Chào ngày mới 24 tháng 10

 Nhà thờ Đức Bà Chartres

CNM365 Chào ngày mới 24 tháng 10. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Liên Hiệp Quốc; ngày Độc lập tại Zambia (1964). Năm 1260Nhà thờ Đức Bà Chartres (hình) tại Pháp được thánh hiến với sự hiện diện của Quốc vương Louis IX. Năm 1648Hòa ước Westfalen được ký kết, kết thúc Chiến tranh Ba mươi nămChiến tranh Tám mươi năm, công nhận nền độc lập của Cộng hòa Hà Lan và Thụy Sĩ. Năm 1795 – Các đại diện từ Áo, NgaPhổ cùng soạn thảo hiệp ước chính thức giải thể Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva.Năm 1945Hiến chương Liên Hiệp Quốc bắt đầu có hiệu lực sau khi được Anh Quốc, Hoa Kỳ, Liên Xô, Pháp, Trung Quốc, và đa số quốc gia khác thông qua.

Ngày Liên Hiệp Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Năm 1947, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ra tuyên bố lấy ngày 24 tháng 10 làm ngày kỷ niệm Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Theo đó ngày này sẽ được dành để phổ biến những mục tiêu và thành tựu của Liên Hiệp Quốc đến các dân tộc trên thế giới và để thu hút sự ủng hộ vì mục tiêu chung.
Năm 1971, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua một nghị quyết nữa (nghị quyết số 2782) tuyên bố Ngày Liên Hiệp Quốc sẽ là một ngày lễ quốc tế và đề nghị đưa nó trở thành ngày nghỉ lễ ở tất cả các nước thành viên Liên Hiệp Quốc.

Hiến chương Liên Hiệp Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Hiến chương Liên Hiệp Quốchiến pháp của Liên Hiệp Quốc. Nó được kí kết trong Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Tổ chức Quốc tế (United Nations Conference on International Organization) tại San Francisco, California ngày 26 tháng 6 năm 1945 bởi 50 nước thành viên đầu tiên, có hiệu lực từ ngày 24 tháng 10 năm 1945 sau khi được phê chuẩn bởi 5 nước thành viên sáng lập – Trung Quốc, Liên Bang Xô Viết, Pháp, Anh, Hoa Kỳ – và phần đông các nước khác.
Bản Hiến chương được thảo luận bởi hội đồng lập pháp và các nước đã kí đều tuân theo các điều khoản của nó. Hiện nay, phần lớn các quốc gia trên thế giới đã thông qua Hiến chương. Vatican là quan sát viên lâu dài nên không kí kết toàn bộ.

Tóm tắt Hiến chương

Bản Hiến chương gồm một phần mở đầu, mô hình khái quát như phần giới thiệu về Hiến pháp Hoa Kỳ, và một loạt các điều khoản phân chia vào trong các chương.

  • Chương I: trình bày mục đích của Liên Hiệp Quốc, những điều khoản quan trọng về hoà bình và an ninh thế giới.
  • Chương II: định ra tiêu chuẩn hội viên của Liên Hiệp Quốc.
  • Chương III-XV: số lượng lớn tài liệu mô tả các cơ quan, tổ chức trực thuộc Liên Hiệp Quốc và những quyền hạn của họ.
  • Chương XVI và XVII: miêu tả sự sắp xếp một Liên Hiệp Quốc thống nhất, không phân biệt chủng tộc với sự công nhận của luật pháp quốc tế.
  • Chương XVII và XIX: dành cho sự bổ sung và phê chuẩn Hiến chương.

Liên kết ngoài

Zambia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng hòa Zambia
Republic of Zambia (tiếng Anh)
Flag of Zambia.svg Coat of arms of Zambia.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Zambia
Khẩu hiệu
One Zambia, One Nation (tiếng Anh: “Một Zambia, Một Quốc gia”)
Quốc ca
Stand and Sing of Zambia, Proud and Free
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa
Tổng thống Rupiah Banda
Ngôn ngữ chính thức tiếng Anh
Thủ đô Lusaka
15°25′N, 28°17′Đ
Thành phố lớn nhất Lusaka
Địa lý
Diện tích 752.614 km² (hạng 38)
Diện tích nước 1% %
Múi giờ EET (UTC+2)
Lịch sử
Ngày thành lập 24 tháng 10 năm 1964
Dân cư
Dân số ước lượng (2005) 11.261.795 người (hạng 75)
Dân số (2003) 9.582.418 người
Mật độ 15 người/km² (hạng 199)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 10,28 tỷ đô la Mỹ
HDI (2003) 0,394 thấp (hạng 166)
Đơn vị tiền tệ Kwacha (ZMK)
Thông tin khác
Tên miền Internet .zm

Zambia (tiếng Anh: Republic of Zambia, Tiếng Việt: Cộng hòa Dăm-bi-a[1], Hán-Việt: 赞比亚共和国 / Tán Bỉ Á Cộng hòa quốc) là một Quốc gia Cộng Hòa nằm ở miền Nam châu Phi. Các nước láng giềng của Zambia bao gồm Cộng hòa Dân chủ Congo ở phía bắc, Tanzania ở đông bắc, Malawi ở phía đông, Mozambique, Zimbabwe, Botswana, Namibia ở phía nam và Angola ở phía tây. Thủ đô của Zambia là Lusaka, một thành phố nằm ở Đông Nam đất nước. Hầu hết dân số Zambia đều tập trung ở Lusaka và Vành Đồng ở đông bắc.

Lịch sử

Phần lãnh thổ tạo thành Zambia ngày nay là vùng định cư của người Pygmyngười Bantu, bị phân chia thành những địa hạt tù trưởng cho đến khi người châu Âu đặt chân đến đây.
Từ thế kỷ 15, người Balunda thành lập quốc gia Lunda hùng mạnh bao gồm lãnh thổ Angola, Congo, Zambia và một phần Cộng hoà Dân chủ Congo ngày nay. Cuối thế kỷ 18, quốc gia Lunda bị suy yếu do sự thâm nhập các thương gia buôn bán nô lệ, quyền lực của quốc vương Lunda giảm sút nên một loạt các vương quốc nhỏ đã hình thành. Khoảng năm 1835, người Sotho lập một vương quốc riêng. Sau các cuộc thám hiểm của David Livingstone (1853-1873) và việc khám phá ra các mỏ vàng ở đây. Đến năm 1889, Cecil Rhodes, nhà triệu phú người Anh được Hoàng gia Anh trao quyền buôn bán và khai thác mỏ vùng lãnh thổ thuộc Zambia, Zimbabwe, Malawi ngày nay. Đầu thế kỷ 20, Cecil Rhodes ký một hiệp ước với quốc vương người Sotho và lập thuộc riêng với tên là Rhodesia Bắc. Năm 1924, Vương quốc Anh kiểm soát vùng Rhodesia Bắc (Zambia), Rhodesia Nam (Zimbabwe) và Nyasaland (Malawi) giao cho toàn quyền Anh cai trị.
Năm 1937 tại các khu mỏ có gần 4 vạn lao động người Phi làm việc, công nhân đã thành lập công đoàn và đây là tổ chức tiền thân của Đại hội dân tộc Phi Rhodesia Bắc (NRANC). Năm 1952, nhà giáo Kenneth Kaunda trở thành Tổng thư ký NRANC. Năm 1953, do bất đồng nội bộ, ông Kenneth Kaunda tách ra lập Đại hội dân tộc Phi Zambia (ANCZ) chủ trương đấu tranh giành độc lập. Cũng trong năm 1953, Anh thành 1ập Liên bang Trung Phi gồm Bắc, Nam Rhodesia và vùng Nyassaland. Năm 1959, Đại hội dân tộc Phi (ANCZ) bị cấm hoạt động và ông Kenneth Kaunda bị vào tù. Năm 1960, ông Kenneth Kaunda được trả tự do và đã phối hợp với những người cộng sự thành lập Đảng Độc lập Dân tộc thống nhất (UNIP) do ông làm Chủ tịch. Năm 1963, chính phủ Anh buộc phải chấp nhận yêu sách của các phong trào độc lập dân tộc, giải tán Liên bang Trung Phi (gồm Rhodesia Bắc, Rhodesia Nam và Nyasaland).
Tháng 10 năm 1964, Đảng Độc lập Dân tộc thống nhất (UNIP) giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử, ông Kenneth Kaunda lên làm Tổng thống, tuyên bố Rhodesia Bắc độc lập, lấy tên là nước Cộng hoà Zambia ngày 24 tháng 10 năm 1964. Từ năm 1972, Kaunda thiết lập thể chế độc đảng. Làn sóng phản đối chế độ ngày càng gia tăng buộc Tổng thống Kenneth Kaunda chấp nhận thể chế đa đảng từ năm 1990.
Năm 1991, cựu Chủ tịch Liên hiệp các nghiệp đoàn Zambia, Frederick Chiluba đắc cử Tổng thống. Trước tình hình khủng hoảng kinh tế, Chiluba đã ban hành chính sách khắc khổ.
Điều này đã gây nên nhiều cuộc nổi dậy. Tuy nhiên, Chiluba vẫn tái đắc cử năm 1996. Trục đường sắt nối liền Lusaka với Dar es-Salaam (Tanzania) được Trung Quốc giúp đỡ và hoàn thành năm 1975. Trục lộ này giúp cho việc lưu thông từ Zambia ra vùng Ấn Độ Dương mà không phải băng ngang qua Zimbabwe.
Tháng 1 năm 2002, tại Zambia đã tiến hành bầu cử Quốc hộiTổng thống với 11 ứng cử viên vào chức vụ Tổng thống. Ông Levy Mwanawasa, ứng cử viên của Phong trào dân chủ đa đảng MMD-Đảng cầm quyền – trở thành Tổng thống kế nhiệm ông F. Chiluba. Do cái chết bất ngờ của ông Mwanawasa, Zambia đã tiến hành bầu cử sớm vào tháng 10 năm 2008 và ông Banda đã trúng cử với hơn 40% số phiếu bầu. Tình hình Zambia hiện nay nói chung ổn định.

Chính trị

Zambia theo chế độ Cộng hoà Tổng thống. Tổng thống là người đứng đầu nhà nước cũng đồng thời là người đứng đầu chính phủ. Tổng thống được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kì 5 năm, có thể kéo dài hai nhiệm kì.
Cơ quan lập pháp là quốc hội gồm 150 thành viên, được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kì 5 năm.
Cơ quan tư pháp là Tòa án Tối cao, các thẩm phán do Tổng thống bổ nhiệm.
Hiện nay ở Zambia có các chính đảng:

  • Phong trào Dân chủ đa đảng (MMD) Đảng cầm quyền
  • Đảng thống nhất vì sự phát triển quốc gia (UPND) United Party for National Development
  • Đảng Phong trào Dân chủ đa đảng (MMD) Movement for Multiparty Democracy
  • Đảng độc lập Dân tộc thống nhất (UNIP) Đảng đối lập
  • Đảng đa chủng tộc (MRP)
  • Liên minh Dân chủ quốc gia (NADA)

Đối ngoại

Từ trước đến nay, Zambia luôn theo đuổi chính sách không liên kết, dân tộc chủ nghĩa, cân bằng quan hệ với các nước lớn, kiên quyết chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, ủng hộ các phong trào giải phóng dân tộc nhưng chủ trương dùng biện pháp hoà bình đối thoại. Zambia là thành viên của Liên minh châu Phi (AU-trước đây là OUA), Liên Hiệp Quốc, Phong trào không liên kết, Cộng đồng Phát triển miền Nam châu Phi (SADC), Khối thịnh vượng chung Anh, WTO, IMF, G15
Zambia tích cực tham gia tìm giải pháp về vấn đề nợ nước ngoài, hợp tác kinh tế, xung đột khu vực… đặc biệt Zambia đã làm trung gian đưa đến ký kết Nghị định thư Lusaka (tháng 11 năm 1994) giữa Chính phủ AngolaUNITA. Zambia ủng hộ thành lập lực lượng gìn giữ hoà bình ở châu Phi cũng như xu thế hoà bình, ổn định, hợp tác phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chính sách đối ngoại của Zambia là tăng cường hợp tác với các nước, trước hết là các nước châu Phi trong Cộng đồng phát triển miền Nam châu Phi (SADC), đẩy mạnh hợp tác với EU, Canada, Mỹ, chú trọng quan hệ với các nước châu Á trong đó có Trung Quốc, Việt Nam.

Địa lý

Tập tin:Victoria Falls Zambezi.jpg

Thác Victoria thác nước lớn nhất thế giới phần thuộc Zambia.

Zambia nằm ở khu vực Nam Phi, Bắc giáp Cộng hòa Dân chủ Congo, đông bắc giáp Tanzania, Đông giáp Malawi, Đông Nam giáp Mozambique, Nam giáp ZimbabweNamibia, Tây giáp Angola. Phần lớn lãnh thổ là cao nguyên tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình 900-1.500 m, bị cắt ngang bởi các vùng lưu vực sông Zambezi, sông Luangwasông Kafue. Ở phía đông, dãy Muchinga (l.840 m) tạo nên phần chủ yếu của địa hình.

Kinh tế

Chợ Chisokone ở Kitwe.

Mỏ đồng Nkana, mỏ đồng lớn nhất Zambia.

Zambia là nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp khai khoáng không đáng kể mặc dầu có nhiều tài nguyên thiên nhiên.
Nông nghiệp có hiệu suất thấp: ngành chăn nuôi bò trên các đồng cỏ, các loại cây lương thực (ngô, sắn, khoai lang, cây hướng dương, lúa miến) chỉ chiếm 7% diện tích đất đai. Thuốc lá là mặt hàng nông sản xuất khẩu duy nhất.
Sản xuất năng lượng thủy điện dồi dào (đập Kariba trên sông Zambezi), xuất khẩu một phần sang Zimbabwe. Ngành công nghiệp khai thác mỏ (đồng, một vài kim loại hiếm, coban, kẽm) phát triển ở vành đai Copper Belt ở Bắc.
Kinh tế đất nước lâm vào tình trạng suy thoái cho đến năm 1999. Tình hình kinh tế được khôi phục với mức tăng trưởng đạt gần 4.7%, nhưng nạn lạm phát gia tăng mạnh, khoảng 50% lực lượng lao động thất nghiệp trong năm 2001.
Zambia có nhiều tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt đồng (trữ lượng 1 tỉ tấn, chiếm 90% thu nhập ngoại tệ xuất khẩu). Zambia có còn có kẽm, coban, vàng, uranium, chì v.v… Những năm 1980, giá đồng trên thị trường giảm nên đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Zambia không có đường ra biển nên có khó khăn trong xuất nhập khẩu hàng hóa. Công nghiệp khai khoáng và du lịch Zambia khá phát triển; trong nông nghiệp ngành chăn nuôi gia súc, trồng bông, rau quả tương đối phát triển, tuy nhiên hiện nay Zambia còn phải nhập khẩu máy móc, dầu khí và lương thực, nhất là gạo. Zambia nhập hàng của Nam Phi (47,3%), UAE (10,4%), Zimbabwe 5,7%, Na uy (4%) (năm 2006).

  • GDP chính thức: 12,44 tỷ USD (2009)
  • GDP bình quân: 1.050 USD (2009)
  • Tăng trưởng 6,2% (2009)
  • Nhập khẩu 4,138 tỷ USD (2009)
  • Xuất khẩu 4,388 tỷ USD (2009)
  • Nợ nước ngoài 3,313 tỷ USD (2009)

Trước đây, Zambia xây dựng nền kinh tế theo mô hình tập trung, kế hoạch hoá, chú trọng công nghiệp. Nền nông nghiệp bị trì trệ, các ngành chăn nuôi, trồng trọt không phát triển. Sau khi giá đồng nội tệ giảm, thu nhập sút kém, kinh tế lâm vào khó khăn, khủng hoảng. Từ năm 1990, WBIMF đã thúc ép Zambia cải cách cơ cấu kinh tế, tư nhân hoá các cơ sở kinh tế, chú trọng phát triển nông nghiệp. Năm 2005, IMFWB đã xoá 502 triệu USD trong tổng số gần 7.2 tỉ USD tiền nợ của Zambia.
Tháng 10 năm 1991, Tổng thống Chiluba thực hiện nền kinh tế thị trường, tư nhân hoá các nhà máy, xí nghiệp, xoá bỏ các mô hình Hợp Tác Xã nông nghiệp trước đây, tranh thủ vốn, đầu tư, kỹ thuật của các nước phương Tây, WB, IMF để khôi phục kinh tế. Zambia đã tư nhân hoá 130 xí nghiệp quốc doanh, thông qua Luật đầu tư và Luật bảo hộ đầu tư rất thông thoáng nên thu hút được vốn đầu tư từ nhiều nước đồng thời tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân góp phần quan trọng vào quá trình khôi phục và phát triển kinh tế.
Từ năm 2000, Zambia được Mỹ đưa vào danh sách các nước được hưởng ưu đãi từ Đạo luật Cơ hội và Tăng trưởng Châu Phi (AGOA). Theo đó, nhiều mặt hàng của Zambia, đặc biệt là hàng dệt may xuất khẩu sang Mỹ được hưởng mức thuế ưu đãi ở mức 0%.
Năm 2008, tổng sản phẩm quốc nội của Zambia đạt 15,23 tỷ USD, đạt mức tăng trưởng 6,2% so với năm 2007. Và GDP bình quân đầu người đạt 1301 USD/người/năm. Tỷ lệ lạm phát được kiềm chế ở mức 11,8%. Tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao là khoảng 50%.
Về ngoại thương, năm 2008, Zambia xuất khẩu 5,63 tỷ USD hàng hoá trong đó các sản phẩm xuất khẩu chính là đồng/côban (64%), côban, điện, sợi thuốc lá, hoa, bông. Các đối tác xuất khẩu là Tanzania (14,1%), Nam Phi (13,2%), Trung Quốc (9,1%), Nhật Bản (7,9%), Thái Lan (7,9%), Thụy Sỹ (7,3%), Bỉ (6,7%), Malaysia (4%).
Năm 2008, Zambia nhập khẩu khoảng 4,42 tỷ USD các loại hàng hoá như máy móc, thiết bị vận tải, sản phẩm dầu, điện, phân bón, thực phẩm, dệt may. Các đối tác mà Zambia chủ yếu nhập khẩu hàng hoá là: Nam Phi (50,3%), Zimbabwe (13,2%), Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (5,3%).

Nhân khẩu

Dân số hiện nay của Zambia là 11,86 triệu người. Trong đó người châu Phi và người gốc châu Á thuộc 73 bộ tộc chiếm 98,7%,người gốc châu Âu chiếm 1.1%, các dân tộc khác 0.2%. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh, ngoài ra còn 5 thứ tiếng khác như tiếng Bantu, tiếng Hindi v.v…

Tôn giáo

Zambia là chính thức một quốc gia Kitô giáo theo hiến pháp năm 1996,[2] nhưng cũng có nhiều truyền thống tôn giáo tồn tại.
Giáo phái Kitô giáo bao gồm: Trưởng Lão, Công giáo Rôma, Anh giáo, Phong trào Ngũ Tuần, Tin Lành, Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm, Nhân chứng Jehovah, Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô, và một loạt các giáo phái Tin Lành khác.
Giáo hội Công giáo Rôma ở Zambia có khoảng 3 triệu người trong nước – khoảng một phần tư dân số. Có mười giáo phận, hai tổng giáo phận.
Anh giáo là giáo phái Tin Lành lớn nhất cả nước. Ngày nay, có ít nhất 600.000 người Anh giáo, 15 giáo xứ, 250 chi hội và khoảng 400 linh mục Anh giáo ở Zambia.
Khoảng 1% dân số là người Hồi giáo, hầu hết sống ở khu vực đô thị. Mặc dù Zambia chính thức là một nước Kitô giáo nhưng việc tự do tôn giáo được đảm bảo và người Hồi giáo nói chung được chấp nhận trong xã hội.[3] Ngoài ra còn có một cộng đồng nhỏ người Do Thái, chủ yếu là Ashkenazis. Đức tin Bahá’í ở Zambia có hơn 160.000 thành viên, hay 1,5% dân số.[4]

Giáo dục – Y tế

Giáo dục: Chương trình giáo dục miễn phí (học sinh phải trả tiền sách vở). Khoảng 100% số học sinh học xong bậc tiểu học và 1/4 số đó học lên trung học. Zambia có hai trường đại học, bốn trường sư phạm và 14 trường kĩ thuật-dạy nghề.
Y tế: Chăm sóc y tế khá đầy đủ. Cả nước có 12 bệnh viện lớn và hơn 60 trung tâm y tế nhỏ, phần lớn đều ở đô thị. Tại Zambia, người ta sử dụng cả y học hiện đại lẫn cổ truyền trong việc chữa trị. Những bệnh nhân không có khả năng chi trả được điều trị miễn phí. Tình trạng thiếu dinh dưỡng, mất vệ sinh và các bệnh tật do đói nghèo gây ra khá phổ biến.

Tham khảo

Nhà thờ chính tòa Đức Bà Chartres

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Nhà thờ Đức Bà Chartres)
Nhà thờ Đức Bà Chartres
(Cathédrale Notre-Dame de Chartres)
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
20050921CathChartresB.jpg
Quốc gia  Pháp
Kiểu Văn hóa
Hạng mục i, ii, iv
Tham khảo 81
Vùng UNESCO Châu Âu
Lịch sử công nhận
Công nhận 1979 (kì thứ 3)

Nhà thờ Đức Bà Chartres (tiếng Pháp: Cathédrale Notre-Dame de Chartres) là nhà thờ lớn của thành phố Chartres, tỉnh lỵ của tỉnh Eure-et-Loir, nằm cách thủ đô Paris của Pháp 80 km về phía Tây Nam. Đây là nơi đăng quang của vua Henri IV, vị vua duy nhất không làm lễ đăng quang tại Nhà thờ Đức Bà Reims theo truyền thống của hoàng gia Pháp. Nhà thờ Đức Bà Chartres được coi là một trong những công trình kiểu Gothic đẹp và lớn nhất. Nó đã được UNESCO đưa vào danh sách Di sản thế giới ngay trong lần xếp hạng đầu tiên năm 1979.

Lịch sử

Sơ đồ nhà thờ

Nhà thờ hiện nay được bắt đầu xây dựng vào đầu thế kỉ 13 trên phần đất của một nhà thờ kiểu La Mã đã bị phá hủy vì hỏa hoạn trước đó. Những người xây dựng nhà thờ là các thợ xây dựng chuyên nghiệp (conpagnon) thuộc ba hội thợ Enfants du Père Soubise, Enfants de Maître JacquesEnfants de Salomon dưới sự liên kết của các Hiệp sĩ dòng Đền.
Sau 30 năm xây dựng thì nhà thờ gần như hoàn thành, nó dài 130 mét, rộng 32 và 46 mét trong đó gian giữa cao 37 mét và rộng 16,40 mét.

Kiến trúc

Hàng lang phía Tây bao gồm cổng chính của nhà thờ hay cổng hoàng gia (portail royal). Nó được điêu khắc rất chi tiết với 24 bức tượng lớn (19 bức còn lại đến ngày nay) và hơn 300 bức tượng nhỏ khác[1]. Cổng phía Bắc, cũng được gọi là cổng Liên minh (portail de l’Alliance), các bức tượng ở cổng này được thực hiện từ năm 1205 đến năm 1210[2]. Cổng phía Nam còn được gọi là cổng Nhà thờ (portail de l’Église), cũng được chạm trổ tinh vi.
Nhà thờ Đức Bà Chartres có hệ thống kính màu rất đồ sộ, phần lớn trong số đó tồn tại từ khi xây dựng (thế kỉ 13) đến nay. Có tổng cộng 176 tấm kính màu với diện tích lên tới 2600 mét vuông, đa số là các tấm kính màu mô tả các vị thánh hoặc các nhân vật trong Kinh Thánh.

Hình ảnh

Tham khảo

  1. ^ Louis Gillet, Histoire de l’Art français, tome 1: des origines à Clouet, Paris, Zodiaque, 1977, tr 220
  2. ^ Georges Duby, Le Moyen Âge, Paris, Seuil, 1995, tr 294

Liên kết ngoài

Chiến tranh Ba mươi năm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chiến tranh Ba mươi năm
Europe map 1648.PNGBản đồ Châu Âu năm 1648.
.
Thời gian 16181648
Địa điểm Châu Âu (Đức ban đầu)
Kết quả Hòa ước Westphalia
Tham chiến
Flag of Sweden.svg Thụy Điển
Flag of Bohemia.svg Bohemia
Flag of Denmark.svg Đan MạchNa Uy
Prinsenvlag.svg Hà Lan
Pavillon royal de France.svg Pháp
Flag of Scotland.svg Scotland
England flag.png Anh
Flag of Saxony.svg Sachsen
Flag Germany Emperors Banner.svg Đế chế La Mã Thần thánh
(Liên đoàn Công giáo)
Flag of Cross of Burgundy.svg Tây Ban Nha
Flag of the Habsburg Monarchy.svg Áo
Flag of Bavaria (striped).svg Bayern
Lực lượng
~475 nghìn,
15 vạn quân Thụy Điển,
75 nghìn quân Hà Lan,
~10 vạn quân Đức,
15 vạn quân Pháp
~45 vạn,
30 vạn Tây Ban Nha,
~10 – 20 vạn quân Đức
.

Chiến tranh Ba mươi năm bắt đầu từ năm 1618, kết thúc năm 1648, chủ yếu diễn ra tại vùng nay là nước Đức và bao gồm hầu hết các cường quốc của châu Âu lục địa thời bấy giờ. Mặc dù trên danh nghĩa đó là cuộc xung đột tôn giáo giữa những người Tin lành và những người Công giáo, nhưng thật ra, động cơ chính của cuộc chiến bắt nguồn từ cuộc tranh giành quyền lực giữa nhà Habsburg và các cường quốc khác ở châu Âu. Một ví dụ điển hình là nước Pháp Công giáo, dưới sự lãnh đạo không chính thức của Hồng y Richelieu, đã ủng hộ những người Tin lành để làm suy yếu triều đình Habsburg và qua đó củng cố vị trí của nước Pháp như một cường quốc hàng đầu ở châu Âu. Điều này đã làm gia tăng căng thẳng giữa nước Pháp và triều đình Habsburg, sau đó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến chiến tranh giữa Pháp và Tây Ban Nha.
Chiến tranh 30 năm đã tàn phá nặng nề châu Âu, gây ra nạn đói và dịch bệnh (do các xác người chết không chôn kịp), làm giảm dân số của các thành bang ở khu vực nước Đức ngày nay và những vùng khác ở Ý, đồng thời khiến nhiều cường quốc châu Âu suy sụp. Cuộc chiến diễn ra trong 30 năm, nhưng những mâu thuẫn dẫn đến cuộc chiến đã bắt đầu trước đó rất lâu. Cuộc chiến kết thúc với Hiệp ước Munster, một phần của một thỏa thuận lớn hơn có ý nghĩa quyết định với lịch sử châu Âu sau này: Hòa ước Westphalia.
Trong suốt cuộc chiến, dân số các thành bang ở khu vực nước Đức ngày nay giảm trung bình 30%, ở vùng Brandenburg, con số này là 50%, và nhiều vùng khác chứng kiến hai phần ba dân số thiệt mạng vì chiến tranh. Dân số nam giới của các thành bang thuộc nước Đức giảm một nửa. Dân số ở các tiểu quốc nay là Cộng hòa SécSlovakia giảm một phần ba. Chỉ riêng quân đội Thụy Điển đã phá hủy 2 nghìn lâu đài, 18 nghìn làng mạc và 1.500 thị trấn ở Đức.

Nguồn gốc của chiến tranh

Hòa ước Ausburg

Hòa ước Ausburg (1555) do hoàng đế Karl V (Đế quốc La Mã thần thánh) ký, khẳng định kết quả của Nghị quyết Speyer 1526 và kết thúc cuộc xung đột giữa những người theo học thuyết của Martin Luther (sau này phát triển thành đạo Tin lành) và những người Công giáoĐức.
Hòa ước Ausburg bao gồm những điểm chính yếu sau:

  • Các tuyển hầu ở Đức có thể chọn tôn giáo mà họ muốn theo (phái của Luther hoặc Giáo hội Công giáo Rôma).
  • Những người theo phái Luther đang sống trong một giáo khu Luther được tiếp tục tín ngưỡng của họ.
  • Những người theo phái Luther được giữ những vùng đất mà họ chiếm được của Giáo hội Công giáo Rôma từ sau Hòa ước Passau 1552.
  • Những linh mục đứng đầu các giáo xứ Công giáo đã chuyển sang theo phái Luther phải từ bỏ các lãnh địa của mình.
  • Khu vực hành chính nào đã chính thức chọn theo Công giáo hoặc Tin lành thì không cho phép hành lễ khác với tôn giáo đã được chọn ở khu vực đó.

Mặc dù Hòa ước Ausburg phần nào làm dịu đi sự căng thẳng, nó vẫn không thể giải quyết dứt điểm mâu thuẫn về tôn giáo. Cả hai phía, Tin lành và Công giáo, giải thích hòa ước đó theo cách có lợi cho mình, đặc biệt, những người theo đạo Luther chỉ coi đó là một thỏa ước tạm thời. Thêm vào đó, học thuyết Calvin và những người theo học thuyết này ngày càng nhiều ở nước Đức trong những năm sau đó, tạo ra một tôn giáo thứ ba trong vùng, nhưng đạo Calvin không được đề cập đến trong bất kỳ điều khoản nào của Hòa ước Ausburg, vốn chỉ cho phép người theo Công giáo và người theo đạo Luther ở Đức.
Căng thẳng về chính trị và kinh tế ngày càng gia tăng giữa các quốc gia châu Âu vào đầu thế kỷ 17, cùng lúc với thời kỳ thám hiểm và khai phá mở ra đường tới những nguồn tài nguyên của Tân thế giới và sự ra đời của những học thuyết mới như chủ nghĩa trọng thương, chủ nghĩa thực dânchủ nghĩa đế quốc. Đồng thời, những mầm mống đầu tiên của chủ nghĩa dân tộc cũng bắt đầu cắm rễ ở châu Âu.

Tình hình các nước trước khi bước vào cuộc chiến

Hoàng đế Ferdinand II (Đế quốc La Mã Thần thánh) đồng thời cũng là vua xứ Bohemia. Tín ngưỡng của ông là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến chiến tranh

Tây Ban Nha chú ý đến các thành bang ở Đức vì có vùng đất Hà Lan thuộc Tây Ban Nha ở phía tây biên giới các thành bang này và những vùng đất khác thuộc Tây Ban Nha nằm trên lãnh thổ Ý ngày nay phải đi qua nước Đức mới đến được. Cuộc nổi dậy của người Hà Lan chống lại sự thống trị của Tây Ban Nha diễn ra trong suốt thập niên 1560, dẫn đến một cuộc chiến tranh giành độc lập và một thỏa ước ngừng bắn giữa hai phía vào năm 1609.
Nước Pháp bị kẹp giữa hai quốc gia đều do nhà Habsburg cai trị (Tây Ban Nha và Đế quốc La Mã Thần thánh) và lại đang rất muốn mở rộng quyền lực của mình trước những người láng giềng là các thành bang nhỏ yếu thuộc nước Đức. Mối bận tâm đó của nước Pháp đã lấn át hoàn toàn các xung đột về tôn giáo và dẫn đến việc nước Pháp Công giáo đứng về phe của những người theo đạo Tin lành trong cuộc chiến.
Thụy ĐiểnĐan Mạch muốn kiểm soát các thành bang ở phía bắc nước Đức cận kề với biển Baltic vì các lợi ích kinh tế và chính trị gắn liền với vị trí chiến lược đó.

Friedrich V của Pfalz, vua xứ Bohemia được gọi là “vị vua mùa đông” của Bohemia vì ông trị vì không tới hai tháng vào năm 1620 sau khi được quân nổi loạn dựng lên.

Đế quốc La Mã Thần thánh, nằm trên vùng đất ngày nay là nước Đức và một số phần đất lân cận, là một liên bang giữa các quốc gia độc lập dưới sự lãnh đạo của Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh dòng họ Habsburg và một hội đồng các tuyển hầu. Một trong số vương công đó, dòng họ Habsburg nước Áo (nước Áo khi đó bao gồm cả xứ BohemiaHungary), là một quyền lực lớn ở châu Âu, cai trị vào khoảng tám triệu thần dân. Đế quốc La Mã thần thánh còn bao gồm một số thực thể chính trị lớn khác, như các công quốc Bayern, Pfalz, Hessen, Sachsen, lãnh địa của bá tước xứ Brandenburg và lãnh địa của Tổng Giám mục xứ TrierWurttemberg (có khoảng từ 50 vạn đến một triệu dân). Ngoài ra, còn rất nhiều những lãnh địa độc lập khác, các thành phố tự do, các vùng đất thuộc quyền cai quản của một tu viện hoặc một tổng Giám mục và những công hầu rất nhỏ mà phần lớn quyền hành không vượt quá phạm vi một ngôi làng, ở khắp nơi trên Đế chế. Nước Áo và xứ Bayern là những lãnh địa duy nhất có được một nền chính trị ở tầm mức quốc gia; liên minh giữa các công quốc có mối quan hệ cùng dòng tộc là rất phổ biến, một phần do tập tục thời đó thường chia các lãnh địa thừa kế cho nhiều người con trai khác nhau của người chủ lãnh địa.

Căng thẳng tôn giáo gia tăng

Căng thẳng về tôn giáo tiếp tục gia tăng vào nửa cuối thế kỷ 16. Hòa ước Ausburg không có hiệu lực khi một số linh mục cải đạo từ chối không từ bỏ giáo phận của mình và những nhà cai trị theo Công giáo ở Tây Ban Nha và Đông Âu tiếp tục tìm cách khôi phục lại quyền lực của Công giáo ở vùng mà họ cai quản. Những mâu thuẫn tôn giáo được thể hiện rõ ràng qua cuộc chiến tranh Köln (nổ ra năm 1582). Cuộc chiến tranh khởi phát do vị tuyển hầu đứng đầu thành phố Köln đổi sang đạo Calvin. Là một thành viên trong hội đồng có quyền bỏ phiếu bầu ra Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh, động thái của Köln có thể dẫn đến việc những người Tin lành sẽ chiếm đa số trong cuộc bầu cử hoàng đế, vị trí từ trước tới giờ luôn do một người Công giáo nắm giữ. Trong chiến tranh Köln, quân đội Tây Ban Nha đã trục xuất tuyển hầu thành phố đó và thay ông ta bằng Tử tước xứ Bayern, một người Công giáo. Sau thắng lợi đó, những người Công giáo tiếp tục bành trướng thế lực ở các vùng Bavaria, Wurzburg và nhiều thành bang khác. Những người theo đạo Luther sống ở đó bây giờ chỉ còn hai lựa chọn: hoặc cải đạo, hoặc bị trục xuất. Một số tuyển hầu ở các lãnh địa theo đạo Luther trước đó cũng cải sang đạo Calvin, như ở các xứ Pfalz (1560), Nassau (1578), Hasse Kassel (1603) và Brandenburg (1613). Những thay đổi trong cán cân lực lượng dẫn đến việc từ đầu thế kỷ 17, vùng hạ lưu sông Rhine và phía nam sông Donau hầu hết là do các lực lượng Công giáo nắm giữ, trong khi những người Luther duy trì quyền kiểm soát ở phía bắc, còn những người theo đạo Calvin chia sẻ các vùng đất còn lại, như vùng trung tây nước Đức, Thụy SĩHà Lan. Tuy nhiên, những thiểu số của mỗi tôn giáo đó vẫn sống trộn lẫn với nhau. Ở một số lãnh địa và thành phố tự do, số lượng người theo đạo Calvin, Luther và Công giáo gần như là bằng nhau.
Những thành viên của dòng họ Habsburg lên làm Hoàng đế La Mã Thần thánh sau hoàng đế Karl V (Ferdinand I, Maximilian II, Rudolf IIMatthias) cho phép các thần dân được tự do theo tôn giáo mà họ chọn. Các vị hoàng đế nói trên cho phép các tín ngưỡng Gia Tô giáo khác nhau được cùng tồn tại, không ép buộc các thần dân để tránh không xảy ra những cuộc chiến tranh tôn giáo. Điều này gây ra nhiều lo ngại cho những người cai trị Tây Ban Nha, vốn là họ hàng của Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh, nhưng đồng thời là những người tôn sùng Công giáo đến cực đoan. Trong khi đó, Thụy Điển và Đan Mạch đều là những quốc gia chính thức theo đạo Luther và do đó, ủng hộ những người Tin lành ở Đế chế La Mã thần thành, đồng thời xem đó là một phương tiện để mở rộng ảnh hưởng về kinh tế và chính trị của họ trong vùng.

Bạo lực bùng phát và nguyên nhân trực tiếp của cuộc chiến

Căng thẳng về tôn giáo bùng phát thành bạo lực ở thành phố tự do Donauworth của nước Đức vào năm 1606. Đa số những người Luther ở đó đã ngăn chặn một đám diễu hành của cư dân Công giáo thuộc thị trấn Schwaben, dẫn đến một cuộc bạo loạn. Cuộc bạo loạn được mở rộng khi Nam tước Maximilian xứ Bayern (15731651) quyết định can thiệp trên danh nghĩa bảo vệ quyền lợi những người Công giáo. Sau cuộc bạo động, những người Calvin tại Đức, vốn vẫn là một thiểu số, bắt đầu cảm thấy họ là những người bị đe dọa nghiêm trọng nhất. Họ liền tập hợp lại với nhau và thành lập Liên đoàn đoàn kết Phúc âm vào năm 1608, dưới sự lãnh đạo của Friedrich IV của Pfalz (15831610), một tuyển hầu có quyền bỏ phiếu bầu Hoàng đế (cũng cần nói thêm là con trai của ông này, Friedrich V, đã kết hôn với Elizabeth Stuart, con gái của James I của Anh). Sự việc phức tạp hơn bởi Pfalz là một thành bang nằm trên sông Rhine mà Tây Ban Nha đang muốn đánh chiếm. Thêm vào đó, sự ra đời của Liên đoàn đoàn kết Phúc âm dẫn đến việc những người Công giáo cũng tập hợp lại trong tổ chức riêng của họ, Liên đoàn Công giáo, được thành lập năm 1609, dưới sự lãnh đạo của chính Nam tước Maximilian.
Năm 1617, trước nguy cơ hoàng đế Matthias (Đế quốc La Mã thần thánh) và vua xứ Bohemia khi đó, có thể qua đời mà không có người thừa kế, người họ hàng gần nhất của Matthias, người mà hai năm sau đó sẽ kế vị, Ferdinand II, được chọn làm Thái tử kế vị của xứ Bohemia. Tuy nhiên, Ferdinand II trưởng thành dưới sự giáo dục của Hội đoàn Công giáo, một tổ chức của những người sùng đạo Công giáo cực đoan muốn áp đặt sự thống nhất về tôn giáo trên toàn cõi châu Âu. Điều này khiến xứ Bohemia, vốn có rất nhiều cư dân theo đạo Tin lành, từ chối chấp nhận Ferdinand II làm vua của họ. Cùng với việc những người đại diện của Ferdinand II bị trục xuất khỏi Praha vào năm 1618, chiến tranh 30 năm đã bùng nổ. Cuộc chiến có thể được chia làm bốn giai đoạn:

  • Cuộc nổi loạn của những người Bohemia
  • Sự can thiệp của Đan Mạch
  • Sự can thiệp của Thụy Điển
  • Sự can thiệp của Pháp

Diễn biến chiến tranh

Cuộc nổi loạn của người Bohemia (1618-1625)

Nguyên nhân trực tiếp của cuộc nổi loạn

Do không có con nối dõi, Hoàng đế La Mã thần thánh Matthias đã cố gắng sắp xếp một cuộc chuyển giao quyền lực trong trật tự khi ông vẫn còn sống bằng cách để người thừa kế của ông (một người Công giáo cực đoan, Ferdinand xứ Styria, sau này là Ferdinand II (Đế quốc La Mã thần thánh) được bầu lên ngôi vua ở hai vùng khác nhau thuộc Đế chế, Bohemia và Hungary. Một số lãnh đạo của phe Tin lành ở Bohemia lo sợ rằng nếu Ferdinand lên ngôi, quyền được theo đạo Tin lành của họ sẽ không còn được bảo vệ như trong bức thư cam kết của Hoàng đế Rudolf II (Đế quốc La Mã thần thánh), tiên vương đồng thời cũng là anh trai của Matthias. Phe Tin lành ở Bohemia muốn chọn tuyển hầu Friedrich V của Pfalz (người kế vị của Friedrich IV của Pfalz, người thành lập Liên đoàn đoàn kết Phúc âm), làm người cai trị họ hơn. Tuy nhiên, cũng có những người Tin lành khác ủng hộ việc trao vị trí vua xứ Bohemia cho người Công giáo. Năm 1617, Ferdinand được bầu làm Thái tử xứ Bohemia và sau khi Matthias qua đời, nghiễm nhiên là tự quân của xứ Bohemia. Khi đó, Ferdinand cử hai sứ thần, đều là người Công giáo (Wilhelm Slavata von Chlum und KoschumbergJaroslav Borsita von Martinitz) làm đại diện cho Hoàng đế tại lâu đài hoàng gia Hradcany ở Praha vào tháng 5 năm 1618. Ferdinand muốn hai người này thay mặt ông cai trị xứ Bohemia. Theo những tư liệu dân gian, những người Hussite Bohemia, tức những người theo đạo Tin lành, đã bất ngờ bắt giữ họ, tổ chức một phiên luận tội chóng vánh và ném họ ra khỏi cửa sổ lâu đài, từ độ cao cách mặt đất hơn 20 mét. Thế nhưng họ vẫn sóng sót lành lặn. Những truyền thuyết của người Công giáo kể rằng các thiên thần đã xuất hiện và cứu giúp họ, trong khi truyền thuyết của người Tin lành lại khẳng định họ rơi vào một đống phân bón ruộng ở dưới sân lâu đài nên may mắn sống sót.
Sự kiện này, được biết đến dưới tên gọi Vụ vứt người ra cửa sổ thứ hai ở Praha, đánh dấu khởi đầu cho cuộc nổi dậy của người Bohemia. Không lâu sau đó, xung đột giữa những người Bohemia lan ra toàn cõi Đại Bohemia, Bohemia, Silesia, LusatiaMoravia. Còn cuộc xung đột tôn giáo thì lan khắp châu Âu lục địa, đến Pháp, Thụy Điển và nhiều nước khác.
Nếu cuộc nổi loạn của người Bohemia chỉ là một xung đột địa phương thì chiến tranh đã có thể kết thúc chỉ trong không đầy 30 tháng. Tuy nhiên, cái chết của Hoàng đế Matthias đúng vào lúc tình hình căng thẳng nhất đã khuyến khích những lãnh đạo Tin lành nổi loạn. Sự yếu đuối của Ferdinand (lúc này đã là Hoàng đế La Mã Thần thánh) và chính quyền Bohemia khiến chiến tranh lan nhanh tới biên giới phía tây nước Đức và Ferdinand phải viện đến sự trợ giúp của người cháu họ, Felipe IV của Tây Ban Nha.
Những người Bohemia, đang muốn thành lập một liên minh chống lại Hoàng đế, đã bày tỏ ý định gia nhập Liên đoàn Tin lành, do Friedrich V của Pfalz, một người Calvin và trước đó là một ứng viên cho ngai vàng của xứ Bohemia, đứng đầu. Những người Bohemia nổi loạn gợi ý với Friedrich rằng ông sẽ trở thành vua xứ Bohemia nếu để họ gia nhập Liên đoàn Tin lành và nhận được sự bảo vệ của ông. Tuy nhiên, cùng lúc, những người Bohemia còn đưa ra đề nghị tương tự với công tước xứ Savoie, tuyển hầu xứ Sachsen và tuyển hầu xứ Transilvania. Những người Áo, kiểm soát tất cả các con đường liên lạc từ Praha ra ngoài, đã bắt được những lá thư đó và cho công khai thái độ hai mặt của người Bohemia. Điều này khiến người Bohemia mất đi rất nhiều sự ủng hộ, đặc biệt là ở vùng Sachsen.

Từ trận Sablat đến trận Stadtlohn

Cuộc nổi loạn lúc đầu phát triển theo chiều hướng có lợi cho những người Bohemia. Họ có được sự ủng hộ của vùng Thượng Áo, nơi giai cấp quý tộc chủ yếu là những người Luther hoặc Calvin. Vùng Hạ Áo cũng nổi dậy không lâu sau đó và năm 1619, bá tước Thurn dẫn một đội quân tiến sát Viên. Ở phía đông, tuyển hầu Transilvania, một người theo Tin lành, dẫn đầu một chiến dịch quả cảm tấn công Hungary với sự ủng hộ của hoàng đế của Đế quốc Ottoman. Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh, vốn đang phải đối phó với cuộc chiến tranh Uzkok, phải nhanh chóng huy động quân đội hòng ngăn chặn những người Bohemia và các đồng minh của họ đang ngày càng chiếm ưu thế ở khắp nơi trên đất nước của ông. Bá tước Bucquoy, tư lệnh quân đội của Hoàng đế La Mã Thần thánh, đánh bại một lực lượng lớn của Liên đoàn Tin lành do bá tước Mansfeld chỉ huy trong trận Sablat, ngày 10 tháng 6 năm 1619. Thất bại đó của quân nổi dậy đã cắt đứt liên hệ của bá tước Thurn, đang tiến sâu vào đất Áo, với Praha và ông buộc phải chấm dứt cuộc vây hãm Wien. Thất bại ở Sablat còn khiến những người Tin lành mất một đồng minh quan trọng, xứ Savoie, một địch thủ lâu đời chống lại sự bành trướng của dòng họ Habsburg. Xứ Savoie đã hỗ trợ những người Tin lành một khoản tiền rất lớn và thậm chí đã gửi quân đồn trú đến các pháo đài ở vùng hạ lưu sông Rhine. Tuy nhiên, thất bại của Mansfeld gây lúng túng cho quân đội Savoie khi kế hoạch của họ bị phá sản và họ buộc phải rút khỏi cuộc chiến.
Dù sao, bất chấp trận Sablat, đội quân của bá tước Thurn vẫn là một mối đe dọa nguy hiểm với Hoàng đế La Mã Thần thánh, còn Mansfeld gom góp tàn quân và rút về phía bắc Bohemia. Các vùng Thượng và Hạ Áo đã chính thức ký một thỏa ước liên minh với những người Bohemia vào đầu tháng 8-1619. Ngày 17-8-1619, Ferdinand chính thức không còn là vua xứ Bohemia nữa và những người Bohemia đã chọn tuyển hầu Pfalz Friedrich V thay cho ông ta. Ở Hungary, dù những người Bohemia đã rút lại đề nghị về việc trao ngôi vua cho tuyển hầu Transilvania, xứ này vẫn chiến đấu ngoan cường trong cuộc nổi dậy và họ đã đẩy toàn bộ quân đội của Hoàng đế ra khỏi đất nước vào năm 1620.

Johan Tzerclaes, công tước xứ Tilly, tư lệnh quân đội của xứ Bayern và Đế quốc La Mã Thần thánh

Tây Ban Nha gửi quân đội từ Brussel dưới quyền chỉ huy của Ambrosia SpinolaNelson Antonio Fernandez III, một viên tướng quyết đoán, sang giúp Hoàng đế. Ngoài ra, đại sứ Tây Ban Nha tại Wien, Don Inigo Velez de Onate, thuyết phục xứ Sachsen theo đạo Tin lành chống lại quân nổi dậy để đổi lấy quyền kiểm soát Lusatia. Những người Sachsen đã nghe theo và quân đội Tây Ban Nha ở phía tây đã ngăn được Liên đoàn Tin lành tiếp viện cho bá tước Thurn. Onate còn sắp xếp để tước vị tuyển hầu Pfalz được chuyển lại cho công tước xứ Bayern hòng đổi lấy sự ủng hộ của xứ Bayern và Liên đoàn Công giáo. Dưới sự chỉ huy của tướng Tilly, quân đội của Liên đoàn Công giáo (có một sĩ quan nổi tiếng là nhà khoa học người Pháp Rene Descartes) bình định vùng Thượng Áo, trong khi quân đội của Hoàng đế tấn công Hạ Áo. Hai cánh quân gặp nhau và cùng tiến về phía bắc vào xứ Bohemia. Ferdinand II đã đánh bại Friedrich V trong trận Bila Hora, gần Praha, một trận đánh có tính chất quyết định, ngày 8 tháng 11 năm 1620. Sau thất bại đó, xứ Bohemia phải hoàn toàn theo Công giáo và bị dòng họ Habsburg cai trị thêm gần 300 năm nữa.
Thất bại còn dẫn đến việc giải tán Liên đoàn đoàn kết Phúc âm và Frederick V mất toàn bộ các lãnh địa của ông. Xứ Pfalz bị chia nhỏ cho các quý tộc Công giáo. Tước hiệu tuyển hầu xứ Pfalz được chuyển lại cho một người họ hàng xa của Friedrich V theo Công giáo, công tước Maximilian của Bayern. Friedrich mất hết đất đai và phải lưu vong ở nước ngoài nhưng vẫn không ngừng vận động cho lý tưởng của ông ở Hà Lan, Đan Mạch và Thụy Điển.
Sau khi cuộc nổi loạn thất bại, việc tịch thu của cải và đàn áp những người Bohemia theo đạo Tin lành diễn ra khắp nơi, hòng bảo đảm rằng xứ Bohemia sẽ trở về hẳn với Công giáo sau hơn hai thế kỷ tồn tại của những tôn giáo khác biệt. Tây Ban Nha, vì muốn làm chủ vùng chiến lược ngay cạnh mạn sườn của Hà Lan để chuẩn bị cho việc tiếp tục cuộc chiến tranh 80 năm, chiếm giữ những lãnh địa của Friedrich, vùng Pfalz lưu vực sông Rhine. Giai đoạn thứ nhất của cuộc chiến ở miền đông nước Đức kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm 1621, khi hoàng thân xứ Transilvania và Hoàng đế ký Hòa ước Nikolsburg, trao cho Transilvania một số lãnh địa ở Hungary, vốn thuộc Đế quốc La Mã Thần thánh.
Một số sử gia xem giai đoạn 1621-1625 là một phần riêng biệt của cuộc chiến tranh 30 năm, được gọi là “giai đoạn Pfalz”. Sau thất bại toàn diện của quân đội Tin lành tại Bila Hora và cuộc tháo chạy của hoàng thân xứ Transilvania, Đại Bohemia đã được Hoàng đế bình định. Tuy nhiên, chiến tranh vẫn tiếp diễn ở Pfalz. Giai đoạn này của cuộc chiến bao gồm những trận đánh nhỏ và những cuộc vây hãm của quân đội Tây Ban Nha. MannheimHeidelberg thất thủ vào năm 1622, Frankenthal thất thủ năm 1623 và toàn xứ Pfalz rơi vào tay người Tây Ban Nha.
Tàn quân Tin lành, do Mansfeld và Christian nhà Brunswick chỉ huy, rút sang Hà Lan. Dù sự có mặt của đội quân đó đã giúp giải vây cho Bergen op Zoom khỏi lực lượng Công giáo, phía Hà Lan không thể chu cấp nổi cho một đội quân lớn như vậy nên họ chuyển sang khu vực East Friesland gần đó. Mansfeld ở lại Hà Lan, còn Christian dẫn quân rong ruổi để giúp những đội quân Tin lành khác trong Vòng cung Hạ Sachsen và lôi kéo sự chú ý của Tilly. Nhận được tin Mansfeld không thể hỗ trợ, quân đội của Christian quyết định rút hẳn vào sâu trong biên giới Hà Lan. Ngày 6-8-1623, quân đội của Tilly đuổi kịp họ khi chỉ còn cách biên giới Hà Lan 10 dặm. Trận Stadtlohn đã nổ ra. Trong trận này Tilly đánh bại hoàn toàn những người Tin lành, tiêu diệt bốn phần năm quân số vào khoảng 15 nghìn quân của đối thủ. Sau thất bại nặng nề đó, Friedrich V, đang lưu vong ở The Hague, trước sức ép ngày càng lớn từ phía nhạc phụ James I của Anh, phải chấm dứt mọi can dự tới cuộc chiến, đành ngưng các kế hoạch quân sự của ông. Cuộc nổi dậy của người Tin lành đến đây hoàn toàn thất bại.

Christian IV của Đan Mạch. Tổng chỉ huy lực lượng Tin lành giai đoạn 1625-1629

Sự can thiệp của Đan Mạch (1625-1629)

Nền hòa bình ở Đế chế không tồn tại được lâu khi xung đột tiếp diễn với sự can thiệp của Đan Mạch. Đan Mạch bắt đầu can dự vào cuộc chiến khi Christian IV của Đan Mạch, một người Luther, đồng thời là công tước xứ Holstein, giúp đỡ những người lãnh đạo theo Tin lành ở vùng Hạ Sachsen lân cận chống lại quân đội của Hoàng đế La Mã thần thánh. Đan Mạch lo sợ rằng chủ quyền của họ sẽ bị xâm phạm khi những quốc gia Tin lành bị đe dọa bởi các chiến thắng liên tiếp của phe Công giáo. Vua Christian IV còn hưởng lợi nhờ chính sách trước đây của ông ở miền bắc Đức. Một ví dụ điển hình là vào năm 1621, Hamburg đã buộc phải chịu sự cai trị của người Đan Mạch và con trai thứ hai của Christian được cử làm linh mục thành phố Bremen. Vua Christian IV, dựa vào việc mở rộng ảnh hưởng ở miền bắc Đức, đưa vương quốc của ông đến sự ổn định và thịnh vượng mà khi đó ở châu Âu khó có nơi nào sánh bằng. Sự giàu có của Đan Mạch là nhờ vào thuế thu được từ vùng Oresund và tiền bồi thường chiến tranh từ Thụy Điển. Những tính toán của Đan Mạch trong cuộc chiến nhận được sự trợ giúp về tài chính từ phía người Pháp và người Anh. Đích thân Christian IV trở thành tư lệnh của quân đội Tin lành trên toàn Vòng cung Hạ Saxon với lực lượng lính đánh thuê lên đến 2 vạn quân sĩ.

Chỉ huy lực lượng Công giáo Albrecht von Wallenstein

Để đối phó, Hoàng đế Ferdinand II đã viện đến sự trợ giúp về quân sự của Albrecht von Wallenstein, một quý tộc người Bohemia đã trở nên giàu có nhờ tịch thu của cải của những người đồng bào mình sau chiến tranh. Wallenstein cam kết đặt đạo quân ước tính từ 3 vạn đến 10 vạn binh sĩ tinh nhuệ của ông dưới sự chỉ huy Hoàng đế của Ferdinand II để đổi lấy những lãnh địa chiếm được nhờ chiến tranh. Vua Christian IV thiếu thông tin về lực lượng đối phương và bị liên quân của Wallenstein và Tilly đẩy lui nhanh chóng. Các đồng minh của ông cũng không giúp được gì nhiều như đã hứa hẹn: nước Anh quá yếu và bị chia rẽ, nước Pháp đang mắc kẹt trong một cuộc nội chiến, Thụy Điển quá bận rộn với cuộc chiến chống lại Liên bang Ba Lan-Litva, còn các xứ Brandenburg và Sachsen không mấy mặn mà trước những thay đổi với nền hòa bình còn quá mong manh ở miền đông nước Đức. Wallenstein đánh bại Mansfeld trong trận cầu Dessau (1626) và Tilly đánh bại quân Đan Mạch trong trận Lutter (1626). Mansfeld qua đời vài tháng sau đó do bệnh tật tại Dalmatia, mệt mỏi và hoàn toàn kiệt quệ sau thất bại khiến ông mất một nửa đội quân của mình.
Quân đội của Wallenstein tiến xa hơn về phía bắc, đánh chiếm Mecklenburg, Pomerania và cuối cùng là cả Jutland. Tuy nhiên, Wallenstein không thể chiếm được thủ đô của Đan Mạch trên đảo Zealand. Wallenstein thiếu một đội thủy quân đủ mạnh trong khi cả Liên minh HanseaticBa Lan, những bên không tham chiến, đều từ chối không cho phép quân đội của Đế chế xây dựng các hải cảng quân sự ở bờ biển Baltic. Wallenstein bèn quay về vây hãm Stralsund, bên tham chiến duy nhất ở bờ biển Baltic có đủ cơ sở vật chất để xây dựng một đội hải quân mạnh. Tuy nhiên, chi phí để thực hiện kế hoạch đó là quá cao so với việc chiếm được phần còn lại của Đan Mạch, nên Wallenstein quyết định đi tới thỏa thuận với địch thủ.
Những cuộc thương lượng kết thúc với Hiệp ước Lubeck vào năm 1629, tuyên bố rằng vua Christian IV vẫn được quyền cai trị Đan Mạch nếu ông từ bỏ sự ủng hộ với các thành bang theo đạo Tin lành ở Đức. Trong hai năm tiếp theo sau đó, ngày càng nhiều vùng đất rơi vào tay các lực lượng Công giáo.
Đến đây, Liên đoàn Công giáo thuyết phục được Ferdinand II lấy lại những lãnh địa của người Luther mà trước Hòa ước Ausburg thuộc quyền sở hữu của các nhà thờ Công giáo. Được liệt kê chi tiết trong một chỉ dụ đặc biệt của Hoàng đế vào năm 1629, những lãnh địa này bao gồm hai tổng giáo phận, 16 giáo phận và hàng trăm nhà thờ. Cũng trong năm đó, Gabriel Bethlen, một trong những lãnh đạo quân sự có ảnh hưởng lớn của phe Tin lành, qua đời. Chỉ còn lại một mình cảng Stralsund tiếp tục cuộc chiến chống lại Wallenstein và Hoàng đế.

Sự can thiệp của Thụy Điển (1630-1635)

Mẫu phục chế một nhóm bộ binh trong chiến tranh Ba mươi năm được trưng bày tại Viện bảo tàng chiến tranh Thụy ĐiểnStockholm

Chiến thắng của Gustav II Adolf trong trận Breitenfeld (1631)

Một số triều thần của hoàng đế Ferdinand II tỏ ý nghi ngờ Wallenstein. Họ cho rằng ông ta đang tìm cách củng cố liên minh với các hoàng thân ở Đức và gây áp lực lên Hoàng đế. Ferdinand II cách chức Wallenstein vào năm 1630. Nhưng sau đó đã phải gọi lại ông khi quân đội Thụy Điển, do vua Gustaf II Adolf chỉ huy, tấn công Đế chế.
Gustav Adolf, giống như Christian IV, cũng lo ngại về sức mạnh ngày cang gia tăng của Hoàng đế La Mã thần thánh, nên quyết định hỗ trợ những người Luther ở Đức, đánh chặn những người Công giáo ngay trên đất của họ đồng thời giành lấy những lợi ích về kinh tế ở các thành bang nước Đức quanh biển Baltic. Giống như Christian IV, Gustav Adolf nhận được sự hỗ trợ tài chính từ Hồng y Richelieu, quan Thượng thư đầu triều của vua Pháp là Louis XIII, và người Hà Lan. Vào ngày 3 tháng 4 năm 1630, vua Gustav II Adolf và các chiến binh tinh nhuệ tấn công và chiếm được thành phố Frankfurt-an-der-Oder. Quân đội Thụy Điển tàn sát quân cố thủ tại thành phố này.[1] Từ 1630 đến 1634, quân đội Thụy Điển đã đẩy lùi các lực lượng Công giáo và giành lại rất nhiều phần đất của người Tin lành bị chiếm đóng trước đó.
Sau khi cách chức Wallenstein vào năm 1630, Ferdinand II phải phụ thuộc vào Liên đoàn Công giáo. Pháp và xứ Bayern ký một thỏa thuận bí mật không tấn công lẫn nhau: Hiêp ước Fontainebleau (1631), nhưng hiệp ước này không còn nhiều giá trị khi Thụy Điển, vốn được sự bảo trợ của Pháp, tấn công xứ Bayern. Tại trận Breitenfeld (1631), lực lượng do Gustav II Adolf chỉ huy đánh bại Liên đoàn Công giáo do tướng Tilly chỉ huy. Một năm sau, họ lại giáp mặt trong một chiến thắng nữa dành cho những người Tin lành, và Tilly tử trận. Thế thượng phong giờ chuyển sang tay những người Tin lành do Thụy Điển đứng đầu. Năm 1630, Thụy Điển đã phải chi hơn 2.368.000 daler (đơn vị tiền tệ của Thụy Điển vào thời kỳ đó) để nuôi sống và trang bị cho một đội quân 42 nghìn người. Năm 1632, họ chỉ còn phải chi ra một phần năm số đó cho một lực lượng đông hơn gấp ba lần (ước tính vào khoảng 149 nghìn người) với sự trợ giúp về tài chính từ Pháp và việc bắt lính những tù nhân (chủ yếu là ở Breitenfeld).
Sau khi Tilly tử trận, Ferdinand II đành quay qua nhờ sự giúp đỡ của Albrecht von Wallenstein và lực lượng quân đội còn rất mạnh của ông. Wallenstein tiến về phía nam, đe dọa đường tiếp tế của “Hùng sư phương Bắc” Gustav II Adolf. Gustav II Adolf hiểu rằng Wallenstein đang chờ đợi quân Thụy Điển tấn công và đã được chuẩn bị sẵn sàng, nhưng ông không còn lựa chọn nào khác. Wallenstein và Gustav II Adolf cuối cùng cũng chạm trán trong trận Lutzen (1632). Quân Thụy Điển nắm được ưu thế, nhưng Gustav II Adolf tử trận. Năm 1634, lực lượng Tin lành, vốn đã mất vị minh chủ, bị đánh bại trong trận Nordlingen lần thứ nhất.
Đến đây, hoàng đế Ferdinand II lại nghi ngờ Wallenstein bởi bắt đầu từ năm 1633, Wallenstein tìm cách dàn xếp những khác biệt giữa hai phe Công giáo và Tin Lành. Ferdinand II sợ rằng Wallenstein sẽ phản bội mình nên đã sắp xếp một cuộc bắt giữ Wallenstein rồi sau đó tước hết binh quyền. Một trong những người lính của Wallenstein, đội trưởng Devereux, ám sát ông khi ông đang cố gắng tìm cách liên hệ với những người Thụy Điển ở quảng trường Eger ngày 25 tháng 2 năm 1634.
Sau sự kiện đó, hai phía gặp nhau để thương lượng về hòa bình, dẫn đến Hòa ước Praha (1635), bao gồm những điều khoản chính yếu sau:

  • Hoãn việc thực thi chỉ dụ đặc biệt về thu hồi các giáo phận Tin lành của Hoàng đế lại 40 năm và cho phép những người Tin lành giữ lại những giáo phận mà họ đã sở hữu trong năm 1627. Điều này sẽ bảo vệ những nhà cai trị Luther ở phía đông bắc nước Đức, nhưng chưa bảo vệ được những người ở miền nam và miền tây (những người mà đất đai đã bị quân đội của Hoàng đế hoặc của Liên đoàn Công giáo tước đoạt vào trước năm 1627).
  • Hợp nhất quân đội của Hoàng đế và của các thành bang nước Đức thành một quân đội duy nhất dưới sự chỉ huy của Hoàng đế La Mã Thần thánh (mặc dù trên thực tế Johann Georg xứ SachsenMaximillian xứ Bayern vẫn có quân đội riêng, độc lập với Hoàng đế).
  • Cấm các tuyển hầu ở Đức liên minh với nhau và với các lực lượng nước ngoài.
  • Ân xá cho những tuyển hầu đã cầm quân chống lại Hoàng đế sau khi người Thụy Điển tham chiến vào năm 1630.

Tuy nhiên, hòa ước này đã không làm hài lòng một bên vắng mặt, người Pháp vì nhà Habsburg còn trở nên hùng mạnh hơn trước. Vậy là người Pháp trực tiếp can thiệp vào cuộc chiến, bắt đầu cho giai đoạn cuối cùng của Chiến tranh Ba mươi năm.

Sự can thiệp của Pháp (1635-1648)

Nước Pháp, mặc dù là “Trưởng nữ của Giáo hội Công giáo”[2], cũng lại là kình địch của Đế quốc La Mã thần thánh và Tây Ban Nha, bước vào cuộc chiến trong tư cách đứng về phía phe Tin lành. Quan Thượng thư đầu triều Pháp là Hồng y Richelieu cảm thấy quân nhà Habsburg vẫn quá mạnh, chiếm giữ nhiều lãnh địa ở ngay biên giới phía đông nước Pháp, bao gồm nhiều phần của Hà Lan.
Trước đó, trong một thời gian dài, Pháp đã liên minh với Hà Lan, rồi sau đó là Đan Mạch và Thụy Điển, để bảo trợ cho cuộc chiến của người Tin lành chống lại Đế quốc La Mã thần thánh. Hòa ước Praha, được dàn xếp dựa do sự ép buộc của Ferdinand II, khiến người Pháp và phe Tin lành không hài lòng. Thụy Điển muốn được nhiều đất đai hơn nữa để trang trải cho phí tổn mà họ phải gánh chịu trong suốt cuộc chiến. Tháng 4-1635, Pháp và Thụy Điển ký một hiệp ước liên minh, hiệp ước Compiegne. Cho tới thời điểm đó của cuộc chiến, nước Pháp vẫn chưa bị tổn thất gì và chỉ tham dự một cách hạn chế bằng cách bỏ tiền trang trải chiến phí, thay vì trực tiếp chiến đấu.
Vào những tháng đầu của năm 1635, Pháp bắt đầu tỏ ra tích cực hơn trong các hoạt động quân sự. Tháng 2-1635, Richelieu đã gửi cho Hà Lan 2 vạn quân tiếp viện. Tuy nhiên, Pháp không thể cứ đứng ngoài cuộc chiến. Tây Ban Nha tấn công Trier, một xứ bảo hộ của Pháp từ 1631, vào đầu năm 1635 và tháng 5-1635, Pháp tuyên chiến với Tây Ban Nha. Vào lúc đầu, triển vọng quân sự của Pháp là không tốt. Quân đội Pháp không có nhiều kinh nghiệm chiến đấu so với những địch thủ đã trải qua cuộc chiến được gần 20 năm. Họ bèn tìm kiếm những liên minh với các thành bang Tin lành, Savoie, Parma, Màntova và những người Tin lành ở Thụy Sĩ.

Dù là một người Công giáo có thế lực lớn, Hồng y Richelieu quyết định liên minh với những người Tin lành

Năm 1636, một cuộc tổng tấn công của phe Đế chế nhắm vào Pháp được phát động. Hai đạo quân của Đế quốc đánh vào nước Pháp, một theo hướng dãy Picardy do Hồng y Ferdinand nước Áo chỉ huy và một theo đường Vosges, do Gallas chỉ huy, trong khi vua Felipe IV của Tây Ban Nha đích thân chỉ huy một đạo quân dự định tấn công miền nam Pháp. Đạo quân của Hồng y Ferdinand giành những thắng lợi liên tiếp và đã có lúc uy hiếp Paris. Tuy nhiên, quân Pháp chống trả quyết liệt và dưới sự kêu gọi của Louis XIII và Hồng y Richelieu, Paris đã không thất thủ, quân Pháp sau đó dần đẩy lui được đạo quân của Hồng y Ferdinand. Đạo quân của Gallas cũng bị công tước Bernard xứ Weimar chặn đứng, còn cuộc tấn công của Felipe IV không thể thực hiện được. Chiến thắng này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với nước Pháp trong cuộc chiến.
Tháng 2 năm 1637, Hoàng đế La Mã thần thánh Ferdinand II băng hà, con trai ông, Ferdinand III (Đế quốc La Mã thần thánh), kế vị cha. Ferdinand III ngay lập tức đứng trước những thử thách hết sức khắc nghiệt. Trước đó, tháng 10-1636, quân Thụy Điển đánh bại quân của Đế chế trong một trận đánh lớn tại Wittstock, Brandenburg, qua đó giành quyền kiểm soát phần lớn miền bắc Đức. Gallas đã phải bỏ dở chiến dịch của ông ở Pháp để quay về đối phó. Trận Torgau diễn ra sau đó, với thắng lợi của Đế chế, buộc quân Thụy Điển phải lùi về Pomerania, nhưng vẫn còn đủ mạnh để uy hiếp miền bắc Đế chế.
Trong khi đó, Pháp bắt đầu tổ chức phản công và giành được những chiến thắng đáng kể ở miền bắc Ý khi công tước Bernard xứ Weimar đánh bại quân Đế chế ở Rheindelfen rồi chiếm được AlsaceBreisach. Sau khi Bernard qua đời năm 1639, quân đội của ông được đặt hoàn toàn dưới sự kiểm soát của nước Pháp. Lúc này, quân đội Pháp cũng bắt đầu có những chỉ huy tài năng: TurenneLouis II de Bourbon, hoàng thân xứ Conde.
Trên biển, liên quân Tin lành cũng giành được những thắng lợi quyết định. Tháng 10-1639, hải quân Hà Lan đánh bại một hạm đội hải quân của Tây Ban Nha trong trận Downs. Tháng 1-1640, một hạm đội hải quân của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha lại bị hải quân Hà Lan đánh bại trong trận Pernambuco. Kể từ sau đó, quân đội của Đế chế không còn nhận được sự tiếp viện của Tây Ban Nha từ đường biển nữa. Tháng 11-1641, Hồng y Ferdinand qua đời, thêm một tổn thất nữa cho phe Đế chế.
Về phần Tây Ban Nha, họ gặp phải nhiều vấn đề quốc nội hết sức phức tạp. Trong hai năm 1640-1641, Bồ Đào Nha, trước giờ vẫn là một xứ bảo hộ của Tây Ban Nha, nổi dậy đòi quyền độc lập. Xứ Catalan cũng nổi loạn, tham gia một hiệp ước chống Tây Ban Nha với nước Pháp, thành lập liên minh Pháp – Catalan và lật đổ nền cai trị của Tây Ban Nha ở Barcelona, thủ phủ xứ Catalan, vào năm 1641. Tây Ban Nha trở nên hết sức hỗn loạn và vua Felipe IV không còn tâm trí đâu cho cuộc chiến nữa. Tuy nhiên, Pháp đã không tận dụng được cục diện xoay chuyển có lợi cho họ đó bởi cái chết của Hồng y Richelieu vào tháng 12-1642. Louis XIII cũng băng hà chỉ sau đó không đầy một năm, tháng 5-1643. Tự quân của nước Pháp, Louis XIV của Pháp, chỉ mới bốn tuổi và những người cầm quyền nhiếp chính, Hoàng hậu Anne, một người Áo và Thủ tướng Mazarin, một người Ý, đều không muốn tiếp tục cuộc chiến. Cùng năm đó, Tướng quan xứ Bayern là Franz von Mercy đánh tan tác quân Pháp.[3]
Vào năm 1645, Tướng quan Pháp Turenne bị Tướng quan Franz von Mercy tấn công bất ngờ trong trận Mergentheim, và Turenne thất bại nặng nề.[4] Tuy nhiên, Tổng chỉ huy Quân đội Thụy Điển, Lennart Torstensson đánh bại quân của Đế chế trong trận Jankau gần Praha và Louis II de Bourbon – nhận lệnh Hồng y Mazarin đến cứu vãn Quân đội Pháp sau chiến bại tại Mergentheim – đánh tan tác Quân đội Bayern trong trận Nordlingen lần thứ hai. Vị tướng tài năng cuối cùng của phe Công giáo, Franz von Mercy, đã hy sĩnh trong trận đánh này.
Vào ngày 14 tháng 3 năm 1647, Bayern, Köln, PhápThụy Điểnthỏa ước ngừng bắn Ulm. Sau đó, quân Pháp chiếm đóng pháo đài Philipsburg của Đế quốc La Mã Thần thánh.[3] Năm 1648, liên quân Pháp Thụy Điển do Thống chế Carl Gustaf Wrangel cùng Tướng quan Turenne và Louis II de Bourbon chỉ huy đánh bại Quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh trong những trận đánh lớn cuối cùng của cuộc chiến, trận Zurmarshausentrận Lens. Sau hai thất bại đó, vương triều Habsburg rộng lớn giờ chỉ còn làm chủ mỗi vùng lãnh địa nước Áo mà thôi. Vào năm 1648, quân Thụy Điển thực hiện cuộc tiến công cuối cùng vào thành Praha.[2]

Hòa ước Westphalia

Bài chi tiết: Hòa ước Westphalia

Sau khi Louis II de Bourbon đánh bại quân Tây Ban Nha trong trận Rocroi năm 1643, những cuộc thương thuyết hòa bình được bắt đầu. Cuộc thương thảo kéo dài năm năm đã dẫn đến Hòa ước Westphalia. Hòa ước Westphalia gồm hai phần cơ bản: Hiệp ước OsnabruckHiệp ước Munster, lần lượt được ký vào các ngày 15 và 24-10-1648. Các hiệp ước nói trên về danh nghĩa, là điểm chấm dứt hai cuộc chiến lớn: Chiến tranh Ba mươi năm và chiến tranh Tám mươi năm.[5][6] [7] Các cuộc thương thuyết diễn ra tại hai thành phố OsnabruckMunster, lần lượt thuộc các bang North Rhine-WestphaliaHạ Sachsen trên lãnh thổ nước Đức ngày nay, bao gồm các bên: Hoàng đế La Mã thần thánh, Ferdinand III dòng họ Habsburg, các tuyển hầu ở các lãnh địa thuộc Đức, Tây Ban Nha, Pháp, Thụy Điển, và các đại diện của Hà Lan.

Hậu quả của chiến tranh

Những tổn thất do cuộc chiến gây ra từ lâu đã là một đề tài gây nhiều tranh cãi giữa các sử gia. Số liệu trước đây ước tính 30% dân số Đức đã thiệt mạng trong cuộc chiến đang được xem xét lại. Tỷ lệ thương vong có lẽ không cao đến mức đó mà vào khoảng từ 15% đến 20%. Những nguyên nhân chủ yếu là chiến tranh, nạn đói và bệnh dịch. Trong đó lực lượng lính đánh thuê gây ra nhiều tổn thất về nhân mạng cho thường dân và tài sản. Cuộc chiến đã gây ra những xáo trộn nghiêm trọng cả về kinh tế và dân số ở trung Âu.
Bệnh dịch hạch, hoành hành cả trong quân đội và thường dân ở Đức và những vùng đất lân cận từ 1618 đến 1648, cũng là một nguyên nhân gây ra nhiều thiệt hại về nhân mạng. Việc các đội quân di chuyển liên tục đã góp phần khiến bệnh dịch hạch ngày càng lan rộng. Thêm vào đó, những đoàn thường dân chạy loạn và di cư tập trung đông đúc ở các thành phố càng làm bệnh dịch và nạn đói trầm trọng thêm. Thông tin về thiệt hại nhân mạng do bệnh dịch thường được tìm thấy trong các biên niên sử địa phương, như những tài liệu đăng ký giáo dân và đăng ký thuế. Tuy nhiên, những thông tin này thường không đầy đủ, hoặc đôi khi phóng đại con số thực tế. Cũng phải nói thêm rằng dịch bệnh không phải là một hệ quả trực tiếp của chiến tranh. Nhiều thập kỷ trước năm 1618, trên nhiều vùng đất nay là nước Đức cũng thường xuyên phát sinh dịch bệnh.
Tuy nhiên, khi quân đội Đan Mạch và quân đội của Đế chế giao tranh tại SachsenThuringia trong những năm 1625 và 1626, bệnh dịch đặc biệt gia tăng. Các cuốn biên niên sử của từng địa phương thường xuyên nhắc đến “những bệnh ở đầu”, “bệnh lây truyền từ Hungary” hay “bệnh nổi chấm đỏ”. Sau cuộc chiến ở Màntova giữa Pháp và vương triều Habsburg cai trị Ý, phần phía bắc bán đảo Ý phải hứng chịu một đợt dịch hạch khủng khiếp. Trong cuộc vây hãm không thành công Nuremberg vào năm 1632, cả thường dân lẫn binh lính của quân đội Thụy Điển và Đế chế đều mắc bệnh sốt phát bansco-bút. Hai năm sau, khi quân đội Đế chế truy đuổi quân Thụy Điển ở miền tây nam nước Đức, dịch bệnh lại hoành hành ở vùng dọc theo sông Rhine. Bệnh dịch hạch đóng một vai trò quan trọng trong cuộc chiến. Đầu năm 1634, Dresden, München và nhiều thành phố nhỏ hơn khác ở Đức như Oberammergau đều xảy ra dịch bệnh. Trong những năm cuối cùng của cuộc chiến, bệnh sốt phát ban và kiết lỵ đã phát triển thành dịch ở nhiều vùng trên khắp đất Đức.

Hệ quả chính trị của cuộc chiến

Hệ quả đầu tiên của cuộc chiến là việc chia cắt nước Đức thành nhiều vùng khác nhau. Mỗi vùng, dù vẫn là thành viên của Đế chế, trên thực tế có chủ quyền riêng biệt. Điều này làm suy giảm nghiêm trọng sức mạnh của Đế chế La Mã Thần thánh và phi tập trung hóa quyền lực ở Đức. Đây cũng được xem là nguyên nhân sâu xa cội rễ của chủ nghĩa quân phiệt Đức và chủ nghĩa dân tộc ở Đức sau này.
Chiến tranh Ba mươi năm đã sắp xếp lại cấu trúc quyền lực trước đó ở châu Âu. Sau khi các xứ Sachsen và Brandenburg về với Đế quốc La Mã Thần thánh, việc quân Pháp nhảy vô tham chiến đã đưa bản chất của cuộc chiến dần trở thành một cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân Đức.[2] Ảnh hưởng của Tây Ban Nha, cả về quân sự và chính trị, suy giảm nghiêm trọng. Trong khi Tây Ban Nha đang mắc kẹt trong cuộc chiến với Pháp, Bồ Đào Nha, là một quốc gia nằm dưới quyền bảo hộ của Tây Ban Nha trong 60 năm trước đó (từ 1580), đã có vị vua riêng của họ là João IV, vào năm 1640, và triều đại Braganza được thiết lập ở Bồ Đào Nha. Ngoài ra, Đế quốc Tây Ban Nha cuối cùng phải thừa nhận nền độc lập của Hà Lan vào năm 1648, kết thúc cuộc chiến tranh Tám mươi năm. Cùng với sự suy yếu của Tây Ban Nha, Pháp nổi lên là quốc gia hùng mạnh bậc nhất ở châu Âu, được khẳng định bằng chiến thắng trong cuộc chiến tranh Pháp–Tây Ban Nha diễn ra không lâu sau đó.
Thất bại của Tây Ban Nha và các lực lượng ủng hộ đế chế còn đánh dấu sự suy sụp của triều đại Habsburg và sự nổi lên của Vương triều nhà Bourbon nước Pháp. Trong suốt cuộc chiến tranh tàn khốc, xứ Brandenburg bị cả quân Thụy Điển lẫn Quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh tàn phá dữ dội. Trong khi đó, Tuyển hầu tước xứ Brandenburg thường thực hiên những chính sách thiếu quyết đoán đối với cả hai phía. Trong thế kỷ thứ 18 sau này, một vị vua lớn của nước Phổ-Brandenburg là Friedrich II Đại Đế (trị vì: 17401786) có chép sử, theo đó Tuyển hầu tước Georg Wilhelm thật không có tài năng trị vì lãnh địa.[8] Vua Friedrich II cũng ghi nhận về hậu quả của cuộc Chiến tranh Ba mươi năm đối với lãnh địa Brandenburg:[9]

…bị tàn phá trong cuộc Chiến tranh Ba mươi năm, cái ảnh hưởng ghê tởm của cuộc tàn phá này nó sâu đậm đến mức mà từng chi tiết nhỏ của nó có thể được nhận thức rõ – như Trẫm viết.
—Vua Phổ Friedrich II

Từ 1643 đến 1645, những năm cuối cùng của cuộc chiến, chiến tranh Tortenson diễn ra giữa Đan Mạch và Thụy Điển. Kết quả của cuộc chiến đó và của cuộc chiến lớn diễn ra trên toàn châu Âu cùng với hòa ước Westphalia năm 1648 đã khẳng định vị thế một cường quốc ở châu Âu của Thụy Điển sau khi chiến tranh kết thúc. Nhưng rồi, tân Tuyển hầu tước Friedrich Wilhelm I xứ Brandenburg trung hưng, xây dựng lực lượng Quân đội tinh nhuệ, và rồi đại phá tan tác được hùng binh Thụy Điển (1675). Xứ Brandenburg vươn lên phát triển cường thịnh, thế là họ thiết lập Vương quốc Phổ-Brandenburg vào năm 1701. Vua Friedrich II sau này đã đánh giá rất cao về vị Tuyển hầu tước lớn Friedrich Wilhelm I thành tựu này.[10][11]
Những điều khoản được thỏa thuận trong suốt quá trình thương lượng dẫn đến ký kết hòa ước Westphalia đã đặt nền móng cho những nguyên tắc ứng xử trong quan hệ quốc tế sau này và thậm chí được xem là những nguyên lý cơ bản của định nghĩa chủ quyền với các quốc gia độc lập. Ngoài việc xác định biên giới lãnh thổ rõ ràng cho nhiều quốc gia liên quan (cũng giống như các quốc gia mới được thành lập sau này), hòa ước Westphalia đã thay đổi mối quan hệ giữa các thần dân và những người cai trị. Lúc đầu, người dân thường có xu hướng tuân theo cả các quyền lực chính trị và tôn giáo. Sau hòa ước Westphalia, các công dân của một quốc gia có chủ quyền trên nguyên tắc trước hết phải tuân theo luật lệ của chính quyền đang cai quản quốc gia đó, dù cho chính quyền đó là tôn giáo hay là thế tục.
Ngoài ra, chiến tranh còn mang tới một số hệ quả quan trọng khác:

  • Chiến tranh Ba mươi năm là cuộc chiến tranh vì tôn giáo lớn cuối cuối cùng ở châu Âu lục địa, kết thúc thời kỳ dài của những cuộc đổ máu vì lý do tín ngưỡng. Vẫn còn tồn tại xung đột về tôn giáo đây đó ở châu Âu, nhưng không xảy ra những cuộc chiến tranh lớn.[12]
  • Những tàn phá do các đội quân lính đánh thuê gây ra là cực kỳ lớn. Cuộc chiến tranh Ba mươi năm đã góp phần dẫn đến việc chấm dứt thời kỳ các quốc gia sử dụng lính đánh thuê. Những quốc gia châu Âu bắt đầu xây dựng cho mình những đội quân riêng, có kỷ luật và chiến đấu trước hết vì đất nước. Ví dụ, sau khi lên nối ngôi vào năm 1640, Tuyển hầu tước lớn của xứ Brandenburg là Friedrich Wilhelm I đã tìm cách chấm dứt chiến tranh, và xây dựng một lực lượng Quân đội tinh nhệ và có trình độ kỷ luật cao để bảo vệ nền độc lập của lãnh địa mình. Nhờ đó, nền độc lập của xứ Brandenburg được duy trì và bảo vệ bởi một lực lượng vũ trang hùng hậu, thay vì việc tham gia các liên minh mà đã mang lại ảnh hưởng xấu của xứ Brandenburg trong cuộc Chiến tranh Ba mươi năm.[13] Cuối cùng, trong chiến dịch phạt Brandenburg của quân Thụy Điển hùng mạnh vào năm 1675, Quân đội tinh nhuệ Brandenburg đã đại phá tan nát quân Thụy Điển trong trận đánh lịch sử tại Fehrbellin.[10]

Biểu đồ các nước tham chiến

Thirty Years War involvement graph.svg

Trực tiếp chống Đế quốc La Mã Thần thánh
Gián tiếp chống Đế quốc La Mã Thần thánh
Trực tiếp thân Đế quốc La Mã Thần thánh
Gián tiếp thân Đế quốc La Mã Thần thánh

Chú thích

  1. ^ Christopher Duffy, Siege Warfare: The fortress in the early modern world, 1494-1660, trang 177
  2. ^ a ă â Christopher Duffy, Siege Warfare: The fortress in the early modern world, 1494-1660, trang 181
  3. ^ a ă Christopher Duffy, Siege Warfare: The fortress in the early modern world, 1494-1660, trang 129
  4. ^ Richard Bonney, The Thirty Years’ War 1618-1648, trang 64
  5. ^ “::The Thirty Years War::”. Chris Atkinson. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  6. ^ End of the Eighty Years War “The Thirty Years War: The Peace of Westphalia”. http://www.pipeline.com. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  7. ^ “Germany History Timeline”. http://www.countryreports.org. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2008.
  8. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 26
  9. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 19
  10. ^ a ă Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, các trang 42-45.
  11. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 64
  12. ^ “Lecture 6: Europe in the Age of Religious Wars, 1560-1715”. http://www.historyguide.org. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2008.
  13. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang XVI

Đọc thêm

Liên kết ngoài


Chiến tranh Tám mươi năm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Chiến tranh tám mươi năm)
Chiến tranh tám mươi năm
Veen01.jpgQuân tiếp viện Tây Ban Nha sau khi Leiden thất thủ, 1574
.
Thời gian 1568–1648
Địa điểm Vùng đất trũng
(Xung đột tại các thuộc địa trên toàn cầu)
Kết quả Hà Lan thắng lợi
Hòa ước Münster
Cộng hòa Hà Lan giành độc lập
Tây Ban Nha tiếp tục dành quyền cai trị vùng đất miền nam Hà Lan
Tham chiến
Cộng hòa Hà Lan Cộng hòa Hà Lan
 Vương quốc Anh
Arms of Nassau.svg Nassau
Croix huguenote.svg Huguenots
 Pháp
Tây Ban Nha Đế quốc Tây Ban Nha
Đế quốc La Mã Thần thánh Thánh chế La Mã
.

Chiến tranh Tám mươi năm hay còn được gọi là Chiến trành giành Độc lập Hà Lan (1568–1648)[1] là một cuộc nổi dậy của mười bảy tỉnh chống lại Felipe II của Tây Ban Nha, chúa đất Hà Lan thuộc Habsburg.
Trong giai đoạn đầu, Felipe II triển khai quân đội của mình và đập tan quân phiến loạn và giành lấy lại quyền kiểm soát tại hầu hết các tỉnh nổi dậy. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Willem xứ Orange, các tỉnh miền Bắc tiếp tục kháng cự và đánh bại quân đội của hoàng tộc Habsburg, và thành lập Cộng hòa của bảy tỉnh Hà Lan. Sau đó cuộc chiến tiếp tục diễn ra, mặc dù cương thổ của họ không còn bị đe dọa. Chiến tranh kết thúc năm 1648 với việc Hòa ước Münster được ký kết, và nước Cộng hòa Hà Lan được chính thức công nhận là quốc gia độc lập.

Nguyên nhân bùng nổ

Thời trung đại, lãnh thổ Hà Lan bị chia thành một số lãnh địa phong kiến, một số thuộc Pháp, một số thuộc Ðức. Cuối thế kỷ mười lăm, họ Habsburg đã dành quyền cai tri trên toàn vùng đất này. Lúc Carlos I của Tây Ban Nha còn sống, vùng đất Hà Lan vẫn còn nắm một vị trí nhất định, nhưng khi Felippe II lên ngôi, Hà Lan được xem như một lãnh địa phụ thuộc chặt chẽ vào Tây Ban Nha. Mọi quyền hành trong nước đều nằm trong tay toàn quyền Tây Ban Nha là Marguerite và viên phụ chính là Hồng y Granvella.
Trên lãnh vực tôn giáo, Tây Ban Nha đã thi hành một chính sách đàn áp tôn giáo khốc liệt, đặc biệt là tân giáo. Những học thuyết của Martin Luther, Calvin đều bị cấm phổ biến, những người theo đạo Kháng cách đều bị truy lùng. Chính quyền Tây Ban Nha đã lập ra tòa án tôn giáo ở Hà Lan để xét xử các tín đồ theo đạo Kháng cahs. Tuy chính quyền ban hành các sắc lệnh cấm đạo và những cuộc hành hình ngày càng nhiều, nhưng số người theo Kháng cách ngày càng đông.

Chú thích

  1. ^ The Dutch States-General, for dramatic effect, decided to promulgate the ratification of the Peace of Münster (which was actually ratified by them on 15 May 1648) on the 80th anniversary of the execution of the Counts of Egmont and Horne, 5 June 1648. See Maanen, H. van (2002), Encyclopedie van misvattingen, Boom, trang 68, ISBN 90-5352-834-2.

Tham khảo

Cộng hòa Hà Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Cộng hòa Hà Lan, chính thức được gọi là Cộng hòa Bảy Hà Lan Thống nhất (Republiek der Zeven Verenigde Nederlanden), Cộng hòa Hà Lan Thống nhất, hoặc Cộng hòa Bảy Tỉnh Thống nhất (tiếng Hà Lan: Republiek der Zeven Provinciën Verenigde) là một nước cộng hòa ở châu Âu tồn tại từ năm 1581, khi một phần của Hà Lan tách ra khỏi ách thống trị Tây Ban Nha, cho đến năm 1795. Nước cộng hòa có trước Cộng hòa Batavia, Vương quốc Hà Lan, Vương quốc Thống nhất Hà Lan và cuối cùng là Vương quốc Hà Lan hiện tại. Tên thay thế bao gồm Các tỉnh Thống nhất

Tham khảo

Advertisements