Chào ngày mới 9 tháng 9


CNM365 Chào ngày mới 9 tháng 9. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày “sáng kiến chính quyền nhân dân” tại Triều Tiên (1948 hình tháp Juche, Bình Nhưỡng ); ngày độc lập tại Tajikistan (1991); Ngày 9 – Tù trưởng Arminius lãnh đạo sáu bộ lạc Germain tiến hành phục kích và tiêu diệt binh đoàn La Mã của Publius Quinctilius Varus trong trận rừng Teutoburg. Ngày 1850California trở thành bang thứ 31 của Hoa Kỳ. Ngày 1886Công ước Bern về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật được ký kết. Ngày 1944 – Với sự hỗ trợ của Liên Xô, Mặt trận Tổ quốc Bulgaria tiến hành nổi dậy vũ trang nhằm lật đổ chính phủ Bulgaria đương quyền.

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự Triều Tiên. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn’gŭl hay Hanja.
조선민주주의인민공화국
朝鮮民主主義人民共和國
Chosŏn Minjujuŭi Inmin Konghwakuk
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
Flag of North Korea.svg Emblem of North Korea.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
Khẩu hiệu
강성대국
(Kangseong Daeguk)
(“Cường thịnh đại quốc”)
(“強盛大國”)
Quốc ca
애국가
(“Aegukka“)
(“Ái quốc ca”)
(“愛國歌”)
Hành chính
Chính phủ Độc đảng theo Thuyết Chủ thể
Chủ tịch
Lãnh tụ tối cao
Chủ tịch Quốc hội
Thủ tướng
Kim Nhật Thành1
Kim Chính Ân
Kim Yong-nam
Pak Pong-ju
Ngôn ngữ chính thức tiếng Triều Tiên
Thủ đô Bình Nhưỡng (P’yŏngyang)
39°2′B, 125°45′Đ
Thành phố lớn nhất Bình Nhưỡng
Địa lý
Diện tích 120.540 km² (hạng 98)
Diện tích nước 4,87% %
Múi giờ UTC+9
Lịch sử
Thành lập
15 tháng 8 năm 1945
9 tháng 9 năm 1948
Giải phóng

Cộng hòa

Dân cư
Dân số ước lượng (2011) 25.200.000 người (hạng Không xếp hạng)
Mật độ 190 người/km² (hạng Không xếp hạng)
GDP (danh nghĩa) (2012) Tổng số: ~$40 tỷ
Bình quân đầu người: $1.800
HDI (2011) 0.618 (trung bình) không xếp hạng
Đơn vị tiền tệ Won (₩n) (KPW)
Thông tin khác
Tên miền Internet .kp
1. Cố chủ tịch Kim Il-sung được coi là “Chủ tịch nước vĩnh viễn” theo Hiến pháp sửa đổi năm 1998 của CHDCNDTT.

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (tiếng Triều Tiên: 조선민주주의인민공화국, 朝鮮民主主義人民共和國, Chosŏn Minjujuŭi Inmin Konghwakuk; Hán-Việt: Triều Tiên Dân chủ chủ nghĩa Nhân dân Cộng hòa quốc) – còn gọi là Triều Tiên, Bắc Triều Tiên, Bắc Hàn – là một quốc gia Đông Á trên phần phía bắc Bán đảo Triều Tiên.
Ở phía nam, nước này giáp biên giới với Hàn Quốc, hai nước từng là một quốc gia duy nhất với tên gọi Triều Tiên tới tận năm 1945. Biên giới phía bắc đa phần giáp với Cộng hoà nhân dân Trung Hoa dọc theo sông Áp LụcĐồ Môn. Bắc Triều Tiên và Liên bang Nga có chung biên giới dài chỉ 18.3 kilômét (11.4 dặm) dọc theo sông Đồ Môn ở góc đông bắc đất nước.
Bắc Triều Tiên là một nhà nước độc đảng dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Triều Tiên và theo thuyết Juche (Chủ thể), một lý tưởng tự chủ phát khởi bởi Kim Nhật Thành, cựu lãnh tụ của quốc gia này. Juche dựa trên các điểm chính là tự cung tự cấp khi bị bao vây cấm vận, đề cao tinh thần tự lực tự cường, tự cô lập trước cấm vận của kẻ thù và mở rộng khi chủ nghĩa xã hội giành được vị thế, thuyết truyền thống Triều Tiênchủ nghĩa Marx-Lenin.[1] Mặc dù nhiều người cho rằng Triều Tiên là 1 quốc gia đi theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng vào năm 2009, các mối liên hệ với Chủ nghĩa cộng sản (Chosŏn’gŭl: 공산주의) đã bị loại bỏ khỏi Hiến pháp Triều Tiên.[2]
Tâm điểm trong học thuyết xây dựng đất nước của Triều Tiên là ‘Songun, hoặc “quân sự trên hết”, chính sách để tăng cường sức mạnh đất nước và quân đội với mục tiêu trên hết là tái thống nhất bán đảo Triều Tiên. Triều Tiên là xã hội quân sự hóa thế giới, với tổng số 9.495.000 quân chính quy và dự bị, và nhân viên bán quân sự. Quân đội thường trực là 1,21 triệu, lớn thứ 4 trên thế giới, sau Trung Quốc, Mỹ và Ấn Độ.[3] Triều Tiên cũng được cho là đã chế tạo thành công vũ khí hạt nhân và có một chương trình không gian đáng kể, vốn đã thành công trong việc đưa vệ tinh lên vũ trụ.[4][5][6] Do sự cô lập của nó, Triều Tiên đôi khi được gọi là “đất nước bí ẩn”.

Lịch sử

Thời Nhật Bản thống trị Triều Tiên (1905 – 1945) chấm dứt cùng với Thế chiến thứ hai. Triều Tiên được Liên bang Xô Viết ủng hộ thành lập chính quyền xã hội chủ nghĩa miền bắc từ vĩ tuyến 38 và Hoa Kỳ giúp đỡ thành lập chính quyền dân tộc ở miền nam vĩ tuyến 38, nhưng Hoa Kỳ và Xô-viết không thể đồng thuận về việc áp dụng Đồng ủy trị ở Triều Tiên và chính quyền miền bắc không đồng ý với cuộc tổng tuyển cử thống nhất trong cả nước. Điều này dẫn tới việc thành lập các chính phủ riêng biệt ở miền bắc và miền nam, mỗi bên đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp của toàn bộ lãnh thổ Triều Tiên
Căng thẳng tăng lên giữa hai chính phủ ở miền bắc và miền nam cuối cùng dẫn tới Chiến tranh Triều Tiên, khi ngày 25 tháng 6 năm 1950 Bắc Triều Tiên cáo buộc Nam Hàn cho các nhóm vũ trang vượt vĩ tuyến 38 phá hoại các đường vận tải và Bắc Triều Tiên đã phát động cuộc chiến. Cuộc chiến kéo dài tới 27 tháng 7 năm 1953, khi lực lượng Liên hiệp quốcQuân đội Nhân dân Triều Tiên cùng Chí nguyện quân Trung Quốc ký kết Thỏa thuận đình chiến Chiến tranh Triều Tiên. Vùng phi quân sự Triều Tiên (K-DMZ) phân chia hai nước.
Bắc Triều Tiên do Kim Nhật Thành (Kim Il-sung) lãnh đạo trong vai trò Tổng thư ký Đảng Lao động Triều Tiên và Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng Triều Tiên từ năm 1948 tới khi ông chết ngày 8 tháng 7 năm 1994. Trên thực tế, Kim được thừa nhận như là người giữ “vị trí cao nhất của quốc gia” (tức Nguyên thủ quốc gia). Kế nhiệm ông là con trai ông Kim Chính Nhật (Kim Jong-il), và sau đó là cháu nội Kim Chính Ân (Kim Jong-un). Các quan hệ quốc tế của nước này nói chung đã được cải thiện, và đã có một cuộc gặp thượng đỉnh lịch sử Nam-Bắc vào tháng 6 năm 2000. Tuy nhiên, căng thẳng với Hoa Kỳ gần đây đã tăng lên khi Bắc Triều Tiên tiếp tục Chương trình vũ khí hạt nhân của họ.
Phương tiện sản xuất tại Triều Tiên thuộc sở hữu của nhà nước thông qua các doanh nghiệp nhà nước và các trang trại tập thể, và hầu hết các dịch vụ như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, nhà ở và sản xuất lương thực được nhà nước tài trợ hoặc trợ cấp. Trong 2 thập niên đầu (1954-1974), kinh tế Triều Tiên tăng trưởng với tốc độ cao, GDP đầu người năm 1976 thậm chí còn cao hơn so với Hàn Quốc[7]. Tuy nhiên, nền kinh tế sau đó đã chững lại và đến thập niên 1990 thì lâm vào khủng hoảng. Trong những năm 1990 Bắc Triều Tiên bị một nạn đói và tiếp tục đấu tranh với sản xuất lương thực. Trong năm 2013, Liên Hợp Quốc xác định các chính sách của chính phủ Bắc Triều Tiên là nguyên nhân chính của tình trạng thiếu lương thực và ước tính rằng 16 triệu người cần viện trợ lương thực.

Chính trị

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
Emblem of North Korea.svg
Chính trị và chính phủ
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên

Các nước khác

Chính quyền

Chính quyền Triều Tiên được điều hành hoạt động bởi Đảng Lao động Triều Tiên (Korean Worker’s PartyKWP), chiếm 80% vị trí chính quyền. Ý thức hệ của KWP được gọi là Juche Sasang (주체사상, Chủ thể tư tưởng), và bị coi là có liên hệ gần gũi với chủ nghĩa văn minh Stalin. KWP đã gia tăng các phần có liên quan tới Chủ nghĩa Marx-Lenin trong Hiến pháp Triều Tiên bằng Juche Sasang năm 1977. Những lời chỉ trích cộng sản của KWP phủ nhận rằng họ là một quốc gia hoạt động theo kiểu nguyên mẫu Mácxít – Lêninít cũ, không còn hợp sự biến đổi của thời đại. Các đảng chính trị nhỏ có tồn tại nhưng chúng đều mang ý nghĩa hỗ trợ vào KWP và tự nguyện không phản đối lại sự nắm quyền của nó. Cơ cấu quyền lực thực sự của đất nước hiện vẫn còn đang bị tranh cãi giữa những nhà quan sát bên ngoài.

Tháp Juche, Bình Nhưỡng

Lãnh đạo nhà nước

Trước 1998, chức vụ Chủ tịch nước là Nguyên thủ quốc gia và được trao cho Kim Nhật Thành. Hiến pháp 1998 quy định Kim Nhật Thành là “Chủ tịch vĩnh viễn của nước Cộng hòa”[8], và vị trí Chủ tịch nước đã bị bãi bỏ sau khi ông chết. Con trai ông, Kim Chính Nhật, về nguyên tắc chỉ nắm giữ chức vụ Tổng bí thư Đảng Lao động Triều Tiên, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng Triều Tiên, và Tổng tư lệnh tối cao Quân đội Nhân dân Triều Tiên, nhưng về thực tế nắm toàn bộ thực quyền trong tay, thực sự là nhà lãnh đạo của Triều Tiên. Bên trong nước, ông thường được gọi là “Lãnh tụ kính yêu”, một phần trong sự sùng bái cá nhân ông. Tương tự như vậy, cha ông Kim Nhật Thành được phong “Lãnh tụ vĩ đại”.
Truyền thông nước ngoài cho rằng, theo truyền thống cha truyền con nối, con trai út của Kim Chính Nhật là Kim Chính Ân đã được chuẩn bị kế vị để trở thành nhà cầm quyền thế hệ thứ 3 thuộc dòng họ Kim ở đất nước này.[9][10] Một quan chức Hàn Quốc được dẫn lời cho rằng chính quyền Triều Tiên đã đang “xây dựng sự ngưỡng mộ” đối với “người thừa kế mới”.[9] Sau khi Kim Chính Nhật mất ngày 17 tháng 12 năm 2011, Kim Chính Ân đã chính thức trở thành “tổng tư lệnh tối cao”, “người thừa kế vĩ đại”[11] của Bắc Triều Tiên.[12] Trong thông điệp năm mới 2012, Bắc Triều Tiên đã kêu gọi quân đội, đảng cầm quyền và người dân sẵn sàng làm “lá chắn sống” để bảo vệ “lãnh tụ tối cao” Kim Jong-Un[13] đến hơi thở cuối cùng,[14] trước đó họ đã tuyên bố sẽ không bất kỳ sự thay đổi nào: “Chúng tôi trang trọng và quả quyết tuyên bố rằng các chính trị gia ngu ngốc trên khắp thế giới, bao gồm cả những kẻ bù nhìnHàn Quốc, đừng có mong bất cứ sự thay đổi gì từ phía chúng tôi.”[15][16]

Lập pháp

Theo Hiến pháp 1998, tổ chức của chính quyền Triều Tiên theo chính thể cộng hòa, được phân thành 3 nhánh Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Hội nghị Nhân dân Tối cao (최고인민회의, Choego Inmin Hoeui) là cơ quan Quốc hội, theo Hiến pháp là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước[17], nắm quyền Lập pháp[18]. Các đại biểu của Hội nghị (hiện tại gồm 687 thành viên) được bầu cử phổ thông theo thời hạn 5 năm. Hai kỳ mỗi năm, Quốc hội được triệu tập, mỗi kỳ chỉ kéo dài vài ngày; thường thì để phê chuẩn những quyết định do lãnh đạo của KWP đưa ra. Chủ tịch Quốc hội hiện nay là ông Choe Thae Bok.
Trong thời gian giữa các kỳ họp Quốc hội, một Ủy ban thường trực gọi là Thường nhiệm Ủy viên Hội (상임위원회, Sangim Wiwŏnhoe) được Quốc hội bầu ra để thực hiện các chức năng lập pháp khi Quốc hội không họp. Đứng đầu cơ quan này là một Chủ tịch với danh xưng Ủy viên trưởng (위원장, Wiwŏnjang). Theo Hiến pháp 1998, một số chức năng của vị trí Nguyên thủ quốc gia được trao cho Chủ tịch Ủy ban thường trực, người được cho là đứng đầu tổ chức “đại diện cho quốc gia”, như các trách nhiệm nhận quốc thư từ đại sứ nước ngoài[19]. Chủ tịch Ủy ban thường trực hiện nay là ông Kim Yong-nam.

Hành pháp

Theo Hiến pháp Triều Tiên 1998, Nội các (내각, Naekak) là cơ quan hành chính cao nhất, chịu trách nhiệm thiết lập chính sách cao nhất của chính phủ. Về nguyên tắc, Nội các cũng chịu trách nhiệm quản lý các Ủy ban hành chính địa phương (인민위원회, Inmin Wiwŏnhoe, Nhân dân Ủy viên hội).
Đứng đầu Nội các là một Tổng lý (총리, Chongni), hay Thủ tướng, về danh nghĩa do Quốc hội bầu ra. Các thành viên khác của Nội các được Quốc hội phê chuẩn theo đề nghị của Thủ tướng. Các phiên họp của Nội các được phân làm 2 dạng: Hội nghị toàn thể gồm toàn bộ các lãnh đạo của các cơ quan cấp Bộ và Hội nghị thường vụ chỉ gồm Thủ tướng, các Phó thủ tướng, một số thành viên Nội các. Hội nghị toàn thể được triệu tập để quyết định các chính sách kinh tế hành chính quan trọng. Hội nghị thường vụ thường để xử lý các quyết định đã được Hội nghị toàn thể thông qua.
Hiện tại, Nội các Triều Tiên gồm 34 cơ quan cấp Bộ, đứng đầu bởi Thủ tướng Pak Pong Ju.

Tư pháp

Như các quốc gia Cộng sản khác, ngành Tư pháp Triều Tiên được phân làm 2 nhánh Kiểm sát và Tòa án. Tại trung ương có Trung ương Kiểm sát sở (중앙검찰소, Jungang Keomchalso) và Trung ương Thẩm phán sở (중앙재판소, Jungang Jaepanso), đứng đầu bởi các Sở trưởng (소장, Sojang). Dưới cấp Trung ương có các cơ quan địa phương lầm lượt gồm cấp tỉnh, thành phố, quận và cơ quan đặc biệt, trực thuộc quyền của các Sở trung ương.
Ngành Kiểm sát chịu trách nhiệm giám sát việc thi hành pháp luật của các cơ quan, xí nghiệp và các công dân trên lãnh thổ Triều Tiên; thực thi Hiến pháp và Pháp luật, các Quyết định do các cơ quan Quốc hội, Hội đồng Quốc phòng, Ủy ban thường trực Quốc hội, Nội các ban hành; giữ quyền công tố tại các phiên tòa xét xử.
Ngành Tòa án chịu trách nhiệm giám đốc thi hành pháp luật của các cơ quan, xí nghiệp và các công dân trên lãnh thổ Triều Tiên; thực thi Hiến pháp và Pháp luật, các Quyết định do các cơ quan Quốc hội, Hội đồng Quốc phòng, Ủy ban thường trực Quốc hội, Nội các ban hành; giữ quyền phán quyết tại các phiên tòa xét xử;

Quốc phòng

Với chính sách Sŏn’gun (선군정치, Sŏn’gun chŏngch’i, Tiên quân chính trị), quân đội trở thành một lực lượng chính trị quan trọng tại Triều Tiên. Cơ quan cao nhất, thống lĩnh về mặt quân sự của Triều Tiên là một Hội đồng quốc phòng với danh xưng Quốc phòng Ủy viên hội (국방위원회, Kukpang Wiwŏnhoe), chịu trách nhiệm quản lý một lực lượng quân đội lớn thứ tư trên thế giới về quân số, với khoảng 1,21 triệu người trong lực lượng chính quy[20], và một lực lượng dự bị khoảng 4.700.000 người. Ngân sách quốc phòng hàng năm của Triều Tiên là 5,217 tỉ USD (2002), ước tính chiếm khoảng 15,8% GDP (2010).
Như nhiều quốc gia khác, ở Triều Tiên, công dân đủ 18 tuổi trở lên phải thực hiện nghĩa vụ quân sự, trừ một số trường hợp đặc biệt. Tuy nhiên, thời hạn nghĩa vụ ở Triều Tiên là từ 3 đến 10 năm kể từ ngày nhập ngũ. Bên cạnh đó, với chính sách quốc phòng thường trực và ưu tiên cho quân đội, Triều Tiên cũng là nước có tỉ lệ nhân dân sẵn sàng nhập ngũ khi có chiến tranh cao nhất thế giới.
Trong Hiến pháp Triều Tiên 1998, Hội đồng quốc phòng là cơ quan thường trực được xếp đứng trên cả Ủy ban thường trực của Quốc hội. Đứng đầu Hội đồng này là Kim Chính Ân với chức vụ Ủy viên trưởng, một chức vụ có toàn quyền với quân đội trên thực tế, kể cả quyền thăng phong quân hàm cao cấp. Cộng với quyền lãnh đạo tối cao của Đảng Lao động Triều Tiên, Kim Chính Ân mới thực sự là nhà lãnh đạo tối cao của chính quyền Triều Tiên.
Chiến lược quân sự được chính của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Triều tiên là cử các đặc nhiệm phá hoại và tấn công kẻ thù từ phía sau chiến tuyến[3]. Vì Hàn Quốc đã lập một phòng tuyến mạnh sau vùng phi quân sự. Quân đội Triều Tiên được trang bị với một lượng vũ khí rất lớn với 4.060 xe tăng, 2.500 xe bọc thép chở quân, 17.900 pháo, 11.000 súng phòng không và 10.000 tên lửa phòng không và tên lửa chống tăng vác vai cho lực lượng bộ binh[21]; khoảng 915 tàu cho lực lượng hải quân, 1.748 máy bay cho lực lượng không quân[22], được biết có khoảng 480 tiêm kích và 180 máy bay ném bom[23]. Ngoài ra Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên còn có lực lượng đặc nhiệm thuộc hàng đông nhất thế giới cùng hạm đội tàu ngầm nhiều nhất[24]. Các loại vũ khí này sản xuất từ cuộc chiến tranh thế giới thứ hai cho đến chiến tranh lạnh cùng các vũ khí hiện đại sản xuất trong nước theo công nghệ hiện đại của Liên Xô. Ngoài ra để đáp ứng với chiến lược chiến tranh phi đối xứng Bắc Triều Tiên còn phát triển các kỹ thuật đánh lạc hướng điện tử như thiết bị làm nhiễu GPS[25], sơn tàng hình[26], các loại tàu ngầm loại nhỏ, ngư lôi do người lái[27], một lượng lớn các loại vũ khí sinh học và hóa học[28] cùng hệ thống laser chống người[29]. Theo phương tiện truyền thông chính thức của Bắc Triều Tiên thì chi phí quân sự năm 2010 là 15,8% ngân sách nhà nước[30].

Nhân quyền

Binh lính Triều Tiên tại Khu phi quân sự Triều Tiên (K-DMZ) năm 1998

Tổ chức Ân xá quốc tế và các tổ chức nhân quyền khác buộc tội Triều Tiên có hồ sơ nhân quyền tồi tệ nhất trong số tất cả các nước, hạn chế nghiêm khắc đa số các quyền tự do, gồm tự do ngôn luậntự do di chuyển, cả trong và ngoài nước. Những người tị nạn đã loan tin sự hiện diện của những trại giam với ước tính khoảng 150.000 đến 200.000 người, đa phần là thiếu ăn cho dù một phần lương thực xã hội đã được cắt ra, và lao động Công ích[31]. Truyền hình Nhật Bản đã phát sóng cảnh phim mà họ cho là một trại tù[32]. Trong một số trại, những người tù cũ nói tỷ lệ chết hàng năm lên tới 25% [33]. Một cựu cai tù và là sĩ quan tình báo quân đội đào tẩu cho rằng trong một trại, các loại vũ khí hoá học đã được đem ra thử nghiệm trên tù nhân trong một phòng hơi độc [34].
Ngược lại, Chính phủ Triều Tiên bác bỏ những cáo buộc rằng họ vi phạm nhân quyền và coi đó là “một chiến dịch bôi nhọ” nhằm dùng chiêu bài nhân quyền nhằm lật đổ chế độ chính trị của họ[35].

Quan hệ đối ngoại

Quan hệ với Hàn Quốc

Sau khi cuộc Chiến tranh Triều Tiên kết thúc năm 1953, Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) trên danh nghĩa vẫn chưa có hòa bình, do chỉ mới ký kết hiệp định ngừng bắn.
Triều Tiên nhiều lần gọi chính phủ Hàn Quốc là “bù nhìn”, “con rối” của “Đế Quốc Mỹ”, và đe dọa rằng sẽ biến Seoul “thành tro bụi”,[36][37] nhưng mặt khác họ vẫn nhận viện trợ của nước này, bao gồm thuốc men, chăn mền, mì gói, quần áo. Triều Tiên cũng yêu cầu miền Nam gửi bột mì,[38] gạoxi măng, nhưng kể từ sau vụ pháo kích ở Yeonpyeong, Hàn Quốc không muốn viện trợ các mặt hàng đó do lo sợ Triều Tiên sẽ dùng để cung cấp cho quân đội thay vì cứu đói cho dân thường.[38][39] Tuy vậy, vẫn có những sự tốt đẹp nhất định. Khi Hàn Quốc thực hiện Chính sách Ánh dương sau đó, quan hệ đã có chút nồng ấm, và đặc biệt là khu công nghiệp chung Kaesong được thành lập năm 2003 là thành quả của chính sách ánh dương đem lại.
Trong bản đánh giá về các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới của mình, Bắc Triều Tiên cho Hàn Quốc đứng thứ 152 với chỉ 18 điểm, và tự xếp mình đứng thứ 2 với 98/100 điểm (chỉ sau nước đứng 1 là Trung Quốc với điểm tuyệt đối).[40][41]

Yếu tố Trung Quốc

Trung Quốc từ trước đến nay vẫn là nước có quan hệ thân thiết nhất với CHDCND Triều Tiên. Trong chiến tranh Triều Tiên, Trung Quốc đã gửi hàng triệu chí nguyện quân sang giúp đỡ quân đội miền bắc. Trung Quốc là bạn hàng kinh tế, nhà đầu tư lớn của CHDCND Triều Tiên. Trung Quốc là thành viên của cuộc đàm phán 6 bên về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên.

Quan hệ với Việt Nam

Việt Nam và CHDCND Triều Tiên cùng theo Chủ nghĩa Xã hội. Hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 31 tháng 1 năm 1950, và được cho là có “mối quan hệ truyền thống tốt đẹp”.[42] Tuy nhiên về kinh tế, từ năm 1996 Việt Nam và Bắc Triều Tiên hầu như không có giao dịch thương mại, cũng trong năm đó, Triều Tiên mua 2 vạn tấn gạo của Việt Nam nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán, cả gốc và lãi tính đến năm 2007 là 18,046 triệu USD. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã nhiều lần hỗ trợ Triều Tiên hàng ngàn tấn gạo.[43] Trong những năm 1960-1970 Triều Tiên đã giúp đào tạo hàng trăm sinh viên Việt Nam. Khu tập thể Kim Liên (khu tập thể xã hội chủ nghĩa đầu tiên) tại Đống Đa, Hà Nội đã được kỹ sư Triều Tiên giúp thiết kế, giám sát xây dựng hoàn thành vào 1963. Hàng năm Bộ Văn hoá của Việt Nam đều cử đoàn nghệ thuật sang Triều Tiên dự Liên hoan nghệ thuật mùa xuân tháng 4 tổ chức tại Bình Nhưỡng.[43] Triều Tiên cũng từng gửi quân sang giúp Miền Bắc Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam,[44] trong đó có khoảng 200 phi công tham gia bảo vệ Hà Nội,[45] ít nhất 14 đã chết vào 1966 – 1967.[46]
Trong khi đó, nhà sử học Dương Trung Quốc nói rằng, “Sau khi Việt Nam thống nhất đất nước, chính Triều Tiên ủng hộ Pol Pot chống lại Việt Nam,”. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cũng nhắc lại việc cố Chủ tịch Kim Nhật Thành đã từng ủng hộ Pol Pot chống Việt Nam và gọi đó là thời kỳ phai nhạt quan hệ giữa hai nước sau khi Việt Nam thống nhất.[47] Trong thập niên 1990, quan hệ 2 nước nồng ấm hơn với nhiều chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao từ hai phía, cũng như việc trao đổi buôn bán (Việt Nam đã mua một số loại vũ khí từ Triều Tiên như tên lửa đạn đạo Scud, tàu ngầm lớp Yugo…). Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã sang thăm hữu nghị Bắc Triều Tiên vào tháng 10 năm 2007, và Đảng Lao động Triều Tiên được chính phủ Việt Nam cho là đã “giành được nhiều thành tựu to lớn”[42].

Quan hệ với Nga

Khi còn mang tên Liên Xô, cả hai nước đã thiết lập một mối quan hệ thân thiết chưa từng có khi Kim Nhật Thành được Iosif Stalin ủng hộ làm lãnh đạo Bắc Triều Tiên. Nhưng kể từ khi Mikhail Gorbachyov cẩm quyền năm 1985, quan hệ đã trở nên xấu đi trầm trọng, khi Gorbachyov thực hiện những cải cách mà nước này gọi là “ngu dốt và tệ hại”. Quan hệ càng trở nên căng thẳng khi Liên Xô sụp đổ và Liên bang Nga được thành lập, đặc biệt hơn là khi Boris Yeltsin lên làm Tổng thống Nga từ năm 19921999 đã có những phát ngôn chỉ trích Nhà nước Triều Tiên. Quan hệ chỉ trở lại nồng ấm vào năm 2000, khi Vladimir Putin lên làm Tổng thống Nga, nhưng quan hệ vẫn không tiến được xa vì Putin ít quan tâm tới Bắc Triều Tiên. Khi Kim Chính Ân cầm quyền sau cái chết của Kim Chính Nhật vào năm 2011, Nga đã ủng hộ trừng phạt CHDCND Triều Tiên, nên khiến quan hệ giữa hai nước này trở nên xấu đi so với thái độ hòa nhã bên ngoài.
Tuy nhiên, Nga và Bắc Triều Tiên đã mở lại tuyến đường sắt từ Baikal tới Rason, chủ yếu để cung cấp than đá cho quốc gia này. Bắc Triều Tiên đã ca ngợi mối quan hệ với Nga, song phía Nga không có thái độ cụ thể về việc này.

Quan hệ với Hoa Kỳ

Quan hệ giữa Bắc Triều Tiên và Hoa Kỳ nói chung là rất tồi, và chưa có quan hệ ngoại giao chính thức, ngoại trừ kênh New York. Bắc Triều Tiên luôn coi Hoa Kỳ là cái nôi của “chủ nghĩa tồi tệ nhất thế giới” và gọi Hoa Kỳ là “phi dân chủ” trong khi Hoa Kỳ cáo buộc Bắc Triều Tiên là nơi “đáng sợ nhất thế giới” và coi CHDCND Triều Tiên là “địa ngục trần gian”, song Bắc Triều Tiên vẫn nhận viện trợ lương thực từ Hoa Kỳ. Sau vụ phóng tên lửa Unha-3 năm 2012, Hoa Kỳ đã cắt viện trợ lương thực cho Bắc Triều Tiên và cáo buộc nước này “vi phạm luật pháp quốc tế” về thử nghiệm tên lửa đạn đạo.
Năm 2004, Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush đã xếp Bắc Triều Tiên cùng với Iran vào “trục ma quỉ” do Bắc Triều Tiên đã giấu diếm việc thử nghiệm bom hạt nhân. Nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên khi đó là Kim Chính Nhật lấy lí do là sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Triều Tiên. Sau vụ phóng vệ tinh 2 lần vào năm 2012 mà Hoa Kỳ và phương Tây cáo buộc là thử nghiệm tên lửa đạn đạo, quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng hơn khi Hoa Kỳ cùng Liên Hiệp Quốc tăng trừng phạt nước này. Lãnh đạo CHDCND Triều Tiên Kim Chính Ân cáo buộc LHQ là “con rối” do Hoa Kỳ cầm đầu, và sau đó, khi Hàn Quốc và Hoa Kỳ tiến hành tập trận chung vào năm 2013, Bắc Triều Tiên đã di chuyển các tên lửa tầm trung Musudan tới các căn cứ quân sự ở Đông Nam CHDCND Triều Tiên, gây quan ngại cho quốc tế về nguy cơ chiến tranh Triều Tiên tái diễn.

Địa lý

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên nằm ở phần phía bắc Bán đảo Triều Tiên trải dài 1.100 kilômét (685 dặm) từ lục địa Châu Á. Nó có chung biên giới với ba nước và hai vùng biển. Phía tây giáp với Hoàng HảiVịnh Triều Tiên, phía đông giáp Biển Nhật Bản. Biên giới trên bộ, Triều Tiên giáp với ba nước Hàn Quốc, Trung Quốc, và Nga. Điểm cao nhất ở Triều Tiên là đỉnh Bạch Đầu 2.744 mét (9.003 ft) và các con sông chính là Đồ MônÁp Lục.
Khí hậu khá ôn hoà, lượng mưa lớn vào mùa hè với một mùa mưa ngắn gọi là jangma (gió mùa Đông Á), mùa đông thỉnh thoảng khá lạnh. Thủ đô Bắc Triều Tiên và là thành phố lớn nhất nước Bình Nhưỡng (P’yŏngyang); các thành phố chính khác gồm Kaesŏng (Khai Thành) ở phía nam, Sinŭiju (Tân Nghĩa Châu) ở phía tây bắc, Wŏnsan (Nguyên San) và Hamhŭng (Hàm Hưng) ở phía đông và Ch’ŏngjin (Thanh Tân) ở đông bắc.

Dân cư

Dân cư Bắc Triều Tiên là một trong những dân tộc thuộc loại thuần chủng về ngôn ngữ và sắc tộc nhất trên thế giới, với chỉ một nhóm rất nhỏ thiểu số người Trung QuốcNhật Bản. Đa số các sắc dân khác chỉ là cư trú tạm thời, chủ yếu là người Nga và dân các nước Đông Âu khác, người Trung Quốc, và người Việt Nam.

Tôn giáo

Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật được sùng kính trong nhiều mặt đời sống công cộng ở Bắc Triều Tiên, thường với những tuyên bố ngụ ý kiểu sùng kính tôn giáo. Các hoạt động tôn giáo mọi kiểu bị hạn chế khắt khe bởi quan điểm vô thần của nhà nước, đặc biệt là Tin Lành, bị coi là có liên quan tới Hoa Kỳ.
Triều Tiên có chung di sản Phật giáoKhổng giáo với Nam Triều Tiên trong lịch sử xa xưa và Thiên Chúa giáo cùng các phong trào Thiên Đạo giáo (천도교, Ch’ŏndogyo) gần đây. Bình Nhưỡng từng là trung tâm các hoạt động Thiên Chúa giáo trước khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra. Hiện nay có hai nhà thờ được nhà nước phê chuẩn cho tồn tại, mà những người ủng hộ tự do tôn giáo cho là có để trưng ra cho những vị khách nước ngoài.[48][49] Con số tính toán thông thường cho rằng có khoảng 4.000 người theo Thiên Chúa giáo ở Bắc Triều Tiên, và khoảng 9.000 người theo Tin Lành, trong tổng dân số 20 triệu người. Các hoạt động Thiên Chúa Giáo và Tin Lành, do trái ngược với quan điểm chính trị của Đảng Lao Động, bị hạn chế nghiêm ngặt.
Theo một danh sách xếp hạng do tổ chức Open Doors (“Những Cánh Cửa Mở”) đưa ra, Bắc Triều Tiên bị cho là nước ngược đãi ghê gớm nhất đối với những người Thiên chúa giáo trên thế giới.[50]
Theo thống kê số tín đồ các tôn giáo ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên phân ra như sau:

  • Vô thần: 15.460.000 (64,3% dân số, phần lớn trong số đó là tín đồ của triết lý Juche)
  • Shaman giáo truyền thống: 3.846.000 tín đồ (16% dân số)

Ngôn ngữ

Bắc Triều Tiên có chung tiếng Triều Tiên với Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) nhưng đang có sự thay đổi mạnh về ngữ pháp sau cuộc cải cách chữ viết. Có một số khác biệt về thổ ngữ bên trong cả hai miền Triều Tiên, nhưng biên giới giữa Bắc và Nam không thể hiện là một biên giới chính về ngôn ngữ. Đã xuất hiện một số khác biệt nhỏ, ban đầu là những từ được sử dụng trong những cải cách gần đây.
Sự khác biệt ngôn ngữ đáng chú ý nhất giữa hai nước Triều Tiên là ngôn ngữ viết, với việc hạn chế những từ gốc Hán trong sử dụng thông thường ở Bắc Triều Tiên. Trái lại ở Nam Triều Tiên các từ gốc Hán vẫn được sử dụng nhiều, dù trong nhiều trường hợp, như báo chí thì lại hiếm.
Việc La tinh hoá chữ viết cũng có khác biệt. Bắc Triều Tiên tiếp tục sử dụng hệ Latin hoá tiếng Triều Tiên của McCune-Reischauer trong khi đó miền Nam dùng phiên bản đã sửa đổi.

Giáo dục

Cung Thiếu nhi Mangyondae tại Bình Nhưỡng

Giáo dục tại CHDCND Triều Tiên là miễn phí bắt buộc cho đến trung học[51], các trường trước đầu những năm 1990 có phát đồng phục miễn phí cho học sinh[52]. Cách giáo dục áp dụng khả năng nghiệm suy để học sinh tích cực trong việc phát triển tính độc lập và sáng tạo của mình[53]. Giáo dục bắt buộc kéo dài mười một năm, bao gồm một năm mẫu giáo, bốn năm giáo dục tiểu học và sáu năm giáo dục trung học[54].
Hơn 8 phần trăm của chương trình học là về “Chủ tịch Vĩ đại Kim Nhật Thành” và “Đạo đức Cộng sản”. Ở trung học, các môn học “Chủ tịch Vĩ đại Kim Nhật Thành“, “Đạo đức Cộng sản”, và “Cương lĩnh Đảng Cộng Sản” chỉ chiếm 5,8 phần trăm. Những bài học môn Tiếng Triều Tiên có những đầu đề như “Kim Chính Nhật đang xem ảnh”, học sinh mẫu giáo được học các bài “Tuổi thơ của nguyên soái Kim”. Khi đọc những gì Kim Nhật Thành viết, học sinh phải đọc thật to, chậm rãi để thể hiện sự tôn kính.[cần dẫn nguồn]
Cao học không bắt buộc tại CHDCND Triều Tiên. Nó chia thành hai hệ thống: học tập giáo dục đại học và học giáo dục đại học để tiếp tục học cao hơn. Học tập giáo dục đại học bao gồm ba loại trường đại học, trung học chuyên nghiệp, và trường kỹ thuật. Tốt nghiệp thạc sĩ và nghiên cứu cấp tiến sĩ thuộc về trường đại học, hai trường đại học đáng chú ý Triều Tiên là Đại học Kim Il-sungĐại học Khoa học và Công nghệ Bình Nhưỡng cả hai đều ở Bình Nhưỡng[55].
Trường Đại học Kim Nhật Thành gồm vô số khoa như: kinh tế, lịch sử, triết học, luật, tiếng nước ngoài, văn học, địa lý, vật lý, toán, hóa, năng lượng hạt nhân, sinh học, và khoa học máy tính.[56][57] Để bắt kịp thời đại thông tin, sinh viên đại học nào có tài về máy tính sẽ được miễn nhiều môn như lý, hóa, sinh, trừ môn học chính và môn “Lịch sử cách mạng của Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật”.[57]
Bởi vì sự nhấn mạnh vào việc giáo dục liên tục cho tất cả các thành viên của xã hội nên việc giáo dục học tập khi trưởng thành hoặc làm việc nghiên cứu luôn được hỗ trợ tích cực. Trên thực tế, tất cả mọi người trong nước tham gia trong một số hoạt động giáo dục, thường là dưới hình thức “nhóm nghiên cứu nhỏ”. Đầu những năm 1990, người dân ở các vùng nông thôn đã được tổ chức vào “gia đình năm người”, những nhóm này có chức năng giáo dục và giám sát. Nhân viên văn phòng và nhà máy có hai giờ để “học thêm” sau khi làm việc mỗi ngày về các chủ đề chính trị và kỹ thuật. Các “nhà máy của kiến thức” được mở cho các công nhân học thêm các kỹ năng mới mà không cần phải nghỉ việc. Học sinh làm việc bán thời gian, nghiên cứu vào buổi tối, hoặc có những khóa học ngắn hạn chuyên sâu, có thể nghỉ làm việc trong một tháng hoặc lâu hơn. Các “nông trang của kiến thức” cũng được mở nơi lao động nông thôn có thể học để trở thành kỹ sư và trợ lý kỹ sư. Đối với công nhân và nông dân không nhận được giáo dục phổ thông thì có “trường học cho người lao động” và “trường dạy nghề cấp cao người lao động”, mặc dù đến cuối những năm 1990 những nhóm này không còn quan trọng nhưng vẫn tồn tại[56].
Bắc Triều Tiên là một trong những quốc gia có học thức cao nhất trên thế giới, với một tỷ lệ biết chữ trung bình là 99%[58]. Dù kinh tế khó khăn nhưng Triều Tiên có nhiều thành tựu về khoa học kỹ thuật và quân sự, họ có thể tự chế tạo xe tăng, tàu ngầm cỡ nhỏ, tên lửa đạn đạo… và rất có thể là cả bom nguyên tử.

Y tế

Một bệnh viện tại Bình Nhưỡng

Mặc dù bị cấm vận, Bắc Triều Tiên có một dịch vụ y tế quốc gia và hệ thống bảo hiểm y tế khá tốt[59]. Bắc Triều Tiên dành 3% tổng sản phẩm quốc nội về chăm sóc sức khỏe. Bắt đầu từ những năm 1950, CHDCND Triều Tiên nhấn mạnh về chăm sóc y tế, và giữa năm 1955 và 1986, số lượng bệnh viện đã tăng từ 285 đến 2.401 và số lượng phòng khám từ 1.020 lên 5.644[60]. Có các bệnh viện riêng cho các nhà máy và các mỏ. Kể từ 1979, y học truyền thống được nhấn mạnh nhấn mạnh và đưa vào việc chữa trị nhiều hơn.
Tuy nhiên hệ thống y tế của Bắc Triều Tiên đã bị suy giảm mạnh kể từ những năm 1990 do thiên tai, các vấn đề kinh tế, tình trạng thiếu lương thực và năng lượng. Nhiều bệnh viện và phòng khám ở Bắc Triều Tiên hiện nay không có thuốc thiết yếu, thiết bị, nước sinh hoạt và điện[61].
Hầu như 100% dân số đã tiếp cận với nước sạch và vệ sinh môi trường.[cần dẫn nguồn] Các bệnh truyền nhiễm như bệnh lao, sốt rétviêm gan B được coi là bệnh đặc hữu[62]. Tuổi thọ trung bình của người dân là 69,2 tuổi đứng hạng 151/221 trên thế giới năm 2009[63].
Theo hội Chữ thập đỏ thì họ đang cố gắng viện trợ các thiết bị y tế cho 1.700 bệnh viện và phòng khám của CHDCND Triều Tiên với 300.000 nhân viên tình nguyện và 510 trạm khám bệnh lưu động, than đá cũng được đưa đến để giúp cho các cơ sở y tế hoạt động hiệu quả trong những tháng mùa đông lạnh nhất[64].
Có nhiều thông tin trái ngược về tính hiệu quả của hệ thống y tế Triều Tiên. Tổ chức Ân xá Quốc tế cáo buộc Bắc Triều Tiên hiện nay đã thất bại trong việc đem đến cho người dân những nhu cầu chăm sóc sức khỏe cơ bản nhất, mỗi người dân chỉ được chi dưới 1 USD mỗi năm cho việc chăm sóc sức khỏe.[65] Cũng theo tổ chức này, các cuộc giải phẩu lớn tại Triều Tiên được diễn ra mà không có thuốc gây mê.[65] Chăn mền trong các bệnh viện không được giặt giũ thường xuyên, kim tiêm không được tiệt trùng, và người dân Bắc Hàn sử dụng thuốc giảm đau như là thuốc chữa bách bệnh.[65] Đa số người Triều Tiên bị suy dinh dưỡng.[65] Nhưng ngược lại, Tổ chức Y tế Thế giới mô tả hệ thống y tế Triều Tiên có những thành công “đáng ghen tị đối với các nước đang phát triển”, dù vẫn còn những thách thức bao gồm cơ sở hạ tầng bị xuống cấp, thiếu trang thiết bị và thiếu thuốc men.[66]

Đơn vị hành chính

Bản đồ Bắc Triều Tiên

Tới năm 2005, Triều Tiên gồm 2 thành phố trực thuộc trung ương (직할시, Chikhalsi, Trực hạt thị), 3 đặc khu (구, Gu, Khu) với các chức năng khác nhau, và 9 tỉnh (도, Do, Đạo).

Các tên được La tinh hoá theo hệ McCune-Reischauer như được sử dụng chính thức tại Bắc Triều Tiên; người biên tập cũng được hướng dẫn theo các kiểu đánh vần được sử dụng năm 2003 Địa lý Quốc gia Bản đồ Triều Tiên.
Tên đơn vị hành chính Han’gŭl Hán Việt hanja Năm thành lập Phân loại
P’yŏngyang 평양 Bình Nhưỡng 平壤 1946 Trực hạt thị
Rasŏn 라선 La Tiên 羅先 1993-2004, 2006 Trực hạt thị
Chagang 자강 Từ Giang 慈江 1949 Đạo
Hamgyŏng-puk 함경북 Hàm Kính Bắc 咸鏡北 1945 Đạo
Hamgyŏng-nam 함경남 Hàm Kính Nam 咸鏡南 1945 Đạo
Hwanghae-puk 황해북 Hoàng Hải Bắc 黃海北 1945 Đạo
Hwanghae-nam 황해남 Hoàng Hải Nam 黃海南 1945 Đạo
Kangwŏn 강원 Giang Nguyên 江原 1946 Đạo
P’yŏngan-puk 평안북 Bình An Bắc 平安北 1945 Đạo
P’yŏngan-nam 평안남 Bình An Nam 平安南 1945 Đạo
Ryanggang 량강 Lưỡng Giang 兩江 1954 Đạo

Các thành phố lớn

Kinh tế

Phố Kwangbok ở Bình Nhưỡng

Trẻ con trong một hợp tác xã nông nghiệp ở Wonsan, Bắc Triều Tiên

Kinh tế Bắc Triều Tiên là kinh tế công nghiệp gần như tự cung tự cấp do bị cấm vận với một nền kinh tế gần như hoàn toàn thuộc về chính phủ và phát triển theo kế hoạch nhà nước. Uỷ ban Kế hoạch Trung ương chuẩn bị, giám sát và thực hiện các kế hoạch kinh tế, trong khi một Văn phòng Tổng Công nghiệp tỉnh trong các khu vực chịu trách nhiệm về việc quản lý các cơ sở sản xuất địa phương, sản xuất, phân bổ nguồn lực và bán hàng[67].
Triều Tiên thi hành chính sách kinh tế “Songun”, nghĩa đen là “quân sự trước tiên”. Để tăng cường khả năng quốc phòng, ban lãnh đạo Triều Tiên tập trung nguồn lực quan trọng cho các mục đích quân sự. Theo đó, hơn 1/4 ngân sách nhà nước được chi cho quân đội. Điều này được thực hiện bất chấp thực tế phức tạp của thập niên 1990, khi nạn đói đã giết chết hàng chục, có thể, hàng trăm ngàn người dân thường.[68]
Với việc CHDCND Triều Tiên bị cấm vận và ra chính sách cô lập có nghĩa là việc giao dịch thương mại quốc tế cực kỳ hạn chế. Bắc Triều Tiên từng thông qua một đạo luật vào năm 1984 cho phép đầu tư nước ngoài thông qua các liên doanh[69] nhưng không thu hút được đầu tư đáng kể. Năm 1991 Khu kinh tế đặc biệt Rajin-Sonbong được thành lập để thu hút đầu tư nước ngoài từ NgaTrung Quốc[70]. Các nhà đầu tư Trung Quốc đã xây dựng con một con đường từ Rason đến Trung Quốc[71]Nga đã xây dựng các tuyến đường sắt nối vào tuyến đường sắt xuyên Siberi.
Đến năm 1998 Liên Hợp Quốc đã ra báo cáo về HDI và GDP bình quân đầu người của Bắc Triều Tiên, các số liệu cho thấy Bắc Triều Tiên đứng ở mức trung bình của chỉ số phát triển con người với 0,766 (xếp hạng 75) và GDP bình quân đầu người là $4.058[72]. Lương trung bình cho một người là $47 một tháng[73]. Mặc dù gặp các vấn đề lớn về kinh, chất lượng cuộc sống đang được cải thiện và mức lương tăng lên đều đặn[74]. Từ năm 2002, chính phủ Triều Tiên đã bắt đầu cho phép một số chợ được hoạt động[75], nhưng có thông tin cho rằng có nhiều ràng buộc như phụ nữ dưới 49 tuổi không được phép buôn bán.[76] Một số hàng hóa cũng được liệt vào quốc cấm (như phim Hàn Quốc).[77]. Thị trường tư nhân quy mô nhỏ, được gọi là “janmadang” bắt đầu hình thành trên cả nước để nhập khẩu thực phẩm và các hàng hóa khác nhau, từ mỹ phẩm đến xe máy cung cấp cho dân với để đổi lấy tiền[78][79]. Trong năm 2009, chính phủ thực hiện một cuộc đổi tiền lớn để hạn chế hoạt động của chợ đen trên khắp đất nước, nhưng thất bại, gây ra lạm phát tỷ lệ tăng vọt và cuối cùng dẫn đến việc dỡ bỏ lệnh cấm về thương mại trong thị trường tự do[80]. Bắc triều Tiên thay đổi tiền mới bằng cách gạch bỏ 2 số “0” ở tờ tiền cũ (1000 won trở thành 10 won). Người ta cho rằng việc đổi tiền này nhằm làm lộ ra lượng tài sản mà mỗi công dân có.[81]
Khẩu phần thực phẩm, nhà ở, y tế và giáo dục được cung cấp miễn phí từ nhà nước[82] và việc nộp thuế đã bị bãi bỏ từ ngày 01 tháng 4 năm 1974[83]. Để tăng năng suất nông nghiệp và công nghiệp, kể từ những năm 1960 chính phủ Bắc Triều Tiên đã thử áp dụng một số hệ thống quản lý như hệ thống làm việc Taean[84]. Hiện tại tăng trưởng GDP của CHDCNH Triền Tiên chậm nhưng ổn định. Mặc dù trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng đã dần dần tăng tốc lên với 3,7% trong năm 2008 tốc độ nhanh nhất trong gần một thập kỷ, phần lớn là do một sự tăng trưởng mạnh 8,2% trong lĩnh vực nông nghiệp[85].

Tăng trưởng GDP hàng năm[85][86]
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
1.3% 3.7% 1.2% 1.8% 2.2% 1.0% 1.6% 1.8% 3.7% 3.7%

Dựa trên các ước tính vào năm 2002 ngành chiếm ưu thế trong nền kinh tế Bắc Triều Tiên là ngành công nghiệp (43,1%) theo sau bởi các ngành dịch vụ (33,6%) và nông nghiệp (23,3%). Năm 2004 người ta ước tính rằng nông nghiệp sử dụng 37% lực lượng lao động trong khi ngành công nghiệp và dịch vụ sử dụng 63% còn lại[58]. Ngành công nghiệp chính bao gồm các sản phẩm quân sự, chế tạo máy, điện, hóa chất, khai thác mỏ, luyện kim, dệt may, chế biến thực phẩm và du lịch. Khai thác và chế biến quặng sắt cùng than là lĩnh vực mà Bắc Triều Tiên thực hiện tốt hơn nhiều so với người láng giềng Hàn Quốc phía nam – CHDCND Triều Tiên khai thác và sản xuất với sản lượng lớn hơn 10 lần cho mỗi loại hàng hóa[87].
Năm 2005 FAO đã xếp Bắc Triều Tiên đứng hạng 10 trong sản lượng thu hoạch trái cây tươi[88] và đứng thứ 19 về sản lượng táo[89]. CHDCND Triều Tiên đứng thứ 18 trong các nước sản xuất sắtkẽm nhiều nhất sau, hạng 22 về than. Ngoài ra Bắc Triều Tiên còn đứng hạng 15 về sản xuất fluorit, 12 về đồng và muối tại châu Á. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn khác trong sản xuất bao gồm chì, vonfram, than chì, magiê, vàng, pyrit, fluoritthủy điện[58].

Nạn đói

Phương Tây ước tính nạn đói ở Bắc Triều Tiên đã làm chết 160.000 và 840.000 người trong thập kỷ 1990[90]. Tới năm 1999, lương thực và cứu trợ nhân đạo đã làm giảm số người chết vì nạn đói, nhưng việc Bắc Triều Tiên tiếp tục chương trình vũ khí hạt nhân dẫn tới giảm sút viện trợ quốc tế.
Mùa xuân năm 2005, Chương trình lương thực thế giới báo cáo rằng các điều kiện gây ra nạn đói là một mối nguy hiểm và đang quay trở lại Triều Tiên, và chính phủ đã thông báo tập hợp hàng triệu cư dân thành phố tới giúp đỡ những người nông dân[91][92]. Tuy nhiên, chính phủ Triều Tiên báo rằng sản lượng lương thực 2005 đạt tới 1.6 triệu tấn (tăng 0,1% so với năm 2001), bội thu nhất trong 9 năm.
Vào khoảng tháng 9 năm 2005, Triều Tiên từ chối nhận những viện trợ lương thực từ bên ngoài vì tuyên bố đã có thể tự lập và phát hiện nhiều nhóm cứu trợ là điệp viên phá hoại nền nông nghiệp của Triều Tiên. Nhưng một số chuyên gia lo sợ nếu chấm dứt trợ giúp thì sẽ có nhiều người chết đói ở Triều Tiên.[93]
Theo Tổ chức Ân xá quốc tế cáo buộc thì người dân ở đây đang phải ăn cả cỏ dại,[94] vỏ[94]rễ cây[95][96] để sống qua ngày. Theo tổ chức này, trong khi chính phủ Bắc Triều Tiên không đủ khả năng nuôi sống dân chúng nhưng họ vẫn đang từ chối hợp tác toàn diện với cộng đồng quốc tế để nhận viện trợ lương thực.[94]
Hãng tin ABC News của Úc cho biết họ có 1 đoạn video từ “một nhà báo giấu tên” ở Bắc Triều Tiên, không rõ thời điểm và địa điểm quay. Trong video có những trẻ em Bắc Triều Tiên đang sống lang thang, mồ côi do cha mẹ chết đói hoặc bị bắt vào trại cải tạo.[10] Đài này còn cho rằng hiện nay nạn đói đã lan đến quân đội của Bắc Triều Tiên, lực lượng thường được ưu tiên về lương thực. Đoạn video trích lời một binh sĩ Bắc Triều Tiên trẻ tuổi: “Mọi người đều ốm yếu, trong 100 đồng chí của tôi thì một nửa bị suy dinh dưỡng.”[10] Trong khi đó, những người dân thiếu đói đang phải lao động để hoàn tất một đường ray xe lửa dành riêng cho đồng chí Kim Chính Ân (Kim Jong-Un)[10], người sắp kế vị cha mình.[9][10] Cũng như những thông tin khác của phương Tây về Bắc Triều Tiên, tính xác thực của đoạn video không được kiểm chứng vì tính khép kín của đất nước này.
Tuy nhiên, Chương trình Lương thực Thế giới báo cáo rằng: dù suy dinh dưỡng và thực phẩm thiếu thốn là khá phổ biến tại Triều Tiên, nhưng người dân ở đây không hề bị nạn đói đe dọa[97]

Văn hoá

Có một sự sùng bái cá nhân rộng rãi đối với Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật, và đa số văn học, âm nhạc đại chúng, nhà hát, phim ảnh ở Bắc Triều Tiên đều là để ca ngợi hai lãnh đạo,mặt khác nhiều tác phẩm cũng ca ngợi sự đi lên của xã hội mới,tình yêu thương giữa nhân dân và lãnh đạo…. Tháng 7, 2004, Quần thể kinh thành và lăng mộ Cao Câu Ly là địa điểm đầu tiên ở Bắc Triều Tiên được đưa vào danh sách Các di sản văn hoá thế giới của UNESCO.
Một sự kiện đại chúng ở Bắc Triều Tiên là thể dục đồng diễn. Màn đồng diễn lớn nhất gần đây được gọi là “Arirang“. Nó được trình diễn sáu tối một tuần trong hai tháng và có hơn 100.000 người tham gia. Màn đồng diễn gồm nhảy múa, thể dục và múa kiểu ba lê để kỷ niệm lịch sử Bắc Triều Tiên và Đảng Lao động. Màn đồng diễn được tổ chức ở Bình Nhưỡng tại nhiều địa điểm (tuỳ theo tầm vóc của lễ hội theo từng năm) kể cả ở Nhà hát Lớn Mùng 1 Tháng 5.

Du lịch

Vùng Kŭmgangsan

Theo nguyên tắc, bất kỳ ai cũng được phép du lịch tới Bắc Triều Tiên, và những ai có thể hoàn thành quá trình làm thủ tục thì đều không bị Bắc Triều Tiên từ chối cho nhập cảnh. Khách du lịch không được đi thăm thú bên ngoài vùng đã được cho phép trước mà không được hướng dẫn viên người Triều Tiên cho phép nhằm tránh các điệp viên nằm vùng.
Những khách du lịch có hộ chiếu Hoa Kỳ nói chung đều không được cấp visa, dù vẫn có một số ngoại lệ từng xảy ra vào năm 1995, 2002, và 2005. Bắc Triều Tiên đã thông báo cho những nhà tổ chức du lịch rằng họ sẽ cấp visa cho những người mang hộ chiếu Hoa Kỳ vào năm 2006. Các công dân Hàn Quốc cần có giấy phép đặc biệt của cả hai chính phủ mới được vào Bắc Triều Tiên. Năm 2002, vùng xung quanh Kŭmgangsan (núi Kim Cương), một ngọn núi đẹp gần biên giới Hàn Quốc, đã được chỉ định làm một địa điểm du lịch đặc biệt Khu du lịch Kŭmgangsan, nơi các công dân Nam Triều Tiên không cần giấy phép đặc biệt. Các tour du lịch do các công ty tư nhân điều hành đã đưa hàng nghìn người dân ở miền nam bán đảo Triều Tiên tới núi Kim Cương hàng năm.
Tháng 7 năm 2005 công ty Hyundai của Hàn Quốc đã đạt được một thoả thuận với chính phủ Triều Tiên về việc mở cửa thêm nhiều khu du lịch, gồm cả núi núi Paektu (Bạch Đầu) và Kaesŏng (Khai Thành).
Ngày 11 tháng 7 năm 2008, một nữ du khách Hàn Quốc bị 1 lính Bắc Triều Tiên bắn chết tại khu nghỉ mát núi Kŭmgang của Bắc Triều Tiên. Chính quyền Seoul đã ngưng lại chương trình du lịch núi Kŭmgang và đưa ra yêu cầu điều tra vụ việc trước khi cho phép dự án được khởi động trở lại, nhưng Bắc Triều Tiên cho đến nay vẫn từ chối đáp ứng.[98]

Điện ảnh

Hãng phim lớn nhất của Triều Tiên là Xưởng phim truyện Triều Tiên với một trường quay rộng khoảng 930.000 m² ở ngoại ô Bình Nhưỡng. Các hãng phim lớn khác ở Triều Tiên có thể kể tới Xưởng phim tài liệu Triều Tiên, Xưởng phim mùng 8 tháng 2 và Xưởng phim Khoa học và Giáo dục Triều Tiên (SEK Studio). Hãng SEK đã thực hiện các công đoạn sản xuất cho sê-ri phim hoạt hình của Mondo TV như King Lion Simba và Pocahontas. Năm 2005, SEK cũng là hãng phim Triều Tiên thực hiện dự án điện ảnh hợp tác đầu tiên của hai miền, đó là bộ phim hoạt hình Thẩm Thanh Vương hậu (왕후 심청, Wanghu Simcheong).
Do tính chất cô lập cao độ của chính quyền Triều Tiên nên thông tin về sự phát triển và các tác phẩm của nền điện ảnh nước này rất ít được thế giới biết tới. Trái lại, phim truyền hình của Hàn Quốc, đối thủ của Bắc Triều Tiên,[36][37] được biết đến ở nhiều nước, đặc biệt ở các nước châu Á, và các diễn viên Hàn Quốc rất được yêu thích.
Ở Bắc Triều Tiên, xem phim Hàn Quốc là một tội nghiêm trọng và có thể bị tử hình. Năm 2013, 10.000 người đã được triệu tập tới một sân vận động ở Wonsan để chứng kiến việc xử tử 8 phạm nhân bị kết tội xem các bộ phim truyền hình Hàn Quốc trái phép.[99][100]

Chương trình hạt nhân

Chính phủ Triều Tiên đã có một chương trình hạt nhân mà theo họ là đủ khả năng tạo ra bom hạt nhân, và họ đã 2 lần thử bom hạt nhân dưới lòng đất. Chương trình hạt nhân này thường gây ra tranh cãi trên bình diện quốc tế.

Thống nhất và đối đầu

Bắc Triều Tiên đã từng có chủ trương thống nhất bán đảo Triều Tiên bằng vũ lực và đã có cuộc chiến nhằm thống nhất quốc gia. Chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên luôn gây lo ngại cho Nam Triều Tiên và nhiều nước láng giềng. Khi Nam Triều Tiên tuyên bố sẽ tấn công phủ đầu nhằm phá huỷ các cơ sở vũ khí hạt nhân nếu Bắc Triều Tiên tìm cách phát động một cuộc chiến tranh hạt nhân thì chính phủ Bắc Triều Tiên cũng đe doạ sẽ huỷ diệt Nam Triều Tiên.[101]
Mọi thứ sẽ tan thành tro bụi chứ không chỉ là một biển lửa một khi chúng ta ra đòn phủ đầu.“Hoặc gần đây họ tiếp tục đe dọa vì các nhà hoạt động xã hội Nam Triều Tiên thả truyền đơn chống đối qua biên giới, cũng như việc báo giới Nam Triều Tiên đăng tin sức khỏe nhà lãnh đạo Kim Jong-Il đang xấu đi.
Những con rối Seoul cần nhớ rằng Triều Tiên có khả năng tấn công phủ đầu và hủy diệt mọi thứ, biến chúng thành tro bụi chứ không chỉ đẩy chúng vào biển lửa”Vì theo Bình Nhưỡng khả năng tấn công phủ đầu của họ là “ngoài sức tưởng tượng và sức tàn phá còn mạnh hơn vũ khí nguyên tử[102].
Ngày 23 tháng 11, 2010, Quân đội Triều Tiên nã pháo vào Yeonpyeong của Hàn Quốc làm chết hai lính thủy, 16 lính khác và hơn mười người thường dân Hàn Quốc bị thương.[103][104][105][106]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ BBC Vietnamese – Thế giới – Ảnh vệ tinh hé lộ bí ẩn Bắc Hàn
  2. ^ DPRK has quietly amended its Constitution (Bản mẫu:Webcite)
  3. ^ a ă Bureau of East Asian and Pacific Affairs (tháng 4 năm 2007). “Background Note: North Korea”. United States Department of State. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2007.
  4. ^ “Armed forces: Armied to the hilt”. The Economist. 19 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2011.
  5. ^ Anthony H. Cordesman (21 tháng 7 năm 2011). The Korean Military Balance. Center for Strategic & International Studies. ISBN 978-0-89206-632-2. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2011. “The DPRK is one of the most militarized countries in the world. It has extraordinarily large anti-aircraft holdings, nearly twice the artillery strength of the Republic of Korea (South Korea), as well as a major advantage in self-propelled artillery and a massive lead in multiple rocket launchers.”
  6. ^ International Space Dominance: 7 Nations Launching the Next Space Race, Popular Mechanics, 1 October 2009
  7. ^ http://lcweb2.loc.gov/frd/cs/pdf/CS_North-Korea.pdf
  8. ^ Hiến pháp Triều Tiên 1998, phần Giới thiệu.
  9. ^ a ă â Bình Nhưỡng kỷ niệm 65 năm thành lập Đảng Lao động
  10. ^ a ă â b c N Korean children begging, army starving
  11. ^ BBC Vietnamese – Thế giới – Kim Jong-un là ‘Tổng Tư lệnh Tối cao’
  12. ^ VietNamNet – Triều Tiên quyết bảo vệ Kim Jong-un tới chết | Trieu Tien quyet bao ve Kim Jong-un toi chet
  13. ^ VietNamNet – Kim Jong-un đứng đầu đảng, quân đội Triều Tiên | Kim Jong-un dung dau dang, quan doi Trieu Tien
  14. ^ BBC Vietnamese – Thế giới – Bắc Hàn kêu gọi dân làm lá chắn sống
  15. ^ BBC Vietnamese – Thế giới – Bắc Hàn: ‘Đừng mong chúng tôi thay đổi’
  16. ^ VietNamNet – Triều Tiên tuyên bố không thay đổi chính sách | Trieu Tien tuyen bo khong thay doi chinh sach
  17. ^ Hiến pháp Triều Tiên 1998, Điều 87.
  18. ^ Hiến pháp Triều Tiên 1998, Điều 88.
  19. ^ Hiến pháp Triều Tiên 1998, Điều 111.
  20. ^ ” Background Note: North Korea”, US Department of State, October, 2006.
  21. ^ Армии стран мира: К, soldiering.ru
  22. ^ Library of Congress country study, see p. 19 – Major Military Equipment
  23. ^ Order of Battle – North Korea, MilAviaPress
  24. ^ North Korea Country Study (2009), Library of Congress, pp.288-293 (on PDF reader)
  25. ^ North Korea Appears Capable of Jamming GPS Receivers, globalsecurity.org, 7 October 2010
  26. ^ North Korea ‘develops stealth paint to camouflage fighter jets’, The Daily Telegraph, 23 August 2010
  27. ^ North Korea’s Human Torpedoes, DailyNK, 06-05-2010
  28. ^ “New Threat from N.Korea’s ‘Asymmetrical’ Warfare”. English.chosun.com. The Chosun Ilbo (English Edition). 29 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2010.
  29. ^ North Korea’s military aging but sizable, CNN, 25 November 2010
  30. ^ “Report on Implementation of 2009 Budget and 2010 Budget”. Korean Central News Agency. 09.
  31. ^ The Hidden Gulag: Exposing North Korea’s Prison Camps Prisoners’ Testimonies and Satellite Photographs
  32. ^ Video shows harsh life in N. Korean camp
  33. ^ Death, terror in N. Korea gulag
  34. ^ Access to Evil
  35. ^ http://www.kcna.co.jp/item/2005/200512/news12/23.htm#3
  36. ^ a ă Bình Nhưỡng dọa hủy diệt Hàn Quốc
  37. ^ a ă Triều Tiên dọa biến Hàn Quốc thành tro bụi
  38. ^ a ă VN+: Hàn Quốc viện trợ bột mỳ đợt hai cho Triều Tiên
  39. ^ Bắc Hàn đồng ý nhận cứu trợ từ Nam Hàn
  40. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên chosun
  41. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên shanghaiist
  42. ^ a ă Kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập Đảng Lao động Triều Tiên
  43. ^ a ă Thông tin cơ bản về CHDCND Triều Tiên và quan hệ Việt Nam – Triều Tiên
  44. ^ N Korea admits Vietnam war role
  45. ^ Asia Times
  46. ^ North Korea fought in Vietnam War
  47. ^ BBC Vietnamese – Việt Nam – Kim Jong-il qua đời: phản ứng từ VN
  48. ^ “Annual Report of the United States Commission on International Religious Freedom”. Truy cập 1 tháng 2. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  49. ^ “N Korea stages Mass for Pope”. BBC.
  50. ^ “WWL: Focus on the Top Ten”. http://sb.od.org.
  51. ^ North Korea – Education Overview, Library of Congress.
  52. ^ “Political Life Launched by Chosun Children’s Union”. Daily NK. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2010.
  53. ^ “Educational themes and methods”. Lcweb2.loc.gov. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2010.
  54. ^ “Primary and Secondary education”. Lcweb2.loc.gov. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2010.
  55. ^ “North Korea – Higher education.”. Lcweb2.loc.gov. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2010.
  56. ^ a ă North Korea EDUCATION
  57. ^ a ă North Korea: Education Revolution In Progress
  58. ^ a ă â “Korea, North”. The World Factbook. 2009. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2010.
  59. ^ Library of Congress country study, see p. 8 – Health
  60. ^ North Korea Public Health, Country Studies
  61. ^ “N Korea healthcare ‘near collapse’”. BBC News. 18 tháng 11 năm 2008.
  62. ^ “Life Inside North Korea”. U.S. Department of State. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2008.
  63. ^ “CIA – The World Factbook — Country Comparison:: Life expectancy at birth”. The World Factbook. Central Intelligence Agency. 2009. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2009.
  64. ^ Calgary Doctor Returns from North Korea- Canadian Red Cross
  65. ^ a ă â b North Korea’s crumbling health system in dire need of aid
  66. ^ http://www.bbc.co.uk/news/world-asia-pacific-10665964
  67. ^ Local factories in North Korea, Interview by staff reporter, Joon Ang Ilbo, taken from Tong-il Hankuk newspaper, 14 March 2002
  68. ^ BAODATVIET.VN | Quân đội Triều Tiên và 2 cuộc chuyển giao
  69. ^ http://www.jstor.org/pss/2644057
  70. ^ “North Korean Economy Watch » Blog Archive » Scott Snyder on Rason”. Nkeconwatch.com. 5 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2010.
  71. ^ “North Korean Economy Watch » Blog Archive » Bridge on China-North Korea border being renovated”. Nkeconwatch.com. 13 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2010.
  72. ^ “Human Development Report 1998”. United Nations Development Programme. 1998. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2009.
  73. ^ Welcome to North Korea. Rule No. 1: Obey all rules, Steve Knipp, Contributor to The Christian Science Monitor. December 2, 2004.
  74. ^ Ryu, Yi-geun; Daniel Rakove (30 tháng 5 năm 2007). “[Feature] In reclusive North, signs of economic liberalization”. The Hankyoreh (The Hankyoreh Media Company). Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2009.
  75. ^ Báo Tuổi Trẻ
  76. ^ BBC
  77. ^ BBC
  78. ^ Jangmadang Will Prevent “Second Food Crisis” from Developing, DailyNK, 2007-10-26
  79. ^ 2008 Top Items in the Jangmadang, The DailyNK, 1 January 2009
  80. ^ Kim Jong Eun’s Long-lasting Pain in the Neck, TheDailyNK, 30 November 2010
  81. ^ Báo Tuổi Trẻ
  82. ^ “COUNTRY PROFILE: NORTH KOREA”. Library of Congress – Federal Research Division. Tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2009.
  83. ^ “DPRK–Only Tax-free Country”. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2009.
  84. ^ “The Taean Work System”. Lcweb2.loc.gov. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2010.
  85. ^ a ă “NK’s Economy Records 1st Growth in 3 Years”. Koreatimes.co.kr. 28 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010.
  86. ^ Basic information on the Democratic People’s Republic of Korea, Ministry of foreign affairs of Bulgaria.
  87. ^ In limited N.Korean market, furor for S.Korean products, The Hankyoreh, January 6, 2011
  88. ^ “MAJOR FOOD AND AGRICULTURAL COMMODITIES AND PRODUCERS – Countries by commodity”. UN FAO Statistics Division. 2005. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2009.
  89. ^ “MAJOR FOOD AND AGRICULTURAL COMMODITIES AND PRODUCERS – Countries by commodity”. UN FAO Statistics Division. 2005. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2009.
  90. ^ “Economist details North Korean plight”. Truy cập 14 tháng 9. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  91. ^ “North Korea, Facing Food Shortages, Mobilizes Millions From the Cities to Help Rice Farmers”. Truy cập 12 tháng 5. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  92. ^ “North Korea’s problem with food”. Truy cập 24 tháng 12. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  93. ^ “Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên tuyên bố không cần viện trợ lương thực”. Truy cập 23 tháng 9. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  94. ^ a ă â Starving North Koreans forced to survive on diet of grass and tree bark
  95. ^ BBC: N Koreans eating twigs
  96. ^ http://www.atimes.com/atimes/Korea/JD30Dg01.html Asia Times: North Korea stoic in the face of famine
  97. ^ http://www.wfp.org/countries/korea-democratic-peoples-republic-dprk/overview
  98. ^ KBS World: Kỷ niệm 3 năm ngày du khách Hàn bị bắn chết tại núi Geumgang của Bắc Triều Tiên
  99. ^ Triều Tiên “xử tử 80 người vì xem phim Hàn”
  100. ^ Triều Tiên tử hình 80 người vì xem phim Hàn Quốc
  101. ^ Bình Nhưỡng dọa hủy diệt Hàn Quốc Thứ hai, 31/3/2008, 07:24 GMT+7
  102. ^ Triều Tiên dọa biến Hàn Quốc thành tro bụi Thứ ba, 28/10/2008, 16:29 GMT+7
  103. ^ Kim, Kwang-Tae (22 tháng 11 năm 2010). “SKorea: NKorea Fires Artillery Onto Island”. Associated Press. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2010.
  104. ^ “(URGENT) Four S. Korean soldiers wounded by N. Korean artillery fire: military officials”. Yonhap News Agency. 23 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2010.
  105. ^ Branigan, Tania (23 tháng 11 năm 2010). “Artillery fire on Korean border”. guardian.co.uk (Guardian). Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2010.
  106. ^ “Artillery fire on Korean border”. BBC Online. BBC. 23 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2010.

Đọc thêm

Liên kết ngoài

Những liên kết tới Chính phủ CHDCND Triều Tiên

Các website về CHDCND Triều Tiên

Các trang web chỉ trích CHDCND Triều Tiên

Các tài liệu về CHDCND Triều Tiên


Tajikistan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ҷумҳурии Тоҷикистон
Flag of Tajikistan.svg Emblem of Tajikistan.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Tajikistan
Quốc ca
Surudi milli
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa
Tổng thống
Thủ tướng
Emomali Rahmon
Oqil Oqilov
Ngôn ngữ chính thức tiếng Tajik
Thủ đô Dushanbe
38°33′B, 68°48′Đ
Thành phố lớn nhất Dushanbe
Địa lý
Diện tích 143.100 km² (hạng 92)
Diện tích nước 0,3% %
Múi giờ UTC+5
Lịch sử
9 tháng 9 năm 1991 Tuyên bố
25 tháng 12năm 1991 Hoàn toàn độc lập
Dân cư
Dân số ước lượng (2006) 7.320.815 người (hạng 100)
Dân số (2003) 7.011.556 người
Mật độ 51 người/km² (hạng 120)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 8.826 tỷ đô la Mỹ
HDI (2003) 0,652 trung bình (hạng 122)
Đơn vị tiền tệ Somoni (TJS)
Thông tin khác
Tên miền Internet .tj

Cộng hòa Tajikistan (phiên âm tiếng Việt: Ta-gi-ki-xtan; tiếng Tajik: Ҷумҳурии Тоҷикистон) là một quốc gia ở vùng Trung Á. Tajikistan giáp với Afghanistan về phía nam, Uzbekistan về phía tây, Kyrgyzstan về phía bắc, và Trung Quốc về phía đông. Trước khi Liên Xô tan rã, Tajikistan là một trong 15 nước cộng hòa của đất nước rộng nhất thế giới này, khi đó Tajikistan được gọi là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Tajikistan.
Thủ đô của Tajikistan là Dushanbe (Душанбе), đây cũng là thành phố lớn nhất với dân số khoảng 562 nghìn (theo thống kê năm 2000).

Từ nguyên

Tajikistan có nghĩa “Vùng đất của người Tajik” trong tiếng Ba Tư. Một số người tin rằng cái tên Tajik là chỉ một khu vực địa lý của vương quốc (Taj) thuộc Pamir Knot, nhưng đây chỉ là một truyền thuyết dân gian. Từ “Tajik” đã được sử dụng để phân biệt người Iran với người Turk tại Trung Á, bắt đầu ngay từ thế kỷ thứ 10. Có lẽ nó bắt nguồn từ “Taji,” một trong những họ của những kẻ xâm lược Ả Rập-Hồi giáo trong thời kỳ cải đạo sang Đạo Hồi của Trung Á và sự sáp nhập nó vào vương quốc Hồi giáo. Chữ k thêm vào cuối cùng có thể cho mục đích hài âm trong câu cố định “Turk-o Tajik” (“Người Turk và Người Tajik”) mà trong lịch sử ngôn ngữ Ba Tư được coi là có tính thể hiện thành ngữ tương đương “tất cả mọi người”.
Theo một số nguồn, cái tên Tajik (cũng được đánh vần là Tadjik, Tajik) chỉ một nhóm người được cho là một trong những hậu duệ trực tiếp và thuần chủng nhất của người Aryan cổ. Đất nước của họ được gọi là Aryana Vajeh và cái tên “Taa-jyaan” nguồn gốc của từ Tajik đã được đề cập trong The Avesta. Gathas của Zoroaster cũng hướng tới khán giả Aryan và có nhiều dẫn chứng đề cập tới cộng đồng này tại “ngôi nhà” của người Aryan.
Tajikistan thường được viết thành Tadjikistan hay Tadzhikistan trong tiếng Anh. Cách dịch thành Tadjikistan hay Tadzhikistan là từ tiếng Nga Таджикистан. (Trong tiếng Nga không có chữ j đơn để thể hiện âm vị /ʤ/ và дж, hay dzh, được dùng thay thế.) Tadzhikistan là kiểu đánh vần thường gặp nhất và được sử dụng rộng rãi trong tiếng Anh cũng xuất phát từ tiếng Nga. Tadjikistan là cách đánh vần trong tiếng Pháp cũng thỉnh thoảng xuất hiện trong các văn bản ngôn ngữ tiếng Anh. Trong ký tự Perso-Arabic, “Tajikistan” được viết là تاجیکستان.
Hiện có sự tranh cãi về thuật ngữ chính xác được sử dụng để xác định người dân Tajikistan. Từ Tajik từng là thuật ngữ được dùng từ lâu để miêu tả người dân Tajikistan và đã xuất hiện rộng rãi trong văn học. Nhưng nền chính trị kiểu sắc tộc tại Trung Á đã khiến Tajik trở thành một từ gây tranh cãi, bởi nó ngụ ý rằng Tajikistan chỉ là quốc gia của người Tajik chứ không phải của các sắc tộc Uzbek, Nga, vân vân. Tương tự, sắc tộc Tajik sống tại các quốc gia khác, như Trung Quốc, cũng khiến thuật ngữ này trở thành mơ hồ. Ngoài ra, người Pamiri tại Gorno-Badakhshan cũng đang tìm cách tạo lập một cộng đồng sắc tộc có đặc điểm khác biệt với người Tajik. Hiện có sự đồng thuận ngày càng tăng rằng người Tajikistan (Tajikistani), không phải là một sắc tộc riêng biệt và gồm cả sắc tộc Tajik cũng như phi Tajik, là thuật ngữ chính xác nhất để gọi người dân nước này[cần dẫn nguồn]. Thuật ngữ tajik đã từng được sử dụng rộng rãi như từ đồng nghĩa của “người Ba Tư” và “người Iran” cho tới tận đầu thế kỷ 21.[cần dẫn nguồn]

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Tajikistan

Buổi đầu

Lãnh thổ hiện là Tajikistan từng có người cư trú liên tục từ 4.000 năm trước Công nguyên[cần dẫn nguồn]. Nó từng nằm dưới sự cai quản của nhiều đế quốc trong suốt lịch sử, giai đoạn dài nhất là thuộc Đế chế Ba Tư. Trước Công nguyên, đây là một phần của Đế chế Bactria. Người Ả Rập đã đưa Đạo Hồi tới đây ở thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên. Đế chế Samanid Ba Tư đã thay thế người Ả Rập và xây dựng các thành phố SamarkandBukhara, sau này sẽ trở thành các trung tâm văn hoá của người Tajiks (cả hai hiện đều thuộc Uzbekistan). Người Mông Cổ sau này kiểm soát một phần Trung Á, và cuối cùng là vùng đất ngày nay bao gồm cả Tajikistan trở thành một phần của tiểu vương quốc Ả Rập Bukhara. Một cộng đồng người Do Thái, nhỏ bị xua đuổi khỏi Trung Đông sau khi người Babylon chiếm nơi này, đã di cư tới đây và định cư từ khoảng năm 600 trước Công Nguyên, dù đa số người Do Thái ở đây là những người di cư tới Tajikistan trong thế kỷ 20.

Sự hiện diện của người Nga

Trong thế kỷ 19, Đế chế Nga bắt đầu mở rộng tới Trung Á trong Great Game, và nắm quyền kiểm soát Tajikistan. Sau khi Đế quốc Nga bị lật đổ năm 1917, những đội quân du kích xuất hiện khắp Trung Á, được gọi là basmachi tiến hành cuộc chiến tranh chống lại các đội quân Bolshevik trong một nỗ lực vô vọng nhằm duy trì độc lập. Người Bolsheviks giành chiến thắng sau cuộc chiến kéo dài bốn năm, trong đó các thánh đường Hồi giáo và các làng mạc bị đốt cháy và dân chúng bị đàn áp khốc liệt. Chính quyền Xô viết đã khởi động một chiến dịch thế tục hoá, những hành động thực hành tôn giáo Hồi giáo, Do Thái giáo, và Thiên chúa giáo bị trừng trị[cần dẫn nguồn], các thánh đường Hồi giáo, nhà thờ, và thánh đường Do Thái bị đóng cửa.

Tajikistan thời Xô viết

Năm 1924, nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Tự trị Tajik được thành lập như một phần của Uzbekistan, nhưng vào năm 1929 nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Tajik trở thành một nước cộng hòa lập hiến riêng biệt. Các thành phố với chủ yếu người Tajik như SamarkandBukhara vẫn thuộc nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Uzbekistan. Về điều kiện sống, giáo dục và công nghiệp Tajikistan đều ở mức thấp hơn các nước Cộng hòa Xô viết[cần dẫn nguồn]. Trong thập niên 1970, những người Hồi giáo bất đồng quan điểm bắt đầu thành lập các đảng bí mật[cần dẫn nguồn] và tới cuối thập niên 1980 những người Tajik theo chủ nghĩa quốc gia đã lên tiếng yêu cầu được gia tăng quyền lực. Nhưng sự bất ổn thật sự chỉ diễn ra tại nước cộng hòa này từ năm 1990. Năm sau đó, Liên bang Xô viết sụp đổ, và Tajikistan tuyên bố độc lập.

Độc lập

Bài chi tiết: Nội chiến Tajikistan

Quốc gia này hầu như ngay lập tức rơi vào một cuộc nội chiến với nhiều phe phái đánh lẫn nhau, các phe này thường thuộc các dòng họ khác nhau. Những người dân không theo Đạo Hồi, đặc biệt là người Nga và người Do Thái, đã bỏ chạy khỏi đất nước trong giai đoạn này, vì sự khủng bố, tình trạng nghèo đói gia tăng và các cơ hội kinh tế ở phương Tây cùng các nước cộng hòa khác thuộc Xô viết cũ. Emomali Rahmonov lên nắm quyền năm 1992, và tiếp tục cầm quyền tới ngày nay. Tuy nhiên, ông đã bị buộc tội thanh lọc sắc tộc chống lại các sắc tộc và nhóm người khác trong Nội chiến Tajikistan. Năm 1997, một thỏa thuận ngừng bắn giữa Rahmonov và các đảng đối lập (Liên minh Đối lập Tajik) được ký kết. Cuộc bầu cử hòa bình được tổ chức năm 1999, nhưng đã có những báo cáo của phe đối lập về tình trạng gian dối, và Rahmonov được tái cử nhờ hầu hết các phiếu vô danh. Quân đội Nga đã đồn trú ở phía nam Tajikistan, nhằm bảo vệ biên giới với Afghanistan, cho tới mùa hè năm 2005. Từ các vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, quân đội Hoa KỳPháp cũng đã đồn trú tại quốc gia này.

Chính trị

Bài chi tiết: Chính trị Tajikistan
Xem thêm: Nhân quyền Tajikistan

Người Tajiks hiện đại tự hào coi Đế chế Samanid Ba Tư là quốc gia Tajik đầu tiên trong lịch sử. Công trình này nằm ở thủ đô Dushanbe của Tajikistan kỷ niệm Saman Khuda, tổ tiên của Samanids một nguồn gốc chủ nghĩa quốc gia Tajik.

Hầu như ngay sau khi giành lại độc lập, Tajikistan rơi vào một cuộc nội chiến với nhiều phe phái, được cho là được Nga và Iran hậu thuẫn, đánh lẫn nhau. 25.000 trong số 400.000 người Nga, từng hầu hết làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, đã bỏ chạy về Nga. Tới năm 1997, cuộc chiến giảm nhiệt, và một chính phủ trung ương bắt đầu hình thành, với những cuộc bầu cử hòa bình năm 1999.
“Những nhà quan sát có thời gian nghiên cứu Tajikistan lâu dài thường cho rằng quốc gia này có tình trạng đối nghịch sâu sắc và khó tiến hành cải cách, một đặc điểm chính trị tiêu cực là dấu vết của cuộc nội chiến phá hủy đất nước,” Ilan Greenberg đã viết trong một bài báo trên tờ The New York Times ngay trước cuộc bầu cử tổng thống tháng 11 năm 2006 tại nước này[1].
Tajikistan chính thức là một nhà nước cộng hoà, và tổ chức các cuộc bầu cử Tổng thốngNghị viện. Cuộc bầu cử gần đây nhất diễn ra năm 2005, và giống như tất cả các cuộc bầu cử trước đó, những nhà quan sát nước ngoài tin rằng có tình trạng gian dối, khiến các đảng chính trị đối lập lên tiếng phản đổi rằng Tổng thống Emomali Rahmon đã thao túng cuộc bầu cử.
Cuộc bầu cử ngày 6 tháng 11 năm 2006 đã bị các đảng chính trị đối lập “chính” tẩy chay, gồm cả Đảng Phục hưng Hồi giáo với 23.000 thành viên. Bốn đảng phản đối khác “all but endorsed the incumbent”, Rakhmon[1]. Sau cuộc bầu cử Tổng thống tháng 11 năm 2006, đa số người dân tinh rằng Rahmon đã tìm cách để ít nhất nắm quyền thêm hai nhiệm kỳ nữa, cho phép ông tại vị đến tận năm 2020. [cần dẫn nguồn]
Tới ngày nay Tajikistan là một trong số ít quốc gia tại Trung Á có phe đối lập hoạt động mạnh trong chính phủ. Tại Nghị viện, các nhóm đối lập thường xung đột với đảng cầm quyền, nhưng điều này không gây ra tình trạng bất ổn lớn.

Phân chia hành chính

Bài chi tiết: Tỉnh Tajikistan

Tajikistan gồm 4 đơn vị hành chính: 2 tỉnh (viloyat) (SughdKhatlon), 1 tỉnh tự trị (Gorno-Badakhshan), và Vùng Lệ thuộc Cộng hoà (trước kia được gọi là Tỉnh Karotegin).

Phân chia ISO 3166-2 Thủ phủ Diện tích (km vuông) Dân số (2000) Key
Sughd TJ-SU Khujand 26.100 1.870.000 1
Vùng Lệ thuộc Cộng hoà TJ-RR Dushanbe 28.400 1.338.000 2
Khatlon TJ-KT Qurghonteppa 24.600 2.150.000 3
Gorno-Badakhshan TJ-BG Khorugh 63.700 206.000 4

Mỗi vùng gồm nhiều quận (được gọi là “nohiya”).

Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Tajikistan

Hình vệ tinh Tajikistan

Núi Tajikistan

Tajikistan nằm kín trong lục địa, và là nước nhỏ nhất vùng Trung Á tính theo diện tích. Nước này có dãy Pamir, và hơn năm mươi phần trăm diện tích nằm ở độ cao trên 3.000 mét (khoảng 10.000 ft) trên mực nước biển. Các vùng đất thấp chính nằm ở phía bắc là một phần của Thung lũng Fergana, và ở phía nam các thung lũng Kafirnigan và Vakhsh hình thành nên Amu Darya và là nơi có lượng mưa cao hơn. Dushanbe nằm ở sườn phía nam trên thung lũng Kafirnigan.
Sông Amu DaryaPanj là biên giới với Afghanistan, và các dãy núi của Tajikistan là nguồn chính của các dòng sông đổ vào Biển Aral
Khoảng 1% diện tích lãnh thổ là các hồ:

Núi Độ cao Vị trí
Đỉnh độc lập 7.174 m 23.537 ft     Biên giới phía bắc trong Dãy Xuyên Alay
Đèo Kyzylart 4.280 m 14.042 ft     Biên giới phía bắc trong Dãy Xuyên Alay
Đỉnh Ismoil Somoni Peak (cao nhất) 7.495 m 24.590 ft     North of the Tỉnh tự trị Gorno-Badakhshan
Đỉnh Avicenna 6.974 m 22.881 ft     phía bắc Đỉnh Ismoil Somoni
Đỉnh Korzhenievski 7.105 m 23.310 ft     Tỉnh tự trị Gorno-Badakhshan
Qatorkuhi Akademiyai Fanho 6.785 m 22.260 ft     Tỉnh tự trị Gorno-Badakhshan
Đỉnh Concord 5.469 m 17.943 ft     Biên giới phía nam trong chỏm bắc của Dãy Karakoram
Qullai Karl Marks 6.726 m 22.067 ft     Biên giới phía nam trong chỏm bắc của Dãy Karakoram
Qullai Mayakovskiy 6.096 m 20.000 ft     Dọc biên giới với Afghanistan.

Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Tajikistan

Tajikistan là nước nghèo nhất vùng Trung Á cũng như trong số các nước cộng hòa thuộc Liên bang Xô viết cũ. Nguồn ngoại tệ của nước này phụ thuộc mong manh vào các khoản xuất khẩu bông và nôm, kinh tế rất dễ bị ảnh hưởng từ các cú sốc bên ngoài. Trong năm tài chính 2000, trợ giúp quốc tế vẫn là nguồn tài chính chủ yếu cho các chương trình tái thiết để tái hòa nhập những chiến binh thời nội chiến vào nền kinh tế dân sự, giúp duy trì hòa bình. Hỗ trợ quốc tế cũng là khoản tiền cần thiết để giải quyết vấn đề do nạn hạn hán năm thứ hai liên tiếp dẫn tới tình trạng sụt giảm trong sản xuất lương thực. Ngày 21 tháng 8 năm 2001, Chữ thập đỏ Quốc tế thông báo rằng một nạn đói đang hoành hành tại Tajikistan, và kêu gọi sự trợ giúp quốc tế cho Tajikistan và Uzbekistan. Kinh tế Tajikistan đã tăng trưởng ổn định sau chiến tranh. Theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới, GDP của Tajikistan tăng trưởng ở mức trung bình 9.6% trong giai đoạn 2000-2004. Sự tăng trưởng này giúp cải thiện tình trạng của Tajikistan so với các quốc gia Trung Á khác (là Turkmenistan và Uzbekistan), những nước dường như đang trải qua quá trình suy giảm kinh tế[2]. Tajikistan là một thành viên tích cực của Tổ chức Hợp tác Kinh tế (ECO).
Một cây cầu mới giữa Afghanistan và Tajikistan đang được xây dựng sẽ giúp nước này có đường tiếp cận với những con đường thương mại với Nam Á. Tuyến đường này cũng giúp làm giảm giá nhiều loại hàng nhập khẩu, và khiến người dân Tajikistan dễ dàng hơn trong việc di chuyển tới các quốc gia Nam Á lân cận bằng đường bộ. Trước kia, chưa hề có một cây cầu nào giữa hai nước. Cây cầu này do Hoa Kỳ xây dựng[3].

Buôn lậu thuốc phiện

Buôn lậu thuốc phiện là một nguồn thu nhập chính tại Tajikistan[4] bởi nước này là điểm dừng chân quan trọng của ma tuý Afghanistan trên con đường tới Nga, và ở mức độ thấp hơn, là các thị trường Tây Âu; một số loài cây anh túc cũng đang được trồng trong phục vụ cho nhu cầu trong nước. Tajikistan đứng thứ ba thế giới về số lượng herointhuốc phiện nguyên liệu tịch thu được[5]. Số tiền có được từ buôn lậu thuốc phiện đang làm băng hoại chính phủ quốc gia; theo một số chuyên gia những nhân vật quan trọng ở cả hai bên giới tuyến trong cuộc nội chiến và đang giữ những chức vụ quan trọng trong chính phủ sau thỏa thuận ngừng bắn hiện đều liên quan tới hoạt động buôn bán thuốc phiện[4].

Nhân khẩu

Bài chi tiết: Nhân khẩu Tajikistan

Tajikistan có dân số 7.320.716 người (ước tính tháng 7 năm 2006). Người Tajiks nói tiếng Tajik là nhóm sắc tộc chính, dù cũng có một cộng đồng thiểu số Uzbeks đáng kể và một nhóm nhỏ người Nga, số lượng hai cộng đồng này đang giảm sút vì tình trạng di cư. Người Pamiri của Badakhshan được coi thuộc nhóm người Tajiks lớn hơn. Tương tự, ngôn ngữ chính thức của Tajikistan là tiếng Tajik, tuy nhiên tiếng Nga được sử dụng rộng rãi trong kinh doanh và trong hoạt động của chính phủ. Dù có tình trạng nghèo đói, Tajikistan có tỷ lệ người biết chữ cao, ước tính lên tới 98% dân số biết đọc viết. Đa số dân theo dòng Hồi giáo Sunni, dù một số lượng đáng kể tín đồ Hồi giáo Shi’a cũng tồn tại. Người Do Thái Bukharian đã sống tại Tajikistan từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, nhưng hiện tại chỉ vài người Do Thái còn ở lại nước này. Cũng có một nhóm nhỏ người Yaghnobi, họ từng sống tại các khu vực đồi núi Sughd Viloyat trong nhiều thế kỷ.
Bộ Lao động và An sinh xã hội Tajik thông báo rằng có 104.272 người tàn tật tại Tajikistan (2000). Nhóm người này bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi tình trạng nghèo đói tại Tajikistan. Chính phủ Tajik và Ngân hàng Thế giới đang xem xét các chương trình hỗ trợ cho nhóm người này[6].

Văn hoá

Bài chi tiết: Văn hoá Tajikistan

Về mặt lịch sử, người Tajik và người Ba Tư có tổ tiên rất giống nhau với một ngôn ngữ chung và liên quan tới như một phần của nhóm người Iran lớn hơn. Văn hoá Tajik có thể chia làm hai khu vực, Thành thị và Kuhiston (Cao nguyên). Các thị trấn nhỏ như Bukhara, Samarkand, Herat, Balkh và Nishopur Khiva hiện không còn là một phần quốc gia nữa. Các trung tâm gần đây hơn là Dushanbe (thủ đô), Khudjand, Kulob, Panjikent và Istarvshan.
Người Yaghnobi sống tại các khu vực núi non phía bắc Tajikistan. Con số người Yagnobians hiện ước tính khoảng 250.000 người. Những cuộc di cư cưỡng bách đã làm suy giảm số dân Yaghnobi. Họ nói tiếng Yaghnobi, có nguồn gốc từ ngôn ngữ Sogdian.

Tôn giáo

Hồi giáo Sunni đã được cộng nhận là tôn giáo chính thức bởi chính phủ từ năm 2009.[7] Tajikistan coi mình là một nhà nước thế tục với một Hiến pháp quy định quyền tự do tôn giáo. Chính phủ đã tuyên bố hai ngày lễ Hồi giáo, Eid al-AdhaIdi Qurbon, như ngày lễ nhà nước. Theo một báo cáo được Bộ Ngoại giao Mỹ phát hành năm 2009, 98% dân số theo Hồi giáo, (khoảng 95% người Hồi giáo Sunni và Shia 3%).[8] 2% còn lại của dân số là tín đồ của Chính Thống giáo Nga, Tin Lành, Công giáo, Phật giáoHỏa giáo.

Xem thêm

Tham khảo và cước chú

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên greenberg
  2. ^ “BBC’s Guide to Central Asia”. BBC News. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2006.
  3. ^ US Army Corps of Engineer, Afghanistan-Tajikistan Bridge
  4. ^ a ă Silk Road Studies, COUNTRY FACTSHEETS, EURASIAN NARCOTICS: TAJIKISTAN 2004
  5. ^ CIA World Factbook. Tajikistan, transnational issues
  6. ^ “Tajikistan – Poverty Reduction Strategy Paper (PRSP) and joint assessment”. World Bank. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2006.
  7. ^ [1][[]][liên kết hỏng]
  8. ^ http://www.state.gov/r/pa/ei/bgn/5775.htm

Đọc thêm

  • Historical Dictionary of Tajikistan by Kamoludin Abdullaev and Shahram Akbarzadeh
  • Land Beyond the River: The Untold Story of Central Asia by Monica Whitlock
  • Tajikistan: Disintegration or Reconciliation by Shirin Akiner
  • Tajikistan: The Trials of Independence by Shirin Akiner, Mohammad-Reza Djalili and Frederic Grare

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Cộng đồng Kinh tế Âu Á