Chào ngày mới 6 tháng 5

Versailles chateau.jpg
CNM367. Chào ngày mới 6 tháng 5
. Wikipedia Ngày này năm xưa.  Năm 1682 – Quốc vương Louis XIV của Pháp chuyển triều đình của ông đến Lâu đài Versailles. Năm 1861 – ngày sinh Rabindranath Tagore, nhà thơ người Ấn Độ (mất năm 1941) Năm 1994Nữ vương Anh Elizabeth IITổng thống Pháp François Mitterrand hành lễ khánh thành đường hầm qua eo biển Manche.

6 tháng 5

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 6 tháng 5 là ngày thứ 126 (127 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 239 ngày trong năm.

« Tháng 5 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31

Mục lục

Sự kiện

Người sinh

Người chết

Những ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Chào ngày mới 6 tháng 5

CNM365 Chào ngày mới 6 tháng 5 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Quốc tế không ăn kiêng, ngày Cảnh sát tại Gruzia, ngày Liệt sĩ tại Gabon, LibanSyriaNăm 1682 – Quốc vương Louis XIV của Pháp chuyển triều đình của ông đến Lâu đài Versailles (hình). Năm 1935 – Máy bay tiêm kích Curtiss P-36 Hawk thực hiện chuyến bay đầu tiên. Năm 1945Chiến tranh thế giới thứ hai: Chiến dịch Praha bắt đầu, đây là chiến dịch lớn cuối cùng của Liên Xô và Đồng Minh tại châu Âu. Năm 1973In Tam bắt đầu đảm nhiệm chức vụ thủ tướng của Cộng hòa Khmer, song chỉ tại nhiệm trong 7 tháng. Năm 1994Nữ vương Anh Elizabeth IITổng thống Pháp François Mitterrand hành lễ khánh thành đường hầm qua eo biển Manche.

Lâu đài Versailles

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cung điện và công viên Versailles*
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
Versailles chateau.jpg


Orangerie.jpg

Quốc gia  Pháp
Kiểu Văn hóa
Hạng mục i, ii, vi
Tham khảo 83
Vùng UNESCO Châu Âu
Lịch sử công nhận
Công nhận 1979 (kì thứ 3)

Lâu đài Versailles (tiếng Pháp: Château de Versailles) thường được gọi là cung điện Versailles hay đơn giản là Versailles là nơi ở của các vua Pháp Louis XIII, Louis XIV, Louis XVLouis XVI. Nằm ở phía Tây của Paris tại thành phố Versailles, lâu đài Versailles là biểu tượng của quyền lực tối thượng của các triều đại phong kiến Pháp với một diện tích và các công trình kiến trúc cực kì đồ sộ và lộng lẫy. Với một cung điện rộng 67.000 mét vuông gồm trên 2000 phòng, một công viên có diện tích 815 héc ta, Versailles là một trong các lâu đài đẹp nhất và lớn nhất châu Âu cũng như trên thế giới, năm 1979 nó đã được UNESCO đưa vào danh sách Di sản thế giới.

Kiến trúc

Đặc điểm

Lâu đài Versailles là công trình ghi dấu những tinh hoa của nghệ thuật Pháp thế kỉ 1718, kiến trúc của nó tuân theo những quy tắc chuẩn mực của chủ nghĩa cổ điển như tính đối xứng của công trình, các hành lang nhiều cột, các công trình nghệ thuật lấy cảm hứng từ truyền thuyết và nghệ thuật cổ đại. Xen vào sự chính xác này là một số nét nghệ thuật Baroque.
Lâu đài hiện nay hầu như vẫn mang dáng vẻ công trình do vua Louis XIV (16431715) giao cho kiến trúc sư Le Vau xây dựng năm 1668. Bên trong cung điện của lâu đài là nhiều phòng lớn (Grand Appartement) như Phòng lớn của Đức vua, Phòng lớn của Hoàng hậu hay Phòng Gương (Galerie des Glaces). Các phòng lớn này được thông nhau bằng các dãy hành lang trang trí lộng lẫy từ sàn nhà đến trần, đây là tác phẩm của những người thợ thủ công do Charles Le Brun phụ trách. Phòng Gương là căn phòng lớn nhất của lâu đài, nó dài tới 73 mét, một bên nhìn ra khu vườn, một bên được bao phủ bởi 17 tấm gương cực lớn. Bên cạnh các phòng lớn còn có các phòng nhỏ (Petit Appartement) như Phòng ngủ của Đức vua (Chambre du roi) với rất nhiều tấm thảm và gỗ lát tường mạ vàng. Ngoài ra còn có các buồng con và các phòng chức năng khác. Không chỉ gồm các phòng ở và làm việc, lâu đài còn có một nhà nguyện và một nhà hát riêng. Tại nhà nguyện của Versailles từ năm 1689 đến năm 1710 các vị hoàng đế Pháp đã tổ chức những buổi cầu nguyện của hoàng gia. Nhà hát được khánh thành năm 1770 là một trong những công trình lớn cuối cùng được xây dựng của lâu đài.

Một vài con số

Phòng Gương, phòng đẹp nhất của cung điện

Hiện nay lâu đài là tài sản công cộng của Nhà nước Pháp. Để quản lý và điều hành lâu đài, người ta cần một đội ngũ 900 nhân viên, trong đó có 400 là nhân viên bảo vệ. Mỗi năm khu lâu đài thu hút 3 triệu lượt người tham quan cung điện và 7 triệu lượt người tham quan công viên, trong số này 70% là khách nước ngoài.
Lâu đài Versailles hiện bao gồm các cung điện Versailles, Grand TrianonPetit Trianon, với 700 phòng, 2.513 cửa sổ, 352 ống khói, 67 cầu thang, 483 gương và 13 héc ta mái ngói. Diện tích mở cửa cho công chúng tổng cộng là 67.121 mét vuông. Phần công viên bao phủ diện tích 800 héc ta, trong đó có 300 héc ta rừng, 2 vườn cảnh kiểu Pháp (Petit Parc, 80 ha, và Trianon, 50 ha). Phần công viên này có 20 km hàng rào, 42 km đường mòn và 372 bức tượng. Ngoài ra Versailles còn có 55 hồ, bể chứa nước trong đó lớn nhất là Grand Canal, rộng 23 ha với dung tích 500.000 mét khối, còn phải kể đến 600 vòi phun nước và 35 km kênh đào.
Các bảo tàng của lâu đài Versailles được Camille Bachasson, bá tước Montalivet thành lập năm 1837 theo lệnh của vua Louis-Philippe I dưới cái tên Bảo tàng Lịch sử Pháp (Musée d’Histoire de France). Với diện tích 18.000 mét vuông, đây là bảo tàng lịch sử lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Nó có một bộ sưu tập tranh cực lớn được sắp xếp theo niên đại lịch sử, tất cả đều do vua Louis-Philippe ra lệnh mua và sưu tầm.
Để hoàn thành khối lượng công trình khổng lồ này, vào thời vua Louis XIV người ta đã phải huy động tới hàng chục nghìn lượt lao động (cao nhất là 36.000 nhân công một năm) và tiêu tốn ít nhất là 100 triệu livre.

Lịch sử

Khởi đầu

Tượng vua Louis Mặt Trời ở trước lâu đài Versailles

Danh từ Versailles ra đời lần đầu vào năm 1038 trong tấm bản đồ của tu viện Saint-Père de Chartres mà Hugo de Versaillis là một trong các chữ ký trên đó. Vào thế kỉ 10, các tu sĩ cũng cho xây dựng công trình đầu tiên ở vùng đất này, đó là nhà thờ – tu viện Saint-Julien. Năm 1472 thị trấn nhỏ Versaille-aux-bourg-de-Galie bắt đầu xuất hiện. Một lâu đài nhỏ của chúa đất Versailles bắt đầu thay thế cho nhà thờ cũ, 3 năm sau đó Gilles de Versailles nhượng lại quyền sở hữu Trianon cho giám mục vùng Saint-Germain. Trên vùng đất này vua Louis XI đã cho xây dựng một lâu đài nhỏ để làm nơi nghỉ ngơi.
Năm 1561, toàn bộ mảnh đất được bán cho Martial de Loménie, thư kí tài chính của vua Charles IX, người đã mở rộng mảnh đất lên 150 héc ta. Ngày 24 tháng 8 năm 1572 Loménie bị ám sát trong vụ Thảm sát Ngày lễ Thánh Barthélemy, khu đất rơi vào tay nam tước Retz là Albert de Gondi, ông này sau đó trao quyền thừa kế Versailles cho con mình là Jean-François de Gondi năm 1616.
Năm 1623, vua Louis XIII, cho xây dựng tại khu rừng Versailles một khu nhà nhỏ bằng gạch và đá để làm nơi dừng chân khi săn bắn. Sau đó ông này mua thêm một mảnh đất của Jean de Soisy, để xây dựng lâu đài đầu tiên của Versailles với một cung điện bằng đá cẩm thạch. Theo những khảo quật mới[1], vua Louis XIII đã cho xây dựng một sàn đấu jeu de paume tại đây, đó là một tòa nhà hình chữ nhật dài 14 x 33 mét với các bức tường dày 1,3 mét.
Ngày 8 tháng 4 năm 1632, Louis XIII mua lại toàn bộ vùng đất Versailles từ Jean-François de Gondi. Ngày 26 tháng 5 cùng năm, ông ra lệnh khởi công việc mở rộng lâu đài dưới sự điều khiển của kiến trúc sư Philibert Le Roy. Công việc này hoàn thành năm 1634, 2 năm sau đó một vườn cảnh kiểu Pháp được xây dựng thêm theo thiết kế của Boyceau et Menours. Năm 1643, Louis XIII qua đời, truyền ngôi lại cho con trai mình, một trong những vị vua vĩ đại nhất của Pháp, Louis XIV hay Louis Mặt Trời.

Louis XIV

Sau khi Louis XIV lên ngôi, ông này cảm thấy không thoải mái với bất cứ cung điện hoàng gia nào lúc đó, từ Palais-Royal, đến Louvre, Tuileries và cả Fontainebleau. Ngay lần đầu tiên đến thăm Versailles, ông đã cảm thấy thích thú với lâu đài tại đây, ông quyết định chuyển dần hoàng gia về Versailles và đến ngày 25 tháng 10 năm 1660 thì Louis XIV chính thức chuyển về lâu đài này cùng hoàng hậu Marie-Thérèse.
Năm 1661, vua quyết định chi 1,1 triệu livre để mở rộng lâu đài với ý định biến nó thành lâu đài tráng lệ hàng đầu trong các hoàng gia châu Âu. Người được giao thiết kế công trình này là Louis Le Vau, kiến trúc sư của Lâu đài Vaux-le-Vicomte. Công việc trang trí các tòa nhà được giao cho Charles ErrardNoël Coypel, còn André Le Nôtre được giao xây dựng khu vườn cảnh orangerie và vườn thú. Tháng 5 năm 1664 lễ hội đầu tiên được tổ chức tại Versailles với sự tham gia của Molière, người cho công diễn ba hồi đầu của vở Tartuffe. Từ năm 1664 đến năm 1666 lâu đài tiếp tục được Le Vau mở rộng gấp 3 lần, khu vườn cũng được đặt thêm các bức tượng do GirardonLe Hongre sáng tác. Năm 1667 hồ chứa nước lớn của lâu đài, Grand Canal (Kênh lớn), được khởi công xây dựng.

Toàn cảnh khu vườn của lâu đài Versailles

Từ năm 1668 đến năm 1670, Le Vau chỉ huy xây dựng phần cung điện mới Enveloppe (Vỏ bọc). Phần công trình này bao gồm một tòa nhà bao bọc lấy cung điện ban đầu. Các Phòng lớn (Grand Appartement) của vua, hoàng hậu cũng được xây dựng ở hai cánh, thêm vào đó là một sân lớn đối diện với vườn cảnh. Sau khi Le Vau qua đời ngày 11 tháng 10 năm 1670, việc chỉ huy xây dựng được giao cho François d’Orbay. Sau khi hoàn thành, phần lâu đài mới này được gọi là “Château Neuf” (Lâu đài Mới) để phân biệt với phần lâu đài cũ “Château Vieux” do vua Louis XIII cho xây dựng. Cũng trong năm 1670 cung điện Trianon bằng sứ được xây dựng. Từ năm 1678 đến năm 1684, Phòng Gương (Galerie des Glaces), gian phòng xa hoa nhất của cung điện được xây dựng.
Ngày 6 tháng 5 năm 1682, vua Louis XIV quyết định không chờ cung điện mới hoàn thành mà rời Saint-Cloud về Versailles và tuyên bố đây là lâu đài chính thức của hoàng đế Pháp. Từ năm 1685 đến năm 1689, lâu đài tiếp tục được mở rộng để đáp ứng được nhu cầu của hoàng gia và các thị thần. Để hoàn thành công việc này, người ta đã huy động từ 22.000 đến 30.000 nhân công, 6.000 ngựa và thậm chí trồng nguyên một khu rừng mới cho lâu đài. Năm 1684, phòng triển lãm của lâu đài được hoàn thành.

Giai đoạn sau

Sau khi Louis XIV qua đời năm 1715, các vua Louis XVLouis XVI tiếp tục coi Versailles là lâu đài chính thức của nhà vua và xây dựng thêm các công trình khác trong đó có một nhà hát hoàng gia và một thư viện lớn ở ngay trong lâu đài
Sau khi Cách mạng Pháp nổ ra, chế độ phong kiến Pháp dưới triều vua Louis XVI sụp đổ thì lâu đài Versailles cũng mất đi vị trí vốn có của mình. Rất nhiều vật báu của lâu đài hoặc được đưa về bảo tàng Louvre, hoặc bị bán sang cho triều đình Anh. Khi vương triều Bourbon trở lại, dưới thời vua Louis-Philippe I, Versailles được chuyển thành “Bảo tàng Lịch sử Pháp” (Musée d’Histoire de France). Cung điện Versailles cũng là nơi chứng kiến việc kí Hòa ước Versailles dẫn đến sự kết thúc của Thế chiến thứ nhất.
Năm 1979, lâu đài Versailles gồm cung điện và công viên đã được UNESCO đưa vào danh sách Di sản thế giới.

Hình ảnh

Tham khảo

Liên kết ngoài


Đường hầm eo biển Manche

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Channel Tunnel
Le tunnel sous la Manche
Course Channeltunnel fr.svg
Bản đồ Đường hầm eo biển Manche.
Thông tin
Địa điểm Bên dưới eo biển Manche
(Eo biển Dover)
Tọa độ 51,01251°B 1,50408°ĐTọa độ: 51,01251°B 1,50408°Đ
Tình trạng Đang hoạt động
Bắt đầu Folkestone, Kent, Anh
Kết thúc Coquelles, Pas-de-Calais, Pháp
Vận hành
Khai trương 6 tháng 5 năm 1994
Chủ nhân Eurotunnel
Đơn vị vận hành Shuttle,
Eurostar,
EWS,
SNCF
Kỹ thuật
Điện khí hóa

Nhà ga Anh tại Cheriton ở phía tây Folkestone, từ Pilgrims’ Way.

Đường hầm eo biển Manche hay Đường hầm eo biển Anh (tiếng Pháp: le tunnel sous la Manche, tiếng Anh: Channel Tunnel), là một đường hầm đường sắt dài 50,45 km bên dưới biển Manche tại Eo biển Dover, nối Folkestone, KentAnh (51°5′49,5″B 1°9′21″Đ) với Coquelles gần Calais ở phía bắc Pháp (50°55′22″B 1°46′50,16″Đ).
Đây là một đại dự án với nhiều khởi đầu sai lầm nhưng cuối cùng đã thành công vào năm 1994. Đường hầm đường sắt này dài thứ hai thế giới; tuyến đường hầm SeikanNhật Bản dài hơn nhưng đoạn dưới biển chỉ là 37,9 km, là đường hầm dưới biển dài nhất thế giới. Đường hầm qua eo biển Manche do hãng Eurotunnel vận hành. Trong đường hầm có những chuyến tàu chở khách tốc độ nhanh Eurostar, vận tải phương tiện Eurotunnel roll-on/roll-off – lớn nhất thế giới – và các chuyến tàu chở hàng quốc tế.[1] Năm 1996 Hội Kỹ sư Dân dụng Mỹ đã coi đường hầm này là một trong Bảy kỳ quan thế giới hiện đại.[2]
Các ý tưởng về một đường hầm cố định nối giữa hai bờ biển đã xuất hiện ngay từ năm 1802,[3][4] nhưng sức ép của giới chính trị gia và báo chí Anh Quốc về vấn đề an ninh quốc gia đã làm đình trệ những nỗ lực xây dựng.[5] Tuy nhiên, dự án thành công cuối cùng, được tổ chức bởi Eurotunnel, bắt đầu công việc xây dựng năm 1988 và khai trương năm 1994. Chi phí dự án đã vượt mức dự toán 80%.[6] Từ khi được xây dựng, đường hầm đã phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng. Những trận hoả hoạn đã làm ngưng trệ hoạt động của đường hầm. Những người nhập cư trái phép và tìm kiếm quy chế tị nạn đã sử dụng đường hầm này để vào Anh (thỉnh thoảng, thậm chí còn có thể đi bộ được vào trong hầm),[7] gây ra một sự bất đồng ngoại giao nhỏ về vị trí của trại tị nạn Sangatte, cuối cùng nó bị đóng cửa năm 2002.[8]

Nguồn gốc

Các đề xuất và nỗ lực

Những ngày tháng quan trọng
1802 Albert Mathieu đưa ra đề nghị một đường hầm nối giữa eo biển.
1875 The Channel Tunnel Company Ltd[9] bắt đầu những thử nghiệm đầu tiên.
1882 Đường hầm phía Vách Abbot đã đạt tới 820m và đường hầm phía vách Shakespeare đạt 1870m chiều dài.
Tháng 1 năm 1975 Một kế hoạch được chính phủ Anh và Pháp hậu thuẫn khởi động năm 1974 đã bị huỷ bỏ.
Tháng 2 năm 1986 Hiệp ước Canterbury được ký kết cho phép dự án được thực hiện.
Tháng 6 năm 1988 Việc đào hầm được thực hiện đầu tiên ở Pháp.
Tháng 12 năm 1988 Máy đào hầm (TBM) phía Anh bắt đầu hoạt động.
Tháng 12 năm 1990 Đường hầm dịch vụ đã thông bên dưới đáy biển.
Tháng 5 năm 1994 Đường hầm được chính thức khai trương bởi Nữ hoàng Anh và Tổng thống Mitterrand.
Giữa năm 1994 Những chuyến tàu chở khách và chở hàng bắt đầu hoạt động.
Tháng 11 năm 1996 Một đám cháy trong một chuyến tàu chở xe tải đã làm hư hại đường hầm.
Tháng 11 năm 2007 High Speed 1, nối London tới đường hầm, được mở cửa.
Tháng 9 năm 2008 Một đám cháy khác trên một đoàn tàu chở xe tại làm hư hại đường hầm

Kế hoạch năm 1856 của Thomé de Gamond về một đường nối xuyên eo biển, với một cảng/airshaft trên bãi cát Varne giữa eo biển

Năm 1802, kỹ sư mỏ Pháp Albert Mathieu đưa ra đề xuất về một đường hầm dưới eo biển Manche, được chiếu sáng bằng những chiếc đèn dầu, với những chiếc xe ngựa kéo, một hòn đảo nhân tạo giữa biển để đổi ngựa.[3]
Sau đó, vào thập niên 1830, Aimé Thomé de Gamond người Pháp thực hiện những chuyến khảo sát địa chất và thuỷ văn đầu tiên về eo biển, giữa Calais và Dover. Thomé de Gamond đã khảo sát nhiều kế hoạch và, vào năm 1856, ông đệ trình Napoleon III một kế hoạch về một tuyến đường sắt mỏ từ Mũi Gris-Nez tới Eastwater Point với một port/airshaft trên bãi cát Varne[10] với chi phí 170 triệu franc Pháp, hay chưa tới 7 triệu bảng Anh.[11]
Năm 1865, một phái đoàn do George Ward Hunt dẫn đầu đệ trình ý tưởng về một đường hầm tới Bộ trưởng Bộ tài chính Anh khi ấy, William Ewart Gladstone.[12]
Sau năm 1867, William Low và Sir John Clarke Hawkshaw ủng hộ các ý tưởng, nhưng không kế hoạch nào được thực hiện. Một nghị định chính thức giữa Anh và Pháp được thiết lập năm 1876 về một đường hầm đường sắt xuyên eo biển. Năm 1881, nhà kinh doanh vận tải đường sắt Anh Ngài William Watkin và nhà thầu Kênh Suez Pháp Alexandre Lavalley đều ở trong Công ty Đường sắt ngầm dưới biển Anh-Pháp tiến hành công việc khảo sát ở cả hai phía eo biển. Ở phía Anh một máy đào có đường kính 2.13 đã đào một đường hầm dẫn hướng dài 1893m từ Vách Shakespeare. Ở phía Pháp, một máy tương tự đào một đường hầm dài 1669m từ Sangatte. Dự án bị huỷ bỏ vào tháng 5 năm 1882, trước sức ép từ giới chính trị gia và báo chí Anh cho rằng đường hầm sẽ gây ảnh hưởng tới khả năng quốc phòng của Anh.[5] Những công việc đầu tiên này sẽ được thực hiện hơn một thế kỷ sau trong dự án TML.
Năm 1955, những tranh cãi về quốc phòng bị coi là không thích hợp bởi sự thống trị của không quân; vì thế, cả chính phủ Anh và Pháp đều ủng hộ những cuộc khảo sát kỹ thuật và địa chất. Việc xây dựng bắt đầu ở cả hai phía eo biển năm 1974, một dự án được chính phủ tài trợ sử dụng hai đường hầm ở cả hai phía của một đường hầm dịch vụ, với khả năng lưu thông cho những đoàn tàu chở xe hơi. Tháng 1 năm 1975, trước sự mất tinh thần của các đối tác Pháp, chính phủ Anh đã huỷ bỏ dự án. Chính phủ đã thuộc Công đảng và đang có sự không chắc chắn về quy chế thành viên Uỷ ban Châu Âu, các ước tính chi phí đã tăng lên tới 200% và nền kinh tế quốc gia đang gặp khó khăn. Tới thời điểm ấy British Priestly TBM đã sẵn sàng và Bộ giao thông đã có khả năng thực hiện một đường hầm dẫn hướng thực nghiệm dài 300 m.[5] Tuy nhiên, đường hầm ngắn này sẽ được tái sử dụng làm điểm khởi đầu và lối vào cho những hoạt động đào hầm ở phía Anh.
Năm 1979 “Mouse-hole Project” (Dự án Lỗ Chuột) được đề xuất khi đảng Bảo thủ Anh quay lại nắm quyền lực. Ý tưởng là một hầm đường sắt đơn với một hầm dịch vụ, nhưng không có các ga đầu cuối. Chính phủ Anh không quan tâm tới việc rót vốn cho dự án, nhưng Thủ tướng Margaret Thatcher nói rằng bà không phải đối một dự án do tư nhân tài trợ. Năm 1981 Thủ tướng Anh Margaret Thatcher và Tổng thống Pháp François Mitterrand đồng ý thành lập một nhóm làm việc với mục tiêu một dự án do tư nhân tài trợ, và vào tháng 4 năm 1985 những người ủng hộ được chính thức mời tới một cuộc họp về các kế hoạch đề xuất. Bốn bản đề xuất được xem xét:

  • một đề xuất đường sắt dựa trên kế hoạch được đệ trình bởi Channel Tunnel Group/France–Manche (CTG/F–M) năm 1975,
  • Eurobridge – một cây cầu treo dài 4.5 km với một đường bộ trong một ống kín
  • Euroroute – một đường hầm dài 21 km với các hòn đảo nhân tạo tiếp cận bằng cầu, và
  • Channel Expressway – các đường hầm có đường kính lớn với các tháp thông gió ở giữa eo biển.[5]

Các công ty phà xuyên eo biển dưới cái tên “Flexilink” phản đối. Năm 1975 không có chiến dịch nào phản đối một đường nối cố định, với một trong những nhà điều hành phà lớn nhất (Sealink) là thuộc sở hữu nhà nước. Flexilink tiếp tục phản đối trong cả năm 1986 và 1987.[5] Công chúng rất thích ý tưởng về một đường hầm có thể lái xe xuyên qua, nhưng các vấn đề về thông gió, những lo ngại về việc quản lý rủi ro, và sự trái nghịch chiều lưu thông dẫn tới việc chỉ những dự án đường sắt được xem xét, CTG/F-M, đã được trao dự án.[5]

Tổ chức

Một biểu đồ hình khối mô tả cơ cấu tổ chức được sử dụng cho dự án. Eurotunnel là tổ chức trung tâm của việc xây dựng và điều hành (thông qua nhượng quyền) đường hầm.

Channel Tunnel Group của Anh gồm hai ngân hàng và năm công ty xây dựng, trong khi các đối tác phía Pháp, France–Manche, gồm ba ngân hàng và năm công ty xây dựng. Vai trò của các ngân hàng là để tư vấn về tài chính và đảm bảo các cam kết về vốn. Ngày 2 tháng 7 năm 1985, các nhóm thành lập Channel Tunnel Group/France–Manche (CTG/F–M). Đề xuất của họ tới chính phủ Anh và Pháp được soạn thảo từ dự án năm 1975, gồm 11 tập và một báo cáo về ảnh hưởng môi trường.[5]
Việc thiết kế và xây dựng được thực hiện bởi mười công ty xây dựng trong CTG/F-M group. Ga đầu cuối phía Pháp và việc đào hầm từ Sangatte được thực hiện bởi năm công ty xây dựng Pháp trong nhóm liên doanh GIE Transmanche Construction. Ga đầu cuối phía Anh và việc đào hầm từ Vách Shakespeare được thực hiện bởi năm công ty xây dựng Anh thuộc Trankslink Joint Venture. Hai bên đối tác được điều phối bởi TransManche Link (TML), một tổ chức dự án hai quốc gia.[5] Maître d’Oeuvre là một tổ chức giám sát kỹ thuật do Eurotunnel thuê theo các điều khoản của việc nhượng quyền giám sát hoạt động của dự án và báo cáo về các ngân hàng và chính phủ.[13]
Tại Pháp, với truyền thống đầu tư hạ tầng từ lâu đời, dự án nhận được sự ủng hộ rộng rãi, và vào tháng 4 năm 1987 Quốc hội Pháp nhất trí ủng hộ và, vào tháng 6 năm 1987, sau một cuộc điều tra ý kiến công chúng, Thượng viện cùng ủng hộ. Tại Anh, các uỷ ban lựa chọn xem xét đề xuất, lần đầu tiên thực hiện những phiên điều trần lịch sử phía ngoài Westminster, tại Kent. Tháng 2 năm 1987, lần thứ ba Dự án Đường hầm Eo biển được đưa ra xem xét tại Hạ viện, và được thông qua với số phiếu 94 trên 22. Đạo luật Đường hầm Eo biển được Hoàng gia đồng thuận và thông qua thành luật trong tháng 7 năm đó.[5]
Đường hầm Eo biển là một dự án xây dựng-điều hành-chuyển giao (BOOT) với một sự nhượng quyền.[14] TML sẽ thiết kế và xây dựng đường hầm, nhưng việc cung cấp tài chính thông qua một thực thể luật pháp riêng biệt: Eurotunnel. Eurotunnel là công ty mẹ của CTG/F-M và đã ký một hợp đồng xây dựng với TML; tuy nhiên, chính phủ Pháp và Anh kiểm soát công việc kỹ thuật cuối cùng và các quyết định về an toàn. Chính phủ Pháp và Anh trao cho Eurotunnel quyền điều hành 55- (sau này là 65-) năm để trả các khoản nợ và cổ tức. Một Thoả thuận Sử dụng Đường sắt được ký kết giữa Eurotunnel, British RailSociété Nationale des Chemins de fer Français đảm bảo những khoản thu tương lai để đổi lấy việc những tuyến đường sắt chiếm một nửa công suất của đường hầm.
Vốn tư nhân cho một dự án hạ tầng phức tạp như vậy đã đạt tới tầm mức chưa từng có. Một khoản vốn ban đầu £45 triệu được CTG/F-M gọi, tăng £206 triệu từ các định chế tư nhân, £770 triệu được gọi từ các khoản gọi cổ phần công cộng gồm cả quảng cáo báo chí và tivi, một khoản vay ngân hàng nghiệp đoàn và thư tín dụng dàn xếp £5 tỷ.[5] Được tư nhân cung cấp tài chính, tổng chi phí đầu tư theo giá cả năm 1985 là £2600 triệu. Khi hoàn thành năm 1994 chi phí thức tế, theo giá năm 1985, là £4650 triệu: tăng 80%.[6] Chi phí tăng thêm chủ yếu bởi sự tăng cường an toàn, an ninh và các yêu cầu về môi trường.[14] Các chi phí tài chính cao hơn 140% so với dự toán.[15]

Xây dựng

Mười một máy đào hầm dạng khiên, làm việc từ cả hai phía Eo biển (5 máy đào từ phía bờ nước Pháp, 6 máy đào từ phía bờ nước Anh), cắt xuyên qua lớp đá phấn marl để xây dựng hai đường hầm đường sắt và một đường hầm dịch vụ. Các ga đầu cuối của tàu hoả nằm tại Cheriton (một phần của Folkestone) và Coquelles, và được nối với các tuyến đường bộ của Anh và Pháp (M20A16).
Việc đào hầm bắt đầu năm 1988, và hầm bắt đầu hoạt động năm 1994.[16] Theo giá cả năm 1985, tổng chi phí xây dựng là £4650 triệu (£10,153 triệu nếu tính cả lạm phát cho tới năm 2007),[17] tăng 80%. Ở thời điểm xây dựng đỉnh điểm 15,000 người làm việc hàng ngày với chi phí lên tới hơn £3 triệu.[18] Mười công nhân, tám trong số đó là người Anh, đã thiệt mạng khi xây dựng từ năm 1987 tới năm 1993, đa số ở những tháng đầu tiên của việc đào hầm.[19][20][21]

Hoàn thành

Hai hố dẫn hướng có đường kính 50-mm đã giúp đường hầm dịch vụ được xuyên thủng ngày 30 tháng 10 năm 1990.[22] Ngày 1 tháng 12 năm 1990, Graham Fagg người Anh và Phillippe Cozette người Pháp đã đi xuyên qua hầm trước sự chứng kiến của truyền thông.[23] Eurotunnel hoàn thành đường hầm đúng thời hạn,[14] và đường hầm được Nữ hoàng Elizabeth II và Tổng thống Pháp François Mitterrand chính thức khai trương trong một buổi lễ được tổ chức tại Calais ngày 6 tháng 5 năm 1994. Nữ hoàng đã đi qua đường hầm tới Calais trên một đoàn tàu Eurostar, nó dừng đối diện với đoàn tàu chở Tổng thống Mitterrand từ Paris.[24] Sau buổi lễ Tổng thống Mitterrand và Nữ hoàng đã đi trên một Le Shuttle tới một buổi lễ tương tự tại Folkestone.[24]
Tuyến đường sắt xuyên Eo biển (CTRL), hiện được gọi là High Speed 1, chạy 111 km từ ga đường sắt St Pancras ở London tới cổng Đường hầm Eo biển tại Folkestone ở Kent. Nó có chi phí 5,8 tỷ bảng. Ngày 16 tháng 9 năm 2003, Thủ tướng Anh Tony Blair đã khai trương đoạn đầu tiên của High Speed 1, từ Folkestone tới bắc Kent. Ngày 6 tháng 11 năm 2007, Nữ hoàng chính thức khai trương High Speed 1 và ga quốc tế St Pancras,[25] thay thế đường nối tốc độ chậm cũ tới ga đường sắt quốc tế Waterloo. Trên High Speed 1 các đoàn tàu chạy với tốc độ lên tới 300 km/h, chuyến đi từ London tới Paris mất 2h15′ và London tới Brussels mất 51 phút.[26]
Năm 1996, Hội Kỹ sư Dân dụng Mỹ, với Popular Mechanics, đã lựa chọn đường hầm là một trong Bảy Kỳ quan của Thế giới Hiện đại.[2]

Kỹ thuật

Đường hầm Eo biển được triển lãm tại Bảo tàng Đường sắt Quốc gia tại York, Anh Quốc, thể hiện các mặt cắt ngang hình tròn của đường hầm với các đường dây điện phía trên cung cấp năng lượng cho một đoàn tàu Eurostar. Lớp đốt hầm cũng quan sát được.

Việc khảo sát đã được thực hiện trong 20 năm trước khi công việc xây dựng xác nhận những dự đoán trước đó rằng một tuyến đường hầm có thể được đào xuyên một tầng đá marl. Tầng đá marl có thể là lớp dẫn cho đường hầm, với khả năng chống thẩm thấu, dễ đào và có cường độ cao. Tuy ở phía Anh, tầng đá marl chạy dọc theo toàn bộ chiều dài đường hầm, ở phía Pháp có một đoạn dài 5 km có địa chất phức tạp và khó khăn. Đường hầm Eo biển gồm ba đường riêng: hai hầm đường sắt có đường kính 7.6m, cách nhau 30m, dài 50 km và một hầm dịch vụ có đường kính 4.8m ở giữa. Cũng có những đoạn vượt cho hành khách và các cửa hoạt động bằng piston. Đường hầm dịch vụ được sử dụng như một hầm định hướng, được đào trước các đường hầm chính để xác định điều kiện địa chất. Lối vào từ phía Anh là Vách Shakespeare, lối vào từ phía Pháp là một hầm tại Sangatte. Phía Pháp sử dụng năm máy đào hầm (TBM), phía Anh sử dụng sáu. Đường hầm dịch vụ sử dụng Hệ thống Dịch vụ Vận tải Đường hầm (STTS) và các Phương tiện Dịch vụ Đường hầm Hạng nhẹ (LADOGS). An toàn cứu hoả là vấn đề rất quan trọng trong thiết kế.
Giữa các cổng tại Beussingue và Castle Hill đường hầm dài 50.5 km, với 3.3 km dưới đất bên phía Pháp, 9.3 km ngầm bên phía Anh và 37.9 km ngầm dưới biển.[27] Điều này khiến Đường hầm Eo biển trở thành đường hầm đường sắt dài thứ hai trên thế giới, sau Đường hầm Seikan tại Nhật Bản, nhưng là đường hầm có đoạn ngầm dưới biển dài nhất.[28] Độ sâu trung bình là 45m dưới đáy biển.[29] Ở phía Anh, trong số 5 triệu mét khối đất dự tính đào lên 1 triệu mét khối được dùng đắp quả đồi tại ga đầu cuối, và số còn lại được đổ tại Hạ Vách Shakespeare phía sau một đê biển, lấn thêm được 30 hécta đất[18] of land.[30] Vùng đất này sau đó được làm thành Công viên Hạt Samphire Hoe. Ảnh hưởng môi trường không bị coi là bất kỳ một nguy cơ lớn nào cho dự án, và những nghiên cứu sâu nữa về an toàn, tiếng ồn và ô nhiễm không khí đều có kết quả tốt. Tuy nhiên, những lo ngại về môi trường đã xuất hiện với tuyến đường cao tốc nối với London.[31]

Địa chất

Mặt cắt địa chất dọc theo đường hầm như được xây dựng. Đa số chiều dài đường hầm được đào xuyên qua một vỉa (lớp) đá marl.

Việc đào hầm thành công đòi hỏi sự thấu hiểu về địa hình và địa chất và việc lựa chọn lớp đá tốt nhất để đường hầm đi xuyên qua. Nhìn chung địa chất khu vực này gồm các tầng đá tuổi Creta có hướng cắm về phía đông bắc, là một phần của rìa bắc của vòm Wealden-Boulonnais, có các đặc điểm như sau:

  • Theo quan sát của Verstegan năm 1698, vách đá phấn ở cả hai bên Eo biển đều liên tục, và không có đứt gãy lớn;
  • Các vách gồm bốn tầng chính, các trầm tích biển đã có từ 90–100 triệu năm trước; lớp đá phấn dễ thấm qua ở trên và ở giữa phủ lên trên một lớp đá có độ thấm thấp và cuối cùng là lớp đất sét dày không thấm nước. Một địa tầng cát, glauconitic marl (tortia), nằm giữa đá marl và lớp đất sét;
  • Một lớp đá phấn – marl dày 25–30 mét (82–98 ft) (tiếng Pháp: craie bleue)[32] ở dưới cùng của lớp thứ 3 có lẽ là môi trường tốt nhất để đào hầm. Lớp đá có chứa đất sét khoảng 30–40% làm tăng khả năng chống thấm và vì thế khá dễ để đào với cường độ chịu lực tối thiểu. Lý tưởng nhất đường hầm phải được đào ở đáy 15m của đá marl trên lớp đá sét với lượng nước thấm từ các đứt gãy và khe nứt là nhỏ nhất, nhưng điều này sẽ làm tăng áp lực lên tuyến đường hầm khi các vật liệu trương nở và mềm ra khi ẩm.

Ở phía Anh góc cắm của các tầng đá chưa tới 5°, tuy nhiên ở phía Pháp con số này lên tới 20°. Các khe nứt và đứt gãy có ở cả hai phía Anh và Pháp. Ở phía Anh chỉ có những đứt gãy nhỏ có độ dịch chuyển chưa tới 2m. Ở phía Pháp độ dịch chuyển lên tới 15m xuất hiện trong nếp lồi Quenocs. Các đứt gãy có chiều rộng hạn chế, được lắp đầy bởi canxit, pyritđất sét. Độ dốc lớn và đứt gãy khiến việc chọn tuyến đường phía Pháp bị hạn chế. Để tránh nhầm lẫn, các mẫu vi hóa thạch được sử dụng để phân tầng lớp đá malk. Ở phía Pháp, đặc biệt là khu vực gần bờ biển, các đá phấn cứng hơn, giòn hơn và nứt nẻ nhiều hơn phía Anh. Điều này khiến nhiều kỹ thuật đào hầm đã được áp dụng riêng biệt bên phía Anh và phía Pháp.[33]
Tuy nhiên, không có tai biến địa chất nào lớn xảy ra, các trầm tích đệ Tứ trong thung lũng Fosse Dangaered dưới biển và trượt đất Castle Hill ở phía Anh cũng là vấn đề cần quan tâm. Theo cuộc khảo sát địa vật lý năm 1964–1965, Fosse Dangaered là một hệ thống thung lũng được lắp đầy rộng đến 80 m bên dưới đáy biển, cách đoạn đường hầm 500 m về phía nam và nằm ở khoảng giữa. Cuộc khảo sát năm 1986 cho thấy một nhánh cắt qua tuyến đường nhầm, và vì thế tuyến đường hầm có thể phải được dời về phía bắc và ở sâu hơn. Nhà ga phía Anh phải đặt trong khu Castle Hill, đây là khu vực gồm phần đỉnh của các khối đá thuộc phần dưới của lớp đá phấn, glauconitic marl đã bị trượt. Khu vực này đã được ổn định bằng tường chắn và hệ thống thoát nước sườn.[33] Các hầm dịch vụ là các hầm dẫn hướng được thi công trước các hầm chính nhằm xác định rõ điều kiện địa chất như các khu vực có đá bị cà nát và các đới có khả năng thấm nước cao. Việc thăm dò dã được tiến hành trong các hầm dịch vụ một cách chi tiết hơn theo chiều đứng và chiều ngang.[34]

Khảo sát

Công việc đo độ sâu đáy biển và lấy mẫu được Thomé de Gamond tiến hành vào khoảng năm 1833–1867 cho thấy rằng độ sâu đáy biển tối đa là 55 m và địa tầng là liên tục. Công tác khảo sát cũng được tiến hành liên tục trong vài năm sau đó gồm 166 lỗ khoan dưới biển và 70 lỗ khoan trên bờ và hơn 4.000 km tuyến khảo sát địa vật lý biển.[35] Surveys were undertaken in 1958–59, 1964–65, 1972–74 và 1986–88.
Cuộc khảo sát năm 1958–1959 phục vụ cho việc thiết kế các ống chìm và cầu cũng như việc đào hầm, do đó một khu vực rộng được khảo sát. Vào lúc này, việc khảo sát địa vật lý biển cho các dự án kỹ thuật còn rất sơn khai do việc định vị thiếu chính xác và độ phân giải của các mặt cắt địa chấn thấp. Các cuộc khảo sát năm 1964-1965 tập trung vào tuyến đường phía bắc của phía bờ biển Anh ở cảng Dover gồm 70  lổ khoan cho thấy một khu vực có lớp đá phong hóa phát triển sâu và độ thấm cao nằm ở phía nam của cảng Dover.[35]
Theo các kết quả của các cuộc khảo sát trước, một cuộc khảo sát năm 1972-1972 sâu về phía nam của tuyến đường đã được tiến hành và tuyến đường được xác định là khả thi. Thông tin về dự án được hầm cũng đã loan tới công trình trước khi hủy bỏ năm 1975. Ở phía Pháp tại Sangatte, một hầm sâu có các lối vào đã được thực hiện. Ở phía Anh tại Shakespeare Cliff, chính phủ cho phép đào một hầm dài 250 m vớo đường kính 4,5 m. Việc chỉnh đường hầm theo thực tế, phương pháp đào và chống đỡ về cơ bản thực hiện giống như năm 1975. Trong cuộc khảo sát năm 1986–1997, các phát hiện trước đó đã được gia cố và lớp sét glaut, môi trường đào hầm và đá phấn marl chiếm 85%, tuyến đường đã được khảo sát. Các kỹ thuật địa vật lý dùng trong ngành dầu khí cũng được sử dụng để khảo sát.[35]

Đào hầm

Mặt cắt ngang tiêu biểu của đường hầm. Thể hiện đường nối giữa các đường hầm cho xe lửa bằng ống dẫn hoạt động bằng piston, cần thiết để duy trì áp lực sau mỗi lần tàu chạy.

Việc đào hầm giữa Anh và Pháp là một thách thức lớn về kỹ thuật, với chỉ một công trình trước đó là Đường hầm Seikan dưới biển tại Nhật Bản. Một nguy cơ nghiêm trọng là đường hầm ngầm có thể bị rò nước bởi áp lực từ phía trên tại những khu vực có điều kiện địa chất yếu. Đường hầm cũng gặp phải một trở ngại khác ở thời điểm đó – là công trình do tư nhân đầu tư, việc thu hồi vốn sớm rất quan trọng.
Mục tiêu là xây dựng: hai đường hầm đường sắt có đường kính 7.6m, cách nhau 30m, một đường hầm dịch vụ có đường kính 4.8m giữa hai đường hầm chính; các đôi đường nối đường kính 3.3m nối giữa hai hầm đường sắt với hầm dịch vụ ở khoảng cách mỗi 375m; các ống dẫn hoạt động bằng piston đường kính 2m nối các hầm đường sắt ở khoảng cách mỗi 250m; hai hầm vượt dưới biển để nối các hầm đường sắt.[36] Hầm dịch vụ luôn được thi công trước các hầm chính ít nhất 1 km để xác định chính xác điều kiện địa chất, kinh nghiệm đào hầm xuyên đá đã có từ công nghiệp khai mỏ. Các hầm vượt dưới biển là một vấn đề kỹ thuật phức tạp. Hầm của Pháp dựa theo Đường hầm Núi Baker ở Mỹ. Hầm của Anh được đào từ hầm dịch vụ trước hai hầm chính để tránh chậm trễ.
Các đốt hầm đúc sẵn trong máy đào hầm chính (TBM) được sử dụng, nhưng các giải pháp khách nhau được áp dụng phía Anh và phía Pháp. Ở phía Pháp đốt neoprene bắt bu lông bằng thép đúc hay bê tông cốt thép và gắn bằng vữa được sử dụng. Ở phía Anh yêu cầu chính là tốc độ, và việc liên kết các đốt hầm bằng thép đúc chỉ được thực hiện ở những nơi có điều kiện địa chất kém. Trong các hầm phía Anh tám đốt hầm cộng một đốt chính được áp dụng; ở phía pháp cứ năm đốt lại có một đốt chính.[37] Ở phía Pháp một hố có đường kính 55m, sâu 75m được đào tại Sangatte làm điểm tiếp cận. Ở phía Anh một khu vực công trường nằm dưới 140m từ đỉnh Vách Shakespeare, và biện pháp đào hầm mới của Áo (NATM) ban đầu được áp dụng ở lớp đá marl tại đây. Ở phía Anh các đường hầm trên đất liền được đào từ Vách Shakespeare, cùng nơi với đường hầm biển, không phải từ Folkestone. Khu vực ở dưới vách không đủ lớn cho tất cả các máy đào, và dù có những lo ngại về môi trường, đất đào ra được đổ phía sau một đê biển bằng bê tông, với điều kiện đổ đá trong một đầm kín để tránh bột đá phát tán rộng. Vì hạn chế về không gian, nhà máy bê tông đúc sẵn được đặt trên Đảo Grain ở cửa sông Thames.[36]
Ở phía Pháp, vì độ thấm nước lớn hơn, các máy đào hầm cân bằng áp lực đất với các kiểu mở và đóng được sử dụng. Các máy đào hầm ở chế độ đóng trong 5 km đầu nhưng sau đó hoạt động ở chế độ mở, đào xuyên qua vỉa đá marl.[36] Nó làm giảm thiểu tác động tới đất và cho phép chống lại được áp lực nước lớn hơn, và cũng làm giảm nhu cầu nhét vữa phía trước đường hầm. Phía Pháp cần 5 máy đào hầm: hai máy chính đào dưới biển, một máy đào trên đất liển (khoảng cách ngắn 3 km trên đất liền cho phép một chiếc máy đào hầm hoàn thành đường hầm đầu tiên và sau đó quay đầu đào tiếp hầm thứ hai), và hai máy đào hầm dịch vụ. Ở phía Anh điều kiện địa chất đơn giản hơn cho phép sử dụng các máy đào hầm mở có tốc độ nhanh hơn.[38] Sáu máy được sử dụng, tất cả đều bắt đầu đào từ Vách Shakespeare, ba máy đào hầm dưới biển và ba máy đào hầm trên đất liển.[36] Khi đường hầm dưới biển gần hoàn thành các máy đào hầm của Anh đào nghiêng xuống dưới và chôn chặt cách đường hầm. Các máy đào hầm của Pháp sau đó sẽ hoàn thiện đường hầm và được dỡ ra.[39] Một đường ray khổ 900 mm được dùng bên phía Anh khi xây dựng.[40]
Trái với các máy của Anh, được gọi tên theo số đơn giản, các máy đào hầm của Pháp đều được đặt tên phụ nữ: Brigitte, Europa, Catherine, Virginie, Pascaline, Séverine.[41]

Thiết kế đường sắt và rolling stock

Bên trong Eurotunnel Shuttle, một tàu shuttle. Với các toa tàu lớn nhất thế giới,[18] tàu shuttle vận chuyển các phương tiện giữa hai ga đầu cuối của đường hầm.

Xem thêm thông tin: British Rail Class 373

Có ba hệ thống thông tin trong hầm: concession radio (CR) cho các phương tiện di chuyển và người bên trong vùng quy định của đường hầm (ga đầu cuối, đường hầm, hầm bờ biển); track-to-train radio (TTR) để truyền dữ liệu và thông tin giữa các đoàn tàu và trung tâm điều khiển đường sắt, radio nội bộ của tàu (SIR) cho việc liên lạc giữa các lái tàu shuttle và với hành khách qua radio trên ô tô.[42] Toàn bộ dịch vụ trong đường hầm đều chạy điện, chia đều từ phía nguồn của Anh và Pháp. Năng lượng được truyền tới các đầu máy thông qua đường dây phía trên (dây tiếp nối)[43]điện thế 25 kV 50 Hz}}.[44] Một hệ thống tín hiệu cabin được sử dụng cung cấp thông tin trực tiếp tới các lái tàu trên một màn hình hiển thị. Có hệ thống bảo vệ tàu hoả tự động (ATP) để dừng tàu nếu tốc độc khác biệt với số chỉ thị trên màn hình trong cabin. TVM430, như được sử dụng trên LGV Nord, được dùng trong đường hầm.[45] Tốc độ tối đa cho phép là 160 km/h.[46] Hệ thống thám sát của American Sonneville International Corporation được sử dụng trong hầm; ballasted track bị bỏ bởi những cản trở bảo dưỡng và nhu cầu ổn định hình học. Hệ thống Sonneville có các đường ray UIC60 ở cấp 900A nằm trên tấm đệm EVA vi rỗng, được bắt chặt vào bê tông.[47]
Ban đầu 38 đầu máy Le Shuttle được bố trí, làm việc theo cặp với một ở mỗi đầu cuối của một tàu shuttle. Các tàu shuttle có hai nửa riêng biệt: một và hai tầng. Mỗi nửa có hai toa chất tải/dỡ tải và 12  toa chở. Ban đầu Eurotunnel đặt hàng 9 tàu shuttle. 46  đầu máy Class 92 để kéo hàng và những chuyến tàu chở khách xuyên đêm được đặt hàng, chúng có thể chạy bằng điện xoay chiều từ dây dẫn trên nóc và từ điện một chiều từ ray thứ ba. Các tàu chở hàng cũng có hai nửa, mỗi nửa có một toa chất tải, một toa dỡ tải và 14  toa chở. Có một toa dịch vụ phía sau đầu máy. Eurotunnel ban đầu đặt hàng 6  tàu chở hàng. 31  tàu Eurostar, dựa trên TGV của Pháp, được sản xuất hợp với khổ đường của Anh, và với nhiều biến đổi tăng cường độ an toàn bên trong đường hầm, với quyền sở hữu được phân chia giữa British Rail, Công ty Đường sắt Quốc gia PhápCông ty Đường sắt Quốc gia Bỉ. British Rail đã đặt hàng thêm 7 chiếc cho các dịch vụ phía bắc London.[48]
Một tỷ lệ lớn đường ray phía nam Luân Đôn sử dụng một đường ray thứ ba cấp điện một chiều 750 V DC cho đầu máy; tuy nhiên từ khi High Speed 1 khai trương không cần phải sử dụng hệ thống đường ray thứ ba cho bất kỳ phần nào của hành trình bằng Eurostar nữa. High Speed 1, đường hầm và đường tới Paris sử dụng năng lượng từ dây diện phía trên ở điện thế 25 kV 50 Hz. Các tuyến đường sắt ở Brussels cũng được cấp điện từ dây dẫn phía trên, nhưng ở điện thế 3000 V DC.[44]

Điều hành

Sử dụng và dịch vụ

Một biểu đồ giao thông qua Đường hầm thể hiện con số hành khách và tấn hàng hoá. Số lượng đoàn tàu chở phương tiện dã giảm tháng 7 năm 1996 vì sự đóng cửa sau trận hoả hoạn tháng 11 năm 1996.

Ga đầu cuối phía Anh tại Cheriton ở tây Folkestone. Các đoàn tàu tại đây chở phương tiện và được nối với đường cao tốc M20.

[Folkestone White Horse

là phong cảnh cuối cùng phía Anh cho hầu hết hành khách đi trên tàu từ ga Cheriton.]]
Các dịch vụ tại đường hầm gồm:

  • Eurotunnel Shuttle (tên chính thức Le Shuttle) dịch vụ tàu roll-on roll-off cho phương tiện,
  • Eurostar tàu chở khách,
  • tàu chở hàng chạy suốt.[1]

Cả những dự đoán về số lượng hàng hoá và hành khách trước khi xây dựng đường hầm đều quá lớn. Đặc biệt, những dự báo về doanh số của đường hầm cũng quá lạc quan.[49] Dù thị phần chuyên chở qua đường hầm (so với đường biển và đường không) được dự báo chính xác, tính cạnh tranh cao và việc giảm giá đã dẫn tới doanh thu thấp. Ước tính tổng thể về giao thông qua đường hầm quá cao.[50]

Khả năng vận tải hành khách

Tổng khối lượng vận tải hành khách qua đường hầm đạt đỉnh là 18.4 triệu người năm 1998, sau đó giảm xuống còn 14.9 triệu năm 2003, sau đó lại tăng lên 16.1 triệu năm 2008.
Ở thời điểm quyết định xây dựng đường hầm, 15.9 triệu hành khách dược dự đoán sẽ đi trên các chuyến tàu Eurostar trong năm đầu tiên. Năm 1995, năm đầy đủ đầu tiên, số lượng thực tế hơi lớn hơn 2.9 triệu, lên tới 7.1 triệu năm 2000, sau đó giảm xuống còn 6.3 triệu năm 2003. Tuy nhiên, Eurostar cũng bị giới hạn bởi sự thiếu hụt một đường kết nối tốc độ cao ở phía Anh. Sau khi High Speed 1 (tên chính thức CTRL) nối với London được hoàn thành trong hai giai đoạn năm 2003 và 2007, khối lượng vận tải đã tăng lên. Năm 2008, Eurostar chở 9,113,371 hành khách xuyên đường hầm, tăng 10% so với năm trước đó, dù có những giới hạn vận tải vì trận hoả hoạn Đường hầm eo biển Manche năm 2008.[51]

 Năm Số hành khách được vận chuyển…
bằng Eurostar[A][52][53]
(doanh số bán vé thực tế)
bằng Tàu chở khách Eurotunnel[50][52]
(ước tính, triệu người)
Tổng
(ước tính, triệu người)
1994 ~100,000[50] 0.2 0.3
1995 2,920,309 4.4 7.3
1996 4,995,010 7.9 12.9
1997 6,004,268 8.6 14.6
1998 6,307,849 12.1 18.4
1999 6,593,247 11.0 17.6
2000 7,130,417 9.9 17.0
2001 6,947,135 9.4 16.3
2002 6,602,817 8.6 15.2
2003 6,314,795 8.6 14.9
2004 7,276,675 7.8 15.1
2005 7,454,497 8.2 15.7
2006 7,858,337 7.8 15.7
2007 8,260,980 7.9 16.2
2008 9,113,371 7.0 16.1
Achỉ những hành khách đi qua đường hầm bằng Eurostar

Khả năng vận tải hàng hoá

Khối lượng vận tải hàng hoá qua đường hầm không ổn định, với sự sụt giảm năm 1997 vì thời gian đóng cửa sau một vụ cháy tàu chở hàng. Tổng khối lượng hàng hoá qua đường hầm đã tăng theo thời gian, cho thấy khả năng thay thế của đường hầm cho đường biển. Đường hầm đã đạt mức thị phần vận tải hàng hoá xuyên eo biển bằng hay trên mức dự báo cho thập niên 1980 nhưng các dự báo cho năm 1990 và 1994 là quá lớn.
Với việc vận tải hàng hoá bằng các đoàn tàu hàng, dự đoán vận tải hàng hoá cho năm đầu tiên là 7.2 triệu tấn tổng trọng lượng, tuy nhiên, con số của năm 1995 là 1.3 triệu tấn tổng trọng lượng.[49] Khối lượng hàng vận chuyển đạt đỉnh năm 1998 ở mức 3.1 triệu tấn. Tuy nhiên, với những vấn đề vẫn đang diễn ra, con số này đã giảm xuống còn 1.21 triệu tấn năm 2007, hơi tăng trở lại lên 1.24 triệu tấn năm 2008.[51]
Tuy nhiên, cùng với số lượng hàng hoá được chuyên chở trên những tàu shuttle, tăng trưởng số lượng hàng hoá chuyên chở đã diễn ra từ khi đường hầm mở cửa, với 6.4 tấn được chuyên chở năm 1995, 18.4 triệu tấn năm 2003[50] và 19.6 triệu tấn năm 2007.[52]

 Năm Số lượng hàng hoá được chuyên chở…
bằng tàu chở hàng chạy suốt[53]
(tấn thực)
bằng tàu shuttle của Eurotunnel[50][52]
(ước tính, triệu tấn)
Total
(ước tính, triệu tấn)
1994 0 0.8[50] 0.8
1995 1,349,802 5.1 6.4
1996 2,783,774 6.7 9.5
1997 2,925,171 3.3 6.2
1998 3,141,438 9.2 12.3
1999 2,865,251 10.9 13.8
2000 2,947,385 14.7 17.6
2001 2,447,432 15.6 18.0
2002 1,463,580 15.6 17.1
2003 1,743,686[54] 16.7 18.4
2004 1,889,175[55] 16.6 18.5
2005 1,587,790[55] 17.0 18.6
2006 1,569,429[56] 16.9 18.5
2007 1,213,647[56] 18.4 19.6
2008 ~1,240,000[B][52] 14.2 15.4
BTừ tháng 10 năm 2007, Eurotunnel tính toán bằng hàng hoá đường sắt theo các đoàn tàu chứ không phải tấn.[56]

Chi nhánh vận tải hàng hoá của Eurotunnel là Europorte 2.[57] Tháng 9 năm 2006 EWS, nhà điều hành vận tải hàng hoá đường sắt lớn nhất Anh Quốc, đã thông báo rằng vì có sự chấm dứt các khoản trợ cấp trị giá £52 triệu hàng năm từ chính phủ Anh và Pháp cho “Phí Sử dụng Tối thiểu” của đường hầm (một khoản trợ cấp khoảng £13,000 cho mỗi đoàn tàu, ở một mức độ qua lại 4,000 đoàn tàu mỗi năm), các đoàn tàu hàng sẽ dừng chạy sau ngày 30 tháng 11.[58]

Hoạt động kinh tế

Cổ phần trong Eurotunnel được phát hành ở mức giá £3.50 trên mỗi cổ phần ngày 9 tháng 12 năm 1987. Tới giữa năm 1989 giá đã tăng lên £11.00. Những chậm trễ và đội chi phí khiến giá cổ phần giảm; trong những hoạt động thử nghiệm tháng 10 năm 1994 giá cổ phần ở mức thấp nhất trong lịch sử. Eurotunnel đã tạm ngừng việc trả các khoản nợ của mình vào tháng 9 năm 1995 để tránh phá sản.[59] Tháng 12 năm 1997 chính phủ Anh và Pháp đã kéo dài thời gian nhượng quyền quản lý hoạt động cho Eurotunnel thêm 34 năm tới năm 2086. Việc tái cơ cấu tài chính của Eurotunnel diễn ra giữa năm 1998, giảm nợ và các trách nhiệm tài chính. Dù có việc tái cơ cấu, tờ The Economist thông báo trong năm 1998 rằng để vượt qua tình trạng khó khăn thậm chí Eurotunnel phải tăng giá vé, lưu lượng và thị phần để có thể hoạt động bền vững.[60] Một cuộc phân tích chi phí lợi tức của Đường hầm cho thấy rằng có ít ảnh hưởng trên nền kinh tế chung và ít sự phát triển liên quan tới dự án, và rằng nền kinh tế Anh sẽ tốt hơn nếu đường hầm không được xây dựng.[50][61]
Theo các điều khoản của việc nhượng quyền, Eurotunnel buộc phải nghiên cứu một tuyến hầm đường bộ xuyên eo biển. Tháng 12 năm 1999 các đề xuất hầm đường bộ và đường sắt được đệ trình tới chính phủ Anh và chính phủ Pháp, nhưng có sự nhấn mạnh rằng không có đủ nhu cầu cho một tuyến đường hầm thứ hai.[62] Một thoả thuận ba bên giữa Anh Quốc, Pháp và Bỉ về việc kiểm soát biên giới, với sự thành lập các vùng kiểm soát trong đó các sĩ quan của quốc gia khác có thể thực hiện một số quyền hải quan và luật pháp hạn chế. Cho hầu hết các mục đích ở mỗi đầu của đường hầm, có các trạm kiểm tra biên giới của Pháp ở đầu đường hầm phía Anh và ngược lại. Với một số chuyến tàu chạy giữa các thành phố, chính con tàu là một vùng kiểm soát.[63] Một kế hoạch khẩn cấp giữa hai quốc gia phối hợp các hoạt động khẩn cấp của Anh và Pháp.[64]
Năm 1999 Eurostar lần đầu tiên công bố lợi nhuận, sau khi đã thua lỗ £925 triệu năm 1995.[16]

Hoả hoạn

Đã có ba lần xảy ra hoả hoạn trong Đường hầm với ảnh hưởng khá nghiêm trọng dẫn tới việc phải đóng cửa, tất cả đều xảy ra trên các đoàn tàu shuttle xe tải hạng nặng (HGV).
Ngày 18 tháng 11 năm 1996 một đám cháy bùng phát trong một toa xe của đoàn tàu chở xe tải hạng nặng trong đường hầm nhưng không ai bị thương nặng. Nguyên nhân chính xác vẫn chưa được tìm ra,[65] dù đó không phải là một vấn đề do thiết bị đường hầm hay rolling stock; có thể nó bị gây ra bởi sự cố ý của một xe tải hạng nặng. Ước tính nhiệt độ của đám cháy lên đến 1000 °C, và đường hầm đã bị hư hại nghiêm trọng một đoạn dài 46m, và lên tới 500m bị ảnh hưởng ở một số mức độ. Hoạt động đầy đủ của đường hầm được nối lại sáu tháng sau đám cháy.[66]
Đường hầm đã bị đóng cửa trong nhiều giờ ngày 21 tháng 8 năm 2006, khi một xe tải trên một đoàn tàu shuttle bốc cháy.[67] Ngày 11 tháng 9 năm 2008 một đám cháy xảy ra trong đường hầm lúc 13:57 GMT. Vụ việc phát sinh trên một đoàn tàu chở phương tiện đang chạy về phía Pháp.[68] Đám cháy xảy ra cách cổng vào phía Pháp 11 km. Không ai thiệt mạng nhưng nhiều người đã phải vào bệnh viện vì ngạt khói, và những thương tích nhỏ. Đường hầm bị đóng cửa với mọi loại phương tiện, và Đường hầm phía nam không bị thiệt hại đã được mở cửa phục vụ hạn chế hai ngày sau đó.[69] Hoạt động đầy đủ được khôi phục ngày 9 tháng 2 năm 2009[70] after repairs costing €60 million.

Dấu ấn trong vùng

Một báo cáo năm 1996 của Uỷ ban châu Âu dự đoán rằng KentNord-Pas de Calais phải đối mặt với tình trạng gia tăng khối lượng giao thông vì sự tăng trưởng chung của giao thông xuyên đường hầm và giao thông phục vụ đường hầm. Tại Kent, một đường ray tốc độ cao tới London sẽ chuyển giao thông từ đường bộ sang đường sắt.[71] Sự phát triển vùng của Kent sẽ được hưởng lợi từ đường hầm, nhưng vị trí ở quá gần London cũng làm giới hạn các lợi ích. Các lợi ích chủ yếu thuộc các ngành công nghiệp truyền thống và phần lớn phụ thuộc vào sự phát triển của Ga hành khách quốc tế Ashford, nếu không có nó Kent sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào sự mở rộng của London. Nord-Pas-de-Calais có được một ảnh hưởng mang tính biểu tượng lớn trong nước nhờ đường hầm, dẫn tới những lợi ích lớn khác trong ngành chế tạo.[72]
Việc loại bỏ một nút cổ chai bằng các biện pháp như Đường hầm eo biển không cần thiết phải dẫn tới những lợi cíh kinh tế ở mọi vùng có liên quan, hình ảnh của một vùng được nối với mạng lưới vận tải cao tốc châu Âu và hiệu quả chính trị tích cực còn quan trọng hơn sự phát triển kinh tế của vùng. Sự phát triển của vùng từ đường hầm là nhỏ so với sự tăng trưởng kinh tế chung.[73] Đông Nam nước Anh dường như được hưởng lợi về mặt xã hội và phát triển nhờ hệ thống vận tải nhanh chóng và rẻ hơn tới lục địa châu Âu, nhưng những lợi ích có lẽ sẽ không được phân bố đồng đều trong vùng. Tác động môi trường tổng thể hầu như chắc chắn là tiêu cực.[74]
Năm năm sau khi đường hầm được mở cửa có ít dấu ấn lớn lên nền kinh tế chung, và rất khó khăn để xác định những phát triển lớn liên quan tới đường hầm.[75] Đã có ý kiến cho rằng nền kinh tế Anh thực tế đã có thể phát triển tốt hơn nếu không mất những khoản tiền cho việc đầu tư xây dựng đường hầm,[76] cả EurotunnelEurostar, các công ty chính trong việc xây dựng và điều hành đường hầm, đều đã phải viện đến những khoản hỗ trợ lớn của chính phủ cho những khoản nợ ngày càng tăng cao.[77][78][79] Eurotunnel has been described as being in a serious situation.[80]

Tị nạn và nhập cư

Xem thêm: Tìm kiếm quy chế tị nạn
Những người nhập cư và sẽ là những người tìm kiến quy chế tị nạn đã từng sử dụng đường hầm trong nỗ lực vào đất Anh. Tới năm 1997, vấn đề này đã thu hút sự chú ý của báo giới quốc tế, và Chữ thập đỏ Pháp đã mở một trung tâm tị nạn tại Sangatte năm 1999, sử dụng một nhà kho từng được dùng cho việc xây dựng đường hầm; tới năm 2002 đây là nơi trú ngụ của 1500 người, đa số họ đang tìm cách vào Anh.[81] Ở một thời điểm, một lượng lớn người tới từ Afghanistan, IraqIran, nhưng cũng có cả người người châu Phi và các quốc gia Đông Âu.[82]
Đa số người nhập cư vào Anh đều tìm cách leo lên được một đoàn tàu chở hàng, nhưng những người khác sử dụng Eurostar. Dù cơ sở bị rào kỹ, việc ngăn cản hoàn toàn dường như không thể thực hiện; những người tị nạn thậm chí sẽ nhảy từ những cây cầu xuống những đoàn tàu đang chạy. Trong nhiều vụ việc họ đã bị thương khi vượt qua đường hầm; những người khác làm hỏng thiết bị đường sắt, gây chậm trễ và buộc phải sửa chữa.[83] Eurotunnel nói họ mất £5 triệu mỗi tháng vì vấn đề này.[84] Khoảng hơn mười người tị nạn đã chết khi cố vượt qua đường hầm.[81]
Năm 2001 và 2002, nhiều cuộc bạo động đã bùng phát tại Sangatte và các nhóm người tị nạn (lên tới 550 trong một vụ việc vào tháng 12 năm 2001) đã giật đổ các hàng rào và tìm cách tràn vào với chiến thuật biển người.[85] Những người nhập cư cũng đã thử như những hành khách hợp pháp của tàu Eurostar nhưng không có giấy tờ nhập cảnh.[86]
Chính quyền địa phương ở cả Pháp và Anh đã kêu gọi đóng cửa Sangatte, và Eurotunnel đã hai lần tìm kiếm một trát toà chống lại trung tâm này.[81] Anh Quốc lên án Pháp đã cho phép mở cửa Sangatte, và Pháp buộc tội Anh vì các quy chế tị nạn lỏng lẻo của họ và EU vì không có một chính sách nhập cư thống nhất.[84] Tình trạng cause célèbre của vấn đề thậm chí còn khiến một số nhà báo bị bắt giữ khi họ đi theo những người tị nạn vào trong khu vực tài sản của công ty đường sắt.[87]
Năm 2002, sau khi Hội đồng châu Âu nói với Pháp rằng họ đang phá vỡ các quy định của Liên minh châu Âu về tự do vận chuyển hàng hoá, bởi những chậm trễ và đóng cửa là kết quả của sự quản lý an ninh kém của họ, một hàng rào kép đã được dựng lên với chi phí £5 triệu, giảm số người tị nạn bị phát hiện mỗi tuần trên những đoàn tàu chở hàng từ 250 xuống gần như không.[88] Các biện pháp khác gồm các camera CCTV và tăng cường tuần tra cảnh sát.[89] Cuối năm 2002, trung tâm Sangatte bị đóng cửa sau khi Anh quốc đồng ý nhận một số người tị nạn.[90]

An toàn

Đường hầm dịch vụ được sử dụng làm nơi tiếp cận cho phương tiện kỹ thuật trong các phòng cross-passage và phòng thiết bị, để thông khí, và để sơ tán trong trường hợp khẩn cấp. Hệ thống Giao thông Hầm Dịch vụ (STTS) cho phép tiếp cận nhanh mọi khu vực của hầm. Các phương tiện dịch vụ sử dụng xe bánh lốp với một hệ thống đường dây dẫn đường ngầm. 24 phương tiện STTS đã được sản xuất, và được sử dụng chủ yếu cho bảo dưỡng, nhưng cũng cho cả mục đích cứu hoả và trong các trường hợp khẩn cấp. “Các vỏ kén” với các mục đích khác nhau, có chất tải lên tới 2.5–5 tấn, được nhét vào trong thành bên của các phương tiện. Các phương tiện STTS không thể quay đầu bên trong đường hầm, và phải được lái sang đầu phía bên kia. Tốc độ tối đa của nó là 80 km/h khi vô lăng bị khoá. Một đội 15 Phương tiện Dịch vụ Hầm Hạng nhẹ (LADOGS) nhỏ hơn được bổ sung để hỗ trợ cho các STTS. Các LADOGS có chiều dài cơ sở thấp với bán kính quay 3.4 m cho phép quay đầu bên trong đường hầm dịch vụ. Vô lăng không thể bị khoá như các phương tiện STTS, và tốc độ tối đa là 50 km/h. Các vỏ kén lên tới 1 tấn có thể được chất lên phía sau phương tiện. Các lái xe trong đường hầm ngồi phía phải và xe có tay lái nghịch. Với nguy cơ nhân viên từ phía Pháp có thể lái theo chiều thuận quen thuộc của họ, các cảm biến trong phương tiện sẽ cảnh báo tài xế nếu chiếc xe lạc sang bên phải đường hầm.[91]
Ba đường hầm chứa 6000 tấn không khí được điều hoà cho mục đích tiện nghi và an toàn. Không khí được cung cấp từ các toà nhà thông gió tại Vách Shakespeare và Sangatte, với mỗi toà nhà có khả năng cung cấp toàn bộ 100% công suất dự trữ. Thông gió phụ trợ cũng được lắp đặt ở cả hai phía đường hầm. Trong trường hợp hoả hoạn, hệ thống thông gió được sử dụng để giữ khói không lọt vào đường hàm dịch vụ và đưa nó theo một hướng trong đường hầm chính để hành khách bên trong vẫn có không khí sạch. Nhiệt độ được tạo từ thiết bị kéo và cản. Thiết kế giới hạn được đặt ở mức 30 °C, sử dụng một hệ thống làm lạnh với các nhà máy điều hoà nhiệt độ ở cả hai phía Anh và Pháp đẩy nước lạnh chạy theo các đường ống bên trong hầm.[92]
Các đoàn tàu chạy với tốc độ cao tạo ra những thay đổi áp lực kiểu piston có thể làm ảnh hưởng tới sự tiện nghi của hành khách, các hệ thống thông gió, các cửa đường hầm, quạt và các cơ cấu của con tàu, và lực cản trên con tàu.[92] Các ống dẫn hoạt động bằng piston đường kính 2m đã được sử dụng để giải quyết vấn đề này, với 4 ống trên mỗi kilômét để tạo hiệu quả tốt nhất. Không may thay kiểu thiết kế này dẫn tới các lực bên không thể chấp nhận trên các con tàu vì thế việc giảm tốc độ tàu là cần thiết và các thiết bị giới hạn đã được lắp đặt bên trong các ống dẫn.[93]
Vấn đề an toàn cứu hoả trên một đoàn tàu shuttle chở khách được quan tâm lớn nhất, chính Eurotunnel đã lưu ý rằng hoả hoạn là nguy cơ thu hút sự chú ý hàng đầu trong một Trường hợp An toàn năm 1994 vì ba lý do: các công ty đường sắt phản đối việc hành khách được phép ở lại trong toa xe; các thống kê của Home Office cho thấy các vụ cháy toa xe đã tăng gấp đôi trong mười năm; và chiều dài lớn của đường hầm. Eurotunnel đã thuê Cơ quan Nghiên cứu Hoả hoạn Anh lập báo cáo về các vụ cháy phương tiện, cũng như liên kết với Sở cứu hoả Kent để thu thập các thống kê hoả hoạn phương tiện trong vòng một năm. Những thử nghiệm hoả hoạn diễn ra tại Cơ quan Nghiên cứu Mỏ Pháp với một toa tàu giả được dùng để nghiên cứu xem nó sẽ cháy như thế nào.[94] Các hệ thống cửa toa được thiết kế để chống hoả hoạn bên trong toa tàu trong 30 phút, dài hơn thời gian vượt qua hầm là 27 phút. Các máy điều hoà nhiệt độ của toa giúp loại bỏ khói độc từ bên trong toa trước khi khởi hành. Mỗi toa có một hệ thống cứu hoả và phòng hoả, với các cảm biến ion hay bức xạ cực tím, khói và khí có thể gây ra khí tổng hợp có thể dẫn tới cháy. Bởi các toa tàu của Tàu chở phương tiện hạng nặng không được lắp đặt hệ thống chống cháy, các cảm biến hoả hoạn nằm ở toa chất tải và trong chính đường hầm. Một đường ống nước 10-inch (254-mm)[95] được sử dụng trong hầm dịch vụ để cung cấp nước cho các đường hầm chính với các khoảng cách 125m. Hệ thống thông gió có thể kiểm soát sự di chuyển của khói. Có các đầu ra đặc biệt cho các đoàn tàu đang bốc cháy, bởi tàu không được phép dừng lại khi đang cháy trong hầm. Eurotunnel đã cấm vận chuyển rất nhiều hàng hoá nguy hại trong hầm. Hai phương tiện STTS với các pod cứu hoả luôn túc trực ở mọi thời điểm, với thời gian trễ tối đa 10 phút trước khi tiếp cận đoàn tàu đang cháy.[66]

Ga đầu cuối

Một phương tiện đang vào một toa tàu shuttle tại ga đầu cuối Pháp ở Coquelles gần Calais phía bắc Pháp

Các địa điểm ga đầu cuối được đặt tại Cheriton (Folkestone ở Anh) và Coquelles (Calais ở Pháp). Các ga đầu cuối là những cơ sở duy nhất được thiết kế để vận chuyển phương tiện từ đường cao tốc vào tàu hỏa với tốc độ 700 xe và 113 phương tiện nặng mỗi giờ. Phía Anh sử dụng đường cao tốc M20. Các ga đầu cuối được tổ chức với các điểm kiểm soát biên giới ở cạnh lối vào hệ thống để cho phép hành khách đi vào đường cao tốc tại quốc gia đến ngay sau khi rời khỏi tàu. Vùng đặt ga của Anh rất không thích hợp và thiết kế của nó đang bị đòi xem xét lại. Bố trí của Pháp có cách tiếp cận dễ dàng hơn. Để đạt được hiệu suất thiết kế, các đoàn tàu nhận xe trong toa hai tầng; để dễ dàng hơn, các bờ dốc được đặt bên trong tàu để làm lối lên tầng trên.[96] Tại Folkestone có đường tàu chính 20 km và 45 điểm ra với 8 sân ga. Tại Calais có 30 km đường với 44 điểm ra. Tại các ga đầu cuối các đoàn tàu shuttle quay đầu theo hình số 8 để giảm sự hao mòn không đều của bánh.[47]

Trong văn hoá đại chúng

Đường hầm đã xuất hiện trong cao trào bộ phim Mission: Impossible năm 1996 của blockbuster, trong đó một chiếc máy bay trực thăng đã bay vào trong hầm.[97] Miệng hầm, bên trong đường hầm, đoàn tàu TGV và chiếc trực thăng trên phim đều được dựng hình trên máy tính, với lối vào hầm được quay tại một tuyến đường sắt ở Scotland.[98] Điều này là cần thiết bởi những sự sai lệch đáng kể so với thực tế: đường hầm trong phim có hai đường ray (để đủ chỗ cho trực thăng bay và để có tàu chạy ngược chiều), và không có đường dây điện phía trên (để cho phép nhảy xuống từ trực thăng). Kiểu đoàn tàu được dựng trên phim, TGV Réseau, (không giống với tàu Eurostar, chỉ có thể được cung cấp năng lượng từ dây điện phía trên) không chạy qua đường hầm. Các chi tiết không chính xác khác gồm đoàn tàu chuyển từ đường ray này sang đường ray kia trong nhiều cảnh.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a ă Chisholm, Michael (1995). Britain on the edge of Europe. London: Routledge. tr. 151. ISBN 0 415 11921 9.
  2. ^ a ă Reynolds, Christopher (19 tháng 5 năm 1996). “Seven Wonders of the World: The Modern List”. The Plain Dealer.
  3. ^ a ă Whiteside p. 17
  4. ^ “The Channel Tunnel”. library.thinkquest.org. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2009.
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g Wilson pp. 14–21
  6. ^ a ă Flyvbjerg et al. p. 12
  7. ^ “Four men caught in Channel Tunnel”. BBC News. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2009.
  8. ^ “Sangatte refugee camp”. The Guardian. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2009.
  9. ^ “Subterranea Britannica: Channel Tunnel – 1880 attempt”. subbrit.org. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2009.
  10. ^ Whiteside pp. 18–23
  11. ^ “The Proposed Tunnel Between England and France”. The New York Times. 7 tháng 8 năm 1866. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2008.
  12. ^ Gladstone, William (1902). Trong A. W. Hutton & H.J. Cohen. The Speeches Of The Right Hon. W. E. Gladstone On Home Rule, Criminal Law, Welsh And Irish Nationality, National Debt And The Queen’s Reign. The Speeches And Public Addresses Of The Right Hon. W. E. Gladstone, M.P. X. London: Methuen And Company. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2008.
  13. ^ Kirkland pp. 10–11
  14. ^ a ă â Flyvbjerg et al. pp. 96–97
  15. ^ Flyvbjerg et al. p. 3
  16. ^ a ă “On this day: Tunnel links UK and Europe”. BBC News. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2009.
  17. ^ “Measuring Worth: Purchasing Power of the British Pound”. Measuringworth.com. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2009.
  18. ^ a ă â Anderson, pp. xvi–xvii
  19. ^ Harlow, John (2 tháng 4 năm 1995). “Phantom Trains Wreak Havoc in Channel Tunnel”. The Times.
  20. ^ “ingenious: Navvies”. ingenious. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2009.
  21. ^ “Thirteen workers die as safety standards are ignored in race to build Olympic sites”. The Independent. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2008.
  22. ^ Glenn Frankel (31 tháng 10 năm 1990). “Britain and France Link Up-at Last”. The Washington Post.
  23. ^ “Chunnel birthday”. Evening Mail (Birmingham Post & Mail Ltd). 2 tháng 12 năm 2000.
  24. ^ a ă “On This Day – 1994: President and Queen open Chunnel”. BBC News. 6 tháng 5 năm 1994. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2008.
  25. ^ Woodman, Peter (14 tháng 11 năm 2007). “High-speed Rail Link Finally Completed”. Press Association National Newswire.
  26. ^ “New high-speed rail line opens to link Britain to Europe”. Channel NewsAsia (MediaCorp News). 15 tháng 11 năm 2007.
  27. ^ Institute of Civil Engineers p. 95
  28. ^ Gilbert, Jane (1 tháng 12 năm 2006). “`Chunnel’ workers link France and Britain”. The Daily Post (New Zealand) (APN New Zealand Ltd).
  29. ^ Kirkland p. 13
  30. ^ Institute of Civil Engineers p. 208
  31. ^ Flyvbjerg et al. p. 51
  32. ^ Harris, C.S. et al. biên tập (1996). Engineering Geology of the Channel Tunnel. London: Thomas Telford. tr. 57. ISBN 0 7277 2045 7.
  33. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Kirkland_geol_tr.21.E2.80.9350
  34. ^ Kirkland tr. 21–50
  35. ^ a ă â Kirkland tr. 22–26
  36. ^ a ă â b Kirkland pp. 63–128
  37. ^ Wilson p. 38
  38. ^ Kirkland p. 29
  39. ^ Wilson p. 44
  40. ^ Kirkland pp. 117–128
  41. ^ Bản mẫu:Cite article
  42. ^ Kirkland pp. 129–132
  43. ^ Kirkland pp. 134–148
  44. ^ a ă Article: Railway electric traction 2009-08-09
  45. ^ Kirkland pp. 149–155
  46. ^ Article-de: Eurotunnel#Betrieb 2009-08-09
  47. ^ a ă Kirkland pp. 157–174
  48. ^ Kirkland pp. 175–211
  49. ^ a ă Flyvbjerg et al. p. 22
  50. ^ a ă â b c d đ Ricard Anguera (May năm 2006). “The Channel Tunnel—an ex post economic evaluation”. Transportation Research Part A: Policy and Practice 40 (4): 291–315. doi:10.1016/j.tra.2005.08.009.
  51. ^ a ă “Eurotunnel 2008 traffic and revenue figures”. Eurotunnel. 15 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2009.
  52. ^ a ă â b c “Traffic figures”. Eurotunnel. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2009.
  53. ^ a ă “Study Report Annex 2”. Initial East Kent and Ashford Sub-Regional Study for The South East Plan. South East England Regional Assembly. June năm 2004. tr. Table 11. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2009.
  54. ^ “Eurotunnel 2003 Revenue & Traffic”. Eurotunnel. 20 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2009.
  55. ^ a ă “Eurotunnel: 2005 Traffic and revenue figures.”. Eurotunnel. 16 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2009.
  56. ^ a ă â “Eurotunnel 2007 Traffic and Revenue figures: a remarkable year”. Eurotunnel. 15 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2009.
  57. ^ “Eurotunnel gets backing for freight service”. AFX (Agence France Presse). 28 tháng 10 năm 2004.
  58. ^ Dominic O’Connell (3 tháng 9 năm 2006). “Chunnel cash row threatens freight trains”. The Times. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2006.
  59. ^ Bản mẫu:Cite article
  60. ^ Flyvbjerg et al. pp. 32–34
  61. ^ Flyvbjerg, B. Buzelius, N. Rothengatter, W. (2003). Megaprojects and Risk. Cambridge: Cambridge University Press. p. 68-69. ISBN 0-521-00946-4
  62. ^ “The CPS: Channel Tunnel”. Crown Prosecution Service. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2008.
  63. ^ Kirkland p. 331
  64. ^ Bản mẫu:Cite article
  65. ^ a ă C. J. Kirkland (2002). “The fire in the Channel Tunnel” (pdf). Tunnelling and Underground Space Technology 17: 129–132. doi:10.1016/S0886-7798(02)00014-7.
  66. ^ “Lorry fire closes Channel Tunnel”. BBC News. 21 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2006.
  67. ^ Robert Wright (12 tháng 9 năm 2008). “Channel tunnel fire causes further cancellations”. Financial Times. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2009.
  68. ^ “Channel Tunnel Fire Evacuation”. Sky News. 11 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2009.
  69. ^ Eurotunnel fully open to traffic
  70. ^ European Commission pp. 220–222
  71. ^ European Commission pp. 248–252
  72. ^ Fayman, Sonia; Metge, Pierre (September năm 1995). “The regional impact of the Channel Tunnel: Qualitative and quantitative analysis”. European Planning Studies 3 (3): 333.
  73. ^ Button, Kenneth (July năm 1990). “The Channel Tunnel: The Economic Implications for the South East of England”. The Geographical Journal 156 (2): 187–199. doi:10.2307/635327.
  74. ^ Flyvbjerg et al. p. 68–69
  75. ^ “The New Statesman Special Report – Coming soon: the Dome on wheels”. The New Statesman. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2009.
  76. ^ Harrison, Michael (10 tháng 2 năm 2004). “Eurotunnel calls for government support after record £1.3bn loss”. The Independent. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2009.
  77. ^ “Eurotunnel has £4bn too much debt”. The Telegraph. 12 tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2009.
  78. ^ “Debt-laden Channel tunnel rail link is ‘nationalised’”. The Guardian. 21 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2009.
  79. ^ “Facts and figures Eurotunnel 2000-2004/Forecast 2005: Commentry and a suggestion”. Adacte.com. Tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2009.
  80. ^ a ă â Pierre Kremer (tháng 2 năm 2002). “Sangatte: A place of hope and despair”. The Magazine of the International Red Cross and Red Crescent Movement. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2006.
  81. ^ Caryl Phillips (17 tháng 11 năm 2001). “Strangers in a strange land”. The Guardian. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2006.
  82. ^ Avril Stephens (31 tháng 7 năm 2007). “Desperate journeys fraught with danger”. CNN. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2006.
  83. ^ a ă “Europe’s most notorious refugee camp”. BBC News. 12 tháng 7 năm 2002. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2006.
  84. ^ Paul Webster (27 tháng 12 năm 2007). “Police braced for new tunnel raid”. The Guardian. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2006.
  85. ^ “UK/Ireland: Asylum (news digest)”. Migration News. 1998 (?). Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2006.
  86. ^ “2001 World Press Freedom Review: France”. International Press Institute. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2006.
  87. ^ “Sangatte asylum talks due”. BBC News. 26 tháng 9 năm 2002. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2006.
  88. ^ “Tunnel security to be tightened”. BBC News. 31 tháng 5 năm 2002. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2006.
  89. ^ Philip Delves Broughton and Andrew Sparrow (27 tháng 9 năm 2002). “Blunkett reaches deal to shut Sangatte camp”. Daily Telegraph. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2009.
  90. ^ Kirkland pp. 247–254
  91. ^ a ă Kirkland pp. 212–230
  92. ^ The Channel Tunnel Experience Lessons for the Future pp. 19–23
  93. ^ Kirkland pp. 231–240
  94. ^ “Focus turns to cause of tunnel blaze”. BBC News. Truy cập 2008-09-12 21.
  95. ^ Kirkland pp. 255–270
  96. ^ “Mission is possible: Helicopter rides through Chunnel”. The Evening Standard (Associated Newspapers). 27 tháng 8 năm 1998.
  97. ^ Scotland: the Movie Location Guide, Mission Impossible – Dumfries, retrieved 2008-07-16.

Thư mục

  • Anderson, Graham; Roskrow, Ben (1994). The Channel Tunnel Story. London: E & F N Spon. ISBN 041919620X.
  • European Commission. Directorate-General for Regional Policy and Cohesion. (1996). The regional impact of the Channel Tunnel throughout the Community. Luxembourg: European Commission. ISBN 92 826 8804 6.
  • Flyvbjerg, B. Buzelius, N. Rothengatter, W. (2003). Megaprojects and Risk. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 0 521 00946 4.
  • Institution of Civil Engineers (1989). The Channel Tunnel. London: Thomas Telford. ISBN 0 7277 1546 1.
  • Kirkland, Colin J., ed. (1995). Engineering the Channel Tunnel. London: Chapman and Hall. ISBN 0 419 17920 8.
  • Whiteside, Thomas (1962). The Tunnel under the Channel. Rupert Hart-Davis. ISBN 0684832437.
  • Wilson, Jeremy; Spick, Jerome (1994). Eurotunnel – The Illustrated Journey. HarperCollins. ISBN 0002555395.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Kml

Bản mẫu:Đường hầm eo biển Manche

Thể loại:

Chiến dịch Praha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chiến dịch Praha
Một phần của Mặt trận Xô-Đức trong
Chiến tranh thế giới thứ hai
Prague liberation 1945 konev.jpgNguyên soái I. S. Konev và các thành viên Hội đồng quân sự Phương diện quân Ukraina 1 tại Praha vừa được giải phóng
.
Thời gian 512 tháng 5 năm 1945
Địa điểm Khu vực lãnh thổ Séc và Đông Nam nước Đức
Kết quả Chiến thắng của quân đội Liên Xô
Tham chiến
Cờ của Liên Xô Liên Xô
Cờ của România România
Cờ của Tiệp Khắc Tiệp Khắc
Cờ của Ba Lan Ba Lan
Cờ của Đức Quốc Xã Đức Quốc xã
Naval Ensign of Russia.svg ROA
Chỉ huy
Cờ của Liên Xô I. S. Konev
Cờ của Liên Xô R. Ya. Malinovsky
Cờ của Liên Xô A. I. Yeryomenko
Cờ của Tiệp Khắc Ludvík Svoboda
Cờ của România Vasile Atanasiu
Cờ của România Nicolae DăscălescuCờ của Ba Lan Stanislav Gilyarovich Poplavsky
Cờ của Đức Quốc Xã Ferdinand Schörner
Cờ của Đức Quốc Xã Walter Model
Cờ của Đức Quốc Xã Gotthard Heinrici
Cờ của Đức Quốc Xã Walther Nehring
Lực lượng
Liên Xô: 1.770.700 người
Ba Lan: 69.500 người
Romania: 139.500 người
Tiệp Khắc:48.400 người
Xe tăng và pháo tự hành: hơn 2.000
Pháo và súng cối: 30.500
Máy bay: 4.000.[1]
Hơn 900.000 người
1.900 xe tăng và pháo tự hành
9.700 đại bác và súng cối
gần 1.000 máy bay.[2]
Tổn thất
Liên Xô: 11.265 chết, 38.083 bi thương
Ba Lan: 300 chết, 587 bị thương
Romania: 320 chết, 1.410 bị thương
Tiệp Khắc: 112 chết, 421 bị thương [1]
40.000 chết
860.000 bị bắt làm tù binh
Toàn bộ vũ khí, chiến cụ
bị phá hủy hoặc bị thu giữ
.

Chiến dịch Praha là chiến dịch lớn cuối cùng của Quân đội Liên Xô và các đồng minh tại Châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Diễn ra từ ngày 5 đến ngày 12 tháng 5 năm 1945, đây là một trong số ít các chiến dịch tấn công chiến lược có thời gian ngắn nhất trên mặt trận Xô-Đức. Tham gia chiến dịch có ba Phương diện quân Liên Xô cùng với hai tập đoàn quân Romania, một tập đoàn quân Ba Lan và một quân đoàn Tiệp Khắc với 180 sư đoàn có tổng quân số lên đến gần 2.100.000 người. Đối diện với khối quân khổng lồ này là hơn 900.000 quân Đức và các đơn vị Quân giải phóng Nga (ROA) từ các hướng bị thua trận rút về Tiệp Khắc.[3]
Sau bốn ngày tấn công liên tục, Phương diện quân Ukraina 1 đã giải phóng thủ đô Praha của Tiệp Khắc, phối hợp với Phương diện quân Ukraina 2Phương diện quân Ukraina 4 vây chặt Cụm tập đoàn quân Trung Tâm (Đức) tại phía Đông Praha. Sau ba ngày giao chiến, Cụm tập đoàn quân này hạ vũ khí đầu hàng quân đội Liên Xô. Trên biên giới Áo-Tiệp Khắc, Cụm tập đoàn quân Áo (Đức) cũng hạ vũ khí đầu hàng Tập đoàn quân 3 (Hoa Kỳ). Thắng lợi nhanh chóng của quân đội Liên Xô trong Chiến dịch Praha cũng đặt dấu chấm hết cho các đạo quân Nga chiến đấu dưới cờ của quân đội Đức Quốc xã, bao gồm Quân đoàn Vlasov, các sư đoàn ROA và các đơn vị SS người Cossack.[4]
Trong thời gian diễn ra chiến dịch, những người Tiệp Khắc yêu nước, chống phát xít đã nổi dậy khởi nghĩa tại Praha, làm phá sản kế hoạch biến Praha thành một Berlin thứ hai của Bộ Tổng tư lệnh tối cao lục quân Đức và chính phủ của đô đốc Karl Dönitz, bảo toàn tương đối nguyên vẹn một số công trình kiến trúc có giá trị lịch sử của thủ đô Praha cổ kính.
Kết thúc chiến dịch, quân đội Liên Xô và quân đội Hoa Kỳ đã gặp nhau trên tuyến phân giới České BudějovicePlzeňKarlovy Vary. Đây là tuyến giới hạn tấn công được I. V. Stalin, Franklin D. RooseveltWinston Churchill thỏa thuận tại Hội nghị Yalta từ ngày 4 đến 11 tháng 2 năm 1945.[5]

Bối cảnh chiến dịch

Ngày 30 tháng 4 năm 1945, những người lính của Phương diện quân Byelorussia 1 (Liên Xô) đã cắm lá cờ chiến thắng lên nóc nhà Quốc hội Đức. Cũng trong ngày 30 tháng 4, Văn phòng đế chế (còn gọi là Toà nhà Đế chính) nằm trên đại lộ Friedrich Wilhelm bị Quân đội Liên Xô đánh chiếm. Adolf Hitler tự sát. Ngày 2 tháng 5, đến lượt trụ sở cơ quan an ninh Đức Quốc xã trên đường Unter den Lindel (Dưới rặng bồ đề) thất thủ. Mặc dù chiến sự ở khu vực Berlin cơ bản đã chấm dứt nhưng tại Tây Tiệp Khắc, phía Đông Nam nước Áo, tại bán đảo Kurland và một số đảo trên biển Baltic, quân Đức vẫn không chịu hạ vũ khí. Cùng ngày, tướng Alfred Jodl thay mặt Bộ Tổng tham mưu Đức ký mệnh lệnh:

Kể từ hôm nay, nguyên tắc chỉ đạo hoạt động chủ yếu của Bộ chỉ huy tối cao quân đội Đức Quốc xã là cứu vãn binh lính Đức khỏi bị quân Nga bắt làm tù binh càng nhiều càng tốt và tiến hành đàm phán ngay với các nước phương Tây về việc ngừng bắn với họ càng sớm càng tốt.
—Alfred Jodl, [6]

Căn cứ vào mệnh lệnh này, quân Đức chỉ hạ vũ khí trên mặt trận phía Tâymặt trận Ý trong khi vẫn liên tục phản kích vào sườn trái Phương diện quân Ukraina 1 và ngăn chặn Phương diện quân Ukraina 2 (Liên Xô) ở ngoại vi Brno. Ngày 2 tháng 5, Thống chế Albert Kesselring, tư lệnh Cụm tập đoàn quân Italia được sự uỷ nhiệm của Thủy sư đô đốc Karl Dönitz ký thỏa thuận song phương với Bộ tư lệnh quân Đồng Minh tại Địa Trung Hải chấp thuận ngừng bắn ở Bắc Ý.[7]
Trong cơn hấp hối của chế độ phát xít ở Đức khi Berlin, trung tâm quyền lực của Đế chế thứ ba thất thủ, Bộ Tổng chỉ huy tối cao Lục quân Đức đã không còn nắm được quyền điều khiển quân đội trên các mặt trận. Quyền chỉ huy quân đội bị phân rã đến tư lệnh các cụm tập đoàn quân, các tập đoàn quân, quân đoàn, sư đoàn. Đến lượt họ, các tư lệnh chiến trường này cũng không thể kiểm soát được tình hình một quân đội hùng mạnh một thời đang trên đà tan rã. Chỉ có bộ máy SSGestapo là vẫn hoạt động một cách chuyên nghiệp và có kỷ luật, bất chấp những thất bại quân sự to lớn trên cả mặt trận phía Đông lẫn mặt trận phía Tây. Ở nhiều chiến trường, các sĩ quan chỉ huy, các đơn vị của lực lượng SS ngày càng đảm nhận vai trò chỉ đạo và trực tiếp tác chiến quan trọng hơn các lực lượng quân đội. Chiến trường Tiệp Khắc trong những ngày cuối cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai ở Châu Âu thể hiện nổi bật vai trò của lực lượng SS. Trong số các tập đoàn quân còn lại của nước Đức Quốc xã, chỉ có các quân đoàn SS là những đơn vị còn giữ được sức chiến đấu cao. Điều đó gây ra những khó khăn không nhỏ cho quân đội Liên Xô ở phía Đông và quân đội Anh – Mỹ ở phía Tây nước Đức Quốc xã.[8]
Để kéo dài thời gian nhằm ngăn cản quân đội Liên Xô tiến công sâu hơn sang phía Tây, tạo điều kiện cho các đơn vị quân Đức gồm cả quân đội và SS có cơ hội đầu hàng quân đồng minh Anh – Mỹ chứ không đầu hàng Liên Xô, trong những ngày cuối của cuộc chiến, tại chiến trường Tiệp Khắc đã tập trung một cụm quân rất lớn gồm các quân đoàn xe tăng và bộ binh SS thuộc cánh trái của Tập đoàn quân xe tăng 6 SS, các tập đoàn quân xe tăng 1 và 4, các tập đoàn quân binh chủng hợp thành 7, 8 và 17 với tổng quân số không ít hơn tổng quân số Đức Quốc xã có mặt tại mặt trận phía Nam Liên Xô hồi năm 1942. Dưới sự chỉ đạo của Thủy sư đô đốc Karl Dönitz, người thay thế Adolf Hitler đứng đầu chính phủ Đức Quốc xã, tướng Alfred Jodl đã yêu cầu viên tư lệnh quân quản Đức tại Praha phải chuẩn bị nhiều ngôi nhà kiên cố ở Praha để bố trí chỗ làm việc cho cơ quan chính phủ Đức Quốc xã cũng như Bộ chỉ huy tối cao quân đội Đức.[9] Tuy nhiên, những người yêu nước Tiệp Khắc đã làm hỏng ý đồ biến Praha thành một Berlin thứ hai này. Cuộc khởi nghĩa của họ nổ ra ngày 5 tháng 5 đã chặn con đường rút sang phía Tây của Tập đoàn quân xe tăng 1, các tập đoàn quân 8 và 17. Thay vì rút chạy sang tuyến kiểm soát của quân đội Hoa Kỳ trên vùng biên giới Đức – Tiệp Khắc và Áo – Tiệp Khắc, các tập đoàn quân này phải lao vào cuộc chiến để đánh chiếm Praha, mở đường rút sang phía Tây.[10]

Binh lực và kế hoạch

Quân đội Liên Xô và các đồng minh

Quân đội Liên Xô

Phương diện quân Ukraina 1 do nguyên soái I. S. Konev làm tư lệnh, đại tướng I. Ye. Petrov làm tham mưu trưởng. Tổng quân số 806.400 người.[11] Thành phần gồm có[12]:

  • Tập đoàn quân cận vệ 3 do thượng tướng V. N. Gordov chỉ huy.[13] Trong biên chế có:
    • Bộ binh:
      • Quân đoàn 21 gồm các sư đoàn 58, 197, 253.
      • Quân đoàn 76 gồm các sư đoàn 149, 287.
      • Quân đoàn 120 gồm các sư đoàn 106, 127.
      • Các sư đoàn trực thuộc 329 và 389.
    • Pháo binh:
      • Pháo nòng dài: Các lữ đoàn cận vệ 1, cận vệ 40.
      • Lựu pháo: Các lữ đoàn cận vệ 2 và 1528.
      • Hỏa tiễn: Lữ đoàn 163.
      • Pháo chống tăng: Trung đoàn 179.
      • Súng cối: Các trung đoàn 12, 16, 526, 569, cận vệ 8, cận vệ 21, cận vệ 30.
      • Phòng không: Sư đoàn 69 gồm các trung đoàn 1996, 2000, 2004, 2008; Trung đoàn độc lập 1257.
    • Thiết giáp:
      • Quân đoàn xe tăng 25 gồm các lữ đoàn xe tăng 111, 162, 175; Lữ đoàn cơ giới 20; các trung đoàn pháo tự hành 262 (cận vệ chống tăng), 1451; Trung đoàn lựu pháo cận vệ 296; Tiểu đoàn cơ giới trinh sát 53, các trung đoàn súng cối 459 và cận vệ 2; Trung đoàn phòng không 1702.
      • Trung đoàn pháo tự hành 938.
    • Công binh: Các lữ đoàn hỗn hợp 40, 53; Lữ đoàn cầu phao 125.
  • Tập đoàn quân cận vệ 5 do thượng tướng A. S. Zhadov chỉ huy.[14] Trong biên chế có:
    • Bộ binh:
      • Quân đoàn cận vệ 32 gồm các sư đoàn cận vệ 13, 95, 97 và Sư đoàn đổ bộ đường không cận vệ 9.
      • Quân đoàn cận vệ 33 gồm các sư đoàn cận vệ 14, 78 và Sư đoàn 118.
      • Quân đoàn cận vệ 34 gồm các sư đoàn cận vệ 15 và 58.
    • Pháo binh:
      • Sư đoàn pháo hỗn hợp 3 gồm Lữ đoàn pháo nòng dài 15, Lữ đoàn lựu pháo 5, các lữ đoàn hỏa tiễn 1 và cận vệ 25, Lữ đoàn pháo chống tăng 116, Lữ đoàn súng cối 7.
      • Sư đoàn phòng không 29 gồm các trung đoàn 1360, 1366, 1372 và 1374.
      • Các đơn vị trực thuộc: Lữ đoàn lựu pháo 155, các lữ đoàn pháo chống tăng 37 và cận vệ 10, các trung đoàn pháo chống tăng 1073 và 1075, các trung đoàn súng cối 469 và cận vệ 308.
    • Thiết giáp:
      • Quân đoàn xe tăng cận vệ 4 gồm các lữ đoàn xe tăng cận vệ 12, 13, 14; Lữ đoàn cơ giới cận vệ 3; Trung đoàn xe tăng cận vệ 29; các trung đoàn pháo tự hành cận vệ 293 và 298; Trung đoàn pháo nòng dài 1660; Tiểu đoàn cơ giới trinh sát 76; các trung đoàn súng cối 240 và 264; Trung đoàn phòng không cận vệ 120.
      • Các đơn vị trực thuộc: Lữ đoàn xe tăng 150, các trung đoàn xe tăng 39 và 226, Trung đoàn pháo tự hành 1889.
    • Công binh: Lữ đoàn cầu 42, Lữ đoàn kỹ thuật 55.
  • Tập đoàn quân 13 do thượng tướng N. P. Pukhov chỉ huy.[15] Trong biên chế có:
    • Bộ binh:
      • Quân đoàn 24 gồm các sư đoàn 350, 395.
      • Quân đoàn 27 gồm các sư đoàn cận vệ 6, 117 và sư đoàn 280.
      • Quân đoàn 102 gồm các sư đoàn 121 (cận vệ), 147 và 172.
    • Pháo binh:
      • Sư đoàn cận vệ 1 gồm Lữ đoàn pháo nòng dài cận vệ 3, Lữ đoàn pháo chống tăng 98, Lữ đoàn súng cối 30 và Lữ đoàn hỏa tiễn cận vệ 19.
      • Sư đoàn phòng không 10 gồm các trung đoàn 802, 975, 984 và 994.
      • Các đơn vị trực thuộc: Lữ đoàn pháo nòng dài cận vệ 111, Lữ đoàn lựu pháo cận vệ 39, các trung đoàn pháo chống tăng 493 và 1076, các trung đoàn súng cối 128 và cận vệ 323, Trung đoàn phòng không 1287.
    • Thiết giáp: Trung đoàn xe tăng 88, Trung đoàn pháo tự hành chống tăng 327 các trung đoàn pháo tự hành 372 (cận vệ), 768 và 1228.
    • Công binh: Lữ đoàn hỗn hợp 19.
  • Tập đoàn quân 21 do thượng tướng D. N. Gushev chỉ huy.[16] Trong biên chế có:
    • Bộ binh:
      • Quân đoàn 55 gồm các sư đoàn 120, 225 và 285.
      • Quân đoàn 117 gồm các sư đoàn 72, 125 và 282.
      • Quân đoàn 118 gồm các sư đoàn 128, 229, 291.
    • Pháo binh:
      • Sư đoàn hỗn hợp 31 gồm các lữ đoàn 187 (pháo nòng dài), 191 (lựu pháo), 194 (pháo chống tăng), 164 (hỏa tiễn), 51 (súng cối) và tiểu đoàn trinh sát cơ giới cận vệ 38.
      • Sư đoàn hỗn hợp 13 gồm các lữ đoàn 42 (pháo nòng dài), 47 (lựu pháo), 88 và 91 (pháo chống tăng), 101 (hỏa tiễn) và Lữ đoàn súng cối 17.
      • Hỏa tiễn: các trung đoàn 113 và 154.
      • Các đơn vị trực thuộc: Lữ đoàn cận vệ 34 (lựu pháo), Lữ đoàn cận vệ 8 và Trung đoàn 641 (pháo chống tăng), các trung đoàn 104 và cận vệ 88 (súng cối), Sư đoàn phòng không 37 (các trung đoàn 1400, 1404, 1408, 1412), Trung đoàn phòng không 716.
    • Thiết giáp: Trung đoàn xe tăng hạng nặng cận vệ 26; các trung đoàn xe tăng 27, 98; các trung đoàn pháo tự hành 1238 và 1403.
    • Công binh: Lữ đoàn cầu 16 và Lữ đoàn hỗn hợp 52.
  • Tập đoàn quân 28 được điều từ lực lượng dự trữ chiến lược của STAVKA, do trung tướng A. A. Luchinsky chỉ huy.[17] Trong biên chế có:
    • Bộ binh:
      • Quân đoàn cận vệ 3 gồm các sư đoàn cận vệ 50, 54 và 96.
      • Quân đoàn 20 gồm các sư đoàn cận vệ 48, 55 và sư đoàn 20.
      • Quân đoàn 128 gồm các sư đoàn 61, 130 và 152.
    • Pháo binh: Lữ đoàn lựu pháo 157, Trung đoàn pháo chống tăng 530, Trung đoàn súng cối cận vệ 133, Sư đoàn phòng không 33 (các trung đoàn 1378, 1710, 1715 và 1718), Trung đoàn phòng không 607.
    • Công binh: Lữ đoàn hỗn hợp 36.
  • Tập đoàn quân 31 được điều từ Phương diện quân Byelorussia 3 đến, do trung tướng P. G. Shafranov chỉ huy.[18] Trong biên chế có:
    • Bộ binh:
      • Quân đoàn 36 gồm các sư đoàn 173, 176, 352.
      • Quân đoàn 44 gồm các sư đoàn 62, 174, 220.
      • Quân đoàn 71 gồm các sư đoàn 54, 88, 331.
    • Pháo binh: Lữ đoàn lựu pháo 149, Trung đoàn hỏa tiễn 392, Trung đoàn pháo chống tăng 529, Trung đoàn phòng không 1478.
    • Thiết giáp: Các trung đoàn pháo tự hành 926, 959; Trung đoàn xe bọc thép 52.
    • Công binh: Lữ đoàn hỗn hợp 31.
  • Tập đoàn quân 52 do thượng tướng K. A. Koroteev chỉ huy.[19] Trong biên chế có:
    • Bộ binh:
      • Quân đoàn 48 gồm các sư đoàn 111, 116, 213.
      • Quân đoàn 73 gồm các sư đoàn 31, 50, 214.
      • Quân đoàn 78 gồm các sư đoàn 254, 373.
    • Pháo binh:
      • Sư đoàn hỗn hợp 4 gồm các lữ đoàn 168 (pháo nòng dài), 171 (lựu pháo), cận vệ 50 (chống tăng), 37 (súng cối), 49 (súng cối tự hành).
      • Các đơn vị trực thuộc: Lữ đoàn lựu pháo 145, các lữ đoàn 26 và cận vệ 9 (chống tăng), các trung đoàn 640, 1322, cận vệ 51 và cận vệ 357 (chống tăng), các trung đoàn 476, 490, 497, cận vệ 35 và cận vệ 65 (súng cối), Sư đoàn phòng không 231 (các trung đoàn 1044, 1334, 1340, 1346), Trung đoàn phòng không cận vệ 162.
    • Thiết giáp: Lữ đoàn pháo tự hành 8, Trung đoàn xe tăng 124.
    • Công binh: Lữ đoàn hỗn hợp 58.
  • Tập đoàn quân 59 do trung tướng I. T. Korovnikov chỉ huy.[20] Trong biên chế có:
    • Bộ binh:
      • Quân đoàn 48 gồm các sư đoàn 13 và 80.
      • Quân đoàn 93 gồm các sư đoàn 98, 239 và 391.
      • Quân đoàn 115 gồm các sư đoàn 92, 135 và 245.
      • Các sư đoàn trực thuộc 286 và 314.
    • Pháo binh: Lữ đoàn lựu pháo 127, Trung đoàn hỏa tiễn 116, Lữ đoàn 18 và Trung đoàn 883 (pháo chống tăng), các trung đoàn 127 và cận vệ 70 (súng cối); Sư đoàn phòng không 43 (các trung đoàn 464, 635, 1463 và 1464), Trung đoàn phòng không 1470.
    • Thiết giáp: Các trung đoàn pháo tự hành 806 và 952.
    • Công binh: Lữ đoàn hỗn hợp 21.
  • Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 3 do thượng tướng P. S. Rybalko chỉ huy[21]. Trong biên chế có:
    • Quân đoàn xe tăng cận vệ 6 gồm có:
      • Xe tăng: Các lữ đoàn cận vệ 51, 52, 53.
      • Pháo tự hành: các trung đoàn cận vệ 385 (chống tăng), 1893 và 1894.
      • Cơ giới: Lữ đoàn cận vệ 22, tiểu đoàn trinh sát cận vệ 3.
      • Pháo binh: các trung đoàn 1645 (nòng dài), 372 (lựu pháo), cận vệ 272 và 439 (súng cối), cận vệ 286 (phòng không).
    • Quân đoàn xe tăng cận vệ 7 gồm có:
      • Xe tăng: Các lữ đoàn cận vệ 54, 55, 56.
      • Pháo tự hành: các trung đoàn cận vệ 384 (chống tăng) và 702.
      • Cơ giới: Lữ đoàn cận vệ 23, tiểu đoàn trinh sát cận vệ 4.
      • Pháo binh: các trung đoàn 408 (nòng dài), cận vệ 440 và 467 (súng cối), cận vệ 287 (phòng không).
    • Quân đoàn cơ giới 9 gồm có:
      • Xe tăng: Lữ đoàn 91.
      • Pháo tự hành: các trung đoàn cận vệ 383 (chống tăng), 1507 và 1987.
      • Cơ giới: Lữ đoàn 69, 70, 71, Tiểu đoàn trinh sát cơ giới 100.
      • Pháo binh: các trung đoàn cận vệ 441 và 616 (súng cối), 1719 (phòng không).
    • Các đơn vị trực thuộc:
      • Thiết giáp: Lữ đoàn pháo tự hành 16, Trung đoàn xe tăng hạng nặng cận vệ 57.
      • Cơ giới: Trung đoàn cơ giới 50, Tiểu đoàn trinh sát cơ giới 39.
      • Pháo binh: Lữ đoàn pháo nòng dài 19, Trung đoàn súng cối cận vệ 91, các trung đoàn phòng không 1381 và 1394.
      • Công binh: Lữ đoàn cầu 19, Trung đoàn xe kỹ thuật 90.
      • Không quân: Phi đội không quân trinh sát, liên lạc 372.
  • Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 4 do thượng tướng D. D. Lelyushenko chỉ huy.[22] Trong biên chế có:
    • Quân đoàn cơ giới cận vệ 5 gồm có:
      • Xe tăng: Lữ đoàn cận vệ 24.
      • Pháo tự hành: Trung đoàn cận vệ 379 (chống tăng), các trung đoàn 1447 và cận vệ 104.
      • Cơ giới: Các lữ đoàn cận vệ 10, 11, 12; Tiểu đoàn trinh sát cận vệ 2.
      • Pháo binh: các trung đoàn súng cối 285 và cận vệ 11, Trung đoàn phòng không 763.
    • Quân đoàn cơ giới cận vệ 6 gồm có:
      • Xe tăng: Lữ đoàn xe tăng hạng nặng cận vệ 28, Trung đoàn xe tăng 56.
      • Pháo tự hành: các trung đoàn 1433, 1727.
      • Cơ giới, các lữ đoàn cận vệ 16, 17; Lữ đoàn 49; Tiểu đoàn trinh sát 95.
      • Pháo binh: các trung đoàn súng cối cận vệ 52, 240; Trung đoàn phòng không cận vệ 427.
    • Quân đoàn xe tăng cận vệ 10 gồm có:
      • Xe tăng: các lữ đoàn cận vệ 61, 62, 63; Trung đoàn xe tăng hạng nặng cận vệ 72.
      • Pháo tự hành: Trung đoàn 1222.
      • Cơ giới: Lữ đoàn cận vệ 29, Tiểu đoàn trinh sát cận vệ 7.
      • Pháo binh: Trung đoàn 1689 (nòng dài), các trung đoàn cận vệ 248 và 299 (súng cối), Trung đoàn phòng không cận vệ 359.
    • Các đơn vị trực thuộc:
      • Thiết giáp: Lữ đoàn cận vệ 68, Lữ đoàn cận vệ 13 (xe tăng hạng nặng), Lữ đoàn pháo tự hành cận vệ 70, Trung đoàn cơ giới 51.
      • Pháo binh: Lữ đoàn pháo nòng dài 200, Trung đoàn súng cối cận vệ 312, Sư đoàn phòng không cận vệ 6 (các trung đoàn cận vệ 431, 432, 433 và 434).
      • Công binh: Lữ đoàn cầu 20, Trung đoàn xe kỹ thuật cận vệ 119.
      • Không quân: Phi đội trinh sát, liên lạc 225.
  • Tập đoàn quân không quân 2 do thượng tướng không quân S. A. Kravsovskiy chỉ huy[23]. Thành phần gồm có:
    • Máy bay ném bom:
      • Quân đoàn 4 gồm các sư đoàn 202 và 219.
      • Quân đoàn cận vệ 6 gồm các sư đoàn cận vệ 1 và 8.
      • Sư đoàn ném bom ban đêm 208.
    • Máy bay cường kích:
      • Quân đoàn cận vệ 1 gồm các sư đoàn cường kích cận vệ 8, 9 và Sư đoàn tiêm kích cận vệ 12.
      • Quân đoàn cận vệ 2 gồm các sư đoàn cường kích cận vệ 5, 6 và Sư đoàn tiêm kích cận vệ 11.
      • Quân đoàn 3 gồm các sư đoàn cường kích 307, 308 và Sư đoàn tiêm kích 181.
      • Các trung đoàn cường kích cận vệ 98 và 193.
    • Máy bay tiêm kích:
      • Quân đoàn 2 gồm các sư đoàn 7 (cận vệ) và 322.
      • Quân đoàn 5 gồm các sư đoàn 8 (cận vệ) và 256.
      • Quân đoàn cận vệ 6 gồm các sư đoàn cận vệ 9, 22 và 23.
    • Trợ chiến: Trung đoàn thông tin 118, Trung đoàn kỹ thuật 203, Trung đoàn vận tải 228, Trung đoàn tìm kiếm cứu hộ, liên lạc cận vệ 4, Cụm căn cứ vùng 23 không quân.
  • Các đơn vị trực thuộc phương diện quân:
    • Quân đoàn cơ giới cận vệ 7 gồm các lữ đoàn cơ giới cận vệ 24, 25, 26; Lữ đoàn xe tăng cận vệ 57, các trung đoàn pháo tự hành cận vệ 355 (chống tăng), cận vệ 291 và 1820; Tiểu đoàn trinh sát cơ giới cận vệ 5, các trung đoàn súng cối cận vệ 410 và 468; Trung đoàn phòng không cận vệ 288, Lữ đoàn cầu phao 25, các tiểu đoàn kỹ thuật cận vệ 15 và 28.
    • Quân đoàn kỵ binh cận vệ 1 của trung tướng V. K. Baranov chỉ huy, gồm các sư đoàn kỵ binh cận vệ 1, 2, 7; Trung đoàn pháo tự hành 1244; Trung đoàn súng cối cận vệ 1 và 143; Trung đoàn xe tăng cận vệ 1, Trung đoàn cơ giới trinh sát cận vệ 1, Lữ đoàn phòng không cơ giới cận vệ 1, Trung đoàn phòng không 319.
    • Thiết giáp: Lữ đoàn xe tăng 16, các trung đoàn pháo tự hành cận vệ 274 (chống tăng), cận vệ 356 và 416, 1198, 1295, 1976 và 1977; các trung đoàn xe bọc thép 21, 45, 49 và 58.
    • Pháo binh:
      • Sư đoàn 7 Katyusha.
      • Sư đoàn 17 gồm Lữ đoàn 37 (nòng dài); Lữ đoàn hỏa tiễn 108, các lữ đoàn 39, 50 (lựu pháo); Lữ đoàn 92 (chống tăng); Lữ đoàn 22 (súng cối).
      • Các đơn vị lẻ: Trung đoàn cận vệ 14 (nòng dài); các lữ đoàn cận vệ 11 và 53, các trung đoàn 756 và 1497 (chống tăng), Lữ đoàn 35 (súng cối), các trung đoàn 1288 và 1678 (phòng không) các tiểu đoàn cận vệ 22 và 332 (súng phun lửa).
    • Không quân: Phi đội liên lạc, trinh sát 1002.
    • Công binh: Lữ đoàn cầu 22; các lữ đoàn cầu phao 3, 6; Lữ đoàn công trình 16; các tiểu đoàn dò mìn 38, 159; các tiểu đoàn kỹ thuật 27, 70.

Phương diện quân Ukraina 2 do nguyên soái R. Ya. Malinovsky làm tư lệnh, đại tướng M. V. Zakharov làm tham mưu trưởng. Tổng quân số 613.400 người.[24]

  • Tập đoàn quân 46 do trung tướng A. V. Petrushevskiy chỉ huy, được trả về sau Chiến dịch Viên ngày 16 tháng 4 năm 1945. Thành phần gồm có:
    • Bộ binh:
      • Quân đoàn cận vệ 10 gồm các sư đoàn cận vệ 49, 86 và Sư đoàn 297.
      • Quân đoàn cận vệ 18 gồm Sư đoàn cận vệ 109 và các sư đoàn 52, 317.
      • Quân đoàn 23 gồm các sư đoàn 19, 223, 252.
      • Quân đoàn 68 gồm các sư đoàn 53, 99.
      • Quân đoàn 75 gồm các sư đoàn 59 và 180.
    • Pháo binh:
      • Sư đoàn hỗn hợp cận vệ 5 gồm Lữ đoàn pháo nòng dài 71; Lữ đoàn lựu pháo cận vệ 17; Lữ đoàn sơn pháo 67; Lữ đoàn pháo chống tăng 95; Lữ đoàn hỏa tiễn cận vệ 18; Lữ đoàn súng cối 27.
      • Sư đoàn hỗn hợp 30 Lữ đoàn pháo nòng dài 185; Lữ đoàn lựu pháo 190; Lữ đoàn pháo chống tăng 192; Lữ đoàn hỏa tiễn 195; Lữ đoàn súng cối 45; Lữ đoàn súng cối tự hành 34; Lữ đoàn cơ giới cận vệ 37.
      • Các đơn vị trực thuộc Tập đoàn quân: Trung đoàn súng phun lửa cận vệ 6; Lữ đoàn lựu pháo cận vệ 45; Lữ đoàn hỏa tiễn cận vệ 92; các lữ đoàn pháo chống tăng 11, 12; Trung đoàn pháo chống tăng 437; Trung đoàn súng cối 462.
    • Pháo phòng không:
      • Sư đoàn phòng không 11 gồm các trung đoàn 804, 976, 987, 996.
      • Trung đoàn phòng không độc lập 1651.
    • Thiết giáp:
      • Quân đoàn xe tăng 23 do trung tướng xe tăng A. O. Akhmanov chỉ huy; gồm các Lữ đoàn xe tăng 3, 39, 135; Lữ đoàn cơ giới 56; Trung đoàn pháo nòng dài tự hành 1669; Trung đoàn pháo tự hành 1443; Trung đoàn pháo chống tăng 1501; Tiểu đoàn cơ giới trinh sát 82; Trung đoàn súng cối 457; Trung đoàn hỏa tiễn cận vệ 442; Trung đoàn phòng không 1697.
      • Quân đoàn cơ giới cận vệ 2 do trung tướng xe tăng K. V. Sviridov chỉ huy, gồm các lữ đoàn cơ giới cận vệ 4, 5, 6; Lữ đoàn xe tăng cận vệ 37; Trung đoàn xe tăng hạng nặng cận vệ 30; các trung đoàn pháo tự hành 251 (cận vệ) và 1509; Tiểu đoàn trinh sát cơ giới cận vệ 99; Trung đoàn súng cối 524; Trung đoàn hỏa tiễn cận vệ 408; Trung đoàn phòng không 159
      • Các trung đoàn pháo tự hành 991, 1505, 1897 (trực thuộc tập đoàn quân)
    • Công binh: Lữ đoàn hỗn hợp 51.
  • Các đơn vị khác thuộc phương diện quân tham gia chiến dịch có thành phần tương tự như trong Chiến dịch tấn công Bratislava-Brno.[12]

Phương diện quân Ukraina 4 do đại tướng A. I. Yeryomenko làm tư lệnh, thượng tướng L. M. Sandalov làm tham mưu trưởng. Tổng quân số 350.900 người.[25] Thành phần các đơn vị không thay đổi đáng kể so với Chiến dịch tấn công Moravská-Ostrava.

Quân đội Ba Lan

  • Tập đoàn quân Ba Lan 2 do trung tướng Karol Swierczewski chỉ huy, đại tá Edmund Pschulkovsky làm tham mưu trưởng. Quân số 69.500 người.[25] Thành phần gồm có:[12]
    • Bộ binh: Các sư đoàn 5, 7, 8, 9, 10.
    • Pháo binh: Trung đoàn lựu pháo 8, các trung đoàn pháo chống tăng 9, 14; Trung đoàn súng cối 3; Sư đoàn phòng không 3 gồm các trung đoàn 61, 66, 69, 75.
    • Thiết giáp:
      • Quân đoàn xe tăng 1 gồm các lữ đoàn xe tăng 2, 3, 4; Lữ đoàn cơ giới 1; Các trung đoàn pháo tự hành 24, 25, 27; Tiểu đoàn trinh sát cơ giới 2, Trung đoàn súng cối 2, Trung đoàn phòng không 26.
      • Các đơn vị trực thuộc tập đoàn quân: Trung đoàn xe tăng 5, Trung đoàn pháo tự hành 28.
  • Sư đoàn pháo binh Ba Lan 2 thuộc Bộ Tổng chỉ huy quân đội Ba Lan, được phối thuộc cho Tập đoàn quân Ba Lan 2. Thành phần gồm có Lữ đoàn 6 (pháo nòng dài), Lữ đoàn 8 (lựu pháo), Lữ đoàn 7 (súng cối), Trung đoàn 6 (hỏa tiễn.

Quân đội Romania

Được phối thuộc cho Phương diện quân Ukraina 2 gồm 2 tập đoàn quân. Tổng quân số 139.500 người.[25] Thành phần không thay đổi đáng kể so với Chiến dịch tấn công Bratislava-Brno.

Quân đội Tiệp Khắc

Quân đoàn Tiệp Khắc 1 chiến đấu trong đội hình Phương diện quân Ukraina 4. Tổng quân số 48.400 người.[25] Thành phần không thay đổi đáng kể so với Chiến dịch tấn công Moravská-Ostrava.

Kế hoạch

Sau khi đánh chiếm Berlin, quân đội Liên Xô tiếp tục thực hiện các chiến dịch và các cuộc chuyển quân để tiến tới tuyến phân giới trên chiến trường Châu Âu như đã thỏa thuận với các nước Đồng Minh chống phát xít tại Hội nghị Yalta. Tại Tiệp Khắc, một khối quân lớn thuộc Cụm Tập đoàn quân Trung tâm (Đức) vẫn tiếp tục kháng cự tại khu vực Olomouc. Các đơn vị Đức thất trận tại Viên, Morava, Thượng Silesia đều rút quân về hướng thủ đô Tiệp Khắc. Tình hình tiến triển rất nhanh chóng buộc Bộ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô phải có các biện pháp nhằm nhanh chóng đánh bại Cụm tập đoàn quân Trung tâm rất mạnh của Đức và giải phóng Tiệp Khắc. Tối 30 tháng 4 năm 1945, I. V. Stalin ra chỉ thị cho R. Ya. MalinovskyA. I. Yeryomenko:

Các lực lượng chủ yếu của hai phương diện quân phải triển khai sang phía Tây và mở các mũi đột kích vào hướng chung đến Jihlava và Praha. Đến ngày 12 hoặc muộn nhất đến ngày 14 tháng 5 phải chiếm được tuyến JihlavaÚlibice – Gorón, sau đó tiến đến tuyến sông Vltava và đánh chiếm Praha.
—I. V. Stalin.[3]

STAVKA cũng chỉ thị cho nguyên soái I. S. Konev:

Trước ngày 3 tháng 5, phải kết thúc việc bao vây và tiêu diệt tàn quân của Tập đoàn quân 9 và Tập đoàn quân 12 (Đức) trên khu vực Luckenwalde. Từ ngày 6 tháng 5, tuyến phân giới giữa các phương diện quân vẵn bắt đầu từ Luben và được điều chỉnh xuống phía Nam đến Wittenberg.
—STAVKA.[26]

Tuy nhiên, Bộ Tổng tham mưu Liên Xô khi nghiên cứu so sánh binh lực trên chiến trường đã chỉ ra rằng Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức) gồm gần 1 triệu quân và Cụm tập đoàn quân Áo (Đức) có hơn nửa triệu quân sẽ không dễ dàng để cho các phương diện quân Ukraina 2 và 4 (Liên Xô) hoàn thành nhiệm vụ. Chiến tranh có thể sẽ kéo dài thêm nửa tháng hoặc lâu hơn nữa trong khi các sự kiện sắp tới có thể sẽ quyết định vận mệnh của các dân tộc ở Tiệp Khắc.[27] Vì vậy cần phải mở một mũi đột kích mạnh từ phía Bắc Praha mới có thể nhanh chóng kết liễu Cụm tập đoàn quân Trung Tâm (Đức) đang đóng tại Tiệp Khắc. Để Phương diện Ukraina 1 của nguyên soái I. S. Konev có thể rảnh tay bên sườn phải và tập trung đột kích nhanh đến Praha, rạng sáng ngày 1 tháng 5, Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô (STAVKA) chỉ thị cho nguyên soái G. K. Zhukov điều các tập đoàn quân 3, 33 và 69 bên cánh trái Phương diện quân Byelorussia 1 thay thế cho các tập đoàn quân cận vệ 3, cận vệ 5, xe tăng cận vệ 3, xe tăng cận vệ 4 trên hướng Wittenberg. Bốn tập đoàn quân cận vệ và xe tăng cận vệ được rút ra này phải mở hai mũi đột kích đồng tâm cực mạnh xuống phía Nam vào hướng Tây Praha, phối hợp với mũi đột kích của Phương diện quân Ukraina 2 khép vòng vây xung quanh Cụm tập đoàn quân Trung Tâm (Đức) ở phía Tây và phía Nam Tiệp Khắc.[28] Phương diện quân Ukraina 4 được lệnh tấn công liên tục vào chỗ lồi OlomoucPřerovProstějov, giam chân chủ lực quân Đức tại phía Đông Praha trong vùng núi Rudnia và Sudetes.[3]
Đêm ngày 3 rạng ngày 4 tháng 5, Bộ Tổng tham mưu Liên Xô đã xây dựng xong kế hoạch chiến dịch Praha, chiến dịch tấn công chiến lược cuối cùng của quân đội Liên Xô tại Châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Lúc 1 giờ 10 phút ngày 4 tháng 5, nguyên soái I. S. Konev, tư lệnh Phương diện quân Ukraina 1 nhận được mệnh lệnh tác chiến của STAVKA:

Các tập đoàn quân bên cánh phải của phương diện quân phải chuyển sang tấn công mãnh liệt dọc hai bên bờ sông Elbe theo hướng chung đến Praha nhằm tiêu diệt cụm quân Đức đang đóng tại khu vực từ Dresden đến Görlitz. Các tập đoàn quân xe tăng đến ngày thứ sáu của chiến dịch phải chiếm được Praha, thủ đô của Tiệp Khắc.
—STAVKA[29]

Chiều ngày 4 tháng 5, tại Sở chỉ huy tiền phương của Phương diện quân Ukraina 1 đóng ở Finsterwalder, nguyên soái Ivan Stepanovich Konev đã gặp gỡ tướng 4 sao Omar Nelson Bradley, tư lệnh Cụm tập đoàn quân 12 (Hoa Kỳ) và các sĩ quan tùy tùng của ông. Tại cuộc gặp, tướng Omar N. Bradley đã đề nghị được giúp đỡ quân đội Liên Xô tiêu diệt cánh quân Đức đóng ở Tiệp Khắc. I. S. Konev cảm ơn thiện ý của đồng minh Hoa Kỳ. Tuy nhiên, xét thấy đề nghị đó vi phạm tuyến phân giới giới hạn tiến quân của các bên đồng minh ở Trung Âu dọc theo các dòng sông Elbe, Mulde qua Chemnitz, Karlovy Vary, Plzeň đến České Budějovice, I. S. Konev cho rằng việc chấp nhận sự giúp đỡ đó nằm ngoài thẩm quyền của ông khi không có thỏa thuận ở cấp lãnh đạo cao nhất của hai bên thay đổi tuyến phân giới đã ấn định. I. S. Konev cũng cam đoan rằng cánh quân Đức tại Tiệp Khắc nhất định sẽ bị quân đội Liên Xô đánh tan trong thời hạn ngắn nhất có thể.[26]

Quân đội Đức Quốc xã và ROA

Đức Quốc xã

Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức) do thống chế Ferdinand Schörner chỉ huy, trung tướng Oldwig von Natzmer làm tham mưu trưởng. Binh lực gồm có:

  • Tập đoàn quân xe tăng 1 do thượng tướng Walther Nehring chỉ huy. Trong biên chế có:
    • Quân đoàn xe tăng 24 của trung tướng Walter Hartmann, thành phần bao gồm:
      • Xe tăng: Sư đoàn 1 và Sư đoàn “Clausewitz”.
      • Bộ binh: Sư đoàn 84 và Sư đoàn “Schlageter”.
    • Quân đoàn bộ binh 11 của thiếu tướng Hanns-Hubert Struff, thành phần bao gồm:
      • Sư đoàn bộ binh 94 và Sư đoàn trượt tuyết 1.
      • Các cụm tác chiến sư đoàn 344 và 371.
      • Một phần sư đoàn xe tăng 5 SS “Wiking”.
    • Quân đoàn bộ binh sơn chiến 49 của thượng tướng Karl von Le Suire, thành phần bao gồm:
      • Sư đoàn sơn chiến 4.
      • Các cụm tác chiến sư đoàn 78 và 320.
    • Quân đoàn bộ binh 59 của trung tướng Ernst Sieler, thành phần bao gồm:
      • Xe tăng: Các sư đoàn 16, 19.
      • Bộ binh: Các sư đoàn 544 và 715.
    • Quân đoàn bộ binh 72 của trung tướng Werner Schmidt-Hammer, thành phần bao gồm các sư đoàn bộ binh 253, 254 và 304.
  • Tập đoàn quân xe tăng 4 do thượng tướng xe tăng Fritz-Hubert Gräser chỉ huy. Trong biên chế có:
    • Quân đoàn xe tăng 57 của thượng tướng Friedrich Kirchner, thành phần bao gồm:
      • Xe tăng: Sư đoàn 8, Lữ đoàn 103.
      • Bộ binh: Sư đoàn “Führer-Begleit”.
    • Quân đoàn xe tăng “Groß-Deutschland của thượng tướng Georg Jauer. Thành phần gồm có:
      • Xe tăng: Sư đoàn 21, các cụm tác chiến sư đoàn xe tăng “Hermann Göring” và “Brandenburg”.
      • Bộ binh: Sư đoàn dự bị 615.
    • Quân đoàn bộ binh 90 của tướng Erich Petersen, thành phần bao gồm các sư đoàn bộ binh nhẹ 36 và 47.
    • Cụm tác chiến quân đoàn Kohlsdorfen.
    • Cụm tác chiến quân đoàn Moser.
  • Tập đoàn quân 7 do thượng tướng Hans von Obstfelder chỉ huy từ mặt trận phía Tây rút về. Trong biên chế có:
    • Quân đoàn bộ binh 12 (tái lập) của tướng Herbert Osterkamp, thành phần gồm các sư đoàn dự bị 260, 267 và 412.
    • Quân đoàn bộ binh 13 (tái lập) của tướng Walther Lucht, thành phần gồm có:
      • Xe tăng: Sư đoàn 2.
      • Bộ binh: các sư đoàn 79, 352, tàn quân của các sư đoàn bộ binh nhẹ 9 và 276.
  • Tập đoàn quân 17 do thượng tướng Wilhelm Hasse chỉ huy. Trong biên chế có:
    • Quân đoàn xe tăng 40 của thượng tướng Siegfried Henrici, thành phần gồm có:
      • Xe tăng: Cụm tác chiến sư đoàn xe tăng 25.
      • Bộ binh SS: Sư đoàn cảnh vệ SS 35, Lữ đoàn SS “Dirlewanger”.
      • Bộ binh: các sư đoàn dự bị 100 và 608.
    • Quân đoàn bộ binh 8 của tướng Horst von Mellenthin (bị Tập đoàn quân 6 (Liên Xô) bao vây ở Breslaw, không tham gia chiến dịch).
    • Quân đoàn bộ binh 17 của tướng Otto Tiemann, thành phần gồm có:
      • Xe tăng: Sư đoàn 20.
      • Bộ binh: Sư đoàn 359, Cụm tác chiến sư đoàn bộ binh nhẹ 8.

Cánh trái của Cụm tập đoàn quân Áo do thượng tướng Lothar Rendulic làm tư lệnh:

  • Tập đoàn quân 8 do thượng tướng Hans Kreysing chỉ huy. Trong biên chế có:
    • Quân đoàn xe tăng 4 của thượng tướng xe tăng Ulrich Kleemann, thành phần bao gồm:
      • Xe tăng: Sư đoàn xe tăng 10 SS.
      • Bộ binh: Các sư đoàn 46, 271, 357; Cụm tác chiến sư đoàn 211.
    • Quân đoàn bộ binh 43 của tướng Arthur Kullmer, thành phần bao gồm:
      • Bộ binh: Sư đoàn dự bị 207, các sư đoàn biệt kích “Windau” và “Küste”.
      • Hỗn hợp: Các cụm tác chiến Đông, Bắc, Đông Bắc, Đông Nam.
    • Quân đoàn bộ binh 67, thành phần bao gồm Sư đoàn bộ binh 89 và sư đoàn bộ binh nhẹ 277.
    • Quân đoàn xe tăng 2 SS (thuộc Tập đoàn quân xe tăng 6 SS) do tướng Wilhelm Bittrich chỉ huy, thành phần bao gồm:
      • Xe tăng: Sư đoàn xe tăng 2 SS, Sư đoàn xe tăng 9 SS, Sư đoàn xe tăng 23.
      • Bộ binh: Sư đoàn 44 “Deutschmeister”.

Quân đội ROA

  • Quân đoàn Nga do tướng Boris Alekseyevich Shteyfon chỉ huy. Thành phần gồm có:
    • Sư đoàn bộ binh 1 của thiếu tướng Sergey Kuzmich Bunyachenkoa[›]; gồm 4 trung đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn trinh sát, 2 tiểu đoàn phòng không và 3 tiểu đoàn trợ chiến.
    • Sư đoàn bộ binh 2 (nguyên là sư đoàn 650 – Đức) của thiếu tướng Grigory Alekseyevich Zvelevb[›]; gồm 3 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn cảnh vệ và 3 tiểu đoàn trợ chiến.
    • Sư đoàn bộ binh 3 của thiếu tướng Mikhail Mikhailovich Shapovalovc[›] 11.000 quân không có vũ khí.
  • Quân đoàn kỵ binh Cossack SS 15 do trung tướng Helmuth von Pannwitz (Đức) chỉ huy. Thành phần gồm có:
    • Sư đoàn kỵ binh Cossack 1 gồm các trung đoàn kỵ binh Cossack Sông Đông 1, Cossack Kuban 4, Cossack Siberia 2 và Trung đoàn pháo binh Cossack 1.
    • Sư đoàn kỵ binh Cossack 2 gồm các trung đoàn kỵ binh Cossack Kuban 3, Cossack Sông Đông 5, Cossack Terek 6 và Trung đoàn pháo binh Cossack 2.
    • Lữ đoàn biệt kích Cossack gồm 2 trung đoàn biệt kích và 1 tiểu đoàn kỵ binh trinh sát.
    • Các tiểu đoàn hậu cần trợ chiến.
  • Sư đoàn không quân ROA của thiếu tướng Victor Ivanovich Maltsevd[›]; gồm 2 trung đoàn không quân hỗn hợp và 1 trung đoàn huấn luyện; đến tháng 5 năm 1945, bị mất toàn bộ máy bay và chiến đấu như bộ binh.
  • Sư đoàn cảnh vệ ROA của thiếu tướng Fyodo Ivanovich Trukhine[›]; gồm 2 trung đoàn biệt kích và 1 tiểu đoàn kỵ binh. Quân số khoảng 5.000 người.
  • Trại Cossack do Sultan Giray chỉ huy, rút chạy từ mặt trận Ý sang gồm 24.000 lính Cossack và dân thường.

Diễn biến

Khởi nghĩa Praha

Bài chi tiết: Khởi nghĩa Praha

Lữ đoàn Sokolovy do tướng Kutlvašr, các đại tá Vlček và Kordač chỉ huy trong cuộc Khởi nghĩa Praha 1945

12 giờ trưa ngày 5 tháng 5, những người yêu nước Tiệp Khắc ở Praha đã phát động cuộc khởi nghĩa chống lại quân đội Đức Quốc xã. Theo thông báo của phái bộ quân sự Tiệp Khắc tại Moskva, cuộc khởi nghĩa được đặt dưới sự lãnh đạo của Hội đồng dân tộc Séc (České národní rady, viết tắt: ČNR) do giáo sư Đại học Praha Albert Pražák đứng đầu. Những người khởi nghĩa đã đánh chiếm Đài phát thanh Praha và phát đi thông báo kêu gọi binh lính Tiệp Khắc, các nhân viên cảnh sát và người dân nổi dậy chống lại quân chiếm đóng Đức Quốc xã. Một số mục tiêu quan trọng của thành phố như nhà ga trung tâm, nhà bưu điện. Lúc 12 giờ 30 phút, cờ Tiệp Khắc, cờ Liên Xô, cờ Anh, cờ Hoa Kỳ đã tung bay trên các điểm cao, các công sở và nhà ở của người Tiệp Khắc. Cờ Đức Quốc xã bị hạ, các tấm biển, khẩu hiệu, tranh cổ động.v.v… có in hình biểu tượng của nước Đức Quốc xã đều nhất loạt bị người dân xé bỏ. Cùng lúc, một đoàn đại biểu của do tướng František Slunečko ČNR dẫn đầu đã đến gặp thị trưởng Praha Alois Říha để trao tối hậu thư yêu cầu ông này bàn giao chính quyền và các lực lượng hiến binh, cảnh sát Tiệp Khắc cho những người khởi nghĩa. Một tối hậu thư khác cũng được gửi đến Bộ chỉ huy quân sự địa phương của Đức tại Praha.[30][31]
Chiều ngày 5 tháng 5, những người khởi nghĩa đánh chiếm trụ sở Bộ chỉ huy quận sự thành phố Praha. Tướng Đức Rudolf Toussaint, tư lệnh quân Đức tại Praha và hai đại đội cảnh binh Đức tháo chạy về phía Tây thành phố. Ba doanh trại khác của quân Đức tại Praha bị những người khởi nghĩa bao vây. Những người khởi nghĩa đã chiếm được một số vũ khí của quân Đức trong thành phố gồm vào chục súng trường, tiểu liên, trung liên và 5 khẩu pháo 45 mm. Đêm mùng 5 tháng 5, trong Đài phát thanh Praha trên băng tần vô tuyến có bước sóng 415 mét liên tục phát đi những lời kêu gọi khởi nghĩa thì hàng vạn người dân Praha đã đổ ra đường, dựng chiến lũy, tìm kiếm vũ khí và gia nhập hàng ngũ quân khởi nghĩa.[32] Đến tảng sáng ngày 6 tháng 5 năm 1945, mọi ngả đường ra vào thành phố đều bị quân khởi nghĩa phong tỏa. Đại tá Karel Kutlvašr, một trong các chỉ huy quân khỏi nghĩa cho biết họ đã biến Praha thành một pháo đài bất khả xâm phạm.[33]
Quân đội Đức Quốc xã phản ứng quyết liệt hơn dự tính của những người khởi nghĩa. Tướng Rudolf Toussaint hứa với đô đốc Karl Dönitz, thủ tướng mới của nước Đức Quốc xã rằng sẽ lập lại trật tự trong vòng 24 giờ. Thống chế Ferdinand Schörner một mặt ra lệnh cho tướng SS Karl Hermann Frank, người chỉ huy vụ thảm sát khét tiếng ở LidiceLežáky, đồng thời đứng đầu chính quyền chiếm đóng Đức tại Séc khẩn trương đàm phán với Bộ chỉ huy Cụm tập đoàn quân 12 (Hoa Kỳ) về việc quân Đức rút ra đầu hàng quân Anh – Mỹ trên tuyến biên giới Áo – Tiệp. Mặt khác, điều động Sư đoàn xe tăng 2 SS “Das Reich”, Sư đoàn xe tăng SS “Wiking” và Sư đoàn xe tăng xung kích 44 SS “Wallenstein” tiến đánh Praha từ ba hướng Bắc, Đông và Nam để mở đường thoát sang phía Tây cho Cụm tập đoàn quân Trung Tâm. Ngày 6 tháng 5, hàng chục tốp máy bay Đức cất cánh từ các sân bay Rudin (Pardubice) và Hbelly (Mladá Boleslav) bắt đầu trút bom xuống Praha, gây thương vong cho hàng nghìn quân khởi nghĩa và thường dân.[34]
Trong khi 30.000 quân khởi nghĩa tại 1.583 chiến lũy đang chống cự lại ba sư đoàn xe tăng Đức tấn công họ từ ba hướng, họ đã phá hoại con đường sắt nối Praha với Karlovy Vary ở phía Tây, Praha với Plzeň ở phía Tây Nam, buộc quân Đức phải hành quân bằng đường bộ. Các trận đánh nổ ra trên khắp các đường phố Praha. Tại Đài phát thanh Praha, quân Đức tập trung tại đây 1 tiểu đoàn xe tăng và 1 tiểu đoàn bộ binh SS có máy bay ném bom Ju-87 hỗ trợ nhưng trong suốt bốn ngày liền vẫn không thể chiến thắng được 3 đại đội quân khởi nghĩa do Jaroslav Záruba chỉ huy và không chiếm được mục tiêu này.[35] Trong bốn ngày đó, những người khởi nghĩa ở Praha thông qua đài này đã gửi đến quân đội các nước đồng minh bằng các thứ tiếng Séc, Anh và Nga. Thông điệp bằng tiếng Nga phát đi lúc 5 giờ sáng ngày 6 tháng 5 có đoạn:

Đây là tiếng nói Praha. Đây là tiếng nói Praha. Hồng Quân hãy nghe lời kêu gọi của chúng tôi. Quân Đức đang tấn công thành phố bằng xe tăng và máy bay. Chúng tôi cần sự trợ giúp của Hồng Quân hùng mạnh. Chúng tôi cần các bạn trợ giúp chúng tôi chống lại máy bay Đức để bảo vệ thành phố. Praha đang thiếu vũ khí. Chúng tôi sẽ không bỏ Praha…
—ČNR[32]

2 giờ 20 phút ngày 7 tháng 5, điện đài viên của Sở chỉ huy Phương diện quân Ukraina 4 tình cờ nhận được bức điện bằng tín hiệu Morse phát không mã từ Praha:

Gửi Phương diện quân Ukraina 4 – Liên Xô… Đề nghị các bạn gấp rút chi viện. Hãy đổ bộ xuống Praha, địa điểm tại số 12 phố Vinohrady, nghĩa trang Olšany. Địa điểm thả dù và hạ cánh được giữ bí mật và đánh dấu hình tam giác. Hãy thả dù vũ khí và đưa máy bay đến…
—PRAHA.[32][36]

Ngay sau đó, trưởng phái đoàn quân sự Tiệp Khắc tại Moskva, tướng Heliodor Píka đã cung cấp cho quân đội Liên Xô mã hiệu và lịch thay đổi làn sóng điện của những người khởi nghĩa ở Praha. Đồng thời, ông cho biết những thông điệp tương tự cũng được gửi cho các đồng minh Anh và Hoa Kỳ.
Ngày 7 tháng 5 là ngày khó khăn nhất của cuộc khởi nghĩa. Các sư đoàn xe tăng Đức và lính bộ binh SS đã đồng loạt công kích trên các hướng từ Kobylisy đến cầu Trojský, từ Vysočany đến Karlín, từ Hrdlořezy đến Žižkov và từ Pankrác đến Michle. Ở nhiều nơi, binh lính Đức đã lùa hàng trăm dân thường đi trước để làm bia đỡ đạn nhằm vô hiệu hóa hỏa lực của những người khởi nghĩa. Có những lúc, những người khởi nghĩa tưởng chừng như đã bị tiêu diệt nhưng khi quân Đức đi qua thì tiếng súng lại nổ rền trên các chiến lũy.[37] Đài phát thanh Tiệp Khắc vẫn được các đơn vị khởi nghĩa do Jaroslav Záruba giữ vững với sự chi viện của hơn 100 quân dù Liên Xô. Sáng ngày 8 tháng 5, Đài phát thanh Praha đưa lại nguồn tin từ hãng thông tấn USIS về việc quân đội Đức Quốc xã đã ký kết biên bản đầu hàng không điều kiện tại Reims. Nhân cơ hội này, ČNR đề nghị quân Đức tại Praha đàm phán về vấn đề đầu hàng để tránh đổ thêm máu trong khi các tập đoàn quân xe tăng cận vệ 3 và 4 của Liên Xô từ phía Đông Nam nước Đức đang lao nhanh đến đây. Được sự đồng ý của thống chế Ferdinand Schörner, các tướng Karl Hermann Frank và Rudolf Toussaint bắt đầu đàm phán.[33] Kết quả đàm phán là hồi 19 giờ 15 ngày 8 tháng 5 năm 1945, một bản thông cáo về việc đầu hàng của quân đội Đức Quốc xã tại Praha đã được Hội Chữ thập đỏ quốc tế truyền đi trên làn sóng 415 mét của Đài phát thanh Praha bằng cả tiếng Đức và tiếng Séc:

Theo hiệp định ký kết với Hột đồng dân tộc Séc, chiến sự ở Praha và các vùng ngoại vi phải được chấm dứt. Các binh sĩ và thường dân Séc cũng nhận được mệnh lệnh tương tự. Ai không chấp hành mệnh lệnh này sẽ bị truy tố trước tòa án.
—Tư lệnh quân đội Đức tại Séc và Morava. (đã ký)[38]

Tuy nhiên, vì nóng lòng muốn “tống cổ” quân Đức khỏi Praha, những đại diện của ČNR đã phạm sai lầm khi ký kết thỏa ước sơ bộ với quân Đức. Đó là việc cho phép quân Đức được giữ lại vũ khí bộ binh nhẹ. Tại các khoản 5, 6 và 7 của hiệp định giữa đại diện ČNR và đại diện Bộ tư lệnh Đức ở Séc và Morava viết:

5- Việc giao nộp vũ khí tiến hành theo trình tự như sau: Vũ khí nặng giao tại vùng ngoại ô thành phố cho Quân đội nhân dân Tiệp Khắc. Máy bay phải để lại các sân bay ở Rudin và Hbelly.
6- Các thứ vũ khí khác sẽ được giao nộp tại giới tuyến kiểm soát của quân đội Hoa Kỳ cho các đơn vị Quân đội nhân dân Tiệp Khắc. Mọi vũ khí giao nộp phải kèm theo các đồ quân dụng cưa bị hư hỏng.
7- Khi rút lui, quân Đức được đem theo lương thực tại các kho với số lượng đủ dùng.
—ČNR-OKH Č&M[38]

Giáo sư đại học Praha Albert Pražák, người đứng đầu ČNR cho rằng khi ký kết hiệp định đầu hàng của quân Đức ở Tiệp Khắc, các đại biểu của họ đã “rơi vào thủ đoạn của bọn Đức” vì trên thực tế, quân Đức bị bao vây tại phía Đông Praha vẫn cầm vũ khí chống lại quân đội Liên Xô tại Tiệp Khắc cho đến ngày 12 tháng 5 năm 1945.[39]
Với sự trợ giúp của quân đội Liên Xô trong thế thua trận hoàn toàn của nước Đức Quốc xã, cuộc Khởi nghĩa Praha (1945) thành công nhưng cái giá phải trả cũng không nhỏ. Hơn 3.000 quân khởi nghĩa và thường dân thiệt mạng, khoảng 10.000 người bị thương.[30]

Giải phóng Praha

Các mũi tấn công của quân đội Liên Xô trong chiến dịch Praha.

Sự kiện ČNR phát động cuộc khởi nghĩa ở Praha đã thúc đẩy các chiến dịch cuối cùng của Quân đội Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai tại Châu Âu diễn biến với tốc độ nhanh hơn. Thay vì chuyển sang tấn công vào ngày 7 tháng 5 như kế hoạch, các phương diện quân Ukraina 1, Ukraina 2Ukraina 4 đã phát động tấn công ngay từ sáng ngày 6 tháng 5. Mũi đột kích rất mạnh bằng hai tập đoàn quân xe tăng cận vệ 3 và cận vệ 4 cùng hai tập đoàn quân binh chủng hợp thành cận vệ 3 và cận vệ 5 giáng vào phía Tây Bắc, Tây và Tây Nam Praha cùng với mũi trợ công do Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6, Cụm kỵ binh cơ giới cận vệ 1, các tập đoàn quân cận vệ 7 và 53 giáng vào hướng Đông Nam và Nam Praha đã làm cho chủ lực Cụm tập đoàn quân Trung Tâm (Đức) ở phía Đông Praha rơi vào thế bị hợp vây trong khi tại Praha, quân khởi nghĩa Tiệp Khắc đang từng ngày từng giờ chờ đồng minh kéo đến.[40]

Ngày 6 tháng 5

Sau khi rút ngắn thời gian chuẩn bị chỉ còn nửa ngày, lúc 14 giờ ngày 6 tháng 5, Tập đoàn quân 13 của tướng N. P. Pukhov bắt đầu tấn công trên hướng DöbelnChemnitz sau một trận pháo kích ngắn. 17 giờ chiều cùng ngày, các quân đoàn bộ binh 27 và 102 đã tiến lên được từ 10 đến 15 km, đánh bật Quân đoàn 90 (Đức) về Zaida. Sẩm tối ngày 6 tháng 5, nguyên soái I. S. Konev ra lệnh cho tướng D. D. Lelyushenko phải đưa Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 4 vào tấn công ngay trên cửa đột phá mà Tập đoàn quân 13 vừa mở ra.[41] Vì phải di chuyển cấp tốc từ Cottbus xuống nên đến 18 giờ chiều, Tập đoàn quân cận vệ 5 mới phát động tấn công trên hướng Dresden, theo sau là Quân đoàn xe tăng cận vệ 4. 20 giờ 45 phút (tức 18 giờ 45 phút theo giờ Berlin), Tập đoàn quân cận vệ 5 đã áp sát ngoại ô phía Bắc Dresden và bao vây thành phố từ ba phía.[42] Mặc dù đêm mùng 6 rạng ngày 7 tháng 5, trời đổ mua lớn nhưng tướng P. S. Rybalko vẫn đưa các quân đoàn xe tăng vào chiến đấu. Nguyên soái I. S. Konev lệnh cho các tập đoàn quân xe tăng cận vệ 3 và 4 để lại các thành phố và thị trấn lớn cho các tập đoàn quân cận vệ 3, cận vệ 5 và 13 giải quyết, còn bản thân họ phải nhanh chóng tiến xuống phía Tây Praha. 18 giờ cùng ngày, các đơn vị của Tập đoàn quân 6 (Liên Xô) đã bao vây và bức hàng Cụm tác chiến Quân đoàn bộ binh 8 (Đức) tại Breslaw.[43]
Trên hướng Nam Praha, từ sáng ngày 6 tháng 5, Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6, Cụm kỵ binh cơ giới cận vệ 1 và Tập đoàn quân cận vệ 7 đã mở một đột kích rất mạnh từ Brno và Drigolec dọc theo hai bờ sông Nigloba và ngay trong ngày đầu tiên đã đánh tan Quân đoàn xe tăng 4 (Đức). Tướng Ulrich Kleemann buộc phải thu thập các đơn vị tàn binh để tổ chức lại thành Cụm tác chiến “Fendhern Halle” với nòng cốt là Sư đoàn xe tăng 10 SS. Trên cánh trái, các tập đoàn quân 46 và cận vệ 9 được tăng cường Quân đoàn xe tăng 23 cũng phát động cuộc tấn công lớn vào Quân đoàn xe tăng 2 SS và Quân đoàn bộ binh 43 (Đức). Trong ngày đầu tiên, các quân đoàn Liên Xô đã đẩy lùi quân Đức 10 đến 12 km về phía Praha. Ở cánh phải, các tập đoàn quân 53 và 40 cũng phát động tấn công vào buổi chiều cùng ngày nhằm hình thành vòng vây bên trong đối với chủ lực của Cụm tập đoàn quân Trung Tâm (Đức) và che sườn phải cho cánh quân xe tăng – kỵ binh – cơ giới đang tấn công trên hướng TřebízJihlava – Praha.[5]
Ở hướng Đông, các tập đoàn quân 18, 38, 60 và cận vệ 1 cũng bắt đầu mở cuộc tấn công vào các quân đoàn 11, 49 và 72 (Đức) tại cái túi Přerov. Quân Đức chống cự đặc biệt ác liệt tại khu phòng thủ Olomouc vì đây là “cái miệng” của “cái túi” Přerov. Mất Olomouc đồng nghĩa vời việc ba quân đoàn Đức sẽ mất con đường cuối cùng thoát sang phía Tây. Trong ngày tấn công đầu tiên, các tập đoàn quân của Phương diện quân Ukraina 4 chỉ tiến lên được từ 8 đến 12 km trên cao nguyên Bohemia.[34]
Trên hướng Bắc và Đông Bắc Praha, các tập đoàn quân 28, 52 (Liên Xô) và Tập đoàn quân Ba Lan 2 tấn công với tốc độ vừa phải chỉ 7 km trong ngày đầu tiên. Các tập đoàn quân 21, 31 và 59 tạm thời chưa hành động. Nguyên soái I. S. Konev không muốn đẩy quân Đức sang phía Tây khi vòng vây chưa khép chặt trên hướng Praha.[26]

Ngày 7 tháng 5

Rạng sáng ngày 7 tháng 5 (theo giờ Trung Âu) có tin quân Đức đã ký hiệp nghị đầu hàng ở Reims. Tư lệnh các tập đoàn quân đều điện hỏi I. S. Konev, R. Ya. Malinovsky, A. I. Yeryomenko và đều nhận được câu trả lời: “Địch chưa hạ vũ khí. Tiếp tục tấn công”. Sang ngày 7 tháng 5, Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 4 và Tập đoàn quân 13 tăng tốc độ tấn công về hướng Praha lên đến 45 km trong ngày. Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 3 và Tập đoàn quân cận vệ 3 (được đưa từ thê đội 2 vào thay thế Tập đoàn quân cận vệ 5) cũng hành quân với tốc độ 25 km trong ngày. Quân đoàn xe tăng cận vệ 4 được điều động phối thuộc cho Tập đoàn quân cận vệ 5 để xử lý dứt điểm các cụm tác chiến quân đoàn “Kohlsdorfen” và “Moser” đang phòng thủ Dresden. Các tập đoàn quân 28, 31, 52 và Tập đoàn quân Ba Lan 2 có Quân đoàn cơ giới cận vệ 7 và Quân đoàn xe tăng Ba Lan 1 tăng cường bắt đầy gây sức ép mạnh hơn lên Quân đoàn xe tăng “Groß-Deutschland” và Quân đoàn xe tăng 57 (Đức) đang phòng thủ ở rìa phía Bắc cao nguyên Bohemia. Các tập đoàn quân 21, 31 và 59 bắt đầu hành đọng, đánh chiếm các bàn đạp tấn công tại Strigau, Levenberg và Strelen.[44]
Ở hướng Đông Nam, Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6, Cụm kỵ binh cơ giới cận vệ 1 và Tập đoàn quân cận vệ 7 cũng tăng tốc độ tấn công lần lượt đánh chiếm Třebíč, JihlavaMěřín. Các tập đoàn quân 46 và cận vệ 9 cũng làm chủ các thành phố Kremč, Horn và Reč lúc 17 giờ cùng ngày. Ở giữa mặt trận, Phương diện quân Ukraina 4 tiếp tục đột kích theo hướng chung đến Olomouc và Přerov. Tướng Walther Nehring yêu cầu các quân đoàn bộ binh 11, 49 và 72 phải chiến đấu đến cùng để chủ lực Cụm tập đoàn quân Trung tâm có thời gian thoát sang phía Tây trong điều kiện đường rút lui qua Praha đã bị những người khởi nghĩa cắt đứt. Quân đoàn sơn chiến 49 (Đức) dựa vào các triền núi tại khu vực Granice liên tục tập kích vào bên sườn đội hình tấn công của Tập đoàn quân cận vệ 1 (Liên Xô) trong khi các quân đoàn 11 và 59 cố thủ xung quanh phía Bắc và phía Đông Olomouc.[45]
22 giờ 35 phút đêm 7 tháng 5, sau khi được báo cáo đầy đủ về việc quân Đức đầu hàng riêng rẽ ở phía Tây và tình hình quân Đức tiếp tục kháng cự trên mặt trận Xô-Đức, I. V. Stalin nói: “Chiến tranh chưa thực sự chấm dứt” và yêu cầu Bộ Tổng tham mưu viết mệnh lệnh cho các Phương diện quân Liên Xô:

1. Các phương diện quân cho in lời kêu gọi gửi bộ chỉ huy các đơn vị Đức và binh lính Đức, nói rõ việc nhà nước Đức Quốc xã sẽ kí hiệp định đầu hàng vào tối ngày 8 tháng 5, dùng máy bay rải truyền đơn và phát lời kêu gọi này trên tất cả các đài phát thanh.
2. Sau 23 giờ ngày 8 tháng 5 (theo giờ Trung Âu) tức ngày 9 tháng 5 (theo giờ Moskva), buộc bộ chỉ huy các đơn vụ Đức phải đình chỉ chiến sự, giao nộp vũ khí và đầu hàng làm tù binh.
3. Đơn vị Đức nào không chịu thi hành yêu cầu của các đồng chi, không hạ vũ khí, không đầu hàng làm tù binh thì các đồng chí sẽ dùng toàn bộ sức mạnh kiên quyết mở mũi tập kích vào các đơn vị Đức còn chống cự và hoàn thành nhiệm vụ mà Đại bản doanh đã giao cho từng phương diện quân.
—I. V. Stalin.[46]

Ngày 8 tháng 5

Mặc dù đã ký hiệp nghị đầu hàng sơ bộ tại Reims nhưng sức kháng cự của quân đội Đức Quốc xã tại mặt trận Tiệp Khắc không hề giảm đi. Tuy nhiên, với sức mạnh tấn công ngày càng tăng lên do các đơn vị ở thê đội 2 của quân đội Liên Xô đều được đưa vào chiến đấu, tốc độ tấn công của các phương diện quân đều tăng lên rõ rệt. Lúc 12 giờ ngày 8 tháng 5, Quân đoàn cơ giới cận vệ 5 do thiếu tướng I. P. Ermakov chỉ huy thuộc Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 4 đã làm một cuộc đột kích ngoạn mục. Chỉ trong nửa ngày, quân đoàn này đã hành tiến trên 70 km, vượt qua Zaida, Homutov, đánh chiếm Jaroměř và Zatec, cách Praha 40 km về phía Tây Bắc. Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 3 mặc dù vấp phải sự chống trả kịch liệt của các sư đoàn xe tăng “Hermann Göring” và “Brandenburg” vẫn đều đặn tiến về ngã ba sông Laba và Ohrto với sức mạnh không thể cản được.[47] Cùng ngày, Tập đoàn quân cận vệ 5, Tập đoàn quân Ba Lan 2 và Quân đoàn 76 của Tập đoàn quân cận vệ 3 đánh chiếm Dresden. Hơn 5.000 quân Đức còn sống sót tại đây bị bắt làm tù binh. Thêm 1 sư đoàn xe tăng và 2 cụm tác chiến quân đoàn bộ binh Đức bị xóa sổ.[44]
Trên hướng Bắc Praha, các tập đoàn quân 28, 31 và 52 cùng Quân đoàn cơ giới cận vệ 7 lần lượt đánh chiếm Görlitz, Bautzen, Shittau, Liberets, Girshperg, dồn Quân đoàn xe tăng 57 (Đức) xuống phía Nam. Ở hướng Đông Bắc Praha, các tập đoàn quân 21, 31 và 59 đã vượt qua biên giới Tiệp Khắc, đánh chiếm Shveydnic, Valkenburg, Trutnov, Neisse và Glatz.[48] Ngày 8 tháng 5, các tập đoàn quân 38 và 60 giải phóng Olomouc. Tướng Walther Nehring buộc phải điều tàn quân của các sư đoàn xe tăng 16, 19 ra giữ hành lang PřerovProstějov nhưng vô ích. Các sư đoàn xe tăng này lập tức bị Tập đoàn quân 40 và Tập đoàn quân Romania 4 của Phương diện quân Ukraina 2 tập kích vào sau lưng và không còn chống trả được đòn tấn công của hai tập đoàn quân Liên Xô từ Olomouc đánh xuống. Chỉ có mọt số ít tàn quân của các quân đoàn 11, 49 và 72 (Đức) chạy thoát về Pardobice để rồi lại tiếp tục bị rơi vào một vòng vây mới.[49]
Ở Đông Nam Praha, sức chống cự của Tập đoàn quân 8 (Đức) và Quân đoàn xe tăng 24 (Tập đoàn quân xe tăng 1) đã cạn. Các đòn tấn công của các tập đoàn quân cận vệ 9 và 46 đã quét sạch quân Đức khỏi các thành phố Telč, Slavonice, Tábor, Soběslav, Hmund và České Budějovice. Chủ lực của Phương diện quân Ukraina 2 tăng tốc tiến đến phía Nam Praha. Cuối ngày 8 tháng 5, Cụm kỵ binh cơ giới cận vệ 1 đã đánh chiếm Humpolec, còn Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 thì đã có mặt tại Benešov, cách Praha hơn 20 km về phía Đông Nam. Tập đoàn quân cận vệ 7 phối hợp đánh chiếm Havlíčkův Brod và tiếp tục tấn công dọc theo thung lũng hữu ngạn sông Sázava.[50]

Ngày 9 tháng 5

Sự kiện ký kết định ước đầu hàng không điều kiện của nhà nước Đức Quốc xã trước các nước đồng minh chống phát xít đêm 8 rạng ngày 9 tháng 5 tại Berlin có vẻ như không ảnh hưởng đến Cụm tập đoàn quân Trung Tâm (Đức) đóng tại Tiệp Khắc. Viện cớ không liên lạc được với các đơn vị, thống chế Ferdinand Schörner không ra một mệnh lệnh nào đề cập đến việc chấm dứt hành động quân sự của quân đội Đức Quốc xã chống lại quân đội Liên Xô và xúc tiến kế hoạch đưa Cụm tập đoàn quân Trung tâm ra đầu hàng quân đội Hoa Kỳ ở phía Tây Tiệp Khắc. Các báo cáo từ khắp các tập đoàn quân gửi về Bộ tham mưu các phương diện quân đều đề cập đến việc quân Đức ở Tiệp Khắc tiếp tục kháng cự. Ngày 9 tháng 5, Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 đang tiến qua Traslav đã bị một trung đoàn Đức tập kích, buộc Lữ đoàn xe tăng 46 và Lữ đoàn cơ giới cận vệ phải nổ súng dẹp tan trung đoàn này.[51]
Tuy nhiên, các cố gắng đó của quân Đức đều không đem lại kết quả. Sang ngày 9 tháng 5, Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 4 kéo quân vào giải phóng Praha và tiến xuống phía Nam, đón gặp Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 tại Ržišeny. Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 3 cũng gặp Cụm kỵ binh cơ giới cận vệ 1 ở ngoại ô phía Đông Praha. Vòng vây quanh Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức) đã khép lại.[52] Ở phía Đông, bốn tập đoàn quân của Phương diện quân Ukraina 4 sau khi vượt qua Olomouc đã dồn quân Đức về khu vực ChrudimPardubiceHradec Králové. Từ phía Bắc và Đông Bắc, Tập đoàn quân 28 đánh chiếm Mladá Boleslav, Tập đoàn quân 52 chiếm giữ tuyến sông Nizora, Tập đoàn quân 31 đánh bại của phản kích của Sư đoàn xe tăng “Đại Đức” và tiến xuống phía Nam, Tập đoàn quân 21 và Tập đoàn quân 59 chốt giữ tuyến thược nguồn sông Laba. Cụm tập đoàn quân trung tâm (Đức) bị dồn vào một cái chảo lớn trên khu vực tam giác JičínPoděbradyNový Bydžov, bị bao bọc bởi các con sông Laba và Nizora. Đây cũng là cái chảo lớn cuối cùng mà quân Đức bị giam hãm ở mặt trận phía Đông trong Chiến tranh thế giới thứ hai.[42]
Từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 5, cánh trái của Phương diện quân Ukraina 2 gồm các tập đoàn quân 46, cận vệ 9, cận vệ 7 và cánh phải của Phương diện quân Ukraina 1 gồm Tập đoàn quân 13, các quân đoàn xe tăng 25 và cận vệ 4 đã tiến đến tuyến phân giới giữa quân đội Liên Xô và quân đội Anh – Mỹ từ Chemnitz, Karlovy Vary, Plzeň đến České Budějovice. Chỉ có một số ít quân Đức tại Praha và các đơn vị ROA rút qua phía Nam thành phố lúc rạng sáng ngày 9 tháng 5 đến được tuyến kiểm soát của Tập đoàn quân 3 (Hoa Kỳ).[53]

Kết liễu Cụm tập đoàn quân Trung tâm

Mất Praha, hơn nửa triệu tàn quân của Cụm tập đoàn quân Trung Tâm (Đức) tại phía Đông Praha không còn hy vọng rút lui an toàn sang tuyến kiểm soát của quân đội Hoa Kỳ như dự kiến nhưng vẫn không chấp hành lệnh đầu hàng từ Berlin. Và các hoạt động quân sự của quân Đức chống lại quân đội Liên Xô vẫn chưa thể kết thúc. Trong các ngày 9 và 10 tháng 5, quân Đức trong vòng vây tổ chức hai đòn phản kích lớn đều có xe tăng yểm hộ vào các đơn vị ở vòng vây bên trong của quân đội Liên Xô. Đòn thứ nhất đánh vào đội hình của Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 3 ở phía Đông Bắc Praha. Đòn thứ hai đánh vào đội hình Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 đang có mặt tại Říčany, Đông Nam Praha. Tuy nhiên, cả hai đòn đột kích này đều nhanh chóng bị đẩy lùi. Dù vậy, một số nhóm tàn binh lẻ của quân Đức và ROA có số lượng từ vài trăm đến vài nghìn mỗi nhóm vẫn len lỏi qua vòng vây chưa được khép chặt và thoát sang tuyến kiểm soát của quân đội đồng minh Anh và Hoa Kỳ, trong đó có quân đoàn của A. A. Vlasov.[54]
Nhằm buộc cụm tàn quân Đức ở phía Đông Praha phải hạ vũ khí. Ngày 10 tháng 5, STAVKA ra mệnh lệnh cho các phương diện quân Ukraina 1, 2 và 4:

1- Trước 6 giờ ngày 11 tháng 5 năm 1945 phải thiết lập chặt chẽ sự kết nối trên các tuyến phân giới: Phương diện quân Ukraina 1 với Phương diện quân Ukraina 4: đến Rožďalovice và sau đó đến Říčany. Giữa Phương diện quân Ukraina 1 với Phương diện quân Ukraina 2: Říčany, Plzeň.
2- Lệnh cho các Phương diện quân Ukraina 1 và 4 tìm mọi biện pháp buộc quân địch đang bị bao vây ở Đông Bắc Praha phải đầu hàng, không cho phép chúng thoát sang phương Tây. Chỉ huy của Phương diện quân Ukraina 1 trong khi tiếp tục di chuyển các lực lượng mạnh của mình về phía Tây và bắt liên lạc với các lực lượng đồng minh phải chiếm lĩnh các thành phố Chemnitz, CarlsbadPlzeň, nếu quân các nước Đồng Minh không chiếm đóng trước. Chỉ huy của Phương diện quân Ukraina 4, sau khi di chuyển đến Đông Bắc Praha phải tập kích mạnh mẽ vào quân địch. Các tập đoàn quân 38 và 60 tập trung tấn công vào Chlumec, Nymburk, Kostelec và Caslav. Các tập đoàn quân 18 và cận vệ 1 tấn công từ phía Đông và Hradec Králové, PardubiceŽdírec.
3- Chỉ huy của Phương diện quân Ukraina 4 được phép rút Quân đoàn Tiệp Khắc 1 vào đóng tại thành phố Praha.
—STAVKA[3]

Tuy nhiên, quân đội Liên Xô không cần phải triển khai thêm các đòn tập kích lớn vì từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 5, Quân Đức tại Đông Bắc Praha đã ra hàng theo đội hình từng đơn vị lớn. Ngày 10 tháng 5 có hơn 20.000 quân Đức ra hàng. Ngày 11 tháng 5,con số này tăng vọt lên khoảng 130.000 tù binh. Ngày 12 tháng 5, con số này là 185.900 người, trong các ngày từ 13 đến 15 tháng 5, vẫn còn khoảng 31.230 sĩ quan và binh lính Đức ở phía Đông đầu hàng quân đội Liên Xô. Tổng số quân Đức bị bắt ở Tiệp Khắc trong toàn bộ chiến dịch lên đến 859.400 người, trong đó có hơn 60 sĩ quan cấp tướng. Không kể các vũ khí và phương tiện chiến tranh của quân Đức đã bị phá hủy trong chiến đấu, Quân đội Liên Xô tại Tiệp Khắc đã thu giữ một khối lượng chiến lợi phẩm khổng lồ gồm 1.100 máy bay, 9.500 khẩu pháo và súng cối, 1.800 xe tăng và pháo tự hành, 18.400 đại liên và trung liên, 312.200 tiểu liên và súng trường, 76.300 ô tô và hơn 500 kho hàng quân sự.[55]

Ngày tận số của ROA và KONR

“Con tàu Đế chế thứ ba” đang chìm dần buộc các đội quân thuộc lực lượng giải phóng Nga (ROA) và tổ chức Ủy ban giải phóng dân tộc Nga (KONR) do nước Đức Quốc xã bảo trợ và trang bị phải tìm đường thoát thân. Một số chỉ huy ROA tại Praha cố gắng tìm kiếm sự “sám hối”. Trong thời gian diễn ra cuộc khởi nghĩa Praha, một số chỉ huy và binh lính ROA đóng tại thành phố đã hai lần tìm gặp những người lãnh đạo của ČNR và đề nghị thu nạp họ vào hàng ngũ quân khởi nghĩa. Tuy nhiên, các đại diện của ČNR vẫn không quên những “thành tích” mà các đội quân SS Cossack của Kaminsky cũng như quân của A. A. Vlasov đã gây ra đối với người Do Thái, người Séc cũng như người Slovakia. Họ nhận thấy những “đồng minh” bất ngờ này rất khó tin cậy được. Những đội quân này không được ai đứng ra bảo lãnh và giao vũ khí trừ quân đội Đức Quốc xã. Sau cả hai lần đề nghị bị từ chối, một số nhóm quân của A. A. Vlasov đã tổ chức bắn vào quân Đức hoặc sửa soạn đầu hàng Hồng quân Xô Viết.[56]
Ngày 10 tháng 5, một nhóm quân Vlasov bị bao vây và bị bắt làm tù binh trong một khu rừng phía Tây Bắc thị trấn Ľutov. Những người này khai rằng ngày 9 tháng 5, các chỉ huy cao cấp của ROA mở cuộc họp đặc biệt tại Carlsbad và đi đến kết luận cần tập trung tàn quân ROA về phía Nam nước Đức, lợi dụng dãy núi Alpe để ẩn náu, chờ đến khi bùng nổ cuộc chiến mới giữa các đồng minh Anh – Mỹ với Liên Xô, ROA sẽ hoạt động trở lại hoặc di tản sang các nước phương Tây. Để phục vụ kế hoạch này, một số sĩ quan cao cấp của ROA đã bắt liên lạc với một số chỉ huy sư đoàn của Tập đoàn quân 3 (Hoa Kỳ). Ngày 12 tháng 5, tướng A. A. Vlasov và tướng S. K. Bunyachenko đã rút Sư đoàn 1 ROA về phía Tây Nam Tiệp Khắc, cách Đông Nam Plzeň khoảng 40 km chờ quân Mỹ kéo đến để ra hàng. Bảo vệ cho Bộ chỉ huy Quân đoàn ROA của A. A. Vlasov là Lữ đoàn SS 29 “Rona” đã tiến hành những cuộc đàn áp đẫm máu những người Ba Lan khởi nghĩa ở Warszawa dưới sự chỉ huy của tướng Bronislav Vladislavovic Kaminskiy. Tuy nhiên, quân đội Mỹ đã dừng lại đúng giới tuyến quy định. Cùng ngày 12 tháng 5, Lữ đoàn xe tăng cận vệ 24 và Trung đoàn pháo tự hành cận vệ 104 thuộc Tập đoàn quân xe tăng 4 đã tiến vào Plzeň.[57]
Cuối ngày 13 tháng 5, Quân đoàn xe tăng 25 (Tập đoàn quân cận vệ 3) của thiếu tướng E. I. Fominyk đã cơ động nhanh từ Žatec xuống phía Nam và phát hiện đạo quân của A. A. Vlasov ở Đông Nam thành phố Plzeň. Không để mất thời gian, tướng E. I. Fominyk lệnh cho đại tá I. P. Mishenko huy động toàn bộ Lữ đoàn xe tăng 162 đuổi theo. Một tiểu đoàn bộ binh cơ giới thuộc Lữ đoàn cơ giới 20 do đại úy M. I. Iakusov vượt lên phía trước, lập một chốt chặn trên con đường bộ nối Plzeň với Plana. Đại úy M. I. Iakusov cùng tổ sĩ quan SMESH gồm thiếu tá P. T. Vinogradov và thượng úy N. P. Ignashkin đã chiêu hàng được đại úy P. N. Kuchinsky, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 thuộc Sư đoàn 1 ROA và người này đã chỉ rõ vị trí Bộ tham mưu của A. A. Vlasov trong đoàn quân. A. A. Vlasov bị bắt ngay sau đó trong khi các họng súng trên xe tăng của Lữ đoàn 162 sẵn sàng nhả đạn. Cùng bị bắt với A. A. Vlasov còn có tướng S. K. Bunyachenko cùng toàn bộ bộ tham mưu, sĩ quan và binh lính Sư đoàn 1 ROA.[58]
Một số lãnh đạo của Phong trào dân tộc Nga tự do khác đã trốn thoát sang tuyến kiểm soát của liên quân Anh-Mỹ. Trong số đó có tướng của Sa hoàng Pyotr Nikolayevich Krasnov, nguyên thủ lĩnh “Quân đội Cossack sông Đông” thời nội chiến Nga; thiếu tướng Đức Quốc xã Semyon Nikolayevich Krasnov (cháu của P. N. Krasnov); Andrey Grigoryevich Skuro, cựu tư lệnh Quân đoàn đoàn kỵ binh 3 thuộc tập đoàn quân của Anton Ivanovich Denikin, trung tướng quân đội Đức Quốc xã; bá tước Klich Shahanovich Sultan Giray, thiếu tướng Đức Quốc xã, Timofei Nikolaevich Domanov, thiếu tướng Đức Quốc xã. Những người này và 125 cựu sĩ quan bạch vệ cao cấp khác từ trại Cossack ở Ý chạy đến thành phố Graz của Áo và bị quân đồng minh Anh-Mỹ bắt giữ và đưa về doanh trại của họ.[4] Ban đầu, người Anh có ý định cho họ tị nạn chính trị và vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ phía Liên Xô. Chính phủ Liên Xô tuyên bố rằng tất cả những người thuộc lực lượng ROA, RBN, quân SS Cossack, quân cảnh SS Ukraina, quân cảnh SS Nga đã chiến đấu trong hàng ngũ quân đội Đức Quốc xã phải bị coi là tội phạm chiến tranh và yêu cầu dẫn độ những người này đến tuyến kiểm soát của Liên Xô.[26] Sau một thời gian trì hoãn, ngày 29 tháng 5, quân đội Anh đã dùng ô tô chuyển giao những người này cho quân đội Liên Xô. Một đội lính gác NKVD Liên Xô thay thế cho đội lính gác của quân đội Anh trên tuyến phân giới gần thành phố Graz.[59]
Ngày 1 tháng 8 năm 1946, tại Moskva, A. A Vlasov, S. K. Bunyachenko, F. I. Trukhin, V. F. Malyshkin, D. E. Zakutny, G. N. Zhilenkov, G. A. Zvelev, M. A. Meandrov và nhiều cựu sĩ quan cao cấp của ROA cũng như một số thành viên Ủy ban giải phóng dân tộc Nga (KONR) bị tòa án Liên Xô tuyên án tử hình.
Ngày 16 tháng 1 năm 1947, tại Moskva, đến lượt nhóm P. N. Krasnov, S. N. Krasnov, A. G. Skuro, Sultan Giray và T. N. Domanov bị Tòa án tối cao Liên Xô tuyên án tử hình vì tội phản quốc.

Kết quả, đánh giá và ảnh hưởng

Kết quả

Đài kỷ niệm chiếc xe tăng IS-2 số 23 tại Praha, (ảnh chụp tháng 10 năm 1979)

Ngày 18 tháng 4, năm 1945, Cụm tập đoàn quân “Dự bị” (Đức) đầu hàng quân đội đồng minh Anh – Mỹ tại khu vực Ruhr. Ngày 22 tháng 4 năm 1945, Cụm tập đoàn quân “B” (Đức) đầu hàng quân đội đồng minh Anh-Mỹ ở miền Trung-Tây nước Đức. Ngày 29 tháng 4, Cụm tập đoàn quân “C” (Đức) đầu hàng quân đội đồng minh Anh – Mỹ ở Bắc Ý.[60] Ngày 1 tháng 5 năm 1945, Cụm tập đoàn quân “Áo” (Đức) đầu hàng quân đội Hoa Kỳ ở miền Trung nước Áo. Ngày 2 tháng 5 năm 1945, Cụm tập đoàn quân “Wisla” (Đức) đầu hàng quân đội Liên Xô tại khu vực Berlin và Đông Bắc nước Đức.[61] Ngày 4 tháng 5, Cụm tập đoàn quân “D” Đức đầu hàng các lực lượng Mỹ-Anh ở Tây-Bắc Đức, Hà Lan, Schleswig-Holstein và Đan Mạch. Ngày 5 tháng 5 năm 1945, Cụm tập đoàn quân “G” (Đức) đầu hàng quân đội Anh-Mỹ ở khu vực Bavaria.[60] Ngày 7 tháng 5 năm 1945, Cụm quân “Kurland” (Đức) đầu hàng quân đội Liên Xô tại bán đảo cùng tên trên đất Latvia. Ngày 12 tháng 5 năm 1945, Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức) đầu hàng quân đội Liên Xô ở phía Đông Praha.[43] Cùng với các chiến dịch của quân đội đồng minh Anh – Mỹ ở Mặt trận phía Tây và Chiến dịch Berlin, Chiến dịch Praha là chiến dịch kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai ở Châu Âu với thắng lợi hoàn toàn của phe Đồng Minh chống phát xít. Quân đội Liên Xô hoàn thành sứ mạng giải phóng Tiệp Khắc với cái giá phải trả là 140.000 sĩ quan và binh sĩ.[62][63]
Toàn bộ quân đội Đức Quốc xã tại Tiệp Khắc đều hoặc bị tiêu diệt, hoặc bị quân đội Liên Xô và quân đội Hoa Kỳ bắt làm tù binh. Toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh của nước Đức Quốc xã trong khu vực đều bị phá hủy hoặc thu giữ.[64]
Praha là thành phố lớn cuối cùng ở Châu Âu được giải phóng ngày 9 tháng 5 năm 1945. Ngày này trở thành ngày quốc khánh của Tiệp Khắc từ năm 1945 đến năm 1990.[57]

Đánh giá

Đánh giá chiến thắng của Hồng quân trong Chiến dịch Praha, Chủ tịch Tiệp Khắc Klement Gottwald phát biểu:

Ngày 9 tháng 5 là một ngày thực sự tuyệt vời và ngày kỷ niệm quốc gia lớn nhất của chúng tôi. Vào ngày này năm 1945, sự chiếm đóng của Đức Quốc xã đe dọa sự tồn vong của các dân tộc Séc và Slovakia đã chấm dứt vĩnh viễn. Ngày này đồng thời là một cột mốc lịch sử, khi các dân tộc Séc và Slovakia bắt đầu một kỷ nguyên mới tốt đẹp nhất trong lịch sử của họ, một kỷ nguyên của độc lập dân tộc thực sự, là thời đại làm chủ của con người, là thời đại tự do của quần chúng lao động, là thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa. Các điều kiện lịch sử đã làm nên một loạt sự kiện lịch sử trên đất nước chúng ta là gì? Yếu tố quan trọng và quyết định nhất là các lực lượng vũ trang Hồng quân, sự liên minh và sự hợp tác anh em của Liên Xô.
—Klement Gottwald.[2]

Huy chương Vì sự giải phóng Praha

Dưới cái bóng lớn của Chiến dịch Berlin, trong nhiều năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Chiến dịch Praha thường chỉ được đề cập đến trong một số lĩnh vực chính trị – xã hội và tuyên truyền. Tuy nhiên, các tướng lĩnh, sĩ quan Liên Xô tham gia Chiến dịch này ngày càng có nhiều ý kiến tổng kết về chiến dịch. Đánh giá chung của họ cho rằng đây là một trong các chiến dịch có tốc độ tấn công nhanh nhất trên mặt trận Xô-Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Ở Phương diện quân Ukraina 1, tốc độ trung bình từ 30 đến 35 km/ngày.[43] Ở Phương diện quân Ukraina 2, tốc độ tấn công cũng đạt đến 35 km/ngày trên cánh trái và 25 km/ngày trên cánh trái.[2] Tại Phương diện quân Ukraina 4, tốc độ tấn công chậm hơn nhưng cũng đạt được mức 20 đến 25 km/ngày.[3]
Chiến dịch này cũng là một trong những chiến dịch có số lượng binh lực, vũ khí, phương tiện chiến tranh cùng tham gia vào hàng lớn nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai ở Châu Âu. Quân đội Liên Xô, Romania và Tiệp Khắc có 181 sư đoàn và 19 lữ đoàn bộ binh, 3 tập đoàn quân xe tăng, 4 quân đoàn xe tăng và 2 quân đoàn cơ giới độc lập, 11 sư đoàn và 135 lữ đoàn, trung đoàn pháo binh; tổng quân số 2.028.000 người, được trang bị 30.452 pháo và súng cối, 1.960 xe tăng, 3.014 máy bay. Quân đội Đức Quốc xã có 62 sư đoàn bộ binh, 16 sư đoàn xe tăng và cơ giới, 35 trung đoàn và 120 tiểu đoàn độc lập. Tổng quân số trên 900.000 người, được trang bị 9.700 pháo và súng cối, 1.900 xe tăng và khoảng 1.000 máy bay.[3][25]
Chiến dịch Praha thu được thắng lợi nhanh chóng còn do hệ quả tinh thần từ Chiến dịch Berlin, quân đội Đức Quốc xã chiến đấu chỉ còn với mục đích chạy thoát nhanh hơn sang phía Tây để không phải đầu hàng quân đội Liên Xô mà đầu hàng quân đội đồng minh Anh và Hoa Kỳ. Do trung tâm chỉ huy của nước Đức Quốc xã bị chia cắt hoàn toàn với các mặt trận nên quân đội Đức Quốc xã tại khu vực phía Tây Tiệp Khắc bị cô lập hoàn toàn với các Cụm tập đoàn quân khác và chỉ còn liên lạc được với nhau qua điện đài. Sự thiếu phối hợp hành động là một nguyên nhân dẫn đến sự tan rã sớm của Cụm tập đoàn quân Trung Tâm (Đức).

Ảnh hưởng

Tượng đài người lính Hồng quân Liên Xô tại nghĩa trang quân sự Olšansky, Praha

Sau chiến dịch này, hơn 50 đơn vị chiến đấu xuất sắc đã được mang tên “Praha”. Xô Viết tối cao Liên Xô đã lập ra “Huy chương Vì sự giải phóng Praha”, hơn 10.000 quân nhân Liên Xô, Tiệp Khắc, Romania và Ba Lan được tặng thưởng huy chương này. Hàng nghìn quân nhân Liên Xô, Tiệp Khắc, Romania và Ba Lan được tặng thưởng Huân chương của nhà nước Tiệp Khắc. Hàng trăm sĩ quan, binh sĩ được tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô và Anh hùng Tiệp Khắc.
Sau chiến tranh, hàng chục nghĩa trang đã được thành lập để chôn cất thi thể và hài cốt của hơn 140.000 quân nhân Liên Xô và hàng chục nghìn quân nhân Tiệp Khắc, Ba Lan và Romania đã tử trận trong công cuộc giải phóng Tiệp Khắc. Trong đó, nghĩa trang lớn nhất là nghĩa trang Olsany ở Praha. Các đài tưởng niệm được dựng lên tại Praha và các thành phố miền Tây Tiệp Khắc như Teplice, Slavonice, Liberec, Liboc, Ruzyně. Trong cuộc khủng hoảng và sau sự sụp đổ của khối xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, một số công trình đã bị xâm hại hoặc bị dỡ bỏ. Tượng đài kỷ niệm chiếc xe tăng IS-2 số 23 tham gia chiến dịch giải phóng Praha nguyên là một di tích quốc gia cũng bị dỡ bỏ khỏi quảng trường Kinský (nguyên là quảng trường Smíchově) ngày 13 tháng 6 năm 1991. Sau đó, nó được sơn thành màu hồng và chuyển đến Bảo tàng kỹ thuật quân sự Lešany bằng đường thủy dọc theo sông Vltava.

Ghi chú

^  a:  Nguyên đại tá Hồng quân, chỉ huy Sư đoàn bộ binh 389 thuộc Phương diện quân Bắc Kavkaz, bị lính Romania bắt làm tù binh tháng 10 năm 1942, gia nhập ROA tháng 5 năm 1943
^  b:  Nguyên đại tá Hồng quân, chỉ huy Sư đoàn bộ binh 350 thuộc Tập đoàn quân xe tăng 3 (Liên Xô), bị lính Đức bắt làm tù binh ở khu vực Kharkov ngày 22 tháng 3 năm 1943, gia nhập ROA tháng 5 năm 1943 tại trại tù binh ở Ba Lan
^  c:  Nguyên phó tư lệnh Quân đoàn bộ binh 1 thuộc Phương diện quân Krym, đầu hàng quân Đức ngày 1 tháng 8 năm 1942 tại Kerch, gia nhập ROA tại trại tù binh ở Ba Lan.
^  d:  Nguyên đại tá Hồng quân Liên Xô, bị cách chức và khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 3 năm 1938 do bị buộc tội âm mưu tạo phản, được phục hồi và bổ nhiệm làm giám đốc nhà điều dưỡng quân đội tại Yalta tháng 12 năm 1939, đầu hàng quân Đức tháng 11 năm 1941 tại Yalta, gia nhập ROA tháng 2 năm 1943 tại Đức.
^  e:  Nguyên thiếu tướng Hồng quân, nguyên Phó tham mưu trưởng Phương diện quân Tây Bắc, trốn sang hàng ngũ phát xít Đức và giao nộp tài liệu mật của phương diện quân cho quân Đức ngày 27 tháng 6 năm 1941 tại mặt trận Litva, gia nhập ROA tháng 2 năm 1943 tại Đức.

Chú thích

  1. ^ a ă Г. Ф. Кривошеев. Россия и СССР в войнах XX века: Потери вооруженных сил. Олма пресс. Москва. 2001 (G. F. Krivisheev. Nga và Liên Xô trong cuộc chiến tranh của thế kỷ XX: Tổn thất của các lực lượng vũ trang. NXB Olma. Moskva. 2001. Chương V: Chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Mục 10: Tổn thất trong các chiến dịch chiến lược. Tiểu mục 50: Chiến dịch tấn công chiến lược Praha)
  2. ^ a ă â 9 Мая 1945 года. / Составители: В. Д. Вознесенский Д. Б. Рубежный. Под редакцией члена-корреспондента АН СССР А. М. Самсонова. — М.: Наука, 1970. М. В. Захаров: От Будапешта до Праги. (A. M. Samsonov (chủ biên). Ngày 9 tháng 5 năm 1945. NXB Khoa học. Moskva. 1970. Chương 6: M. V. Zakharov: Từ Budapest đến Praha)
  3. ^ a ă â b c d Еременко, Андрей Иванович. Годы возмездия 1943-1945. — М.: Финансы и статистика, 1985. (Andrey Ivanovich Yreyomenko. Những năm tháng báo thù 1943-1945. NXB Tài chính và Thống kê. Moskva. 1985. Chương XIV: Phía trước là Praha)
  4. ^ a ă Шебунин, Александр Иванович. Сколько нами пройдено… — М.: Воениздат, 1971. Aleksandr Ivanovich Shebinin. Chúng ta đã vượt qua như thế. NXB Quân đội. Moskva. 1971. Chương 4: Ở nước ngoài. Mục 5: Ở Áo)
  5. ^ a ă Плиев, Исса Александрович. Дорогами войны – В боях за освобождение Румынии, Венгрии, Чехословакии. — М.: Книга, 1985. (Issa Aleksandrovich Pliyev. Con đường chiến tranh – Trong các trận đánh giải phóng Romania, Hungary, Tiệp Khắc. NXB Sách. Moskva. 1985. Chương V: Tại Brno và Praha)
  6. ^ Типпельскирх К. История Второй мировой войны. СПб.:Полигон; М.:АСТ,1999. Bản gốc: Tippelskirch K., Geschichte des Zweiten Weltkrieges. — Bonn, 1954 (Kurt von Tippelskirch. Lịch sử chiến tranh thế giới thứ hai.St Petersburg. Poligon. M.: AST năm 1999. Chương XII: Cuộc chiến vì đế chế Đức. Mục 6: Kết cục ở phía Đông)
  7. ^ Thomas B. Buell, John N. Bradley, Jack W. Dice, John H. Bradley. The Second World War: Europe and the Mediterranean. United States Military Academy. Department of History. Square One Publishers, Inc., 2002. p. 248
  8. ^ Ненахов Юрий Юрьевич. Войска спецназначения во второй мировой войне. — Мн.: Харвест, М.: ACT, 2000. (Yuri Yuryevich Nenakhov. Lực lượng đặc nhiệm trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Khavest (Minsk) và AST (Moskva) hợp tác xuất bản. 2000. Phần II: Các quốc gia khối phát xít. Chương 1: Đức Quốc xã)
  9. ^ S. M. Shtemenko. Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh. Tập II. NXB Tiến Bộ. Moskva. 1985. trang 510.
  10. ^ Самсонов, Александр Михайлович Крах фашистской агрессии 1939-1945. — М.: Наука, 1980. (Alexander Mikhilovich Samsonov. Sự sụp đổ của các thế lực phát xít xâm lược 1939-1945. NXB Khoa học. Moskva. 1980. Chương 19: Kết thúc. Mục 8: Giải phóng Tiệp Khắc)
  11. ^ Г. Ф. Кривошеев. Россия и СССР в войнах XX века: Потери вооруженных сил. Олма пресс. Москва. 2001 (G. F. Krivisheev. Nga và Liên Xô trong cuộc chiến tranh của thế kỷ XX: Tổn thất của các lực lượng vũ trang. NXB Olma. Moskva. 2001. Chương V: Chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Mục 10: Tổn thất trong các chiến dịch chiến lược. Tiểu mục 50: Chiến dịch tấn công chiến lược Praha)
  12. ^ a ă â Binh lực của quân đội Liên Xô từ ngày 1 tháng 4 năm 1945.
  13. ^ Các đơn vị quân đội Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai – Lược sử Tập đoàn quân cận vệ 3
  14. ^ Các đơn vị quân đội Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai – Lược sử Tập đoàn quân cận vệ 5
  15. ^ Các đơn vị quân đội Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai – Lược sử Tập đoàn quân 13
  16. ^ Các đơn vị quân đội Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai – Lược sử Tập đoàn quân 13
  17. ^ Các đơn vị quân đội Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai – Lược sử Tập đoàn quân 28
  18. ^ Các đơn vị quân đội Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai – Lược sử Tập đoàn quân 31
  19. ^ Các đơn vị quân đội Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai – Lược sử Tập đoàn quân 52
  20. ^ Các đơn vị quân đội Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai – Lược sử Tập đoàn quân 59
  21. ^ Các đơn vị quân đội Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai – Lược sử Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 3
  22. ^ Các đơn vị quân đội Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai – Lược sử Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 4
  23. ^ Các đơn vị quân đội Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai – Lược sử Tập đoàn quân không quân 2
  24. ^ ^ Г. Ф. Кривошеев. Россия и СССР в войнах XX века: Потери вооруженных сил. Олма пресс. Москва. 2001 (G. F. Krivisheev. Nga và Liên Xô trong cuộc chiến tranh của thế kỷ XX: Tổn thất của các lực lượng vũ trang. NXB Olma. Moskva. 2001. Chương V: Chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Mục 10: Tổn thất trong các chiến dịch chiến lược. Tiểu mục 50: Chiến dịch tấn công chiến lược Praha)
  25. ^ a ă â b c Г. Ф. Кривошеев. Россия и СССР в войнах XX века: Потери вооруженных сил. Олма пресс. Москва. 2001 (G. F. Krivisheev. Nga và Liên Xô trong cuộc chiến tranh của thế kỷ XX: Tổn thất của các lực lượng vũ trang. NXB Olma. Moskva. 2001. Chương V: Chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Mục 10: Tổn thất trong các chiến dịch chiến lược. Tiểu mục 50: Chiến dịch tấn công chiến lược Praha)
  26. ^ a ă â b Константин Васильевич Крайнюков. Оружие особого рода. М.: Воениздат. 1978. (Konstantin Vasilyevich Kraynyukov. Vũ khí đặc biệt. NXB Quân đội. Moskva. 1978. Phần III: Tiến tới chiến thắng. Chương 3: Hành quân đến Praha)
  27. ^ S. M. Shtemenko. Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh. Tập 2. NXB Tiến Bộ. Moskva. 1985. Trang 500-501
  28. ^ 9 Мая 1945 года. / Составители: В. Д. Вознесенский Д. Б. Рубежный. Под редакцией члена-корреспондента АН СССР А. М. Самсонова. — М.: Наука, 1970. Конев, Иван Степанович: 1-й Украинский фронт в Пражской операции. (A. M. Samsonov (chủ biên). Ngày 9 tháng 5 năm 1945. NXB Khoa học. Moskva. 1970. Chương 4: I. S. Konev: Phương diện quân Ukraina 1 trong Chiến dịch Praha)
  29. ^ S. M. Stemenko. Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh. Tập 2. NXB Tiến Bộ. Moskva. 1985. trang 502.
  30. ^ a ă Свобода, Людвик. От Бузулука до Праги. — М.: Воениздат, 1963. Bản gốc: Ludvik Svoboda. Buzuluku do Prahy. — Praha: NaŠe Vojsko, 1963. (Ludvik Svoboda. Từ Buzuluk đến Praha. NXB Quân đội. Moskva. 1963. Chương V: Trên đất nước quê hương. Mục 12: Những du kích Odysey)
  31. ^ Cuộc khởi nghĩa Praha tháng Năm năm 1945
  32. ^ a ă â Băng ghi âm do những người khởi nghĩa phát đi kêu gội dân chúng Praha nổi dậy. Lưu trữ của Đài phát thanh quốc gia Séc
  33. ^ a ă Alexandr Pícha. Tổng khởi nghĩa tháng Năm -1945 ở Praha. Lưu trữ của Đài phát thanh quốc gia Séc
  34. ^ a ă Сандалов, Леонид Михайлович. После перелома. — М.: Воениздат, 1983. (Leonid Mikhailovich Sandalov. Sau bước ngoặt. NXB Quân đội. Moskva. 1983. Chương X: Đường cao tốc Praha)
  35. ^ Alexandr Pícha. Trận chiến 4 ngày ở Đài phát thanh Tiệp Khắc. Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử (online) Séc ngày 2-5-2005
  36. ^ S. M. Shtemenko. Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh. Tập 2. NXB Tiến Bộ. Moskva. 1985. trang 505.
  37. ^ Alexandr Pícha (tác giả), Tomáši Jaklovi (hiệu đính). Tổng khởi nghĩa tháng Năm -1945 ở Praha. Lưu trữ của Viện Lịch sử quân sự Praha và Đài phát thanh quốc gia Séc
  38. ^ a ă S. M. Shtemenko. Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh. Tập 2. NXB Tiến Bộ. Moskva. 1985. trang 512.
  39. ^ Pohled univ. prof. dr. Alberta Pražáka, předsedy Revoluční České národní rady, na pražské květnové povstání, zveřejněný ve sborníku statí „Pražská květnová revoluce 1945“ u příležitosti výstavy k jejímu 1
  40. ^ Фомичёв, Михаил Георгиевич. Путь начинался с Урала. М., Воениздат, 1976. (Mikhail Georgyevich Fomichyov. Lên đường từ Ural. NXB Quân đội. Moskva. 1976. Chương III: Trong chiến dịch giải phóng. Mục 4: Praha kêu gọi giúp đỡ)
  41. ^ Драгунский, Давид Абрамович. Годы в броне. — М.: Воениздат, 1983. (David Abramovich Dragunsky. Những năm trong giáp thép. NXB Quân đội. Moskva. 1983. Chương 4: Kết thúc cuộc chiến. Mục 4: Tiến về Praha)
  42. ^ a ă Жадов, Алексей Семенович. Четыре года войны. — М.: Воениздат, 1978. (Aleksey Semyonovich Zhadov. Bốn năm chiến tranh. NXB Quân đội. Moskva. 1978. Chương 9: Bài thi cuối cùng: Chiến dịch Praha)
  43. ^ a ă â Конев, Иван Степанович. Сорок пятый. — М.: Воениздат. 1970. (Ivan Stepanovich Konev. Bốn mươi lăm. NXB Quân đội. Moskva. 1970. Chương 5: Chiến dịch Praha)
  44. ^ a ă Зайцев, Василий Иванович. Гвардейская танковая. Свердловск: Сред.-Урал 1989. (Vasili Ivanovich Zaytsev. Xe tăng cận vệ. NXB Công nhân Ural. Sverdlovsk. 1989. Chương 8: Trợ giúp Praha)
  45. ^ Гладков, Василий Федорович. Атакует горнострелковая. — М.: «Советская Россия», 1972. (Vasily Fyodorovich Gladkov. Quân sơn chiến tấn công. NXB “Nước Nga Xô Viết”. Moskva. 1972. Chương X: Những trận đánh cuối cùng)
  46. ^ S. M. Shtemenko. Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh. Tập 2. NXB Tiến Bộ. Moskva. 1985. trang 519-520.
  47. ^ Лоза, Дмитрий Федорович. Танкист на «иномарке». — М.: Яуза, Эксмо, 2005. (Dmitri Fedorovich Loza. Xe tăng nhãn hiệu nước ngoài. Yauza và Penguin Books hợp tác xuất bản. Moskva. 2005. Phần I: Phía Tây. Chương 26: Đến Praha)
  48. ^ Катышкин, Иван Свергеевич. Служили мы в штабе армейском. — М.: Воениздат, 1979. (Ivan Svergeevich Katyskin. Công việc tại Sở chỉ huy. NXB Quân đội. Moskva. 1979. Chương 8: Đột phá vượt qua tuyến Sudet)
  49. ^ Малкин, Василий Максимович. Карпатские орлы. — М.: Воениздат, 1975. (Vasily Maksimovich Malkin (Sư đoàn sơn chiến 128). Đại bàng trên dãy Carpath. NXB Quân đội. Moskva. 1975. Chương VIII: Chào Tổ quốc mến yêu)
  50. ^ Коллектив авторов. Советские танковые войска 1941-1945. — М.: Воениздат, 1973. (Tập thể tác giả. Đội quân xe tăng của Liên Xô, 1941-1945. NXB Quân đội. 1973. Chương 16: Trợ giúp tại Praha)
  51. ^ S. M. Shtemenko. Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh. NXB Tiến Bộ. Moskva. 1985. trang 521-522.
  52. ^ Кривицкий, Александр Юрьевич. Не забуду вовек. — М.: Воениздат, 1964. (Aleksandr Yuryevch Krivitsky. Không thể nào quên. NXB Quân đội. Moskva. 1964. Chương 11: Bình minh Praha)
  53. ^ Перегудин, Александр Иванович. Разведчики идут в поиск. — М.: Воениздат, 1986. (Aleksandr Ivanovich Peregudin. Trinh sát đi truy tìm. NXB quân đội. Moskva. 1986. Chương 7: Mùa xuân chiến thắng)
  54. ^ S. M. Stemenko. Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh. Tập 2. NXB Tiến Bộ. Moskva. 1985. trang 525.
  55. ^ Москаленко, Кирилл Семёнович. На Юго-Западном направлении. 1943-1945. Книга II. — М.: Наука, 1973 (Kiril Semyonovich Moskalenko. Trên hướng Tây Nam, 1943-1945 – Tập II. NXB Khoa học. Moskva. 1973. Chương XVIII: Lên đường đến Praha)
  56. ^ S. M. Stemenko. Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh. Tập 2. NXB Tiến Bộ. Moskva. 1985. trang 524-525.
  57. ^ a ă Лелюшенко, Дмитрий Данилович. Москва-Сталинград-Берлин-Прага. Записки командарма. — М.: Наука 1987. (Dmitri Danilovich Lelyushenko. Moscow-Stalingrad-Berlin-Praha.. NXB Khoa học. Moskva. 1987. Chương 9: Trợ giúp Tiệp Khắc)
  58. ^ Русский архив: Великая Отечественная: Т. 15 (4-5). Битва за Берлин (Красная Армия в поверженной Германии).— М.: Терра, 1995. (Tài liệu lưu trữ được giải mật của Nga về Cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Tập 15 (4-5) – Trận chiến Berlin. NXB Terra. Moskva. 1995. Tài liệu số 129: “Báo cáo của chỉ huy Quân đoàn xe tăng 25 lên Hội đồng Quân sự Phương diện quân Ukraina 1 về việc bắt giữ chỉ huy ROA, tướng A. A. Vlasov”)
  59. ^ S. M. Stemenko. Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh. Tập 2. NXB Tiến Bộ. Moskva. 1985. trang 527-528
  60. ^ a ă Голль, Шарль, де. Военные мемуары: Спасение 1944–1946. — М.: ACT, Астрель, Транзиткнига, 2004. (Charle de Gaull. Nhớ về cuộc chiến – Tập 3: Sự cứu rỗi (1944-1946). AST dịch và xuất bản. Moskva. 2004)
  61. ^ Варенников, Валентин Иванович. Парад Победы. — М.: Вагриус, 2005. (Valentin Ivanovich Varennikov. Cuộc duyệt binh chiến thắng. NXB Vagrius. Moskva. 2005. Chương 7: Oder – Bão táp Berlin – Chiến tranh kết thúc – Duyệt binh chiến thắng)
  62. ^ Grigori Deborin. Những bí mật của Chiến tranh thế giới thứ hai. NXB Sự thật. Hà Nội. 1986. trang 339.
  63. ^ Жадов, Алексей Семенович. Четыре года войны. — М.: Воениздат, 1978. (Aleksey Semyonovich Zhadov. Bốn năm chiến tranh. NXB Quân đội. Moskva. 1978. Chương 9: Bài kiểm tra cuối cùng: Chiến dịch Praha)
  64. ^ Самсонов, Александр Михайлович Крах фашистской агрессии 1939-1945. — М.: Наука, 1980. (Alexander Mikhailovich Samsonov. Sự sụp đổ của các thế lực phát xít xâm lược 1939-1945. NXB Khoa học. Moskva. 1980. Chương 19: Kết thúc. Mục 6: Những cuộc tấn công kết thúc chiến)

Danh mục tài liệu tham khảo chính

Tiếng Nga

  • Конев, Иван Степанович. Сорок пятый. — М.: Воениздат. 1970.
  • Еременко, Андрей Иванович. Годы возмездия 1943-1945. — М.: Финансы и статистика, 1985.
  • Самсонов, Александр Михайлович Крах фашистской агрессии 1939-1945. — М.: Наука, 1980.
  • Г. Ф. Кривошеев. Россия и СССР в войнах XX века: Потери вооруженных сил. Олма пресс. Москва. 2001.
  • Крайнюков, Константин Васильевич. Оружие особого рода. М.: Воениздат. 1978.
  • Москаленко, Кирилл Семёнович. На Юго-Западном направлении. 1943-1945. Книга II. — М.: Наука, 1973
  • Жадов, Алексей Семенович. Четыре года войны. — М.: Воениздат, 1978.
  • Сандалов, Леонид Михайлович. После перелома. — М.: Воениздат, 1983.
  • Лелюшенко, Дмитрий Данилович. Москва-Сталинград-Берлин-Прага. Записки командарма. — М.: Наука 1987.
  • Плиев, Исса Александрович. Дорогами войны – В боях за освобождение Румынии, Венгрии, Чехословакии. — М.: Книга, 1985
  • Шебунин, Александр Иванович. Сколько нами пройдено… — М.: Воениздат, 1971.
  • Голль, Шарль, де. Военные мемуары: Спасение 1944–1946. — М.: ACT, Астрель, Транзиткнига, 2004.
  • 9 Мая 1945 года. / Составители: В. Д. Вознесенский Д. Б. Рубежный. Под редакцией члена-корреспондента АН СССР А. М. Самсонова. — М.: Наука, 1970.
  • Русский архив: Великая Отечественная: Т. 15 (4-5). Битва за Берлин (Красная Армия в поверженной Германии).— М.: Терра, 1995.

Tiếng Tiệp

  • Ludvik Svoboda. Buzuluku do Prahy. — Praha: NaŠe Vojsko, 1963.
  • Pohled univ. prof. dr. Alberta Pražáka, předsedy Revoluční České národní rady, na pražské květnové povstání, zveřejněný ve sborníku statí „Pražská květnová revoluce 1945“ u příležitosti výstavy k jejímu 1

Tiếng Đức

  • Tippelskirch, Kurt von. Geschichte des Zweiten Weltkrieges. — Bonn, 1954.

Tiếng Anh

  • Thomas B. Buell, John N. Bradley, Jack W. Dice, John H. Bradley. The Second World War: Europe and the Mediterranean. United States Military Academy. Department of History. Square One Publishers, Inc., 2002.

Tiếng Việt

  • S. M. Shtemenko. Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh. Tập 2. NXB Tiến Bộ. Moskva. 1985.

Liên kết ngoài

Thể loại:

Video yêu thích   
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính

Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khaoch xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sống Thơ cho con