Chào ngày mới 25 tháng 3


CNM365. Chào ngày mới 25 tháng 3. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Cách mạng tại Hy Lạp  (hình – Đền Parthenon trên đồi Acropolis). Năm 1821 – Alexandros Papanastasiou tuyên bố thành lập Đệ nhị Cộng hòa Hy Lạp, nay được Hy Lạp xem là mốc khởi đầu cuộc Chiến tranh giành độc lập Hy Lạp. Năm 1924Hy Lạp  tuyên bố trở thành một nước cộng hoà. Năm 1914 – ngày mất Frédéric Mistral, nhà thơ, giải thưởng Nobel người Pháp (sinh năm 1830)

25 tháng 3

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 25 tháng 3 là ngày thứ 84 trong mỗi năm thường (ngày thứ 85 trong mỗi năm nhuận). Còn 281 ngày nữa trong năm.

« Tháng 3 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Chào ngày mới 25 tháng 3

Tập tin:Titan in natural color Cassini.jpg
CNM365 Chào ngày mới 25 tháng 3 Wikipedia Ngày này năm xưa Ngày Cách mạng tại Hy Lạp, Ngày của mẹ tại Slovenia.  Năm 410 – Tướng Lưu Dụ của Đông Tấn chiếm được đô thành Quảng Cố của nước Nam Yên, bắt giữ Hoàng đế Mộ Dung Siêu, Nam Yên diệt vong. Năm 708Constantinô trở thành Giáo hoàng thứ 88 của Giáo hội Công giáo. Năm 1655 – Nhà khoa học người Hà Lan Christiaan Huygens phát hiện Titan (hình), vệ tinh lớn nhất của sao Thổ. Năm 1821 – Alexandros Papanastasiou tuyên bố thành lập Đệ nhị Cộng hòa Hy Lạp, nay được Hy Lạp xem là mốc khởi đầu cuộc Chiến tranh giành độc lập Hy Lạp. Năm 1957 – Pháp, Tây Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg ký kết hai hiệp ước tại Roma của Ý, thiết lập Cộng đồng Kinh tế châu Âu

Titan (vệ tinh)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Titan
Titan in natural color
Titan được quan sát từ tàu vũ trụ Cassini–Huygens.
Khám phá
Khám phá bởi Christiaan Huygens
Ngày khám phá 25 tháng 3, 1655
Tên chỉ định
Tên thay thế Saturn VI
Tính từ Titanian
Đặc trưng quỹ đạo[1]
Bán trục lớn 1.221.870 km
Độ lệch tâm 0,0288
Chu kỳ quỹ đạo 15,945 ngày
Độ nghiêng quỹ đạo 0,34854° (so với quỹ đạo Sao Thổ)
vệ tinh của Sao Thổ
Đặc trưng vật lý
Bán kính trung bình 2.576±2 km (0,404 so với Trái Đất) [2]
Diện tích bề mặt 8,3 × 10⁷ km2
Khối lượng 1,3452 ± 0,0002 × 10²³kg (0,0225 so với Trái Đất)[2]
Khối lượng riêng trung bình 1,8798 ± 0,0044 g/cm3[2]
Hấp dẫn bề mặt 1,352 m/s2 (0,14 g)
Tốc độ vũ trụ cấp 2 2,639 km/s
Chu kỳ tự quay Đồng bộ (Xem Quỹ đạo và tự quay)
Độ nghiêng trục quay 0
Suất phản chiếu 0,22[3]
Nhiệt độ 93,7 K (-179,5 độ C)[4]
Cấp sao biểu kiến 7,9
Khí quyển
Áp suất khí quyển bề mặt 146,7 kPa
Thành phần khí quyển 98,4% nitrogen (N2)
1,6% methane (CH4)[5]
Bài này nói về một thiên thể. Xem các nghĩa khác, ví dụ như nguyên tố Titan, tại trang Titan (định hướng).

Titan (phát âm tiếng Anh: ˈtaɪtən TYE-tən, hay tiếng Hy Lạp: Τῑτάν) hoặc Saturn VIvệ tinh lớn nhất của Sao Thổ, vệ tinh duy nhất được biết có một khí quyển đặc,[6] và vật thể duy nhất trừ Trái Đất có bằng chứng rõ ràng về các vật thể nước bề mặt ổn định đã được khám phá.[7]
Titan là vệ tinh ở khoảng cách xa thứ hai mươi của Sao Thổ và xa thứ sáu trong nhóm những vệ tinh có kích thước đủ lớn để có hình cầu. Thường được miêu tả như một vệ tinh có những đặc điểm giống hành tinh, Titan có đường kính lớn hơn khoảng 50% so với Mặt Trăng của Trái Đất và có khối lượng lớn hơn 80%. Nó là vệ tinh lớn thứ hai trong Hệ Mặt Trời, sau vệ tinh Ganymede của Sao Mộc, và nếu tính theo đường kính nó còn lớn hơn hành tinh nhỏ nhất, Sao Thuỷ, (dù chỉ có khối lượng bằng một nửa). Titan là vệ tinh được phát hiện đầu tiên của Sao Thổ, nó được khám phá năm 1655 bởi nhà thiên văn học người Hà Lan Christiaan Huygens.[8]
Titan được cấu tạo chủ yếu gồm các vật liệu băng nước và đá. Mật độ khí quyển dày đặc khiến chúng ta khó tìm hiểu về bề mặt của Titan cho tới khi các thông tin mới được thu thập với phi vụ Cassini–Huygens năm 2004, gồm cả việc phát hiện các hồ hydrocarbon lỏng tại các vùng cực của vệ tinh này. Chúng là những vật thể lỏng lớn, ổn định duy nhất tồn tại trên bề mặt của bất kỳ một vật thể từng biết nào ngoài Trái Đất. Về địa chất, bề mặt vệ tinh này còn trẻ; dù các ngọn núi và nhiều núi lửa băng (dạng phun trào giống núi lửa nhưng thành phần chủ yếu là băng) có thể có đã được phát hiện, bề mặt khá phẳng với chỉ một ít hố va chạm.
Khí quyển của Titan chủ yếu gồm nitơ và khí hậu của nó gồm các đám mây metanetan. Khí hậu có gió và các đặc điểm bề mặt do mưa tạo ra tương tự như các đặc điểm trên Trái Đất, như các đụn cát và các dải bờ biển, và, giống như Trái Đất, cũng bị chi phối bởi các hình mẫu thời tiết theo mùa. Với chất lỏng (cả ở trên và dưới mặt đất) và lớp khí quyển nitơ dày, Titan được cho là giống Trái Đất thời nguyên thuỷ, dù có nhiệt độ thấp hơn. Vì thế vệ tinh này đã được cho là có khả năng thích hợp cho vi khuẩn như một sự sống ngoài Trái Đất hay, ít nhất, như một môi trường hóa học tiền vi sinh vật với nhiều hợp chất hóa học hữu cơ phức tạp. Các nhà nghiên cứu đã cho rằng có thể biển chất lỏng dưới bề mặt hoạt động như một môi trường sinh học.[9][10]

Phát hiện và đặt tên

Christiaan Huygens, người tìm ra Titan

Atlas, một vị thần Titan

Titan được nhà thiên văn học người Hà Lan Christiaan Huygens phát hiện ngày 25 tháng 3 năm 1655. Huygens có cảm hứng từ sự khám phá bốn vệ tinh lớn nhất của Sao Mộc của Galileo năm 1610 và những cải tiến kính viễn vọng của ông.[11] Huygens chính mình đã thực hiện các cải tiến kỹ thuật và sự khám phá Titan của ông có được “một phần nhờ chất lượng kính viễn vọng và một phần nhờ may mắn”.[12] Ông đặt cho nó cái tên đơn giản là Saturni Luna (hay Luna Saturni, tiếng La tinh có nghĩa “Mặt trăng của Sao Thổ”), xuất bản luận văn De Saturni Luna Observatio Nova năm 1655. Sau khi Giovanni Domenico Cassini xuất bản những khám phá của ông về bốn vệ tinh khác của Sao Thổ trong khoảng thời gian 1673 và 1686, các nhà thiên văn học có thói quen gọi những vệ tinh đó và Titan là Saturn I tới V (Titan được xếp ở vị trí thứ 4). Các tên gọi ban đầu khác của Titan gồm “Vệ tinh bình thường của Sao Thổ”.[13] Titan được đánh số chính thức Saturn VI bởi sau những phát hiện năm 1789 sơ đồ số không được dùng nữa để tránh nhầm lẫn (Titan từng được đánh số II và IV và VI). Từ đó nhiều vệ tinh nhỏ ở gần bề mặt Sao Thổ hơn đã được phát hiện.
Cái tên Titan, và những cái tên của tất cả bảy vệ tinh được biết đến của Sao Thổ ở thời điểm ấy, đều do John Herschel (con trai của William Herschel, người phát hiện Mimas và Enceladus) đặt trong lần xuất bản năm 1847 cuốn Results of Astronomical Observations Made at the Cape of Good Hope của ông.[14] John Herschel đề xuất những cái tên của các Titan trong thần thoại, anh chị em của Cronos, vị thần Saturn của người Hy Lạp.

Quỹ đạo và tự quay

Quỹ đạo của Titan (màu đỏ) trong số quỹ đạo của những vệ tinh phía trong của Sao Thổ. Các vệ tinh bên ngoài quỹ đạo của nó là (l-r) Iapetus và Hyperion; những vệ tinh bên trong là Dione, Tethys, Enceladus and Mimas

Titan tham gia 5 chuyển động chính: chuyển động tự quay quanh trục; chuyển động quay quanh Sao Thổ; chuyển động cùng Sao Thổ quay quanh Mặt Trời; chuyển động cùng hệ Mặt Trời quay quanh tâm Ngân Hà; chuyển động của Ngân Hà cùng toàn thể vũ trụ giãn nở từ Vụ Nổ Lớn.
Titan hoàn thành một vòng quỹ đạo quanh Sao Thổ trong 15 ngày và 22 giờ. Tương tự như Mặt Trăng của Trái Đất và vệ tinh của các hành tinh khí khổng lồ khác, chu kỳ quỹ đạo của nó tương tự với chu kỳ tự quay; vì thế Titan bị khóa thủy triều vào chuyển động đồng bộ với Sao Thổ. Độ lệch tâm của quỹ đạo là 0,0288, và độ nghiêng là 0,348 độ so với xích đạo Sao Thổ.[1] Quan sát từ Trái Đất, vệ tinh này có khoảng cách góc khoảng 20 bán kính Sao Thổ (chỉ hơn 1,2 triệu km) từ Sao Thổ và trương cung 0,8 giây cung đường kính.
Titan bị khóa trong một vị trí cộng hưởng quỹ đạo 3:4 với vệ tinh nhỏ hơn và có hình dạng không đều là Hyperion. Một quá trình cộng hưởng “chậm và êm ái” – theo đó Hyperion sẽ đi khỏi một quỹ đạo không ổn định – được coi là sẽ không diễn ra, dựa trên các mô hình. Hyperion dường như đã được hình thành trong một đảo quỹ đạo ổn định, trong khi Titan to lớn thu hút hay đẩy bắn đi các vật thể tiếp cận gần tới nó.[15]
Độ nghiêng trục quay của Titan bằng không, nghĩa là trục tự quay của nó vuông góc với mặt phẳng quỹ đạo chuyển động quanh Sao Thổ.

Các đặc điểm chính

Titan so sánh với Trái Đất.

Cấu trúc bên trong Titan.

Titan có đường kính 5.150 km, lớn hơn cả của Sao Thủy (4.879 km), gần gấp rưỡi Mặt Trăng (3.474 km) và hiện là vệ tinh tự nhiên lớn thứ hai trong toàn hệ Mặt Trời. Trước khi Voyager 1 tới đây vào năm 1980, Titan được cho là hơi lớn hơn Ganymede (đường kính 5.268 km) và vì thế là vệ tinh lớn nhất trong Hệ Mặt Trời; đây là sự ước tính quá mức do mật độ của Titan, khí quyển dày, kéo dài nhiều dặm trên bề mặt của nó làm tăng kích thước đường kính biểu kiến.[16] Khối lượng và đường kính của Titan (và vì thế cả mật độ của nó) tương tự với các vệ tinh của Sao Mộc là GanymedeCallisto.[17] Dựa trên mật độ chính của nó 1,88 g/cm³, thành phần chính của Titan gồm một nửa băng nước và một nửa vật liệu đá. Dù tương tự về thành phần với DioneEnceladus, nó đặc chắc hơn vì lực nén hấp dẫn.
Titan có lẽ được phân chia thành nhiều lớp với một tâm đá 3.400 km được bao quanh bởi nhiều lớp gồm các hình thức tinh thể băng khác nhau.[18] Phía bên trong của nó có thể vẫn nóng và có thể có một lớp chất lỏng gồm nước và amoniac giữa lớp vỏ băng Ih và các lớp băng phía dưới gồm các hình thức băng áp lực cao. Bằng chứng về một đại dương như vậy gần đây đã được tàu thăm dò Cassini khám phá dưới hình thức sóng radio tự nhiên tần số cực thấp (ELF) trong khí quyển Titan. Bề mặt của Titan được cho là có độ phản xạ kém với các sóng tần số cực thấp, vì thế sóng radio có thể được phản hồi từ một biên giới băng lỏng của một đại dương dưới mặt đất.[19] Các đặc điểm bề mặt được tàu thăm dò Cassini quan sát được nâng lên một cách có hệ thống tới 30 km trong khoảng giữa tháng 10 năm 2005 và tháng 5 năm 2007, cho thấy lớp vỏ đang bị tách ra từ bên trong, và cung cấp bằng chứng thêm nữa về một lớp chất lỏng bên dưới.[20]

Khí quyển

Ảnh màu thực các lớp quầng trong khí quyển Titan.

Ảnh tàu Cassini chụp các lớp khí quyển Titan

Titan là vệ tinh duy nhất đã được biết có một khí quyển đã phát triển có thành phần không chỉ gồm các khí. Chiều dày của khí quyển được cho là thay đổi trong khoảng 200 km[21] và 880 km.[22] So sánh những con số đó với biên giới Trái Đất, nằm trong khoảng 100 km, với 99,999% trọng lượng khí quyền nằm bên dưới độ cao đó. [2] Khí quyển của Titan chắn sáng ở nhiều bước sóng và một quang phổ phản xạ hoàn toàn của bề mặt là điều không thể thực hiện được từ bên ngoài;[23] tình trạng mù mịt này đã dẫn tới các sai số trong các ước tính đường kính.
Sự hiện diện của một khí quyển đáng chú ý như vậy lần đầu tiên đã được khám phá bởi Gerard P. Kuiper năm 1944 sử dụng một kỹ thuật quang phổ cho thấy ước tính áp lực một phần khí quyển methane là 100 millibar (10 kPa).[24] Những quan sát từ các tàu vũ trụ Voyager đã cho thấy rằng khí quyển Titan đặc hơn khí quyển Trái Đất, với áp lực bề mặt lớn gấp 1,5 lần Trái Đất. Nó chống đỡ các lớp quầng dày phong tỏa hầu hết ánh sáng nhìn thấy từ Mặt Trời và các nguồn khác và khiến các đặc điểm bề mặt Titan khó nhận biết. Khí quyển quá dày và lực hấp dẫn quá thấp tới mức con người có thể bay qua nó bằng cách vỗ những chiếc “cánh” gắn vào tay.[25] Tàu vũ trụ Huygens không thể xác định hướng của Mặt Trời trong lần hạ cánh của nó và mặc dù nó có thể chụp ảnh bề mặt, đội điều khiển Huygens so sánh quá trình này như việc “chụp ảnh một khu đỗ xe trải nhựa đường lúc chạng vạng”.[26]
Khí quyển gồm 98,4% nitơ—khí quyển đặc, giàu nitơ duy nhất trong Hệ Mặt Trời bên cạnh khí quyển Trái Đất—1,6% còn lại gồm methane và dấu vết các chất khí khác như hydrocarbon (gồm etan, diacetylen, methylacetylen, acetylen, propan, cyanoacetylen, hydro cyanide), carbon dioxide, carbon monoxide, cyanogen, argonheli.[5] Màu cam như được quan sát thấy từ vụ trụ phải được tạo ra bởi các hợp chất hóa học phức tạp hơn khác ở số lượng nhỏ, có thể là tholin, các kết tủa hữu cơ kiểu hắc ín.[27] Các hydrocarbons được cho là đã hình thành nên khí quyển phía trên của Titan trong những phản ứng phát sinh từ sự tan vỡ khí methane bởi ánh sáng cực tím của Mặt Trời, tạo ra một lớp khói màu cam dày. Titan không có từ trường, mặc dù các nghiên cứu năm 2008 cho rằng có còn lưu lại từ trường của Sao Thổ khi nó bay ngang qua quyển từ của Sao Thổ và trực tiếp hứng chịu gió Mặt Trời.[28] Điều này có thể làm ion hóa và mang đi một số phân tử ở phía ngoài cùng khí quyển. Vào tháng 11 năm 2007, các nhà khoa học đã tìm thấy bằng chứng các ion âm với khoảng 10.000 lần khối lượng của hydro trong tầng điện ly của Titan, chúng được cho là đã rơi vào các vùng thấp hơn để tạo thành quầng màu da cam che khuất bề mặt Titan. Cấu trúc của chúng hiện vẫn chưa được biết, nhưng chúng được cho là các tholin, và có thể hình thành căn bản cho sự tạo thành các phân tử phức tạp hơn, như các hydrocarbon thơm đa vòng.[29]
Năng lượng từ Mặt Trời đã biến đổi tất cả dấu vết của metan trong khí quyển Titan thành các hydrocarbon trong vòng 50 triệu năm; một khoảng thời gian khá ngắn so với tuổi của Hệ Mặt Trời. Điều này cho thấy rằng methane phải được cung cấp bổ sung theo một cách nào đó từ một nguồn hay ngay từ chính bên trong Titan. Rằng khí quyển Titan chứa methane nhiều hơn một nghìn lần so với carbon monoxide có thể bởi sự cung cấp lớn từ các vụ va chạm thiên thạch, bởi các sao chổi gồm nhiều carbon monoxide hơn methane. Rằng Titan có thể đã phát triển một khí quyển từ tinh vân Sao Thổ thời kỳ đầu ở thời điểm mà sự thành tạo dường như không thể diễn ra; trong trường hợp như vậy, nó phải có sự đa dạng khí quyển tương tự tinh vân mặt trời, gồm hydroneon.[30] Một nguồn gốc sinh vật học có thể khác của methane vẫn chưa được tính đến (xem bên dưới).[10]
Cũng có một mô hình lưu thông không khí được khám phá thổi theo chiều quay của Titan, từ tây sang đông.[31] Những quan sát của Cassini về bầu khí quyển được thực hiện năm 2004 cũng cho thấy Titan là một “super rotator”, giống như Sao Kim, với một khí quyển quay nhanh hơn bề mặt.[32]
Tầng điện ly của Titan cũng phức tạp hơn tầng này của Trái Đất, với tầng điện ly chính ở độ cao 1.200 km nhưng với thêm một lớp các phân tử điện tích ở độ cao 63 km. Tầng này chia khí quyển Titan thành hai khu vực cộng hưởng radio khác nhau. Nguồn gốc của các sóng ELF tự nhiên (xem bên trên) trên Titan chưa rõ ràng bởi không có vẻ có hoạt động sét mạnh ở đó.[19]

Đặc điểm bề mặt

Titan với màu không chuẩn xác thể hiện các chi tiết bề mặt và khí quyển. “Xanadu” là vùng sáng ở phía trung tâm bên phải

Một hình ảnh tổng hợp về bề mặt Titan.

Bề mặt của Titan đã được miêu tả là “phức tạp, có sự tác động của chất lỏng, [và] còn trẻ về địa chất”.[33] Tàu vũ trụ Cassini đã sử dụng radar đo độ cao và radar ống kính đồng bộ (SAR) chụp ảnh để vẽ bản đồ các thành phần của Titan trong những chuyến bay ngang qua vệ tinh này. Những hình ảnh đầu tiên cho thấy một nền địa chất, với cả những vùng gồ ghề và bằng phẳng. Có những đặc điểm dường như có nguồn gốc núi lửa, có lẽ đã từng phun ra nước và amoniac. Cũng có những đặc điểm những đường sọc, một số dài tới hàng trăm kilômét, có lẽ được tạo ra bởi các phần tử bị gió thổi đi.[34][35] Việc nghiên cứu cũng cho thấy bề mặt vệ tinh này khá bằng phẳng; một vài vật thể có vẻ là những miệng núi lửa do va chạm đã được lắp đầy, có lẽ bởi những trận mưa hydrocarbon hay các vật liệu được phun ra từ núi lửa. Radar độ cao cho thấy sự biến đổi độ cao rất thấp, thông thường không vượt quá 150 mét. Thỉnh thoảng bắt gặp sự biến đổi độ cao lên tới 500 mét và Titan có những ngọn núi có thể cao tới hàng trăm mét đến hơn 1 kilômét.[36]
Bề mặt Titan đáng chú ý bởi những địa hình sáng và tối lớn. Chúng gồm Xanadu, một vùng lớn thuộc xích đạo có tính phản xạ với kích thước cỡ Australia. Nó lần đầu tiên được xác định trên những bức ảnh hồng ngoại từ kính viễn vọng không gian Hubble năm 1994, và sau này đã được tàu Cassini quan sát. Vùng xoắn này có nhiều quả đồi và bị cắt ngang bởi các thung lũng và các vực thẳm.[37] Nó có đặc trưng ở các đường kẻ ngang dọc tối—các đặc điểm địa hình uốn lượn tương tự với các dải đất hay các đường nứt. Chúng có thể thể hiện hoạt động kiến tạo, có thể cho thấy về mặt địa lý Xanadu còn trẻ. Các đặc trưng này có thể là các kênh do chất lỏng tạo thành, cho thấy dạng địa hình cổ đã bị cắt ngang qua bởi các hệ thống luồng chảy.[38] Có những vùng tối với kích cỡ tương đương nhau trên khắp vệ tinh, được quan sát thấy cả từ Trái Đất và bởi Cassini; có giả thuyết cho rằng chúng là những biển metan hay etan, nhưng những quan sát của Cassini dường như lại cho thấy một điều khác (xem bên dưới).

Chất lỏng

Ảnh radar tổ hợp màu giả chụp từ ống kính đồng bộ của tàu vũ trụ Cassini về vùng cực bắc Titan, thể hiện bằng chứng về các biển hydrocarbon, các hồ và các mạng lưới nhánh phụ. Màu xanh thể hiện những vùng có độ phản xạ radar thấp, dường như được tạo ra bởi các vật thể etan lỏng, metannitơ hòa tan. Các bức ảnh [1] cho thấy vật thể to lớn ở phía dưới bên trái (được đặt tên là hồ Kraken Mare, lấy theo tên quái vật biển Kraken) có kích thước lớn gấp đôi của vật thể có thể thấy tại đây.

Ảnh tàu Cassini-Huygens chụp bán cầu bắc của Titan ngày 8/7/2009. Tia nắng trong bức ảnh được cho là phản chiếu từ vùng hồ Kraken Mare chứa chất lỏng metan và etan[39]

Bài chi tiết: Các hồ Titan

Khả năng có các biển metan lỏng trên Titan lần đầu tiên được đưa ra dựa trên dữ liệu của Voyager 12 cho thấy Titan có một khí quyển dày và nhiệt độ cũng như thành phần thích hợp để duy trì chúng, nhưng bằng chứng trực tiếp chỉ có được vào năm 1995 khi dữ liệu từ Hubble và các quan sát khác cho thấy bằng chứng về methane lỏng trên Titan, hoặc trong những túi tách biệt hoặc ở tỷ lệ lớn như các đại dương, tương tự như nước trên Trái Đất.[40]
Phi vụ Cassini đã xác nhận giả thuyết trên, mặc dù không trực tiếp. Khi tàu vũ trụ tới hệ Sao Thổ năm 2004, mọi người hy vọng các hồ hydrocarbon hay các biển có thể được khám phá bởi ánh sáng Mặt Trời phản xạ từ bề mặt của bất kỳ một vật thể lỏng nào, nhưng không phản xạ bề mặt nào được phát hiện.[41] Tại cực nam của Titan, một đặc điểm tối khó hiểu được gọi là Ontario Lacus từng được cho là một cái hồ đã được xác định, có lẽ được tạo ra bởi các đám mây được quan sát thành từng cụm trong vùng.[42] Một đặc điểm có thể là đường bờ biển cũng đã được xác định tại cực bằng hình ảnh radar.[43]
Sau chuyến bay ngang qua ngày 22 tháng 7 năm 2006, trong đó radar trên tàu vũ trụ Cassini đã chụp ảnh các vĩ độ cao phía bắc (khi ấy đang trong mùa đông), một số miếng vá lớn, phẳng (và vì thế tối đối với radar) có các chấm ở gần cực.[44] Dựa trên các quan sát, các nhà khoa học đã thông báo “bằng chứng rõ ràng về các hồ đầy methane trên vệ tinh Titan của Sao Thổ” vào tháng 1 năm 2007.[7][45]
Đội Cassini–Huygens kết luận rằng các đặc điểm được chụp ảnh hầu như chắc chắn là các hồ hydrocarbon đang được tìm kiếm từ lâu, những vật thể ổn định đầu tiên của chất lỏng bề mặt được tìm thấy bên ngoài Trái Đất. Một số hồ dường như có các kênh liên kết với chất lỏng và nằm ở những vùng địa hình lõm.[7]
Tháng 6/2008, các thiết bị hồng ngoại trên tàu Cassini xác nhận sự nghi ngờ có ethane lỏng tại Ontario Lacus[46]. Ngày 21/12 năm đó, tàu Cassini tiến gần Ontario Lacus và đã quan sát được sự ánh xạ tích tụ trong rada. Độ dài của ánh xạ phản ánh sự bão hòa của tín hiệu nhận được, cho thấy mực độ hồ trên vệ tinh hầu như không thay đổi. Ảnh chụp ngày 8 tháng 7 năm 2009 đã cho thấy rõ rệt nhất tín hiệu hiện diện của chất lỏng tại khu vực phía bắc, hồ Kraken Mare[47][48].

  • Ảnh phối cảnh Rade của Bolsena Lacus (phía dưới, bên phải) và một hồ khác ở bán cầu bắc
  • So sánh hình ảnh khu vực nghi ngờ có chứa chất lỏng ở bán cầu bắc (trái) và bán cầu nam (phải)
  • Hình chụp một hồ trên Titan sau một năm (2004-2005)

Hố va chạm

Các miệng hố va chạm trên bề mặt Titan

Dữ liệu Radar, SAR (ảnh radar tổng hợp màu giả) và các hình ảnh thu được từ Cassini đã cho thấy một số lượng khá nhỏ các miệng hố va chạm trên bề mặt Titan, cho thấy đây là một bề mặt trẻ. Các miệng hố va chạm mới được phát hiện gồm cả một lòng chảo đa vòng rộng 440 km được đặt tên Menrva (được nhìn thấy bởi Cassini‘ ISS với các kiểu mẫu đồng tâm sáng tối).[49] Một hố nhỏ hơn rộng 80 km, đáy phẳng tên là Sinlap[50] và một hố rộng 30 km với một đỉnh trung tâm và một đáy tối tên là Ksa cũng đã được quan sát.[51] Dữ liệu Radar và hình ảnh thu được từ Cassini cũng cho thấy một số “hình miệng núi lửa”, các đặc điểm hình vòng cung trên bề mặt Titan có thể liên quan tới nguồn gốc va chạm, nhưng thiếu một số đặc điểm để xác định rõ nguyên nhân này. Ví dụ, một vòng sáng rộng 90 km, thô được gọi là Guabonito đã được Cassini quan sát thấy.[52] Đặc điểm này được cho là một hố va chạm được gió thổi lấp đầy bởi trầm tích tối. Nhiều địa điểm tương tự cũng đã được quan sát trên các vùng tối Shangri-la và Aaru. Radar đã quan sát nhiều vật thể có đặc điểm tròn có thể là các hố va chạm tại vùng sáng Xanadu khi Cassini bay qua Titan ngày 30 tháng 4 năm 2006.[53]
Các mô hình tiền-Cassini về các góc và đường bay va chạm cho thấy rằng nơi vật thể va chạm với vỏ băng nước, một lượng nhỏ vật liệu bắn ra còn lại ở dạng nước lỏng bên trong hố va chạm. Nó có thể tiếp tục tồn tại ở dạng chất lỏng trong nhiều thế kỷ hay lâu hơn nữa, đủ để “sự tổng hợp các phân tử tiền thân đơn giản cho nguồn gốc của sự sống”.[54] Tuy sự bồi tụ từ nhiều quá trình địa chất là một trong những lý do dẫn tới số lượng ít hố va chạm trên bề mặt Titan, bầu khí quyển cũng đóng một vai trò trong chuyện này; người ta ước tính khí quyển của Titan đã làm giảm một nửa số lượng hố va chạm.[55]

Hố va chạm Vĩ độ Kinh độ Đường kính (km) Đặt tên
theo
Afekan 25.8 B 200.3 T 115.0 Afekan, thượng đế trong truyền thuyết người New Guinea
Ksa 14.0 B 65.4 T 29.0 Thần Ksa của LakotaOglala
Menrva 20.1 B 87.2 T 392.0 Thần Menrva của người Etruscan
Selk 7.0 B 199.0 T 80.0 Thần Selk, Ai Cập cổ đại
Sinlap 11.3 B 16.0 T 80.0 Thần Sinlap của người Kachin

Tác dụng nhiệt núi lửa và núi

Xem thêm: Núi lửa băng

Hình ảnh cận hồng ngoại của Tortola Facula, được cho có thể là núi lửa băng.

Các nhà khoa học đã cho rằng các điều kiện trên Titan giống với các điều kiện thời kỳ đầu trên Trái Đất, dù ở mức nhiệt độ thấp hơn. Bằng chứng hoạt động núi lửa từ phi vụ gần nhất của Cassini cho thấy nhiệt độ có thể cao hơn nhiều ở các vùng đáy thấp, đủ để nước ở dạng lỏng tồn tại. Việc phát hiện Argon 40 trong khí quyển cho thấy các núi lửa phun ra các đám khói “dung nham” gồm nước và ammonia.[56] Cassini đã phát hiện các phun trào metan từ một núi lửa băng giả định, và thuyết tác dụng nhiệt núi lửa hiện được tin là một nguồn cung cấp metan lớn cho khí quyển.[57][58] Một trong những đặc điểm đầu tiên được Cassini chụp ảnh, Ganesa Macula, giống với các đặc điểm địa lý được gọi là “vòm bánh ngọt” được phát hiện trên Sao Kim, và vì thế được cho là có nguồn gốc tác dụng nhiệt núi lửa.[59]
Áp suất cần thiết để khiến các núi lửa băng hoạt động có thể do sự “underplating” của nước lớp ngoài của Titan. Băng áp suất thấp, đè trên một lớp chất lỏng ammoni sulfat, trồi lên mạnh, và và hệ thống bất ổn định này có thể tạo ra các sự kiện phun khói lớn. Titan đang tái lập bề mặt thông qua các quá trình bồi lấp của tro ammonium và băng cỡ hạt gạo, giúp tạo ra một phong cảnh có đặc điểm kiến tạo do gió và đụn cát.[60]
Một rặng núi dài 150 km, rộng 30 km và cao 1,5 km được Cassini khám phá năm 2006. Rặng núi này nằm ở bán cầu nam và được cho là cấu tạo bởi vật liệu băng và được bao phủ bởi tuyết methane. Sự di chuyển của các đĩa kiến tạo, có lẽ bị ảnh hưởng bởi một lòng chảo va chạm gần đó, có thể tạo ra một vết nứt mà qua đó các vật liệu cấu tạo núi đã được phun lên.[61]

Địa hình tối

Các đụn cát trên Trái Đất (phía trên), so sánh với các đụn trên bề mặt Titan.

Trong các bức ảnh đầu tiên chụp đầu tiên về bề mặt Titan từ kính thiên văn đặt trên Trái Đất vào đầu thập niên 2000 cho thấy các bề mặt tối rộng lớn phân bố hai bên xích đạo của Titan.[62] Trước lần hạ cánh của Cassini, các vùng này được cho là các biển vật chất hữu cơ như nhựa đường hay hydrocarbon lỏng.[63] Các hình ảnh radar do tàu vũ trụ Cassini thực hiện lại cho thấy một số vùng đó là các đồng bằng mở rộng được bao phủ bởi các đụn cát theo chiều dọc, cao tới 330 mét.[64] Các đụn cát theo chiều dọc (hay như đường kẻ) được cho là được hình thành bởi các đợt gió mức trung bình hoặc thổi theo một hướng hay thay đổi giữa hai hướng khác nhau. Các đụn theo kiểu này luôn thẳng với hướng gió trung bình. Trong trường hợp Titan, các cơn gió đới (phía đông) ổn định cộng với những cơn gió thuỷ triều thay đổi (xấp xỉ 0.5 mét một giây).[65] Gió thuỷ triều là kết quả của các lực thuỷ triều từ Sao Thổ và khí quyển Titan, mạnh hơn 400 lần so với các lực thuỷ triều của Mặt trăng trên Trái Đất và có xu hướng lái gió về phía xích đạo. Mô hình gió khiến những đụn cát được tạo ra theo các đường song song dài theo hướng tây sang đông. Các đụn cát này vỡ ra quanh những ngọn núi, nơi hướng gió thay đổi.
Cát trên Titan có thể đã hình thành khi methane lỏng mưa xuống và làm xói mòn lớp đá băng phía dưới, có thể dưới hình thức những trận lũ ngắn. Nếu không, cát có thể hình thành từ vật rắn hữu cơ được tạo ra bởi các phản ứng quang hoá trong khí quyển Titan.[64][65][66] Các nghiên cứu về thành phần các đụn cát vào tháng 5 năm 2008 cho thấy chúng chứa ít nước hơn các thành phần khác của Titan, và dường như xuất phát từ vật liệu hữu cơ kết thành cục sau khi mưa xuống bề mặt.[67]

Khí hậu

Một biểu đồ chi tiết về nhiệt độ, áp suất và các đặc tính khí hậu khác của Titan. Đám sương mù khí quyển làm nhiệt độ hạ ở các độ cao thấp, trong khi methane làm tăng nhiệt độ trên bề mặt. Hoạt động núi lửa phun khí methane vào khí quyển, sau đó khí methane lại mưa xuống bề mặt, tạo nên các hồ.

Nhiệt độ bề mặt Titan khoảng 94 K (−179 °C, hay −290 °F). Ở nhiệt độ này băng nước không thăng hoa từ trạng thái rắn sang trạng thái khí, vì thế khí quyển hầu như không có hơi nước. Sương mù trong khí quyển Titan góp phần vào hiện tượng hiệu ứng nhà kính ngược khi phản xạ ánh sáng mặt trời khỏi vệ tinh này, khiến bề mặt của nó lạnh hơn nhiều so với khí quyển bên trên.[68] Các đám mây trên Titan, có thể gồm methane, ethane hay các chất hữu cơ đơn giản khác, phân tán và biến đổi, lẫn trong đám sương mù.[16] Khí quyển methane này trái lại lại tạo ra hiệu ứng nhà kính trên bề mặt Titan, nếu không có nó nhiệt độ Titan còn lạnh hơn nhiều.[69] Những phát hiện của tàu vũ trụ Huygens cho thấy khí quyển Titan định kỳ tạo ra những cơn mưa methane lỏng và các thành phần hữu cơ khác xuống bề mặt mặt trăng này.[70] Tháng 10 năm 2007, các nhà quan sát nhận thấy một sự gia tăng trong độ chắn sáng trong những đám mây phía trên xích đạo vùng Xanadu, cho thấy khả năng một cơn “mưa methane”, dù nó chưa phải là bằng chứng trực tiếp về trận mưa.[71] Có thể các vùng trên bề mặt Titan được bao phủ một lớp tholin, nhưng điều này vẫn chưa được xác nhận.[72]
Các mô hình mô phỏng gió dựa trên dữ liệu gió do Huygens thu được trong lần hạ cánh của nó cho thấy khí quyển Titan chỉ tuần hoàn trong một vòng Hadley rất lớn. Không khí ấm nổi lên ở bán cầu nam Titan -nơi có mùa hè khi Huygens’ hạ cánh— và chìm xuống ở bán cầu bắc, dẫn tới một dòng khí thổi ở trên cao lớn từ nam ra bắc và dòng khí từ bắc vào nam ở dưới thấp. Vòng tuần hoàn Hadley lớn này chỉ có thể có trên một thế giới quay chậm như Titan.[31] Dòng khí di chuyển từ cực tới cực có vẻ tập trung trên tầng bình lưu; các giả lập cho thấy nó sẽ thay đổi mỗi chu kỳ mười hai năm, và giai đoạn chuyển tiếp giữa mỗi chu kỳ là ba năm, với một năm của Titan bằng 30 năm Trái Đất.[73] Mô hình phòng này tạo ra một dải khí áp suất thấp -trên thực tế là một biến đổi của Vùng Hội tụ Chí tuyến trên Trái Đất. Không giống như trên Trái Đất, nơi các đại dương hạn chế Vùng hội tụ Chí tuyến ở các chí tuyến, trên Titan, vùng này di chuyển từ cực này tới cực kia, mang các đám mây methane cùng với nó. Điều này có nghĩa rằng Titan, dù có nhiệt độ ở mức đóng băng, có thể nói có khí hậu nhiệt đới.[74]
Số lượng các hồ methane quan sát được gần cực nam Titan rõ ràng nhỏ hơn nhiều so với số lượng hồ quan sát được ở cực bắc. Bởi ở cực nam hiện đang là mùa hè và cực bắc là mùa đông, một giả thuyết được đưa ra cho rằng các trận mưa methane diễn ra trên các cực vào mùa đông và bốc hơi vào mùa hè.[75]

Mây

Mây trên cực bắc của Titan.
Hình của Cassini chụp bằng hồng ngoại ngày 29/12/2006 từ khoảng cách 90.000km

Tháng 9 năm 2006, Cassini đã chụp ảnh một đám mây lớn ở độ cao 40 km trên cực bắc Titan. Dù methane được biết cô đặc lại trong khí quyển Titan, đám mây này dường như lại là ethane, bởi kích thước đo được của các phần tử chỉ 1–3 micromét và ethane cũng có thể đóng băng ở những độ cao đó. Tháng 12, Cassini một lần nữa quan sát đám mây và phát hiện ra methane, ethane và các chất hữu cơ khác. Đám mây này có đường kính 2.400 km và vẫn thấy được trong chuyến bay ngang một tháng sau đó. Một giả thuyết cho rằng nó đang mưa (hay, nếu đủ lạnh, đang rơi tuyết) trên cực bắc; gió thổi xuống ở các vĩ độ bắc đủ mạnh để hướng các phần tử hữu cơ về phía bề mặt. Chúng là những bằng chứng mạnh nhất cho giả thuyết chu trình “methanological” (methane học) từ lâu trước đó (tương tự như chu trình thuỷ học trên Trái Đất) trên Titan.[76]
Các đám mây cũng được phát hiện phía trên cực nam. Tuy chỉ che phủ 1% đĩa Titan, các sự kiện bùng nổ đã được quan sát thấy trong đó các đám mây nhanh chóng mở rộng lên tới 8%. Một giả thuyết cho rằng các đám mây phía cực nam được hình thành khi các mức ánh sáng tăng lên trong mùa hè của Titan tạo ra những luồng khí đi lên trong khí quyển, dẫn đến sự đối lưu. Cách giải thích này phức tạp bởi thực tế rằng sự hình thành mây đã được quan sát thấy không chỉ sau ngày chí mặt trời mà ở ngay giữa mùa xuân. Độ ẩm methane tăng ở cực nam có thể góp phần vào sự mở rộng nhanh chóng của kích thước mây.[77] Hiện tại là mùa hè ở bán cầu nam Titan và sẽ tiếp tục kéo dài tới năm 2010, khi quỹ đạo của Sao Thổ, quyết định chuyển động của mặt trăng, sẽ nghiêng phía bắc bán cầu về phía mặt trời.[31] Khi các mùa thay đổi, ethane sẽ bắt đầu cô đặc lại ở trên cực nam.[78]
Các mô hình nghiên cứu thích ứng tốt với các quan sát cho thấy các đám mây trên Titan tập hợp ở các toạ độ thích hợp và rằng độ bao phủ của mây thay đổi theo khoảng cách từ bề mặt trên những vùng khác nhau của vệ tinh. Ở các vùng cực (trên 60 độ vĩ độ), những đám mây ethane thường trực và rộng lớn xuất hiện phía trên tầng đối lưu; ở các vĩ độ thấp, chủ yếu các đám mây ethane được phát hiện giữa 15 và 18 km, và lác đác cũng như cố định hơn. Ở bán cầu đang là mùa hè, thông thường, những đám mây methane dày nhưng rời rạc dường như tụ tập quanh 40°.[73]
Những quan sát trên Trái Đất cũng cho thấy những biến đổi mùa ở những vùng mây bao phủ. Trong chu kỳ quay 30 năm của Sao Thổ, các hệ thống mây của Titan dường như xuất hiện trong 25 năm, và sau đó mờ đi trong bốn tới năm năm trước khi tái xuất hiện.[76]

Quan sát và thám hiểm

Hình chụp Epimetheus và Titan của Cassini

Không thể quan sát Titan bằng mắt thường, nhưng có thể thực hiện điều đó bằng kính viễn vọng nhỏ hay ống nhòm mạnh. Việc quan sát nghiệp dư khó khăn bởi sự gần kề của vệ tinh này với cầu sáng và hệ thống vành đai Sao Thổ; một thanh che khuất, bao phủ một phần thị kính và được dùng để ngăn ánh sáng từ hành tinh, sẽ tăng đáng kể chất lượng quan sát.[79] Titan có độ sáng biểu kiến +7,9, so với +4,6 của vật thể có kích thước tương tự Ganymede, trong hệ Sao Mộc.
Những cuộc quan sát Titan trước kỷ nguyên vũ trụ khá hạn chế. Năm 1907 nhà thiên văn học Tây Ban Nha Josep Comas Solá đã cho rằng ông đã quan sát thấy vật tối gần các cạnh đĩa của Titan và hai vòng, màu trắng ở trung tâm của nó. Sự suy luận về một khí quyển của Kuiper trong thập niên 1940 là sự kiện quan sát lớn tiếp theo.[80]
Tàu vũ trụ đầu tiên tới hệ Sao Thổ là Pioneer 11 năm 1979, nó xác định rằng Titan dường như quá lạnh để phát sinh sự sống.[81] Tàu vũ trụ đã chụp những bức ảnh đầu tiên của mặt trăng này (gồm một số bức riêng và một số với Sao Thổ), nhưng chúng có chất lượng kém; chuyến bay tiếp cận Titan lần đầu tiên diễn ra ngày 2 tháng 9 năm 1979.[82]
Titan được cả Voyager 1Voyager 2 thám sát năm 1980 và 1981. Đường bay của Voyager 1 đã được làm chệch hướng cố ý để đi gần qua Titan. Không may thay, tàu vũ trụ không có bất kỳ thiết bị nào có thể nhìn xuyên qua tầng sương của Titan, một yếu tố chưa được tính trước. Nhiều năm sau, các quá trình xử lý số lọc màu cam phức tạp với những bức ảnh do Voyager 1′ chụp đã phát lộ một số dấu vết các địa hình màu sáng và tối hiện được gọi là XanaduShangri-la,[83] nhưng tới khi ấy các đặc điểm địa hình này đã được quan sát thấy bằng hồng ngoại bởi Kính viễn vọng Vũ trụ Hubble. Voyager 2 chỉ bay lượt qua Titan. Đội chỉ huy Voyager 2 có thể điều khiển hướng tàu để quan sát kỹ Titan hoặc sử dụng một đường bay khác cho phép nó tới thăm Uranus và Neptune. Vì thiếu các đặc điểm bề mặt do Voyager 1 quan sát, họ đã chọn kế hoạch sau.

Cassini–Huygens

Thậm chí với các dữ liệu từ các phi vụ Voyagers, Titan vẫn là một vật thể dạng vệ tinh giống hành tinh bí ẩn ẩn sau một bầu khí quyển dày khiến các quan sát chi tiết khó thực hiện. Sự tò mò bao quanh Titan từ các quan sát hồi thế kỷ 17 của Christiaan Huygens và Giovanni Cassini cuối cùng đã giải tỏa với chiếc tàu vũ trụ được đặt theo tên họ để vinh danh.
Tàu vũ trụ Cassini–Huygens tiếp cận Sao Thổ ngày 1 tháng 7 năm 2004 và bắt đầu quá trình vẽ bề mặt Titan bằng radar. Là một dự án liên kết giữa Cơ quan Vũ trụ Châu Âu (ESA) và NASA, Cassini–Huygens, đã chứng minh nó là một dự án rất thành công. Tàu vũ trụ Cassini bay qua Titan ngày 26 tháng 10 năm 2004 và chụp những bức ảnh có độ phân giải cao nhất từng có về bề mặt vệ tinh này, với khoảng cách chỉ 1.200 km, phân biệt được những khoảng sáng tối không thể phân biệt được bằng mắt thường từ Trái Đất. Huygens hạ cánh xuống Titan ngày 14 tháng 1 năm 2005, khám phá rằng nhiều đặc điểm bề mặt mặt trăng này dường như được hình thành bởi chất lỏng từ một khoảng thời gian trong quá khứ.[84] Ngày 22 tháng 7 năm 2006, Cassini đã thực hiện chuyến bay qua đầu tiên trong 21 chuyến đã được lập kế hoạch với khoảng cách 950 km từ Titan; chuyến bay ngang cuối cùng dự định diễn ra ngày 12 tháng 5 năm 2008.[85] Sự hiện diện chất lỏng trên bề mặt đã được phát hiện gần cực bắc, ở hình thức nhiều hồ gần đây đã được Cassini khám phá.[44] Titan là vật thể xa nhất từ Trái Đất từng có một tàu vũ trụ hạ cánh.[86] Titan cũng là mặt trăng thứ hai trong Hệ mặt trời có vật thể nhân tạo hạ cánh trên bề mặt.

Địa điểm hạ cánh của Huygens

Hình ảnh của Huygens về bề mặt Titan

Tàu vũ trụ Huygens hạ cánh ngay bên ngoài cực đông của một vùng sáng hiện được gọi là Adiri, nơi nó chụp được những ngọn đồi xám (cũng được gọi là các cao nguyên) gồm chủ yếu băng nước. Các thành phần hữu cơ tối, được tạo ra ở vùng trên khí quyển bởi phát xạ tia cực tím của Mặt trời, có thể mưa từ khí quyển Titan. Chúng rửa sạch các ngọn đồi bằng những trận mưa methane và ngấm xuống các đồng bằng sau các quy trình địa chất.[57]
Sau khi đổ bộ, Huygens đã chụp ảnh một đồng bằng tối được bao phủ những viên đá và đá cuội nhỏ, được cấu tạo từ băng nước.[57] Hai hòn đá ngay phía dưới vùng giữa hình phía trái nhỏ hơn kích thước thực: viên phía trái đường kính 15 centimét, và một trong những viên ở giữa 4 centimét, ở khoảng cách khoảng 85 centimét từ Huygens. Có bằng chứng ăn mòn ở đáy những hòn đá, cho thấy có khả năng có hoạt động sông ngòi. Bề mặt tối hơn mọi người từng nghĩ trước đây, gồm một hỗn hợp nước và băng hydrocarbon. Mọi người tin rằng “đất” nhìn thấy được trong các hình được lắng đọng xuống từ đám sương mù hydrocarbon phía trên.
Tháng 3 năm 2007, NASA, ESA, và COSPAR quyết định đặt tên vùng đất Huygens hạ cánh là Điểm Tưởng niệm Hubert Curien để tưởng nhớ vị cựu chủ tịch ESA.[87]

Các chương trình thám hiểm dự định

  • Titan Mare Explorer (TiME): là bộ phận tiếp xúc mặt vệ tinh Titan trong chương trình thám hiểm hệ thống Sao Thổ-Titan (Titan Saturn System Mission hay TSSM), hợp tác giữa NASAESA, một chương trình độc lập với kế hoạch thám hiểm Sao Mộc-Europa (Europa Jupiter System Mission hay EJSM). Theo kế hoạch thì EJSM sẽ được tiến hành trước

Những điều kiện tiền sinh và khả năng có sự sống

Các nhà khoa học cho rằng khí quyển của Trái Đất lúc đầu tương đối giống với khi quyển của Titan hiện tại. Nhiều giả thuyết đã cố gắng tìm những gạch nối giữa các thành phần hóa học trong khí quyển Titan hiện nay và khả năng xuất hiện sự sống.[88]
Thí nghiệm Miller-Urey và một số thí nghiệm khác sau đó cho thấy, với khí quyển như khí quyển của Titan, nếu có thêm tác dụng của tia tử ngoại thì một số chất hữu cơ phức tạp có thể được hình thành. Đó có thể là một số hợp chất polyme như tholin. Quá trình phản ứng bắt đầu với việc phân rã nitrogenmetan để hình thành hydrocyanethyne. Các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này.[89]
Những thí nghiệm nói trên đã đặt ra câu hỏi: liệu những chất hóa học tìm thấy trên bề mặt Titan đã đủ để hình thành sự sống giống như quá trình tương tự trên Trái Đất hay chưa ? Nếu có một quá trình tương tự như thế, Titan cần phải có nước thể lỏng tồn tại tương đối ổn định và lâu dài trên bề mặt. Mặc dù không quan sát được sự tồn tại như vậy của nước trên bề mặt Titan, người ta vẫn đưa ra giả thuyết lạc quan rằng nước sinh ra do các thiên thạch rơi xuống Titan được bảo tồn dưới một lớp băng phía ngoài.[90] Người ta cũng cho rằng amoniac ở dạng lỏng có thể tồn tại phía dưới bề mặt của vệ tinh.[9][91]. Một giả thuyết cho rằng bên dưới lớp băng đá phía trên có thể là một lớp hỗn hợp nước – amoniac. Mặc dù điều kiện trong một môi trường như vậy là vô cùng khắc nghiệt, khi so với điều kiện trên Trái Đất, nhưng vẫn có thể tồn tại sự sống.[10] Trao đổi nhiệt giữa phần lõi và lớp vỏ của vệ tinh là yếu tố then chốt cho khả năng có tồn tại sự sống trong lòng Titan hay không.[9] Việc phát hiện cuộc sống vi khuẩn trên Titan có thể phụ thuộc vào các hiệu ứng phát sinh sinh vật của nó. Ví dụ khí methane và nitơ trong khí quyển là nguồn gốc sự sống sinh vật đã được xác định.[10] Hydro đã được coi là một phân tử thích hợp để thử nghiệm sự sống trên Titan: nếu sự sống phát sinh từ methane sử dụng một lượng đáng kể khí hydro, nó sẽ gây một hiệu ứng đo được trong tỷ lệ pha trộn của tầng đối lưu.[92]
Dù có những khả năng cuộc sống sinh vật như vậy, có rất nhiều cản trở cho cuộc sống trên Titan, và bất kỳ sự tương tự nào với Trái Đất đều không chính xác. Với khoảng cách to lớn tới Mặt trời, Titan lạnh lẽo (một sự thực càng tăng thêm với hiệu ứng nhà kính ngược của những đám mây bao phủ nó), và bầu khí quyển của nó không có CO2. Dù có những khó khăn như vậy, chủ đề cuộc sống trên Titan có thể được miêu tả chính xác nhất như một cuộc thực nghiệm chứng minh các lý thuyết về các điều kiện cần thiết trước khi cuộc sống phát sinh trên Trái Đất.[93] Tuy cuộc sống có thể không tồn tại, các điều kiện tiền sinh vật của môi trường Titan, và khả năng hiện diện của hóa chất hữu cơ, vẫn là một chủ đề gây hứng thú để tìm hiểu buổi đầu lịch sử sinh quyển Trái Đất.[94] Sử dụng thực nghiệm tiền sinh học Titan không chỉ liên quan tới việc thám sát bằng tàu vũ trụ, mà cả thực nghiệm trong phòng thí nghiệm và các mô hình hóa học và quang hóa trên Trái Đất.[89]
Một giải thích khác cho sự tồn tại lý thuyết của cuộc sống trên Titan đã được đưa ra: nếu sự sống được tìm thấy trên Titan, về mặt thống kê nó dường như sẽ có nguồn gốc từ Trái Đất chứ không phải xuất hiện một cách độc lập, một quá trình được gọi là tha sinh. Nó đặt giả thiết rằng những vụ va chạm thiên thạch lớn và sao chổi trên bề mặt Trái Đất có thể khiến hàng triệu mảnh đá chứa đầy vi khuẩn bay lên thoát khỏi lực hút Trái Đất. Các tính toán cho thấy một số viên đá đó có thể va chạm với các thiên thể trong hệ mặt trời, gồm cả Titan.[95][96]
Các điều kiện trên Titan có thể trở nên thích hợp hơn cho sự sống trong tương lai. Sáu tỷ năm nữa, khi Mặt trời trở thành sao khổng lồ đỏ, các nhiệt độ bề mặt có thể tăng lên ~200K, đủ lớn để các đại dương hỗn hợp nước/ammonia tồn tại ổn định trên bề mặt. Khi lượng phát xạ tia cực tím của Mặt trời giảm đi, lớp sương phía trên khí quyển Titan sẽ mất đi, làm giảm hiệu ứng nhà kính ngược trên bề mặt và cho phép hiệu ứng nhà kính được tạo ra do methane khí quyển đóng một vai trò quan trọng hơn. khi các điều kiện đó cùng hoạt động có thể tạo ra một môi trường thích hợp cho các dạng sự sống ngoại lai, và sẽ tồn tại trong hàng trăm triệu năm, đủ lâu để ít nhất một dạng sự sống nguyên thủy hình thành.[97]
Tuy phi vụ Cassini–Huygens không được trang bị để tìm bằng chứng về các hợp chất hữu cơ sinh học, nó thực sự cho thấy lý thuyết về một môi trường trên Titan, ở một số mặt, tương tự với môi trường nguyên thủy trên Trái Đất là có thể.[94]
Có rất nhiều lựa chọn cho các phi vụ tương lai tới Tian để tìm hiểu những vấn đề đó và cả những vấn đề khác nữa,[98] có thể sử dụng tàu vũ trụ quỹ đạo, đổ bộ, khí cầu vân vân.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a ă Unless otherwise specified: “JPL HORIZONS solar system data and ephemeris computation service”. Solar System Dynamics. NASA, Jet Propulsion Laboratory. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2007.
  2. ^ a ă â R.A. Jacobson et al. (2006). “The gravity field of the saturnian system from satellite observations and spacecraft tracking data”. The Astronomical Journal 132 (6): 2520–2526. doi:10.1086/508812.
  3. ^ D.R. Williams (21 tháng 8 năm 2008). “Saturnian Satellite Fact Sheet”. NASA. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2000.
  4. ^ G. Mitri et al. (2007). “Hydrocarbon Lakes on Titan” (PDF). Icarus 186 (2): 385–394. doi:10.1016/j.icarus.2006.09.004.
  5. ^ a ă H. B. Niemann, et al. (2005). “The abundances of constituents of Titan’s atmosphere from the GCMS instrument on the Huygens probe”. Nature 438: 779–784. doi:10.1038/nature04122.
  6. ^ “News Features: The Story of Saturn”. Cassini-Huygens Mission to Saturn & Titan. NASA, Jet Propulsion Laboratory. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2007.
  7. ^ a ă â Stofan, E. R.; Elachi, C.; et al. (4 tháng 1 năm 2007). “The lakes of Titan”. Nature 445 (1): 61–64. doi:10.1038/nature05438.
  8. ^ “Huygens Discovers Luna Saturni”. Astronomy Picture of the Day. NASA. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2007.
  9. ^ a ă â Grasset, O., Sotin C., Deschamps F., (2000). “On the internal structure and dynamic of Titan”. Planetary and Space Science 48: 617–636. doi:10.1016/S0032-0633(00)00039-8.
  10. ^ a ă â b Fortes, A.D. (2000). “Exobiological implications of a possible ammonia-water ocean inside Titan”. Icarus 146 (2): 444–452. doi:10.1006/icar.2000.6400.
  11. ^ “Discoverer of Titan: Christiaan Huygens”. Cơ quan Vũ trụ châu Âu. 24 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2007.
  12. ^ “Huygens Ring, Cassini’s Division & Saturn’s Children”. Dibner Library Lecture. Smithsonian Institute Libraries. 27 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2007.
  13. ^ A Discovery of two New Planets about Saturn, made in the Royal Parisian Observatory by Signor Cassini, Fellow of both the Royal Societys, of England and France; English’t out of French.. Philosophical Transactions 8 (1673): 5178–5185. 1673.
  14. ^ Mr Lassell (12 tháng 11 năm 1847). “Satellites of Saturn; Observations of Mimas, the closest and most interior satellite of Saturn”. Monthly Notices of the Royal Astronomical Society 8: 42. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2005.
  15. ^ Bevilacqua, R.; Menchi, O.; Milani, A.; Nobili, A. M.; Farinella, P. (tháng 04 năm 1980). “Resonances and close approaches. I. The Titan-Hyperion case”. Earth, Moon, and Planets 22 (2): 141–152. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2007.
  16. ^ a ă Bill Arnett (2005). “Titan”. Nine planets. Đại học Arizona, Tucson. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2005.
  17. ^ Lunine, J. (21 tháng 3 năm 2005). “Comparing the Triad of Great Moons”. Astrobiology Magazine. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2006.
  18. ^ G. Tobie, O. Grasset, J. I. Lunine, A. Mocquet, C. Sotin (2005). “Titan’s internal structure inferred from a coupled thermal-orbital model”. Icarus 175 (2): 496–502. doi:10.1016/j.icarus.2004.12.007.
  19. ^ a ă “Titan’s Mysterious Radio Wave”. Jet Propulsion Laboratory. 1 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007.
  20. ^ David Shiga. “Titan’s changing spin hints at hidden ocean”. New Scientist. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2008.
  21. ^ “Facts about Titan”. ESA Cassini-Huygens. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2007.
  22. ^ Mori K. et al. (2004). “An X-Ray Measurement of Titan’s Atmospheric Extent from Its Transit of the Crab Nebula” (PDF). Astrophysical Journal 607 (2): 1065–1069. doi:10.1086/383521. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2007. Chandra images used by Mori et al.: Photo Album – Titan
  23. ^ Schröder, S. E.; Tomasko, M. G.; Keller, H. U. (tháng 08 năm 2005). “The reflectance spectrum of Titan’s surface as determined by Huygens”. American Astronomical Society, DPS meeting #37, #46.15; Bulletin of the American Astronomical Society 37 (726). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2007.
  24. ^ G. P. Kuiper (1944). “Titan: a Satellite with an Atmosphere”. Astrophysical Journal 100: 378. doi:10.1086/144679.
  25. ^ Robert Zubrin (1999). Entering Space: Creating a Spacefaring Civilization. Section: Titan: Tarcher/Putnam. tr. 163–166. ISBN 1-58542-036-0.
  26. ^ Petre de Selding (21 tháng 1 năm 2005). “Huygens Probe Sheds New Light on Titan”. SPACE.com. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2005.
  27. ^ Baez, John (25 tháng 2 năm 2005). “This Week’s Finds in Mathematical Physics”. Đại học California, Riverside. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2007.
  28. ^ “Saturn’s Magnetic Personality Rubs Off on Titan”. NASA/JPL. 2008. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2009.
  29. ^ Coates, A. J., F. J. Crary, G. R. Lewis, D. T. Young, J. H. Waite, and E. C. Sittler (2007). “Discovery of heavy negative ions in Titan’s ionosphere”. Geophys. Res. Lett. 34: L22103. doi:10.1029/2007GL030978.
  30. ^ A. Coustenis (2005). “Formation and evolution of Titan’s atmosphere”. Space Science Reviews 116: 171–184. doi:10.1007/s11214-005-1954-2.
  31. ^ a ă â “The Way the Wind Blows on Titan”. Jet Propulsion Laboratory. 2 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007.
  32. ^ “Wind or Rain or Cold of Titan’s Night?”. Astrobiology Magazine. 11 tháng 3 năm 2005. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2007.
  33. ^ Mahaffy, Paul R. (12 tháng 5 năm 2005). “Intensive Titan Exploration Begins”. Science 308 (5724): 969–970. doi:10.1126/science.1113205.
  34. ^ Battersby, Stephen (29 tháng 10 năm 2004). “Titan’s complex and strange world revealed”. New Scientist. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2007.
  35. ^ “Spacecraft: Cassini Orbiter Instruments, RADAR”. Cassini-Huygens Mission to Saturn & Titan. NASA, Jet Propulsion Laboratory. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2007.
  36. ^ Lorenz, R. D.; Callahan, P. S.; et al. (tháng 03 năm 2007). “Titan’s Shape, Radius and Landscape from Cassini Radar Altimetry” (PDF). Lunar and Planetary Science Conference 38. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2007.
  37. ^ “Cassini Reveals Titan’s Xanadu Region To Be An Earth-Like Land”. Science Daily. 23 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2007.
  38. ^ Barnes, Jason W.; Brown, Robert H.; et al. (tháng 01 năm 2006). “Global-scale surface spectral variations on Titan seen from Cassini/VIMS” (PDF). Icarus 186 (1). Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2007.
  39. ^ Có chất lỏng trên vệ tinh Sao Thổ cập nhật Thứ bảy, 26/12/2009, 09:29 GMT+7
  40. ^ S. F.Dermott, C. Sagan, (1995). “Tidal effects of disconnected hydrocarbon seas on Titan”. Nature 374: 238–240. doi:10.1038/374238a0.
  41. ^ Bortman, Henry (2 tháng 11 năm 2004). “Titan: Where’s the Wet Stuff?”. Astrobiology Magazine. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2007.
  42. ^ Emily Lakdawalla (28 tháng 6 năm 2005). “Dark Spot Near the South Pole: A Candidate Lake on Titan?”. The Planetary Society. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2006.
  43. ^ “NASA Cassini Radar Images Show Dramatic Shoreline on Titan” (Thông cáo báo chí). Jet Propulsion Laboratory. 16 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2006.
  44. ^ a ă “PIA08630: Lakes on Titan”. NASA Planetary Photojournal. NASA/JPL. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2006.
  45. ^ “Titan Has Liquid Lakes, Scientists Report in Nature”. NASA/JPL. 13 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2007.
  46. ^ Adam Hadhazy (2008). “Scientists Confirm Liquid Lake, Beach on Saturn’s Moon Titan”. Scientific American. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2008.
  47. ^ Cook, J.-R. C. (17 tháng 12 năm 2009). “Glint of Sunlight Confirms Liquid in Northern Lake District of Titan”. NASA web site Cassini mission page. NASA. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009.
  48. ^ Lakdawalla, E. (17 tháng 12 năm 2009). “Cassini VIMS sees the long-awaited glint off a Titan lake”. The Planetary Society Blog. Planetary Society. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2009.
  49. ^ “PIA07365: Circus Maximus”. NASA Planetary Photojournal. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2006.
  50. ^ “PIA07368: Impact Crater with Ejecta Blanket”. NASA Planetary Photojournal. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2006.
  51. ^ “PIA08737: Crater Studies on Titan”. NASA Planetary Photojournal. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2006.
  52. ^ “PIA08425: Radar Images the Margin of Xanadu”. NASA Planetary Photojournal. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2006.
  53. ^ “PIA08429: Impact Craters on Xanadu”. NASA Planetary Photojournal. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2006.
  54. ^ Artemieva, Natalia; Lunine, Jonathan (tháng 08 năm 2003). “Cratering on Titan: impact melt, ejecta, and the fate of surface organics”. Icarus 164: 471–480. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2007.
  55. ^ Ivanov, B. A.; Basilevsky, A. T.; Neukum, G. (tháng 08 năm 1997). “Atmospheric entry of large meteoroids: implication to Titan”. Planetary and Space Science 45: 993–1007. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2007.
  56. ^ Tobias Owen (2005). “Planetary science: Huygens rediscovers Titan”. Nature 438: 756–757. doi:10.1038/438756a.
  57. ^ a ă â “Seeing, touching and smelling the extraordinarily Earth-like world of Titan”. ESA News, Cơ quan Vũ trụ châu Âu. 21 tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2005.
  58. ^ David L. Chandler (8 tháng 6 năm 2005). “Hydrocarbon volcano discovered on Titan”. NewScientist.com news service, New Scientist. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2007.
  59. ^ C.D. Neish, R.D. Lorenz, D.P. O’Brien (2005). “Shape and thermal modeling of the possible cryovolcanic dome Ganesa Macula on Titan: Astrobiological implications”. Lunar and Planetary Laboratory, Đại học Arizona, Observatoire de la Cote d’Azur. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2007.
  60. ^ Fortes, A. D.; Grindroda, P.M.; Tricketta, S. K.; Vočadloa, L. (tháng 05 năm 2007). “Ammonium sulfate on Titan: Possible origin and role in cryovolcanism”. Icarus 188 (1): 139–153. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2007.
  61. ^ “Mountain range spotted on Titan”. BBC News. 12 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2007.
  62. ^ H. G. Roe et al. (2004). “A new 1.6-micron map of Titan’s surface“. Geophys. Res. Lett. 31 (17): CiteID L17S03.
  63. ^ R. Lorenz (2003). “The Glitter of Distant Seas”. Science 302: 403–404. doi:10.1126/science.1090464.
  64. ^ a ă Goudarzi, Sara (4 tháng 5 năm 2006). “Saharan Sand Dunes Found on Saturn’s Moon Titan”. SPACE.com. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2007.
  65. ^ a ă Lorenz, RD; Wall S, Radebaugh J, et.al. (2006). “The sand seas of Titan: Cassini RADAR observations of longitudinal dunes”. Science 312: 724–727. doi:10.1126/science.1123257.
  66. ^ N. Lancaster (2006). “Linear Dunes on Titan”. Science 312: 702–703. doi:10.1126/science.1126292.
  67. ^ “Titan’s Smoggy Sand Grains”. JPL. 2008. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2008.
  68. ^ C. A. Hasenkopf. “OPTICAL PROPERTIES OF TITAN HAZE LABORATORY ANALOGS USING CAVITY RING DOWN SPECTROSCOPY”. Workshop on Planetary Atmospheres (2007). Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2007.
  69. ^ “Titan Has More Oil Than Earth”. 13 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2008.
  70. ^ Emily Lakdawalla (21 tháng 1 năm 2004). “Titan: Arizona in an Icebox?”. The Planetary Society. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2005.
  71. ^ Ádámkovics, Máté; Michael H. Wong, Conor Laver, Imke de Pater (11-10 năm 2007). “Widespread Morning Drizzle on Titan”. Science. doi:10.1126/science.1146244.
  72. ^ Arpad Somogyi, MA Smith (2006). “Mass Spectral Investigation of Laboratory Made Tholins and Their Reaction Products: Implications to Tholin Surface Chemistry on Titan”. Đại học Arizona. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2007.
  73. ^ a ă Rannou, R.; et al. (tháng 01 năm 2006). “The Latitudinal Distribution of Clouds on Titan”. Science 311 (5758): 201–205. doi:10.1126/science.1118424. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2007.
  74. ^ “Tropical Titan”. astrobio.net. 2007. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2007.
  75. ^ “NASA Cassini Image: Radar Images Titan’s South Pole”. JPL. 2008. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2008.
  76. ^ a ă “Cassini Images Mammoth Cloud Engulfing Titan’s North Pole”. NASA. 2007. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2007.
  77. ^ Emily L., Schaller; Brouwn, Michael E.; Roe, Henry G. Roe; Bouchez, Antonin H. (tháng 02 năm 2006). “A large cloud outburst at Titan’s south pole” (PDF). Icarus (182): 224–229. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2007.
  78. ^ David Shiga (2006). “Huge ethane cloud discovered on Titan”. New Scientist 313: 1620. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2007.
  79. ^ Benton, Julius L. Jr. (2005). Saturn and How to Observe It. Springer London. tr. 141–146. ISBN 978-1-84628-045-0.
  80. ^ Näränen, Jyri. “The Atmosphere of Titan”. Đại học Helsinki, Bộ môn Thiên văn học. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2007.
  81. ^ “The Pioneer Missions”. Pioneer Project. NASA, Jet Propulsion Laboratory. 26 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2007.
  82. ^ “Pioneer XI”. Photo Index. NASA. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2007.
  83. ^ James Richardson, Ralph Lorenz, & Alfred McEwen (07-2004). “Titan’s Surface and Rotation: New Results from Voyager 1 Images”. Icarus 170 (1): 113–124. doi:10.1016/j.icarus.2004.03.010. được xác nhận ngày 28-03-2008.
  84. ^ “Cassini at Saturn: Introduction”. NASA, Jet Propulsion Laboratory. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2007.
  85. ^ “CASSINI AT SATURN – Saturn Tour Dates”. NASA/JPL. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2007.
  86. ^ “Huygens Exposes Titan’s Surface”. Spacetoday. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2007.
  87. ^ “Huygens landing site to be named after Hubert Curien”. ESA. 5 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2007.
  88. ^ http://vtc.vn/394-222657/phong-su-kham-pha/ve-tinh-titan-cua-sao-tho-rat-giong-trai-dat.htm
  89. ^ a ă Raulin F., Owen T. (2002). “Organic chemistry and exobiology on Titan”. Space Science Review 104 (1–2): 377–394. doi:10.1023/A:1023636623006.
  90. ^ Artemivia N., Lunine J, (2003). “Createring on Titan: Impact melt ejecta and the fate of surface organics”. Icarus 164: 471–480. doi:10.1016/S0019-1035(03)00148-9.
  91. ^ news.nationalgeographic.com
  92. ^ McKay, C. P.; Smith, H. D. (2005). “Possibilities for methanogenic life in liquid methane on the surface of Titan”. Icarus 178 (1): 274–276. doi:10.1016/j.icarus.2005.05.018.
  93. ^ “Saturn’s Moon Titan: Prebiotic Laboratory”. Astrobiology Magazine. 11 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2004.
  94. ^ a ă Raulin, F. (2005). “Exo-astrobiological aspects of Europa and Titan: From observations to speculations”. Space Science Review 116 (1–2): 471–487. doi:10.1007/s11214-005-1967-x.
  95. ^ “Earth could seed Titan with life”. BBC News. 18 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2007.
  96. ^ Gladman, Brett; Dones, Luke; Levinson, Harold F.; Burns, Joseph A. (2005). “Impact Seeding and Reseeding in the Inner Solar System”. Astrobiology 5: 483–496. doi:10.1089/ast.2005.5.483.
  97. ^ Ralph D. Lorenz, Jonathan I. Lunine, Christopher P. McKay (1997). “Titan under a red giant sun: A new kind of “habitable” moon”. NASA Ames Research Center, Lunar and Planetary Laboratory, Bộ môn Khoa học hành tinh, Đại học Arizona. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2008.
  98. ^ Lorenz, Ralph (2000). “Post-Cassini Exploration of Titan: Science Rationale and Mission Concepts”. Journal of the British Interplanetary Society 53: 218–234.

Đọc thêm

  • Lorenz, Ralph; Jacqueline Mitton (05-2002). Lifting Titan’s Veil: Exploring the Giant Moon of Saturn. Nhà in Đại học Cambridge. ISBN 0-521-79348-3.

Liên kết ngoài

Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Titan (vệ tinh)
Wikinews-logo.svg
Wikinews có các tin tức ngoại ngữ liên quan đến bài:

Cộng đồng Kinh tế châu Âu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng đồng Kinh tế châu Âu[ẩn]
Tổ chức đa quốc gia
1958–1993 Flag of Europe.svg
Flag of EEC
Flag
Anthem
Ode to Joy (hòa tấu)
Location of EEC

Map of the EEC in the world, at its end in 1993.

Capital Not applicable¹
Language(s)
Political structure Tổ chức quốc tế
Chủ tịch Ủy ban
 – 1958-1967 Walter Hallstein
 – 1967-1970 Jean Rey
 – 1973-1977 François-Xavier Ortoli
 – 1977-1981 Roy Jenkins
 – 1981-1985 Gaston Thorn
 – 1985-1993 Jacques Delors
Legislature Legislature
 – Upper house Hội đồng Bộ trưởng
 – Lower house Nghị viện châu Âu
Historical era Hậu chiến
 – Hiệp ưóc Roma 25.3.1957
 – Thành lập 1.1.1958
 – Các cộng đồng châu Âu 1.7.1967
 – Trở thành một Trụ cột 1.11.1993
Currency Tiền tệ khác nhau theo từng nước
¹ Trung tâm hoạt động là Bruxelles, LuxembourgStrasbourg.

Bản mẫu:EU history
Cộng đồng Kinh tế châu Âu (tiếng Anh: European Economic Community, viết tắt là EEC) cũng gọi đơn giản là Cộng đồng châu Âu[1], ngay cả trước khi nó được đổi tên chính thức thành Cộng đồng châu Âu vào năm 1993, hoặc Thị trường chung (Common Market) ở các nước nói tiếng Anh, là một tổ chức quốc tế được thành lập năm 1957 đem tới việc hội nhập kinh tế (gồm một thị trường chung) giữa các nước Bỉ, Pháp, Tây Đức, Ý, LuxembourgHà Lan.
Sau đó được mở rộng thêm 6 nước khác gia nhập, và từ năm 1967, các cơ quan thể chế của Cộng đồng cũng điều khiển Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu (EAEC hoặc Euratom) dưới tên Các cộng đồng châu Âu. Khi Liên minh châu Âu (EU) được thành lập năm 1993, thì “Cộng đồng Kinh tế châu Âu” biến đổi thành Cộng đồng châu Âu, một trong 3 trụ cột của Liên minh châu Âu, và các cơ quan của “Cộng đồng Kinh tế châu Âu” tiếp tục là cơ quan của Liên minh châu Âu.

Lịch sử

Bối cảnh

Năm 1951, Hiệp ước Paris thành lập Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) được ký kết. Đây là một cộng đồng quốc tế dựa trên chủ trương siêu quốc gia và luật pháp quốc tế, để giúp nền kinh tế châu Âu và ngăn ngừa chiến tranh trong tương lai, bằng cách hội nhập các nước thành viên châu Âu với nhau.
Trong mục đích lập một Liên bang châu Âu, hai cộng đồng khác đã được đề nghị : Cộng đồng Phòng vệ châu Âu (European Defence Community, EDC) và Cộng đồng Chính trị châu Âu (European Political Community, EPC). Trong khi Hiệp ước cho các Cộng đồng nói trên được phòng nghị viện Cộng đồng Than Thép châu Âu soạn thảo, thì Nghị viện Pháp đã bác bỏ “Cộng đồng Phòng vệ châu Âu”. Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean Monnet, nhân vật lãnh đạo đằng sau các cộng đồng, đã từ chức để phản đối, và bắt đầu dự kiến tạo ra các cộng đồng khác, dựa trên việc hội nhập kinh tế hơn là hội nhập chính trị.[2] Sau Hội nghị Messina (Ý) năm 1955, Paul Henri Spaak được trao nhiệm vụ chuẩn bị một bản báo cáo về ý tưởng một liên minh thuế quan (customs union). Cái gọi là Báo cáo của Spaak[3] của Ủy ban Spaak đã tạo thành nền tảng cho các cuộc thương thuyết liên chính phủ tại Lâu đài Val Duchesse (Bỉ) năm 1956. Cùng với Báo cáo của Ohlin, báo cáo của Spaak đã tạo cơ sở cho Các hiệp ước Roma.
Năm 1956, Paul Henri Spaak lãnh đạo Hội nghị liên chính phủ về Thị trường chung và Euratom tại Lâu đài Val Duchesse, để chuẩn bị cho Các hiệp ước Roma năm 1957. Hội nghị này dẫn tới việc ký kết Các hiệp ước Roma ngày 25.3.1957 để lập ra Cộng đồng Kinh tế châu Âu.

Việc thành lập & các năm đầu

Các cộng đồng được thành lập là Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu (EAEC hoặc Euratom). Các cộng đồng này rõ ràng là ít siêu quốc gia hơn các cộng đồng dự trù trước kia, do việc phản đối của một số nước, cho là chủ quyền của họ bị xâm phạm. Cuộc họp chính thức đầu tiên của Ủy ban Hallstein, diễn ra ngày 16.1.1958 tại Lâu đài Val Duchesse. Cộng đồng Kinh tế châu Âu đã lập ra liên minh thuế quan trong khi Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu thúc đẩy việc hợp tác trong lãnh vực năng lượng nguyên tử. Cộng đồng Kinh tế châu Âu nhanh chóng trở thành quan trọng nhất trong 3 cộng đồng, và mở rộng các hoạt động của mình. Một trong các thực hiện quan trọng đầu tiên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu là lập ra mức giá chung cho các sản phẩm nông nghiệp (1962). Năm 1968, các thuế quan trên một số sản phẩm buôn bán giữa các nước thành viên đã được bãi bỏ.
Một khủng hoảng khác đã xảy ra đối với các đề nghị tài trợ Chính sách Nông nghiệp chung, có hiệu lực từ năm 1962. Thời gian quá độ nhờ đó các quyết định được đưa ra bằng cách nhất trí đã chấm dứt, và cuộc bỏ phiếu đa số trong Hội đồng đã có hiệu lực. Việc chống đối chủ trương siêu quốc gia của Tổng thống Pháp thời đó Charles de Gaulle dẫn tới “chính sách bỏ trống ghế” do các đại diện của Pháp rút khỏi các cơ quan của Cộng đồng, cho tới khi quyền phủ quyết của Pháp được phục hồi. Cuối cùng, đạt tới thỏa hiệp Luxembourg ngày 29.1.1966 do đó một thoả thuận của người quân tử (gentlemen’s agreement) cho phép các thành viên sử dụng quyền phủ quyết trên các lĩnh vực quyền lợi quốc gia.[4][5]
Năm 1967 Hiệp ước Hợp nhất đã có tác dụng, hợp nhất các cơ quan của Cộng đồng Than Thép châu ÂuCộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu với các cơ quan của Cộng đồng Kinh tế châu Âu, các cơ quan này vốn đã dự phần vào Nghị viện châu ÂuTòa án Cộng đồng châu Âu. Một cách tập thể, chúng được gọi là Các cộng đồng châu Âu. Các cộng đồng này vẫn có tư cách pháp nhân độc lập, dù đã gia tăng hội nhập. Vì nó gần sát với mục tiêu hội nhập chính trị và thống nhất châu Âu một cách hòa bình, nên Mikhail Gorbachev đã mô tả là Ngôi nhà chung châu Âu (Common European Home).

Việc mở rộng & các cuộc tuyển cử

Tổng thống Pháp Charles de Gaulle đã phủ quyết việc gia nhập của Anh, kìm hãm sự phát triển quyền của Nghị viện và ở trung tâm của ‘cuộc khủng hoảng ghế trống’ năm 1967

Thập niên 1960 đã có các ý định mở rộng Cộng đồng. Ngày 3.5.1960, Đan Mạch, Ireland, Na UyVương quốc Anh xin gia nhập Các cộng đồng châu Âu. Tuy nhiên tổng thống Pháp Charles de Gaulle coi việc gia nhập của Anh như con ngựa thành Troia của Hoa Kỳ cài vào, nên đã phủ quyết và đơn xin gia nhập của 4 nước nói trên bị đình hoãn.
Bốn nước này lại nộp đơn xin gia nhập ngày 11.5.1967, lúc đó Georges Pompidou làm tổng thống Pháp kế vị Charles de Gaulle, nên Pháp không phủ quyết. Các cuộc thương lượng bắt đầu từ năm 1970 dưới thời chính phủ thân châu Âu của thủ tướng Anh Edward Heath về sự bất đồng ý kiến liên quan tới Chính sách Nông nghiệp chung cùng quan hệ của Vương quốc Anh với Khối Thịnh vượng chung Anh, 2 năm sau các hiệp ước gia nhập đã được ký kết và 3 nước Đan Mạch, Ireland và Vương quốc Anh đã gia nhập Cộng đồng (ngoại trừ Na Uy, vì dân bỏ phiếu chống, trong cuộc trưng cầu ý dân).
Các hiệp ước Roma qui định là Nghị viện châu Âu phải được dân bầu trực tiếp, tuy nhiên điều đó đòi Hội đồng châu Âu trước hết phải nhất trí về một hệ thống bầu cử chung. Hội đồng đã trì hoãn vấn đề này và Nghị viện vẫn được chỉ định[6].
Nghị viện làm áp lực để đạt tới sự thỏa thuận, và ngày 20.9.1976 Hội đồng đã đồng ý phần các phương tiện cần thiết cho việc bầu cử, nhưng hoãn các chi tiết về các hệ thống bầu cử mà ngày nay vẫn còn khác biệt.[6] Dưới thời chủ tịch Jenkins, tháng 6 năm 1979, các cuộc tuyển cử đã được tổ chức trong mọi quốc gia thành viên thời đó (xem Cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu, 1979).[7] Nghị viện mới, được kích động bởi cuộc bầu cử trực tiếp và quyền hành mới, đã bắt đầu làm việc trọn thời gian và tích cực hơn các nghị viện trước đây.[6]
Ngay sau cuộc bầu cử, Nghị viện trở thành cơ quan đầu tiên của Cộng đồng đưa ra đề nghị Cộng đồng nên chọn một lá Cờ châu Âu.[8] Hội đồng châu Âu đã đồng ý và chọn các biểu tượng châu Âu là các biểu tượng của Cộng đồng năm 1984.[9]

Hướng về Hiệp ước Maastricht

Enlargement, 1957 to 2007

   Community enlargement
   Post 1993

Hy Lạp xin gia nhập Cộng đồng ngày 12.6.1975, tiếp theo sự khôi phục nền dân chủ và được gia nhập ngày 1.1.1981.[10] Tiếp theo Hy Lạp, và sau việc khôi phục dân chủ của mình, Tây Ban NhaBồ Đào Nha xin gia nhập năm 1977 và được gia nhập ngày 1.1.1986.[11] Năm 1987 Thổ Nhĩ Kỳ chính thức xin gia nhập Cộng đồng và bắt đầu quá trình đàm phán về việc xin gia nhập lâu nhất trong số các nước xin gia nhập (năm 2009, vẫn còn đang thương lượng).
Với triển vọng mở rộng hơn nữa, và việc mong muốn tăng cường hợp tác, Đạo luật chung châu Âu đã đuợc các bộ trưởng ngoại giao các nước thành viên ký ngày 17.2.1986 tại thành phố Luxembourg và ngày 28.2.1986 tại thành phố Den Haag, (Hà Lan). Trong một tài liệu đơn, có nêu vấn đề cải cách các thể chế, gia tăng quyền lực, hợp tác trong chính sách đối ngoại và thị trường chung, và có hiệu lực từ ngày 1.7.1987.[12] Đạo luật này bị ảnh hưởng bởi dự định tạo ra Hiệp ước Maastricht, được ký ngày 10.12.1991, và có hiệu lực từ ngày 1.11.1993, lập ra Liên minh châu Âu.
Liên minh châu Âu thu nạp Cộng đồng Kinh tế châu Âu làm một trong 3 trụ cột của mình. Các lãnh vực hoạt động của Cộng đồng Kinh tế châu Âu trở thành một trụ cột của Cộng đồng châu Âu, tiếp tục theo cấu trúc siêu quốc gia của Cộng đồng Kinh tế châu Âu. Các cơ quan của Cộng đồng Kinh tế châu Âu trở thành các cơ quan của Liên minh châu Âu, một số cơ quan thay đổi tên tùy theo nhu cầu; tuy nhiên Tòa án, Nghị viện và Ủy ban châu Âu chỉ có đầu vào hạn chế trong 3 trụ cột mới, như chúng làm việc theo hệ thống liên chính phủ nhiều hơn là Cộng đồng châu Âu. Theo Hiệp ước Lisbon, hệ thống trụ cột này bị hủy bỏ và các trụ cột này phải theo con đường của Cộng đồng.

Các mục tiêu & thành tựu

Mục tiêu chính của Cộng đồng Kinh tế châu Âu – như đã ghi trong lời nói đầu – là “duy trì hòa bình và tự do, cùng đặt nền móng cho một liên minh chặt chẽ trong các dân tộc châu Âu”. Kêu gọi việc tăng trưởng kinh tế cân bằng, việc đó sẽ được hoàn thành thông qua :
1) việc thiết lập một Liên minh thuế quan với thuế suất nội địa chung
2) các chính sách chung về Nông nghiệp, Vận tảiThương mại
3) Mở rộng Cộng đồng tới các nước châu Âu còn lại.[13] Về Liên minh thuế quan, hiệp ước dự trù giảm thuế quan 10 % và tới 20 % các quotas nhập cảng toàn cầu. Diễn tiến của liên minh thuế quan nhanh hơn 12 năm theo dự trù, tuy nhiên Pháp phải đương đầu với vài thoái trào do có chiến tranh với Algérie.[14]

Các nước thành viên

Sáu nước sáng lập Cộng đồng Kinh tế châu Âu và 2 Cộng đồng khác (Than Thép & Năng lượng nguyên tử) thường được gọi là “6 nước bên trong” (inner six), còn 7 nước lập ra Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu được gọi là “7 nước bên ngoài” (outer seven). Sáu nước bên trong là Pháp, Tây Đức, Ý và 3 nước thuộc khối Benelux là : Bỉ, Hà LanLuxembourg. Đợt mở rộng thứ nhất vào năm 1973, thâu nhận 3 nước Đan Mạch, IrelandVương quốc Anh. Các nước Hy Lạp, Tây Ban NhaBồ Đào Nha gia nhập trong thập niên 1980. Tiếp theo việc thành lập Liên minh châu Âu năm 1993, tới năm 2007 còn thu nạp thêm 15 nước nữa.

Các nước sáng lập màu xanh lá cây, các nước gia nhập sau màu xanh dương

Nước Gia nhập Nước Gia nhập
Bỉ 25.3.1957 Ý 25.3.1957
Đan Mạch 1.1.1973 Luxembourg 25.3.1957
Pháp 25.3.1957 Hà Lan 25.3.1957
Tây Đức 25.3.1957 Bồ Đào Nha 1.1.1986
Hy Lạp 1.1.1981 Tây Ban Nha 1.1.1986
Ireland 1.1.1973 Vương quốc Anh 1.1.1973

Các nước thành viên được đại diện theo một vài hình thức trong mỗi cơ quan thể chế. Hội đồng châu Âu gồm một bộ trưởng quốc gia, đại diện cho chính phủ của mình. Mỗi nước cũng có quyền có một Ủy viên châu Âu, dù các ủy viên này được cho là không đại diện cho quyền lợi của nước mình, mà đại diện cho Cộng đồng. Trước năm 2004, các nước thành viên lớn hơn (Pháp, Đức, Ý và Anh) có 2 ửy viên). Trong Nghị viện châu Âu, các nước thành viên được chia ghế theo tỷ lệ dân số, tuy nhiên từ cuộc bầu cử Nghị viện năm 1979 đã là bầu cử trực tiếp, vá các nghị viên ngồi theo nhóm khuynh hướng chính trị của mình, không theo gốc quốc gia. Phần lớn các cơ quan thể chế khác, trong đó có Tòa án Cộng đồng châu Âu, có thể thức riêng để chia ghế theo quốc gia.

Các cơ quan thể chế

Có 3 cơ quan thể chế chính trị nắm quyền lập pháp và hành pháp trong Cộng đồng châu Âut, cộng thêm cơ quan thể chế tư pháp và một cơ quan thứ 5 được lập năm 1975. Các cơ quan này (ngoại trừ Kiểm toán) được Cộng đồng Kinh tế châu Âu lập năm 1957, nhưng từ năm 1967 trở đi, chúng được áp dụng cho tất cả 3 Cộng đồng (Kinh tế, Than Thép & Năng lượng nguyên tử). Hội đồng đại diện các chính phủ, Nghị viện đại diện các công dân và Ủy ban đại diện các quyền lợi của Cộng đồng châu Âu.[15] Về cơ bản thì Hội đồng, Nghị viện hoặc đảng khác đưa thỉnh cầu lập pháp cho Ủy ban, sau đó Ủy ban dự thảo rồi trình lên Hội đồng để phê chuẩn và Nghị viện xin ý kiến (trong vài trường hợp, có sự phủ quyết, tùy thuộc phủ tục lập pháp của Cộng đồng). Sau Hiệp ước Maastricht năm 1993, các cơ quan trên trở thành cơ quan của Liên minh châu Âu, dù có hạn chế trong vài lãnh vực, do cơ cấu trụ cột. Dù vậy, riêng Nghị viện đã chiếm được nhiều quyền lập pháp và an ninh của Ủy ban.

Bối cảnh

Chính quyền cấp cao có nhiều quyền hành pháp hơn Ủy ban thay thế nó sau này

Cộng đồng Kinh tế châu Âu thừa kế các cơ quan thể chế của Cộng đồng Than Thép châu Âu trong đó Hội nghị lập pháp chungTòa án Cộng đồng châu Âu của Cộng đồng Than Thép châu Âu có quyền lực mở rộng tới Cộng đồng Kinh tế châu Âu và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu trong cùng vai trò. Tuy nhiên Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử có các cơ quan hành pháp khác với các cơ quan của Cộng đồng Than Thép. Thay cho Hội đồng bộ trưởng của Cộng đồng Than thép, là Hội đồng Cộng đồng Kinh tế châu Âu, và thay cho Chính quyền cấp cao của Cộng đồng Than Thép là Ủy ban các cộng đồng châu Âu.
Có sự khác biệt lớn giữa các cơ quan này hơn là tên gọi: chính phủ Pháp thời đó đã có nhiều hoài nghi về quyền lực siêu quốc gia của Chính quyền cấp cao của Cộng đồng và tìm cách kiềmchế quyền hành của nó để có lợi cho Hội đồng kiểu liên chính phủ. Do đó Hội đồng có vai trò hành pháp lớn trong việc điều hành Cộng đồng hơn là tình trạng trong Cộng đồng Kinh tế. Theo Hiệp ước Hợp nhất năm 1967, các cơ quan hành pháp của Cộng đồng Than Thép và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử được hợp nhất với các cơ quan trên của Cộng đồng Kinh tế, lập ra một cơ cấu tổ chức chung, điều khiển 3 Cộng đồng riêng rẽ. Từ đây trở đi, từ Các cộng đồng châu Âu được dùng cho các cơ quan thể chế (ví dụ, từ tên Ủy ban Cộng Kinh tế châu Âu tới tên Ủy ban các cộng đồng châu Âu.[16][17][18]

Hội đồng

Hội đồng Các cộng đồng châu Âu là cơ quan nắm quyền lập pháp và hành pháp và do đó là cơ quan làm các quyết định chính của Cộng đồng. Chức chủ tịch Hội đồng do các nước thành viên luân phiên nắm giữ trong thời hạn 6 tháng và liên quan tới Hội đồng châu Âu, là cơ quan không chính thức tập hợp các nhà lãnh đạo các quốc gia thành viên (bắt đầu từ năm 1961) trên cùng một cơ sở như Hội đồng.[19]

Chủ tịch Jacques Delors là chủ tịch Ủy ban Cộng đồng Kinh tế châu Âu cuối cùng và thành công nhất.

Hội đồng gồm có một bộ trưởng quốc gia của mỗi nước thành viên. Tuy nhiên Hội đồng họp trong nhiều hình thức khác nhau tùy theo chủ đề. Ví dụ, nếu vấn đề nông nghiệp cần thảo luận, thì Hội đồng sẽ gồm các bộ trưởng nông nghiệp của mỗi nước thành viên. Họ đại diện cho chính phủ của mình và chịu trách nhiệm trước hệ thống chính trị quốc gia của mình. Việc bỏ phiếu được tính hoặc theo đa số (với số phiếu nhiều hay ít theo dân số) hoặc theo sự nhất trí. Trong các hnìh thức khác nhau đó, họ chia sẻ một số quyền lập pháp và ngân sách của Nghị viện.[19]

Ủy ban

Nghị viện

Nghị viện châu Âu tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên của mình năm 1979.

Tòa án

Tòa án Cộng đồng châu Âu là tòa án tối cao xét xử các vụ việc theo luật Cộng đồng. Tòa án này gồm một thẩm phán của mỗi nước thành viên. Chủ tịch tòa án được bầu trong số các thẩm phán này. Vai trò của Tòa án là bảo đảm lậut của Cộng đồng được áp dụng theo cùng một cách trong tất cả các nước thành viên. Nó trở thành cơ quan đầy quyền lực, vì luật Cộng đồng vượt trên luật quốc gia.

Kiểm toán

Cơ quan thể chế thứ 5 là Tòa án Kiểm toán châu Âu. Mặc dù tên là tòa án, nhưng cơ quan này không có quyền tư pháp như Tòa án Cộng đồng châu Âu. Thay vào đó, cơ quan này có quyềm kiểm tra các sổ sách kế toán để bảo đảm ngân sách của Cộng đồng được chi tiêu chính xác. Cơ quan này lập báo cáo kiểm toán cho mỗi năm tài chính đệ trình Hội đồng và Nghị viện, và cho ý kiến cùng đề nghị về pháp luật tài chính, cùng các hành động chống gian lận. Đây là cơ quan thể chế duy nhất không được đề cập tới trong các hiệp ước nguyên thủy, và được lập ra từ năm 1975.[20]

Tham khảo

  1. ^ For an example see this 1987 article from the New York Times: Steps Drafted For European Central Bank.
  2. ^ Raymond F. Mikesell, The Lessons of Benelux and the European Coal and Steel Community for the European Economic Community, The American Economic Review, Vol. 48, No. 2, Papers and Proceedings of the Seventieth Annual Meeting of the American Economic Association (May, 1958), pp. 428-441
  3. ^ Spaak report
  4. ^ Fifty years of fraternal rivalry news.bbc.co.uk 19/03/07
  5. ^ The ’empty chair’ policy ena.lu
  6. ^ a b c Hoskyns, Catherine; Michael Newman (2000). Democratizing the European Union: Issues for the twenty-first Century (Perspectives on Democratization. Manchester University Press. ISBN 978-0719056666.
  7. ^ Election of the President of the European Parliament, European Parliament
  8. ^ “Council of Europe’s Emblems”. Council of Europe. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2004. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2007.
  9. ^ “The European flag: questions and answers”. European NAvigator. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2007.
  10. ^ The accession treaty with Greece ena.lu
  11. ^ The Accession Treaties with Spain and Portugal ena.li
  12. ^ Single European Act ena.lu
  13. ^ “The achievements of the EEC”. European NAvigator. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2008.
  14. ^ “The European Customs Union”. European NAvigator. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2008.
  15. ^ “Institutions: The European Commission”. Europa (web portal). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2007.
  16. ^ “Merging of the executives”. European NAvigator. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2007.
  17. ^ “Council of the European Union”. European NAvigator. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2007.
  18. ^ “European Commission”. European NAvigator. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2007.
  19. ^ a b “Institutions: The Council of the European Union”. Europa (web portal). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2007.
  20. ^ “Institutions: Court of Auditors”. Europa (web portal). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2007.
  • Jean Monnet, Prospect for a New Europe (1959)
  • Bela Balassa, The Theory of Economic Integration (1962)
  • Walter Hallstein, A New Path to Peaceful Union (1962)
  • Paul-Henri Spaak, The Continuing Battle: Memories of a European (1971)

Liên kết ngoài

1951 có hiệu lực 1948 1957 có hiệu lực 1958 1965 có hiệu lực 1967 1992 có hiệu lực 1993 1997 có hiệu lực 1999 2001 có hiệu lực 2003 2007 có hiệu lực 2009
Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC)
Cộng đồng Kinh tế
châu Âu
(EEC)
Cộng đồng châu Âu (EC)
Các Cộng đồng châu Âu: ECSC, EEC (EC, 1993), Euratom Tư pháp &
Nội vụ
Hợp tác tư pháp và cảnh sát
về tội phạm
(PJCC)
Chính sách an ninh và đối ngoại chung (CFSP)
LIÊN MINH CHÂU ÂU(EU)
Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu (Euratom)
Hiệp ước Paris Các Hiệp ước Rome Hiệp ước Sát nhập Hiệp ước Maastricht Hiệp ước Amsterdam Hiệp ước Nice Hiệp ước Lisbon

Ba trụ cột” – ECS (ECSC, EEC/EC, Euratom), CFSP, PJCC

Bản mẫu:European Union topics

Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc, Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con