Chào ngày mới 13 tháng 9

YuanEmperorAlbumOgedeiPortrait.jpg

Oa Khoát Đài (hình) trở thành đại hãn thứ hai của Đế quốc Mông Cổ.    Năm 1914Chiến tranh thế giới thứ nhất: Quân Pháp-Anh phát động cuộc tấn công trực diện vào chiến tuyến sông Aisne của quân Đức.  Năm 1971 – Phó thủ tướng thứ nhất-Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lâm Bưu qua đời trong một tai nạn máy bay tại Mông Cổ, ông bị cáo buộc định đến Liên Xô sau khi cố gắng ám sát Mao Trạch ĐôngNăm 2006Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản tập cuối cùng, chính thức hoàn thành sau 15 năm biên soạn và xuất bản.

Oa Khoát Đài

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đại hãn Oa Khoát Đài
Khả hãn của đế quốc Mông Cổ
(“Hãn Mông Cổ”)
YuanEmperorAlbumOgedeiPortrait.jpg
Tại vị 12291241
Đăng quang 1229
Tiền nhiệm Thành Cát Tư Hãn
Kế nhiệm Hãn Quý Do
Thông tin chung
Tên đầy đủ Hãn Oa Khoát Đài
Miếu hiệu Thái Tông
Hoàng tộc Bột Nhi Chỉ Cân (Боржигин)
Thân phụ Thiết Mộc Chân
Thân mẫu Bột Nhi Thiếp
Sinh ~ 1186
Mất 1241

Đại hãn Oa Khoát Đài, (tiếng Mông Cổ: Ogedei qaghan.svg Өгөөдэй хаан, Ögöödei qaγan; tiếng Trung: 窝阔台, bính âm: Wōkuòtái); các tài liệu không phiên âm viết là Ögedei, Ogotai, Oktay (khoảng 11861241), là con trai thứ ba của Thành Cát Tư Hãn và là Đại Hãn thứ hai của đế quốc Mông Cổ sau khi cha của ông chết (xen giữa là khoảng thời gian nhiếp chính của em trai ông, Đà Lôi, từ 1227 tới 1229). Ông tiếp tục công việc mở rộng đế quốc mà cha của ông đã bắt đầu, và là Đại Hãn khi đế quốc Mông Cổ đạt tới đỉnh cao của sự mở rộng về phương tây trong quá trình xâm chiếm châu Âu. Giống như tất cả những người con khác của Thành Cát Tư Hãn, ông tham gia một cách tích cực vào việc chinh phục tại miền tây Trung QuốcTrung Á.

Nền tảng

Oa Khoát Đài là con trai thứ ba của Thành Cát Tư Hãn, và được đại hãn này coi là người con yêu thích nhất của ông, ngay từ khi Oa Khoát Đài còn là một đứa trẻ. Khi trưởng thành, Oa Khoát Đài được biết đến vì khả năng gây ảnh hưởng tới những người hay nghi ngờ trong bất kỳ cuộc tranh luận nào mà ông tham dự, đơn giản là do sức thuyết phục từ nhân cách của ông. Ông có vóc người cao lớn, được đánh giá là vui tính, có sức lôi cuốn quần chúng rất cao, thông minh và kiên định. Uy tín của ông được quy là một phần của thành công của ông trong việc giữ cho đế quốc Mông Cổ đi đúng đường lối mà cha của ông đã vạch ra.
Oa Khoát Đài cũng được biết đến như là một người khiêm tốn, người hiểu các nhược điểm của mình, và không tự coi mình là một thiên tài, biết lắng nghe và trọng dụng các vị lão tướng dưới quyền cha mình, cũng như những người mà bản thân ông cho là có khả năng nhất. Giống như những người Mông Cổ khác vào thời kỳ đó, ông đã được nuôi dưỡng và đào tạo như là một chiến binh ngay từ khi còn nhỏ, và trong vai trò là con trai của Thành Cát Tư Hãn nên ông là một phần trong kế hoạch của cha mình trong việc thiết lập một đế quốc toàn thế giới. Kinh nghiệm quân sự của ông đáng chú ý ở điểm là ông sẵn lòng lắng nghe các tướng của mình cũng như khả năng thích ứng với hoàn cảnh. Ông cũng là người cực kỳ thực dụng, giống như cha đẻ của mình, và nhìn nhận công việc ở kết quả cuối cùng chứ không phải nhìn vào cách thức thực hiện. Sự kiên định trong tính cách và làm mọi việc trên cơ sở có căn cứ tin cậy là những đặc điểm mà cha của ông đánh giá cao nhất đối với ông, và điều này đã đặt ông vào vị trí của người kế vị, chứ không phải hai người anh của ông là Truật XíchSát Hợp Đài.

Đại hãn

Ông được bầu làm Đại Hãn năm 1229, theo kết quả của hội nghị kurultai (khố lí nhĩ đài) diễn ra sau khi Thành Cát Tư Hãn chết. Điều này chưa bao giờ bị thách thức do nó là mong muốn rõ ràng của Thành Cát Tư Hãn rằng Oa Khoát Đài sẽ là người kế vị ông. Nhờ vào cơ chế tổ chức mà Thành Cát Tư Hãn để lại cũng như uy tín của ông mà phần lớn các công việc và vấn đề của đế quốc Mông Cổ vẫn giữ được sự ổn định trong thời gian trị vì của ông.Cũng cần phải bổ sung thêm rằng Oa Khoát Đài là người cực kỳ thực dụng và hiểu biết các hạn chế của mình. Ông không có bất kỳ ảo tưởng nào rằng ông là người tương đương với cha mình trong vai trò của cả người chỉ huy quân sự lẫn người tổ chức, và sử dụng các khả năng nào mà ông là người có ưu thế nhất.
Trong thời gian trị vì của ông, người Mông Cổ đã hoàn thành việc tiêu diệt nhà Kim của người Nữ Chân (1115–1234) vào năm 1234, tiến tới việc thôn tính nhà Nam Tống. Năm 1235, dưới sự chỉ huy trực tiếp của ông, người Mông Cổ bắt đầu cuộc chiến tranh thôn tính chỉ kết thúc sau 45 năm, và tạo ra kết quả là sự hợp nhất toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc. Quân đội Mông Cổ cũng buộc Triều Tiên trở thành chư hầu, thiết lập sự kiểm soát vĩnh cửu đối với Ba Tư (do Chormagan chỉ huy) và, đáng chú ý nhất, mở rộng về phía tây dưới sự chỉ huy của hãn Bạt Đô (Ba tu) để chinh phục vùng thảo nguyên của Nga. Công cuộc chinh phục của họ về phía tây bao gồm gần như toàn bộ lãnh thổ Nga (ngoại trừ Novgorod trở thành chư hầu),đây là một chiến thắng lớn của Mông Cổ vì đại thắng nước Nga là việc ngay cả NapoléonHitler cũng không thể làm được.Tiếp theo Oa Khoát Đài bàn kế hoạch chinh phục HungaryBa Lan. Các con trai của Oa Khoát Đài là Khoát Đoan (Kadan) và hãn Quý Do (Güyük) đã tấn công Ba Lan và Transilvania.
Hãn Oa Khoát Đài đã ra lệnh xâm chiếm toàn bộ châu Âu, tiến tới vùng “Biển Lớn” (Đại Tây Dương), và chỉ có cái chết của ông đã ngăn cản việc chôn vùi đầy khả năng đối với Áo, Đức, Italia, Pháp, Tây Ban Nha cũng như các công quốc nhỏ khác tại châu Âu. Trên thực tế, các lực lượng Mông Cổ đã tiến sát tới thành Viên, đã thực hiện chiến dịch quân sự ác liệt trong mùa đông chống lại Áo và Đức trong đợt tiến quân đầu tiên vào Tây Âu, khi Oa Khoát Đài chết. Nhiều nhà sử học tin rằng chỉ có cái chết của ông mới ngăn chặn sự xâm chiếm toàn bộ châu Âu. Một điều không thể nghi ngờ là sự dễ dàng khi người Mông Cổ tiêu diệt quân đội Ba Lan tại trận Legnica, và hai ngày sau đó là quân đội Hungary tại trận Mohi, đã không báo trước điềm may cho những lực lượng còn lại của châu Âu.
Sự bành trướng của người Mông Cổ trong gần như toàn bộ châu Á đại lục dưới sự chỉ huy của Oa Khoát Đài đã đem lại sự ổn định chính trị và tái thiết lập con đường tơ lụa, hành trình thương mại chính giữa phương Đông và phương Tây khi đó.

Sau khi chết

Oa Khoát Đài chết năm 1241, làm cho công cuộc chinh phục châu Âu của người Mông Cổ chấm dứt sớm hơn dự kiến. Các tướng lĩnh chỉ huy được biết tin xấu này khi họ đang trên đường tiến tới thành Wien, đã rút lui để về tham dự hội nghị Ikh kurultai tại Mông Cổ, và không bao giờ tiến quân xa như thế về phương tây nữa.
Con trai của ông, Quý Do (1206-1248) cuối cùng đã trở thành người kế vị ông, sau 5 năm nhiếp chính của vợ ông là đại hoàng hậu Bột Lạt Cáp Chân (Töregene Khatun). Nhưng Bạt Đô (1205-1255), hãn của hãn quốc Kipchak (hay Kim Trướng hãn quốc) tại Nga, không bao giờ chấp nhận Quý Do, người đã chết khi trên đường tới đe dọa ông. Điều này diễn ra tới tận năm 1255, khi hãn Mông Kha (hay Mông Ca, Mongke – con trai của Đà Lôi) lên kế vị, và Bạt Đô cảm thấy đủ an toàn để có thể lại chuẩn bị cho việc xâm lăng châu Âu. Rất may mắn cho người châu Âu là ông này cũng đã chết trước khi kế hoạch của ông có thể được thực hiện. Con trai của ông là hãn Sartaq cũng có ý định thực hiện điều này, nhưng ông ta cũng đã chết năm 1256. Năm 1258, sau khi em trai của Bạt Đô là Biệt Nhi Ca (Berke) (?-1266) lên trị vì hãn quốc Kipchak thì do là người theo Hồi giáo nên ông này ưa thích việc ngăn chặn mọi ý định của người em họ là hãn Húc Liệt Ngột (Hulagu – con trai Đà Lôi) (1217-1265) trong việc làm tổn hại cho vùng đất thánh của mình thay vì xâm lăng châu Âu. Các nhà sử học đánh dấu sự thoái trào của đế quốc Mông Cổ hợp nhất là sau cái chết của Oa Khoát Đài, mặc dù việc lên ngôi của Mông Kha đã làm ngừng mọi cuộc nội chiến gia đình trong một khoảng thời gian.

Tham khảo

  • Amitai-Preiss, Reuven, The Mamluk-Ilkhanid War, 1998
  • Chambers, James, The Devil’s Horsemen: The Mongol Invasion of Europe
  • Hildinger, Eric, Warriors of the Steppe: A Military History of Central Asia, 500 B.C. to A.D. 1700
  • Morgan, David, The Mongols, ISBN 0-631-17563-6
  • Nicolle, David, The Mongol Warlords Brockhampton Press, 1998
  • Reagan, Geoffry, The Guinness Book of Decisive Battles, Canopy Books, NY (1992)
  • Saunders, J.J., The History of the Mongol Conquests, Routledge & Kegan Paul Ltd, 1971, ISBN 0-8122-1766-7
  • Sicker, Martin, The Islamic World in Ascendancy: From the Arab Conquests to the Siege of Vienna, Praeger Publishers, 2000
  • Soucek, Svatopluk, A History of Inner Asia, Cambridge, 2000

Liên kết ngoài

Oa Khoát Đài
Nhà Borjigin (1206–1402)

Sinh: khoảng 1186 Mất: 1241

Hiệu
Tiền vị:
Đà Lôi
(nhiếp chính)
Khả Hãn của Đế quốc Mông Cổ
1229–1241
Kế vị
Bột Lạt Cáp Chân
(nhiếp chính)
Sửa Khả Hãn của Đế quốc Mông Cổ
Thành Cát Tư Hãn (1206-1227) | Đà Lôi (nhiếp chính) (1227-1229) | Oa Khoát Đài (1229-1241) | Nãi Mã Chân (nhiếp chính) (1241-1245) | Quý Do (1246-1248) | Hải Mê Thất (nhiếp chính) (1248-1251)| Mông Kha (1251-1259) | Hốt Tất Liệt (1260-1294)

Trận sông Aisne lần thứ nhất

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trận sông Aisne lần thứ nhất
Một phần của Mặt trận phía tây trong Chiến tranh thế giới thứ nhất
German trenches on the aisne.jpgNhững người lính Đức trong chiến hào ven sông Aisne (Pháp).
.
Thời gian 1228 tháng 9 năm 1914[1]
Địa điểm Sông Aisne, Pháp
Kết quả Quân đội Đức đánh bật các cuộc tiến công liên tiếp của liên quân AnhPháp.[2][3]
Tham chiến
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Vương quốc Anh
Pháp Pháp
Đế quốc Đức Đế quốc Đức
Chỉ huy
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland John French[4]
Pháp Joseph Joffre[5]
Pháp Louis Franchet d’Esperey[4]
Pháp Michel-Joseph Maunoury[4]
Đế quốc Đức Erich von Falkenhayn[5]
Đế quốc Đức Alexander von Kluck[4]
Đế quốc Đức Karl von Bülow[4]
Đế quốc Đức Josias von Heeringen[4]
Lực lượng
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Lực lượng Viễn chinh Anh [4]
Pháp Các Tập đoàn quân số 5 và số 6[4]
Đế quốc Đức Các Tập đoàn quân số 1, số 2 và số 7 [4]
Tổn thất
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland 13.541 quân thương vong (561 sĩ quan và 12.980 binh lính – hơn 10% binh lực) [6]
.

Trận sông Aisne lần thứ nhất là một trận đánh trên Mặt trận phía tây của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất[7], diễn ra từ ngày 12 cho đến ngày 28 tháng 9 năm 1914.[1] Trong trận chiến này – vốn bắt nguồn từ cuộc truy đuổi của quân đồng minh AnhPháp sau trận sông Marne lần thứ nhất,[1] quân đội Đế quốc Đức (gồm thâu các Tập đoàn quân số 1, số 2 và số 7) đã liên tiếp đánh bật các cuộc tiến công của liên quân (gồm thâu các Tập đoàn quân số 5, số 6 của Pháp và quân đội Viễn chinh Anh),[3][8][9] gây thiệt hại nặng nề cho quân đội Anh – Pháp trong từng đợt tập kích của họ[6]. Thắng lợi phòng ngự của quân đội Đức trong trận Aisne lần thứ nhất đã thể hiện tính chất dễ thủ khó công của Mặt trận phía tây khi ấy[2], đồng thời cũng chứng tỏ ý nghĩa của trận đánh này là đánh dấu sự chấm dứt của cuộc chiến tranh cơ động giữa quân Đức và liên quân Anh – Pháp[6], cùng với sự mở đầu của tình trạng chiến tranh chiến hào trên Mặt trận phía tây.[2]
Vào ngày 11 tháng 9 năm 1914, sau khi bị đánh bại trong trận Marne lần thứ nhất, quân đội Đức triệt thoái về sông Aisne và phòng ngự ở vùng đất cao ở hướng Bắc con sông này. Trong ngày hôm đó, các Tập đoàn quân số 1 và số 2 của Đức đã bắt đầu đào hào bên sông Aisne.[8] Tập đoàn quân số 7 của Đức cũng tham gia đóng quân ở mạn Bắc sông Aisne.[4] Quân đội phe Hiệp Ước đã tiến công không lâu sau khi quân Đức đến được cao điểm Chemin des Dames:[1] vào ngày 12 tháng 9 năm 1914, một Sư đoàn Bộ binh Anh đã đến cái chóp của khu đất cao tại Venizel, nằm giữa chiến tuyến sông Aisne, nhưng Lực lượng Viễn chinh Anh sớm bị sa lầy ở giữa chiến tuyến.[8] Hôm sau (13 tháng 9), các Tập đoàn quân số 5 và số 6 của Pháp được sự hỗ trợ của quân Anh đã phát động cuộc tấn công trực diện của quân bộ binh vào chiến tuyến của Đức[4] nhằm vòng qua cánh tây của cao điểm Chemin des Dames, nhưng bị quân Đức đẩy lùi. Cơ hội duy nhất cho liên quân Anh – Pháp là ở bên phải chiến tuyến của họ, khi quân Pháp phát hiện ra một lỗ hổng giữa hai Tập đoàn quân số 1 và số 2 của Đức.[1][5][8] Nhưng một quân đoàn Đức đã được tung vào lỗ hổng này.[10] Sau khi lập đầu cầu ở phía bắc sông Aisne vào ngày 14 tháng 9 năm 1914, phe Hiệp Ước đã tiếp tục tập kích quân Đức nhưng các cuộc phản công của quân Đức đã bẻ gãy cuộc tập kích của đối phương.[4] Tập đoàn quân số 7 được lệnh của Tổng tham mưu trưởng Quân đội Đức là Erich von Falkenhayn cũng xuất hiện để che lấp lỗ hổng giữa hai Tập đoàn quân Đức.[10][11] Quân Đức tiếp tục nắm giữ thế thượng phong trước địch thủ của mình trong giai đoạn sau đó.[1] Súng máypháo binh mà họ khai triển để phòng ngự các cử điểm của mình đã gây bất lợi cho phe Hiệp Ước, và tuy phe Hiệp Ước đã thực hiện một số bước tiến nho nhỏ nhưng không thể củng cố chúng.[4]
Tổng tư lệnh Joseph Joffre của Quân đội Pháp phải ra lệnh chấm dứt cuộc truy kích[12]. Sau những thất bại của mình, khối Hiệp Ước đã bắt đầu thu nhỏ quy mô của cuộc chiến vào ngày 18 tháng 9 năm 1914, và cho đến ngày 28 tháng 9 năm ấy thì cuộc chiến kết thúc.[4][13] Trận sông Aisne lần thứ nhất cho thấy cả hai phe, nhất là khối Hiệp Ước đã không thể tiến công những cứ điểm được bố phòng vững chãi của đối phương.[6] Những cuộc tấn công dữ dội của liên quân Anh – Pháp đã không thể bọc sườn quân Đức, chưa kể quân Pháp còn chịu áp lực ngày một gia tăng tại Rheims.[4][14][15] Trong khi quân đội Anh mất hơn 10% binh lực của mình, Thống chế Kitchener của Anh Quốc đã nhận thấy rằng người Đức không thể bị đánh bại nhanh chóng, và trận chiến này được xem là một bi kịch quốc gia của Anh Quốc. Tình hình bế tắc đã bắt đầu trên Mặt trận phía tây của cuộc chiến, và hai phe giờ đây cố gắng đánh tạt sườn nhau trong cái gọi là cuộc “Chạy đua ra biển“.[1]

Chú thích

  1. ^ a ă â b c d đ Spencer Tucker, World War I: A – D., Tập 1, các trang 11-12.
  2. ^ a ă â Battle of the Marne: 6-10 September 1914
  3. ^ a ă Nigel Thomas, The German Army in World War I (1): 1914-15, trang 10
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m The First Battle of the Aisne
  5. ^ a ă â Lawrence Sondhausm, World War One: The Global Revolution, trang 77
  6. ^ a ă â b Paul Kendall, Aisne 1914: The Dawn of Trench Warfare, các trang 10-12.
  7. ^ Tony Jaques, Dictionary of Battles and Sieges: A-E, trang 19
  8. ^ a ă â b First battle of the Aisne, 13-28 September 1914
  9. ^ Spencer C. Tucker, A Global Chronology of Conflict: From the Ancient World to the Modern Middle East: From the Ancient World to the Modern Middle East, trang 1582
  10. ^ a ă Hew Strachan, The First World War:Volume I: To Arms: Volume I: To Arms, trang 257
  11. ^ Robert T. Foley, German Strategy and the Path to Verdun: Erich von Falkenhayn and the Development of Attrition, 1870-1916, trang 99
  12. ^ Ian Sumner, The First Battle of the Marne 1914: The French miracle halts the Germans, trang 11
  13. ^ David F. Burg, L. Edward Purcell, Almanac of World War I
  14. ^ Spencer Tucker, World War I: A – D., Tập 1, trang 1243
  15. ^ Stanley Sandler, Ground Warfare: An International Encyclopedia, Tập 1, trang 547

Đọc thêm

Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con