Chào ngày mới 23 tháng 5

Vườn quốc gia Cát Bà nhìn từ đỉnh Cao Vọng
CNM365. Chào ngày mới 23 tháng 5
.  Năm 1983Vườn quốc gia Cát Bà được thành lập thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng là khu rừng đặc dụng của Việt Nam, khu dự trữ sinh quyển thế giới. Năm 1977 – Việt Nam và vương quốc Tây Ban Nha đã thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Năm 1885 – Kinh đô Huế thất thủ vào tay Pháp. Vua Hàm Nghi chạy khỏi Huế.

 

23 tháng 5

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 23 tháng 5 là ngày thứ 143 (144 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 222 ngày trong năm.

« Tháng 5 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31

Mục lục

Sự kiện

Người sinh

Người chết

Những ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Advertisements

Chào ngày mới 23 tháng 5

 

CNM365 Chào ngày mới 23 tháng 5 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Rùa thế giới; ngày Lao động tại JamaicaNăm 619Vương Thế Sung tuyên bố rằng Hoàng Thái Chủ hạ lệnh thiện vị cho mình, triều Tùy hoàn toàn kết thúc. Năm 1430Jeanne d’Arc bị người Bourgogne bắt trong khi bà đang dẫn quân đến cứu viện Compiègne. Năm 1844 – Một thương nhân tại Shiraz, Ba Tư tuyên bố rằng mình là một nhà tiên tri, sáng lập một phong trào tôn giáo là tiền thân của Bahá’í. Năm 1945Chiến tranh thế giới thứ hai: Thống chế đội cận vệ Đức Quốc Xã là Heinrich Himmler (hình) tự sát trong khi bị Đồng Minh giam giữ. Năm 1995James Gosling (hình) phát hành phiên bản đầu tiên của ngôn ngữ lập trình Java.

Java (ngôn ngữ lập trình)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Java
Phần mở rộng thường gặp .java,.class,.jar
Mô hình lập trình Mẫu hình lập trình
Xuất hiện vào 1995
Thiết kế bởi James Gosling
Sun Microsystems
Nhà phát triển Oracle Corporation
Phiên bản mới nhất 1.7.45 sửa dữ liệu
Turing đầy đủ Yes
Kiểm tra kiểu Tĩnh, mạnh, an toàn, nominative, hiển nhiên
Hiện thực OpenJDK và nhiều máy ảo Java
Thuộc loại ngôn ngữ Generic Java, Pizza
Ảnh hưởng từ Ada 83, C++, C#,[1] Eiffel,[2] Generic Java, Mesa,[3] Modula-3,[4] Oberon,[5] Objective-C,[6] UCSD Pascal,[7][8] Smalltalk
Ảnh hưởng tới Ada 2005, BeanShell, C#, Clojure, D, ECMAScript, Groovy, J#, JavaScript, PHP, Python, Scala, Seed7, Vala
Hệ điều hành Cross-platform (multi-platform)
Giấy phép GNU General Public License, Java Community Process
Trang mạng For Java Developers

Java (đọc như “Gia-va“) là một ngôn ngữ lập trình dạng lập trình hướng đối tượng (OOP). Khác với phần lớn ngôn ngữ lập trình thông thường, thay vì biên dịch mã nguồn thành mã máy hoặc thông dịch mã nguồn khi chạy, Java được thiết kế để biên dịch mã nguồn thành bytecode, bytecode sau đó sẽ được môi trường thực thi (runtime environment) chạy.
Trước đây, Java chạy chậm hơn những ngôn ngữ dịch thẳng ra mã máy như C và C++, nhưng sau này nhờ công nghệ “biên dịch tại chỗ” – Just in time compilation, khoảng cách này đã được thu hẹp, và trong một số trường hợp đặc biệt Java có thể chạy nhanh hơn. Java chạy nhanh hơn những ngôn ngữ thông dịch như Python, Perl, PHP gấp nhiều lần. Java chạy tương đương so với C#, một ngôn ngữ khá tương đồng về mặt cú pháp và quá trình dịch/chạy[9][10]
Cú pháp Java được vay mượn nhiều từ C & C++ nhưng có cú pháp hướng đối tượng đơn giản hơn và ít tính năng xử lý cấp thấp hơn. Do đó việc viết một chương trình bằng Java dễ hơn, đơn giản hơn, đỡ tốn công sửa lỗi hơn. Lập trình C rất hay xảy ra lỗi và khó sửa.
Trong Java, hiện tượng dò rỉ bộ nhớ hầu như không xảy ra do bộ nhớ được quản lí bởi Java Virtual Machine (JVM) bằng cách tự động “dọn dẹp rác” – Garbage collection. Người lập trình không phải quan tâm đến việc cấp phát và xóa bộ nhớ như C, C++. Tuy nhiên khi sở dụng những tài nguyên mạng, file IO, database (nằm ngoài kiểm soát của JVM) mà người lập trình không đóng (close) các streams thì memory leak vẫn có thể xảy ra.

Lịch sử

Duke

Java được khởi đầu bởi James Gosling và bạn đồng nghiệp ở Sun Microsystems năm 1991. Ban đầu ngôn ngữ này được gọi là Oak (có nghĩa là cây sồi; do bên ngoài cơ quan của ông Gosling có trồng nhiều loại cây này), họ dự định ngôn ngữ đó thay cho C++, nhưng các tính năng giống Objective C. Không nên lẫn lộn Java với JavaScript, hai ngôn ngữ đó chỉ giống tên và loại cú pháp như C. Công ty Sun Microsystems đang giữ bản quyền và phát triển Java thường xuyên. Tháng 04/2011, công ty Sun Microsystems tiếp tục cho ra bản JDK 1.6.24.
Java được tạo ra với tiêu chí “Viết (code) một lần, thực thi khắp nơi” (“Write Once, Run Anywhere” (WORA)). Chương trình phần mềm viết bằng Java có thể chạy trên mọi nền tảng (platform) khác nhau thông qua một môi trường thực thi với điều kiện có môi trường thực thi thích hợp hỗ trợ nền tảng đó. Môi trường thực thi của Sun Microsystems hiện hỗ trợ Sun Solaris, Linux, Mac OS, FreeBSD & Windows. Ngoài ra, một số công ty, tổ chức cũng như cá nhân khác cũng phát triển môi trường thực thi Java cho những hệ điều hành khác như BEA, IBM, HP…. Trong đó đáng nói đến nhất là IBM Java Platform hỗ trợ Windows, Linux, AIX & z/OS.
Những chi tiết về ngôn ngữ, máy ảoAPI của Java được giữ bởi Cộng đồng Java (do Sun quản lý). Java được tạo ra vào năm 1991 do một số kỹ sư ở Sun, bao gồm ông James Gosling, một phần của Dự án Xanh (Green Project). Java được phát hành vào năm 1994, rồi nó trở nên nổi tiếng khi Netscape tuyên bố tại hội thảo SunWorld năm 1995 là trình duyệt Navigator của họ sẽ hỗ trợ Java. Về sau Java được được hỗ trợ trên hầu hết các trình duyệt như Internet Explorer (Microsoft), Firefox (Mozilla), Safari (Apple)…
Java được sử dụng chủ yếu trên môi trường NetBeans và Oracle. Sau khi Oracle mua lại công ty Sun Microsystems năm 20092010, Oracle đã mô tả họ là “người quản lý công nghệ Java với cam kết không ngừng để bồi dưỡng một cộng đồng tham gia và minh bạch“.[11]

Phương châm

Có 5 mục tiêu chính trong việc xây dựng ngôn ngữ Java:[12]

  1. Nó sẽ được “đơn giản, hướng đối tượng và quen thuộc”.
  2. Nó sẽ được “mạnh mẽ và an toàn”.
  3. Nó sẽ được “kiến trúc trung lập và di động”.
  4. Nó sẽ được thực thi với “hiệu suất cao”.
  5. Nó sẽ được “thể hiện, phân luồng và năng động”.

Phiên bản

Các phiên bản Java đã phát hành:

  • JDK 1.0 (23 tháng 01, 1996)
  • JDK 1.1 (19 tháng 2, 1997)
    • JDK 1.1.5 (Pumpkin) 03 tháng 12, 1997
    • JDK 1.1.6 (Abigail) 24 tháng 4, 1998
    • JDK 1.1.7 (Brutus) 28 tháng 9, 1998
    • JDK 1.1.8 (Chelsea) 08 tháng 4, 1999
  • J2SE 1.2 (Playground) 08 tháng 12, 1998
    • J2SE 1.2.1 (không có) 30 tháng 3, 1999
    • J2SE 1.2.2 (Cricket) 08 tháng 7, 1999
  • J2SE 1.3 (Kestrel) 08 tháng 5, 2000
    • J2SE 1.3.1 (Ladybird) 17 tháng 5, 2001
  • J2SE 1.4.0 (Merlin) 06 tháng 02, 2002
    • J2SE 1.4.1 (Hopper) 16 tháng 9, 2002
    • J2SE 1.4.2 (Mantis) 26 tháng 6, 2003
  • J2SE 5 (1.5.0) (Tiger) 30 tháng 9, 2004
  • Java SE 6 (còn gọi là Mustang), được công bố 11 tháng 12 năm 2006, thông tin chính tại http://java.sun.com/javase/6/. Các bản cập nhật 2 và 3 được đưa ra vào năm 2007, bản cập nhật 4 đưa ra tháng 1 năm 2008.
  • JDK 6.18, 2010
  • Java SE 7 (còn gọi là Dolphin), được bắt đầu từ tháng 8 năm 2006 và công bố ngày 28 tháng 7 năm 2011.
  • JDK 8, 18 tháng 3 năm 2014

Phiên bản dự kiến tiếp theo: Java 9 dự kiến ra đời năm 2016

Ví dụ

Dưới đây là một chương trình Java đơn giản.

  1. /* Example.java */
    
  2. 
    
  3. public class Example
    
  4. {
    
  5.    public static void main(String args[])
    
  6.    {
    
  7.       System.out.println("I don't say -Hello World-");
    
  8.    }
    
  9. }
    

Kết quả chương trình: In ra dòng chữ “I don’t say -Hello World-” trên màn hình.

Liên kết ngoài

Ghi chú

  1. ^ Java 5.0 added several new language features (the enhanced for loop, autoboxing, varargs and annotations), after they were introduced in the similar (and competing) C# language [1] [2]
  2. ^ Gosling, James; and McGilton, Henry (tháng 5 năm 1996). “The Java Language Environment”.
  3. ^ Gosling, James; Joy, Bill; Steele, Guy; and Bracha, Gilad. “The Java Language Specification, 2nd Edition”.
  4. ^ “The A-Z of Programming Languages: Modula-3”. Computerworld.com.au. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2010.
  5. ^ Niklaus Wirth stated on a number of public occasions, e.g. in a lecture at the Polytechnic Museum, Moscow in September, 2005 (several independent first-hand accounts in Russian exist, e.g. one with an audio recording: Filippova, Elena (22 tháng 9 năm 2005). “Niklaus Wirth’s lecture at the Polytechnic Museum in Moscow”.), that the Sun Java design team licenced the Oberon compiler sources a number of years prior to the release of Java and examined it: a (relative) compactness, type safety, garbage collection, no multiple inheritance for classes — all these key overall design features are shared by Java and Oberon.
  6. ^ Patrick Naughton cites Objective-C as a strong influence on the design of the Java programming language, stating that notable direct derivatives include Java interfaces (derived from Objective-C’s protocol) and primitive wrapper classes. [3]
  7. ^ TechMetrix Research (1999). “History of Java”. Java Application Servers Report. ‘The project went ahead under the name “green” and the language was based on an old model of UCSD Pascal, which makes it possible to generate interpretive code’
  8. ^ “A Conversation with James Gosling – ACM Queue”. Queue.acm.org. 31 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2010.
  9. ^ “Programming Language Popularity”. 2009. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2009.
  10. ^ “TIOBE Programming Community Index”. 2009. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2009.
  11. ^ “Oracle and Java”. oracle.com. Oracle Corporation. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010. “Oracle has been a leading and substantive supporter of Java since its emergence in 1995 and takes on the new role as steward of Java technology with a relentless commitment to fostering a community of participation and transparency.”
  12. ^ “1.2 Design Goals of the JavaTM Programming Language”. Java.sun.com. 1 tháng 1 năm 1999. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2010.


Jeanne d’Arc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jeanne d’Arc
Joan of Arc-Notre Dame.jpg
Tượng thánh Jeanne d’Arc trong Nhà thờ Đức Bà Paris
Tiểu sử
Biệt danh Cô gái Orléans
Sinh Domrémy, Pháp
Mất Rouen, Pháp
Binh nghiệp
Phục vụ Blason France moderne.svg Vương quốc Pháp
Năm tại ngũ 1428 – 1430
Tham chiến Chiến tranh Trăm năm

Jeanne d’Arc (tiếng Việt: Gian-đa, 6 tháng 1 năm 141230 tháng 5 năm 1431) là một nữ anh hùng người Pháp trong cuộc Chiến tranh Trăm năm giữa PhápAnh. Ngày 16 tháng 5 năm 1920, Jeanne d’Arc được Giáo hoàng Biển Đức XV chính thức phong thánh, và là thánh quan thầy Giáo hội nước Pháp.
Sinh ra trong một gia đình nông dân ở phía đông nước Pháp, cô chỉ huy quân Pháp giành được một số chiến thắng quan trọng trong cuộc Chiến tranh trăm năm. Cô cho biết mình được thiên khải dẫn dắt giúp giải phóng nước Pháp đánh bại quân Anh, và như vậy gián tiếp đưa Charles VII lên ngôi. Cô bị người Anh bắt giữ, bị tòa án giáo hội xét xử, bị kết tội là phù thủy và bị hỏa thiêu khi chỉ 19 tuổi. Sự nghiệp của cô như vậy chỉ gói gọn trong hai năm cuối đời, một năm chiến đấu và một năm bị cầm tù. Hai mươi bốn năm sau, Giáo hoàng cho tra xét lại vụ án, và tuyên bố cô vô tội, rồi phong cô là một người tử vì đạo. Cô được ban phúc lành năm 1909, rồi đến năm 1920 được phong thánh.[1]
Jeanne chứng thực là cô nhận được mặc khải từ Chúa muốn cô giải phóng quê hương mình từ ách thống trị của người Anh trong cuộc Chiến tranh trăm năm. Vua Charles VII của Pháp, khi đó còn chưa lên ngôi, gửi cô cùng một đoàn quân đến đánh giải vây cho thành Orléans. Cô trở nên nổi bật sau khi vượt qua được thái độ coi thường của các chỉ huy dày dặn kinh nghiệm, và phá vây chỉ trong vòng chín ngày. Một loạt chiến thắng chóng vánh khác mở đường cho việc Charles VII đăng quang tại Reims.
Jeanne d’Arc tiếp tục là một hình tượng quan trọng trong nền văn minh phương Tây. Kể từ thời Napoléon cho tới thời hiện đại, các nhà chính trị Pháp thuộc tất cả các nhóm chính kiến tiếp tục gợi đến hình ảnh cô. Trong số các nhà văn và nhà soạn nhạc viết các tác phẩm về cô có thể kể đến Shakespeare, Voltaire, Schiller, Verdi, Tchaikovsky, Twain, và Shaw. Hình tượng cô tiếp tục được sử dụng trong phim ảnh, truyền thông, ca nhạc, múa hát và trò chơi điện tử.

Nước Pháp trong cuộc Chiến tranh Trăm năm

Vào thời Jeanne d’Arc, nước Pháp đang trong tình trạng thê thảm. Cuộc chiến tranh trăm năm bắt đầu từ năm 1337 khi cuộc tranh cãi về quyền thừa kế ngai vàng nước Pháp nổ ra, xen lẫn với các giai đoạn tương đối yên bình. Gần như tất cả các cuộc giao tranh đều diễn ra trên nước Pháp. Người Anh sử dụng chiến thuật chevauchée, tức chiến thuật dùng các cánh quân kỵ binh nhỏ đột kích, đốt phá, tàn sát để tàn phá nước Pháp. Dân số Pháp chưa kịp hồi phục sau nạn Đại dịch hạch từ thế kỷ trước, thương mại bị cắt đứt khỏi thị trường nước ngoài. Người Anh lúc đó đã gần như đạt được mục tiêu của mình nhằm thiết lập một hệ thống lưỡng đầu chế, dưới quyền điều khiển của người Anh, ngược lại quân Pháp chưa bao giờ giành được một chiến thắng đáng kể nào trong suốt cả một thế hệ. Theo lời sử gia DeVries, “vương quốc Pháp không còn đáng là cái bóng của chính nó ở thế kỷ mười ba.”[2]
Vị vua trị vì nước Pháp khi Joan ra đời là Charles VI, thỉnh thoảng lại lên cơn điên, nên không thể trị vì được. Em trai nhà vua, Công tước Louis xứ Orléans và em họ vua Jean sans Peur, Công tước xứ Burgundy, tranh giành ngôi nhiếp chính nước Pháp và quyền bảo trợ cho con cái nhà vua. Cuộc tranh giành này dẫn tới việc họ buộc tội Hoàng hậu Isabeau xứ Bavaria ngoại tình, và bắt cóc con cái nhà vua. Đỉnh điểm của cuộc xung đột diễn ra khi Công tước xứ Burgundy hạ lệnh cho người ám sát Công tước xứ Orléans năm 1407.

Nước Pháp năm 1429

   Lãnh thổ Henri V kiểm soát
   Lãnh thổ Công tước Burgundy kiểm soát
   Lãnh thổ Thái tử Charles kiểm soát
   Nơi diễn ra các trận đánh chính

Những người ủng hộ hai phe này được gọi là phe Armagnac và phe Burgundy. Lợi dụng tình hình rối ren, vua Anh là Henry V xâm lược Pháp rồi chiến thắng oanh liệt trong trận Agincourt năm 1415, đánh chiếm các thành phố ở miền bắc nước Pháp.[3] Vị vua tương lai của nước Pháp, Charles VII, thụ phong Dauphin khi mới 14 tuổi, vì cả bốn anh trai của ông đều đã qua đời trước đó.[4] Hành động quan trọng đầu tiên của ông là ký hiệp ước hòa bình với phe Burgundy năm 1419. Nhưng nỗ lực này thất bại khi những người ủng hộ phe Armagnac ám sát John Dũng cảm trong buổi triều kiến, dù Charles đã hứa bảo đảm an toàn cho ông. Vị công tước mới xứ Burgundy, Philippe le Bon, buộc Charles phải chịu trách nhiệm cho sự phản trắc này và liên minh với người Anh, với kết quả là một phần lớn lãnh thổ của Pháp bị người Anh chiếm mất.[5]
Năm 1420, Hoàng hậu Isabeau xứ Bavaria ký Hiệp ước Troyes, theo đó vua Henry V nước Anh và con cháu của ông được kế vị ngai vàng nước Pháp, thay cho con trai bà là Charles. Thỏa thuận này làm sống lại lời đồn đại là bà có quan hệ tình ái với vị Công tước xứ Orléans đã mất, và khiến người ta nghi ngờ vị Thái tử “Dauphin” là con hoang, chứ không phải con nhà vua.[6] Henry V và Charles VI chết chỉ cách nhau hai tháng năm 1422, để lại một đứa con nhỏ, Henry VI của Anh, vua trên danh nghĩa của cả hai vương quốc. Em trai Henry V, John xứ Lancaster, Quận công Bedford đệ nhất làm nhiếp chính.[7]
Kể từ năm 1429, gần như toàn bộ miền bắc nước Pháp và một số vùng ở vùng tây nam bị ngoại bang chiếm đóng. Người Anh cai quản Paris, trong khi người Burgundy giữ Reims. Thành phố này rất quan trọng, vì nó theo truyền thống là nơi đăng quang của nhà vua, đặc biệt khi cả hai nhân vật tranh giành ngai vàng nước Pháp đều chưa được tôn lên làm vua. Người Anh lúc đó đang tiến hành cuộc vây hãm Orléans, thành phố duy nhất ở phía bắc sông Loire còn trung thành với triều đình Pháp. Nó có vị trí chiến lược án ngữ dòng sông, là lá chắn cho trung tâm nước Pháp. Theo lời các sử gia hiện đại, “số mệnh vương quốc treo trên Orléans.”[8] Không ai tin tưởng thành phố có thể kháng cự trong một thời gian dài được.[9]

Cuộc đời và sự nghiệp

Nơi cô sinh ra, nay là viện bảo tàng. Nhà thờ nơi cô cầu nguyện nằm phía bên phải sau rặng cây.

Joan là con ông Jacques d’Arc và bà Isabelle Romée[10] tại Domrémy, một làng khi đó thuộc lãnh địa quận công xứ Bar (về sau nhập vào tỉnh Lorraine và đổi thành Domrémy-la-Pucelle).[11] Cha mẹ cô sở hữu 50 mẫu đất (0.2 km2), và để thêm thu nhập cha cô còn làm viên chức thu thuế trong làng, cũng như chỉ huy đội dân quân.[12] Họ sống tại một vùng đất hẻo lánh thuộc vùng đông bắc còn trung thành với triều đình Pháp, dù nằm lọt thỏm trong lãnh địa của phe Burgundy. Khi cô còn nhỏ, thỉnh thoảng làng của cô bị đột kích và đốt phá.
Joan cho biết cô 19 tuổi khi phiên tòa xử cô diễn ra, như vậy cô sinh năm 1412; cô sau này cho biết cô nhận được thiên khải đầu tiên vào khoảng năm 1424 lúc 12 tuổi, khi đó cô đang ở ngoài đồng một mình thì nghe thấy tiếng nói (của thiên sứ). Cô thuật lại là đã òa lên khóc khi họ biến mất vì họ quá sức đẹp đẽ. Cô cho biết Tổng thiên sứ Michael, nữ Thánh Catherine xứ Alexandria, và nữ Thánh Đồng trinh Margaret truyền cho cô đánh đuổi người Anh và đưa Dauphin đến Reims để lên ngôi vua.[13]
Khi 16 tuổi, cô nhờ một người họ hàng, Durand Lassois, đưa cô đến Vaucouleurs để thỉnh cầu chỉ huy đơn vị quân đóng tại đó là Bá tước Robert de Baudricourt cho phép tiếp kiến triều đình Pháp tại Chinon. Bá tước Baudricourt chế giễu cô, nhưng không làm cô nhụt chí.[14] Tới tháng 1, cô lại trở lại, và lần này được hai nhân vật quan trọng ủng hộ Jean de Metz và Bertrand de Poulengy.[15] Nhờ được họ bảo trợ, cô được gặp Bá tước lần thứ hai, và tiên đoán hết sức chính xác về việc quân Pháp thất trận Herrings gần Orléans.[16]

Thành công

Tàn tích đại sảnh tại Chinon, nơi cô gặp Vua Charles VII. Tòa tháp còn sót lại của lâu đài nay trở thành viện bảo tàng về cô.

Robert de Baudricourt cấp một toán quân bảo vệ cô đến Chinon, sau khi nhận được tin tức từ mặt trận xác nhận lời tiên đoán của cô trước đó. Cô băng qua lãnh địa của phe đối nghịch Burgundy bằng cách ăn mặc giả trai.[17] Tới triều đình, cô gây ấn tượng trong buổi hội đàm kín đến mức Charles VII phải hết sức kinh ngạc. Ông sau đó cho người thẩm tra lý lịch và giáo lý cô tại Poitiers. Cùng lúc đó, mẹ vợ Charles là Yolande xứ Aragon bỏ tiền ra chuẩn bị một đạo quân cứu viện Orléans. Joan thỉnh cầu được gia nhập đoàn quân và vũ trang như một hiệp sỹ, với áo giáp trắng, ngựa, cờ, thị đồng đều do người ta quyên góp. Sử gia Stephen W. Richey cho biết cô là niềm hy vọng duy nhất của cả một vương triều sắp sụp đổ:

Sau bao năm thua hết trận này đến trận khác, các lãnh đạo quân sự và dân sự của Pháp đã mất hết tinh thần và uy tín. Lúc mà Dauphin Charles chấp thuận đề nghị khẩn thiết của Joan được phép vũ trang và chỉ huy quân đội, ông hẳn hiểu rằng tất cả mọi phương sách thông thường và hợp lý khác đều đã thất bại. Chỉ có một vương triều ở thế tuyệt vọng cùng cực mới lắng nghe một cô thôn nữ thất học tự xưng mình là sứ giả của Thượng Đế truyền cho mình lãnh đạo quân đội để giành chiến thắng.[18]
“Hỡi Nhà vua nước Anh, và ngươi, Quận công Bedford, người tự xưng là nhiếp chính nước Pháp… hãy trả món nợ của các người cho Thượng Đế; trả lại cho người Thiếu nữ, chìa khóa tất cả các thành phố Pháp tươi đẹp mà các người đã xâm phạm.”
Thư gửi cho người Anh, tháng3-4 năm 1429; Quicherat I, trang 240, dịch bởi Wikipedia.

Cô đến Orléans ngày 29 tháng 4 năm 1429, nhưng Jean de Dunois (tức Jean d’Orléans), trưởng dòng công tước xứ Orléans, ban đầu không để cô tham gia họp trong hội đồng quân sự, và cũng không thông báo cho cô biết khi quân Pháp giao chiến với địch quân.[19] Tuy nhiên việc này không ngăn cản được cô có mặt tại hầu hết các cuộc họp và các trận giao tranh. Người ta vẫn còn tranh cãi về ảnh hưởng và quyền chỉ huy trên thực tế của cô, với các sử gia truyền thống như Édouard Perroy cho rằng cô chỉ có ý nghĩa tượng trưng, mang lại hiệu quả tinh thần là chính.[20] Tuy nhiên sự phân tích này dựa trên bản chép phiên toà xét xử cô, khi cô tuyên bố ưa cầm cờ hơn là cầm kiếm. Các học giả hiện đại tập trung vào phiên toà phục hồi danh dự của cô, nhấn mạnh là các sỹ quan tùy tùng rất khâm phục cô như một chiến thuật gia cừ khôi và là một nhà chiến lược giỏi. Ví dụ như Stephen W. Richey cho biết: “Cô dẫn quân đội đến một loạt chiến thắng ngoạn mục, xoay chiều cuộc chiến.”[17] Dù thế nào đi chăng nữa, các sử gia cũng đồng ý là quân Pháp giành được nhiều thắng lợi vang dội trong thời kỳ sự nghiệp ngắn ngủi của cô.[21]

Chiến tranh xoay chiều

Cô không lặp lại chiến thuật khi đó của ban chỉ huy Pháp vốn tỏ ra quá thận trọng. Trong vòng 5 tháng bị vây hãm, quân Pháp chỉ đột kích có đúng một lần, và thất bại thảm hại. Tới ngày 4 tháng 5, quân Pháp công kích và đánh chiếm được tòa thành ngoại vi Saint Loup. Thừa thắng, cô cho quân tiến đánh pháo đài thứ hai, gọi là Saint Jean le Blanc. Pháo đài này hóa ra bị bỏ trống, nên quân Pháp giành được thắng lợi mà chẳng bị tổn thất gì. Ngày tiếp theo, trong cuộc họp hội đồng quân sự, cô bác lại kế hoạch của Jean d’Orleans và đòi tiến hành một cuộc đột kích nữa vào địch quân. Jean D’Orleans hạ lệnh khóa cửa thành lại để ngăn không cho cô giao chiến với quân địch, nhưng cô triệu tập dân chúng và binh sỹ lại và đòi thị trưởng phải mở cửa thành. Chỉ có một viên cai đội hỗ trợ, cô dẫn quân tiến ra và đánh chiếm pháo đài Saint Augustins. Trong tối đó, cô được tin mình đã bị loại ra khỏi hội đồng quân sự, và các chỉ huy hội đồng đã quyết định chờ viện quân trước khi tiếp tục giao tranh. Bất chấp quyết định đó, cô vẫn cương quyết đòi tấn công cứ điểm chính của quân Anh là “les Tourelles” ngày 7 tháng 5.[22] Người đương thời ghi nhận sự anh hùng của cô trong trận chiến, dù trúng một mũi tên vào cổ, cô vẫn quay trở lại chiến trường để dẫn quân xông lên trong đợt xung phong cuối cùng và hạ thành.[23]

“…hỡi dân chúng, trong tám ngày, người Thiếu nữ đã đánh đuổi quân Anh khỏi tất cả các đồn lũy của chúng bên bờ sông Loire bằng cách này hay cách khác: chúng hoặc chết hoặc bị bắt, hoặc phải tháo lui trên chiến trường. Những gì các bạn được nghe về bá tước Suffolk, huân tước la Pole cùng em trai, huân tước Talbot, huân tước Scales, và hiệp sỹ Fastolf đều là sự thật; chúng ta đã đánh bại còn nhiều hiệp sỹ và chỉ huy hơn thế nữa.”
Thư gửi dân chúng Tournai, 25 tháng 6 năm 1429; Quicherat V, trang 125–126, dịch bởi Wikipedia.

Chiến thắng bất ngờ tại Orléans làm quân Pháp phấn chấn, rất nhiều người muốn tiến hành chiến dịch phản công quân Anh. Quân Anh dự tính quân Pháp có lẽ sẽ tìm cách đánh chiếm Paris hoặc mở cuộc tấn công vào Normandy. Sau chiến thắng tại Orleans, cô thuyết phục Charles VII giao quyền đồng chỉ huy quân đội cho cô và Công tước John II xứ Alençon và được nhà vua chấp thuận cho phép cô đánh chiếm các cây cầu bắc qua sông Loire để chuẩn bị tiến đánh Reims. Đây là một kế hoạch táo bạo, vì Reims nằm cách xa gấp đôi Paris, sâu trong lãnh thổ đối phương.[24]

Nhà thờ Notre-Dame de Reims, nơi theo truyền thống là nơi đăng quang của vua Pháp.

Quân Pháp tái chiếm Jargeau ngày 12 tháng 6, đánh thắng trận Meung-sur-Loire ngày 15, rồi trận Beaugency ngày 17. Công tước Alençon chấp thuận tất cả các đề xuất của Joan. Các chỉ huy khác, bao gồm cả Jean d’Orléans vốn đã hết sức khâm phục cô kể từ trận Orléans, nay trở thành những người nhiệt thành ủng hộ cô. Alençon ghi công cô cứu mạng tại Jargeau, khi cô cảnh báo ông về một cuộc pháo kích bởi đại bác.[25] Cũng trong trận này, cô trúng một viên đạn thần công bằng đá trúng mũ trụ khi đang leo lên thang đánh thành. Một đạo quân Anh cứu viện bất ngờ xuất hiện ngày 18 tháng 6 dưới quyền chỉ huy của Hầu tước John Fastolf. Trận Patay diễn ra và quân Pháp đại thắng, chiến thắng này có thể coi là bản sao ngược của trận Agincourt. Tiền quân Pháp xung trận trước khi xạ thủ Anh dùng trường cung kịp chuẩn bị trận địa phòng ngự, kết quả là quân Anh bị đánh tơi bời, rút chạy toán loạn. Quân Pháp truy kích và tiêu diệt phần lớn đạo quân này, phần lớn sỹ quan chỉ huy quân Anh bị bắt sống. Hầu tước Fastolf chạy thoát với một dúm quân, để trở thành con dê tế thần cho người Anh trút mối nhục chiến bại. Quân Pháp thắng trận mà chỉ tổn thất không đáng kể.[26]
Quân Pháp xuất phát từ Gien-sur-Loire, hướng về Reims ngày 29 tháng 6, chấp nhận đầu hàng từ thành phố Auxerre do phe Burgundy giữ ngày 3 tháng 7. Tất cả các thị trấn nằm trên đường tiến quân của họ đều hạ vũ khí quay về với vua Pháp. Thành Troyes, nơi ký kết hiệp định tước quyền thừa kế của Charles VII, qui hàng sau khi bị vây hãm có bốn ngày mà không cần giao chiến.[27] Quân Pháp lúc tiến tới Troyes thì thiếu lương thực trầm trọng. Edward Lucie-Smith dùng việc này như một ví dụ rằng Joan may hơn khôn: trước đó một vị thày tu lang thang tên là Tu sỹ Richard thuyết giáo về sự tận thế tại Troyes và thuyết phục dân chúng trồng đậu là một thứ cây lương thực ngắn ngày. Đạo quân đói khát đến nơi khi đậu vừa kịp thu hoạch.[28]

“Hoàng thân xứ Burgundy, tôi cầu nguyện ngài — tôi khẩn khoản cầu xin ngày – ngừng chiến với vương quốc Pháp thiêng liêng. Xin hãy nhanh chóng rút binh lính của ngài tại một số đất đai và pháo đài trong vương quốc, và nhân danh nhà vua nhân từ của Pháp, tôi thông báo nhà vua đã sẵn sàng lấy danh dự ra để đảm bảo hòa bình với ngài.”
“Thư gửi cho Philip Tốt bụng, Công tước Burgundy, 17 tháng 7 năm 1429; Quicherat V, trang 126–127, dịch bởi Wikipedia.

Thành Reims mở cổng thành đầu hàng ngày 6 tháng 7. Sáng hôm sau, buổi lễ lên ngôi vua bắt đầu. Dù cả Joan và công tước Alençon thúc giục nhà vua cho tiến đánh Paris gấp, nhưng triều đình lại muốn đàm phán ngưng chiến với công tước Burgundy. Công tước Philip Tốt bụng vi phạm thỏa thuận giữa hai bên, dùng nó để kéo dài thời gian và tăng viện cho Paris.[29] Quân Pháp trong lúc đó hành binh và tiếp tục nhận thêm các thành phố gần Paris đầu hàng. Quận công Bedford tập hợp một đạo quân Anh tiến ra chặn giữ quân Pháp ngày 15 tháng 8. Tới ngày 8 tháng 9, quân Pháp bắt đầu công phá Paris. Dù bị trúng một mũi tên vào chân, nhưng Joan tiếp tục chỉ huy binh sỹ cho tới khi giao tranh kết thúc khi trời tối. Ngày hôm sau, cô nhận được lệnh từ triều đình hạ lệnh ngưng chiến và rút quân. Phần lớn sử gia đổ lỗi cho tể tướng Pháp là Georges de la Trémoille đã phạm phải nhiều sai lầm chính trị tai hại kể từ sau lễ đăng quang của nhà vua Pháp.[30]

Bị cầm tù

Tòa tháp tại Rouen, nơi cô bị giam cầm trong phiên tòa, được biết đến với tên gọi “tòa tháp Joan of Arc”. Trong một lần định chạy trốn, cô nhảy xuống từ một tòa tháp khác có cấu trúc tương tự.

Sau một trận giao chiến nhỏ tại La-Charité-sur-Loire trong tháng 11 và 12, Joan đến Compiègne trong tháng 4 để bảo vệ thành phố chống lại quân Anh và Burgundy vây hãm. Cô bị bắt sống trong một trận chạm trán ngày 23 tháng 5 năm 1430. Khi hạ lệnh rút lui, cô là người rút cuối cùng để đoạn hậu, quân Burgundy vây bọc toán quân đoạn hậu của cô.[31]

“Sự thật là nhà vua đã hưu chiến với công tước xứ Burgundy trong 15 ngày, và công tước phải giao lại Paris sau khi hạn 15 ngày chấm dứt. Nhưng các bạn chớ có ngạc nhiên nếu như tôi không nhanh chóng tiến quân vào thành phố đó. Tôi chưa hài lòng với các cuộc hưu chiến, và không chắc rằng tôi sẽ chấp nhận chúng, nhưng nếu tôi chấp thuận hưu chiến, thì đó chỉ là để bảo toàn danh dự cho nhà vua: dù họ có xâm phạm hoàng gia như thế nào đi chăng nữa, thì tôi cũng sẽ duy trì quân đội đề phòng trường hợp họ không tôn trọng hòa bình sau 15 ngày.”
“Thư gửi nhân dân Reims, 5 tháng 8 năm 1429; Quicherat I, trang 246, dịch bởi Wikipedia.

Theo lệ thường thì thân nhân có thể dùng tiền để chuộc lại tù binh. Không may là gia đình cô không có tiền. Nhiều sử gia lên tiếng chỉ trích vua Charles VII không làm gì cả để can thiệp. Cô mấy lần định vượt ngục, có lần nhảy từ tòa tháp cao 70 bộ (21 m) ở Vermandois xuống một cái hào khô, rồi sau đó bị chuyển đến thị trân Arras do quân Burgundy kiểm soát. Chính quyền Anh mua lại cô từ Công tước Philip xứ Burgundy. Giám mục Pierre Cauchon xứ Beauvais, một người thân Anh, đóng vai trò chính trong việc đàm phán mua lại cô và trong phiên tòa xét xử cô sau này. [32]

Phiên tòa xét xử

Tòa án dị giáo này được thúc đẩy bởi lý do chính trị. Công tước Bedford thay mặt cho cháu trai của mình là Henry VI tranh giành ngai vàng của nước Pháp. Joan là người đã trợ giúp cho việc đăng quang của vị vua đối nghịch, do đó việc kết tội cô là một nỗ lực nhằm hạ bệ tính hợp pháp của lễ đăng quang của vua Charles VII. Các thủ tục pháp lý đã được tiền hành từ ngày 9 tháng 1 năm 1431 tại Rouen, thuộc khu vực kiểm soát của chính quyền Anh. Vụ xét xử này có một số điểm bất thường.
Tóm tắt một vài vấn đề chính như sau:
Theo luật của Giáo hội, Giám mục Cauchon thiếu thẩm quyền xét xử trường hợp này. Ngài được bổ nhiệm xét xử nhờ sự chống đỡ thiên vị của chính quyền Anh, và chính quyền Anh đã tài trợ cho cuộc xét xử này. Giáo sĩ công chứng viên Nicolas Bailly được bổ nhiệm đi thu thập lời chứng chống lại Joan nhưng đã không thể tìm thấy bất kỳ chứng cứ chống đối nào. Tòa án đã mở cuộc xét xử mà không hề có chứng cứ nào như thế. Tòa án cũng vi phạm luật của Giáo hội khi từ chối quyền được có cố vấn pháp lý của Joan. Trong cuộc thẩm tra công khai đầu tiên, Joan tố cáo rằng tất cả những người hiện diện lúc đó đều là những người theo phe Anh chống lại cô, và yêu cầu phải có những giáo sĩ của phía Pháp được mời.
Nhiều viên chức tòa án sau này đã làm chứng rằng những phần quan trọng của bản ghi chép đã được sửa đổi nhằm chống lại cô. Nhiều giáo sĩ đã bị cưỡng bức tham gia, trong đó có cả quan tòa Jean Le Maitre, thậm chí một số người còn bị chính quyền Anh đe dọa giết. Theo những hướng dẫn dành cho tòa án dị giáo thì Joan phải được nhốt trong một nơi giam giữ thuộc Giáo hội dưới sự trông nom của những người canh gác thuộc nữ giới, nghĩa là các nữ tu. Nhưng không, chính quyền Anh đã giữ cô trong một nhà tù thế tục được canh gác bởi những người lính của họ. Giám mục Cauchon đã từ chối đơn kháng án của Joan lên Hội đồng Basel và Giáo hoàng vì điều này có thể ngừng việc xét xử của ông.
Mười hai lời buộc tội tóm tắt bản tuyên án của tòa mâu thuẫn với hồ sơ tòa án đã bị sửa đổi. Bị cáo mù chữ dưới áp lực bị đe dọa tử hình ngay lập tức đã ký vào một văn kiện tuyên bố bội giáo mà cô không hiểu. Tòa án đã thay thế một lời tuyên bố bội giáo khác trong hồ sơ chính thức.

Bị hành quyết

Tội dị giáo chỉ bị kết án tử hình nếu đương sự liên tục phạm tội. Thoạt đầu Joan chấp nhận mặc quần áo phụ nữ, nhưng trong khi bị giam cầm, cô đã bị quấy rối tình dục.[33] Vì thế nên cô mặc lại quần áo đàn ông để tự vệ khỏi bị quấy nhiễu, hoặc là theo lời chứng của Jean Massieu, vì quần áo của cô bị lấy trộm và cô không có đồ gì khác để mặc.[34]
Các nhân chứng kể lại cuộc hành quyết bằng cách thiêu sống trên dàn thiêu ngày 30 tháng 5 năm 1431. Bị trói trên một cây cọc cao tại Vieux-Marche ở Rouen, cô xin hai vị giáo sỹ, linh mục Martin Ladvenu và linh mục Isambart de la Pierre, nâng cây thánh giá trước mặt mình. Một người nông dân cũng làm một cây thập tự nhỏ mà cô dùng để gài trước áo. Sau khi cô chết, người Anh gạt đống tro ra, để lộ thân xác cháy thiêu của cô, để không ai có thể cho là cô đã trốn thoát, rồi lại đốt thi thể cô hai lần nữa để biến nó thành tro bụi, sao cho không ai có thể thu thập được mảnh thân xác nào làm thánh tích. Họ ném tro bụi xác cô xuống sông Seine.[35] Viên đao phủ, Geoffroy Therage, về sau nói là ông ta “…khiếp sợ sẽ bị đày xuống địa ngục.”[36]

Phục hồi danh dự

Joan d’Arc, tranh của Philippe-Alexandre Le Brun de Charmettes (L’Orleanide-1821)

Philippe-Alexandre Le Brun de Charmettes là sử gia đầu tiên viết một cuốn sách hoàn chỉnh về Joan d’Arc[37] năm 1817, trong nỗ lực nhằm khôi phục danh tiếng của gia đình cô. Ông trở nên quan tâm về Joan khi nước Pháp vẫn còn phải nỗ lực tìm bản sắc của mình sau cuộc Cách mạng Pháp chiến tranh Napoleon. Đặc trưng quốc gia của Pháp khi ấy là tìm kiếm một anh hùng chân chính, không có tai tiếng. Với tư cách một người ủng hộ nhiệt thành nhà vua và đất nước, Joan d’Arc là một hình mẫu có thể chấp nhận được với những người theo đường lối bảo hoàng. Là một người yêu nước và là con gái của một gia đình bình dân, cô được xem như hình tượng ban đầu của những chiến sỹ tình nguyện thuộc tầng lớp dưới đáy của xã hội, (the soldats de l’an II), những người đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng cho cuộc cách mạng Pháp năm 1802, và như vậy có thể được xem như hình tượng của một người Cộng hòa. Là một người tử vì đạo, cô rất được lòng giới giáo dân Công giáo mộ đạo. Cô được phong Thánh năm 1920 bởi Đức giáo hoàng Bênêdictô XV. Cuốn Orleanide của De Charmette, ngày nay đã bị quên lãng, là một ví dụ về việc người ta tạo ra một “đặc trưng quốc gia”, giống như các nhà văn Virgil (với cuốn Aeneid), hay Camoens (cuốn Lusiad) đã làm cho La Mã và Bồ Đào Nha.

Đoạn kết cuộc chiến

Cuộc chiến tranh trăm năm còn tiếp tục kéo dài thêm 22 năm kể từ ngày cô mất. Charles VII giữ được địa vị vua chính thống của Pháp, dù phe đối địch với ông làm lễ đăng quang cho Henry VI tháng 12 năm 1431, khi cậu bé tròn 10 tuổi. Trước khi nước Anh kịp tái tổ chức lực lượng chỉ huy và đạo quân cung thủ dùng trường cung, bị tiêu diệt năm 1429, họ mất đi đồng minh Burgundy sau Hòa ước Arras năm 1435. Quận công Bedford cũng qua đời cùng năm đó, và Henry VI trở thành vị vua thiếu niên trẻ nhất của Anh cai trị không có nhiếp chính, và sự non yếu của ông có lẽ là lý do quan trọng nhất khiến cuộc chiến chấm dứt. Sử gia Kelly DeVries cho rằng chiến thuật tấn công bằng đại bác và tập kích vỗ mặt mà Joan d’Arc sử dụng có ảnh hưởng đến chiến thuật mà quân Pháp sử dụng cho tới hết chiến tranh.[38]

Minh oan và vinh danh

Joan d’Arc trở thành một nhân vật gần như huyền thoại trong suốt bốn thế kỷ tiếp theo. Nguồn thông tin chính về cô đến từ các bản kỷ yếu, năm bản chép tay về phiên tòa xét xử cô được tìm thấy trong đống tư liệu cổ vào thế kỷ 19. Không lâu sau đó, các sử gia tìm được toàn bộ bản ghi về phiên tòa minh oan cho cô, trong đó bao gồm lời chứng từ 115 nhân chứng, và nguyên bản tiếng Pháp của bản thảo tiếng Latin của phiên tòa xét xử cô. Nhiều bức thư đương thời cũng được tìm thấy, ba trong số đó mang chữ ký “Jehanne”, với nét chữ run run của một người đang tập viết.[39] Nguồn tư liệu phong phú bất ngờ này là lý do để DeVries phải thốt lên, “Không có nhân vật nào từ thời Trung Cổ, đàn ông hay phụ nữ, lại được quan tâm nghiên cứu đến như thế”.[40]

Chữ ký trong lá thư cô đọc cho người chép.

Joan d’Arc xuất thân từ một làng quê hẻo lánh, chỉ là một cô thôn nữ thất học mà nổi lên như một nhân vật xuất chúng khi còn chưa quá tuổi thiếu niên. Cuộc chiến tranh giành ngôi giữa vua Anh và vua Pháp dựa trên bộ luật Salic cổ kéo dài đằng đẳng, sự xuất hiện của cô mang lại ý nghĩa cho câu hỏi “Liệu có nên đuổi nhà vua khỏi vương quốc; và liệu chúng ta có trở thành người Anh?”[15] Theo Stephen Richey, “Cô biến một cuộc chiến giành ngai vàng giữa hai triều đại, khiến nhân dân trở nên vô cảm vì mất mát, thành một cuộc chiến tranh ái quốc được nhân dân ủng hộ.”[17] Theo Richey:
“Những người quan tâm đến cô trong suốt năm thế kỷ sau đó tìm cách gán cho cô đủ loại phẩm chất: cuồng tín ma quỉ, tâm linh huyền bí, ngây thơ và bị sử dụng một cách bi thảm bởi những kẻ có thế lực, người sáng lập và biểu tượng của chủ nghĩa ái quốc hiện đại, nữ anh hùng được yêu quí, nữ thánh. Cô kiên định, dù bị đe dọa tra tấn và chết trên giàn hỏa, rằng mình được dẫn dắt bởi giọng nói của Thượng Đế. Dù có thế nào đi chăng nữa, thành quả mà cô gặt hái được khiến người nghe không khỏi lắc đầu kinh ngạc.”[17]
Năm 1452, trong một cuộc điều tra, Nhà Thờ tuyên bố một vở kịch tôn giáo để tưởng niệm cô tại Orléans có giá trị như một đặc ân hành hương tới đất thánh. Cô trở thành biểu tượng cho Liên minh Công giáo (Pháp) thời thế kỷ 16. Ngài Félix Dupanloup, Giám mục xứ Orléans từ 1849 tới 1878 là người đi đầu trong nỗ lực phong thánh cho cô, nhưng ông không còn sống để thấy điều đó trở thành hiện thực.

Lá cờ chính phủ lưu vong của Charles de Gaulle thời Đệ nhị thế chiến. Phong trào kháng chiến Pháp sử dụng cây Thập tự Lorraine như biểu tượng gợi nhớ đến Joan of Arc.

Người Công giáo truyền thống tại Pháp và các nơi khác xem cô như biểu hiện của nguồn cảm hứng, và so sánh việc rút phép thông công Tổng Giám mục Marcel Lefebvre năm 1988 (người sáng lập ra Hội thánh Pius X và người bất đồng với các cải cách Vatican II) với việc cô bị rút phép thông công. Ba con tàu của Hải quân Pháp được đặt theo tên cô, gồm cả hàng không mẫu hạm cho máy bay trực thăng Jeanne d’Arc (R 97) nay vẫn còn hoạt động.

Ảnh hưởng

Đã từng có nhiều câu chuyện và những bộ phim truyền hình kể về cuộc đời của cô. Và cuộc đời đấu tranh và phục vụ cho nước Pháp của cô được thể hiện trong game chiến thuật dàn trận nổi tiếng Age of Empires II – The Ages of Kings.

Chú thích

  1. ^ Phần lớn các bản tiểu sử đều ghi là cô sinh ngày 6 tháng 1, nhưng thực ra cô chỉ ước đoán ngày sinh của mình. Phần lớn người dự phiên tòa giải oan cho cô cũng chỉ ước tính tuổi của cô, mặc dù trong số đó có cả cha và mẹ đỡ đầu cô. Ngày sinh 6 tháng 1 chỉ dựa trên một nguồn duy nhất là bức thư từ Huân tước Perceval de Boullainvilliers ngày 21 tháng 7 năm 1429 (xem Pernoud Joan of Arc By Herself and Her Witnesses, trang 98: “Boulainvilliers cho biết cô sinh tại Domrémy, và cho biết chính xác ngày sinh, có lẽ xác thực, nói rằng cô sinh vào đêm Epiphany, 6 tháng 1”). Boulainvilliers tuy nhiên lại không xuất xứ từ Domrémy. Sự kiện này không được ghi lại. Việc ghi chép ngày sinh giáo dân không có dòng dõi quí tộc chỉ diễn ra vài thế hệ sau đó.
  2. ^ DeVries, trang 27–28.
  3. ^ DeVries, trang 15–19.
  4. ^ Pernoud and Clin, trang 167.
  5. ^ DeVries, trang 24.
  6. ^ Pernoud and Clin, trang 188–189.
  7. ^ DeVries, trang 24, 26.
  8. ^ Pernoud and Clin, trang 10.
  9. ^ DeVries, trang 28.
  10. ^ Jacques d’Arc (1380–1440) là nông dân xứ Domremy và cũng là người thu thuế và chỉ huy dân quân của làng. Ông cưới bà Isabelle de Vouthon (1387–1468), còn gọi là Romée, năm 1405. Các người con khác của họ gồm có Jacquemin, Jean, Pierre và Catherine. Vua Pháp Charles VII phong tước cho gia đình Jacques và Isabelle ngày 29 tháng 12 năm 1429; Sở Bạ ghi nhận gia đình được phong quí tộc ngày 20 tháng 1 năm 1430. Gia đình được phép thay họ bằng tước quí tộc du Lys.
  11. ^ Condemnation trial, trang 37.[1] (Truy cập 23 tháng 3 năm 2006)
  12. ^ Pernoud and Clin, trang 221.
  13. ^ Condemnation trial, trang 58–59.[2] (Truy cập 23 tháng 3 năm 2006)
  14. ^ DeVries, trang 37–40.
  15. ^ a ă Nullification trial testimony of Jean de Metz.[3] (Truy cập 12 tháng 2 năm 2006)
  16. ^ Oliphant, chương 2.[4] (Truy cập 12 tháng 2 năm 2006)
  17. ^ a ă â b Richey, trang 4.
  18. ^ Richey, “Joan of Arc: A Military Appreciation”.[5] (Truy cập 12 tháng 2 năm 2006)
  19. ^ Lịch sử và các tác phẩm hư cấu thường gọi ông là bá tước Dunois, là danh vị ông được ban sau khi Joan chết. Khi cô còn sống, người ta gọi ông là Gã con hoang xứ Orléans, được coi như một tên gọi danh dự, vì nó có nghĩa là ông là anh em thúc bá với vua Charles VII, tên “Jean d’Orleans” không chính xác bằng, xem Pernoud and Clin, trang 180–181.
  20. ^ Perroy, trang 283.
  21. ^ Pernoud and Clin, trang 230.
  22. ^ DeVries, pp. 74–83
  23. ^ Những người Công giáo một đạo coi đây là bằng chứng thiên mệnh của cô. Thành công trong việc phá vây cho Orleons khiến cô giành được sự ủng hộ từ nhiều tăng lữ có thế lực như Tổng Giám mục Embrun và nhà thần học Jean Gerson, là những người viết những bản luận thuyết thần học ngay sau khi sự kiện này diễn ra.
  24. ^ DeVries, trang 96–97.
  25. ^ Phiên tòa phục hồi danh dự, Công tước xứ Alençon.[6] (Truy cập 12 tháng 2 năm 2006)
  26. ^ DeVries, trang 114–115.
  27. ^ DeVries, trang 122–126.
  28. ^ Lucie-Smith, trang 156–160.
  29. ^ DeVries, trang 134.
  30. ^ Các cáo buộc kể từ mưu toan vặt vãnh cho đến thóa mạ thậm tệ. Xem Gower, chương 4.[7] (Truy cập 12 tháng 2 năm 2006) hoặc Pernoud and Clin, trang 78–80; DeVries, trang 135; và Oliphant, chương 6. [8] (Truy cập 12 tháng 2 năm 2006)
  31. ^ DeVries, trang 161–170.
  32. ^ “Joan of Arc, Saint.” Encyclopædia Britannica. 2007. Encyclopædia Britannica Online Library Edition. 12 tháng 9 năm 2007 <http://www.library.eb.com.ezproxy.ae.talonline.ca/eb/article-27055>.
  33. ^ Pernoud, trang 220, trích dẫn lời chứng của các thầy tu Martin Ladvenu và Isambart de la Pierre.
  34. ^ Phiên tòa phục hồi danh dự, lời chứng của Jean Massieu.[9] (Truy cập 12 tháng 2 năm 2006)
  35. ^ Tháng 2 năm 2006, một toán giám định pháp y tiến hành cuộc thẩm tra kéo dài sáu tháng để khám nghiệm xương và da di hài tại viện bảo tàng Chinon, theo lời đồn là từ di hài cô. Cuộc khám nghiệm không xác định được kết quả chính xác, nhưng cũng qua đó phòng ngừa giả mạo thông gia giám định các-bon và kiểm tra giới tính.[10] (Truy cập 1 tháng 3 năm 2006) Một báo cáo tạm thời cho biết những di vật này có lẽ không thuộc về cô.[11] (Truy cập 17 tháng 12 năm 2006)
  36. ^ Pernoud, trang 233.
  37. ^ Histoire de Jeanne d`Arc by P.A Le Brun de Charmettes-Tome1 Tome2 Tome3 Tome4
  38. ^ DeVries, trang 179–180.
  39. ^ Pernoud and Clin, trang 247–264.
  40. ^ DeVries trong “Fresh Verdicts on Joan of Arc,” biên soạn Bonnie Wheeler, trang 3.

Tài liệu tham khảo

  • DeVries, Kelly “Joan of Arc: A Military Leader”, Gloucestershire: Sutton Publishing, 1999, ISBN 0-7509-1805-5
  • Fraioli, Deborah, “Joan of Arc: The Early Debate”, London: Boydell Press, 2002, ISBN 0-85115-880-3
  • Pérnoud, Regine and Clin, Marie-Véronique, “Joan of Arc: Her Story”, New York: St. Martin’s Griffin, 1999, ISBN 0-312-22730-2
  • Perroy, Edouard, “The Hundred Years War”, New York:Capricorn Books, 1965
  • Taylor, Craig, “Joan of Arc: La Pucelle”, Manchester University Press, 2006), ISBN 978-0-7190-6847-8

Liên kết ngoài