Chào ngày mới 14 tháng 6

Chongquannguyenlan2.svg
CNM365. Chào ngày mới 14 tháng 6.Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1285 – Thượng tướng Trần Quang Khải lãnh đạo quân Trần đánh bại thủy quân Nguyên ở Chương Dương nay thuộc Hà Nội, Việt Nam.

14 tháng 6

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 14 tháng 6 là ngày thứ 165 (166 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 200 ngày trong năm.

« Tháng 6 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Ngày lễ và kỷ niệm

Tham khảo

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12
Advertisements

Chào ngày mới 14 tháng 6

München Panorama.JPG
CNM365 Chào ngày mới 14 tháng 6 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Thế giới tôn vinh người hiến máu. Năm 1158 – Công tước Sachsen Heinrich cho xây một cầu mới qua sông Isar nhằm thu lợi qua việc buôn bán muối, tên gọi München (hình) xuất hiện lần đầu tiên.Năm 1285 – Thượng tướng Trần Quang Khải lãnh đạo quân Trần đánh bại thủy quân Nguyên ở Chương Dương nay thuộc Hà Nội, Việt Nam..Năm 1956 – Nguyên mẫu Ye-4 của máy bay tiêm kích phản lực MiG-21 do Liên Xô sản xuất tiến hành chuyến bay thử nghiệm đầu tiên. Năm 1985Hiệp ước Schengen được ký kết giữa năm trong mười thành viên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu.

Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2
Thời gian năm 1285
Địa điểm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam
Nguyên nhân bùng nổ Đại Việt chống lại sự xâm lược của nhà Nguyên
Kết quả Quân Đại Việt chiến thắng,
Nguyên Mông phải rút lui khỏi Đại Việt
Tham chiến
Nhà Trần Đại Việt
Chiêm Thành
Quân tình nguyện người Tống
Nhà Nguyên Trung Quốc
Chỉ huy
Trần Thánh Tông
Trần Nhân Tông
Trần Quốc Tuấn
Trần Quang Khải
Trần Nhật Duật
Trần Khánh Dư
Trần Bình Trọng
Trần Quốc Toản
Phạm Ngũ Lão
Trần Quốc Hiến
Nguyễn Khoái
Nguyễn Thế Lộc
Hà Chương
Hà Đặc
Triệu Trung
Thoát Hoan
Ariq Qaya (A Lý Hải Nha)
Ô Mã Nhi
Lý Hằng
Koncak (Khoan Triệt)
Bolqadar (Bột La Hợp Đáp Nhĩ)
Satartai (Sát Tháp Nhi Đài)
Mangqudai (Mãng Cổ Thái)
Naqai (Nạp Hải)
Lý Bang Hiến
Tôn Hựu
Tôn Đức Lâm
Lưu Thế Anh
Lưu Khuê
Nghê Nhuận
.

Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2 hay Kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 2 (cách gọi ở Việt Nam) là cuộc chiến tranh giữa Đại NguyênĐại Việt diễn ra trên lãnh thổ Đại Việt kéo dài khoảng 4 tháng từ cuối tháng Chạp năm Giáp Thân đến cuối tháng Tư năm Ất Dậu (cuối tháng 1 đến cuối tháng 5 năm 1285 dương lịch). Cuộc chiến tranh lần này cách cuộc chiến giữa hai nước[1] lần thứ nhất khoảng 27 năm.
Cho dầu quân Nguyên Mông hùng mạnh và có nhiều Vương hầu của triều Trần mang tư tưởng cầu an, quân dân Đại Việt dưới sự lãnh đạo của Thái thượng hoàng Trần Thánh Tôngvua con Trần Nhân Tông đã giành chiến thắng vang dội trong cuộc kháng chiến này, thể hiện “Hào khí Đông A” của nước Đại Việt thời đấy.[2]

Bối cảnh

Năm 1258, quân Mông Cổ từng thất bại ở Đại Việt trong việc tìm cách mở một hướng từ phía Nam để đánh vào lãnh thổ Nam Tống.
Năm 1279, Nam Tống hoàn toàn bị Đại Nguyên thôn tính. Tháng 8 năm này, hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt ra lệnh đóng thuyền chiến chuẩn bị đánh Đại Việt và Nhật Bản.[3]

Đụng độ đầu tiên

Năm 1281, vua Nguyên đòi vua Trần vào chầu. Vua Trần từ chối và cử chú mình là Trần Di Ái sang thế. Vua Nguyên nhân cơ hội này phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương và gửi thư cho vua Trần thông báo việc lập Di Ái thay vua Trần. Lúc này, vua Trần là Trần Nhân Tông và Thái thượng hoàng là Trần Thánh Tông. (Trong 3 lần thì một lần do vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) và 2 lần do vua Trần Nhân Tông)
Ngày 27 tháng 11 năm 1281, nhà Nguyên thành lập An Nam tuyên úy ty và cử Buyan Tamur làm An Nam tuyên úy sứ đô nguyên soái, Sài Thung và Qugar làm phó. Khoảng đầu tháng 1 năm 1282, Sài Thung được lệnh đem hơn 1.000 quân người Hán trong quân đội Nguyên hộ tống Trần Di Ái về Đại Việt làm vua. Tuy nhiên, vua Trần Nhân Tông đã cho người đón đánh khiến Trần Di Ái sợ trốn về nước Nguyên, chỉ còn Sài Thung sang.[4]
Sau những sự kiện này, quan hệ ngoại giao vốn bằng mặt nhưng không bằng lòng giữa hai nước suốt từ năm 1258 trở nên căng thẳng với ít nhân nhượng. Nhà Trần nhiều lần từ chối các yêu cầu của nhà Nguyên như việc vào năm 1283 nhà Nguyên yêu cầu nhà Trần giúp binh lương cho việc chinh phạt Chiêm Thành. Không những vậy, Đại Việt còn gửi quân sang chi viện cho Chiêm Thành. Còn Sài Thung thực hiện một thái độ cư xử hống hách ngay giữa triều đình nhà Trần.[5]

Mặt trận ở nước láng giềng

Cuối năm 1282, Toa Đô (Sogetu) chỉ huy một hạm đội hải quân Nguyên sang đánh Chiêm Thành. Quân Chiêm yếu thế rút khỏi kinh đô vào rừng núi chống cự, Toa Đô đánh nhiều lần không được. Nhà Trần điều quân và thuyền chiến sang giúp Chiêm chống quân Nguyên.
Năm 1283, Hốt Tất Liệt sát nhập hành tỉnh Kinh Hồ – Chiêm Thành làm một, biến những vùng đất đã chiếm được của Chiêm Thành trở thành căn cứ phía Nam để đánh Đại Việt.
Khoảng cuối tháng 12 năm 1284 đầu tháng 1 năm 1285, Toa Đô viết thư tâu với vua Nguyên rằng:

“Giao Chỉ liền đất với Chân Lạp, Chiêm Thành, Vân Nam, Xiêm, Miến, nên lập tỉnh ngay trên đất ấy và đóng quân trấn giữ ở ba đạo Việt Lý[6], Triều Châu, Tỳ Lan[7], lấy lương ở đó cấp cho quân sĩ, tránh được việc vận tải đường biển mệt nhọc”.[8]

Đề nghị đó được Hốt Tất Liệt đồng tình. Đại Việt rơi vào tình thế trước mặt sau lưng đều có hiểm họa. Chiến tranh chuẩn bị bùng nổ.

Chuẩn bị và củng cố lực lượng

Quân đội Mông-Nguyên

Ngày 21 tháng 7 năm 1284, Hốt Tất Liệt phong con trai thứ 9 của mình tên Toghan (Thoát Hoan)[9] làm Trấn Nam vương. Ariq Qaya, viên tướng xuất sắc người Uigur của nhà Nguyên, được chọn làm phó cho Thoát Hoan, và được phong làm An Nam hành trung thư tỉnh tả thừa tướng. Các tướng lĩnh đáng chú ý khác của đội quân Nguyên là Lý Hằng – viên tướng xuất sắc người Tây Hạ của nhà Nguyên, Koncak (Khoan Triệt, người Uzbek), Bolqadar (Bột La Hợp Đáp Nhĩ), Satartai (Sát Tháp Nhi Đài), Mangqudai (Mãng Cổ Đái), Naqai (Nạp Hải), các tướng người Hán là Lý Bang Hiến, Tôn Hựu, Tôn Đức Lâm, Lưu Thế Anh, Lưu Khuê, Nghê Nhuận.[10] Đặc biệt, nhà Nguyên sai Tangutai đến Chiêm Thành để truyền lệnh của vua Nguyên điều đạo quân Nguyên chinh phạt Chiêm Thành sang chiến trường Đại Việt. Đạo quân này lúc xuất phát từ Quảng Đông đi Chiêm Thành gồm 20 vạn quân do Toa Đô chỉ huy. Không rõ sau mấy năm chiến đấu với Chiêm Thành trong điều kiện đói khát, quân số của đạo quân này khi vào Đại Việt là bao nhiêu.[11][12]
Để phục vụ cho lực lượng chinh phạt Đại Việt, nhà Nguyên đã chuẩn bị 3 vạn thạch lương. Lực lượng quân y do Trâu Tôn chỉ huy.[13]. Vua Nguyên sai sứ đòi Đại Việt phải cho quân Nguyên mượn đường và cung cấp lương thảo để chinh phạt Chiêm Thành. Vua Trần từ chối vì biết đây chỉ là kế “Mượn đường diệt Quắc”.

Quân đội Nhà Trần

Về phía Đại Việt, các vương tôn nhà Trần được lệnh tuyển thêm quân vào các lực lượng riêng của mình. Quân đội liên tục được tập trận. Cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1282, ngay sau khi nhận được tin tình báo về ý đồ của nhà Nguyên, vua Trần đã triệu tập một hội nghị quân sự tại Bình Than để “bàn kế đánh phòng” và “chia quân giữ nơi hiểm yếu”.[14] Tất cả các tướng lĩnh phạm tội, như Trần Khánh Dư, đều được tha tội để đến hội nghị bàn việc. Đại Việt sử ký toàn thư chép việc Trần Quốc Toản vì nhỏ tuổi không được dự Hội nghị Bình Than đã tức giận bóp nát quả cam.
Trần Quốc Tuấn đã viết Hịch tướng sĩ để nâng cao tinh thần của quân sĩ. Nhiều chiến sĩ Đại Việt đã xăm hai chữ Sát Thát (Sát nghĩa là “giết”, còn Thát chỉ người Mông Cổ) vào tay để thể hiện quyết tâm chiến đấu của mình.[15]
Đến tháng Chạp năm Giáp Thân (tháng 1 đầu tháng 2 năm 1285), Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông đã mời những bậc tuổi cao có uy tín trong cả nước về điện Diên Hồng ở kinh đô Thăng Long để trình bày chủ trương của triều đình. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng, trong Hội nghị Diên Hồng, khi được vua hỏi có nên đánh lại quân Nguyên hay không, thì các phụ lão đã “vạn người cùng nói như từ một miệng”: “Đánh!”.[16] Còn Nguyên sử đã chép lại việc quân Nguyên sau này khi vào Đại Việt đi qua các địa phương đã thấy các thông báo của triều đình Đại Việt cho dân chúng rằng “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng.”[17]
Trần Quốc Tuấn được phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh tất cả các lực lượng vũ trang của Đại Việt. Trần Quang Khải được phong chức Thượng tướng thái sư. Quân đội Đại Việt được điều động rất đông lên phòng ngự ở biên giới, nhất là ở khu vực Lạng Sơn ngày nay. Bản doanh của Trần Quốc Tuấn đóng ở ải Nội Bàng (khoảng thị trấn Chũ và xã Bình Nội của Bắc Giang ngày nay).
Trong Binh thư yếu lược, Trần Quốc Tuấn viết: “Người giỏi thắng không cần thắng nhiều lần, mà cần toàn thắng, đảm bảo thắng”. Điều đó đồng nghĩa với việc làm cách nào để có được chiến thắng cuối cùng mới là điều quan trọng nhất, còn thắng bại trong các trận đánh chỉ là phụ. Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông dưới sự chỉ đạo của ông cũng tiến hành theo nguyên tắc trên. Với sức mạnh áp đảo, quân Nguyên muốn đánh nhanh, thắng nhanh. Trần Quốc Tuấn hiểu rằng, đối đầu trực diện là trúng với ý đồ của đối phương, trong khi những đội quân muốn đánh nhanh thắng nhanh thường có một nhược điểm chí tử: đó là công tác hậu cần không thể đảm bảo lâu dài.
Do vậy Trần Quốc Tuấn đã chọn chiến lược: chuyển từ trực tiếp đối đầu với quân Nguyên sang lui binh, thực hiện vườn không nhà trống để triệt nguồn cung ứng lương thảo của quân Nguyên. Cứ thế, quân Trần tránh đụng độ với địch trong nhiều tháng, chờ địch suy yếu do thiếu lương và suy sụp ý chí, lúc đó ông mới tập trung quân phản công để giành thắng lợi quyết định.

Diễn biến

Chongquannguyenlan2.svg

Quân Nguyên chia làm 3 đạo tiến đánh Đại Việt. Đạo chủ lực do Thoát Hoan và Ariq Qaya chỉ huy từ Ninh Minh tiến vào Lộc Châu (nay là Lộc Bình, Lạng Sơn). Ngày 27 tháng 1 năm 1285 (dương lịch), đạo quân này chia làm 2 mũi tiến quân, một do Bolqadar chỉ huy theo đường Khâu Ôn (nay là Ôn Châu, Lạng Sơn), một do Satartai và Lý Bang Hiến chỉ huy đi theo đường núi Cấp Lĩnh (tức là từ Lộc Bình đi Sơn Động ngày nay). Đại quân của Thoát Hoan đi sau mũi thứ hai của Satartai và Lý Bang Hiến.[18] Chống lại đạo quân thứ nhất này của quân Nguyên là lực lượng chủ lực của quân Trần do đích thân Trần Quốc Tuấn chỉ huy.
Đạo thứ hai chỉ gồm hơn 1 nghìn quân Mông Cổ và Vân Nam do Nasirud Din từ Vân Nam vào Đại Việt qua vùng Tuyên Quang tiến theo sông Chảy. Vị chỉ huy quân Trần ở vùng này là Trần Nhật Duật.[19]
Đạo thứ ba là đạo quân đang chiến đấu ở Chiêm Thành do Toa Đô chỉ huy, tiến vào Đại Việt muộn hơn hai cánh trên, vào khoảng tháng 3 dương lịch, từ phía Nam.

Quân Trần phòng ngự và rút lui

Trận Sơn Động

Trận giao chiến đầu tiên giữa hai bên là trận tại ải Khả Ly[20]. Tướng Nguyên đi mở đường là Tôn Hựu đã đánh tan được quân Trần và bắt được các tướng Đỗ Vĩ và Đỗ Hựu. Sau khi vượt qua ải Khả Ly, quân Nguyên tiến tiếp tới ải Động Bản[21]. Tại đây, quân Nguyên lại thắng, giết được tướng Trần Sâm của Đại Việt.[22]
Chỉ 5 ngày sau, đại quân của Thoát Hoan tiến xuống từ Lộc Châu, cùng cánh quân của Bột La Đáp Nhĩ tràn qua các ải Vĩnh Châu, Thiết Lược, Chi Lăng. Ngày 2 tháng 2 năm 1285, quân Nguyên chia làm 6 mũi ồ ạt tấn công ải Nội Bàng nơi quân Trần tập trung một lực lượng lớn và có đại bản doanh của Trần Quốc Tuấn. Quân Trần bị tổn thất nặng nề; tướng Đoàn Thai của Đại Việt bị bắt.[23] Trong khi đó, cánh quân của Bolqadar đã qua ải Chi Lăng. Trần Quốc Tuấn phải thu quân về Vạn Kiếp. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, quân Trần đã tan vỡ; Trần Quốc Tuấn thoát được là nhờ có Yết Kiêu kiên quyết giữ thuyền đợi chủ tướng.[16]

Trận Vạn Kiếp

Một lực lượng lớn quân Trần tập trung ở Vạn Kiếp, bao gồm cả lực lượng từ Nội Bàng rút về. Phát hiện thấy Đại Việt có hơn 1.000 thuyền đóng ở gần Vạn Kiếp, Thoát Hoan liền cho quân đi tìm và đóng gấp thuyền chặn đường rút của đối phương.
Ngày 11 tháng 2, thủy quân Nguyên do Ô Mã Nhi chỉ huy tấn công vào Vạn Kiếp và các trại quân Trần ở Chí Linh. Đại kịch chiến đã xảy ra. Tướng Nguyên cấp vạn hộ[24] là Nghê Nhuận bị tử trận. Tuy nhiên, quân Trần đã quyết định rút lui để tránh thế giặc mạnh, thực hiện nghi binh khiến địch mệt mỏi rồi mới phản công. Thấy bề tôi lo lắng, vua Trần cho khắc hai câu thơ cuối thuyền ngự:

Cối Kê việc cũ khanh nên nhớ
Hoan, Diễn vẫn còn mười vạn quân

Ngày 14 tháng 2, Ô Mã Nhi đem quân vây quân của Trần Quốc Tuấn. Một trận thủy chiến lớn giữa 2 bên đã diễn ra. Vua Trần đã đem quân đến trợ chiến cho Trần Quốc Tuấn. Ô Mã Nhi đã không ngăn nổi quân Trần rút lui. Toàn bộ quân Trần rút khỏi Vạn Kiếp, Phả Lại, Bình Than về dàn trận bên bờ sông Hồng gần thành Thăng Long. Quân Nguyên tiến theo đường bộ về Thăng Long.[25]

Trận sông Đuống

Quân Nguyên từ Vạn Kiếp[26] đi theo đường qua Vũ Ninh [27], Đông Ngạn [28]. Đến sông Đuống, các đơn vị quân Nguyên và quân Trần giáp chiến. Quân Trần bị thiệt hại nặng, nhiều thuyền lọt vào tay quân Nguyên.
Thoát Hoan cho dựng cầu phao để đưa đại quân vượt sông Đuống tiến về kinh thành của Đại Việt.[29]

Trận Thăng Long

Ngày 17 tháng 2, quân Nguyên dựng trại bên sông Hồng. Quân Trần do vua Trần Nhân Tông trực tiếp chỉ huy cũng lập các chiến lũy bằng gỗ bên bờ Bắc sông Hồng nghênh chiến. Dưới sông là lực lượng thủy quân đông đảo của Đại Việt. Mục đích của quân Trần trong trận này chỉ là cản bước quân Nguyên để kịp hoàn thành công tác sơ tán hoàng gia và dân chúng khỏi kinh thành, thực hiện kế hoạch vườn không nhà trống. Khi quân Nguyên tiến đến bờ sông, quân Trần đã dùng súng bắn đá bắn vào quân Nguyên và thách đánh.
Tuy nhiên, đến chiều ngày 17 tháng 2, vua Trần sai Đỗ Khắc Chung sang doanh trại đối phương để giả đưa thư cầu hòa. Arig Qaya gửi thư cự tuyệt. Đỗ Khắc Chung ở lại doanh trại địch trinh sát đến sáng sớm hôm sau mới quay về. Liền sau đó, hai bên Nguyên-Việt đại chiến bên bờ sông Hồng. Sau khi thành Thăng Long đã trống không, quân Trần xuôi sông Hồng rút lui. Khi rút khỏi Thăng Long, quân Trần hãy còn rất đông[30].
Quân Nguyên tiến đến đóng dưới chân thành một hôm rồi mới vào thành, chỉ thấy “cung thất nhẵn không”. Thoát Hoan khao quân trong cung thành, nhưng rồi lại sớm rút quân khỏi thành (hoặc có lẽ không phải, vì theo tục lệ của người Thát, sau khi chiếm được bất kỳ thành trì nào họ cũng không đóng quân trong thành mà tìm một bãi rộng để dựng trướng, trại, do thành Thăng Long quá sát sông Hồng nên có thể họ qua lại bên kia sông để lập trại), trở lại trại đã lập bên bờ Bắc sông Hồng[31]. Vừa đợi Toa Đô từ phía Nam tiến lên, Thoát Hoan vừa phái Koncak, Mangqudai, Bolqadar theo đường bộ, Lý Hằng, Ô Mã Nhi theo đường thủy đuổi theo vua Trần.

Trận Thu Vật

Cánh quân của Nasirud Din đi theo sông Chảy tới trại Thu Vật[32] thì bị quân của Trần Nhật Duật chặn đánh. Tuy nhiên, do đại quân đều đã rút lui về Vạn Kiếp, nên Trần Nhật Duật cũng thu quân. Quân Nguyên một mặt đi dọc 2 bờ sông đuổi theo quân Trần, một mặt cử một đơn vị đi chặn đầu. Trần Nhật Duật phát hiện ra kế hoạch của quân Nguyên, nên ra lệnh bỏ thuyền lên bộ, rút lui an toàn về đến Bạch Hạc (Việt Trì) vào ngày 20 tháng 2 năm 1285. Sau đó, Trần Nhật Duật được điều vào mặt trận phía Nam ngăn Toa Đô.

Các trận đánh trên sông Hồng

Vua Trần, triều đình, tông thất và đại quân rút lui theo đường sông Hồng về hướng phủ Thiên Trường (Nam Định). Quân Nguyên chia làm 2 đường thủy bộ đuổi theo. Để cản địch, quân Trần liên tiếp bố trí một số trận đánh trên sông Hồng.
Trận đầu tiên là trận ở bãi Đà Mạc[33]. Quân Trần do Trần Bình Trọng chỉ huy đã chặn đánh quân Nguyên quyết liệt. Kết quả, quân Trần ở đây bị đánh tan. Trần Bình Trọng bị bắt và bị giết.[34]
Trận tiếp theo ở ải Hải Thị[35]. Quân Trần đã đóng cọc, đắp bờ chắn sông để ngăn đối phương. Tuy nhiên, quân Nguyên đã thủy bộ hợp đồng tác chiến, phá tan trận tuyến của quân Trần.

Quân Trần tập hợp lại lực lượng

Sau trận ải Hải Thị, quân Trần lui hẳn về đóng quân tại Thiên Trường (Nam Định) và Trường Yên (Ninh Bình). Đồng thời, phát hiện thấy quân Nguyên không đóng giữ Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn cùng Phạm Ngũ Lão đã chỉ huy hơn 1 nghìn thuyền quay lại đóng ở Vạn Kiếp. Một thuộc tướng khác của Trần Quốc Tuấn là Nguyễn Lộc thực hiện tác chiến kiểu du kích rất mạnh ở vùng Vĩnh Bình (Lạng Sơn). Tin trinh sát đã khiến Ariq Qaya báo cáo với vua Nguyên rằng: “Bấy giờ ở 2 xứ Thiên Trường, Trường Yên mà Trần Nhật Huyên[36] trốn đến, binh lực lại tập hợp, Hưng Đạo vương tụ tập hơn 1 nghìn chiếc thuyền ở Vạn Kiếp, Nguyễn Lộc ở Vĩnh Bình”.[37]
Ngay sau khi tập hợp lại lực lượng, quân Trần đã tiến hành phản công. Quân của vua Trần ngược sông Hồng lên giao chiến với quân Nguyên ở đoạn chảy qua huyện Lý Nhân ngày nay vào ngày 10 tháng 3 năm 1285, nhưng không thắng được, phải rút lui.[38]

Toa Đô bắc tiến

Cuối tháng 2, đầu tháng 3 năm 1285, đạo quân của Toa Đô đánh ra vùng Bố Chính (Quảng Bình ngày nay) rồi tiến ra Nghệ An. Trần Nhật Duật và Trịnh Đình Toản chỉ huy quân Trần ngăn địch, nhưng thất bại, phải rút lui. Toa Đô phái một đơn vị đánh ra Thanh Hóa.
Ngày 9 tháng 3, quân Nguyên được Trần Kiện dẫn đường đã đi qua Vệ Bố (Quảng Xương) đánh úp quân Trần, giết được các tướng Đinh Xa và Nguyễn Tất Thống.
Ngày 13 tháng 3, quân Nguyên lại được Trần Kiện dẫn đường đánh quân của Trần Quang Khải, giết được 2 chỉ huy của quân Trần. Việc Trần Kiện, một viên tướng được vua Trần giao 1 vạn quân để tham gia phòng thủ phía Nam đầu hàng và dẫn đường cho quân Nguyên làm cho quân Trần ở đây đã không thể giữ nổi Nghệ An-Thanh Hóa, phải rút lui.
Sau trận quân của vua Trần phản công quân Nguyên không thành và việc mặt trận Thanh-Nghệ bị tan vỡ, đại quân do vua Trần chỉ huy ở Thiên Trường và Trường Yên lâm vào thế bị ép từ 2 mặt Bắc-Nam. Tình hình đó khiến Trần Quốc Tuấn lại bỏ Vạn Kiếp đem thuyền về cứu vua Trần. Quân Trần đã rút về vùng bờ biển ở Quảng NinhHải Phòng ngày nay, là nơi mà quân Nguyên chưa vươn tới. Trong hành trình rút lui, quân Trần bị quân Nguyên đuổi gấp. Khi thấy đạo quân của Toa Đô đã rời Thanh Hóa tiến lên đóng ở Trường Yên (Ninh Bình), ngày 7 tháng 4 năm 1285 quân Trần lại vượt biển vào Thanh Hóa, thoát khỏi thế bị kìm kẹp của đối phương.[39]
Toa Đô và Ô Mã Nhi được cử dẫn quân vào Thanh Hóa truy đuổi vua Trần, nhưng không tìm thấy mục tiêu.[40]

Quân Trần tổng phản công

Tháng 5 đầu tháng 6 năm 1285, nghĩa là khoảng 1 tháng sau khi rút về Thanh Hóa để thoát khỏi gọng kìm của quân Nguyên, quân Trần lại quyết định từ Thanh Hóa trở lại miền Bắc phản công quân Nguyên. Quân Trần chia làm 2 cánh. Một cánh do Trần Quốc Tuấn chỉ huy quay trở lại Vạn Kiếp khóa đường rút lui của địch. Một cánh do Trần Quang Khải chỉ huy phản công dọc theo sông Hồng.

Trận Hàm Tử – Tây Kết

Để phòng thủ mặt phía Nam của thành Thăng Long, quân Nguyên dựng 2 căn cứ liền kề nhau ở hai bờ sông Hồng, một ở Hàm Tử Quan (cửa Hàm Tử – nay ở Khoái Châu, Hưng Yên) và một ở Chương Dương Độ (bến Chương Dương – nay ở Thượng Phúc, thuộc Thường Tín, Hà Nội). Tháng 5, Trần Quang Khải dẫn quân tấn công đồng thời 2 căn cứ này.
Toa ĐôÔ Mã NhiThanh Hoá, Nghệ An giao chiến với quân Trần do Trần Quang Khải chỉ huy mấy lần đều bị đẩy lui. Lương thực gần cạn, tới mùa hè nóng bức, quân Nguyên không hợp thời tiết, hai tướng bèn bỏ ý định truy tìm vua Trần mà vượt biển ra bắc để hội binh với Thoát Hoan.
Trần Quang Khải thấy quân Nguyên rút ra bắc bèn báo với vua Trần. Vua Trần cùng các tướng nhận định rằng: Quân Nguyên nếu còn mạnh, ắt truy kích vua Trần từ hai mặt nam bắc; nay cánh phía bắc không tới, cánh phía nam rút đi tức là đã mỏi mệt. Nhà Trần xác định đây là thời cơ phản công [41].
Trần Nhân Tông sai Trần Nhật Duật làm chánh tướng, Chiêu Thành Vương[42]Trần Quốc Toản làm phó tướng đi cùng với Nguyễn Khoái mang 5 vạn quân ra bắc đuổi đánh Toa Đô. Trong quân Trần Nhật Duật có tướng người Trung Quốc của nhà Tống cũ là Triệu Trung theo hàng.
Trần Nhật Duật gặp binh thuyền Toa Đô ở bến Hàm Tử, bèn chia quân ra đánh. Hai bên chống nhau ác liệt. Toa Đô đi đường xa, giao chiến lâu ngày đã mỏi mệt, trông thấy cờ hiệu Tống của Triệu Trung, lo lắng tưởng rằng nhà Tống đã khôi phục sang giúp Đại Việt. Nhóm quân người Hoa trong hàng ngũ quân Trần đều muốn trả thù nên đánh rất hăng.
Trong khi đó quân Trần lại dùng kế ly gián, bắn tên gắn giấy sang bên quân Nguyên, nói rằng chỉ đánh người Thát Đát chứ không đánh người Hoa. Điều đó khiến nhiều tướng sĩ người Hoa trong quân Nguyên không tận lực chiến đấu hoặc trở giáo sang hàng quân Trần. Toa Đô bị thua to. Sau khi thua trận ở Hàm Tử Quan, Toa Đô vẫn không biết rằng Thoát Hoan đã tháo chạy. Cánh quân Toa Đô đóng ở sông Thiên Mạc[12](đoạn sông HồngHưng Yên) và tìm cách liên lạc với ông. Được ít ngày, Toa Đô biết tin quân Thoát Hoan đã thất bại và rút chạy, bèn lui về Tây Kết (Khoái Châu).Ngày 24 tháng 6 năm 1285, Trần Hưng Đạo trực tiếp chỉ huy quân đánh Toa Đô. Toa ĐôÔ Mã Nhi thua, bỏ thuyền đi đường bộ ra phía biển. Trên đường chạy, Toa Đô bị quân Đại Việt bao vây, sau cùng bị tướng Vũ Hải của nhà Trần chém đầu. Ô Mã Nhi thì chạy thoát về Thanh Hóa. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vua Trần Nhân Tông trông thấy thủ cấp của Toa Đô thì cởi áo ngự phủ lên và nói “người làm tôi phải nên như thế này” rồi sai người khâm niệm tử tế.

Sử liệu dẫn khác nhau về các tướng tham chiến. Có tài liệu cho rằng Trần Nhật Duật cùng Trần Quốc Toản, Nguyễn Khoái và Triệu Trung cùng đánh trận Hàm Tử [41], có tài liệu dẫn rằng chỉ có Trần Nhật Duật và Triệu Trung đánh Hàm Tử, còn Nguyễn KhoáiTrần Quốc Toản đánh trận Tây Kết.[43]

Trận Chương Dương Độ

Trần Nhật Duật sai Trần Quốc Toản về Thanh Hoá báo tin thắng trận. Trần Quốc Tuấn bàn với Trần Nhân Tông quyết định mang toàn quân ra bắc đánh Thoát Hoan để lấy lại Thăng Long. Trần Quang Khải ở Nghệ An mới ra được cử làm chánh tướng, Phạm Ngũ LãoTrần Quốc Toản làm phó tướng; lại truyền lệnh cho Trần Nhật Duật phải ngăn không cho Toa Đô hợp binh được với Thoát Hoan.
Đại quân Thoát Hoan đóng ở Thăng Long cũng trong tình trạng lương thực sắp cạn, các chiến thuyền đóng ở bến Chương Dương.
Trần Quang Khải tiến ra bắc khá thuận lợi. Quân Trần nhanh chóng diệt nhiều đồn nhỏ của quân Nguyên, kết hợp dụ hàng quân người Hoa bỏ hàng ngũ quân Nguyên. Trong khi đó thì Trần Nhật Duật cũng giữ lại số quân để cầm chân Toa Đô, còn chia một số sang hợp với cánh quân Trần Quang Khải. Nhiều toán quân Trần trước kia bị tản mát, chưa tìm được vào Thanh Hoá, lúc đó gặp quân Trần Quang Khải đã cùng gia nhập nên lực lượng càng mạnh lên. Quân Trần chiếm được nhiều thuyền của địch ở bến đò[44].
Quân Trần tiếp tục ngược sông Hồng phản công quân Nguyên. Trần Quang Khải cùng Phạm Ngũ Lão và Trần Quốc Toản đã tấn công quân Nguyên ở Chương Dương (huyện Thường Tín).[45]. Quân Nguyên thường thấy quân Trần bị thua, khi đó thấy quân Trần đánh mạnh nên bị bất ngờ, tan tác bỏ chạy. Phần lớn các chiến thuyền quân Nguyên bị quân Trần đốt cháy hoặc chiếm.

Giải phóng Thăng Long

Sau các trận phản công thắng lợi trên sông Hồng, quân Trần quyết định tấn công giải phóng kinh thành Thăng Long. Lực lượng tham gia gồm các đơn vị thủy bộ chủ lực do Trần Quang Khải chỉ huy. Các đơn vị dân binh các địa phương lân cận do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp và Nguyễn Truyền chỉ huy. Sau khi đánh bại đơn vị quân Nguyên ngoài thành do Mã Vinh chỉ huy, quân Trần bắt đầu bao vây và công thành.
Tài liệu thời Nguyên chép rằng:

“Thủy lục đến đánh đại doanh, vây thành mấy vòng, tuy chết nhiều nhưng quân tăng thêm càng trở nên đông, quan quân sớm tối đánh rất khốn đốn, thiếu thốn, khí giới đều hết”[46] và “Người Giao chống đánh quan quân, tuy mấy lần thua tan, nhưng quân tăng càng đông, quan quân mỏi mệt, tử thương cũng nhiều, quân mã Mông Cổ không thể nào thi thố tài năng được”[47].

Trước sức tấn công mạnh mẽ và bền bỉ của quân Trần, quân Nguyên phải rút chạy khỏi thành Thăng Long về đóng ở bờ Bắc sông Hồng (khoảng Gia Lâm ngày nay).[48] Tại đây, đồn trại của quân Nguyên vẫn liên tục bị tấn công.

Trận sông Thiên Mạc

Sau khi thua trận ở Hàm Tử Quan, Toa Đô vẫn không biết rằng Thoát Hoan đã tháo chạy. Cánh quân Toa Đô đóng ở sông Thiên Mạc[49] và tìm cách liên lạc với Thoát Hoan. Được ít ngày, Toa Đô biết tin quân Thoát Hoan đã thất bại và rút chạy, bèn lui về Tây Kết.

Có tài liệu căn cứ vào Nguyên sử cho rằng Toa Đô sau trận thua ở Hàm Tử Quan lại tiến vào Thanh Hoá đánh vua Trần lần nữa, nhưng không thu được kết quả nên lại trở ra tìm Thoát Hoan. Trận Tây Kết này còn được coi là trận Tây Kết thứ hai[50].

Ngày 24 tháng 6 năm 1285, quân Trần do đích thân vua Trần chỉ huy tấn công đạo quân Nguyên này. Tướng Nguyên là Trương Hiển (chức tổng quản) đầu hàng quân Trần và dẫn đường cho quân Trần tấn công Toa Đô ở Tây Kết. Quân Nguyên bị giết rất nhiều. Toa Đô cũng bị tử trận. Ô Mã Nhi và Lưu Khuê đi thuyền nhỏ trốn thoát ra biển [51].

Trận này một số sách sử chép khác nhau. Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972) cho biết Nguyên sử chép rằng: Toa Đô không tin Thoát Hoan đã rút, nên tiến quân lên tới tận Thăng Long, thấy không còn quân mình thì mới tin, đành rút quân lên phía Bắc, gặp quân Trần chặn đánh ở sông Càn Mãn (tức sông Thị Cầu) và tử trận tại đây [51].

Quân Trần truy kích quân Nguyên

Ngày 10 tháng 6 năm 1285, Trần Quốc Tuấn và Trần Tung dẫn hơn 2 vạn quân tấn công quân Nguyên ở bờ Bắc sông Hồng. Quân Nguyên cử Lưu Thế Anh dẫn quân ra đối phó, nhưng đại bại. Quân Nguyên rút chạy về phía Bắc.[52]
Khi rút chạy đến sông Như Nguyệt (sông Cầu), quân Nguyên bị đơn vị của Trần Quốc Toản chặn đánh. Quân Nguyên thua, không sang sông được, phải chạy về phía Vạn Kiếp. Chỉ huy quân Trần là Trần Quốc Toản đã hy sinh trong trận này.[53]
Chạy đến sông Sách (tức đoạn sông Thương chảy quan Vạn Kiếp), quân Nguyên bắc cầu phao định vượt sông, nhưng bị quân Trần do Trần Quốc Tuấn chỉ huy ập vào đánh. Lý Hằng đẩy lui được mũi quân Trần tấn công vào lưng quân Nguyên, chém được tướng Việt là Trần Thiệu. Nhưng một mũi quân Trần khác lại đánh vào sườn đội hình quân Nguyên đang vượt cầu phao. Quân Nguyên xô nhau chạy, cầu phao đứt, nhiều binh sĩ bị chết đuối.[54]
Sau khi vượt qua sông Sách, quân Nguyên chạy về hướng Tư Minh. Lý Hằng được cử chặn hậu, đề phòng quân Trần truy kích. Đến Vĩnh Bình, quân Nguyên lại bị quân Trần do Trần Quốc Hiến (Trần Quốc Nghiễn) chỉ huy chặn đánh. Lý Hằng bị trúng tên độc. Tương truyền, quân Nguyên phải giấu Thoát Hoan trong ống đồng để chạy trốn. Khi về đến Tư Minh, Lý Hằng ngấm thuốc độc chết, thọ 50 tuổi.[55]
Cánh quân Vân Nam của Nasirud Din chạy về Vân Nam, đến địa phận huyện Phù Ninh đã bị các đơn vị của Hà Đặc và Hà Chương tấn công. Quân Nguyên thua chạy, nhưng Hà Đặc tử trận [56].

Tông thất, tướng sĩ nhà Trần hàng nhà Nguyên

Xem chi tiết: Trần Ích Tắc, Lê Tắc

Trong cuộc chiến lần thứ hai, nhà Trần đã có một số tông thất và tướng sĩ đi theo nhà Nguyên.
Người đầu tiên là Trần Di Ái, em vua Trần Thái Tông, chú vua Trần Thánh Tông. Di Ái được cử đi sứ nhà Nguyên, được Hốt Tất Liệt phong luôn làm An Nam quốc vương để có cớ đưa “vua mới” về nước. Di Ái bị quân Trần đón đánh ở đầu địa giới phải bỏ chạy.
Người thứ hai là Trần Ích Tắc, con thứ của Trần Thái Tông, em của Trần Thánh Tông. Ích Tắc có tài, vẫn còn có ý tranh đoạt ngôi trưởng đích. Trước khi quân Nguyên kéo sang, Ích Tắc đã từng gửi thư riêng cho khách buôn ở Vân Đồn xin quân Nguyên xuống nam. Khi quân Nguyên Mông tiến sang, ngày 15 tháng 3 năm 1285, Ích Tắc đem cả gia đình theo hàng, với hy vọng được lập làm vua.
Quân Nguyên thất bại chạy về nước, Ích Tắc được đưa về Trung Quốc và được Hốt Tất Liệt, phong làm An Nam Quốc vương và chờ ngày đưa trở về nước. Hai năm sau (1287), Ích Tắc theo Thoát Hoan sang Đại Việt lần thứ ba.
Thứ ba là Trần Kiện. Trần Kiện là con thứ của Trần Quốc Khang, phục vụ dưới quyền Trần Ích Tắc cùng theo Ích Tắc hàng Toa Đô. Toa Đô sai đưa bọn Kiệt về Yên Kinh thì bị thổ hào người Tày ở châu Ma Lục (Lạng Sơn) là Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh chặn đánh. Trần Kiệt bị gia nô của Hưng Đạo Vương là Nguyễn Địa Lô bắn chết, Trần Ích Tắc đem xác Kiệt để lên mình ngựa trốn đi đêm, đến Khâu Ôn chôn tại đấy [57] Một tướng khác là Lê Tắc cũng hàng quân Nguyên, trong cảnh quân Nguyên hỗn loạn bỏ chạy, Lê Tắc đã chỉ đường giúp nhiều tướng sĩ nhà Nguyên chạy thoát về bên kia biên giới[58].
Một số tông thất dưới quyền Trần Ích Tắc theo sang Trung Quốc còn có Trần Văn Lộng và Trần Tú Viên.

Kết quả và ý nghĩa

Như vậy là cuộc kháng chiến của quân dân Đại Việt dưới sự lãnh đạo của hai vua Trần Thánh Tông và Nhân Tông đã toàn thắng, thể hiện “Hào khí Đông A” của Đại Việt thời ấy.[2] Nhà Trần lần thứ hai đánh đuổi được quân Mông Nguyên, lần này với quy mô lớn hơn nhiều và hoàn cảnh khó khăn hơn nhiều. Nhà Tống ở phương bắc đã mất, không còn lá chắn, Đại Việt phải trực tiếp đối đầu với nhà Nguyên trên toàn tuyến biên giới phía bắc. Diệt được Nam Tống, sức mạnh của nhà Nguyên cũng tăng lên so với trước.
Theo sử cũ Việt Nam, quân Nguyên chết rất nhiều, thây nằm ngổn ngang, máu chảy thành suối. Đại Việt Sử ký Toàn thư chép rằng Lý Quán thu tàn quân chỉ còn lại 5 vạn người so với 50 vạn khi bắt đầu sang Đại Việt.
Trần Xuân Sinh trong Thuyết Trần đặt nghi vấn về vấn đề này. Bằng chứng là ngay khi quân Nguyên thua chạy về, chỉ 2 tháng sau Hốt Tất Liệt đã có ý định cho sang đánh phục thù ngay. Như vậy lực lượng quân Nguyên còn sống trở về khá đông đảo để có thể tiếp tục một cuộc chinh phạt mới. Sau đó Hốt Tất Liệt phải hoãn việc dùng binh ngay vì thiếu lương chứ không phải thiếu quân. Lực lượng mà vua Nguyên huy động thêm cho lần đánh Đại Việt thứ 3 sau này cũng chỉ chừng gần 10 vạn người[59].

Tham khảo

  • Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, bản in lại năm 2003.
  • Trần Xuân Sinh (2006), Thuyết Trần, Nhà xuất bản Hải Phòng
  • Quốc Chấn chủ biên (2006), Những danh tướng chống ngoại xâm thời Trần, Nhà xuất bản Giáo dục.
  • Vũ Ngọc Khánh (2008), Người “có vấn đề” trong sử nước ta, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin.
  • Đỗ Trình chủ biên (2003), Lịch sử quân sự Việt Nam – Tập IV: Hoạt động quân sự thời Trần (Thế kỷ XIII – XIV), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Chú thích

  1. ^ Đúng ra thì năm 1258, Đại Nguyên vẫn chưa được thành lập.
  2. ^ a ă Xuân Mậu Tý – nhớ hào khí vua Trần Thánh Tông
  3. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 121.
  4. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 122-124.
  5. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 125-127.
  6. ^ Quảng Trị ngày nay, theo Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972).
  7. ^ Tây Bắc đảo Hải Nam, theo Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972).
  8. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 125-127 dẫn lại từ Nguyên sử quyển 209 phần An Nam truyên.
  9. ^ Nguyên sử thời Minh phiên âm là Thoát Hoan. Nguyên sử giải nghĩa thời Thanh phiên âm là Thác Hoan. Tên gọi Thoát Hoan thường được biết tới ở Việt Nam
  10. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), chương VI.
  11. ^ Sau đó đạo quân này được tăng viện thêm 1,5 vạn quân do Qutuqu, Ô Mã Nhi Batur, Lưu Quân Khánh dẫn đầu. Đến Chiêm Thành tìm nơi đóng quân của Toa Đô chưa được thì gặp bão tan tác hết, không rõ còn bao nhiêu.
  12. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), Chương V.
  13. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 183-184.
  14. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 186-187. Bình Than theo Lê Tắc trong An Nam chí lược và Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972) là chỗ hợp lưu của sông Kinh Thầy với sông Thái Bình.
  15. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 196.
  16. ^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 5.
  17. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 198 dẫn lại Nguyên sử quyển 209.
  18. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 204-205.
  19. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 222-223.
  20. ^ sông Xa Lý, huyện Sơn Động ngày nay
  21. ^ Huyện lỵ huyện Sơn Động ngày nay
  22. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 206.
  23. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 207.
  24. ^ Vạn hộ là cấp chỉ huy một đơn vị gồm 1 vạn quân.
  25. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 212-216.
  26. ^ Phả Lại
  27. ^ Quế Võ, Bắc Ninh
  28. ^ Tiên Du, Từ Sơn, Bắc Ninh
  29. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 216-217.
  30. ^ Nguyên sử, quyển 209.
  31. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 217-222.
  32. ^ Huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái ngày nay
  33. ^ Tức bãi Mạn Trù ở Khoái Châu, Hưng Yên
  34. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 227-228.
  35. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972) cho rằng ải Hải Thị có thể là nơi sông Luộc hợp lưu với sông Hồng.
  36. ^ Trần Nhật Huyên là tên dùng của vua Trần Nhân Tông trong ngoại giao với nhà Nguyên.
  37. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972) dẫn lại Nguyên sử quyển 3.
  38. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 235-236.
  39. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 239-243.
  40. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 245.
  41. ^ a ă Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 191
  42. ^ Không rõ tên
  43. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 249.
  44. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 194
  45. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 251.
  46. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972) trích dẫn Kinh tế đại điển tự lục.
  47. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972) trích dẫn Nguyên sử quyển 209.
  48. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 251-253.
  49. ^ Khúc sông Hồng chảy qua Khoái Châu
  50. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 199
  51. ^ a ă Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 260-261.
  52. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 254.
  53. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 254-255.
  54. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 255-256.
  55. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 256-257.
  56. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 257-259.
  57. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, 2004, tr 506
  58. ^ Vũ Ngọc Khánh, sách đã dẫn, tr 84
  59. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 206, 214

Xem thêm

München

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
München
Munich
München Panorama.JPG
Huy hiệu Vị trí
Huy hiệu Munich
München ở Đức

Hành chính
Quốc gia Đức
Bang Bayern
Vùng hành chính Oberbayern
Huyện Quận đô thị
Phân chia thành phố 25 quận
Đại thị trưởng Christian Ude (SPD)
Đảng cầm quyền SPD / Đảng Xanh / Rosa Liste
Số liệu thống kê cơ bản
Diện tích 310,43 km² (119,9 mi²)
Cao độ 519 m  (1703 ft)
Dân số  1.356.594  (31/12/2007)[1]
 – Mật độ 4.370 /km² (11.318 /sq mi)
 – Thành thị 2.606.021
 – Đô thị 5.203.738
Thành lập 1158
Các thông tin khác
Múi giờ CET/CEST (UTC+1/+2)
Biển số xe M
Mã bưu chính 80331–81929
Mã vùng 089
Website www.muenchen.de Tọa độ: 48°8′0″B 11°34′0″Đ

München hay Muenchen (phát âm: [ˈmʏnçən]; còn được biết trong tiếng Anhtiếng Pháp như Munich), thủ phủ của tiểu bang Bayern, là thành phố lớn thứ ba của Đức sau BerlinHamburg và là một trong những trung tâm kinh tế, giao thôngvăn hóa quan trọng nhất của Cộng hòa liên bang Đức.

Địa lý

München là đô thị lớn cuối cùng ở cực Nam nước Đức.
Điểm cao nhất của thành phố là đồi Warnberg, cao 579m trên mặt biển, điểm thấp nhất cao 482m trên mặt biển nằm trong khu Feldmoching của thành phố.
Sông Isar chảy xuyên qua thành phố dài 13,7 km từ Tây Nam đến Đông Bắc. Các đảo nổi tiếng nằm trên sông là Museuminsel với Viện bảo tàng Đứcđảo Prater ngay bên cạnh. Có nhiều hồ lớn nằm ở ngoài ngoại ô như hồ Ammer, Wörthsee hay Starnberger See. Các dòng nước khác là sông Würm bắt nguồn từ Starnberger See chảy xuyên qua phía Tây của München và nhiều kênh rạch như Eisbach hay như Auer Mühlbach là kinh đầu tiên từ Isar chảy qua Vườn bách thú München ở Hellabrunn. Phần lớn các kênh rạch được đào dọc theo sông Isar, một số chảy xuyên qua khu trung tâm thành phố. Ngày nay phần lớn các kênh rạch ở trung tâm được dẫn chảy ngầm bằng ống nước, một số được san lấp từ khi xây dựng các đường tàu điện ngầm và tàu lửa thành phố (S-Bahn). Các hồ trong thành phố München bao gồm hồ Kleinhesselohe trong vườn Anh, hồ trong khu vực Olympia và các hồ Lerchenauer See, Fasaneriesee, Feldmochinger See toàn bộ đều nằm về phía Bắc của München.

Tháp của Tòa đô chính và Nhà thờ Đức Bà của München

Tổng diện tích của München là 31.041ha, trong đó 44% là nhà và các diện tích phụ thuộc, 16,9% là diện tích nông nghiệp, 16,5% là diện tích giao thông, 14,7% là các diện tích dùng để nghỉ ngơi, 4,4% là rừng, 1,2% diện tích nước và 2,2% dùng cho các mục đích khác. Ranh giới thành phố dài 117,4 km. Chiều dài nhất của thành phố từ Bắc đến Nam là 20,9 km, từ Đông sang Tây là 26,8 km.
Thành phố München nằm trong vùng tiếp giáp giữa khí hậu Đại Tây Dương ẩm và khí hậu lục địa khô. Các yếu tố khác có ảnh hưởng quyết định đến thời tiết là núi Anpơ (Alpen) chia cắt thời tiết ở Trung Âu và sông Donau chia cắt thời tiết trong vùng. Vì vị thế này mà thời tiết ở München hay thay đổi. Gió từ phía Nam mang đến luồng không khí ấm và khô quanh năm, đem lại tầm nhìn xa rất tốt thấy rõ cả núi Anpơ của vùng Bayern. Nhiệt độ chính thức cao nhất từ trước đến nay do Cục thời tiết Đức đo được là 37,2 độ Celcius vào tháng 7 năm 1983. Với vị trí nằm trong tiểu bang Bayern có nhiều giông tố nhất, München cũng đã chịu đựng nhiều cơn giông bão dữ dội. Đáng nói nhất là cơn mưa đá vào ngày 12 tháng 7 năm 1984 đã gây thiệt hại đến 1,5 tỉ Euro. Vì gần núi Anpơ, München là thành phố lớn có nhiều tuyết nhất của Đức.

Sơ lược lịch sử

Quảng trường Marien, điêu khắc đồng của Matthäus Merian, khoảng năm 1650

München được nhắc đến trong các văn kiện lần đầu tiên vào năm 1158 khi Heinrich Sư tử (Heinrich der Löwe) cho xây một cầu mới qua sông Isar gần các đảo sông Isar vào chỗ cầu Ludwig (Ludwigsbrücke) ngày nay và phá hủy chiếc cầu đang tồn tại của Giám mục gần Unterföhring nhằm để thu lợi qua việc buôn bán muối. Nhờ chiếc cầu này và qua đó là việc buôn bán muối München nhận được quyền họp chợ, quyền phát hành tiền và quyền thu thuế do hoàng đế Friedrich Barbarossa, hay Friedrich I (Thánh chế La Mã), ban cho.
Mặc dầu trở thành nơi cư ngụ của hoàng đế từ năm 1328, München chỉ bắt đầu vươn lên trở thành thành phố lớn 450 năm sau đó. Vào cuối thế kỷ thứ 18 München bắt đầu phát triển nhanh chóng và từ năm 1806 tốc độ phát triển càng được gia tăng khi München trở thành thủ đô của Vương quốc Bayern. Nếu như thành phố München chỉ có 24.000 người vào năm 1700 thì sau đó dân số cứ tăng lên gấp đôi 30 năm một lần, năm 1871 đã có 170.000 người và năm 1933 đã có 840.000 người cư ngụ ở München.

Khu phố cổ München và sông Isar nhìn từ Maximilianeum, cuối thế kỷ thứ 19

Dưới quyền của vua Ludwig I (18251848) München trở thành một thành phố nghệ thuật nổi tiếng. Leo von KlenzeFriedrich von Gärtner đã thiết kế nhiều công trình như đường Ludwig (Ludwigstraße), Quảng trường hoàng gia (Königsplatz) và dinh thự của vua.
Vào thời của Hoàng tử nhiếp chính Luitpold von Bayern (18861912) München đã trải qua một giai đoạn phát triển nhanh chóng cả về nghệ thuật lẫn về kinh tế. Ngoài những công trình khác, đường Hoàng tử nhiếp chính (Prinzregentstraße) và nhà hát Hoàng tử nhiếp chính (Prinzregenttheater) cùng được xây dựng trong thời gian này. Vào lúc giao thời giữa hai thế kỷ, khu vực Schwabing đã trở thành khu phố của các nhà nghệ thuật, nơi lui tới của nhiều nhà văn và họa sỹ. Tên của tờ báo nghệ thuật ở München “Die Jugend” (Thời thanh niên), phát hành lần đầu tiên vào năm 1896, đã trở thành tên cho thời kỳ Tân nghệ thuật trong tiếng Đức (Jugendstil, tiếng Pháp: l’art nouveau).
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất cuộc Cách mạng cộng sản cũng thất bại ở München (xem: Cộng hòa hội đồng München) và trong những năm sau đó München đã dần dần trở thành “thủ đô” của phong trào Hitler. Thành phố München cũng như đa số các thành phố lớn của Đức đã phải trả giá cho việc này bằng các tàn phá rộng lớn qua các lần oanh tạc trên diện tích rộng của quân đội Đồng minh trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Sau khi được tái xây dựng chủ yếu theo quang cảnh đô thị trong lịch sử, thành phố München từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã phát triển trở thành một trung tâm của công nghệ cao và ngoài ra còn là nơi đặt trụ sở của nhiều công ty thuộc các ngành truyền thông, bảo hiểm và ngân hàng. Ngành du lịch cũng phát triển mạnh trong thành phố vốn có nhiều viện bảo tàng quan trọng và nhiều thắng cảnh này. Năm 1972 München là thành phố chủ nhà của Thế vận hội mùa Hè lần thứ 20, đã bị làm lu mờ bởi cuộc ám sát của nhóm khủng bố người Palestine. (xem: Thảm sát München)

Đọc bài chính về Lịch sử München.

Chính trị

Là thủ phủ của tiểu bang, München là nơi đặt trụ sở của Hội đồng tiểu bang và của chính phủ tiểu bang Bayern. Ngoài ra, thành phố München còn là trụ sở của khu (Regierungsbezirk) Oberbayern, của tỉnh Oberbayern và của huyện München. Các đảng trung lập và khuynh tả có truyền thống chiếm ưu thế ở München, một việc tương đối hiếm ở Bayern. Từ năm 1993 Christian Ude (SPD) là thị trưởng của München. Hiện thời Hội đồng thành phố München được lãnh đạo bởi một liên minh của SPD, Liên minh 90/Đảng Xanh (Đức) và Danh sách Hồng (Rosa Liste).

Văn hóa và thắng cảnh

Văn hóa

Tượng Bavaria ở Theresienwiese.

München nổi tiếng trên thế giới vì bộ sưu tầm nghệ thuật cổ điển xưa. Các viện bảo tàng như Alte Pinakothek, Neue Pinakothek, Pinakothek der ModerneLenbachhaus đều là các viện bảo tàng nghệ thuật có tiếng nhất trên thế giới. Với hơn một triệu khách tham quan hằng năm, Viện bảo tàng Đức (Deutsches Museum), có những triển lãm kỹ thuật độc nhất, là một trong những viện bảo tàng có khách tham quan nhiều nhất ở châu Âu. Các cơ sở văn hóa khác như Viện bảo tàng quốc gia về dân tộc học München (Völkerkundemuseum), Viện bảo tàng quốc gia tiền sử München, Viện bảo tàng thành phố München đều là những cơ sở văn hóa nổi tiếng nhất ở Đức. Ngoài ra trong trung tâm thành phố còn có Đoàn opera quốc gia Bayern, Đoàn kịch quốc gia Bayern có sân khấu biểu diễn chính là Nhà hát hoàng gia (Residenztheater), Đoàn hát múa München là một trong những đoàn hát múa dẫn đầu trong vùng nói tiếng Đức. Các sự kiện văn hóa nổi tiếng bao gồm Đại hội opera München, Liên hoan phim München. Lễ hội tháng Mười nổi tiếng của München (Oktoberfest) ở Theresienwiese là lễ hội lớn nhất loại này, được khách du lịch toàn thế giới đến tham dự.

Đọc thêm: Các nhà hát ở München.

Các công trình kiến trúc nổi tiếng và thắng cảnh

Tòa đô chính và Tượng đài Đức Mẹ

Quảng trường Đức Mẹ (Marienplatz) được coi là trung tâm của München nằm giữa Tòa đô chính Mới (Neue Rathaus) và Tòa đô chính Cũ (Alte Rathaus), ngay trong trung tâm của khu phố cổ. Nhà thờ Đức Bà với hai tháp có hình dáng đặc biệt, biểu tượng của thành phố, cũng ở gần đó. Từ chỗ này có thể dễ dàng đi đến rất nhiều nơi đáng tham quan thí dụ như Cung điện München, quán bia nổi tiếng Hofbräuhaus am Platzl và chợ Viktualien.
Đường Maximilian, được xây trong thế kỷ thứ 19 để làm đường duyệt binh, bắt đầu từ phía Nam của Cung điện München, trước Nhà hát opera. Đường này chạy dài từ khu phố cổ qua sông Isar đi đến tòa nhà Maximilianeum, hiện nay là trụ sở của Quốc hội tiểu bang Bayern. Ngày nay đường này là một con đường mua sắm sang trọng.
Quảng trường Odeon nằm về phía Bắc của trung tâm thành phố, ngay trước Cung điện München, có Hội trường tướng quân (Feldherrnhalletiếng Anh: Hall of the Field Lords) và nhà thờ dòng Theatine nổi tiếng theo được xây dựng theo lối kiến trúc Baroque và bên trong được trang hoàng theo kiểu Rococo tráng lệ. Con đường lộng lẫy thứ hai của München, đường Ludwig/đường Leopold, bắt đầu từ đây đi về phía Bắc, qua Đại học Ludwig-Maximilian, Khải Hoàn Môn München (Siegestor), xuyên qua khu Schwabing ra ngoài thành phố.

Nhà thờ dòng Theatine và Hội trường tướng quân

Một quảng trường nổi tiếng khác mằm về phía Tây Bắc của khu phố cổ là Quảng trường vua (Königsplatz) với Viện bảo tàng Glyptothek, Cổng thờ propylaeaViện bảo tàng cổ đại quốc gia.
Cách xa trung tâm thành phố một ít về phía Tây là lâu đài Nymphenburg có kết hợp độc đáo giữa công viên và dinh cơ và đã là dinh thự mùa hè của dòng họ Wittelsbach.
Ở phía Bắc thành phố là công viên Olympia được xây dựng cho Thế vận hội mùa hè 1972. Quang cảnh kiến trúc đáng xem bao gồm sân vận động Olympia, hồ bơi và hội trường Olympia nổi tiếng thế giới vì kiến trúc mái hình lều táo bạo hòa hợp với phong cảnh đồi chung quanh. Tháp Olympia cao 291m khánh thành năm 1968 cũng được xây dựng tại đây.

Công viên

Nổi tiếng thế giới là Vườn Anh (Englische Garten, tiếng Anh: English Garden) chạy dài từ trung tâm München đến ranh giới phía Bắc của thành phố và với diện tích 3,7km2 còn lớn hơn cả Central Park của New York. Công viên Olympia (Olympiapark) cũng là một công viên lớn, ngoài nhiều hồ ra từ đồi Olympia còn có thể nhìn toàn cảnh thành phố rất đẹp. Bên cạnh đó còn có rất nhiều công viên khác như Westpark hay công viên của lâu đài Nymphenburg.
Dọc theo sông Isar là các công viên tự nhiên nhỏ, một phần được tái tự nhiên hóa nhân dịp triển lãm vườn của liên bang năm 2005. Có thể chạy bộ hay đi xe đạp xuyên qua thành phố từ Bắc đến Nam dọc theo sông Isar mà lúc nào cũng ở trong màu xanh của tự nhiên.

Các món ăn đặc biệt

Món xúc xích Weißwurst được chế ra vào năm 1857 tại München và có lẽ là món đặc biệt nổi tiếng nhất. Ngoài ra còn có thể kể tới chả Leberkäs, bánh mì kẹp chả Leberkässemmel, bánh mì Brezn, bánh chiên Ausgezogene (ein rundes Schmalzgebäck) và nước uống Münchner Bier.

Kinh tế

Giao thông

Phi trường München Franz-Josef-Strauß, khánh thành năm 1992, ở Erdinger Moss cách München 29 km, với 24 triệu hành khách năm 2003 là phi trường lớn thứ hai của Đức và lớn thứ tám của châu Âu. Sau quyết định của Lufthansa thiết lập München trở thành đầu mối giao thông thứ hai bên cạnh Frankfurt am Main, phi trường ngày càng được liên kết với các đường bay quốc tế tốt hơn. Do số lượng hành khách tăng nhanh chóng một nhà đón khách mới được xây dựng thêm và đã khánh thành vào năm 2003. Tiểu bang München có kế hoạch nối liền phi trường và München bằng tàu chạy trên đệm từ trường Transrapid nhưng đang bị tranh cãi và cũng bị đa số trong Hội đồng thành phố München phủ quyết. Một liên kết giao thông như vậy sẽ có thể giảm thời gian đi đến phi trường xuống còn khoảng 9 phút.
Về đường sắt, München cũng được nối tiếp tốt vào mạng lưới đường sắt quốc tế. Mạng lưới xa lộ từ và đến München dày đặc bao gồm các đường xa lộ A8 StuttgartSalzburg, A9 Nürnberg-München với lối rẽ A93 đi Regensburg, A92 LandshutDeggendorf, A94 (đang xây dựng) đi Passau, A95 đi Garmisch-Partenkirchen và A96 đi MemmingenLindau (Bodensee). Đường xa lộ vành đai A99 bao bọc gần như toàn bộ München.

Giao thông công cộng

Trong giao thông công cộng công ty S-Bahn München phục vụ 10 tuyến S-Bahn; các tuyến chính đều chạy qua một đường hầm trong trung tâm thành phố. Để có thể chạy thường xuyên hơn, một đường hầm song song đang được dự định xây. Công ty giao thông München (Münchener Verkehrsgesellschaft) có 7 tuyến tàu điện ngầm U-Bahn, 11 tuyến tàu điện (Tram) và 66 tuyến đường xe buýt. 45% của các tuyến đường xe buýt khác được các công ty tư nhân vận hành. Tất cả các hệ thống giao thông công cộng đều có một giá chung do Hiệp hội giao thông München quy định. Với 95 km chiều dài, mạng lưới tàu điện ngầm của München là mạng dài thứ ba của Đức (với 86 km dưới mặt đất còn là dài thứ hai), số lượng hành khách hằng ngày là 960.000 người.[2]

Các công ty lớn

Các ngành kinh tế quan trọng ở München là du lịch, ô tô và chế tạo máy, kỹ thuật điện và công nghiệp phần mềm. München cũng là một trung tâm tài chính và bảo hiểm quan trọng của Đức. Ngoài ra thành phố là một vị trí quan trọng của công nghệ sinh học, tập trung ở Martinsried thuộc về làng Planegg lân cận. Sau New York, München là nơi có nhiều trụ sở của các nhà xuất bản nhất thế giới. Vào khoảng 250 nhà xuất bản đặt trụ sở chính ở đây. Công nghiệp phim và truyền hình cũng phát triển mạnh ở München và vùng phụ cận.
Nhiều công ty lớn có trụ sở chính ở München. Đặc biệt là sau Thế chiến thứ hai nhiều công ty đã dời trụ sở chính từ Berlin và Đông Đức về München. Một số công ty lớn ở München: Allianz, BMW, EADS, EPCOS, Infineon, HypoVereinsbank, MAN, Münchener Rückversicherungs AG, Siemens.

Các công sở và hiệp hội

Munich - Maria column 04.jpg

Các công sở liên bang và các đoàn thể, hiệp hội được biết đến nhiều ở München bao gồm:

Đào tạo và nghiên cứu

Các trường đại học

  • Đại học Ludwig Maximilians (LMU), thành lập năm 1472 ở Ingolstadt, năm 1802 dời về Landshut và năm 1826 từ đó dời về München.
  • Đại học kỹ thuật München (TUM), thành lập năm 1868 là trường kỹ thuật bách khoa, năm 1872 có thêm phân khoa nông nghiệp, năm 1930 trường Đại học nông nghiệp và nấu bia Wiehenstephan được sát nhập vào. Từ năm 1970 trường mang tên hiện nay
  • Đại học quân đội München thành lập năm 1973 là nơi đào tạo sỹ quan và học viên sỹ quan của quân đội.
  • Đại học âm nhạc và ca kịch thành lập năm 1830 là trường dạy hát, năm 1867 theo lời đề nghị của Richard Wagner được chuyển về Trường âm nhạc hoàng gia Bayern, từ năm 1892 được nâng lên thành Học viện quốc gia nghệ thuật âm thanh. Năm 1924 trường được mang tên là Đại học âm nhạc München. Từ năm 1998 trường mang tên hiện nay.
  • Đại học truyền hình và phim thành lập năm 1966.
  • Đại học triết München, thành lập năm 1925 tại Pullach và trong cùng năm trường được công nhận là trường đào tạo linh mục. Trường thuộc về dòng Tên (dòng Jesuit)
  • Đại học chính trị München, thành lập năm 1950
  • Đại học thực hành München (FHM), thành lập năm 1971 từ 7 trường kỹ sư và Trung học chuyên nghiệp cao cấp.
  • Munich Business School-Đại học thực hành tư nhân được chính phủ công nhận

Học viện

  • Học viện nghệ thuật hình ảnh
  • Học viện quảng cáo và tiếp thị Bayern (BAW)

Viện

  • Viện Max Planck
    • Luật xã hội quốc tế và ngoại quốc
    • Luật về thuế, cạnh tranh và sở hữu trí tuệ
    • Thần kinh và nhận thức học (còn có trụ sở ở Leipzip)
    • Vật lý (Viện Werner Heisenberg)
    • Điều trị tâm lý học
    • Nghiên cứu tâm lý

Các nguồn thông tin khác

Chú thích

  1. ^ Bayerisches Landesamt für Statistik und Datenverarbeitung. “www.statistik.bayern.de” (bằng tiếng Đức). Truy cập 17 tháng 5 năm 2008.
  2. ^ Die Münchner Verkehrsgesellschaft in Zahlen tháng Tư 2012.

Liên kết ngoài

 

Flag of Bavaria
Thành phố và huyện của bang tự do Bayern trong nước Đức
Flag of Germany
Thành phố Amberg • Ansbach • Aschaffenburg • Augsburg • Bamberg • Bayreuth • Coburg • Erlangen • Fürth • Hof • Ingolstadt • Kaufbeuren • Kempten • Landshut • Memmingen • München (Munich) • Nürnberg (Nuremberg) • Passau • Regensburg • Rosenheim • Schwabach • Schweinfurt • Straubing • Weiden • Würzburg
Huyện Aichach-Friedberg • Altötting • Amberg-Sulzbach • Ansbach (huyện) • Aschaffenburg • Augsburg • Bad Kissingen  Bad Tölz-Wolfratshausen • Bamberg • Bayreuth • Berchtesgadener Land • Cham • Coburg • Dachau • Deggendorf • Dillingen  Dingolfing-Landau • Donau-Ries • Ebersberg • Eichstätt • Erding • Erlangen-Höchstadt • Forchheim • Freising • Freyung-Grafenau  Fürstenfeldbruck • Fürth • Garmisch-Partenkirchen • Günzburg • Haßberge • Hof • Kelheim • Kitzingen • Kronach • Kulmbach • Landsberg • Landshut • Lichtenfels • Lindau • Main-Spessart • Miesbach • Miltenberg • Mühldorf • München (Munich)  Neuburg-Schrobenhausen • Neumarkt • Neustadt (Aisch)-Bad Windsheim • Neustadt (Waldnaab) • Neu-Ulm • Nürnberger Land  Oberallgäu • Ostallgäu • Passau • Pfaffenhofen • Regen • Regensburg (huyện) • Rhön-Grabfeld • Rosenheim (huyện) • Roth  Rottal-Inn • Schwandorf • Schweinfurt • Starnberg • Straubing-Bogen • Tirschenreuth • Traunstein  Unterallgäu • Weilheim-Schongau • Weißenburg-Gunzenhausen • Wunsiedel • Würzburg

 

Hiệp ước Schengen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bài này nói về một hiệp ước kí tại Schengen. Về thị trấn mang tên này của Luxembourg, xin xem Schengen.

   Thành viên Hiệp ước Schengen
   Thành viên tương lai

Hiệp ước Schengen là hiệp ước về đi lại tự do do một số nước Châu Âu ký kết. Hiệp ước Schengen được thoả thuận xong ngày 19 tháng 6 năm 1990. Đến ngày 27 tháng 11 năm 1990, 6 nước Pháp, Đức, Luxembourg, Bỉ, Hà LanÝ chính thức ký Hiệp ước Schengen. Hai nước Tây Ban NhaBồ Đào Nha ký ngày 25 tháng 6 năm 1991. Ngày 26 tháng 3 năm 1995, hiệp ước này mới có hiệu lực tại 7 nước thành viên. Hiệp ước quy định quyền tự do đi lại của công dân các nước thành viên. Đối với công dân nước ngoài chỉ cần có visa của 1 trong 9 nước trên là được phép đi lại trong toàn bộ khu vực Schengen. Tính đến 19/12 năm 2011, tổng số quốc gia công nhận hoàn toàn hiệp ước này là 26 nước: Ba Lan, Cộng hòa Séc, Hungary, Slovakia, Slovenia, Estonia, Latvia, Litva, Malta, Iceland, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Luxembourg, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức, Áo, Ý, Hy Lạp, Thụy Sĩ, Liechtenstein (trong đó có 22 nước thuộc khối liên minh Châu Âu).[1]

Tiền lệ

Trước công ước Schengen, đã có các hiệp ước bãi bỏ việc kiểm soát giấy tờ của người đi lại giữa một số nước ở châu Âu:

  • Liên minh thuế quan Benelux (Benelux Customs Union) gồm 3 nước Bỉ, Hà Lan, Luxembourg ký kết tại London(sau đó thay thế bằng Liên minh kinh tế Benelux(Benelux Economic Union) ký năm 1958), được áp dụng từ 1 tháng 1 năm 1948, cho phép các công dân của 3 nước trong Liên minh được đi lại tự do trong khu vực (và không phải khai thuế quan)
  • Liên minh Hộ chiếu Bắc Âu (Nordic Passport Union) được ký ngày 1 tháng 7 năm 1954 giữa các nước Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan (Iceland gia nhập ngày 1 tháng 12 năm 1955), áp dụng từ 1 tháng 5 năm 1958, cũng cho phép các công dân của Liên minh đi lại tự do trong khu vực mà không cần mang theo thẻ căn cước hay thẻ hộ chiếu

Lịch sử

Tập tin:Schengen Monument.jpg

Công trình kỷ niệm Hiệp ước Schengen tại thị trấn Schengen

Ngày 14 tháng 6 năm 1985, trên tàu Công chúa Marie-Astrid thả neo tại khúc sông Mosel ở ngã 3 biên giới Pháp, Đức, Luxembourg, cạnh thị trấn nhỏ Schengen của Luxembourg, 5 nước trong cộng đồng châu Âu là Pháp, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg và Tây Đức đã ký một hiệp ước bãi bỏ việc kiểm soát biên giới giữa 5 nước, để cho công dân các nước này đi lại tự do trong vùng lãnh thổ 5 nước gọi là Vùng Schengen.
Ngày 19 tháng 6 năm 1990 các nước này lại ký thêm một thỏa thuận về việc áp dụng và thay thế hiệp ước ký trước, gọi là “Công ước về việc áp dụng hiệp ước Schengen giữa các chính phủ các nước trong Liên minh kinh tế Benelux, Cộng hòa Liên bang Đức và Cộng hòa Pháp, liên quan tới việc bãi bỏ từng bước các việc kiểm soát các biên giới chung” (Convention d’application de l’accord de Schengen entre les gouvernements des états de l’Union économique du Benelux, la Répuplique fédérale d’Allemagne, et la République française, relatif à la suppression graduelle des contrôles aux frontières communes) gọi tắt là Công ước Schengen.

Các thành viên và ngày gia nhập

Vùng lãnh thổ ngoại trừ

Các lãnh thổ ngoài châu Âu dưới đây:

Các lãnh thổ không gia nhập

  • San Marino (không gia nhập nhưng có biên giới mở với Ý)
  • Monaco (coi như một phần của Pháp, nhà chức trách Pháp kiểm soát hải cảng Monaco)
  • Liechtenstein (hiện đã nộp đơn xin gia nhập từ mùa thu 2005)
  • Vatican (có biên giới mở với Ý và đã ngỏ ý muốn gia nhập, hiện có sự hợp tác chặt chẽ về an ninh trong hệ thống thông tin Schengen (système d’information de Schengen)
  • Andorra
  • Hy Lạp (tuy gia nhập, nhưng đối với công dân của Cộng hòa Macedonia muốn vào Hy Lạp vẫn phải xin visa của Hy Lạp)
  • Anh và Ireland (chỉ ký thỏa thuận hợp tác về an ninh và cảnh sát)

Áp dụng

  • 26 tháng 3 năm 1995: Đức, Bỉ, Pháp, Hà Lan, Luxembourg, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha
  • 26 tháng 10 năm 1997: Ý
  • 1 tháng 12 năm 1997: Áo
  • 8 tháng 12 năm 1997: Hy Lạp (trên lý thuyết, đến 26 tháng 3 năm 2000 mới thực sự áp dụng, tuy nhiên đối với công dân Cộng hòa Macedonia vẫn phải xin visa của Hy Lạp)
  • 25 tháng 3 năm 2001: Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan, Iceland
  • 21 tháng 12 năm 2007: Estonia, Latvia, Litva, Ba Lan, Cộng hòa Séc, Slovakia, Slovenia, Hungary, Malta (áp dụng ở biên giới đường bộ và đường thủy, riêng đường hàng không kể từ 30 tháng 3 năm 2008)
  • tháng 11 năm 2008: Thụy Sĩ
  • năm 2009: đảo Kypros
  • năm 2011: Bulgaria, Romania

Các biện pháp an ninh

Theo khoản 2 điều 2 của Công ước, các nước ký kết có quyền tái thiết lập tạm thời việc kiểm soát biên giới hoặc một khu vực nhất định, vì lý do an ninh. Ví dụ trường hợp của Pháp trong dịp tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm ngày quân đồng minh đổ bộ lên bờ biển Normandie (D-day) (06.6.2004) hoặc CHLB Đức trong thời gian tổ chức giải vô địch bóng đá thế giới năm 2006 (đề phòng các hooligans phá rối).

Vấn đề an ninh hàng không

Khi du lịch bằng đường hàng không giữa các nước trong vùng Schengen, vẫn phải trình thẻ căn cước hoặc hộ chiếu khi check-in. Đây không phải là qui định của Công ước Schengen, mà là qui định bảo đảm an ninh của ngành hàng không.

Khách sạn và nhà nghỉ

Theo qui định của công ước Schengen, mọi khách sạnnhà nghỉ trong vùng phải đăng ký tên, tuổi, số thẻ căn cước hay hộ chiếu của mọi công dân nước khác khi vào lưu ngụ, vì vậy khi check-in vào khách sạn hay nhà nghỉ thì phải xuất trình thẻ căn cước hoặc hộ chiếu.

Visa vùng Schengen

Đối với người nước ngoài, muốn vào Vùng Schengen phải xin một visa đồng nhất gọi là Visa Schengen tại sứ quán hay lãnh sự quán của một nước mà mình muốn tới đầu tiên, sau đó có thể tự do đi lại trong Vùng Schengen. Loại visa này thường chỉ có thời hạn tối đa là 3 tháng.

Chú thích

  1. ^ “Schengener Übereinkommen”. Auwärtiges Amt. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2014.

Liên kết ngoài