Dạy và học thời Covid19

Dạy và học thời Covid19
THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim


Tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn thầy bạn dưới mái trường Nông Lâm thân thương và làm món quà nhỏ thân tặng cho các em sinh viên nghèo hiếu học nhân ngày Nhà giáo Việt Nam. Thầy, bạn là lộc xuân của đời tôi mà nếu thiếu sự động viên, giúp đỡ này thì tôi không thể có được ngày hôm nay:“Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin” Dạy và học thời Covid19 giúp ta thời gian trở lại chính mình, đọc lại và suy ngẫm. Thầy bạn trong đời tôi là chuỗi Hoàng Kim Notes nhiều kỳ. Bài viết dưới đây là một bài trong số đó.

Kazuo Kawano và Reinhardt Howeler

Sắn Việt Nam là một câu chuyện thành công. Thầy bạn trong đời tôi có nhiều chuyên gia nông nghiệp Quốc tế của CIAT, CIP, IRRI, ICRISAT, CIMMYT, FAO, ACIAR, Viện Vavilop (Nga), Trường Đại học Nông nghiệp Praha (Czech),…’Trong đó, bài học kết nối CIAT với Sắn Việt Nam là thật sự lâu bền và có hiệu quả. Kazuo Kawano và Reinhardt Howeler là hai chuyên gia CIAT đầu tiên đến Việt Nam năm 1988, và lưu lại nhiều ấn tượng tốt đẹp nhất. Sau họ đã có nhiều chuyên gia khác nữa đến làm việc tại Việt Nam ở nhiều thời kỳ và đều thật đáng quý .

Cách mạng sắn Việt Nam

Cách mạng sắn Việt Nam https://youtu.be/81aJ5-cGp28 là thành tựu và bài học kinh nghiệm quý giá, là điểm sáng toàn cầu được vinh danh tại Hội thảo Cây Có Củ Thế Giới được tổ chức tại Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc từ ngày 18 đến 22 tháng 1 năm 2016. Sắn thế giới là cây trồng 4F (Food, Feed, Flour, Fuel) triển vọng của thế kỷ 21. Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng thứ ba sau lúa và ngô. Sắn Việt Nam ngày nay là một ngành xuất khẩu đầy triển vọng với diện tích hơn nửa triệu ha và giá trị xuất khẩu hơn một tỷ đô la Mỹ mỗi năm. Cách mạng sắn Việt Nam, với sự tham gia của hàng triệu nông dân trồng sắn Việt Nam, đã thực sự đạt được sự chuyển đổi to lớn cây sắn và ngành sắn về năng suất, sản lượng, giá trị sử dụng, hiệu quả kinh tế, thu nhập thực tế, sinh kế, việc làm và bội thu giá trị lao động sống ngành sắn cho hàng triệu người dân trên toàn quốc.Sắn Việt Nam hôm qua và ngày nay đã và đang tiếp tục làm cuộc cách mạng xanh mới. Cuộc chiến hôm nay là bảo tồn và phát triển sắn bền vững hợp tác Việt Nam ACIAR CIAT “Thiết lập các giải pháp bền vững cho cây sắn ở Đông Nam Á”. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cach-mang-san-viet-nam/

CIAT 45 năm thành lập

Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) đã kỷ niệm 45 năm thành lập CIAT năm 2012, CIAT 45 năm nghiên cứu phát triển (1967 – 2012) nhằm mang lại lợi ích nông dân sản xuất nhỏ và người tiêu dùng nghèo trên toàn vùng nhiệt đới của thế giới. CIAT trong dịp này đồng thời cũng đánh dấu trên ba thập kỷ nghiên cứu sáng tạo cho phát triển nông nghiệp theo định hướng thị trường trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Tiến sĩ Bùi Bá Bổng đã tôn vinh ba thành tựu to lớn của CIAT đóng góp cho nền nông nghiệp Việt Nam:

”Nông nghiệp vẫn là một lĩnh vực rất quan trọng đối với Việt Nam. Khoảng 70% dân số có liên quan đến nông nghiệp và sản xuất hơn 20% sản lượng kinh tế. Việt Nam là một nước xuất khẩu chính của nhiều sản phẩm nông nghiệp, và trong một số trường hợp là dẫn đầu hoặc là một trong những nhà xuất khẩu hàng đầu trên toàn cầu, với tổng giá trị xuất khẩu nông nghiệp đạt 25 tỷ USD mỗi năm. Trong lĩnh vực sắn, với diện tích thu hoạch hơn nửa triệu ha, giá trị xuất khẩu sản phẩm sắn của Việt Nam đạt 800-950 triệu USD mỗi năm. Trong kết nối này, CIAT đã có những đóng góp đáng kể thông qua việc cải thiện ngành sắn Việt Nam. CIAT đã làm việc tại Việt Nam trong hơn hai mươi năm với các cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các Trường Đại học, Viện Nghiên cứu. Đã có ba lĩnh vực chính của sự hợp tác.”

Trước hết CIAT là người đầu tiên bắt đầu với các thử nghiệm và phát hành cải tiến giống cây thức ăn gia súc động vật và kỹ thuật quản lý. Điều này đã cải tiến sản xuất đáng kể trong chăn nuôi và sinh kế của hàng chục ngàn gia đình nông dân sản xuất nhỏ, đặc biệt là ở vùng núi. Những tác động này đã được nhìn thấy cho các ngành chăn nuôi từ gia súc cho đến cá. Khu vực tác động lớn thứ hai đã được với sắn. Trong thời gian CIAT làm việc với các đối tác Việt Nam về cải thiện sắn thì cả diện tích trồng và năng suất sắn bình quân của cây sắn trên toàn Việt Nam đã tăng gấp đôi, sản lượng tăng nhiều hơn bốn lần tăng trong sản xuất và gia tăng cao trong cả hai chế biến và xuất khẩu. Tác động này đã được thực hiện ở nhiều cấp độ: Ở cấp quốc gia, sắn đã trở thành một sản phẩm xuất khẩu chủ yếu. Trong cuộc sống của hàng trăm ngàn, nếu không nói là hàng triệu gia đình sản xuất nhỏ trong cả nước thông qua các thay đổi về năng suất và lợi nhuận. Nguồn vật liệu giống sắn từ CIAT thông qua chương trình chọn tạo và nhân giống đã bao gồm hơn 90% của tất cả diện tích sắn được trồng hiện nay ở Việt Nam. Lĩnh vực thứ ba của việc hợp tác với CIAT đã liên kết nông dân với thị trường, đặc biệt là nông dân từ các khu vực vùng sâu, vùng xa của đất nước tại Thừa Thiên Huế, Hòa Bình, Đắk Lắk. Thông qua việc giải quyết vấn đề sự kết hợp giữa kỹ thuật và tiếp thị, các vấn đề cải tiến trong việc tiếp cận thị trường, lợi nhuận, và sinh kế đã được quan sát cho nhiều cộng đồng gồm một loạt các sản phẩm, bao gồm không chỉ sắn và chăn nuôi mà còn trái cây, rau, và nhiều hơn nữa”.

Tôi hiểu rằng ba khu vực chính của công việc đã được hỗ trợ bởi các tổ chức tài trợ đại diện trong căn phòng này, cụ thể là Cơ quan Hợp tác Phát triển, Quỹ Nippon, AusAID, ACIAR, và IFAD Thụy Sĩ. Chúng tôi rất biết ơn vì sự ủng hộ của họ, và tôi biết CIAT cũng rất biết ơn. Còn nhiều thách thức cho nông dân Việt Nam và có một vai trò quan trọng đối với khoa học nông nghiệp trong việc giải quyết những thách thức này. Năng lực nghiên cứu triển khai thuộc phạm vi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cũng như trong các trường đại học và các lĩnh vực khác của đất nước, cần phải vươn lên đối mặt với những thách thức trong nông nghiệp. Điều này sẽ liên quan đến làm việc với nông dân, các dịch vụ khuyến nông, và các lĩnh vực thương mại với một tập trung vào việc cải thiện sinh kế trong khi vẫn duy trì các nguồn tài nguyên của đất nước và đáp ứng với những thay đổi trong thị trường và biến đổi khí hậu. Làm việc với các trung tâm quốc tế, chẳng hạn như CIAT và với các tổ chức nghiên cứu quốc gia khác trong khu vực là quan trọng. Có rất nhiều vấn đề có thể được giải quyết hiệu quả hơn thông qua hợp tác quốc tế rộng rãi. Một lần nữa tôi xin chúc mừng CIAT kỷ niệm lần thứ 45 quan trọng và chúng tôi mong muốn nhiều năm làm việc cùng nhau trong tương lai. Sử dụng cơ hội này, tôi muốn cảm ơn CIAT và các nhà khoa học đã hỗ trợ hiệu quả chọ Nông nghiệp Việt Nam. Cuối cùng, tôi xin chúc mừng Ngài Ruben Echeverría, Tổng Giám đốc CIAT, Tiến sĩ Rod Lefroy, Giám đốc CIAT khu vực Châu Á và Tiến sĩ Keith Farhney, Giám đốc dự án của CIAT, những người đã được trao tặng Huy chương Vì Sự nghiệp Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Đó là với vinh dự lớn mà tôi trao những Huy chương trong buổi lễ này”.

Kazuo Kawano và phim NHK

Gíáo sư Kazuo Kawano là chuyên gia chọn giống sắn rất nổi tiếng. Ông biên soạn 11 sách, 157 bài báo khoa học và đoạt nhiều giải thưởng lớn quốc tế, trong đó có huy chương hữu nghị năm 1997 của chính phủ Việt Nam.

Giáo sư Kazuo Kawano đúc kết phóng sự ảnh “Sắn và Việt Nam: bây giờ và sau đó” (Cassava and Vietnam: Now and Then) là dẫn đề của bộ phim cùng tên của hãng phim NHK Nhật Bản công chiếu năm 2009. Chuyện sắn của giáo sư Kazuo Kawano là góc nhìn của sự bảo tồn và phát triển sắn Việt Nam. Ba trãi nghiệm CIAT với sắn Việt Nam lắng đọng sâu sắc nhất trong tôi là 1) Sắn Việt Nam : bây giờ và sau đó (Cassava and Vietnam: Now and Then), 2) Sắn Việt Nam câu chuyện thành công (Cassava in Vietnam: a successful story), 3) “Khai thác các cây nhiên liệu sinh học chịu hạn để tăng cơ hội thu nhập cho các nông hội sản xuất nhỏ ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh” (Harnessing water -use efficient bio- energy crops for enhancing livelihood opportunities ) trong đó có việc sử dụng sắn làm nhiên liệu sinh học tại Việt Nam (Cassava for Biofuel in Vietnam).

Sự kiện làm việc với nông dân là điều mà giáo sư Kazuo Kawano tâm đắc nhất khi ông kể lại qua phóng sự ảnh “Cassava and Vietnam: Now and Then“. Ông nói: “Một điều nổi bật trong sự hợp tác của chúng tôi với các đồng nghiệp Việt Nam là sự sẵn sàng cấp bách của họ để làm việc chặt chẽ với nông dân. Điều này trái ngược với trải nghiệm Mỹ Latinh của tôi. Ngoạn chủ trì một cuộc họp thôn ở Phổ Yên năm 1996. Thu hoạch thử nghiệm sắn trên thực địa ở Bắc Thái; một hỗn hợp kỳ lạ của Ngoạn (nay đã là giáo sư), với sinh viên, nông dân, một bà già và một em bé” (READINESS FOR WORKING WITH FARMERS. Kazuo Kawano. One thing outstanding in our collaboration with the Vietnamese colleagues is their acute readiness for working closely with farmers. This is in good contrast to my Latin American experience. Ngoan presiding a village meeting in Pho Yen in 1996. Harvest of a field trial in Bac Thai in 1996; a curious mixture of Ngoan (Professor to be), students, farmers, an old woman and a baby)

Gặp những người bạn cũ ở Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Hưng Lộc . Nay Hoàng Kim là giảng viên chính ở Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và Nguyễn Hữu Hỷ là giám đốc của Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Hưng Lộc (Meeting old friends at Hung Loc Agricultural Research CenterNow, Hoang Kim is Senior Lecturer at Nong Lam University in Ho Chi Minh city and Nguyen Huu Hy is Director of Hung Loc Agricultural Research Center)

Đoàn tụ với người nông dân tiên tiến ông Hồ Sáu với Hoàng Kim và sinh viên ở Trảng Bom, Đồng Nai (Reunion with advanced farmer Mr. Ho Sau with Hoang Kim and students in Trang Bom, Dong Nai)

“Kazuo Kawano và Hoàng Kim trên cánh đồng KM419 tháng 12 năm 2009. KM-94 vẫn là tốt nhất cho sắn trồng thuần ở Tây Ninh, ông Thanh đồng ý. Nhưng anh ấy đang trồng rộng rãi KM98-5 (tai xanh) và KM419 (tai đỏ) trên cánh đồng của mình, có lẽ vì là giống mới.KM98-5 và KM419 vẫn mang lại cơ hội tốt để trồng bán cây giống”. Giáo sư Kazuo Kawano kể lại. (KK and Kim in Tay Ninh at KM 419 field in Dec 2009. KM-94 is still the best for mono-culture cassava in Tay Ninh, Mr. Thanh agrees. But he is planting KM98-5 (tai xanh) and KM419 (tai do) extensively in his field, probably because being a new variety, KM98-5 and KM419 still offers good opportunities for planting stake sale).

Bạn tốt khó tìm, khó bỏ lại, và không thể quên lãng (Good friends are hard to find, harder to leave, and impossible to forget). Sắn Việt Nam là chuyện nhiều năm còn kể. Câu chuyện của họ là câu chuyện đời thực của gia đình sắn Việt Nam.

Sắn Việt Nam câu chuyện thành công

Tiến sĩ Reinhardt Howeler là người biên soạn rất nhiều sách sắn chuyên khảo với tác phẩm mới “Quản lý bền vững sắn châu Á từ nghiên cứu đến thực hành” Howeler R.H. and T. M. Aye 2015 (Nguyên tác: Sustainable Management of Cassava in Asia – From Research to Practice, CIAT, Cali,  Colombia, 147 p). Người dịch: Hoàng Kim, Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai 2015; Quản lý bền vững sắn châu Á : Từ nghiên cứu đến thực hành. Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Nhà Xuất bản Thông tấn, Hà Nội, Việt Nam, 148 trang. Tác phẩm này được đánh giá cao “Thay cho những lời khuyên tốt nhất hiện có về kỹ thuật canh tác sắn sau hơn 50 năm kinh nghiệm thực tiễn kết hợp nghiên cứu và làm việc với nông dân để thấu hiểu những thách thức thực tế cuộc sống và cơ hội mà họ phải đối mặt” (The work summarized in this manual represents the best available advice from more than 50 years of combined research experience and work with farmers to understand their real-life challenges and opportunities. – Clair Hershey, CIAT Cassava program). Reinhardt Howeler là chuyên gia sắn nổi tiếng thế giới, người bạn lớn của nông dân trồng sắn châu Á có 23 năm kinh nghiệm làm việc vời nông dân châu Á và Việt Nam.  Ông đã được chính phủ Việt Nam trao tăng huy chương hữu nghị vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp Việt Nam năm 1997 đồng thời với tiến sĩ Kazuo Kawano.

Đọc thêm

45th Anniversary of the Founding of CIAT : Welcome from Vietnam, by Dr. Bui Ba Bong, Vice Minister of Agriculture and Rural Development (MARD), Vietnam

Speech at the 45th Anniversary of the Founding of the International Center for Tropical Agriculture, CIAT

His Excellency Mr. Borrowman, the Ambassador of Australia to Vietnam, ,
Dr. Wanda Collins, Chair of the Board of Trustees of CIAT,
Dr. Ruben Echeverria, Director General of CIAT,
Distinguished delegates,
Ladies and Gentlemen.

On behalf of the Ministry of Agriculture and Rural Development I would like to welcome all visitors to Viet Nam and say it is my pleasure to join you for the 45th anniversary of theInternational Center for Tropical Agriculture, or CIAT. I would like to congratulate CIAT on reaching this important milestone.

Agriculture remains a very important sector for Viet Nam. Approximately 70% of the population are involved in agriculture and it produces more than 20% of economic output. Viet Nam is a major exporter of many agricultural products, and in some cases the top or one of the top exporters globally, with a total agricultural export value of 25 billions USD annually. In the cassava sector, with a harvesting area of more than half million hectares, the export value of cassava products of Vietnam reaches 800-950 million USD per year. In this connection, CIAT has made a significant contribution through improving the cassava sector of Viet Nam.

CIAT has been working in Viet Nam for more than twenty years with agencies within the Ministry of Agriculture and Rural Development and with the university sector. There have been three main areas of collaboration.

The first started with the testing and release of improved animal forage germplasm and management techniques. This has produced significant improvements in animal production and in the livelihoods of tens of thousands of smallholder farming families, especially in the upland areas. These impacts have been seen for livestock sectors ranging from cattle through to fish.

The second major area of impact has been with cassava. In the time CIAT has worked with Vietnamese partners on improvement of cassava, both the area cultivated and the average yield of cassava have more than doubled, resulting in a more than four-fold increase in production and a huge increase in both processing and exports. Impacts have been realized at many levels; at the national level as cassava has become a major export product, and for the lives of hundreds of thousands, if not millions, of smallholder families throughout the country through changes in productivity and profitability. Germplasm from the CIAT cassava breeding program is now included in more than 90% of all cassava grown in Viet Nam

The third area of collaborative work with CIAT has been in linking farmers to markets, especially farmers from reasonably remote areas of the country in Thua Thien Hue, Hoa Binh, and Dak Lak Provinces. Through addressing a combination of technical and marketing problems improvements in market access, profit, and livelihoods were observed for many communities for a wide range of products, including cassava and livestock, but also fruits, vegetables, and more.

I understand that these three major areas of work have been supported by donor organisations represented in this room, namely the Swiss Agency for Development Cooperation, the Nippon Foundation, AusAID, ACIAR, and IFAD. We are very grateful for their support, and I know CIAT is grateful as well.

Many challenges remain for farmers in Viet Nam and there is an important role for agricultural sciences in addressing these challenges. The research and extension capacity within the Ministry of Agriculture and Rural Development, as well as in the universities and other sectors of the country, must rise to the challenges faced by agriculture. This will involve working with farmers, extension services, and the commercial sectors with a focus on improving livelihoods while maintaining the resources of the country and responding to changes in markets and to climate change. Working with international centers, such as CIAT, and with other national research organizations across the region, is important. There are many problems that can be more efficiently solved and broadly adopted only through international collaboration.

Once again I would like to congratulate CIAT on this important 45th anniversary and we look forward to many years working together in the future. Using thís opportunisty, I would like to thank CIAT and its scientist for their effective support to Vietnam Agriculture.

Finally, I would like to congratulate Ruben Echeverria, CIAT Director General, Dr. Rod Lefroy, CIAT Regional Director for Asia and Dr. Keith Farhney, Project Director of CIAT who have been awarded the Medal for the Cause of Agriculture and Rural Development of Vietnam by the Minister of Agriculture and Rural Development. It is with great honour that I hand over these medals to them in this ceremony.

Thank you.

Cassava and Vietnam: Now and Then
(キャッサバとベトナム-今昔物語)
Kazuo Kawano

I visited Vietnam for a week this last December,  where a team of NHK video-taped for a documentary of the changes caused by the new cassava varieties I introduced 20 years ago in the lives of small framers, the enhanced activities of industrial and business communities and the development of research organizations. It was a most interesting, amusing and rewarding visit where I reunited with a multitude of former small farmers who are more than willing to show me how their living had been improved because of KM-60 and KM-94 (both CIAT-induced varieties) , many “entrepreneurs” who started from a village starch factory, and several former colleagues who became Professor, Vice Rector of Universities, Directors of research centers and so on. Vietnam can be regarded as a country who accomplished the most visible and visual progress most rapidly and efficiently utilizing CIAT-induced technology.

For my own record as well as for responding to the requests from my Vietnamese colleagues, I decided to record the changes and progress that had taken place in Vietnam in general and in cassava varietal development in particular in a series of picture stories. This is the first of long stories that would follow.

昨年の12月に、NHKの国際ドキュメンタリー番組の収録でベトナムを10年ぶりに再訪する機会があった。それは私が中心となって開発したキャッサバの多収性・高澱粉性の新品種群を20年 前に導入した事が引き起こした人々の生活向上の様子を、南から北へと訪ね歩く旅であった。今回の旅では、小農から出発して家を建て中農、富農となった多数 の人々、村の澱粉加工所の親父だったのが大工場のオーナーや実業家となっている幾人もの成功者、そして殆んど名前だけの研究員であったのが今や試験場長、 大学教授、副学長になっている昔の仲間達を訪ね歩いたが、その殆んどの人が私との再会を喜んでくれて、口々に新しいキャッサバ品種のおかげで自分達の生活 と境遇が革命的に良くなったと話してくれた。

私自身の記録のため、それにベトナムの昔の仲間からのリクエストに答える目的もあって、この20年間のベトナムの発展とキャッサバ生産の進展を絵物語風に書き留めることにした。これはその長い物語の始まりの章である。

See more https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cassava-and-vietnam-now-and-then/

Video yêu thích

Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính 
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam