Chào ngày mới 8 tháng 8


CNM365. Chào ngày mới 8 tháng 8. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1967 – thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tại Bangkok, Thái Lan. Năm 2008 – khai mạc Thế vận hội Bắc Kinh 2008. Ngày Toàn dân rèn luyện sức khoẻ tại Trung Quốc[2]. Năm 1975 – Do mưa lớn bắt nguồn từ hoàn lưu bão Nina, hàng chục đập bị vỡ tại lưu vực Hoài Hà thuộc tỉnh Hà Nam, khiến khoảng 22,9 vạn người thiệt mạng.

 

 

8 tháng 8

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 8 tháng 8 là ngày thứ 220 (221 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 145 ngày trong năm.

« Tháng 8 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30 31

Sự kiện

Đế quốc Việt Nam dưới sự điều hành của chính phủ Trần Trọng Kim thu hồi chủ quyền trên xứ Nam Kỳ

Sinh

Mất

Ngày lễ và kỷ niệm

Ngày Toàn dân rèn luyện sức khoẻ tại Trung Quốc[2]; ngày của Cha tại Đài Loan[3].

Tham khảo

Chào ngày mới 8 tháng 8

ASEAN HQ 1.jpg

CNM365 Chào ngày mới 8 tháng 8 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Toàn dân rèn luyện sức khoẻ tại Trung Quốc; ngày của Cha tại Đài LoanNăm 1945Chiến tranh thế giới thứ hai: Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản, sau đó mở đầu Chiến dịch Mãn Châu. Năm 1946 – Máy bay ném bom chiến lược Convair B-36 có chuyến bay đầu tiên, là một trong những loại máy bay chiến đấu lớn nhất từng được sản xuất. Năm 1967Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (hình) được thành lập với một tuyên bố tại Bangkok, Thái Lan. Năm 2008Thế vận hội Mùa hè 2008 chính thức được khai mạc ở Sân vận động quốc gia tại thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc.

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ASEAN
Cờ ASEAN Huy hiệu ASEAN
Khẩu hiệu
“Một tầm nhìn, một bản sắc, một cộng đồng”
Bài hát ca ngợi
The ASEAN Way
Vị trí của ASEAN
Nơi đặt Ủy ban Thư ký Cờ của Indonesia Jakarta
Thành phố lớn nhất Cờ của Indonesia Jakarta
Ngôn ngữ hành chính
Các quốc gia thành viên
Chính phủ Tổ chức khu vực
 • Tổng thư ký Cờ của Việt Nam Lê Lương Minh
 • Chủ tịch Hội nghị Cờ của Brunei Brunei
Thành lập
 • Tuyên ngôn Bangkok 8 tháng 8 năm 1967
 • Hiến chương 16 tháng 12 năm 2008
Diện tích
 • Tổng số 4,464,322 km²
2,772,344 mi²
Dân số
 • Ước lượng 2010 601 triệu
 • Mật độ 135 /km²
216 /sq mi
GDP (PPP) Ước tính 2010
 • Tổng số $ 3.084 nghìn tỷ [1]
 • Bình quân đầu người $ 5,131
GDP (danh nghĩa) Ước tính 2010
 • Tổng số $ 1.800 nghìn tỷ
 • Bình quân đầu người $ 2,995
HDI (2011) Green Arrow Up Darker.svg 0.625[2] (medium) (hạng 120)
Đơn vị tiền tệ
Múi giờ ASEAN (UTC+9 đến +6:30)
Tên miền Internet
Trang web
http://www.asean.org/
Mã số điện thoại
1 Nếu xem như một thực thể độc lập.
2 Các chỉ số cơ bản chính của ASEAN
3 Tăng dân số hàng năm 1.6%

The Secretariat of ASEAN at Jalan Sisingamangaraja No.70A, South Jakarta, Indonesia.

The flags of 10 ASEAN members.

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (tiếng Anh: Association of Southeast Asian Nations, viết tắt là ASEAN) là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóaxã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Tổ chức này được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 với các thành viên đầu tiên là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, và Philippines, để biểu hiện tinh thần đoàn kết giữa các nước trong cùng khu vực với nhau, đồng thời hợp tác chống tình trạng bạo động và bất ổn tại những nước thành viên. Sau Hội nghị Bali năm 1976, ASEAN xúc tiến chương trình cộng tác kinh tế, nhưng các nỗ lực đều đi đến bế tắc vào giữa thập niên 1980. Phải đợi đến năm 1991 khi Thái Lan đề phát thành lập khu vực thương mại tự do thì khối mậu dịch ASEAN mới hình thành. Hàng năm, các nước thành viên đều luân phiên tổ chức các cuộc hội họp chính thức để tăng cường hợp tác. Tính đến năm 1999, ASEAN gồm có 10 quốc gia thành viên (chỉ chừa Đông Timo chưa kết nạp).
ASEAN bao gồm một diện tích đất 4,46 triệu km², là 3% tổng diện tích đất của Trái Đất, và có một dân số khoảng 600 triệu người, 8,8% dân số thế giới. Vùng biển của ASEAN là ba lần lớn hơn so với đất. Trong năm 2010, kết hợp GDP danh nghĩa tại ASEAN đã phát triển thành USD 1,8 nghìn tỷ.[3] Nếu ASEAN là một thực thể duy nhất, quốc gia đó sẽ xếp hạng trong các nền kinh tế lớn thứ 10 trên thế giới, sau Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Đức, Nga, Pháp, Canada, Tây Ban Nha, Brazil, Anh, và Ý.

Lịch sử

Tiền thân của ASEAN là tổ chức có tên Hiệp hội Đông Nam Á, thường được gọi tắt là ASA. ASA là một liên minh thành lập năm 1961 gồm ba nước Philippines, Malaysia và Thái Lan. Ngày 8 tháng 8 năm 1967, khi các bộ trưởng ngoại giao của năm quốc gia – Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, và Thái Lan – gặp gỡ tại Bộ ngoại giao Thái Lan ở Bangkok đã ra Tuyên bố ASEAN, thường được gọi là Tuyên bố Bangkok để nhập ASA cùng với Indonesia và Singapore thành ASEAN. Năm ngoại trưởng – Adam Malik của Indonesia, Narciso Ramos của Philippines, Abdul Razak của Malaysia, S. Rajaratnam của Singapore, và Thanat Khoman của Thái Lan – được coi là những sáng lập viên của tổ chức này.[4]
Ba động lực tạo ra ASEAN là mục đích xây dựng đất nước, tinh thầnh chống cộng, và mục tiêu phát triển kinh tế. Các quốc gia trong vùng khi đã mất tin tưởng vào vào các cường quốc bên ngoài đã tìm đến nhau trong bối cảnh của thập niên 1960 hầu hỗ trợ lẫn nhau. Đối với Indonesia thì nước này còn có tham vọng bá chủ trong khu vực trong khi Malaysia và Singapore thì lại muốn dùng ASEAN để kiềm chế Indonesia, đưa nước này vào một khuôn khổ mang tính hợp tác hơn. Khác với Liên minh châu Âu với mô hình phân giảm quyền hành tập trung ở mỗi quốc gia, ASEAN có mục đích bảo vệ và chấn hưng chủ nghĩa quốc gia.[5]
Năm 1976, nhà nước Melanesian Papua New Guinea được trao quy chế quan sát viên.[6] Trong suốt thập niên 1970, tổ chức này bám vào một chương trình hợp tác kinh tế, sau Hội nghị thượng đỉnh Bali năm 1976. Nó đã giảm giá trị hồi giữa thập niên ’80 và chỉ được hồi phục khoảng năm 1991 nhờ một đề xuất của Thái Lan về một khu vực tự do thương mại cấp vùng. Sau đó khối này mở rộng khi Brunei Darussalam trở thành thành viên thứ sáu sau khi gia nhập ngày 8 tháng 1 năm 1984, chỉ một tuần sau khi họ giành được độc lập ngày 1 tháng 1.[7]
Ngày 28 tháng 7 năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên thứ bảy.[8] Lào và Myanmar gia nhập hai năm sau ngày 23 tháng 7 năm 1997.[9] Campuchia đã dự định gia nhập cùng Lào và Myanmar, nhưng bị trị hoãn vì cuộc tranh giành chính trị nội bộ. Nước này sau đó gia nhập ngày 30 tháng 4 năm 1999, sau khi đã ổn định chính phủ.[9][10]
Trong thập niên1990, khối có sự gia tăng cả về số thành viên cũng như khuynh hướng tiếp tục hội nhập. Năm 1990, Malaysia đề nghị thành lập một Diễn đàn Kinh tế Đông Á[11] gồm các thành viên hiện tại của ASEAN và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Nhật Bản và Hàn Quốc, với mục tiêu cân bằng sự gia tăng ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) cũng như tại vùng châu Á như một tổng thể.[12][13] Tuy nhiên, đề xuất này đã thất bại bởi nó gặp sự phản đối mạnh mẽ từ Nhật Bản và Hoa Kỳ.[12][14] Dù vậy, các quốc gia thành viên tiếp tục làm việc để hội nhập sâu hơn. Năm 1992, kế hoạch Biểu thuế Ưu đãi Chung (CEPT) được ký kết như một thời gian biểu cho việc từng bước huỷ bỏ các khoản thuế và như một mục tiêu tăng cường lợi thế cạnh tranh của vùng như một cơ sở sản xuất hướng tới thị trường thế giới. Điều luật này sẽ hoạt động như một khuôn khổ cho Khu vực Tự do Thương mại ASEAN. Sau cuộc Khủng hoảng Tài chính Đông Á năm 1997, một sự khôi phục lại đề nghị của Malaysia được đưa ra tại Chiang Mai, được gọi là Sáng kiến Chiang Mai, kêu gọi sự hội nhập tốt hơn nữa giữa các nền kinh tế của ASEAN cũng như các quốc gia ASEAN Cộng Ba (Trung Quốc, Nhật Bản, và Hàn Quốc).[15]
Bên cạnh việc cải thiện nền kinh tế của mỗi quốc gia thành viên, khối cũng tập trung trên hoà bình và sự ổn định của khu vực. Ngày 15 tháng 12 năm 1995, Hiệp ước Đông Nam Á Không Vũ khí Hạt nhân đã được ký kết với mục tiêu biến Đông Nam Á trở thành Vùng Không Vũ khí Hạt nhân. Hiệp ước có hiệu lực ngày 28 tháng 3 năm 1997 nhưng mới chỉ có một quốc gia thành viên phê chuẩn nó. Nó hoàn toàn có hiệu lực ngày 21 tháng 6 năm 2001, sau khi Philippines phê chuẩn, cấm hoàn toàn mọi loại vũ khí hạt nhân trong vùng.[16]

Hình vệ tinh của lớp khói bụi năm 2006 trên Borneo

Sau khi thế kỷ 21 bắt đầu, các vấn đề chuyển sang khuynh hướng môi trường hơn. Tổ chức này bắt đầu đàm phán các thoả thuận về môi trường. Chúng bao gồm việc ký kết Thoả thuận về Ô nhiễm Khói bụi Xuyên biên giới ASEAN năm 2002 như một nỗ lực nhằm kiểm soát ô nhiễm khói bụi ở Đông Nam Á.[17] Không may thay, nó không thành công vì những vụ bùng phát khói bụi Malaysia năm 2005khói bụi Đông Nam Á năm 2006. Các hiệp ước môi trường khác do tổ chức này đưa ra gồm Tuyên bố Cebu về An ninh Năng lượng Đông Á,[18] the ASEAN-Wildlife Enforcement Network in 2005,[19]Đối tác Châu Á Thái Bình Dương về Phát triển Sạch và Khí hậu, cả hai đều nhằm giải quyết những hiệu ứng có thể xảy ra từ sự thay đổi khí hậu. Thay đổi khí hậu cũng là vấn đề được quan tâm hiện nay.
Trong Hiệp ước Bali II năm 2003, ASEAN đã tán thành khái niệm hoà bình dân chủ, có nghĩa là mọi thành viên tin rằng các quá trình dân chủ sẽ thúc đẩy hoà bình và ổn định trong khu vực. Tương tự, các thành viên phi dân chủ đều đồng ý rằng đây là điều mà mọi quốc gia thành viên đều mong muốn thực hiện.[20]
Các lãnh đạo của mỗi nước, đặc biệt là Mahathir Mohamad của Malaysia, cũng cảm thấy sự cần thiết hội nhập hơn nữa của khu vực. Bắt đầu từ năm 1997, khối đã thành lập các tổ chức bên trong khuôn khổ của họ với mục tiêu hoàn thành tham vọng này. ASEAN Cộng Ba là tổ chức đầu tiên trong số đó được thành lập để cải thiện những quan hệ sẵn có với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Tiếp đó là Hội nghị thượng đỉnh Đông Á còn rộng lớn hơn, bao gồm tất cả các nước trên cùng Ấn Độ, Úc và New Zealand. Nhóm mới này hoạt động như một điều kiện tiên quyết cho Cộng đồng Đông Á đã được lên kế hoạch, dự định theo mô hình của Cộng đồng châu Âu hiện đã không còn hoạt động nữa. Nhóm Nhân vật Nổi bật ASEAN đã được tạo ra để nghiên cứu những thành công và thất bại có thể xảy ra của chính sách này cũng như khả năng về việc soạn thảo một Hiến chương ASEAN.
Năm 2006, ASEAN được trao vị thế quan sát viên của Đại hội đồng Liên hiệp quốc.[21] Đổi lại, tổ chức này trao vị thế “đối tác đối thoại” cho Liên hiệp quốc.[22] Hơn nữa, ngày 23 tháng 7 năm đó, José Ramos-Horta, khi ấy là Thủ tướng Đông Timor, đã ký một yêu cầu chính thức về vị thế thành viên và hy vọng quá trình gia nhập sẽ kết thúc ít nhất năm năm trước khi nước này khi ấy đang là một quan sát viên trở thành một thành viên chính thức.[23][24]
Năm 2007, ASEAN kỷ niệm lần thứ 40 ngày khởi đầu, và 30 năm quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ.[25] Ngày 26 tháng 8 năm 2007, ASEAN nói rằng các mục tiêu của họ là hoàn thành mọi thoả thuận tự do thương mại của Tổ chức này với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc và New Zealand vào năm 2013, vùng với việc thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào năm 2015.[26][27] Tháng 11 năm 2007 các thành viên ASEAN đã ký Hiến chương ASEAN, một điều luật quản lý mọi quan hệ bên trong các thành viên ASEAN và biến ASEAN thành một thực thể luật pháp quốc tế.[cần dẫn nguồn] Cùng trong năm ấy, Tuyên bố Cebu về An ninh Năng lượng Đông Á tại Cebu ngày 15 tháng 1 năm 2007, của ASEAN và các thành viên khác của EAS (Úc, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc), khuyến khích an ninh năng lượng bằng cách tài trợ vốn cho các nghiên cứu về năng lượng thay thế cho các loại nhiên liệu quy ước.June 2009[cần dẫn nguồn]
Ngày 27 tháng 2 năm 2009 một Thoả thuận Tự do Thương mại giữa 10 quốc gia thành viên khối ASEAN và New Zealand cùng đối tác thân cận của họ là Úc đã được ký kết, ước tính rằng Thoả thuận Tự do Thương mại này sẽ làm tăng GDP của 12 quốc gia lên thêm hơn US$48 tỷ trong giai đoạn 2000-2020.[28][29]

Các thành viên

██ Thành viên đầy đủ ASEAN
██ Quan sát viên ASEAN
██ Ứng cử viên ASEAN
██ ASEAN + 3
███ Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á
██████ Diễn đàn Khu vực ASEAN

Hiện nay, tổ chức này gồm 10 quốc gia thành viên được liệt kê theo ngày gia nhập:

Cơ cấu tổ chức

Bộ máy hoạt động của ASEAN được quy định như sau:

  1. Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN (ASEAN Summit): Đây là cơ quan quyền lực cao nhất của hiệp hội, họp chính thức 1 năm 1 lần.
  2. Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (ASEAN Ministerial Meeting-AMM): theo Tuyên bố Băng cốc năm 1967, AMM là hội nghị hàng năm của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN có trách nhiệm đề ra và phối hợp các hoạt động của ASEAN, có thể họp không chính thức khi cần thiết.
  3. Hội nghị bộ trưởng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Ministers-AEM):AEM họp chính thức hàng năm và có thể họp không chính thức khi cần thiết. Trong AEM có hội đồng AFTA được thành lập theo quyết định của hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 4 tại Singapore.
  4. Hội nghị Bộ trưởng các ngành: Hội nghị Bộ trưởng của một ngành trong hợp tác kinh tế ASEAN sẽ được tổ chức khi cần thiết để thảo luận sự hợp tác trong ngành cụ thể đó. Hiện có Hội nghị Bộ trưởng năng lượng, Hội nghị Bộ trưởng Nông nghiệp, Lâm nghiệp. Các Hội nghị Bộ trưởng ngành có trách nhiệm báo cáo lên AEM.
  5. Các hội nghị bộ trưởng khác: Hội nghị Bộ trưởng của các lĩnh vực hợp tác ASEAN khác như y tế, môi trường, lao động, phúc lợi xã hội, giáo dục, khoa học và công nghệ, thông tin, luật pháp có thể được tiến hành khi cần thiết để điều hành các chương trình hợp tác trong các lĩnh vực này.
  6. Hội nghị liên Bộ trưởng (Join Ministerial Meeting-JMM):JMM được tổ chức khi cần thiết để thúc đẩy sự hợp tác giữa các ngành và trao đổi ý kiến về hoạt động của ASEAN. JMM bao gồm các Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Kinh tế ASEAN.
  7. Tổng thư ký ASEAN: Được những Người đứng đầu Chính phủ ASEAN bổ nhiệm theo khuyến nghị của Hội nghị AMM với nhiệm kỳ là 3 năm và có thể gia hạn thêm, nhưng không quá một nhiệm kỳ nữa; có hàm Bộ trưởng với quyền hạn khởi xướng, khuyến nghị và phối hợp các hoạt động của ASEAN, nhằm giúp nâng cao hiệu quả các hoạt động và hợp tác của ASEAN. Tổng thư ký ASEAN được tham dự các cuộc họp các cấp của ASEAN, chủ toạ các cuộc họp của ASC thay cho Chủ tịch ASC trừ phiên họp đầu tiên và cuối cùng. Tổng thư ký hiện nay là ông Lê Lương Minh.
  8. Uỷ ban thường trực ASEAN (ASEAN Standing Committee-ASC): ASC bao gồm chủ tịch là Bộ trưởng Ngoại giao của nước đăng cai Hội nghị AMM sắp tới, Tổng thư ký ASEAN và Tổng Giám đốc của các Ban thư ký ASEAN quốc gia. ASC thực hiện công việc của AMM trong thời gian giữa 2 kỳ họp và báo cáo trực tiếp cho AMM.
  9. Cuộc họp các quan chức cao cấp (Senior Officials Meeting-SOM): SOM được chính thức coi là một bộ phận của cơ cấu trong ASEAN tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 3 tại Manila 1987. SOM chịu trách nhiệm về hợp tác chính trị ASEAN và họp khi cần thiết; báo cáo trực tiếp cho AMM.
  10. Cuộc họp các quan chức kinh tế cao cấp (Senior Economic Officials Meeting-SEOM): SEOM cũng đã được thể chế hoá chính thức thành một bộ phận của cơ cấu ASEAN tại Hội nghị Cấp cao Manila 1987. Tại hội nghị Cấp cao ASEAN 4 năm 1992, 5 uỷ ban kinh tế ASEAN đã bị giải tán và SEOM được giao nhiệm vụ theo dõi tất cả các hoạt động trong hợp tác kinh tế ASEAN. SEOM họp thường kỳ và báo cáo trực tiếp cho AEM.
  11. Cuộc họp các quan chức cao cấp khác: Ngoài ra có các cuộc họp các quan chức cao cấp về môi trường,ma tuý cũng như của các uỷ ban chuyên ngành ASEAN như phát triển xã hội, khoa học và công nghệ, các vấn đề công chức, văn hoá và thông tin. Các cuộc họp này báo cáo cho ASC và Hội nghị các Bộ trưởng liên quan.
  12. Cuộc họp tư vấn chung (Joint Consultative Meeting-JCM): Cơ chế họp JCM bao gồm Tổng thư ký ASEAN, SOM, SEOM, các Tổng giám đốc ASEAN. JCM được triệu tập khi cần thiết dưới sự chủ toạ của Tổng thư ký ASEAN để thúc đẩy sự phối hợp giữa các quan chức liên ngành. Tổng thư ký ASEAN sau đó thông báo kết quả trực tiếp cho AMM và AEM.
  13. Các cuộc họp của ASEAN với các bên đối thoại: ASEAN có 11 bên đối thoại: Úc, Canada, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, UNDP, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ.ASEAN cũng đối thoại theo từng lĩnh vực với Pakistan.

Trước khi có cuộc họp với các Bên đối thoại, các nước ASEAN tổ chức cuộc họp trù bị để phối hợp có lập trường chung. Cuộc họp này do quan chức cao cấp của nước điều phối (Coordinating Country) chủ trì và báo cáo cho ASC.

  1. Ban thư ký ASEAN quốc gia: Mỗi nước thành viên ASEAN đều có Ban thư ký quốc gia đặt trong bộ máy của Bộ Ngoại giao để tổ chức, thực hiện và theo dõi các hoạt động liên quan đến ASEAN của nước mình. Ban thư ký quốc gia do một Tổng Vụ trưởng phụ trách
  1. Ủy ban ASEAN ở các nước thứ ba: Nhằm mục đích tăng cường trao đổi và thúc đẩy mối quan hệ giữa ASEAN với bên đối thoại đó và các tổ chức quốc tế ASEAN thành lập các uỷ ban tại các nước đối thoại. Uỷ ban này gồm những người đứng đầu các cơ quan ngoại giao của các nước ASEAN tại nước sở tại. Hiện có 10 Uỷ ban ASEAN tại: Bon (Đức), Brussel (Bỉ), Canberra (Úc), Geneva (Thụy Sĩ), London (Anh), Ottawa (Canada), Paris (Pháp), Seoul (Hàn Quốc), Washington, D.C., (Hoa Kỳ), Wellington (New Zealand).
  2. Ban thư ký ASEAN: Ban thư ký ASEAN được thành lập theo Hiệp định ký tại Hội nghị Cấp cao lần thứ hai Bali,1976 tăng cường phối hợp thực hiện các chính sách, chương trình và các hoạt động giữa các bộ phận khác nhau trong ASEAN, phục vụ các hội nghị của ASEAN.

Lộ trình ASEAN

Trong thập niên 1960, sự thúc đẩy giải thực đã mang lại chủ quyền cho Indonesia và Malaysia cùng các quốc gia khác. Bởi việc xây dựng quốc gia luôn là khó khăn và dễ gặp sự can thiệp từ bên ngoài, giới cầm quyền muốn được tự do thực hiện các chính sách độc lập, với nhận thức rằng các nước láng giếng sẽ kiềm chế không can thiệp vào công việc nội bộ của họ. Về lãnh thổ, các thành viên nhỏ như Singapore và Brunei luôn lo ngại về các biện pháp bạo lực và cưỡng bức từ các nước láng giềng lớn hơn như Indonesia và Malaysia. “Thông qua đối thoại chính trị và xây dựng lòng tin, căng thẳng sẽ không leo thang thành đối đầu bạo lực trong các quốc gia thành viên ASEAN từ khi nó được thành lập hơn ba thập niên trước”.[30]
Lộ trình ASEAN có thể truy nguồn gốc từ việc ký kết Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á. “Các nguyên tắc nền tảng được thông qua trong hiệp ước này gồm: tôn trọng lẫn nhau về độc lập, chủ quyền, bình đẳng, tính toàn vẹn lãnh thổ, và bản sắc quốc gia của tất cả các nước;
quyền của mọi Nhà nước duy trì sự tồn tại quốc gia của mình không gặp trở ngại từ sự can thiệp, phá hoại, cưỡng bức từ bên ngoài;
không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
giải quyết các khác biệt hay tranh chấp bằng biện pháp hoà bình;
từ bỏ đe doạ hay sử dụng bạo lực; và
hợp tác có hiệu quả với nhau”.[31]
Ngoài mặt, quá trình tư vấn và đồng thuận được cho là một cách tiếp cận trong việc đưa ra quyết định, nhưng Lộ trình ASEAN đã được điều khiển thông qua những tiếp xúc thân cận giữa các cá nhân chỉ trong giới lãnh đạo, họ thường cùng chần chừ trong việc định chế hoá và pháp điển hoá sự hợp tác, có thể làm tổn hại tới sự kiểm soát của chế độ của họ với việc tiến hành hợp tác trong vùng. Vì thế, tổ chức có một vị thư ký điều hành.[32]
Tất cả các đặc tính trên, nói gọn là không can thiệp, không chính thức, tối thiểu hoá việc định chế hoá, tư vấn và đồng thuận, không sử dụng vụ lực và không đối đầu đã tạo thành cái được gọi là Con đường ASEAN.
Từ cuối thập niên 1990, nhiều học giả đã cho rằng nguyên tắc không can thiệp đã làm tổn hại tới những nỗ lực của ASEAN trong việc giải quyết vấn đề Myanmar, vi phạm nhân quyền và ô nhiễm khói bụi trong vùng. Tuy nhiên, với cách tiếp cận dựa trên đồng thuận, mọi thành viên trên thực tế đều có quyền phủ quyết và các quyết định thường bị giảm xuống mức mẫu thức chung thấp nhất. Có một sự tin tưởng rộng rãi rằng các thành viên ASEAN phải có một quan điểm ít cứng nhắc hơn về hai nguyên tắc chủ yếu này khi họ muốn được coi là một cộng đồng liên kết chặt chẽ và có liên quan.

Chính sách

Dù các cuộc thảo luận Track II thỉnh thoảng được nêu ra như những ví dụ về sự liên quan của xã hội dân sự trong quá trình đưa ra quyết định cấp vùng của các chính phủ và các bên thứ hai khác, các tổ chức phi chính phủ hiếm khi tiếp cận được với nó, tuy nhiên những người tham gia từ các cộng đồng hàn lâm là một nhóm 12 cố vấn. Tuy nhiên, những cố vấn này, trong hầu hết các trường hợp, có kết nối chặt chẽ với các chính phủ của họ, và sự phụ thuộc vào nguồn tài chính của chính phủ cho các hoạt động hàn lâm và liên quan tới chính sách đó, và nhiều công việc trong Track II đã từng có trải nghiệm quá trình quan liêu.[33] Những gợi ý của họ, đặc biệt trong việc hội nhập kinh tế, thường gần gũi với các quyết định của ASEAN hơn là lập trường của phần còn lại của xã hội dân sự.
Track hoạt động như một diễn đàn cho xã hội dân sự ở Đông Nam Á được gọi là Track III. Những người tham gia Track III nói chung là các nhóm dân sự xã hội đại diện cho một ý tưởng hay nhóm riêng biệt.[33] Các mạng lưới của Track III tuyên bố đại diện cho các cộng đồng và những người phần lớn ở bên ngoài các trung tâm quyền lực chính trị và không có khả năng thực hiện thay đổi hữu ích mà không có sự hỗ trợ từ bên ngoài. Track này tìm cách gây ảnh hưởng trực tiếp tới các chính sách của chính phủ bằng cách lobby, tạo áp lực qua truyền thông. Những người tham gia Track III cũng tổ chức và/hay tham gia các cuộc họp cũng như các hội nghị để tiếp cận với các quan chức của Track I.
Xem xét ba Track, rõ ràng cho tới hiện tại, ASEAN đã được điều hành bởi các quan chức chính phủ, những người khi mà các vấn đề ASEATiến sĩ Susilo Bambang Yudhoyono đã thừa nhận:
“Tất cả các quyết định về các hiệp ước, và khu vực tự do thương mại, về các tuyên bố và các kế hoạch hành động, đều do các Lãnh đạo chính phủ, các bộ trưởng và quan chức cao cấp thực hiện. Và thực tế rằng trong đông đảo đại chúng, có ít sự hiểu biết, chưa nói tới sự đánh giá, về những sáng kiến lớn mà ASEAN đang thực hiện thay mặt cho họ.” [34] N còn được quan tâm, chỉ đại diện cho chính phủ chứ không phải người dân của họ. Trong một bài diễn Indonevăn tại lễ kỷ niệm lần thứ 38 ngày thành lập ASEAN, Tổng thống đương nhiệm của sia

Các cuộc họp

Hội nghị thượng đỉnh ASEAN

Xem thêm về nội dung này tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN.

Một biểu ngữ chào mừng Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 2011 tại Jakarta

Tổ chức này tổ chức các cuộc họp, được gọi là Hội nghị thượng đỉnh ASEAN, nơi các nguyên thủ quốc gia của mỗi thành viên gặp mặt để thảo luận và giải quyết các vấn đề khu vực, cũng như để tổ chức các cuộc hội hop khác với các nước bên ngoài khối với mục đích thúc đẩy quan hệ bên ngoài.
Hội nghị Thượng đỉnh Chính thức các nhà Lãnh đạo ASEAN được tổ chức lần đầu tại Bali, Indonesia năm 1976. Cuộc họp thứ ba được tổ chức tại Manila năm 1987 và trong cuộc họp này, các lãnh đạo đã quyết định sẽ gặp nhau năm năm một lần.[35] Sau đó, hội nghị thượng đỉnh thứ tư được tổ chức tại Singapore năm 1992 nơi các nhà lãnh đạo lại đồng ý sẽ gặp gỡ thường xuyên hơn, quyết định tổ chức hội nghị thượng đỉnh ba năm một lần.[35] Năm 2001, họ quyết định gặp nhau hàng năm để giải quyết các vấn đề cấp bách ảnh hưởng tới khu vực. Các quốc gia thành viên được sắp xếp đứng ra tổ chức hội nghị thượng đỉnh theo tên nước trong bảng chữ cái ngoại trừ Myanmarvoons đã từ bỏ quyền đăng cai hội nghị năm 2006 của mình vào năm 2004 vì áp lực từ Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu.[36]
Tới tháng 12 năm 2008, Hiến chương ASEAN bắt đầu có hiệu lực và cùng với nó, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN sẽ được tổ chức hai năm một lần.
Cuộc họp thượng đỉnh chính thức diễn ra trong ba ngày. Chương trình nghị sự như sau:

  • Lãnh đạo các quốc gia thành viên sẽ tổ chức một cuộc họp nội bộ tổ chức.
  • Lãnh đạo các quốc gia thành viên sẽ tổ chức một hội thảo cùng với các ngoại trưởng của Diễn đàn Khu vực ASEAN.
  • Một cuộc họp, được gọi là ASEAN +3, được tổ chức cho các lãnh đạo của ba Đối tác Đối thoại (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc)
  • Một cuộc họp riêng rẽ, được gọi là ASEAN-CER, được tổ chức cho các lãnh đạo của hai Đối tác Đối thoại khác (Úc, New Zealand).Tháng 6 năm 2009[cần dẫn nguồn]

Hội nghị thượng đỉnh ASEAN được tổ chức luân phiên giữa các quốc gia thành viên, và quốc gia nào tổ chức thường kiêm luôn chức Chủ tịch luân phiên ASEAN, thường là vị tổng thống hay thủ tướng quốc gia đó.

Hội nghị Thượng đỉnh Chính thức ASEAN
Ngày Quốc gia tổ chức Địa điểm Chủ tịch luân phiên ASEAN
1 23–24 tháng 2 năm 1976  Indonesia Bali Soeharto
2 4–5 tháng 8 năm 1977  Malaysia Kuala Lumpur Hussein Onn
3 14–15 tháng 12 năm 1987  Philippines Manila Corazon Aquino
4 27‒29 tháng 1 năm 1992  Singapore Singapore Ngô Tác Đống
5 14‒15 tháng 12 năm 1995  Thái Lan Bangkok Banharn Silpa-archa
6 15‒16 tháng 12 năm 1998  Việt Nam Hà Nội Phan Văn Khải
7 5‒6 tháng 11 năm 2001  Brunei Bandar Seri Begawan Hassanal Bolkiah
8 4‒5 tháng 11 năm 2002  Campuchia Phnom Penh Hun Sen
9 7‒8 tháng 10 năm 2003  Indonesia Bali Megawati Soekarnoputri
10 29‒30 tháng 11 năm 2004  Lào Vientiane Bounnhang Vorachith
11 12‒14 tháng 12 năm 2005  Malaysia Kuala Lumpur Abdullah Ahmad Badawi
12 11‒14 tháng 1 năm 20071  Philippines2 Cebu Gloria Macapagal-Arroyo
13 18‒22 tháng 11 năm 2007  Singapore Singapore Lý Hiển Long
143 27 tháng 2 – 1 tháng 3 năm 2009
10-11 tháng 4 năm 2009
 Thái Lan Cha Am, Hua Hin
Pattaya
Abhisit Vejjajiva
15 23 tháng 10 năm 2009  Thái Lan Cha Am, Hua Hin
16 08-09 tháng 4 năm 2010  Việt Nam Hà Nội Nguyễn Tấn Dũng
17 28-30 tháng 10 năm 2010  Việt Nam Hà Nội
18th4 7–8 tháng 5 năm 2011  Indonesia Jakarta Susilo Bambang Yudhoyono
19th4 14–19 tháng 11 năm 2011  Indonesia Bali
20 03-04 tháng 04 năm 2012  Campuchia Phnom Penh Hun Sen
1 Bị trì hoãn từ 10‒14 tháng 12 năm 2006 vì Bão Seniang.
2 đăng cai tổ chức bởi Myanmar rút lui bởi áp lực mạnh từ phía Hoa Kỳ và EU
3 Hội nghị thượng đỉnh này gồm hai phần.
Phần đầu được dời từ 12‒17 tháng 12 năm 2008 vì cuộc khủng hoảng chính trị Thái Lan năm 2008.
Phần thứ hai bị huỷ bỏ ngày 11 tháng 4 vì những người biểu tình tràn vào nơi tổ chức hội nghị.

Trong cuộc họp thượng đỉnh thứ năm tại Bangkok, các lãnh đạo đã quyết định gặp gỡ “không chính thức” với nhau trong mỗi hội nghị chính thức:[35]

Hội nghị Thượng đỉnh Không Chính thức ASEAN
Ngày Quốc gia Chủ nhà
1 30 tháng 11 năm 1996  Indonesia Jakarta
2 14‒16 tháng 12 năm 1997  Malaysia Kuala Lumpur
3 27‒28 tháng 11 năm 1999  Philippines Manila
4 22‒25 tháng 11 năm 2000  Singapore Singapore

Hội nghị cấp cao Đông Á

Các bên tham gia Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á:

   ASEAN
   ASEAN Cộng Ba
   Các thành viên khác
   Quan sát viên

Hội nghị cấp cao Đông Á hay Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS) là một diễn đàn liên châu Á được các lãnh đạo 16 quốc gia Đông Á và khu vực tổ chức hàng năm, với ASEAN có một lập trường chỉ đạo chung. Hội nghị thượng đỉnh thảo luận các vấn đề gồm thương mại, năng lượng và an ninh và hội nghị thượng đỉnh có một vai trò trong việc xây dựng cộng đồng vùng.
Các thành viên của hội nghị gồm 10 quốc gia thành viên ASEAN cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc và New Zealand tổng cộng chiếm tới gần một nửa dân số thế giới. Nga cũng đã xin gia nhập làm thành viên cuộc họp thượng đỉnh vào vào năm 2005 là một khách mời cho EAS Đầu tiên theo lời mời của nước chủ nhà – Malaysia.[37]
Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên được tổ chức tại Kuala Lumpur ngày 14 tháng 12 năm 2005 và các cuộc họp sau đó được tổ chức sau cuộc gặp gỡ hàng năm của các lãnh đạo ASEAN.

Hội nghị Quốc gia Địa điểm Ngày Ghi chú
EAS Đầu tiên  Malaysia Kuala Lumpur 14 tháng 12 năm 2005 Nga tham gia với tư cách khách mời.
EAS Thứ hai  Philippines Thành phố Cebu 15 tháng 1 năm 2007 Được định chương trình lại từ ngày 13 tháng 12 năm 2006.
Tuyên bố Cebu về An ninh Năng lượng Đông Á
EAS Thứ ba  Singapore Singapore 21 tháng 11 năm 2007 Tuyên bố Singapore về Thay đổi Khí hậu, Năng lượng và Môi trường[38]
Đồng ý thành lập Viện Nghiên cứu Kinh tế ASEAN và Đông Á
EAS Thứ tư  Thái Lan Cha-amHua Hin 25 tháng 10 năm 2009 Ngày và địa điểm tổ chức được dời lại nhiều lần, và sau đó một Hội nghị Thượng đỉnh được lên kế hoạch ngày 12 tháng 4 năm 2009 tại Pattaya, Thái Lan đã bị huỷ bỏ vì những người biểu tình tràn vào nơi tổ chức. Hội nghị Thượng đỉnh sau đó được dời tới tháng 10 năm 2009 và lại chuyển địa điểm từ Phuket[39] tới Cha-am và Hua Hin.[40]

Hội nghị Thượng đỉnh kỷ niệm

Một hội nghị thượng đỉnh kỷ niệm là một hội nghị do một quốc gia không thuộc ASEAN tổ chức để đánh dấu một dịp kỷ niệm ngày thiết lập quan hệ giữa ASEAN và quốc gia tổ chức. Quốc gia tổ chức mời các lãnh đạo chính phủ các quốc gia thành viên ASEAN tới để thảo luận tương lai của việc hợp tác và đối tác.

Cuộc họp Chủ nhà Địa điểm Ngày Ghi chú
Hội nghị Thượng đỉnh Kỷ niệm ASEAN – Nhật Bản  Nhật Bản Tokyo 11, 12 tháng 12 năm 2003 Để kỷ niệm lần thứ 30th ngày thành lập quan hệ ASEAN và Nhật Bản. Hội nghị thượng đỉnh này cũng đáng chú ý bởi là hội nghị thượng đỉnh đầu tiên của ASEAN được tổ chức bên ngoài ASEAN và một quốc gia phi ASEAN bên ngoài vùng.
Hội nghị Thượng đỉnh kỷ niệm ASEAN – Trung Quốc  Trung Quốc Nam Ninh 30, 31 tháng 10 năm 2006 Để kỷ niệm lần thứ 15th ngày thiết lập quan hệ ASEAN và Trung Quốc
Hội nghị Thượng đỉnh Kỷ niệm ASEAN – Hàn Quốc  Hàn Quốc Jeju-do 1, 2 tháng 6 năm 2009 Để kỷ niệm lần thứ 20th ngày thiết lập quan hệ giữa ASEAN và Hàn Quốc

Diễn đàn Khu vực

Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) là một cuộc đối thoại chính thức, đa bên trong vùng châu Á Thái Bình Dương. Tới thời điểm tháng 7 năm 2007, nó gồm 27 bên tham gia. Các mục tiêu của ARF là khuyến khích đối thoại và tham vấn, và thúc đẩy xây dựng lòng tin và chính sách ngoại giao ngăn chặn trong khu vực.[41] ARF được tổ chức lần đầu năm 1994. Các bên tham gia ARF hiện tại như sau: toàn bộ thành viên ASEAN, Úc, Bangladesh, Canada, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Liên minh châu Âu, Ấn Độ, Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc, Mông Cổ, New Zealand, Pakistan, Papua New Guinea, Nga, Timor-Leste, Hoa KỳSri Lanka.[42] Trung Hoa Dân Quốc (cũng gọi là Đài Loan) đã bị trục xuất từ khi ARF thành lập, và các vấn đề về Eo biển Đài Loan không được thảo luận tại các cuộc họp của ARF cũng như được đề cập tới trong Tuyên bố của Chủ tịch ARF.

Các cuộc gặp khác

Ngoài các cuộc họp ở trên, các cuộc họp thường xuyên khác[43] cũng được tổ chức.[44] Chúng bao gồm Cuộc họp Bộ trưởng ASEAN Thường niên[45] cũng như các uỷ ban nhỏ hơn khác, như Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam Á.[46] Các cuộc họp tập trung vào các chủ đề riêng biệt, như quốc phòng[43] hay môi trường,[43][47] và do các Bộ trưởng, thay vì các nguyên thủ quốc gia tham dự.

Cộng Ba

ASEAN Cộng Ba là một cuộc họp giữa ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, và chủ yếu được tổ chức trong mỗi kỳ họp thượng đỉnh ASEAN.

Diễn đàn Hợp tác Á-Âu

Diễn đàn Hợp tác Á-Âu (ASEM) là một quá trình đối thoại không chính thức được đưa ra sáng kiến năm 1996 với mục tiêu tăng cường hợp tác giữa các quốc gia châu Á và châu Âu, đặc biệt giữa các thành viên Liên minh châu Âu và ASEAN.[48] ASEAN, được đại diện bởi vị Tổng thư ký của mình, là một trong 45 đối tác ASEM. Họ cũng chỉ định một đại diện trong ban quản lý Quỹ Á-Âu (ASEF), một tổ chức văn hoá xã hội gắn liền với cuộc Gặp gỡ.

Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN-Nga

Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN-Nga là một cuộc gặp gỡ hàng năm giữa các lãnh đạo các quốc gia thành viên và Tổng thống Nga.

Cộng đồng kinh tế

ASEAN đã nhấn mạnh trên việc hợp tác khu vực trong “ba trụ cột” về an ninh, văn hoá xã hội và hội nhập kinh tế.[49] Các nhóm khu vực đã có những thành quả lớn nhất trong hội nhập kinh tế, với mục tiêu tạo lập một Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015.[50]

Khu vực Tự do Thương mại

Nền tảng của AEC là Khu vực Tự do Thương mại ASEAN (AFTA), một kế hoạch thuế xuất ưu đãi bên ngoài chung để khuyến khích dòng chảy tự do của hàng hoá bên trong ASEAN.[50] Khu vực Tự do Thương mại ASEAN (AFTA) là một thoả thuận của các quốc gia thành viên ASEAN liên quan tới chế tạo địa phương tại mọi quốc gia ASEAN. Thoả thuận AFTA được ký ngày 28 tháng 1 năm 1992 tại Singapore.[51] Khi thoả thuận AFTA được ký lần đầu tiên, ASEAN có sáu thành viên, là, Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan. Việt Nam gia nhập năm 1995, Lào và Myanmar năm 1997, và Campuchia năm 1999. Những thành viên gia nhập sau vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các quy định của AFTA, nhưng họ đã chính thức được coi là một phần của AFTA khi họ bị yêu cầu ký thoả thuận này khi gia nhập vào ASEAN, và được trao các khung thời gian dài hơn để đạt tới các quy định về miễn giảm thuế của AFTA.[52]

Khu vực Đầu tư Toàn diện

Khu vực Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA) sẽ khuyến khích dòng chảy tự do của đầu tư bên trong ASEAN. Các nguyên tắc chính của ACIA như sau[53]

  • Mọi ngành công nghiệp đều phải được mở cửa cho đầu tư, ngoại trừ những ngành sẽ từ từ bị loại bỏ theo lộ trình
  • Quy tắc đối xử quốc gia được trao ngay lập tức cho các nhà đầu tư ASEAN với ít ngoại lệ
  • Hạn chế ngăn trở đầu tư
  • Hợp lý hoá quá trình và các thủ tục đầu tư
  • Tăng cường minh bạch
  • Tiến hành các biện pháp khuyến khích đầu tư

Việc thực hiện đầy đủ ACIA với việc loại bỏ các danh sách ngoại lệ hiện tại trong chế biến nông nghiệp, đánh cá, lâm nghiệp và khai thác mỏ được quy định vào năm 2010 cho hầu hết thành viên ASEAN và năm 2015 cho Campuchia, Lào, Myanmar, và Việt Nam.[53]

Thương mại trong Dịch vụ

Một Thoả thuận Khung của ASEAN về Thương mại trong Dịch vụ được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN tại Bangkok tháng 12 năm 1995.[54] Theo AFAS, các quốc gia thành viên ASEAN tham gia vào các vòng đàm phán tự do hoá thương mại trong dịch vụ liên tục này với mục tiêu ngày càng tạo ra các cam kết cấp độ cao hơn. Các cuộc đàm phán đã dẫn tới các cam kết đặt ra các lộ trình cho các cam kết cụ thể là một bộ phận của Thoả thuận Khung. Các lộ trình thường được gọi là các gói cam kết dịch vụ. Hiện tại, ASEAN đã ký kết bảy gói cam kết theo AFAS.[55]

Thị trường hàng không duy nhất

Thị trường Hàng không Duy nhất ASEAN (SAM), do Nhóm Làm việc Vận tải Hàng không ASEAN đệ trình, được Cuộc họp các Quan chức Vận tải Cao cấp ASEAN ủng hộ, và được các Bộ trưởng Vận tải ASEAN xác nhận, sẽ đưa ra mọt thoả thuận bầu trời mở cho khu vực vào năm 2015.[56] ASEAN SAM được mong đợi sẽ hoàn toàn tự do hoá đi lại bằng đường hàng không giữa các quốc gia thành viên, cho phép ASEAN được hưởng lợi ích trực tiếp từ sự tăng trưởng giao thông đường không trên thế giới, và cũng tự do hoá cho các dòng chảy du lịch, thương mại, đầu tư và dịch vụ giữa các quốc gia thành viên.[56][57] Bắt đầu từ ngày 1 tháng 12 năm 2008, những hạn chế trên các quyền tự do hàng không thứ ba và thứ tư giữa các thành phố thủ đô của các quốc gia thành viên về dịch vụ chở khách đường không sẽ bị xoá bỏ,[58] trong khi đó từ ngày 1 tháng 1 năm 2009, sẽ có sự tự do hoá hoàn toàn trong việc chuyên chở hàng hoá bằng hàng không trong khu vực[56][57] Tới ngày 1 tháng 1 năm 2011, quyền tự do lưu thông thứ năm giữa mọi thành phố thủ đô sẽ được tự do hoá.[59]

Các thoả thuận tự do thương mại với các quốc gia khác

ASEAN đã ký kết các thoả thuận tự do thương mại với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc, New Zealand và gần đây nhất là Ấn Độ.[60] Ngoài ra, hiện nay tổ chức này đang đàm phán thoả thuận tự do thương mại với Liên minh châu Âu.[61] Đài Loan cũng đã thể hiện sự quan tâm tới một thoả thuận với ASEAN nhưng cần vượt qua những trở ngại về ngoại giao từ Trung Quốc.[62]

Hiến chương

Bài chi tiết: Hiến chương ASEAN

Ngày 15 tháng 12 năm 2008 các thành viên ASEAN gặp gỡ tại thủ đô Jakarta của Indonesia để đưa ra một hiến chương, được ký kết tháng 11 năm 2007, với mục tiêu tiến gần hơn tới “một cộng đồng kiểu Liên minh châu Âu”.[63] Hiến chương biến ASEAN thành một thực thể pháp lý và các mục tiêu tạo lập một khu vực tự do thương mại duy nhất cho khu vực gồm 500 triệu dân. Tổng thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono đã nói rằng “Đây là một sự phát triển quan trọng khi ASEAN đang đoàn kết, hội nhập và biến mình thành một cộng đồng. Nó đã được hoàn thành khi ASEAN tìm kiếm một vai trò tích cực hơn trong các vấn đề châu Á và quốc tế ở thời điểm khi hệ thống thế giới đang trải qua một sự thay đổi chấn động,” ông thêm, đề cập tới sự thay đổi khi hậu và dịch chuyển kinh tế. Đông Nam Á không còn là một vùng bị chia rẽ, bị chiến tranh tàn phá như trong thập niên 1960 và 1970.” “Các nguyên tắc nền tảng bao gồm:

  • a) tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng sự toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc quốc gia của mọi quốc gia thành viên ASEAN;
  • b) có chung cam kết và trách nhiệm trong việc tăng cường hoà bình khu vực, an ninh và thịnh vượng;
  • c) bác bỏ sự gây hấn và đe doạ sử dụng vũ lực hay các hành động khác theo bất kỳ cách nào không thích hợp với luật pháp quốc tế;
  • d) dựa trên sự giải quyết hoà bình các tranh chấp;
  • e) không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia thành viên ASEAN;
  • f) tôn trọng quyền của mọi Quốc gia bảo đảm sự tồn tại của mình và không bị sự can thiệp, lật đổ hay ép buộc từ bên ngoài;
  • g) tăng cường tham vấn về những vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích chung của ASEAN;
  • h) trung thành với sự cai trị của pháp luật, quản lý tốt, các nguyên tắc dân chủ và định chế chính phủ;
  • i) tôn trọng các quyền tự do nền tảng, khuyến khích và bảo vệ nhân quyền, và khuyến khích công bằng xã hội;
  • j) tán thành Hiến chương Liên hiệp quốc và luật pháp quốc tế, gồm cả luật nhân đạo quốc tế, đã được tán thành bởi các quốc gia thành viên ASEAN;
  • k) tránh tham gia vào bất kỳ chính sách hay hoạt động nào, gồm cả việc sử dụng lãnh thổ của mình, được theo đuổi bởi một quốc gia thành viên hay không phải là thành viên của ASEAN hay bất kỳ một bên phi quốc gia nào, đe doạ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hay sự ổn định kinh tế chính trị của các quốc gia thành viên ASEAN;
  • l) tôn trọng những sự khác biệt văn hoá, ngôn ngữ và tôn giáo của người dân ASEAN, trong khi nhấn mạnh những giá trị chung theo tin thần thống nhất trong đa dạng;
  • m)Thúc đẩy hình thành một ASEAN hướng về nhân dân, trong đó khuyến khích mọi thành phần xã hội tham gia và hưởng lợi từ tiến trình liên kết và xây dựng cộng đồng ASEAN;
  • n) tôn trọng các quy định thương mại đa bên và các quy định của ASEAN dựa trên các chế độ cho sự áp dụng hiệu quả các cam kết kinh tế và dần giảm bớt hướng tới loại bỏ tất cả các rào cản với sự hội nhập kinh tế của khu vực, trong một nền kinh tế định hướng thị trường”.[64]

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đang diễn ra đã được coi như một mối đe doạ với những mục tiêu của bản hiến chương,[65] và cũng đặt ra ý tưởng về một cơ cấu nhân quyền sẽ được đàm phán trong cuộc hội nghị thượng đỉnh sắp tới vào tháng 2 năm 2009. Đề xuất này đã gây ra tranh cãi, bởi cơ quan này sẽ không có quyền áp đặt cấm vận hay trừng phạt các quốc gia vi phạm vào quyền của công dân nước mình và vì thế sẽ không có nhiều hiệu quả.[66]

Các hoạt động văn hoá

ASEAN có tổ chức các hoạt động văn hoá trong một nỗ lực nhằm hội nhập hơn nữa cho khu vực. Chúng gồm các hoạt động thể thao và giáo dục cũng như các giải thưởng văn chương. Các ví dụ gồm Mạng lưới Trường đại học ASEAN, Trung tâm Đa dạng sinh học ASEAN, Giải thưởng Nhà khoa học và Nhà kỹ thuật Xuất sắc ASEAN, và Học bổng ASEAN do Singapore tài trợ.

S.E.A. Write Award

S.E.A. Write Award là một giải thưởng văn học được trao hàng năm cho các nhà văn và nhà thơ Đông Nam Á từ năm 1979. Giải thưởng này hoặc được trao cho một tác phẩm riêng biệt hay như một sự công nhận với thành tựu cả đời của một nhà văn. Các tác phẩm được trao giải rất đa dạng và gồm cả thi ca, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản sân khấu, dân gian cũng như các tác phẩm hàn lâmtôn giáo. Các buổi lễ được tổ chức tại Bangkok và được chủ trì bởi một thành viên của gia đình hoàng gia Thái Lan.

ASAIHL

ASAIHL hay Hiệp hội các Định chế Cao học Đông Nam Á là một tổ chức phi chính phủ được thành lập năm 1956 với mục tiêu tăng cường các định chế cao học, đặc biệt trong giảng dạy, nghiên cứu, và dịch vụ công, với tham vọng tạo ra một bản sắc khu vực và sự phụ thuộc lẫn nhau.

Các di sản vườn quốc gia

Các Vườn quốc gia Di sản ASEAN[67] là một danh sách các vườn quốc gia được đưa ra năm 1984 và được sửa đổi năm 2004. Nó có mục đích bảo vệ các tài nguyên tự nhiên trong khu vực. Hiện có 35 khu vực như thế đang được bảo tồn, gồm Vườn Đá ngầm Biển TubbatahaVườn Quốc gia Kinabalu.[68]

Địa điểm Di sản ASEAN
Site Quốc gia Site Quốc gia
Vườn Quốc gia Alaungdaw Kathapa  Myanmar Vườn Quốc gia Biển Ao Phang-nga  Thái Lan
Vườn Tự nhiên Apo  Philippines Vườn Quốc gia Ba Bể  Việt Nam
Vườn Quốc gia Bukit Barisan Selatan  Indonesia Vườn Quốc gia Gunung Leuser  Indonesia
Vườn Quốc gia Gunung Mulu  Malaysia Vịnh Hạ Long  Việt Nam
Vườn quốc gia Hoàng Liên  Việt Nam Vườn Quốc gia Iglit-Baco  Philippines
Khu bảo tồn Hoang dã Hồ Indawgyi  Myanmar Khu bảo tồn Hoang dã Hồ Inlé  Myanmar
Vườn Quốc gia Kaeng Krachan  Thái Lan Vườn Quốc gia Kerinci Seblat  Indonesia
Vườn Quốc gia Khakaborazi  Myanmar Vườn Quốc gia Khao Yai  Thái Lan
Vườn Quốc gia Kinabalu  Malaysia Vườn Quốc gia Komodo  Indonesia
Vườn quốc gia Kon Ka Kinh  Việt Nam Khu dự trữ Hoang dã Lampi Kyun  Myanmar
Vườn Quốc gia Lorentz  Indonesia Khu bảo tồn Hoang dã Meinmhala Kyun  Myanmar
Vườn Quốc gia Biển Mu Ko SurinMu Ko Similan  Thái Lan Khu bảo tồn Nam Ha  Lào
Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng  Việt Nam Vườn Quốc gia Preah Monivong (Bokor)  Campuchia
Vườn Quốc gia Sông Puerto Princesa Subterranean  Philippines Khu bảo tồn Đẩm lầy Sungei Buloh  Singapore
Vườn Quốc gia Taman Negara  Malaysia Vườn Quốc gia Biển Tarutao  Thái Lan
Khu bảo tồn Hoang dã Tasek Merimbun  Brunei Vườn Quốc gia Thung Yai-Huay Kha Khaeng  Thái Lan
Vườn Quốc gia Đá ngầm Tubbataha  Philippines Vườn Quốc gia Ujung Kulon  Indonesia
Vườn Quốc gia Virachey  Campuchia Keraton Yogyakarta  Indonesia

Học bổng

Học bổng ASEAN là một chương trình học bổng của Singapore dành cho 9 quốc gia thành viên khác về giáo dục cấp ba, cao đẳng và đại học. Nó bao gồm nơi ăn ở, các lợi ích y tế và bảo hiểm, phí học tập và phí thi cử.[69]

Mạng lưới đại học

Mạng lưới Đại học ASEAN (AUN) là một tập hợp các trường đại học Đông Nam Á. Ban đầu nó được 11 trường đại học bên trong các quốc gia thành viên thành lập tháng 11 năm 1995.[70] Hiện tại AUN gồm 21 trường đại học tham gia.[71]

Bài ca chính thức

Thể thao

SEA Games

Southeast Asian Games, thường được gọi là SEA Games, là một sự kiện thể thao được tổ chức hai năm một lần với các vận động viên từ 11 quốc gia Đông Nam Á tham gia. Sự kiện này nằm dưới sự quản lý của Southeast Asian Games Federation và dưới sự giám sát của Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) và Hội đồng Olympic châu Á.

ASEAN Para Games

ASEAN Para Games là một sự kiện thể thao được tổ chức hai năm một lần sau mỗi kỳ SEA Games dành cho các vận động viên khuyết tật. Sự kiện này được các vận động viên của cả 11 quốc gia Đông Nam Á tham gia. ASEAN Para Games được tổ chức theo mô hình Paralympic Games, và dành cho các vận động viên khuyết tật về thể hình như khả năng vận động, khuyết tật thị giác, người mất chân tay và những người liệt não.

FESPIC Games/ Asian Para Games

FESPIC Games, cũng được gọi là Far East and South Pacific Games cho những người khuyết tật, là sự kiện thể thao lớn nhất ở vùng châu Á và Nam Thái Bình Dương. FESPIC Games đã được tổ chức chín lần và đã gặt hái thành công[72] vào tháng 12 năm 2006 tại FESPIC Games lần thứ 9 ở Kuala Lumpur, Malaysia. Sự kiện này sẽ có tên 2010 Asian Para Games và được tổ chức tại Quảng Châu, CHND Trung Hoa. Asian Para Games 2010 sẽ bắt đầu ngay sau khi ASIAD 2010 kết thúc, sử dụng luôn các cơ sở và thiết bị đã được chuyển đổi phù hợp với người khuyết tật. Lễ khai mạc Asian Para Games, sự kiện song song cho các vận động viên khuyết tật thể chất, là một sự kiện thể thao được tổ chức bốn năm một lần sau Asiad.

Football Championship

ASEAN Football Championship là một sự kiện bóng đá được tổ chức hai năm một lần bởi Liên đoàn Bóng đá ASEAN, được FIFA công nhận và với sự tham gia của các đội tuyển quốc gia Đông Nam Á. Nó được khai trương năm 1996 với tên gọi Tiger Cup, nhưng sau khi Asia Pacific Breweries ngừng hợp đồng tài trợ, “Tiger” được đổi thành “ASEAN”.

10 nước ASEAN tham gia đăng cai World Cup 2030

Chỉ trích

Các quốc gia phương Tây đã chỉ trích ASEAN về cách tiếp cận quá mềm dẻo của họ trong việc khuyến khích dân chủ và nhân quyền ở nước Myanmar do một hội đồng quân sự điều hành.[73] Dù có những lời lên án của quốc tế về vụ chính phủ sử dụng vũ lực đàn áp những người biểu tình hoà bình tại Yangon, ASEAN đã từ chối ngừng quy chế thành viên của Myanmar và cũng bác bỏ các đề xuất áp dụng trừng phạt kinh tế.[74] Điều này đã gây nên những lo ngại khi Liên minh châu Âu, một đối tác thương mại tiềm năng, đã từ chối tiến hành các cuộc đàm phán tự do thương mại ở cấp vùng vì những lý do chính trị đó.[75] Các nhà quan sát quốc tế coi tổ chức như một “nơi hội họp”,[76] ngụ ý rằng tổ chức này chỉ “mạnh miệng lên án mà ít hành động”.[77]
Tại cuộc họp Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12 ở Cebu, nhiều nhóm hoạt động đã tổ chức các cuộc tuần hành phản đối toàn cầu hoáchống Arroyo.[78] Theo các nhà hoạt động, lộ trình hội nhập kinh tế sẽ có ảnh hưởng xấu tới các ngành công nghiệp của Philippines và sẽ khiến hàng nghìn người Philippines mất việc.[79] Họ cũng coi tổ chức như một tổ chức đế quốc đe doạ tới chủ quyền quốc gia.[79] Một luật sư nhân quyền từ New Zealand cũng đã đệ trình bản phản đối về tình hình nhân quyền trong vùng nói chung.[80]
ASEAN đã đồng ý về một cơ quan nhân quyền ASEAN sẽ bắt đầu hoạt động từ năm 2009. Philippines, Malaysia, Indonesia và Thái Lan muốn cơ quan này có khả năng áp đặt, tuy nhiên Singapore, Việt Nam, Myanmar, Lào và Campuchia không muốn như vậy.[cần dẫn nguồn]

Xem thêm

Ghi chú

  1. ^ “IMF DataMapper”. Imf.org. 4 tháng 12 năm 1999. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2011.
  2. ^ Calculated using UNDP data from member states.
  3. ^ EC.Europa.eu, European Union Relations with ASEAN. Retrieved 29 October 2010.
  4. ^ Bernard Eccleston, Michael Dawson, Deborah J. McNamara (1998). The Asia-Pacific Profile. Routledge (UK). ISBN 0-415-17279-9.
  5. ^ Muthiah Alagappa (1998). Asian Security Practice: Material and Ideational Influences. Stanford: Stanford University Press (US). ISBN 0-8047-3347-3.
  6. ^ “ASEAN secretariat”. ASEAN. 23 tháng 7 năm 1999. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2009.
  7. ^ “Background Note:Brunei Darussalam/Profile:/Foreign Relations”. United States State Department. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2007.
  8. ^ “Vietnam in ASEAN: Toward Cooperation for Mutual Benefits”. ASEAN Secretariat. 2007. Truy cập 28 tháng 8 năm 2009.
  9. ^ a ă Carolyn L. Gates, Mya Than (2001). ASEAN Enlargement: impacts and implications. Institute of Southeast Asian Studies. ISBN 981-230-081-3.
  10. ^ “Statement by the Secretary-General of ASEAN Welcoming the Kingdom of Cambodia as the Tenth Member State of ASEAN: 30 tháng 4 năm 1999, ASEAN Secretariat”. ASEAN Secretariat. 2008. Truy cập 28 tháng 8 năm 2009.
  11. ^ East Asia Economic Caucus. ASEAN Secretariat. Truy cập 14 tháng 3 năm 2007.
  12. ^ a ă Whither East Asia? Asian Views. Truy cập 14 tháng 3 năm 2007.
  13. ^ Asia’s Reaction to NAFTA Nancy J. Hamilton. CRS – Congressional Research Service. Truy cập 14 tháng 3 năm 2007.
  14. ^ Japan Straddles Fence on Issue of East Asia Caucus International Herald tribune. Truy cập 14 tháng 3 năm 2007.
  15. ^ “Regional Financial Cooperation among ASEAN+3”. Nhật Bảnese Ministry of Foreign Affairs. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2008.
  16. ^ Bangkok Treaty (in alphabetical order) At UNODA United Nations. Truy cập 4 tháng 9 năm 2008.
  17. ^ ASEAN Secretariat. ASEAN Agreement on Transboundary Haze Pollution. Extracted 12 tháng 10 năm 2006
  18. ^ East Asian leaders to promote biofuel, Philippine Daily Inquirer, 13 tháng 3 năm 2007.
  19. ^ “ASEAN Statement on Launching of the ASEAN Wildlife Law Enforcement Network (ASEAN-WEN)”. ASEAN. 1 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2009.
  20. ^ “Asean: Changing, but only slowly”. BBC. 8 tháng 10 năm 2003.
  21. ^ RP resolution for observer status in UN assembly OK’d, Philippine Daily Inquirer, 13 tháng 3 năm 2007.
  22. ^ “Philippines to Represent Asean in Un Meetings in Ny, Geneva”. Yahoo! News. 7 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007.
  23. ^ “East Timor ASEAN bid”. The Sun-Herald (The Sydney Morning Herald). 28 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2007.
  24. ^ “East Timor Needs Five Years to Join ASEAN: PM”. ASEAN Secretariat. 26 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2007.
  25. ^ Forss, Pearl (27 tháng 8 năm 2007). “US and ASEAN seeking to enhance relationship: Dr Balaji”. Channel NewsAsia. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2007.
  26. ^ “ASEAN to complete free trade agreements by 2013”. Forbes. 26 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2007.
  27. ^ Ong, Christine (27 tháng 8 năm 2007). “ASEAN confident of concluding FTAs with partners by 2013”. Channel NewsAsia. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2007.
  28. ^ “ASEAN, Australia and New Zealand Free Trade Agreement – NZ Ministry of Foreign Affairs and Trade”. Mfat.govt.nz. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2009.
  29. ^ “Asean, Australia, New Zealand Sign Free-Trade Deal (Update1)”. Bloomberg.com. 27 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2009.
  30. ^ “Overview Association of Southeast Asian Nations”, Truy cập 27 tháng 7 năm 2009.
  31. ^ “Overview Association of South East Asian Nations”, Truy cập 27 tháng 7 năm 2009.
  32. ^ “Association of South East Asian Nations”, “Microsoft Encarta”, Truy cập 27 tháng 7 năm 2009. Archived 2009-10-31.
  33. ^ a ă Track 1/Track 2 symbiosis in Asia-Pacific regionalism The Pacific Review, Volume 17, Issue 4, 2004 doi:10.1080/0951274042000326069
  34. ^ “On Building the ASEAN Community: The Democratic Aspect”, 8 August, 2005. Truy cập 27 tháng 7 năm 2009.
  35. ^ a ă â ASEAN Structure, ASEAN Primer
  36. ^ Denis Hew (2005). Roadmap to an Asean Economic Community. Institute of Southeast Asian Studies. ISBN 981-230-347-2.
  37. ^ “Chairman’s Statement of the First East Asia Summit Kuala Lumpur”. ASEAN. 14 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2009.
  38. ^ “Singapore Declaration on Climate Change, Energy and the Environment”. ASEAN. 21 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2009.
  39. ^ Thai PM woos Chinese businesses ASEAN Calendar for tháng 10 năm 2009
  40. ^ Thailand changes venue for ASEAN+3, East Asia summits
  41. ^ About Us, ASEAN Regional Forum official website. Truy cập 12 tháng 6 năm 2006.
  42. ^ Official Website of Australian Department of Foreign Affairs and Trade. Truy cập 3 tháng 8 năm 2008.
  43. ^ a ă â ASEAN Calendar of Meetings and Events tháng 11 năm 2006, ASEAN Secretariat. Truy cập 13 tháng 3 năm 2007.
  44. ^ BBC country profile/Asean leaders, BBC. Truy cập 13 tháng 3 năm 2007.
  45. ^ ASEAN Ministerial Meetings, ASEAN Secretariat. Truy cập 13 tháng 3 năm 2007.
  46. ^ [1], ASEAN Secretariat. Truy cập 16 tháng 3 năm 2007.
  47. ^ “Malaysians have had enough of haze woes”. The Malaysian Bar. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007.
  48. ^ Lay Hwee Yeo (2003). Asia and Europe: the development and different dimensions of ASEM. Routledge (UK). ISBN 0-415-30697-3.
  49. ^ “Overview”. Aseansec.org. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008.
  50. ^ a ă Sim, Edmund “Introduction to the ASEAN Economic Community”, http://www.asil.org/aseanevent/Sim_Intro_to_ASEAN.pdf
  51. ^ “Agreement on the Common Effective Preferential Tariff Scheme for the ASEAN Free Trade Area, Singapore, 28 tháng 1 năm 1992”. Aseansec.org. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008.
  52. ^ “Overview”. Aseansec.org. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008.
  53. ^ a ă “Highlights of the ASEAN Comprehensive Investment Agreement (ACIA)”. Aseansec.org. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008.
  54. ^ “ASEAN Framework Agreement on Services (1995)”. Aseansec.org. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008.
  55. ^ “Overview”. Aseansec.org. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008.
  56. ^ a ă â “Asean Single Aviation Market”. The Straits Times. 2 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2008.
  57. ^ a ă “Singaporean PM urges ASEAN to liberalise aviation”. chinaview.cn (Tân Hoa xã). 1 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2008.
  58. ^ Kaur, Karamjit (25 tháng 9 năm 2008). “Tiger offers 50,000 free seats”. The Straits Times. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2008.
  59. ^ “Three quarters of a million more seats and counting- KL-Singapore benefits from liberalisation”. Centre for Asia Pacific Aviation. 28 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2008.
  60. ^ “Welcome to Singapore FTA Network”. Fta.gov.sg. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008.
  61. ^ “Welcome to Singapore FTA Network”. Fta.gov.sg. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008.
  62. ^ “Taipei Times – archives”. Taipeitimes.com. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008.
  63. ^ “’Momentous’ day for ASEAN as charter comes into force”. Agence France-Presse. 15 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2008.
  64. ^ Association of South East Asian Nations.: “The ASEAN Charter”, date = tháng 12 năm 2007, p.6-7, ISBN 978-979-3496-62-7. Truy cập 27 tháng 7 năm 2009.
  65. ^ Olivia Rondonuwu and Suhartono, Harry (15 tháng 12 năm 2008). “ASEAN launches charter under shadow of crisis”. Reuters. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2008.
  66. ^ “ASEAN charter comes into force”. International Herald Tribune. 15 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2008.
  67. ^ [2] ASEAN Centre for Biodiversity. Truy cập 13 tháng 3 năm 2007.
  68. ^ ASEAN’s Greatest Parks, ASEAN Centre for Biodiversity. Truy cập 13 tháng 3 năm 2007.
  69. ^ “Ministry of Education, Singapore: ASEAN Scholarships”. Moe.gov.sg. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008.
  70. ^ “ASEAN University Network/Agreement”. Aun-sec.org. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008.
  71. ^ “ASEAN University Network/Board Member”. Aun-sec.org. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008.
  72. ^ “Closure of FESPIC Federation”. Taiyonoie.or.jp. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2009.
  73. ^ “ADB president calls for building Asian economic integration”. Peace Journalism. 3 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2007.
  74. ^ “Japan Cancels Myanmar Grant”. Associated Press. 17 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2007.
  75. ^ Silp, Sai (15 tháng 2 năm 2007). “Burma an Issue in Asean-EU Trade Talks”. The Irawaddy News Magazine Online Edition. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2007.
  76. ^ “Malaysian foreign minister says ASEAN is no ‘talk shop’”. 5 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2007.
  77. ^ “BBC Country/Internatonal Organisation Profile: Association of Southeast Asian Nations”. BBC News. 11 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2007.
  78. ^ “About 100 militants stage protest vs Asean Summit in Cebu”. GMA News. 13 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2007.
  79. ^ a ă “ASEAN protests in Cebu will also underscore massive opposition to Charter Change”. Kilusang Mayo Uno. 7 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2007.
  80. ^ “NZ rights lawyer to join protests at ASEAN summit”. News and Press. 7 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2007.

Liên kết ngoài

Tổ chức

Các hội nghị thượng đỉnh

Các tổ chức của ASEAN

Chiến dịch Mãn Châu (1945)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chiến dịch Mãn Châu (1945)
Một phần của Chiến tranh Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai
US-Soviet sailors on VJ Day.jpgThuỷ thủ Giang đội Cờ đỏ Amur mừng chiến thắng
.
Thời gian 9 tháng 82 tháng 9 năm 1945
Địa điểm Mãn Châu, Nội Mông, Sakhalin, quần đảo KurilBắc Triều Tiên
Kết quả Đạo quân Quan Đông đầu hàng[1]
Tham chiến
Cờ của Đế quốc Nhật Bản Đế quốc Nhật Bản
Cờ của Mãn Châu quốc Mãn Châu quốc
Cờ của Nội Mông CP Tự trị Mông Cương
Cờ của Liên Xô Liên Xô
Cờ của Mông Cổ Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ
Chỉ huy
Nhật Bản
Cờ của Đế quốc Nhật Bản Yamada Otozō
Liên Xô
Cờ của Liên Xô A.M.Vasilevsky
Lực lượng
Cờ của Đế quốc Nhật Bản Đế quốc Nhật Bản:
993.000 quân[2],
5.360 pháo,
1.155 xe tăng[Ct 1]
1.800 máy bay
Cờ của Mãn Châu quốc Mãn Châu quốc:
170.000 quân[4]
Cờ của Nội Mông Mông Cương:
44.000 quân[2]
Cờ của Liên Xô Liên Xô:
1.577.725 quân[Ct 2],
27.086 pháo & súng cối[6],
1.171 dàn pháo phản lực[6],
5,556 tăng & pháo tự hành[6],
5,171 máy bay[7],
Cờ của Mông Cổ CHND Mông Cổ
18.000 kỵ binh.
Tổn thất
Số liệu của Liên Xô:[1]
83.737 chết
594.276 bị bắt.
Số liệu của Nhật Bản:
21.000 chết[8][Ct 3]
Số liệu của Liên Xô:[8]
8.000 chết,
24.000 bị thương.
.

Chiến dịch Mãn Châu hay Chiến dịch tấn công chiến lược Mãn Châu (tiếng Nga: Манчжурская стратегическая наступательная операция), hay Cuộc tấn công của Liên Xô vào Mãn Châu hay Chiến tranh chống lại Nhật Bản của Liên Xô (tiếng Nhật:ソ連対日参戦) theo cách gọi của phía Nhật Bản, là một chiến dịch quân sự của Quân đội Liên Xô nhằm vào Đạo quân Quan Đông của Đế quốc Nhật Bản tại Mãn Châu, được thực hiện theo thoả thuận của Liên Xô với các nước Đồng Minh tại Hội nghị Yalta tháng 2 năm 1945. Đây cũng là chiến dịch quân sự trên bộ lớn nhất trong Chiến tranh Thái Bình Dương, được bắt đầu vào ngày 9 tháng 8 và kết thúc ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Được chỉ huy bởi một thế hệ tướng lĩnh trưởng thành trong nghệ thuật quân sự Xô Viết[9], Quân đội Liên Xô đã thực hành vận động chiến một cách linh hoạt ở mọi cấp độ, nhanh chóng xuyên thủng các khu vực phòng thủ ngoại vi, thọc sâu vào trung tâm, chia cắt, làm tê liệt và bức hàng đạo quân Quan Đông, kiểm soát Mãn Châu, Bắc Triều Tiên và miền Nam Sakhalin chỉ trong vòng 2 tuần[9], tạo tiền đề cho việc đổ bộ chiếm đóng thành công quần đảo Kuril trong thời gian ngắn sau đó.
Cùng với hai quả bom nguyên tử được ném xuống Nhật Bản ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945, thành công của chiến dịch Mãn Châu đã góp phần thúc đẩy Đế quốc Nhật Bản nhanh chóng chấp nhận đầu hàng vô điều kiện[10][11], kết thúc chiến tranh và tạo thời cơ cho một loạt quốc gia Châu Á giành quyền độc lập tự chủ[12].

Mục lục

Bối cảnh của chiến dịch

Đặc điểm tự nhiên, lịch sử và vai trò của Mãn Châu

Bản đồ địa hình – đường sắt vùng Mãn Châu

Ký kết hiệp ước Nhật Bản – Mãn Châu năm 1932

Mãn Châu nằm ở Đông Bắc Trung Quốc, phía Tây Bắc giáp Mông Cổ, hai mặt Bắc và Đông giáp với vùng Viễn Đông của Liên Xô, phía Đông Nam giáp Triều Tiên, phía Nam – Tây Nam giáp biển Hoàng HảiBột Hải, Hà BắcNội Mông của Trung Quốc. Đồng bằng Mãn Châu có đất đai phì nhiêu, nông nghiệp phát triển và là nơi sinh sống lâu đời của bộ lạc Nữ Chân – vốn là bộ tộc đã chiếm Trung Quốc lập nên triều đại Mãn Thanh ở thế kỷ XVII.
Địa hình Mãn Châu là một bồn địa tương đối bằng phẳng bao quanh bởi dãy núi Đại Hưng An ở phía Tây, Y Lặc Hô Lý Sơn ở phía Bắc và Tiểu Hưng An ở phía Đông Bắc, trong đó dãy Đại Hưng An đặc biệt hiểm trở với điểm cao nhất đến 1.900 m. Biên giới Đông Bắc – Đông chạy dọc theo sông Hắc Long Giang và sông Ô Tô Lý. Con sông lớn Tùng Hoa bắt nguồn từ dãy Đại Hưng An chảy cắt ngang bồn địa hợp lưu với sông Hắc Long Giang và Ô Tô Lý, tạo thành một khu vực lầy lội rộng lớn ở Đông Bắc Mãn Châu[13].
Mặc dù hình thế tự nhiên là một cánh cung dài gần 4.500 km giương lên hướng Bắc – Đông Bắc khiến Mãn Châu có thể bị thọc sườn, nhưng bù lại Mãn Châu có lợi thế phòng thủ tự nhiên do được bao bọc bởi các con sông lớn và các dãy núi cao[14]. Hơn thế nữa, dù bên trong tuyến chướng ngại vật thiên nhiên này địa hình thuận lợi cho hoạt động của xe tăng – cơ giới hoá, nhưng bản thân diện tích mênh mông tới 1,5 triệu km² và chiều sâu từ 200 đến 800 km là một thách thức lớn về mặt hành quân[15] đối với các lực lượng tấn công.
Do có vị trí khống chế với cả Bắc Trung Quốc, Mông Cổ lẫn vùng Viễn Đông của Nga, nên Mãn Châu là nơi tranh chấp của các cường quốc trong vùng[16]. Ở thế kỷ XIX, lúc triều đình Mãn Thanh suy yếu, Mãn Châu rơi vào ảnh hưởng kinh tế của Đế quốc Nga. Kể từ khi Nga thua trận trong chiến tranh Nga-Nhật, thì Mãn Châu rơi vào ảnh hưởng của Đế quốc Nhật Bản. Tháng 9 năm 1931, Quân đội Nhật Bản xâm chiếm Mãn Châu và dựng lên chính quyền Mãn Châu Quốc, đặt Phổ Nghi – vị vua cuối cùng của nhà Thanh – lên ngôi bù nhìn.[17]
Mãn Châu là vùng công nghiệp phát triển sớm từ đầu thế kỷ 20. Tại đây, có các thành phố lớn đồng thời là các trung tâm công nghiệp và đầu mối giao thông đường sắt, đường bộ quan trọng như Cáp Nhĩ Tân, Thẩm Dương, Trường Xuân, Cát Lâm, Mẫu Đơn Giang, cảng Đại Liên. Đối với Nhật Bản, ngay từ trước chiến tranh, Mãn Châu – Triều Tiên đã là khu công nghiệp chiến tranh rất quan trọng với nhiều nhà máy chế tạo vũ khí và trang thiết bị quân sự. Từ giữa chiến tranh, khu vực này càng quan trọng hơn khi nhiều nhà máy tại Nhật Bản phải dời sang đây để tránh máy bay Hoa Kỳ ném bom[18]. Đến năm 1945, khi các đảo lớn Nhật Bản trở thành chiến trường, thì Mãn Châu đóng vai trò là hậu phương lớn của chính quốc[19].

Tình hình của Đế quốc Nhật Bản

Từ cuối năm 1944, sau khi Hải quân Đế quốc Nhật Bản bị mất phần lớn tàu chiến thì các đảo lớn Nhật Bản dần bị phong toả, bóp chặt từ phía biển[20], còn việc Quân đội Nhật Bản để mất quần đảo Mariana và Phillipines thì các thành phố lớn của Nhật Bản bị đưa vào tầm oanh tạc thường xuyên của các máy bay B-29 của Không quân Hoa Kỳ[21].
Đến tháng 5 năm 1945, nước Đức đầu hàng, khối Trục chỉ còn lại Đế quốc Nhật Bản tiếp tục cuộc chiến trong tình thế tuyệt vọng. Mục tiêu kéo dài cuộc chiến lúc này chỉ là để tránh đầu hàng vô điều kiện nhằm bảo toàn kokutai – tinh thần quốc gia Nhật Bản được xây dựng xung quanh Thiên Hoàng[22].
Chỗ dựa về mặt quân sự cho mục tiêu này là lực lượng khoảng 4,1 triệu lính lục quân và 1,26 triệu lính Hải quân – trong đó có 2,3 triệu quân ở hải ngoại đang chiếm giữ Trung Quốc, các nước Đông Nam Á và một vài đảo trên Thái Bình Dương – tất cả đều sẵn sàng chiến đấu với tinh thần cảm tử. Chỗ dựa ngoại giao lúc này là hy vọng thông qua Liên Xô – nước duy nhất trong khối Đồng Minh có hiệp ước trung lập với Nhật Bản – làm trung gian đàm phán để tìm kiếm một giải pháp có thể chấp nhận được[23].
Cho đến tận Hội nghị Potsdam bắt đầu từ ngày 17 tháng 7 năm 1945, Nhật Bản vẫn nỗ lực thuyết phục Liên Xô đứng ra làm trung gian đàm phán với hứa hẹn “đáp ứng mọi yêu sách của Liên Xô ở Viễn Đông”[24]. Khi Tuyên bố Potsdam được công bố mà không có chữ ký của I.V. Stalin, thì Nhật Bản lại tiếp tục vẫn bám lấy niềm hy vọng Liên Xô[25].
Vì lý do đó, Nhật Bản nói chung và Đạo quân Quan Đông nói riêng không chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với cuộc tấn công của Quân đội Liên Xô ở Mãn Châu.

Bối cảnh Liên Xô tham chiến

Đối với I.V. Stalin, khả năng tham chiến chống Nhật Bản ở mặt trận Thái Bình Dương được sử dụng để đổi lấy việc mở mặt trận thứ 2 ở Tây Âu chống Đức Quốc xã. Vì thế, tại Hội nghị Tehran cuối tháng 11 năm 1943, khi Tổng thống Hoa Kỳ Roosevelt và Thủ tướng Anh Churchill đồng ý mở mặt trận thứ 2 vào giữa năm 1944, thì Stalin cũng hứa hẹn tham chiến cùng với “các điều kiện chưa nói trước”[26].
Đầu năm 1945, ước tính của Hội đồng Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ cho thấy Nhật Bản chỉ có thể đầu hàng sớm nhất vào năm 1947, còn để tiêu diệt hoàn toàn Quân đội Nhật Bản thì Hoa Kỳ phải tốn đến hơn một triệu nhân mạng nữa[27][Ct 4]. Vì thế, ở Yalta tháng 2 năm 1945, yêu cầu Liên Xô tham chiến là mục tiêu nghị sự quan trọng nhất của Tổng thống Roosevelt[29]. Đến lúc này, V. I. Stalin mới đưa ra ba điều kiện, bao gồm[30]:

  • Giữ nguyên trạng nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ;
  • Khôi phục những quyền lợi của Nga đã bị vi phạm năm 1904 gồm: Liên Xô được thu hồi phần Nam đảo Sakhalin; quốc tế hóa cảng Đại Liên; Liên Xô được quyền thuê tô giới Lữ Thuận làm quân cảng; Liên Xô được cùng với Trung Quốc khai thác các tuyến đường sắt tại Đông Bắc Trung Quốc và Nam Mãn Châu.
  • Chủ quyền quần đảo Kuril được chuyển sang cho Liên Xô[Ct 5].

Sau khi tham khảo ý kiến của Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch, Tổng thống Hoa Kỳ Roosevelt và Thủ tướng Anh Churchill đã chấp nhận cả 3 điều kiện nói trên[31], vì thế bản thoả thuận Yalta ngày 11 tháng 2 năm 1945 có đoạn: Các nhà lãnh đạo ba cường quốc Liên Xô, Hoa Kỳ, Anh thỏa thuận rằng từ hai đến ba tháng sau khi nước Đức đầu hàng và chiến tranh ở Châu Âu kết thúc, thì Liên Xô sẽ đứng về phía các nước Đồng minh để tham chiến chống Nhật Bản[32].
Ngay sau Hội nghị, Nguyên soái Liên Xô A.M. Vasilievsky và Bộ Tổng Tham mưu đã bắt tay chuẩn bị cho kế hoạch tác chiến tại Mãn Châu[33]. Ðến đầu tháng 4 năm 1945, Bộ Ngoại giao Liên Xô thông báo cho Nhật Bản về việc không gia hạn Hiệp ước Trung lập sau ngày 25 tháng 4 năm 1946[34][Ct 6].
Tại Hội nghị Potsdam tổ chức từ ngày 17 tháng 7 đến 2 tháng 8 năm 1945, phía Liên Xô đã thông báo kế hoạch quân sự tại Viễn Đông, xác nhận Liên Xô sẵn sàng thực hiện cam kết Yalta[36]. Tuy nhiên, việc Liên Xô mở rộng ảnh hưởng ở Châu Âu cùng với tin vụ thử bom nguyên tử thành công khiến cho Tổng thống Hoa Kỳ mới nhậm chức Harry S. Truman không còn mặn mà với việc Liên Xô tham chiến nữa[37]. Vì thế, thay vì chính thức mời Liên Xô tham chiến, Truman thông báo với Stalin về vũ khí mới[38] và đưa ra tuyên bố chung với Churchill và Tưởng Giới Thạch yêu cầu Nhật Bản đầu hàng để có lý do sử dụng bom nguyên tử sớm nhất.
Lúc này, áp lực thời gian được chuyển đến Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Liên Xô tại Viễn Đông, đẩy chiến dịch bắt đầu sớm nhất có thể, hoàn thành mục tiêu nhanh nhất có thể[39].

Lực lượng tham chiến hai bên

Quân đội Liên Xô

Đầu tháng 6 năm 1945, Nguyên soái Liên Xô A.M. Vasilievsky được Bộ Tổng Tư lệnh Tối cao Hồng quân Liên Xô (STAVKA) chỉ định làm Đại diện của STAVKA tại Viễn Đông. Tuy nhiên, do quy mô lẫn tính phức tạp của chiến dịch, nên đến ngày 30 tháng 7, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Liên Xô tại Viễn Đông được thành lập do Nguyên soái A.M. Vasilevsky làm Tổng Tư lệnh, Thượng tướng S.P. Ivanov làm Tham mưu trưởng[40].
Ngoài lực lượng của Quân khu Viễn Đông và Quân khu Siberia được bổ sung người, đổi mới các trang bị hiện đại nhất[41], thì Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Liên Xô còn chuyển 3 Tập đoàn quân hợp thành, một Tập đoàn quân Xe tăng, một Quân đoàn Cơ giới hoá từ Châu Âu sang Viễn Đông. Các đơn vị được chọn đều căn cứ trên kinh nghiệm tác chiến với địa hình tương tự: như Tập đoàn quân Xe tăng 6 và Tập đoàn quân 53 từng chiến đấu ở vùng núi Karpat được bố trí ở hướng Đại Hưng An, Tập đoàn quân 39 và Tập đoàn quân 5 với kinh nghiệm công kiên ở Konigsberg được chuyển qua Đông Mãn Châu[42].
Việc chuyển quân cần tới 1.692 chuyến tàu hỏa với gần 136.000 toa xe trên tuyến đường sắt xuyên Siberi dài hơn 5.000 km từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1945. Để giảm tải cho đường sắt, quân nhân, trang bị được đổ xuống Chita rồi hành quân đường bộ đến 600 km tới địa điểm tập kết [43]. Để giữ bí mật, việc chuyển quân được nguỵ trang tối đa, tập kết tương đối xa biên giới, các sĩ quan cao cấp đều sử dụng tên giả, đeo quân hàm cấp thấp. Mặc dù việc chuyển quân khó có thể bí mật hoàn toàn, nhưng mục tiêu là không để phía Nhật Bản dự đoán được quy mô thật[44].
Với những kinh nghiệm được tích luỹ sau 4 năm chiến tranh trước đó, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Liên Xô đã mạnh dạn tái cấu trúc các đơn vị nhằm bảo đảm sức chiếu đấu tối ưu trong điều kiện tác chiến và địa hình hành quân cụ thể[45]. Các đơn vị thuộc Phương diện quân Viễn Đông 1 được tăng cường hoả lực pháo để công kiên; từng tiểu đoàn chiến đấu trên địa hình lầy lội đều được tăng cường công binh cầu đường; các đơn vị của Phương diện quân Zabaikal đều được tăng cường xe thiết giáp hoặc xe tải để vận động tốc độ cao[45]; đơn vị chủ công là Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 6 được biên chế lại, gồm 1 Quân đoàn xe tăng, 2 Quân đoàn cơ giới hoá, thêm bộ binh và các đơn vị hỗ trợ để phù hợp với điều kiện tác chiến độc lập[46]. Với cấu trúc dẻo như vậy, từng đơn vị của Quân đội Liên Xô có khả năng chiến đấu cơ hữu rất cao.

Ðạo quân Quan Ðông

Đại tướng Yamada Otozō.

Ðược thành lập từ năm 1919 để bảo vệ Quan Ðông, đến năm 1932 thì Đạo quân Quan Đông nhận trách nhiệm bảo vệ toàn bộ lãnh thổ Mãn Châu. Trong suốt thời gian tồn tại, Ðạo quân này được coi làm lực lượng ưu tú của Quân đội Nhật Bản, và luôn là mối lo của Liên Xô ở Viễn Ðông[47].
Ðến giữa năm 1945, biên chế chính thức của Ðạo quân Quan Ðông gồm 3 Phương diện quân, 2 Tập đoàn quân độc lập, 2 Tập đoàn quân Không quân và 1 Phương diện quân thiếu, do Đại tướng Yamada Otozō làm Tư lệnh và Trung tướng Hata Hikosaburo làm Tham mưu trưởng. Dưới quyền chỉ huy của Tư lệnh Đạo quân Quan Đông còn có các đơn vị của Mãn Châu Quốc, Nội Mông và Cụm quân Tuy Viễn của Quận vương Devan[48]. Mặc dù được trang bị kém so với các đơn vị Nhật Bản, nhưng lực lượng này cũng có tới 8 sư đoàn bộ binh, 7 sư đoàn kỵ binh và 15 lữ đoàn bộ binh – kỵ binh độc lập. Tính toàn bộ, thì Ðạo quân Quan Ðông có 1.217.000 người, gồm 993.000 quân Nhật, 170.000 quân Mãn Châu Quốc và 44.000 quân của Quận vương De Van. Vũ khí trang bị có 1.155 xe tăng, 5.360 pháo, 1.800 máy bay và 25 tàu chiến thuộc Giang đội Tùng Hoa[2]. Trong trường hợp khẩn cấp, Bộ Tư lệnh Quân đội Nhật Bản tại Đông Bắc Trung Quốc có thể điều động 2 Tập đoàn quân từ Phương diện quân Bắc đóng tại khu vực Bắc Kinh, gồm từ 6 đến 8 sư đoàn để chi viện cho Đạo quân Quan Đông[49].
Tuy nhiên, Đạo quân Quan Đông có lượng nhưng thiếu chất. Suốt cuộc chiến tranh Thái Bình Dương trước tháng 8 năm 1945, vì Mãn Châu không có chiến sự nên các đơn vị tinh nhuệ được cắt chuyển dần sang các chiến trường khác. Đến giữa năm 1945, phần lớn các sư đoàn của Đạo quân Quan Đông đều mới được thành lập từ quân dự bị, tân binh đang huấn luyện và các đơn vị nhỏ hơn đã bị bòn rút[2].
Ngoài chất lượng huấn luyện thấp, thì chất lượng trang bị cũng yếu. Các đơn vị đều phương tiện di chuyển và vũ khí chống tăng: pháo chống tăng 37mm được trang bị là loại từ Chiến tranh Thế giới thứ nhất, không có hiệu quả trước giáp dày của xe tăng hạng trung T-34[50]. Số xe tăng của các lữ đoàn xe tăng cũng đã lạc hậu cả về giáp lẫn hoả lực[50]. Do đó, hầu hết các sư đoàn đều có tỷ lệ sẵn sàng chiến đấu thấp[50], làm ảnh hưởng lớn tới phương án phòng thủ của Ðạo quân Quan Ðông.

Kế hoạch của hai bên

Phương án phòng thủ của Đạo quân Quan Đông

Bố trí phòng thủ của Đạo quân Quan Đông

Do năng lực chiến đấu suy giảm, nên từ đầu năm 1944, Bộ Tư lệnh Ðạo quân Quan Ðông chuyển toàn bộ các đơn vị dọc biên giới với Liên Xô – Mông Cổ sang phòng ngự. Đến tháng 10 năm 1944, Đạo quân Quan Đông lựa chọn phương án phòng ngự thực tế[51] bằng cách tổ chức các cụm đề kháng[Ct 7] dọc theo các hướng quan trọng thay vì rải mỏng quân lập chiến tuyến dọc biên giới.
Theo phương án này, 17 cụm đề kháng được xây dựng kiên cố với tổng chiều dài chính diện tới 800 km[52]. Mỗi cụm đề kháng có chính diện từ 20 đến 70 km, gồm nhiều cứ điểm liên hoàn. Mỗi cứ điểm gồm nhiều hoả điểm kiên cố được nối với nhau bằng hàng trăm km chiến hào. Vòng ngoài mỗi cứ điểm có hầm chống tăng, hàng rào dây thép gai,… Bên trong mỗi cứ điểm có các tiện nghi sinh hoạt đầy đủ. Nhiều cụm thậm chí còn xây dựng hệ thống địa đạo nối thông các cứ điểm[52].
Ở Đông Mãn Châu, các cụm đề kháng mạnh bao gồm: Nhiêu Hà – Hổ Đầu – Mật Sơn – Tuy Phân HàĐông NinhHồn XuânĐồ Môn[53]. Ở Đông Bắc Mãn Châu có các cụm Phủ ViễnĐồng GiangPhú CẩmHưng Sơn[Ct 8]Tôn NgôÁi Huy [51]. Ở Tây Mãn Châu có 2 cụm lớn là Hải Lạp Nhĩ và Halung – A Nhĩ Sơn án ngữ 2 đèo quan trọng qua dãy Đại Hưng An[51]. Ngoài ra, ở Triều Tiên cũng có 4 cụm dọc bờ biển phía Tây tại Wonsan, Hamnhüng, Nanjin và Ch’öngjin[48].
Đến giữa năm 1945, sức chiến đấu tiếp tục suy giảm buộc Bộ Tư lệnh Đạo quân Quan Đông phải đề ra phương án phòng ngự mới với tinh thần trì hoãn ở biên giới, phòng ngự dẻo ở nội địa. Theo đó, khoảng ⅓ quân số chia nhỏ thành đại đội – tiểu đoàn chốt giữ các cụm đề kháng và các trung tâm du kích chiến gần biên giới, còn chủ lực gồm các sư đoàn – lữ đoàn chiếm khoảng ⅔ quân số đứng chân ở các vị trí phòng ngự cách biên giới từ 40 – 70 km[51]. Khi bị tấn công, chủ lực phải tránh đụng độ lớn, chỉ vừa tìm cách tiêu hao, cầm giữ đối phương vừa rút dần về các vị trí phòng ngự trung gian phía sau. Các vị trí này sẽ bố trí ở các hướng quan trọng, lùi dần về khu vực hậu cứ có tâm là Thông Hoá, nơi có thể dựa vào lợi thế tự nhiên của tuyến Đồ MônÁp Lụcdãy núi Trường Bạch[54] để phòng ngự hiệu quả. Với phương án này, Bộ Tư lệnh Đạo quân Quan Đông hy vọng rằng tinh thần kháng cự kiên cường cộng với khó khăn địa hình và chiều sâu tiến quân sẽ làm suy kiệt các mũi tấn công, tạo điều kiện để phản công[51].
Tuy nhiên, do không dự tính Quân đội Liên Xô có thể tấn công sớm, nên phương án phòng ngự mới chỉ được truyền đạt đến các đơn vị trực thuộc trong tháng 6 năm 1945. Do đó, khi chiến dịch bắt đầu thì các sư đoàn chưa chuyển quân xong, một số các vị trí đề kháng trung gian trong nội địa chưa kịp hoàn thành[51].

Phương án tác chiến của Quân đội Liên Xô

Với mục tiêu bao vây tiêu diệt phần lớn quân lực của Đạo quân Quan Đông và kiểm soát thành công lãnh thổ Mãn Châu trước khi Đế quốc Nhật đầu hàng, thách thức lớn nhất của Bộ Tổng Tham mưu Xô viết khi lập kế hoạch tác chiến là diện tích rộng lớn của lãnh thổ cùng với chiều sâu chiến dịch tới hơn 800 km[15]. Vì thế, quy mô cũng như tính chất của chiến dịch là rất táo bạo, mặc dù ý tưởng hợp vây cổ điển bằng hai gọng kềm đôi khá đơn giản[55].
Theo kế hoạch này, Phương diện quân Zabaikal đảm nhiệm vai trò gọng kềm chủ công từ Tây Mãn Châu về phía Đông, trong khi Phương diện quân Viễn Đông 1 là gọng kềm từ Đông Mãn Châu siết theo hướng ngược lại. Hai cánh quân sẽ hợp điểm ở Trường Xuân và Cát Lâm ở Trung Bộ Mãn Châu. Khi thế bao vây bắt đầu hình thành, thì mũi phụ công của Phương diện quân Viễn Đông 2 bắt đầu tấn công từ Bắc Mãn Châu về phía Nam chiếm Cáp Nhĩ TânTề Tề Cáp Nhĩ[55]. Lúc này, các cánh cơ động của 2 mũi chủ công sẽ phát triển xuống bán đảo Liêu Đông và Bắc Triều Tiên, đồng thời các chiến dịch tấn công Nam Sakhalin và quần đảo Kuril cũng bắt đầu[55].
Quyết định đặt mũi chủ công của Phương diện quân Zabaikal vào phía Tây là rất táo bạo vì phải vượt địa hình hiểm trở để giành yếu tố bất ngờ. Trong khi Tập đoàn quân 39 đánh kiềm chế cụm đề kháng Halung – A Nhĩ Sơn thì Tập đoàn quân xe tăng Cận vệ 6 có Tập đoàn quân 53 theo sau nhận nhiệm vụ của mũi tấn công chính: vượt Đại Hưng An chiếm tuyến Lỗ Bắc – Đột Tuyền – Sách Luân trước ngày N+10 và chiếm các mục tiêu dọc tuyến Xích PhongThẩm DươngTrường Xuân vào ngày N+16, chia cắt Phương diện quân Tây Mãn Châu của Nhật Bản làm đôi[56]. Bên sườn phải của mũi, Cụm Kỵ binh – Cơ giới hoá Liên Xô – Mông Cổ tấn công qua sa mạc Nội Mông, chiếm Ða Luân Náo Nhĩ và Trương Gia Khẩu để ngăn viện quân Nhật Bản từ khu vực Bắc Kinh. Ở bên sườn trái, Tập đoàn quân 36 tiến chiếm cụm Hải Lạp Nhĩ – Bác Khắc Ðồ trước ngày N+10 để găm giữ quân Nhật ở Tây Bắc Mãn Châu, sau đó tiến đến Tề Tề Cáp Nhĩ hợp vây với Phương diện quân Viễn Đông 2[57]. Tốc độ hành tiến của Phương diện quân theo kế hoạch lên tới 70 km/ngày cho các đơn vị xe tăng – cơ giới hoá, và 23 km/ngày cho các Tập đoàn quân hợp thành[58].
Mũi chủ công phía Đông của Phương diện quân Viễn Đông 1 xuất phát từ phía Bắc và Nam Hồ Khasan, dự kiến mở đột phá qua các cụm đề kháng Hổ Đầu – Mật Sơn – Tuy Phân HàĐông Ninh và chiếm các mục tiêu dọc tuyến Bột LợiMẫu Đơn GiangUông Thanh vào ngày N+10, sau đó phát triển hướng Tây đến Cát LâmTrường Xuân hợp vây với cánh quân của Phương diện quân Zabaikal, hướng Bắc đến Cáp Nhĩ Tân hợp vây với Phương diện quân Viễn Ðông 2 vào ngày N+17. Mũi phụ công ở cánh Nam của Phương diện quân sau khi vượt qua các cụm đề kháng Đồ MônHồn Xuân thọc sâu chiếm Lâm Giang, Thông Hoá (trên đất Mãn Châu), phối hợp với Hạm đội Thái Bình Dương chiếm Unggi, Najin, Ch’öngjin (trên đất Triều Tiên) ngăn chặn Phương diện quân 17 (Nhật) ở Triều Tiên kéo lên tiếp ứng[59].
Nhìn tổng quan, thì ý đồ chính của kế hoạch là tấn công đồng loạt trên toàn mặt trận để ghim giữ đối phương tại chỗ, sử dụng tốc độ vận động để cô lập, bao vây, chẻ nhỏ và gây tê liệt toàn cục, dẫn tới sự sụp đổ của Ðạo quân Quan Ðông[60]. Ðược thực hiện bởi một thế hệ tướng lĩnh chỉ huy dày dạn trận mạc, ý đồ đã thành công vượt mong đợi khi chiến dịch hoàn thành các mục tiêu cơ bản chỉ trong vòng 10 ngày chiến đấu[60].

Các diễn biến chính của chiến dịch

Bản đồ chiến dịch Mãn Châu.

Liên Xô tuyên chiến và phản ứng của Nhật Bản

Hai ngày sau khi quả bom nguyên tử đầu tiên được ném xuống Hiroshima, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô trao cho Đại sứ Nhật Bản tại Moskva bản tuyên bố đơn phương chấm dứt hiệu lực của Hiệp ước Trung lập Xô-Nhật và nêu rõ rằng, từ 0 giờ ngày 9 tháng 8, Liên Xô tự đặt mình vào tình trạng có chiến tranh với Nhật Bản. Đúng 0 giờ ngày 9 tháng 8 (giờ Viễn Đông), hoạt động quân sự đầu tiên bắt đầu với 76 máy bay ném bom IL-4 của Phương diện quân Viễn Đông 1 thâm nhập không phận Mãn Châu oanh kích các mục tiêu quân sự – hậu cần tại Cáp Nhĩ Tân và Trường Xuân. Trong cùng khoảng thời gian, máy bay của Hạm đội Thái Bình Dương cũng ném bom các cảng ở miền Bắc Triều Tiên[10].
Thông tin chiến sự đến Đại bản doanh Quân đội Đế quốc Nhật Bản vào lúc 5:30 (giờ Tokyo). Đối với các tướng lĩnh Nhật Bản, đây là một cơn choáng hơn cả quả bom thả xuống Hiroshima ngày 6 tháng 8[61] và không có một ứng xử có chuẩn bị. Vì thế, một mặt Đại bản doanh ban hành Quân lệnh số 1734 hướng dẫn Đạo quân Quan Đông thực hiện các biện pháp đối phó, nhưng mặt khác từ chối đề nghị tuyên chiến với Liên Xô của Đạo quân Quan Đông[61].
Trong lúc đó, trên mặt trận, các mũi tấn công của Quân đội Liên Xô đang tiến triển nhanh chóng.

Hướng Tây Mãn Châu

Ðặc điểm của mặt trận hướng Tây Mãn Châu là chính diện dài tới 2.300 km, nên các cánh quân của Phương diện quân Zabaikal tiến quân cách nhau khá xa và tác chiến tương đối độc lập. Mỗi cánh quân đều tổ chức một thê đội tiên phong đi trước. Mười phút sau khi ngày 9 tháng 8 năm 1945 bắt đầu, các thê đội tiên phong bắt đầu hành quân và đến 4:30g, tất cả các đơn vị chính bắt đầu vượt biên giới[62]. Trên suốt mặt trận, các mũi tiến quân không có kháng cự nào đáng kể ngoại trừ chính diện của Tập đoàn quân 36, hướng mà Tập đoàn quân bị cầm chân cho đến ngày 18 tháng 8, lúc Đạo quân Quan Đông đầu hàng.

Tấn công các cụm đề kháng Tây Bắc

Ở phía cực Bắc của mặt trận, Tập đoàn quân 36 vượt sông Argun trong hành tiến rồi chia làm hai cánh vu hồi vào cụm đề kháng Hải Lạp Nhĩ[Ct 9] cách biên giới khoảng 60 km do Sư đoàn 119 và Lữ đoàn Hỗn hợp độc lập 80 bảo vệ. Ngay sau khi vượt sông, thê đội tiên phong của Tập đoàn quân do Lữ đoàn Xe tăng 205 dẫn đầu chạy đua về Hải Lạp Nhĩ, chiếm cầu vượt sông, cắt đường rút của các đơn vị Nhật giữ biên giới và tấn công tấn công thành phố trước khi trời tối[63]. Ngày hôm sau, Lữ đoàn Xe tăng 205 bị cầm chân trong thành phố, không ngăn được Sư đoàn 119 Nhật Bản rút về giữ đường đèo qua Đại Hưng An. Do các đơn vị Nhật Bản kháng cự kiên cường tại các cụm đề kháng từ Hải Lạp Nhĩ qua Ô Nô Nhĩ đến Bác Khắc Đồ, nên TÐQ 36 phải từng bước cô lập từng cụm, kết hợp pháo binh công phá từng cứ điểm một cho đến tận ngày 17 tháng 8. Lúc này, tiền đội của Tập đoàn quân hạ được Bác Khắc Đồ, tiến chiếm Trát Lan Đồn[Ct 10], cắt đường rút khiến Sư đoàn 119 Nhật phải ra hàng. Ngày 19 tháng 8, Tập đoàn quân hành tiến về Tề Tề Cáp Nhĩ tiếp nhận đầu hàng[64].
Giáp TÐQ 36 về phía Nam là mũi tấn công của TÐQ 39 nhắm vào cụm đề kháng Halung – A Nhĩ Sơn[Ct 11]. Sau khi đè bẹp các đơn vị nhỏ giữ biên giới của Nhật Bản và Mãn Châu Quốc, TÐQ giữ 1 sư đoàn kiềm chế cụm đề kháng, lực lượng còn lại chia 2 cánh: cánh phải gồm Quân đoàn Cận vệ 5 và Quân đoàn 113 theo sau Sư đoàn Xe tăng 61 vòng tránh cụm A Nhĩ Sơn ở phía Nam, cánh trái của Quân đoàn 94 vòng phía Bắc phối hợp với TÐQ 36 tấn công Hải Lạp Nhĩ[65]. Ngày 11 tháng 8, do Tập đoàn quân 36 đã bao vây thành công Hải Lạp Nhĩ, nên Quân đoàn 94 để lại thêm một sư đoàn hợp sức thanh toán cụm Halung – A Nhĩ Sơn, phần còn lại tiếp nhận đầu hàng 1.000 quân thuộc Quân khu số 10 Mãn Châu Quốc rồi vượt dãy Đại Hưng An ở đoạn giữa Ngũ Xoá Khẩu – Ô Nô Nhĩ[66]. Chiều ngày 12 tháng 8, cánh phải của Tập đoàn quân 39 mới có cuộc chạm súng lớn đầu tiên khi một phần Sư đoàn 107 Nhật rút từ Ngũ Xoá Khẩu về Sách Luân đi ngay vào đường tiến của Quân đoàn 5[67]. Đánh tan lực lượng này, Quân đoàn 5 chiếm Sách Luân vào hôm sau và tiến quân dọc tuyến đường sắt[68]. Trong thời gian đó, Sư đoàn Xe tăng 61 ở phía trước đã kịp chiếm giữ Vương Gia Miếu[Ct 12] và đẩy lùi các cuộc phản công của Sư đoàn 107 Nhật Bản. Đến ngày 17 tháng 8, các cứ điểm cuối cùng của cụm Halung – A Nhĩ Sơn đã bị xoá, các đơn vị Nhật Bản dọc tuyến Ngũ Xoá Khẩu – Sách Luân đã bị dẹp xong, cả hai cánh quân của Tập đoàn quân 39 tập kết ở Vương Gia Miếu rồi hành tiến về Trường Xuân. Lúc này, Đạo quân Quan Đông đã đầu hàng nên Tập đoàn quân đi tàu về tiếp quản bán đảo Liêu Đông[69].

Mũi chủ công qua dãy Đại Hưng An

Trên chính diện hướng Tây, mũi chủ công do Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 6 đi trước, Tập đoàn quân 53 theo sau, xuất phát từ phía Nam mỏm lồi Tamsak Bulak và đến chân sườn Tây của dãy Đại Hưng An trước khi trời tối. Ngày 10 tháng 8, vừa đi vừa mở đường thì đến hôm sau Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 6 chuyển quân thành công qua đèo Khorokhon cao tới 1.900m. Do vị trí vượt này là không tưởng đối với quân Nhật, nên ngoài các điểm chốt mỏng yếu ở Khai Lỗ và Lỗ Bắc thì không có gì khác để trì hoãn bước tiến của Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 6[70].
Vượt đèo thành công, ngay trong ngày 12 tháng 8, Quân đoàn Xe tăng Cận vệ 5 chiếm Lỗ Bắc[Ct 13], Quân đoàn Cơ giới hoá Cận vệ 7 chiếm Đột Tuyền[Ct 14]. Tuy nhiên, các quân đoàn đến đây thì thiếu nhiên liệu trầm trọng, chỉ đủ dồn lại cho các xe tăng trong thê đội tiên phong tiến quân[71]. Để khắc phục vấn đề, Tư lệnh Phương diện quân Zabaikal đã điều động 400 chiếc máy bay vận tải tiếp liệu[Ct 15], mặc dù vậy Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 6 cũng mất 2 ngày 12 và 13 tháng 8[74]. Khởi động lại cuộc hành quân vào sáng ngày 14, thì đến chiều thê đội tiên phong của Quân đoàn Cơ giới hoá Cận vệ 7 chiếm được Thao Nam, thê đội tiên phong của Quân đoàn Cơ giới hoá 9 chiếm Thông Liêu.
Hai ngày trước đó, nhận thấy bước tiến thần tốc của Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 6 đã thực tế đánh sụp hướng phòng ngự Tây Mãn Châu[75], nên Tư lệnh Phương diện quân Tây Mãn Châu Jun Ushiroku quyết định rút quân từ Thông Liêu – Thao Nam về Thẩm Dương – Trường Xuân để bảo vệ gia đình binh sĩ ở hai nơi này[71]. Quyết định này trái với phương án co cụm dần về khu vực gần Thông Hoá mà Tổng Tư lệnh Yamada Otozō đã chỉ đạo trước đó, gây rối loạn cho chỉ huy các cấp bên dưới[76]. Về phía Phương diện quân Zabaikal, nhận thấy tình hình thuận lợi hơn dự kiến, vào ngày 15 tháng 8, Nguyên soái Malinovsky chỉ thị đẩy nhanh tốc độ hành quân, yêu cầu các đơn vị tiến chiếm các mục tiêu chính trước ngày 23 tháng 8[77].
Bám theo Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 6, Tập đoàn quân 53 tiếp quản vị trí và bao vây các cụm quân Nhật bị cô lập tại Khai Thông và Thao Nam vào ngày 17 tháng 8, sau đó tách hướng hành tiến về phía Nam chiếm Khai Lỗ. Không gặp chống cự đáng kể, Tập đoàn quân 53 lần lượt tiến chiếm tiếp Triều Dương, Phụ Tân và đến cuối chiến dịch thì tiếp quản Cẩm Châu bên bờ biển Bột Hải[78].
Ngày 15 tháng 8, Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 6 chia làm 2 cánh lao về Trường Xuân và Thẩm Dương. Đến ngày 21 tháng 8, hai ngày sau khi các phân đội đổ bộ đường không của Bộ Tư lệnh Quân đội Liên Xô tại Viễn Đông nhảy dù xuống tiếp quản đầu hàng, thì các quân đoàn của Tập đoàn quân tới cả 2 nơi. Ngày hôm sau, các quân đoàn di chuyển về Liêu Đông bằng tàu hoả[79].

Hướng tiến quân của các mũi Tây Nam

Giáp phía Nam của mũi chủ công, Tập đoàn quân 17 hành quân qua Nội Mông không gặp kháng cự. Trên hướng này chỉ có Sư đoàn 108 bộ binh Nhật đóng ở Nhiệt Hà chia vài đơn vị nhỏ giữ Lâm TâyXích Phong. Vì thế, vượt qua cái khát của thời tiết khô nóng và địa hình sa mạc, Tập đoàn quân 17 dễ dàng chiếm Lâm Tây vào ngày 13 tháng 8, Đại Bản Sơn[Ct 16] vào 14 tháng 8, Xích Phong vào ngày 17 tháng 8. Ngày 18 tháng 8, Tập đoàn quân tiếp tục di chuyển về hướng Nam và đến ngày 23 tháng 8 thì tiến đến Sơn Hải Quan đối diện với bán đảo Liêu Đông