Chào ngày mới 24 tháng 5

Queen Victoria - Winterhalter 1859.jpg

CNM365. Chào ngày mới 24 tháng 5. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1819 – Ngày sinh Nữ hoàng Victoria của Anh (mất năm 1901). Thời đại Victoria đế quốc Anh đạt được đỉnh cao, trở thành cường quốc hàng đầu của thời đại đó. Năm 1905 – Ngày sinh Nhà văn Nga Mikhail Aleksandrovich Sholokhov người được trao Giải Nobel Văn học năm 1965, tác giả của bộ tiểu thuyết sử thi Sông Đông êm đềm nổi tiếng. Năm 1944 – ngày mất Hoàng Văn Thụ, nhà cách mạng dân tộc người Việt Nam, tác giả bài thơ Nhắn bạn bất hủ.

24 tháng 5

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 24 tháng 5 là ngày thứ 144 (145 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 221 ngày trong năm.

« Tháng 5 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Những ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Advertisements

Chào ngày mới 24 tháng 5

  Mausoleum of Mao Zedong P1090218.jpg

CNM365 Chào ngày mới 24 tháng 5 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Độc lập tại EritreaNăm 1738John Wesley cải đạo sau một buổi cầu nguyện với một nhóm tín hữu Moravia, về bản chất là sự khởi đầu cho Phong trào Giám LýNăm 1941Chiến tranh thế giới thứ hai: Trong trận chiến eo biển Đan Mạch, thiết giáp hạm Bismarck của Đức đánh chìm tàu chiến-tuần dương HMS Hood của Anh, khiến hơn một nghìn người thiệt mạng. Năm 1956Cuộc thi ca hát truyền hình châu Âu đầu tiên được tổ chức tại Lugano, Thụy Sĩ. Năm 1977 – Việc xây dựng Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch (hình) tại Bắc Kinh, Trung Quốc được hoàn thành, đây là nơi đặt thi hài của Mao Trạch Đông.

Eritrea

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ge'ez.svg
Bài viết này có chứa các Chữ Ethiopia. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì Ký tự Ethiopia.
Nhà nước Eritrea
ሃገረ ኤርትራ (tiếng Tigrinya)
Hagere Ertra (tiếng Tigrinya)
دولة إرتريا (tiếng Ả Rập)
Dawlat Iritriyá (tiếng Ả Rập)
Flag of Eritrea.svg Emblem of Eritrea (or argent azur).svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Eritrea
Quốc ca
Ertra, Ertra, Ertra
Hành chính
Chính phủ Chính phủ quá độ
Tổng thống Isaias Afewerki
Ngôn ngữ chính thức Tigrinya[1]
Ả Rập
Thủ đô Asmara
15°20′B, 38°55′Đ
Thành phố lớn nhất Asmara
Địa lý
Diện tích 117.600 km²
45.405 mi² (hạng 100)
Diện tích nước không đáng kể %
Múi giờ EAT (UTC+3); mùa hè: không quan sát (UTC+3)
Lịch sử
Tháng 11, 1941 từ Italy
24 tháng 5, 1991 từ Ethiopia trên danh nghĩa
24 tháng 5, 1993 từ Ethiopia công nhận pháp lý
Dân cư
Tên dân tộc Eritrean
Dân số ước lượng (7-2005) 4.401.009 người (hạng 118)
Dân số (2002) 4.298.270 người
Mật độ (hạng 165)96 người/mi²
Kinh tế
GDP (PPP) (2008) Tổng số: $3.743 tỉ[2]
Bình quân đầu người: $748[2]
GDP (danh nghĩa) (2008) Tổng số: $1.479 tỉ[2]
Bình quân đầu người: $295[2]
HDI (2007) Straight Line Steady.svg 0.483 thấp (hạng 157)
Đơn vị tiền tệ Nakfa (ERN)
Thông tin khác
Mã ISO 3166-1 ER, ERI
Tên miền Internet .er
Mã điện thoại 291
Lái xe bên right
Ngôn ngữ chính: Tigrigna, Ả Rập, Anh [2], [3]. Italy được sử dụng rộng rãi.
Ngoài ra còn có Tigre, Saho, Bilen, Afar, Kunama, Nara, Hedareb [4], [5].

Eritrea (phát âm tiếng Anh: /ˌɛrɨˈtreɪə/, Bản mẫu:IPAlink-en), Arabic: إرتريا Iritriya, Tiếng Việt: Ê-ri-tơ-rê-a[3]), tên chính thức Nhà nước Eritrea, là một quốc gia châu Phi, giáp Sudan về phía tây, Ethiopia về phía nam và Djibouti về phía đông nam. Phần phía đông và đông bắc Eritrea còn có các đảo ven bờ trong biển Đỏ. Quần đảo Dahlak và rất nhiều đảo thuộc quần đảo Hanish thuộc lãnh thổ Eritrea. Eritrea có diện tích 118,000 km² và dân số ước tính khoảng 4.400.000 người. Thủ đô là Asmara.
Italia đã từng xâm chiếm Eritrea và chính phủ Italia xem Eritrea như một thuộc địa vào ngày 1 tháng 1 năm 1890. Năm 1936, Eritrea cùng với Ethiopia và một phần Somalia trở thành một tỉnh của Italia với tên gọi Đông Phi thuộc Ý (Ý Đông Phi). Người Anh thế chân người Ý quản lý Eritrea vào năm 1941 [4] dưới danh nghĩa vùng đất ủy trị của Hội Quốc Liên đến năm 1951 khi Eritrea liên kết với Ethiopia thông qua nghị quyết 390 của Liên Hiệp Quốc (tháng 12 năm 1950).
Cũng từ thời điểm này, tại Eritrea người dân nổi dậy chống lại sự hợp nhất với Ethiopia. Hành động này châm ngòi cho việc đi đến quyết định của chính phủ Ethiopia tuyên bố Eritrea là tỉnh thứ 14 của Ethiopia vào năm 1962. Hành trình tìm kiếm lại độc lập của Eritrea kéo dài 31 năm và kết thúc vào năm 1991 với sự trung gian hòa giải của Liên Hiệp Quốc. Theo đó sẽ tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về tương lai của Eritrea và người dân Eritrea đã chọn con đường trở thành một nước độc lập. Eritrea tuyên bố độc lập và được quốc tế công nhận vào năm 1993 [5].
Eritrea hiện là thành viên của Liên Hợp Quốc, Liên minh châu Phi và quan sát viên của Liên đoàn Ả Rập.

Lịch sử

Vào thời cổ đại, vùng lãnh thổ Eritrea hiện nay thuộc về vương quốc Aksum rồi đến vương quốc Ethiopia. Vùng này thuộc quyền kiểm soát của Đế quốc Ottoman vào thế kỉ 16. Năm 1889, lãnh thổ này bị Italia xâm chiếm và trở thành thuộc địa Italia theo Hiệp ước Uccialli. Người Italia đặt tên cho thuộc địa này theo tên biển Đỏ bằng tiếng La tinh, More Erythraeum. Thực dân Italia lấy nơi đây làm căn cứ xuất phát để xâm lược Ethiopia vào các năm 1896 và 1936.
Năm 1941, quân Đồng minh giải phóng Ethiopia. Eritrea thuộc quyền kiểm soát của quân đội Anh.
Năm 1952, Eritrea trở thành quốc gia liên bang tự trị thuộc Ethiopia và bị sáp nhập hoàn toàn vào Ethiopia năm 1962. Từ năm 1961, Mặt trận Giải phóng Eritrea phát động các cuộc đấu tranh vũ trang. Do sự chi phối của người Hồi giáo, phong trào này phân chia thành Mặt trận Giải phóng Eritrea và Mặt trận Giải phóng Dân tộc Eritrea năm 1970.
Sau khi Tổng thống Mengistu của Ethiopia bị lật đổ, chế độ mới ở Ethiopia chấp nhận nguyên tắc trưng cầu ý dân về quyền tự quyết Eritrea giành được độc lập năm 1993. Từ năm 1998, xung đột biên giới giữa Eritrea và Ethiopia gia tăng lên tầm mức của một cuộc chiến tranh, gây tổn thất lớn: cả hai đất nước nghèo khổ này đã tốn cả hàng triệu USD để mua máy bay chiến đấu và vũ khí. Khoảng 80.000 người bị chết và nhiều người phải đi tị nạn. Eritrea bị thất bại trước quốc gia láng giềng hùng mạnh và đông dân hơn, một Hiệp định hòa bình được kí kết vào tháng 12 năm 2000. Liên Hiệp Quốc đã triển khai hơn 4.000 quân tiếp tục giám sát vùng đệm giữa hai nước.
Tháng 4 năm 2002, một ủy ban về biên giới quốc tế đã giải quyết những tranh chấp biên giới giữa hai nước.
Hiện nay, Eritrea vẫn duy trì hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên Hợp Quốc, và khu vực biên giới chung dài 25 km với Ethiopia. Một uỷ ban Quốc tế, được thành lập để giải quyết cuộc xung đột biên giới đã công bố những kết luận của mình nhưng việc phân định ranh giới lần cuối vẫn chưa được thực hiện do sự phản đối từ phía Eritrea.
Trong cuộc bầu cử đầu tiên sau khi giành độc lập vào năm 1993, Isaias Afewerki đã đắc cử với 95% số phiếu ủng hộ.

Hệ thống hành chính

Eritrea được chia thành 6 vùng (zobas) và các vùng được chia thành các đơn vị nhỏ hơn gọi là quận (“sub-zobas”). Điểm đặc biệt là ranh giới các vùng được phân chia dựa trên đường phân thủy của các lưu vực sông. Việc này thực hiện cùng lúc hai mục đích của chính phủ trung ương là trao quyền cho chính quyền địa phương trong quản lý khả năng phát triển nông nghiệp và loại bỏ các yếu tố xung đột gây ra trong lịch sử liên quan đến tranh chấp tài nguyên nước.

Các vùng hành chính ở Eritrea

Các vùng với các quận của Eritrea gồm:

No. Vùng(zobas) Quận (sub-zobas)
1 Vùng Trung Tâm Berikh, Ghala-Nefhi, Semienawi Mibraq, Serejaka, Debubawi Mibraq, Semienawi Mi’erab, Debubawi Mi’erab
2 Vùng Phía Nam Adi Keyh, Adi Quala, Areza, Debarwa, Dekemhare, Mai Ayni, Mai Mne, Mendefera, Segeneiti, Senafe, Tserona
3 Vùng Gash Barka Agordat, Barentu, Dghe, Forto, Gogne, Haykota, Logo-Anseba, Mensura, Mogolo, Molki, Guluj, Shambuko, Tesseney, La’elay Gash
4 Vùng Anseba Adi Tekelezan, Asmat, Elabered, Geleb, Hagaz, Halhal, Habero, Keren City, Kerkebet, Sel’a
5 Vùng Bắc Hồng Hải Afabet, Dahlak, Ghel’alo, Foro, Ghinda, Karura, Massawa, Nakfa, She’eb
6 Vùng Nam Hồng Hải Are’eta, Central Dankalia, Southern Dankalia, Assab

Chính trị và chính phủ

Bài chi tiết: Chính trị ở Eritrea

Tòa nhà chính phủ Eritrea ở Asmara.

Eritrea là một quốc gia độc đảng dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Nhân dân Vì Dân chủ và Pháp lý (People’s Front for Democracy and Justice, PFDJ).[6]. Các nhóm chính trị khác không được phép hoạt động mặc dù Hiến pháp (không được thực thi) năm 1997 quy định sự tồn tại của đa đảng. Quốc hội Eritrea có 150 ghế trong đó EPLF chiếm 75 ghế. Các cuộc tổng tuyển cử đã được lên kế hoạch nhưng đều bị hủy bỏ, chưa có một cuộc tổng tuyển cử được tổ chức tại quốc gia này [7]. Các nguồn thông tin về hoạt động chính trị địa phương ở Eritrea hiếm khi được công bố. Tháng 9 năm 2001 chính phủ đóng cửa tất cả các cơ quan truyền thông tư nhân, những người có tiếng nói bất đồng đều bị bắt giam mà không cần xét xử [8].

Tổng tuyển cử

Tổng tuyển cử toàn quốc Eritrea được dự trù thực hiện trong năm 1995 nhưng sau đó trì hoãn đến 2001 với lí do là 20% lãnh thổ quốc gia còn bị Ethiopia chiếm giữ, các cuộc tổng tuyển cử sẽ được tiến hành sau khi xung đột với Ethiopia được giải quyết. Tuy nhiên, các cuộc bầu cử ở địa phương vẫn được tiến hành. Vòng bầu cử ở địa phương được tiến hành gần đây nhất là vào tháng Năm năm 2004.[9]

Quan hệ ngoại giao

Eritrea là thành viên chính thức của tổ chức Cộng Đồng Phi Châu (African Union-AU), tiền thân của Tổ chức Liên Minh Phi Châu (Organization of African Unity_OAU) ngày nay nhưng nước này đã rút quan sát viên khỏi tổ chức này vì cho rằng nước này đã không hành động đủ mạnh trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ giữa Eritrea và Ethiopia.
Mối quan hệ Eritrea và Hoa Kỳ khá phức tạp. Mặc dù hai quốc gia đã từng sát cánh trong cuộc chiến chống khủng bố nhưng mối quan hệ không mấy tốt đẹp ở các lĩnh vực khác. Từ tháng 11 năm 2008, mối quan hệ này trở nên xấu hơn khi trợ lý thư ký Hoa Kỳ Jendayi Frazer gọi Eritrea là quốc gia bảo trợ khủng bố và chính phủ Mỹ liệt nước này vào Trục ma quỷ gồm Iran và [[Cuba [10]. Lí do của hành động này là do sự hiện diện tại một cuộc họp của nhóm đối lập được tổ chức tại Asmara của Sheikh Hassan Dahir Aweys, một lãnh đạo Hồi Giáo li khai Somali có quan hệ với nhóm khủng bố Al Queda. Các trừng phạt về kinh tế có thể sẽ sớm được áp dụng [11]
Mối quan hệ với Italia và EU cũng căng thẳng trong ba năm trở lại đây.
Mối quan hệ với Ethiopia chuyển từ liên minh sang thù địch đưa đến cuộc chiến tranh từ tháng 5.1998 đến tháng 6.2000. Cuộc chiến này đã làm 123,000 người Ehiopia và 19,000 người Eritrea bỏ mạng [12][13][14].
Eritrea cũng có những xung đột biên giới với Sudan, một cuộc chiến với Yemen về chủ quyền quần đảo Hanish nổ ra năm 1996 và gần đây là các xung đột biên giới với Ethiopia.

Chính phủ và sự kiểm duyệt báo chí

Trong hai năm 2007 và 2008, tổ chức Phóng viên không biên giới xếp Eritrea hạng 169 toàn cầu trong Chỉ số tự do báo chí toàn cầu hằng năm. Eritrea thay thế vị trí cuối bảng được Bắc Triều Tiên nắm giữ trong nhiều năm [15][16]. Tổ chức này khẳng định rằng ở Eritrea các tờ báo tư nhân đã bị đóng cửa và bị chính phủ của tổng thống Isaias Afewerki xua đuổi. Tác giả của những bài báo có ý kiến phê bình chính phủ lập tức bị bỏ tù và trong số rất nhiều nhà báo bị cầm tù, 4 người đã chết trong sự giam cầm [15].
Xếp hạng Chỉ số tự do báo chí toàn cầu hằng năm của Eritrea

Năm Xếp hạng
2002 132 trên 139[17]
2003 162 trên 166[18]
2004 163 trên 167[19]
2005 166 trên 167[20]
2006 166 trên 168[21]
2007 169 trên 169[15]
2008 169 trên 169[16]

Nguồn: Tổ chức Phóng viên không biên giới

Địa lý

Địa hình đồi núi của Eirteria.

Bài chi tiết: Địa lý Eritrea

Eritrea nằm ở vùng Sừng Châu Phi, phía Đông và Đông Bắc giáp Hồng Hải. Quốc gia này gần như bị chia cắt bởi một trong những dãy núi dài nhất thế giới là địa hào Đông Phi (Great Rift Valley), với đất đai màu mỡ phía Tây, địa hình thấp dần xuống sa mạc ở phía Đông.
Afar Triangle hay còn gọi là Trũng Eritrea có thể là điểm giao nhau của ba mảng nền đang tách giãn là Mảng Arab và hai phần của Mảng Phi châu (phân mảng Nubian và phân mảng Somali). Sự tách giãn của ba mảng này làm cho Địa Hào Đông Phi ngày càng sâu và rộng. Điểm cao nhất cả nước là đỉnh Emba Soira, nằm ở trung tâm cả nước với độ cao 3,018 mét trên mực nước biển.
Các thành phố chính của Eritrea gồm thủ đô Asmara, thành phố cảng Asseb, thành phố Massawa ở phía đông và thành phố Keren ở phía bắc.

Môi trường

Eritrea là quê hương của nhiều quần thể voi. Các vua Ptoleme của Ai Cập đã từng sử dụng chúng như một lực lượng tham gia chiến đấu trong thế kỷ thứ III trước Công Nguyên. Trong khoảng thời gian từ 1955 đến 2001, không có một báo cáo nào cho thấy sự tiếp tục hiện diện của voi và chúng được cho là nạn nhân của chiến tranh giành độc lập. Tháng 12 năm 2001, người ta phát hiện khoảng 30 con với khoảng 10 con nhỏ gần sông Gash.[22]
Năm 2006, Eritrea trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giời chuyển toàn bộ vùng đất duyên hải thành khu bảo tồn thiên nhiên. Một khu vực với 1,347 km (837 dặm) đới ven bờ, cùng với 1,946 km (1,209 dặm) đường bờ với hơn 250 đảo nằm dưới sự bảo tồn của chính phủ.

Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Eritrea

Đàn ông ở Agordat

Giống như phần lớn các quốc gia Phi Châu khác, nền kinh tế Eritrea chủ yếu dựa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp với 80% dân số làm việc trong ngành trộng trọt và chăn nuôi. Hạn hán là nguyên nhân thiên tai chủ yếu tác động đến nền nông nghiệp nước này.[23]
Cuộc chiến giành độc lập với Ethiopia đã gây tổn thất nặng nề cho nền kinh tế. GDP giảm 1% vào năm 1999 và 2% vào năm 2000. Năm 2000, quân đội Ethiopia mở một cuộc tấn công lớn và miền Nam Eritrea gây thiệt hại 600 triệu USD cho nền kinh tế với 225 triệu tổn thất từ gia súc và 55,000 nhà cửa bị phá hoại. Cuộc tấn công này nhắm đến vùng sản xuất lương thực chính yếu của Eritrea gây ra việc sụt giảm 62% sảm lượng nông nghiệp [24][25]
Trong suốt những năm tháng chiến tranh, Eritrea cũng đã nỗ lực phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng như mở đường, cải thiện hệ thống cảng, sửa chữa những cung đường và cầu bị tàn phá do chiến tranh như là một phần của chương trình Warsay Yika’alo. Thành quả quan trọng nhất của dự án này là việc xây dựng tuyến quốc lộ ven biển dài hơn 500 km nối Massawa với Asseb cũng như khôi phục tuyến đường sắt quốc gia.
Tương lai nền kinh tế Eritrea khá mờ ám. Việc cắt đứt giao thương với Ethioipia, quốc gia trước đây luôn sử dụng các cảng của Eritrea để xuất nhập hàng hóa, để lại cho Eritrea nhiều lỗ hổng cần khỏa lấp. Tương lai nền kinh tế dựa vào nội lực của nền kinh tế cũng như giải quyết những vấn đề bức thiết như nạn mù chữ cao, lao động thiếu tay nghề, cơ sở hạ tầng lạc hậu.
Một báo cáo ngày 6 tháng 5 năm 2008 cho thấy Eritrea là quốc gia có giá nhiên liệu cao nhất thế giới với một gallon xăng có giá 9.58USD, cao hơn 85 cent so với quốc gia đứng thứ hai là Na Uy [26].
Hiện nay, tương lai của kinh tế Eritrea phụ thuộc vào khả năng giải quyết của Chính phủ trong các vấn đề xã hội như nạn mù chữ, thất nghiệp, trình độ kỹ năng tay nghề yếu kém cũng như thực sự thúc đẩy quá trình tư nhân hóa nền kinh tế và chỉ có thực hiện như vậy mới có thể tạo ra các nguồn lực để phát triển nền kinh tế.
Năm 2009, tổng sản phẩm quốc nội của Eritrea đạt 4,1 tỷ USD, tăng 2,5% so với năm 2008.
Hiện nay, nông nghiệp thu hút tới 80% lực lượng lao động nhưng chỉ đóng góp vàp khoảng 17,3% GDP của nước này (2009). Các nông sản chính của Eritrea là lúa miến, đậu lăng, rau, ngô, bông, sợi bông, thuốc lá, cà phê, sợi sidan, vật nuôi, ..
Công nghiệp của Eritrea khá nhỏ bé, đóng góp vào 23,2% GDP. Các ngành công nghiệp chính của nước này là: chế biến thực phẩm, bia, ngành dệt may, sản xuất xi măng, muối, sửa chữa tàu thương mại.
Dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP với tỉ trọng hiện nay là 59,5% (2009).
Về ngoại thương, năm 2009, Eritrea xuất khẩu 12 triệu USD hàng hoá các loại. Trong đó các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của đất nước này là vật nuôi, lúa miến, hàng dệt may, thực phẩm, và các sản phẩm sơ chế khác. Các thị trường xuất khẩu chính của Eritrea là Ireland, Mỹ, ItaliaThổ Nhĩ Kỳ.
Năm 2009, kim ngạch nhập khẩu của Eritrea đạt 590 triệu USD. Các mặt hàng mà nước này thường nhập là máy móc thiết bị, sản phẩm dầu lửa, thực phẩm và đồ tiêu dùng khác. Các đối tác nhập khẩu lớn của Eritrea là Ả Rập Xê Út, Ý, Ai Cập, Ấn Độ, Đức, Trung Quốc.

Xã hội

Dân cư

Một đán cưới tại Eritrea

Eritrea là một quốc gia đa chủng tộc. Một cuộc điều tra dân số độc lập cho thấy người TigrinyaTigre chiếm 80% dân số. Hai nhóm này hợp thành nhóm dân số nói tiếng Semitic, ngôn ngữ chính của quốc gia này.
Phần còn lại của dân số là tập hợp của những nhóm người Afro-Asiatic như người Saho, Hedareb, Afar, và Bilen. Những nhóm người này được xem là thổ dân đầu tiên của vùng Sừng Châu Phi. Ngoài ra còn có một số người thuộc nhóm Nilotic. Tại Asmara còn có sự hiện diện của một số ít người Eritrea gốc Ý và người Tigray gốc Ethiopia.
Mỗi một tộc người có một ngôn ngữ riêng, rất nhiều nhóm thiểu số sử dụng nhiều hơn một ngôn ngữ trong đời sống hằng ngày.
Nhóm người mới nhất ở Eritrea là người Rashaida. Họ du nhập vào nước này ở thế kỷ XIX [27] từ phía bên kia bờ Hồng Hải. Họ là những cư dân du mục, có quan hệ hôn phối với người Tigre và Beja. Tổng dân số của nhóm này khoảng 61,000 người, chiếm khoảng 1% dân số.
Những nhóm thiểu số ít có sự tác động đến đời sống của Eritrea.

Ngôn ngữ

Trẻ em Rashaidaở Eritrea Thấp

Bài chi tiết: Ngôn ngữ ở Eritrea

Có rất nhiều ngôn ngữ hiện đang được sử dụng thường nhật tại Eritrea. Quốc gia này có hai ngôn ngữ chính thức đồng thời là ngôn ngữ văn phòng chủ yếu là tiếng Tigrinya và tiếng Ả Rập. Tiếng Ý và tiếng Anh cũng được sử dụng rộng rãi [28]
Phần lớn ngôn ngữ tại Eritrea có nguồn gốc từ ngôn ngữ Sematic và Cushitic của họ Afro-Asiatic. Tiếng Sematic là tiếng Ả Rập cổ được sử dụng bởi các nhóm người Rashaida Arabs), Tigre, Tigrinya,và Dahlik. Tiếng Sematic của người Tigre và Tigrinya được sử dụng rộng rãi bởi 80% dân số. Tiếng Anh được sử dụng phổ biến trong giới học thức như là di sản của thời thuộc địa Anh. Tiếng Ý là di sản còn lại của thời thuộc địa Ý.

Giáo dục

Bài chi tiết: Giáo dục ở Eritrea

Có 5 cấp học tại Eritrea gồm Mẫu Giáo, Tiểu Học, Trung Ấu, Trung Học Cơ Sở, và Hậu Trung Học Cơ Sở. Có gần 238,000 học sinh đang theo học Tiểu Học, Trung Ấu, Trung Học Cơ Sở, và Hậu Trung Học Cơ Sở. Toàn quốc có khoảng 824 trường học [29] và 2 Đại Học (Đại học Asmara và Viện Khoa Học và Công Nghệ) cũng như nhiều trường Cao Đẳng và Trung Cấp Nghề khác.
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục Eritrea là cung cấp giáo dục căn bản cho người dân bằng tiếng mẹ đẻ cũng như phát triển khả năng tự tư duy của học sinh để chống lại đói nghèo và bệnh tật. Xa hơn là trang bị cho học sinh những kỹ năng làm việc cần thiết trong một nền kinh tế toàn cầu đang thay đổi.
Hệ thống giáo dục Eritrea cũng được thiết kế để khuyến khối doanh dân mở trường đào tạo, tạo cơ hội tiếp cận giáo dục công bằng đến mọi người như chống phân biệt giới tính, chống phân biệt chủng tộc, chống phân biệt tầng lớp trong xã hội, và thúc đẩy việc học tập suốt đời của người dân.
Rào cản trong giáo dục Eritrea là những định chế truyền thống, học phí, và chi phí cơ hội của các gia đình có thu nhập thấp [30].

Tôn giáo

Bài chi tiết: Tôn giáo ở Eritrea

Nhà thờ Enda Mariam Orthodox, Roman Catholic Cathedral, đằng sau là thánh đường Hồi Giáo Al Khulafa Al Rashiudin tại thủ đô Asmara.

Eritrea có hai tôn giáo chính là Hồi giáoCơ Đốc giáo với số lượng tín đồ xấp xỉ nhau. Phần lớn tín đồ Hồi Giáo thuộc phái Sunni, tín đồ Cơ Đốc thuộc dòng Chính Thống giáo và một số lượng tương đối lớn người theo Công giáo La Mã. Tin Lành và các nhóm khác cũng hiện diện trong đời sống tâm linh của nước này.
Từ tháng 5 năm 2002, chính quyền Eritrea chính thúc công nhận sự hoạt động của các tôn giáo: Chính Thống giáo, (Hồi giáo Sunni), Công giáo La Mã, và Giáo hội Luther. Các nhóm khác muốn tự do hoạt động phải trải qua một quá trình đăng ký nghiêm ngặt. Một trong những yêu cầu đó là các nhóm tôn giáo được yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân của các tín đồ cho nhà chức trách. Một số tổ chức tôn giáo dù đã đáp ứng tất cả các yêu cầu của chính phủ vẫn chưa được cấp phép hoạt động [cần dẫn nguồn]
Các nhóm Jehovah’s Witnesses, Bahá’í Faith, Seventh-day Adventist Church, và rất nhiều giáo phái Tin Lành không được cấp giấy phép và không thể hoạt động tự do. Chính phủ đã thực thi các lệnh cấm một cách có hiệu quả và nhiều giải pháp đã được đưa ra để ngăn chặn các tín đồ hành lễ. Nhiều người đã bị tống giam trong thời gian dài. Không một cái có cơ hội tiếp cận đến tòa án để khiếu kiện công bằng. Bảng báo cáo năm 2006 về Quyền Tự Do tín ngưỡng của Ủy Ban Tôn Giáo Hoa Kỳ đã xếp Eritrea 3 năm liên tiếp vào nhóm nước “Đặc Biệt Quan Ngại” về tự do tín ngưỡng [31].
Có một số ít người Do Thái còn tiếp tục sinh sống tại Eritrea, họ hình thành một cồng đồng của vài trăm người sinh sống tại thủ đô Asmara. Họ là con cháu của người Do Thái đã vượt biển từ Aden (Yemen) sang vào nửa cuối thế kỷ XIX [32][33].

Văn hóa

Món ăn truyền thống Kitcha fit-fit

Bài chi tiết: Văn hóa Eritrea

Eritrea có sự giao lưu thượng mại từ lâu đời với nhiều quốc gia trên thế giới, điều này thể hiện rõ nét trong một nền văn hóa đa dạng của đất nước. Thủ đô Asmara là nơi diễn ra sự giao lưu mạnh mẽ nhất. tại đây người ta có thể thấy sự hiện diện của các quán cà phê phục vụ các thức uống tương tự như tại Ý. Ở đây cũng đồng thời hiện diện sự pha trộn ven hóa bản xứ của người Tigrinya với văn hóa Ý. Điều này gần như không thấy xuất hiện tại các vùng nông thôn.
Trong thời thuộc địa và những năm đầu lập quốc, các phim Ấn của Bollywood thịnh hành tại thành thị trong khi phim Mỹ và Ý thì được trình chiếu trong các rạp. Sự thay đổi đã diễn ra vào những năm 1980 và khi Eritrea độc lập từ Ethiopia, phim Mỹ dần trở nên phổ biến. Sự cạnh tranh còn có sự tham gia của những nhà làm phia địa phương.

A traditional Nilotic Kunama herder posing for a picture near Barentu, Zoba Gash-Barka.

Trang phụ truyền thống của người Eritriea tương đối đa dạng. Phụ nữ vùng thấp mặc đầm truyền thống có màu nhạc trong khi áo đầm truyền thống của người Tigrinya có màu trắn nhẹ. Người Hồi giáo vẫn giữ trang phục truyền thống của họ với mạn che đầu.
Các môn thể thao phổ biến ở Eritrea có bóng đá và cưỡi xe đạp. Trong những năm gần đây, các vận động viên điền kinh của Eritrea đạt được những thành công nhất định trên đấu trường quốc tế.
Gần như duy nhất ở lục địa đen có một giải đua xe đạp quy mô lớn là Tour of Eritrea. Giải đấu này được hình thành từ thời thuộc địa, năm 1946 [34]. Đường đua bắt đầu từ những bãi biển của Masawa để leo lên vùng cao với các thung lũng và hẻm vực của thủ đô Asmara. Từ đây, các courer để đèo để xuống vùng đất thấp Gash-Barka Zone, và trở về thủ đô từ hướng Nam.

Tham khảo

  1. ^ The new book of knowledge- Grolier, volume “E”. Article- Eritrea.
  2. ^ a ă â b “Eritrea”. Quỹ tiền tệ Quốc tế. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2008.
  3. ^ http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/cn_vakv/
  4. ^ Eritrea Regions
  5. ^ “Eritrea – The spreading revolution”. Encyclopædia Britannica Article. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2007.
  6. ^ “Country profile: Eritrea”. BBC News. 17 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2008.
  7. ^ “Government – overview”. World Factbook. CIA. 24 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2008.
  8. ^ “2005 Executive Summary”. International Religious Freedom Report. Bureau of Democracy, Human Rights and Labor. 8 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2008.
  9. ^ “Interview of Mr. Yemane Gebremeskel, Director of the Office of the President of Eritrea”. PFDJ. 1 tháng 4 năm 2004. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2006.
  10. ^ “Embargoed Countries”. US Department of State. 6 tháng 10 năm 2008.
  11. ^ “How Eritrea fell out with the west”. BBC. 11 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2007.
  12. ^ “Eritrea reveals human cost of war”. BBC News.
  13. ^ Claimed on 8 tháng 4 năm 2002 by the Voice of the Democratic Path of Ethiopian Unity, an Ethiopian clandestine opposition group operating from Germany. The claim also stated that each family that lost a member in the war would receive $350 in indemnity, but this number has not been verified, although it has been often cited by other groups (see Number of war dead soldiers reportedly 123,000 – internet news message; and clandestineradio.com audio button), and no indemnities have been paid (tính đến 2007). Shinn, Historical Dictionary of Ethiopia, p. 149
  14. ^ “Ethiopia: Number of war dead soldiers reportedly 123,000” (bằng Amharic). Wonchif. 2001-04-10.
  15. ^ a ă â Reporters sans frontières – Annual Worldwide Press Freedom Index – 2007
  16. ^ a ă [1]
  17. ^ Reporters sans frontières – Annual Worldwide Press Freedom Index – 2002
  18. ^ Reporters sans frontières – Annual Worldwide Press Freedom Index – 2003
  19. ^ Reporters sans frontières – Annual Worldwide Press Freedom Index – 2004
  20. ^ Reporters sans frontières – Annual Worldwide Press Freedom Index – 2005
  21. ^ Reporters sans frontières – Annual Worldwide Press Freedom Index – 2006
  22. ^ “The rediscovery of Eritrea’s elephants”. BBC Wildlife Magazine. July năm 2003. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2007.
  23. ^ An Environmental Impact Assessment of African Armyworm Control in Eritrea: An Amendment to the “Eritrean Supplemental Environmental Assessment For Grasshopper And Locust Control”.
  24. ^ “Economy – overview”. CIA. 6 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2006.
  25. ^ “Aid sought for Eritrean recovery”. BBC. 22 tháng 2 năm 2001. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2006.
  26. ^ “U.S. gas: So cheap it hurts”. CNN Money. 6 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2008.
  27. ^ Alders, Anne. “the Rashaida”. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2006.
  28. ^ Languages of Eritrea – Tigrinya
  29. ^ Baseline Study on Livelihood Systems in Eritrea. National Food Information System of Eritrea. 2005.
  30. ^ Kifle, Temesgen (2002). Educational Gender Gap in Eritrea.
  31. ^ “Eritrea. International Religious Freedom Report 2008”. U.S. Department of State. Bureau of Democracy, Human Rights, and Labor. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2008.
  32. ^ “Asmara’s last Jew recalls ‘good old days’”. BBC. 30 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2006.
  33. ^ “Eritrea’s last native Jew tends graves, remembers”. Y Net News. 2 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2006.
  34. ^ http://www.maitacli.it/arg_menu/Sport/Ciclismo/giro_di_vitta.htm Tour đầu tiên của Eritrea (trong tiếng Ý)

Đọc thêm

Liên kết

Chính phủ
Thông tin chung


Mao Trạch Đông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mao Trạch Đông
毛泽东
{{{caption}}}
Mao Trạch Đông
Chủ tịch Đảng Cộng Sản Trung Quốc
Nhiệm kỳ 20 tháng 3, 1943 – 9 tháng 9, 1976
Kế nhiệm Hoa Quốc Phong
Phó Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ
Lâm Bưu
Chu Ân Lai
Hoa Quốc Phong
Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Nhiệm kỳ 27 tháng 9, 1954 – 27 tháng 4, 1959
Kế nhiệm Lưu Thiếu Kỳ
Phó Chủ tịch Chu Đức
Chủ tịch Quân ủy Trung ương
Nhiệm kỳ 8 tháng 9, 1954 – 9 tháng 9, 1976
Kế nhiệm Hoa Quốc Phong
Chủ tịch Hiệp Chính
Nhiệm kỳ 1 tháng 10, 1949 – 25 tháng 12, 1976
Kế nhiệm Chu Ân Lai
Ủy viên Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc
Đại diện Khu vực Bắc Kinh (54 – 59; 64 – 76)
Đảng Danghui.svg Đảng Cộng sản
Sinh 26 tháng 12, 1893
Thiều Sơn, Tương Đàm, Hồ Nam, Đại Thanh Quốc
Mất 9 tháng 9, 1976 (82 tuổi)
Bắc Kinh, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Dân tộc Hán
Tôn giáo Không
Phu nhân La Thị (罗一秀)
Dương Khai Tuệ (杨开慧)
Hạ Tử Trân (贺子珍)
Giang Thanh (江青)
Con cái Mao Ngạn Anh (毛岸英)
Mao Ngạn Thanh (毛岸青)
Mao Ngạn Long
Lý Mẫn (李敏)
Lý Nạp (李讷)
Chữ kí Mao Zedong Signature.svg

(Trung văn phồn thể: 毛澤東; giản thể: 毛泽东; phanh âm: Máo Zédōng; 26 tháng 12 năm 1893 – 9 tháng 9 năm 1976), tự Nhuận Chi (潤之) [ban đầu là Vịnh Chi (詠芝), sau đổi là Nhuận Chi (潤芝, chữ “chi” 之 có thêm đầu chữ thảo 艹], bút danh: Tử Nhậm (子任) là Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1943 đến khi qua đời. Dưới sự lãnh đạo của ông, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã giành thắng lợi trong cuộc nội chiến với Quốc Dân Đảng, lập nên nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) năm 1949 và trở thành đảng cầm quyền ở Trung Quốc.
Ông đã tạo ra một chủ nghĩa Mác-Lênin được Trung Quốc hóa có tên là chủ nghĩa Mao mà ngày nay ban lãnh đạo Trung Quốc gọi là tư tưởng Mao Trạch Đông (Những người theo chủ nghĩa này gọi là những người Mao-ít (Maoist), tương tự như Marxist, Leninist).
Mao Trạch Đông là người có công trong việc gần như thống nhất được Trung Quốc, đưa Trung Quốc thoát khỏi ách áp bức của ngoại quốc kể từ cuộc Chiến tranh Nha phiến cuối thế kỷ 19, nhưng cũng bị phê phán về trách nhiệm của ông trong nạn đói 1959–1961 và những tai họa của Cách mạng văn hóa. Dưới thời ông, nông nghiệp Trung Quốc được tập thể hóa dưới hình thức công xã nhân dân. Chính sách Đại nhảy vọt) trong kinh tế đã để lại những hậu quả tai hại. Mao Trạch Đông cũng là người phát động Đại Cách mạng văn hóa vô sản, thường gọi là Cách mạng văn hóa. Theo một số liệu thống kê[1], Mao Trạch Đông là nhà lãnh đạo đã trực tiếp hay gián tiếp gây ra cái chết cho khoảng 1 triệu người.[2]
Mao Trạch Đông thường được gọi một cách tôn kính tại Cộng hòa Nhân dân Trung HoaMao Chủ tịch (毛主席). Vào thời đỉnh cao của sự sùng bái cá nhân, ông được tôn là người có bốn cái “vĩ đại”: Người thầy vĩ đại, Lãnh tụ vĩ đại, Thống soái vĩ đại, Người cầm lái vĩ đại (伟大导师,伟大领袖,伟大统帅,伟大舵手 vĩ đại đạo sư, vĩ đại lãnh tụ, vĩ đại thống soái, vĩ đại đà thủ).

Những năm đầu

Là con út trong một gia đình trung nông, Mao Trạch Đông sinh giờ Thìn ngày 19 tháng 11 năm Quý Tị (năm Quang Tự thứ 19) theo âm lịch, tức 26 tháng 12 năm 1893 tại làng Thiều Sơn, huyện Tương Đàm (湘潭縣), tỉnh Hồ Nam. Dòng tộc của ông vào thời nhà Minh đã di cư từ tỉnh Giang Tây đến đây và nhiều đời làm nghề nông.
Trong cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911), lúc này Mao còn là một học sinh 18 tuổi, triều nhà Thanh bị lật đổ, Trung Quốc tuyên bố thành lập chế độ cộng hòa; người lãnh đạo Cách mạng không thành lập được một chính phủ thống nhất và vững vàng, dẫn đến cuộc nội chiến trong một thời gian dài. Khi Mao đang phục vụ trong quân đội tỉnh Hồ Nam. Sau đó Mao trở về trường học. Sau khi tốt nghiệp Trường Sư phạm số 1 tỉnh Hồ Nam vào năm 1918, Mao cùng với người thầy học và là cha vợ tương lai, giáo sư Dương Xương Tế (杨昌济), lên Bắc Kinh, nơi giáo sư Dương nhận một chân giảng dạy tại Đại học Bắc Kinh. Nhờ sự giới thiệu của giáo sư Dương, Mao được vào làm nhân viên thư viện của trường đại học (thư viện do Lý Đại Chiêu phụ trách). Đồng thời Mao học tại chức tại Đại học Bắc Kinh, nghe nhiều học giả hàng đầu như Trần Độc Tú, Hồ Thích (胡適) và Tiền Huyền Đồng (錢玄同) giảng bài. Sau này Mao kết hôn với Dương Khai Tuệ, con gái giáo sư Dương và cũng là sinh viên Đại học Bắc Kinh. (Khi Mao 14 tuổi, bố ông đã sắp xếp cho ông lấy một cô gái cùng làng là La thị (羅氏), nhưng Mao không công nhận cuộc hôn nhân ép buộc này.)

Bức truyền thần Chủ tịch Mao Trạch Đông

Sau phong trào Ngũ Tứ, Mao về Hồ Nam tổ chức đoàn thanh niên, ra hai tờ báo tuyên truyền cách mạng là Tương Giang bình luậnTân Hồ Nam. Hai tờ báo này bị đóng cửa và Mao bị trục xuất khỏi Hồ Nam. Năm 1920, Mao đã tham gia tiểu tổ cộng sản ở Trường Sa (Hồ Nam).
Ngày 23 tháng 7 năm 1921, Mao đã tham gia Đại hội lần thứ nhất thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Thượng Hải. Hai năm sau, tại Đại hội lần thứ ba (1923), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương của Đảng chỉ gồm 5 người. Tháng 1 năm 1924, theo chủ trương Quốc – Cộng hợp tác, Mao Trạch Đông tham dự Đại hội lần thứ nhất Quốc dân Đảng họp ở Quảng Châu và được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng. Sau đó ông lên đường đi Thượng Hải làm việc tại cơ quan Ban chấp hành Quốc dân Đảng, rồi sang năm sau lại về Quảng Châu làm quyền trưởng Ban tuyên truyền của Quốc dân Đảng, rồi kiêm thêm một chân trong Ủy ban vận động nông dân của đảng này. Lúc này ông đã bị Trần Độc Tú đẩy ra khỏi Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản tại Đại hội 4 họp vắng mặt ông vào tháng 1 năm 1925. Tại Đại hội lần thứ hai Quốc dân Đảng (tháng 1 năm 1926), ông lại được bầu làm ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng và làm quyền Trưởng ban Tuyên truyền đến tháng 5 năm 1926.
Sau khi Tưởng Giới Thạch quay sang đàn áp Đảng Cộng sản, Mao Trạch Đông chủ trương đấu tranh vũ trang với Tưởng nhưng không được Trần Độc Tú chấp nhận và bị thất sủng. Mao Trạch Đông bèn lui về quê cho ra đời Báo cáo khảo sát phong trào nông dân Hồ Nam, tác phẩm quan trọng đầu tiên của chủ nghĩa Mao.

Chiến tranh và cách mạng

Mao thoát được bạch sắc khủng bố vào năm 1927 và lãnh đạo Cuộc khởi nghĩa Vụ gặt Mùa thuTrường Sa, Hồ Nam nhưng thất bại. Tàn quân du kích chưa đầy 1.000 người của Mao tìm nơi ẩn náu ở vùng núi Tỉnh Cương Sơn, nơi giáp giới giữa hai tỉnh Hồ Nam và Giang Tây. Năm 1928 đội quân này hợp nhất với quân của Chu Đức, lập ra Quân đoàn 4 công nông, do Chu Đức làm Quân đoàn trưởng. Mao đã góp phần xây dựng căn cứ, chính quyền và một quân đội tiến hành chiến tranh du kích có hiệu quả, thực hiện cải cách ruộng đất. Chính tại nơi đây từ 1931 đến 1934, nhà nước Cộng hòa Xô-viết Trung Hoa được lập ra và Mao được bầu làm Chủ tịch Chính phủ Trung ương lâm thời. Vào thời kỳ này, Mao kết hôn với Hạ Tử Trân, sau khi Dương Khai Tuệ bị lực lượng Quốc dân Đảng giết chết.
Khu Xô-viết này trở thành nơi trú ngụ của Ban Lãnh đạo Đảng Cộng sản chạy trốn sự khủng bố của Tưởng Giới Thạch ở các thành phố lớn, chủ yếu là Thượng Hải. Dưới áp lực của các chiến dịch bao vây càn quét của Quốc dân Đảng, trong nội bộ Ban Lãnh đạo Đảng Cộng sản diễn ra cuộc tranh giành quyền lực và đấu tranh về đường lối và chiến thuật. Phe theo đường lối chính thống của Moskva, mà đại diện là nhóm 28 người Bolshevik, đã thắng thế và Mao dần dần bị gạt ra khỏi các chức vụ quan trọng.

Mao năm 1931

Với quyết tâm tiêu diệt bằng được những người cộng sản, tháng 10 năm 1934 Tưởng Giới Thạch trực tiếp chỉ huy 50 vạn quân bao vây tấn công khu Xô-viết trung ương, buộc Hồng quân phải mở đường máu rời bỏ nơi đây, tiến hành cuộc Vạn lý trường chinh cực kỳ gian khổ, vượt 9.600 km trong suốt một năm trời để đến tỉnh Thiểm Tây xây dựng căn cứ mới. Trên đường trường chinh Mao Trạch Đông đã bước lên nắm quyền lãnh đạo từ Hội nghị Tuân Nghĩa họp vào tháng 1 năm 1935. Tại hội nghị này, Chu Ân Lai ngả về phía Mao, Tổng Bí thư Bác Cổcố vấn quân sự Otto Braun (tên Trung Quốc là Lý Đức) bị hạ bệ, Mao vào Ban thường vụ Bộ Chính trị, nắm quyền thực tế và năm 1943 được bầu làm Chủ tịch Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Từ căn cứ mới ở Diên An, Mao đã lãnh đạo những người cộng sản tiến hành cuộc kháng chiến chống Nhật (19371945) thông qua hợp tác Quốc–Cộng lần thứ hai. Tại đây, Mao đã củng cố quyền lực trong Đảng Cộng sản bằng cách mở cuộc vận động chỉnh phong. Tại Đại hội lần thứ 7 của Đảng Cộng sản Trung Quốc họp tại Diên An tháng 6 năm 1945, Mao được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng. Cũng tại Diên An, Mao ly thân với Hạ Tử Trân và lấy Lam Bình, một diễn viên mới tới Diên An mà sau này khuynh đảo chính trường Trung Quốc với tên gọi là Giang Thanh.
Ngay sau khi Chiến tranh Trung-Nhật kết thúc, nội chiến đã diễn ra giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản, kết thúc bằng thắng lợi của Đảng Cộng sản vào năm 1949.

Lãnh đạo Trung Quốc

Mao Trạch Đông thuộc phái tả kiên định, năm 1920, Mao trở thành người Mác xít. Năm 1921, là một trong 21 người sáng lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng mãi đến năm 1935, Mao mới trở thành người lãnh đạo của Đảng. Đảng Cộng sản Trung Quốc sau hai lần thất bại vào năm 1927 và 1934, nhưng cuối cùng cũng vượt qua được nhờ Mao Trạch Đông lên nắm quyền lãnh đạo Đảng, lực lượng của Đảng dần được củng cố mạnh lên. Đến năm 1947, Mao Trạch Đông đã chuẩn bị phát động cuộc tấn công toàn diện vào Chính phủ Quốc Dân Đảng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu.
Mao Trạch Đông lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc giành chính quyền năm 1949 và giải phóng toàn bộ đại lục Trung Quốc; trong suốt 27 năm, ông đã kiên trì thực hiện công cuộc cải cách vĩ đại mang ý nghĩa sâu xa trên đất nước Trung Quốc. Sau khi đánh bại Trung Hoa Dân Quốc, Mao cho thiết quân luật ở Trung Quốc. Vấp phải sự phản đối của một số tướng lĩnh then chốt trong guồng máy cộng sản, Mao cho ám sát và đưa đi an trí một số người như: Đặng Tiểu Bình, Chu Đức,…
Từ năm 1949 đến 1976, Mao Trạch Đông luôn là nhân vật quan trọng nhất trong Chính quyền Trung ương Trung Quốc. Mao phải chịu trách nhiệm chính về phong trào “Đại nhảy vọt” vào thời kỳ cuối những năm 50 của thế kỷ XX – Đây là kế hoạch với ý đồ nhấn mạnh biện pháp sản xuất quy mô nhỏ, sản xuất thủ công, nhưng cuối cùng bị thất bại và phải hủy bỏ. Kế hoạch tiếp theo mà Mao ủng hộ là cuộc “Đại Cách mạng văn hóa vô sản” vào những năm 60 của thế kỷ XX.
Có điều đặc biệt là khi phát động “Đại nhảy vọt”, Mao Trạch Đông đã hơn 60 tuổi; còn “Đại Cách mạng văn hóa” diễn ra lúc ông gần 70 tuổi; và khi quyết định thiết lập ngoại giao với Hoa Kỳ thì Mao đã gần 80 tuổi.

Qua đời

Mao Trạch Đông qua đời ngày 9 tháng 9 năm 1976, 10 phút sau nửa đêm ở thủ đô Bắc Kinh. [3]
Ông chết vì bệnh xơ cứng teo cơ (tên khoa học amyotrophic lateral sclerosis), ở Hoa Kỳ bệnh này thường được gọi là Lou Gehrig’s hoặc Motor Neurone, cùng một căn bệnh với Stephen Hawking. Sức khỏe của Mao Trạch Đông đã rất kém trong nhiều năm và suy giảm rất rõ rệt trong thời gian vài tháng trước khi chết. Thi hài ông được an táng tại Đại lễ đường nhân dân. Lễ tưởng niệm ông cử hành vào ngày 18 tháng 9 năm 1976 tại quảng trường Thiên An Môn. Trong lễ tưởng niệm có 3 phút mặc niệm. Sau đó thi hài ông được đặt trong Lăng Mao Trạch Đông, mặc dù ông muốn được hỏa táng và là nhà lãnh đạo cấp cao đầu tiên ký văn bản chính thức vào tháng 11 năm 1956 quy định tất cả những người lãnh đạo cấp trung ương sau khi chết sẽ được an táng theo nghi thức hỏa táng. [4]

Đánh giá

Theo cuốn Mao Trạch Đông ngàn năm công tội, của Tân Tử Lăng, do nhà xuất bản Thư Tác Phường ấn hành tháng 7 năm 2007 viết:

Nhân dân đã thức tỉnh. Việc tiếp tục treo ảnh Mao trên Thiên an môn, tiếp tục để thi hài Mao ở nhà kỷ niệm là lạc hậu so với quần chúng rồi, cần xử lý thỏa đáng đất nước ta triệt để bóng đen Mao Trạch Đông
—Tân Tử Lăng
Đánh giá một nhà chính trị thời kỳ cận đại là rất khó khăn; Có thể so sánh Mao Trạch Đông với Tần Thủy Hoàng; vì họ đều là người Trung Quốc, đều là các nhà cải cách. Nếu so sánh Mao Trạch Đông với Lê Nin cũng là xác đáng, họ đều sống ở thế kỷ 20, Mao Trạch Đông là người kiến tạo Chủ nghĩa Marx ở Trung Quốc, cũng như Lê Nin là người đặt nền móng cho Chủ nghĩa Marx ở nước Nga. Mới nhìn ta thấy Mao Trạch Đông gần như nổi bật hơn Lê Nin vì Trung Quốc có số dân gấp ba lần Liên Xô, nhưng Lê Nin có trước và đã là một tấm gương cho Mao Trạch Đông, có ảnh hưởng đối với Mao Trạch Đông.
—NXB CTQG

Gia đình

Những người vợ

  • La Thị (羅氏) (1889–1910), do gia đình sắp đặt nhưng Mao không công nhận và hai người chưa hề ăn ở với nhau. Kết hôn năm 1907. Không có con.
  • Dương Khai Tuệ (杨开慧, 1901–1930) ở Trường Sa, kết hôn năm 1921, sống với nhau đến năm 1927, bị Quốc dân Đảng hành quyết năm 1930. Bà sinh được 3 người con trai.
  • Hạ Tử Trân (贺子珍, 1909? / tháng 8 năm 1910 – 19 tháng 4 năm 1984) người Vĩnh Tân, tỉnh Giang Tây, kết hôn từ tháng 5 năm 1928, đến năm 1937 thì bà sang Liên Xô chữa bệnh. Bà sinh nở 6 lần nhưng 5 con chết non hoặc mất tích và chỉ có Lý Mẫn trưởng thành.
  • Giang Thanh (江青): kết hôn từ năm 1938 đến lúc Mao mất. Có 1 con gái là Lý Nạp.

Ông nội, cụ và bố mẹ

Anh chị em

Bố mẹ Mao Trạch Đông có cả thảy 5 con trai và 2 con gái. Hai người con trai và cả 2 con gái chết sớm, còn lại 3 anh em Mao Trạch Đông, Mao Trạch Dân, Mao Trạch Đàm. Cũng như Dương Khai Tuệ, Mao Trạch Dân và Mao Trạch Đàm đều bị Quốc dân Đảng giết hại trong thời kỳ nội chiến.

Ngoài ra Mao Trạch Kiến (毛泽建, 19051929) tức Mao Trạch Hồng là chị họ, bị Quốc dân Đảng giết hại năm 1930

Những người con

Lưu ý là tên đệm trong từng thế hệ gia đình Mao là giống nhau, tuần tự các đời là Tổ-Ân-Di-Trạch-Ngạn. Các con của Mao Trạch Dân và Mao Trạch Đàm có tên đệm là Viễn.

Các tác phẩm

  • Thực tiễn luận (Luận về vấn đề “thực tiễn”)
  • Mâu thuẫn luận (Luận về vấn đề “mâu thuẫn”)
  • Luận trì cửu chiến (Luận về đánh lâu dài)
  • Tân dân chủ chủ nghĩa luận (Luận về chủ nghĩa dân chủ mới)
  • Mao Trạch Đông ngữ lục (Tổng hợp các câu nói ấn tượng của Mao Trạch Đông)
  • Hồng bảo thư

Những câu nói nổi tiếng

Chính trị là chiến tranh không có đổ máu, chiến tranh là chính trị có đổ máu
Súng đẻ ra chính quyền
Nông thôn bao vây thành thị

Chú thích

Đọc thêm

Liên kết ngoài

Sayings of Chairman Mao [1]

Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nhà kỷ niệm Mao Trạch Đông
毛主席纪念堂
Mausoleum of Mao Zedong P1090218.jpg
Đối diện mặt trước lăng, 16h31, 11/3/2006
Thông tin chung
Địa điểm Quảng trường Thiên An Môn
Thành phố Bắc Kinh
Quốc gia Flag of the People's Republic of China.svg Trung Quốc
Tọa độ 39°54′04″B 116°23′29″ĐTọa độ: 39°54′04″B 116°23′29″Đ
Sở hữu Ban quản lý
Xây dựng
Khởi công 9/9/1976
Hoàn thành 24/5/1977
Phá dỡ Đang tồn tại

Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch (giản thể: 毛主席纪念堂, phồn thể: 毛主席紀念堂, bính âm: Máo Zhǔxí Jìniàntáng, Hán Việt: Mao chủ tịch Kỷ niệm đường), tiếng Việt thường gọi là Lăng Mao Trạch Đông. Đây là nơi đặt thi thể của Mao Trạch Đông, chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tòa nhà này nằm giữa Quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh. [1]
Ý nguyện của Mao Trạch Đông là được hỏa táng khi chết, nhưng thực tế thi thể ông được ướp và trưng bày trong Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch. Việc xây dựng Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch được tiến hành ngay sau khi ông qua đời. Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch có diện tích 70.000 mét vuông hoàn tất năm 1977. Với dòng chữ “毛主席纪念堂” (Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch) bằng bạch kim trên nền đá hoa cương màu mận. Sừng sững và uy nghiêm của 44 cột đá xung quanh tòa nhà được tô điểm thêm mái ngói men vàng, tạo thành một tổng thể kiến trúc cực kì uy nghiêm.
Hệ thống cung cấp điện ánh sáng, chống ẩm được cải tạo và thiết kế mới. Tòa nhà chia thành nhiều tầng lớp giám sát đảm bảo an toàn, do cơ quan trung ương điều khiển chỉ huy.

Quá trình ướp xác

Theo tiết lộ của Lý Chí Thỏa, bác sĩ riêng của Mao Trạch Đông thì khi Mao mất, vì lúc đó quan hệ Trung Quốc với Liên Xô đang xấu nên họ gửi hai người đến Hà Nội để học hỏi cách bảo quản thi hài, theo cách bảo quản thi hài Hồ Chí Minh tại Lăng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, chuyến đi không kết quả vì Việt Nam từ chối chia sẻ kinh nghiệm và còn không cho các nhà khoa học Trung quốc xem thi hài Hồ Chí Minh. [2] [3]

Xây dựng

Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch được khởi công xây dựng sau khi Mao Trạch Đông qua đời (9 tháng 9, 1976). Lễ động thổ diễn ra vào ngày 24 tháng 11, 1976, hoàn thành ngày 24 tháng 5, 1977. Một người trong đội xây dựng Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch viết chữ lên tấm bảng của Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch. Trên một tờ báo của Trung Quốc, vào đầu năm 1977, người dân khắp nước Trung Quốc đổ về để thiết kế và xây dựng Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch. Nhiều vật liệu có chất liệu tốt được chuyển về như đá granite từ Tứ Xuyên, đĩa sứ từ Quảng Đông, gỗ thông từ Diên An, Thiểm Tây, đá từ núi Thiên Sơn, sỏi từ Nam Kinh
Nước và cát từ eo biển Đài Loan cũng đã được đưa về để tượng trưng cho sự nhất thống của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Hơn 70.000 người đến từ Bắc Kinh, Giang Tô, Sơn Tây, Vân Nam, Thượng Hải, Hồ Nam… đã tự nguyện lao động để xây dựng Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch đẹp hơn, nghiêm trang hơn. Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch được đóng cửa tạm thời để cải tạo trong vòng 9 tháng. Đến tháng 9 được mở cửa trở lại để người đến viếng. Trong nhà kỷ niệm có xây dựng hệ thống chiếu sáng, chống ẩm, thang máy tự động an toàn, đáng tin cậy nhất trong lăng.

Ngày 11/9, tôi được thông báo giao phụ trách tổ công tác bảo quản thi hài Chủ tịch Mao Trạch Đông. Khi đó tôi mới biết thi hài ông phải được bảo quản, lưu giữ lâu dài và xây dựng nhà kỷ niệm để mọi người vào viếng. Rõ ràng quyết định này mới được đưa ra, có lẽ là trong ngày hôm đó. Tôi tuy đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ y tế quan trọng, nhưng lần này lại không thấy tự tin như các lần trước. Bảo quản thi thể không khó, yêu cầu chỉ là để lâu không bị phân hủy, điều này đều đã có các phương pháp khoa học. Nhưng bảo quản thi hài để mọi người chiêm ngưỡng di hài thì lại khác, yêu cầu sắc mặt, thần thái, dung mạo phải đạt chuẩn, lại còn chịu ảnh hưởng bởi chiếu sáng, nhiệt độ và độ ẩm.
Là một bác sỹ lâm sàng, kiến thức của tôi về mặt này không nhiều, thực tế lại không có phương pháp khoa học chắc chắn, trong khi đó yêu cầu phải kịp thời áp dụng các biện pháp bảo quản, không được để lỡ thời gian kẻo gây nên tổn thất không thể bù đắp được. Nhiệm vụ chính trị vô cùng trọng đại đó, tuy rất nhiều khó khăn nhưng không thể không đảm đương, vì vậy tâm tư của tôi rất phức tạp… (Ngô Giới Bình)

[4]

Mô tả

Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch có diện tích 70.000 m vuông, được thiết kế vào tháng 8 năm 1977. Trên đỉnh nhà kỷ niệm là dòng chữ “毛主席纪念堂” (Nhà tưởng niệm Mao Chủ tịch) bằng bạch kim trên nền đá hoa cương màu mận. Xung quanh lăng sừng sững với hơn 40 cột đá xung quanh được tô điểm thêm một màu vàng.
Trước nhà kỷ niệm là cửa được làm bằng gỗ quý từ Hồ Nam. Trên bức tường trong nhà kỷ niệm là lá cờ đỏ năm sao được khắc bằng đá quý trên bức tường đá mài đen. Trong phòng đặt thi hài có hệ thống chiếu sáng, chống ẩm và thang máy tự động. Trong lồng kính, Mao Trạch Đông đang nằm với bộ quần áo quân phục, trên là lá đảng kỳ Đảng Cộng sản Trung Quốc đắp lên người chủ tịch. Hai bên là những cây dương xỉ xanh và bức tường làm bằng gỗ quý Sơn Đông. Một hệ thống kiểm soát an ninh được trang bị trước lăng. Bên cạnh đó là những cửa hàng bán hoa.
Sân trước có một tượng đài để tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. 4 phía lăng đều có trồng cây thông tươi tốt quanh năm. Hai bên lăng là Đại lễ đường Nhân dân và Nhà tưởng niệm các anh hùng, bảo tàng quốc gia. Sân sau là lối đi rộng để nghỉ ngơi và các khu tiếp theo của quảng trường Thiên An Môn và khu lưu niệm.

Hoạt động

Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch mở cửa hoạt động 5 ngày trong 1 tuần, thứ ba, tư, năm, bảy, chủ nhật. Mở cửa từ 7:30-11:30 vào mùa nóng và 8:30-12:00 vào mùa lạnh. Vào ngày lễ và chủ nhật Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch sẽ mở cửa thêm 30 phút. Riêng thứ hai và thứ sáu Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch đóng cửa để cải tạo lại. Khoảng vào giữa tháng 11, Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch tạm đóng cửa để tu bổ lại. Sau sinh nhật Mao Trạch Đông Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch tạm thời đóng cửa để bổ sung phần nước còn thiếu vào thi hài Mao Trạch Đông để giữ gìn được lâu dài.

Khách đến tham quan

Ở Nhà kỷ niệm Mao Chủ tịch, khách vào cửa miễn phí, phải qua cổng kiểm soát an ninh. Khách đến tham quan phải ăn mặc lịch sự. Không mang điện thoại di động, máy ảnh, máy quay phim. Phải trật tự, đi nhẹ, nói khẽ, không được đùa giỡn. Tỏ thái độ tôn nghiêm đối với Mao Chủ tịch.

Thư viện hình

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ “Hình ảnh của Lăng Mao Chủ tịch”. Truy cập 14 tháng 3. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  2. ^ Lý Chí Thỏa (2004). Bác sĩ riêng của Mao. Bắc Kinh: NXB. Ngoại văn.
  3. ^ Lý Chí, Thỏa. “1” (HTML). Hồi ký Bác Sĩ riêng của Mao (ấn bản 6). tr. 8.
  4. ^ “Những bí mật về việc bảo quản thi hài Mao Trạch Đông”. Truy cập 4 tháng 11. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)

Liên kết ngoài