Chào ngày mới 20 tháng 8

Darwin
CNM365. Chào ngày mới 20 tháng 8. Năm 1858Charles Darwin lần đầu tiên công bố học thuyết Tiến hóa thông qua chọn lọc tự nhiên của ông, đồng thời với học thuyết tương tự của Alfred Russel Wallace. Năm 1864 – ngày mất Trương Định, thủ lĩnh nghĩa quân Việt Nam chống Pháp giữa thế kỷ 19, tuẫn tiết (s. 1820). Năm 1949 – Hiến pháp mới của Hungary chính thức có hiệu lực, tên nước chuyển thành Cộng hòa Nhân dân Hungary. Ngày Ngưu Lang Chức Nữ hoặc vợ chồng Ngâu gặp nhau (Ngày Thất Tịch) trong huyền thoại Việt và văn hóa phương Đông, (Châu Á). Năm 1940 – Tại thành phố México, nhà cách mạng lưu vong người Nga Lev Trotsky trọng thương do bị Ramón Mercader tấn công, Trotsky qua đời vào ngày sau đó.  Năm 1988Chiến tranh Iran-Iraq kết thúc khi một lệnh ngừng bắn được chấp thuận.

Darwin

Thăm ngôi nhà cũ của Darwin

Hoàng Kim

Đôi mắt Darwin có thần lực soi thấu các góc khuất.  Thăm ngôi nhà cũ của Darwin, tìm đến tư duy “nguồn gốc các loài” để soi tỏ “Niên biểu lịch sử Việt Nam” ” Nông nghiệp Việt Nam 500 năm nhìn lại”, đặc biệt là “Nông nghiệp miền Nam 90 năm qua” nhằm tìm thấy trong sự rối loạn và tiến hóa của lịch sử, dòng chủ lưu chấn hưng văn hóa, giáo dục và nông nghiệp Việt.

NgoinhacucuaDarwin
Down House là ngôi nhà cũ của nhà tự nhiên học người Anh Charles Darwin và gia đình ông. Tại nơi này Darwin đã làm việc về thuyết tiến hóa bởi chọn lọc tự nhiên và nhiều thí nghiệm khác. Charles Robert Darwin  (12 tháng 2, 18099 tháng 4, 1882) là một nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực tự nhiên học người Anh. Ông là người đã phát hiện và chứng minh rằng mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên. “Nguồn gốc các loài” của Charles Darwin, xuất bản lần đầu tiên ngày 24 tháng 11, năm 1859 là ấn phẩm khoa học tiêu biểu và là tác phẩm nòng cốt của ngành sinh học tiến hóa.

Tôi may mắn đã được trãi nghiệm “Thăm ngôi nhà cũ của Darwin” , du học tại “Viện Di truyền Mendel ở Tiệp Khắc ”, làm việc cùng với Những người bạn Nga của Viện Vavilop, thu thập được những trang vàng của  90 năm Viện KHKTNN miền Nam; 60 năm Đại học Nông Lâm TP. HCM và có được tài liệu quý 500 năm nông nghiệp Brazil . Tôi thật may mắn được tiếp cận với những người thầy lớn, chí thiện và có tầm nhìn rộng với sức khái quát cao, tài năng khoa học phi thường.
Chúng ta còn nợ nhiều lắm đối với nông dân và vùng đất này với nhiều vấn đề nghiên cứu và thực hành được đặt ra ngày mỗi gay gắt nhằm khai mở tâm thức và đúc kết các trầm tích lịch sử, văn hóa, sinh học, nông nghiệp …  xem tiếp

Trương Định

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Chân dung Trương Định

Trương Định (chữ Hán: 張定; 18201864) hay Trương Công Định hoặc Trương Đăng Định, là võ quan nhà Nguyễn, và là thủ lĩnh chống Pháp giai đoạn 18591864, trong lịch sử Việt Nam.

Thân thế và sự nghiệp

Trương Định sinh tại làng Tư Cung, phủ Bình Sơn, Quảng Ngãi (nay là xã Tịnh Khê, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi). Cha ông là Lãnh binh Trương Cầm, từng là Hữu thủy Vệ uý ở Gia Định dưới thời vua Thiệu Trị.

Theo cha vào Nam

Năm 1844, Trương Định theo cha vào Nam. Sau khi cha mất, ông ngụ ngay nơi cha đóng quân. Sau đó, ông kết hôn với bà Lê Thị Thưởng, vốn là con gái của một hào phú ở huyện Tân Hòa (Gò Công Đông ngày nay).
Năm 1850, hưởng ứng chính sách khẩn hoang của tướng Nguyễn Tri Phương, Trương Định xuất tiền ra chiêu mộ dân nghèo lập đồn điền ở Gia Thuận (Gò Công), vì thế, ông được nhà Nguyễn bổ làm Quản cơ, hàm lục phẩm [1].

Trở thành thủ lĩnh chống Pháp

Mộ và Đền thờ Trương Định ở thị xã Gò Công

Tháng 2 năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định. Sau đó, Trương Định đem quân đồn điền của mình lên đóng ở Thuận Kiều (Gia Định), và từng đánh thắng đối phương ở Cây Mai, Thị Nghè[2]
Đầu năm 1861, Pháp tấn công Gia Định lần thứ hai, Trương Định đem quân phối hợp với binh của tướng Nguyễn Tri Phương phòng giữ chiến tuyến Chí Hòa. Khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ, ông lui về Gò Công, cùng Lưu Tiến Thiện, Lê Quang Quyền chiêu binh ứng nghĩa, trấn giữ vùng Gia ĐịnhĐịnh Tường.
Ở đây, Trương Định tổ chức lại lực lượng, triển khai tác chiến trong các vùng Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Chợ Lớn, Sài Gòn, Đồng Tháp Mười và kéo dài đến tận biên giới Campuchia.
Kể về ông ở giai đoạn này, sử nhà Nguyễn chép:

Trương Định am hiểu võ nghệ, dũng cảm, mưu lược. Tự Đức năm thứ 14 (1861), thành Gia Định hữu sự [3], Định hưởng ứng việc nghĩa, chiêu mộ thú dõng được hơn 6.000 người, lại kiêm quản những đầu mục thân hào mộ việc nghĩa, dồn lập 18 cơ quân, luôn chống đánh người Pháp, thu được súng ống khí giới và đúc chế thêm để dùng, được bạt bổ làm Quản cơ lĩnh Phó Lãnh binh Gia Định [4].

Ngày 5 tháng 6 năm 1862, triều đình Huế ký kết hòa ước với Pháp. Cũng theo sử nhà Nguyễn thì:

Tháng 7 năm 1862…từ khi đã định hòa ước rồi, Ngài [Tự Đức] truyền dụ Nam Kỳ nghỉ binh và đòi Trương Định ra Phú Yên. Khi ấy trong các tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa những người ứng nghĩa rủ nhau đoàn kết, tôn Trương Định làm Đại đầu mục, xin cho ra đánh, Đình thần nghị rằng: “bây giờ việc Bắc Kỳ đương khẩn, mà Nam Kỳ chưa có cơ hội gì, xin giao Phan Thanh Giản hiểu dụ”. Nhưng Trương Định đã lâu mà không chịu về cung chức, bị cách chức hàm [5].

Trên thực tế, ông đã từ chối thư dụ hàng của tướng Pháp là Bonard, bất chấp chiếu vua ra lệnh bãi binh do Phan Thanh Giản truyền vào và rút quân về Gò Công, xưng là Trung thiên tướng quân[6], và được nhân dân tôn là Bình Tây Đại Nguyên soái, lấy nơi này làm bản doanh, xây dựng các căn cứ địa kháng chiến.
Ngày 16 tháng 12 năm 1862, Trương Định đã ra lệnh tấn công các vị trí của quân Pháp ở cả ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, đẩy Pháp vào tình thế lúng túng, bị động. Tháng 2 năm 1863, nhờ có viện binh, Pháp phản công tại Biên Hòa, Chợ Lớn, bao vây Gò Công. Ngày 26 tháng 2 năm 1863, Pháp đánh chiếm thành trì, ông thoát khỏi vòng vây và kéo quân về Biên Hòa.
Tháng 9 năm 1863, tướng Lagrandière sang thay Bonard, mở cuộc càn quét thứ hai, bắt được vợ con và một số tùy tùng của Trương Định.

Tuẫn tiết

Bàn thờ Trương Định ở bên trong đền

Ngày 19 tháng 8 năm 1864, Huỳnh Công Tấn phản bội dẫn đường cho quân Pháp bất ngờ bao vây đánh úp. Bản doanh Đám lá tối trời[7] thất thủ, Trương Định bị trọng thương (gãy xương sống)[8]. Để bảo toàn khí tiết, ông đã rút gươm tự sát tại Ao Dinh (Gò Công) vào rạng sáng ngày 20 tháng 8 năm 1864 [9]. Khi ấy, ông 44 tuổi.
Hay tin Trương Định tuẫn tiết, vua Tự Đức sai truy tặng ông phẩm hàm, và năm 1871 lại cho lập đền thờ ông tại Tư Cung (Quảng Ngãi). Con ông là Trương Quyền đã rút lên vùng Châu Đốc tiếp tục chống Pháp thêm 6 năm nữa.
Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã làm 12 bài thơ và một bài văn tế điếu ông. Trích giới thiệu một bài:

Trong Nam, tên họ nổi như cồn
Mấy trận Gò Công nức tiếng đồn
Đấu đạn hỡi rêm tàu bạch quỷ
Hơi gươm thêm rạng vẻ huỳnh môn
Ngọn cờ ứng nghĩa trời chưa bẻ
Quả ấn Bình Tây đất vội chôn
Nỡ khiến anh hùng rơi giọt luỵ
Lâm dâm ba chữ điếu linh hồn.

Tuyên bố

Tuyên bố của Trương Định trong thư trả lời thư dụ hàng của tướng Pháp Bonard vào cuối năm 1862:

Triều đình Huế không nhìn nhận chúng ta, nhưng chúng ta cứ bảo vệ Tổ quốc chúng ta.

Tuyên bố của Trương Định gửi các quan ở Vĩnh Long, để tỏ ý ly khai với Nam triều (vì sau hòa ước Nhâm Tuất, vua Tự Đức ra lệnh ông phải bãi binh) vào tháng 2 năm 1863:

Muốn trở lại y như xưa, dân chúng ba tỉnh yêu cầu chúng tôi đứng đầu khởi nghĩa, chúng tôi không thể làm gì được khác. Chúng tôi chuẩn bị chiến đấu vào hướng Đông cũng như hướng Tây, chúng tôi chống đối và chiến đấu. Chúng tôi sẽ đánh ngã bọn giặc cướp…
Chúng ta thề sẽ đánh mãi và đánh không ngừng, khi ta thiếu tất cả sẽ bẻ nhánh cây làm cờ, lấy gậy gộc làm võ khí cho quân lính ta

Hịch của Trương Định (tháng 8 năm 1864):

Lòng dân đã muốn ta lên làm nguyên nhung ba tỉnh, ta trông vào lòng dân yêu thương không phai lạt của mọi người đối với ta. Thế là xong bất dung tha giặc cướp.

Mấy đoạn trích trên, được ghi trang trọng tại đền thờ Trương Định, ở ngay trung tâm thị xã Gò Công.

Nhận xét

Lúc bấy giờ (tháng 6 năm 1861) có một người An Nam rất cương quyết và hào hùng tên là Trương Dinh[10] cho biết sẽ dấy loạn khởi nghĩa trong toàn xứ…Là một trong số những người nhiều nghị lực nhất, anh ta đánh lừa là đã chết trong trận Gò Công, nhưng sau đó lại xuất hiện và chiến đấu trong hết mùa mưa…Mãi về sau này, khi ta đã chiếm Biên Hòa, tên Trương Dinh tung hoành tàn phá hết hai vùng tứ giác của ta…[11]
  • Trong sách Sài Gòn xưa-Ấn tương 300 năm của nhà văn Sơn Nam có đoạn:
Yêu nước đậm đà, khảng khái trước nghĩa lớn, đứng hàng đầu trong phong trào kháng Pháp ở Nam Kỳ vẫn là Trương Định. Mang ơn vua, giữ đất cho vua (Gò Công là nơi phát tích của Phạm Đăng Hưng và con gái là bà Từ Dũ), nhưng chống lệnh khi cắt đất cho Pháp. Trương Định và dân đồn điền lợi dụng địa hình rừng ngập mặn Gò Công để khởi nghĩa, đắp đập, xây lũy. Giặc phải vất vả, tổ chức nội ứng mới giết được ông, qua nhiều cuộc hành quân cấp tướng, bố trí súng lớn trên thuyền nhỏ, để di chuyển nơi nước cạn. Địch phải đem xác ông phơi trước chợ để làm chứng cớ…và chôn ông giữa chợ, nếu chôn nơi hẻo lánh, e nghĩa quân lập đàn tế cờ, phục thù cho chủ tướng. Cụ Đồ Chiểu đã đem tất cả tâm huyết viết bài văn tế ông và 10 bài liên hoàn[12].

Gia quyến

Người vợ chính

Lê Thị Thưởng (?-?) là con gái một hào phú ở huyện Tân Hòa (Gò Công). Bà và Trương Định kết hôn năm nào không rõ, nhưng theo sử sách thì …vào năm 1854, nhờ sự trợ giúp của gia đình bên vợ, Trương Định xuất tiền của, chiêu mộ dân nghèo lập đồn điền Gia Thuận (Gò Công)[13].
Sau khi chồng và con mất vì việc nước, chép chuyện của bà như sau:

(Trương Định) sau vì thất lợi mà mất, con ông là (Trương) Tuệ cũng chết vì việc quân, vợ (Trương) Định là Lê Thị Thưởng vì không nơi nương tựa nên về quê quán (Quảng Ngãi, quê chồng) làm ăn. Năm (Tự Đức) thứ 27 (1874), quan tỉnh Quảng Ngãi tâu rằng, (Trương) Định là người có nghĩa khí rất đáng khen mà nay vợ của (Trương) Định lại là người nghèo khổ, rất đáng thương. Vậy, xin cấp dưỡng suốt đời cho (vợ Trương Định) mỗi tháng 20 quan và 2 phương gạo…
Năm (Tự Đức) thứ 34 (tức năm 1881), lại cấp thêm cho người vợ (của Trương Định) mỗi tháng 10 quan, đồng thời, sai xã ấy phải thỉnh thoảng đến thăm. Khi bà mất, (vua ban) cho 100 quan tiền (để mai táng).[14]

Người vợ thứ

Trần Thị Sanh (18201882) là em con cô của thái hậu Từ Dụ[15]. Trước khi về làm vợ thứ Trương Định, bà từng có một đời chồng là ông Dương Tấn Bổn và một cô con gái tên Dương Thị Hương[16]. Ông Bổn mất sớm[17], tình nghĩa vợ chồng đứt đoạn, bà Sanh quyết chí lo chuyện làm ăn và trở thành một trong những người giàu có ở xứ Gò Công.
Giàu có, bà Sanh dùng tiền mua lúa gạo, nhờ Trương Định đem cứu tế dân, và còn đưa tiền cho ông Định quy tụ dân đi khai khẩn đất đai. Sau khi chồng chết được 2 năm, bà về làm hầu thiếp cho Trương Định[17], nên dân gian mới gọi là bà Hầu.

Gò Công có bốn tổng giàu,
Mà riêng có một bà Hầu giàu to.[18]

Khi Trương Định phất cờ đánh Pháp, bà Sanh (khi này đã trở thành vợ thứ Trương Định) lo việc rèn vũ khí, tích trữ lương thực cho nghĩa quân. Khi chồng mất, bà đem xác ông về chôn tại Gò Công.

Lăng mộ

Mộ Trương định ban đầu (1864) được làm bằng hồ ô dước và trên bia đá có khắc mấy chữ: Đại Nam – An Hà lãnh binh kiêm Bình Tây Đại tướng quân Trương công húy Định chi mộ. Nhà cầm quyền Pháp bắt đục bỏ hàng chữ Bình Tây Đại tướng quân và phạt bà Sanh 10.000 quan tiền vì tội lập bia trái phép.
Năm 1874, bà Sanh làm đơn xin tu sửa mộ cho chồng. Lần này mộ Trương Định được xây bằng đá hoa cương, có 3 bức hoành phi và 6 trụ đá ghi lại thân thế và sự nghiệp của ông. Một lần nữa, các hoành phi và trụ đá bị Pháp ra lệnh đục bỏ…[19]
Nhà nghiên cứu Huỳnh Minh cho biết: “Trải nhiều năm Pháp thuộc, mộ Trương Định trở thành hoang phế. Sau có bà Huỳnh Thị Điệu, còn gọi là bà Phủ Hải[20], cho sửa chữa lại. Năm 1956, được sửa sang lần nữa”…[21]
Từ năm 1972 đến năm 1973 xây thêm đền thờ. Lăng mộ và đền thờ Trương Định đã được Bộ Văn hóa – Thông tin Việt Nam công nhận là Di tích lịch sử-văn hóa quốc gia ngày 6 tháng 12 năm 1989.
Lễ hội tưởng niệm ông diễn ra tại đây các ngày 19 và 20 tháng 8 dương lịch hàng năm.

Chú thích

  1. ^ Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam do Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế biên soạn, NXb Khoa học xã hội, 1992, tr. 920.
  2. ^ Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, tr. 920.
  3. ^ Ở đây chỉ trận Đại đồn Chí Hòa xảy ra vào tháng 2 năm 1861.
  4. ^ Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, truyện “Trương Định” (NXB Văn học, 2004, tr. 877).
  5. ^ Theo Quốc triều chánh biên toát yếu, tr. 401.
  6. ^ Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, truyện “Trương Định”, tr. 878.
  7. ^ Đám lá tối trời: Từ Gò Công đi về hướng ao Trường Đua, theo đường ấp Long Hưng đến ngã ba ấp Giá Trên thuộc xã Kiểng Phước; từ đây có bảng hướng dẫn đi thêm 8,5 km nữa để đến đền thờ Trương Định (Gia Thuận). nơi này, khi xưa là khu vực “Đám lá tối tròi”
  8. ^ Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, tr.921.
  9. ^ Theo Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên (quyển 5, tập thượng, tr. 195).
  10. ^ Trương Định (ghi chú của Hoang Phong, người dịch sách).
  11. ^ Theo Léopold Pallu, Histoire de L’Expédition de Cochinchine en 1861 (Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ 1861), do nhà xuất bản Hachette in tại Pháp năm 1864. Bản dịch của Hoang Phong. Nxb Phương Đông, 2008, tr. 252.
  12. ^ Sơn Nam, Sài Gòn xưa – Ấn tượng 300 năm, NXB. Trẻ, 2008, tr. 162.
  13. ^ Nhiều người soạn, Hỏi đáp lịch sử Việt Nam, Nxb. Trẻ, 2007, tr. 88-89.
  14. ^ Đại Nam chính biên liệt truyện, truyện “Trương Định”, tr. 878.
  15. ^ Bà Trần Thị Sanh là con thứ 6 của ông Trần Văn Đồ và bà Phạm Thị Phụng. Bà Phụng là em gái ông Phạm Đăng Hưng, cha của bà Phạm Thị Hằng, tức thái hậu Từ Dụ.
  16. ^ Bà Hương sau này gả cho ông Huỳnh Đình Ngươn, cha của chí sĩ Huỳnh Đình Điển.
  17. ^ a ă Trần Anh Tài, Chút kỉ niệm xưa, báo Khoa học Phổ thông.
  18. ^ Nguyễn Liên Phong, Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca.
  19. ^ Theo Cao Văn Sáu, Vợ Trương Định, một liệt nữ bốn lần vươn cao trong số phận, sách Nam Bộ xưa và nay, NXB TP.HCM, 2005, tr.173 – 176.
  20. ^ Bà Điệu là con gái út của bà Dương Thị Hương, con gái riêng của bà Trần Thị Sanh, và ông Huỳnh Đình Ngươn. Bà Điệu lấy chồng là Đốc Phủ sứ là Nguyễn Văn Hải, nên gọi là bà Phủ Hải.
  21. ^ Huỳnh Minh, Gò Công xưa, Nxb Thanh Niên, 2001, tr. 77.

Liên kết ngoài

Cộng hòa Nhân dân Hungary

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Magyar Népköztársaság
Cộng hòa Nhân dân Hungary
Quốc gia vệ tinh của Liên Xô[1]
1949–1989
Quốc kỳ Quốc huy
Quốc kỳ Quốc huy
Quốc ca
Himnusz[a]
Hymn
Vị trí của Hungary
Thủ đô Budapest
Ngôn ngữ tiếng Hungary
Tôn giáo không chính thức
Chính thể nhà nước độc đảng Marxist–Leninist
Tổng bí thư
 – 1949–1956 (đầu tiên) Mátyás Rákosi
 – 1989 (cuối cùng) Rezső Nyers
Nguyên thủ quốc gia
 – 1949–1950 (đầu tiên) Árpád Szakasits
 – 1988–1989 (cuối cùng) Brunó Ferenc Straub
Nguyên thủ chính phủ
 – 1949–1952 (đầu tiên) István Dobi
 – 1988–1989 (cuối cùng) Miklós Németh
Lập pháp Quốc hội
Thời đại lịch sử Chiến tranh Lạnh
 – Thành lập 18 tháng 8, 1949
 – Cách mạng Hungary 23 tháng 10 năm 1956
 – Cơ chế kinh tế mới 1 tháng 1 năm 1968
 – Kết thúc 23 tháng 10
Diện tích
 – 1989 93.030 km²; (35.919 mi²)
Dân số
 – 1989 ước tính 10.397.959
     Mật độ 111,8 /km²  (289,5 /mi²)
Tiền tệ Forint
a. ^Himnusz” được sử dụng làm quốc ca trước và sau thời kỳ cộng sản ở Hungary. Do trong lời bài hát có từ “Thượng đế”, những người cộng sản cố gắng sáng tác một bài hát thay thế song thất bại, họ quyết định sử dụng “Himnusz” song loại bỏ từ “Thượng đế”.

Cộng hòa Nhân dân Hungary (tiếng Hungary: Magyar Népköztársaság) là quốc hiệu chính thức của nước Hungary xã hội chủ nghĩa từ năm 1949 đến năm 1989, do Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Hungary lãnh đạo với sự chỉ đạo của Liên Xô.[1] Thể chế này tồn tại cho đến năm 1989, khi các lực lượng đối lập buộc chế độ cầm quyền phải từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Nhà nước này tự xem mình là chế độ kế thừa của Cộng hòa Xô viết Hungary được thành lập vào năm 1919.

Thành lập

Sau khi giải phóng Hungary khỏi Đức Quốc Xã, Hồng quân Liên Xô tiếp tục chiếm đóng quốc gia này. Sau khi tịch thu hầu hết tài sản của lực lượng Đức, Liên Xô nỗ lực và đạt được mục đích ở một mức độ nhất định trong việc kiểm soát các vấn đề chính trị của Hungary.[2] Thông qua áp chế bằng vũ lực, Liên Xô lập ra các cơ quan công an để ngược đãi phe đối lập, giúp họ có thể kiểm soát cuộc bầu cử sắp tới, tuyên truyền mạnh mẽ về chủ nghĩa cộng sản.[3] Bất chấp các nỗ lực này, Đảng Cộng sản Hungary chỉ nhận được 17% tổng số phiếu, đứng sau liên minh do Đảng Tiểu chủ– lãnh đạo dưới quyền Thủ tướng Zoltán Tildy, do đó làm thất bại kỳ vọng của Liên Xô về việc nắm giữ quyền lực bằng một chính phủ được bầu cử dân chủ.[4]
Tuy nhiên, Liên Xô một lần nữa lại dùng vũ lực để can thiệp, kết quả là một chính phủ không có mặt Tildy, với những người cộng sản nắm giữ các chức vụ bộ trưởng quan trọng, và áp dụng một số biện pháp hạn chế, như cấm đoán chính phủ liên minh chiến thắng và buộc nó phải nhường Bộ Nội vụ cho một người do Đảng Cộng sản Hungary đề cử.
Bộ trưởng Nội vụ László Rajk thành lập công an mật ÁVH, trong một nỗ lực nhằm đàn áp lực lượng chính trị đối lập thông qua đe dọa, vu cáo, tống giam và tra tấn.[5] Đến đầu năm 1947, Liên Xô thúc ép lãnh tụ cộng sản Hungary là Mátyás Rákosi phải tiến hành “phương pháp đấu tranh giai cấp rõ ràng hơn.” Rákosi tuân theo bằng cách buộc các đảng khác phải loại bỏ các đảng viên không muốn làm theo mệnh lệnh của Đảng Cộng sản, trên danh nghĩa vì họ là “kẻ phát xít.” Sau khi những người Cộng sản giành được đủ quyền lực, ông gọi hành động này là “chiến thuật xúc xích.” [6] Thủ tướng Ferenc Nagy bị buộc phải từ nhiệm để thành viên Đảng Tiểu chủ mềm dẻo hơn là Lajos Dinnyés tựu nhiệm. Trong cuộc bầu cử tổ chức trong năm 1947, Đảng Cộng sản trở thành đảng lớn nhất, song không chiếm đa số. Liên minh được duy trì với Dinnyés là thủ tướng. Tuy nhiên, đến thời điểu này thì hầu hết các thành viên can đảm hơn trong các đảng khác đã bị loại bỏ, khiến họ trở thành các đảng đồng cảm với cộng sản.[7]
Đảng Cộng sản tiếp tục củng cố quyền lực, làm suy yếu các đảng khác, điều này lên đến đỉnh điểm vào nửa sau năm 1948. Tháng 6 năm 1948, những người Cộng sản buộc những người Dân chủ Xã hội phải hợp nhất với họ để lập ra Đảng Nhân dân Lao động Hungary. Rákosi sau đó buộc Tildy phải chuyển giao chức chủ tịch cho Árpád Szakasits (người chuyển lập trường sang cộng sản). Vào tháng 12, lãnh tụ đảng Tiểu chủ là Dinnyés bị thủ lĩnh phe tả trong đảng là István Dobi thay thế, đây là người công khai ủng hộ cộng sản. Quá trình này ít nhiều hoàn thành với cuộc bầu cử vào tháng 5 năm 1949. Ngày 18 tháng 8, Quốc hội mới thông qua một bản hiến pháp mới—gần như là một bản sao của hiến pháp Liên Xô. Khi nó được ban hành chính thức vào ngày 20 tháng 8, tên nước được đổi thành Cộng hòa Nhân dân Hungary.
Tình hình chính trị cũ vẫn tiếp diễn, với việc Liên Xô thúc bách và điều khiển nền chính trị Hungary thông qua Đảng Nhân dân Lao động Hungary, tiến hành can thiệp khi cần thiết, thông qua áp chế vũ lực và các hoạt động bí mật. Rajk (người về sau bị hành quyết) gọi đây là “một chế độ độc tài của giai cấp vô sản nằm ngoài mô hình Xô viết” gọi nó là một “nền dân chủ nhân dân.”[8] Hungary tiếp tục đi trên con đường cộng sản cho đến cuối thập niên 1980, khi các náo động nổ ra khắp khối phía Đông, với đỉnh điểm là sự sụp đổ của Bức tường BerlinLiên Xô tan rã.

Lịch sử

Thời kỳ Stalin (1949–1956)

Nhà lãnh đạo mới của Hungary là Mátyás Rákosi yêu cầu các đồng chí trong Đảng Nhân dân Lao động Hungary phải hoàn toàn phục tùng ông. Đối thủ cạnh tranh quyền lực chính của Mátyás Rákosi là László Rajk, người này khi đó đang là Ngoại trưởng Hungary. Rajk bị bắt giữ và phái viên NKVD của Stalin phối hợp cùng Tổng Bí thư Hungary Rákosi và công an mật ÁVH để sắp xếp phiên tòa mang tính hình thức giành cho Rajk.[9]
Trong phiên tòa vào tháng 9 năm 1949, Rajk buộc phải nhận tội, nói rằng ông là tay sai của Miklós Horthy, Leon Trotsky, Josip Broz Tito và chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Ông cũng thừa nhận rằng mình tham gia một kế hoạch ám sát nhằm vào Mátyás Rákosi và Ernő Gerő. Rajk bị tuyên bố là có tội và bị hành quyết.[9]
Mặc dù có công giúp đỡ Rákosi thanh toán Rajk, song János Kádár và những người bất đồng quan điểm khác cũng bị thanh trừng khỏi đảng trong giai đoạn này. ÁVH đánh đập Kádár trong lúc thẩm vấn ông, bôi thủy ngân lên người ông để lỗ chân lông không thể trao đổi chất ra bên ngoài, người thẩm vấn còn đi tiểu vào miệng ông khi nó bị cạy ra.[10]
Rákosi sau đó áp đặt quyền thống trị độc đoán tại Hungary. Ở cao điểm trong thời gian nắm quyền của mình, Rákosi cho phát triển sự sùng bái cá nhân mạnh mẽ.[11] Được phong cho danh là “sát nhân hói”, Rákosi phỏng theo các chương trình chính trị và kinh tế Stalinist, khiến Hungary nằm dưới quyền cai trị của một trong những chế độ độc tài khắc nghiệt nhất tại châu Âu.[12][13] Ông tự mô tả bản thân là “môn đệ người Hungary tốt nhất của Stalin”[11] và “học trò tốt nhất của Stalin”.[14]
Hoạt động trấn áp tại Hungary gay gắt hơn so với các quốc gia vệ tinh khác trong những năm 1940 và 1950 do hoạt động chống đối tại Hungary mãnh liệt hơn.[12] Khoảng chừng 350.000 quan chức và đảng viên tri thức bị thanh trừng khỏi Đảng Nhân dân Lao động Hungary từ năm 1948 đến năm 1956.[12] Bất kỳ thành viên nào bị phát hiện có liên hệ với phương Tây đều bị tấn công ngay lập tức, trong số đó có một lượng lớn những người từng lưu vong nhiều năm ở phương Tây khi Hungary bị Đức Quốc Xã chiếm đóng.[9] Khoảng chừng 150.000 người bị tống giam, với 2.000 người bị hành quyết.[15]
Ngoài ra, trong quá trình “thanh lọc xã hội” các thành phần phi đảng phái, tại Budapest vào 2 giờ rạng sáng thứ 2, thứ 4, và thứ 6 có các chuyến xe chở các mục tiêu thanh trừng, với con số khoảng chừng 700.000.[16] Trong đó có 98.000 người bị quy là làm gián điệp và kẻ phá hoại, 5.000 trong số đó bị hành quyết.[16] Những cuộc thành trừng xã hội này sử dụng một nguồn lực lớn, bao gồm việc sử dụng gần một triệu người Hungary trưởng thành để ghi chép, kiẻm soát, tính toán, tuyên truyền, gián điệp hoặc đôi khi là giết các mục tiêu thanh trừng.[17]

Quốc kỳ Hungary trong giai đoạn 1949-1956

Rákosi nhanh chóng mở rộng hệ thống giáo dục tại Hungary, điều này phần lớn là nhằm có thể thay thế tầng lớp có học trước đây bằng những người được Rákosi gọi là một “giới tri thức lao động” mới. Ngoài một số tác động tích cực như điều kiện giáo dục tốt hơn dành cho người nghèo, cho con cái của giai cấp công nhân thêm nhiều cơ hội và nâng cao tỷ lệ biết chữ nói chung, biện pháp này cũng bao gồm cả việc phổ biến ý thức hệ cộng sản trong trường học. Ngoài ra, nhằm mục đích tách biệt Giáo hội ra khỏi chính quyền, việc giảng dạy tôn giáo bị tuyên bố là truyền giáo và dần bị loại bỏ khỏi trường học.
Chính quyền tiến hành tập thể hóa nông nghiệp và dùng lợi nhuận từ các nông trường quốc gia để cung cấp tài chính cho ngành công nghiệp nặng đang phát triển nhanh chóng, đầu tư cho công nghiệp nặng khi đó chiếm tới 90% tổng vốn đầu tư công nghiệp. Lúc đầu, Hungary tập trung chủ yếu vào các loại hàng mà nước này sản xuất từ trước chiến tranh, bao gồm đầu máy và toa xe lửa.
Rákosi gặp khó khăn trong việc quản lý nền kinh tế và mức sống của người dân Hungary giảm đi nhanh chóng. Chính phủ của ông càng trở nên không được ủng hộ, và khi Joseph Stalin qua đời vào năm 1953, Imre Nagy đã thay thế chức thủ tướng của Mátyás Rákosi. Tuy nhiên, Mátyás Rákosi vẫn là Tổng bí thư của Đảng Nhân dân Lao động Hungary trong ba năm sau đó, hai người tiến hành một cuộc đấu tranh quyền lực gay gắt.
Với vai trò là lãnh đạo mới của Hungary, Imre Nagy loại bỏ sự kiểm soát ngôn luận đối với các phương tiện truyền thông đại chúng và khuyến khích thảo luận công khai về thay đổi hệ thống chính trị và tự do hóa kinh tế. Chính phủ mới hứa hẹn nâng cao sản lượng và phân phối các mặt hàng tiêu dùng. Nagy cũng cho phóng thích những người cánh hữu đối lập khỏi nhà tù và thảo luận về việc tổ chức bầu cử đa dảng và rút Hungary khỏi khối Warszawa.
Ngày 9 tháng 3 năm 1955, Uỷ ban Trung ương của Đảng Nhân dân Lao động Hungary chỉ trích Nagy thiên hữu. Các tờ báo Hungary cũng tham gia công kích Nagy và buộc tội ông phải chịu trách nhiệm cho các vấn đề kinh tế của quốc gia. Ngày 18 tháng 4, Imre Nagy bị loại bỏ khỏi chức vụ trong một cuộc bỏ phiếu của Quốc hội, Rákosi lại trở thành lãnh đạo của Hungary.
Quyền lực của Rákosi bị suy yếu sau bài phát biểu lên án Stalin của nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev vào tháng 2 năm 1956. Ngày 18 tháng 7 năm 1956, Rákosi buộc phải rời khỏi quyền lực theo sau các chỉ thị từ Liên Xô. Tuy nhiên, Rákosi đã thành công trong việc tìm cách để đưa người bạn thân cận của ông là Ernő Gerő trở thành nhà lãnh đạo mới của quốc gia.
Ngày 3 tháng 10 năm 1956, Ủy ban Trung ương của Đảng Nhân dân Lao động Hungary tuyên bố rằng László Rajk, György Pálffy, Tibor SzőnyiAndrás Szalai bị hàm oan trong việc bị kết án mưu phản vào năm 1949. Đồng thời, Đảng Nhân dân Lao động Hungary cũng tuyên bố Imre Nagy được phục hồi đảng tịch.

Các mạng năm 1956

Bài chi tiết: Cách mạng Hungary 1956

Cách mạng Hungary 1956 bắt đầu vào ngày 23 tháng 10 khi các sinh viên tiến hành hoạt động tuần hành hòa bình tại Budapest. Trong cuộc nổi dậy Hungary 1956, ước tính có 20.000 người bị sát hại, gần như toàn bộ là trong quá trình can thiệp của Liên Xô. Một người thân Xô là János Kádár trở thành lãnh đạo mới của Hungary, với chức vụ là lãnh đạo của Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Hungary mới được thành lập.

Các thay đổi dưới thời Kádár

Đầu tiên, Kádár lãnh đạo các hành động trừng phạt chống lại những nhà cách mạng, 21.600 nhân vật bất đồng chính kiến bị tống giam, 13.000 người bị giam cầm, và 400 người bị hành quyết. Tuy nhiên, đến đầu những năm 1960, Kádár tuyên bố đại xá, dần kiềm chế một số hành động thái quá của công an mật, mở đầu đường lối văn hóa và kinh tế tương đối tự do nhằm khắc phục thái độ thù địch chống lại ông và chế độ của ông sau năm 1956.
Năm 1966, Ủy ban Trung ương thông qua “Cơ chế Kinh tế mới”, qua đó tìm cách cải tổ nền kinh tế, tăng năng suất, khiến Hungary cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới, tạo ra sự thịnh vượng để thúc đẩy ổn định chính trị. Trong hai thập niên kế tiếp, tình hình trong nước Hungary tương đối yên tĩnh, chính phủ của Kádár lần lượt tiến hành các cải cách nhỏ về kinh tế và chính trị.
Đầu thập niên 1980, Hungary đã có được một số cải cách kinh tế dài hạn và tự do hóa chính trị ở mức hạn chế, theo đuổi một chính sách đối ngoại khuyến khích thương mại với phương Tây. Tuy thế, Cơ chế Kinh tế mới dẫn tới nợ nước ngoài, chính phủ phải trợ cấp cho các ngành công nghiệp không sinh lợi nhuận.

Chuyển đổi sang nền dân chủ phương Tây

Quá trình chuyển đổi Hungary thành một nền dân chủ phương Tây diễn ra êm thấm so với các nước khác trong khối Đông Âu. Đến năm 1988, các nhà hoạt động trong Đảng và bộ máy nhà nước và giới trí thức gia tăng áp lực yêu cầu thay đổi. Các hoạt động công dân được tăng cường ở mức chưa từng có kế từ năm 1956.
Năm 1988, Kádár phải rời khỏi chức vụ Tổng bí thư, nhân vật cộng sản cải cách Imre Pozsgay được bầu vào Bộ Chính trị. Năm 1989, Quốc hội thông qua một “gói dân chủ”, bao gồm công đoàn đa nguyên, tự do lập hội, hội họp và báo chí, một luật bầu cử mới. Vào tháng 10 năm 1989, một bản hiến pháp cấp tiến được thông Công nhân Xã hội chủ nghĩa Hungary triệu tập Đại hội cuối cùng của mình và tái lập với tên Đảng Xã hội Hungary (MSZP). Trong một phiên họp lịch sử vào ngày 16-20 tháng 10 năm 1989, Quốc hội thông qua luật quy định bầu cử quốc hội đa đảng và một cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp, đổi tên nước từ Cộng hòa Nhân dân Hungary thành Cộng hòa Hungary.

Kinh tế

Là một thành viên của khối Đông Âu, ban đầu Hungary tuân theo các chỉ thị của Joseph Stalin nhằm làm suy yếu thể chế kinh tế thị trường phương Tây, “dân chủ tư sản” phương Tây, ra các điều luật để nhà nước có thể can thiệp tùy ý.[18] Các nền kinh tế theo mô hinh Liên Xô tại Đông Âu, giống như Hungary, tuân theo các phương châm chỉ đạo kinh tế của Liên Xô.[19] Các hoạt động kinh tế được quản lý theo các Kế hoạch 5 năm, chia thành các giai đoạn hàng tháng, các nhà hoạch định của chính phủ tường cố gắng đạt được mục tiêu bất chấp thị trường của hàng hóa được sản xuất ra.[20]
Hoạt động sản xuất không hợp lý dẫn đến việc các mặt hàng tiêu dùng thiếu về số lượng và kém về chất lượng trong một nền kinh tế thiếu hụt.[21] Nhìn chung, các hệ thống yếu kém không có cạnh tranh trở nên tai hại, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế thế giới ngày càng phức tạp.[22] Trong khi đó, các quốc gia Tây Âu có được sự tăng trưởng về kinh tế sau Thế chiến thứ hai.
Trong khi hầu hết các nền kinh tế Tây Âu về cơ bản đạt đến GDP trên người gần với mức của Hoa Kỳ, Hungary thì không,[23] với GDP trên người của nước này tụt hậu đáng kể so với các đối tác Tây Âu như trong bảng:[24]

GDP/người (USD năm 1990) 1938 1990
Áo $1.800 $19.200
Tiệp Khắc $1.800 $3.100
Phần Lan $1.800 $26.100
Ý $1.300 $16.800
Hungary $1.100 $2.800
Ba Lan $1.000 $1.700
Tây Ban Nha $900 $10.900

GDP trên người theo sức mua tương đương:[25]

GDP/người (USD năm 1990) 1950 1973 1990
Áo $3.706 $11.235 $16.881
Ý $3.502 $10.643 $16.320
Tiệp Khắc $3.501 $7.041 $8.895(Czech)/
$7.762(Slovakia)
Liên Xô $2.834 $6.058 $6.871
Hungary $2.480 $5.596 $6.471
Tây Ban Nha $2.397 $8.739 $12.210

Tình trạng thiếu nhà ở cũng diễn ra.[26] Các căn hộ trong những khối nhà lớn đúc sẵn có chất lượng thấp, như Panelház, là một biểu tượng phổ biến ở các thành phố Đông Âu thập niên 1970 và 1980.[27] Thậm chí đến cuối những năm 1980, các điều kiện vệ sinh thường là rất không phù hợp.[28] Chỉ có 60% nhà ở tại Hungary có điều kiện vệ sinh đầy đủ vào năm 1984, chỉ 36,1% nhà ở có đường ống nước.[29]

Chú thích

  1. ^ a ă Rao, B. V. (2006), History of Modern Europe Ad 1789-2002: A.D. 1789-2002, Sterling Publishers Pvt. Ltd.
  2. ^ Wettig 2008, tr. 51
  3. ^ Wettig 2008, tr. 85
  4. ^ Norton, Donald H. (2002). Essentials of European History: 1935 to the Present, p. 47. REA: Piscataway, New Jersey. ISBN 0-87891-711-X.
  5. ^ UN General Assembly Special Committee on the Problem of Hungary (1957) Chapter II.N, para 89(xi) (p. 31)PDF (1.47 MiB)
  6. ^ Wettig 2008, tr. 110
  7. ^ Kontler, László. A History of Hungary. Palgrave Macmillan (2002), ISBN 1-4039-0316-6
  8. ^ Crampton 1997, tr. 241
  9. ^ a ă â Crampton 1997, tr. 263
  10. ^ Crampton 1997, tr. 264
  11. ^ a ă Sugar, Peter F., Peter Hanak and Tibor Frank, A History of Hungary, Indiana University Press, 1994, ISBN 0-253-20867-X, page 375-77
  12. ^ a ă â Granville, Johanna, The First Domino: International Decision Making during the Hungarian Crisis of 1956, Texas A&M University Press, 2004. ISBN 1-58544-298-4
  13. ^ Gati, Charles, Failed Illusions: Moscow, Washington, Budapest, and the 1956 Hungarian Revolt, Stanford University Press, 2006 ISBN 0-8047-5606-6, page 9-12
  14. ^ Matthews, John P. C., Explosion: The Hungarian Revolution of 1956, Hippocrene Books, 2007, ISBN 0-7818-1174-0, page 93-4
  15. ^ Bideleux & Jeffries 2007, tr. 477
  16. ^ a ă Crampton 1997, tr. 267
  17. ^ Crampton 1997, tr. 272
  18. ^ Hardt & Kaufman 1995, tr. 12
  19. ^ Turnock 1997, tr. 23
  20. ^ Crampton 1997, tr. 250
  21. ^ Dale 2005, tr. 85
  22. ^ Hardt & Kaufman 1995, tr. 1
  23. ^ Hardt & Kaufman 1995, tr. 16
  24. ^ Hardt & Kaufman 1995, tr. 17
  25. ^ Madison 2006, tr. 185
  26. ^ Sillince 1990, tr. 11–12
  27. ^ Turnock 1997, tr. 54
  28. ^ Sillince 1990, tr. 18
  29. ^ Sillince 1990, tr. 19–20

Tham khảo

  • Bideleux, Robert; Jeffries, Ian (2007), A History of Eastern Europe: Crisis and Change, Routledge, ISBN 0-415-36626-7
  • Crampton, R. J. (1997), Eastern Europe in the twentieth century and after, Routledge, ISBN 0-415-16422-2
  • Dale, Gareth (2005), Popular Protest in East Germany, 1945-1989: Judgements on the Street, Routledge, ISBN 071465408 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp)
  • Hardt, John Pearce; Kaufman, Richard F. (1995), East-Central European Economies in Transition, M.E. Sharpe, ISBN 1-56324-612-0
  • Sillince, John (1990), Housing policies in Eastern Europe and the Soviet Union, Routledge, ISBN 0-415-02134-0
  • Turnock, David (1997), The East European economy in context: communism and transition, Routledge, ISBN 0-415-08626-4
  • Wettig, Gerhard (2008), Stalin and the Cold War in Europe, Rowman & Littlefield, ISBN 0-7425-5542-9

Chiến tranh Iran-Iraq

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia