Đầu xuân đọc lại Văn Công Hùng


MỘT THẾ HỆ TÂY NGUYÊN MỚI
Hoàng Kim ghi chép và bình ảnh

Cái lớp học trò nhìn ‘ghét’ quá !
Nhởn nhơ vui học lại làm duyên
Cười tươi hớn hở rừng hoa đẹp
Ngày mới đường xuân với bạn hiền.

Đầu xuân đọc lại Văn Công Hùng trò chuyện với ‘cái lớp học trò’ Tây Nguyên của tôi. Lớp 64 bạn vừa trải qua một chuyến thực tập giáo trình trong tiết xuân sớm năm nay đến mấy tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Tôi đã đến với Tây Nguyên thấm thía Phát triển bền vững ở Tây Nguyên và thấu hiểu Có những lớp sinh viên như thế. Chúc mừng các bạn trẻ của tôi ! Chúc mừng Văn Công Hùng nhà thơ Tây Nguyên vừa có bài mới “Huế dạ” năm nay đọc thật thương. Tôi chép chung “Huế dạ” với “Tây Nguyên của tôi” để bạn đọc cùng liên tưởng về một thế hệ Tây Nguyên mới, chúng ta cần tìm tòi và cảm nhận, bảo tồn và phát triển những bản sắc tinh hoa vùng miền, những đặc trưng và thế mạnh của mỗi vùng trong từng lĩnh vực. Nhà giáo cũng như nhà văn tồn tại ở tác phẩmđích của sự đào luyện đó là con người. Xuân Diệu (1916 –1985) ông hoàng thơ tình, cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam đã nói như vậy. …

Huế Tây Nguyên và Văn Công Hùng.

Mỗi nhà văn sở trường và quen thuộc nhất một vùng đất. Văn Công Hùng viết có hồn nhất ở Huế và Tây Nguyên.  Tôi nhấm nháp đọc lại “Huế dạ” bài viết mới đầu xuân nay, “Tây Nguyên của tôi”, “Hồi ức đò dọc”. Ba tản văn này của Văn Công Hùng. là sự tiếp nối hai tập thơ “Lời vĩnh cửu” và “Vòm trời khác” của anh mà tôi yêu thích.

Tìm hiểu văn chương, văn hóa Tây Nguyên trong sự giảng dạy nghiên cứu liên ngành nông nghiệp, nguồn tài nguyên quốc phòng và an ninh, du lịch sinh thái, kinh tế xã hội, khoa học tự nhiên kết hợp khoa học nhân văn, văn chương văn hóa, để tìm cách khai mở và phát triển tiềm năng đất và người Tây Nguyên. Trong lĩnh vực văn chương văn hóa tôi đoan chắc với bạn sau Nguyên Ngọc thì Văn Công Hùng … là một địa chỉ xanh đáng tin cậy.Thơ và văn của Văn Công Hùng viết đều chắc tay và anh còn là một nhà báo chuyên nghiệp, thế nhưng nhiều người thích gọi anh là nhà thơ hơn. Văn chương và chuyên khảo viết về Tây Nguyên thì đọc cụ Nguyên Ngọc và Trương Minh Dục thật là thú vị. Bạn đọc thơ Văn Công Hùng thấy thật ngộ. Thơ anh như có nhạc, có ảnh, có cồng chiêng và cả sự tung tẩy: “Anh đã đi qua miền đông miền thu miền hạ, gặp miền em diệu ảo đến không ngờ. Em dâng cho cuộc đời thêm một miền khao khát, đến vỡ oà trái đất giữa miền em. Những xác tín cuộc đời rơi như cát kẽ tay, em chân thật đến tận cùng chân thật, yêu tận cùng mê đắm, tận cùng dâng hiến, tận cùng hy sinh, tận cùng như chưa thể tận cùng. Có gì mong manh hơn nước mắt, nhưng cũng không có gì mạnh bằng nước mắt. Dẫu trong veo nhưng mặn chát nghìn trùng. Ai cũng hiểu nước mắt đâu chỉ là nước mắt, nó là bể dâu sấp ngửa phận người. Nó được chắt ra từ tận cùng khổ đau tận cùng sung sướng, từ tận cùng nhịp thổn thức trái tim. Nó cứng như đá hoa cương, mềm như hoa cải ven sông, mềm hơn cả những gì dịu dàng nhất. Nó là tinh hoa của hạnh phúc, là những điều không thể nói người ơi. Là những điều em đào sâu chôn chặt. Nhưng dẫu chặt đến cỡ nào nước mắt vẫn trào ra. Có những lúc ta ngồi nhâm nhi nước mắt, nghe rưng rưng năm tháng chảy qua đời, nghe phập phù bao điều ân nghĩa, nghe mặn mòi những kỷ niệm vời xa. Mà bến sông xưa con đò giờ xiêu dạt, chớp lưng chừng trời bông gạo tả tơi, một vết cắt ngọt ngào đau rát, dấu chân mòn vệt cỏ chẳng hề xanh. Có đôi mắt nào long lanh sau kẽ lá, em nhìn ai nắng đọng bên rào, em nhìn ai chiều xoay như mắt bão, em nhìn ai chấp chới men rừng. Con đò xưa con đò xưa xa vắng, sông lững lờ thao thiết sông trôi. Ngày hôm nay bỗng dâng đầy nước mắt… Chẳng thể nào anh hiểu hết em đâu, nếu chiều nay em không tiễn ngày đi bằng nước mắt. Nước mắt của một đời im lặng, bỗng vỡ oà trong thăm thẳm chiều trôi. Và anh hiểu phía sau điều tưởng như vặt vãnh ấy là bao la dằng dặc kiếp người. Té ra trong cuộc đời còn biết bao điều bí ẩn mà nếu vô tình ta chẳng thể nhận ra ” (trích Lời vĩnh cữu).

Bài “Mẹ ơi” của anh, đọc xong tôi bật khóc, vì tôi cũng thật thương mẹ như Hùng, và tôi mất mẹ từ nhỏ nhưng tôi chưa thể viết được như Văn Công Hùng. “Mẹ ơi” thơ Hùng rưng rưng khắc khoải

MẸ ƠI…

chuyến bay chở ta về với mẹ
mây trắng tóc mẹ bay
phía ấy đang mưa mẹ chờ ta im lặng
ta cũng lặng thầm trong ý nghĩ lang thang

ta lớn lên thì mẹ bé lại
vòng vọng những buổi chiều tựa cửa ngóng con
cả hai đứa con trai ngun ngút lớn
một thời mơ cơm trắng thịt kho

bốn đứa cháu nội xòe đi 4 hướng
lập cập thềm nhà nhìn nắng đoán mưa
những giấc mơ ngắn dần
mẹ như hơi thở dài cuối nắng

chuyến bay chở ta về với mẹ
nặng nề như mang bom
“mẹ đang chờ” em trai gọi thế
“chuối chín rồi” bạn nhắn tận trời xa

ta sẽ thấy mẹ nhỏ bé trên giường
hai thằng con cúi đầu bên cạnh
mẹ sẽ có một giấc mơ đẹp và dài, con tin là thế
về với ba, ba đợi lâu rồi

chúng con những gã trai trên năm mươi đầy tội lỗi
vòng tay xin mẹ đừng buồn
mẹ thanh thản cho con không bật khóc
lưng chừng trời con gọi mẹ ơi

máy bay đang hạ độ cao
con sắp về bên mẹ
con sẽ vụng về ôm mẹ lần cuối
có những điều không thể nói mẹ ơi…

Máy bay Hà Nội Huế, 12h23 29/9/2012 VCH

Đọc văn anh, lại thấy dường như có thơ, có sự dạo chơi tâm tình trò chuyện. Bạn hãy xem trích đoạn mở đầu của Hồi ức đò dọc: “Hôm rồi về quê, bạn tổ chức một cuộc đi thuyền ngược phá Tam Giang. Chao ơi là thênh thang, là rười rượi, là sảng khoái, là mê ly…Từ bến đò Lê Lợi, thuyền đi xuôi về phố cổ Bao Vinh, chui qua một loạt cây cầu, qua ngã ba Sình, đến cửa Thuận rồi hòa vào phá. Mênh mông và rợn ngợp. Không thấy bờ, tất nhiên. Sóng rất ngoan và nắng rất hiền, gió thì như lên đồng lúc the thẩy lúc ngang tàng nhưng luôn luôn làm cho sự hài hòa không khí đầm phá như là dĩ nhiên nó thế. Rất ấn tượng với hệ thống nò, lưới, với những cái am giữa phá, những lá cờ đỏ phấp phới vừa báo hiệu vừa tâm linh khiến ta có cảm giác vừa rợn ngợp vừa thân thiện…“.

Riêng tôi thì “Tây Nguyên của tôi” đúng như Văn Công Hùng tự nhận xét đó là một trong những tản văn ưng ý nhất của anh. Nó hay và sâu sắc đến ám ảnh… Đối với tôi, Miền Trung, Nam Bộ, Tây Nguyên – đất phương Nam – nay sao thân thiết lạ, xa mà gần, thăm thẳm một vùng thương nhớ.

Đọc “Tây Nguyên của tôi” Văn Công Hùng, tôi ngắm nghía bức ảnh “Một thế hệ Tây Nguyên mới” và đọc đi đọc lại nhiều lần đoản văn kết: “Tây Nguyên đang rời xa đi cái gốc nguyên thủy của nó, đang bị giằng xé dữ dội giữa phát triển và bảo tồn, giữa những vòng quay chóng mặt của ngộ nhận và cố chấp, của cả tự ti và áp đặt, của vênh vang và ngu dốt, của thực dụng và hiếu thắng…

Chứ trong tôi, một Tây Nguyên hài hòa, nhân văn, trữ tình và đầy khát vọng nhưng cũng rất khiêm nhường luôn luôn thường trực, một Tây Nguyên biết cứ khi nào con người mỏi chân thì lại hiện lên một cái cây bóng mát, một Tây Nguyên có hẳn một nghi lễ khóc trâu trước khi hiến tế, và một Tây Nguyên cương quyết không lừa thần linh, nên dẫu nhà nước hứa rồi nhưng lại không cho thần linh ăn trâu thì họ mang về làng để làm. Bởi họ không ăn trâu, mà là dâng hiến cho thần linh. Sự dâng hiến tự nguyện và thành kính.

Nhân nghĩa thủy chung và cũng rất giữ lời, trung thực một cách cực đoan như vậy đấy, Tây Nguyên của tôi…

Viết về Tây Nguyên, sau “ Nước Mội, rừng xanh và sự sống” của Nguyên Ngọc là “Tây Nguyên của tôi” Văn Công Hùng. Dẫu chưa là kiệt tác, nhưng là bài viết hay, đáng đọc.

Đầu xuân nay, Văn Công Hùng viết bài “HUẾ DẠ”. Tôi xin trích nguyên văn và mời bạn có lời bình. Với tôi “Hùng viết Huế dạ là thật hay, có chiều kích văn chương, văn hóa.

HUẾ DẠ

Văn Công Hùng

Tôi sinh ra và lớn lên ở nơi mà tiếng “vâng” là đồng thuận. Nếu đồng ý là vâng, ai kêu thì dạ. Và cái từ vâng ấy nó cũng nhiều cung bậc lắm. Vâng, một tiếng gọn, sắc, đanh là cái cách khẳng định chắc chắn như đinh đóng cột. Vââng hơi kéo dài là có tính chất mỉa mai, giễu cợt. Vââââ…ng kéo rất dài là khó chịu lắm. Vờng, một biến thế của vâng là vâng ạ. Vầng là vâng nhanh. Vâẩng hơi cao lên phía cuối như có dấu hỏi là đương nhiên, chuyện như thế là rất chính xác.

Còn dạ, là chỉ để thưa. Hồi nhỏ tôi đi chơi, mẹ gọi năm sáu lần mới dạ rồi chạy về, bao giờ mẹ cũng với theo câu nữa: Mang cái dạ về đây. Chả biết cái dạ là gì, là tiếng dạ ấy hay là cọng rạ mà tiếng Bắc hay lẫn giữa R và D.

Thống nhất đất nước, về quê, từ đầu tiên tôi nghe là “Dạ”.

Tiếng dạ mê hoặc tôi ngay lập tức. Nó nhẹ, và mảnh, và sâu, và hun hút đốt hồn người đối diện. Ly cà phê vỉa hè sông Hương, tôi và một anh bộ đội quen trên xe từ Vinh vào. “Dạ 2 anh dùng chi”. Từ dạ đầu câu đã là sự lạ. Cô cho 2 “chén” cà phê đen. Dạ. Một lát sau: Cô ơi cho đường. Dạ. Cô ơi tính tiền. Dạ.

Tất cả đều dạ. Nó không chỉ là tiếng thưa nữa. Là khởi đầu của một câu hỏi, là vâng, là đồng ý, là OK như bây giờ ta hay dùng… nhưng cái tiếng dạ nó như ma dụ khiến cả những anh chàng ngổ ngáo nhất cũng phải mềm lòng. Nó là tất cả nhưng nhiều khi… chả là gì cả.

Một cô bạn người Hà Nội, luôn có câu trả lời rất nhẹ giọng Hà Nội chuẩn trước tất cả mọi đối tượng: “Dạ vâng ạ” cũng phải thốt lên với tôi: Xứ Huế có tiếng dạ thích thật, nhẹ mà vang, mà mọng mà dịu, thoảng đấy mà sâu, gọn đấy mà sắc. Cái tiếng Vâng tôi hay dùng té ra tưởng lễ phép nhưng nó cứ cứng cứng thế nào, nó đúng nhưng chưa đủ, đầy nhưng chưa tròn, nó là sự phục tùng nhưng đầy hao khuyết…

Một lần tôi về quê, xuống quán đứa cháu gái gọi bằng bác để nhâu. Thấy bốn năm bàn khách trong khi nó lăng xăng dọn bàn cho tôi, vừa dọn vừa dạ liên tục. Quan sát một lúc thì thấy sự việc như sau: mấy người giúp việc đi có việc hết, mình nó vừa chủ quán vừa nhân viên vừa nấu bếp vừa bưng bê. Đông quá, nó bê cho mỗi bàn một thùng bia rồi lúi húi dưới bếp, luôn mồm dạ dạ khi các bàn gọi. Nhưng cái tiếng dạ của nó như có ma lực đủ khiến cho các bàn khách ngồi uống bia suông trong khi nó đang… vặt lông gà và nói chuyện với tôi. Nó bảo bác có thấy cái ông ngồi bàn ngoài cùng kia không, uống chịu miết, cháu đòi hoài mà không trả tiền, ghét. Cái tiếng ghét kéo dài và miết xuống nghe đủ biết nó… ghét ông kia thế nào đang có cơ dài ra thêm thì chính ông ấy gọi: em ơi, cho đĩa lươn xào xả ớt. Tưởng nó sẽ sửng cồ lên hoặc mát mẻ thế nào. Nhưng không, một tiếng dạ ngọt đến không ngờ, mềm đến không ngờ lại thốt ra từ miệng nó. Tất nhiên sau đấy cả tiếng đồng hồ không có đĩa lươn nào được bưng lên vì nó vẫn còn loay hoay với… con gà luộc, và vẫn dạ rất ngọt mỗi khi ông kia gọi.

Cái tiếng dạ của con gái Huế ấy nó níu chân níu hồn níu cuộc đời của biết bao gã đàn ông, nó khiến cho người có hầm hố đến mấy cũng phải hiền lành ngoan ngoãn. Có thể gọi nó là đặc sản Huế không nhỉ, bởi cũng có nhiều người con gái phía Nam, không chỉ Huế, dạ rất ngọt, rất hiền, rất ngoan, nhưng cái tiếng dạ xứ Huế vẫn cứ khiến lòng ta nôn nao nhất. Cái âm của tiếng dạ ở đây nó nhẹ như hơi thở, mà là hơi thở ban mai, thở như không thở, thở như làn sương mỏng quấn hờ trên những vòm liễu la đà ở công viên Lê Lợi. Cái ngữ của tiếng dạ nó cứ luyến láy cứ bâng khuâng, nó khiến người nghe như bị trói trong một sợi dây vô hình. Và nó vang vọng, nó dư ba, nó hun hút khiến có những gã đi xa đến mấy chục năm, vô tình nghe tiếng dạ giữa một nơi xa lạ, rất xa lạ, giật mình thảng thốt như mình đang hiện diện ở quê nhà.

Và ký ức quay về…

(Tái bút:) Bài đăng trên báo Thừa Thiên Huế số tết Dương lịch. Theo nhà cháu, đây là tờ báo có số Dương lịch sang nhất. Từ trình bày, in ấn đến nội dung. Nó không bị là mấy số gộp lại, mà là một giai phẩm, để đọc trong 3 ngày nghỉ tết dương. Nhà cháu tự hào về tờ báo của quê hương, he he. Nghe nói số tết âm còn khủng nữa.

Tôi bật cười với đoản văn: “một tiếng dạ ngọt đến không ngờ, mềm đến không ngờ lại thốt ra từ miệng nó. Tất nhiên sau đấy cả tiếng đồng hồ không có đĩa lươn nào được bưng lên vì nó vẫn còn loay hoay với… con gà luộc, và vẫn dạ rất ngọt mỗi khi ông kia gọi.”  và “Tái bút” (P/S) gồm một đoạn văn ngắn với hai ảnh theo sau bài. Tôi nói với các em sinh viên nông nghiệp: Các em ! Đấy là P/S là  ‘bếp núc nhà văn’ như các em viết một luận văn có phần “phụ lục hình ảnh, các minh chứng và số liệu thống kê”

Miền Trung Nam Bộ Tây Nguyên trong tôi

Sinh ra ở miền Trung, học ở miền Bắc, đi bộ đội trãi ba miền, tôi học và làm nông nghiệp chính ở Nam Bộ nhưng tôi lại thường giảng dạy nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp ở miền Trung và Tây Nguyên,. Thật may mắn được làm người đi nhiều, trãi nghiêm nhiều kinh nghiệm cuộc sống.

Tôi yêu lắm một thế hệ Tây Nguyên mới. Đó là người Phú Yên, người đất Quảng, người xứ Huế -Thừa Thiên (hoành tráng như VCH), người Quảng Bình (xứ bọ như mẹ của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhà ở Quảng Sơn gần làng tôi sau theo chồng vào lập nghiệp gần đình Lạc Giao), người dân Bắc kỳ và nhiều người dân đất phương Nam; Họ là rất nhiều “các bạn của tôi ở trên đấy” (chữ của thầy Nguyên Ngọc) cùng về Tây Nguyên lập nghiệp cùng với người dân tộc bản địa chung lưng đấu cật hình thành nên một Tây Nguyên mới.

Trong biết bao kỷ niệm cuộc đời, tôi nhớ lắm những lớp học trên đồng, khi mà nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ nghề nông về với các lớp học nông nghiệp vùng sâu vùng xa ở miền Trung và Tây Nguyên sâu nặng ân tình. Thật nhớ những bạn tiến sĩ, cao học, sinh viên đại học cùng thực hiện luận án, luận văn là tham gia nghiên cứu và học tập trên đồng “Ta đi về chốn trong ngần/ Để thương sỏi đá cũng cần có nhau“. Tôi nhớ lắm những năm tháng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cây trồng cho đồng bào dân tộc “Rời phố khi trời ưng ửng sớm/ Về rừng lúc đất tỏa hương khuya“. Tôi yêu lắm về nơi tịch lặng, đến chốn thung dung, nhớ ngôi chùa cổ và vị thiền sư trong núi sâu, nhớ những người thân quây quần trò chuyện, nhớ ché rượu cần thứ thiệt vui say, nhớ rừng, nhớ tắm tiên … Những câu chuyện Đến với Tây Nguyên ; Phát triển bền vững ở Tây Nguyên ; Có những lớp sinh viên như thế  là những ghi chép vội viết trực tiếp trên mạng để lưu giữ những ký ức không nỡ quên mà tôi chưa kịp sắp xếp lại thật có hệ thống.

Mot the he Tay Nguyen moi

Văn Công Hùng Tây Nguyên của tôi

Một thế hệ Tây Nguyên mới, ảnh Văn Công Hùng. Tôi tìm thấy Văn Công Hùng chủ yếu trong “Tây Nguyên của tôi”, bài viết ngắn nhưng mạch ngầm dài và sâu. Tôi đã từng liều lĩnh khuyên Văn Công Hùng nên tập hợp tất cả những bài tuyển văn thơ của Văn Công Hùng trong một tập sách do chính tác giả đúc kết và tuyển chọn chứ đừng để rãi rác. Gom lại cho dễ đọc. Bản thảo đầu sách bạn đều có sẵn rồi , nay tuyển chọn và đúc kết lại như Ngô Minh, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Duy.

Thật thú vị khi đắm mình trong “Tây Nguyên của tôi” và xúc động, đồng cảm lạ lùng với những lời chân tình: “Bài dài. Nhưng cháu công nhận là hay, là một lớp trầm tích đậm đặc chứ không phải là một lớp váng về Tây Nguyên nha chú!” (Đào Phong Lan). “Cháu là người Kinh, sinh ra ở Tây Nguyên. Uống nước và phơi nắng Tây Nguyên để lớn. Vẫn tự hào là người Tây Nguyên. Đi đâu cũng bô bô mình là người Tây Nguyên. Đến cái Facebook cũng lấy nick là Em Gái Tây Nguyên nhưng kỳ thực có đọc bài viết này của chú thì cháu mới thấm sự nông cạn của chính mình. Chú tin không? Cháu đã khóc khi đọc nửa sau của bài viết này. Khóc không hiểu vì sao. Có lẽ vì rung động, ăn năn. Hối hận. Cháu nông cạn quá. Ngượng quá đi thôi.” (Tây Nguyên xanh).

MottheheTayNguyenmoiMột thế hệ Tây Nguyên mới. Nước Mội rừng xanh và sự sống. Tây Nguyên của tôi, Phát triển bền vững ở Tây Nguyên … Những thơ và tản văn Tây Nguyên mới đã được khai mở và đang tiếp tục được bồi đắp. Những địa chỉ xanh tôi thường đọc lại của lĩnh vực văn chương văn hóa Tây Nguyên là tác phẩm Nguyên Ngọc, Văn Công Hùng, Trương Minh Dục,… Sức nói chuyện của tác phẩm thật lớn,  nhà văn tồn tại ở tác phẩm. Giảng dạy và nghiên cứu khoa học liên ngành về Tây Nguyên thật cần những tác phẩm văn chương văn hóa. Một thế hệ Tây Nguyên mới. Tây Nguyên của tôi, Phát triển bền vững ở Tây Nguyên. Nước Mội rừng xanh và sự sống ở Tây Nguyên nối mạch miền Trung đang khát khao ươm mầm sự sống của một thế hệ mới trỗi dậy. Tôi sẽ trở lại nối dài mạch viết này.

Miền Trung, Tây Nguyên, Nam Bộ … với tôi luôn thao thiết gọi.

Hoàng Kim

Mời bạn đọc tóm tắt “Hội nghị xúc tiến đầu tư vùng Tây Nguyên lần thứ Tư năm 2017” và bài viết “Tây Nguyên của tôi” Văn Công Hùng tại đây:

TÂY NGUYÊN TẦM NHÌN VÀ GIẢI PHÁP

Hội nghị xúc tiến đầu tư vùng Tây Nguyên lần thứ Tư năm 2017 đã tổ chức tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, ngày 11 tháng 3. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đến dự và chứng kiến dòng vốn đầu tư kỷ lục vào Tây Nguyên với lễ trao cam kết tín dụng đầu tư của các ngân hàng cho các dự án đầu tư, trao chứng nhận đầu tư, quyết định đầu tư, thỏa thuận đầu tư cho các dự án với tổng vốn kỷ lục hơn 100.000 tỷ đồng.

Tầm nhìn Chính phủ đối với Tây Nguyên: Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng: “Tây Nguyên có tiềm năng, thế mạnh to lớn, độc đáo nhưng chưa được khai thác tốt. Tây Nguyên không chỉ là phên dậu của Tổ quốc, mà là điểm tựa phát triển của miền Trung, Đông Nam Bộ và cả Tây Nam Bộ. Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chỉ đạo của Nhà nước, sự phấn đấu của cấp ủy, chính quyền 5 tỉnh Tây Nguyên, vùng đã có sự phát triển khởi sắc. Tuy nhiên, sau 40 năm giải phóng, Tây Nguyên còn tồn tại nhiều bất cập như tình trạng mất rừng, mất nguồn nước, mất nhiều cơ hội về đầu tư phát triển, đặc biệt là quy mô, hiệu quả của vùng đất tiềm năng chưa được khai thác đúng mức để phát triển và nâng cao mức sống người dân“. Trang website Thử tướng chính phủ khẳng định.

Thủ tướng chia sẻ tầm nhìn về một Tây Nguyên mới.Đó là Tây Nguyên phải phấn đấu trở thành cao nguyên trù phú về nông nghiệp hữu cơ, đa dạng về sinh thái, giàu có về vốn văn hóa. Chìa khóa cho sự vươn lên giàu có của Tây Nguyên là phát triển ngành chế biến nông lâm nghiệp, dược liệu theo hướng đề cao bản sắc, tính độc đáo trong chuỗi giá trị nông sản thế giới. Đồng thời Tây Nguyên phải là biểu tượng nổi bật của du lịch Việt Nam, mang đậm sắc thái huyền thoại và di sản của châu Á trong thế kỷ thứ 21. Để thực hiện hóa điều đó, Tây Nguyên phải có chiến lược bền vững trong việc hồi sinh trở lại vẻ đẹp đại ngàn của một vùng đất đậm chất sử thi, phải luôn ý thức giữ gìn không gian sống, phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể, là truyền thống, niềm tự hào thiêng liêng của các cộng đồng Ê Đê, Jrai, M’nông, Ba Na, Kinh… trong đại các gia đình các dân tộc Việt Nam anh em”.

Các giải pháp lớn đối với Tây Nguyên: Thủ tướng đã gợi mở một số giải pháp chính.

Về du lịch, Tây Nguyên là một kho tàng văn hóa phi vật thể cùng với điều kiện tự nhiên, Chính phủ quyết tâm cùng với Tây Nguyên đưa sử thi Tây Nguyên trở thành di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Càng nhiều người biết đến sử thi này thì sức lan tỏa của du lịch Tây Nguyên càng lớn. Du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Tây Nguyên nói riêng cần có chiến lược phát triển đa dạng.

Về nông nghiệp, phải hình thành những vùng chuyên canh lớn và phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch, tập trung quy mô lớn, giá trị hàng hóa lớn, đặc biệt phải đi vào chế biến sâu, mở rộng chuỗi giá trị sản phẩm.

Về nguồn nhân lực, chất lượng giáo dục cơ bản ở vùng Tây Nguyên phải bằng hoặc cao hơn mức trung bình của cả nước. Tây Nguyên là nóc nhà Đông Dương, là vùng cao về địa lý thì không thể và không nên là vùng trũng giáo dục của cả nước.

Về bảo vệ, phát triển rừng, “cách đây gần một năm, cũng tại Đắk Lắk này, tôi đã tuyên bố đóng cửa rừng tự nhiên. Hôm nay, tôi tái khẳng định quyết tâm mạnh mẽ hơn nữa của Chính phủ, bảo vệ rừng là bảo vệ phần cốt lõi của an ninh, không chỉ là an ninh của vùng đất được mệnh danh là nóc nhà Đông Dương, mà là an ninh của toàn Nam Trung Bộ, Tây Nam Bộ và cả nước”, Thủ tướng nhấn mạnh. Bảo vệ rừng là bảo vệ không gian sinh tồn, nguồn nước, sinh kế của người dân, không gian di sản của cha ông. Mọi hành vi phá rừng, khai thác lâm sản trái phép là tội ác. Tiếp tục trồng rừng, không phá rừng nghèo để trồng cây công nghiệp mà tập trung tái canh, nâng cao năng suất thông qua thâm canh các loại cây công nghiệp.

Về công nghiệp, bài toán công nghiệp cho Tây Nguyên chính là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nâng cao hàm lượng chế biến, mở rộng chuỗi giá trị sản phẩm cây công nghiệp. Đồng ý chủ trương phát triển năng lượng tái tạo, Thủ tướng đặt vấn đề phát triển ở đâu và chỉ rõ: Ở vùng đất không thể trồng được cây gì.

Về hạ tầng, cần tránh tư tưởng làm manh mún. Cần tập trung nguồn lực, “góp gạo thổi cơm” để có công trình hạ tầng then chốt ở Tây Nguyên. Phải xã hội hóa mạnh mẽ việc phát triển hạ tầng, kể cả hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Thủ tướng cũng cho rằng, Tây Nguyên cần liên kết với duyên hải miền Trung, miền Đông Nam Bộ, TPHCM và các vùng có thể tiêu thụ được các sản phẩm có giá trị gia tăng cao của Tây Nguyên. Liên kết cả cơ sở hạ tầng, đặc biệt là liên kết du lịch.

Về tín dụng, khuyến khích vay tín chấp, nhất là với hộ nông dân, đồng bào dân tộc; có nhiều hình thức hỗ trợ như cấp bù lãi suất…” Hình thức hỗ trợ như cấp bù lãi suất…”

TÂY NGUYÊN CỦA TÔI
Văn Công Hùng

Tôi sống ở đất này đã hơn ba mươi năm. Đã có nhiều cơ hội để đi, đến những thành phố lớn hơn, như Huế, Hà Nội, Sài Gòn… nhưng rồi đều đã dằng díu mà ở lại. Té ra mình yêu nó đến mức không dứt ra mà đi được rồi…

Bài viết này tôi viết trong nỗi yêu thương và cả đắng đót xót xa đến đớn đau về cái vùng đất mình đã gắn với nó hơn nửa đời người. Và là bài viết về Tây Nguyên ưng ý nhất từ xưa đến nay, nhiều bạn bè văn chương đã đọc và đều… khen, huhu…

Có lần một cô giáo đến tìm tôi tại phòng làm việc. Vân vi một hồi rồi thì cô nói rằng cô giáo của cô, một tiến sĩ ngữ văn, là người quen của tôi, nói cô đến tìm tôi. Thì ra là cô này chuẩn bị làm luận văn thạc sĩ, mà cô thì rất yêu văn học dân gian Tây Nguyên, thích sử thi Tây Nguyên (tôi vẫn cho rằng cái từ sử thi này nó chưa ổn lắm), và cái cô tiến sĩ bạn tôi kia là người sẽ hướng dẫn luận văn cho cô giáo này. Cô trò ngồi bàn nhau cả buổi và cuối cùng thì cô giáo tiến sĩ nói cô giáo chuẩn bị thạc sĩ về tìm tôi, nhờ tôi tư vấn cho đề tài mà làm.

Lại cũng mất cả tiếng đồng hồ thao thao các kiểu thì trong tôi lóe lên một tứ, rằng là, em thử làm về yếu tố biển trong sử thi Tây Nguyên xem. Cô này ớ ra nhưng rồi sau khi nghe tôi thuyết phục đã về viết đề cương để nộp…

Đại loại rằng, trong quá trình sống, tiếp xúc, sưu tầm, tìm hiểu…, tôi thấy trong khá nhiều các trường ca cổ (H’ri, H’amon…) của người Tây Nguyên có nhắc đến biển. Và điều kỳ lạ là, những gì họ nhắc, khá là giống… biển, dù các nghệ nhân khi kể cho chúng tôi ghi chép lại những trường ca kia, một trăm phần trăm chưa ai thấy biển, chưa biết biển là như thế nào? Ngày xưa các làng Tây Nguyên sống biệt lập, ẩn trong ngút ngàn rừng già. Làng này biệt lập với làng kia, mỗi làng là một vương quốc. Các làng chỉ gặp nhau trong vài trường hợp như: đánh nhau giành đất, được mời sang dự Pơ thi hoặc lễ gì đấy. Người Việt cũng lấy lũy tre làng làm biên giới, nhưng hàng tháng họ còn có cái chợ phiên để đến đấy giao lưu. Ngay người Mông, người Thái cũng vậy. Người Tây Nguyên không có chợ, không có các hoạt động liên làng nên việc họ gặp nhau rất là hãn hữu.

Huống gì thấy biển

Thế mà trong các trường ca cổ ấy, có rất nhiều biển.

Tôi giải thích với cô giáo ấy rằng, nguyên do có thể ngày xưa Tây Nguyên vốn dĩ là đại dương, rồi qua một cơn tạo sơn vĩ đại nào đấy, tự nhiên biển hóa núi, và thành Tây Nguyên như hiện nay. Vì đã có lần tôi nghe nói, người ta đào được một cái vỏ sò rất lớn ở vùng nào đó của Đăk Lăk. Thì cũng là nghe nói thế, thậm chí có người nhờ tôi xác minh, nhưng rồi quên mất. Cái vỏ sò ấy nếu có, nó cũng có niên đại cả triệu năm chứ không ít.

Nguyên do thứ hai đến từ khát vọng của người Tây nguyên cổ. Ở đời thiếu cái gì người ta thường mơ về cái ấy, trong đấy, bầu trời và đáy biển là hai nơi con người khát khao khám phá nhất. Thần thoại Hy Lạp chả đã có nhân vật là cậu bé Icarus lấy sáp ong gắn lông chim làm cánh để bay lên trời hòng xem trên ấy có gì mà rực rỡ thế.  Ước mơ ấy đã suýt thành hiện thực nếu như cậu đã không vì tò mò quá mà bay lên rất gần mặt trời. Sức nóng làm sáp ong chảy ra và cậu rơi xuống biển, chấm dứt một giấc mơ hoành tráng nhưng tuyệt đẹp của con người mà mãi hàng nhiều vạn năm sau, hậu thế của Icarus đã làm được. Cũng như thế, những gì mà Jules Verne đã kể trong cuốn sách nổi tiếng của ông “Hai vạn dặm dưới đáy biển” thì té ra sau này hoàn toàn có thật, dù khi viết nó, ông chỉ ngồi một chỗ và… tưởng tượng.

Nhắc tới Jules Verne, không thể không nói tới khả năng liên tưởng tiên đoán thiên tài của những nghệ sĩ thứ thiệt. Các nghệ nhân Tây nguyên, khi sáng tạo ra các trường ca ấy, tuy là vô danh nhưng đều là những con người cụ thể. Đời này qua đời khác, họ sáng tạo kiểu chắp nối để rồi thành hàng ngàn trang sử thi cho chúng ta sưu tầm, nghiên cứu… Sự tưởng tượng thiên tài chỉ xuất hiện ở những con người kiệt xuất, những nghệ sĩ thứ thiệt có thể thấy trước tương lai. Phải vậy chăng mà trong các chức năng của văn chương, có chức năng dự báo…Vân vân, là tôi ngồi véo von như thế để cho cô giáo về mà tự nghiên cứu chứ tôi chỉ là kẻ lớt phớt thôi. Rất tiếc, sau này tôi có gặp tiến sĩ Đấu – Chủ nhiệm Khoa văn  (Trường đại học Quy Nhơn), anh có nhắc lại chuyện cái đề tài ấy, khi ấy anh cũng không biết là của tôi nghĩ ra. Anh bảo là khi ấy cả hội đồng không ai hình dung được rằng Tây Nguyên lại có biển, tưởng rằng nó chỉ là đặc sản của Quy Nhơn và những vùng tương tự thế, nên đã bác cái đề cương này, nhưng giờ nghe tôi phân tích thì anh bảo… hay quá. Tôi đùa nhưng giờ thì tôi thu lại bản quyền rồi, các ông không được dùng nữa…

Tôi sống ở Tây Nguyên đến giờ mới hơn ba chục năm mà đã chứng kiến bao thay đổi, thì cái sự ngày xưa nơi đây là biển rồi giờ thành rừng cũng chả lấy gì làm lạ lắm. Rồi ngay cái gọi là rừng thì bây giờ cũng đã có nhiều thay đổi lắm rồi. Ngày xưa rừng ngút mắt, rừng miên man, rừng chằng chịt, giờ, tất cả như khoe ra dưới mặt trời cái màu đất Tây Nguyên tưởng như đặc trưng té ra cũng không đặc trưng nữa… Tây Nguyên thay đổi vừa do quy luật tự nhiên, vừa do con người. Càng văn minh thì con người càng can thiệp vào thiên nhiên thô bạo hơn.

Tôi nhớ mãi cái ấn tượng về cây Kơ Nia mà ông họa sĩ Xu Man bày cho tôi hồi mới lên Tây Nguyên nhận công tác. Hồi ấy là đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước.

Xu Man người Bahnar, là họa sĩ có đai có đẳng của Tây Nguyên, 2 khóa liền là ủy viên Ban chấp hành Hội Mỹ thuật Việt Nam. Ông có nhiều tranh được Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam mua và được giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật.

Đấy là một con người Tây Nguyên nhất trong những người Tây Nguyên mà tôi gặp. Đã từng đi nước ngoài, nhiều năm ở Hà Nội, học từ cao đẳng lên đại học mỹ thuật, nhưng về hưu một cái là ông về làng ngay, dù tỉnh Gia Lai hồi ấy tuyên bố cấp nhà trên  phố Pleiku cho ông. Về làng ông cũng ở nhà sàn. Cái nhà gạch nền xi măng Ty Văn hóa làm cho ông ở làng, ông để làm… kho và cho anh em họa sĩ học trò hoặc đồng nghiệp về thăm ông ở và sáng tác, vì làng ông rất đẹp. Ông tự tay làm một cái nhà sàn phía sau, đống lửa giữa nhà, ghè rượu quanh vách, tấm dồ một góc, những quả bầu đựng nước, những chiếc gùi, nồi cơm và nồi canh lá sắn cà đắng trên bếp, những ống thịt trên giàn… tất cả làm nên một thế giới Bahnar của Xu Man. Cái duy nhất khác giữa ông với một già làng Bahnar hồi ấy là ông có một cái đài (radio) mở oang oang cả ngày. Khi còn làm ở ty Văn hóa Gia Lai thì ông vẫn chủ yếu ở dưới làng, tháng đôi lần ông lên cơ quan họp, bằng xe đạp, tất nhiên. Từ Pleiku về làng ông hơn 60 cây số. Trong một buổi sáng nắng gay gắt, cùng đạp xe với ông, khát quá, tôi rủ ông ghé vào một quán cà phê ven đường nghỉ. Ông bảo cố tí nữa, đến gốc Kơ nia kia nghỉ sẽ rất thú vị.

Và quả là thú vị. Dốc chiếc túi cói treo ở ghi đông xe ra, ông có một chai rượu nhỏ, một bầu nước suối và một nắm hạt tôi không biết hạt gì. Nước suối thời trong veo và mát lịm, khi lên Pleiku ông đều ra con suối làng mình lấy mấy bầu rồi mang lên thành phố dùng. Ông nhẩn nha đập ra mấy hạt rồi chìa cho tôi một hạt, bảo hãy nhắm với rượu. Thì ra đấy là hạt Kơ nia. Ông kể, cây Kơ nia từ đời nào đến giờ là bạn của người Tây Nguyên, nó che chở cho người Tây nguyên, thậm chí là ân huệ của đấng tối cao ban cho người Tây Nguyên. Thì đấy, cứ đi trên đường, bao giờ mỏi chân, lại một cây Kơ nia hiện ra, mọi người túm lại đấy nghỉ, hết mệt lại đi, người Tây Nguyên toàn đi bộ nhé, bao giờ mệt, khát, lại một cây Kơ nia xuất hiện, che chở cho con người, dìu con người qua cơn đói, cơn khát, cơn nắng… vậy nó không phải của đấng tối cao cử xuống chở che cho con người thì là gì?

Sau này tìm hiểu tôi mới biết, té ra là hạt Kơ nia ăn rất ngon, nó giúp cho người Tây Nguyên, và cả bộ đội một thời, thay cơm mùa giáp hạt. Mỗi khi rời nhà lên rẫy hoặc ngược lại, họ đều lấy một ít bỏ vào gùi, đến khi mệt thì ngồi nghỉ, lấy hạt ra đập ăn, lấy nước trong bầu uống. Và trong lúc dùng đá đập thì thế nào cũng có vài hạt văng ra đâu đó, trong những hạt văng ra ấy, thế nào cũng có một hạt mọc thành cây. Cứ thế, đời này qua đời khác, những cây Kơ nia cô lẻ trở thành thước đo cơn khát cơn mệt và cũng trở thành nơi che chở cơn khát cơn mệt của con người.

Giờ, Kơ nia thành của hiếm, dẫu nó không phải loại gỗ quý, không thuộc nhóm một nhóm hai. Nó chỉ còn trong bài hát của Phan Huỳnh Điểu phổ thơ Ngọc Anh với giọng hát một thời Măng Thị Hội chứ cánh trẻ bây giờ cũng ít hát, vừa khó vừa không thời thượng.

Cũng như rừng, Kơ nia đang dần mất dạng trong những chiều Tây Nguyên thông thốc gió. Những kẻ giang hồ muốn ngồi hướng mắt về chân trời nào đó mà nhớ một thuở chưa xa, mắt không thể nào vượt qua vài chục mét.Người Tây Nguyên giờ cũng không còn hạt Kơ nia bỏ trong gùi làm lương thực nữa. Họ có mì tôm, có cơm bỏ trong bì nilon, có nước đựng trong các chai nhựa, vẫn là nước suối, nhưng là những con suối chết, bởi nó phơi mình ra dưới nắng dưới bụi chứ không uốn lượn trong rừng, dưới những tán lá xanh mướt khiến nước cũng ngất ngây trong uống đến đâu biết đến đấy.

Cũng phơi ra dưới nắng là những làng Tây Nguyên bây giờ. Những mái nhà lợp tôn đỏ bầm như màu trời ngày sau bão. Những thói quen, những nếp ứng xử cũng đã khác xưa. Không hiểu tốt hay xấu hơn, nhưng rõ ràng, nó lạnh lẽo hơn dẫu là ngồi trong nhà mái tôn giữa trưa hực nắng. Nó cũng cô đơn hơn dẫu bây giờ rất nhiều các mối quan hệ chằng chéo níu giữ. Ngày xưa sau gia đình là đến cộng làng với già làng. Và chỉ thế. Giờ còn bao nhiêu cơ quan đoàn thể, bao nhiêu sự chi phối, bao nhiêu cánh cửa mở ra mà sao con người vẫn thấy cô đơn, trần trụi. Cũng là đi bộ, người Tây Nguyên chuyên đi bộ theo hàng một, dẫu là hàng trăm người đi. Nhưng là đi trong rừng, bất trắc đấy- đi hàng một để tránh bất trắc- nhưng vẫn thấy yên ổn ấm áp, bởi rừng, dẫu bất trắc khôn lường, nhưng luôn thân thiện và sẻ chia cùng con người. Giờ, đường ô tô tận làng, người dân vẫn đi bộ, vẫn hàng một, mà sao cứ thấy lầm lụi,  cứ thấy vênh lên trong cái màu đỏ đến nhức mắt của đất đỏ, của màu trời và cả trong màu cà phê chín…

Hôm nọ ở một cái festival rất lớn mang tầm quốc tế về cồng chiêng, người ta định bảo bà con diễn một cuộc ăn trâu phục vụ festival, chuẩn bị xong hết thì lại bảo bà con không làm nữa vì có vị lãnh đạo bảo nó dã man quá. Nhiều người không biết rằng, cái cuộc ăn trâu ấy sau này dân làng vẫn phải tự làm ở làng mình, vì đơn giản, nếu không làm tức là lừa dối thần linh.

Tôi không ủng hộ sự dã man, nhất là khi nó lại phơi ra giữa thanh thiên bạch nhật, trước hàng ngàn người như lâu nay chúng ta thấy ở các “lễ hội đâm trâu” do nhà nước tổ chức. Té ra đâm trâu nó khác, đơn giản và tình nghĩa hơn nhiều…Trước hết nhân đây phải khẳng định thêm một lần nữa, rằng là không có cái gọi là “lễ hội đâm trâu” như lâu nay chúng ta hay gọi. Nó chỉ là một thành tố của một lễ hội, và người Tây Nguyên gọi nôm na là ăn trâu. Họ làm con trâu ấy để cúng thần linh, mời thần linh ăn, để họ tạ ơn thần linh đã giúp cho họ những việc lớn của làng. Những lễ hội mà có ăn trâu rất hiếm và không thường xuyên tổ chức. Để có cái cuộc ăn trâu vào sáng sớm hôm sau ấy, đêm trước đã có một cái lễ khóc trâu. Những người đàn bà thân thuộc với con trâu được chọn để ngày mai làm lễ ấy, tối hôm trước ra chỗ cột trâu và… khóc trâu. Họ khóc rất bài bản, cám ơn con trâu và cũng “giao nhiệm vụ” cho trâu ngày mai thay mặt họ đi gặp thần linh. Họ cho con trâu ăn những ngọn cỏ non nhất mới cắt lúc chiều, mời trâu uống thứ rượu cần chắt từ lần cắm cần đầu tiên…Rồi lúc tổ chức “tiễn trâu về với Yang”, theo nhiều người Tây Nguyên kể, không có nhiều người xem như hiện nay, đặc biệt là trẻ con càng không. Toàn các cụ già. Họ tiến hành nghi lễ thiêng liêng với thần linh, con trâu ấy chính là hiện thân của dân làng “tiếp kiến” thần linh.

Chứ không như hiện nay, người ta phong cho nó thành “lễ hội đâm trâu” rồi xách ông trâu ra cột giữa cái sân đông đặc người, rồi nhảy múa hú hét xung quanh cho con trâu ba hồn chín vía bay tiệt lên trời rồi bất thình lình đâm một nhát, máu me nhoè nhoẹt.

Vấn đề là, ai, và từ lúc nào, đã làm cho ý nghĩa những sinh hoạt văn hóa, và ý nghĩa tâm linh của những sinh hoạt ấy bị biến tướng đi một cách dữ dội thế…?

Nguyễn Cường là một nhạc sĩ rất nổi tiếng viết về Tây Nguyên. Nhưng Tây Nguyên nhất quyết không phải như những gì Nguyễn Cường đã viết. Anh đã tạo ra một lớp công chúng của mình bằng cách phả rock vào những ca khúc anh viết về Tây Nguyên, tạo ra một Tây Nguyên máu lửa, hừng hực, man dại và… nông cạn. Trong khi thật sự, Tây Nguyên lại rất trữ tình, sâu sắc và… mềm yếu mong manh nữa. Thì hãy nghe Y Phôn Ksor chẳng hạn, chàng nhạc sĩ kiêm ca sĩ người Ê Đê này có mấy bài hát để đời như “Đi tìm lời ru mặt trời”, “Đôi chân trần”… mà xem, ta hoàn toàn không thấy hú hét, không lắc mông lắc ngực, không nhảy tưng tưng, mà nó thủ thỉ tâm tình, nó xa xót đắng đót, nó thâm trầm đến thắc thỏm u uẩn, khiến người nghe như mỏng đi, như dẹt ra trong cái thổn thức nao lòng của giai điệu.

Tôi đã có nhiều đêm thức để nghe các già làng, các nghệ nhân cao tuổi kể khan (hri, hamon), chưa bao giờ thấy hú hét, chưa bao giờ thấy giậm giật. Chỉ là những thủ thỉ tâm tình, những câu chuyện ăn vào đêm, xuyên vào đêm, rỉ rả như đêm để rồi mỗi sáng mai lại bừng ngộ rằng, cái thế giới mà tôi vừa lẫn vào nó tối qua, té ra nó lại đang hiển hiện ngay trước mắt tôi kia, nhưng nó lại cũng vô cùng lạ lẫm, bởi tôi vừa được chứng kiến sự thoát thân kỳ lạ của nghệ nhân. Cái ông cởi trần mặc khố thu lu đầu gối quá tai nhăn nheo ngồi trước tôi bây giờ và cái ông mới đêm qua nằm kể khan vừa là 1 mà lại là 2, vừa trần trụi lại vừa lộng lẫy, vừa hiện thực cũ mèm đây lại cũng rất tinh khôi ngời sáng khi dám đi bắt nữ thần mặt trời, dám “đằng vân quá hải” chỉ để thỏa mãn khát vọng tự do của mình…

Tôi cũng từng có một cuộc ngồi rất thú vị với mấy “quý ông” Tây Nguyên nổi tiếng một thời ở nhà ca sĩ Y Zăc. Những là Y Phôn Ksor, Y Moan, Kran Dich, KPlin, Y Zắc… ngồi suốt một đêm, ngồi nghe họ hát mộc dân ca Tây Nguyên với Ghi ta, uống rượu cần trong một ngôi nhà ngoại ô thành phố Buôn Ma Thuột. Rồi nghe họ nói chuyện về Tây Nguyên, thì mới biết té ra, lâu nay những cái mình biết về Tây Nguyên chỉ là lớp váng, chỉ là thứ phù du bụi bặm nổi lên trên, sâu lắng phía dưới, lặn dưới đáy là cả một trầm tích đậm đặc vừa ma mị vừa minh triết với những hiển nhiên nhưng không thể cắt nghĩa được. Chao ơi, cái khó, cái làm ta ma mị chính là ở những điều hiển nhiên không thể cắt nghĩa được ấy. Ai mà cắt nghĩa được rằng, tại sao tự mình không làm ra chiêng, nhưng người Tây Nguyên đã biến chiêng thành một thứ tài sản đương nhiên của mình không cần bảo chứng vậy. Ban đầu người Tây Nguyên làm chiêng bằng… tre nứa, sau đấy họ mon  men xuống đồng bằng nước Việt, hoặc thông qua thương lái đưa lên, rồi sang cả Lào, đổi trâu, voi… lấy chiêng. Vì thế tên chiêng bây giờ vẫn có chiêng Yoăn (Kinh), chiêng Lao (Lào). Nhưng chiêng chỉ thành chiêng khi nó được chính những nghệ nhân tài hoa Tây Nguyên ra tay chỉnh, bây giờ hay gọi là lên dây chiêng. Cuộc hồi sinh vĩ đại của chiêng chính là từ sự chỉnh chiêng của người Tây Nguyên này. Phải qua công đoạn này thì chiêng mới thành… chiêng. Rồi còn tự tạo ra không gian chiêng nữa…

Cái sự mà UNESCO công nhận không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại không hẳn là vì chiêng Tây Nguyên vĩ đại, được tôn vinh, mà ý nghĩa chính là món này nó đang chuẩn bị tiệt chủng, cần bảo vệ khẩn cấp. Bao nhiêu năm qua, từ cái thời đề cương văn hóa của ông Trường Chinh, chúng ta đã đề cao dân tộc tính, chỉ rõ phải bảo tồn ra sao, bản sắc ra sao… thế mà rồi, cụ thể ra, cái bản sắc thật sự của Tây Nguyên là gì đã mấy ai hiểu hết. Cồng chiêng đấy, suốt ngày kêu gọi bảo tồn rồi nâng niu gìn giữ, cuối cùng thì phải bảo vệ khẩn cấp. Lý do người Tây Nguyên quý chiêng như thế là vì chiêng không chỉ là vật chất thông thường đổi bằng trâu bằng voi, mà nó chính là đời sống tâm linh, trong chiêng có Yang, thế mà bây giờ người ta dửng dưng đến thế?

Chúng tôi đã rất nhiều lần được sống cùng chiêng tại các buôn làng. Cũng nhiều lần được xem các cuộc lễ hội có đạo diễn mang chiêng trên sân khấu. Rất khó khi chúng ta cứ muốn giữ những gì là nguyên bản, và lại càng khó hơn khi chúng ta mang nó ra cộng đồng lớn hơn khu vực làng, vượt qua yếu tố nghi lễ tâm linh trở thành biểu diễn thi thố. Văn hóa và văn minh thường là xung đột với nhau để xã hội phát triển mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc. Đời này sang đời khác, cuộc giành giật níu kéo giữa phát triển và bảo tồn, giữa cái mới và cái cũ, giữa hào nhoáng và thô sơ nguyên bản, giữa bản chất và hiện tượng… luôn làm loài người phải bận tâm để rồi chúng ta có văn hóa, có văn hóa vùng miền và văn hóa nhân loại, có văn hóa cá nhân và văn hóa cộng đồng, có văn hóa bản sắc và văn hóa đại trà… tựu trung lại, nó là những sản phẩm vô giá của con người gửi lại cho mai hậu…

Và nói thật, thấy thảm hại làm sao khi chúng ta bứng chiêng ra khỏi buôn làng, ra khỏi không gian của nó, biến nó thành những hình nhân nhí nhố trên sân khấu, trên đường phố lòe loẹt xanh đỏ tím vàng. Nhưng chúng ta đã làm và vẫn đang làm việc ấy?…

Mà ngày xưa ấy, có phải cứ tự nhiên thích đánh chiêng là lôi chiêng ra mà đánh được đâu. Giờ chúng ta làm theo kế hoạch, ngành văn hóa lên kế hoạch từ đầu năm, tháng nào tháng nào có liên hoan hoặc lễ hội cồng chiêng, sức cho các làng các xã chuẩn bị, rồi đúng ngày đúng tháng, các nghệ nhân lên xe ô tô, mang chiêng đi… thi. Lại phải nói rõ thêm một điều nữa, rằng là hoàn toàn không có “lễ hội cồng chiêng” như chúng ta hay gọi, mà cồng chiêng chỉ là một thành tố của lễ hội. Nó như cỗ phải có gà luộc nhưng gà luộc thì không phải cỗ vậy.

Tây Nguyên đang rời xa đi cái gốc nguyên thủy của nó, đang bị giằng xé dữ dội giữa phát triển và bảo tồn, giữa những vòng quay chóng mặt của ngộ nhận và cố chấp, của cả tự ti và áp đặt, của vênh vang và ngu dốt, của thực dụng và hiếu thắng…

Chứ trong tôi, một Tây Nguyên hài hòa, nhân văn, trữ tình và đầy khát vọng nhưng cũng rất khiêm nhường luôn luôn thường trực, một Tây Nguyên biết cứ khi nào con người mỏi chân thì lại hiện lên một cái cây bóng mát, một Tây Nguyên có hẳn một nghi lễ khóc trâu trước khi hiến tế, và một Tây Nguyên cương quyết không lừa thần linh, nên dẫu nhà nước hứa rồi nhưng lại không cho thần linh ăn trâu thì họ mang về làng để làm. Bởi họ không ăn trâu, mà là dâng hiến cho thần linh. Sự dâng hiến tự nguyện và thành kính.

Nhân nghĩa thủy chung và cũng rất giữ lời, trung thực một cách cực đoan như vậy đấy, Tây Nguyên của tôi…

VĂN CÔNG HÙNG
(*) Một thế hệ Tây Nguyên mới, ảnh Văn Công Hùng nguồn http://www.vanconghung.com

Bài viết Hoàng Kim cùng chủ đề
Đến với Tây Nguyên
Phát triển bền vững ở Tây Nguyên
Có những lớp sinh viên như thế.

Bài viết mới

 

 

Advertisements