Chào ngày mới 17 tháng 10

French Indochina c. 1930.jpg

CNM365. Chào ngày mới 17 tháng 10. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày quốc tế xóa nghèo; ngày Dessalines tại HaitiNăm 1604 – Nhà thiên văn học Johannes Kepler quan sát một ngôi sao trong chòm sao Xà Phu, về sau được gọi siêu tân tinh Kepler. Năm 1887Liên bang Đông Dương (hình) được thành lập với bốn thành viên ban đầu là Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam KỳCampuchia. Năm 1943Đường sắt Miến Điện được hoàn thành, tuyến đường được Đế quốc Nhật Bản xây dựng trong Thế chiến thứ hai với thiệt hại cao về nhân mạng. Năm 1979Mẹ Têrêsa được trao giải Nobel Hòa bình do những hoạt động nhằm đấu tranh vượt qua nghèo khó tại Ấn Độ.

Johannes Kepler

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Johannes Kepler

Chân dung Johannes Kepler năm 1610 bởi một nghệ sĩ khuyết danh
Sinh 27 tháng 12, 1571
Weil der Stadt, Đế quốc La Mã Thần thánh
Mất 15 tháng 11, 1630 (58 tuổi)
Regensburg, Tuyển hầu quốc Bavaria, Đế quốc La Mã Thần thánh
Nơi cư trú Baden-Württemberg; Styria; Bohemia; Oberösterreich
Quốc tịch Đức
Tôn giáo Luther
Ngành Thiên văn học, chiêm tinh học, toán họctriết học tự nhiên
Nơi công tác Đại học Linz
Alma mater Đại học Tübingen
Nổi tiếng vì Định luật về chuyển động của các hành tinh
Giả thiết Kepler
Chữ ký

Johannes Kepler (27 tháng 12, 157115 tháng 11, 1630), là một nhà toán học, thiên văn họcchiêm tinh học người Đức. Là một trong những đại diện của cuộc cách mạng khoa học thế kỷ 17, Kepler được biết đến nhiều nhất bởi các định luật về chuyển động thiên thể mang tên ông do các nhà thiên văn thiết lập dựa trên những công trình của ông như Astronomia nova, Harmonice Mundi và cuốn Thiên văn học Copernicus giản lược.
Khởi đầu sự nghiệp, Kepler từng là một giáo viên toántrường dòng Graz, trước khi đảm nhiệm vai trò trợ tá cho nhà thiên văn Tycho Brahe, và cuối cùng trở thành nhà thiên văn học triều đình cho Hoàng đế La Mã Thần thánh Rudolf II và sau đó là các hoàng đế kế vị MatthiasFerdinand II. Trong những năm biến động cuối đời, ông dạy toán ở Linz (Áo) và là cố vấn cho Albrecht von Wallenstein. Ngày nay được biết đến chủ yếu vì những nghiên cứu thiên văn học, ông còn có những công trình quan trọng trong lĩnh vực quang học, phát minh ra một mẫu kính viễn vọng phản xạ (Kính viễn vọng Kepler), và thảo luận về những khám phá bằng kính viễn vọng của một nhà khoa học sống cùng thời, Galileo Galilei.
Kepler sống trong một thời đại mà giữa thiên văn và chiêm tinh không có sự phân biệt rõ ràng, nhưng có sự chia tách giữa thiên văn (như một nhánh của toán học) và vật lý (một nhánh của triết học tự nhiên). Kepler cũng kết hợp giữa đức tin và lý trí vào công trình của mình, được thúc đẩy bởi xác tín thần học rằng Chúa đã tạo ra thế giới theo một kế hoạch khả tri mà con người có thể lĩnh hội dưới ánh sáng của lý trí[1] Kepler mô tả nền thiên văn học mới của ông là “vật lý thiên thể“,[2] như “một cuộc dạo chơi vào siêu hình học của Aristotle“,[3] và “một sự bổ sung cho tiểu luận Về bầu trời của Aristotle”,[4] chuyển đổi truyền thống cổ đại về vũ trụ học vật lý với việc xem thiên văn như một phần của một nền vật lý-toán tổng quát.[5]

Những năm đầu đời

Nơi sinh của Johannes Kepler tại Weil der Stadt

Siêu sao chổi C/1577 V1 xuất hiện năm 1577, mà Kepler quan sát thấy khi còn nhỏ, đã thu hút sự chú ý của các nhà thiên văn học trên khắp châu Âu.

Kepler sinh ngày 27 tháng 12 năm 1571 tại thành phố tự trị Weil der Stadt thuộc Đế quốc La Mã Thần thánh (nay là một phần thuộc vùng Stuttgart ở bang Baden-Württemberg của nước Đức, cách trung tâm Stuttgart 30 km về phía tây). Ông nội ông từng là Thị trưởng thành phố, nhưng lúc Johannes ra đời, gia đình đang rơi vào cảnh khánh kiệt. Kepler là con cả trong số 7 người con của mẹ ông, nhưng ba trong số đó chết yểu. Người cha kiếm sống bấp bênh với nghề lính đánh thuê, rời bỏ gia đình khi Johannes mới năm tuổi và về sau được cho là đã chết trong Chiến tranh tám mươi nămHà Lan. Mẹ ông, con gái một chủ quán trọ, là một thầy thuốc chữa bệnh bằng thảo dược và về sau bị kết án là phù thuỷ. Do đẻ non, Johannes từ bé đã yếu ớt và hay ốm đau. Bù lại Kepler thông minh hơn người và người ta kể lại rằng khi còn nhỏ, cậu thường làm những khách trọ ở nhà ông ngoại ngạc nhiên vì khả năng toán học kỳ lạ của mình.[6]
Kepler làm quen với thiên văn học từ rất sớm và gắn bó với nó trong cả cuộc đời. Năm 1577, khi mới lên sáu, cậu đã quan sát một siêu sao chổi, và sau này kể lại rằng cậu đã “được mẹ đưa lên một chỗ cao để nhìn nó”.[7] Năm 1580, Kepler quan sát một hiện tượng thiên văn khác – nguyệt thực, cậu nhớ là đã “được gọi ra ngoài” để nhìn nó và rằng Mặt Trăng “có vẻ khá đỏ”.[7] Tuy nhiên bệnh đậu mùa thời trẻ đã giảm thị lực và liệt tay của Kepler, khiến cậu bé phải chú tâm tới toán học nhiều hơn là quan sát các khía cạnh thiên văn học.[8]
Năm 1589, sau khi học qua trường văn phạm, trường tiếng Latinh, và trường dòng ở Maulbronn theo hệ thống giáo dục Lutheran, Kepler bắt đầu theo học tại Đại học Tübingen. Tại đây ông học triết học từ Vitus Müller[9]thần học từ Jacob Heerbrand (một học trò của Philipp Melanchthon ở Wüttenberg người sau trở thành hiệu trưởng của trường.[10]. Kepler sớm chứng tỏ là một nhà toán học xuất chúng và nổi tiếng có tài chiêm tinh. Dưới sự hướng dẫn của giáo sư toán học Michael Maestlin[10], ông nghiên cứu cả hệ thống Ptolemyhệ thống Copernicus về chuyển động hành tinh và trở thành một người ủng hộ Copernicus từ lúc đó. Trong một buổi tranh luận của sinh viên, Kepler đã lên tiếng bảo vệ thuyết nhật tâm cả từ quan điểm lý thuyết lẫn thần học, khẳng định rằng Mặt Trời là nguồn năng lượng chính cung cấp hoạt năng trong vũ trụ.[11]. Dù muốn trở thành một mục sư, gần cuối thời gian học, Kepler được tiến cử vào vị trí giáo viên toán và thiên văn học tại trường dòng Kháng CáchGraz, Áo. Ông nhận vị trí đó vào tháng 4, 1594, lúc 23 tuổi.[12]

Khởi đầu sự nghiệp (1594–1600)

Mysterium Cosmographicum

Mô hình khối đa diện đều Platon về Hệ Mặt Trời của Kepler trích từ Mysterium Cosmographicum (1600)

Tại Graz, Kepler bắt đầu phát triển một lý thuyết bảo vệ hệ thống Copernicus, xuất bản năm 1596 với tên Mysterium Cosmographicum—(Bí ẩn vũ trụ). Ông tuyên bố là đã có một thị kiến vào ngày 19 tháng 7 năm 1595 chứng minh sự giao hội của Sao MộcSao Thủy trên hoàng đạo; ông nhận ra rằng các đa giác đều nội tiếpngoại tiếp đường tròn theo những tỉ lệ xác định, mà theo lập luận của ông, có thể là những cơ sở hình học của vũ trụ. Sau khi thất bại trong việc tìm một cách sắp xếp duy nhất các đa giác cho khớp với quan trắc thiên văn (ngay cả khi cho thêm vào ba hành tinh), Kepler bắt đầu thí nghiệm với những hình khối đa diện ba chiều. Ông thấy rằng các khối đa diện đều Platon có thể nội tiếp và ngoại tiếp bởi các khối cầu tròn; lồng những khối đa diện này với nhau, mỗi khối giới hạn bởi một khối cầu, kết quả là ta có sáu lớp, tương ứng với sáu hình tinh được biết đến thời đó – Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Mộc, Sao Thổ. Bằng cách sắp xếp các khối đa diện theo thứ tự-hình 8 mặt, hình 20 mặt, hình 12 mặt, hình 4 mặt (tứ diện), hình lập phương-Kepler thấy rằng các khối cầu có thể đặt vào các khoảng tương ứng (trong giới hạn chính xác của quan trắc thiên văn đương thời) với kích thước tương đối của quỹ đạo của mỗi hành tinh, với giả thiết là chúng quay xung quanh Mặt Trời. Kepler cũng tìm thấy công thức liên hệ giữa kích thước của khối cầu ứng với mỗi hành tinh và chu kỳ quỹ đạo của nó: từ hành tinh phía trong tới hành tinh phía ngoài, tỉ lệ sự tăng chu kỳ quỹ đạo gấp đôi tỉ lệ giữa bán kính khối cầu. Tuy nhiên, Kepler về sau từ bỏ công thức này, vì nó chưa được chính xác.[13]

Cận cảnh phần phía trong của mô hình.

Như tên gọi cuốn sách phần nào chỉ ra, Kepler nghĩ rằng ông đã phát lộ kế hoạch thiết lập vũ trụ có tính hình học của Thượng Đế. Phần lớn nhiệt huyết của Kepler đối với hệ thống Copernicus bắt nguồn từ xác tín thần học của ông về mối liên hệ giữa cái Vật chất và cái Tinh thần; vũ trụ tự nó là một hình ảnh của Chúa, với Mặt Trời ứng với Chúa Cha, thiên cầu ứng với Chúa Con, và không gian ở giữa ứng với Chúa Thánh Linh. Bản thảo đầu tiên của Mysterium còn có một chương mở rộng nhằm hòa giải thuyết nhật tâm với các trích đoạn Kinh Thánh vốn dường như ủng hộ thuyết địa tâm.[14]
Với sự giúp đỡ của thầy hướng dẫn là Michael Maestlin, Kepler nhận được hội đồng trường Đại học Tübingen cho phép xuất bản bản thảo, trong lúc chờ để chỉnh sửa, loại bỏ phần chú giải Kinh Thánh và thêm vào một đoạn mô tả đơn giản, dễ hiểu hơn hệ thống Copernicus cũng như những ý tưởng mới của Kepler. Mysterium mãi đến năm 1596 mới được in, và đầu năm 1597 Kepler nhận các bản in để gửi cho những nhà thiên văn và nhà bảo trợ có tiếng; nó không được truyền bá rộng rãi, nhưng ít nhất đã tạo dựng danh tiếng một nhà thiên văn xuất chúng cho Kepler. Những lời đề tặng hoa mỹ, dành cho những nhà bảo trợ quyền lực cũng như những người kiểm soát vị trí của ông ở Graz, cũng đem lại một lối đi thiết yếu tới hệ thống bảo trợ.[15]
Mặt dù các công trình sau này có sửa chữa nhiều chi tiết của cuốn sách, Kepler không bao giờ đoạn tuyệt vũ trụ học đa diện đều-khối cầu trong Mysterium Cosmographicum. Các công trình thiên văn quan trọng của ông về sau ít nhiều có thể được coi như sự phát triển rộng thêm của nó, liên quan tới việc tìm các kích thước chính xác hơn cho các khối cầu bằng cách tính toán tâm sai của các quỹ đạo hành tinh bên trong chúng. Năm 1621 Kepler tái bản Mysterium dài gấp rưỡi ấn bản đầu tiên, với các cước chú mô tả chi tiết các hiệu chỉnh và cải tiến mà ông đạt được sau 25 năm.[16]
Nói về ảnh hưởng của Mysterium, nó có thể được xem như là bước quan trọng đầu tiên trong việc hiện đại hóa lý thuyết đề xuất bởi Nicolaus Copernicus trong tác phẩm “De Revolutionibus”. Trong khi Copernicus tìm cách giới thiệu một hệ thống nhật tâm, ông tinh chỉnh các công cụ toán học của Ptolemaeus (tức ngoại luân và các đường tròn lệch tâm) để giải thích sự thay đổi tốc độ chuyển động quay của hành tinh, và đồng thời tiếp túc sử dụng tâm quỹ đạo Trái Đất như một điểm quy chiếu thay vì Mặt Trời “như một sự hỗ trợ cho tính toán và để tránh làm độc giả nhầm lẫn khi chệch quá xa khỏi đường hướng của Ptolemaeus.” Thiên văn học hiện đại nợ “Mysterium Cosmographicum” rất nhiều, bất chấp những sai lầm trong luận đề chính của nó, “bởi vì nó đại diện cho bước đầu tiên tẩy trừ những tàn dư của lý thuyết Ptolemaeus vẫn còn bám lấy hệ thống Copernicus.”[17]

Kết hôn với Barbara Müller

Chân dung Kepler và vợ trong các mặt dây chuyền

Tháng 12 năm 1595, Kepler làm quen với Barbara Müller, một góa phụ 23 tuổi đã qua 2 đời chồng và có một con gái nhỏ, Gemma van Dvijneveldt, và họ bắt đầu hẹn hò. Müller, người thừa kế điền sản của những người chồng quá cố, cũng là con gái của một nhà chủ cối xay thành đạt. Cha cô Jobst ban đầu phản đối bất chấp dòng dõi của Kepler; dù ông thừa hưởng tên tuổi của ông nội, sự nghèo túng của Kepler khiến cho cuộc hôn nhân có vẻ không môn đăng hộ đối. Những lần Kepler viếng thăm nhà Müller rất ít ỏi và bị đón tiếp lạnh nhạt, tuy nhiên những người mai mối đã vận động tích cực cho Kepler. Ngay cả vậy, lễ đính ước chỉ suýt chút nữa là hủy bỏ nếu những vị giáo chức không gây áp lực lên nhà Müller yêu cầu tôn trọng thỏa thuận. Barbara và Johannes cuối cùng kết hôn vào ngày 27 tháng 4, 1597.[18]
Trong những năm đầu cuộc hôn nhân, gia đình Kepler đã có hai đứa trẻ (tên là Heinrich và Susana), nhưng đều chết yểu. Năm 1602, họ có một đứa con gái (cũng lấy tên Susanna); và sau đó là hai con trai (Friedrich, 1604; Ludwig, 1607). Kepler cũng dành tình yêu mến cho con gái riêng Regina của Barbara.[19]

Các nghiên cứu khác

Tiếp theo việc xuất bản Mysterium và với sự che chở của thanh tra trường Graz, Kepler bắt đầu một chương trình tham vọng nhằm mở rộng và trau chuốt công trình của mình. Ông đã dự định viết thêm 4 cuốn sách: một về các khía cạnh tĩnh tại của vũ trụ (Mặt Trời và các định tinh), một về các hành tinh và chuyển động của chúng, một về bản chất vật lý của các hành tinh và sự hình thành các đặc điểm địa lý (tập trung chủ yếu vào Trái Đất) và một về các tác động của bầu trời lên Trái Đất, bao gồm quang học khí quyển, khí tượng học và chiêm tinh học.[20]
Ông cũng tìm hiểu ý kiến của nhiều nhà thiên văn khác mà ông đã gửi tặng Mysterium, trong đó có Reimarrus Ursus-nhà toán học triều đình của Rudolf II và là một đối thủ kình địch với Tycho Brahe. Ursus không trả lời trực tiếp, nhưng cho in lá thư tâng bốc của Kepler để phục vụ cho cuộc tranh cãi quyền tác giả với Tycho (về thứ mà ngày nay được biết đến dưới tên hệ thống Tycho). Bất chấp tai tiếng này, Tycho cũng bắt đầu liên lạc với Kepler, khởi đầu một sự phê phán khắc nghiệt nhưng chính thống về hệ thống Kepler; trong một loạt những phản đối, Tycho không tán thành với việc sử dụng những dữ liệu số thiếu chính xác Kepler lấy từ Copernicus. Thông qua thư từ, Tycho và Kepler thảo luận những vấn đề rộng lớn hơn về thiên văn học, đặc biệt về các hoạt động của Mặt Trăng và lý thuyết Corpenicus (nhất là tính hợp lý về mặt thần học của nó). Nhưng không có những số liệu từ những quan sát của Tycho vốn chính xác hơn nhiều, Kepler không có cách nào giải quyết nhiều trong số vấn đề trên.[21]
Thay vào đó, ông chuyển sự quan tâm sang niên đại học và nghiên cứu về sự “hài hòa”, hay quan hệ thần số học giữa âm nhạc, toán học, và thế giới vật lý, cũng như các ý nghĩa chiêm tinh có thể rút ra từ đó. Bằng cách giả thiết rằng Trái Đất có một linh hồn (một thuộc tính mà về sau ông viện chứng để giải thích cách Mặt Trời gây ra chuyển động của các hành tinh), ông thiết lập một hệ thống ước đoán liên kết các góc chiêm tinh và các khoảng cách thiên văn với thời tiết và các hiện tượng trên Trái Đất khác. Tuy nhiên tới năm 1599, ông lại một lần nữa cảm thấy công trình của mình bị hạn chế bởi tính thiếu chính xác của các dữ liệu hiện có, cũng như mối căng thẳng tôn giáo gia tăng đe dọa chỗ làm của ông ở Graz. Tháng 12 năm đó, Tycho mời Kepler đến thăm Praha; vào ngày 1 tháng 1 năm 1600 (trước cả khi nhận được lời mời), Kepler khởi hành với hi vọng rằng sự bảo trợ của Tycho sẽ giải quyết được những vấn đề của ông, cả về triết lý lẫn xã hội và tài chính.[22]

Nhà toán học hoàng gia ở Praha (1601–1612)

Làm việc cho Tycho Brahe

Ngày 4 tháng 2 năm 1600, Kepler gặp Tycho Brahe và các trợ lý của ông là Franz TengnagelLongomontanus tại Benátky nad Jizerou (cách Praha 35 km), nơi đài thiên văn mới của Tycho đang được xây dựng. Hai tháng sau đó ông lưu lại như một vị khách, phân tích một vài số liệu của Tycho về Sao Hỏa; Tycho canh giữ dữ liệu của mình rất cẩn thận, nhưng rất ấn tượng với những ý tưởng lý thuyết của Kepler và dần cho phép ông được tiếp cận nhiều hơn. Kepler dự định kiểm chứng lý thuyết của mình[23] trong Mysterium Cosmographicum dựa trên dữ liệu Sao Hỏa, nhưng ông đánh giá rằng công trình có thể tốn đến hai năm (vì ông không được phép chép lại dữ liệu để dùng). Với sự giúp đỡ của Johannes Jessenius, Kepler tìm cách thỏa thuận một chỗ làm chính thức với Tycho, nhưng chuyện này đổ bể sau một cuộc tranh cãi nóng nảy và Kepler rời Praha ngày 6 tháng 4. Hai người sau đó sớm hòa giải và cuối cùng đi đến một thỏa thuận về lương bổng cũng như chỗ ăn ở, và vào tháng 6, Kepler trở về nhà ở Graz để dọn cả gia đình tới Praha.[24]
Những khó khăn về tôn giáo và chính trị tại Graz dập tắt hi vọng chuyển nhà nhanh chóng của Kepler; trong nỗ lực tìm cách tiếp tục việc nghiên cứu thiên văn, Kepler thử xin được bổ nhiệm vào vị trí nhà toán học cho Đại công tước Ferdinand của Áo. Vì mục đích đó, ông đã viết một luận văn-đề tặng cho Ferdinand-trong đó ông đề xuất một lý thuyết giải thích chuyển động Mặt Trăng bằng lực: “In Terra inest virtus, quae Lunam ciet” (Có một lực trên Trái Đất khiến cho Mặt Trăng chuyển động).[25] Dù luận văn không mang lại cho ông một vị trí tại cung đình của Ferdinant, nó đã giúp vạch ra một phương pháp mới để đo đạc nguyệt thực mà ông dùng trong lần nguyệt thực ngày 10 tháng 7 tại Graz. Những quan sát này tạo nên cơ sở cho những khám phá của ông về các định luật quang học sau này sẽ kết tinh trong Astronomiae Pars Optica.[26]
Ngày 2 tháng 8, sau khi từ chối cải sang Công giáo, Kepler và gia đình bị trục xuất khỏi Graz. Vài tháng sau, Kepler đưa cả gia đình tới Praha. Trong suốt năm 1601, ông được Tycho hỗ trợ trực tiếp, giao cho ông việc phân tích các quan sát về hành tinh và viết một đoản luận chống lại Ursus (đã quá cố). Vào tháng 9, Tycho đảm bảo cho ông một vị trí cộng tác viên trong một dự án mới mà ông đề xuất với hoàng đế: Bảng Rudolf thay thế cho danh mục sao trước đây của Erasmus Reinhold. Hai ngày sau cái chết đột ngột của Tycho vào ngày 24 tháng 10 năm 1601, Kepler được bổ nhiệm làm người kế nhiệm ở vị trí nhà toán học hoàng gia với trách nhiệm hoàn thành những công trình dang dở của Tycho. Đã có những giả thiết rằng Kepler đầu độc Tycho để hưởng lợi[27] nhưng một nghiên cứu khai quật tử thi xác nhận rằng đó là đột tử do suy thận.[28] 11 năm làm nhà thiên văn hoàng gia từ đó sẽ là những năm nghiên cứu sôi nổi nhất cuộc đời ông.[29]

Cố vấn cho Hoàng đế Rudolf II

Trách nhiệm chính của Kepler trong vai trò nhà toán học triều đình là cung cấp các phép bói chiêm tinh cho hoàng đế. Mặc dù Kepler lấy làm bi quan về những nỗ lực của các nhà chiêm tinh đương thời muốn tiên đoán chính các sự kiện cụ thể trong tương lai hoặc thuộc về thánh thần, chính ông cũng đã lấy nhiều lá số tử vi cho bạn bè, gia đình và những người bảo trợ ngay từ hồi còn học ở Tübingen và được đón nhận nồng hậu. Bên cạnh những lá số tử vi về các liên minh và các lãnh đạo nước ngoài, hoàng đế còn tìm lời chỉ dẫn từ Kepler về các vấn đề chính trị. Rudolf cũng tích cực quan tâm tới các công trình của các học giả ngụ tại triều đình của mình (nhiều trong số đó là các nhà giả kim thuật) và cũng để tâm tới nghiên cứu thiên văn học của Kepler.[30]
Về mặt chính thức, chỉ có Công giáo và phái Calixtine (nhánh ôn hòa của giáo hội cải cách Hussite) là những tín điều được công nhận ở Praha, tuy nhiên vị trí quan trọng của Kepler tại triều đình cho phép ông thực hành các nghi thức tôn giáo Lutheran mà không phải giấu diếm. Hoàng đế cung cấp một khoản thu nhập đáng kể trên danh nghĩa cho ông, nhưng những khó khăn do ngân khố quá tải của triều đình khiến cho các khoản lương không được thanh toán đầy đủ. Một phần vì các khó khăn tài chính, cuộc sống ở gia đình với người vợ Barbara không dễ dàng, chất đầy những tranh cãi vặt và những lần ốm đau. Tuy nhiên đời sống cung đình cho phép Kepler gặp gỡ với nhiều học giả nổi tiếng đương thời (trong đó có nhà ngoại giao, nhà triết học Wacker von Wackenfels, nhà thiên văn David Fabricius, nhà toán học Jost Burgi,…) cũng như có thể tiến hành các nghiên cứu thiên văn một cách thuận lợi.[31]

Astronomiae Pars Optica

Một trang từ cuốn Astronomiae Pars Optica minh họa cấu trúc của mắt người.

Trong lúc ông dần dần phân tích số liệu quan sát Sao Hỏa của Tycho-giờ nằm hoàn toàn trong tay ông-và bắt đầu quá trình lập Bảng Rudolf một cách chậm chạp, Kepler cũng tiến hành hành nghiên cứu các định luật về quang học từ luận văn về Mặt Trăng của ông năm 1600. Cả nhật thựcnguyệt thực đều gây ra những hiện tượng chưa được giải thích, như những kích thước bóng kì lạ, màu đỏ máu của nguyệt thực toàn phần, và ánh sáng bất thường bao phủ nhật thực toàn phần. Các vấn đề liên quan tới khúc xạ trong khí quyển áp dụng tới mọi quan sát thiên văn. Trong gần như cả năm 1603, Kepler tạm dừng các công trình khác để tập trung vào lý thuyết quang học, và kết quả là một bản thảo được trình bày cho hoàng đế vào ngày 1 tháng 1 năm 1604, sau đó in dưới tên Astronomiae Pars Optica (tạm dịch: Phần Quang học trong Thiên văn học). Trong cuốn sách, Kepler mô tả định luật nghịch đảo bình phương về cường độ ánh sáng, sự phản xạ bởi gương phẳng và gương cong, và các nguyên lý của máy ảnh lỗ kim (pinhole camera, tức máy ảnh không có ống kính, dùng để quan sát nhật thực), cũng như những ngụ ý thiên văn học của quang học như thị sai và kính thước biểu kiến của các thiên thể. Ông cũng mở rộng nghiên cứu về quang học sang mắt người, và do đó các nhà khoa học thần kinh ghi nhận Kepler là người đầu tiên nhận ra rằng hình ảnh được chiếu lộn ngược vào mắt nhờ có thấu kính mắt (thủy tinh thể) lên võng mạc. Kepler dường như không coi trọng giải đáp vấn đề này cho lắm vì ông không cho nó liên quan tới cơ học, nhưng ông đã gợi ý rằng hình ảnh sau đó được hiệu chỉnh trong những “chỗ rỗng của bộ não” do “những hoạt động của Linh hồn”, một nhận xét mang tính tiên tri về thần kinh thị giác.[32] Ngày nay, Astronomiae Pars Optica thường được xem là nền tảng của quang học hiện đại (dù cho định luật khúc xạ còn chưa được biết tới)[32]. Kepler cũng đóng góp cho sự hình thành của hình học xạ ảnh với việc giới thiệu ý tưởng về sự thay đổi liên tục của một thực thể toán học trong công trình này. Ông lập luận rằng nếu một tiêu điểm của một đường cô-nic được phép di chuyển dọc theo được thẳng nối các tiêu điểm, dạng hình học sẽ thay đổi hoặc suy biến thành một dạng khác. Theo cách này, một elip sẽ biến thành parabol khi một tiêu điểm tiến tới vô cùng, và khi hai tiêu điểm của một elip nhập thành một, một đường tròn sẽ xuất hiện. Khi hai tiêu điểm của một hyperbol sáp nhập với nhau, hyperbol sẽ biến thành một cặp đường thẳng. Ông cũng giả thiết rằng nếu một đường thẳng được mở rộng tới vô cực nó sẽ gặp chính nó tại một điểm tại vô cực duy nhất, và do đó có những tính chất của một đường tròn bán kính vô cùng lớn. Ý tưởng này về sau được nhiều nhà toán học như Pascal, Leibniz, MongePoncelet vận dụng, và được biết dưới tên “tính liên tục hình học” hay định luật về tính liên tục[33]

Siêu tân tinh năm 1604

Tàn tích của Siêu tân tinh Kepler SN 1604.

Tháng 10 năm 1604, một ngôi sao mới rất sáng xuất hiện lúc chập tối, nhưng Kepler không tin vào những tin đồn cho tới khi ông tận mắt nhìn thấy. Kepler bắt đầu quan sát một cách hệ thống tinh vân đó. Theo chiêm tinh học, cuối năm 1603 đánh dấu sự khởi đầu của một tam giác lửa (tam giác hướng lên là biểu tượng của lửa trong chiêm tinh), bắt đầu cho một chu kỳ 800 năm của các đại giao hội; các nhà chiêm tinh liên kết hai chu kỳ trước với sự nổi lên của Charlemagne và sự ra đời của Jesus, và do đó trông đợi những điềm báo lớn, đặc biệt là liên quan tới hoàng đế. Chính trong hoàn cảnh này, với tư cách nhà toán học triều đình và nhà chiêm tinh cho hoàng đế, Kepler mô tả ngôi sao mới hai năm sau đó trong cuốn De Stella Nova. Trong đó Kepler mô tả các đặc điểm thiên văn về ngôi sao trong khi giữ một cách tiếp cận hoài nghi đối với nhiều cách diễn giải chiêm tinh về nó lưu hành đương thời. Ông ghi chép về độ sáng giảm dần của sao, phỏng đoán về nguồn gốc của nó, và sử dụng sự không quan sát thấy quang sai để lập luận rằng nó nằm trong vòm cầu các định tinh, từ đó làm xói mòn thêm giáo điều về tính bất biến của thiên giới (ý tưởng có từ thời Aristotle rằng các thiên cầu là hoàn hảo và bất biến). Sự ra đời của một ngôi sao mới ngụ ý tính có thể thay đổi của thiên giới. Trong một phụ lục, Kepler cũng thảo luận về một công trình niên đại học mới hồi đó của nhà sử học Ba Lan Laurentius Suslyga; ông tính toán rằng, nếu Suslyga chính xác khi nói những niên biểu được chấp nhận thời bấy giờ bị chậm 4 năm, thì Ngôi sao Bethlehem-tương đồng với ngôi sao mới hiện tại-sẽ trùng hợp với đại giao hội lần thứ nhất của chu kỳ 800 năm trước đó.[34]

Vị trí của stella nova (tân tinh), dưới chân của Ophiuchus, được đánh dấu bằng một chữ N (ô vuông thứ 8 từ trên xuống và thứ 4 từ trái sang).

Astronomia nova

Dòng nghiên cứu mở rộng đúc kết trong Astronomia nova (Một Thiên văn học mới)-bao gồm hai định luật đầu về chuyển động hành tinh-bắt đầu với phân tích, dưới sự chỉ dẫn của Tycho, về quỹ đạo Sao Hỏa. Kepler tính toán lại nhiều phép xấp xỉ khác nhau về quỹ đạo Sao Hỏa sử dụng một đẳng thước (công cụ toán học mà Copernicus phê phán và loại bỏ khỏi công trình của ông), cuối cùng tạo nên một mô hình nhìn chung phù hợp với quan sát của Tycho trong sai số đo đạc trung bình khoảng 2 phút. Nhưng ông cảm thấy chưa hài lòng với kết quả phức tạp và vẫn ít nhiều không khớp này; ở một số điểm mô hình chênh lệch với dữ liệu tới 8 phút. Hàng loạt các phương pháp thiên văn toán học truyền thống không đáp ứng được ông, và Kepler bắt đầu thử quy hồi một quỹ đạo hình trứng với dữ liệu.[35]
Trong quan điểm thần học của Kepler về vũ trụ, Mặt Trời (một biểu tượng của Chúa Cha) là nguồn của các hoạt lực trong Hệ Mặt Trời. Kepler vạch ra một cơ sở vật lý cho nó, tương đồng với lý thuyết của William Gilbert về linh hồn từ tính của Trái Đất trong cuốn De Magnete (1600) và công trình của chính ông về quang học, Kepler giả thiết rằng hoạt lực (hay loại chuyển động trong phân loại Aristotle)[36] phát ra từ Mặt Trời suy yếu theo khoảng cách, khiến cho các hành tinh chuyển động nhanh hơn khi tiến tới gần Mặt Trời và chậm hơn khi rời xa nó.[37][38] Có lẽ giả thiết này đưa đến một mối liên hệ toán học sẽ khôi phục trật tự thiên văn học. Dựa trên các đo đạc về các điểm viễn nhật và cận nhật của Trái Đất và Sao Hỏa, ông lập nên một công thức trong đó tốc độ chuyển động của một hành tinh tỷ lệ nghịch với khoảng cách từ nó tới Mặt Trời. Tuy nhiên việc kiểm tra quan hệ này trong suốt chu kỳ quỹ đạo, cần số lượng vô cùng lớn những phép tính toán; để đơn giản hóa nhiệm vụ này, cuối năm 1602 Kepler thiết lập lại tỉ lệ bằng hình học: các hành tinh quét những diện tích bằng nhau trong các khoảng thời gian bằng nhau-đó chính là định luật thứ hai của Kepler về chuyển động hành tinh.[39]

Sơ đồ quỹ đạo địa tâm của Sao Hỏa trong một vài chu kỳ chuyển động nghịch hành biểu kiến, rút từ Chương 1 của Astronomia nova, (1609).

Sau đó ông bắt đầu tính toán toàn bộ quỹ đạo của Sao Hỏa, sử dụng định luật tỉ lệ hình học và giả thuyết một quỹ đạo hình trứng. Sau khoảng 40 lần thất bại, cuối cùng vào đầu năm 1605 ông đã đi đến ý tưởng về một quỹ đạo elip, mà trước đó ông cho là quá đơn giản, không thể nào các nhà thiên văn trước đó lại bỏ qua được (!). Phát hiện ra rằng một quỹ đạo elip khớp với dữ liệu về Sao Hỏa, ông lập tức kết luận rằng tất cả mọi hành tinh chuyển động theo các đường elip, với Mặt Trời nằm ở một tiêu điểm-đó là định luật thứ nhất của Kepler về chuyển động hành tinh. Tuy nhiên bởi không sử dụng một phụ tá nào để tính toán, ông không thể mở rộng phân tích toán học ra ngoài Sao Hỏa. Cuối năm đó, ông hoàn thành bản thảo của Astronomia nova, nhưng phải đợi tới năm 1609 mới xuất bản được do các tranh cãi pháp lí liên quan tới việc sử dụng dữ liệu quan sát của Tycho với những người thừa kế trong dòng họ Brahe.[40]

Dioptrice, bản thảo Somnium và các công trình khác

Những năm sau khi hoàn thành Astronomia Nova, hầu hết nghiên cứu của Kepler tập trung vào việc chuẩn bị các bảng Rudolf và một tập hợp các lịch thiên văn dựa trên bảng đó. Ông cũng thử bắt đầu một sự hợp tác với nhà thiên văn người Ý Giovanni Antonio Magini, nhưng bất thành. Một vài công trình khác của ông liên quan tới niên đại học, đặc biệt là những sự kiện trong cuộc đời Jesus, và chiêm tinh học, chủ yếu là sự phê phán các tiên đoán hão huyền về các thảm họa diệt vong như của Helisaeus Roeslin.[41]
Kepler và Roeslin đụng độ nhau trong một loài những bài tấn công ăn miếng trả miếng, trong khi bác sĩ Philip Feselius công bố một công trình phản bác môn chiêm tinh nói chung, nhất là công trình của Roeslin. Đáp lại cái mà Kepler cho là sự thái quá của một bên là chiêm tinh học và bên kia là sự chối bỏ nó quá hăng hái, Kepler soạn Tertius Interveniens (tạm dịch: Những can thiệp từ bên thứ ba). Về danh nghĩa công trình này – được giới thiệu cho nhà bảo trợ chung của Roeslin và Feselius- là một suy nghĩ giảng hòa giữa các học giả thù nghịch, nhưng nó cũng trình bày quan niệm chung Kepler về giá trị của chiêm tinh học, bao gồm một vài cơ chế có tính giả thuyết về tương tác giữa hành tinh và linh hồn con người. Trong khi Kepler xem hầu hết các phương pháp và quy tắc truyền thống của chiêm tinh học là “phân dậy mùi quỉ dữ” trong đó một con gà cần mẫn kéo lê chân, có một “hạt giống hiếm hoi, thực vậy, thậm chí một hạt ngọc trai hay cục vàng” có thể tìm thấy bằng những nhà chiêm tinh khoa học ngay thẳng.[42]

Căn nhà nơi Kepler từng sống, số 4 đường Karlova, Praha, nay là một bảo tàng[43].

Đầu năm 1610, Galileo Galilei sử dụng kính viễn vọng do ông mới chế tạo, đã khám phá ra 4 hành tinh quay quanh Sao Mộc. Vào lúc công bố phát hiện của mình (tức quyển Sidereus Nuncius-Sứ giả Sao), Galileo tham khảo ý kiến của Keler, một phần để nhằm tăng cường uy tín cho những quan sát của mình. Kepler trả lời một cách nồng nhiệt bằng một tiểu luận ngắn được in dưới tên Dissertatio cum Nuncio Sidereo (Thảo luận với Sứ giả Sao). Ông xác nhận quan sát của Galileo và đưa ra một loạt phỏng đoán về ý nghĩa và ngụ ý của các khám phá và phương pháp dùng kính viễn vọng của Galileo, cho thiên văn học cũng như vũ trụ học, chiêm tinh học. Sau đó vào cùng năm Kepler công bố các kết quả quan sát dùng kính viễn vọng của chính mình về các mặt trăng đó trong Narratio de Jovis Satellitibus (tạm dịch, Mô tả về các vệ tinh Sao Mộc), cung cấp thêm sự ủng hộ cho Galileo. Tuy nhiên Galileo đã gây thất vọng cho Kepler khi không bao giờ công bố những phản hồi (nếu có) về Astronomia Nova.[44]
Sau khi nghe nói về khám phá về kính viễn vọng của Galileo, Kepler cũng bắt đầu những nghiên cứu cả lý thuyết và thực nghiệm về quang học viễn vọng sử dụng một kính viễn vọng mượn từ Công tước Ernest của Cologne.[45] Bản thảo hoàn thành tháng 9 năm 1610 và công bố dưới tên Dioptrice (Khúc xạ học) năm 1611. Trong đó, Kepler thiết lập cơ sở lý thuyết của các thấu kính hội tụ lồi kép và thấu kính phân kỳ lõm kép-và cách chúng kết hợp để tạo nên kính viễn vọng của Galileo-cũng như quan niệm về ảnh thựcảnh ảo, ảnh đứng và ảnh ngược, và ảnh hưởng của tiêu cự lên độ phóng đại và độ thu nhỏ. Ông cũng mô tả một kính viễn vọng cải tiến-ngày nay được gọi là kính thiên văn Kepler-trong đó hai thấu kính lồi có thể tạo ra độ phóng đại lớn hơn tổ hợp thấu kính lồi và lõm của Galileo.[46]

Một trong các sơ đồ từ Strena Seu de Nive Sexangula, mô tả Giả thiết Kepler.

Vào khoảng năm 1611, Kepler cho lưu hành một bản thảo của tiểu thuyết Somnium (Giấc mơ, được con trai Kepler in sau khi ông mất). Một phần mục đích của Somnium là để mô tả việc thực hành thiên văn sẽ như thế nào từ góc nhìn ở một hành tinh khác, để chỉ ra tính tiện lợi của một hệ thống phi địa tâm. Bản thảo, đã biến mất sau khi trao tay một vài lần, mô tả một chuyến đi tưởng tượng tới Mặt Trăng, nó một phần mang tính phóng dụ, một phần mang tính tự truyện, và một phần có tính luận văn về du hành liên hành tinh (Carl Sagan lẫn Isaac Asimov xem đây là tiểu thuyết khoa học viễn tưởng đầu tiên trong lịch sử[47]). Nhiều năm về sau, một phiên bản bóp méo của câu chuyện xét tới phiên tòa buộc tội mẹ ông là phù thủy, với người mẹ là người dẫn truyện tham vấn một con quỷ để học cách du hành ngoài không gian. Sau khi bà cuối cùng được tha bổng, Kepler sáng tác thêm 223 cước chú cho câu chuyện-dài gấp vài lần bản thân văn bản gốc-để diễn giải những khía cạnh phúng dụ cũng như nội dung khoa học đáng kể (đặc biệt là đề cập tới địa lý trên Mặt Trăng) ẩn chứa trong văn bản.[48]
Như một món quà năm mới, trong năm 1611 ông cũng sáng tác một tiểu luận tựa đề Strena Seu de Nive Sexangula (tạm dịch, Một món quà Năm Mới về Tuyết Lục giác). Trong luận văn này, Kepler đã lần đầu tiên mô tả đối xứng lục giác của bông tuyết, thảo luận về một cơ sở vật lý nguyên tử luận có tính giả thiết cho đối xứng, và đề xuất thứ sau này được biết tới như Giả thiết Kepler, một mệnh đề về sự sắp xếp tối ưu các khối cầu đặc[49][50]

Các vấn đề chính trị và đời sống cá nhân

Năm 1611, căng thẳng tôn giáo-chính trị Praha trở thành một cuộc khủng hoảng thực sự. Hoàng đế Rudolf-khi đó sức khỏe đang suy yếu-bị em trai là Matthias buộc nhường tước hiệu vua Bohemia. Cả hai phe đều tìm lời chỉ dẫn chiêm tinh của Kepler, một cơ hội mà ông đã sử dụng để đưa ra những lời khuyên chính trị mang tính hòa giải (mà ít khi liên hệ với các ngôi sao, trừ trong những khẳng định chung chung nhằm can ngăn những hành động vũ lực bộc phát). Nhưng rõ ràng viễn cảnh tương lai của Kepler trong triều đình Matthias là mờ nhạt.[51]
Cũng trong năm đó, vợ ông Barbara Kepler mắc bệnh sốt phát ban Hungary, và sau đó bắt đầu có những cơn động kinh. Khi Barbara hồi phục, cả ba đứa trẻ đều nhiễm đậu mùa, đứa con trai lớn, Friedrich, mất (6 tuổi). Sau cái chết của con trai, Kepler gửi thư tới các nhà bảo trợ tiềm năng ở WürttembergPadua để tìm cơ hội di cư. Ở Đại học Tübingen (Württemberg), những lo ngại về việc Kepler đã tiếp nhận dị giáo Calvin vi phạm Tín điều Augsburg đã ngăn cản ông trở về. Tại Đại học Padua, Galileo lúc ấy sắp ra đi giới thiệu Kepler thay ghế giáo sư toán, tuy nhiên Kepler muốn gia đình sống trong lãnh thổ Đức đã không nhận lời; thay vào đó ông tới Áo để sắp xếp một vị trí giáo viên và nhà toán học của hạt Linz. Tuy nhiên, bệnh của Barbara tái phát và bà mất ít lâu sau khi Kepler về nhà.[52]
Kepler hoãn việc chuyển nhà và ở lại Praha cho tới khi Rudolf qua đời vào đầu năm 1612, mặc dù ông cũng không thể nghiên cứu được gì giữa những rối loạn chính trị, căng thẳng tôn giáo và bi kịch gia đình này. Thay vào đó, ông sắp xếp các thư từ và công trình trước đây về niên đại học thành tác phẩm Eclogae Chronicae (tức Tuyển tập niên đại học). Sau khi kế vị ngôi Hoàng đế Thánh chế La Mã, Matthias tái xác nhận vị trí nhà toán học triều đình (và lương bổng) của Kepler nhưng cho phép ông dời tới Linz.[53]

Dạy học ở Linz và những năm cuối đời (1612–1630)

Một bức tượng Kepler ở Linz

Tại Linz, các công việc chính của Kepler (bên cạnh việc hoàn thành các Bảng Rudolf) là dạy tại trường của thành phố và cung cấp các dịch vụ chiêm tinh và thiên văn. Trong những năm đầu tiên ở đây, ông bớt bấp bênh về tài chính và được hưởng tự do tín ngưỡng hơn so với cuộc sống ở Praha—mặc dù giáo hội Luther trừng phạt sự không dứt khoát trong thần học của ông bằng việc không ban bí tích Thánh thể. Công trình đầu tiên ông công bố ở Linz là De vero Anno (1613), một luận văn bao quát về năm Chúa Giáng sinh, ông cũng tham gia vào cuộc bàn cãi về việc có nên ban bố lịch cải cách của Giáo hoàng Grêgôriô XII trên những vùng lãnh thổ Đức theo Kháng Cách hay không; cùng năm đó ông cũng viết một luận văn toán học quan trọng Nova stereometria doliorum vinariorum, về việc đo thể tích của các vật chứa như thùng rượu vang, xuất bản năm 1615.[54]

Kết hôn lần hai

Ngày 30 tháng 10 năm 1613, Kepler làm đám cưới với cô gái 24 tuổi Susanna Reuttinger. Kề từ sau cái chết của người vợ đầu Barbara, Kepler đã cân nhắc kỹ lưỡng 11 người khác nhau trong vòng 2 năm (quá trình ra quyết định này được ông tối ưu trong đầu và về sau công thức hóa thành bài toán hôn nhân.[55] Ông cuối cùng quay trở lại với Reuttinger (đám mai mối thứ năm), người mà ông viết, “đã thu phục tôi với tình yêu, sự tận tụy khiêm tốn, khả năng quản lý kinh tế gia đình, tính siêng năng, và tình yêu dành cho con riêng.”[56] Ba đứa trẻ đầu của cuộc hôn nhân thứ hai này (Margareta Regina, Katharina, và Sebald) đều chết yểu. Ba người con sau trưởng thành: Cordula (sinh năm 1621), Fridmar (1623), Hildebert (1625). Theo các nhà viết tiểu sử Kepler, đây là mối hôn nhân hạnh phúc hơn nhiều so với lần đầu.[57]

Epitome astronomiae Copernicanae, lịch biểu và phiên tòa xử mẹ ông

Từ khi hoàn thành Astronomia nova, Kepler dự định viết một cuốn sách giáo khoa thiên văn học.[58] Năm 1615, ông hoàn thành tập đầu tiên trong ba tập của Epitome astronomiae Copernicanae (Tạm dịch: Thiên văn học Copernicus giản lược); tập đầu (các quyển I-III) được in năm 1617, tập hai (quyển IV) in năm 1617, và tập ba (các quyển V-VII) năm 1621. Trong khi tựa đề đơn thuần nhắc tới thuyết nhật tâm, thực tế cuốn sách giáo khoa này của Kepler hoàn thiện hệ thống dựa trên quỹ đạo elip của chính ông, và đã trở thành công trình gây ảnh hưởng nhất của ông. Nó chứa đựng toàn bộ ba định luật về chuyển động hành tinh và nỗ lực giải thích chuyển động thiên thể bằng những nguyên nhân vật lý.[59] Dù nó mở rộng rõ ràng hai định luật đầu của chuyển động hành tinh (từng áp dụng cho Sao Hỏa trong Astronomia nova) cho tất cả các hành tinh cũng như Mặt Trăng và các mặt trăng của Sao Mộc,[60], nó đã không giải thích làm thế nào các quỹ đạo elip có thể rút ra từ các dữ liệu quan sát.[61]
Như một sản phẩm phụ từ Bảng Rudolf và các lịch thiên văn, Kepler công bố các lịch chiêm tinh, rất phổ biến thời bấy giờ và giúp một phần trang trải chi phí cho các công trình khác của ông-đặc biệt là khi ngân khố triều đình từ chối hỗ trợ tài chính. Trong 6 tập lịch của ông những năm 1617-1624-Kepler đã dự đoán các vị trí hành tinh và thời tiết cũng như các sự kiện chính trị; thú vị là các dự đoán chính trị thường chính xác một cách cẩn trọng, có lẽ nhờ vào sự hiểu biết sắc sảo của Kepler về những mối căng thẳng chính trị và tôn giáo đương thời. Nhưng chính sự leo thang của những căng thẳng này và sự mâp mờ trong những lời tiên tri đem lại rắc rối chính trị cho chính Kepler; tập lịch cuối cùng của ông (1624) bị đốt bỏ công khai ở Graz.[62]

Sự hài hòa hình học trong những khối hoàn hảo, trích từ Harmonices Mundi (1619)

Năm 1615, Ursula Reingold, một người đàn bà có tranh cãi tiền nong với em trai Kepler là Christoph, đã quả quyết rằng mẹ của Kepler, bà Katharina, đã làm cho bà ta ốm bằng một cốc bia của quỷ. Tranh cãi leo thang, và năm 1617 Katharina bị cáo buộc là phù thủy; các vụ xử phù thủy tương đối phổ biến ở trung Âu thời kỳ đó. Từ tháng 10 năm 1620, bà bị tống giang trong 14 tháng liền. Sau đó một phần nhờ những nỗ lực pháp đình của Kepler, Katharina được thả ra. Những kẻ buộc tội không có bằng chứng nào mạnh ngoài những tin đồn, cùng với một phiên bản xuyên tạc cuốn Somnium của Kepler, trong đó một người đàn bà trộn các liều thuốc độc và viện đến sự trợ giúp của một con quỷ. Katharina chịu territio verbalis, tức trình bày công cụ tra tấn để đe dọa và buộc bà thú tội. Trong suốt phiên xử, Kepler hoãn tất cả công việc khác, và chỉ dành thời gian cho “lý thuyết hài hòa” của ông. Kết quả của công trình này được công bố năm 1619, đó chính là Harmonices Mundi (Vũ trụ Hài hòa)[63]

Harmonices Mundi

Kepler có niềm tin rằng “các vật thể hình học cho Đấng Sáng tạo mô hình để trang hoàng toàn thế giới”.[64] Trong cuốn sách, ông nỗ lực thử giải thích những tỉ lệ hình học của thế giới tự nhiên-đặc biệt là các khía cạnh thiên văn và chiêm tinh-bằng âm nhạc.[65]. Tập hợp trung tâm của các “hài hòa” là musica universalis hay “âm nhạc của những khối cầu”, một đề tài đã từng được Pythagoras, Ptolemaeus và nhiều người khác trước Kepler nghiên cứu; ngoài ra, ít lâu sau khi xuất bản sách, Kepler bị lôi vào một cuộc tranh cãi về quyền tác giả với Robert Fludd, người trước đó đã công bố lý thuyết hài hòa riêng của ông ta.[66]
Tác phẩm khởi đầu bằng việc khảo sát các đa giác đều và các khối đa diện đều, trong đó một số dạng hình học về sau được biết dưới tên khối đa diện Kepler. Từ đó, ông mở rộng phân tích tính hài hòa sang âm nhạc, khí tượng học và chiêm tinh học; hài hòa sinh ra từ những âm thanh của linh hồn các thiên thể-và trong trường hợp chiêm tinh học là tương tác giữa các âm thanh này và linh hồn con người. Trong phần cuối cùng của tác phẩm (quyển V), Kepler giải quyết vấn đề chuyển động hành tinh, đặc biệt là mối quan hệ giữa vận tốc quỹ đạo và khoảng cách quỹ đạo từ Mặt Trời. Các mối quan hệ tương tự cũng được các nhà thiên văn khác sử dụng, nhưng Kepler-với dữ liệu của Tycho và lý thuyết thiên văn của riêng ông-xử lý chúng chính xác hơn nhiều và gán ý nghĩa vật lý mới cho chúng.[67]
Trong số các hài hòa, Kepler phát biểu rõ ràng về cái sau này được xem là Định luật thứ ba về chuyển động hành tinh. Ông đã thử nhiều tổ hợp khác nhau trước khi khám phá ra rằng, một cách xấp xỉ, “Tỉ lệ bình phương của chu kỳ [của hai hành tinh] với nhau bằng tỉ lệ lập phương khoảng cách trung bình“. Mặc dù ông có nêu ra ngày phát kiến ra điều này (8 tháng 3 năm 1618), ông lại không nói chi tiết cách ông đi đến kết luận.[68] Tuy nhiên, ý nghĩa rộng rãi hơn về động lực học thiên thể của định luật thuần túy động học này không được nhìn nhận cho tới những năm 1660. Chắp nối với định luật về lực hướng tâmChristiaan Huygens mới khám phá, nó cho phép Isaac Newton, Edmund Halley, và có lẽ cả Christopher WrenRobert Hooke chứng minh độc lập với nhau rằng; lực hút trọng trường được giả thiết giữa Mặt Trời và các hành tinh giảm dần theo bình phương khoảng cách giữa chúng.[69] Điều này bác bỏ giả thiết truyền thống của vật lý kinh viện rằng tác dụng của sức hút giữ nguyên không đổi theo khoảng cách bất kể khi nào nó áp dụng giữa hai vật thể, như chính cách Kepler và cả Galileo, trong định luật vũ trụ sai lầm của ông, cho rằng sự rơi trong trọng trường được tăng tốc đều, cũng như học trò của Galileo là Borrelli trong một tác phẩm cơ học thiên thể năm 1666.[70] William Gilbert, sau khi thí nghiệm với nam châm, tuyên bố rằng tâm Trái Đất là một nam châm khổng lồ. Lý thuyết đó dẫn Kepler nghĩ rằng một lực từ Mặt Trời kéo các hành tinh theo quỹ đạo. Đó là một lối giải thích thú vị về chuyển động hành tinh, nhưng sai lầm do đương thời chưa có hiểu biết đầy đủ về chuyển động.[71]

Bảng Rudolf và những năm cuối cùng

Một lá số tử vi của Kepler lập cho Tướng Wallenstein

Năm 1623, cuối cùng Kepler cũng hoàn thành Bảng Rudolf, mà sinh thời đó được xem là công trình chính của đời ông. Tuy nhiên, do những yêu cầu xuất bản của hoàng đế và những thương thảo với người thừa kế của Tycho Brahe, phải đến tận năm 1627 nó mới được in. Trong khi đó, những căng thẳng tôn giáo-nguồn gốc của Chiến tranh Ba mươi năm đang diễn ra bấy giờ-một lần nữa đẩy gia đình Kepler vào cảnh hiểm nghèo. Năm 1625, những thừa sai Phản Kháng Cách đến niêm phong phần lớn thư viện của Kepler, và năm 1626 thành phố Linz bị bao vây. Kepler dời tới Ulm, nơi ông tìm cách tự in Bảng Rudolf bằng tiền của mình.[72]
Năm 1628, theo sau những thắng lợi quân sự của quân đội Hoàng đế Ferdinand dưới quyền tướng Albrecht von Wallenstein, Kepler trở thành cố vấn chính thức cho Wallenstein. Mặc dù không phải là một nhà chiêm tinh thực sự cho vị tướng, Kepler cung cấp các tính toán thiên văn cho các nhà chiêm tinh của Wallenstein và thỉnh thoảng lập lá số tử vi. Trong những năm cuối cùng, Kepler thường xuyên du hành, từ triều đình ở Praha tới Linz và Ulm tới một ngôi nhà tạm ở Żagań, rồi cuối cùng tới Regensburg. Ít lâu sau khi tới Regensburg, Kepler đổ bệnh. Ông mất ngày 15 tháng 11 năm 1630, và được chôn tại đây. Vị trí ngôi mộ của ông không còn nữa sau khi quân đội Thụy Điển phá hủy khu nghĩa trang.[73] Chỉ còn lời thơ đề bia mộ do chính Kepler soạn tồn tại với thời gian:

Mensus eram coelos, nunc terrae metior umbras
Mens coelestis erat, corporis umbra iacet.
Tôi đã đo những tầng trời, và giờ đây tôi đo chiếc bóng
Tinh thần nằm lại góc trời, thể xác nghỉ nơi cội đất.[74]

Sự đón nhận thiên văn học Kepler

Các định luật Kepler khi xuất hiện không có sự đón nhận nồng nhiệt. Một số nhân vật quan trọng đương thời như Galileo và René Descartes hoàn toàn phớt lờ tác phẩm Astronomia nova. Nhiều nhà thiên văn, bao gồm chính thầy dạy của Kepler, Michael Maestlin, phản đối việc Kepler đưa vật lý vào thiên văn học của ông. Một vài người có thái độ lưng chừng. Ismael Boulliau chấp nhận các quỹ đạo elip nhưng thay định luật về diện tích quỹ đạo của Kepler với chuyển động đều ứng với tiêu điểm trống (đối diện Mặt Trời) của elip, trong khi giám mục Seth Ward sử dụng một quỹ đạo elip với chuyển động xác định bằng một đẳng thước.[75][76][77]
Một vài nhà thiên văn đã kiểm tra lí thuyết của Kepler, và những sửa đổi khác nhau của nó, với các quan sát thiên văn. Hai lần đi qua Mặt Trời của Sao KimSao Thủy cho phép kiểm tra tính phù hợp của lý thuyết, vì theo giả thuyết quỹ đạo tròn thông thường các hành tinh này sẽ không quan sát được trong điều kiện đó. Trong trường hợp Sao Thủy băng qua Mặt Trời năm 1631, Kepler hết sức không chắc chắn về các tham số cho Sao Thủy nên đã khuyên những người quan sát trông đợi sự kiện đó trong sai số một ngày so với dự đoán. Pierre Gassendi đã quan sát được hiện tượng vào đúng ngày dự đoán và do đó xác nhận những tiên đoán của Kepler.[78] Đây chính là lần đầu tiên người ta quan sát được hiện tượng Sao Thủy băng qua Mặt Trời. Tuy nhiên, nỗ lực của nhà thiên văn người Pháp này nhằm quan sát Sao Kim ngang qua Mặt Trời một tháng sau đó đã bất thành do sai sót trong bảng Rudolf. Gassendi không nhận ra rằng hiện tượng này không thể quan sát đối với phần lớn châu Âu, gồm cả Paris nơi ông sống.[79] Jeremiah Horrock, người quan sát hiện tượng này lặp lại vào năm 1639, đã sử dụng những quan sát của chính ông để hiệu chỉnh các thông số trong mô hình Kepler, tiên đoán hiện tượng Sao Kim vượt Mặt Trời, và sau đó thiết lập dụng cụ để quan sát nó. Thành công khiến ông trở thành một người bênh vực nhiệt thành cho mô hình Kepler.[80][81][82]
Cuốn Thiên văn học Copernicus giản lược của Kepler lưu hành rộng rãi trong giới thiên văn học khắp châu Âu đương thời, và chính là tác phẩm chính truyền tải rộng rãi những tư tưởng của Kepler sau khi ông mất. Nó từng là sách giáo khoa thiên văn sử dụng phổ biến nhất trong những năm 1630-1650, giúp cho nhiều người tin vào thiên văn học dựa trên quỹ đạo elip.[59] Tuy nhiên, ít người quan tâm áp dụng những ý tưởng về cơ sở vật lý của Kepler cho chuyển động thiên thể. Cuối thế kỷ 17, một số lý thuyết thiên văn học rút từ các công trình của Kepler-đáng chú ý là của Giovanni Alfonso Borelli và Robert Hooke-bắt đầu kết hợp lực hút (chứ không phải là loại chuyển động tựa tinh thần mà Kepler đề xuất) và quan niệm Descartes về quán tính. Tất cả hội tụ và kết tinh trong cuốn Những nguyên lý toán học của triết học tự nhiên (1687) của Isaac Newton, trong đó Newton rút được các định luật của Kepler về chuyển động hành tinh từ một lý thuyết lực về vạn vật hấp dẫn.[83]

Di sản và tưởng niệm

Tượng đài Tycho Brahe và Kepler ở Praha, Cộng hòa Séc

Con tem Cộng hòa Dân chủ Đức in hình Kepler

Bên cạnh vai trò của ông trong lịch sử phát triển của thiên văn học và triết học tự nhiên, Kepler cũng có một vị trí nổi bật trong triết họclịch sử khoa học. Kepler với những định luật chuyển động hành tinh của mình là trung tâm của những tác phẩm đầu tiên về lịch sử thiên văn và toán học như Histoire des mathematiques (Lịch sử toán học, 1758) của Jean-Étienne MontuclaHistoire de l’astronomie moderne (Lịch sử thiên văn hiện đại, 1821) của Jean-Baptiste Delambre. Chúng cũng như các nghiên cứu khác viết dưới nhãn quan Thời kỳ Khai Sáng thường xem xét các lập luận siêu hình và tôn giáo của Kepler với óc hoài nghi và sự phản đối, nhưng các triết gia tự nhiên thời sau đó thuộc chủ nghĩa lãng mạn (thế kỷ 19) coi chính những yếu tố này là trung tâm thành tựu của ông. William Whewell, trong cuốn sách gây ảnh hưởng History of the Inductive Sciences (Lịch sử Khoa học Quy nạp, 1837) xem Kepler như là nguyên mẫu của thiên tài khoa học quy nạp; và trong cuốn Philosophy of the Inductive Sciences (Triết học Khoa học Quy nạp, 1840), Whewell tiếp tục gọi Kepler là hiện thân của những dạng tiến bộ nhất trong phương pháp khoa học. Tương tự, Ernst Friedrich Apelt—người đầu tiên nghiên cứu rộng rãi các bản thảo Kepler, sau khi Ekaterina II của Nga mua chúng—xác định Kepler là chìa khóa của Cách mạng khoa học“. Apelt, người xem toán học, tính nhạy cảm mĩ học, ý tưởng vật lý, và thần học của Kepler như một phần của một hệ thống tư tưởng thống nhất, tạo nên phân tích bao quát đầu tiên về cuộc đời và sự nghiệp Kepler.[84]
Các bản dịch hiện đại của một số trong những sách của Kepler vào cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, trong khi việc công bố các hệ thống các tác phẩm chọn lọc của ông bắt đầu từ năm 1937 (và tới đầu thế kỉ 21 đã gần như hoàn thành), trong khi tiểu sử Kepler của Max Caspar in năm 1948.[85] Tuy nhiên, công trình của Alexandre Koyré về Kepler mới là dấu mốc quan trọng tiếp theo, sau Apelt, trong quá trình diễn dịch vũ trụ học Kepler và ảnh hưởng của nó. Trong những năm 1930 và 1940, Koyré và một số những sử gia chuyên về khoa học khác, đã mô tả Cách mạng khoa học thời cận đại là sự kiện chủ chốt trong lịch sử khoa học. Koyré xếp lý thuyết của Kepler, hơn là công trình thực nghiệm của ông, vào tâm điểm của sự chuyển dịch tinh thần từ thế giới quan cổ đại sang hiện đại. Từ những năm 1960, khối lượng nghiên cứu về Kepler tăng mạnh, bao gồm những nghiên cứu về chiêm tinh và khí tượng học của ông, các phương pháp hình học, cũng như vai trò của quan điểm tôn giáo trong nghiên cứu của ông, các phương pháp văn học và hùng biện, giao tiếp của ông với những dòng chảy văn hóa và triết học rộng lớn hơn của thời đại đó, và thậm chí cả vai trò của ông như một sử gia khoa học[86]
Cuộc tranh cãi về vị trí của Kepler trong cuộc Cách mạng Khoa học cũng sản sinh ra hàng loạt cuộc luận bàn triết học lẫn đại chúng. Trong số chúng có tầm ảnh hưởng lớn phải kể đến The Sleepwalkers (Những kẻ mộng du, 1959) của Arthur Koestler, trong đó Kepler rõ ràng là người anh hùng (cả về đạo đức, thần học, lẫn trí tuệ) của cuộc cách mạng.[87] Các triết gia khoa học-như Charles Sanders Peirce, Norwood Russell Hanson, Stephen Toulmin, và Karl Popper-liên tục nhắc tới Kepler: các ví dụ về tính bất khả sánh, suy luận loại suy, tính khả kiểm, và nhiều khái niệm triết học khác đã được tìm thấy trong các tác phẩm của Kepler. Nhà vật lý Wolfgang Pauli thậm chí còn dùng tranh cãi quyền tác giả giữa Kepler với Robert Fludd để khám phá những ngụ ý của tâm lý học phân tích đối với nghiên cứu khoa học.[88] Một tiểu thuyết lịch sử có ít nhiều hư cấu được đánh giá cao của John Banville, Kepler (1981), khám phá nhiều đề tài được phát triển trong tường thuật phi tiểu thuyết của Koestler và triết học khoa học[89]. Chứa nhiều hư cấu hơn là một tác phẩm phi tiểu thuyết khác, Heavenly Intrigue (tạm dịch: Mưu mô Bầu trời, 2004), đề xuất rằng Kepler đã mưu sát Tycho Brahe để chiếm đoạt dữ liệu.[90] Kepler mang một hình ảnh đại chúng như là biểu tượng của tính hiện đại khoa học và một người đi trước thời đại mình; tác giả phổ biến khoa học Carl Sagan mô tả ông là “nhà vật lý thiên văn đầu tiên và nhà chiêm tinh khoa học cuối cùng”.[91] Kepler cũng xuất hiện trong nhiều tác phẩm nghệ thuật khác, chẳng vở opera Die Harmonie der Welt và bản giao hưởng cùng tên của Paul Hindemith.[92]
Để vinh danh Kepler, bên cạnh những định luật và khái niệm toán học mang tên Kepler đã nhắc trong bài, rất nhiều địa danh, đường sá, sự kiện,… được đặt theo tên ông. Ở Áo, năm 2002 hình ông được đúc trong một đồng xu euro tưởng niệm, mà giới sưu tập gọi là đồng 10-euro bạc Johannes Kepler[93]. Ở New Zealand có dãy núi Kepler và con đường Kepler xuyên qua dãy núi là một địa điểm thu hút khách du lịch.[94]. Tên ông cũng được đặt cho một số trường học như Cao đẳng Kepler (Seattle), Trường Ngữ pháp Johannes Kepler (Praha), Đại học Johannes Kepler Linz,… Đặc biệt, rất nhiều tên trong lĩnh vực thiên văn được đặt theo tên ông, bao gồm các hố va chạm trên Mặt Trăng, Sao Hỏa, tiểu hành tinh 1134 Kepler, hành tinh ngoài hệ Mặt Trời Kepler-22b ATV, Đài thiên văn không gian Kepler,…[95]
Cùng với Nicolaus Copernicus, ông được tưởng niệm trong một ngày thánh lễ (23 tháng 5) trong lịch lễ của Giáo hội Trưởng lão (Hoa Kỳ)[96]

Tác phẩm

Hố thiên thạch trên Mặt Trăng mang tên Kepler
  • De nive sexangula (1611)
  • De vero Anno, quo aeternus Dei Filius humanam naturam in Utero benedictae Virginis Mariae assumpsit (1614)
  • Eclogae Chronicae (1615)
  • Nova stereometria doliorum vinariorum (1615)
  • Epitome astronomiae Copernicanae (3 phần, 1618–1621)
  • Harmonice Mundi (1619)
  • Mysterium cosmographicum, tái bản (1621)
  • Tabulae Rudolphinae (1627)
  • Somnium (1634)

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Barker và Goldstein. “Theological Foundations of Kepler’s Astronomy”, tr.  112–13.
  2. ^ Kepler. New Astronomy, trang tựa, P. Donohue, tr.  26–7
  3. ^ Kepler. New Astronomy, tr. 48
  4. ^ Epitome of Copernican Astronomy trong Great Books of the Western World, tập 15, tr. 845
  5. ^ Stephenson. Kepler’s Physical Astronomy, tr.  1–2; Dear, Revolutionizing the Sciences, tr.  74–78
  6. ^ Caspar. Kepler, tr.  29–36; Connor. Kepler’s Witch, tr.  23–46.
  7. ^ a ă Koestler. The Sleepwalkers, tr. 234 (theo gia phả gia đình Kepler).
  8. ^ Caspar. Kepler, tr.  36–38; Connor. Kepler’s Witch, tr.  25–27.
  9. ^ Connor, James A. Kepler’s Witch (2004), tr. 58.
  10. ^ a ă Barker, Peter; Goldstein, Bernard R. “Theological Foundations of Kepler’s Astronomy”, Osiris, Phần 2, Tập 16, Science trong Theistic Contexts: Cognitive Dimensions (2001), tr. 96.
  11. ^ Westman, Robert S. “Kepler’s Early Physico-Astrological Problematic,” Journal for the History of Astronomy, 32 (2001): 227–36.
  12. ^ Caspar. Kepler, tr.  38–52; Connor. Kepler’s Witch, tr.  49–69.
  13. ^ Caspar. Kepler, tr. 60–65; xem thêm: Barker và Goldstein, “Theological Foundations of Kepler’s Astronomy.”
  14. ^ Barker and Goldstein. “Theological Foundations of Kepler’s Astronomy,” pp. 99–103, 112–113.
  15. ^ Caspar. Kepler, pp. 65–71.
  16. ^ Field. Kepler’s Geometrical Cosmology, Chapter IV, tr 73ff.
  17. ^ Dreyer, J.L.E. A History of Astronomy from Thales to Kepler, Dover Publications, 1953, tr. 331, 377–379.
  18. ^ Caspar, Kepler. tr. 71–75.
  19. ^ Connor. Kepler’s Witch, tr. 89–100, 114–116; Caspar. Kepler, tr. 75–77
  20. ^ Caspar. Kepler, tr. 85–86.
  21. ^ Caspar, Kepler, tr. 86–89
  22. ^ Caspar, Kepler, tr. 89–100
  23. ^ Về việc Kepler sử dụng dữ liệu Tycho, xem ‘Two views of a system’
  24. ^ Caspar, Kepler, tr. 100–08.
  25. ^ Caspar, Kepler, tr. 110.
  26. ^ Caspar, Kepler, tr. 108–11.
  27. ^ Mallia, Daniel (16 tháng 1 năm 2012). “Did Johannes Kepler murder Tycho Brahe?”. History News Network. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2012.
  28. ^ Gannon, Megan (16 tháng 11 năm 2012). “Tycho Brahe Died from Pee, Not Poison”. LiveScience. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2012.
  29. ^ Caspar, Kepler, tr. 111–22.
  30. ^ Caspar, Kepler, tr. 149–53
  31. ^ Caspar, Kepler, tr. 146–148, 159–177
  32. ^ a ă Finger, “Origins of Neuroscience,” tr 74. Oxford University Press, 2001.
  33. ^ Morris Kline, Mathematical Thought from Ancient to Modern Times, tr. 299. Oxford University Press, 1972.
  34. ^ Caspar, Kepler, tr. 153–157
  35. ^ Caspar, Kepler, tr. 123–128
  36. ^ Về loại chuyển động, xem: Lindberg, “The Genesis of Kepler’s Theory of Light,” tr. 38–40
  37. ^ Peter Barker and Bernard R. Goldstein, “Distance and Velocity in Kepler’s Astronomy”, Annals of Science, 51 (1994): 59–73, tr. 60.
  38. ^ Koyré, The Astronomical Revolution, tr. 199–202
  39. ^ Caspar, Kepler, tr. 129–132
  40. ^ Caspar, Kepler, tr. 131–140; Koyré, The Astronomical Revolution, tr. 277–279
  41. ^ Caspar, Kepler, tr. 178–81
  42. ^ Caspar, Kepler, tr. 181–85. Tựa đề đầy đủ rất dài, có thể dịch ra là “Những can thiệp từ bên thứ ba, hay lời cảnh báo tới một vài triết gia, bác sĩ và nhà thần học, đặc biệt là ông Philip Feselius, rằng họ trong lời cáo buộc rẻ tiền về sự mê tín của những người quan sát tinh tú mắc một sai sót trầm trọng và do đó cư xử trái với nghề nghiệp của mình mà không biết”.
  43. ^ Kepler in Praha
  44. ^ Caspar, Kepler, tr. 192–197
  45. ^ Koestler, The Sleepwalkers tr. 384
  46. ^ Caspar, Kepler, tr. 198–202
  47. ^ Carl Sagan. Carl Sagan on Johannes Kepler’s persecution.
  48. ^ Lear, Kepler’s Dream, tr. 1–78
  49. ^ Schneer, “Kepler’s New Year’s Gift of a Snowflake,” tr. 531–45
  50. ^ Kepler, Johannes (1966) [1611]. Trong Hardie, Colin. De nive sexangula [The Six-sided Snowflake]. Oxford: Clarendon Press. OCLC 974730.
  51. ^ Caspar, Kepler, tr. 202–204
  52. ^ Connor, Kepler’s Witch, tr. 222–226; Caspar, Kepler, tr. 204–07
  53. ^ Caspar, Kepler, tr. 208–11
  54. ^ Caspar, Kepler, tr. 209–20, 227–240
  55. ^ Ferguson, Thomas S. (1989), “Who solved the secretary problem ?”, Statistical Science 4 (3): 282–289
  56. ^ Trích từ Connor, Kepler’s Witch, tr. 252, dịch từ một lá thư ngày 23 tháng 10 năm 1613 của Kepler cho một nhà quý tộc khuyết danh
  57. ^ Caspar, Kepler, tr. 220–223; Connor, Kepler’s Witch, tr. 251–54.
  58. ^ Caspar, Kepler, tr. 239–240, 293–300
  59. ^ a ă Gingerich, “Kepler, Johannes” từ Dictionary of Scientific Biography, tr. 302–04
  60. ^ Ít nhất từ năm 1622, Kepler đã nhận ra các mặt trăng của Sao Mộc tuân theo định luật thứ ba của ông. Chi tiết xem thêm tại Christian Frisch, ed., Joannis Kepleri Astronomi Opera Omnia, vol. 6 (Frankfurt-am-Main, (Germany): Heyder & Zimmer, 1866), tr 361
  61. ^ Wolf, A History of Science, Technology and Philosophy, tr. 140–41; Pannekoek, A History of Astronomy, tr. 252
  62. ^ Caspar, Kepler, tr. 239, 300–01, 307–08
  63. ^ Caspar, Kepler, tr. 240–264; Connor, Kepler’s Witch, các chương I, XI-XIII; Lear, Kepler’s Dream, tr. 21–39
  64. ^ trích từ Caspar, Kepler, tr. 265–266, dịch từ Harmonices Mundi
  65. ^ Theo Science-fiction romantique, mở đầu phim Mars et Avril của Martin Villeneuve dựng theo mô hình này của Kepler
  66. ^ Caspar, Kepler, tr. 264–66, 290–93
  67. ^ Caspar, Kepler, tr. 266–90
  68. ^ Arthur I. Miller (24 tháng 3 năm 2009). Deciphering the cosmic number: the strange friendship of Wolfgang Pauli and Carl Jung. W. W. Norton & Company. tr. 80. ISBN 978-0-393-06532-9. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2011.
  69. ^ Westfall, Never at Rest, tr. 143, 152, 402–03; Toulmin và Goodfield, The Fabric of the Heavens, tr 248; De Gandt, ‘Force and Geometry in Newton’s Principia’, chương 2; Wolf, History of Science, Technology and Philosophy, tr. 150; Westfall, The Construction of Modern Science, chương 7, 8
  70. ^ Koyré, The Astronomical Revolution, tr. 502
  71. ^ Walter William Bryant, Kepler The Macmillan Company (1920) tr.35
  72. ^ Caspar, Kepler, tr. 308–328
  73. ^ Caspar, Kepler, tr. 332–351, 355–61
  74. ^ Koestler, The Sleepwalkers, tr. 427.
  75. ^ Chi tiết về sự đón nhận thiên văn học Kepler, xem Wilbur Applebaum, “Keplerian Astronomy after Kepler: Researches and Problems,” History of Science, 34(1996): 451–504.
  76. ^ Koyré, The Astronomical Revolution, tr. 362–364
  77. ^ North, History of Astronomy and Cosmology, tr.  355–60
  78. ^ Albert van Helden, “The Importance of the Transit of Mercury of 1631,” Journal for the History of Astronomy, 7 (1976): 1–10.
  79. ^ HM Nautical Almanac Office (10 tháng 6 năm 2004). “1631 Transit of Venus”. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2006.
  80. ^ Allan Chapman, “Jeremiah Horrocks, the transit of Venus, and the ‘New Astronomy’ in early 17th-century England,” Quarterly Journal of the Royal Astronomical Society, 31 (1990): 333–357.
  81. ^ North, History of Astronomy and Cosmology, tr.  348–349
  82. ^ Wilbur Applebaum và Robert Hatch, “Boulliau, Mercator, and Horrock’s Venus in sole visa: Three Unpublished Letters,” Journal for the History of Astronomy, 14(1983): 166–179
  83. ^ Kuhn, The Copernican Revolution, tr. 238, 246–252
  84. ^ Jardine, “Koyré’s Kepler/Kepler’s Koyré,” tr. 363–367
  85. ^ Gingerich, introduction to Caspar’s Kepler, tr. 3–4
  86. ^ Jardine, “Koyré’s Kepler/Kepler’s Koyré,” tr. 367–372; Shapin, The Scientific Revolution, tr. 1–2
  87. ^ Stephen Toulmin, Phê bình The Sleepwalkers trong The Journal of Philosophy, tập 59, 18 (1962), tr. 500–503
  88. ^ Pauli, “The Influence of Archetypical Ideas”
  89. ^ William Donahue, “A Novelist’s Kepler,” Journal for the History of Astronomy, Vol. 13 (1982), pp. 135–136; “Dancing the grave dance: Science, art and religion in John Banville’s Kepler,” English Studies, Vol. 86, no. 5 (October 2005), tr. 424–438
  90. ^ Marcelo Gleiser, “Kepler in the Dock”, review of Gilder and Gilder’s Heavenly Intrigue, Journal for the History of Astronomy, Vol. 35, pt. 4 (2004), pp. 487–489
  91. ^ Trích từ tập 3 của series Cosmos: A Personal Voyage của Carl Sagan.
  92. ^ Die Harmonie der Welt. Schott Music. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2012.
  93. ^ “Eggenberg Palace coin”. Austrian Mint. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2009.
  94. ^ “Kepler Track”. New Zealand Department of Conservation. 2006/2007. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2007.
  95. ^ DeVore, Edna (9 tháng 6 năm 2008). “Closing in on Extrasolar Earths”. SPACE.com. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2009.
  96. ^ Calendar of the Church Year according to the Episcopal Church

Tiểu sử đầy đủ nhất về là của Max Caspar. Mặc dù gần đây có những tiểu sử mới hơn nhưng hầu hết đều dựa trên công trình của Caspar mà ít có thêm nghiên cứu riêng mới nào, do đó nguồn tham khảo trong bài này lấy từ đây. Phần nhiều thông tin được trích từ Caspar cũng có thể tìm thấy trong các sách của Arthur Koestler, Kitty Ferguson, và James A. Connor. “The Eye of Heaven” của Owen Gingerich dựa trên công trình Caspar, đặt vào một bối cảnh rộng lớn hơn của thiên văn học cận đại. Hầu hết các nghiên cứu về sau tập trung vào những yếu tố cụ thể trong cuộc đời và sự nghiệp của Kepler. Trong khi các quan điểm toán học, vũ trụ học, triết học và lịch sử của Kepler được phân tích rất nhiều trong các bài báo và sách, các công trình chiêm tinh và mối liên hệ với thiên văn học của ông tương đối ít được nghiên cứu.

Thư mục

  • Andersen, Hanne; Peter Barker; và Xiang Chen. The Cognitive Structure of Scientific Revolutions, chapter 6: “The Copernican Revolution.” New York: Cambridge University Press, 2006. ISBN 0-521-85575-6
  • Armitage, Angus. John Kepler, Faber, 1966.
  • Banville, John. Kepler, Martin, Secker and Warburg, London, 1981 (fictionalised biography)
  • Barker, Peter và Bernard R. Goldstein: “Theological Foundations of Kepler’s Astronomy”. Osiris, Volume 16. Science in Theistic Contexts. University of Chicago Press, 2001, pp.  88–113
  • Caspar, Max. Kepler; dịch và biên tập bởi C. Doris Hellman; với dẫn nhập và tham khảo từ Owen Gingerich; trích dẫn thư mục bởi Owen Gingerich và Alain Segonds. New York: Dover, 1993. ISBN 0-486-67605-6
  • Connor, James A. Kepler’s Witch: An Astronomer’s Discovery of Cosmic Order Amid Religious War, Political Intrigue, and the Heresy Trial of His Mother. HarperSanFrancisco, 2004. ISBN 0-06-052255-0
  • De Gandt, Francois. Force and Geometry in Newton’s Principia, Translated by Curtis Wilson, Princeton University Press 1995. ISBN 0-691-03367-6
  • Dreyer, J. L. E. A History of Astronomy from Thales to Kepler. Dover Publications Inc, 1967. ISBN 0-486-60079-3
  • Ferguson, Kitty. The nobleman and his housedog: Tycho Brahe and Johannes Kepler: the strange partnership that revolutionized science. London: Review, 2002. ISBN 0-7472-7022-8 – published in the US as: Tycho & Kepler: the unlikely partnership that forever changed our understanding of the heavens. New York: Walker, 2002. ISBN 0-8027-1390-4
  • Field, J. V.. Kepler’s geometrical cosmology. Chicago University Press, 1988. ISBN 0-226-24823-2
  • Gilder, Joshua và Anne-Lee Gilder: Heavenly Intrigue: Johannes Kepler, Tycho Brahe, and the Murder Behind One of History’s Greatest Scientific Discoveries, Doubleday (May 18, 2004). ISBN 0-385-50844-1
  • Gingerich, Owen. The Eye of Heaven: Ptolemy, Copernicus, Kepler. American Institute of Physics, 1993. ISBN 0-88318-863-5 (Masters of modern physics; v. 7)
  • Gingerich, Owen: “Kepler, Johannes” in Dictionary of Scientific Biography, Volume VII. Charles Coulston Gillispie, editor. New York: Charles Scribner’s Sons, 1973
  • Greenbaum và Boockmann: “Kepler’s Astrology”, Culture and Cosmos Vol. 14. Special Double Issue, 2012.
  • Jardine, Nick: “Koyré’s Kepler/Kepler’s Koyré,” History of Science, Vol. 38 (2000), pp.  363–376
  • Kepler, Johannes. Johannes Kepler New Astronomy dịch W. Donahue, tựa bởi O. Gingerich, Cambridge University Press 1993. ISBN 0-521-30131-9
  • Kepler, Johannes và Christian Frisch. Joannis Kepleri Astronomi Opera Omnia (John Kepler, Astronomer; Complete Works), 8 vols.(1858–1871). vol. 1, 1858, vol. 2, 1859, vol. 3, 1860, vol. 6, 1866, vol. 7, 1868, Frankfurt am Main and Erlangen, Heyder & Zimmer, – Google Books
  • Kepler, Johannes, et al. Great Books of the Western World. Volume 16: Ptolemy, Copernicus, Kepler, Chicago: Encyclopædia Britannica, Inc., 1952. (
  • Koestler, Arthur. The Sleepwalkers: A History of Man’s Changing Vision of the Universe. (1959). ISBN 0-14-019246-8
  • Koyré, Alexandre: Galilean Studies Harvester Press 1977. ISBN 0-85527-354-2
  • Koyré, Alexandre: The Astronomical Revolution: Copernicus-Kepler-Borelli Ithaca, NY: Cornell University Press, 1973. ISBN 0-8014-0504-1; Methuen, 1973. ISBN 0-416-76980-2; Hermann, 1973. ISBN 2-7056-5648-0
  • Kuhn, Thomas S. The Copernican Revolution: Planetary Astronomy in the Development of Western Thought. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1957. ISBN 0-674-17103-9
  • Lindberg, David C.: “The Genesis of Kepler’s Theory of Light: Light Metaphysics from Plotinus to Kepler.” Osiris, N.S. 2. University of Chicago Press, 1986, pp.  5–42.
  • Lear, John. Kepler’s Dream. Berkeley: University of California Press, 1965
  • M.T.K Al-Tamimi: Great collapse Kepler’s first law, Natural Science 2 (2010), ISBN 2150 – 4091
  • North, John. The Fontana History of Astronomy and Cosmology, Fontana Press, 1994. ISBN 0-00-686177-6
  • Pannekoek, Anton: A History of Astronomy, Dover Publications Inc 1989. ISBN 0-486-65994-1
  • Pauli, Wolfgang. Wolfgang Pauli — Writings on physics and philosophy, dịch bởi Robert Schlapp và biên tập bởi P. Enz và Karl von Meyenn (Springer Verlag, Berlin, 1994). Xem 21, The influence of archetypical ideas on the scientific theories of Kepler, liên quan vụ việc Johannes Kepler và Robert Fludd (1574–1637). ISBN 3-540-56859-X
  • Schneer, Cecil: “Kepler’s New Year’s Gift of a Snowflake.” Isis, Volume 51, No. 4. University of Chicago Press, 1960, pp.  531–545.
  • Shapin, Steven. The Scientific Revolution. Chicago: University of Chicago Press, 1996. ISBN 0-226-75020-5
  • Stephenson, Bruce. Kepler’s physical astronomy. New York: Springer, 1987. ISBN 0-387-96541-6 (Studies in the history of mathematics and physical sciences; 13); reprinted Princeton:Princeton Univ. Pr., 1994. ISBN 0-691-03652-7
  • Stephenson, Bruce. The Music of the Heavens: Kepler’s Harmonic Astronomy, Princeton University Press, 1994. ISBN 0-691-03439-7
  • Toulmin, Stephen và June Goodfield. The Fabric of the Heavens: The Development of Astronomy and Dynamics. Pelican, 1963.
  • Voelkel, James R. The Composition of Kepler’s Astronomia nova, Princeton University Press, 2001. ISBN 0-691-00738-1
  • Westfall, Richard S.. The Construction of Modern Science: Mechanism and Mechanics. John Wiley and Sons, 1971. ISBN 0-471-93531-X; reprinted Cambridge University Press, 1978. ISBN 0-521-29295-6
  • Westfall, Richard S. Never at Rest: A Biography of Isaac Newton. Cambridge University Press, 1981. ISBN 0-521-23143-4
  • Wolf, A. A History of Science, Technology and Philosophy in the 16th and 17th centuries. George Allen & Unwin, 1950.

Liên kết ngoài



Liên bang Đông Dương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Liên bang Đông Dương
Union Indochinoise
Liên hiệp các thuộc địa và xứ bảo hộ

1887–1954

Quốc kỳ Quốc huy
Quốc kỳ Quốc huy
Khẩu hiệu
Tự do – Bình đẳng – Bác ái
(Liberté – Égalité – Fraternité)
Quốc ca
La Marseillaise

Trình đơn
0:00
Vị trí của Đông Dương thuộc Pháp
Thủ đô Sài Gòn (1887 – 1901)
Hà Nội (1902 – 1954)
Ngôn ngữ Tiếng Pháp
Tiếng Việt
Tiếng Khmer
Tiếng Lào
Tôn giáo Công giáo
Phật giáo
Chính thể Liên hiệp các thuộc địa và xứ bảo hộ
Thời đại lịch sử Chủ nghĩa tân đế quốc
 – Thành lập 17 tháng 10 năm 1887
 – Campuchia gia nhập 17 tháng 10 năm 1887
 – Lào gia nhập 3 tháng 10 năm 1893
 – Quảng Châu Loan gia nhập 12 tháng 4 năm 1898
 – Đế quốc Việt Nam tuyên bố độc lập 11 tháng 3 năm 1945
 – Quảng Châu Loan tái nhập Trung Hoa Dân quốc 28 tháng 2 năm 1946
 – Thỏa ước Matignon 4 tháng 6 năm 1954
Diện tích
 – 1935 750,000 km²; (290 mi²)
Dân số
 – 1935 ước tính 21,599,582
     Mật độ 0 /km²  (0,1 /mi²)
Tiền tệ Đồng
Franc
Peso

Tiến trình xâm lược của thực dân Pháp và Anh ở Đông Nam Á

Liên bang Đông Dương thuộc Pháp vào năm 1905. Bản đồ này bao gồm cả lãnh thổ của Xiêm (màu tím) thuộc “vùng ảnh hưởng” của Pháp.

Liên bang Đông Dương (tiếng Pháp: Union Indochinoise), đôi khi gọi là Đông Dương thuộc Pháp (tiếng Pháp: Indochine française) hoặc Đông Pháp là lãnh thổ nằm dưới quyền cai trị của thực dân Pháp nằm ở khu vực Đông Nam Á. Liên bang này bao gồm sáu xứ: Nam Kỳ (Cochinchine) (chiếm của Đại Nam năm 1862 (3 tỉnh miền Đông cùng với Côn Đảo) và (3 tỉnh miền Tây, đảo Phú Quốc và các đảo trong vịnh Thái Lan) năm 1867), Bắc Kỳ (Tonkin) (chiếm của Đại Nam năm 1883-1884 (phần lớn phía Đông) và vùng Tây Bắc năm 1885-1888), Trung Kỳ (Annam) (lấy từ Đại Nam năm 1883-1884), Lào (Laos) (vùng bảo hộ và vùng lấy từ Đại Nam vào năm 1888-1893, vùng lấy từ Thái Lan năm 1904), Campuchia (Cambodge) (vùng bảo hộ từ năm 1863-1867 và vùng lấy lại từ Thái Lan năm 1904-1907), và Quảng Châu Loan (Kouang-Tchéou-Wan) (lấy làm nhượng địa từ Trung Hoa năm 1898). Các quần đảo Trường SaHoàng Sa, tiếp nối nhà Nguyễn của Việt Nam, Pháp thực sự kiểm soát năm 1920 và tuyên bố chủ quyền năm 1921. Về mặt địa lý, tên gọi Đông Dương còn có thể bao gồm cả Thái Lan, Miến Điệnbán đảo Mã Lai.
Liên bang Đông Dương được thành lập vào ngày 17 tháng 10 năm 1887; Lào gia nhập vào năm 1893 và thêm Quảng Châu Loan năm 1900. Liên bang Đông Dương tồn tại cho đến năm 1954, lúc đầu thủ phủ đặt tại Sài Gòn (1887-1901) sau chuyển ra Hà Nội (1902-54). Đứng đầu liên bang là một Toàn quyền (Gouverneur Général de l’Indochine française từ 1887 đến 1945) hay một Cao ủy (từ 1945 đến 1954) của chính phủ nước bảo hộ Pháp. Một số chính quyền địa phương đặt dưới quyền các ông vua địa phương mà thực chất là bù nhìn, vì quyền lực vẫn nằm trong tay các quan chức thực dân Pháp.
Việc thiết lập Liên bang Đông Dương một phần là vì lý do tài chánh khi chính giới Pháp muốn dùng lợi nhuận từ Nam Kỳ để tài trợ kinh phí cai trị Bắc và Trung Kỳ thay vì chính quốc phải chi thêm để trang trải.[1]
Liên bang Đông Dương bị Nhật Bản lật đổ vào ngày 9 tháng 3 năm 1945 khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc. Tuy nhiên, quân Nhật lại thua quân Đồng Minh và liên bang này chỉ thực sự tan rã sau khi Pháp bại trận ở Điện Biên PhủHiệp ước Genève được ký kết năm 1954.

Hành chính

Liên bang Đông Dương được đặt dưới quyền của hai cơ quan ở chính quốc Pháp. Nam Kỳ, Cao MiênLào phụ thuộc Bộ Thuộc địa Pháp dưới sự cai trị quân sự trong khi TrungBắc Kỳ phụ thuộc Bộ Ngoại giao Pháp do của nhà chức trách dân sự.[2] Dưới thời Toàn quyền Doumer việc cai trị mới được gộp lại trực thuộc Bộ Thuộc địa.

Cấp liên bang

Toàn quyền Maurice Long, tại chức 1920-1922.

Địa hình và phân vùng hành chính trong Liên bang Đông Dương thời kỳ ổn định.

Đứng đầu liên bang Đông Pháp là viên Toàn quyền và Tổng thư ký, tức Phó Toàn quyền. Sau năm 1945 chức vụ Toàn quyền Đông Dương đổi thành Cao ủy Pháp tại Đông Dương (Hauts commissaires de France en Indochine) và đến năm 1953 thì gọi là Tổng ủy (Commissaires généraux).
Chức toàn quyền được giao quyền lực rất lớn vì là người đứng đầu về hành chính lẫn quân sự. Hỗ trợ cho chức vụ này là Hội đồng Tối cao (Conseil supérieur). Cơ quan này gồm có

  • Toàn quyền (đứng làm chủ tịch),
  • Tổng tư lệnh quân đội,
  • Thiếu tướng hải quân chỉ huy hạm đội Viễn Đông,
  • Thống đốc Nam Kỳ
  • Thống sứ Bắc Kỳ
  • Thống sứ Ai Lao
  • Thống Sứ Cao Miên
  • Khâm sứ Trung Kỳ
  • Chủ tịch Đại hội đồng Kinh tế Tài chính,
  • Bốn người bản xứ đặc bổ.

Hội đồng Tối cao họp hai năm một lần, một tại Hà Nội và một tại Sài Gòn, để ban hành các đạo luật và tính toán ngân sách chung và riêng của từng xứ.
Mười một bộ ở cấp liên bang gọi là tổng nha môn (services généraux) được giao việc điều hành các công vụ của nhà nước.

Thứ tự Tổng nha môn (năm thành lập) Chủ sự
1 Tài chính (1897) Giám đốc
2 Học chính Giám đốc
3 Tư pháp Giám đốc
4 Công chính (1898) Tổng Thanh tra
5 Công khoáng Tổng Thanh tra
6 Y tế Tổng Thanh tra
7 Nông lâm (1899) Tổng Thanh tra
8 Bưu chính (1901) Giám đốc
9 Công an (1922) Giám đốc
10 Quân sự Tổng Tư lệnh
11 Hải quân Tư lệnh

Cấp liên bang còn có hai nghị hội: “Hội đồng Chính phủ” (Conseil de Gouvernement de l’Indochine) và Đại Hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương (Grand Conseil des Intérêts économiques et Financiers de I’Indochine), thành lập năm 1928. Hội đồng Kinh tế có 51 thành viên: 28 người Pháp và 23 đại biểu của ba xứ Việt, Miên, Lào.[3] Trong số 23 người bản xứ thì người Việt chiếm 17 hoặc 18 ghế.[4] Hai hội đồng này chủ yếu là cơ quan tư vấn và thảo nghị chứ không phải là viện lập pháp.[5]

Bản đồ Liên bang Đông Dương 1930

Về mặt tư pháp thì ở cấp liên bang có hai tòa án thượng thẩm đặt ở Hà Nội và Sài Gòn để nhận các bản kháng án từ những tòa án địa phương. Hệ thống tư pháp này duy trì trật tự công lý. Trong các vụ kháng án, các quan tòa người Âu được sự hỗ trợ từ quan lại người bản xứ. Về nguyên tắc, Liên bang này hoàn toàn theo chế độ tòa án và luật pháp của Pháp.
Ngoài quyền đại diện liên lạc với chính quốc, ứng xử ngoại giao và điều hành quân đội, chính quyền Liên bang còn có toàn quyền tài chính. Triều đình Huế nhận “lãnh lương” từ chính phủ Bảo hộ.[6]
Tổng cộng trên toàn cõi Đông Dương vào năm 1936 chính quyền có khoảng 3.300 công chức người Pháp trong guồng máy cai trị, trong số đó 400 thuộc cấp liên bang tập trung ở Hà Nội; số còn lại phụ thuộc cấp địa phương. Đa số xuất thân từ Trường Thuộc địa (École Coloniale ở Paris).[7]

Cấp địa phương thuộc địa

Trong sáu xứ thuộc Liên bang Đông Dương thì riêng Nam Kỳ là trực thuộc cai trị của Pháp dưới chế độ thuộc địa. Đứng đầu Nam Kỳ là Thống đốc (gouverneur), có “Hội đồng Tư mật” và Hội đồng Thuộc địa là hai nghị hội.
Ở cấp nhỏ hơn thì có Chánh Tham biện (administrateur) đứng đầu mỗi địa hạt (arrondissement), sau đổi thành Chủ tỉnh (Tỉnh trưởng) (chef de la province) và tỉnh (province). Dưới tỉnh là quận (circonscription) và cơ sở phái viên hành chánh (délégation administrative), đứng đầu là viên Chủ quận (Chef de la circonscription) và vị Phái viên hành chánh (Délégué administratif) tương ứng; rồi đến cấp tổng (canton) với cai tổng quản lý.
Dân Nam Kỳ hưởng quy chế “thuộc dân Pháp” (sujets français) và được hưởng quyền lợi nhiều hơn các xứ khác. Muốn vào Pháp tịch để bình đẳng như dân mẫu quốc thì phải nộp đơn để thành citoyens français.[8] Nam Kỳ cũng là xứ có bầu cử định kỳ và vận động cử tri. Người có Pháp tịch hoặc hội đủ một số điều kiện tài chánh mới có quyền đi bầu.
Ở cấp tỉnh thì hội đồng tỉnh ở Nam Kỳ bắt đầu hoạt động từ năm 1882. Thôn xã được tổ chức với khái niệm dân chủ đầu phiếu từ năm 1927.[4]
Về mặt luật pháp thì Nam Kỳ chiếu theo bộ hình luật của Pháp ban hành năm 1912.[9]

Cấp địa phương bảo hộ

Bốn xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Lào và Miên thuộc chế độ bảo hộ, tức hệ thống hành chánh bản xứ được duy trì và người Pháp cai trị gián tiếp qua ngạch quan lại Việt (ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ), Miên hoặc Lào. Vì lẽ đó mà có hai hệ thống song hành, một của Pháp, một của bản xứ, trên pháp lý là bình quyền cùng giám sát quốc sự, nhưng khi thi hành thì chế độ bản xứ tùy thuộc vào quyền phán quyết của người Pháp. Bộ Ngoại giao Pháp đảm nhiệm việc hành chánh nhưng sang đầu thế kỷ 20 thì giao lại cho Bộ Thuộc địa Pháp, phản ảnh quan điểm và chính sách của Pháp đối với các xứ bảo hộ. Dân cư của các xứ Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Lào và Miên trên mặt pháp lý thuộc hạng protéges français, thấp nhất trong ba hạng citoyens, sujets, và protéges ở Đông Dương.

Bắc Kỳ

Đứng đầu nền bảo hộ Bắc Kỳ là Thống sứ người Pháp (Résidents supérieurs) (1889-1955) cùng ba nghị hội “Hội đồng Bảo hộ”, “Hội đồng Pháp nhân” (đại diện người Pháp), và “Viện Dân biểu Bắc Kỳ” (đại diện người Việt). Viên thống sứ tuy là người Pháp nhưng kể từ ngày 26 Tháng Bảy năm 1897[10] kiêm cả chức đại diện cho Nam triều, tức là kinh lược sứ của vua nhà Nguyễn. Các quan lại bản xứ trên danh nghĩa là quan của triều đình Huế nhưng đều trực thuộc quyền viên thống sứ.[11] Chủ quyền của triều đình Huế ở Bắc Kỳ từ đó càng bị thu hẹp. Trước năm 1889, khâm sứ Trung Kỳ đại diện cho cả hai xứ Bắc và Trung Kỳ.[12]
Kể từ năm 1900 Thống sứ Bắc Kỳ kiêm luôn chức quản trị Quảng Châu Loan tuy đây là một nhượng địa riêng với hạn kỳ 99 năm.
Cấp tỉnh thì hội đồng tỉnh bắt đầu hiện diện từ năm 1886 nhưng hoạt động yếu ớt. Ở cấp làng thì cũng như tiền triều nhà Nguyễn, người dân được tự trị. Mãi đến năm 1941 ở Bắc Kỳ mới thực hiện cải cách, cho dân chúng đầu phiếu bầu hội đồng xã.[4]

Trung Kỳ

Đứng đầu nền bảo hộ Trung Kỳ là Khâm sứ người Pháp. Chức vụ này từ năm 1884 đến 1889 có tên là Résidents généraux d’Annam. Sau năm 1889 thì đổi thành Résidents supérieurs (1889-1953). Hành dinh của Khâm sứ Pháp đặt ở Huế. Sang thập niên 1950 thì chuyển vào Đà Lạt.[4]
Khâm sứ Trung Kỳ tham gia hội đồng phụ chính từ năm 1887, đến Tháng Sáu năm 1895 thì có đặc quyền chủ tọa Hội đồng Cơ mật và cả Tôn nhân phủ.[13] Tất cả các công văn sắc dụ ban hành đều phải có chữ ký phê thuận của viên khâm sứ.[14] Ngoài ra Triều đình Huế kể từ Tháng Chín 1897 phải chịu cho một viên hội lý người Pháp làm quản sự cho mỗi vị thượng thư trong Lục bộ cũ.[15]
Hiệp sức với viên Khâm sứ là “Hội đồng Bảo hộ” và “Hội đồng Pháp nhân” (đại diện người Pháp). Trung Kỳ cũng có “Viện Dân biểu Trung Kỳ” thành lập năm 1926[16] nhưng cơ quan này kể từ năm 1932 không thuộc chính phủ bảo hộ nữa mà thuộc triều đình Huế kiểm soát. Trước năm 1932 Viện Dân biểu trực thuộc viên Khâm sứ Pháp.
Thống sứ Bắc Kỳ hay Khâm sứ Trung Kỳ là hai cách gọi khác nhau của người Việt nhưng chức vị và quyền hành trong chính phủ Bảo hộ thì giống nhau. Tiếng Pháp gọi chức vụ này là résident supérieur, đúng ra dịch sát nghĩa là “lưu trú quan đại thần”.
Ở cấp tỉnh thì có hội đồng tỉnh, thành lập từ năm 1913, muộn hơn Bắc Kỳ 27 năm, và mãi đến năm 1942 mới bắt đầu tổ chức lại thôn xã và cho phép người dân đầu phiếu hội đồng xã.[4]
Vùng duyên hải thì hệ thống quan lại và hành chánh của người Việt thì giữ nguyên nhưng ở trên Cao nguyên thì người Pháp lập một khu riêng, không do người Việt quản trị, gọi là Pays Montagnards du Sud bắt đầu vào thập niên 1920. Người Việt không có giấy phép không được lên vùng này.[4]

Cao Miên, Lào, và các tỉnh

Ở Lào và Miên cũng có khâm sứ như Trung Kỳ. Khâm sứ Pháp ở Cao Miên kể từ năm 1897 có quyền hành rộng lớn như khâm sứ ở Huế.[17]
Ở cấp tỉnh thì ở mỗi tỉnh có công sứ (résident) người Pháp trong khi người Việt thì có tổng đốc, tuần phủ hay quản đạo tùy theo tỉnh lớn hay nhỏ ở Bắc hay Trung Kỳ. Dinh công sứ không nhất thiết đặt ở tỉnh lỵ như tỉnh Bắc Ninh thì công sứ đặt hành sở ở Gia Lâm. Bắc Kỳ và Trung Kỳ ở cấp phủ huyện, người Pháp còn đặt một số đại lý (délégués) giám sát việc cai trị. Như tỉnh Ninh Bình thì dinh công sứ đặt ở Phát Diệm và một đại lý nữa ở Phủ Nho Quan.[18] Viên công sứ nắm quyền thuế vụ.
Cao Miên thì khet (tương đương với “tỉnh”) thì có chau-faikhet. ở Lào không có cấp tỉnh mà chỉ có cấp tương đương với huyện (tiếng Pháp: préfecture) gọi là muong, có chao-muong đứng đầu. Công sứ Pháp ở Cao Miên so với Việt Nam thì việc cai trị có tính trực tiếp hơn tuy vẫn là trên danh nghĩa “bảo hộ”. Công sứ ở Miên có thực quyền trị an, thu thuế, mở mang kinh tế mà không cần sự ưng thuận của Miên triều.[19]

Cấp địa phương nhượng địa

Phố Paul Bert, Hải Phòng.

Đạo dụ 1 Tháng Mười năm 1888 triều Đồng Khánh (Toàn quyền Richaud) cắt thêm ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng (người Pháp gọi là Tourane) làm nhượng địa (concession) cho Pháp, tức là cùng thể chế trực trị như Nam Kỳ tuy nằm trong lãnh thổ bảo hộ bản xứ.[2]
Đứng đầu hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn là viên Thị trưởng người Pháp (Maire). Hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng tại Bắc Kỳ cùng thành phố Tourane (Đà Nẵng) tai Trung Kỳ, đứng đầu là viên Đốc lý người Pháp (Résident-maire). Bên cạnh viên Thị trưởng hay Đốc lý là Hội đồng thành phố (Conseil Municipal) đối với thành phố loại I hoặc Ủy hội thành phố (Commission Municipale) đối với thành phố loại II. Thành viên của Hội đồng hoặc Uỷ hội gồm cả người Pháp lẫn người Việt [20]; Hội đồng thành phố Sài Gòn được lập năm 1869, Ủy hội thành phố Chợ Lớn lập năm 1879, Hội đồng thành phố Hà Nội và Hải Phòng lập năm 1891 và Ủy hội thành phố Tourane lập năm 1908.[21]
Ngoài ra bốn quân khu vùng biên giới Việt-Hoa và Lào-Hoa cũng thuộc dạng cai trị trực tiếp. Cao nguyên Trung phần gồm các tỉnh Darlac (lập năm 1904), Kontum (1913), Donnai Thượng, Lang Bian (1920), và Pleiku (1932) cũng đặt ngoài quyền quản trị của người Việt.[22]

Pháp luật

Pháp luật ở Trung Kỳ thì dùng bộ luật Gia Long bổ sung với hình luật và dân luật của Pháp. Ở cấp dưới thì quan tri phủ và tri huyện đứng làm quan tòa sơ thẩm, quan tỉnh xét phúc thẩm và công sứ Pháp có nhiệm vụ kiểm sát. Chung thẩm thì có bộ Hộ và bộ Hình cùng khâm sứ Pháp.[9]
Ở Bắc Kỳ thì có bộ “Hoàng Việt Tân luật” ban hành năm 1918 dùng bộ luật Gia Long nhưng sửa đổi theo thích ứng của chính quyền Pháp. Cũng giống như Trung Kỳ, quan tri phủ và tri huyện xét sơ thẩm. Đệ nhị cấp thì có công sứ Pháp làm chính thẩm còn quan tổng đốc và tuần phủ làm bồi thẩm. Trên hết là tòa Phúc thẩm Hà Nội.[9]
Ở Nam Kỳ thì dùng “Pháp quy giản yếu 1883” dựa trên luật pháp bên chính quốc.[23]
Đối với người Pháp thì luật lệ bản xứ không áp dụng cho họ vì họ được xét xử dưới bộ luật Pháp như ở bên Pháp.[7]

Quân đội & an ninh

Lực lượng quân sự của Pháp ở Đông Dương vào năm 1937 là 10.779 lính da trắng. Đến năm 1940 trước Đệ nhị Thế chiến thì con số này tăng lên thành 14.500, trong đó có 3.600 sĩ quan chỉ huy và 4.000 quân Lê dương (Legionnaires étrangères). Tổng số quân lính kể cả lính bản xứ là 90.000.[7]
Ngoài ra chính quyền Đông Dương còn dùng Sở Liêm phóng Đông Dương làm cơ quan tình báocông an, kiểm soát và phá hoại các hoạt động chống lại chính quyền, nhất là các tổ chức chính trị.

Phân chia địa chính

Bản đồ Đông Dương thuộc Pháp vào năm 1891.

Bản đồ địa giới Bắc Kỳ năm 1879 bao gồm cả thị trấn Đông Hưng và mũi Bạch Long, đến năm 1887 bị Pháp cắt cho nhà Thanh

Dưới sự cai trị của Pháp, địa giới các xứ Đông Dương được phân định lại. Công ước Pháp-Thanh 1887 lấy đông kinh tuyến 105º43’ làm giới hạn bên bờ Vịnh Bắc Việt nên một dải đất Trường Bình, Bạch Long ở phía bắc sông Bắc Luân thuộc tổng Vạn Ninh bị nhượng cho nhà Thanh.[24] Việc đóng mốc phân định biên giới hoàn thành năm 1896. Vì sự chia cắt đó đến năm 2000 vẫn có 22.000 người Kinh là hậu duệ người Việt cũ ở đất Quảng Tây. Ngược lại đất các vùng Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai xưa là phên giậu biên thùy, từng triều cồng Lão Qua, thì nay được sáp nhập vào Bắc Kỳ. Đất Trấn NinhSầm Châu mặc dù có quan Việt cai quản thì người Pháp lại cắt cho Lào kể từ năm 18951903.
Vùng Cao nguyên Trung phần thì người Pháp năm 1893 buộc triều đình Huế cắt ra và cho phụ thuộc Lào. Năm 1904 thì Darlac (Ban Mê Thuột) mới được trả lại Trung Kỳ; Kontum theo chân năm 1905. Tuy nhiên khu vực cao nguyên này gần như trực thuộc người Pháp cai trị. Triều đình Huế có quyền bổ nhiệm viên quan quản đạo nhưng thực quyền nằm trong tay công sứ Pháp. Năm 1923 chính công sứ Darlac là Léopold Sabatier đã ra lệnh tuyệt cấm người Việt lên lập nghiệp ở Darlac rồi lại vận động khâm sứ Trung Kỳ là Pierre Pasquier áp dụng chung chính sách này cho toàn cao nguyên Trung phần.[25]
Năm 1906 Xiêm trả lại hai tỉnh BattambangXiêm Riệp để nhập vào Cao Miên.
Năm 1916 vì bất ổn ở vùng biên giới Việt-Hoa, chính quyền Bảo hộ cho lập năm quân khu để kiểm soát vùng cực bắc xứ Bắc Kỳ và Lào.
Từ thập niên 1890 chính quyền Bảo hộ nhân danh triều đình Huế đã có dự định dựng ngọn hải đăng để khẳng định chủ quyền của Pháp trên quần đảo Hoàng Sa nhưng đồ án không thực hiện được và mãi đến năm 1938 mới có lực lượng chính thức chiếm đóng quần đảo này.[26] Dù vậy khi nhà Thanh gửi thuyền xâm phạm Hoàng Sa vào những năm đầu thế kỷ 20 thì Bộ Ngoại giao Pháp đã có công văn phản đối.[27] Cuộc tranh chấp này kéo dài cho đến khi người Pháp mất chủ quyền ở Đông Dương và vẫn chưa kết thúc.

Kinh tế

Tiền giấy mệnh giá 1 đồng bạc Đông Dương

Tem Đông Pháp
Số liệu cao su xuất cảng[28]
năm tấn
1939 66.556
1940 72.245
1941 76.069
1942 75.178
1943 74.734
1944 61.361
1945 12.000
1946 20.295
1947 38.560
1948 43.000
1949 45.000
Số liệu thóc gạo xuất cảng[29]
năm tấn
1865 50.000
1875 268.000
1890 460.000
1900 595.000
1910 815.000
1925 1.300.000

Kinh tế Đông Pháp chủ yếu là một nền kinh tế thuộc địa để hỗ trợ cho kinh tế Pháp chứ không có kế hoạch tự túc hoặc phát triển theo khả năng bản xứ. Toàn quyền Pasquier đã khẳng định: “Il faut que les profits de l’Indochine reviennent aux Français” (“Lợi nhuận từ Đông Dương phải trao lại cho nước Pháp”). Đông Pháp là nguồn nguyên liệu và vật liệu bán chế trong khi mẫu quốc Pháp cung ứng những sản phẩm chế biến để bán lại sang Đông Pháp.
Về mặt nông lâm, cơ chế đồn điền nhất là đồn điền cao su để cung cấp cho thị trường Âu Mỹ là một điển hình cho mối tương quan giữa Pháp và Đông Pháp. Cây cao su Hevea brasiliensis đầu tiên đem từ Mã Lai sang trồng ở Đông Dương là vào năm 1897 ở Sài Gòn. Đến năm 1905 thì cạo mủ thấy sản xuất được nên bắt đầu phát động đem trồng nhiều nơi.[30] Nhiều công ty lớn của Pháp như hãng Michelin đều đầu tư vào ngành này, sở hữu những đồn điền với diện tích rộng lớn, tổng cộng chiếm hơn 138.000 hecta trên toàn Đông Dương[31]. Tính đến năm 1926 thì diện tích trồng cao su là hơn 166.000 ha với 13 triệu cây cao su.[32] Số lượng nhân công cần để khai thác nguồn lợi này cũng đã làm giao động xã hội bản xứ. Lượng cao su xuất cảng đạt hơn 10 nghìn tấn vào năm 1929 và tiếp tục gia tăng đến khi Đệ nhị Thế chiến bùng nổ. Sản lượng cao su sau đó tụt xuống chỉ còn 15% sản lượng tiền chiến và không phục hồi được cho dù có đến cuối thập niên 1940 đã đạt khoảng 60% sản lượng cao nhất.
Lượng nông phẩm lớn nhất của Đông Dương là lúa gạo, đạt 2.140.000 tấn xuất cảng năm 1937 với diện tích canh tác ở Nam Kỳ tăng mạnh từ 522.000 hecta năm 1880 đến 2 triệu 2 hecta năm 1937.[33]
Những khu vực kinh tế khác được chính phủ Bảo hộ lưu ý là khoáng sản (than đá, chì, kẽm), chè, cà phê, hạt tiêu. Kỹ nghệ nhẹ như ngành dệt, thuốc lá, xi măng cũng được phát triển.
Kỹ nghệ lớn nhất với khoảng 50.000 công nhân là ngành khai thác than đá, chủ yếu ở Hà TuHòn Gai (Pháp gọi là Hongay) và Cẩm Phả của công ty “Société de Charbonnages du Tonkin”. Hãng “Société de Charbonnages du Đông Triều” thì khai thác ở Kê Bào. Năm 1930 sản lượng than đá khai thác là 1.890.000 tấn, trong đó 3/4 được xuất cảng.
Những mặt hàng được nhập khẩu chính vào Đông Dương thời kỳ này là sữa đặc, thức ăn đóng hộp, bột mì, rau, đường, cà phê, trà, thuốc lá, chỉ bông, vải bông, rượu, than, dầu lửa, đồ kim loại, dược phẩm, xà phòng, đồ gốm, đồ thủy tinh và pha lê, giấy, máy móc, xe hơi, v.v. Các mặt hàng xuất khẩu quan trọng gồm có: gạo, cá (cá khô và cá muối), tiêu, quế, dầu thực vật, gỗ tếch, sợi bông (thô), than và kẽm, lụa (thô), xi măng, thảm chiếu, da, v.v. Cán cân xuất nhập khẩu vào năm 1914 là

Giá trị ngoại thương 1914[34]
Giá trị nhập khẩu (franc) Giá trị xuất khẩu (franc)
Bắc Kỳ 96.239.000 100.260.000
Trung Kỳ 6.364.000 11.1360.000
Nam Kỳ 158.998.000 219.253.000
Campuchia 4.891.000 1.686.000
Tổng cộng 266.492.000 332.335.000

Cơ quan điều hành kinh tế cho cả sáu xứ Đông Pháp là Ngân hàng Đông Dương (Banque de l’Indochine), thành lập từ năm 1875. Ngân hàng này có đặc quyền phát hành đồng bạc Đông Dương (piastre indochinoise).
Chính quyền Bảo hộ còn giành độc quyền bán thuốc phiện, rượu, và muối, còn được gọi là thuế “môn bài”. Ba khoản thu này cộng thêm quan thuế xuất nhập khẩu cung ứng 95% ngân sách để trả lương công chức.[35] Lấy trường hợp thu ngân của chính phủ Bảo hộ ở Bắc Kỳ năm 1886 trên tổng số 134 triệu đồng thì bốn nguồn thuế chính là:[36]

  1. thuế thuốc phiện: 45 triệu
  2. thuế rượu: 20 triệu đồng
  3. thuế muối: 45 triệu đồng
  4. thuế thân: 21 triệu đồng.

Độc quyền nấu rượu thì giao cho công ty Société des Distilleries d’Indochine phân phối cho toàn Liên bang dưới hiệu “RA” (Régie de Alcool), tục gọi là “rượu ty”. Những nguồn rượu khác thì bị liệt vào hạng rượu lậu và ai nấu hay mua thì bị truy tố và tài sản tịch thu.[37] Đối với thuốc phiện thì quyền nhập cảng, chế biến và bán sỉ là do cơ quan Régie de l’Opium đảm nhận. Tính đến năm 1900 thì lợi nhuận chính phủ thu được từ thuốc phiện đạt hơn phân nửa số tiền thu nhập của toàn Liên bang Đông Dương.[38] Riêng việc phân phối bán lẻ là để cho tư nhân, đa số là người Hoa.[39]

Giao thông

Ga xe lửa Mỹ Tho, 1905.

Khánh thành tàu điện Sài Gòn-Chợ Lớn 27.12.1881

Nỗ lực lớn nhất của nhà nước Bảo hộ là xây dựng hệ thống đường sắt. Đoạn đường sắt thiết lập trước tiên với kinh phí 11,6 triệu franc là ở Nam Kỳ, dài 71 cây số, hoàn tất Tháng Bảy năm 1885 nối liền Sài Gòn và Mỹ Tho.[40] Vào những năm 1897-1900 thì con đường sắt Hà Nội-Lạng Sơn hoàn thành ở Bắc Kỳ với giá trị chiến lược cao để củng cố vùng biên giới Việt-Hoa. Sau đó nhà nước chủ trương xây dựng một hệ thống đường sắt Xuyên Đông Dương (Chemin de fer Transindochinois) nối liền Hà Nội và Sài Gòn. Dự án này đến năm 1936 mới xây xong, chạy dài từ Nam Quan đến Mỹ Tho với chiều dài 1714 km. Đây là tiền thân của đường sắt Bắc Nam của Việt Nam sau này. Hành trình Sài Gòn – Hà Nội mất 60 giờ đồng hồ, tức hai ngày và ba đêm.[41]
Ngoài ra còn có những nhánh đường sắt khác từ Nam Vang đến biên giới Xiêm; từ Sài Gòn đi Lộc Ninh; từ Tháp Chàm lên Đà Lạt; từ Phủ Ninh Giang qua Kẻ Sặt đến Cẩm Giàng.[42] Riêng đoạn đường từ Hải Phòng lên Hà Nội rồi từ Hà Nội ngược sông Thao vượt biên giới Việt-Hoa sang Vân Nam thì do tư nhân hãng “Compagnie Française des Chemins de fer de l’Indochine et du Yunnan” khai thác. Tính đến năm 1939 thì toàn cõi Đông Dương có 3.372 km đường sắt.[43]
Ở hai đô thị chính, Sài Gòn và Hà Nội chính quyền còn cho thiết lập hệ thống “tàu điện” (tramways). Tàu điện Sài Gòn khánh thành năm 1881 lúc đầu chạy bằng hơi nước và đến năm 1923 mới chính thức chạy bằng điện. Lộ trình 72 km này nối Chợ Lớn, Sài Gòn (theo đường Gallieni, sau năm 1955 là đương Trần Hưng Đạo[44]) rồi tỏa ra Hóc Môn, Gò Vấp, phục vụ đến năm 1953 mới tháo bỏ. Tàu điện Hà Nội với 29 km đường rày khởi dụng năm 1901 và mãi đến năm 1990 mới thôi.[45]
Công trình phát triển đường sá thì có cầu Sông Cái dài hơn 1,600 m do công ty Daydé et Pillé thực hiện từ năm 1897 đến 1901 mới xong là công trình đáng kể nhất. Ngoài ra còn có những xây cất nhỏ hơn như cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã ở Thanh Hóa; cầu Trường Tiền ngang sông Hương ở Huế, v.v. Con đường thiên lý sau đó được dải nhựa dần để xe hơi có thể chạy suốt từ biên giới Việt-Hoa đến biên giới Miên-Xiêm. Tổng cộng trên toàn cõi có khoảng 28.000 km đường trải nhựa hoặc trải đá sỏi.[46]
Chính phủ Pháp cũng cho thiết lập hệ thống dây thép điện tín, đoạn đầu tiên hoàn tất năm 1862 nối Sài Gòn, Biên HòaChợ Lớn. Đến năm 1888 thì đường dây liên lạc Sài Gòn-Hà Nội cũng làm xong.[47]

Xã hội

Bàn đèn thuốc phiện được xem như một “công cụ” chính trong chính sách ngu dân ở Việt Nam của Pháp

Thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa, giáo dục thực dân; dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu, cùng việc kinh doanh thuốc phiệnrượu như một đặc quyền của nhà nước.
Xã hội Việt Nam khi đối diện nền kinh tế mới của người Pháp biến đổi và phân hóa sâu sắc. Mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủnông dân vẫn tồn tại và là mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội, là tàn dư của nghìn năm phong kiến. Địa chủ sở hữu phần lớn ruộng đất. Dù chỉ chiếm khoảng 7% cư dân nông thôn nhưng địa chủ nắm trong tay 50% diện tích ruộng đất.[cần dẫn nguồn] Một số dùng thế lực của Pháp để thủ lợi nhưng lòng yêu nước vẫn là động lực chống Pháp.
Nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam (chiếm khoảng 90% dân số), cũng là thành phần gánh chịu phần lớn phí tổn của nền Bảo hộ. Giai cấp công nhân nhỏ hơn, hình thành từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp. Họ tập trung ở các thành phố và khu vực khai thác mỏ.
Cũng tập trung ở thành thị là giai cấp tư sảntiểu tư sản bao gồm doanh nhân trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp, và cả nông nghiệp. Ngoài ra trong nhóm này cũng là giới học sinh, trí thức, thợ thủ công, công chức và những người làm nghề tự do.
Các thành phần xã hội tuy chung một khái niệm yêu nước nhưng cũng có khi đối chọi về kinh tế và văn hóa.

Dân cư

Vào đầu thế kỷ 20, thành phần dân cư của Liên bang Đông Dương gồm có người Việt, người Khmer, người Thái, người Chăm và các dân tộc thiểu số khác. Trong số đó, người Việt là đông nhất với 15 triệu người, kế đến là người Khmer với 1,3 triệu người, người Thái 1,1 triệu và người Chăm 100.000, số dân tộc thiểu số ước khoảng 500.000 người. Ngoài số này, còn có khoảng 300.000 người Hoa và các dân tộc châu Á khác, 15.000 người Âu và 40.000 người Âu lai Á. Tính tổng cộng, dân số của Liên bang Đông Dương vào khoảng 18.370.000 người, mật độ trung bình 24 người trên một km2.
Về phân bố dân cư, người Việt sống chủ yếu ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, người Khmer sống ở Campuchia, người Thái ở Lào, người Chăm ở Nam Kỳ và một phần Campuchia; những người thuộc dân tộc thiểu số sống rải rác dọc theo vùng núi cao trong lục địa.
Trong các sắc dân bản địa, người Việt có tổ chức xã hội cao hơn cả. Qua kinh nghiệm nhiều đời, họ đã có được những tập quán nông nghiệp phát triển, nhưng năng lực buôn bán yếu. Thương mại trên khắp Đông Dương nằm trong tay những người Hoa. Người Thái thích sống ở những vùng cao, với công việc chính là nuôi gia súc và săn bắn; họ kém văn minh hơn hẳn những người Việt. Người Khmer thì làm các nghề về gỗ, nông, ngư nghiệp, và săn bắn[34].
Trên pháp lý, người dân Đông Dương chia thành ba hạng. Đứng đầu là công dân Pháp (citoyens français) gồm những người Pháp và một số người bản xứ được nhập tịch. Thứ nhì là thuộc dân Pháp (sujets français) là dân Nam Kỳ và dân chúng của ba thành phố Đà Nẵng, Hải Phòng và Hà Nội. Hạng ba mới là dân bảo hộ (protégés français) tức là đại đa số dân chúng Trung, Bắc Kỳ, Lào, và Cao Miên.[48]

Di dân

Một hậu quả của chính sách nhà nước Bảo hộ khi hậu thuẫn việc thông thương với Trung Hoa là đà gia tăng số người Hoa nhập cảnh với nhiều ưu đãi.

Năm Người Trung Hoa nhập cảnh Đông Dương
1923 19.800
1924 13.800
1925 15.200
1926 19.000
1927 31.100
1928 30.100

[49]

Từ tổng số 60.000 Hoa kiều vào cuối thế kỷ 19, đến năm 1921 thì số di dân người Hoa đã tăng thành 156.000 riêng ở Nam Kỳ[50] Họ nắm tài lực và tận dụng khai thác hệ thống kinh tài khắp Đông Nam Á, nhất là ngành buôn gạo. Số thương gia tên tuổi lịch sử còn ghi lại có Wang-Tai, Hui Bon Hoa (tục gọi là “chú Hỏa”), Quách Đàm (xây chợ Bình Tây).[51] Đến năm 1937 trong suốt ba Kỳ Trung, Nam, Bắc có 217.000 Hoa kiều, chiếm hơn 11% dân số.[52] Theo hiệp ước ký giữa Pháp và nhà Thanh năm 1885 và 1886 thì người Tàu ngụ cư ở Đông Dương hưởng quy chế ngoại nhân ưu đãi (etrangers bénéficiant d’un statut privilégié) được miễn sưu thuế, không phải bắt làm tạp dịch hay nhập ngũ lại được quyền đi lại tự do. Hơn nữa vì giữ quốc tịch Trung Hoa, quyền lợi của họ có chính phủ Bắc Kinh bênh vực.[53] Cộng đồng người Hoa tổ chức theo nguyên quán, tục gọi là bang (tiếng Pháp: congrégation). Vào năm 1885 thì có bảy bang ở Nam Kỳ nhưng sau đó gộp lại thành năm bang: Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, Triều Châu, và Hẹ.[54] Ngoài ra có khoảng 5.000 Ấn kiều. Giống như người Hoa, người Ấn đại đa số là thương nhân, cùng làm nghề cho vay nặng lãi.[55]
Số người Âu châu đến cuối thập niên 1930 là 39.000, đa số người Pháp, nắm giữ địa vị then chốt chính trị và kinh tế trong ba ngành xuất cảng gạo, cao su, và khoáng sản.[56] Ba nhóm ngoại kiều Pháp, Hoa và Ấn tập trung ở thành thị trong khi dân bản xứ phần lớn sinh sống ở nông thôn.
Một chính sách di dân nữa được đề ra là việc mộ dân ở Bắc và Trung Kỳ đưa vào Nam làm phu đồn điền cao su hoặc nông trại miền núi Cao nguyên Trung Kỳ hay thượng du Bắc Kỳ.[57] Riêng niên khóa 1926-27, 35.000 người dân từ Bắc và Trung Kỳ được mộ làm phu và đưa vào Nam Kỳ làm công trong các đồn điền.[58] Người Việt cũng được khuyến khích di cư sang Lào và Cao Miên.[59] Thống kê năm 1908 ghi nhận 60.000 người Việt trên đất Miên.[60] Đến năm 1921 thì tổng số người Việt ở Cao Miên là hơn 140.000[50] và 191.000 vào năm 1937.[61] Cùng thời gian sau đó vào cuối thập niên 1930 thì số người Việt ở Lào đã tăng lên gần 40.000.[62] Một số khác được đưa sang Tân Đảo và đảo Tân Thế giới làm phu mỏ và đồn điền của Pháp.

Giáo dục

Một hậu quả khác rất đáng kể của cuộc bảo hộ đối với người Việt là việc thay đổi toàn diện về học thuật. Ở Nam Kỳ ngay từ năm 1867 người Pháp đã ngưng hẳn thể chế khoa cử bằng chữ Nho và đến năm 1878 thì các công văn bằng chữ Nho cũng bị loại bỏ, thay bằng chữ Phápchữ Quốc ngữ.[63] Trường sở tại Nam Kỳ bắt đầu áp dụng theo mẫu trường công ở Pháp từ năm 1879.[64] Tuy nhiên ở Trung và Bắc Kỳ thì chữ Nho tiếp tục được giảng dạy dưới sự vận động của Giám đốc Học chính Gustave Dumoutier.[64]

Cải cách năm 1908

Đến năm 1908 thì Hội đồng Cải cách Học vụ (Conseil de Perfectionnement de l’enseignement indigène, lập năm 1905) thời Toàn quyền Beau lập Học bộ tức Nha Giám đốc Học chính (Direction de l’Enseignement) dưới sự điều hành của Henri Gourdon và quy hoạch lại việc giáo dục ở Trung và Bắc Kỳ, chia thành ba bậc: ấu học, tiểu học và trung học.

  • Ấu học thì giao cho xã thôn dạy chữ Nho và chữ Quốc ngữ; ai đậu thì gọi là “tuyển sinh.”
  • Tiểu học thì do phủ huyện có huấn đạogiáo thụ đảm trách, tiếp tục dạy chữ Nho và chữ Quốc ngữ và có thể tình nguyện học thêm chữ Pháp chứ không bắt buộc;
  • Trung học thì do quan đốc học ở tỉnh lỵ trông coi và dạy chữ Quốc ngữtiếng Pháp. Đây bước đầu của chữ Quốc ngữ trong ngành giáo dục của người Việt.

Tổng số trường học ở Trung và Bắc Kỳ là khoảng 15.000 với 200.000 học sinh.[64] Bắt đầu từ khoa thi hương năm 1909 thì thí sinh phải biết chữ Quốc ngữ để làm bài.[65] Ở Hà Nội thì có thêm trường Bảo hộ và Huế thì có trường Hậu bổ cùng với trường Quốc học sẵn có để đào tạo thêm nhân sự.[63]

Cải cách năm 1915

Năm 1915 thì Bắc Kỳ rồi năm 1918 Trung Kỳ cũng theo Nam Kỳ bỏ khoa cử để theo chương trình do Nha Học chính Đông Dương soạn ra tức bộ học luật (Code de l’instruction publique) ban hành ngày 21 Tháng 12 năm 1917.[66] Theo đó thì tiếng Pháp được đưa vào giáo trình từ bậc tiểu học. Tiểu học chia thành ba cấp:

  • Sơ học (ba năm, đỗ bằng Sơ học yếu lược Certificat d’etudes primaires Franco-Indigènes, viết tắt là CEPFI),
  • Tiểu học (ba năm, đỗ bằng Cơ thủy Certificat d’etudes elementaires), và
  • Cao đẳng tiểu học (bốn năm, đỗ bằng Cao đẳng tiểu học Diplôme d’études primaires supérieures).

Trung học (ba năm) thì chỉ có bốn trường (lycée) đặt ở Phnôm Pênh (lycée Sisowath, 1935), Huế (lycée Khai-Dinh, 1936), Sài Gòn (lycée Petrus-Ky) và Hà Nội (lycée du Protectorat) mà thôi. Học xong hai năm thì thi lấy bằng Tú tài bản xứ.[67] Ba năm thì lấy bằng baccalauréat. Bằng baccalauréat được công nhận tương đương với bên chính quốc kể từ năm 1930.[68] Số người đậu bằng baccalauréat rất ít oi, như năm 1942 tổng cộng chỉ có 75 người.[64]
Đại học thì có mở chỉ một cơ sở là Viện Đại học Đông Dương ở Hà Nội khai giảng từ năm 1907 nhưng hoạt động gián đoạn đến năm 1917 mới tái tục. Điểm đáng lưu ý là chứng chỉ do Đại học Đông Dương cấp không được công nhận là tương xứng với các trường đại học bên Pháp. Sinh viên Đông Dương muốn sang Pháp học cũng bị gây khó dễ và hạn chế.[69]
Năm 1924 mở khóa học đầu tiên của Trường Mỹ thuật Đông Dương với hai phân khoa: 1) hội họa, điêu khắc & trang trí, 2) kiến trúc.[70]
Phnôm Pênh thì người Pháp lập trường Bảo hộ từ năm 1893. Đến năm 1905 thì đổi thành Collège Sisowath.[71]
Những cải cách của chính quyền Pháp chỉ một phần là để nâng cao kiến thức dân chúng nhưng còn có dụng ý là để chuyển hướng tư duy của đại chúng. Thay vì trông đợi vào giới sĩ phu truyền thống dẫn dắt, nay người dân thường sẽ có nhà nước Bảo hộ đào tạo kiến thức. Đối với người Việt thì nguồn tư duy đáng sợ cho chính quyền Đông Pháp là Nho học và luồng tư tưởng xâm nhập từ Trung Hoa và Nhật Bản qua các sách vở Hán văn. Đối với Miên và Lào thì tin tức từ Xiêm là mối đe dọa.[72] Vì vậy người Pháp đã dồn nhiều nỗ lực vào việc cải tổ nền giáo dục bản xứ. Một chứng cứ là sách giáo khoa thời Pháp không dùng danh từ “Việt Nam” mà chỉ nhắc đến “Đông Pháp” và các xứ lệ thuộc[68]

Nghiên cứu, khoa học, & kỹ thuật

Henri Mouhot, nhà khoa học và thám hiểm Pháp ở Đông Dương.

Chính phủ Bảo hộ cho thành lập một số cơ sở khoa học ở Đông Dương như Viện Pasteur (Institut Pasteur de Saigon, 1890 & Nha Trang, 1895)[73], Nha Địa chất (Service géologique, 1918), Viện Canh nông Thuộc địa (Institut agronomie coloniale, 1918), Viện Hải dương học (Institut océanographique, 1922).[74]
Bác sĩ Alexandre Yersin qua Viện Pasteur đã có nhiều đóng góp về căn bệnh dịch hạch. Ông chọn sống tại Nha Trang, Trung Kỳ nơi ông tiếp tục những cuộc thí nghiệm khoa học cho đến khi mất.
Nhà thương theo y học Tây phương đầu tiên ở Đông Dương là nhà thương Chợ Quán, bắt đầu hoạt động năm 1864 nhưng phải đợi đến năm 1914 thì số lượng y sĩ mới đủ để đáp ứng nhu cầu dịch vụ y khoa thường xuyên.[4]
Về văn hóa và lịch sử thì có Viện Viễn Đông Bác cổ (École française d’Extrême-Orient) lập năm 1900 ở Sài Gòn để nghiên cứu, thu thập, và lưu trữ nhiều cổ vật cùng khai quật các di chỉ khảo cổ. Năm 1902 thì Viện này chuyển ra Hà Nội với chi nhánh ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, Nam Vang, và Battambang.[75]
Một trong những “khám phá” lớn nhất trong ngành khảo cổ vào thời điểm này là cuộc khai quật di tích Angkor Wat được nhà khoa học Henri Mouhot ghi lại và phổ biến đến thế giới Tây phương. Cổ hơn thì năm 1923 khai quật được di chỉ Đông Sơn, thuộc tỉnh Thanh Hóa nơi khám phá ra một số trống đồng tiêu biểu cho thời đại cổ đại của người Việt.[76]
Henri Parmentier thì có công khảo cổ trong việc nghiên cứu giải mã các cổ vật và di tích Chiêm Thành.
Bốn viện bảo tàng lớn được thành lập để lưu trữ các di vật văn hóa:[64]

  • Viện Bảo tàng Albert Sarraut (1920) ở Nam Vang
  • Viện Bảo tàng Khải Định (1923) ở Huế
  • Viện Bảo tàng Louis Finot (1926) ở Hà Nội
  • Viện Bảo tàng Blanchard de la Brosse (1927) ở Sài Gòn.

Chính trị

Chính trị Đông Dương thuộc thể chế thuộc địa và bảo hộ nên không có quyền tự quyết.
Riêng ở Nam Kỳ thì có bầu cử định kỳ và vận động cử tri. Tuy nhiên số cử tri rất khiêm nhường. Vào khoảng thập niên 1910 thì chỉ có 1.000 cử tri người Việt,[77] tức những người được vào Pháp tịch. Số người Pháp thì có khoảng 3.000 người ghi danh đi bầu. Sau cuộc cải tổ năm 1922, đặc quyền bầu cử được nới rộng và số cử tri người Việt tăng lên khoảng 20.000, đa số thuộc giới thượng lưu Tây học.[78] Đây là thành phần cử tri bỏ phiếu trong những cuộc tuyển cử Hội đồng Quản hạt so với 2-3 triệu dân của toàn xứ Nam Kỳ.
Về mặt thông tin, báo chí thì chính phủ Bảo hộ áp dụng chính sách kiểm duyệt sách báo. Lệ này đến năm 1935 mới nới lỏng hơn khi Đảng Xã hội Pháp của thủ tướng Léon Blum lên chấp chính.[79]

Phản kháng

Hùm Xám Yên Thế, lãnh tụ Hoàng Hoa Thám

Những người bị bắt trong vụ án Hà thành đầu độc.

Tượng đồng Giám mục Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh ở Sài Gòn.

Chính quyền Liên bang Đông Dương dù có mang lại một số kỹ nghệ và tổ chức khoa học làm cuộc sống khá hơn về mặt vật chất nhưng chủ yếu là để tạo điều kiện cho người Pháp chứ không vì quyền lợi của dân bản xứ. Lý tưởng “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” (“Liberté, Égalité, Fraternité“) tuy xuất xứ từ Pháp nhưng dân của sáu xứ Đông Dương không được hưởng đầy đủ những quyền lợi đó. Một thí dụ cụ thể là đạo luật hiện hành ở chính quốc như luật cấm trẻ em lao dịch thì ở Đông Pháp không áp dụng những luật pháp đó.[80]
Chủ nghĩa dân tộc nhất là đối với người Việt cho dù bị chính quyền Bảo hộ cố vùi lấp, vẫn là tiếng gọi vang vọng. Cuộc khởi nghĩa của Đề Thám ở vùng Phú ThọPhúc Yên kéo dài đến năm 1913 mới bị dập tắt.[81] Trong khi đó luôn có những âm mưu đánh đuổi người Pháp như vụ Hà Thành đầu độc (1908), vụ nổ bom ở Bắc Kỳ do Việt Nam Quang phục Hội thực hiện (1913), việc vua Duy Tân bôn tẩu (1916), vụ mưu sát Toàn quyền Merlin của Tâm Tâm Xã (1924), cuộc Khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân Đảng (1930) làm chính phủ Bảo hộ phải luôn tìm cách trấn áp.
Để vô hiệu hóa sức đề kháng của dân bản xứ, chính phủ Bảo hộ thường tuyên truyền đề cao những nhân vật và sự kiện lịch sử với nước Pháp ở cương vị nhân từ, dìu dắt và bảo vệ người bản xứ như trường hợp Giám mục Bá Đa Lộc. Với cao trào đòi độc lập, chính quyền Bảo hộ còn đưa ra chính sách “Pháp Việt Đề huề” để vận động đường lối hợp tác giữa người Pháp và các dân tộc Đông Dương, nhất là dân Việt.
Ngoài việc vận động tâm lý, người Pháp còn duy trì một lực lượng quân sự để củng cố quyền lực. Lực lượng này gồm lính chính quy Pháp và quân bản xứ, thường gọi là lính tập. Đội quân này được dùng trong việc đánh dẹp cũng như canh gác, giữ trật tự xã hội theo quan niệm của nhà nước Bảo hộ.
Vào đầu thập niên 1930 thì có khoảng 10.000 tù nhân chính trị trong các nhà tù lớn nhỏ ở Đông Dương.[82]

Giải thể

Nhật Bản nhập cuộc

Năm 1941 Quân đội Đế quốc Nhật Bản thời Đệ nhị Thế chiến tiếp thu Đông Dương với sự thỏa thuận của chính phủ Vichy theo thỏa ước giữa đại sứ Pháp Charles Arsènes-Henry ở Tokyo và ngoại trưởng Yōsuke Matsuoka ký hồi 30 Tháng Tám, 1940.[83][84] Theo đó thì Nhật Bản được rộng quyền điều hành quân sự trên toàn cõi Đông Dương chống lại phe Đồng Minh nhưng người Pháp vẫn duy trì bộ máy cai trị của nhà nước Bảo hộ và Nhật công nhận chủ quyền của Pháp.

Tranh chấp với Xiêm

Trong khi đó thì triều đình Xiêm La của Thủ tướng Plaek Pibulsongkram nhân khi thấy quyền lực của Pháp ở Đông Dương bị suy yếu nên tìm cách đòi lại lãnh thổ cũ ở Lào và Cao Miên bị Pháp chiếm đoạt vào năm 1907. Thất bại về mặt ngoại giao, Xiêm điều quân đến gần biên giới rồi mở cuộc tấn công và chiếm toàn phần đất Lào ở hữu ngạn sông Mê Kông vào ngày 19 Tháng Giêng, 1941. Không quân Xiêm thì mở cuộc oanh kích nhiều địa điểm ở tỉnh Battambang và tiến chiếm được tỉnh lỵ. Về mặt bể thì hải quân Pháp và hải quân Xiêm nổ súng ở khu vực đảo Chang. Ba chiến thuyền của Xiêm bị đánh chìm nhưng vì áp lực của Đế quốc Nhật Bản, chính phủ Đông Dương của toàn quyền Jean Decoux phải giảng hòa rồi nhượng lại cho Xiêm những tỉnh Battambang, Sisophon và Siemreap của Cao Miên ngày 11 Tháng Ba, 1941, chấm dứt cuộc xung đột vũ trang giữa Xiêm và Đông Pháp.[85]

Nhật đảo chính Pháp

Thỏa hiệp giữa Pháp và Nhật kéo dài bốn năm cho đến ngày 9 Tháng Ba, 1945 thì Nhật Bản đột ngột tuyên bố trao quyền cho các chính quyền bản xứ và ra lệnh tống giam nhiều viên chức Pháp. Ngày 11 Tháng Ba, đại sứ Yokoyama Masayuki vào Đại Nội Huế yết kiến vua Bảo Đại và chứng kiến lời tuyên cáo độc lập của Đế quốc Việt Nam.[86] Ngày 13 Tháng Ba, vua Cao Miên cũng theo gương Bảo Đại rồi đến ngày 8 Tháng Tư thì quốc vương Lào cũng tuyên bố độc lập.[87] Ngày 17 Tháng Tư thì Thủ tướng Trần Trọng Kim trình diện với danh sách nội các để chấp chính nhưng đến Tháng Tám năm 1945 khi Nhật tuyên bố đầu hàng phe Đồng Minh thì Pháp xúc tiến việc tái chiếm Đông Dương và lập lại Liên bang Đông Dương.
Ngay từ Tháng Chạp năm 1943 Charles De Gaulle, người lãnh đạo lực lượng Pháp bấy giờ lưu vong ở Algiers đã tuyên bố ý định tái lập chủ quyền của Pháp trên các xứ Đông Dương.[88] Lực lượng Việt Minh cũng ra quân đoạt chính quyền, mở đầu cho cuộc chiến tranh Đông Dương kéo dài chín năm trước khi thể chế cai trị của Pháp ở Đông Dương mới chính thức cáo chung vào năm 1954.
Trong thời gian chín năm cuối, người Pháp có thay đổi ít nhiều cơ chế hành chánh: bỏ chức vụ “toàn quyền” và thay bằng “cao ủy” rồi “tổng ủy”; thống đốc Nam Kỳ, khâm sứ Trung Kỳ hay thống sứ Bắc Kỳ thì thay bằng “ủy viên cộng hòa”. Ngoài ra chính phủ Pháp cũng hứa hẹn cải tổ bằng cách mở rộng ngành giáo dục và hướng tới dân chủ tự trị trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp.[88]

Xem thêm

Tham khảo

  • Bernard, Paul. “L’Avenir économique de l’Indochine”. Illustration: número spécial sur l’Indochine. Paris: Société nationale des Enterprises de Presse, 1949.
  • Pierre Brocheux và Daniel Hémery. Indochina, An Ambiguous Colonization, 1858-1954. Berkeley, CA: University of California Press, 2009.
  • Cherry, Haydon. “Social Communication and Colonial Archeology in Viêt Nam.” New Zealand Journal of Asian Studies 6, 2 (December, 2004).
  • Cooper, Nicola. France in Indochina, Colonial Encounters. Oxford, UK: Berg, 2001.
  • Dương Quảng Hàm. Quốc văn trích diễm. Paris: Institut de l’Asie du Sud-Est, 1989.
  • Đào Duy Anh. Việt Nam văn hóa sử cương. Houston: Xuân Thu, ?.
  • Dommen, Arthur. The Indochinese Experience of the French, and the Americans, Nationalism and Communism in Cambodia, Laos, and Vietnam. Bloomington, IN: Đại học Indiana Press, 2001.
  • Goodman, Allan E. Politics in War. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1973.
  • Goscha, Chritopher E. “Widening the Colonial Encounter: Asian Connections Inside French Indochina During the Interwar Period”. Modern Asian Studies. Cambridge, UK: Cambridge University Press, 2008.
  • Kahin, George, et al. Indochina in the 1940s and 1950s. Cornell, NY: Cornell Southeast Asia Program, 1992.
  • Lévi, Sylvain. Indochine. Paris: Société d’Editions Géographique, Maritimes et Coloniales, 1931.
  • Hà Thúc Ký. Sống còn với Dân tộc, hồi ký chính trị. ?: Phương Nghi, 2009.
  • Henri Rusier, Henri Brenier. L’Indochine française. Paris: Librairie Armand Colin, 1911.
  • Ho Tai, Hue-Tam. ‘Radicalism and the Origins of the Vietnamese Revolution. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1992.
  • Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002.
  • Marr, David. Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945. Berkeley, CA: University of California Press, 1984.
  • Ngô Văn. Việt Nam 1920-1945. Montreuil: L’Insomniaque/Chuông rè, 2000.
  • Nguyên Hương Nguyễn Cúc. Saigon 300 năm cũ. Dallas, TX: Tiếng Sông Hương, 1999.
  • Nguyễn Thị Chân Quỳnh. Thi hương, Tập thượng. Paris: An Tiêm, 2002.
  • Norindr, Panivong. Phantasmatic Indochina. Durham, NC: Duke University Press. 1996.
  • Russier, Henri & Henri Brenier. L’Indochine française. Paris: Librairie Armand Colin, 1911.
  • Samelink, Oscar. “One Country, Many Journeys”. Vietnam, Journeys of Body, Mind, and Spirit. Berkeley, CA: University of California Press, 2003.
  • Smith, Harvey et al. Area Handbook for South Vietnam. Washington, DC: US Government Printing Office, 1967.
  • Vu Tam Ich. “A Historical Survey of Educational Developments in Vietnam”. Bulletin of the Bureau of School Service Vol XXXII, No 2. Lexington, KY: University of Kentucky, College of Education, 1959.

Chú thích

  1. ^ Brocheur. tr 78-9
  2. ^ a ă Dommen, Arthur. Trang 22.
  3. ^ Vu Tam Ich. tr 60
  4. ^ a ă â b c d đ Duncanson, Dennis. Government and Revolution in Vietnam. New York: Oxford University Press, 1968. tr 72-139
  5. ^ Đào Duy Anh. Trang 161.
  6. ^ Vu Tam Ich. tr 61
  7. ^ a ă â Vũ Ngự Chiêu. Political and Social Change in Viet-Nam between 1940 and 1946. Madison, WI: The University of Wisconsin, 1984. tr 67-116
  8. ^ Hoàng Cơ Thụy. Trang 1339.
  9. ^ a ă â Đào Duy Anh. tr 155
  10. ^ Dommen, Arthur. Trang 23.
  11. ^ Hà Thúc Ký. tr 33
  12. ^ Hoàng Cơ Thụy. Trang 1353.
  13. ^ Brocheux. tr 84
  14. ^ Pierre Brocheux và Daniel Hémery. Indochina, An Ambiguous Colonization, 1858-1954. Berkeley, CA: University of California Press, 2009. tr 74
  15. ^ Hoàng Cơ Thụy. Trang 1511.
  16. ^ [1] Bách khoa toàn thư
  17. ^ Brocheur. tr 84
  18. ^ Russier, Henri & Henri Brenier. tr 318
  19. ^ Pierre Brocheux và Daniel Hémery. Indochina, An Ambiguous Colonization, 1858-1954. Berkeley, CA: University of California Press, 2009. tr 15-69
  20. ^ Henri Rusier, Henri Brenier. Trang 351.
  21. ^ Goodman, Allan E. tr 14
  22. ^ Pierre Brocheux và Daniel Hémery. Indochina, An Ambiguous Colonization, 1858-1954. Berkeley, CA: University of California Press, 2009. tr 70-115
  23. ^ Huy Đức. Bên thắng cuộc II: Quyền bính. Sài Gòn: Osinbook, 2012. Tr 245
  24. ^ [2] Vịnh Bắc Việt và Công ước 1887 Pháp-Thanh
  25. ^ Lê Đình Chi. Người Thượng Miền Nam Việt Nam. Gardena, CA: Văn Mới, 2006. 407-450.
  26. ^ [3] “The Paracels, the ‘other’ South China Sea Dispute” 2001.
  27. ^ [4] “Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến tranh chấp chủ quyền của Việt Nam tại Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.
  28. ^ Bernard, Paul. “L’Avenir économique de l’Indochine”. Illustration: número spécial sur l’Indochine. Paris: Société nationale des Enterprises de Presse, 1949.
  29. ^ Cucherousset, Henri. L’Indochine d’hier et d’aujourd’hui. Hanoi: L’É veil Économique, 1926. Tr 46.
  30. ^ Hoàng Cơ Thụy. Trang 1500.
  31. ^ Bernard, Paul.
  32. ^ L’épopée du caoutchouc, en 1926
  33. ^ Dommen, Arthur. Trang 29.
  34. ^ a ă Cục Đường sắt Nhật Bản (1920). An official guide to Eastern Asia, Vol. V, EAST INDIES (bằng tiếng Anh) . Tokyo, Nhật Bản. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2009.
  35. ^ Brocheur. tr 81
  36. ^ Bianconi, F. Cartes Commerciales Tonkin. Paris: Imprimerie et Libraire centrales dé Chemins de fer, 1886.
  37. ^ Hoàng Cơ Thụy. tr 1505
  38. ^ [5] “Golden Triangle Opium Trade, an Overview”
  39. ^ Logan, William S. Trang 79.
  40. ^ [6] Định tường ngày xưa
  41. ^ Hoàng Cơ Thụy. Trang 1495.
  42. ^ Foreign Office and the Board of Trade, ed. Report for the Year 1908 on the Trade of French Indo-China. London: Harrison and Sons, 1909.
  43. ^ Cherry, Haydon. tr 123
  44. ^ Saigon 1882
  45. ^ [7] Tàu điện Sài Gòn và Hà Nội
  46. ^ Hy V Luong. Tradition, Revolution, and Market Economy in a North Vietnamese Village, 1925-2006. Honolulu: University of Hawai’i Press, 2010. tr 25-50
  47. ^ Dommen, Arthur. Trang 28.
  48. ^ Hoàng Cơ Thụy. tr 1523
  49. ^ Lévi, Sylvain. Trang 210-1.
  50. ^ a ă Goscha, Christopher E. tr 5
  51. ^ Nguyên Hương Nguyễn Cúc. Trang 293.
  52. ^ Marr, David. Trang 24.
  53. ^ Hoàng Cơ Thụy. tr 1522.
  54. ^ Smith, Harvey et al. tr 87
  55. ^ Marr, David. Trang 25.
  56. ^ Marr, David. Trang 23-4.
  57. ^ Salemink, Oscar. Trang 27.
  58. ^ Ho Tai. Tr 219
  59. ^ [8] Thiểu số người Việt trên đất Miên.
  60. ^ [9] Xiêm, Miên, Lào 1800-1950
  61. ^ Marr, David. tr 25
  62. ^ [10] Người Việt trên đất Lào thời Pháp thuộc.
  63. ^ a ă [11] Thi cử và nền Giáo dục Việt Nam dưới thời Pháp thuộc – Trần Bích San
  64. ^ a ă â b c Pierre Brocheur và Daniel Hémery. Indochina, An Ambiguous Colonization 1858-1954. Berkeley: University of California Press, 2009. tr 217-49
  65. ^ Nguyễn Thị Chân Quỳnh. Trang 104.
  66. ^ Dương Quảng Hàm. tr XXI
  67. ^ Nguyễn Thị Chân Quỳnh. Trang 35.
  68. ^ a ă Trường Pháp-Nam
  69. ^ Norindr, Panivong. Trang 45.
  70. ^ Vu Tam Ich. tr 77
  71. ^ [12] Giáo dục Pháp-Miên thời kỳ thuộc địa.
  72. ^ Cooper, Nicola. Trang 36.
  73. ^ [13] Trang về Viện Pasteur Đông Dương
  74. ^ Cooper, Nicola. Trang 30-1.
  75. ^ [14] Lịch sử Viện Viễn Đông Bác cổ
  76. ^ Goloubew, Victor. “Art et Archélogie de l’Indochine”. L’Indochine Française. Hanoi: Imprimerie G Taupin & Cie, 1938. tr 123
  77. ^ Ho Tai, Hue-Tam. tr 42
  78. ^ Ho Tai, Hue-Tam. tr 288
  79. ^ Hà Thúc Ký. tr 36
  80. ^ Norindr, Panivong. Trang 9.
  81. ^ Dommen. Trang 21.
  82. ^ Marr, David. tr 308
  83. ^ Hà Thúc Ký. tr 52
  84. ^ George Kahin, et al. tr 97
  85. ^ Punnee Soonpornthoct. From Freedom to Hell, A History of Foreign Interventions in Cambodian Politics and Wars. New York: Vantage Press. tr 29
  86. ^ Nguyễn Ngọc Phách. Chữ Nho và đời sống mới. Melbourne: Hải Ngoại, 2004. Trang 525
  87. ^ Ngô Văn. tr 299
  88. ^ a ă 45-54 Chín năm khói lửa

Mẹ Têrêsa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mẹ Teresa

Nobel medal dsc06171.jpg
Mother Teresa
Tôn giáo Công giáo Rôma
Cấp bậc Dòng Thừa sai Bác Ái
Cá nhân
Quốc tịch Ấn Độ
Tên khai sinh Agnes Gonxhe Bojaxhiu
26 tháng 8, 1910
Üsküp, Đế quốc Ottoman (nay là Skopje, Cộng hòa Macedonia)
Ngày mất 5 tháng 9, 1997 (87 tuổi)
Calcutta, Ấn Độ
Chức vụ
Chức danh Bề trên tổng quyền
Nhiệm kỳ 1950–1997
Kế nhiệm Nirmala Joshi

Mẹ Teresa (Tiếng Albania: Agnes Gonxha Bojaxhiu, tiếng Macedonia: Агнес Гонџа Бојаџиу, Latinic: Agnes Gondža Bojadžiu; IPA: [‘agnɛs ‘gɔndʒa bɔ’jadʒu]), còn được gọi là Mẹ Teresa Calcutta (26 tháng 8, 19105 tháng 9, 1997) là nữ tu Công giáo Rôma người Albania, và là nhà sáng lập Dòng Thừa sai Bác ÁiKolkata (Calcutta), Ấn Độ năm 1950. Trong hơn bốn mươi năm, bà chăm sóc người nghèo, bệnh tật, trẻ mồ côi, người hấp hối, trong khi hoàn tất nhiệm vụ lãnh đạo dòng tu phát triển khắp Ấn Độ, và đến các quốc gia khác.
Năm 1970, Mẹ Teresa trở nên một nhân vật toàn cầu nổi tiếng với các hoạt động nhân đạo cứu giúp người nghèo và những người sống trong hoàn cảnh tuyệt vọng, một phần là nhờ một quyển sách và cuốn phim tư liệu tựa đề Something Beautiful for God của Malcome Muggeridge. Bà được trao Giải Nobel Hòa bình năm 1979 như một sự vinh danh cho các hoạt động nhân đạo của bà.
Dòng Thừa sai Bác ái của Mẹ Teresa tiếp tục phát triển, đến thời điểm bà từ trần, tổ chức từ thiện này đang điều hành 610 cơ sở truyền giáo tại 123 quốc gia, trong đó có các nhà trọ và nhà tình thương có người mắc bệnh HIV/AIDS, cũng như bệnh nhân phong và lao, các bếp ăn từ thiện, các chương trình tư vấn cho gia đình và trẻ em, các trại mồ côi, và trường học.
Mặc dù Teresa được tôn vinh bởi nhiều cá nhân, chính quyền và các tổ chức, bà cũng là mục tiêu của không ít chỉ trích từ những người như Christopher Hitchens, Aroup Chatterjee, và Vishva Hindu Parishad. Thường thì những phê phán này nhắm vào nỗ lực cải đạo trong công tác từ thiện, trong đó có việc rửa tội cho những người sắp chết; lập trường cứng rắn chống phá thai, và niềm tin cho rằng sự nghèo khó sản sinh những lợi ích tâm linh.
Sau khi mất, bà được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong chân phước.[1][2]

Thiếu thời

Agnes Gonxha (tiếng Albania nghĩa là “chồi hồng”) Bojaxhiu chào đời ngày 26 tháng 8 năm 1910 tại Skopje, lúc đó là thủ phủ của tỉnh Kossovo Vilayet thuộc Đế quốc Ottoman; nay là thủ đô Cộng hòa Macedonia.[3] là con út của một gia đình đến từ Shkodër, Albania, cha mẹ của cô là Nikola và Dranafile (tiếng Albania nghĩa là “hoa hồng”) Bojaxhiu. Nikola có hoạt động chính trị tại Albania. Năm 1919, sau một cuộc hội họp ông ngã bệnh và qua đời khi Agnes mới lên tám.[3] Sau khi bố mất, mẹ nuôi dưỡng cô trong đức tin Công giáo Rôma. Theo người viết tiểu sử Teresa, Joan Graff Clucas, từ khi còn thơ ấu, Agnes đã ham thích đọc các câu chuyện về cuộc đời các thừa sai và hoạt động của họ, đến tuổi 12 cô tin rằng nên hiến mình cho đời sống tôn giáo.[4] Năm 18 tuổi, cô gia nhập Dòng Nữ tu Loreto, từ đó cô không bao giờ gặp lại mẹ và chị.[5]
Trước tiên, Agnes đến Tu viện Loreto ở Rathfarnham, Ái Nhĩ Lan để học tiếng Anh, ngôn ngữ dòng Loreto dùng để dạy học tại Ấn Độ.[6] Cô đến Ấn Độ năm 1929, và bắt đầu cuộc đời nữ tu tập sinh tại Darjeeling, gần dãy Himalaya.[7] Ngày 24 tháng 5 năm 1931, cô làm lễ tiên khấn để trở thành nữ tu. Cô chọn tên Teresa theo tên Thérèse de Lisieux, thánh bổn mệnh của các thừa sai.[8] Ngày 14 tháng 5 năm 1937, Teresa khấn trọn đời, khi ấy cô đang dạy học tại trường Loreto ở phía đông Calcutta.[9][10]
Mặc dù bận rộn với nhiệm vụ giảng dạy tại trường, Teresa ngày càng quan tâm đến cuộc sống nghèo khổ nhan nhản chung quanh cô tại Calcutta.[11] Nạn đói năm 1943 mang nhiều điều bất hạnh và chết chóc đến thành phố; rồi các cuộc bạo động giữa người Hindu và người Hồi giáo trong tháng 8 năm 1946 nhấn chìm thành phố này trong nỗi kinh hoàng và sự tuyệt vọng.[12]

Dòng Thừa sai Bác ái

Ngày 10 tháng 9 năm 1946, Teresa trải nghiệm điều mà cô miêu tả là “ơn gọi trong ơn gọi” khi cô đang trên đường đến Tu viện Loreto ở Darjeering cho thời kỳ tĩnh tâm hằng năm. “Tôi phải rời tu viện để giúp đỡ người nghèo và sống chung với họ. Đó là mệnh lênh. Không chịu tuân theo có nghĩa là đánh đổ đức tin.”[13] Năm 1948, Teresa khởi đầu công tác thừa sai giữa người nghèo, cô thay bộ áo truyền thống của dòng Loreto bằng trang phục chira giản dị bằng vải cotton viền màu lam. Cô nhập tịch Ấn, và đi vào các khu nhà ổ chuột.[14][15] Trước tiên, Teresa mở một trường học ở Motjhil, rồi bắt đầu chăm sóc những người bần cùng đói khát.[16]
Teresa viết trong nhật ký rằng năm đầu tiên cô gặp vô số khó khăn. Vì không có nguồn cung ứng tài chính, cô phải phụ thuộc vào hoạt động quyên góp thực phẩm và nhu yếu phẩm. Trong những tháng đầu, cô phải đấu tranh với sự hoài nghi, đơn độc và sự cám dỗ quay trở lại cuộc sống tiện nghi trong tu viện. Teresa ghi lại trong nhật ký:

Chúa chúng ta muốn tôi phải là một nữ tu tự do ẩn mình dưới sự nghèo khó của thập tự giá. Hôm nay tôi học được một bài học hay. Sự nghèo khổ của người nghèo thật là nghiệt ngã. Trong khi tìm kiếm một ngôi nhà, tay chân tôi đau nhức vì đi bộ. Tôi suy nghĩ, người nghèo còn chịu đựng sự nhức nhối bội phần hơn trong thể xác và linh hồn khi tìm kiếm một chỗ trú thân, thức ăn và sức khỏe. Khi ấy, cuộc sống tiện nghi tại Loreto xuất hiện đầy quyến rũ. ‘Chỉ cần nói một lời, tất cả sẽ trở lại với cô,’ Kẻ cám dỗ cứ tiếp tục nói…. Chúa ôi, đây là sự tự nguyện, vì con yêu Chúa, con muốn ở lại và làm bất cứ điều gì theo Thánh Ý. Con không khóc đâu, dù chỉ một giọt lệ.[17]

Mẹ Teresa,Tranh khắc nổi tại một tòa nhà ở quảng trường Václavské náměstí, Olomouc, (Cộng hòa Séc)

Ngày 7 tháng 10 năm 1950, Vatican chấp thuận cho Teresa khởi đầu một dòng tu sau này trở thành Dòng Thừa sai Bác ái.[18] Sứ mạng của dòng là chăm sóc, theo lời Teresa, “người đói khát, trần truồng, kẻ không nhà, người tàn tật, người mù, bệnh nhân phong, bất cứ ai đang cảm thấy thừa thãi, bị căm ghét, ruồng bỏ trong xã hội, những người đang là gánh nặng của xã hội và bị mọi người xa lánh.” Tiên khởi chỉ là một dòng tu nhỏ với 13 tập sinh ở Calcutta; ngày nay có hơn 4 000 nữ tu điều hành các cô nhi viện, trại điều dưỡng AIDS, và các trung tâm từ thiện trên khắp thế giới. Dòng tu cũng chăm sóc người tị nạn, người khuyết tật, già lão, nghiện rươu, người nghèo và người vô gia cư, nạn nhân lũ lụt, dịch bệnh, và nạn đói.[19]
Năm 1952, Mẹ Teresa mở ngôi nhà đầu tiên chăm sóc người sắp chết. Với sự hỗ trợ từ các viên chức Ấn, bà cho sửa một ngôi đền Ấn giáo hoang phế thành Nhà Kalighat cho người Hấp hối, một trại điều dưỡng miễn phí cho người nghèo. Sau này bà đổi tên thành Kalighat, Nhà Thanh Tâm (Nirmal Hriday).[20] Những người được mang đến đây được chăm sóc y tế và được chết trong nhân phẩm, được chôn cất theo niềm tin tôn giáo của họ; người Hồi giáo được đọc kinh Quran, người Hindu được tẩy rửa bằng nước sông Hằng, và người Công giáo được làm lễ xức dầu thánh.[21] “Một cái chết đẹp”, bà nói, cho những người từng sống kiếp thấp hèn như những con vật, nhưng chết như những thiên thần – được yêu thương và được trọng vọng.”[21] Không lâu sau đó, bà mở một ngôi nhà cho những người mắc bệnh Hansen (phong cùi), đặt tên là Shanti Nagar (Thành phố Hòa bình).[22] Dòng Thừa sai Bác ái cũng thành lập một số cơ sở y tế mở rộng trên khắp Calcutta, cung cấp thuốc men, thực phẩm.
Năm 1955, Teresa mở Nirmala Shishu Bhavan, Nhà Trái tim Vô nhiễm đón tiếp trẻ mồ côi và thanh thiếu niên vô gia cư.[23]
Dòng tu ngày càng thu hút nhiều tập sinh và nhận nhiều đóng góp từ thiện. Đến thập niên 1960, Dòng Thừa sai Bác ái thành lập các nhà điều dưỡng, trại mồ côi, và trại phong trên khắp Ấn Độ, rồi phát triển trên khắp thế giới. Ngôi nhà đầu tiên ngoài Ấn Độ được thành lập ở Venezuela năm 1965 với năm nữ tu.[24] Năm 1968, đến La Mã, Tanzania, và Áo. Trong thập niên 1970, dòng tu thiết lập các ngôi nhà và tổ chức trong hơn mười quốc gia ở châu Á, châu Phi, châu Âu, và Hoa Kỳ.[25]
Tuy nhiên, triết lý hành động của bà gặp phải một số chỉ trích. Trong khi nhìn nhận rằng không có nhiều chứng cứ được đưa ra để chống lại Teresa, David Scott nhận xét rằng bà tự giới hạn mình trong phạm vi hoạt động nhằm cứu sống người khác thay vì nỗ lực giải quyết nạn nghèo đói.[26] Quan điểm của Teresa về sự đau khổ cũng bị phê phán bởi một bài viết đăng trên tuần báo Alberta Report của Canada, vì bà cho rằng sự đau khổ sẽ đem con người đến gần Chúa Giê-xu hơn.[27] Các tạp chí y khoa, nhất là The LancetBritish Medical Journal, tỏ ra quan ngại về cách chăm sóc bệnh nhân thời kỳ cuối tại những nhà dành cho người hấp hối, ghi nhận việc tái sử dụng kim tiêm dưới da, điều kiện sống tồi tệ, trong đó có việc tắm lạnh tất cả người bệnh, và không áp dụng phương pháp chẩn đoán phối hợp.[28]
Nhà báo Christopher Hitchens là một trong số những người phê phán Teresa mạnh mẽ nhất. Ông được giao viết kịch bản và thuyết minh cuốn phim tài liệu Hell’s Angel của Kênh 4 Anh Quốc về Teresa sau khi Aroup Chatterjee khuyến khích thực hiện chương trình này, mặc dù Chatterjee cũng không hài lòng với “các tiếp cận đầy cảm xúc” của cuốn phim.[29] Trong cuốn “The Missionary Position” (1995) của ông, Hitchens chỉ trích Teresa nặng nề hơn.[29]
Chatterjee viết rằng sinh thời Mẹ Teresa và những người viết tiểu sử chính thức của bà từ chối hợp tác với ông trong cuộc điều tra, và bà không thể tự biện hộ trước những phê phán trên báo chí phương Tây. Ông dẫn một bài viết từ tờ The Guardian của Anh đưa ra những “chi tiết phê phán về điều kiện sống tại những trại mồ côi của bà….những cáo buộc về sự vô tâm cũng như những lạm dụng thể xác và tình cảm”, cũng có một phim tài liệu khác, Mother Teresa: Time for Change? phát sóng tại vài nước châu Âu.[29] Trong số những người chỉ trích Teresa còn có Tariq Ali, một thành viên của ban biên tập của tờ New Left Review ở Anh, và một nhà báo điều tra sinh trưởng ở Ái Nhĩ Lan Donald MacIntyre. Do lập trường của mình, cả Chatterjee và Hitchens cũng trở thành những đối tượng bị chỉ trích.
Vào dịp kỷ niêm năm thứ nhất ngày mất của Mẹ Teresa, Tạp chí Stern của Đức cho đăng một bài viết về những cáo buộc liên quan đến các vấn đề tài chính, và việc sử dụng các khoản quyên góp. Các tạp chí y học cũng đưa ra những chỉ trích làm dấy lên các quan điểm khác nhau về những ưu tiên đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân.[28]
Christopher Hitchens, nhân chứng duy nhất được Vatican đề nghị trình bày chứng cứ chống lại việc phong chân phước và phong thánh cho Teresa,[30] lập luận rằng, “bà không có ý định giúp đỡ người khác”, ông cũng cáo buộc bà đã nói dối những người hiến tặng về việc sử dụng những khoản đóng góp của họ. “Nhờ nói chuyện với bà, tôi phát hiện ra rằng bà không làm việc để xóa nghèo,” lời của Hitchens, “Bà làm việc để gia tăng số giáo dân Công giáo. Bà nói, ‘Tôi không phải là nhân viên công tác xã hội. Tôi làm việc không phải vì mục tiêu này. Tôi làm thế là cho Chúa Ki-tô. Tôi làm thế là cho giáo hội.’”[31]

Quốc tế

Năm 1982, khi cuộc bao vây Beirut lên đến đỉnh điểm, Mẹ Teresa đã thành công trong nỗ lực giải cứu 37 trẻ em mắc kẹt trong một bệnh viện giữa mặt trận bằng cách đàm phán cho một cuộc ngừng bắn giữa quân đội Israel và du kích Palestine.[32] Được các nhân viên Hồng Thập Tự hộ tống, bà băng qua trận địa để đến ngôi bệnh viện đổ nát và giải cứu các bệnh nhi[33]
Khi Đông Âu bắt đầu mở cửa vào cuối thập niên 1980, Teresa cho tiến hành hàng chục đề án tại các quốc gia trong vùng. Không hề nao núng khi bị chỉ trích về lập trường cứng rắn của bà về việc chống phá thai và li dị, bà chỉ nói, “Người ta nói gì cũng mặc, bạn chỉ cần cười và tiếp tục công việc của mình.”
Mẹ Teresa đã đến Ethiopia cứu giúp những người bị nạn đói, đến Chernobyl giúp người nạn nhân phóng xạ, và đến với nạn nhân động đất ở Armenia.[34][35][36] Năm 1991, lần đầu tiên bà trở lại quê hương và mở ngôi nhà Dòng Thừa sai Bác ái tại Tirana, Albnia.
Năm 1966, bà điều hành 517 cơ sở từ thiện trên hơn 100 quốc gia.[37] Trải qua nhiều năm, Dòng Thừa sai Bác ái của Mẹ Teresa từ thành phần nhân sự chỉ 12 người đã phát triển đến hàng ngàn người phục vụ “những người nghèo nhất của dân nghèo” tại 450 trung tâm trên khắp thế giới.

Cuối đời

Mẹ Teresa bị cơn đau tim khi đến Rôma năm 1983 trong chuyến viếng thăm Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Sau cơn đau tim thứ hai năm 1989, bà được đặt máy tạo nhịp tim nhân tạo. Năm 1991, sau khi mắc bệnh cúm lúc đang ở Mexico, bệnh tim trở nặng. Bà muốn từ nhiệm khỏi vị trí lãnh đạo Dòng Thừa sai Bác ái, nhưng các nữ tu, trong một cuộc bỏ phiếu kín, yêu cầu bà ở lại. Mẹ Teresa đồng ý tiếp tục công việc lãnh đạo dòng tu.
Tháng 4 năm 1996, bà bị té ngã gãy xương đòn, rồi phải qua lần phẫu thuật tim, sức khỏe bà suy giảm rõ. Ngày 13 tháng 3 năm 1997, Mẹ Teresa từ chức lãnh đạo dòng tu, và từ trần ngày 5 tháng 9 năm 1997.
Tổng Giám mục Calcutta, Henry Sebastian D’Souza, thuật lại rằng ông cho một linh mục đến làm phép đuổi quỷ cho Teresa với sự cho phép của bà trong lần đầu bà vào bệnh viện khi bị đau tim, vì bà nghĩ rằng bà đang bị ma quỷ tấn công.[38]
Vào thời điểm Mẹ Teresa từ trần, dòng tu của bà có hơn 4 000 nữ tu, với sự hỗ trợ của 300 tu sĩ, và hơn 100 000 người tình nguyện. Họ điều hành 610 cơ sở từ thiện tại 123 nước, trong đó có các nhà tế bần, những ngôi nhà mở cho người mắc bệnh HIV/AIDS, người phong cùi, lao, các nhà bếp cung cấp thức ăn, các chương trình tư vấn gia đình và trẻ em, trại mồ côi, và trường học.

Vinh danh

Ấn Độ

Mẹ Teresa được quàng ở Nhà thờ St Thomas, Kolkata trong một tuần trước khi được an táng vào tháng 9 năm 1997. Chính phủ Ấn Độ tuyên bố quốc tang để vinh danh con người từng cứu giúp nhiều người nghèo khổ thuộc các tôn giáo khác nhau trên đất nước Ấn.[39] Trước đó năm 1962, bà được chính phủ Ấn trao giải Padma Shri. Trong những thập niên kế tiếp bà được trao tặng các giải thưởng lớn như Giải Jawaharlal Nehru cho sự Hiểu biết Quốc tế (năm 1972), và năm 1980 là giải thưởng dân sự cao quý nhất Ấn Độ, Bharat Ratna Tuy nhiên, tại Ấn Độ, cũng có những nhận định khác về Teresa. Aroup Chatterjee, một bác sĩ sinh trưởng ở Calcutta nhưng sống ở Luân Đôn và từng làm việc cho Dòng Thừa sai Bác ái, cho rằng Teresa đã quảng bá một hình ảnh tiêu cực về thành phố này.[29]. Đảng Bharatiya Janata (BJP) từng bất đồng với Teresa về những người thuộc đảng cấp Dalit (hạ tiện) theo Cơ Đốc giáo, nhưng khi bà mất, họ đã lên tiêng ca tụng và cử đại diện đến dự tang lễ. Gần đây hơn, nhật báo The Telegraph của Ấn Độ từng gọi Mẹ Teresa là “vị thánh của những người khốn cùng”, lại kêu gọi “Rôma nên điều tra xem có phải bà không chịu làm gì để thay đổi điều kiện sống tồi tệ của người nghèo, mà chỉ lo chăm sóc người bệnh và người hấp hối, và sử dụng họ cho mục tiêu khơi gợi xúc cảm đạo đức.”[40]

Thế giới

Năm 1962, Mẹ Teresa được trao giải Ramon Magsaysay về sự Hiểu biết Quốc tế cho những hoạt động của bà ở Đông và Nam Á, “Ban Quản trị nhìn nhận sự nhận thức sâu sắc và đầy thương cảm của bà dành cho những người nghèo khó ở một xứ sở xa lạ.”[41] Đến đầu thập niên 1970, Mẹ Teresa trở nên một nhân vật nổi tiếng thế giới, phần lớn là do cuốn phim tài liệu Something Beautiful for God do Malcom Muggeridge sản xuất năm 1969, cũng như quyển sách cùng tên của ông xuất bản năm 1971.[42] Khi thực hiện cuốn phim, có những đoạn phim phải quay trong điều kiện ánh sáng không tốt, nhất là tại Nhà dành cho người Hấp hối, đoàn làm phim nghĩ rằng sẽ không thể sử dụng những thước phim này. Tuy nhiên, khi trở về từ Ấn Độ, chúng lại có ánh sáng rất tốt. Muggeridge cho đó là phép lạ do “ánh sáng thần thượng” từ Mẹ Teresa.[43] Những người khác trong đoàn làm phim thì nghĩ rằng đó là nhờ loại phim cực nhạy của Kodak.[44] Về sau, Muggeridge chấp nhận đức tin Công giáo.

Cùng lúc, thế giới Công giáo khởi sự tôn vinh Mẹ Teresa. Năm 1971, Giáo hoàng Phaolô VI trao tặng bà Giải Hòa bình Giáo hoàng Gioan XXIII lần thứ nhất, khen ngợi bà về những gì đã làm cho người nghèo, thể hiện lòng nhân ái Kitô và nỗ lực đấu tranh cho hòa bình.[45] Năm 1976, bà được trao Giải Pacem in Terris.[46] Sau khi mất, giáo hội đẩy mạnh qui trình phong thánh cho Mẹ Teresa, hiện bà đã được phong chân phước.
Các chính phủ và những tổ chức dân sự cũng tìm đến tôn vinh Mẹ Teresa. Vương quốc Anh và Hoa Kỳ nhiều lần trao tặng bà giải thưởng các loại, cao quý nhất là Order of Merit của Anh Quốc năm 1983, và công dân danh dự của Mỹ ngày 16 tháng 11 năm 1996. Quê hương Albania của Mẹ Teresa cũng dành cho bà Huân chương Vàng Nhà nước năm 1994.
Năm 1979, Mẹ Teresa được trao tặng Giải Nobel Hòa bình cho “những hoạt động diễn ra trong sự đấu tranh vượt qua sự nghèo khó và cùng quẫn, là những điều đe dọa hòa bình.” Bà từ chối bữa tiệc mừng truyền thống và yêu cầu gởi số tiền 192 000 USD cho người nghèo ở Ấn Độ,[47] nói rằng những phần thưởng trên thế gian chỉ có giá trị chỉ nào chúng giúp ích những người thiếu thốn trên thế giới. Khi nhận giải thưởng, bà đặt câu hỏi, “Chúng ta có thể làm gì để thăng tiến nền hòa bình thế giới?”, và đưa ra câu trả lời, “Hãy về nhà và yêu chính gia đình mình.” Bài đáp từ của Mẹ Teresa cũng dựa trên chủ đề này, “Khắp nơi trên thế giới, không chỉ ở những nước nghèo, tôi thấy xóa nghèo ở phương Tây còn khó khăn hơn. Khi tôi nhặt một người ngoài đường phố, đang đói khát, tôi cho người ấy một đĩa cơm, một miếng bánh, tôi cảm thấy hài lòng vì đã cứu đói cho người ấy. Nhưng khi một người bị gạt bỏ, cảm thấy mình sống thừa thãi, không được yêu thương, sống trong kinh hãi, con người đang bị gạt ra bên lề xã hội – sự nghèo khổ ấy là khốn khổ hơn, tôi thấy rất khó mà cứu giúp.” Bà cũng chỉ ra rằng phá thai “là kẻ hủy diệt nguy hiểm nhất cho nền hòa bình thế giới”[48]
Các cộng đồng tôn giáo và thế tục đều thương tiếc Mẹ Teresa khi bà tạ thế. Thủ tướng Pakistan Nawaz Sharif nói rằng bà là “một cá nhân độc đáo và hiếm có, đã cống hiến đời mình cho những mục đích cao đẹp. Cuộc đời lâu dài của bà được dành để chăm sóc người nghèo, người bệnh, người bất hạnh đã trở thành một trong những hình mẫu cao quý nhất về lòng tận tụy phục vụ nhân loại.[49] Cựu Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Javier Pérez de Cuéllar nhận xét: “Bà là Liên Hiệp Quốc. Bà là hòa bình của thế giới.”[49]

Đời sống Tâm linh

Khi phân tích các hoạt động và thành quả của bà, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đặt câu hỏi: “Từ đâu mà Mẹ Teresa tìm được sức mạnh và lòng kiên định hầu có thể hoàn toàn hiến mình cho việc phục vụ người khác? Bà tìm thấy nó trong sự cầu nguyện và trong sự tĩnh tâm suy nghiệm hướng về Chúa Giê-su, và Thánh Tâm của Ngài.”[50] Trong cuộc sống riêng tư, Mẹ Teresa trải qua một thời gian dài chịu đựng sự khô héo, cằn cỗi trong tâm linh, sự tinh luyện và thử nghiệm đức tin trong “đêm tối của linh hồn”[51] kéo dài gần năm mươi năm cho đến cuối đời, suốt thời gian ấy “bà không hề cảm nhận gì hết về sự hiện diện của Thiên Chúa”,[52] – “trong lòng cũng như khi tham dự Bí tích Thánh thể” – theo lời của Linh mục Brian Kolodiejchuk, người chịu trách nhiệm trình bày thỉnh cầu và thu thập chứng cứ cho quy trình phong thánh cho Teresa.[52] Bộc lộ những hoài nghi về sự hiện hữu của Thiên Chúa, và nỗi đau dằn xé tâm linh vì thiếu vắng đức tin, bà viết,

Đức tin của tôi đâu rồi? Tận đáy lòng… chẳng có gì cả ngoài sự trống rỗng và tối tăm… Nếu có Chúa – xin tha tội cho con. Khi tôi cố hướng tâm trí mình đến Thiên đàng thì sự trống rỗng phủ lấp và những ý tưởng ấy dội ngược về như những mũi dao sắc cắt nát linh hồn tôi… Thật khủng khiếp nỗi đau vô hình này – Tôi không có Đức tin chi cả. Tuyệt vọng, trống rỗng, không đức tin, không tình yêu thương, không lòng sốt sắng,… Tôi lao khổ vì điều gì? Nếu không có Thiên Chúa, thì không có linh hồn. Nếu không có linh hồn thì, ôi Giê-su, Ngài cũng không có thật.[53]

Theo Brian Kolodiejchuk, có thể có một số người giải thích sai điều Teresa muốn nói, đức tin của bà đối với Thiên Chúa không hề sút giảm, trong khi Teresa đánh mất cảm giác kề cận Thiên Chúa, bà không hề tra vấn về sự hiện hữu của ngài.[54] Nhiều vị thánh khác cũng có những trải nghiệm tương tự như trường hợp của Thánh Teresa Lisieux.[54]

Dòng Thời gian

1910 – Ngày 26 tháng 08, Agnes Bojaxhui cô con gái út của Nicola và Drana sinh ra và lớn lên tại Skopje, thủ phủ của Cộng Hòa Albania thuộc Macedonia. Ngày 27 tháng 08, Agnes được chịu phép Thánh Tẩy tại nhà thờ giáo xứ Thánh Tâm Chúa Giê-su và được nhận thánh hiệu A-nê (Gonxha – A-nê).
1918 – Cha của Agnes, ông Nicola qua đời đột ngột. Ông chết vì bị đầu độc sau một cuộc họp chính trị.
1924 – Lazan, anh trai của Agnes lại rời nhà đến học tại một học viện quân sự Úc.
1925 – Linh mục Jambrenkoic trờ thành cha xứ. Agnes tham gia hội tương tế Thành Nữ Đồng Trinh Maria của cha xứ thành lập.
1928 – Agnes cùng mẹ và chị ruột Aga hành hương đến Letnice. Tại đây, cô nhận thấy đã đến lúc đi theo thiên hướng của mình. Tháng 09, cô được dòng Loreto chấp thuận.
1929 – Tháng Giêng, Agnes đến Calcutta, sau đó đi tiếp đến Darjeeling, nơi cô bắt đầu cuộc sống một nữ tu tập sinh.
1931 – Ngày 24 Tháng năm, Agnes làm lế Tiên Khấn (Đây là nghi thức khấn dâng trọn đời cho Chúa tạm thời, với thờ hạn kéo dài sáu năm. Trước khi chính thức Khấn Trọn Đời.) và trở thành Xơ Teresa.
1937 – Ngày 24Tháng Năm, Xơ Teresa Khấn Trọn Đời. Sau đó Xơ trở về Entally. Một quận phía đông Calcutta.
1946 – Ngày 10 Tháng Chín, Nhận được ơn gọi cách riêng của Chúa, Xơ Teresa rời bỏ cuộc sống tu viện và đi đến làm việc và sống với người nghèo trong các khu ổ chuột.
1948 – Tháng Tám, Tòa Thánh chấp thuận cho phép Soeur Teresa tách khỏi dòng Loreto nhưng vẫn là Nữ Tu.
Xơ Teresa chọn bộ áo Sari trắng viền xanh với mong muốn trở nên người phụ nữ nghèo khó nhất tại Ấn Độ, và cũng nói lên khát vọng noi gương Mẹ Maria Đồng Trinh.
Sau đó, Xơ tìm đến Petna, nơi Hội Nữ Tu Truyền Giáo giúp hướng dẫn cho bà một số kỹ năng y tế cơ bản. Bốn tháng sau, Xơ về Calcutta và đến với Nhà Dưỡng Lão của Hội Nữ Tu Bạn Người Nghèo.
1949 – Tháng Hai, Xơ chuyển đến Creek Lane. Tháng Ba, một học trò cũ của Xơ, cô Subashini Das, đến cộng tác, và trở thành người môn đệ đầu tiên. Không lâu sau đó các học trò cũ khác cùng đến tham gia.
1950 – Ngày 07 Tháng Mười, một Thánh Lễ được cữ hành để Kỷ Niệm ngày thành lập Dòng Thừa Sai Bác Ái. Mười Chí Nguyện sinh được nhập tập viện với thời gian kéo dài hai năm.
1953 – Tháng Hai, ngôi nhà số 54a Lower Circular được mở rộng và trở thành Nhà Mẹ của Dòng Thừa Sai Bác Ái. Xơ Teresa trở thành Mẹ Teresa.
Mẹ tiếp tục công việc với lớp người nghèo khổ, người bệnh và tầng lớp người cùng đinh. Mẹ Teresa lien hệ với cảnh sát trưởng và văn phòng y tế Calcutta, xin được một nhà trọ hành hương cũ, và Mẹ đã biến nơi đó thành Nirmal Hriday.
1957 – Tháng Chín, Phòng khám chữa bệnh phong hủi lưu động bắt đầu hoạt động.
1960 – Một trung tâm đầu tiên bên ngoài Calcutta đưa vào hoạt động tại Ranchi.
1962 – Mẹ Teresa là người đầu tiên không phải người Ấn Độ được nhận giải thưởng uy tín Padma Shri.
1963 – Hội Anh Em Thừa Sai Bác Ái được thành lập.
1965 – Trung Tâm đầu tiên không nằm trên đất Ấn Độ được thành lập tại Venezuela.
Giáo Hoàng Paul VI thăm Bombay. Nhân dịp này, Đức Giáo hoàng tặng Mẹ Teresa chiếc xe Cadillac, và Mẹ đã cho bán đấu giá để lấy tiền cho Hội.
1969 – Chính phủ tặng một khoảnh đất rộng 36 arcre cho Hội và Mẹ đã cho xây cất nhà dành cho người bệnh phong. Đến cuối thập niên 60, tống cộng 25 trung tâm như thế đã được thành lập.
1979 – Mẹ Teresa được trao tặng giải Nobel Hòa Bình.
1980Thái tử Charles Anh Quốc thực hiện chuyến viếng thăm đặc biệt Hội Thừa Sai Bác Ái tại Calcutta.
1990 – Bất chấp mong muốn được rút lui của Mẹ, các nữ tu vẫn nhất trí tôn Mẹ Teresa là Mẹ Bề Trên.
1992Công nương Diana của Anh Quốc đến thăm Mẹ đang dưỡng bệnh tại Rome.
1994 – Ngày 01 tháng 04 Mẹ Teresa đến Việt Nam, đây là quốc gia thứ 111 có sự hoạt động của Dòng Thừa Sai Bác Ái (Nữ Tử Bác Ái). Hai nhà tại Việt Nam là nhà thứ 501 và 502 của dòng.
1996 – Mẹ Teresa bị các cơn đau tim nặng.
1997 – Mẹ Teresa qua đời ngày 05 tháng 09.
Ấn Độ tổ chức lễ Quốc Tang vào ngày 13 tháng 09. 2003 – Ngày 19 tháng Mười, Giáo hội Công giáo cử hành thánh lễ phong chân phước cho Mẹ Teresa. Nhân đó, Hội Đồng Giám mục Ấn Độ, với sự ủng hộ rất đông người trong nước, đã chính thức đề nghị Thủ Tướng Ấn Độ lúc bấy giờ là ông Vajpayee tuyên bố ngày 19 tháng 10 năm 2003 là ngày lễ nghĩ của quốc gia.

Chú thích

  1. ^ Associate Press. (14 tháng 10, 2003). “Full house for Mother Teresa ceremony“. CNN. Truy cập 30 tháng 5, 2007.
  2. ^ Blessed Mother Teresa“. (2007). Encyclopædia Britannica. Truy cập 30 tháng 5, 2007.
  3. ^ a ă , at the time in the Ottoman Empire. Although she was born on 26 tháng 8, 1910, she considered 27 tháng 8, 1910, the day she was baptized, to be her “true birthday.” (2002). “Mother Teresa of Calcutta (1910-1997)“. Vatican News Service. Truy cập 30 tháng 5, 2007. Although some sources state that she was 10 when her father died, in an interview with her brother, the Vatican documents her age at the time as “about eight”.
  4. ^ Clucas, Joan Graff. (1988). Mother Teresa. New York. Chelsea House Publications, pp. 24. ISBN 1-55546-855-1.
  5. ^ Sharn, Lori (5 tháng 9, 1997). “Mother Teresa dies at 87“. USA Today. Truy cập 30 tháng 5, 2007
  6. ^ Clucas, Joan Graff. (1988). Mother Teresa. New York. Chelsea House Publications, pp. 28-29. ISBN 1-55546-855-1.
  7. ^ Clucas, Joan Graff. (1988). Mother Teresa. New York. Chelsea House Publications, pp. 31. ISBN 1-55546-855-1.
  8. ^ Sebba, Anne (1997).Mother Teresa: Beyond the Image. New York. Doubleday, p.35. ISBN 0-385-48952-8.
  9. ^ Clucas, Joan Graff. (1988). Mother Teresa. New York. Chelsea House Publications, pp. 32. ISBN 1-55546-855-1.
  10. ^ Spink, Kathryn (1997). Mother Teresa: A Complete Authorized Biography. New York. HarperCollins, pp.16. ISBN 0-06-250825-3.
  11. ^ Spink, Kathryn (1997). Mother Teresa: A Complete Authorized Biography. New York. HarperCollins, pp.18-21. ISBN 0-06-250825-3.
  12. ^ Spink, Kathryn (1997). Mother Teresa: A Complete Authorized Biography. New York. HarperCollins, pp.18, 21-22. ISBN 0-06-250825-3.
  13. ^ Clucas, Joan Graff. (1988). Mother Teresa. New York. Chelsea House Publications, pp. 35. ISBN 1-55546-855-1.
  14. ^ Clucas, Joan Graff. (1988). Mother Teresa. New York. Chelsea House Publications, pp. 39. ISBN 1-55546-855-1.
  15. ^ “Blessed Mother Teresa”. Encyclopædia Britannica Online. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2007.
  16. ^ Clucas, Joan Graff. (1988). Mother Teresa. New York. Chelsea House Publications, pp. 48-49. ISBN 1-55546-855-1.
  17. ^ Spink, Kathryn (1997). Mother Teresa: A Complete Authorized Biography. New York. HarperCollins, pp.37. ISBN 0-06-250825-3.
  18. ^ Williams, Paul (2002). Mother Teresa. Indianapolis. Alpha Books, p. 62. ISBN 0-02-864278-3.
  19. ^ Spink, Kathryn (1997). Mother Teresa: A Complete Authorized Biography. New York. HarperCollins, pp.284. ISBN 0-06-250825-3.
  20. ^ Sebba, Anne (1997).Mother Teresa: Beyond the Image. New York. Doubleday, pp. 58–60. ISBN 0-385-48952-8.
  21. ^ a ă Spink, Kathryn (1997). Mother Teresa: A Complete Authorized Biography. New York. HarperCollins, pp.55. ISBN 0-06-250825-3.
  22. ^ Sebba, Anne (1997).Mother Teresa: Beyond the Image. New York. Doubleday, pp. 62-63. ISBN 0-385-48952-8.
  23. ^ Clucas, Joan Graff. (1988). Mother Teresa. New York. Chelsea House Publications, pp. 58-59. ISBN 1-55546-855-1.
  24. ^ Spink, Kathryn (1997). Mother Teresa: A Complete Authorized Biography. New York. HarperCollins, pp.82. ISBN 0-06-250825-3.
  25. ^ Spink, Kathryn (1997). Mother Teresa: A Complete Authorized Biography. New York. HarperCollins, pp.286-287. ISBN 0-06-250825-3.
  26. ^ Scott, David A Revolution of Love: The Meaning of Mother Teresa Chicago, Loyola Press, 2005. ISBN 0-8294-2031-2 “She deals only with the disease (of poverty), but not with preventing it, but people in the West continue to give her money”
  27. ^ Byfield, Ted (20 tháng 10, 1997), “If the real world knew the real Mother Teresa there would be a lot less adulation”, Alberta Report/Newsmagazine 24 (45)
  28. ^ a ă Loudon, Mary. (1996)The Missionary Position: Mother Teresa in Theory and Practice, Book Review, BMJ vol.312, no.7022, 6 tháng 1 năm 2006, pp.64-5. Truy cập 2 tháng 8 2007
  29. ^ a ă â b Chatterjee, Aroup, Introduction to The Final Verdict
  30. ^ Hitchens, Christopher (6 tháng 1 1996). “Less than Miraculous”. Free Inquiry Magazine. Volume 24, Number 2.
  31. ^ The Debate Over Sainthood. (9 tháng 10 2003). CBS News. Truy cập 26 tháng 5 2007.
  32. ^ CNN Staff, “Mother Teresa: A Profile”, truy cập CNN online on 30 tháng 5, 2007
  33. ^ Clucas, Joan Graff. (1988). Mother Teresa. New York. Chelsea House Publications, pp. 17. ISBN 1-55546-855-1.
  34. ^ Cooper, Kenneth J. (14 tháng 9, 1997). “Mother Teresa Laid to Rest After Multi-Faith Tribute“. The Washington Post. Truy cập 30 tháng 5, 2007
  35. ^ (30 tháng 5, 2007) “A Vocation of Service“. Eternal Word Television Network. Truy cập 2 tháng 8 2007.
  36. ^ Embassy of India in Armenia Official Website. Describes how Mother Teresa journeyed to Armenia in tháng 12 năm 1988 following the great earthquake. She and her order established an orphanage there. Truy cập 30 tháng 5, 2007.
  37. ^ Williams, Paul (2002).Mother Teresa. Indianapolis. Alpha Books, pp. 199–204. ISBN 0-02-864278-3.
  38. ^ Bindra, Satinder (7 tháng 9, 2001). “Archbishop: Mother Teresa underwent exorcism“. CNN Truy cập 30 tháng 5, 2007.
  39. ^ Associated Press (14 tháng 9, 1997). ““India honors nun with state funeral”. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2005.“. Houston Chronicle. Truy cập 30 tháng 5, 2007.
  40. ^ Victor Banerjee A Canopy most fatal, The Telegraph, Sunday, 8 tháng 9, 2002.
  41. ^ Ramon Magsaysay Award Foundation (1962) Citation for Mother Teresa
  42. ^ Mother Teresa’s Crisis of Faith (TIME.com)
  43. ^ Sebba, Anne (1997). Mother Teresa: Beyond the Image. New York. Doubleday, pp. 80–84. ISBN 0-385-48952-8.
  44. ^ Alpion, Gezmin (2007). Mother Teresa: Saint or Celebrity?. Routledge Press, pp. 9. ISBN 0-415-39246-2.
  45. ^ Clucas, Joan Graff. (1988). Mother Teresa. New York. Chelsea House Publications, pp. 81-82. ISBN 1-55546-855-1.
  46. ^ Quad City Times staff (17 tháng 10, 2005). “Habitat official to receive Pacem in Terris honor“. Peace Corps. Truy cập 26 tháng 5, 2007.
  47. ^ Locke, Michelle for the Associated Press (March 22, 2007). “Berkeley Nobel laureates donate prize money to charity“. San Francisco Gate. Truy cập 26 tháng 5, 2007
  48. ^ Mother Teresa (11 tháng 12, 1979). “Nobel Prize Lecture“. NobelPrize.org. Truy cập 25 tháng 5, 2007.
  49. ^ a ă (16 tháng 10 2006) Online Memorial Tribute to Mother Teresa. ChristianMemorials.com. Truy cập 2 tháng 8 2007.
  50. ^ John Paul II (20 tháng 10, 2003). “Address Of John Paul II To The Pilgrims Who Had Come To Rome For The Beatification Of Mother Teresa”. Vatican.va. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007.
  51. ^ Zaleski, Carol, The Dark Night of Mother Teresa First Things, tháng 5 năm 2003
  52. ^ a ă Bản mẫu:Cite article
  53. ^ Teresa, Mother; Kolodiejchuk, Brian (2007). Mother Teresa: Come Be My Light. New York: Doubleday. ISBN 0385520379.
  54. ^ a ă New Book Reveals Mother Teresa’s Struggle with Faith Beliefnet, AP 2007

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Người đoạt giải Pacem in Terris

Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con