thường giữa hai nước trải qua vô vàn trở lực, từ tâm lý ám ảnh bởi dĩ vãng ở cả hai phía, cho đến những nghi kỵ và những vấn đề khó khăn phức tạp còn tồn tại. Ông nói: “Bình thường hóa bang giao đối với tôi, về mặt cá nhân, chính trị và giá trị địa lý chiến lược là một trong những thành tựu quan trọng nhất trong sự nghiệp của mình. Nó giúp hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng quan hệ hữu nghị và chứng tỏ cho thế giới ngày càng phân hóa rằng hợp tác vẫn là tốt đẹp hơn xung đột rất nhiều.”

Ông Bill Clinton vẫn nổi tiếng là người có tài nói năng khéo léo, không quên khen ngợi đại sứ Ted Osius. Ông nói: “Ông phó thủ tướng (Phạm Bình Minh) nói với tôi rằng đại sứ nói tiếng Việt rất giỏi khi giới thiệu tôi cho quan khách.” Cựu Tổng Thống cũng ca ngợi cựu đại sứ Pete Peterson là một biểu tượng để ông hành động đúng: “Quý vị đều biết đấy, ông ta đã hơn 6 năm là khách của chính quyền Việt Nam trong thời chiến tranh. Về Mỹ ông ứng cử thành Dân Biểu quốc hội, và trở thành đại sứ đầu tiên của chúng tôi ở Việt Nam. Tôi tin rằng bổ nhiệm ông là một trong những sự chỉ định tốt nhất mà tôi đã làm được. Rồi ông ta lập gia đình và qua sống ở Australia, mỗi tháng vẫn về thăm Việt Nam.” Pete Peterson là phi công máy bay chiến đấu F-4 Phantom, bị bắn rớt ở Bắc Việt tháng 10 năm 1966 và được phóng thích trong cuộc trao trả tù binh tháng 3 năm 1973. Bà vợ ông lấy năm 2002 khi đang làm đại sứ ở Hà Nội là một phụ nữ Úc gốc Việt, viên chức mậu dịch cao cấp của Australia.

Trong bài nói chuyện tại Hà Nội hôm Thứ Năm, ông Clinton ca ngợi 4 Thượng Nghị Sĩ Charles Robb, Max Cleland, John Kerry, John McCain – tất cả đều là cựu chiến binh Việt Nam –  trong số rất nhiều người đã góp phần vào tiến trình bình thường hóa bang giao Mỹ-Việt, mà ông chỉ là người quyết định sau cùng.

Đầu năm 1977, ngay khi trở thành Tổng Thống, Jimmy Carter đã chú trọng đến việc này. Tháng Ba năm ấy ông cử một phái đoàn đến Hà Nội, tuy nhiên hãy còn quá sớm để có thể đi tới một thỏa hiệp gì. Dù sao, tới tháng Năm, Hoa Kỳ đồng ý để Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc.

Tiếp đó, cuộc đàm phán chính thức đầu tiên về tái lập quan hệ ngoại giao diễn ra tại Paris, cầm đầu phái đoàn Mỹ là thứ trưởng ngoại giao đặc trách Đông Á – Thái Bình Dương, Richard Holbrooke, và phái đoàn Việt Nam là thứ trưởng ngoại giao Phan Hiền. Lúc đó Hoa Kỳ đề ra lộ trình ba bước, trong đó trước hết là được cung cấp thông tin về quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh và trao trả hài cốt những người đã chết. Phía Việt Nam đặt điều kiện bồi thường chiến tranh như thỏa thuận ở hòa đàm Paris.

Cuộc đàm phán ở Paris và những trao đổi giữa hai bên kéo dài không kết quả suốt thập niên 1990. Vấn đề bồi thường chiến tranh là vô nghĩa khi phía Việt Nam không tôn trọng hiệp định Paris năm 1973, và trong một thời gian rất lâu Hoa Kỳ vẫn nghi ngờ còn một số quân nhân Mỹ sống sót bị Việt Nam giam giữ ở nơi bí mật.

Năm 1990, thời Tổng Thống George H.W. Bush, bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch lần đầu tiên đến Hoa Kỳ theo lời mời của ngoại trưởng James Baker và chuyến thăm này được coi là đã tạo ra một vài bước định hướng cho việc thương thuyết. Ông Thạch nhìn nhận rằng điều kiện về bồi thường chiến tranh là giải pháp không khả thi nên từ bỏ, không đặt vấn đề này nữa. Trọng tâm của Việt Nam ở thời điểm ấy là Hoa Kỳ giải tỏa lệnh cấm vận. Một người góp phần thêm cho nỗ lực của Việt Nam và mở lối cho Hoa Kỳ là Thượng Nghị Sĩ John McCain, cựu tù binh chiến tranh nổi tiếng.

Cuối năm 1991, một bước tiến quan trọng đạt được khi phái đoàn Việt Nam do thứ trưởng ngoại giao Lê Mai cầm đầu tới New York và hai bên đồng ý thành lập nhóm chuyên viên giải quyết các bế tắc trong tiến tình đi đến bình thường hóa. Chương trình POW/MIA tìm kiếm hài cốt và lính Mỹ mất tích được thành hình sau đó.

Tháng Tư, 1992, Tổng Thống George H.W. Bush ký sắc lệnh nới lỏng cấm vận, cho phép các công ty Mỹ mở văn phòng đại diện ở Việt Nam và cho phép bán một số dược phẩm và nhu yếu phẩm.

Chiều hướng bãi bỏ cấm vận ngày càng được đẩy mạnh ở Hoa Kỳ, mặc dầu cũng có những chống đối mạnh mẽ từ một số tổ chức trong cộng đồng người Việt tị nạn. Thượng Nghị Sĩ John Kerry, cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam, thuộc trong số những người tích cực vận động cho bước tiến này. Ông đã từng đề cao thủ tướng Võ Văn Kiệt là người có đóng góp đặc biệt vào chương trình tìm kiếm tù binh và người mất tích trong nỗ lực tiến tới bình thường hóa bang giao.

Năm 1994, dự luật đề nghị gỡ bỏ cấm vận Việt Nam do hai Thượng Nghị Sĩ John Kerry và John McCain bảo trợ được Thượng Viện thông qua. Trước đó, Tổng Thống Bill Clinton đã tuyên bố Hoa Kỳ không phản đối việc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) tài trợ cho Việt Nam và khẳng định sẽ nới lỏng thêm lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam. Sau khi dự luật Kerry – McCain  thông qua Thượng Viện, Tổng Thống Bill Clinton chính thức chấm dứt cấm vận Việt Nam và cho mở văn phòng liên lạc ngoại giao giữa hai nước – đại diện ngoại giao Desaix Anderson là viên chức Mỹ đầu tiên  làm việc tại Hà Nội cho tới tháng 11 năm 1995 mở tòa đại sứ.

Cựu Tổng Thống Bill Clnton trong bài nói chuyện ở Hà Nội tất nhiên muốn đề cao những thành quả của 20 năm bình thường hóa quan hệ trên nhiều bình diện kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục và chiến lược.

Theo lời ông, quốc gia 20 năm trước chỉ có thu nhập mỗi người 1 dollar một ngày, bây giờ đang phát triển kinh tế vượt bực và dành  20% ngân sách cho giáo dục, tỷ lệ cao hàng thứ 12 trên thế giới. Hiện nay có 17,000 du học sinh Việt Nam ở các trường đại học Mỹ, con số cao hơn hai nước láng giềng Hoa Kỳ là Canada và Mexico.

20 năm trước quan hệ mậu dịch với Hoa Kỳ chỉ $500 triệu. Ngày nay Việt Nam vượt Thái Lan và Malaysia trở thành nước ASEAN đứng đầu về hàng hóa xuất cảng qua Hoa Kỳ, mỗi ngày 1,700 containers. Ông hy vọng sẽ còn thêm nhiều thành tựu khác nếu các cuộc thương lượng về thỏa hiệp mậu dịch TPP của Tổng Thống Obama có đủ sự ủng hộ lưỡng đảng, và nếu các tiêu chuẩn trong sáng, nhân quyền, quyền lao động, môi trường được giải quyết thỏa đáng.

Ông Clinton cho biết chương trình giáo dục kinh tế Fulbright sẽ được đưa vào Fulbright University of Vietnam, trường đại học tư nhân, bất vụ lợi đầu tiên ở Việt Nam. Theo lời ông, phó thủ tướng Phạm Bình Minh là một trong những người đầu tiên ở Việt Nam thụ hưởng chương trình này, lấy bằng Master’s degree về luật quốc tế và ngoại giao tại Tufts University.

Nói đến Fulbright, cựu Tổng Thống Clinton cho rằng nhiều người không biết hay còn nhớ Thượng Nghị Sĩ Fulbright từng là nhân vật mạnh mẽ phê phán cuộc chiến tranh Việt Nam. Dẫn lời ông: “Có thể làm cho xã hội chúng ta là mẫu mực cho hạnh phúc con người, chúng ta là bạn của những chuyển biến xã hội và có đủ khoan nhượng để hòa giải với thế giới đối nghịch bên ngoài. Điều ấy do từ quyết định mở rộng vòng tay hay xiết chặt nắm đấm.” Ông Clinton kết luận rằng chân lý ấy đúng vào thời đại của Fulbright, đúng cho thời đại của chúng ta, và “20 năm là lúc để chúng ta nhìn lại mình đã đi xa quá khứ để tiến lên thế nào và tới đâu.”

Tới Hà Nội trong dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa bang giao, dù cố ý hay  tình cờ, cựu Tổng Thống Bill Clinton đã nêu bật lên ý nghĩa của một động thái tương đồng mà chính quyền Tổng Thống Obama đang tiến hành ở Cuba. Giá trị chiến lược của hai hành động cách nhau 20 năm này sẽ được chứng tỏ và hỗ trợ cho nhau trong tương lai. (HC)

SenHaNoi NguyenTuyetHanh
Sen Hà Nội, ảnh Nguyễn Tuyết Hạnh

HoHoanKiem

Cô gái thành phố Hồ Chí Minh bên Tháp Rùa Hà Nội, ảnh Nguyễn Thu Phương

 

HÀ NỘI TRONG MẮT TÔI

Nguyễn Khải, tập truyện ngắn 1995

“Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn”.

Ở thành phố Hồ Chí Minh lắm lúc hắn rất nhớ Hà Nội, nhớ các mùa của Hà Nội, các đường phố của Hà Nội, nhớ bãi Phúc Xá và những mùa lụt lên ở nhờ cơ quan, nhớ lúc lấy vợ, lúc sinh con, nhớ cái năm con đã lớn mở khoá dây lưng kêu lách cách và dựng xe đạp ở một góc sân cùng với bạn bè. Mỗi ngày nhớ một tí, lúc rảnh rỗi lại nhớ, đêm nằm khó ngủ cũng nhớ. Nhớ cả những tiếng rao quà lúc hắn còn nhỏ ở Hà Nội, tiếng rao xôi lúa lúc tờ mờ sáng ở phố Hàng Bún, tiếng rao phở đêm ở ngõ Hăm Bốn Gian, tiếng rao cháo đỗ xanh chè đỗ đen các trưa hè dọc phố Huế. Hắn còn nhớ cả cái xe thùng có vòm mui sơn vàng, ngựa kéo, bán bánh mì nóng với miếng chả trâu rắc muối tiêu kẹp giữa mỗi sáng mùa đông ở phố Sinh Từ năm hắn mới sáu, bảy tuổi. Bạn bè, người thân, những kỷ niệm của một thời ấu thơ, một thời thanh niên, của mọi sự bắt đầu của một đời người, trong xa cách, trong nhớ nhung bỗng hiển hiện hết sức rõ ràng trong một vùng sáng nhạt hơi mờ ảo của hoàng hôn, gần như đã tãi hết lên trang giấy, chân dung, ngôn ngữ, hình ảnh còn đọng lại, chi tiết đã được năm tháng lưu giữ, tất cả đã sẵn sàng chỉ còn đợi hắn cầm bút tô lại, viết lại… Hắn mở đầu các truyện viết về Hà Nội bằng Một người Hà Nội rồi Tiền, rồi Danh phận, rồi đến Ðã từng có những ngày vui, Chị Mai… đội ngũ những gương mặt thân quen đòi được viết, đòi được nói cứ dài dần mãi ra nhốn nháo, chen chúc. Một nữ luật sư kiêm nghệ sĩ dương cầm, một cặp vợ chồng tài tử giai nhân chồng đạo diễn vợ diễn viên là kỷ niệm về một Hà Nội vừa được giải phóng. Viết về ông Kim Lân đã thấy thấp thoáng bóng ông Trọng Hứa đứng phía sau, hai ông có gương mặt và vóc dáng nhìn xa rất giống nhau, và cũng vì sự nhầm lẫn tai hại ấy mà ông Trọng Hứa giận hắn cho tới ngày mất. Viết về người Hà Nội hôm nay lại nhớ đến người Hà Nội của ngày xưa, tất nhiên người của hôm nay quyến rũ hắn hơn nhưng khi họ trò chuyện với hắn, thậm chí còn chửi hắn một cách oan uổng thì hắn lại sợ cái hôm nay quá, cái hôm nay trơ tráo, trắng trợn, có thể nói bất cứ câu gì, làm bất cứ chuyện gì nếu không có những ràng buộc của một Hà Nội kinh kỳ ngày xưa ngăn giữ lại. Hắn đã trải lòng ra gần hai năm trời, lúc nghỉ lúc viết, ngoài những chuyến ra Hà Nội để “nạp thêm năng lượng” mới, hắn không đi đâu cả, không nghĩ gì khác để khỏi làm loãng những mơ mộng của hắn đang dồn về một vùng kỷ niệm, về những con người đang lùi dần vào quá khứ mỗi năm mỗi xa hơn, một mờ dần. Chính hắn cũng đang lùi dần vào quá khứ bằng cái thái độ dửng dưng như đã tách ra, đã thoát ra những tin tức, những trao đổi của bạn bè, của con cái về những thay đổi này khác trong giới quan chức nhà nước, về nền kinh tế thị trường với vô vàn chuyện hay và chuyện không hay của nó, về đầu tư và hội nhập, về những triệu phú đô la mới của Hà Nội và những cuộc phá sản hết sức thương tâm ở các thành phố lớn… Tất cả những chuyện lớn chuyện nhỏ cứ rì rầm như mỗi lúc một xa dần đi, nhỏ dần đi, chả còn một chút quan trọng nào nữa. Tức là hắn sắp trở về với hư vô rồi, để hoà nhập vào cái khối hỗn mang không hình, không sắc của trời đất. Nếu tính từ truyện ngắn đầu tay Ra ngoài được in trên tạp chí Lúa mới của Chi hội Văn nghệ liên khu 3 năm 1950 thì hắn đã có trên năm chục năm trong nghề gấp gần năm lần tuổi nghề của Vũ Trọng Phụng, gấp hai lần tuổi nghề của Nam Cao, cái gì cũng hơn hai ông anh cả, thời thế tiểu thuyết hơn, bạn bè đông đảo hơn, đi nhiều hơn, biết nhiều hơn, thời gian để viết cũng nhiều hơn, lại được nhà nước cho nhà, chữa bệnh và nuôi ăn cả đời mà những đứa con tinh thần lại yếu đuối còi cọc, đi mới được nửa cuốn sách đã chân nọ đá chân kia, mặt mũi méo mó, ăn nói chẳng đâu vào đâu, không còn ra cái giống người, cái ngữ ấy có chết non chết yểu cũng là đáng. Là làm sao thế nhỉ? Còn sao giăng gì nữa! Là do hắn kém tài so với các bậc đàn anh, chứ nếu có được cái tài như hắn mong muốn thì thiếu gì cách để tạo ra những hình tượng nghệ thuật có thể chuyển tải toàn bộ tư tưởng của hắn tới bạn đọc. Kém tài là cái chính nhưng cũng còn có những quan niệm chưa chuẩn xác về các chức năng của nghệ thuật một thời; về sự thiếu niềm tin của bạn đọc vào lòng yêu nước và khuynh hướng cách mạng bẩm sinh của các nghệ sĩ nên hay nghi ngờ, hay bắt bẻ; về tính ganh ghét giữa các tài năng nhỏ với các tài năng lớn nên hay bày ra những chuyện ngoài nghệ thuật để hãm hại nhau; có cả sự thiếu bao dung, thiếu thông cảm của những người làm công tác quản lý nghệ thuật với những cá tính bất tuân, ngang tàng của một vài tên tuổi lớn, mà theo hắn, họ làm thế chẳng qua để trêu chọc cho vui, để làm giai thoại trong giới, chứ bản chất các nghệ sĩ có tài lớn là hết sức hiền lành, hết sức chất phác, họ là một với tiến bộ, phát triển chứ chưa bao giờ là vật cản. Và còn một điều này nữa, mỗi lần nghĩ đến hắn lại bật cười với chính mình…” (hết trích)

Rút trong bài: “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại”, Nguyễn Khải )

HoGuom1000nam

Hà Nội niềm tin yêu hi vọng, Nhạc và lời Phan Nhân , trình bày Đăng Dương, Trọng Tấn, Việt Hoàn

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Lộc xuân cuộc đời

7f8d0-baihoccuocsong1
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Năm tháng đi qua chỉ tình yêu ở lại. Lộc xuân cuộc đời giới thiệu: Chín điều lành quý báu (blog Hoàng Kim), Học biết ơn (chép từ blog Giáo sư Nguyễn Lân Dũng). Nguyễn Du và Nguyễn Ánh, trích dẫn Chương 7 trong tiểu thuyết lịch sử “Nguyễn Du” của nhà văn nhà giáo Nguyễn Thế Quang. Chào ngày mới ! (Hoàng Kim)

54351-banuocgatgihomnay

CHÍN ĐIỀU LÀNH QUÝ BÁU

Hoàng Kim (Sưu tầm)

KHÁT KHAO XANH.  Sống đơn giản, yêu thật lòng, quan tâm sâu sắc, hướng đến phía trước. Thực hành chín điều lành quý báu. Đó là bài học sâu sắc của cuộc sống.

CHÍN ĐIỀU LÀNH QUÝ BÁU
1) Cười nhiều Giận ít
2) Vui nhiều Lo ít
3) Làm nhiều Nói ít
4) Đi nhiều Ngồi ít
5) Rau nhiều Thịt ít
6) Chay nhiều Mặn ít
7) Chua nhiều Ngọt ít
8) Tắm nhiều Lười ít
9) Thiện nhiều Tham ít.

CamOn

HỌC BIẾT CÁM ƠN

Nguyễn Lân Dũng (Sưu tầm)

1. Một vị Tổng thống hỏi bà cụ sống 104 tuổi về bí quyết sống lâu. Bà trả lời: một là dí dỏm, hai là học biết cám ơn. Lấy chồng từ năm 25 tuổi, ngày nào bà cũng nói nhiều nhất là hai chữ “cám ơn”. Bà cám ơn chồng, cám ơn bố mẹ, cám ơn con cái, cám ơn hàng xóm láng giềng, cám ơn mọi sự quan tâm săn sóc dành cho bà, cám ơn từng ngày sống yên lành, ấm cúng và vui vẻ. Mọi lời nói thân thiết của người khác đối với bà, mọi việc làm bình thường nhỏ nhoi dành cho bà, mọi nét mặt tươi cười hỏi thăm bà, bà đều không quên nói hai tiếng “cám ơn”. Mọi người không những không ngán đối với vô số lần cám ơn hàng ngày của bà, trái lại càng gần gũi thương yêu bà, thường cảm thấy nếu mình không thương yêu bà hơn nữa, sẽ có lỗi với từng lời “cám ơn” của bà… 80 năm đã trôi qua, hai tiếng “cám ơn” khiến bà vui vẻ lâu dài, hạnh phúc lâu dài, mạng sống lâu dài, “cám ơn” có bao nhiêu, tình yêu có bấy nhiêu. Tình yêu có ngần nào, “cám ơn” có ngần nấy.

2. Một lần đi xe buýt về nhà, trước mắt tôi có một cô bé 7,8 tuổi, lưng đeo cặp sách, hình như vừa tan học. Khi lên xe em bước không vững suýt nữa ngã. Tôi vội vàng đỡ em một tay. Vừa đứng vững em giơ tay ra hiệu, không biết em định nói gì với mình. Thấy tôi không hiểu em rất bối rối. Ngồi được một bến, tôi sắp sửa xuống xe. Cô bé vội vàng chạy đến nhét vào tay tôi một mẩu giấy. Tôi cứ tưởng có chuyện gì, ai ngờ xuống xe nhìn mẩu giấy, chỉ thấy một dòng chữ xiêu vẹo “cám ơn, cám ơn chú!” Thì ra em bị câm điếc. Không hiểu sao trái tim tôi bỗng trào lên một tình cảm nóng bỏng không sao miêu tả nổi.

3. Ở một thành phố nọ, có cậu bé 14,15 tuổi, vì lấy cắp một quyển sách của một hiệu sách, bị bảo vệ bắt quả tang. Bảo vệ quát mắng khiến cậu vô vùng xấu hổ. Những người khác cũng nhìn cậu với ánh mắt khinh bỉ. Bảo vệ cứ đòi cậu gọi bố mẹ hay thầy giáo nhà trường đến nhận người. Cậu bé sợ co dúm người, nét mặt xám ngoét. Lúc này có một phụ nữ đứng tuổi rẽ đám đông vây xem, xông vào bênh vực cậu bé đang hoảng sợ:
– Đừng đối xử với trẻ em như thế. Tôi là mẹ của cháu!
Dưới con mắt khác thường của đám đông, người phụ nữ nộp tiền phạt cho cậu và dắt cậu ra khỏi hiệu sách, khe khẽ giục:
– Mau về nhà đi con, từ nay trở đi đừng bao giờ lấy trộm sách nữa!
Mấy năm đã trôi qua. Cậu bé luôn luôn nhớ ơn người phụ nữ đứng tuổi không quen biết, luôn luôn hối hận đã không nói trước mặt bà hai tiếng cám ơn. Nếu không có bà, đường đời cậu có thể sẽ rẽ sang một lối khác. Sau khi thi đậu Đại Học, cậu sinh viên đã thề nhất định tìm ra bà. Nhưng biển người mênh mông biết tìm bà ở đâu? Thế là hàng năm, lợi dụng kỳ nghỉ hè nghỉ đông, ngày nào cậu cũng đến gần hiệu sách chờ nửa tiếng đồng hồ, hy vọng tìm được người phụ nữ đứng tuổi. Việc làm này hết sức mong manh, nhưng mưa gió không cản trở được cậu, cậu vẫn luôn không nao núng. Bởi vì cậu không bao giờ quên khuôn mặt hiền từ của bà. Cứ thế, cậu sinh viên đứng chờ trong hai năm, cuối cùng đã tìm được bà, nói hai tiếng “cám ơn” ôm ấp trong lòng bấy lâu nay…

4. Có một truyền thuyết kể rằng: Có hai người cùng đi gặp Thượng Đế hỏi lối đi lên Thiên Đường. Thấy hai người đói lả, Thượng Đế cho mỗi người một suất cơm. Một người nhận suất cơm, cảm động lắm, cứ cám ơn, cám ơn rối rít. Còn người kia nhận suất ăn, không hề động lòng, cứ làm như cho anh ta mới phải. Về sau, Thượng Đế chỉ cho người nói “cám ơn” lên Thiên Đường. Còn người kia bị từ chối, đứng ngoài cổng.
Kẻ bị từ chối đứng ngoài cổng không phục:
– Chẳng lẽ chỉ vì tôi quên nói “cám ơn”?
Thượng Đế trả lời:
– Không phải quên. Không có lòng cám ơn, không nói ra được lời cám ơn. Người không biết cám ơn, không biết yêu người khác, cũng không được người khác yêu.
Anh chàng kia vẫn không phục:
– Vậy nói thiếu hai chữ “cám ơn” cũng không thể chênh lệch đến thế?
Thượng Đế đáp:
– Biết làm thế nào được, bởi vì lối lên Thiên Đường rải bằng lòng cám ơn. Cửa lên Thiên Đường chỉ có dùng lòng cám ơn mới mở được. Còn địa ngục thì khỏi cần.

DSC02631

NGUYỄN DU VÀ NGUYỄN ÁNH

Nguyễn Thế Quang

Trích dẫn từ Chương 7 của tiểu thuyết lịch sử “Nguyễn Du” từ trang 343 đến trang 354. Tựa đề NGUYỄN DU VÀ NGUYỄN ANH do Hoàng Kim tự đặt (có khác so với tựa đề HOÀNG ĐẾ VÀ THI NHÂN của nhà văn Ngô Minh tự đặt ở blog Quà tặng xứ mưa.Tôi (HK) có sửa lại chữ Tần Vương thay cho Trụ Vương ở trang 345 theo bản sửa do chính tay nhà văn Nguyễn Thế Quang hiệu đính (*). Trân trọng cám ơn hai nhà văn về tài liệu.

Nguyễn Du đang ngồi trên chiếc chõng tre ở giữa sân. Trăng mười bốn đã lên qua rặng trúc vườn nhà, bầu trời Kinh thành thăm thẳm, muôn vì sao nhấp nhánh như vẫy gọi. Trời đẹp thế này mà không có bạn hiền, Nguyễn cảm thấy trống trải. Lòng lại nhớ non Hồng và cái bát ngát của rừng già, nhớ bạn đi săn ở quê… Đang mải nghĩ, nghe có tiếng chân người qua cổng, Nguyễn nhìn ra và giật mình: một viên thái giám rảo bước tới,liền vội đứng dậy. Thái giám nói:

– Có khẩu dụ của Hoàng thượng mời quan Tham tri vào cung. Kiệu đã đợi sẵn.

Nguyễn quá ngạc nhiên: sao Hoàng thượng lại gọi ta vào lúc này nhưng  không dám hỏi, vội vào lấy quan phục mặc.  Thái giám giơ tay ngăn lại:

– Không cần. Ngài mặc thường phục là được rồi.

Lát sau Nguyễn khăn đóng, áo dài thâm, lên kiệu.” Không hiểu Hoàng thượng nghĩ ra trò gì mà gọi ta vào cung ban đêm, lại không cho mặc triều phục. Bắt ta chăng? Không phải! Ngài muốn bắt, muốn chém đầu mình lúc nào mà chẳng được, cần gì phải thế này. Cho kiệu đón vào, chắc không phải là điều dữ. Có thể là chuyện gì đây?” Nguyễn nhắm mắt lại, thở sâu”- một công án nữa, phải tĩnh tâm mà ứng phó.”

Qua Ngọ Môn, kiệu không vào điện Cần Chánh nơi nhà vua làm việc mà đi sâu vào phía sau đến điện Càn Thành. Kiệu dừng, Nguyễn bước ra. Một vườn hoa kỳ ảo dưới ánh trăng. Đẹp quá! Một sân rộng,  giữa sân một bàn rượu bày sẵn, chỉ có hai chiếc ghế hai bên, Hoàng đế Gia Long, mặc quần áo chẽn, chân mang giày, trông như dáng hoàng tử đang thong thả bước. Nghe tiếng động, Ngài quay lại. Nguyễn vội vàng bước tới, quỳ xuống:

– Kẻ hạ thần khấu đầu cúi lạy Hoàng thượng.

Gia Long vội bước tới: “đứng dậy, đứng dậy. Miễn lễ”. Ngài chỉ ghế. Nguyễn không dám ngồi. Ngài vui vẻ: ”Ngồi xuống, ngồi xuống.” Nguyễn vội nói “Đội ơn Hoàng thượng” rồi ghé vào mép ngồi. Gia Long vui vẻ:

– Khanh thấy cảnh ở đây có đẹp không?

Nguyễn chưa kịp trả lời thì Ngài đã chỉ tay về phía điện Thái Hòa.

– Trước đó có ngai vàng của ta. Nhưng đêm nay gặp khanh, ta không ngồi ở đó. Ở đây: Có trăng, có hoa, có rượu, ta giành để tiếp thi nhân. Khanh vui lòng chứ?.

– Tâu Hoàng thượng. Thần là kẻ quê mùa, được đấng cửu trùng cho gọi vào đây là đại phúc mà không bao giờ hạ thần dám nghĩ tới..

Gia Lòng mỉm cười, sai thị vệ rót rượu. Ngài bảo:

– Khanh uống cùng trẫm – rượu ngon đấy.

Nguyễn nâng chén, nhấp một tí. ”Chà – ngon tuyệt”. Nguyễn thấy lòng ngất ngây thoáng nghĩ: ”Chắc Hoàng thượng muốn nói chuyện thơ văn với ta. Điều này thì sẵn sàng.” Nguyễn im lặng chờ.

Cho thị vệ lui, Ngài bỗng hỏi:

– Này. Khanh thử nói xem: Ta là người thế nào?

Quá bất ngờ, mồ hôi Nguyễn toát ra:

– Tâu Hoàng thượng. Hoàng thượng là đấng thiên tử anh minh, kẻ nô tài này đâu dám có điều gì ạ.

– Ấy! Không được rồi! Đừng nịnh ta. Những từ “anh minh”“sáng suốt” ta nghe chán rồi. Ngươi cứ nói thẳng ra: ta là ông vua tàn bạo phải không? Nguyễn toát mồ hôi: “Sao ngài lại hỏi ta điều này? Có kẻ nào tấu xằng chăng?.” Nguyễn trấn tĩnh:

– Dạ. Thần không nghĩ như thế.

Gia Long điềm tĩnh:

– Có thể khanh nghĩ thế mà cũng không nghĩ thế, nhưng nhiều người nghĩ thế. Ta có làm nhiều điều mà thiên hạ cho là tàn bạo, ta không muốn, nhưng ta phải làm, nếu không ta sẽ chết và không có được giang sơn ngày nay. Tần Vương tàn bạo lắm phải không? Đúng – Tàn bạo quá! Diệt sáu nước thì được, nghe lời Lý Tư mà đốt sách chôn nhà nho và học trò thì không được. Thế nhưng không có Tần Vương thì Trung Hoa không thống nhất. Điều này ngoài Tần Vương ra không ai làm được.

Nguyễn nghĩ: Điều này thì đúng thật và Hoàng thượng là một Tần Vương khôn khéo hơn. Vua Gia Long lại nhìn Nguyễn:

– Uống rượu đi. Bá Di,Thúc Tề là người thế nào?

Một sự chuyển đổi nội dung quá nhanh nhưng Nguyễn đã bình tâm, bèn trả lời:

– Dạ. Đó là những người hiền ạ.

Gia Long nhìn Nguyễn, lắc đầu:

– Khanh sai rồi. Bảo Bá Di, Thúc Tề (lên ở ẩn trên núi Thú Dương không chịu ăn thóc gạo nhà ChuHK ghi chú) là người hiền, có nghĩa hiền lành thì còn được. Nhưng các ông đó chỉ là kẻ hèn thôi. “Độc thiện kỳ thân” cái đó hèn lắm và ích kỷ, chỉ nghĩ đến cái thanh cao của mình mà không nghĩ đến nỗi khổ đau của thiên hạ. Mỗi người phải có vai trò của mình trong tấn tuồng của nhân loại chứ. Ta phải tàn nhẫn, đó là vai của ta phải là vậy. Nguyễn không biết nói sao. Gia Long lại hỏi tiếp:

– Mỗi buổi chầu về, khanh thấy triều thần thế nào?

Nguyễn không vội trả lời cố kéo dài thời gian để suy nghĩ:

– Tâu Hoàng thượng, hạ thần chỉ là một tiểu quan. Hạ thần đâu dám…

– Không được. Ngươi cứ nói thẳng ta nghe.

Nguyễn thong thả:

– Triều đình nhiều bậc công thần đã qua binh đao, nhiều người có học vấn rộng, có tài trị nước…

Gia Long xua tay:

– Thôi! Thôi! Khanh thế là không thật bụng rồi. Ta biết, dưới mắt khanh phần lớn quan triều là giá áo túi cơm, còn nhiều kẻ là giả dối, độc ác:

Xuất giả khu xa, nhập cử tọa
Tọa đàm lập nghị giai Cao, Quỳ
Bất lộ trảo nha dữ giác độc
Giảo tước nhân nhục cam như di.

(Họ đi ra ngựa ngựa xe xe, / vào nhà vênh vênh váo váo / Đứng ngồi bàn tán tựa ông Cao, ông Qùy/ Không lộ vuốt nanh và nọc độc/ Nhưng nhai thịt người ngọt xớt như đường). Nguyễn giật mình:” Trời! Thơ ta, ai đã mật báo cho Ngài. Lần này thì chết đến nơi rồi!”. Vờ như không thấy sự bối rối của Nguyễn, Gia Long nói tiếp:

– Khanh nói có phần đúng đấy. Trong đám triều thần này phần lớn ít học, chúng như bầy thú, sói nhiều, hổ cũng có, có khi nó hợp lực với nhau, có khi nó cắn xé nhau, còn khanh, khanh là con gì? Thấy cách nói của Hoàng thượng có vẻ dân dã, chắc Ngài đang vui, Nguyễn nói:

– Dạ bẩm. Thần chỉ là… con thỏ ạ.

Gia Long bỗng phá ra cười, tiếng cười sảng khoái, thích thú. Chưa bao giờ  được nghe tiếng cười giòn giã ấy của Hoàng thượng, nên Nguyễn thấy lòng phấn chấn hơn.

– Đúng. Khanh là con thỏ, nhưng là con thỏ ngọc khôn ngoan nhất, nhuốm không đen, sấm sét không sợ, mạnh hơn cả mãnh hổ.

Nguyễn vội chối:

– Tâu Bệ hạ – thần chỉ là…

Gia Long nhìn thẳng vào Nguyễn:

– Từ Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành, Lê Chất cho đến bất kỳ kẻ nào, ta nhìn một cái thì đã hồn xiêu phách lạc, còn khanh, bề ngoài tỏ ra nhũn nhặn như con chi chi, sợ sệt như con thỏ, còn bên trong khanh coi thường cả thiên hạ – trừ ta ra, đúng không? Khanh cố làm tốt phận sự nhưng khanh vẫn là khanh, khanh vẫn sống, vẫn nghĩ theo cái đầu của khanh. Đoàn Nguyễn Tuấn, Nguyễn Nễ bảo khanh theo Tây Sơn, khanh không theo. Ta bảo khanh ra làm quan, khanh biết là phải ra. Ra, nhưng khanh vừa làm quan đúng mực theo lệnh ta mà vẫn làm được cái khanh thích, khanh cần. Đúng không? Nguyễn giật mình: “Ông hoàng này ghê thật, hiểu thấu cả lòng mình.”

Nguyễn chưa biết trả lời sao thì Gia Long đã nói: “Ta quý những người có cốt cách như khanh.”

Nghe đến đây, Nguyễn nén tiếng thở phào nhẹ nhõm. Ngài dục “Uống rượu đi”. Nguyễn vâng lời nâng chén và đợi chờ những điều bất ngờ mới.

– Trẫm đã đọc “Đoạn trường tân thanh” của khanh. Khá lắm. Đó là tinh hoa của đất trời. Khanh đã làm vẻ vang cho người Việt, văn chương từ xưa đến nay chưa thấy bao giờ. Con người đáng thương lắm. Đàn bà càng đáng thương hơn. Thế nhưng, “tu là cõi phúc, tình là dây oan” không đúng đâu nhé. Thiên hạ rủ nhau đi tu lấy đâu người đi lính. Tu thì không làm rối xã hội nhưng chỉ để cho kẻ ác, kẻ mạnh bắt nạt thôi. Còn “tình” sao lại dây oan. Tình làm cho con người say hơn, sướng hơn chứ. Đúng không?

Nguyễn mỉm cười. Gia Long chợt hỏi:

– Sao khanh lại cười? Ta nói không đúng à?

Nguyễn vẫn mỉm cười. Nhà vua bỗng “à” lên:

– Ta hiểu rồi. – Khanh láu cá lắm. Khanh tưởng ta không hiểu đúng ý của khanh chứ gì. Cái thằng “nghĩ một đằng nói một nẻo”, khanh bảo tình là dây oan nhưng trong truyện của khanh, tình bao giờ cũng tuyệt vời cả. Có đúng không?

Nguyễn lại giật mình, quả thật là tinh tường, bèn vội thụp xuống lạy:

– Thần xin bái phục Bệ hạ.

Gia Long cười ha hả đỡ Nguyễn dậy.

– Thi nhân các khanh, quen coi thiên hạ là nhỏ bé, là tai trâu cả. Hỏng!

Nếu thế thì còn ai thưởng thức cái hay mà các khanh viết.

Ngài uống một ngụm rượu, rồi nghiêm mặt giơ ngón tay chỉ vào Nguyễn :

– Lần sau có viết, thì không được viết những câu như “Chọc trời quấy nước mặc dầu, dọc ngang nào biết trên đầu có ai” nữa nhé. Có người bảo ta cắt cái đầu ngươi vì câu này đấy.

Điều sợ nhất đã đến, Ngài đã chuyển xưng hô từ “khanh” sang “ngươi”,

Nguyễn tái mặt, mồ hôi ướt đẫm áo vội quỳ xuống chống chế:

– Đội ơn Hoàng thượng tha chết, nhưng…

Mặc Nguyễn quỳ, Gia Long bắc chân lên ghế,  ngắt lời:

– “Nhưng đó là lời của thằng Từ Hải chứ không phải của hạ thần”, ngươi định nói thế chứ gì. Ta biết, nếu ta xử tội ngươi, ngươi sẽ nói thế, nhưng ngươi phải hiểu rằng: nếu ta muốn giết ngươi, ngươi có chống chế thế thì ta bảo “ngươi mượn lời Từ để xúi giục làm loạn, phạm tội khi quân.” Còn nếu ta không muốn giết ngươi, mà quần thần muốn dựa vào đó giết ngươi, thì ta lại nói: “Đó là lời của bọn Từ Hải”và tha cho ngươi. Cái hay của người cầm quyền là ở đó, muốn cho ai sống, chết là do ở mình. Biết không? Ngài dừng lại một tý, bỏ chân xuống rồi nói:

– Nhưng người cầm quyền giỏi phải để cho người có tài sống mà làm lợi cho vương triều và dân nước chứ. Nguyễn thoáng nhớ Nguyễn Văn Thành và nghĩ “người có tài muốn sống thì không được chống đối, không được kiêu ngạo tỏ ra hơn vua” bề tôi biết phải hiểu điều đó, bèn nói:

– Thần thực ra chỉ là kẻ bất tài, đội ơn bệ hạ có lòng bao dung tha cho thần được sống. Nguyễn sụp lạy. Gia Long đỡ Nguyễn dậy “khanh đứng dậy đi, ngồi nói chuyện cho vui”. Nguyễn bình tâm trở lại, Hoàng thượng đã dùng từ “khanh”, như vậy là thoát chết rồi. Nguyễn ngồi vào ghế, nhà vua nói:

– Này. Giá như ta cho khanh làm vua khoảng mươi ngày, khanh có làm được không?

Nguyễn khéo léo thưa:

– Dạ. Nếu Bệ hạ cho thần làm một ngày, thần cũng không làm nổi.

Gia Long gật gù:

– Đúng lắm. Khanh quả là người biết. Các thi nhân chỉ quen chê thiên tử, nhưng thi nhân cầm quyền thì mọi việc sẽ rối mù. Các khanh giàu tình thương nhưng lại không dám làm điều dữ, không dám trị kẻ ác, mà kẻ ác, kẻ xấu thì thời nào cũng lắm và luôn muốn nhảy lên cưỡi cổ người khác kể cả cướp ngôi của Hoàng đế; Kẻ sĩ thường biết một việc mà không biết mọi việc. Làm thiên tử đứng giữa triều đình như đứng giữa rừng: voi có, hổ có, khỉ có, sói có, giun dế có… Muốn đứng vững trên ngai vàng phải mạnh và khôn như báo, quản được voi, khuất phục được hổ, không bị khỉ lừa, dùng được sói và còn nuôi được…

Nguyễn nói nối vào:

– Còn nuôi được thỏ nữa phải không ạ?

Gia Long cười khà khà:“khanh khá lắm”. Ngài đứng dậy đi vài bước rồi ngồi xuống:

– Khanh biết không. Ta ngồi trên ngai vàng chẳng sung sướng gì đâu. Có những việc không muốn làm mà vẫn phải làm, có những việc mưốn làm mà không thể làm. Xung quanh ta phần lớn là kẻ xu nịnh và hèn nhát nhưng lại luôn cắn xé nhau. Nhiều khi cô độc lắm. Đêm nay ta rất vui. Ngài dừng lại một tí rồi nhìn vào mắt Nguyễn:

– Thơ khanh viết hay lắm. Sao khanh không có bài nào ca ngợi ta nhỉ? Khanh có thể viết một bài hay một quyển thật hay ca ngợi ta và triều đại ta không?

Lại thật quá bất ngờ. Nguyễn vụt nghĩ: đúng là ta không như những kẻ khác làm thơ xu nịnh, nhưng lòng ta vẫn kính trọng và biết ơn Hoàng thượng đấy chứ. Trong bài “Nam quan đạo trung” ta có viết : “Quân trung tự hải hào vô báo” (ơn vua như bể, chưa báo đáp mảy may), đó là lời tự lòng ta nói với ta. Còn viết thơ ca ngợi Ngài, đưa cho Ngài đọc hoặc cho người khác đọc thì ta không làm. Sao hôm nay Ngài lại bảo ta làm điều này? Đó là mục đích của cuộc gặp này chăng? Gia Long cũng tầm thường như những kẻ cầm quyền khác thích tô vẽ và lừa dối thiên hạ  sao? Nguyễn thất vọng! Nguyễn sợ. Không làm thì chết, mà Nguyễn không muốn làm, không thể làm. Vụt nghĩ ra một cách, Nguyễn nói:

– Muôn tâu Bệ hạ. ơn của Bệ hạ đối với thần như trời như bể, thần đâu dám chối từ. Nhưng nghĩ công lao Người từ buổi mưu nghiệp lớn ở chỗ mất, dựng nên giang sơn thế này xưa nay chưa từng có, không bút nào tả xiết. Thế nhưng Bệ hạ vốn không thích ngợi ca, giờ làm văn ngợi ca hậu thế lại hiểu lầm Người thích tô vẽ mà làm giảm công nghiệp đích thực, mà thần thì cũng…

Gia Long ngắt lời:

– Không còn là Nguyễn Du chứ gì? Ngươi không chịu làm chứ gì?

Nhìn đôi mắt Gia Long quắc lên, Nguyễn bủn rủn. Thôi! Chết rồi! Thế là hết. Đành vậy. Nguyễn quỳ xuống, cúi đầu chậm rãi nói:

– Xin Bệ hạ cho thần được làm điều thần nghĩ.

Thời gian như ngưng lại, Nguyễn đợi một cơn sấm sét, một lưỡi kiếm.

Bỗng Gia Long cất tiếng cười sảng khoái âm vang như  lay động cả ánh trăng, Nguyễn quá bất ngờ vội  ngẩng lên nhìn thấy mặt Rồng rạng rỡ. Người đỡ Nguyễn dậy:

– Khá lắm. Thế mới là Nguyễn Du của trẫm chứ. Ta có cần gì ngợi ca. Ta chỉ cần những bề tôi có tài, có cốt cách như khanh. Xung quanh ta biết bao kẻ xu nịnh. Nhưng nhà thơ đích thực thì không được xu nịnh bất kỳ ai kể cả  quyền lực và mỹ nữ.

Gia Long dừng lại, nhìn Nguyễn, giọng trầm lắng:

– Nguyễn Du – khanh sẽ bất tử. Con người còn bị trói buộc, bị đày đọa thì họ còn nhắc đến khanh. Còn ta – thiên hạ sẽ chóng quên ta, thậm chí nhiều người còn nguyền rủa ta. Nhưng dù sao chúng ta cũng vẫn phải tồn tại. Không có hoàng đế, con người sẽ mất phương hướng, cái ác sẽ ngự trị; không có thi nhân con người sẽ chỉ biết sống vị kỷ, kém yêu thương và cái Đẹp không còn!

Gia Long đi đi lại lại. Nguyễn không dám ngồi. Rồi Ngài dừng lại đặt hai tay lên vai Nguyễn:

– Thiên hạ nói ta “Rước voi dày mộ tổ” phải không?

Nguyễn chưa biết trả lời sao, định đứng dậy thì Gia Long ấn Nguyễn ngồi xuống. Người cũng ngồi và nói, giọng trầm lắng:

-Đúng là ta có “rước voi” vào thật, một quyết định lúc quá khó khăn mà sau này nghĩ lại dù thế nào ta cũng không nên làm. May mà bản quốc nó lộn xộn, nó chưa vào được. Sau đó, lúc chiến sự dằng co ta đã kiên quyết từ chối để nó không vào. Còn bây giờ ta kiên quyết không cho nó vào. Giang sơn này phải giữ cho toàn vẹn. Còn khi nào nó vào được, ta không biết, nhưng chắc chắn đời ta và con ta nó không vào được. Hậu thế sẽ lên án ta. Ta không thể biện giải. Nhưng ta tin họ sẽ hiểu ta. Ta không phải là người đầu tiên và cũng không phải là người cuối cùng. Ngài nhấp một ngụm rượu rồi nói:

– Điều ta quan tâm nhất là mục đích lớn đã đạt được: ta đã giành được giang sơn mà tiên vương đã gây dựng và còn hơn thế nữa mở rộng được cương vực của nước Việt. Ta đã ngăn chặn được sự can thiệp của bọn rợ Lang Sa. Thế là được!

Nguyễn cảm nhận được niềm tự tin mãnh liệt trong lời nói của Gia Long, và cả nỗi buồn ân hận.Trống vừa điểm canh ba, Gia Long nhìn Nguyễn:

– Khanh có điều gì thỉnh cầu Trẫm không?

– Đội ơn Hoàng thượng. Thần đã được Hoàng thượng ban ân quá nhiều, thần chỉ cầu mong Người khang cường vạn thọ để chăm sóc cho muôn dân.

Gia Long gật đầu và nói:

-Thật tiếc cho ta không có nhiều những bề tôi như khanh.

Nói rồi, ngài vẫy tay về phía tên thái giám đang đứng chờ ở phía cuối sân. Giây sau một thị vệ bưng tới một cái khay trên phủ tấm khăn vàng.

– Khanh đoán xem, Trẫm sẽ ban cho khanh những gì?

Nguyễn im lặng. Gia Long nói tiếp:

– Không phải vàng bạc đâu. Cái đó khanh thiếu lắm nhưng ta biết khanh không ham mà cũng không cần. Ta ban cho khanh những cái này chắc hợp với khanh.

Ngài mở khăn  ra. Nguyễn nhìn thấy nghiên, bút, giấy, bèn quỳ xuống , đỡ lấy chiếc khay, rồi nhìn Hoàng thượng ngạc nhiên: đây là bộ tứ bảo sao không có mực? Như hiểu ý Nguyễn, Gia Long nói:

– Thiếu mực phải không? Có đấy. Ở đời có những cái thoạt nhìn không thấy được, nhìn kỹ mới thấy.

Rồi ngài cầm nghiên mực lên:

– Đây là chiếc nghiên mực làm bằng đá Đoan Khê ở Quảng Đông. Cái quý nhất của nó là chỉ cần hà hơi vào là có mực ngay, người gọi nó là nghiên “Tức mặc”. Thi nhân, ý thơ thường chợt đến. Đợi lấy nước, mài được mực có khi ý hay biến mất. Trẫm tặng khanh nghiên này để đi đâu, bất kỳ lúc nào, có ý hay, khanh ghi lại được ngay.  Nói rồi, Ngài đặt lại vào khay. Nguyễn quá xúc động, không ngờ một Hoàng đế bề ngoài lạnh lùng sắt đá mà lại hiểu việc của thi nhân, hiểu lòng người đến vậy. Nguyễn chưa kịp nói lời cảm ơn thì Ngài đã nói tiếp giọng đầy xúc động:

– Trẫm muốn khanh dùng những thứ này viết thêm những vần thơ thật hay cho đời.

Nguyễn cúi đầu. Nghĩ đến Nguyễn Văn Thành và những điều muốn viết mà  không dám viết, bèn nói:

– Thần muôn vàn đội ơn Hoàng thượng đã ban cho báu vật và mong mỏi của Người, thần chỉ lo không làm nổi lời Người mong.

– Làm được hay không là tùy vào tâm của khanh. Khi nào thật muốn viết hãy viết, chưa thật muốn viết thì thôi. Cái tâm không thiết tha thì viết không hay được phải không? Mà này, đừng viết buồn quá đấy nhé “Hậu thế nhân nhân giai Thượng quan, Đại địa xứ xứ giai Mịch La”(Đời sau ai cũng là Thượng quan, mặt đất đâu đâu cũng là sông Mịch La) là không đúng đâu nhé.

Thời nào và ở đâu, người xấu cũng nhiều mà người tốt cũng lắm. Thơ văn, lời phải đẹp, ý phải sâu và phải làm cho con người phấn chấn lên chứ.

Nguyễn quỳ xuống:

– Thần xin nhận thánh chỉ.

Nguyễn đứng dậy, đi lùi mấy bước, rồi quay người bước đi. Viên thị vệ cùng đi theo. Chợt Gia Long gọi lại, dặn:

– À này! Hãy viết làm sao cho con người yêu thương nhau nhưng kích động nổi dậy chống triều đình là không được đâu nhé. Lúc đó thì dù quý đến mấy cái tài của khanh ta vẫn phải lấy cái đầu của khanh để trị yên thiên hạ đấy. Nhớ chưa.

Nguyễn cung kính:

– Thần xin ghi nhớ.

Nguyễn Thế Quang
Nguyễn Thế Quang 2010. Nguyễn Du, tiểu thuyết lịch sử.
Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn , 65 Nguyễn Du- Hà Nội 425 trang
(Hoàng Kim đăng bài theo đúng bản gốc đã hiệu đính)

Bài viết mới

Video yêu thích

ThuyenvaBien
Thuyền và biển
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Về miền Tây

oitiengvietnhubunvanhulua

Hoàng Kim

Sao anh chưa về lại miền Tây.
Nơi một góc đời anh ở đó.
Cần Thơ Sóc Trăng sông Tiền Sông Hậu,…
Tên đất tên người chín nhớ mười thương.

Anh có về Bảy Núi Cửu Long,
Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ.
Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ….
Anh có về nơi ấy với em không?

*

Mình về với đất phương Nam.
Ninh Kiều thắm nước, Sóc Trăng xanh đồng.
Về nơi ấy với em không ?
Bình minh Yên Tử mênh mông đất trời.

Ta đi cuối đất cùng đời
Ngộ ra hạnh phúc thảnh thơi làm Người.

*

Về miền Tây đối với tôi là đến với một vùng ký ức. Nhớ miền Tây, tôi tẩn mẩn xếp lại những tản văn hay, bài thơ hay, trang thư, bức họa, những bản nhạc … của những người thầy, người bạn, và lắng nghe nôn nao ký ức dội về …

Hành phương Nam  bạn hãy đọc bài “Về miền Tâycủa Nguyễn Quỳnh Trâm là cô giáo dạy văn giỏi của trường Lê Quý Đôn ở thành phố Hải Dương. Bài ký của cô giáo Nguyễn Quỳnh Trâm cho chúng ta một góc nhìn Cần Thơ, Cà Mau trong đôi mắt của người lữ khách xứ Bắc lần đầu đến Hậu Giang, Bạc Liêu. Bài thu hoạch “đi một ngày đàng học một sàng khôn” của cô giáo Quỳnh Trâm chứa đựng những phác thảo tinh khôi thật đáng học hỏi. Có lẽ cái gốc văn hóa Kiếp Bạc Côn Sơn nơi phát tích của Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi đã thổi vào tâm hồn của những người bạn Hải Dương mà tôi được quen ở đó như Trần Đăng Khoa, Nguyễn Quỳnh Trâm, … mỗi người đều lắng đọng những nét văn hóa rất riêng và đẹp.

Về miền Tây,  thương …” Bạn có nhớ tản văn hay của Nguyễn Thị Hậu (Nguyễn kc Hậu trên Facebook). Cô Hậu là tiến sĩ khảo cổ học nhà Sài Gòn nhưng quê miền Tây. Về miền Tây … thương là góc nhìn của người miền Tây, người trong cuộc. “Chữ thương bao dung và nhân hậu, nhẹ như hơi thở mà người miền Tây chỉ buông ra khi dằn lòng không được …” Chữ thương càng đằm thắm hơn khi bạn đã trãi nghiệm giấc mơ hạnh phúc, đã hiểu được sức nặng của yêu thương, nhớ nhung và đầy đặn nghĩa tình … để thấm thía được ý nghĩa sâu xa của đời người: năm tháng sẽ đi qua chỉ tình yêu ở lại …. Tôi viết  trên trang Học mỗi ngày “Đọc và cảm nhận “Về miền Tây …thương”. Sức khỏe của trang blogspot nay không được tốt nên tôi chép về đây để bạn cùng đọc.

Hoa điên điển và em“Bạn đã ăn lẩu hoa điên điển nấu với cá linh chưa? Một trong muôn vàn món lạ miền Nam đấy. Đọc  thơ “Hoa điên điển và em” của cô giáo Cao Nguyên ở Đồng Tháp. “Điên điển tàn lại nở. Chuyện lở bồi do sông. Anh có về nơi ấy. Hoa vẫn vàng mênh mông …” Tôi đã từng viết lời cảm nhận trong bài viết Hoa điên điển và em Cao Nguyên : Nếu mỗi nhà thơ chỉ được chọn bốn câu thôi thì bốn câu thơ này của Cao Nguyên sẽ có thể sánh cùng những bài thơ hay chọn lọc đấy. Giản dị. Sâu sắc Ám ảnh.Bạn đến Đồng Tháp, thăm vùng lúa trời Đồng Tháp Mười, thăm Tràm Chim, Xẻo Quýt hình ảnh của Đồng Tháp Mười thu nhỏ, ăn lẩu cá linh và hoa điên điển nếu đúng mùa.

Bạn về Vĩnh Thạnh, Lấp Vò viếng mộ người hiền Nguyễn Hiến Lê học và viết.Bạn tham quan và viếng mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Bác Hồ. Về miền Tây, thầy bạn tôi ở dưới đó. Mỗi tỉnh huyện Nam Bộ, mỗi nơi đi qua, mỗi chỗ dừng chân, hầu như nhiều nơi tôi đều có bạn. Họ là sinh viên, người quen, bạn học, bạn nhà nông. Bao tên đất tên người thân thương vẫy gọi…

Về miền Tây bát ngát đồng xanh và mênh mông sông nước. Từ cậu bé chân đất làng Minh Lệ, Chợ Đồn, Quảng Bình, tôi đã từng ở Bắc nhiều năm và thao thức khi viết “Về Việt Bắc đêm lạnh nhớ Bác“, đã từng sống ở Tây Nguyên và nhiều lần qua Miên Lào cũng như đã đến nhiều nước “Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương” và chiêm nghiệm sâu sắc “Từ Mekong nhớ Neva“. Tôi neo đậu giấc mơ hạnh phúc với miền Trung và Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh yêu thương. Đất và người phương Nam với tôi là mạch nước ngầm tình yêu cuộc sống đầy đặn.

Mình về với đất phương Nam. Ninh Kiều thắm nước, Sóc Trăng xanh đồng. Về nơi ấy với em không ? Bình minh Yên Tử mênh mông đất trời. Ta đi cuối đất cùng đời  Ngộ ra hạnh phúc thảnh thơi làm Người. Đến với hạt gạo, củ khoai, củ sắn, trái bắp, đậu đỗ, rau hoa quả, sống với những người dân hiền lành chất phác, chân tình trượng nghĩa, ta như tắm mình trong nắng sớm ban mai mặt trời vừa mọc.

Câu chuyện con đường lúa gạo Việt Nam khởi đầu từ Lương Định Của con đường lúa gạo ở Sóc Trăng tôi sẽ kể tiếp. Còn bây giờ mời bạn đọc một số bài viết của bạn tôi.

Hoàng Kim

conduongluagaovietnam

CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM

Hoàng Kim

Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa. Giáo sư tiến sỹ, anh hùng lao động Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long,  tác giả chính của cụm công trình ‘Nghiên cứu và phát triển lúa gạo’ đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh, đã có hai bài viết quan trọng giới thiệu về “Lịch sử cây lúa Việt Nam” và “Cải tiến giống lúa cho sản xuất lúa gạo tại Việt Nam”. Giáo sư đã đưa ra các bằng chứng và dẫn liệu ‘Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa’ và ‘các tiến bộ của giống lúa Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21’. Hai bộ sách: Nguyễn Văn Luật (chủ biên), xuất bản lần đầu năm 2001, 2002, 2003 Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20, ba tập Nhà Xuất Bản Nông nghiệp, Hà Nội, 1.347 trang, và Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu 2011. Khoa học về cây lúa, di truyền và chọn giống. Nhà Xuất bản Nông Nghiệp, 623 trang đã đúc kết về những tiến bộ này.

Con đường lúa gạo Việt Nam” là chùm bài lược thuật về các dâng hiến lặng lẽ của một số nhà nông học,  nhà giáo và nông dân giỏi nghề nông. Họ gắn bó cuộc đời với nông dân, nông nghiệp, nông thôn, và những sinh viên, học viên nghề nông để làm ra những hạt gạo ngon hơn, tốt hơn cho bát cơm của người dân. Tập tài liệu nhỏ này mục đích nhằm kể lại những mẫu chuyện đời thường nghề nông cho các em sinh viên đọc thêm ngoài giờ học chính.

Thầy Norman Borlaug nhà khoa học xanh, cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói, đã có dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

Dạy học không chỉ trao truyền tri thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn trao truyền ngọn lửa. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Nam Bộ Việt Nam, quê hương của nhà bác học nông dân Lương Định Của, là nơi con đường lúa gạo Việt Nam khởi phát và tỏa rộng, là nơi mở đầu cho chùm bài viết này. Về miền TâySao anh chưa về lại miền Tây. Nơi một góc đời anh ở đó. Cần Thơ Sóc Trăng sông Tiền Sông Hậu. Tên đất tên người chín nhớ mười thương. Anh có về Bảy Núi Cửu Long. Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ. Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ. Anh có về nơi ấy với em không?” (thơ Hoàng Kim).

Lương Định Của con đường lúa gạo
Nơi tỏa rộng con đường lúa gạo Việt

Những chân dung nghề nông phác thảo

Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai
Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Những người Việt lỗi lạc ở FAO
Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam
Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Thầy Xuân lúa và hệ canh tác

DẠY, HỌC VÀ LÀM cây lương thực
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh

Con đường xanh của chúng ta
Công việc này trao lại cho em
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Hoa của Đất

Về miền Tây
Hoa Lúa

Xin giới thiệu ‘Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng‘ trong chùm bài viết trên

GaoThomSocTrang

HỒ QUANG CUA GẠO THƠM SÓC TRĂNG

Hoàng Kim

Nhà văn, nhà báo Huỳnh Kim vừa có bài viết ấn tượng Gạo thơm ST ra thế giới viết về kỹ sư Hồ Quang Cua, tác giả nhãn hiệu Gạo thơm Sóc Trăng nổi tiếng ST5, ST20,… “Thái Lan làm được sao mình không làm? ” “ST ra thế giới nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi“. Những trăn trở của anh Hồ Quang Cua và những người tâm huyết “chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao” cũng là trăn trở của hàng triệu nông dân Việt Nam.

ST5

Làm gì để nâng cao giá trị canh tác, giá trị sử dụng và hiệu quả kinh tế để hạt ngọc Việt đi ra thế giới ? Từ nghiên cứu chọn tạo giống tốt, hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh, đến phục tráng, thực nghiệm, nhân giống gốc, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, đến tổ chức hệ thống sản xuất chế biến kinh doanh khép kín là  một chuỗi công việc to lớn để có được chén cơm ngon như những tấm hình minh họa dưới đây

LuaSocTrang

Anh Hồ Quang Cua (thứ nhất bên trái) cùng anh Bùi Bá Bổng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT (thứ hai từ bên phải), trong hội thảo đầu bờ trên cánh đồng mẫu lớn. Chúng tôi đang học theo thầy Lương Định Của con đường lúa gạo, học theo anh để tiếp nối công việc của anh và thực hiện đề tài Chọn tạo giống lúa hướng đến thích ứng với biến đổi khí hậu từ nguồn gen siêu lúa xanh (GSR) và đặc sản Sóc Trăng (ST). Tôi biết ơn anh Hồ Quang Cua vì tấm lòng của anh đối với nông dân, đối với cây lúa, đối với nghề nông  và những kỹ năng cuộc sống quý giá mà anh đã thân thiết trao đổi, gợi mở,…

Tôi nhớ đến anh là nhớ đến gạo thơm Sóc Trăng và ngược lại. Ra bến xe đò về thành phố, hỏi đến ông Cua gạo thơm Sóc Trăng là hầu như ai cũng biết và họ hồ hởi khoe ông Cua và gạo trắng, gạo ngon, … rượu  ngon Sóc Trăng và nếp cẩm.  Chợt dưng tôi thấu hiểu những ông Bụt đời thường, những ông Bụt của đất, của nước, của hạt ngọc phương Nam.

ST Tim

Trăn trở về Lúa Gạo Việt Nam chiến lược chọn tạo giống, tôi viết thư trao đổi với anh Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp. Anh tán đồng với phương pháp “đưa thêm các nguồn gen quý vào những giống lúa vốn đã rất phổ biến và nổi tiếng trong sản xuất” như cách chúng ta đã làm trong tạo chọn và phát triển các giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím) công nhận giống năm 1997 thành vùng giống sản xuất lớn, thâm canh cao ở Bình Minh, Vĩnh Long năm 2007, đưa năng suất khoai lang từ 9,00 tấn lên 29,8 tấn trên phạm vi toàn tỉnh; Giống sắn KM98-5, KM419 tạo giống cũng theo cách trên và nay đã thành vùng giống sắn sản xuất lớn ở Tây Ninh, đưa năng suất sắn từ 8,5- 12,5 tấn /ha của giống sắn địa phương lên 17,0- 27,0 tấn/ha và nay toàn tỉnh đạt năng suất 30,0 tấn/ha, cá biệt những nông hộ sản xuất giỏi đạt 50,0 – 65,0 tấn/ha trên diện rộng, chủ lực là giống sắn mới KM419 chiếm trên 50% diện tích sắn và các giống KM94, KM98-5… Điều này cũng như công việc chúng ta đang làm đưa thêm nguồn gen quý vào giống lúa “hoa hậu” OM6976 của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cúc Hòa, Phạm Trung Nghĩa và cộng sự Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, để chọn tạo và phát triển dòng OM6976-41 (GSR89), hoặc những việc chúng ta đang làm mới đây nhằm kết hợp GSR với ST.

Anh Lê Huy Hàm đồng tình và trao đổi nhiều thông tin định hướng chọn tạo giống lúa (như đã nêu ở bài trên). Anh viết: “Kính gửi anh Kim. Cám ơn anh đã giới thiệu về các giống lúa mới có tiềm năng ứng phó với biến đổi khí hậu. Điều này tôi rất quan tâm. Hiện nay chúng tôi đi theo hướng là không tạo ra giống lúa mới mà chỉ cải tạo giống cũ. Lý do vì chúng ta đã tạo ra quá nhiều giống lúa mới, nông dân hoa mặt không còn biết phân biệt giống nào tốt, giống nào xấu nữa (Không như sắn và khoai lang, số giống chọn tạo không nhiều nhưng rất bền trong sản xuất – HK). Nhiều giống lúa cũng làm cho việc xây dựng thương hiệu giống và thương hiệu gạo khó khăn, là một trong các nguyên nhân làm gạo Việt Nam có giá thấp trên thị trường. Vì vậy hiện nay tôi đang nâng cao tinh chịu mặn và tình chịu ngập của các giống đại trà lúa miền Bắc và miền Nam bằng việc đưa gen Saltol (chịu mặn) và gen Sub1 (chịu ngập) vào các giống lúa đại trà của Việt Nam. Mức chịu mặn giai đoạn mạ hiện nay đã đạt 5-6 ‰, chiu ngập 10-15 ngày, sau khi nước rút lại mọc lại. Chúng ta có thể cùng nhau thử nghiệm các giống này tại Sóc Trăng. Anh làm cầu nối với tỉnh thì rất tốt. Chúng ta cùng nhau tìm kinh phí. Chúng tôi hy vọng rằng bằng cách này, chúng ta sẽ không tao ra các giống mới mà chỉ cải thiện các giống đã chấp nhận rộng rãi ở các đặc tính chịu mặn, chịu ngập, kháng rầy, đạo ôn, khô văn, bạc lá… và cuối cùng tạo ra Multiple tolerant rice varieties hay super rice. Đây là đặc tính cần để ứng phó với biến đổi khí hậu. Chúng tôi cũng sẵn sàng tham gia với kế hoạch của anh về SGR(Green Super Rice – Siêu lúa xanh)ở tỉnh Sóc Trăng, Phú Yên và Gia Lai. Anh móc nối, có thể chúng ta sẽ tổ chức gặp nhau Viện Di truyền – Đại học Nông Lâm hoặc tại các tỉnh trên. Chúng tôi có thể lại tạo để chuyển thêm gen saltol vào SGR để tăng tính chịu mặn, đánh giá ở góc độ phân tử, sau đó anh cùng với Sóc Trăng, Phú Yên , Gia Lai và các nơi đánh giá tại địa Phương. Anh suy nghĩ nhé. Chúc anh khỏe, Lê Huy Hàm

ST5 nhân giống

Tôi muốn khởi đầu câu chuyện “Lúa Gạo Việt Nam diễn đàn chọn tạo giống” bằng sự Tổng quan “Con đường lúa gạo Việt Nam” kể về nhiều nhân vật kỳ vĩ và nhiều nhà khoa học tâm huyết tài năng như: Lương Định Của, Tôn Thất Trình, Bùi Huy Đáp, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Vũ Tuyên Hoàng, Mai Văn Quyền, Trần Văn Đạt, Bùi Bá Bổng, Bùi Chí Bửu, Nguyễn Công Tạn, Phan Phải, Nguyễn Thị Trâm, Lê Huy Hàm, Tạ Minh Sơn, Nguyễn Trí Hoàn, Phạm Văn Ro, Nguyễn Thị Cúc Hòa, Nguyễn Thị Lang, Đỗ Khắc Thịnh, Nguyễn Văn Hoan, Mai Thành Phụng, Nguyễn Gia Quốc … Họ đã đóng góp to lớn trong chọn tạo giống lúa, góp phần làm nên diện mạo “Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20”. Nhưng tôi xin được viết chậm lại để có thời gian thong thả hơn. Sự cần thiết phải đi thẳng vào những vấn đề nóng hổi, cấp bách của thực tiễn sản xuất đang đòi hỏi: “Làm gì để phát triển khoa học công nghệ mới tạo được đột phá cho hạt ngọc Việt?“.

Chúng ta hãy bắt đầu từ anh Hồ Quang Cua và gạo thơm Sóc Trăng, từ vùng đất quê hương Long Phú, Đại Ngãi (Đại Nghĩa theo cách gọi của tiếng miền Nam), đi trên con đường lúa gạo Trường Khánh, Đại Nghĩa của dân tộc Việt, nơi sinh thành của nhà bác học cây lúa Lương Định Của. Chúng ta cũng bắt đầu bằng ý kiến thảo luận của anh Lê Huy Hàm, chuyên gia về di truyền chọn giống lúa. Tôi hiểu ý anh Hàm “Chọn giống lúa là đừng ham tạo ra nhiều giống mà cần tuyển chọn kỹ để có giống lúa ưu tú phổ biến thành thương hiệu nổi bật, đứng vững trong sản xuất“. Mời bạn hãy đọc “Gạo thơm Sóc Trăng ra thế giới” của Huỳnh Kim. Bài viết ngắn nhưng nhiều thông tin lắm. Đất nước cần có nhiều Hồ Quang Cua và “gạo thơm Sóc Trăng” hơn nữa cho bà con nông dân và cho sản xuất! Đọc Huỳnh Kim, tôi cảm giác như gặp lại Sơn Nam: ” … Năm tháng đã trôi qua/ Ray rứt mãi đời ta/ Nắng mưa miền cố thổ/ Phong sương mấy độ qua đường phố/ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê “. Năm tháng sẽ qua đi, chỉ những thành quả thiết thực cho chén cơm manh áo của người dân là còn lại.

Đất Nước cần nhiều những nhà khoa học dấn thân, cần cù, phúc hậu, trí tuệ chọn tạo giống lúa, cây lương thực ngon hơn, tốt hơn cho người dân, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp, các giải pháp khoa học công nghệ để người dân lao động bớt nhọc nhằn hơn, giảm rũi ro và tổn thất sau thu hoạch.

Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Hoàng Kim

GẠO THƠM ST RA THẾ GIỚI

Huỳnh Kim

Cục Sở hữu trí tuệ đã chứng nhận nhãn hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” từ cuối năm 2011 cho dòng sản phẩm gạo thơm mang tên ST. Người xây đắp cho thương hiệu này, kỹ sư Hồ Quang Cua, nay đang mong muốn nâng ST lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới.

Kỹ sư Hồ Quang Cua – Ảnh: H.Kim

Thái Lan làm được sao mình không làm?

Tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt Trường ĐH Cần Thơ năm 1978, anh Hồ Quang Cua  trở về quê nhà Sóc Trăng, làm việc tại Phòng Nông nghiệp huyện Mỹ Xuyên, sau đó được đề bạt làm Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Sóc Trăng. Đến nay, anh đã cùng nhóm cộng sự đi qua chặng đường hơn 20 năm xây dựng thương hiệu gạo thơm ST.

Từ năm 1991, Hồ Quang Cua đã tham gia nhóm nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL và ĐH Cần Thơ lo sưu tập, thử nghiệm các giống lúa thơm cổ truyền của Việt Nam, Thái Lan và Đài Loan. Được làm việc cùng các nhà khoa học đầu đàn như GS Võ Tòng Xuân, GS Nguyễn Văn Luật, rồi ra nước ngoài học, anh bắt đầu có ý tưởng làm lúa thơm cao cấp cho Việt Nam, trước hết là cho tỉnh Sóc Trăng.

Dạo đó, anh phát hiện giống lúa thơm nổi tiếng Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan là do một cán bộ ở huyện chọn tạo; vậy mà những năm 1992 – 1997, mỗi năm Thái Lan thu gần 1 tỉ USD nhờ xuất khẩu hơn một triệu tấn gạo này. “Họ làm được sao mình lại không làm, trong khi đến cuối thế kỷ 20 mình đã xuất khẩu gạo ổn định và lo được an ninh lương thực rồi?” – Hồ Quang Cua tự vấn rồi cùng nhóm cộng sự và bà con nông dân ở huyện lao vào công việc bất kể ngày đêm. Trong bước đi đầu tiên kéo dài nhiều năm ấy, các anh đã rút ra 3 kết luận hình thành nên cây lúa thơm tương lai: 1/ Quá trình biến dị, lúa có thể cho ra giống mới có phẩm chất cao hoặc dùng làm nguồn lai tạo tiếp; 2/ Việt Nam đất chật người đông, cây lúa thơm phải là cây cải tiến có năng suất cao chứ không thể như Thái Lan, Ấn Độ sử dụng cây lúa mùa cổ truyền năng suất thấp; 3/ Phải đào tạo nhân lực để hình thành đội ngũ nghiên cứu.

Lúc đầu, ít người tán thành những nhận định mới này, nhưng rồi được Bộ Nông nghiệp và lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng khích lệ, dần dần bảy giống lúa thơm bố mẹ được lai tạo, trong đó có gien giống Khao Dawk Mali, giống Tám Xoan ở phía bắc và giống Tào Hương của Sóc Trăng. Tới năm 2013 này, đã có 21 giống ST. Riêng ST20, cho hạt gạo thon dài, cơm mềm dẻo, thơm hương dứa và hương cốm.

Từ năm 2009, đã có gần 25.000 ha lúa thơm ST được trồng tại Sóc Trăng và hàng vạn héc ta nữa được các tỉnh ven biển khác ở ĐBSCL trồng. Ngoài việc trồng lúa hai vụ, các anh còn giúp nông dân trồng lúa thơm theo các mô hình hành tím – lúa và tôm – lúa. Ông Trà Diên ở xã Viên Bình, huyện Trần Đề, nơi đang làm 2.500 ha lúa ST5, nói: “Tôi làm 23 công cấy tầm lớn hai vụ ST5, mỗi năm lời hơn 150 triệu đồng, gấp đôi lúa IR ngày trước”. Hồ Quang Cua nói: “Các tỉnh ven biển ĐBSCL có thể trồng được vài trăm ngàn héc ta giống ST. Riêng việc trồng lúa thơm ở vuông tôm đã giúp ổn định môi trường, tái tạo sự sống trong đất, làm chậm quá trình thoái hóa đất”.

Trong đào tạo, từ cây lúa thơm ST, đã có 10 kỹ sư làm tiếp các đề tài lên thạc sĩ, riêng anh Trần Tấn Phương đã bảo vệ tiến sĩ hồi tháng 10.2011 chuyên về di truyền với đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm cao sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”.

ST ra thế giới, nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi

Cuối năm 2011, đã có 5 đơn vị được Sở NN-PTNT Sóc Trăng trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”. Đó là Công ty Gentraco ở Cần Thơ, Công ty lương thực Sóc Trăng, Công ty TNHH Thành Tín, Công ty chế biến gạo chất lượng cao Sóc Trăng và cơ sở sản xuất lúa giống và gạo thơm Mỹ Xuyên. Cũng năm đó, lần đầu tiên, Việt Nam xuất khẩu được hơn 400.000 tấn gạo thơm, chủ yếu là giống Jasmine vì giống ST chưa có nhiều, mới đủ tiêu thụ nội địa.

Tình hình này đã thôi thúc kỹ sư Hồ Quang Cua cùng các đồng sự dấn thân tiếp vào một kế hoạch mới. Họ đang làm đề án “Xây dựng liên minh nông dân và doanh nghiệp dựa trên quan hệ sản xuất mới” với mục tiêu hàng đầu là “tăng thu nhập cho nông dân”. Nông dân trồng lúa thơm ST sẽ tăng thu nhập lên tối thiểu 20% trong năm đầu tiên và tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và năm thứ 3 nhờ nắm bắt đầy đủ kỹ thuật canh tác. Cơ sở nào để có dự án này? Anh Cua cho biết giá gạo trắng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 chỉ nhỉnh hơn 400 USD/tấn dẫn tới hiệu quả sản xuất lúa gạo thấp. Trong khi đó, Công ty lương thực Sóc Trăng và Công ty TNHH Trung An ở Cần Thơ đã xuất khẩu gạo ST20 với giá 900 USD/tấn và đang thiếu hàng để bán.

Hồ Quang Cua hỏi: “Vậy ta có nắm được cơ hội này để thâm nhập sâu vào thị trường gạo cao cấp của thế giới không? Và ta có thể tổ chức sản xuất một vài chủng loại lúa đặc thù của Việt Nam, như ST, với mô hình doanh nghiệp liên kết với nông dân?”. Rồi tự trả lời: “Làm được nghĩa là chúng ta tạo được một quan hệ sản xuất mới, hữu cơ giữa nông dân và doanh nghiệp, điều mà Chính phủ vừa phê duyệt trong kế hoạch tái cơ cấu sản xuất lúa của Bộ NN-PTNT”.

Theo các tác giả dự án, gạo thơm ST20 và ST21 là gạo thơm cao cấp, rất được người tiêu dùng trung lưu thành thị ưa chuộng, bán được giá cao, nội địa bình quân 1 USD/kg, xuất khẩu tới 900 USD/tấn, như vậy là gạo Việt Nam bắt đầu cạnh tranh được với gạo thơm cao cấp của Thái Lan. Giờ  đây, nếu mô hình liên kết nông dân – doanh nghiệp được đầu tư làm bài bản ở quy mô lớn hàng ngàn héc ta ngay từ năm đầu, thì chẳng những gia tăng thu nhập ngay cho nông hộ và doanh nghiệp mà còn là mô hình để làm đúng việc liên kết bốn nhà trong cánh đồng mẫu.

“Mong ước cuối cùng của tôi là việc xác lập quan hệ sản xuất mới mang tính bền vững cho chuỗi giá trị, và gạo thơm Sóc Trăng sẽ có ngày được nâng lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới”, kỹ sư Hồ Quang Cua quả quyết như vậy.

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131007/gao-thom-st-ra-the-gioi.aspx

 


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Mời bạn đọc tiếp…

VeMienTay1

VỀ MIỀN TÂY

Nguyễn Quỳnh Trâm

HẬU GIANG XUÔI CHẢY MỘT DÒNG …

Bình minh trên sông Hậu

Hậu Giang ơi nước xuôi xuôi một dòng
Dẫu qua đây một lần, nói sao cho vừa lòng, nói sao cho vừa thương…

Dòng Hậu Giang lững lờ êm trôi trong câu hát, giờ đây đã ở ngay trước mắt chúng tôi, hiền hòa thơ mộng.

Sáng sớm, chúng tôi tới bến Ninh Kiều, chuẩn bị cho chuyến đi thăm chợ nổi Cái Răng trên sông Hậu. Bến Ninh Kiều ở vị trí giao thoa hữu ngạn sông Hậu, ngay ngã ba sông Hậu và sông Cần Thơ, gần trung tâm thành phố Cần Thơ. Đứng trên bến nhìn ra xa, có thể cảm nhận được hết cái mênh mông của sông nước mây trời. Phía đông, cả một vùng không gian huyền ảo trong ánh ban mai rạng rỡ. Có lẽ bình minh trên sông Hậu mới thật là một bình minh đẹp nhất chăng? Khi mà chính mình được đứng nơi đây và đắm chìm trong ánh mặt trời!

Chúng tôi du ngoạn trên sông Hậu, giữa sóng và gió mát, thật thanh bình! Hai bên bờ sông là những ngôi nhà nổi lụp xụp, những xà lan chở cát, cả những cửa hàng bán vật liệu xây dựng, từ gỗ, đá đến sắt thép xi măng… đủ cả. Trên dòng nước, thỉnh thoảng lại có những đám bèo lục bình bập bềnh trôi tới. Có đoạn, cả vạt bèo xanh um dập dờn… Chợt nghĩ đến thời chống Mỹ, những vạt bèo như thế này đã che chở cho bao nhiêu chiến sĩ biệt động vượt sông… Bao người đã sống nhờ những cánh bèo này, và bao linh hồn nương lại cánh lục bình nơi sông nước…

Sau khoảng nửa tiếng trên thuyền, vượt qua 4 km đường sông, chúng tôi đã đến chợ nổi Cái Răng nằm ở ngã ba sông. Theo truyền thuyết, tên gọi Cái Răng xuất phát từ câu chuyện hồi đầu thời khẩn hoang có con cá sấu rất lớn mê nghe hát bội. Năm đó, trong làng có đám cưới của một chàng trai trẻ và cô thôn nữ xinh đẹp. Đám rước dâu đang tưng bừng qua sông thì con cá sấu bất ngờ nổi lên quật chìm mấy chiếc xuồng, mọi người cố gắng chống chọi, chèo thuyền vào bờ, nhưng cô dâu thì mất tích. Chàng trai đau đớn, quyết tâm tiêu diệt cá sấu trả mối hận mất vợ yêu. Anh gom góp vốn liếng đi mời 3 gánh hát bội nổi tiếng trong vùng và vận động trai tráng ở các làng hợp sức. Đêm đó, trong khi ba gánh hát dựng rạp phía trong vàm rạch nối tiếp nhau biểu diễn, cá sấu bơi vào xem, thì các trai làng làm con đập lớn đầu vàm để bẫy cá sấu. Khi con sấu xem xong gánh hát bội thứ ba ở sâu trong ngọn rạch thì trời cũng vừa hửng sáng, con đập cũng vừa hoàn thành. Con sấu uể oải bơi ra sông cái sau một đêm trắng xem hát, nhưng khi ra đến đầu vàm, con đập đã chặn nó lại. Từ trên bờ, hàng ngàn mũi lao bằng gốc tầm vông già vạt nhọn, những mũi chĩa đinh ba… nhắm ngay con sấu phóng tới. Chàng lực điền giành phần phanh da, xả thịt con sấu. Từng phần cơ thể con cá sấu trôi đi khắp nơi, chỗ cái đầu dạt vào thì gọi là Đầu Sấu, phần da dạt vào thì gọi là Cái Da, phần răng rơi vãi thì gọi là Cái Răng…

Trong cuốn “Tự vị tiếng nói miền Nam” của Vương Hồng Sển lại cho biết: Cái Răng có nguồn gốc từ chữ Khmer “karan” nghĩa là “cà ràng” (ông táo). Người Khmer ở Xà Tón (Tri Tôn, An Giang) chuyên làm nồi đất và “karan” chất đầy mui ghe lớn rồi thả theo sông cái đến đậu ghe nơi chỗ chợ Cái Răng ngày nay để bán, năm này qua năm nọ. Lâu dần, mọi người phát âm karan thành “Cái Răng”, rồi trở nên địa danh của nơi này luôn.

Nguồn gốc tên gọi địa danh của mọi vùng miền nước mình bao giờ cũng thật lý thú. Nó thể hiện đời sống văn hóa, tình cảm đậm đà của tâm hồn người Việt, và càng thấm cái nghĩa cái tình của xứ sở sông nước miền Tây.

Lúc này, chợ nổi Cái Răng đang trong lúc đông vui nhộn nhịp nhất. Chợ nổi là một nét sinh hoạt văn hóa truyền thống của người miền Tây, mọi hình thức mua bán đều diễn ra trên ghe, xuồng. Đến đây sẽ được tha hồ thưởng thức các loại trái cây, đặc sản của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chợ hoạt động tấp nập từ tờ mờ sáng, hàng trăm ghe thuyền lớn bé đã đậu san sát nhau để mua bán… Mọi ghe, xuồng bán sản vật gì, thì người ta đều treo sản vật đó lên 1 cây sào, gọi là “cây bẹo”, hoặc treo ở đầu mũi thuyền để khách dễ thấy. Cả khu chợ như phình to ra lấn gần hết lòng sông. Mọi âm thanh cùng vang lên vô cùng sôi động: tiếng máy nổ, tiếng chèo khua nước, tiếng sóng vỗ oàm oạp vào mạn thuyền, tiếng nói cười của người mua kẻ bán… Sầm uất không thua bất cứ một chợ nào trên cạn. Điều thích thú nhất là các xuồng nhỏ gọn, len lỏi rất thiện nghệ áp mạn ghe bán hàng rồi thu tiền, và con người thì cũng rất nhường nhịn nhau. Chỉ nhìn những xuồng chở bao nhiêu là mãng cầu, măng cụt, dừa xiêm… thôi, đã thấy chao ôi là ngon! Chúng tôi cũng chọn vài trái dừa xiêm và thưởng thức nước dừa mát lành, tinh khiết như sương mai! Thật tuyệt!

Thuyền quay về bến, xa dần những chiếc ghe xuồng ngang dọc ở chợ nổi. Nắng đã lên, rực rỡ chan hòa khắp cả dòng sông. Hít thật sâu làn gió mát rượi, ngắm dòng phù sa châu thổ rẽ mũi thuyền, lắng nghe tiếng sóng vỗ, thấy nao nao trong câu hát diệu vợi sông nước mênh mang: “Nón lá đổ nghiêng tóc dài con nước đổ. Hậu Giang ơi em vẫn đẹp ngàn đời…”

Đêm nghe đờn ca tài tử trên Hậu Giang

Màn đêm buông xuống, chúng tôi trở lại dòng Hậu Giang để thưởng ngoạn đêm nhạc đờn ca tài tử trên sông.

Nghĩ về những cái tên Ninh Kiều, Cần Thơ, thấy nó yêu kiều như vẻ đẹp mặn mà của người con gái Tây Đô. Bến sông Ninh Kiều khi xưa vẫn thường dập dìu bước chân du khách, những đêm trăng vang ngân tiếng đàn hát, ngâm thơ của khách cầm ca. Vì thế mà chúa Nguyễn Ánh vào đây đã đặt tên con sông là Cầm Thi – con sông của thi ca đàn hát. Lâu ngày, chữ “Cầm Thi” được gọi trại đi thành Cần Thơ. Còn Ninh Kiều vốn là chiếc cầu bắc qua sông Ninh Giang (sông Đáy), đây là nơi đã diễn ra trận Chúc Động lẫy lừng của nghĩa quân Lam Sơn năm 1426. Cái tên Ninh Kiều là để người Cần Thơ ghi nhớ sự kiện lịch sử đầy tự hào ấy.

Bến Ninh Kiều trong đêm mang một vẻ đẹp vừa bí ẩn, vừa gần gũi. Dòng nước lung linh dưới ánh điện lấp lánh đủ màu và bóng trăng, bóng sao vời vợi. Gió đêm hè mát rượi, mơn man mái tóc dịu dàng. Bên kia sông, xóm chài lung linh ánh điện, bình thản soi mình đáy nước.

Bước chân nhẹ xuống du thuyền, đã thấy mấy ca nương trong trang phục áo bà ba và các nhạc công ôm đàn ngồi đó. Ca nương áo bà ba đỏ mỉm cười chào mọi người bằng giọng Nam Bộ nghe ngọt lịm. Thuyền bắt đầu rời bến, và tiếng hát cất lên:

Ai mua sầu riêng, có ai mua sầu riêng
Hãy dừng chân ghé quán em
Em đây bán trái sầu riêng
Nhưng em không bán tình duyên.

Bài hát “Cô gái bán sầu riêng” ngân vang da diết. Tiếng đàn kìm, tiếng sáo, nhị réo rắt, nhịp phách nức nở hòa với giọng ca trong vắt, vang vọng cả dòng sông.

Dù cho má thắm môi hồng
Sầu riêng chan chứa trong lòng
Thì xin đừng nói tiếng yêu thương
Khách đa tình xin chớ vấn vương…

Bảo không vấn vương làm sao được khi giọng ca ngọt đến vậy, ánh mắt lúng liếng và chiếc áo bà ba thon thả cứ gây mối sầu riêng u hoài mãi không thôi?

Hết bài ca về “sầu riêng”, ca nương hát một đoạn trong vở “Đời cô Lựu”. Chỉ một đoạn thôi, nhưng đủ tái hiện những nỗi buồn đau tuyệt vọng trong cuộc đời người phụ nữ xưa khiến người nghe mãi ngậm ngùi… Rồi đến các bài vọng cổ khác trong các vở “Nửa đời hương phấn”, “Lan và Điệp”, “Bên cầu dệt lụa”… đều được các ca nương hát với tâm tình tha thiết của những tâm hồn sống chan hòa với thiên nhiên và quê hương, thấu hiểu nỗi buồn đau của bao kiếp người. Nghe cải lương, vọng cổ đã nhiều, nhưng khi thưởng thức trên sông, bỗng thấy rất đặc biệt. Đúng là phải hát trên sông như thế này, cho sóng nước rung lên với sóng lòng, cho gió đưa câu hát ngân xa, cho ánh trăng xao xuyến mây trời…, mới thấy hết độ sâu thẳm của mỗi lời ca, câu đổ. Giữa phong cảnh hữu tình, con người trở nên tinh tế hơn, mà dường như cũng mong manh hơn khi lắng lòng trong những câu ca…

Và một điều thú vị của chương trình đờn ca tài tử trên sông là các ca nương và khán giả có thể cùng hát giao lưu đối đáp. Nếu khán giả đang hát mà quên lời thì ca nương “nhắc vở” cho, đảm bảo hát được hết bài không vấp, với điều kiện là khán giả đó cũng biết đôi chút về điệu ca. Những bài hát như “Hoa tím bằng lăng”, “Cô gái tưới đậu”, “Hoa mua trắng” đã được hát lên như thế, khi vài người trong đoàn chúng tôi lên hát, và những bài ca trở nên rất ngọt ngào: “Gió lên lay động hoa bằng lăng thướt tha. Hoa diễm kiều, hoa mặn mà. Màu hoa tươi thắm lắm hoa ơi! Cũng như câu chuyện tình ta ngát hương”(Bài “Hoa tím bằng lăng”), “Nghe gió đồng bềnh bồng thênh thênh . Yên đất giồng là mầm đậu lên. Sáng nay nắng ấm trời êm. Đồng xanh xanh sắc lá, mắt em hay sắc trời. Tang tình tang tính tình tang…” (bài “Cô gái tưới đậu”)… Cứ thế, ánh mắt giao duyên, khách hát tuy chưa ngọt, câu vọng cổ đổ chưa nhuyễn, nhưng cái tình mộc mạc chất phác mà duyên ngầm của đất miền Tây như đã thấm đượm vào hồn người xứ Bắc.

Thuyền đang quay về. Đã nửa đêm. Trước khi chia tay, theo yêu cầu của đoàn, ca nương ngân lên bài “Dạ cổ hoài lang” – một bản nhạc cổ do nhạc sĩ Cao Văn Lầu sáng tác, nói về tâm sự người vợ nhớ chồng lúc về đêm.

Từ là từ phu tướng, báu kiếm sắc phong lên đàng
Vào ra luống trông tin chàng, năm canh mơ màng
Em luống trông tin chàng, ôi gan vàng quặn đau…

Bài hát ngân lên từng cung bậc của cảm xúc. Nỗi buồn ly tán trong lời ca, trong giai điệu quyện vào tâm tình người hát, khơi lên trong lòng người nghe nỗi cảm thông, đau xót về số phận con người. Trời sâu thẳm, sông thăm thẳm, sóng cũng dạt dào theo mấy điệu xàng xê… Mặt nước mênh mang, thỉnh thoảng, những đám lục bình trôi tới, bập bềnh khe khẽ như cùng lắng nghe tiếng ca thổn thức. Đã tới gần bờ, đám dừa nước lao xao khua động, tiếng sóng oàm oạp vỗ bờ. Chia tay các ca nương rồi mà câu hát còn ngân mãi vơi đầy theo sóng nước Hậu Giang…

Chợt nhớ đến lời ca của một bài vọng cổ:

Vẳng nghe hò xự cống xê
Giật mình thổn thức tìm về nhớ mong
Đêm nghe vọng cổ trên sông
Lòng tôi như hạt nước hồng phù sa.
(Đêm nghe vọng cổ trên sông)

Phù sa bao đời cần mẫn đắp bồi cho “Cần Thơ gạo trắng nước trong”, và những câu ca vọng cổ đã làm hồng lên trái tim của chúng tôi, những du khách xứ Bắc lần đầu đến với Hậu Giang…

Về miền Tây, ký sự ảnh Quỳnh Trâm

MIỆT VƯỜN HOA TRÁI

Nằm giữa chợ nổi Cái Răng và Phong Điền, miệt vườn Mỹ Khánh rộng trên 4 héc ta, với hơn 20 loại cây trái và động vật. Vừa bước qua cổng, cả không gian xanh tươi mát rượi mở ra trước mắt. Miệt vườn Mỹ Khánh quả thực rất nên thơ, thanh bình và đầy đặn như những hoa thơm trái ngọt ở đây!

Cô gái hướng dẫn viên nhiệt tình, chu đáo và duyên duyên là! Dáng người thon thả trong chiếc áo bà ba màu tím, cô đi lại nhanh nhẹn, uyển chuyển, giới thiệu về miệt vườn bằng giọng nói vô cùng dễ thương, mỗi khi tiếng “dạ” của cô ấy cất lên kèm theo nụ cười hàm tiếu là mấy thầy giáo trong đoàn lại ngẩn ngơ mất… vài giây!

Theo cô hướng dẫn viên xinh đẹp, chúng tôi thăm một ngôi nhà ẩn sau hàng trầu xanh mướt. Đó là ngôi nhà cổ Nam Bộ có niên đại hơn 100 năm, vốn là nhà của điền chủ ở Bình Thủy (nay thuộc quận Bình Thủy, TP.Cần Thơ) đã được trùng tu, bảo dưỡng – một không gian vừa cổ về kiến trúc, vừa cổ về nếp nhà. Trên tường cao treo những tấm hoành phi, câu đối ngụ ý tứ sâu xa về lẽ sống. Xà nhà bằng gỗ có chạm khắc hình loan phụng sắc nét, công phu. Từ nếp cửa, mái lợp nhà, các cột, kèo với những nét chạm khắc tinh xảo trên gỗ, đến tủ thờ, bộ trường kỷ cẩn đá cẩm thạch, bộ tứ bình, các bức bình phong cẩn xà cừ…, tất cả đều thể hiện một gu thẩm mĩ tinh tế của chủ nhân. Mọi đồ đạc trong nhà đều bằng gỗ lim tuổi 100 năm. Ngôi nhà rộng, vật dụng sang trọng thể hiện một lối sống điền chủ giàu có và nề nếp thời xưa. Đứng giữa ngôi nhà mang gam trầm như thế này, càng hiểu hơn về nền văn hóa độc đáo từ xa xưa của người Việt, và nhà cổ chính là những chứng nhân thăng trầm của lịch sử.

Phía sau ngôi nhà cổ là làng nghề truyền thống làm bánh tráng và nấu rượu. Nếu có nhiều thời gian hơn, chúng tôi có thể tự tráng bánh rồi nhâm nhi chút rượu với bánh tráng gói cá tai tượng chiên giòn. Nhưng còn rất nhiều điều thú vị cần khám phá, cô hướng dẫn viên đưa chúng tôi đến với những trò chơi dân gian ở đây: câu cá sấu và đua heo. Đây là những trò chơi thu hút rất nhiều khách tham gia. Hồ cá sấu thì không biết cơ man nào là cá sấu! Những con cá sấu gớm ghiếc bơi lừ lừ trên mặt nước đục ngầu, lộ ra phần đầu và lưng xù xì. Mồi câu vừa thả xuống là lập tức hàng mấy chục cái đầu sấu vươn cao lên, những cái miệng đầy răng sắc nhọn há ra khủng khiếp. Không hào hứng lắm với lũ cá sát thủ này, tôi ngó qua chỗ trò chơi đua heo. Trò chơi này sẽ cho những ai thích cá cược cảm giác thú vị (nếu đặt cược cho 1 chú heo nào đó) và cho những ai thích hò hét những trận cười thỏa thích! Heo về trước hay về sau, con nào cũng mum múp béo, dù 1 ngày có thể đua tới 6 trận, thắng bại có là gì khi phía đích bao giờ cũng có nồi cám thơm ngon chờ các chú ỉn! Hồn nhiên đến thế là cùng!

Nhưng điều thích nhất đối với tôi là những vườn cây xanh mát, hàng dừa thẳng tắp hun hút con đường, con kênh xanh nước chảy êm đềm, những cây cầu duyên dáng bắc nhịp tình quê. Len lỏi giữa cây trái và hoa thơm để được hòa mình vào thiên nhiên, thật vô cùng thú vị! Nào là chôm chôm, xoài, vú sữa, mít, sầu riêng… bao hương vị miền Nam đều đủ cả. Sầu riêng trĩu quả đu đưa, chôm chôm đỏ rực cả một vùng, những trái xoài vàng thắm thơm nồng nàn, mận chín đỏ mọng khiến người ta ứa nước miếng! Đang mùa mít chín, hương mít thơm phưng phức, xôn xao mời gọi. Cây mít to, thân tròn, vỏ nhẵn nâu nhạt, loang lổ màu xám mốc. Tán cây không rộng, càng lên cao càng thu nhỏ lại. Từ gốc đến thân, những quả mít to chen chúc, mập mạp y như những chú heo con nghịch ngợm bám mẹ không rời. Mít nghệ ngon lắm! Từng múi mít có màu vàng đậm như nghệ, cắn một miếng, nhai từ từ và cảm nhận cái giòn sần sật, vị ngọt thơm ngon không thể tả! Đi trong miền cây trái, thưởng thức hoa thơm quả ngọt là điều chỉ nơi này mới có. Hai bên lối đi, những khóm hoa tím, hoa vàng ríu ríu múa ca cùng muôn ngàn cánh bướm sặc sỡ đủ màu. Dãy nhà lá bên đường với mái rạ óng lên trong nắng, khiêm nhường dưới bóng tre bóng trúc và những rặng dừa. Vài phút ngả lưng trên chiếc võng mắc dưới gốc cây để thư thái tận hưởng bầu không khí ngào ngạt thơm và xanh mươn mướt! Vừa nhấm nháp vị ngọt ngon của cây trái, vừa ngắm những ngôi nhà gỗ làm theo kiểu nhà rông xinh xắn nằm rải rác dưới vòm cây, còn thú vị nào bằng!

Nắng óng ánh xuyên qua vòm lá, thả những sợi vàng xuống thảm cỏ xanh. Trái chôm chôm chín đỏ rung rinh như những đốm lửa lung linh ẩn hiện. Ai đó đang thưởng thức sầu riêng, hương thơm đặc trưng của nó cứ thao thiết như không kìm nén được nỗi niềm sâu thẳm. Thỉnh thoảng, một câu ca vọng cổ từ ngôi nhà vườn gần đó vọng ra, như nhắc nhớ về nguồn cội. Những khúc ca trắc ẩn tình người, giai điệu ngọt ngào hòa quyện cùng tiếng ghi-ta phím lõm với điệu xàng xê và nhịp song lang da diết nhớ thương… Thấp thoáng bóng những chiếc áo bà bà đủ màu đi qua, như phớt nhẹ nét vẽ mảnh mai và mềm mại vào cái nền xanh mướt mát của miệt vườn cây trái. Có lẽ thời gian dừng bước ở bên ngoài cánh cổng kia, để chốn này chỉ còn là đất lành trái ngọt từ ngàn xưa mà ông bà tổ tiên đã để lại cho con cháu ngày nay.

Đứng giữa vườn xanh đậm đà hồn quê kiểng, tưởng như mình đang được trở về ngày xưa, cái thời thiếu thốn tiện nghi nhưng tình người thì luôn dư dả! Bước đi trên lối nhỏ, nghe chim hót trên cao và tiếng gió lao xao vòm lá… Chợt nghĩ, giá cuộc đời này cũng hồn nhiên như cây cỏ…

MŨI CÀ MAU MẦM ĐẤT TƯƠI NON (*)

Thế là tôi đã đến điểm cuối cùng trên dải đất hình chữ S thân yêu! Chính là nơi đây, mầm đất tươi non của Tổ quốc – Mũi Cà Mau!

Từ thị trấn Năm Căn, đoàn chúng tôi lên tàu cao tốc vượt sông Cửa Lớn để ra đất Mũi. Sông Cửa Lớn còn gọi là Đại Môn Giang, nối biển Đông với biển Tây, đầu bên biển Đông là cửa Bồ Đề, đầu bên biển Tây cửa Mũi Ông Trang, gần mũi Cà Mau. Đoạn từ ngã ba sông Đầm Dơi và sông Cửa Lớn đến cửa Bồ Đề còn được gọi là sông Bồ Đề. Dù nối hai biển Đông và Tây nhưng Cửa Lớn là con sông nước lợ vì có ba con sông nhỏ (sông Đầm Dơi, sông Đầm Cùng và sông Cái Ngang) đổ nước ngọt vào. Đây là dòng sông mang nhiều cái “nhất” trong hệ thống sông lưu vực đồng bằng sông Cửu Long: nhiều chi lưu nhất, dòng chảy mạnh nhất, nguy hiểm nhất… Điểm đặc biệt là dòng sông có dòng chảy từ biển ra… biển. Nói cách khác, đây là con sông không có thượng nguồn và hạ nguồn, đó là nét độc đáo so với những dòng sông nổi tiếng khác. Con sông được nhà thám hiểm Jacques-Yves Cousteau, thuyền trưởng tàu Calypso, đánh giá là 1 trong 100 dòng sông lớn nhất thế giới!

Tôi chọn cho mình chỗ ngồi ngay cạnh cửa sổ để có thể tha hồ ngắm con sông hùng vĩ này. Dòng sông cuồn cuộn chảy xiết, nước trong xanh. Điểm khác biệt với tất cả sông nước miền Tây là sông Cửa Lớn không hề có lục bình. Những con sóng nơi cửa sông gần biển quả thực bạo liệt y như sóng ngoài khơi, có lúc sóng ào đến, bắn tung lên, nếu không nhanh tay kéo cửa sổ kính lại thì sẽ ướt hết! Sóng từ biển xô vào, sóng từ lạch chảy ra, tàu vun vút lướt sóng, tất cả tạo nên một cuộc rượt đuổi thật ngoạn mục! Bỗng, mây đen vần vũ kéo đến. Trời đổ mưa! Mưa ràn rạt trên sông, gió ào ạt thổi. Nước xiên chéo rào rào trên sông y như cuộc khiêu vũ tưng bừng của cặp đôi Mưa và Sóng! Cảm giác say mê, mãnh liệt, phóng khoáng vô cùng!

Một lát, mưa ngớt, tôi lại kéo hết cửa kính ra, phóng tầm mắt chiêm ngưỡng mọi cảnh vật xung quanh. Các luồng lạch và rạch nước chằng chịt nên thỉnh thoảng tàu bẻ lái, rẽ vào lạch nước mới. Chẳng có bất kỳ biển báo chỉ dẫn nào mà người lái tàu linh hoạt điều khiển con tàu vun vút trên sông, khéo léo tránh những con tàu hay chiếc xuồng máy ngược dòng. Tàu nghiêng mình lượn sóng, làm nở tung những bông hoa nước trắng xóa với ngàn cánh nhỏ. Và nhìn ra, chao ôi là xanh, cái màu xanh trùng điệp và dày đặc của rừng đước! Thật đúng như nhà văn Đoàn Giỏi đã viết: “Trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận”. Vậy là đã vào tới Vườn quốc gia Mũi Cà Mau thuộc xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển!

Cà Mau là từ Việt hoá của tiếng Khmer là “Tuk Khmau”, nghĩa là “nước đen”. Đó là do vùng U Minh nước ngập quanh năm, tích tụ lâu ngày chảy ngang qua rừng đầy lá mục của dừa nước, tràm, gừa ráng, choại, dớn, lát, sậy, năn, cỏ nước mặn, … nên nước có mùi hôi và vị phèn chua, mặn, màu vàng đậm, thậm chí đen đặc lại. Rừng đước và rừng tràm nối tiếp vây quanh mũi Cà Mau từ Đông sang Tây, làm cho rừng Cà Mau trở thành khu rừng đứng thứ nhì thế giới về tầm quan trọng và diện tích, sau rừng ngập mặn ở cửa sông Amazon của châu Mỹ La Tinh. Chúng tôi say mê ngắm nhìn những dòng sông, con rạch chằng chịt đang chảy hối hả, những ngôi nhà sàn ven bờ, nhà nổi trên sông, những bãi bùn nối tiếp nhau và cây đước thẳng đứng vút cao. Người địa phương có câu: “Mắm đi trước, đước theo sau, tràm theo sát”. Cây mắm có rễ tua tủa đâm thẳng lên trời, làm cho mặt đất quanh nó y như bãi chông. Tiếp sau là cây đước, linh hồn của rừng Cà Mau. Rễ đước như hình mũi tên cắm sâu xuống bùn mọc lên thành cây, vây thành rừng. Hai loại rễ này đan cài vào nhau, giúp cho đất bãi bồi không bị sạt lở mà rắn dần, để mỗi năm, mũi Cà Mau lấn ra biển hàng trăm thước. Ðó chính là khả năng kì diệu và độc đáo mà chỉ Cà Mau mới có: “Ðất nở ra, rừng biết đi và biển sinh sôi”.

Tàu dừng hẳn, khi không còn tiếng động cơ nữa, tôi thực sự nghe được tiếng của rừng. Đúng là “tiếng rì rào bất tận của những khu rừng đước bạt ngàn, cùng tiếng sóng ì ầm từ biển Đông và vịnh Thái Lan ngày đêm không ngớt vọng về trong hơi gió muối…” (Đoàn Giỏi). Âm thanh ấy đã ngay lập tức vang vọng vào hồn, thấm đượm một cách tự nhiên và vô cùng thân thuộc. Có lẽ vì cảm giác được đứng giữa nơi này, chìm trong sắc xanh cây lá và lắng nghe tiếng thì thầm của Tổ quốc gọi tên mình…

Chúng tôi hăm hở trèo lên đài quan sát cao 21 m với 54 bậc tượng trưng cho 54 dân tộc anh em. Bậc thang lượn vòng dọc theo thân trụ tạo nên biểu tượng cây đước vươn cao. Đứng trên đài quan sát, trước mặt là biển khơi dậy sóng, sau lưng là rừng đước bạt ngàn, cảm giác thật hạnh phúc khi được tận hưởng và sở hữu thiên nhiên bao la của đất nước! Đây là nơi duy nhất trên cả nước có thể nhìn thấy mặt trời mọc trên biển Đông và lặn ở phía biển Tây, cả Hòn Chuối và Hòn Khoai cách đất liền hàng chục km cũng nằm trong tầm mắt. Gió thổi lồng lộng. Mênh mang sơn hà là đây!

Cột mốc tọa độ quốc gia GPS 0001 (cây số 0) là điểm tận cùng cực Nam của Việt Nam (trên đất liền), điểm mốc có ý nghĩa thiêng liêng. Được xây dựng vào tháng 1 năm 1995, có hình dạng ngôi sao sáu cánh, cột mốc ở chính tâm ngôi sao, ốp đá màu nâu và dòng chữ vàng rực nổi bật: MỐC TỌA ĐỘ QUỐC GIA. Chạm tay vào dòng chữ và cảm nhận sự thiêng liêng lãnh thổ, thấy xúc động dâng trào!

Và biểu tượng cho mũi Cà Mau chính là tượng đài hình con thuyền đang lướt sóng ra khơi, ở tọa độ 8º37’30” vĩ độ Bắc, 104º43” kinh độ Đông. Cánh buồm trắng no gió, lá cờ phấp phới bay trên đỉnh cột buồm, in lên nền trời xanh sắc đỏ thắm kiêu hãnh và tự hào! Câu thơ của Xuân Diệu vụt đến trong tôi như một tia chớp: “Tổ quốc tôi như một con tàu – Mũi thuyền ta đó: Mũi Cà Mau”. Nhìn mọi người hào hứng, say mê chọn cho mình những góc đẹp để chụp ảnh với biểu tượng con thuyền, mới thấy niềm vui này đâu chỉ là việc được đặt chân đến điểm cực Nam của Tổ quốc, mà chính là tình yêu đất nước từ sâu thẳm luôn thường trực trong trái tim mỗi người, và khi có dịp, nó nảy nở đẹp đẽ, hồn nhiên như đóa hoa buổi sớm.

Đứng trên con thuyền lướt sóng, đón gió đại dương bát ngát thổi về, nghĩ về chiều dài lịch sử cha ông ta đi mở nước gian nan biết chừng nào, mà cũng tự hào biết bao nhiêu! Đất nước tôi, đất nước vất vả ngay từ dáng hình như chiếc đòn gánh nặng hai miền Nam Bắc, nhưng chưa khi nào lùi bước. “Ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm” ấy (**), vẫn lặng thầm bám chặt nước non, để Tổ quốc mình bước từng bước vững vàng vươn mình ra biển lớn!

——–
(*): Câu thơ của Xuân Diệu.
(**): Câu của Nguyễn Tuân

Nguyễn Quỳnh Trâm, 23/6/2015
(Nguồn: Những khoảng lặng cuộc sống phấn một, phần hai, phần ba )


VỀ MIỀN TÂY, THƯƠNG…

Nguyễn Thị Hậu

Quê tôi ở miền Tây. Còn tôi sống ở Sài Gòn.

Quê ngoại tôi chỉ cách quê nội một nhánh Tiền Giang nối liền nhau bằng bến đò Mỹ Hiệp, xưa ghe chèo nay là chiếc phà có thể chở xe tải nhẹ hay xe hơi 16 chỗ. Mỗi ngày hàng chục lượt phà qua lại nối liền Cù Lao Giêng với thành phố Cao Lãnh, dân cù lao buôn bán quanh năm hay chợ búa hàng ngày từ lâu đã quen thuộc với thị tứ bên này. Nhiều gia đình kết sui gia với nhau, ngày rước dâu chiếc phà rực rỡ sắc màu chạy trên sông, lẫn trong tiếng máy nổ đều đều là tiếng nhạc rộn rã và tiếng con nít chỉ trỏ í ới…
Những đám rước dâu, đưa dâu trên sông gợi nhớ bài hát “Ngẫu hứng Lý qua cầu” của nhạc sĩ Trần Tiến. Người nhạc sĩ tài hoa của Hà Nội đã cảm nhận được sự bình dị và lời ăn tiếng nói của người miền Tây để chuyển thành những câu ca nghe chạm vào tận đáy lòng “bằng lòng đi em về với quê anh, một cù lao xanh một dòng sông xanh… Đóa hoa tím trôi líu riu, dòng sông nước chảy líu ríu… anh thấy em nhỏ xíu anh thương… Những đêm ngắm sông nhớ em buồn muốn khóc…”. Có một thời tôi đã thầm nghĩ, nếu có ai đó chỉ cần nói với mình một câu giản dị “anh thương em” thì mình sẽ bỏ tất cả mà theo. Lúc đó tôi còn chưa hiểu vì sao chữ “thương” của người miền Tây lại làm mình nao lòng đến thế. Sau này, mỗi lần về quê hay đi công tác miền Tây là đi qua vô số những cây cầu dọc theo quốc lộ, nhìn những con sông, dòng kinh, con rạch… xanh mướt hai bờ, ghe xuồng xuôi ngược, chợ búa ở đầu cầu tấp nập, trái cây rau cải tôm cá tươi chong… Bỗng thấy thương quê mình gì đâu! Mới hiểu, chữ thương của miền Tây ngọt ngào, nặng tình nặng nghĩa biết bao, bởi vì thương không chỉ là thương yêu cha mẹ anh em, mà còn là thương nhớ người dưng, thương xót thân phận ghe xuồng trên sông, thương những gì gắn bó cả đời như thương chính mình.… Chữ thương bao dung và nhân hậu, nhẹ như hơi thở mà người miền Tây chỉ buông ra khi dằn lòng không được …
Về miền Tây thương đất hè nắng nứt, thương đất vàng phèn mặn, thương những dòng sông mùa nước nổi mang phù sa về tưới tắm cho những cánh đồng lúa mới, mang cá tôm về làm mắm làm khô nuôi sống dân miền Tây trong những tháng mùa khô sau đó; thương những mái nhà lá lô nhô trong nước, thương đồng lúa chín gặt vội chạy cho kịp mùa nước nổi, thương bầy trâu lặn lội mùa “len”, thương đàn vịt đồng ốm nhom mùa nắng tới…

Về miền Tây thương con nước ngày hai lần nước lớn cho ghe xuồng đi xuống miệt ruộng vùng sông Hậu, nước ròng cho ghe xuồng đi lên miệt vườn trên những cù lao sông Tiền. Mùa nước nổi có xuồng “năm quăng” giúp bà con sinh sống. Thương chiếc xuồng len lỏi theo những rạch, tắt, cựa gà… khuất vào đám dừa nước rậm rạp rồi chợt hiện ra nhỏ nhoi đơn côi trong tiếng “bìm bịp kêu nước lớn anh ơi…”. Thương những chiếc ghe thương hồ từ nhiều đời miệt mài xuôi ngược “buôn bán không lời chèo chống mỏi mê”…
Về miền Tây thương những xóm làng nghèo khó mà ấm áp tình người. Trưa vắng vẳng tiếng gà gáy lao xao trong vườn, ngọn khói bếp vẩn vơ trên tán xoài, cầu dừa chông chênh cô thiếu nữ thoát thoắt bước qua. Chiều xuống những bến nước ven con rạch ồn ào trẻ nhỏ, đờn bà giặt đồ trên chiếc cầu tre, đờn ông chạy ào xe máy trên đường mòn, bất chợt nghe tiếng ai kêu dừng lại gạt chân chống để đó ghé vô, có khi tới khuya mới quay ra, xiêu xiêu lên xe chạy tiếp về nhà…

Về miền Tây thương những con đường giữa bóng xoài bóng dừa mát rượi, thương hàng rào bông bụt nhà ai đỏ vàng rực rỡ, thương dàn bông giấy màu trắng tím đỏ ngời lên trong nắng hạn làm lóa ánh mắt người qua… Về miền Tây thương nhà sàn lô nhô trên kênh rạch, thương bếp cà ràng đỏ lửa trên ghe, thương lò trấu trong gian bếp gọn gàng như những người đờn bà miền Tây vén khéo.
Về miền Tây thương ngôi chợ nhỏ đầu làng, sương sớm còn mờ đã lao xao mua bán, đến nửa buổi thì nhà lồng chỉ còn vài hàng cây trái. Thương chợ ngã năm ngã bảy trên sông ghe xuồng san sát, những chiếc sào cột các loại trái cây rau cải lơ lửng trên cao, ghe tạp hóa xanh đỏ đồ dùng, ghe than ghe chiếu giờ đã ít người mua kẻ bán… Thương phố chợ nhỏ mà cột antena san sát như đàn chuồn chuồn báo hiệu trời mưa, nhà cao tầng ngói đỏ ngói xanh, tiệm uốn tóc, tiệm vàng, tiệm thời trang… chẳng khác gì thành phố.

Về miền Tây thương những chành gạo ven sông, xà lan ghe lớn ghe nhỏ vào mùa gặt tụ họp về đêm ngày trên bến, những băng chuyền thay sức người tải gạo lên kho xuống ghe không dứt. Thương những lò gạch tròn như tổ tò vò khổng lồ in bóng xuống dòng sông. Những con sông dòng kinh như những mạch máu nuôi sống miền Tây.

Về miền Tây thương rừng tràm rừng đước xanh bạt ngàn miệt U Minh nước đỏ. Đêm Năm Căn câu vọng cổ nghe buồn chí xứ “chiếu này tôi chẳng bán đâu, tìm cô không gặp… tôi gối đầu mỗi đêm…”. Thương những Bãi, Bàu, Bắc, Bến, Bưng, Cái, Cầu, Cồn, Cù lao, Cửa, Đầm, Đồng, Gành, Hòn, Hố, Láng, Lung, Mũi, Mương, Rạch, Tắc, Vàm, Vũng, Xẻo… nghe giản dị mà gợi hình gợi cảnh.
Về miền Tây thương đám lục bình bông tím mong manh trôi xuôi ngược trên sông. Lúc nước ròng thì tấp vô như tìm chút hơi ấm của bờ đất mẹ, khi nước lên lại bơ vơ dập dờn trên mặt nước. Bông lục bình đẹp như em gái miền Tây, chơn chất, hiền lành, biết lo toan cho gia đình cha mẹ, khi em phải lấy chồng xa xứ khác nào số phận lục bình trôi… Chỉ mong mỗi ngôi nhà và những người đờn ông miền Tây sẽ là những bè tầm vông chắn sóng chắn nước cho giề lục bình bông tím mong manh đừng trôi xa, bình yên ở lại bờ bến quê nhà.

Về miền Tây thương những gian bếp có máng xối hứng nước mưa vào hai hàng lu mái. Sân nhỏ trước nhà lác đác lá khô của cây mận hồng đào. Thương từng chùm trái đỏ rực, lúc lỉu trên cành vào mùa Tết, thương mỗi đêm gió chướng nghe trái cây ngoài kia rơi lộp bộp, thương bầy trẻ con tranh nhau lượm những trái mận chín rụng, giòn và ngọt như đường phèn.
Về miền Tây thương những giọng hò ơ lai láng trên sông, thương câu vọng cổ thổn thức đêm đêm, thương bài đờn ca tài tử những ngày giỗ chạp, thương những “hẹn, hò”, “giỗ, quảy”… Về miền Tây thương người dưng buông câu “anh thương em” để trái tim lỗi nhịp, thương em gái nghẹn ngào “em thương ảnh, chị ơi…” nặng đến thắt lòng… Chỉ một tiếng “thương” thôi mà miền Tây đã níu giữ bao người ở lại, bao người đã đi rồi còn quay trở lại.

Về miền Tây thương những cửa sông rộng mênh mông, từng là con đường dẫn ông cha đi tìm đất khẩn hoang lập ấp. Thương vùng biển bồi bùn nâu nước lợ, mắm trước đước sau lấn biển, cả ngàn năm mũi Cà Mau dày thêm từng thước đất.

Về miền Tây thương những con người bao đời khó nhọc, nói “làm chơi ăn thiệt” vì không hay than thở, nói “làm đại đi” vì can đảm dám chịu trách nhiệm về việc mình làm. Thời thế nào cũng có những người “giữa đường thấy sự bất bằng chẳng tha”, “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”, dù sau đó có phải chịu nhiều oan khuất…
Về miền Tây…

Thương quá, miền Tây ơi!

Sài Gòn, tháng 11. 2013
http://plo.vn/que-minh/ve-mien-tay-thuong-445626.html

HOA ĐIÊN ĐIỂN VÀ EM CAO NGUYÊN

Hoàng Kim

Cô Út (Bùi Thị Cao Nguyên) là em gái Nam Bộ nơi có lúa trời Đồng Tháp Mười. Đến thăm em dòm trộm em đang mãi miết chụp hình suốt lúa. Trời xanh thiệt….Hình chụp đẹp và nét thiệt… Em thì chụp hoài còn tui thì coi hoài và nghe nhạc hoài không chán. Tui ngó đi ngó lại hai cô Út , cô nào cũng xinh, cũng lành  mà  đều nhìn không rõ mặt. Thôi thì nhạt nhòa vậy mà hay.

HOA ĐIÊN ĐIỂN VÀ EM

Bùi Thị Cao Nguyên

Có một mùa điên điển
Nở vàng trong nắng mai
Có em cười lúng liếng
Sông trôi chưa biết buồn

Nở lại tàn hoa ấy
Hái hay không cũng rồi
Thời gian là bao mấy
Giật mình, thoáng mây trôi

Qua bao mùa điên điển
Chỉ mình em ngóng trông
Hoa nở tàn nhanh lắm
Người ơi có biết không ?

Điên điển tàn lại nở
Chuyện lở bồi do sông
Anh có về nơi ấy
Hoa vẫn vàng  mênh mông …

Cô Út cũng như cô Tư  cánh đồng bất tận, như biết bao đứa em, đứa cháu , đứa học trò lam lũ theo cái nghiệp nhà nông “Ai ơi bưng bát cơm đầy, dẽo thơm một hột đắng cay muôn phần” … Vậy mà cứ vô tư đi em, như thằng nhỏ hai lúa và như bài hát này. Hay lắm. Tui xin em rinh bài này về trang CÂY LƯƠNG THỰC và trang NGỌC PHƯƠNG NAM . Tui cũng có mấy tấm ảnh suốt lúa ở Campuchia nhưng không đẹp và không ngộ bằng em”.

“Điên điển tàn lại nở
Chuyện lở bồi do sông
Anh có về nơi ấy
Hoa vẫn vàng mênh mông …”

Nếu mỗi nhà thơ chỉ được chọn bốn câu thôi thì bốn câu thơ này của Cao Nguyên sẽ có thể sánh cùng những bài thơ hay chọn lọc đấy. Giản dị. Sâu sắc Ám ảnh.

Tui e ít người hiểu hoa điên điển cũng như ít người thấm và thương cái nhọc nhằn của người dân làm ra hạt gạo. Tui đọc cho cô Út nghe lời của một ông Thầy (Võ Tòng Xuân) và một ông Thầy khác (Nguyễn Văn  Luật) dẫn lại: “Tôi chưa thấy công ty TAGS nào của Việt Nam mình có một chương trình nghiên cứu. Các công ty nông nghiệp khác của ta cũng chả có nghiên cứu gì, giỏi đi copy kết quả trong sách vỡ, kể cả Tổng Công ty Lương thực cũng chưa bao giờ tài trợ cho chương trình nghiên cứu cây lúa. Trong khi đó thì Công ty CP tại trụ sở chính của họ ở Bangkok mà tôi có dịp đến thăm hồi năm 1986, có một tòa nhà 4 tầng làm trung tâm nghiên cứu khoa hoc của họ. Công Ty mướn chuyên gia nước ngoài đến nghiên cứu, trả lương cả chục ngàn đôla/tháng, mới có được kết quả để họ ứng dụng vào chế biến TAGS, lai tạo giống gà, giống tôm. Dĩ nhiên sản phẩm họ tung ra thị trường được người chăn nuôi ưa chuông là thế. vv…”  Nên xác nhận lại lần nữa – mà chính anh H Kim (Hoàng Kim Đồng Tháp) đã biết rất rõ – nông dân ta nghèo không phải vì không ai mua lúa, nhưng nghèo vì những người có quyền bán lúa đã và đang điều khiển thị trường. Trong khi cả thế giới đều được khuyến khích giúp đỡ châu Phi, thì Việt Nam chờ có ai bỏ tiền ra mới chịu đi làm công cho người ta để gọi là “giúp cho châu Phi”.
Nhưng mà thôi cô Út:

“Điên điển tàn lại nở
Chuyện lở bồi do sông
Anh có về nơi ấy
Hoa vẫn vàng mênh mông …”

Hoàng Kim

LÚA TRỜI Ở ĐỒNG THÁP MƯỜI

Trần Trọng Trung

“Ai ơi, về miệt Tháp Mười,
Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn”…

Câu ca dao trên cho thấy thiên nhiên rất đỗi hào phóng ban phát cho vùng Đồng Tháp Mười nhiều sản vật và nguồn lợi tôm, cá khá dồi dào. Nơi đây, nguồn lợi thủy sản thì ai cũng biết, nhưng sản vật lúa trời thì chỉ có những người cao niên mới biết, còn thế hệ trẻ ngày nay thì rất ít người biết tới.

Lúa trời đã được xếp vào loại nông sản quý hiếm cao cấp, tương truyền được vua Gia Long đưa vào cung đình dùng trong những ngày đại lễ, cúng tế và làm đặc sản tiếp đãi thượng khách. Quần thể lúa trời hiện còn được lưu giữ và bảo tồn được 500 hecta tại Vườn quốc gia Tràm Chim tọa lạc trên địa bàn huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. Theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức thì lúa trời còn gọi là “quỷ cốc”. Còn những cụ sống lâu năm ở vùng Đồng Tháp Mười cho biết lúa trời còn gọi là lúa ma, bởi lẽ loại lúa này không ai gieo sạ mà nó tự nhiên mọc trên cánh đồng mênh mông nước của vùng Đồng Tháp Mười xưa. Hàng năm, vào khoảng tháng tư dương lịch, lúc trời bắt đầu sa mưa, hột lúa bắt đầu nảy mầm và mọc cao lên chừng 5 tấc, thân lúa cứng, lá to bản. Từ tháng 8 đến tháng 12, cây lúa vươn dài, ngoi lên khỏi mặt nước, trổ đòng, đơm bông, vô hạt chắc rồi chín từ hạt vào lúc nửa đêm khuya khoắt và rơi rụng vào lúc mặt trời vừa ló dạng.

Bông lúa trời to, dài và thẳng hơn lúa thường, hạt lúa trên bông rất thưa. Với đặc tính trên, ngày xưa cư dân Đồng Tháp Mười thường đi gặt lúa trời vào lúc nửa đêm tới hừng sáng là đầy xuồng chở về nhà… Khi thu hoạch lúa trời, ít nhất phải có 3 người và thường được trang bị đầy đủ phương tiện và dụng cụ như: một chiếc xuồng ba lá có căng một tấm đệm ở giữa theo chiều dọc dài gần 2 m của chiếc xuồng, cao khoảng 1,5 m với hai cây đứng. Cây trước cao 2,5m và cây sau chỉ cao bằng tấm đệm, được gọi là cây cần câu. Hai cần đập bằng tre dài khoảng 2,5 m nằm hai bên và dọc theo chiều dài tấm đệm. Một đầu buộc chặt vô cây cần câu, khoảng giữa cần đập được cột dây treo trên đầu cần câu. Khi đập lúa, người đứng trước mũi chống xuồng đi vào đám lúa trời, người ngồi sau cầm hai cần đập, đập lúa vào tấm đệm cho rụng hột vào trong xuồng. Trên xuồng có ba người, một người bơi, hai người kia cắt lúa.

Mỗi bông lúa chỉ rụng một hoặc hai hạt trên xuồng, phải bỏ công vất vả, khổ nhọc lắm vì từ nửa đêm đến sáng mới thu gặt lúa trời được đầy xuồng. Các đầu bếp ở khu ẩm thực của địa danh du lịch sinh thái rừng tràm Gáo Giồng cho biết: “Sau khi đập lúa trời xong, đem về ngâm trong nước ba ngày rồi đem phơi cho rụng đuôi trước khi cho vào cối giã thành gạo giống như lúa thường, nhưng không giã gạo quá trắng. Gạo lúa trời dài hơn gạo thường và có hàm lượng dinh dưỡng cao. Khi nấu, đổ gạo và nước vào nồi đất, úp một lá sen vào nồi trước khi đậy vung, chỉ đun bằng củi hoặc rơm để không làm giảm hương vị lúa trời. Cơm nấu bằng gạo lúa trời có màu hồng nhạt và ngọt, thơm, dẻo ngon…, hương vị đặc trưng của miền quê sông nước Tây Nam bộ. Một cách nấu khác là cơm gói lá sen hiện nay được nhiều nhà hàng, quán ăn đặc sản như ở khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp giới thiệu với du khách đến tham quan nơi này.

Trong quá trình nấu cơm bằng gạo lúa trời, không ít người tranh thủ chắt nước cơm ra, bỏ vào đó chút đường phèn hay ít mật ong để có một thức uống thơm ngon thú vị. Lúa trời còn được sử dụng để chế biến bột dinh dưỡng chất lượng cao dành cho trẻ em, làm bột tinh lọc đổ bánh xèo và các loại bánh thơm ngon bổ dưỡng khác.

Lúa trời là loại giống lúa quý hiếm đang được bảo tồn lưu trữ nguồn gen tại Vườn quốc gia Tràm Chim để làm nguồn lai tạo ra giống lúa mới, vừa có năng suất cao vừa chịu phèn tốt, thích hợp với vùng U Minh, Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên…

Nguồn : http://www.khoahocphothong.com.vn/news/detail/7652/lua-troi-o-dong-thap-muoi.html

PhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucket
Loạt hình này  Bùi Cao Nguyên mới chụp trong khu bảo tồn ở Tràm chim Tam Nông hôm 3/9/2011.

Hình suốt lúa ở Cao Lãnh và ở Miên


Suốt lúa ở Cao Lãnh, ảnh Bùi Cao Nguyên
Nghe nhạc ngày mùa và xem phóng sự ảnh suốt lúa của Bùi Cao Nguyên tại đây
Nguồn: Bùi Cao Nguyên blog

Suốt lúa ở Campuchia  (ảnh tư liệu Hoàng Kim)

MÓN LẠ MIỀN NAM

Vũ Bằng

“Chồng mà không chịu ăn thì vợ đừ ngay ra mặt, khóc đòi về với bà già. Tôi yêu người vợ miền Nam thực thà như đếm, yêu ai thì yêu lộ liễu, thích cái gì thì muốn cho ai cũng biết rằng mình thích mới nghe! Đẹp thì muốn đẹp cho sắc sảo, áo quần phải làm sao cho nổi bật lên hơn cả quần áo của chúng chị em; mà ngày lễ và chủ nhật phải nèo chồng đi chơi cho kì được để cho người ta thấy hạnh phúc lứa đôi của mình.

Miếng ngon của miền Nam cũng thành thật như người đàn bà vậy. Ăn một miếng, ngon ngay, nhưng ngon không phải do vị của chính thức ăn, mà là tại xạ và ớt làm nổi vị lên, điểm cho khẩu cái một tơ duyên ấm áp.

Ăn như thế cũng có một cái thú riêng, nhưng làm cho người ta yêu hơn các món ăn của miền Nam, chưa chắc đã là vì các món ăn đó có nhiều ớt và nhiều sả, mà cũng không phải vì món ăn của miền Nam nịnh khẩu cái ta ngay, để rồi chỉ lưu lại một dư vị rất mong manh trong cuống họng.

Tôi yêu miếng ngon miền Nam nhiều là vì nó lạ – lạ đến nhiều khi không thể tưởng tượng được – và chính những cái lạ đó đã cho tôi thấy rõ hơn tính chất thực thà, bộc lộ và chất phác của người Nam….”

(Nguồn: Món lạ miền Nam, Vũ Bằng, sách)

Lộc xuân cuộc đời

e3d04-rose2banimation
Quà tặng cuộc sống mời bạn đọc năm bài viết mới: Chào ngày mới 22 tháng 6; Ngày mới yêu thương tin dạy và học của Hoàng Kim trên trang Tình yêu cuộc sống trong đó có mục Tiếng Anh cho em, nhắc em trau dồi ngoại ngữ thường xuyên mỗi ngày;  Bốn quyển sách mới chứa nhiều tư liệu về nghề báo của Thất Sơn đăng trên VNEspress. Về công trình Văn miếu ở Vĩnh Phúc bài viết của Giáo sư Chu Hảo nguồn BVN ; Phù sa biển của Ngô Minh bài viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Hoàng Kim

Chào ngày mới 22 tháng 6. Ngày mất của bác sĩ liệt sĩ  Đặng Thùy Trâm năm 1970; Chiến dịch Barbarossa năm 1941, đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại, khởi đầu Chiến tranh thế giới thứ hai; Chiến dịch Bagration năm 1944 được xem là chiến thắng vĩ đại nhất của Hồng quân Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai; xem tiếp…

NGÀY MỚI YÊU THƯƠNG

Hoàng Kim


TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Ngày mới yêu thương gồm các bài mới : Chào ngày mới 20 tháng 6; Chờ, Lâm Cúc bình thơ “Gặp” của Phan Chí Thắng; Tiếng Anh cho em. Tái cân bằng Trung Mỹ ở châu Á; Tài liệu VOA Special English. Tài liệu luyện nghe đọc và dịch thuật tiếng Anh nông nghiệp; Câu chuyên tình yêu (Love Story Piano & Violin Duet); Ban mai (nhạc phẩm yêu thích Symphony of light của Frederic Delarue – biên tập video bởi Andreea Petcu). xem tiếp…

VOA Learning English
không chỉ là tiếng Anh cho em mà còn là tình yêu cuộc sống

Tinhyeucuocsong

Agriculture Report

  • 3:03

Cocoa Smuggling Increases in West Africa
  bởi VOA Learning English

Conflicts Place Heavy Demands on World Food Program

BỐN QUYỂN SÁCH MỚI CHỨA NHIỀU TƯ LIỆU VỀ NGHỀ BÁO

Thất Sơn

VnExpress 21-06-2015 Bốn quyển sách mới chứa nhiều tư liệu về nghề báo gồm Làng báo Sài Gòn 1916-1930, Báo Quấc ngữ Sài Gòn cuối thế kỷ thứ mười chín, Trận tuyến công khai giữa Sài Gòn, Hơn cả tin tức – Tương lai của báo chí. Các ấn phẩm vừa phát hành cung cấp cho bạn đọc các tư liệu, phân tích thú vị về sự phát triển của lịch sử báo chí Việt Nam lẫn xu hướng báo chí đương đại của thế giới. Các sản phẩm mới thuộc tủ sách chuyên đề “Truyền thông Báo chí  […] xem tiếp…

VỀ CÔNG TRÌNH VĂN MIẾU Ở VĨNH PHÚC

GS. Chu Hảo

Gần đây công trình Văn miếu đang xây dựng ở tỉnh Vĩnh Phúc đã được bàn luận sôi nổi trên các phương tiện truyền thông. Nhưng lại một lần nữa chúng ta bị đặt trong tình thế bàn chuyện “đã rồi”: đã được chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc phê duyệt và cấp kinh phí để khởi công từ tháng 8 năm 2010; đã tiêu hết kinh phí dự toán là 271 tỷ VNĐ, đã dự trù bổ sung 43 tỷ nữa mà chưa chắc đã đến hồi kết. Chắc là chẳng dừng được nữa, chỉ còn có thể làm được một việc góp ý kiến để kết thúc công trình cho hợp lý và tiếp tục “mổ xẻ” rút kinh nghiệm cho các dự án trong lĩnh vực Văn hóa vốn đã đầy rẫy tai tiếng.
Một lần nữa chúng ta lại chứng kiến thảm trạng: Chủ trương đúng nhưng thực hiện sai; và sẽ không ai thực sự chịu trách nhiệm. Chủ trương phục dựng các di tích lịch sử có ý nghĩa nhằm bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc là hoàn toàn đúng, nhưng ở dự án cụ thể này việc thực hiện là rất có vấn đề. Chẳng hạn: 1) Đây là một công trình hoàn toàn xây mới không phải trên nền một di tích Văn miếu cũ nào, và với một mô hình kiến trúc không thể biết được là kế thừa từ đâu. 2) Đã là Văn miếu, tức là miếu thờ Văn Tuyên vương (tức Khổng Tử), thì phải thờ Khổng Tử. Dựng mới một công trình thờ Khổng Tử đồ sộ như vậy, to tát và tốn kém như vậy trong bối cảnh hiện nay chắc là không hợp lý. 3) Cũng như nhiều dự án dùng ngân sách Nhà nước khác, dự án này cũng làm rất đúng quy trình, trong đó có hạng mục lấy ý kiến của dân cư trên địa bàn và của các nhà khoa học. Thế nhưng trong thực tiễn, chủ đầu tư thường chỉ là làm lấy lệ cho qua chuyện hoặc không tiếp thu bất kể ý kiến nào không thuận cho việc phê duyệt dự án đã được cấp trên có thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư.
Trong bối cảnh hiện nay, khi giá trị đích thực của Khổng Tử đang được tranh luận kịch liệt chính ngay quê hương của ông thì việc hùa theo chủ trương “xuất khẩu” cái gọi là Học thuyết Khổng tử nhằm quảng bá sức mạnh mềm của thế lực bành trướng Đại Hán cực đoan ra thế giới là điều nên tránh. Cơn sốt Khổng Tử mấy năm qua ở Trung Quốc nhằm mưu đồ chính trị, thông qua việc quảng bá rầm rộ cuốn sách “Luận ngữ tâm đắc” (NXB Trẻ, 2014) của nữ Giáo sư – tuyên truyền viên trẻ tuổi Vu Đan trên chương trình của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc, đã dấy lên một cuộc khẩu chiến và bút chiến quyết liệt giữa các nhà lý luận bảo vệ quan điểm chính thống của Đảng Cộng sản Trung Quốc là tiếp tục tôn sùng Khổng Tử (phục vụ ý đồ chính trị), và những học giả khai phóng quyết một lần nữa đặt Khổng Tử vào đúng vị trí đáng có của mình (hai lần trước là vào năm 1919 với phong trào Ngũ Tứ vận động; và vào năm 1974 với phong trào phê Lâm phê Khổng do Mao Trạch Đông phát động). Độc giả có thể tìm hiểu thêm vấn đề này qua bài viết của Lưu Hiểu Ba “Hôm qua chó nhà tang, hôm nay chó gác cửa: Bàn về cơn sốt Khổng Tử hiện nay”, đăng trên mạng ngày 2 tháng 5 năm 2015, khi bình luận cuốn sách mới xuất bản của GS Đại học Bắc Kinh Lý Linh nhan đề “Chó nhà tang – Tôi đọc Luận ngữ”. Đối với họ, Khổng Tử mà các vương triều Trung Hoa đời đời tôn sùng như một Đại Thánh không phải là Khổng Tử trong đời thật, mà do người ta nhào nặn ra. Có lẽ ông là một người chăm chỉ học hành, yêu chuộng đạo lý, không mệt mỏi truyền đạt văn hóa cổ xưa, có học vấn mà mà suốt đời đi khuyến dụ tầng lớp cai trị noi gương nhà Chu để thiên hạ thái bình nhưng không ai thèm nghe, cũng như một dạng Don Quixote, cuối đời đành quay về quê nhà và chết trong buồn tủi. Còn Luận ngữ, cũng tựa như cuốn Mao tuyển thời Cách mạng Văn hóa, hầu hết cũng là những câu nói giản dị, rút ra từ “minh triết dân gian”, đã được tán tụng thành những lời dạy tinh diệu của Thánh nhân.
Trong tình hình hiện nay, dù vô tình hay hữu ý, phụ họa chính sách dùng Khổng Tử như một “Đại Thánh Chí Thành Văn Tuyên Vương” nhằm thực hành “quyền lực mềm” của thế lực dân tộc cực đoan Đại Hán là việc làm vừa không khôn ngoan, vừa nguy hiểm.
Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng phải xác định lại mục tiêu của công trình. Là Văn miếu thì phải thờ Khổng Tử; nếu xây trên nền di tích cũ, với quy mô nhỏ và theo mô hình kiến trúc Viêt cổ, thì có thể là hợp lý. Nhưng nếu xây hoàn toàn mới với quy mô hoành tráng như hiện nay thì không nên coi là Văn miếu, không thờ Khổng Tử; mà nên tận dụng để làm việc khác, chẳng hạn như làm một ngôi đền chùa mới với những nội dung bên trong phù hợp.
Hội An, ngày 18/6/2015 
( Nguồn: BVN)

PHÙ SA BIỂN CỦA NGÔ MINH

 Hoàng Phủ Ngọc Tường

Trước tình hình số tập thơ được xuất bản với tốc độ chóng mặt, người ta bỗng nhiên cảm thấy e ngại mỗi khi cầm một tập thơ trên tay. E ngại, không phải vì người ta sợ nhọc sức, mà e ngại vì người ta nghĩ rằng sẽ phải đọc một tập thơ dở! Cảm giác ấy xem ra thật bất công, nhưng thật tình nó quả là như vậy. Nhưng với Phù sa biển của Ngô Minh vấn đề lại khác. Ngô Minh sinh trưởng ở một làng biển Quảng Bình, đó là điều rất quan trọng để hiểu tính cách tác giả, để hiểu được những khát vọng và những kỷ niệm mặn mà thời tuổi dại. Ngô Minh đã theo đuổi việc học từ một một trường ở làng quê, điều ấy giúp anh có một cái nhìn chân thật về bạn bè. Cuối cùng, cũng như nhiều thanh niên cùng lứa tuổi, Ngô Minh đã đi bộ đội và tham gia giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh; điều giúp tác giả có một cái nhìn tổng kết thẳng thắn về cuộc đời và cũng như những tình cảm lớn khác trong thơ. Xuất ngũ, anh lại làm thơ và chỉ làm thơ (đây là tập thơ thứ chín đã xuất bản của anh). Ngô Minh là một người biết chí tình với thơ trong cuộc sống. xem tiếp …

Video yêu thích
Love Story (Piano & Violin Duet)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Lộc xuân cuộc đời

HoQuangCuaNguyenVanLuat

LỘC XUÂN CUỘC ĐỜI mời bạn đọc năm bài viết mới: “Điểm son trong sản xuất lúa và những ý kiến trái chiều về khoa hoc công nghệ” của giáo sư Nguyễn Văn Luật, anh hùng lao động, giải thưởng Hồ Chí Minh, nguyên Viện trưởng Viện Lúa Đồng bằng Sông Cửa Long, trao đổi về giống lúa IR50404, sử dụng thuốc trừ sâu hiêu quả cho lúa cao sản ngắn ngày, và lợi ích vụ lúa thu Đông; “Gặp những đồng nghiệp trẻ trong đại hội đảng bộ Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh” thông tin sốt dẽo của cô Lê Thị Phương Hồng về “Mái trường thân yêu” chuẩn bị kỷ niệm 60 năm ngày thành lập. “Ngôi nhà có hàng rào sơn trắng” tản văn của nhà khảo cổ và văn hóa Nam Bộ Nguyễn Thị Hậu, viết về những ngôi nhà có hàng hiên rộng, vài chậu hoa xinh xắn trên bệ cửa sổ rèm buông lay nhẹ, bãi cỏ xanh nho nhỏ và bên ngoài là hàng rào thưa sơn màu trắng, thấp, khiêm nhường. “Người đàn bà nhổ lạc” của nhà văn Phan Chí Thắng, viết về tuổi thơ nhưng thấp thoáng bóng dáng của người phụ nữ thôn quê nhân hậu. Bài thơ “Mẹ tôi” của Nguyễn Tuyết Hạnh và bức ảnh tuyệt đẹp về sen hồng ngày hạ, bạn đọc và suy ngẫm, và chợt thấy lòng mình lắng lại.

CayluaVietnam

ĐIỂM SON TRONG SẢN XUẤT LÚA VÀ NHỮNG Ý KIẾN TRÁI CHIỀU VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Nguyễn Văn Luật

Ở ĐBSH vào thập kỷ 60 và 70 thế kỷ 20th , điểm son trong phát triển sản xuất lúa là lúa xuân trở thành vụ chính, tiếp theo là cơ cấu cây trồng luân canh xen canh với vụ lúa xuân, như lúa mùa sớm, vụ màu thu đông, hay vụ bèo hoa dâu gối vào đầu vụ lúa xuân. Lúc đầu có nhiều ý kiến phản đối gay gắt . Cho đến khi có giống lúa ngắn ngày và kỹ thuật sản xuất lúa từ khâu mạ thích hợp trong điều kiện giá rét đầu vụ, thì diện tích lúa xuân tăng rất nhanh. Vụ lúa Chiêm đã hòan thành vai trò lịch sử ngàn năm và đã nhanh chóng nhường ruộng cho vụ lúa xuân.

Ở ĐBSCL vào thập kỷ 80, 90 thế kỷ 20th , nhất là sau đổi mới, phong trào sản xuất lúa ở vùng phù sa trẻ này cũng rất sôi động, vì đang có phong trào đưa giống lúa cao sản ngắn ngày vào các vụ mới trong vùng; đấy là các vụ đông xuân, xuân hè, hè thu, thu đông, để cấu trúc lại các vụ lúa trong năm, chứ không dừng lại ở mức cơ cấu lại bằng thay đổi tỷ lệ diện tích cho mỗi vụ đã có trước.

Vùng ĐBSCL có điều kiện tự nhiên vừa rất thuận lợi cho sản xuất lúa, lại vừa có những trở ngại lớn. Thuận lợi vì đất đai mầu mỡ, ánh sáng và nguồn nước rất dồi dào, không có giá rét và ngày ngắn, không có bão tố; khó khăn vì mùa khô mặn xâm nhập, phèn nổi lên, mùa mưa thì lũ úng lụt.. Điều kiện canh tác lúa đâu có đồng nhất, ngay cả mặt ruộng lúa lúc mới giải phóng còn nhiều lung đìa, nên đâu có thể tiếp nhận được khuyến cáo có nguồn gốc nước ngoài là gieo trồng và thu hoạch đồng loạt; hơn nữa không thể có đủ lao động cho những tháng đông ken mùa vụ!.

Trong quá trình phát triển sản xuất lúa ở ĐBSCL, các nhà khoa học trong và ngoài vùng, và cả ngoài nước không khỏi có nhiều ý kiến trái chiều về khoa học CN, nhưng đều xuất phát từ thiện chí với nông dân, với nông nghiệp, và với nông thôn. Nhận thức vậy nên khi phát biểu hay trong bài viết của tôi có những ý phản biện, mà có lẽ chưa để “mất lòng” ai.Tôi chỉ xin đơn cử ba trường hợp:

Có khuyến cáo chiến lược “Không phun xịt thuốc trừ sâu rầy trước 40 ngày sau cấy”. Khuyến cáo này có nguồn gốc từ chuyên gia nước ngoài, có chuyên gia trong nước hưởng ứng. Trong dịp Bộ trưởng Cao Đức Phát đến thăm tôi ở Cần Thơ, tôi có trình bầy và đề nghị Bộ trưởng gỡ bỏ khuyến cáo này. Bộ trưởng yêu cầu tôi viết cho báo NNVN. Bài báo được đăng ngay, tiếp theo là nhiều báo khác. Sau đó không lâu NB Quang Ngọc nói với tôi bài báo đã đánh sập chiến lược “ Không phun xịt trừ sâu 40 ngày sau cấy” rồi. GSTSKH Hà Minh Trung có nói khi ta gỡ bỏ chiến lược trên, một số nước vẫn thực hiện thì vẫn có dịch sâu rầy bột phát và bệnh vàng lùn soắn lá!. Từ 2007 đến nay, đâu có đợt dịch rầy nâu nào như nhiều năm trước

Giống lúa IR50404 nhập từ IRRI phải “lên bờ xuống ruộng” hàng vài thập kỷ trước. Dùng giống lúa này là sự lựa chọn của nông dân. Tôi nhận thấy người nông dân lựa chọn dùng giống lúa nào, làm vụ lúa nào, đâu có cần biết của ai, từ đâu đến. Tôi chịu ảnh hưởng của suy nghĩ này, nên không có phản cảm gì đến việc nông dân ngoài Bắc dù giống lúa nhập, vì đâu có độc hại như hàng nhập từ TQ đồ chơi trẻ em, quần áo, cả nồi niêu bát đĩa tăm đũa có nhiễm chất độc. Đối với giống lúa IR50404, tôi đã kiên trì và cả chút ít dũng cảm đứng về phía nông dân bằng nhiều bài báo, mặc cho có lúc có chuyên gía đề nghị truy tìm ai có liên quan đến phát triển giống lúa này! Có lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT nói với tôi: vừa gặp Thứ trưởng khi đó là PGSTS Bùi Bá Bông, và hỏi sao lại có bài báo này, được trả lời: giáo sư nói đúng đấy!

Về vụ lúa Thu Đông hay vụ 3 và 3 vụ lúa ở ĐBSCL, trước đây tôi cũng chỉ nghĩ về mặt xấu là cầu nối sâu bệnh, bóc lột đất kiệt quệ, thu không đủ chi cho sản xuất. Có khuyến cáo không làm vụ ba, vụ thu đông. Sau khi tìm hiểu thực tế sản xuất, tôi thấy bà con nông dân làm vụ 3 là tự lựa chọn như đối với giống lúa IR50404, nên tôi lại đứng về phía bà con nông dân bằng viết khá nhiều bài báo, tổ chức hội thảol và trình bầy ý kiến mình với lãnh đạo Bộ. Tôi cũng gửi cho báo NNVN trước, nhưng có lẽ các đ/c ngại va chạm. Gửi cho báo Nhân dân, NB Tô Vương biên tập, thì được đăng ngay, đăng vào mấy số, ở các mục khác nhau: “Ý kiến nhà khoa học”, “Cùng suy ngẫm”, “Trang địa phương.”. Các báo ngành, báo địa phương ngày một hưởng ứng. Trước là đại diện Việt Nam làm chuyên viên ở FAO, TS Trần Văn Đạt, nay hưu ở Mỹ, hòi lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và PTNT, và hỏi tôi. Tôi đề nghị tìm hiểu qua bà con thân thuộc hiện đang làm ruộng ở ĐBSCL trước đã. Chỉ sau 10 ngày tôi nhận được thư trả lời (thư điện tử, tháng 7/2009) TS đồng ý với tôi vì chưa thể có lựa chọn khác tốt hơn, và mong Nhà nước ta có chính sách để nông dân có thể tái cơ cấu cây trồng ở vùng lúa nhằm tăng tổng thu nhập thuần ổn định.

Khi vụ 3 được “cởi trói”, ở tỉnh An Giang trước có 7 chủ tịch xã bị kỷ luật do dân có làm vụ 3 thế tất được giải oan. Thạc sỹ Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học công nghệ Lê Minh Tùng vài năm trước đây đã có bài tổng kết hơn 10 năm làm 3 vụ lúa ở An Giang, có đăng tạp chí KH và CN của tỉnh, thì: chưa thấy mặt tiêu cực của vụ 3 thể hiện rõ, nhưng năng suất và sản lượng lúa của tỉnh vẫn tăng hàng năm rõ. An Giang là tỉnh làm vụ 3 mạnh nhất và hiệu quả nhất của vùng!

GSTS Nguyễn Văn Luật
( Bài đăng theo đúng bản email tác giả gửi)
Ảnh đầu trang: Anh hùng lao động Hồ Quang Cua và GS. AHLĐ Nguyễn Văn Luật

GẶP NHỮNG ĐỒNG NGHIỆP TRẺ ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HCM

Lê Thị Phương Hồng

DHNL2

DHNL1

(*) Lê Thị Phương Hồng, nguyên Phó Bí thư Đảng Ủy DHNL TPHCM.

NguyenThiHau

NGÔI NHÀ CÓ HÀNG RÀO SƠN TRẮNG

Nguyễn Thị Hậu

Dọc những con đường trải dài tôi qua ở nước Mỹ, bất cứ nơi đâu cũng có thể bắt gặp ngay bên đường, hoặc thấp thoáng trong cánh rừng thưa, hay trong một thị trấn nho nhỏ nào đấy… những ngôi nhà có hàng hiên rộng, vài chậu hoa xinh xắn trên bệ cửa sổ rèm buông lay nhẹ, bãi cỏ xanh nho nhỏ và bên ngoài là hàng rào thưa sơn màu trắng.

Không hiểu sao khi nhìn thấy những ngôi nhà như thế, trái tim chợt lỡ nhịp, một tình cảm dịu dàng tràn ngập như khi gặp lại mối tình không trọn vẹn. Những ngôi nhà có hàng rào sơn trắng, với tôi, luôn mang lại cảm giác bình yên mà bất cứ gia đình nào cũng muốn có. Hàng rào thấp sơn trắng như một ranh giới mong manh, ở trong là những gì thân thuộc ấm áp, bên ngoài là xa lạ lạnh lùng…

Hàng rào có cổng, cũng thấp thôi, hay khép hờ hoặc gài tạm, mỗi ngày được mở ra cho người nhà ra vào, đón tiễn những người khách. Cánh cổng chỉ như “cửa khẩu” tượng trưng, nhìn nó có thể cảm nhận được sự thân thiện hay không của ngôi nhà. Một ngày nào đó, cổng rào luôn đóng im ỉm “nội bất xuất ngoại bất nhập”, một ngày nào đó người trong nhà lại ra vào bằng cách vượt qua rào, đạp đổ rào, khách đến nhà cũng bằng cách ấy… Một ngày nào đó cánh cổng rào luôn mở toang, chểnh mảng, người ra vào thờ ơ không buồn khép lại… Có lẽ ngày ấy sự bình yên của ngôi nhà bắt đầu ra đi…

Có lần, trong giấc mơ tôi thấy mình đứng ngập ngừng bên cạnh cổng rào, không dám đẩy cổng dù nó chỉ được gài chốt sơ sài, cũng không dám bấm chuông, sợ rằng chính tiếng chuông sẽ làm mình chợt tỉnh… Hình như phía sau tấm rèm lay nhẹ kia có ánh mắt ai đó tò mò nhìn người khách lạ đứng tần ngần bên rào nhà mình. Rồi nhận ra người khách chỉ là kẻ qua đường tình cờ dừng chân chốc lát, ánh mắt kia yên tâm rời khỏi cổng rào quay về với những gì thân quen với nó. Và tôi, không thể dừng chân lâu hơn, đành bước đi, để lại cảm giác hạnh phúc
mình – đã – mơ – ước – từ – lâu ở lại phía sau, bên kia hàng rào thấp sơn màu trắng.

Sao mà tôi yêu những ngôi nhà này đến thế! Kiếp sau, hay nếu may mắn được lên Thiên đàng, nhất định tôi sẽ xây một ngôi nhà nhỏ có hàng rào sơn màu trắng bình yên…

(*) Nguồn: FB Nguyễn KC Hậu

PhanChiThangPhanChiQuyet

NGƯỜI ĐÀN BÀ NHỔ LẠC

Phan Chí Thắng

Năm 1953, khi còn là một đứa bé 5 tuổi, tôi đã thực hiện chuyến đi bộ dài ngày nhất trong đời mình. Cha tôi được thuyên chuyển công tác ra Công an Khu 4 và được đưa vợ con theo. Chuyến đi từ chiến khu Thừa Thiên ra đến Nam Đàn Nghệ an mất đúng một tháng, chủ yếu là đi đường rừng. Chuyến đi để bắt đầu hơn bốn năm tuổi thơ của tôi ở Nghệ an, một tuổi thơ đầy ắp những kỷ niệm vui buồn và cả sợ hãi.

Sinh ra ở Huế, trong một gia đình tạm gọi là đủ ăn đủ mặc, hai mẹ con tôi bị ném vào một vùng nông thôn có phong cảnh rất đẹp và cũng là nghèo khổ nhất Việt Nam.

Chúng tôi được bố trí ở nhờ trong một gia đình ở xã Nam Vân huyện Nam Đàn trước khi chuyển lên gần Đô Lương. Trong trí nhớ của tôi thì đó là Nam Vân. Sau này hỏi những người quê ở Nam Đàn, họ nói không có có xã tên đó, chỉ có Vân Diên và Nam Tân. Chưa có dịp tra cứu lại.

Đứa bé 5 tuổi lần mò chơi với trẻ trâu, bắt cua, trèo cây, chạy chơi trên đường làng phơi đầy toóc (rạ). Một cuống rạ đâm vào lỗ mũi tôi, máu chảy đầm đìa và để lại di chứng là có một lỗ mũi hẹp hơn lỗ kia. Lần chó cắn, cũng là đầu đời, nay còn nhìn rõ sẹo ở chân, cũng xảy ra ở đây.

Và một kỷ niệm nữa, cũng đầu đời, liên quan đến đàn bà mà hôm nay tôi muốn kể lại.

Hôm đó tôi theo lũ nhóc con đi mót lạc. Những người dỡ (nhổ) lạc đi phía trước, trẻ con đi theo sau, cố gắng tìm những củ lạc còn sót lại.

Bạn nên biết là người Nghệ an tiết kiệm lắm, chi li lắm. Họ mà nhổ lạc thì khó có còn gì để mót.

Mùi lạc thơm thơm hăng hăng. Nhặt được một củ là bóc vỏ ngay, ăn sống, không có thứ gì trên đời ngon bằng.

Đó là tôi nói về những đứa khác. Còn tôi, thằng bé quen đi đường nhựa, lơ ngơ không mót được củ nào. Người ta nhổ gần xong đám ruộng lạc mà tôi vẫn tay trắng hoàn tay trắng.

Bất thình lình, tôi phát hiện nguyên một chùm lạc to được nhổ lên nửa vời. Tôi lao đến, sung sướng nhổ nốt lên, ôm vào lòng. Đó là thứ quà tặng đầu đời mà Trời Phật ban cho tôi. Khó mà tả cho hết được niềm vui vô bờ bến tôi có được lúc đó.

Mấy chục giây sau, ngước mắt lên, tôi bắt gặp nụ cười âu yếm pha chút láu lỉnh trong ánh mắt người đàn bà nhổ lạc đi phía trước tôi.

Đứa bé năm tuổi chưa hiểu được ánh cười đó, mãi sau này nó mới hiểu.

Đứa bé năm tuổi chưa đủ hiểu biết để nhận ra đó là người đàn bà hay chỉ là một thanh nữ.

ít lâu sau, chúng tôi chuyển về gần Đô Lương sinh sống. Và mãi mãi tôi không gặp lại người đàn bà (hay là thanh nữ?) đó nữa.

Nhưng mãi mãi tôi không quên đôi mắt ấy, không quên nụ cười trong đôi mắt ấy. Nụ cười luôn tiếp cho tôi năng lượng để vượt qua những gian truân trong cuộc đời đầy bất trắc này.

(*) FB của Phan Chí Thắng (ảnh Phan Chí Thắng và Phan Chí Quyết)

Metoi TH

Mẹ tôi

Nguyễn Tuyết Hạnh

Mẹ tôi ủ nắng trong lòng
Gom mưa tưới mát tươi hồng sắc hoa
Ngậm ngùi giá rét mưa sa
Để dâng mùa hạ bao la sen hồng…

Mẹ tôi lam lũ nâu sồng
Tự bùn vẫn tỏa hương nồng thanh tao
Hôn lên má mẹ gầy hao
Xin dâng tha thiết ngọt ngào lòng con…

Nguồn : FB Nguyen Tuyet Hanh

Trở về trang chính
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Mời cảm nhận: tại đây

Lộc xuân cuộc đời

DHNL1

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Phát sốt trước bộ ảnh kỷ yếu ngộ nghĩnh của sinh viên Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, tập thể lớp 12 SH đang “làm mưa làm gió trên cộng đồng mạng; “Tiếng Anh cho em” giới thiệu song ngữ Anh Việt cuốn sách sắn mới “Quản lý bền vững sắn châu Á: Từ Nghiên cứu đến Thực hành” (Sustainable Management of Cassava in Asia from Research to Practice) được viết bởi Reinhardt Howeler and Tin Maung Aye. “Giải trí cuối tuần”, chuyện vui sưu tầm của giáo sư Nguyễn Lân Dũng. Video nhạc tuyển tuyệt phẩm “Mùa hè” của Brian Crain, biên tập video bởi Andreea Petcu. Chúc các bạn những ngày cuối tuần vui khỏe, hiệu quả.


DHNL3
Phát sốt trước bộ ảnh kỷ yếu ngộ nghĩnh của sinh viên Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh

DHNL2

DHNL4 DHNL5
Bấm vào đây xem tiếp không chỉ ảnh đẹp mà lời bình rất ngộ và hay !

Tiếng Anh cho em

FOODCROPS.VN. Quản lý bền vững sắn châu Á: Từ Nghiên cứu đến Thực hành (SUSTAINABLE MANAGEMENT OF CASSAVA IN ASIA   From Research to Practice) là sách sắn mới, được viết bởi Reinhardt Howeler and Tin Maung Aye. CIAT 2014, 148 trang, Bản tiếng Anh, chỉ số xuất bản ISBN 978-958-694-136-5, Bản tiếng Việt đang in 2015. Tiến sĩ Clair Hershey, Trưởng Chương trình sắn CIAT giới thiệu: (trích) ” Công việc tóm tắt trong tài liệu này thay cho những lời khuyên tốt nhất hiện có sau hơn 50 năm kinh nghiệm thực tiễn kết hợp nghiên cứu và làm việc với nông dân để hiểu những thách thức thực tế cuộc sống và cơ hội mà họ phải đối mặt.”. Được sự đồng ý của tác giả, tài liệu sách sắn mới này được giới thiệu song ngữ Anh Việt lần lượt tại trang www.foodcrops.vn chuyên mục Food Crops and Green Travelwww.hoangkimlong.wordpress.com chuyên mục Tiếng Anh cho em

xem tiếp

Giải trí cuối tuần

GS. Nguyễn Lân Dũng (ST)

* Đau đẻ

Một hôm ngồi rỗi đàn bà trong làng than vãn vì đóng vai trò máy đẻ ( joue le role d’une machine a` pondre”) ,nên nhất loạt lên đề nghị Thượng đế :” mang nặng 9 tháng thì phụ nữ gánh ,còn đau đẻ thì bố đứa bé chịu”.
Thượng đế chấp nhận Các bà ra về yên tâm tha hồ. ..mang bầu.
9 tháng sau : bà bầu đầu tiên chuyển dạ thì ông chồng hồi hộp chờ mãi chẳng thấy gì ,chỉ ông hàng xóm là quằn quái cho đến tận lúc bà bầu …mẹ tròn con vuông. các bà bầu chưa đẻ vội họp khản cấp,cử hội trưởng lên xin thượng đế cho phép được …chịu đau như trước đây .

*Mời anh
Cô giáo Tổng phụ trách Đội ở trường tiểu học nọ nhận được một loạt lời trách móc sau khi gửi tin nhắn đi.
Nguyên do là cô gửi tin nhắn cho mọi người đến dự đại hội Cháu ngoan Bác Hồ với nội dung: “Em dang o truong, moi anh den du” (Em đang ở trường, mời anh đến dự)

* Cứ tưởng là…
Sau một hồi cãi vã, anh chồng hậm hực xách cặp đi làm mãi gần trưa nhận được tin nhắn của vợ: “Cho de anh o dau vay?”
Bực tức anh gọi về:
– Sao cô có thể nặng lời như thế? Dù là cãi nhau thì cô cũng không thể xúc phạm tôi theo cái kiểu đó được.
Cô vợ liền giải thích:
– Sáng giờ dọn dẹp nhà cửa nhưng không thấy tấm ảnh gia đình anh thường để trên bàn làm việc, tưởng anh giận vứt đâu mất nên em mới nhắn tin hỏi chỗ để tấm ảnh đó ở đâu.

* “Em đã có thai”
Sau nhiều lần muốn gặp để nói chuyện riêng, nhưng bạn trai luôn bận, cô bồ tỏ ra bực bội và hết giờ làm việc hai người đã cãi nhau rất nhiều qua điện thoại.
Khi về, chàng trai nhận được tin nhắn của cô: “Em xin loi, em da co thai do khong dung voi anh”.
Chàng trai rất lo lắng và gọi điện ngay để hỏi lại:
– Tại sao hôm đó mà chúng ta lại có thai được, không dùng cũng không có thai được?
Cô bồ giải thích:
– Em có nói chuyện gì là có thai đâu. Em về nghĩ lại thấy anh có quá nhiều công việc phải giải quyết mà em lại quá nóng nảy, em nhắn tin gửi lại anh là: “Em xin lỗi, em đã có thái độ không đúng với anh”

* Chỉ nghĩ bậy là nhanh
Mẹ nhắn tin cho con trai: “Di lam ve mua cho me 5 hop thuoc moc long nhe”.
Con trai bức xúc gắt lên trong điện thoại:
– Mẹ mua thuốc mọc lông làm gì?
Bà mẹ mắng lại:
– Tao bảo mày mua thuốc Mộc Long của nam dược Bảo Long chứ mua thuốc mọc lông làm gì”

* Họp cũng “chết”
Có anh thường bị bà xã cằn nhằn mỗi khi bạn bè rủ rê, nên luôn dặn bạn bè muốn rủ đi nhậu cũng phải nhắn tin là mời đi họp.
Một hôm, có anh tên là Giáo, muốn mời bạn về nhà nhậu nên đã nhắn tin: “Ve nha giao hop gap!”
Báo hại anh kia phải giải thích mãi bà xã mới chịu tin.

* Lãng mạn quá cũng mệt
Cặp tình nhân đang yêu nhau nhưng hai người đều ở rất xa nhau.
Một hôm người con gái nhắn tin cho chàng trai và hỏi: “a dang lam gi the?”
Chàng trai trả lời: “a dang o cua phong tam mat xa noi dang co e iu”
Cô gái đọc tin nhắn giận quá, nhắn tin lại: “a that la qua dang!”, rồi sau đó tắt máy luôn.
Chàng trai không hiểu chuyện gì xảy ra. Thì ra chàng trai vốn có tâm hồn lãng mạn nên đã nhắn cho cô gái là: “Anh đang ở cửa phóng tầm mắt xa nơi đang có em iu”.
Quả này, chàng trai này sẽ có một phen lao đao!

* Nổi đóa với chồng
Đi làm về, bước vào cửa nhìn thấy đôi giày mới mua cả bạc triệu nát tươm, chị vợ nổi đóa mắng chồng như tát nước.
Anh chồng không kịp giải thích liền đi ra ngoài cho vợ bớt giận. Một lúc sau, anh chồng nhắn tin cho vợ:”Do con cho”.
Cô vợ càng lồng lộn lên, gọi điện lại cho chồng mắng tiếp.
Hóa ra, anh chồng giải thích đôi giày là do con chó cắn nát

* Sự cố
Tổ trưởng nhận được tin nhắn của quản lý xưởng: “Bao cao su co tai khu vuc noi dia”.
Tổ trưởng lật đật gọi điện hỏi lại:
– Tại sao lại có bao cao su tại khu vực nội địa?
– Tôi bảo báo cáo sự cố tại khu vực nội địa chứ bao cao su nào?

* Thai
Tối về nhà sạc pin và bật máy lên thì nhận được tin nhắn của người yêu: “Em biet cai thai do cua anh roi”.Anh chàng phát hoảng tưởng người yêu mang thai. Vội gọi đến hỏi thì mới hay cô ấy nhắn tin là: “Em biết cái thái độ của anh rồi”, bởi vì cô ta hiểu nhầm tưởng anh cố tình tắt máy để không đưa cô đi nên tức giận mà nhắn vậy

VUI MỘT TÝ ! (Tô Văn Trường)
Giải đáp câu hỏi “Tại sao tạo hóa tạo nên con người có : Hai Tay, Hai Chân , Hai Tai, Hai Mắt, Hai Lỗ Mũi mà chỉ có Một Mồm ( ăn, uống, nói, làm tình …) ?
Cách thứ nhất:
Tra cứu trên mạng, người ta giải thích: Ta có hai con mắt bởi cuộc sống muốn ta nhìn, quan sát nhiều hơn và biết trân trọng những gì ta đang có. Ta có hai cái tai, bởi ta cần phải lắng nghe nhiều hơn những âm thanh cuộc sống muốn gửi đến. Ta có hai lỗ mũi, để hít thở nhiều hơn và cảm ơn những gì cuộc sống đã ban tặng. Ta có hai cái tay, để làm việc, cầm nắm và trao tặng yêu thương cho mọi người. Ta có hai cái chân, để bước đi nhiều hơn, đến những nơi mà ta muốn, và rồi những bước chân đó sẽ cho ta biết đâu là bến đỗ cuộc đời mình.
Vậy tại sao ta có một cái miệng? Chẳng phải ta cần nói ít lại những lời than vãn, trách móc, than phiền hơn đó sao? Vì than vãn, trách móc, than phiền chỉ làm cho niềm tin của ta bị bào mòn, hoen rỉ, rạn nứt, mục rữa đi mà thôi.
Cách thứ hai:
Giải đáp theo kiểu “uốn theo chiều gió” như sau:
– Tác dụng và công năng của những bộ phận đi theo cặp đôi như tay, chân,lỗ tai , lỗ mũi là ở chỗ chúng hỗ trợ cho nhau và không phát sinh mâu thuẫn.
– Với miệng, cơ quan sinh dục …thì giả sử có đồng thời 2 chiếc ắt nảy sinh hoàn cảnh tranh dành ” hưởng sướng” gây mất đoàn kết nội bộ khiến cơ thể bất an.
Thêm vào đó sẽ phải bố trí chúng xa nhau ra để tiện lợi trong tác nghiệp và như vậy sẽ mất cân đối trầm trọng…
Cách thứ ba:
Tạo hóa cho con người những hưởng thụ luôn cần (hợp lý, tối ưu) chỉ bằng nửa (=1/2) những điều phải làm, cần làm . Nhưng, hiện đang có (khá phổ biến) loại “biến đổi gen” : không tai, không mắt, không tay chân v.v… mà chỉ có mồm ! Hãy vào kênh ti vi chuyên chiếu phim HBO của Mỹ mà coi, nó quái dị vô cùng !
Vậy nên, cách đây khoảng nửa thế kỷ, người ta đã có giai thoại : Trong một lần khối SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế của các nước XHCN) họp để phân công trọng điểm cho từng nước trong khối ; nào là cơ khí, hóa học, nông nghiệp v.v… Tới lượt phân công cho VN, không biết phân công làm gì cho hợp lý !
Bỗng, có một ý kiến đề xuất và ngay lập tức được cử tọa vỗ tay nhiệt liệt thông qua – đó là phân công cho VN : chuyên THẢO NGHỊ QUYẾT – VIẾT XÃ LUẬN ! Tuyệt vời !

Chúc mọi người ngày mới vui khỏe.

Video yêu thích

BRIAN CRAIN – Summer
KimYouTube

Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook